Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

53 Pages«<50515253>
Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1021 Posted : Tuesday, October 14, 2014 9:09:57 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
Một ít trang trong quân sử VNCH

Thành quả diệt Cộng ít người biết của các đơn vị Thám Sát Tỉnh

Đơn vị PRU thành lập năm 1966 và chấm dứt vào năm 1972 thời kỳ MACV-SOG chấm dứt trong chiến tranh Việt Nam, có hơn 4,000 nhân viên PRU họat động trong chương trình gồm 4 vùng chiến thuật và do CIA tài trợ và trực tiếp điều hành.
Vùng 1 do Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ
Vùng 2 và vùng 3 do Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ
Vùng 4 do Lực Lượng Người Nhái Hoa Kỳ
Sau khi giải tán vào năm 1972 các đơn vị PRU cải tuyễn và sát nhập vào Trinh Sát của mổi Tiểu Khu và họat động cho đến 30 tháng 4 năm 1975.

"While my experience in Tay Ninh does not necessarily represent the experience of other PRU advisers and their units, I can say confidently that the Tay Ninh PRU was successful during my tour. From September 1969 to June 1970, the Tay Ninh PRU killed 31 VCI and captured 64--at a cost of only two PRU members killed and two wounded.
As early as December 1968, it was apparent to the Tay Ninh PRU that most of the senior VCI cadre had been either killed or captured in the months after Tet or had been driven into neighboring Cambodia. As a credible political threat, the VC had ceased to function in any meaningful way by the time I left Vietnam in June 1970.4
Further proof of the PRU's effectiveness came in 1975, when the communists finally defeated the South Vietnamese. The NVA commander occupying Tay Ninh Province would put in a hurried request to North Vietnam for 200 civilian political cadre. He reported that there were only six local VC cadre left in the province to manage the province's affairs.
The Tay Ninh PRU was successful primarily because it was a locally recruited outfit whose members had an intimate knowledge of their province, its people, and the enemy. They also had discipline, strong leadership, and an intense personal motivation to defeat the VC. They had an accurate and highly effective intelligence system that was difficult for the enemy to infiltrate or defeat because it was based on strong family loyalties and religious and civic affiliations.
The American commanders and advisers came and went and played important roles. But few served more than a year in any province. And as much as I (or I think any of my fellow PRU advisers) would like to find ways to take credit for the success of the PRU, I (and we) cannot. Long after the Americans left South Vietnam, the Tay Ninh PRU continued to root out the VCI. The concept may have been an American one, but the execution and adaptation were entirely Vietnamese.
After the fall of Saigon in April 1975, the lives of Tay Ninh PRU members changed dramatically for the worse. They were hunted down and arrested or killed. Many served long terms in reeducation camps, where they were tortured and made to work under inhumane conditions. Some escaped the camps and made their way to the United States, where they were settled by the US government and given jobs.
Most, however, were executed or died in squalid camps. A few never surrendered and continued to fight the Vietnamese communists and their southern allies. They organized a "stay behind" unit in Tay Ninh called the "Yellow Dragons," and their activities were still reported on by the communist authorities in the province well into the 1990s."

Trích trong "Vietnam : Conflict and controversy" của Paul Elliot viết và xuất bản năm năm 1996

Bài viết dưới đây của cá nhân chúng tôi dựa vào một ít tài liệu cho các thân hữu Úc chuyển cho. Chúng tôi tin rằng nó khá chính xác nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Hơn nữa, trong thời gian phục vụ trong quân đội, chúng tôi không hề phối hợp với các đơn vị PRU và do đó, xin thứ lỗi nếu có sai sót, và xin tự nhiên bổ khuyết.
Hai tấm hình chụp các chiến sĩ PRU với một đại uý cố vấn Úc (Xin mở attachments).
Trong bài này, chúng tôi gửi đến quí vị một bài về những đơn vị hoạt động rất âm thầm của quân đội chúng ta trước đây. Mãi cho đến nay, rất nhiều người trong chúng ta chưa biết rõ về những đơn vị này và thậm chí một số khác còn không biết rằng có sự hiện hữu của họ. Đó là những Đơn Vị Thám Sát Tỉnh mà tiếng Anh gọi là The Provincial Reconnaissance Units. Khi viết về những người hùng thầm lặng này, chúng tôi đã phải đắn đo rất nhiều và cuối cùng quyết định chỉ nêu ra một số sự kiện tổng quát. Chúng tôi đã tìm hiểu và biết chắc rằng những nhân vật mà chúng tôi nêu danh tánh hay đưa hình ảnh lên trang mạng này hoặc là đã qua đời hoặc là không còn sinh sống tại Việt Nam. Bởi vì, mặc dù đã chiếm trọn được miền Nam Việt Nam 37 năm nay, Việt Cộng chắc chắn sẽ bằng cách này hay cách khác trả thù những người đã góp phần chính yếu làm tiêu tan hạ tầng cơ sở của chúng khiến chúng khốn đốn một thời gian dài trước đây.
Từ đầu năm 1967, Việt Nam Cộng Hoà ghi nhận được Việt Cộng hoàn thành các cơ sở hạ tầng của chúng trong ba quận Hương Thuỷ, Phú Vang và Phú Tứ thuộc Tỉnh Thừa Thiên. Trong năm đó, quân đội tung ra ba cuộc hành quân nhưng không đem lại kết quả mong muốn. Trong số thương vong, có Thiếu Tá Peter Badcoe thuộc Quân Đội Hoàng Gia Úc và ông này sau đó được truy thăng Victoria Cross. Trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, riêng tại Phú Thứ đã có hơn ba ngàn thường dân bị Việt Cộng tàn sát, trong đó có một số lớn bị chôn sống.
Vào cuối tháng Chín 1968, một cuộc hành quân hỗn hợp qui mô có tên là Phú Vang 1 được tung ra vào ba quận này. Lực lượng tấn công gồm có Trung Đoàn 54 Bộ Binh Việt Nam, Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Thừa Thiên, Lực Lượng Cảnh Sát Đặc Biệt, các đơn vị Địa Phương Quân của ba quận và đi theo lực lượng tấn công này là các cán bộ kiểm tra dân số.
Yểm trợ cho các lực lượng của Việt Nam Cộng Hoà là một lữ đoàn của Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ và một chi đoàn kỵ binh Hoa Kỳ. Ngoài ra, vì hệ thống sông ngòi chằng chịt của khu vực hành quân, một Giang Đoàn Xung Kích của Việt Nam Cộng Hoà ứng chiến để truy kích Việt Cộng trong trường hợp chúng tẩu thoát bằng đường sông. Ngoài biển, các tiểu đĩnh của Hải Quân Hoa Kỳ cũng sẵn sàng tác chiến.
Sau 12 ngày hành quân lục soát và tấn công, có 96 tên Việt Cộng bị bắn chết tại chỗ cùng với 168 tên bị bắt sống (xin xem chú thích 1). Trong số này, có 1 cán bộ chính qui Bắc Việt, 20 tên thuộc chủ lực miền, 54 tên du kích và 93 tên thuộc cơ sở hạ tầng địa phương. Chúng ta tịch thu được 155 vũ khí cá nhân và 8 vũ khí cộng đồng. Bên bạn, thiệt hại nhỏ đến mức không ngờ: một chiến sĩ bộ binh Việt Nam Cộng Hoà hy sinh. Có 10 quân nhân Việt Nam Cộng Hoà và 9 quân nhân Hoa Kỳ bị thương nặng nhẹ. Các cố vấn Hoa Kỳ và Úc, trong báo cáo của họ, đã hết lời ca ngợi các đơn vị thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Cảnh Sát Quốc Gia đã rất xuất sắc trong việc hành quân lục soát làng mạc có Việt Cộng ẩn náu. Tuy nhiên, còn một điều nữa rất đáng ghi nhận là việc chúng ta tấn công vào đúng nơi và bắt giữ đúng người phần lớn nhờ vào tin tức tình báo của Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Thừa Thiên. Đây là một thành quả quá mức mong đợi, nếu chúng ta hiểu được rằng trong một vùng mà Việt Cộng kiểm soát ban đêm như vậy, ít người dân nào dám cung cấp tin tức cho các lực lượng của quốc gia vì sợ cộng quân đê hèn trả thù như chúng vẫn thường làm.

Cho đến nay, rất nhiều người trong chúng ta vẫn còn tin rằng Đơn Vị Thám Sát Tỉnh là một đơn vị của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ, giống như Biệt Kích Mỹ. Chúng tôi đã tra cứu rất nhiều tài liệu và tham khảo với nhiều cựu sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và các cựu cố vấn Úc tại Việt Nam trước đây thì thấy rằng sự thật không phải như vậy.
Vào giữa thập niên 1965, lực lượng Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được thành lập với mục đích chính là củng cố ảnh hưởng của chính quyền quốc gia đối với dân chúng tại vùng nông thôn. Sau đó, khi Việt Cộng gia tăng nỗ lực để phát triển hạ tầng cơ sở của chúng tại các vùng nông thôn thì chúng ta thấy cần phải có một lực lượng thứ hai hoạt động song song với lực lượng Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn nhưng thi hành một nhiệm vụ khác hẳn. Đó là tấn công trực tiếp vào hạ tầng cơ sở Việt Cộng. Dưới sự bảo trợ của CIA, Đơn Vị Thám Sát Tỉnh (xin xem chú thích 2) (Provincial Reconnaissance Units) được thành lập vào đầu năm 1966. Tuy được xem là một đơn vị nặng về quân báo nhưng Đơn Vị Trinh Sát Tỉnh có nhiều nhiệm vụ khác nhau và nhiệm vụ nào cũng rất quan trọng.
