Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

5 Pages«<345
Góc Vườn Ấu Tím
tt
#81 Posted : Thursday, December 08, 2011 1:36:23 PM(UTC)
tt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 18,903

Thanks: 67 times
Was thanked: 114 time(s) in 77 post(s)
Sf này tội lỗi ngập đầu nghen.
Sf nhớ Ngoại Thông chứ em hổng biết, hổng nhớ gì hết ráo.
Ngoại biết làm ảo thuật thì muốn có là ra, muốn mất là biến thôi mà.
TH
#82 Posted : Friday, December 09, 2011 1:02:35 AM(UTC)
TH

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 5,552
Location: Paris

Was thanked: 14 time(s) in 13 post(s)
sf nhớ hoài gương mặt ngoại lên sân khấu ĐH SNA Cali năm 2000, ngoại tung cái khăn lên hổng có gì hết, ngoại cười mếu nói tui nhờ em KN sang Cali sớm mua chim giùm, chị KN phân bua, cũng vì tìm chim cho ngoại, em mất cả ngày hôm qua trên Los . Cuối cùng ngoại không có chim . Thôi cái số phải chịu .
Lý Chấn Phong
#83 Posted : Friday, December 09, 2011 7:25:15 AM(UTC)
Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 10/6/2011(UTC)
Posts: 374

Thanks: 49 times
Was thanked: 268 time(s) in 175 post(s)

Ấu Tím
#84 Posted : Friday, February 03, 2012 7:53:32 AM(UTC)
Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/31/2011(UTC)
Posts: 40
Location: USA

Thanks: 2 times
Was thanked: 13 time(s) in 5 post(s)
Con công hay múa, nó múa làm sao, nó rụt cổ vào, nó xòe cánh ra!

Đúng rồi há, đúng là con công rồi há, cám ơn tấm hình đẹp thật đẹp - at lấy lông đuôi của công để cắm hoa nè! trước tết tới giờ vẫn y chang .

TH
#85 Posted : Monday, February 20, 2012 1:08:42 AM(UTC)
TH

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 5,552
Location: Paris

Was thanked: 14 time(s) in 13 post(s)
Tặng chị AT bài này, để tưởng niệm bố .

"Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."


Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 30
năm từ ngày miền Nam thất thủ)

Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ
Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên
Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một
vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20
người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ
huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền
Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài
lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ
chuyện vui buồn.

Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50
thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng
chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều
trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa
cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và
phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt.
Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một
suy nghĩ: - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho
đủ?

Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ
cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng
bớt lo âu.
Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình:
Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh
đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người
một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao
nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm -
bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc
nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
Image

- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ.
- Anh ở trung đoàn mấy.
- Trung Đoàn 44.
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên :
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy
lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động :
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục :
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2
chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng
bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả? tôi hỏi.
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được
các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và
được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba
Lê.

Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm.
Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em
nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản
giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra
anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh
của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm
điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh
thường nói:

- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi
biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng
chỉ huy.

Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ
có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt.
Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị
bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày.
Nhiều người đứng không vững.

Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả
thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai
từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp
thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp
xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa.
Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:

- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào,
chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng.
Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.

Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng
ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một
buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một
đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ.
Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy
cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt
hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay
phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai
vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang
vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.
Image

Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù
chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo Thà đã báo cáo
với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu
hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức
khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.

Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà,
mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh
thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật
nhiều với anh em:
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương
quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước
uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23
các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận
tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi
ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện.
Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các
anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội
vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú
ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai
anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ,
mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố
gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao
thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của
vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về
quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác
sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng
đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến
thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành,
thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho
tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi
nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho
tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai,
vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già
gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.

Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ
các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng,
nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về
Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự
đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại,
nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng
tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng
Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.

Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một
người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo
một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận
ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới
thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không
nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng
trước cổng trại.

* * *

Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và
ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế
hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở
dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu
vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng
đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho
chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng
tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều
ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt
ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong
trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có
mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn.
Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến
bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây
giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại
hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy
là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần
nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong
tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm
ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm
lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh
đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.

Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện
trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp
còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là
sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học.
Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công
ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm
tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng
đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng
tôi, đó là vị hôn thê của anh.

Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi
xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên
tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại.
Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho
biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở
Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực
tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy
này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng
du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu
khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè
và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài
tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị
anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ
chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông
Đức.

Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND
Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách
trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên
lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô
thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở
nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô
ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là đại
sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan
vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì
đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng,
trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.

Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam
thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin
mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn
Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền
khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như
để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy
nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải
dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn
tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng
năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ,
Hoàng Liên Sơn". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để
gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện
làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.

Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú
của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông
đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào
Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô
phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số
điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh
thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người
ở thành phố có báo đọc.

Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để
kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai
nhắc đến chuyện anh Thà.

Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật
mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt
độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện
thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên
kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng
rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần,
với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.

Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã
quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng :
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao
lại ở Ba-Lan?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu
khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.

Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên
Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả
chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay
mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính
quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em
cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao
động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không
tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu.
Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền
chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành
mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận
thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được
một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu
em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số
thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em
trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một
ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
- Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu
lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba
cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường
hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm gì?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa
người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để
kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.

Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh,
em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một
ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen
khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi.
Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu
thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn
Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy
bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và
hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh
được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.

Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian
chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm
sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn
Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm
Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị
nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành
cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng
giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm
vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ
chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ
chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất
nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.

Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi
nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ
chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh
chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy
để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu
mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh
những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm
tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm
nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay
trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi
đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình
anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù
về.

Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn
hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và
chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra
phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà
như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà
đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan.
Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin
việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung
học.

* * *

"Các Anh thân quí, Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình
tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi
làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn
nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền
của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình
xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác:
"Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại".
Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ
nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn
một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía
bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một
lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn
làm ngược lại lời nói này của Mác. Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa
được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê
hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả
biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra
còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra
mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn
qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở
hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp
không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát
rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình. Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng,
nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia
đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không
có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại
bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết
lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho
các anh đây. Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con
người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau
mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này,
chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu.
Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ
xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."

* * *

Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận
được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại.
Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp
trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì:
xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại.
Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những
người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?

Phạm Tín An Ninh
(Vương Quôc Na-Uy)

(1) :
- Người Quận Vạn Ninh,Tỉnh Khánh Hòa .
- Cựu học sinh trường Trung Học Võ Tánh, Nha Trang .
- hiện cư ngụ tại Na uy .
Ấu Tím
#86 Posted : Monday, February 20, 2012 8:24:16 AM(UTC)
Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/31/2011(UTC)
Posts: 40
Location: USA

Thanks: 2 times
Was thanked: 13 time(s) in 5 post(s)
Đọc muốn híc híc đó TH
TH
#87 Posted : Monday, February 20, 2012 12:33:37 PM(UTC)
TH

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 5,552
Location: Paris

Was thanked: 14 time(s) in 13 post(s)
Thôi đừng khóc nữa chị . Chiếu phim VN xưa cho chị xem nè
[YOUTUBE]http://www.youtube.com/watch_popup?v=eR1OIgftNvU[/YOUTUBE]
tt
#88 Posted : Thursday, February 23, 2012 7:14:27 PM(UTC)
tt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 18,903

Thanks: 67 times
Was thanked: 114 time(s) in 77 post(s)
Nhận được bài viết này từ người chú quen, thấy hay hay, cho em gửi lại đây nha chị AT.

Về Việt Nam – Về Mỹ

Tản mạn

Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau? (1)

Không. Đi là di chuyển đến một nơi khác Về là trở lại chốn cũ, nơi mình có nhiều quan hệ. Một người Mỹ gốc Việt có hai nơi để về. Về Việt Nam thăm mồ mả cha ông, gặp lại người thân, nhìn lại đường xưa lối cũ; con đò, bờ sông, nón lá, mấy nhịp cầu tre, con trâu, cái cò, núi đồi, đồng ruộng; được ăn những món đặc sản ngay tại địa phương; được hít thở không khí quê nhà và được nghe những âm thanh quen thuộc. Nhưng rồi phải quay về Mỹ. There’s no place like home. Our home is where our heart is. Không đâu bằng mái ấm gia đình. Nơi này có công ăn việc làm, có tự do. Tôi có thể nói những gì tôi muốn nói; làm những gì tôi muốn làm.

Hồi cuối năm 2011 tôi đã về VN một tháng. Bay trên mây, nhìn trời xanh, tôi nghĩ đến mấy câu thơ trên mạng của Bùi Minh Quốc và Thanh Thảo mô tả VN ngày nay: Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi và Cứ tự mình dán băng keo vào miệng/ Yêu tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ. Có thật vậy không? Kỳ này, mắt thấy tai nghe mong sẽ biết VN nhiều hơn là qua thế giới ảo. Nhờ bạn bè, bà con xa gần, tôi đã thực hiện một chuyến đi ta ba lô thích thú viếng Hà nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Bến Tre.Tôi cũng đã cùng với gia đình Đỗ Lê Minh, hiện dạy toán ở Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles), theo tour viếng Đế Thiên Đế Thích, một kỳ quan thế giới ở Siem Reap thuộc Campuchia trong ba ngày.

Đây là lần thứ hai về VN vì lý do gia đình. Lần thứ nhất cuối năm 2006. Sau 1975 tôi đành phải rời xa đất nước vì sống không nổi dưới chế độ độc tài toàn trị dù tôi đã yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Lúc bấy giờ hầu như dân miền Nam đều muốn bỏ xứ ra đi. Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) là thực dân thứ thiệt; rất giỏi trong việc bóc lột, dối trá, bưng bít và còn ngụy biện bằng khẩu hiệu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Tôi đã vượt biên trong một đêm không trăng sao tối đen như mực. Trên ghe 13 người kể cả một bé nhỏ sáu tháng. Sao lại có người gan liều bồng con trôi giạt một tháng như vậy? Theo nhà văn Phạm Phú Minh các bà mẹ Việt Nam đánh hơi thấy nếu không ra đi thì con mình sẽ bị suy tàn về thể chất, dốt nát về trí tuệ và thui chột về đạo đức.

Phần lớn thời gian về VN tôi ở Saigon. Trước 1975 đây là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giờ có tên mới viết là TP (thành phố hay tội phạm?) Hồ Chí Minh, thay đổi rất nhiều. Quận nào cũng có xây cất nhưng không được qui hoạch đàng hoàng. Mạnh ai nấy làm, kiểu cách, cao thấp, trồi sụt bất thường. Chỉ có khu bên kia sông là khá qui củ. Sau chầu cà phê với Thân Trọng Minh ở Chợ Lớn tôi theo Vũ Thị Ái đồng nghiệp trước 1975 đến Việt Tấn Xã, sở cũ cạnh Dinh Độc Lập. Chúng tôi đi bộ, ra vẻ thăm dân cho biết sự tình. Tôi như lạc vào chỗ lạ. Không hình dung ra nơi chốn vì mặt tiền mấy nơi đi qua khác hẳn, không còn nhận ra đường nào với đường nào. Buổi trưa trời nắng, nóng nực quá chừng. Saigon bị lây Hà nội rồi. Thành phố không có vỉa hè.

