Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

26 Pages«<23242526>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Lê Hải  
#481 Posted : Tuesday, January 3, 2012 8:39:09 AM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)


Đã qua cả Tết Tây mới vào Tình, thấy Ngọc Anh chúc lành ngày Noel, vậy để dành xài cho vài Giang Sinh nữa về sau . Đa tạ NA, thân chúc năm mới vui, mạnh, như ý . Thân mến .
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
tý Xuân  
#482 Posted : Thursday, January 12, 2012 5:55:39 PM(UTC)
tý Xuân

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,376

Thanks: 8 times
Was thanked: 97 time(s) in 38 post(s)
Mến tặng anh Tínhau bản này nè Đường chiều sơn cước, sẽ làm anh nhớ lại sơn nữ phà ca


http://www.esnips.com/profile.php?uid=1107224

có nghe được hông anh?

Edited by user Thursday, January 12, 2012 9:58:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked tý Xuân for this useful post.
Lê Hải on 1/14/2012(UTC), Hoàng Thy Mai Thảo on 1/17/2012(UTC)
Lê Hải  
#483 Posted : Friday, January 13, 2012 3:35:33 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)


Cám ơn Tí Xinh đã cho nghe một bản nhạc quen thuộc nhiều kỷ niệm, tiếng hát cô ca sĩ thật dễ thương với điệu Boléro .
Nhớ lại mấy chục năm trước còn ở Đà Nẵng một hôm bay hợp đoàn ra cù lao Ré sắp đáp, thấy một đoàn người khăn áo đi đám cưới . Tức cảnh sinh tình bấm vô tuyến rên :"hôm nay đám cưới người ta, cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn(g) . Thế là chúng nó nhao nhao :"Ối giời con voi đang si tình Phà Ca tụi bay ơi", từ đó bị nick là Con Voi Phà Ca, thiệt tình wê kể gì .
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/17/2012(UTC)
tý Xuân  
#484 Posted : Friday, January 13, 2012 7:58:19 PM(UTC)
tý Xuân

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,376

Thanks: 8 times
Was thanked: 97 time(s) in 38 post(s)
Originally Posted by: Lê Go to Quoted Post

Cám ơn Tí Xinh đã cho nghe một bản nhạc quen thuộc nhiều kỷ niệm, tiếng hát cô ca sĩ thật dễ thương với điệu Boléro .
Nhớ lại mấy chục năm trước còn ở Đà Nẵng một hôm bay hợp đoàn ra cù lao Ré sắp đáp, thấy một đoàn người khăn áo đi đám cưới . Tức cảnh sinh tình bấm vô tuyến rên :"hôm nay đám cưới người ta, cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn(g) . Thế là chúng nó nhao nhao :"Ối giời con voi đang si tình Phà Ca tụi bay ơi", từ đó bị nick là Con Voi Phà Ca, thiệt tình wê kể gì .


Ủa, thiệt tình hổng biết anh cũng quen thuộc với cái tên sơn nữ phà ca quê quê mà rất dễ thương đó!ngộ ghê, tình cờ mà nhắc tới kỷ niệm của Con Voi Phà Ca. hay thiệt nghe
Vậy, anh có quởn thì chịu khó nghe thêm bài đọc nè anh, dơi dài nhưng đã chia ra làm 2 phần
Thân quí
tyxinh


http://www.esnips.com/profile.php?uid=1107224
thanks 2 users thanked tý Xuân for this useful post.
Lê Hải on 1/14/2012(UTC), Hoàng Thy Mai Thảo on 1/17/2012(UTC)
Lê Hải  
#485 Posted : Monday, January 16, 2012 9:13:34 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)
Originally Posted by: tý Go to Quoted Post
Ủa, thiệt tình hổng biết anh cũng quen thuộc với cái tên sơn nữ phà ca quê quê mà rất dễ thương đó!ngộ ghê, tình cờ mà nhắc tới kỷ niệm của Con Voi Phà Ca. hay thiệt nghe
Vậy, anh có quởn thì chịu khó nghe thêm bài đọc nè anh, dơi dài nhưng đã chia ra làm 2 phần
Thân quí
tyxinh


http://www.esnips.com/profile.php?uid=1107224



Cám ơn tiếng đọc truyền cảm với những câu văn nồng nàn tình người đã cho Hải tôi những giây phút xúc động tận cùng . Bài hát The House Of The Rising Sun mang lại những ngày tháng của thập niên 60 khi chúng tôi được Không Quân gửi đi du học, thoáng chút từ tuổi hơn 20 nay đã bước vào tuổi gần 70 .
Cũng may trên dất nước bao dung này chúng ta nếu đã mất hết vẫn còn lại lòng hoài hương, tình dân tộc .
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/17/2012(UTC)
Ngọc Anh  
#486 Posted : Sunday, January 22, 2012 11:22:51 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,766

Thanks: 5167 times
Was thanked: 4354 time(s) in 2107 post(s)
UserPostedImage

Trước thềm năm mới 2012, thân mến chúc anh Lê Hải
Bình an và may mắn suốt 365 ngày Nhâm Thìn, nhất là suối nguồn thơ tình lai láng quanh năm suốt tháng

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Lê Hải on 1/23/2012(UTC)
Lê Hải  
#487 Posted : Monday, January 23, 2012 10:35:21 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)
Originally Posted by: Ngọc Anh Go to Quoted Post
UserPostedImage

Trước thềm năm mới 2012, thân mến chúc anh Lê Hải
Bình an và may mắn suốt 365 ngày Nhâm Thìn, nhất là suối nguồn thơ tình lai láng quanh năm suốt tháng





Cám Ơn Ngọc Anh đến xông đất năm mới . Chúc NA trăm vạn điều may mắn, muốn gì có đó, gia đạo an vui, trăm năm hạnh phúc .

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#488 Posted : Tuesday, February 7, 2012 5:48:27 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)


TIỄN NGƯỜI ĐI

"Chim bỏ trời xanh, đau gẫy cánh
Ngựa lìa chiến địa nhớ yên cương"

Vĩnh biệt người Phi công lẫm liệt của KQVN đã chu toàn bổn phận cùng
đất nước, quê hương, vừa thanh thản soải cánh bay về cùng Chúa.
Chúng tôi tủi mừng lưu luyến tiễn đưa Không Quân:

Bartholomew
PHẠM VƯƠNG THỤC

Đã giã từ đời, thong dong về cõi ngoại ngày 29 tháng 1 năm 2012
tại Orange County, California, USA
Hưởng thọ 71 tuổi

Thân ái xiết chặt tay Anh, vĩnh biệt người chiến sĩ không gian
đã sống hào hùng, chiến đấu hào hùng, tử sinh coi nhẹ

Chị Thục và các cháu cùng toàn gia, bạn bè chiến hữu chúng tôi
đều yêu thương, hãnh diện, tiếc nhớ người bạn quả cảm, tốt lành và đầy nhân ái

PHẠM VƯƠNG THỤC - CÁNH CHIM ƯU TÚ CỦA KHÔNG LỰC

Cầu chúc linh hồn Bartholomew được chan hòa hồng ân Thiên Chúa,
ngàn năm thanh thản an vui nơi cõi vĩnh hằng



Trương Công Bình - Lê Văn Chiếu - Nguyễn Văn Chín - Vương Minh Dương - Nguyễn Thành Điều
Hoàng Minh Đức - Lê Đình Hải - Phan Chí Hảo - Nguyễn Thanh Hoàng - Huỳnh Hạnh Kim Hồng - Nguyễn Hữu Huấn
Đào Vũ Anh Hùng - Lê Ngọc Túy Hương - Nguyễn Văn Khánh - Lệ Nguyễn - Nguyễn Hữu Lai - Nguyễn Lô
K. Mỹ Nguyễn - Phan Nhật Nam - Nguyễn Văn Ngà - Lê Xuân Nhị - Đỗ Tiến Như - Trần Văn Ngọc
Nguyễn Văn Phán - Nguyễn Xuân Phúc - Đặng Quỳnh - Nguyễn Văn Thanh - Phạm Văn Thận - Trần Quốc Thịnh
Nguyễn Anh Toàn - Mai Bá Trác - Tina Trần - Vũ Ngô Khánh Truật - Trịnh Hữu Văn - Nguyên Vũ

(Đào Vũ Anh Hùng biên soạn Phân Ưu)
















\

Edited by user Tuesday, February 7, 2012 5:49:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Thy Lan Thao on 12/27/2012(UTC)
Thanh Huyền  
#489 Posted : Wednesday, February 15, 2012 9:59:45 AM(UTC)
Thanh Huyền

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/15/2011(UTC)
Posts: 239
Location: Thơ Văn

Thanks: 17 times
Was thanked: 30 time(s) in 19 post(s)
Kính anh Hải vẫn khoẻ ạ!
Anh Hải biết không, ngày hôm qua,Thanh Huyền đọc được bài viết của tác giả Lôi Vân 71. Bài này nói về cố Đại Úy Phi Công Trần Minh Quan là anh ruột của Thanh Huyền. Tác giả viết từ năm 1993, mãi đến ngày hôm qua Thanh Huyền mới biết được. Xin phép anh Hải cho Thanh Huyền được dán ỏ đây nha. Dù sao thì anh Quan và anh Hải cũng là "Huynh đệ chi binh" mà, phải hông anh Hải. Cám ơn anh Hải nhiều lắm. Chúc anh Hải vui khoẻ luôn để còn được đọc thơ (thất) TÌNH của anh Hải dài dài.
Kính,
Thanh Huyền



ĐÀNH BỎ ANH EM

Lôi Vân 71

UserPostedImage


Mỗi khi nói đến Trần Minh Quan, bạn bè thường gọi anh bằng cái biệt danh không lấy gì làm êm tai cho lắm: "Quan Mập". Nói đến Quan Mập thì cả Không Đoàn không ai là không biết đến. Thế rồi theo thời gian, mọi người hầu như không còn ai nhớ tới họ và tên lót của anh nữa, ngoại trừ người hạ sĩ quan Văn thư Phi đoàn. Đặc biệt hơn nữa là trong Phi đoàn có đến hai Quan, người thứ nhất là Quan Mập, người thứ hai thì cao, hơi gầy, họ Huỳnh, thì lại được gọi một cách đàng hoàng là "Quan Huỳnh" để phân biệt với Quan Mập.

Trong suốt thời gian ở chung đơn vị, tôi chỉ vài lần thấy anh mặc đồ bay đúng kiểu Không Quân, còn ngoài ra, hầu như lúc nào anh cũng mặc quân phục của Phi công Trực thăng Bộ binh Hoa Kỳ, tức là áo quần riêng biệt và không bao giờ bỏ áo vô trong quần. Đã thế, anh lại còn không bao giờ mang cấp bậc, trên đầu lúc nào cũng chỉ có cái mũ lưỡi trai đen, bạc màu cố hữu. Thành ra, nhìn anh cứ y hệt như một người lính lang thang, vô kỷ luật nào đó (hoạ hoằng lắm thì mới thấy anh đeo khẩu P.38 bên hông, hoặc trong những phi vụ vô cùng nguy hiểm, anh mới mang theo mảnh áo giáp để che trước ngực). Tôi nghĩ, khi anh ra đường lỡ gặp Quân Cảnh thì họ sẽ "hốt" ngay về Quân vụ Thị trấn, với tội danh "lè phè" là cái chắc!

Thế nhưng mọi người sẽ bị lầm lẩn ngay, nếu đem tính tình và khả năng bay bổng của Quan ra để mà so sánh. Con người của anh không một chút gì giống với dáng vẻ bề ngoài: tính tình vui vẻ, luôn miệng nói cười, tôi chưa hề thấy anh nổi giận hoặc lớn tiếng với ai bao giờ, kể cả với những thuộc cấp không thi hành đúng lệnh của anh. Riêng về sự bình tĩnh, gan dạ, tình huynh đệ chi binh, lòng thành với các chiến hữu, có thể nói khó mà tìm được người thứ hai như anh.


UserPostedImage




Hình như Quan không hề biết sợ lưỡi hái của tử thần. Tôi còn nhớ, một lần trong lúc hành quân vào mật khu của địch ở bên kia biên giới Campuchia. Trước đó hai ngày, một phi cơ trực thăng của Phi đoàn do "Ngọc Già" điều khiển, trong một phi vụ hành quân, bị đạn phòng không địch bắn rơi, những phi cơ bạn bay trong cùng hợp đoàn với Ngọc, đã nhiều lần cố gắng đáp xuống để cứu phi hành đoàn, nhưng đều bị thất bại vì hỏa lực phòng không quá mạnh của địch quân. Cuối cùng, Phi đoàn Trưởng của chúng tôi đành phải quyết định cho hợp đoàn quay mũi trở về; ông không muốn hy sinh thêm thuộc cấp của mình.

Sau đó, không còn ai dám mạo hiểm, bay vào vùng hỏa lực phòng không dày như đan lưới, dù rất nóng lòng muốn cứu những đồng đội kém may mắn. Thế nhưng hôm ấy, sau khi hợp đoàn trở về Trảng Lớn ăn trưa (Căn cứ Trảng Lớn là nơi đặt Bộ Chỉ huy Tiền phương của Sư đoàn 25 Bộ Binh), Quan đã cùng phi hành đoàn âm thầm đi tìm chiếc phi cơ của Ngọc Già bị rớt. Một số người thấy Quan cất cánh, đều cho rằng anh đi lấy thêm xăng và gắn thêm rocket, để chuẩn bị cho phi vụ buổi chiều. Không một ai biết rằng anh đã ra đi để tìm kiếm các bạn của mình, và cũng không một ai biết rằng, anh và phi hành đoàn đã làm gì, mà chỉ biết độ chừng hơn nửa giờ sau đó anh bay về với xác của Ngọc trên tàu.