Thứ nhất, đương nhiên là họ có nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo về hạ tầng cơ sở Việt Cộng, đúng như danh xưng. Thứ hai, họ có nhiệm vụ tung ra các cuộc hành quân diệt địch. Thứ ba, họ có nhiệm vụ làm giảm đi tiềm năng của hạ tầng cơ sở Việt Cộng bằng cách thi hành chính sách Chiêu Hồi kêu gọi cán binh Việt Cộng từ bỏ hàng ngũ để trở về với chính nghĩa quốc gia. Thứ tư, họ cô lập hoá Việt Cộng bằng cách thực hiện các công tác phản tuyên truyền để kéo dân trở về với chính phủ.
Về tổ chức, một đơn vị căn bản của họ có 18 người và chia làm ba toán mỗi toán có sáu người. Trong nhiều trường hợp, có tới tám đơn vị phối hợp với nhau trong một công tác qui mô với tổng số nhân sự lên đến 146 người. Về mặt hành chánh quản trị, Đơn Vị Trinh Sát Tỉnh thuộc quyền điều động của Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng. Tuy nhiên, khi hoạt động, họ được cố vấn và giám sát của nhân viên CIA. Thông thường thì tại mỗi tỉnh có một nhân viên CIA đặc trách về lực lượng này.
Về huấn luyện, các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh được huấn luyện căn bản tại Vũng Tàu, giống như các Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Trong thời gian tại đây, họ được huấn luyện về chiến tranh đặc biệt nhiều hơn là chiến thuật như các tân binh hay khoá sinh của lục quân. Sau khi ra trường, họ còn được huấn luyện bổ túc tại chỗ để có thể ứng phó với tình hình và địa thế trong phạm vi hoạt động của họ.
Đến đây, chúng tôi cũng xin nói thêm rằng cùng với việc thành lập Đơn Vị Thám Sát Tỉnh, một tổ chức khác cũng được khai sinh để hoạt động song song với họ có một cái tên rất hiền lành là Biệt Chính Nhân Dân. Nhân viên của tổ chức này gồm có các viên chức chính phủ và họ có ba nhiệm vụ riêng biệt. Thứ nhất, họ có nhiệm vụ kiểm tra dân số tại các vùng nông thôn. Thứ hai, họ có nhiệm vụ theo dõi việc bồi thường thiệt hại cho dân chúng do chiến tranh gây ra. Trong khi thi hành nhiệm vụ này, họ cũng tiếp nhận những khiếu nại của dân chúng liên quan đến việc bồi thường của chính phủ hoặc việc thanh toán không sòng phẳng giữa các hợp tác xã nông thôn với nhau. Thứ ba và quan trọng hơn cả, họ có một nhiệm vụ tối mật là thâu thập bất cứ tin tức nào có thể đưa đến việc nhận diện bọn Việt Cộng nằm vùng hoặc những kẻ làm tay sai cho chúng hoặc có cảm tình với chúng. Như vậy, Đơn Vị Thám Sát Tỉnh hoạt động hữu hiệu cũng một phần nhờ có Biệt Chính Nhân Dân. Ngoài ra, chính hồ sơ do Biệt Chính Nhân Dân cung cấp về dân số trong làng, mỗi nhà có bao nhiêu người, bao nhiêu người lớn và trẻ em, bao nhiêu nam và bao nhiêu nữ cùng với tuổi tác đã giúp cho các lực lượng Đồng Minh được dễ dàng trong các cuộc hành quân lục soát. Tuy chỉ có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo nhưng không phải là các cán bộ của Biệt Chính Nhân Dân không biết tác chiến.
Có một lần vào cuối năm 1966, một toán Biệt Chính Nhân Dân của Tỉnh Phước Tuy được biết tổ ám sát của Việt Cộng sẽ có một phiên họp quan trọng trong một căn nhà gần chợ Đất Đỏ. Trưởng toán liền đến gặp Đại Uý Jack Leggett là cố vấn Úc đặc trách về hạ tầng cơ sở Việt Cộng tại Tỉnh Phước Tuy thì chẳng may ngay đêm hôm sau ông phải đi theo Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Phước Tuy (lúc đó chưa có bao nhiêu người) trong một cuộc hành quân phục kích rất quan trọng. Vì vậy nên toán Biệt Chính Nhân Dân phải hành động đơn độc nhưng được Đại Uý Leggett cung cấp súng ống và lựu đạn đầy đủ.
Tối hôm sau, toán Biệt Chính Nhân Dân dưới sự hướng dẫn của trưởng toán vốn là một cựu cảnh sát viên, đến bao vây căn nhà. Vì tổ ám sát của Việt Cộng không biết gì nên chúng bắt đầu phiên họp đúng theo giờ ấn định. Mấy phút sau, toán Biệt Chính Nhân Dân xiết chặt vòng vây nhưng đúng lúc đó, một toán viên có lẽ lầm tưởng rằng bọn Việt Cộng trong nhà đã biết được nên vội vàng tung một trái lựu đạn vào nhà qua cửa sổ. Ngay sau đó, cả toán nổ súng như mưa trước khi xông vào lục soát. Cả tổ ám sát chỉ còn tên tổ phó sống sót. Tổ trưởng chính là con trai của bà chủ nhà, chết tại chỗ cùng bà mẹ. Nhưng bên ta còn tịch thu được rất nhiều tài liệu quan trọng.
Tại Trung Tâm Điều Hợp Hành Quân, tên tổ phó khai rằng theo đúng kế hoạch, tổ của y ta sẽ cho nổ tung một câu lạc bộ của quân đội Mỹ tại phi trường Vũng Tàu vào ngày hôm sau. Xem lại tài liệu bắt được tại căn nhà nơi có buổi họp, các nhân viên điều tra thấy đúng như vậy và ngoài ra, còn có một danh sách rất đầy đủ các tên đặc công Việt Cộng có mặt tại thị xã Vũng Tàu chờ lệnh ra tay. Nhưng chúng chưa được lệnh gì thì bên ta ra tay trước.
Căn cứ vào danh sách trong tài liệu tịch thu được, lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt bất thần hành quân và tóm cổ được sáu mươi tư tên đặc công tại thị xã Vũng Tàu chỉ trong một buổi tối.
Trở lại với Đơn Vị Thám Sát Tỉnh thì, vì được huấn luyện để hoạt động giữa lòng đất địch nên họ hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng và thoải mái, giống như một đơn vị đi tuần giữa một vùng thôn quê thanh bình.
Xã Ngãi Giao nằm dọc theo Quốc Lộ 2 trong Tỉnh Phước Tuy được xem là một vùng theo Việt Cộng. Vì vậy mà các toán thuộc Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Phước Tuy xuất hiện tại đây rất thường xuyên. Trong những chuyến công tác như vậy, họ ăn mặc như Việt Cộng và vừa đeo súng của Mỹ vừa đeo súng của Khối Cộng, giống như các cán binh Việt Cộng thật. Có một lần một toán giả dạng Việt Cộng xâm nhập vào vùng này với mục đích tìm hiểu thêm về sinh hoạt của địch. Theo đúng chương trình, toán này tìm đến một trạm giao liên thì không ngờ có một trung đội Việt Cộng thật cũng đang ở đó. Hai bên đối thoại một lúc rồi toán của ta bỏ đi để đến điểm hẹn với trực thăng đến đón. Mãi đến khi nghe thấy tiếng máy bay trực thăng, toán Việt Cộng thật mới sinh nghi và cầm súng chạy đến để bắn nhau với những người mà trước đó chỉ vài phút chúng tưởng là đồng chí.
Một cách khác nữa để các toán trong Đơn Vị Thám Sát Tỉnh thu thập tin tức tình báo là giả dạng nhân viên kinh tài Việt Cộng. Thông thường, họ dùng những cuốn biên lai thu thuế tịch thu được của Việt Cộng rồi vào rừng tìm dân khai thác gỗ mà thu tiền, thường là 100 đồng Việt Nam mỗi người vào năm 1967. Nhờ vậy, họ dễ dàng thu thập thêm tin tức về tình hình địch cũng như địa bàn hoạt động của chúng.
Chính những thành công vượt bực mà Biệt Chính Nhân Dân cùng với các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh đem lại đã khiến chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, với sự hậu thuẫn của CIA, đánh mạnh hơn nữa vào hạ tầng cơ sở của Việt Cộng đưa đến việc khai sinh Chiến Dịch Phượng Hoàng vào năm 1967.
Sau một thời gian thử nghiệm thành công, cả Chiến Dịch Phượng Hoàng lẫn các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh được chính thức hoá qua Nghị Định 044 –SL/NV có nội dung như sau.
Điều Một: Nghị định này chính thức thành lập các đơn vị đặc biệt cấp tỉnh có tên là Đơn Vị Thám Sát Tỉnh.
Điều Hai: Các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh có nhiệm vụ:
1. Thu thập những tin tình báo liên quan đến hạ tầng cơ sở của Việt Cộng.
2. Thực hiện các cuộc hành quân diện địa và các dự án đặc biệt, nhằm tiêu diệt hạ tầng cơ sở Việt Cộng.
3. Tham gia các cuộc hành quân hỗn hợp do các Trung Tâm Phượng Hoàng cùng Trung Tâm Phối Hợp Tình Báo Hành Quân cấp Tỉnh, Quận tổ chức.