Hồn Việt Nam Cộng Hoà và Phạm Duy

Ngồi bệt ở một cái sạp bán nước bên vệ đường, tôi uống hai trái dừa xiêm, no cành hông, thiệt đã. Vô tình thấy tờ Saigon Giải Phóng, có bài Dành Vỉa Hè Cho Người Đi Bộ trong mục Sự Kiện Vấn Đề của tác giả Phạm Phương Thảo. Đi bộ khó thật vì không phải vỉa hè nào cũng có chỗ đi, có khi phải đi xuống lòng đường và việc đi bộ còn gặp khó bởi không ít vỉa hè dùng vào việc buôn bán, đậu xe. Xe gắn máy cứ lách lên vỉa hè mà chạy. Việc đi bộ qua các ngã tư không dễ dàng cho dù có đèn xanh, đèn đỏ. Mặt khác bộ mặt của vỉa hè có nơi vẫn còn tình trạng tiểu tiện bừa bãi. Nhìn dòng xe chạy chen lấn, len lách tôi thấy dường như ai cũng nghĩ mạnh ai nấy đi. Qua đường là một thử thách. Hà nội cũng y như vậy. Kinh khủng. Terrible. Chữ của một người ngoại quốc nói với tôi và cũng của một người bạn ở Hà nội khi cùng đi qua đường.

Dấu vết Saigon xưa chỉ còn lại chợ Bến Thành, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Chính quyền mới muốn xóa mọi hình ảnh cũ. Sinh hoạt thời VNCH làm họ bực tức, khiến chữ giải phóng mất ý nghĩa, biến thành phỏng dái. Nhưng hồn VNCH vẫn còn trong lối sống, vương vọng qua mấy bản nhạc trên xe taxi, ở quán đầu hẻm, trong nhà từ nam chí bắc; và ngay cả thủ đô Hà Nội, cái nôi xã hội chủ nghĩa VN. Nhà hát Lớn Hà Nội đã bị làn sóng nhạc “sến” tấn công. Tuấn Vũ chiếm lĩnh hàng chục đêm, rồi các live show của Quang Lê, Mai Quốc Huy (được xem là “truyền nhân” của vua nhạc sến Chế Linh)…gần đây nhất là ca sĩ Thanh Tuyền. Nếu không có những rắc rối trong tổ chức, vua nhạc sến Chế Linh cũng đã cất cao giọng hát tại lâu đài âm nhạc giữa thủ đô. Một tờ báo ở VN đã viết như vậy.

Tại sao có hiện tượng đó? Nhạc cách mạng vừa dở vừa lỗi thời không ai muốn nghe nữa. Tác giả Phan văn Minh trong bài “Đừng Làm vấy bẩn ca từ tiếng Việt” trên Hồn Việt ngày 28/12/11 viết, lời ca một số bản nhạc mới là một sự kém cỏi về văn hóa, trí tuệ; một sự phỉ báng đối với ngôn ngữ mẹ đẻ. Về chuyện Chế Linh bị hủy không cho trình diễn tiếp, theo nhạc sĩ Phạm Duy, họ làm ầm ĩ quá. Khiêm tốn thì được. Phạm Duy có vẻ không được khỏe lắm, cho biết, những buổi trình diễn của ông rất thành công. Ghé thăm ông tại nhà ở Phú Thọ, nhạc sĩ có cả ngàn bài ca nói, trở về VN là đúng với luật tự nhiện: lá rụng về cội. Ông muốn khi mất sẽ mất ở Saigon. Sau đó, các con sẽ dời mộ bà Thái Hằng về luôn. Giờ không còn sức ngồi máy bay gần 20 tiếng trở qua Mỹ.

Cuộc sống hiện nay thế nào? Nhạc sĩ Phạm Duy cười trả lời, rất thoải mái. Lẽ dĩ nhiên phải có tiền và mũ nỉ che tai. Câu nói của nhạc sĩ 90 tuổi cũng là triết lý sống của nhiều người trong nước. Có đủ tiền chi tiêu; không nghe, không thấy, không bàn về bất kỳ điều gì coi là nhạy cảm có hại đến chế độ. Nhưng Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong những người chủ trương trang mạng Bauxite VN, nói với đài BBC hồi cuối năm rằng nhà cầm quyền đã đối xử với 85 triệu dân như những con bò. Có lẽ vì vậy, khi một số khoa bảng VN được nhà nước đãi ngộ hơn kẻ khác, đươc trao hoa, cho quà, ban chức, phong tước, họ mừng rơn về hùa với chế độ; thay vì phẫn nộ, đòi hỏi công bằng, công lý, cho những người bị phân biệt đối xử, bị nhiều thiệt thòi.

Ngoài ra, để định hướng dư luận, đảng CSVN quyết nắm chặt các phương tiện truyền thông. Tất cả báo chí đều một giọng, một điệu. Coi văn nghệ sĩ như tôi tớ, gọi dạ, bảo vâng. Lâu lâu xoa đầu khen thưởng hay rầy la. Ký giả Đoan Trang trong bài Giọt Nước Mắt Của Lề Phải viết trên mạng, dưới chế độ Cộng Sản nhà báo không khác gì con chó; bảo sủa thì sủa; bảo im thì im. Nhìn chung, có vẻ đảng CSVN thành công trong việc thuần hóa đám đông. Công an có mặt khắp nơi. Con đường tiến thân là nhớ lời Bác. Qua báo chí thấy một xã hội ổn định. Muốn vào Internet, cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài phải vượt tường lửa. Chỉ người nào muốn hiểu biết, có phương tiện mới tiếp cận được với nhiều nguồn tin khác nhau.