Một lần, tôi được dịp bay chung với Quan trong một phi vụ "cover" cho Chinook (trực thăng vận tải), tiếp tế cho căn cứ Tống Lê Chân của Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên phòng, đang bị địch bao vây. Vừa cùng hợp đoàn Chinook cất cánh từ Lai Khê, khi phi cơ lên tới cao độ chừng 500 bộ (khoảng 150 mét), đang lơ đãng nhìn những hàng cao su trùng điệp lướt nhanh dưới chân, đầu óc nghĩ tới những giây phút sắp đến, bỗng dưng tôi cảm thấy mũi phi cơ chúi xuống và lệch hẳn hướng bay. Với phản ứng tự nhiên của một hoa tiêu, tôi chụp lấy ngay cần lái điều chỉnh thăng bằng và lấy lại hướng bay. Nhìn sang ghế bên phải, tôi thấy tay chân Quan buông thõng, đầu rũ xuống, nghẹo sang một bên. Tôi vùa bấm intercom thất thanh gọi lớn: "Quan! Quan, anh làm sao vậy?" Thì bỗng dưng anh bật dậy cười ha hả: "Tao thử xem mày phản ứng ra sao, một khi lỡ tao bị bắn trên tàu". Tôi cự nự: "Giỡn cái gì mà ác vậy cha, lỡ chẳng may bị thiệt thì vợ con để cho ai!" Quan đáp: "Thì có thằng khác lo, sợ gì".

Sau đó tất cả chúng tôi trở lại với tâm trạng lo âu, nhưng có phần đỡ căng thẳng hơn trước đó, vừa bay vừa trao đổi với nhau, những câu chuyện vu vơ trên đường đi vào đơn vị bạn, đang bị áp lực địch đè nặng. Khi chúng tôi bắt đầu vào tới vùng trách nhiệm, hai chiếc Chinook cho biết họ sắp sửa vào đáp xuống căn cứ, thì mọi "thủ tục chào đón" của địch dành cho chúng tôi cũng bắt đầu, không thiếu một thứ gì - từ đốt pháo bông (súng phòng không), tới bắn đại bác chào mừng (pháo kích vào bãi đáp). Quan cùng chiếc số 2 cũng đã bắt đầu "đáp lễ" một cách vô cùng ngoạn mục; từng loạt rocket, từng tràng liên thanh của chúng tôi nhả xuống, liên tục như mưa trên đầu đoàn quân "sanh Bắc tử Nam".

Những họng phòng không, những nòng đại bác câm tiếng, hợp đoàn hoàn thành nhiệm vụ một cách mỹ mãn, trước sự bất lực và lòng căm tức của đám "bộ đội cụ Hồ".

UserPostedImage


Một lần khác, sau khi hoàn thành phi vụ từ An Lộc trở về, tôi bay chiếc gun (võ trang) số 2, đi kèm chiếc số 1 do Quan hướng dẫn. Vừa bay ngang suối Tàu Ô, Quan bấm máy liên lạc gọi tôi: "Ê gun 2, cover cho tao leo xuống kiếm thằng Quan Huỳnh".

Nghe Quan nói thế tôi thầm lo trong lòng, vì nơi Quan Huỳnh bị rớt, mất tích trước đó mấy tuần, chỉ cách suối Tàu Ô có vài cây số, là nơi đã từng xảy ra những trận quần thảo kinh hồn, giữa ta với địch cách đây không lâu, nay chắc chắn địch vẫn còn đóng chốt đâu đây. Thế mà, Quan bất chấp những gì đang chờ đợi mình dưới đất. Anh "rà" xuống thật thấp và bay thật chậm, với hy vọng may ra sẽ tìm được dấu vết nào đó củ Quan Huỳnh ở phía dưới. Từ trên cao 2000 bộ, rồi 1500 bộ, nhìn thấy Quan bay là là chung quanh chiếc phi cơ của Quan Huỳnh bị rớt, tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Tôi bấm máy gọi Quan: "Lên đi 1, không thấy gì đâu, nửa tháng nay rồi, còn gì mà tìm!" Quan đáp: "Ráng thêm chút nữa đi 2! May ra..."

Thấy Quan không chịu lên, tôi đành phải xuống thấp nữa để cover cho gần hơn. Bỗng nhiên tôi nghe giọng Quan vang vang trong máy: "Mẹ! Nó bắn, nó bắn lên!" Tôi không kịp trả lời Quan. Hai khẩu minigun 6 nòng củ tôi nhả từng tràng đạn liên hồi, với nhịp bắn tối đa (4000 viên trong một phút). Từ phía dưới, Quan vụt phóng lên và cao giọng: "Tao thấy chúng nó rồi, cover cho tao làm thịt!"

Rồi không cần biết tàu củ mình lúc nãy đã có bị trúng đạn hay không, Quan quay mũi về hướng mục tiêu và cắm xuống. Từng cặp rocket xé gió phóng xuống nổ tung. Xong đợt thứ nhất, Quan quẹo ra nói với tôi: "Hai, mầy vô đi, làm ăn chung quanh chỗ tao vừa làm, tụi nó đông lắm."

Tôi đã chuẩn bị sẵn, chỉ chờ có thế. Quan vừa quay ra là tôi bắt đấu cắm xuống. Và cứ thế, chúng tôi thay phiên nhau cho đến khi xả hết rocket mới chịu quay mũi bay về. May mắn, hôm ấy không tàu nào bị ăn đạn địch.



Nói về Quan, về thành tích trong chiến đấu cũng như trong tình chiến hữu, có lẽ phải viết một cuốn sách thật dày, may ra mới trình bày đầy đủ, những gì anh đã thể hiện trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Nhưng tiếc thay, tôi không đủ khả năng để làm công việc đó. Tôi chỉ có thể tóm tắt như sau: Quan không bao giờ tìm cách từ chối bất cứ một phi vụ nào, dù nguy hiểm tới đâu; Quan không hề quay lưng khi bạn bè lâm nạn, chưa từng lùi bước, khi đơn vị bạn dưới đất bị lâm nguy, không bao giờ chùn tay trước hỏa lực của quân thù...



Thế rồi vào một ngày gần cuối năm 1974. Hôm ấy thời tiết xấu, sương mù giăng phủ khắp vùng rừng núi chiến khu D, đồn điền Minh Thạnh. Ngay từ sáng sớm, chúng tôi đã có mặt bên sân đáp của Bộ Chỉ huy Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù, chờ đợi thi hành những phi vụ "đứng tim": đổ các toán biệt kích vào lòng chiến khu địch!

Sau cả ba lần cất cánh, chiếc trực thăng chỉ huy chở theo những sĩ quan trách nhiệm của Liên đoàn, đều đã trở về trong chán nản. Thời tiết quá xấu, sương mù vẫn còn dầy đặc khắp vùng hành quân. Mãi đến gần 3 giờ chiều, chiếc trực thăng cất cánh thêm một lần nữa, và lần này, các cấp chỉ huy đã quyết định, sẻ thả quân theo đúng kế hoạch dự trù.

Sau khi hợp đoàn đang làm vòng chờ ở phía quận lỵ Chơn Thành, hai chiếc võ trang của chúng tôi cùng với Charlie (chiếc chỉ huy), bay sâu vào vị trí để xác định bải đáp một lần cuối cùng, trước khi hợp đoàn vào hạ cánh. Xong xuôi, chúng tôi trở ra và bắt đầu hướng dẫn hợp đoàn bay vào. Thiếu tá Tiên, vị sĩ quan chỉ huy hợp đoàn là người từng nổi tiếng với những phi vụ spice go, căng thẳng đã đem lại những chiến công rực rỡ, cho đơn vị mình cũng như đơn vị bạn.

Với một giọng rõ ràng, bình tĩnh, ông hướng dẫn hợp đoàn tới địa điểm đổ quân. Quan bay bên trái, còn tôi phía bên phải. Trước khi tới địa điển, Quan dặn dò tôi: "Ráng coi chừng cho kỹ nghe Hai (chiếc số 2). Có dấu hiệu cho thấy tụi nó đông lắm đó!"

Tôi giữ im lặng, tay bấm máy hai lần, ra hiệu cho anh biết là tôi đã nhận rõ. Rồi giờ phút nghiêm trọng bắt đầu, khi tiếng của Charlie vang lên trong máy: "Số 1, sồ lần lượt bắt đầu hạ cánh".


UserPostedImage


Hai chiếc slick (đổ quân) cắt ga cho phi cơ từ trên trời "rơi" nhanh xuống, Quan kè theo chiếc số 1, tôi cặp với chiếc số 2. Cùng lúc đó, từng loạt đạn của nhiều loại vũ khí khác nhau, xối xả hướng lên phía chúng tôi - những mục tiêu tốt nhất của quân thù. Lập tức, hai chàng xạ thủ kinh nghiệm đầy mình của tôi đáp lễ, bằng cách cho hai khẩu minigun 6 nòng nhả đạn tới tấp. Bất chấp đạn địch bắn lên như đan lưới, hợp đoàn của chúng tôi vẫn giữ hướng bay đi vào bãi đáp theo lệnh của Charlie.

Bỗng nhiên, phi cơ của Quan quay đầu trở lại. Chưa hết ngạc nhiên thì tôi nghe Thiếu tá Tiên gọi lớn: "Gun1 đi đâu vậy? Quan, đi đâu vậy, sao không theo hợp đoàn?" Không nghe trả lời ông gọi tiếp: "Quan, Quan mày đi đâu vậy?" Vẫn không có tiếng trả lời, ông gọi cho tôi: "Gun 2, tiếp tục theo hợp đoàn" Tôi bấm máy: "Rõ, Charlie."

Vừa bay vừa nhả đạn, tôi không còn thời giờ để nghĩ tới Quan nữa, vì hiện tại hai chiếc "slick" chỉ còn một chiếc "gun" của tôi yểm trợ, tôi phải đặt hết tâm trí vào việc đối phó với quân thù.

Rồi cuối cùng hợp đoàn cũng đã thi hành xong nhiệm vụ. Khi cả chiếc trực thăng đạt đủ độ cao để bay về, tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm. Bây giờ mọi người mới nhớ tới Quan và chiếc gun số 1. Giọng Thiếu tá Tiên vang lên: "Gun 1, gun 1 đậy Charlie!" Vẫn yên lặng, ông hét lớn hơn: "Gun1 - Charlie. Gun 1 - Charlie."

Hoàn toàn không có tiếng đáp trả, ông gọi tôi: "Gun 2, dùng tần số nội bộ gọi gun 1 thử coi?!" Tôi đáp: "Đã gọi rồi Charlie, không nghe gì cả."

Qua một phút im lặng, tôi đang suy nghĩ xem có cách gì tìm được tàu của Quan không, thì bỗng nghe tiếng Thiếu tá Tiên la lên trong máy: "Có một chiếc trực thăng đang đậu dưới Chơn Thành, để tao xuống xem sao."


Cả hợp đoàn hạ cao độ thì thấy rõ ràng, chiếc gun 1 của Quan đang đậu dưới đó. Mọi người chưa hết ngạc nhiên và đang đặt một câu hỏi: "Chẳng lẽ lần này Quan Mập lại lạnh cẳng đến thế sao?" Thì được Charlie từ phía dưới báo lên một tin như sét đánh ngang tai: "Quan Mập đã đền nợ nước!"

Nghe tin này, tất cả chúng tôi như đang nằm trong mộng, sửng sờ, không nói với nhau được một lời. Phải cả phút sau đó, chúng tôi mới hoàn hồn và bày tỏ ý định muốn đáp xuống nhìn xác Quan và chia sẻ mất mát với anh em phi hành đoàn của gun 1, nhưng Thiếu tá Tiên không cho phép và ra lệnh cho chúng tôi bay về trước. Ông e rằng, một khi chúng tôi đáp xuống, địch sẽ rót đại bác vào quận lỵ, gây thêm mất mát, tang tóc cho mình một cách vô ích.

Vậy là sau bao lần thoát hiểm trong đường tơ kẻ tóc, cuối cùng Quan Mập cũng đã vĩnh viễn ra đi. Sau đó chúng tôi được biết, anh đã bị tử thương ngay những loạt đạn đầu tiên của địch. Một viên phòng không 12 ly 8 của quân thù, đã xuyên qua đầu anh và đâm thẳng lên trần ca-bin, phá hỏng hệ thống truyền tin của phi cơ. Vì thế mà Thiếu tá Tiên, tôi và tất cả anh em khác, không ai liên lạc được với phi hành đoàn của gun 1 nữa. Sau khi Quan trúng đạn, Lâm Văn Có, hoa tiêu phó của Quan hôm đó, vội vàng, vừa điều khiển phi cơ, vùa cố liên lạc với các phi cơ khác, nhưng vô hiệu. Không còn cách nào khác, Có đành quay mũi phi cơ, bay thoát ra ngoài và đáp xuống Chơn Thành...