4. Tiếp tay với các lực lượng Việt Nam Cộng Hoà và Đồng Minh trong các cuộc hành quân trinh sát, các sứ mạng tình báo và xác định vị trí của địch.
Điều Ba: Các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh được đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Tỉnh Trưởng.
Việc quản trị hành chánh các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh sẽ thuộc thẩm quyền của Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.
Điều Bốn: Việc tổ chức, phân công đặc biệt và huấn lệnh điều hành của Các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh sẽ được quyết định liên đới bởi Tổng Trưởng Nội Vụ và Tổng Trưởng Quốc Phòng.
Điều Năm: Tất cả các điều khoản trước đây trái ngược với Nghị Định này đương nhiên được huỷ bỏ.
Điều Sáu: Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định và Phát Triển Nông Thôn Kiêm Tổng Trưởng Nội Vụ, Tổng Trưởng Quốc Phòng và Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng chiếu nhiệm vụ thi hành Nghị Định này.
Sàigòn, ngày 31 tháng Ba năm 1969
Thủ Tướng Chính Phủ
Trần Văn Hương (ấn ký)
Qua nghị định này, chúng ta thấy rằng quyền điều động các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh đã được chuyển từ Bộ Tổng Tham Mưu sang Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Điều này gián tiếp xác nhận rằng kể từ đó, các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh được xem như một lực lượng bán quân sự.
Trong phần còn lại của bài tuần này, chúng ta thử nhìn lại những thành quả của Chiến Dịch Phượng Hoàng nói chung và các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh nói chung.
Trong năm 1968, có 11 ngàn 288 tên Việt Cộng bị bắt, 2 ngàn 229 tên hồi chánh và 2 ngàn 559 tên bị bắn hạ.
Trong năm 1969, chúng ta bắt được 8 ngàn 515 tên, chiêu hồi 4 ngàn 832 tên, bắn hạ 6 ngàn 187 tên.
Trong năm 1970, chúng ta bắt được 6 ngàn 405 tên, chiêu hồi 7 ngàn 745 tên và bắn hạ 8 ngàn 191 tên.
Từ đầu năm 1971 đến tháng Năm, chúng ta bắt được 2 ngàn 770 tên, chiêu hồi 2 ngàn 911 và bắn hạ 3 ngàn 650.
Về việc Chiến Dịch Phượng Hoàng bị đình chỉ, chúng ta cũng nên nhìn qua một cách tổng quát.
Việc giới truyền thông tây phương xuyên tạc về chiến dịch này là một điều dễ hiểu vì đó là truyền thống hoặc chủ trương của họ. Tuy nhiên, tại sao Quốc Hội Hoa Kỳ đi đến quyết định đòi hỏi phải ngưng lại chiến dịch này mới là điều chúng ta cần biết. Sau khi đã nghiên cứu một số tài liệu và công văn, chúng tôi nhận thấy Paul Elliot nói một cách khá trung thực trong cuốn Vietnam: Conflict and Controversy xuất bản tại Anh vào năm 1996.
Theo Elliot, Chiến Dịch Phượng Hoàng chỉ nhắm vào thành phần cán bộ Việt Cộng chứ không nhắm vào những tên du kích cắc ké. Tuy nhiên, để tóm cổ được những tên này chúng ta không phải chỉ trông cậy vào tin tức của các mật báo viên mà nhiều khi còn nhờ vào lời khai của những tên cấp dưới. Vì vậy, tất cả những phần tử Việt Cộng hay cộng tác với chúng như kinh tài thu thuế sau khi bị bắt đều bị đưa về một trong 80 văn phòng của Chiến Dịch Phượng Hoàng. Tại đây, những tên này sẽ bị thẩm vấn và nếu chúng quá khích, có thể bị trao cho anh em người Nùng vốn chống cộng thẳng tay. Đã có những trường hợp Việt Cộng bị chết trong khi nằm trong tay anh em người Nùng. Tuy nhiên, vẫn theo Elliot, đã có những nhân chứng đã trân tráo vu cáo Việt Nam Cộng Hoà một cách trắng trợn trước Uỷ ban Điều Tra của Thượng Viện Hoa Kỳ mà người ta vẫn tin, hoặc mượn cớ đó để làm khó dễ Việt Nam Cộng Hoà. Elliot kể một trường hợp điển hình là có một cựu nhân viên (?) của Chiến Dịch Phượng Hoàng khai rằng không một người nào bị bắt vì bị tình nghi là Việt Cộng mà sống sót mà lại không có bất cứ bằng chứng nào rằng họ là Việt Cộng. Kế tiếp, Elliot mỉa mai rằng nếu đúng như vậy thì tại sao sau năm 1975, Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch của Hà Nội lại tuyên bố rằng Chiến Dịch Phượng Hoàng đã tiêu hủy biết bao nhiêu căn cứ của Việt Cộng. Elliot lại thêm rằng Thạch không dám nhắc đến việc các toán ám sát khủng bố của Việt Cộng đã giết hại mấy chục ngàn người phần lớn là nhân viên xã ấp và giáo viên trong suốt hai thập niên trước đó. Cuối cùng, Elliot kết luận một cách khá hợp lý rằng trong trường hợp một đơn vị quốc gia bắn nhau với một toán Việt Cộng ẩn náu trong một căn nhà thì nếu không một ai, kể cả thường dân, trong căn nhà đó còn sống sót là một điều thường tình khó tránh khỏi. Do đó, có thể nói rằng có vào khoảng 30 ngàn người bị bắt hoặc bị bắn chết trong Chiến Dịch Phượng Hoàng mà không phải tất cả 30 ngàn người này đều là Việt Cộng.
Ở một đoạn khác, Elliot thuật lại rằng khi Chiến Dịch Phượng Hoàng đã được chính thức hoá, Trùm CIA tại Việt Nam lúc đó là William Colby đã chính thức cấm chỉ việc thủ tiêu các tên Việt Cộng bị bắt, với bất cứ lý do gì và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Elliot nói tiếp rằng bản báo cáo nói rằng đại đa số những tên bị chết là vì giao tranh với lực lượng hành quân là một bản báo cáo đáng tin cậy, nhưng lại có một số người không mấy tin tưởng. Theo Elliot, chính vì vậy mà Thượng Viện Hoa Kỳ áp lực chính phủ phải ngưng ngay Chiến Dịch Phượng Hoàng, nếu muốn họ thông qua ngân sách.
Đến đây, chúng ta trở lại với những thành quả điển hình của các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh. Trong bản báo cáo mật mà chúng tôi trình ra đây, nếu dịch sang Việt ngữ thì có nội dung như sau:
Báo cáo tin tức tình báo số 0211 lúc 8 giờ 30 tối ngày 22 tháng Chín 1969
Đề mục: Vị trí của đặc công Việt Cộng tại Thị xã Qui Nhơn
Lượng giá: F-3
Tường trình: 15 tên đặc công Việt Cộng, mặc quần xám và áo sơ-mi trắng có đem theo chất nổ, đang ẩn náu tại mấy căn nhà gần thiết lộ hoả xa cạnh Đường Gia Long, phía nam Đường Đống Đa trong Thị xã Qui Nhơn. Những căn nhà này nằm gần Khách sạn Việt Cường và một bến xe đò. Những tên đặc công này là con trai tuổi từ 15 đến 18. Chúng có giấy tờ hợp lệ và đến Qui Nhơn vào ngày 20 tháng Chín 1969. Chúng đến từ Quận Phù Cát theo lệnh của những tên cán bộ trong Uỷ ban Huyện Phù Cát của Việt Cộng. Chúng dự định ném thuốc nổ vào những quân nhân trên quân xa và những đám đông quân nhân đứng dọc theo các con đường. Cũng có thể chúng sẽ âm mưu ám sát các viên chức tỉnh.
Giữ cẩn thận báo cáo này hoặc tiêu huỷ.
Bản báo cáo này do Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Bình Định gửi đến Trung Tâm Phối Hợp Tình Báo Hành Quân yêu cầu ra tay. Nội dung bản báo cáo cho chúng ta thấy các Đơn Vị Thám Sát Tỉnh giữ một vai trò rất quan trọng trong việc gìn giữ an ninh tại hậu phương và họ thu thập tin tức tình báo rất chính xác và khá nhanh. Một trong những người đầu tiên đọc bản báo cáo trên là Chuẩn Uý Ossie Ostara thuộc Huấn Luyện Đoàn Lục Quân Úc Đại Lợi tại Việt Nam. Ostara đã ba lần sang phục vụ tại Việt Nam, nói tiếng Việt rất thông thạo và được các chiến sĩ Việt Nam hết mực quí mến.