Ngô Công Đức Tự Bạch: Hối Hận

Trước khi cái thiện thắng cái ác của thời bao cấp, tức trước khi đổi mới trở về cái cũ hồi cuối thập niên 80, con đường tương lai là đi ra biển.Thời này khác, thay vì vượt biên, cha mẹ cho con du học hay theo học trường ngoại trong nước. Nền giáo dục VN hỏng lâu rồi. Nhưng thay đổi thế nào? Bỏ bác, bỏ đảng, bỏ mác, bỏ lê? Hồi xưa ra ngõ gặp anh hùng bị gạt. Ngày nay, ra ngõ gặp tiến sĩ giấy, quán cà phê hay trẻ em lang thang bán vé số, đánh giày. Báo Tuổi trẻ (3/12/11) cho biết, theo Nhóm Young Lives (Những cuộc đời trẻ thơ), một chương trình nghiên cứu quốc tế thì có 1,2 triệu trẻ em không đến trường; còn Bộ Giáo Dục Đào Tạo thì chỉ có 200,000 thôi; nhưng cả hai đều đồng ý nguyên nhân chính là vì chán học và kinh tế khó khăn.

Ngô Công Đức (1936 – 2007), dân biểu đối lập thời VNCH, một nhà báo tên tuổi, sáng lập tờ Tin Sáng trước và sau 1975, rồi bị CSVN dẹp luôn năm 1981, trong cuốn Tự Bạch, phổ biến hạn chế viết, Tôi là người ủng hộ Cách Mạng, cảm thấy đau lòng và hối hận trước cảnh khốn khổ của người dân. Quan liêu, tham nhũng, hà hiếp dân có hệ thống mà người ta đổ lỗi cho cơ chế, đã gây tủi hổ cho những ngưòi Cộng Sản chân chính, và tôi cũng hổ thẹn lây vì từng đứng bên cạnh họ. Hai chữ Anh Hùng đã bị bôi bẩn.Thống nhất là một may mắn lớn. Rồi Miền Nam phải rước lấy một chế độ đã từng được áp đặt bao nhiêu thập niên ở miền Bắc, gây nhiều chết chóc đau thương oan uổng, gây nghi kỵ gian dối, gây nghèo đói giữa một dân tộc thông minh và cần cù.

Tập Tự Bạch 16 trang viết xong ngày 21/11/2006 thố lộ thêm, Nếu không thống nhất đất nước ai quả quyết được miền Bắc không giống như CHDCND Triều Tiên. Người Cộng Sản được sống ở miền Nam đã làm thay đổi suy nghĩ của Đảng Cộng Sản. Công cuộc đổi mới đất nước chính là cuộc giải phóng miền Bắc khỏi một chế độ đã thất bại từ trước và đưa miền Nam về dần với tính năng động đã có trước đây ở miền Nam. Kết quả hôm nay có được sự đổi mới này, chính là nhờ sực đấu tranh của nhân dân cả hai miền. Đức độ của Hồ Chủ Tịch sao không dạy được cấp dưới noi theo? Hôm nay được nghe lời kêu gọi đoàn kết – hòa hợp. Nhưng đoàn kết hòa hợp thật hay chỉ là sự tiếp nối của lời kêu gọi thiếu lòng thành trong 30 năm qua. Để rồi phải tiếp tục kêu gọi đoàn kết? Ngoài tập này, tác giả còn có Cuốn Hồi Ký, chưa ấn hành.

Đến Hà nội mà không ngồi ở Hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây là một thiếu sót. Nhìn mặt hồ gợn sóng lăn tăn, in bóng hàng liễu rũ cho ta cái thú của một kẻ nhàn du, tha hồ mơ xa rồi lại nghĩ gần. Thủ đô có hai cái đẹp: mấy viên ngọc bích thủy thiên nhiên, in bóng trời xanh mây trắng và buồng phổi của 36 phố phường, mấy hàng cây cổ đại cành lá xum xuê, phủ mát lòng đường. Hồi niên thiếu, tôi thấy Hà nội lãng mạn trong Tự Lực Văn Đoàn, trong các lời ca của các nhạc sĩ năm 54; rồi thấy Hà nội nghèo khổ, thiếu thốn thời bao cấp qua lời kể của người được ra Bắc sau 75 trong đó có nhà tôi; và Hà nội ngày nay, ầm ầm, ào ào, lúc nào cũng chộn rộn. Hai bản nhạc hay về Thăng Long là Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành và Mùa Thu Hà nội của Trịnh Công Sơn.

Một cái thú khác khi viếng Thủ đô, có hơn 1,000 năm lịch sử, khai sinh từ vua Lý Thái Tổ (1009-1028), là bước vào những tiệm ăn uống xưa cũ, bình dân để biết thêm về văn hóa ẩm thực vùng này. Một người quen, anh B. dân Hànội đưa tôi vào quán Cà phê Lâm, ở phố cổ. Thời bao cấp khách hàng quen thuộc của quán là văn nghệ sĩ Hà Thành. Cà phê đen đặc quánh nổi tiếng từ thập niên 50. Ngồi trên ghế gỗ thấp, tôi hình dung sinh hoạt tiệm; nơi treo nhiều tranh cũ từ nửa thế kỷ trước mà tác giả là những họa sĩ đã để lại vì ghiền mùi cà phê của ông.Tôi cũng đã được ăn phở ở phố cổ vừa rẻ, vừa ăn được, hơn hẳn phở trong khách sạn năm sao ngay tại Hà nội; giá 10$ US một tô. Khu này lúc nào cũng tấp nập từ sáng tinh mơ cho đến quá nửa đêm.