Quan ra đi mà không một lời trối trăn từ biệt. Đành bỏ anh em bạn bè. Cánh chim nào lìa đàn mà không làm cả bầy xao xác, nhưng riêng với cố Đại úy Trần Minh Quan, một chiến hữu mà tôi từng mến phục, từng nhiều lần cùng nhau vào sanh ra tử, sự ra đi của anh đã để lại trong lòng tôi muôn vàn xót xa, thương tiếc.

Hơn mười chín năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh quan tài của Quan, với lá cờ vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc phủ kín, với tấm Đệ Ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương, kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu, lấp lánh bên hàng nến lung linh vẫn chưa phai lạt trong tôi. Và tôi cũng tin rằng, ở một nơi chốn bình yên nào đó, chắc chắn hồn anh cũng mãi nhớ đến những cánh chim cùng bầy ngày nào, giờ đang tan tác khắp bốn phương trời, cách biệt.



Lôi Vân 71
Melbourne cuối Đông '93'

Source:
hxxp://loivan231.30.forumer.com/index.php?showtopic=219

Edited by user Wednesday, February 15, 2012 10:46:40 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Thanh Huyền for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/24/2013(UTC)
Lê Hải  
#490 Posted : Thursday, February 16, 2012 11:12:52 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)


Cám ơn Thanh Huyền đã chia xẻ bài viết về anh Quan . Hải Tôi cũng đã đuọc gập anh một đôi lần ở Biên Hòa . Thủa đó anh đã nổi tiếng là phi công Gunship gan dạ và can đảm . Phi vụ định mệnh đó anh đã hy sinh tính mạng mình cho chiến hữu được sống . Xin kính cẩn nghiêng mình trước những anh hùng vị quốc vong thân .
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 2 users thanked Lê Hải for this useful post.
Thanh Huyền on 2/17/2012(UTC), Hoàng Thy Mai Thảo on 1/24/2013(UTC)
Lê Hải  
#491 Posted : Saturday, January 12, 2013 7:54:32 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)





Đọc Chuyện Xưa: LẠN TƯƠNG NHƯ
Ngô Viết Trọng

[size=7]Chuyện rút từ Đông Châu Liệt Quốc:

Vào thời chiến quốc, vua nước Triệu có viên ngọc họ Hòa rất quí. Vua Tần nghe tiếng động lòng tham muốn chiếm lấy. Thừa tướng Ngụy Nhiễm hiến kế giả đánh tiếng đem 15 thành Tây Dương để đổi, Triệu vốn yếu hơn Tần tất nhiên sợ Tần giận, phải cho đem ngọc đến, khi ấy cứ việc đoạt lấy mà chẳng cần giao thành cũng xong.
Vua Tần mừng rỡ liền sai sứ sang Triệu đề nghị xin đổi ngọc. Vua Triệu lo sợ, hội quần thần lại hỏi ý. Liêm Pha nói:
-Nếu trao ngọc cho Tần tất bị lừa. Ngọc mất mà thành chẳng lấy được đâu!
Lý Khắc khuyên nên chọn một dũng sĩ dắt ngọc theo mình đến đó, nếu nhận được thành thì trao ngọc, nếu không thì đem ngọc về.
Vua Triệu nhìn Liêm Pha hỏi ý nhưng Liêm Pha cúi đầu không đáp. Mục Hiền nói:
-Tôi có một xá nhân tên Lạn Tương Như vừa có sức mạnh lại nhiều mưu trí. Nếu cần đi sứ nước Tần không ai hơn người ấy.
Vua Triệu liền cho đòi Lạn Tương Như đến và hỏi:
-Vua Tần xin đem 15 thành để đối lấy viên ngọc của ta, tiên sinh nghĩ thế nào?
Lạn Tương Như đáp:
-Tần đem 15 thành đổi viên ngọc, như thế là viên ngọc được giá lắm rồi, nên đổi.
Vua Triệu nói:
-Nếu Triệu giao ngọc mà Tần không giao thành thì sao?
-Thì đó là lỗi của nước Tần.
-Nhưng những kẻ mạnh thường lấy sức mạnh làm lẽ phải?
-Nếu Đại vương sợ, tôi xin đem ngọc sang Tần. Nếu lấy được đất thì đổi, nếu không, tôi sẽ bảo vệ ngọc đến cùng.
Vua Triệu mừng rỡ phong Lạn Tương Như chức Đại phu và cử làm sứ giả đem ngọc sang Tần.
Lạn Tương Như đến Hàm Dương, vua Tần hay tin ngồi trên chương đài họp cả triều thần lại rồi cho Lạn vào yết kiến. Lạn dâng ngọc nhưng giữ cái hộp lại, chỉ dâng cái bao gấm. Vua Tần mở bao gấm lấy ngọc ra xem, quả nhiên là viên ngọc quí, không dấu vết gì, chạm khắc tinh vi, ánh sáng lấp lánh. Vua Tần tấm tắc khen ngợi rồi truyền chuyển cho quần thần mỗi người xem một chút, xong lại đưa vào cung cho các cung nữ cùng xem. Sau đó ngọc được đem ra đặt trên án vua.
Lạn Tương Như đứng một bên chờ đợi nhưng không thấy nói đến việc cắt đất giao thành, liền sinh ra một kế, quì trước mặt vua Tần tâu:
-Viên ngọc ấy quí thật, nhưng cũng có một ít tì vết, tôi xin chỉ cho Đại vương xem.
Vua Tần sai kẻ tả hữu lấy ngọc trao cho Lạn. Lạn cầm viên ngọc lui mấy bước, đứng dựa vào cột điện, trợn mắt nói với vua Tần:
-Ngọc bích họ Hòa là ngọc quí trong thiên hạ. Đại vương muốn đổi 15 thành lấy viên ngọc này. Lúc tiếp được thư của Đại vương, quần thần nước tôi đều cho là Tần ỷ mạnh, sẽ cướp lấy ngọc chứ không giao thành. Riêng tôi, tôi nghĩ bọn quần cộc áo vải như chúng tôi giao du với nhau còn không phụ lời huống là một ông vua. Vì thế tôi khuyên vua Triệu nên kính nể Đại vương, lấy chữ tín làm trọng. Vua Triệu nghe lời sai tôi đem dâng ngọc. Trước lúc tôi ra đi, vua Triệu trai chay 5 ngày, tỏ ra rất cung kính. Nay Đại vương tiếp tôi rất ngạo mạn, ngồi mà nhận ngọc, đưa cho kẻ tả hữu xem chán rồi lại đưa vào hậu cung cho mỹ nữ xem, quả là Đại vương không có ý cắt đất giao thành để đổi ngọc, cho nên tôi phải lấy lại. Nếu Đại vương bắt tội, tôi quyết đập nát viên ngọc với cái đầu của tôi nơi chân cột này để thiên hạ rõ lòng dối gạt của Đại vương.
Nói xong, Lạn Tương Như cầm ngọc bích đưa lên chực đập vào cột. Vua Tần tiếc viên ngọc, sợ đập bể mất, nói:
-Quan Đại phu chớ nóng giận, bản quốc đâu dám thất tín với Triệu.
Liền sai các quan lấy bản đồ nước Tần ra, chỉ 15 thành nói:
-Đây là những thành ta định giao cho Triệu để đổi lấy ngọc.
Lạn Tương Như quì tâu:
-Vua Triệu lúc sai tôi đem dâng ngọc có trai giới 5 ngày. Nay Đại vương nhận ngọc xin cũng làm y như vậy tôi mới dám dâng.
Vua Tần bèn cho Lạn Tương Như trở về nghỉ ở công quán và hứa sẽ trai giới 5 ngày để nhận ngọc.
Khi đã về công quán, Lạn Tương Như liền gọi một tên hầu cận bảo giả cách ăn mặc ra người nghèo khổ, bỏ bích ngọc vào một túi vải buộc sau lưng theo đường tắt trốn về tâu với vua Triệu:
-Xét thấy vua Tần không thật tình đổi thành lấy ngọc nên kẻ hầu này mang ngọc về trả lại.
Năm ngày qua, vua Tần làm một tiệc lễ mời các nước chư hầu và cả triều thần đến để khoe ngọc. Lạn Tương Như ung dung vào triều. Vua Tần thấy Lạn không mang ngọc liền hỏi:
-Ta đã trai giới 5 ngày, bày trọng lễ để nhận ngọc, cớ sao không mang ngọc đến?
Lạn Tương Như đáp:
-Nước Tần từ đời Mục Công đến nay, kể đến hai mươi đời vua, đời nào cũng dùng việc dối gạt để mưu lợi. Kể xa thì Kỷ Tư lừa Trịnh, Mạnh Minh lừa Trần. Kể gần thì Thương Ưởng lừa Ngụy, Trương Nghi lừa Sở. Việc trước còn rành rành không giữ được tín nghĩa. Tôi nay sợ Đại vương lừa, làm thất tín với vua nước tôi nên đã sai người mang ngọc về Triệu rồi.
Vua Tần giận tái mặt thét:
-Như vậy là sứ giả khinh ta quá lắm!
Nói xong hô kẻ tả hữu trói Lạn Tương Như lại. Lạn tâu:
-Xin Đại vương nguôi giận. Nếu sợ chết tôi đã trốn đi chứ đâu còn ở lại đây. Tôi biết cái tội đánh lừa Đại vương đáng chết nên đã gởi lời về tâu với vua Triệu đừng mong tôi trở về nữa. Xin Đại vương cứ giết. Nay chư hầu đã biết cái cớ nước Tần vì muốn được ngọc mà giết sứ Triệu, phải trái không còn che giấu được.
Vua Tần suy nghĩ giây lát rồi nói với quần thần:
-Giết Lạn Tương Như cũng không lấy được ngọc lại mang tiếng bất nghĩa. Chi bằng liệu cách khác thì hơn.
Nói rồi hậu đãi Lạn Tương Như mà cho về nước. Sau chuyến đi sứ ấy Lạn Tương Như được vua Triệu thăng chức Thượng đại phu.
Lấy ngọc không được, vua Tần lại tìm cách khác. Ông sai sứ đến ước với vua Triệu gặp nhau ở Mãnh Trì để giao hiếu. Vua Triệu nói:
-Trước kia Tần dùng mưu hội kiến, lừa bắt vua nước Sở giam nơi Hàm Dương đến phải bỏ mạng. Nay lại mời ta đi hội, ắt cũng âm mưu như thế chăng?
Liêm Pha và Lạn Tương Như bàn với nhau rồi tâu với vua Triệu:
-Tần mời hội kiến, nếu không đi tỏ ra ta yếu. Xin Đại vương cứ đi!
Thấy vua Triệu còn e ngại, Lạn Tương Như nói:
-Tôi xin theo bảo vệ Đại vương.
Liêm Pha nói:
-Tôi ở lại giúp Thái tử giữ nước!
Vua Triệu mừng rỡ nói:
-Được Lạn Tương Như theo hộ giá ta còn sợ gì!
Bình Nguyên Quân nói:
-Trước kia Sở Hoài vương tin theo lời Tần, chỉ đi một cỗ xe đến Hàm Dương, khi lâm biến không biết đâu gỡ gạt. Nay tuy có Lạn Tương Như theo, Đại vương cũng phải cho 5 ngàn quân tinh nhuệ đóng cách Mãnh Trì 30 dặm để yểm trợ mới được!
Các quan bèn đề nghị cử Lý Mục làm tướng chỉ huy 5 ngàn quân theo yểm trợ. Vua Triệu hài lòng cùng Lạn Tương Như thẳng đến Mãnh Trì.
Tới ngày hội kiến, vua Tần mở tiệc đãi vua Triệu để bàn quốc sự. Tiệc rượu nửa chừng vua Tần nói:
-Tôi trộm nghe vua Triệu giỏi về âm nhạc, nay nhân cuộc vui, xin nhà vua cho tôi được thưởng thức tài nghệ ấy. Nói xong sai người hầu lấy đàn bảo sắc ra để trước mặt vua Triệu. Vua Triệu đỏ mặt nhưng không dám từ chối, cầm đàn gảy một khúc Tương Linh. Vua Tần hết lời khen ngợi rồi bảo quan Thái sử ghi chép việc ấy. Quan Thái sử lấy thẻ ra, cầm bút viết:
“Năm… tháng… ngày…, vua Tần cùng vua Triệu họp ở Mãnh Trì, vua Tần sai vua Triệu gảy đàn sắc!”.
Lạn Tương Như thấy vua Tần làm nhục vua Triệu vội vã bước đến cầm cái phẫu đựng rượu nói với vua Tần:
-Vua Triệu biết Đại vương giỏi về âm nhạc nước Tần, yêu cầu Đại vương đánh cái phẫu này giúp vui.
Vua Tần giận tái mặt. Lạn Tương Như nói tiếp:
-Đại vương cậy nước Tần mạnh chỉ muốn sai khiến các nước khác mà không kính nể lân bang chăng? Nếu vậy là Đại vương đã làm nhục nước tôi! Tôi xin dùng cái chết để đổi lấy cái chết của Đại vương mà rửa mối quốc nhục!
Thấy bọn tả hữu của vua Tần muốn can thiệp, Lạn Tương Như hét lớn:
-Các người tới một bước ta cùng vua các người không còn!
Vua Tần sợ hãi ra hiệu bảo bọn tả hữu lui ra rồi đưa tay gõ vào cái phẫu rượu. Lạn Tương Như nói:
-Xin Đại vương bảo quan Thái sử chép việc này.
Vua Tần phải nghe theo, quan Thái sử lại chép:
“Năm… tháng… ngày…, vua Triệu cùng vua Tần hội kiến ở Mãnh Trì, vua Triệu sai vua Tần gõ cái phẫu rượu giúp vui!”.
Thấy không thể ép chế vua Triệu được, vua Tần bèn giả say, cùng vua Triệu ăn uống chuyện trò thân mật rồi bãi hội.
******
Vua Triệu về triều nghĩ đến cái công lao của Lạn Tương Như, hớn hở nói với các quan:
-Ta được Lạn Tương Như chẳng khác nào được ngồi trên tảng núi, chẳng lo gì sóng gió. Nay ta phong cho Lạn Tương Như chức Thượng tướng tưởng cũng chưa xứng đáng.
Liêm Pha thấy vậy bất bình, về đến dinh hằn học:
-Ta có công đánh thành cướp đất, còn Lạn chỉ lấy chút công chót lưỡi mà thứ vị lại ở trên ta. Vả lại, hắn là tên xá nhân của một kẻ hoạn quan, xuất thân hèn mọn, ta đời nào chịu đứng dưới hắn. Nếu trông thấy mặt hắn ta giết ngay!
Từ khi Lạn Tương Như nghe những lời nói ấy, ông thường tránh mặt Liêm Pha. Nhiều người thấy vậy thì chê Lạn Tương Như hèn. Một hôm ra đường gặp Liêm Pha từ xa đi tới, Lạn Tương Như bảo tên đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha đi xong mới đi. Bọn xá nhân thấy vậy buồn lòng nói với Lạn:
-Chúng tôi bỏ làng xóm, xa thân thích, đến đây để hầu hạ ngài, coi ngài là bậc trượng phu. Ngày nay ngài cùng Liêm tướng quân làm quan một triều, ngôi thứ lại ở trên, thế mà bị Liêm tướng quân dọa một câu ngài lại sợ đến nỗi luôn né tránh Liêm tướng quân! Chúng tôi thật xấu hổ không muống theo phò ngài nữa!
Lạn Tương Như buồn bã nói:
-Ta tránh Liêm Pha không phải vì sợ mà vì một duyên cớ khác các ngươi chưa hiểu đấy thôi!
Bọn xá nhân hỏi:
-Duyên cớ nào xin ngài cho biết?
Lạn Tương Như hỏi:
-Các người xem Liêm tướng quân uy lực bằng vua Tần không?
-Không bằng!
-Uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống thế mà ta lại dám mắng vào mặt vua Tần, làm nhục cả quần thần nước Tần nữa, vậy sao ta lại sợ Liêm tướng quân chứ? Ta biết nước Tần không dám đánh nước Triệu chỉ vì sợ ta và Liêm tướng quân. Nếu ta và Liêm tướng quân xung đột lẫn nhau, ắt nước Tần sẽ thừa cơ đánh Triệu. Ta nhịn Liêm tướng quân chỉ vì coi việc nước là trọng mà thù riêng là nhẹ vậy.
Bọn xá nhân nghe nói vỡ lẽ rất kính phục Lạn Tương Như.
Mấy hôm sau, hai bọn xá nhân của hai nhà gặp nhau tại một quán rượu tranh nhau chỗ ngồi. Xá nhân họ Lạn nói:
-Chủ ta vì nước mà phải nhường Liêm tướng quân, chúng ta cũng nên vì chủ mà nhường khách họ Liêm vậy!
Lạn Tương Như càng nhường nhịn thì Liêm Pha càng kiêu ngạo. Chẳng bao lâu có một người ở Hà Đông tên Ngu Khanh đến nước Triệu chơi, biết được chuyện bèn vào yết kiến vua Triệu nói:
-Trọng thần của Đại vương có phải là Lạn Tương Như và Liêm Pha không?
Vua Triệu đáp phải. Ngu Khanh nói:
-Đại vương có hai trọng thần sao lại để họ thù ghét nhau như thế thật không phải là điều phúc cho nước Triệu đó.
Vua Triệu ngạc nhiên hỏi:
-Có gì xảy ra giữa Liêm Pha và Lạn Tương Như sao?
Ngu Khanh bèn đem những lời nghe được kể lại và nói:
-Hai người chống nhau như thế tất lúc hoạn nạn khó mà giúp nhau. Như vậy Đại vương làm sao trông cậy họ được! Tôi xin vì Đại vương tìm cách nối lại mối tình giữa hai kẻ ấy.
Vua Triệu khen phải, nhờ Ngu Khanh dàn xếp.
Ngu Khanh bèn đến yết kiến Liêm Pha, trước tiên ca tụng công lớn của Liêm Pha. Liêm Pha mừng lắm. Ngu Khanh lại nói:
-Kể về công không ai bằng tướng quân, nhưng kể về đức thì không ai bằng Lạn Tương Như được!
Liêm Pha cau mặt nói:
-Lạn là kẻ hèn mạt, lấy chót lưỡi lập nên công danh, có gì mà gọi rằng đức?
Ngu Khanh nói:
-Lạn Tương Như đâu phải hèn nhát. Nếu hèn nhát Lạn đâu dám hai lần mắng vua Tần trước công chúng? Chẳng qua Lạn nghĩ đến việc lớn mà nhường tướng quân đó thôi!
Liêm Pha giật mình hổ thẹn nói:
-Nếu tiên sinh không nói tôi không bao giờ thấy được điều lỗi của tôi! Tôi thật kém Lạn Tương Như nhiều lắm!
Nói xong Liêm Pha tự trần vai áo, cầm roi đến tận cửa nhà họ Lạn tạ tội:
-Bỉ nhân hẹp hòi không hiểu đức khoan hồng của tướng quốc. Bỉ nhân dẫu chết cũng chưa hết tội!
Nói xong quì mãi ở giữa sân. Lạn Tương Như đỡ Liêm Pha dậy mà nói:
-Hai ta sánh nhau chung phò xã tắc. Tướng quân hiểu lòng nhau như thế là một ân huệ đối với tôi rồi. Xin đừng áy náy nữa!
Từ đó Liêm Pha và Lạn Tương Như kết tình sinh tử với nhau cùng giữ vững nền an ninh nước Triệu trước móng vuốt của bạo Tần.
******
Nước Tàu xưa kia gồm hàng ngàn nước lớn nhỏ luôn đánh giết nhau không dứt. Đến thời Chiến Quốc các nước nhỏ yếu lần lượt bị các nước mạnh thôn tính, chỉ còn 7 nước đáng kể là Tề, Sở, Tần, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên vẫn tiếp tục xâu xé nhau. Khoảng năm thứ 300 trước công nguyên thì thế lực nước Tần vượt trội hẳn các lân bang. Chẳng còn mấy nước có thể tự mình cự nổi Tần. Trước nguy cơ đó, nhà chính trị Tô Tần đưa ra kế sách “hợp tung” (liên kết các nước yếu) để chống Tần, đã áp dụng hữu hiệu được một thời gian. Câu chuyện Lạn Tương Như kể trên xảy ra vào thời điểm ấy.
Lạn Tương Như biết rõ hơn ai hết “sức mạnh lớn nhất của một dân tộc chính là sức mạnh ở sự đoàn kết”! Vì thế, khi bị Liêm Pha khiêu khích, Lạn đã âm thầm nhường nhịn Liêm để giữ sức mạnh của nước Triệu khỏi sứt mẻ. Điều đó sau này Ngu Khanh đã giải thích cho Liêm biết. Khi được biết Lạn nhịn mình chỉ vì đại sự quốc gia chứ không phải sợ mình thì Liêm tỉnh ngộ và bày tỏ thái độ phục thiện ngay. Liêm đã thành khẩn xin lỗi Lạn và hai người đã ôm nhau, thông cảm nhau. Từ đó họ đoàn kết một lòng phò Triệu chống Tần.