Ostara sang phục vụ tại Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1964 và làm cố vấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Đống Đa. Sang năm sau, ông về Vũng Tàu phụ trách việc huấn luyện về công tác dân vụ cho cán bộ Bình Định và Phát Triển Nông Thôn đầu tiên. Đến năm 1967, ông ra cố vấn cho Tỉnh Thừa Thiên và sau biến cố Tết Mậu Thân lại vào cố vấn cho Tỉnh Lâm Đồng rồi năm 1969 lại ra cố vấn cho Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Bình Định. Lúc đó, đơn vị này có ba toán và mỗi toán 18 người. Chính trong thời gian phục vụ tại đây mà Chuẩn Uý Ostara hiểu rõ hơn hết về đơn vị này.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên của Bảo tàng viện Chiến Tranh Úc vào tháng Hai 1976, Ostara tiết lộ rằng việc Việt Cộng không thể hoạt động mạnh như trước năm 1969 tại Bình Đình một phần nhờ vào các cuộc hành quân của các đơn vị Đại Hàn và một phần nhờ vào Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Bình Định. Đơn vị này có rất nhiều thành viên vốn là hồi chánh viên mà trong đó có tới bảy người là cán binh Cộng Sản Bắc Việt. Lúc đầu, Ostara cũng lo ngại cho sự hoà thuận giữa các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà và những người một thời là kẻ thủ. Tuy nhiên, trong suốt hai năm làm cố vấn cho đơn vị, Ostara chỉ có ba điều để nói về những hồi chánh viên này. Thứ nhất, họ trở về với chính nghĩa quốc gia và trung thành tuyệt đối. Thứ hai, họ là những quân nhân có sức chịu đựng khá, đáng tin cậy và biết tuân thượng lệnh. Thứ ba, sự hiểu biết của họ về Việt Cộng đã giúp cho các đơn vị quốc gia rất nhiều trong việc hoàn thành sứ mạng, nhất là phá vỡ hạ tầng cơ sở của Việt Cộng. Nhân tiện, Ostara cũng kể lại một cuộc hành quân của Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Bình Định.
Đêm 7 rạng ngày 8 tháng Chín 1969, có hai tên du kích lẻn đi thu lương thực từ dân chúng trong một ấp nhỏ thuộc Quận Phù Cát. Chỉ đến sáng sớm thì các chiến sĩ tại tỉnh lỵ nhận được tin này và họ lập tức kéo đến đó bằng quân xa rồi đổ xuống ngay bìa ấp cạnh đường. Khi những chiến sĩ đi đầu tiến vào gần đến khu dân cư, một thanh niên mặc áo trắng quần đùi đen từ một bụi cây đứng dậy và ném ra một trái lựu đạn. Thấy vậy, các chiến sĩ vội nằm xuống và lợi dụng tình thế, hai tên du kích chạy như bay từ bụi cây vào một trong những căn nhà trong ấp. Ngay sau khi trái lựu đạn nổ, một số chiến sĩ của đơn vị hành quân bắn che có các chiến sĩ đi đầu xông vào bao vây các căn nhà. Từ một trong những căn nhà này, hai trái lựu đạn nữa được tung ra nhưng không gây một thiệt hại nào đồng thời nơi ẩn núp của hai tên du kích đã bị lộ. Vòng vây xiết chặt nhanh chóng và cả hai tên bị bắt sống.
Không tự mãn với kết quả này, các chiến sĩ tiếp tục lục soát rất kỹ cả khu vực và cuối cùng thấy có hai sợi dây điện nối với một cục pile. Lần theo sợi dây điện dài 150 thước, các chiến sĩ thấy có một đầu đạn đại bác 105 ly chôn dưới mặt đường. Trong cuộc thẩm vấn tại chỗ, hai tên du kích khai rằng chúng chờ cho đoàn quân xa của Đại Hàn đi qua thì cho nổ đầu đạn này. Chúng cũng khai rằng nơi ẩn náu của chúng nằm sâu trong rừng cách đó khoảng 1 ngàn 500 thước. Sau đó, đơn vị hành quân để vài chiến sĩ ở lại ấp để canh chừng tên Việt Cộng thứ nhất và tất cả các chiến sĩ còn lại cùng với tên Việt Cộng thứ hai dẫn đường tiến vào rừng. Khi vào đến giữa một khu rừng tre, Việt Cộng bắn ra trước nhưng không trúng ai và sau đó chúng lại ném ra hai trái lựu đạn và cũng không gây thiệt hại. Các chiến sĩ ta kêu gọi chúng đầu hàng nhưng chỉ có mấy loạt đạn đáp lời. Giữa lúc đó, một chiến sĩ bò vòng sang bên hông và cuối cùng tìm thấy một lỗ thông hơi chạy xuống hầm trú ẩn của Việt Cộng. Hai trái lựu đạn được thả xuống và cuộc lục soát sau đó cho thấy không một tên nào dưới hầm sống sót.
Theo lời Chuẩn Uý Ostara, trung bình mỗi tháng các chiến sĩ thuộc Đơn Vị Thám Sát Tỉnh Bình Định bắt được ba chục tên Việt Cộng và bắn hạ gần mười tên. Rất hiếm khi có các bộ cao cấp của Việt Cộng nằm trong số này nhưng lại có khá nhiều cán bộ cao cấp ra hồi chánh.
Đương nhiên là Việt Cộng không chịu ngồi yên để bị các chiến sĩ của Đơn Vị Thám Sát Tỉnh tiêu diệt dần dần. Tuy nhiên, chúng chỉ có một cách duy nhất là nhận diện và ám sát các chiến sĩ thuộc các đơn vị này. Điều cay đắng cho chúng là trong khi tìm cách nhận diện và ám sát chiến sĩ quốc gia, chính những tên đặc công khủng bố lại bị bắn hạ hoặc bắt sống trước khi kịp hành động. Tuy vậy, theo Chuẩn Uý Ostara, ông và tất cả các chiến sĩ của đơn vị rất ít khi ra phố chơi nhất là không bao giờ đến những quán nhậu hay quán cà-phê. Họ chỉ chơi với nhau và luôn luôn mặc thường phục. Phải cẩn thận hơn cả là những chiến sĩ vốn là hồi chánh viên. Lý do là Việt Cộng biết mặt họ và rất căm hận họ. Những người từ bỏ hàng ngũ Việt Cộng trở về với chính nghĩa quốc gia và đem những gì mình biết về Việt Cộng để giúp chúng ta sớm chấm dứt chiến tranh, đôi khi đã phải trả một giá rất đắt.
Chú thích
(1) Theo báo cáo chính thức (After Action Report) ngày 12 tháng Mười 1968 của Quân Đội Hoa Kỳ. Phó bản hiện được lưu trữ trong Văn khố Quân Đội Hoàng Gia Úc Đại Lợi.
(2) Tại nhiều tỉnh, đơn vị này dùng danh xưng Lực Lượng Trinh Sát Tỉnh, nhưng danh xưng chính thức trên văn thư vẫn là Lực Lượng Thám Sát Tỉnh.

Bộ TTM/QLVNCH
Tiểu sử Đơn vị trưởng
● Trung tướng Nguyễn Văn Hinh
Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam đầu tiên (5/1952), thăng Trung tướng (1953). Do có quốc tịch Pháp, ông sống và đi học từ nhỏ ...
● Thống tướng Lê Văn Tỵ
Đại tá Tư lệnh Đệ nhất Quân khu (7/1952), thăng cấp Thiếu tướng (11/1954), Trung tướng (5/1955), Đại tướng (12/1956). Đại tướng Lê Văn Tỵ giữ chức vụ Tổng Tham mưu ...
● Trung tướng Nguyễn Hữu Có
Trung tướng Nguyễn Hữu Có nguyên xuất thân là Thiếu sinh quân, đã lần lượt nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đời binh nghiệp. Trung tá Tư lệnh Sư ...
● Đại tướng Cao Văn Viên
Trung tá Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ Phủ Tổng thống (Ngô Đình Diệm, 1957), thăng cấp Đại tá Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù thay Đại tá Nguyễn ...
● Trung tướng Vĩnh Lộc
Nickname “Anh Cả Trường Sơn”. Tên họ đầy đủ Nguyễn Phước Vĩnh Lộc, Trung tá Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Bà Rịa (1/1962), sau ngày 1 ...



Mạn đàm với Đại tướng Cao Văn Viên
Từ Hoa Thịnh Đốn, tin cho biết Đại tướng Cao Văn Viên, nay 85 tuổi, phải một lần nữa nhập viện Virginia Hospital Center........
Vì sao tôi rút khỏi Miền Trung
Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Quân Đoàn I Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp, tôi vào tới Sài Gòn nhưng với...

Sơn Trà
● 3/1975 - Bán đảo Sơn Trà nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng chừng 10km về hướng đông bắc, có một vị trí đặc biệt có thể kiểm soát cả một vùng lãnh hải rộng lớn và là lá chắn cho Đà Nẵng và đất Quảng Nam trù phú. Sơn Trà có gần 40 cây số vuông rừng, trong đó một phần là đất đồi. Ngoài núi Sơn Trà cao khoảng 800m, trên bán đảo còn có 3 ngọn núi thấp là Hòn Nghê phía đông nam, Mỏ Diều phía tây và Cổ Ngựa phía bắc. Cùng với dãy núi Hải Vân ở phía bắc, bán đảo Sơn Trà hợp thành hình cánh cung tạo nên vũng Sơn Trà (hay vũng Tiên Sa). Vũng Sơn Trà tuy rộng nhưng sâu và kín đáo, mặt nước phẳng lặng trong xanh. Trên bán đảo Sơn Trà, trong vịnh Đà Nẵng, có căn cứ Hải quân Tiên Sa. Vì cảng Tiên Sa có thể đón nhận các tàu biển trọng tải trên 20.000 tấn ra vào và neo đậu dễ dàng nên là nơi trú ẩn lý tưởng cho các tàu chiến. Ngoài ra, QLVNCH còn có Trung tâm Kiểm Báo Panama trên đỉnh núi Sơn Trà do Không quân Hoa Kỳ thiết lập năm 1961 để điều khiển và theo dõi các hoạt động không quân trong vùng vịnh Bắc Việt và Lào. Trung tâm Kiểm Báo này được trang bị hai loại máy radar tối tân là FPS-20 có thể tìm kiếm phi cơ ở tầm xa 800km và máy FPS-100 có thể khám phá phi cơ ở cao độ 30km.