Võ khí mềm: cái loa và hộ khẩu

Sau ngày 30/4/75, Hà nôi là trung tâm quyền lực của cả nước. Phía thắng ai cũng nôn nao muốn vào Nam để nhận hàng khi thấy từng đoàn xe đầy ắp chiến lợi phẩm chở về Bắc. Trong khi đó, dân miền bại trận muốn được yên thân tìm người để nhận họ hay âm thầm nhào ra biển. Nhằm củng cố việc cai trị, CSVN đem vào hai võ khí mềm: giấy hộ khẩu và loa phóng thanh, gắn khắp phường khóm. Giấy hộ khẩu chủ yếu nắm bao tử. Loa phóng thanh định hướng dư luận. Nó còn dùng để phá đạo. Nhớ lại, khi viếng chùa Thiên Mụ ngắm cảnh, tìm sự yên tịnh hay tiếng chuông ngân, tôi bị sốc khi nghe từ trong xóm cái giọng Huế nặng nói về công ơn của Bác Đảng. Lải nhải cả ngày kiểu này, Chúa Phật chắc cũng bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà chạy huống chi người phàm.

Rời Hà nội, tôi về miền trung đến Huế qua ngõ sân bay Phú Bài. Phi trường này chẳng được sửa sang gì hơn với thời VNCH. Trong ba ngày ở cố đô, tôi đã có dip thả bộ qua lại nhiều lần hai cầu An Cựu, nơi mà dòng sông nắng thì đục, mưa thì trong và cầu Trường Tiền, sáu vài 12 nhịp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu từ dạo ấy mà Huế vẫn vậy, ít thay đổi. Cảnh cũ, đường xưa không khác bao nhiêu. Chỉ có các món ăn là dở đi nhiều; còn đâu bánh khoái, bánh bèo, bánh nậm? Người Huế bỏ xứ đã mang theo hết cả nghệ thuật ẩm thực rồi sao? Sau khi thăm mồ mả bà con trong đó có mộ hai ông cố Phan Tôn, Phan Liêm mà chị Phan Thanh Gia Lai đã thêm chữ quốc ngữ trên hai bia xây từ cuối thế kỷ 18 toàn chữ nho, tôi đã vào thăm trường Quốc Học.

Trường xưa nhưng bạn cũ đâu hết rồi? Đường đời vạn nẻo, ai còn ai mất? Nhìn dãy lớp thuở nào, tôi vừa thấy xa lạ vừa thấy thân thương; bồi hồi nhớ lại một thời đã qua. Ngồi lặng cả giờ ở một ghế đá trong sân trường, được thành lập ngày 23/10/1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, giao cho ông Ngô Đình Khải làm trưởng giáo với tôn chỉ phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài; tôi ở trong trạng thái nhớ nhớ, buồn buồn khi nghĩ tơi một số bạn cùng lứa, cùng lớp và cùng bàn đã ngã xuống trong cuộc nội chiến: Huỳnh Sửa, Huỳnh Sảnh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Đức, Hồ Đắc Cung, Hồng Dũ Thiều.. và gia đình Trần Như Thông, mất tích khi vượt biên. Tôi đã chán chường khi thấy tượng Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh cắp sách đi học, ngay chỗ cột cờ.

Tiến sĩ Sử Học Hoàng Ngọc Thành, cưụ học sinh Quốc Học, trong cuốn Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt Nam, in năm 2009 cho rằng, ông Hồ Chí Minh, đã đặt cái không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa trên quyền lợi quốc gia hay lợi ích dân tộc. Ông Hồ Chí Minh có công rất lớn với Liên sô và Trung Cộng nhưng đối với dân tộc VN, ông và đảng cộng sản phạm tội phản bội tức phản quốc. Cũng vẫn theo Giáo sư sử nhiều trường Đại học ở Saigon trước 75, thường các vụ thống nhất đất nước là có công, nhưng vụ thống nhất VN sau 18 năm chiến tranh 1957-1975 là có tội vì mục tiêu chính là phục vụ Liên Sô, Trung Cộng và vì ý thức hệ Cộng Sản. Ông Hồ từng khoác lác, tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

Một bạn cũng học ở Quốc học hiện ở Saigon nói quá nhục nhã khi tôi nhắc tới cái tượng và tấm bia ngay ở cổng vào ghi tên các công thần gộc của chế độ. Chế Lan Viên viết: MậuThân 2000 người xuống đồng bằng, chỉ một đêm còn sống có 30, ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó. Tôi! Vì những câu thơ tôi làm người ấy xung phong. Năm 1999 Thứ Trưởng Bộ Thương Binh Xã hội Nguyễn văn Quảng cho Đài Truyền Hình Nhật NHK biết có 800,000 đồng chí hy sinh Tết đó. Đến nay, nhiều gia đình vẫn còn tìm kiếm hài cốt người thân. Hỏi ai? Hãy níu áo Võ Nguyên Giáp; ông tướng cầm quân như tay đánh bạc không bao giờ sợ hết tiền. Còn Phạm văn Đồng ký công hàm 14/9/58 về Hoàng Sa, Trường Sa khó thoát tội Việt gian rành rành.