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#492 Posted : Sunday, January 13, 2013 11:08:58 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)


Thi hào Pháp Apollinaire (1880-1918) . Bài thơ của ông chỉ có 5 câu, mang tựa đề
L'Adieu (Vĩnh biệt)
( nguyên văn )
:
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends

Edited by user Sunday, January 13, 2013 11:12:44 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#493 Posted : Thursday, January 24, 2013 2:27:25 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)

Dạ Tâm Khúc

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa

Ði đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Ði đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Ðể anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
như bàn ghế không bầy

Thôi em hãy đứng dậy
người bán hàng đã ngủ sau quầy
anh đưa em đi trốn
những dày vò ngày mai

THANH TÂM TUYỀN



" Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới" .

Hiện tại, quá khứ và tương lai chỉ gồm trong môt câu thơ, theo tôi hiểu thi sĩ thăng hoa tình yêu đến tuyệt đỉnh .
Còn hay mất thôi thì coi như định lý cuộc đòi

Edited by user Thursday, January 24, 2013 2:28:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Ngọc Anh on 1/25/2013(UTC)
Ngọc Anh  
#494 Posted : Saturday, February 9, 2013 10:07:18 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,766

Thanks: 5167 times
Was thanked: 4354 time(s) in 2107 post(s)
UserPostedImage

Trước thềm năm mới thân mến chúc anh Lê Hải đạt được mọi ước mơ
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 2 users thanked Ngọc Anh for this useful post.
Cổ Thụ on 2/12/2013(UTC), Lê Hải on 2/12/2013(UTC)
Lê Hải  
#495 Posted : Tuesday, February 12, 2013 12:31:26 AM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)

Phiêu lưu vặt ghé nhà mới biết NA đến thăm để lại lời chúc thân tình đầu năm .
Lê Hải quý mến chúc Na và bửu quyến mọi điều như ý, an khang, thịnh vượng .

Edited by user Tuesday, February 12, 2013 12:32:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#496 Posted : Sunday, February 17, 2013 2:19:51 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)