Căn cứ Hải quân Tiên Sa là nơi đặt Bộ Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải. Bộ Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải có nhiệm vụ chỉ huy, điều động các đơn vị Hải, Lục, Không quân trực thuộc hay tăng phái đồn trú tại bán đảo Sơn Trà, hầu bảo vệ an ninh duyên hải và ngăn chận sự xâm nhập của CSBV bằng đường thủy trong lãnh thổ Quân khu 1. Căn cứ còn là nơi huấn luyện các toán Biệt hải thuộc Sở Phòng vệ Duyên hải. Ngoài ra, tại Mỹ Khê, phía nam vịnh Tiên Sa, là Bộ Chỉ huy 1 Tiếp vận.
Cuối tháng 3/1975, một số chiến hạm HQ tới cửa Sơn Trà để chờ lệnh. Tình hình trong thành phố Ðà Nẵng lúc bấy giờ trở nên hỗn loạn bởi các nhóm tàn quân và đặc công Cộng sản trà trộn phá hoại, do đó các chiến hạm được lệnh chỉ đậu ngoài khơi không vào cập bến.
Long Thành
● 4/1975 - Ðầu tháng 4/1975, Cộng quân bắt đầu mở các cuộc tấn công vào Huấn khu Long Thành, Biên Hòa. Ðặc công CSBV nhiều lần định xâm nhập vào Trung tâm Huấn luyện Biệt kích Yên Thế cũng như trường Thiết giáp, nhưng đều bị tiêu diệt. Ngày 8 tháng 4/1975, LD 468 TQLC cùng TD 8 TQLC được đặt dưới quyền điều động của Quân đoàn 3. TD 8 TQLC có nhiệm vụ đóng tại Long Thành ngăn chận địch quân từ hướng Long Khánh tràn xuống, giữ an ninh ngoại vi cho căn cứ Long Bình và Bộ Tư lệnh QD 3. Ngày 10 tháng 4/1975, LD 4 ND được lệnh tăng phái cho Bộ Tư lệnh QD 3, với trách nhiệm bảo vệ khu vực từ Tam Hiệp, Biên Hòa, hướng về Long Thành. Ngày 21 tháng 4/1975, theo kế hoạch rút quân khỏi chiến truờng Xuân Lộc-Long Khánh, sau khi về đến điểm tập trung tại xã Đức Thạnh tỉnh Phước Tuy, LD 1 ND được chỉ định giữ nhiệm vụ bảo vệ quốc lộ 15, từ Long Thành ra đến Bà Rịa. Sau khi SD 18 BB và lực lượng tăng phái rút khỏi Long Khánh, quân CSBV tiếp tục tiến quân về hướng Trảng Bom và Long Thành (See map).
Ngày 22 tháng 4/1975, truờng Bộ binh Thủ Đức cùng với hai trường Võ bị Quốc gia và Chiến tranh Chính trị (từ Ðà Lạt di chuyển về) đuợc lệnh di tản về Thủ Đức. Một nửa quân số truờng Bộ binh ở lại Long Thành (do Đại tá Lê Văn Phú chỉ huy ?) để giử truờng.
Ngày 24 tháng 4/1975 tại Long Thành, những người lính DPQ-NQ thuộc Chi khu Long Thành dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hà Văn Sáu đã anh dũng bắn cháy nhiều xe tăng T-54 của CSBV trên quốc lộ 15.
Chiều ngày 26 tháng 4/1975, lực lượng pháo binh, xe tăng và bộ binh của SD 325 CSBV tấn công đồng loạt vào Huấn khu Long Thành nhưng không chọc thủng nỗi phòng tuyến kiên cố của trường Bộ binh. Riêng truờng Thiết giáp và TTHL Yên Thế thì hoàn toàn bị mất liên lạc kể từ chiều hôm đó. Tối 26 tháng 4, Cộng quân chiếm quận lỵ Long Thành và cắt đứt quốc lộ 15 nối liền Vũng Tàu và Sài Gòn. Chiến đoàn 322 tiến về trường Thiết giáp tiếp cứu cũng hạ được nhiều T-54 của địch. Cũng trong ngày, một tiểu đoàn Ðặc công địch đánh chiếm cầu xe lửa về hướng tây nam thành phố Biên Hòa trong khi các đơn vị pháo binh CSBV bắn phá vào căn cứ Không quân Biên Hòa.
Ðêm 27 tháng 4/1975, Cộng quân tấn công dữ dội quyết thanh toán cho bằng đuợc phòng tuyến truờng Bộ binh. Mãi cho đến sáng thì Đại tá Phú cho biết là tình hình rất là nguy ngập vì Cộng quân quá đông, cho nên sau cùng ông đành phải ra lệnh cho rút lui theo như kế hoạch đã định. Ngày 29 tháng 4/1975, tuyến Long Thành bị bỏ ngõ.
Ban Mê Thuộc
● Thị xã Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, cách Sài Gòn khoảng 350km. Ban Mê Thuột nằm trên trục lộ giao thông quan trọng, đó là:
• Quốc lộ 14 về phía bắc đi Pleiku, Kontum, về phía nam đi Phước Long, Bình Dương
• Quốc lộ 21 đi Khánh Hòa, Tuyên Đức Tại Ban Mê Thuột còn có một phi trường dân sự là phi trường Phụng Dực không có hệ thống đèn phi đạo, chỉ hoạt động lúc ban ngày. Darlac là một trong 4 tỉnh nằm ở Cao nguyên Trung phần gồm Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức (See map).
Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, đã phối trí quân để phòng thủ Cao nguyên như sau. Liên đoàn 21 Biệt động quân bảo vệ Kontum. Ba tỉnh còn lại được giao cho Sư đoàn 23 Bộ binh: Trung đoàn 44 BB phòng thủ Pleiku, Trung đoàn 45 BB đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía bắc quận Thuần Mẫn (Phú Bổn), gần đèo Tử Sĩ, dọc theo quốc lộ 14 giữa Ban Mê Thuột và Pleiku. Trung đoàn 53 BB trấn giữ Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Bộ Tư lệnh SD 23 BB đóng tại Ban Mê Thuột, còn Bộ Tư lệnh Hành quân đóng tại căn cứ Hàm Rồng cách phía nam Pleiku khoảng hai mươi cây số.
Quanh Ban Mê Thuột là rừng cao su, không có chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ ở đây lại khá yếu. Địa phương quân và Nghĩa quân phần lớn là người Thượng, không được trang bị đầy đủ. Hầu hết trông chờ vào Trung đoàn 53 BB, nhưng trung đoàn này phải bao một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh nên khó bảo vệ nổi. Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy CSBV chọn Ban Mê Thuột để tấn công. Mặt khác, nếu chiếm được Ban Mê Thuột, chúng sẽ khai thông được con đường Đông Trường Sơn từ Pleiku tới Phước Long qua quận Đức Lập của Ban Mê Thuột.
Phía Cộng quân có Sư đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư đoàn 10 hoạt động ở Pleiku, Sư đoàn 968 trú quân tại vùng Tam biên và Trung đoàn 25 biệt lập, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở hai tỉnh Ban Mê Thuột và Quảng Đức. Ngoài ra, Cộng quân còn sử dụng Sư đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định.
Lực lượng phòng thủ thành phố Ban Mê Thuột lúc bấy giờ chỉ vỏn vẹn có TD 2/53 BB của Trung đoàn 53 Bộ binh và về phía nam là một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 45 Bộ binh có trách nhiệm bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương Sư đoàn của Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó SD 23 BB. Cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng 8 cây số về phía đông là phi trường Phụng Dực (căn cứ B50) do TD 3/53 BB trấn giữ. Đồng thời đó cũng là nơi đặt Bộ Chỉ huy Trung đoàn của Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng TRD 53 BB. Tiểu đoàn 1/53 BB lúc đó đang hành quân tại mặt trận Daksong, tỉnh Quảng Đức. Phía đông Ban Mê Thuột là trung tâm huấn luyện của Sư đoàn 23 Bộ binh và Ban Chỉ huy Chi khu Ban Mê Thuột. Phía tây thành phố có hậu cứ Thiết đoàn 8 Kỵ binh và kho đạn Mai Hắc Đế. Phía bắc Ban Mê Thuột là Bộ Chỉ huy Cảnh sát Quốc gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị Cảnh sát Dã chiến. Đóng rải rác khắp tỉnh Darlac có sáu tiểu đoàn Địa phương quân và một số trung đội Nghĩa quân, nhưng Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac chỉ có thể cho hai tiểu đoàn di chuyển về phòng thủ thành phố. Tóm lại, quân số lực lượng phòng giữ Ban Mê Thuột tương đương với bốn tiểu đoàn, không quá 3 ngàn tay súng, trong khi phía CSBV có ba sư đoàn cùng nhiều đơn vị chiến xa, phòng không, pháo binh và đặc công, với quân số tương đương 40 ngàn người. Nghĩa là mỗi người lính VNCH tại mặt trận Ban Mê Thuột phải chiến đấu với hơn 10 lính bộ đội CSBV.