Dẫn xe tăng CSBV ủi Dinh Độc Lập

Một kỷ niệm đáng nhớ là đã cùng đồng nghiệp thời VNCH, Nguyễn Vạn Hồng (NVH) đạp xe dọc bờ biển trên đường Hoàng Sa & Trường Sa, từ núi Sơn Trà đến Ngũ Hành Sơn, còn gọi là núi Non Nước. Tôi đạp lạng quạng không hiểu vì ngây ngất trước cảnh trời biển bao la với từng đợt sóng từ xa ùa vào bờ hay vì mùi muối mằn mặn trong không khí và cái lành lạnh ban mai? Làm sao có chuyện một phóng viên Việt Tấn Xã dẫn xe tăng CSBV ủi cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/75? Theo NVH, trên đường về làng báo chí đón vợ con, khi đến cầu Thị Nghè thì gặp xe tăng tiến qua; nép vô lề. Vài anh bộ đội trên xe hỏi đường trong đó có sĩ quan Bùi Quang Thận, cầm súng lục bắt dẫn tới dinh Độc Lập. Tôi quay xe chạy trước. Họ theo sau đến cổng rồi ủi vào cửa sắt.

Sau 75, NVH nổi tiếng với bút hiệu Cung Văn, làm cho tờ Saigon Giải Phóng; hiện còn giữ cờ lệnh xe tăng của sĩ quan Thận. Người quen nói với tôi, vì thấy toàn là dối trá nên NVH bỏ về Đà nẵng, sống nhờ vợ. Thành phố này rất phát triển. Chúng tôi viếng Đại Học Phan Châu Trinh, có 1200 sinh viên, lập năm 2007 ở Hội An, một thành phố cổ thu hút du khách nhờ Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17. Tôi gặp nhà văn Nguyên Ngọc, một giới chức của trường, đã có một buổi ăn trưa đáng nhớ bên dòng sông Thu Bồn: món đặc sản cá đối kho dưa gan. Theo nhà văn, cũng là cựu học sinh Quốc Học, cuộc chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc đẹp. Có lẽ nhờ vậy, Hoa Kỳ mới là cường quốc; mới là nơi tụ hội của nhiều nhân tài từ khắp năm châu.

Trước khi đưa ra ga xe lửa rời xứ Ngũ Phụng Tề Thi về Qui Nhơn, vợ chồng NVH đã đãi tôi một bữa ăn mì quảng lươn ngon lành. Dù rằng nhà thờ bên ngoại tộc Lê ở Hà nội và bên nội chánh quán ở Bến Tre, và chẳng có kỷ niệm gì về thành phố này, tôi vẫn về đây vì gia đình tôi và mồ mả cha mẹ chị em trước 1945 ở Bình Định. Dịp này, tôi đã không quên đến Ghềnh Ráng viếng Đồi Thi Nhân, nơi an nghỉ rất đẹp của Hàn Mặc Tử. Tuy mất lúc còn trẻ 28 tuổi năm 1940 vì bệnh cùi, ông hãy còn được giới văn nghệ nhắc đến: Đây Thôn Vỹ Dạ, Gái Quê.. Có hai con đường trong hai thành phố Qui Nhơn, nơi trưởng thành, và Đồng Hới – Quảng Bình, nơi sinh ra, mang tên thi sĩ của trăng. Phạm Duy và Trần Thiện Thanh đều có phổ nhạc thơ Hàn Mặc Tử.

Trong một tháng tôi đã đi từ Nam ra Bắc, rồi vào Trung, đã cùng chị Phan Thanh Gia Lai, thuộc nhánh Phan Liêm đi Bến Tre thăm mộ Phan Thanh Giản, được gặp nhiều bà con bạn bè, được đón tiếp nồng hậu với tình cảm thắm thiết, được thăm viếng nhiều nơi, được ăn nhiều món đặc sản quí hiếm; không hề bị phiền nhiễu gì về giấy tờ, tiền bạc; nhưng tôi vẫn thấy không thể sống hẳn ở VN. Về đây ở mình sẽ như chui vào một cái trại; mà đã lọt vô rọ rồi thì phải ngậm mà nghe. Vả lại, thời gian rồi tôi như cỡi ngựa xem hoa. Rất rất nhiều người nói với tôi rằng, để sống dễ dàng phải tập làm quen với những điều chướng tai gai mắt, phải mũ nỉ che tai. Tôi muốn nói với các ông bà nào, còn vọng bác thì hãy về đây đi anh. Đừng có chân trong, chân ngoài.

Chư Hầu rồi?

Chuyến về VN có ba thời khắc chắc tôi nhớ hoài. Đó là một giấc ngủ trưa tuyệt vời, sau bữa cơm chay, nằm trên ghế đá, trong vườn chùa im vắng, dưới bóng mát cây sa la, lơ mơ nhìn trời xanh mây trắng, nghe gió hiu hiu thôi, thỉnh thoảng vọng về tiếng gà gáy nơi xa. Chùa Tuần Chính Thiền Viện nằm giữa một cánh rừng tràm, do Ni Sư Thích Nữ Huệ Niệm trụ trì, xây năm 1986 tại một vùng kinh tế mới thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Lần thứ hai, ngồi lặng trên ghế đá ở sân trường Quốc Học, vào một buổi chiều âm u buồn, nhớ về một thời đã qua. Lần thứ ba, ngồi ở một quán bên bờ sông Saigon, lúc xế trưa, nghe tiếng còi hụ, nhìn đám lục bình bồng bềnh theo dòng nước đục mà không hiểu rồi nó sẽ tấp vào bến bờ nào?