.Người vợ của Bùi Giáng.
Vũ Đức Sao Biển


Đọc thơ Bùi Giáng, người ta nghĩ ông chỉ có những tình yêu viễn mộng. Ít ai biết ông đã có một người vợ đẹp và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm.
Tháng 7.2012, tôi trở lại thăm quê nhà ông - làng Thanh Châu (xã Duy Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam). Ghé thăm nhà thờ tộc Bùi, được người phụ nữ chăm lo hương khói nơi đây cho xem gia phả của tộc. Qua câu chuyện, tôi khẳng định một điều mới mẻ: Nhà thơ Bùi Giáng đã có vợ. Hình tượng của bà và tình thương yêu, tiếc nuối ông dành cho bà là nội dung chủ đạo trong 4 tập thơ của ông: Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột và Màu hoa trên ngàn (in tại Sài Gòn từ năm 1962 - 1964).
Bà nhớ lại Bùi Giáng được cha mẹ cưới vợ cho năm 1945, khi ông vừa 19 tuổi. Hôn nhân ngày trước thường do cha mẹ đôi bên sắp đặt. Có lẽ, cuộc hôn nhân của Bùi Giáng cũng không đi ra ngoài quy ước đó. Người phụ nữ giữ nhà thờ tộc Bùi xác nhận: “Chị Bùi Giáng về làm dâu nhà ông bà bác tôi (cụ Bùi Thuyên và bà Huỳnh Thị Kiền - cha mẹ ông Bùi Giáng) năm 18 tuổi. Chị là người Duy Xuyên, đẹp lắm, tóc dài da trắng cái chi cũng đẹp. Tên thật của chị là Vạn Ninh”.
Tất cả thành viên trong gia đình đều quý yêu bà chị dâu trẻ. Ông Bùi Luân - em ruột Bùi Giáng - tỏ lòng quý mến của mình với người chị dâu trong tập thơ Chớp biển của Bùi Giáng in tại Canada năm 1996: “Phải nhận là chị xinh đẹp, cởi mở, vui tính, hồn nhiên… Gương mặt chị, hình ảnh chị đã nổi bật, sáng ngời mãi trong ký ức tôi. Duy có điều bất cứ ai, dù không biết gì nhiều về tướng số, gặp chị là cũng nhận ra ngay: Chị không thể ở lâu với chúng ta trên cõi đời này, dù cõi đời vốn đã ngắn ngủi. Lấy chồng được ba năm, chị đã đột ngột lìa đời lúc mới ngoài hai mươi tuổi… Chị trút hơi thở một cách bình thản”.
Vợ chồng Bùi Giáng được cha mẹ cho một khu vườn đẹp ở làng Trung Phước để lập nghiệp. Trung Phước là thung lũng trù phú ven sông Thu, kế cận mỏ than huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ngày nay. Làng Trung Phước cách Thanh Châu trên dưới ba chục cây số. Có lẽ cuộc hôn nhân của lứa đôi trẻ trung này giữa miền đất Trung Phước không được êm ấm cho lắm. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cưới, người vợ trẻ đã phải lặn lội từ cái thung lũng ngoạn mục nhất đó, xuôi sông Thu Bồn êm đềm với ngàn dâu xanh ngát, về nhà bố mẹ chồng ở Thanh Châu cách hàng mấy chục cây số. Trên chiếc đò bé nhỏ, chàng trai nói với người vợ trẻ: Nếu em không đổi ý quay về, không bỏ qua chuyện cũ thì tôi sẽ… nhảy ra khỏi đò!
Khách xuôi đò tưởng người con trai đùa dọa người vợ mảnh dẻ. Để nguyên quần áo, ngay lập tức anh mình gieo xuống giữa dòng sông Thu. Và bơi theo đò. Để rồi thả trôi theo dòng nước hết chỗ mấy chục cây số đó, tới tận bến nhà”.
“Bỏ qua chuyện cũ” là chuyện gì? Đó là một chuyện hết sức tức cười và trẻ con. Ông Bùi Luân tiết lộ: “Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi: Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”. Thì ra, Bùi Giáng đã… đi trước thời đại chúng ta về chủ trương… ăn chay. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho cô vợ ăn rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn gà, bò - hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước.
Người vợ qua đời năm 1948 khi Bùi Giáng vắng nhà. Ông Bùi Luân viết tiếp: “Phút lâm chung, chị không thấy mặt chồng… Tôi chỉ biết là anh có mặt vào phút chót của buổi tiễn đưa chị về nơi an nghỉ cuối cùng - anh đứng bên cạnh chiếc quan tài với vành khăn trắng trên đầu”.
Bùi Giáng yêu vợ nhưng vẫn muốn… bỏ nhà đi chơi. Cũng bình thường như bao nhiêu người đàn ông Quảng Nam lãng mạn khi xa vợ, Bùi Giáng có thể gặp gỡ, giao lưu với những người phụ nữ khác và nhận ra họ vượt trội vợ ông về một vài phương diện nào đó. Thế nhưng, tình yêu và nỗi xót xa dành cho người vợ ở quê nhà thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết:
“Mình ơi, tôi gọi bằng nhà/Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”.
Hai năm sau cái chết của người vợ trẻ, ông dẫn một bầy dê lên Nông Sơn chăn thả, ngao du qua những đồi núi, suối khe mơ màng để nhớ thương vợ. Hai năm sau đó nữa, ông gửi bầy dê lại cho… chuồn chuồn và châu chấu, bỏ quê nhà đi chơi tiếp. Ở đâu, ông cũng phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Bài thơ nhớ vợ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm:
“Em chết bên bờ lúa. Để lại trên lối mòn. Một dấu chân bước của. Một bàn chân bé con! Anh qua trời cao nguyên. Nhìn mây buồn bữa nọ. Gió cuồng mưa khóc điên. Trăng cuồng khuya trốn gió. Mười năm sau xuống ruộng. Đếm lại lúa bờ liền. Máu trong mình mòn ruỗng. Xương trong mình rả riêng. Anh đi về đô hội. Ngắm phố thị mơ màng. Anh vùi thân trong tội lỗi. Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang”.
Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi biền biệt. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ, đến tha thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc ông nghĩ đến tình yêu của người vợ khổ.
Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi mình bà, đặc biệt những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình:
“Đùa với Tuyết, giỡn với Vân. Một mình nhớ mãi gái trần gian xa. Sương buổi sớm, nắng chiều tà. Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?”.
Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng:
“Mọi em là mọi sương xuân. Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh”. Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu:
“Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc. Nào phải không? Lệ chảy có vui gì? Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc. Nước xuôi dòng, ngàn thu hận ra đi”.
Ông phong tặng người vợ của mình - con mọi nhỏ, lên thành mẹ của giang san:
“Em thành Mẹ của giang san. Em là thần nữ đoạn trường chở che”. Thơ ông viết cho vợ càng lúc càng trang trọng. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ.
Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà vụt trở thành hình tượng cao quý nhất trong lòng ông, trong thơ ông:
“Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê. Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề. Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ. Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ”.
Lắm khi ở phương xa, ông nhớ cố quận. Qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện trước mắt:
“Trung niên thi sĩ uống trà. Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?”. Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà.

Vũ Đức Sao Biển



Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
ngoc tran  
#497 Posted: : Sunday, February 17, 2013 7:52:59 PM(UTC)
ngoc tran

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 4,670

Thanks: 3116 times
Was thanked: 4540 time(s) in 2187 post(s)
Originally Posted by: Lê Go to Quoted Post



.Người vợ của Bùi Giáng.

Vũ Đức Sao Biển
...
...
“Bỏ qua chuyện cũ” là chuyện gì? Đó là một chuyện hết sức tức cười và trẻ con. Ông Bùi Luân tiết lộ: “Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi: Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”. Thì ra, Bùi Giáng đã… đi trước thời đại chúng ta về chủ trương… ăn chay. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho cô vợ ăn rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn gà, bò - hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước.

Vũ Đức Sao Biển


NT thấy Bùi Giáng bị vợ bỏ là đúng quá rồi ,vợ đang tuổi 18,19 là tuổi mới lớn, tuổi ăn tuổi ngủ mà bắt người ta ăn toàn khoai lang và rau luộc ! Crying

Edited by user Sunday, February 17, 2013 9:37:11 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Lê Hải  
#498 Posted : Sunday, February 17, 2013 10:23:46 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)
Originally Posted by: ngoc tran Go to Quoted Post
NT thấy Bùi Giáng bị vợ bỏ là đúng quá rồi ,vợ đang tuổi 18,19 là tuổi mới lớn, tuổi ăn tuổi ngủ mà bắt người ta ăn toàn khoai lang và rau luộc ! Crying




Ậy Táo Nhí ăn toàn thịt bốn dọi nên mới ra cớ sự bé bự này đấy . Cứ rau với khoai luộc hồi ấy có nhẽ chả bị xù thảm nhẩy . Sad 5 minutes .
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#499 Posted : Friday, March 1, 2013 4:21:56 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)




Hỏi Đố

Trích Luận ngữ tân thư
Chẳng phải đầu, chẳng phải cuối. Chẳng phải từ trên xuống dưới, Chẳng phải từ dưới lên trên. Không phải từ trái qua phải, cũng không từ phải qua trái. Không phải từ trước đến sau, cũng không từ sau ra trước… Cái gì mà lơ lửng trong khoảng trời đất, muốn diệt không được, muốn cầu chẳng xong. Quét không mất đi, lôi không trở lại. Dìm xuống thì nổi lên, kéo lên thì chìm xuống… – Lời “tựa” trong “Luận ngữ tân thư”. Sau đây xin trích một đoạn trong bộ sách đó:
- Thánh nhân có đóng kịch không?
- Cuộc đời con người, có ai chẳng ít nhất phải một lần đóng kịch. Thánh nhân cũng không là ngoại lệ.
- Thánh nhân đóng kịch như thế nào?
- Khổng Tử chán chính sự nước Tề, muốn bỏ đi ngay. Thế là cơm không kịp nấu, phải bê nguyên cả nồi gạo mới vo mà chạy. Chạy ra khỏi địa giới nước Tề rồi, mới ngoảnh lại bảo học trò rằng: “đi chậm thôi, để còn ra dáng những người bị buộc phải xa tổ quốc…”. Đấy không những là một vở kịch, mà còn là vở kịch hay nhất cổ kim.
- Thánh nhân có nói sai không?
- Có ai cả đời toàn nói đúng bao giờ. Nhiều ít thế nào cũng có lúc nói sai. Thánh nhân cũng không là ngoại lệ.
- Thánh nhân nói sai như thế nào?
- Thuở thiên hạ loạn lạc, dân chúng lầm than, lòng người ly tán. Vua nước Lương hỏi Mạnh Tử: “ai là kẻ thống nhất được thiên hạ?”. Mạnh Tử nói: “kẻ nào không ham giết người thì kẻ đó thống nhất được thiên hạ.” Về sau, Tần Thuỷ Hoàng, kẻ thống nhất thiên hạ ấy lại là kẻ thích giết người, giết người như ngoé.
- Thánh nhân có tranh giành không?
- Đời là một cuộc tranh giành vĩ đại. Có ai không hề tranh giành mà tồn tại được bao giờ. Thánh nhân cũng không là ngoại lệ.
- Thánh nhân tranh giành như thế nào?
- Khổng Tử làm quan nước Lỗ. Mỗi khi đi săn, có tục là mọi người tranh nhau những con thú săn được. Những lần như thế, Khổng Tử cũng phải lao vào cuộc tranh giành. Nếu không, chẳng nhẽ về tay trắng, lấy đâu ra thịt để cúng tế. Mà không cúng tế, phỏng có còn là Khổng Tử nữa chăng?
- Thánh nhân có bị làm nhục không?
- Có.
- Ai làm nhục được thánh nhân?
- Dân chúng tôn thánh nhân làm thầy, vì thế không làm nhục thánh nhân. Chỉ bậc vua chúa mới có cái thú làm nhục thánh nhân mà thôi.
- Làm nhục như thế nào?
- Vua nước Lỗ ban thịt chín cho Tử Tư. Mỗi lần ban, Tử Tư phải lạy hai lạy trước khi nhận thịt. Một lần, hai lần, rồi ba lần… Lạy mãi cũng chán. Tử Tư bèn dắt sứ giả (người mang thịt) ra ngoài thành, quay mặt về phía bắc lạy hai lạy mà bảo rằng: “bây giờ ta mới biết vua Lỗ nuôi ta như nuôi chó ngựa.” Rồi trả thịt lại, từ đó quyết không nhận nữa.
- Thánh nhân có kén “ăn” không?
- “Ăn” giỏi là đằng khác.
- Giỏi như thế nào?
- Khổng Tử nói: “ở đời, ai chẳng phải ăn uống. Nhưng ăn uống mà phân biệt được mùi vị, biết miếng nào ăn được, miếng nào cần phải kiêng, miếng nào đàng hoàng, miếng nào vụng trộm, miếng nào là miếng vinh, miếng nào là miếng nhục… thì thiên hạ phỏng có được mấy người.” “Ăn” mà có “lý luận”, có “tư tưởng” kỹ đến thế, tất phải là bậc giỏi “ăn” lắm.
- Vậy thánh nhân có phải là kẻ sĩ không?
- Thánh nhân vừa là kẻ sĩ, vừa không phải kẻ sĩ. Thế tức là khác nhau chứ.
- Khác như thế nào?
- “Chiến quốc sách” có câu: “cứ ba trăm dặm, tất có một kẻ sĩ. Nhưng phải ba trăm đời, mới có được một thánh nhân.” Xem thế thì biết, ảnh hưởng của kẻ sĩ chỉ được tính trong phạm vi không gian (ba trăm dặm). Còn ảnh hưởng của thánh nhân thì phải tính bằng thời gian (ba trăm đời).
- Thế những lúc không có thánh nhân thì làm thế nào?
- Có thể dùng kẻ sĩ để thay thế. Nhưng phải dùng cẩn thận.
- Cẩn thận như thế nào?
- Chỉ sử dụng trong một thời nhất định, hết thời là loại bỏ ngay, không được kéo dài. Và nhất là chỉ giới hạn trong khoảng ba trăm dặm mà thôi, vượt quá sẽ phản tác dụng.
- Tại sao lại phản tác dụng?
- Vượt quá tất sẽ “đụng” kẻ sĩ khác. Các kẻ sĩ thường không ai phục ai.
- Bậc vua chúa có cái thú làm nhục kẻ sĩ như đối với thánh nhân không?
- Không cần phải có cái thú ấy, cả trong thời thịnh trị lẫn thời loạn.
- Thời thịnh trị thì sao?
- Trong thời thịnh trị, bậc vua chúa đôi khi chỉ đùa bỡn với kẻ sĩ mà thôi. Ví dụ giả vờ đẩy ngã xuống hồ chẳng hạn.
- Thế còn thời loạn?
- Càng không cần có cái thú ấy. Bởi trong thời loạn, những “kẻ sĩ” đã thường xuyên tự làm nhục mình và làm nhục lẫn nhau rồi.