● 1/1975 - Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 Quân đoàn 2, kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng quân mà Quân đoàn 2 đã khám phá ra kế hoạch chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột từ tháng 12/1974. Trước hết, Sư đoàn 968 CSBV đang đóng ở vùng Tam biên kéo về phía tây quận Thanh An ở phía tây Pleiku để thay cho Sư đoàn 10 CSBV tiến về phía tây nam Ban Mê Thuột. Trung úy Trác Ngọc Anh, sĩ quan Không Báo của Quân đoàn 2 trong khi bay L-19 thám thính thì phát hiện ra một đoàn quân xa độ 100 chiếc đang chạy từ vùng Tam biên theo hướng nam về phía Thanh An. Quân đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham mưu huy động các phi cơ A-37 của Sư đoàn 2 và 6 KQ đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạy. Bộ Tổng Tham mưu phải điều động thêm Sư đoàn 1 KQ ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều thì chấm dứt. Một máy bay C-47 của Bộ Tổng Tham mưu đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất phát ra, vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này Trung úy Anh được vinh thăng Đại úy. Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư đoàn 968 CSBV không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữa. Bộ Chỉ huy Tây Nguyên điện về Hà Nội cầu cứu. CSBV ra lệnh rút gấp Sư đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Việt-Lào ở phía tây Nghệ Tĩnh, đưa vào Cao nguyên thay thế cho Sư đoàn 968. Sư đoàn 316 là một sư đoàn cơ động nhẹ, chỉ có hai trung đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một trung đoàn của một sư đoàn khác đang đóng chốt phía tây đèo An Khê. Sư đoàn này có nhiệm vụ cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư đoàn 2 Bộ binh và làm nghi binh.
Sư đoàn 316 CSBV mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào Thành phố Ban Mê Thuột để thăm dò. Sợ sư đoàn này thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, không hoàn thành nhiệm vụ, Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 95B hướng dẫn sư đoàn này.
Sư đoàn 10, từ Pleiku tiến về phía tây Ban Mê Thuột, vây quận Đức Lập, cắt quốc lộ 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập. Sư đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột, đóng cách quốc lộ 14 về phía tây 5km để chận quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuột. Một tiểu đoàn của sư đoàn này đã băng qua quốc lộ 14, khúc cầu 210 và tiến về phía đông, đóng chốt trên đường nối liền tỉnh Phú Bổn với quận Thuần Mẫn ở phía đông bắc Ban Mê Thuột.
Trung đoàn 25 Cộng quân tiến về phía đông Ban Mê Thuột, chận quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa quận Khánh Dương của Khánh Hòa và quận Phước An của Ban Mê Thuột. Tàn quân của Sư đoàn 968 CSBV còn khoảng hơn một trung đoàn tiến về phía tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân hai trung đoàn của Sư đoàn 23 BB lại mặt trận Pleiku.
Riêng về Sư đoàn 2 Sao Vàng, phần lớn đã bị tiêu diệt trong trận Kontum năm 1972, số còn lại đã tăng cường cho Sư đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định.
Qua các khóa mật mã mở được, Quân đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng Văn Tiến Dũng sẽ từ Bắc vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, qua đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía tây Kontum, Quân đoàn 2 đã cho thả một đại đội Trinh sát xuống quãng đường này để phục kích nhưng không gặp vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào. Tóm lại, mọi ý đồ, cách điều quân và phối trí quân của địch đều được Quân đoàn 2 đệ trình lên Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2.
● 2/1975 - Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột khởi diễn, từ những ngày đầu năm đã có nhiều cuộc giao tranh giữa ta và Cộng quân. Ngày 9 tháng 1/1975, một kho dầu lớn của ta bị đặc công địch đột nhập phá hủy. Khi Sư đoàn 23 Bộ binh phối hợp với các đơn vị Biệt động quân mở những cuộc hành quân càn quét khu vực phía bắc tỉnh Kontum đã gặp sự kháng cự dữ dội của địch. Dự định tiến lên giải tỏa căn cứ Võ Định của SD 23 BB đã không thành công. Tại mặt trận Pleiku trên quốc lộ 19, Cộng quân tràn ngập các cứ điểm của Tiểu đoàn 233 Địa phương quân cách Lệ Trung 19 cây số về hướng đông. Một đoàn quân xa của Quân đoàn 2 chạy trên quốc lộ 21 từ Nha Trang lên hướng Ban Mê Thuột bị Cộng quân phục kích thiệt hại nặng. Khoảng đầu năm 1975, khi một tiểu đoàn của TRD 45 BB đang hành quân trên QL 14 gần quận Thuần Mẫn, Phú Bổn, thì một cán binh CSBV ra xin đầu thú. Theo Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng TRD 45 BB, vì giữ nhiệm vụ truyền tin nên anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của Sư đoàn 320 CSBV và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết SD 320 CSBV đang đóng ở phía bắc quận Buôn Hồ, cách quốc lộ 14 về phía tây và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Mặc dầu có tin SD 320 CSBV đã di chuyển từ Kontum về phía bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân đoàn 2 cho biết vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của sư đoàn này phát xuất từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng SD 320 CSBV vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tù binh chỉ là kế nghi binh để đánh Pleiku. Về sau mới biết rằng Bộ Tư lệnh SD 320 tiếp tục cho phát các tín hiệu truyền tin ở Kontum là để đánh lạc hướng Tướng Phú. Trong thực tế, sư đoàn này đã di chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột.
Trung tá Ngô Văn Xuân, Trung đoàn trưởng TRD 44 BB, cho biết khi trung đoàn đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh Pleiku khoảng 20km về hướng tây bắc, đã được Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ định tiếp đón Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến ăn Tết. Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11 tháng 2/1975), Tổng thống Thiệu từ Bộ Tư lệnh QD 2 đến thăm Trung tâm Hành quân của TRD 44 BB bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng phòng 2 SD 23 BB đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do sư đoàn trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh thuộc Sư đoàn 320 CSBV ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết địch đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.
Khi Tổng thống Thiệu hỏi Thiếu tướng Phú thì Tướng Phú nhận định rằng có thể Cộng quân đưa ra kế nghi binh để đánh Pleiku. Theo ông nếu CSBV chiếm được Pleiku thì chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ khu vực Cao nguyên và tràn xuống khu vực Duyên hải. Suy nghĩ giây lát, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ SD 23 BB về Ban Mê Thuột (11/2/1975). Theo Tổng thống Thiệu, địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, địch không bao giờ dám tấn công trên khoảng trống như vậy. Tổng thống Thiệu hứa sẽ cho thêm một liên đoàn Biệt động quân để làm một lực lượng trừ bị. Sau khi nghe thuyết trình, Tổng thống Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các chiến sĩ.
● 2/1975 - Nhưng sau đó Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu thi hành lệnh chuyển quân về Ban Mê Thuột. Mãi đến ngày 17 tháng 2/1975, Tướng Phú mới triệu tập một phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân. Theo kế hoạch này, Bộ Tư lệnh SD 23 BB di chuyển bằng đường bộ, qua khu đèo Tử Sĩ, TRD 45 BB sẽ đi theo tháp tùng. TRD 44 BB đợi một liên đoàn Biệt động quân (LD 7 BDQ) đến thay thế sẽ đi sau. Vào lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 2/1975, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng, phía nam Pleiku, để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú lại ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Theo ông địch sẽ đánh Pleiku và sự việc chúng tập trung quân quanh Ban Mê Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của tướng Phú đã làm cả Quân đoàn 2 ngạc nhiên.
Ngày 1 tháng 3/1975, SD 3 CSBV chận đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Qui Nhơn và gây áp lực mạnh ở phía đông Pleiku. Cũng trong ngày, SD 968 CSBV tấn công chiếm hai đồn ở phía tây xã Thành An, cách Pleiku 15km hướng tây nam. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng địch sẽ đánh Pleiku. Tướng Phú cho thêm LD 24 BDQ đến tăng viện và ra lệnh LD 2 KB do Đại tá Nguyễn Văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên đoàn này để trấn giữ phía đông Pleiku.
Ngày 2 tháng 3/1975, tin tình báo khuyến cáo Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Thị trưởng Ban Mê Thuột, phải đề phòng CSBV tấn công. Tướng Phú liền ra lệnh cho TRD 53 BB rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và đưa một liên đoàn BDQ từ Kontum đến thay.
Ngày 4 tháng 3/1975, SD 3 CSBV cắt đứt quốc lộ 19 từ Qui Nhơn đến Pleiku, ở khúc Bình Khê và suối Đôi. Hai Trung đoàn 41 và 42 BB của SD 22 BB được lệnh khai thông nhưng không thành. Ngày 4 tháng 3/1975, khi Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, ra lệnh cho TRD 45 BB đang bảo vệ Pleiku di chuyển xuống Ban Mê Thuột, thì Trung đoàn 44 BB và Liên đoàn 25 BDQ đụng độ với Cộng quân tại vòng đai thành phố Pleiku. Sự kiện này đã khiến ông phải thay đổi kế hoạch điều quân bằng cách hủy bỏ cuộc di chuyển của TRD 45 BB về Ban Mê Thuột, đồng thời cho Chuẩn tướng Phan Đình Niệm, Tư lệnh SD 22 BB gửi Trung đoàn 42 BB từ vùng duyên hải lên Pleiku. Cùng ngày, đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 từ Pleiku đổ xuống Bình Định, và đèo An Khê từ Bình Định đi lên Pleiku bị Cộng quân đóng chốt khiến trục lộ tiếp vận từ duyên hải lên Cao nguyên bị chận, nên Liên đoàn 4 BDQ (vừa từ Quân khu 4 ra tăng viện) được lệnh cùng Lữ đoàn 2 KB xuất phát từ Pleiku tiến quân giải tỏa chốt địch. Cộng quân cũng đã tràn ngập một căn cứ của Địa phương quân trên quốc lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột với tỉnh Khánh Hòa và thành phố Nha Trang và cắt đứt giao thông từ vùng duyên hải lên Cao nguyên. Như vậy hai quốc lộ huyết mạch lên Cao nguyên đã bị cắt.