Tôi có một anh bạn, hàng năm đôi ba lần về VN bằng tiền nhà, giúp hoàn thành một số dự án hay dạy học và bảo trợ cho nhiều sinh viên sang Mỹ lấy tiến sĩ. Anh du học thời VNCH, hiện là giáo sư của một trường lớn ở Mỹ, có nhiều bằng sáng chế, một hôm tâm sự, nước mình đánh nhau hàng chục năm để rồi chẳng có điểm nào coi được. Tệ như vậy nhưng CSVN vẫn thống trị thì tại sao? Theo tôi, về kinh tế, một phần nhờ chín tỷ đô la, hải ngoại gửi cho gia đình ở trong nước. Phần khác, VN ổn định được vì dựa vào hậu phương lớn phía Bắc như bài hát Việt Nam Trung Hoa có từ thời 1960: núi liền núi, sông liền sông, chung một biển đông, chung một ý, chung một lòng, chúng ta sống chung, nghe tiếng gà gáy cùng; muôn năm Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông.

Thời gian tôi ở VN là thời gian báo chí nói tới sửa đổi Hiến Pháp 1992. Sau hơn 20 năm làm Hà nội xác xơ, rồi sau khi thống nhất đất nước, CSVN để hơn 30 năm cho cán bộ gộc ăn no nê thành tư bản đỏ, giờ mới lập một ủy ban để Tìm Thông Điệp Chung Về Quyền Con Người và Tổ Chức Quyền Lực. Họ bàn tới quyền công dân, vai trò lãnh đạo của đảng, đổi mới chế độ bầu cử. Một người am tường việc này cho tôi biết, chưa chắc Bộ Chính Trị đồng ý với bản dự thảo. Ông tâm sự, ông bị thương khi vào Nam “giải phóng”. Tôi cho ông hay là tôi bị Việt Cộng bắn rớt máy bay. Ông cười: anh em mình bắn nhau. Ông tặng tôi tập san Nhà Nước và Pháp Luật. Tôi hỏi, nếu đảng chịu sửa Hiến Pháp nhưng Trung Quốc không đồng ý thì sao? Ông không trả lời. Như vậy là chư hầu rồi? Ông nhìn tôi, rồi tự nhiên nói: Ngày mai trời lại sáng.

Đương nhiên, có ngày mai nào cứ tối mãi? Nhưng chừng nào 14 ông vua tập thể của Xã Hội Chủ Nghĩa VN mới sáng mắt sáng lòng không còn đồng hoá chế độ và đất nước; vứt bỏ cái cơ chế lỗi thời lai căng Nga Tàu, do Hồ Chí Minh mang về. Thật khó, khi Bộ Chính trị vì quyền lợi, đồng sàng đồng mộng với Trung Quốc, quyết duy trì ngôi vương. Tuy nhiên, nếu họ tiếp tục hèn với giặc phương Bắc rồi sẽ có ngày người dân ở Hồ Gươm nổi dậy như sóng, ở sông Hương xuống đường như lũ và ở Saigon bừng dậy như hỏa diệm sơn; cho dù CSVN có nêu lên 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai; và bốn tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, để nhờ Trung Quốc cứu cũng không ngăn dẹp nổi.

Đền bù đất đai không thực tế; luật pháp không minh bạch; xảy ra nhiều bản án oan sai, Luật sư gặp nhiều khó khăn cùng nạn chạy án của thầy cãi. Đó là tình trạng tư pháp ở VN mà tôi được nghe qua trong cuộc trò chuyện tại Saigon với Luật sư Nguyễn Bính Châu, tác gỉả mấy bài báo trên mạng BBC. Ngoài ra, theo tờ Nhà Nước và Pháp Luật, bằng hành vi pháp lý, người ta tạo ra sự hỗn độn của pháp luật. Các khẩu dụ thành quy tắc xử sự có hiệu lực cả bên ngoài cơ quan nhà nước. Ông Châu cho rằng để Pháp Luật không là cây đèn thần khủng bố, VN cần có Dân chủ. Nhưng tôi chắc CSVN không dám thực hiện điều này vì lúc đó họ sẽ hết còn vừa đá banh vừa thổi còi và sợ ông Hồ có trăm tên ngàn mặt sẽ bị soi rọi, tênh hênh ra đó thì còn gì nữa đâu?

Dân Ca Khmer và Ngậm Ngùi của Huy Cận

Nhân dịp về VN tôi đã đi Siem Reap viếng Đế Thiên Đế Thích, không xa Saigon. Trên phi cơ rời Tân Sơn Nhất, ngồi cạnh chị Phạm Bích Thủy, có cuốn Về Sân Khấu Truyền Thống Khmer Nam Bộ của Sở Văn Hoá tỉnh Sóc Trăng; tôi mượn đọc thấy có mấy câu dân ca Khmer: [b]Lời ru thành ngọn gió đưa; Quạt anh ve vuốt giấc mơ vợ hiền; Chìa tay anh, em gối lên; Xoã ngực anh, mái tóc mềm của em[/i], khiến tôi nhớ đến bài Ngậm Ngùi của Huy Cận: Sợi buồn con nhện giăng mau; Em ơi! Hãy ngủ, anh hầu quạt đây; Lòng anh mở với quạt này; Trăm con chim mộng về bay đầu giường. Ngủ đi em, mộng bình thường; Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ. Thơ Huy Cận in trong Lửa Thiêng năm 1940. Còn mấy câu dân ca của Khmer có từ lúc nào?