Phạm Lưu Vũ


Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Lê Hải  
#500 Posted : Tuesday, March 19, 2013 11:39:09 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 751 time(s) in 380 post(s)
TUỆ SỸ TRÊN NGÕ VỀ IM LẶNG



Giữa thiên đường rong chơi lêu lổng
Cõi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu

Tuệ Sỹ là ai mà thơ hào sảng, hùng tâm tráng khí như thế ? Tuệ Sỹ quê Quảng Bình, sinh năm 1943, nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết học về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ.
Cùng đứng tên trong nhóm chủ trương tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, trước năm 1975, Tuệ Sỹ cũng là giáo sư giảng dạy Thiền tông, Trung quán luận ở Đại học Vạn Hạnh và Cao đẳng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang, nổi bật lên như một hiện tượng độc đáo, gây bao nguồn cảm hứng cho những tâm hồn ưa thích thiền học, thi ca và phiêu lãng.
“Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết mọi chân trời mới cũ từ Đường thi Trung Hoa tới siêu thực Tây phương.”* Bùi Giáng đã nhận định như thế về Tuệ Sỹ qua bài thơ Không đề :
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng ?
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Trừ thi sĩ Bùi Giáng ra, khi nói về Tuệ Sỹ thì có lẽ không ai đủ tư cách, thẩm quyền bằng triết gia Phạm Công Thiện : “Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau thì mới may ra cảm nhận đôi chút tác phong thiền sư kín đáo toát ra một cách tự nhiên, một cách vô công dụng hạnh từ đời sống thường nhật và tinh thần diệu nhập của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là thiền sư với tất cả đắn đo thận trọng, với tất cả ý nghĩa cao đẹp và như thực của một danh xưng xung thiên chí.”
Như vậy, chúng ta có thể gọi Tuệ Sỹ là một thiền sư thi sĩ với ý nghĩa trọn vẹn, tốt đẹp nhất của danh từ. Còn tiến sĩ kỳ tài Lê Mạnh Thát, bạn thân thiết, cận kề Tuệ Sỹ là nhà Phật học, Sử học quảng bác, lão luyện, uyên thâm, một con người quán tuyệt cổ kim, thông tuệ, siêu quần bạt chúng, cũng bằng tuổi Tuệ Sỹ.
Giống như Tuệ Trung Thượng Sỹ thời Trần thuở xa xưa, Tuệ Sỹ bây giờ cũng là một thiền sư thi sĩ đích thực. Điều đó chứng tỏ qua những tác phẩm thâm viễn, uyên áo, nhất là thể hiện qua phong cách sống đạm bạc, đơn sơ giản dị mà rất nghệ sĩ phiêu bồng, thong dong phóng khoáng, khai mở thông lộ tự do cho con người, biết mỉm cười vô úy, “uy vũ bất năng khuất” trên tinh thần Đại bi tâm trầm hậu giữa muôn chiều diệu dụng với đời sống thực tại cái đang là.
Năm 1973, Tuệ Sỹ vừa đúng 30 tuổi, viết Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng, một tác phẩm thâm thúy tuyệt trù, trữ tình lai láng, tràn đầy chất nhạc và thơ, mở ra con đường phong quang sáng tạo, ngạt ngào hương vị thi ca hòa chan cả trời thơ đất mộng không cùng : “Đạt đến cõi thượng thừa của Thơ như người học Thiền chứng chỗ Không tịch của Đạo, cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền ba mươi năm đày đọa thân tâm mà không thành. Phẫn chí bỏ đi, bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó giảng cho thông. Cho nên không thể nào lấy tay chỉ thẳng vào cõi thơ, rồi bảo đây là chân diện mục của nó…
Thơ phát ra từ những khổ lụy và những nguyện ước khơi vơi của cuộc tồn sinh, từ độ đó, Thơ đi vào những thảm họa hoành sinh của lịch sử. Từ buổi bình minh, Thơ vang vọng những lời tình tự thiết tha, từ tiếng chim thư cưu nơi cồn cát đến những đêm dài trằn trọc... Thơ dấn bước đi vào cuộc lữ…
Thơ phát ra từ cuộc lữ đọa đày rồi trở lại đọa đày cuộc lữ. Cuộc lữ là trường thể nghiệm lịch sử tồn sinh thảm họa của Thơ và Thơ mở rộng những phương trời lữ thứ. Quê hương nguyên thủy chỉ là những âm vang của lịch sử, vang dội ngân dài trong những phương trời viễn mộng. Cho nên đất của Thơ là đất trích, là những vùng đày ải, đường của Thơ là quán trọ, là những bước đường ngược gió. Mặn nồng nơi đất trích, lân la nơi quán trọ, cuộc thể nghiệm dây dưa với hằng triệu vấn vương và cũng là cuộc thể nghiệm cho khước từ tuyệt đối… Bởi cách điệu trầm trọng như thế, nên Thơ là phong vận tài hoa, đẹp như những cụm mây trời trong nắng sớm.”**
Tuệ Sỹ nói về cõi thơ Tô Đông Pha mà vô hình chung cũng dường như nói về cõi thơ của chính mình. Thật vậy, cõi thơ Tuệ Sỹ bước đi bi tráng giữa dòng sử lịch kinh hoàng của thời hiện đại. Đơn sơ mà kỳ vĩ, bi ai mà hùng tráng, im lặng mà sấm sét,tĩnh toạ mà phiêu bồng, đó là cõi thơ trầm thống, khốc quỷ kinh thần của Tuệ Sỹ, một thi sĩ thượng thừa, một tài hoa đủ điệu, một tâm hồn cô liêu cùng tuyệt với hồn thơ thâm viễn, uyên mặc u ẩn, ngân dài trên giai điệu trầm tư lãng đãng :
Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về

Để cho trời thơ phiêu phưỡng, bước đi lồng lộng, độc hành ca giữa đỉnh cao và hố thẳm, làm kẻ rong chơi từ thuở hồng hoang hỗn độn, phiêu hốt tang bồng, rong rêu, lêu lổng trong cuộc mộng trần sa :
Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Rủ mi dài trên bến cỏ sương khô
Vì lêu lổng mười năm trời nói mộng
Ôm tình già quên bẵng tuổi hoàng hôn
Một sớm nọ nghe chim buồn đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần
Đất đỏ thắm nên lòng người hớn hở
Đá chưa mòn sao lòng dạ trơ vơ
Thành phố nọ bởi sương mù nắng quái
Nên mười năm quên bẵng mộng giang hồ

Cuộc rong chơi phiêu bạt, lãng tử giang hồ vô tận đến nỗi quên bẵng hết những chuyện mộng mị chiêm bao, hồn thi nhân chuếnh choáng, xuất thần lâng lâng rồi chợt bỗng hóa thân thành cánh chim én mùa xuân bay qua dòng sông chiều tàn hoang vắng hay làm cánh bướm chao nghiêng, tung lượn xôn xao giữa mưa nắng phong trần :
Một con én một đoạn đường lay lất
Một đêm dài nghe thác đổ trên cao
Ta bước vội qua dòng sông biền biệt
Đợi mưa dầm trong cánh bướm xôn xao
Bóng ma gọi tên người mỗi sáng
Từng ngày qua từng tiếng vu vơ
Mưa xanh lên tóc huyền sương nặng
Trong giấc mơ lá dạt xa bờ
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng
Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa
Con bướm nhỏ đi về trên cánh mỏng
Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa ?
Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng
Người vẫn đi như nước chảy xa nguồn
Bờ bến lạ chút tự tình với bóng
Mây lạc loài ôi tóc cũ ngàn năm

Ngàn năm rồi mà sao vẫn còn mãi lạc loài hỡi mây trắng hoằng viễn miên du ? Nhà thơ chợt lặng thầm trầm tư thắc mắc, chẳng biết chiếc lá vàng úa rụng xa mùa kia sẽ về đâu giữa phong ba, bão loạn ? Nhưng rồi bỗng thấy “năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” nên cứ để mặc nhiên cho dòng thơ trôi chảy qua nghìn bến bờ xa lạ nhòa nhạt hoang vu tận cuối bãi mịt mù. Thi nhân chạnh lòng trắc ẩn trong ngậm ngùi, khắc khoải, xót xa cho bao kiếp người phải hốt hoảng, kinh hoàng vượt trùng dương để tìm kế sinh tồn. Cưu mang nung nấu một nỗi niềm tâm sự mênh mông, không biết bày tỏ cùng ai nên chẳng biết nói gì hơn là để cho tiếng lòng ngân lên cung bậc sầu thương vô hạn trước những lượn sóng cuồng phong chìm nổi giữa sinh tử ba đào :
Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi ! Mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao ?
Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phìm dương cầm hay máu xanh

Hình ảnh máu màu xanh bầm tím rơi xuống như mưa mù thảm đạm thật khiếp đảm làm sao, gợi ra bao cảnh xiêu hồn lạc vía ở địa ngục âm u mù tăm tối. Ơi chao ! Địa ngục đó chẳng phải ở dưới lòng đất sâu kín kia mà lại ở ngay trên mặt đất trần gian này mới đâu đớn, rợn người khủng khiếp chứ ! Từ khi chứng kiến biết bao oan khiên, nghiệt ngã, biết bao khổ lụy đọa đày diễn ra một cách khốc liệt, tàn bạo, vô nhân đạo, vô lương tâm trên khắp mọi miền thế giới đó, nhà thơ nhạy cảm của chúng ta đã thấm thía một nỗi buồn vạn cổ sầu trong vô lượng xót thương :
Ôi nỗi buồn từ ngày ta lạc bước
Cố quên mình là thân phận thần tiên

Cốt cách, phong vận của thi nhân vốn là ở cõi tự do tiêu sái, tiêu dao, bay bổng chất ngất một trời thần tiên huy hoàng tráng lệ. Thế mà cũng đành phải cố quên đi tất cả, vì ma quỷ A tu la tham sân si đã hiện hình như người, dùng bạo lực thâm độc, dốc hết tốc độ tham tàn, sân hận, si mê giáng xuống những tai ương thảm họa, trong cơn điên đảo loạn cuồng. Buồn quá phải không, buồn chết lặng quặn lòng đau tê tái giữa chập chùng bóng tối u mê :
Lửa đã tắt từ buổi đầu sáng thế
Một kiếp người ray rứt bụi tro bay
Tôi ngồi mãi giữa tha ma mộ địa
Lạnh trăng tà lụa trắng trải rừng cây
Khuya rờn rợn gió vèo run bóng quỷ
Quỷ run run hôn mãi lóng xương gầy
Khóc năn nỉ sao hình hài chưa rã
Để hồn tan theo đốm lửa ma trơi
Khi tâm tư chưa là gỗ mục
Lòng đất đen còn giọt máu xanh ngời

Một khi đối diện với quỷ ma giữa ban ngày thì hầu hết chúng ta đều hãi hùng khiếp sợ, nhưng ở đây, kỳ lạ thay, nhà thơ vẫn hào hùng vô uý, khi biết mình đang giáp mặt với thập tử nhất sinh. Một mình lẫm liệt hiên ngang bất khuất, dấn bước lên đường dưới gầm trời bão loạn cuồng si. Đi về đâu hỡi Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân, hỡi Tăng Triệu, Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, hỡi Tô Đông Pha, Lý Hạ, Vương Duy, hỡi Duy Ma Cật, Thiện Tài, Thắng Man, hỡi Suzuki, Nietzsche, Heidegger…giữa điêu tàn tan hoang trên mặt đất ? Rồi lặng hồn lắng nghe đồng vọng vang lên những lời kinh Hoa Nghiêm hùng tráng :
Trang phục bằng khôi giáp Nhẫn kiên cố
Thanh gươm Trí trong cánh tay Đại bi
Nguyện đấng Đại Hùng dũng mãnh hướng dẫn con
Trực diện chiến đấu với ma quân

Với cánh tay Đại bi cầm thanh gươm Đại trí, thi nhân còn mặc thêm áo giáp Vô sanh pháp nhẫn nữa thì cũng thừa sức dấn mình vào địa ngục trần gian, trực diện đương đầu với đảo điên, chuyển hóa ma vương, quỷ sứ đang quờ quạng, loạn cuồng trong bóng tối vô minh. Cuộc thế trận sinh tử kinh hồn, một lần tận tường giáp mặt là một lần thấu triệt lẽ vô thường huyễn ảo quá đỗi mong manh trong cõi người ta và cũng chính từ đó, thi nhân mới phát Bồ đề tâm, phát đại nguyện thượng thừa, gánh vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường của nhân gian như chính lời Tuệ Sỹ nhắc nhở rạt rào : “Bồ đề tâm, đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy mình đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ nhục, mong tìm một con đường sáng, không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà còn là để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ đề tâm, đó là ý chí kiên cường, bất khuất của một con người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc bởi tham vọng điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. “Vui sướng gì, thích thú gì giữa ngọn lửa tam độc không ngừng thiêu đốt ? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi tìm bó đuốc ?” Không có tâm nguyện đó, không có ý chí đó, Bồ tát đạo chỉ là một con đường xa xôi, không tưởng, thần thoại hoang đường và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của một người mê sảng trong giấc ngủ ngày.”*** Thi nhân thấy như vậy bằng đôi mắt sâu thẳm rực lửa tam muội của chính mình nên vẫn thường vô vi tùy duyên nhẹ bước vào ra giữa ta bà đây đó :
Đây khúc nhạc đưa hồn lên máu đỏ
Bước luân hồi chen chúc cọng lau xanh
Xô đẩy mãi sóng vàng không bến đỗ
Trời lênh đênh ma quỷ rắc tro tàn
Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Đổi hình hài con mắt vẫn đầy sao

Từ vô thủy đến vô chung, cuộc luân hồi khởi sự từ đâu chẳng biết, chỉ hay rằng từ lúc nghe đồng vọng những trận gió phù trần tận chốn miền thiên thu vi vu thổi tới giữa vạn đại miên trường :
Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Nghìn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương
Đan sa rã mộng phi thường
Đào tiên trụi lá bên đường tử sinh

Sinh tử là một việc trọng đại như thi nhân đã có lần nói tới trong lời tựa Vô môn quan của thiền sư Vô Môn, do Trần Tuấn Mẫn dịch : “Nơi đây, sa mạc vẫn cứ thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách của hư vô. Lẽ sống và lẽ chết cứ mãi bập bềnh trên hư ảo. Tâm hồn miệt mài nóng cháy, nhưng không cháy tan nổi những giấc mộng hãi hùng của hư vô và huỷ diệt.” Hư vô đã trở thành một thứ chủ nghĩa đang huỷ diệt mặt đất một cách trầm trọng đau thương, gây bao tang tóc não phiền, khiến thi sĩ nghe ra nghèn nghẹn tận đáy hồn :
Một ước hẹn đã chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa mãi giữa lòng sâu
Nghe một nỗi hao mòn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào
Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc
Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao
Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu
Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu

Giọt máu nào phiêu lưu, lạc nẻo xa nguồn trôi tan tác, lao đao trong nỗi hao mòn tàn tạ, trong cơn gió lốc kinh hồn rờn lạnh buốt xương da ? Đi là đi mất, đi biền biệt, biến tan như sợi khói mỏng manh giữa bầu trời gió lộng, không bao giờ trở lại nữa, nhưng vừa đi vừa ngoái nhìn để lắng nghe những tiếng gào kêu thống thiết của nhân gian, của thập loại chúng sinh đang quằn quại rên siết trong bao đổ nát đoạn trường, dâu bể tan hoang đầy thảm hoạ tồn sinh bức bách rợn ngần :
Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận
Lời ai ru trào máu lệ bi thương ?
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi tìm dấu cũ quê hương
Ai tóc trắng sững sờ trên tuyết lãnh
Bước chập chờn heo hút giữa chiều sương
Viên đá nhỏ mấy nghìn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu vết hoang đường ?