Ngày 5 tháng 3/1975, Trung đoàn 25 CSBV đóng chốt trên quốc lộ 21 ở đèo Chư Cúc, ở giữa Khánh Dương và quận Phước An, phía đông Ban Mê Thuột. Một đoàn xe của Quân đội VNCH di chuyển qua đèo Chư Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, nhiều binh sĩ bị bắt.
Trưa cùng ngày, SD 320 CSBV cho một tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của TRD 45 BB gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc quận Thuần Mẫn. Bình thường hằng ngày việc di chuyển trên quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đến Pleiku vẫn an toàn. Được tin này, Tướng Phú đã ra lệnh cho TRD 53 BB đưa một tiểu đoàn hành quân lục soát hai bên quốc lộ 14 để tìm dấu vết của SD 320 CSBV, nhưng không phát hiện được gì.● 3/1975 - Ngày 7 tháng 3/1975, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hồ và cắt đứt Quốc Lộ 14, rồi sau đó pháo kích vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tại phi trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân SD 22 BB và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định.
Ngày 8 tháng 3/1975, TRD 9 của Sư đoàn 320 CSBV bắt đầu tấn công Chi khu Thuần Mẫn, tỉnh Phú Bổn, nằm gần ngã ba quốc lộ 14 và tỉnh lộ 487, cách Ban Mê Thuột 60 cây số về hướng bắc. Tại đây chỉ có một tiểu đoàn Địa phương quân và Đại đội 23 Trinh sát của SD 23 BB trấn đóng nên không cầm cự được lâu và đã thất thủ sau nhiều giờ giao tranh. Quốc lộ 14 lại bị cắt thêm ở khúc quận Thuần Mẫn. Sau đó, DD 23 TS rút về phi trường Phụng Dực và đã được Trung tá Võ Ân giao cho phòng thủ một góc phi trường. Một đơn vị của TRD 45 BB cũng chạm súng với SD 320 CSBV trên quốc lộ 14, đoạn từ phía bắc Ban Mê Thuột đi lên Pleiku và Phú Bổn. Đêm cùng ngày, Sư đoàn 10 CSBV bắt đầu tấn công quận Đức Lập. Hai cứ điểm núi Lửa và 23 của Chi khu Đức Lập do một tiểu đoàn của TRD 45 BB trấn giữ bị tràn ngập.
Khoảng 8 giờ sáng ngày 9 tháng 3/1975, Tướng Phú và Bộ Tham mưu QD 2 bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh SD 23 BB, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó SD 23 BB kiêm Tư lệnh Mặt trận Ban Mê Thuột, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Đại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức, và Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng TRD 53 BB. Điều đáng ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định Cộng quân chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng địch sẽ đánh Pleiku. Ông lặp lại nhận định của ông là Cộng quân chỉ bao vây Ban Mê Thuột để làm kế nghi binh rồi bất thần tấn công vào Pleiku. Các giới chức trách nhiệm phòng thủ Ban Mê Thuột đều biết trong vòng vài ngày tới địch sẽ tấn công Ban Mê Thuột, nhưng họ không làm gì được, vì Tướng Phú không chịu thay đổi ý kiến. Lúc 11 giờ trưa, Tướng Phú đến thăm Bộ Chỉ huy Tiểu khu Ban Mê Thuột và chỉ thị cho Đại tá Vũ Thế Quang và Đại tá Nguyễn Trọng Luật phối trí quân phòng thủ các vị trí quan trọng và các kho tiếp liệu. Sau đó ông bay về Pleiku lúc 5 giờ chiều.
Mặc dù đã có chỉ thị của Tướng Phú, Đại tá Quang không biết lấy đâu ra quân để phòng thủ. Trong thị xã và vòng đai thành phố Ban Mê Thuột lúc đó chỉ còn hai tiểu đoàn của TRD 45 BB, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một đóng ở căn cứ B50 ở gần phi trường Phụng Dực, cùng với hai chi đội Thiết giáp và một đại đội Pháo binh. Số còn lại là hai tiểu đoàn Địa phương quân và Nghĩa quân phân tán mỏng để bảo vệ các kho trong thành phố. Một đơn vị Cảnh sát Dã chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn Thiết giáp và cho phép rút hai tiểu đoàn Địa phương quân của LD 924 DPQ ở Bản Đôn về bảo vệ thị xã.
Theo lời yêu cầu của Ðại tá Quang và Ðại tá Luật xin thêm quân tăng viện, một liên đoàn Biệt động quân được Bộ Tổng Tham mưu cho không vận bằng C-130 xuống phi trường Phụng Dực. Nhưng do hệ thống đèn phi đạo không hoạt động, liên đoàn này bắt buộc phải trở lại phi trường Phù Cát, Qui Nhơn. Do sự thúc đẩy của Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Tướng Phú chỉ thị cho Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng QD 2, thả LD 21 BDQ do Trung Tá Lê Quý Dậu chỉ huy từ Kontum xuống Buôn Hồ (9/3/1975), cách thành phố Ban Mê Thuột 30km về phía bắc, đề phòng khi địch quân tấn công vào Ban Mê Thuột, có thể tiến về cứu viện. Cuộc chuyển quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thì chấm dứt. Song song với cuộc chuyển quân này, Đại đội 45 Trinh sát của TRD 45 BB đang hành quân ở Bản Đôn nhận lệnh gấp rút trở về. Đại tá Luật cũng cho rút Tiểu đoàn 204 DPQ ở Bản Đôn về thành phố.
● 3/1975 - Ngày 9 tháng 3/1975, tại tỉnh Quảng Đức, Sư đoàn 10 CSBV mở những cuộc tấn công vào các vị trí của Liên đoàn 24 BDQ ở Kiến Đức và Địa phương quân ở Đức Lập, nhưng đều bị quân ta đánh tháo lui. Cộng quân gia tăng tập trung áp lực vào Đức Lập, đến tối thì Chi khu thất thủ. Trưa ngày 10 tháng 3/1975, địch tấn công và tràn ngập khu vực Daksong của TD 1/53 BB. Những binh sĩ còn lại của tiểu đoàn hỗ trợ cho nhau rút về Ban Mê Thuột. Sau đó, một phần lực lượng của SD 10 CSBV di chuyển về phía đông tiến về thị xã Ban Mê Thuột, xiết chặt vòng vây. Như vậy sau hai ngày khởi diễn chiến dịch Hồ Chí Minh, CSBV đã hình thành thế trận gọng kìm bao vây Ban Mê Thuột từ hướng bắc và hướng nam. Về phía đông, quốc lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột và Nha Trang cũng bị các đơn vị Cộng quân đóng chốt. Chỉ riêng tình hình hướng tây yên lặng một cách lạ thường.
Khoảng 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3/1975, xe tăng và trọng pháo CSBV đủ loại bắt đầu tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột từ mọi phía. Từ hướng tây, đại pháo CSBV tới tấp nã vào Tiểu khu, đài Truyền tin ở phi trường L-19 và kho đạn Mai Hắc Đế. Cuộc pháo kích kéo dài hai tiếng đồng hồ, sau đó là những đợt xung phong hung hãn của bộ binh và xe tăng địch. Trung đoàn 174 CSBV theo quốc lộ 14 từ hướng Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, tiến vào trước tiên, sau đó Trung đoàn 149 đánh từ phía nam lên, Trung đoàn 95B từ ngả Buôn Hồ đánh xuống, còn Trung đoàn 148 từ lối Bản Đôn vào (See map).
Bốn giờ sáng, bộ đội và chiến xa T-54 CSBV bắt đầu tấn công mặt tây bắc phi trường L-19 với chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung (khu vực này không có gài mìn claymore phòng thủ). Lực lượng phòng thủ phi trường là Đại đội Thám sát Tỉnh trực thuộc Bộ Chỉ huy CSQG với quân số 40 người (gồm toàn người Thượng), xin Tiểu khu tiếp viện. Bộ Chỉ huy Tiểu khu cho Đại đội 1/224 DPQ vào tiếp ứng nhưng không thành. Sáu giờ sáng, phi trường L-19 thất thủ, phòng tuyến phía tây bắc bị chọc thủng.