Đế Thiên Đế Thích hay Angkor Wat và Angkor Thom có một quá trình kỳ lạ. Hiện nay nó là một cảnh quan thế giới, thu hút rất nhiều du khách.Trước đó nơi này là chốn trú ẩn của Khmer đỏ, đám quân đã giết hơn hai triệu đồng bào mình. Không ai biết tại sao nó bị bị bỏ hoang 4,5, trăm năm để cho rừng cây che lấp. Cuối thế kỷ 19 người Pháp mới khám phá ra phế tích và tìm cách bảo tồn. Theo các nhà khảo cổ những điện chính được xây từ thế kỷ thứ VI và tiếp tục cho đến đời vua Suryavarman II (1113-1150). Công trình kéo dài làm tốn biết bao nhân lực, vật lực nhưng cũng thể hiện nghệ thuật tuyệt đỉnh về chạm, đục, khắc và vẽ hình trên đá của nền kiến trúc Khmer. Tất cả chỉ để làm nơi thờ thần hay tổ tiên của vua chúa; rồi sau trở thành linh đền thờ Phật.

Viếng thăm Đế Thiên Đế Thích ngoài việc biết dân tộc Khmer đã có một thời hưng thịnh, có một nền văn minh sáng chói; còn cho thấy đời sống tâm linh của dân tộc nước láng giềng thật kỳ bí bởi các hình tượng thần voi, sư tử, bò, rắn, chạm khắc trong các đền đài đầy huyền ảo; tuy hiện phần lớn họ theo đạo Phật, phái tiểu thừa. Hình ảnh in sâu đậm khác trong trí nhớ du khách là rừng cây hùng vĩ ở nơi này đã có thể nuốt trọn cả đền đài. Có những thân cây cổ đại 3,4 trăm năm to bự ba bốn người ôm cũng không xuể, cao vời vợi, ngự trên đỉnh tháp với hàng chục rễ trắng nhợt, láng cứng như xi măng, dài hàng chục thước thòng xuống đất, ôm xoắn lấy chân tháp như con bạch tuột đang giữ lấy mồi.

Phan Thanh Tâm
2/2012 Saint Paul, MN.
(1) Đi Với Về Cũng Một Nghĩa Như Nhau là nhan đề một tập thơ của Du Tử Lê.
1 user thanked tt for this useful post.
Thy Lan Thao on 2/25/2012(UTC)
Ấu Tím
#89 Posted : Thursday, February 23, 2012 8:46:35 PM(UTC)
Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/31/2011(UTC)
Posts: 40
Location: USA

Thanks: 2 times
Was thanked: 13 time(s) in 5 post(s)
Ca'm o+n em nha .
dedde
#90 Posted : Sunday, February 26, 2012 12:33:21 PM(UTC)
dedde

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 12,720
Location: Phố Biển Đồi Tây

Thanks: 43 times
Was thanked: 101 time(s) in 83 post(s)
Mấy hôm rùi trời ấm, dedde bê bé phượng 3 năm tuổi ra hong nắng, nghĩ đến chị AT mí bé phượng nhớn hơn bé phượng nhà dedde, dedde vào hỏi thăm cả hai đây ạ.
tt
#91 Posted : Wednesday, February 29, 2012 7:22:57 AM(UTC)
tt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 18,903

Thanks: 67 times
Was thanked: 114 time(s) in 77 post(s)
Chị NH ơi, mới nghe tin mẹ của anh vừa qua đời, em không biết nói gì hơn là gửi lời thành kính chia buồn cùng anh chị và gia đình.
tt
#92 Posted : Wednesday, February 29, 2012 7:58:20 AM(UTC)
tt

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 18,903

Thanks: 67 times
Was thanked: 114 time(s) in 77 post(s)
Em xin phép chị để dán Cáo Phó nơi đây chị nhé.

TH
#93 Posted : Wednesday, February 29, 2012 12:12:25 PM(UTC)
TH

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 5,552
Location: Paris

Was thanked: 14 time(s) in 13 post(s)
Anh Thực, chị Như Hoa,
Hay tin mẹ anh Thực qua đơì, em xin gửi lơì chia buồn cùng anh chị, nguyện cầu linh hồn bác sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa .
ditanbuon
#94 Posted : Wednesday, February 29, 2012 2:13:36 PM(UTC)
ditanbuon

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/23/2011(UTC)
Posts: 2,768
Location: ThànhPhốThiênThần

Thanks: 5 times
Was thanked: 81 time(s) in 44 post(s)
Xin thành kính phân ưu cùng chị Ngô Đồng và gia đình.
Nguyện cầu linh hồn Maria chóng hưởng nhan thánh Chúa.


dtb


hết rồi những xôn xao, hết còn những nôn nao, hết cuồng si mộng mị, hết phiền lụy đời nhau. Tàn Phai - Nguyễn Hùng

dedde
#95 Posted : Friday, March 02, 2012 3:09:51 PM(UTC)
dedde

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 12,720
Location: Phố Biển Đồi Tây

Thanks: 43 times
Was thanked: 101 time(s) in 83 post(s)


dedde xin gửi lời chia buồn cùng chị NH-AT và tang quyến
PA
#96 Posted : Monday, March 05, 2012 6:55:33 AM(UTC)
PA

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 1,786
Location: Houston, TX

Thành kính phân ưu cùng anh Thực, chị Như Hoa và tang quyến. Nguyện cầu linh hồn cụ bà Maria sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa.
Ấu Tím
#97 Posted : Thursday, March 08, 2012 6:55:19 PM(UTC)
Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/31/2011(UTC)
Posts: 40
Location: USA

Thanks: 2 times
Was thanked: 13 time(s) in 5 post(s)
CamTa
Users browsing this topic
Guest
5 Pages«<345
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.