Hoang đường nào còn in trên dấu vết lênh đênh ? Tên tuổi nào cô liêu đến bạc trắng cả mái đầu ? Sầu thế kỷ điêu linh nào cứ ngân dài mãi trong não nề thê thiết :
Tang thương một dải tóc huyền
Bãi dâu ngàn suối mấy miền hoang vu
Gởi thân gió cuốn xa mù
Áo xanh cát trắng trời thu muộn màng
Chênh vênh hoa đỏ nắng vàng
Gót xiêu dốc núi vai mang mây chiều
Tóc huyền loạn cả nguyên tiêu
Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu

Cô liêu, cô đơn, cô độc, cô lữ là bước đi kỳ cùng của người thi sĩ dị thường. Bước đi chênh vênh, khập khễnh bên này cát bụi phù du, bên này bờ Thị Ngạn Am xao xác cọng lau gầy sậy yếu lặng phất phơ. Thở cùng hương trái đắng và hương nắng buồn trong mắt biếc nhiều diệu vợi uyên tư :
Gà xao xác gọi hồn ta từ quá khứ
Về nơi đây cùng khốn với điêu linh
Hương trái đắng mùa thu buồn bụi đỏ
Ôi ngọt ngào đâu mái tóc em xinh
Từng tiếng lẻ loi buồn thống thiết
Nghe rộn ràng từ vết lở con tim
Từ nơi đó ta ghi lời vĩnh biệt
Nắng buồn ơi là đôi mắt ân tình
Còi xa vắng giữa trưa nào lạc lõng
Môi em hồng ta ước một vì sao
Trưa dài lắm nhưng lòng tay bé bỏng
Để vươn dài trên vầng trán em cao

Em ở đây chính là hình ảnh cuộc đời. Cuộc đời nếu nhìn từ chân đế, vốn là tuyệt trần Chơn mỹ, vốn là Vô sinh bất diệt, vốn là Niết bàn, Tịnh độ như thị như nhiên. Biết được điều đó, cho nên lòng thi nhân tự bao giờ vẫn vô cùng khoan dung rộng lượng, thương yêu nhân loại trong vô ngôn lặng lẽ, trong tận cùng dung nhiếp âm thầm, chia sẻ với muôn loài vạn vật trần ai :
Ta sống lại trên nỗi buồn ám khói
Vẫn yêu người từng khoảnh khắc chiêm bao
Từ nguyên sơ đã một lời không nói
Như trùng dương ngưng tụ ánh hoa đào
Nghe khúc điệu rộn ràng đôi cánh mỏi
Vì yêu người ta vói bắt ngàn sao

Vô biên vô lượng thương yêu con người tha thiết mà không bao giờ nói mình yêu thương gì hết cả, đó mới chính là thương yêu đích thực nhất. Phải chăng chỉ có những tấm lòng Bồ tát mới có thứ tình yêu vô điều kiện, vô phân biệt như vậy ? Một tình yêu rộng rãi Đại bi tâm nhập diệu, kết tinh thành bản tình ca mà thi sĩ thường lắng nghe từ hun hút biển ngàn, sông núi giữa trời đất mênh mang :
Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua chứng tích điêu tàn
Triều Đông hải vẫn thì thầm cát trắng
Chuyện tình người và nhịp thở Trường Sơn
Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng
Tay anh vói trời cao chim chiều rủ rỉ
Đời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn
Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Đôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Đông phương

Bản tình ca vô tận ấy, thi nhân vẫn nghe hoài rung ngân bất tuyệt trên những dặm dài long đong lữ thứ ở dọc đường quán trọ bơ vơ, bên làng mạc, thôn ấp đìu hiu, cạnh ven rừng sơn dã hay quanh triền sông thị trấn tiêu điều hoặc trên ghềnh suối truông ngàn hoang vắng tịch liêu giữa những chiều sương khói chơi vơi bềnh bồng trống trải :
Em trải áo trên hoa rừng man dại
Để hoa rừng nước cuộn biết yêu nhau
Nhưng nước cuộn xóa đời ta trên bãi
Để hoa rừng phong nhụy với ngàn lau
Em xỏa tóc cho cây khô sầu mộng
Để cây khô mạch suối khóc thương nhau
Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng
Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu
Ta chiến đấu nhọc nhằn như cỏ dại
Thoảng trông em tà áo mỏng vai gầy
Ôi hạnh phúc chợt thấy mình nhỏ bé
Chép tình yêu trên trang giấy thơ ngây
Ta cúi xuống trên chân người bụi đỏ
Để nhìn sâu trong vết tích hoang đường
Ta sống lại trên môi cười rạng rỡ
Để nhìn sâu trong ngọn nên tàn canh

Bằng ánh mắt từ tâm thâm cảm, nhà thơ bi tráng của chúng ta nhìn sâu vào lòng đời với nụ cười bao dung rạng rỡ. Thở cùng điệu hát bản tình ca nhã nhạc vang lừng trên núi rừng cô tịch hay giữa ngày hội lễ rộn ràng dưới phố thị xôn xao, nhà thơ đều im ắng lắng nghe trong từng khoảnh khắc lặng trầm, cảm nhận sâu xa vì biết chỉ là chiêm bao huyễn mộng trong khói bụi chập chờn :
Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao

Em là nàng thơ, là hình ảnh cuộc sống. Cuộc sống nếu nhìn từ tục đế thì đầy những thăng trầm, điêu linh khổ lụy từ nghìn xưa đến ngày nay. Khổ đế là sự thật thứ nhất mà Đức Phật đã chỉ bày cách đây gần ba nghìn năm rồi. Giống như đại văn hào Hermann Hesse phát biểu : “Dù có bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn yêu thương trần gian điên dại này” nhà thơ Tuệ Sỹ cũng vậy, cũng hết lòng thương yêu con người, dù kiếp người có tàn xiêu hiu hắt :
Ai biết mình tóc trắng
Vì yêu ngọn lửa tàn
Rừng khuya bên bếp lửa
Ngồi đợi gió sang canh

Một hình một bóng cô đơn ngồi trên tuyệt đỉnh núi lạnh xanh rờn, sẵn sàng chờ đợi một điều gì có thể xảy đến, đôi mắt thi nhân cúi nhìn xuống cuộc đời đang chìm trong bóng tối mù sa mà cảm thương một nỗi u buồn xót xa sầu khôn tả :
Ta không buồn còn ai buồn hơn nữa
Người không đi sông núi có buồn đi
Tia nắng mỏng soi mòn khung cửa
Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi
Ta lên bờ nắng vỗ bờ róc rách
Gió ở đâu mà sông núi thì thầm
Kìa bóng cỏ nghiêng mình che hạt cát
Ráng chiều xa ai thấy mộ sương dầm ?

Ráng chiều xa bảng lảng bóng hoàng hôn nhân loại đang phủ trùm vàng vọt xuống khắp vùng sông núi Đông phương. Cho dẫu đường đời giăng bẫy đầy hầm hố cách ngăn, khó khăn trắc trở gì gì đi nữa, thi nhân vẫn nhận diện, tỉnh thức trước những sự kiện đang diễn biến, vì đã bừng ngộ thấy : “Ngay trong phiền não tức là Bồ đề, ngay trong những nguy hiểm đáng sợ hãi của sinh tử cũng chính là Niết bàn an ổn. Sợi dây bị tưởng lầm là con rắn, nhưng không phải hủy diệt sợi dây để diệt trừ ảo giác gây nên sợ hãi. Ngoài những gì vô thường được thấy, được kinh nghiệm bằng chính mắt, tai, mũi, lưỡi này, không tồn tại một thế giới chân thường, đại lạc hay đại ngã nào khác. Đó chính là thực tại Nhất nguyên tuyệt đối.”****
Phải chăng, đó là cái thấy bằng Trí tuệ siêu việt ? Một khi nhà thơ có cái nhìn tuệ giác đó rồi thì những sầu khúc thê lương kéo dài trong đợi chờ não nuột suốt mười lăm năm trường đọa đày viễn mộng như lời thơ tiên tri trước cuồng phong bão tố mịt mùng cũng chẳng hề dao động mà vẫn như như tự tại vô ngại :
Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối nỗi gì tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen tuyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê cha
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại giữa bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều

Chút thân bé bỏng dù bị tù ngục lưu đày vì sự ngộ nhận của thế lực vô minh, nhưng ngay trong dầu sôi lửa bỏng, trong đêm dài sinh tử đó, thi nhân đã nhập thần, đại thiền định, thấu thị tất cả vạn pháp “như sương mai như ánh chớp mây chiều” làm vỡ bùng rơi rụng bóng tối để rực ngời lên ánh phong quang, hiển lộ vô ngần thần lực vô vi. Một câu thơ khiến bay dậy âm vang sấm sét, mặc như lôi từ trong kinh Kim Cang làm phấn chấn bất khả tư nghì :
Tất cả pháp hữu vi
Như huyễn mộng bọt nước
Như ánh chớp sương mai
Thường quán tưởng như thị

Trùng trùng vạn pháp muôn loài vạn vật núi sông, rừng biển, thiên nhiên vũ trụ và con người đều như mộng như huyễn , như bọt nước như sương mai…Phải thường xuyên thấy rõ ràng như thế. Tuệ Sỹ cũng nhiều lần nói : “Tất cả giáo pháp của Phật đều hướng đến diệt trừ tự ngã. Tôi đang tồn tại, đó là một hiện thực, đồng thời cũng là một ảo ảnh. Đau khổ là một sự thực. Cái tôi đang đau khổ ấy lại là ảo ảnh. Cái ta ảo ảnh được bọc trong vỏ trứng vô minh, nó được định hình bằng vọng tưởng thành thân thể ta, linh hồn ta, sở hữu của ta, tài sản của ta, cho đến núi sông này là của ta, tài sản này là của ta, ta là tài sản này, sông núi này là của ta, ta là sông núi này. Cho nên, khi tán gia bại sản, khi sông núi sụp đổ, cái ta vọng tưởng cũng sụp đổ thì có kẻ trầm mình xuống sông hoặc treo cổ trên cành. Vì thế, khi nghe nói cái ta này là ảo ảnh, là không thực, người nghe có thể kinh hoàng như nghe sét đánh ngang tai. Tiếng sét đó là từ Kim Cang Bát Nhã. Duy có điều, mọi người đều mù, chỉ thấy bóng tối, mọi người đều điếc, chỉ nghe tiếng vo ve. Làm sao có thể thấy cái ta chỉ là ảo ảnh ? Làm sao nghe được tiếng sấm từ kinh Kim Cang ? Với những ai có mắt để thấy, có tai để nghe, kinh Kim Cang sẽ chỉ đường để đối diện với ảo ảnh của cái tôi và chỉ cách vận dụng kim cang xử đập vỡ vỏ trứng vô minh bao bọc tự ngã.”
Khi thi nhân lãnh hội, quán chiếu sâu xa, thấy tất cả vạn pháp như ảo ảnh, mộng huyễn như vậy thì hoát nhiên hiển lộ, bừng sáng lên một phương trời Tánh Không lồng lộng nên hết thảy mọi khổ nạn điêu linh trầm thống đều chuyển hóa thành lửa tịch mịch, tự nhiên đốt cháy hết những kinh hoàng khủng khiếp của địa ngục trần gian và sầu khúc thê lương trở thành “Bản tình ca vô tận của Đông phương” hay biến thành Những điệp khúc cho dương cầm thâm thúy dưới ngàn trăng sao xao xuyến lặng bồi hồi :
Nỗi nhớ đó khát khao luồn sợi tóc
Vòng tay ôm cuộn khói bâng khuâng
Uống chưa cạn chén trà sương móc
Trên đài cao em ngự mấy tầng
Lên cao mãi đường mây khép chặt
Để xoi mòn ảo tượng thiên chân
Ồ, nguyệt quế ! Trắng mờ đôi mắt
Ồ, sao Em ? Sao ấn mãi cung đàn ?
Giai điệu cổ thoáng buồn u uất
Xưa yêu Em xao động trăng ngàn

Từ xưa đến nay vẫn điệp khúc cung đàn trường ca Đại bi tâm trầm lặng ngân rung trên cung bậc Bất nhị giữa cõi người ta vô thủy vô chung. Chúng ta hãy lắng nghe, thưởng thức những giai điệu tài hoa của nhạc sĩ tế nhị cảm giao hòa :
Ta nhận chìm thời gian trong khóe mắt
Rồi thời gian ửng đỏ đêm thiêng
Đêm chợt thành mùa đông huyễn hoặc
Cánh chim bạt ngàn từ quãng Vô biên
Từ đó ta trở về Thiên giới
Một màu xanh mù tỏa Vô biên
Bóng sao đêm dài vời vợi
Thật hay hư chiều nhỏ ưu phiền
Chiều như thế cung trầm khắc khoải
Rát đầu tay nốt nhạc triền miên
Ôm dấu lặng nhịp đàn đứt vội
Anh ở đâu khói lụa ngoài hiên ?

Ngoài hiên chiều phất phới bay qua những vệt nắng nhạt nhòa phôi pha trong bóng tà huy thấp thoáng lan dần nhẹ tỏa xuống mềm mại những sợi khói mênh mang :
Nắng lụa đỏ phủ tường rêu xám bạc
Lá cây xanh nghiêng xuống mắt mơ màng
Người có biết mặt trời kia sẽ tắt ?
Ta yêu người từ vết rạn thời gian

Thời gian và không gian trộn lẫn hòa quyện tan vào trong cùng một tấu khúc rung cảm, bồng tênh lênh láng, dạt dào du dương, vi vu vi vút nguồn cảm xúc khôn dò của người em thi ca quá tuyệt diệu trong tự tình khúc rung động chan hòa :
Tự hôm nào suối tóc ngọt lời ca
Tay em rung trên những phím lụa ngà
Thôi huyễn tượng xô người theo cát bụi
Vùng đất đỏ bàn chân ai bối rối
Đạp cung đàn sương ứa đọng vành môi
Đường xanh xanh phơn phớt nụ ai cười
Như tơ liễu ngại ngùng lay nắng nhạt
Lời tiễn biệt nói gì sau tiếng hát
Hỏi phương nào cho nguyện ước Trường Sơn
Lời em ca phong kín nhụy hoa hờn
Anh trĩu nặng núi rừng trong đáy mắt
Mờ phố thị những chiều hôn suối tóc
Bóng ai ngồi so phím lụa đàn xưa

Tiếng đàn miên man réo rắt lặng hồn dưới bàn tay phấn chấn thân yêu, dìu dặt vọng vang bàng hoàng qua những điệp khúc cho dương cầm thâm tình thấm thiết mãi ngân nga từ cõi mộng không lời, hỡi vầng trăng gầy tịch nhiên soi chiếu trong vườn sương khuya mờ ảo lung linh ngời lấp lánh long lanh :
Nhà đạo nguyên không khách
Quanh năm bạn ánh đèn
Thẹn tình trăng liếc trộm
Bẽn lẽn núp sau rèm
Yêu nhau từ vạn kiếp
Nhìn nhau một thoáng qua
Nhà đạo nguyên không nói
Trăng buồn trăng đi xa

Chao ơi ! Yêu thương nhau đã từ muôn triệu kiếp rồi, hỡi vầng trăng thanh thoát vàng hoa mộng như nàng thơ gầy yểu điệu, lặng lẽ chia phôi. Thôi buồn làm chi nữa phải không ? Thôi cứ thản nhiên để cho hồn thơ dệt phím nhạc ngàn đời những tơ đàn diệu âm trầm bổng ngát xanh huyền :
Tóc em bay trong sương chiều khói biếc
Dệt tơ trời thành khúc hát bâng khuâng
Tình hay mộng khi Trường Sơn xa hút
Đến bây giờ mây trắng gởi tin sang
Hồn tôi đi trong rừng lang thang
Cọng lời ru từ ánh trăng tàn
Mắt em nhỏ ngại ngùng song cửa
Nghe tình ca trên giọt sương tan
Gót chân em nắng vàng xưa viễn phố
Những ngón hồng ngơ ngác giữa đường chim
Ôi ta nhớ như đêm dài thượng cổ
Sợi tóc mềm lơi nhịp hát trong tim

Trong tim hồn rộn ràng bao nhịp hát hoang sơ từ thượng cổ vọng về, nghe như điệu hát Trang Tử Tiêu dao du, bên bờ sông xa mù Dương Tử, hay như lời thơ ngâm nga của Milarepa trên tuyệt đỉnh ngàn cao Hy Mã Lạp Sơn chập chờn sương khói tỏa thiên thu hoặc như khúc hát nghêu ngao Phóng cuồng ca của Tuệ Trung Thượng Sỹ, trong cơn xuất thần nhập diệu, đại hòa điệu chơi cùng nhật nguyệt, thiên địa tuần hoàn.
Thế là, bát ngát bồng tênh trên ngõ về im lặng, tiếng thơ trầm hùng Tuệ Sỹ như ánh trăng huyền nguyên thủy, chiếu diệu xuyên qua ngút ngàn bóng tối vô minh làm bừng hiện rực ngời lên trên cung bậc ngôn ngữ thi ca đầy sáng tạo và sáng tạo tân kỳ như Tuệ Sỹ từ thuở thanh xuân đã nghe tận thần hồn : “Ngôn ngữ không còn là một hình ảnh héo hắt của Thực tại sai biệt và sai biệt. Nó không đi chơi vơi trên Thực tại mà đóng vai trò truyền thông như tiếng gọi từ trên một đỉnh trời Tuyệt đối vô tri, từ trên một đỉnh núi ngàn đời bất khả xâm phạm, luôn luôn thách đố bước tiến của con người. Nó đánh mất đi cái cụ thể nghèo nàn trong tầm mắt thường nghiệm của phàm phu để dẫn đến một chân trời rực rỡ của sáng tạo.”*****
Con đường mây trắng thênh thang sáng tạo đã vượt qua những mộng tàn năm tháng cũ, dù vẫn cỏn chút dư hương của một thời đọa đày viễn mộng u sầu :
Màu nắng xế ôi màu hương tóc cũ
Chiều chơ vơ chiều dạt mấy hồn tôi
Trời viễn mộng đọa đày đi mấy thuở
Mộng kiêu hùng hay muối mặn giữa trùng khơi
Vén thanh sắc đổ mù khơi về đối diện
Cuộc ân tình lơi lả vội chia phôi
Trăng nằm xuống duỗi dài hai bến hẹn
Một dòng sông vồn vã động chân trời

Ơi chao ! Đã chia phôi, từ biệt cuộc ân tình nhân thế từ dạo đó, kể từ ngày như Nguyễn Du xa xưa từng chứng kiến giữa trần ai : “Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” nhà thơ Tuệ Sỹ cũng đi về theo thể điệu phiêu nhiên, quy hồi Vĩnh cửu với nụ cười sâu lắng tự tri :
Khói ơi ! Bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa

Vĩnh hằng chẳng ở đâu xa mà ngay trong từng sát na hiện tại, ở đây và bây giờ, ngay trong tiếng ve sầu hay từng nhịp thở nhẹ nhàng giữa lòng phố bụi lao xao :
Ve mùa hạ chợt về thành phố
Khóm cây già che nắng hoang lương
Đám bụi trắng cuốn lên đầu ngõ
Trên phím đàn lặng lẽ tan hương
Tiếng ve dội lăn tăn nốt nhỏ
Khóc mùa hè mà khô cả đại dương

Ngôn ngữ thi ca thường chứa nhiều ẩn dụ, tượng trưng hàm súc như vậy, chúng ta tha hồ suy diễn, lãnh hội, cảm nhận theo đủ cách điệu riêng tư của mình thôi. Đọc thơ Tuệ Sỹ là lang thang bước dạo chơi vào một thế giới diêu mang kỳ ảo vô vàn :
Một ngày chơi vơi đỉnh thác
Nghe bồn chồn tiếng gọi hư không
Giai điệu nhỏ dồn lên đôi mắt
Mặt hồ im ánh nước chập chờn
Mặt hồ im tảng màu man mác
Ảnh tượng mờ một chút sương trong
Quãng im lặng thời gian nặng hạt
Tôi nghe đời trong tấu khúc Thiên hoang

Tấu khúc Thiên hoang vang rền, đồng vọng trong tận đáy lòng Không tánh vô biên, khiến cho thi nhân tự mình thưởng thức hương vị cô liêu của cuộc sống. diệu thường :
Tự tâm tự cảnh tự thành chương
Tự đối bi hoan diệc tự thưởng

( Cô độc cảnh tâm thơ tự xuất
Tự ngắm buồn vui tự thưởng thức )

Thế thì, tuyệt cùng ẩn ngữ thi ca Tuệ Sỹ là gì ? Làm sao chỉ ra được, khi ngôn ngữ cứ lấp lánh ẩn hiện trong ánh sáng phát ra từ tâm cảm thâm trầm ? Có ai nắm giữ được những tiếng dương cầm âm thanh thánh thót, phiêu diêu, dịu dàng vang ngân bất tận từ giữa lòng bàn tay của người nghệ sĩ tài hoa ?
Đã rời khỏi Thị Ngạn Am ở Sài Gòn gần 2 năm nay rồi, bây giờ Tuệ Sỹ sống lang thang đúng nghĩa lang thang, hoàn toàn rỗng rang vô sự. Vô sự là thong dong tự do tự tại giữa đang là, không còn chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Phật, là Tổ như thiền sư Lâm Tế nói : “Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Phật.” Lẫn vào cát bụi phù du “hòa kỳ quang đồng kỳ trần” Tuệ Sỹ giống như thiền sư thi sĩ Nhật Bản Basho xuống núi, phiêu bồng thõng tay vào chợ làm thơ và làm thơ giữa ngày tháng lưu linh cùng sương khói bồng bềnh.
Trên ngõ về im lặng, lúc thì tiêu dao với mây trắng trên núi rừng Madagoui huyền ảo, lúc thì lên đồi Phương Bối ở vùng Đại Lão, Bảo Lộc uống trà với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, bồng tênh xuôi về phố hoa Đà Lạt, ghé bên cầu sông nước Đại Ninh cùng những ẩn sĩ tâm tình, rồi thênh thang xuống miền biển khơi Vạn Giã, Nha Trang muôn trùng bát ngát…Hát khúc vô thanh siêu thoát làm hồi phục những tiêu điều, hiu hắt dọc khắp ven đường thi sĩ đi qua.
Hòa trong nhịp bước vân du, người viết chợt bỗng nghe văng vẳng lời nói của Phạm Công Thiện, một người bạn thâm tình chí cốt của Tuệ Sỹ : “ Một con người vừa là thi sĩ vừa là thiền sư, vừa là nhà hành động nhập thế với tinh thần vô công dụng hạnh của bậc Bồ tát. Hành động tích cực, mãnh liệt toàn triệt mà vẫn giữ cảm thức viễn ly và viễn mộng, vì không tham vọng, ích kỷ mù quáng, cho nên nuôi dưỡng cảm thức viễn ly, vì không bị kẹt dính vào tham sân si của thế tục, cho nên mới hàm dưỡng viễn mộng, Tuệ Sỹ là một trong số ít đạo sĩ thi nhân với pháp khí phi thường là Trí tuệ Bát nhã cùng với lòng Đại bi thơ mộng, Tuệ Sỹ là một trong số ít thể hiện được ý nghĩa trọn vẹn của ý thức chính trị toàn diện, ý thức hành động Bi Trí Dũng, dẫn đường soi sáng Thể mệnh của Sử tính quê hương…
Anh không thể cảm thơ người ta thì anh hãy im lặng, còn nếu cảm được thì anh hãy tha thiết ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những kẻ phê bình thơ mà chỉ nên có những người ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người, không có ai làm thầy ai cả.”
Bắt chước Phạm Công Thiện, người viết cũng muốn ca ngợi tán thán Tuệ Sỹ, một thiền sư thi sĩ vĩ đại, một trái tim Kim Cang bất hoại vô úy nhưng ngợi ca làm chi nữa, khi mà tiếng thơ của thi nhân đã làm chấn động rung chuyển cả thế giới hoàn cầu và lan tỏa lạ thường ra khắp vũ trụ mười phương rồi. Thôi thì chỉ xin kính tặng một bài thơ bình dị :
Những phương trời viễn mộng đi
Thi ca tư tưởng bước kỳ ảo qua
Đọa đày một thuở ta bà
Nỗi đau rực cháy thấy ra tột cùng
Ôi ! Giấc mơ Trường Sơn rung
Rúng hồn tim máu chợt bùng vỡ mơ
Kinh thiên động địa sững sờ
Đâu chân diện mục của thơ với thiền ?
Mặc như lôi ngồi tịch nhiên
Nghe ban sơ vọng ngân huyền diệu âm
Những điệp khúc cho dương cầm
Từ vô tận ý vang thâm thiết niềm

Tâm Nhiên
_____________________________
* Bùi Giáng. Đi vào cõi thơ. Nhà xuất bản Ca Dao, Sài Gòn 1969
** Tuệ Sỹ. Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng. Tái bản lần thứ ba. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn 2008
*** Tuệ Sỹ. Thắng Man giảng luận. Nhà xuất bản Phương Đông, 2012
**** Tuệ Sỹ. Huyền thoại Duy Ma Cật. Nhà xuất bản Phương Đông, 2007
***** Tuệ Sỹ. Triết học về Tánh Không. Nhà xuất bản An Tiêm. Sài Gòn 1970

Thơ Tuệ Sỹ, trích trong 2 thi phẩm :
Giấc mơ Trường Sơn. Nhà xuất bản An Tiêm, Paris 2002

Edited by user Tuesday, March 19, 2013 11:41:36 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
Users browsing this topic
Guest (2)
26 Pages«<23242526>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.