Khi tiến công vào thành phố, Cộng quân nhắm vào hậu cứ Sư đoàn 23 Bộ binh, Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac, kho đạn Mai Hắc Đế và căn cứ B50. Đến 8 giờ sáng, chiến xa T-54 và Đặc công địch tấn công dữ dội vào kho đạn Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ huy 5 Tiếp vận, song bị các chiến sĩ VNCH ở đây can trường đẩy lui. Sau nhiều đợt xung phong của chúng, đến gần 5 giờ sáng thì vị Đại úy Chỉ huy trưởng kho đạn bị tử thương. Nửa giờ sau thì kho đạn thất thủ. Như vậy hướng bắc và hướng tây coi như đã bị bỏ ngỏ. Đại tá Quang chỉ thị cho Đại tá Luật điều động hai đại đội và bốn thiết vận xa M-113 ra chốt ở ngã Sáu, khu vực nhà thờ Chính Tòa, để chận địch. Các khu trục cơ A-37 được phái đến yểm trợ.
Khoảng 7 giờ sáng, các đơn vị của SD 320 CSBV và chiến xa địch đã tràn vào trong thành phố. Tiểu đoàn 2/53 BB đã chiến đấu anh dũng đánh lui tất cả các đợt tấn công của Cộng quân để bảo vệ Bộ Tư lệnh SD 23 BB. Năm chiếc T-54 đã bị binh sĩ TD 2/53 BB và Địa phương quân bắn hạ.
Lúc 11 giờ Cộng quân tấn công Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac. Sau nhiều giờ giao tranh với lực lượng biển người của Cộng quân có chiến xa T-54 và đại pháo yểm trợ, Bộ Chỉ huy Tiểu khu phải di tản. Đại tá Luật trao quyền lại cho sĩ quan Tiểu khu phó và di chuyển qua Bộ Tư lệnh Tiền phương SD 23 BB. Lúc 3 giờ chiều, Đại tá Quang không còn liên lạc được với Tiểu khu, Cộng quân coi như đã hoàn toàn kiểm soát thành phố. Tuy nhiên ở mặt bắc thị xã vẫn còn Bộ Chỉ huy CSQG cầm cự. Đến 4 giờ chiều thì lực lượng này cũng tan vỡ dưới trận mưa pháo và biển người của địch quân. Khoảng 5 giờ, Đại tá Quang bắt liên lạc được với LD 21 BDQ của Trung tá Dậu đang ở phía Buôn Hồ tiến vào thành phố. Ông ra lệnh Trung tá Dậu cho TD 72 BDQ chiếm lại Tiểu khu và TD 96 BDQ yểm trợ lấy lại kho đạn Mai Hắc Đế.
● 3/1975 - Nhưng khi giao tranh đang tiếp diễn, Chuẩn tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho Trung tá Dậu điều động LD 21 BDQ phối hợp với Địa phương quân rút về quanh phi trường L-19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón gia đình đang kẹt tại đây. Khi trực thăng bốc được gia đình Tướng Tường đi rồi thì Cộng quân đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột. LD 21 BDQ tiến về phi trường Phụng Dực để phối hợp tác chiến với một tiểu đoàn của TRD 45 BB ở căn cứ B50 thì bị chận đánh, phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý.
Suốt đêm ngày 10 tháng 3/1975, Địa phương quân-Nghĩa quân và Cảnh sát Dã chiến quần thảo với bộ đội CSBV trong thành phố để tranh từng tấc đất. Do Cộng quân không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được. Bảy giờ sáng ngày 11 tháng 3/1975, Cộng quân tấn công vào Bộ Tư lệnh SD 23 BB, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được. Đến 10 giờ, một phi đội A-37 trợ chiến đã thả bom lạc, trúng một góc hầm Bộ Tư lệnh, hệ thống truyền tin bị hỏng, không còn liên lạc được với các đơn vị chung quanh nữa. Cả Đại tá Vũ Thế Quang lẫn Đại tá Nguyễn Trọng Luật phải rút bỏ Bộ Tư lệnh Sư đoàn, di chuyển qua sau lưng chùa Khải Đoan để chạy qua căn cứ B50, nhưng bị bắn dữ quá, phải tạt vào rừng cao su và bị bắt sau đó.
Cùng lúc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột, Cộng quân đã không ngừng luân phiên tấn công căn cứ B50 của TRD 53 BB tại phi trường Phụng Dực (See map).
Đây là một căn cứ có chu vi trên 1km, trước đây là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ nên công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ngoài xa là một vòng đai hàng rào kẽm gai nhiều lớp bao bọc. Căn cứ này được dùng làm hậu cứ của TRD 53 BB. Nhờ các công sự vững chắc, Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng TRD 53 BB, chỉ có một tiểu đoàn mà đã chống trả rất anh dũng các đợt tấn công bằng xe tăng và đại pháo của địch. Trung tá Ân đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược. Trong suốt thời gian 6 ngày đêm, binh sĩ phòng thủ đã đánh tan nhiều đợt tấn công biển người và tiêu diệt T-54 bằng chính những vũ khí tịch thu của Cộng quân. Góp phần đáng kể vào việc phòng thủ là Đại đội 23 Trinh sát của SD 23 BB mới nhận vị trí đóng quân vào buổi chiều ngày 10 tháng 3/1975.
Ngày 12 tháng 3/1975, sau khi có lệnh trực tiếp của Tổng thống Thiệu là chiếm lại Ban Mê Thuột, Tướng Phú đã tổ chức một cuộc họp tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 để hoạch định kế hoạch tái chiếm. Theo kế hoạch này, TRD 45 BB được bốc từ đèo Tử Sĩ đổ xuống Phước An, phía đông Ban Mê Thuột. Trung đoàn này sẽ lần theo quốc lộ 21 tiến về Ban Mê Thuột cho đến khi chạm địch thì ngưng lại và chờ lệnh. LD 7 BDQ sẽ được chuyển từ Sài Gòn ra thay TRD 44 BB ở căn cứ 801, phía tây bắc Pleiku. Sau khi bàn giao, Trung đoàn 44 sẽ di chuyển đến căn cứ Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An tiếp theo. Việc chuyển quân của TRD 45 BB không có gì trở ngại, nhưng khi từ Phước An tiến về Ban Mê Thuột thì một số binh sĩ của trung đoàn này đã bỏ ngũ đi tìm gia đình của họ ở Ban Mê Thuột.
● Đại tá Phùng Văn Quang, Trung đoàn trưởng TRD 45 BB, kể lại rằng khi nghe tin địch tấn công vào Ban Mê Thuột, ông đã điện đàm với Tướng Phú để xin chỉ thị. Ông cho biết các binh sĩ của ông rất nóng lòng, muốn được đi giải cứu Ban Mê Thuột, vì vợ con họ đang ở tại đó. Nhưng Tướng Phú đã trả lời với ông rằng nếu đem quân đi cứu Ban Mê Thuột, Cộng quân sẽ tấn công Pleiku.
● 3/1975 - Ngày 13 tháng 3/1975, 50 trực thăng đủ loại đến bốc TRD 44 BB tới Phước An, nhưng chỉ mới di chuyển được TD 3/44 BB, DD 44 TS và Bộ Chỉ huy Trung đoàn thì có lệnh ngưng lại. Hai Tiểu đoàn 1/44, 2/44 BB và Bộ Chỉ huy Hành quân do Trung tá Vũ Mạnh Cường, Trung đoàn phó TRD 44 BB, chỉ huy bị bỏ lại ở Hàm Rồng. Lực lượng của hai Trung đoàn 44 và 45 BB khi tiến về Ban Mê Thuột thì bị chận lại ở vòng đai thành phố. Ở phía sau, TRD 25 CSBV từ Chư Cúc đánh lên Chi khu Phước An, nơi đặt Bộ Chỉ huy Hành quân của SD 23 BB.
Ngày 14 tháng 3/1975, trong chuyến bay từ Khánh Dương đến Phước An, máy bay của Chuẩn tướng Lê Trung Tường bị trúng đạn. Ông bị thương nhẹ và xin từ chức Tư lệnh SD 23 BB. Ngày 15 tháng 3, Tướng Phú cử Đại tá Lê Hữu Đức đến thay thế Tướng Tường. Nỗ lực giải cứu Ban Mê Thuột đến lúc này coi như thất bại: LD 21 BDQ bị vây hãm tại Đạt Lý, TRD 45 BB và TD 3/44 BB bị cầm chân ngoài vòng đai thị xã Ban Mê Thuột. Hỏa lực pháo binh yểm trợ duy nhất là trung đội Pháo binh Diện địa đang đặt tại Chi khu Phước An thì chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly. Lực lượng Không quân yểm trợ, đánh phá các căn cứ tập trung của địch gặp khó khăn vì hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay SA-7 của Cộng quân, lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên chiến trường Tây Nguyên. Năm giờ chiều ngày 15 tháng 3/1975, phòng tuyến đồi Chư Cúc, Phước An, của TRD 44 và 45 BB bị thiết giáp CSBV tràn ngập.
Ngày 16 tháng 3/1975, lực lượng còn lại của Sư đoàn 23 BB được lệnh tập trung về Phước An và được trực thăng bốc về Nha Trang vì đã có lệnh của Tổng thống Thiệu triệt thoái khỏi Cao nguyên.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú khi làm Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ làm việc với vài người thân tín của ông. Ông không tin tưởng vào Bộ Tham mưu Quân đoàn. Ông không thi hành lệnh Tổng thống Thiệu đưa ngay Sư đoàn 23 BB về giữ Ban Mê Thuột. Sau khi Ban Mê Thuột mất, ông lại phải thi hành mệnh lệnh vô lý của Tổng thống Thiệu rút bỏ Pleiku-Kontum. Điều này đã khiến hàng ngàn người thiệt mạng một cách đau thương, oan uổng trên liên tỉnh lộ 7B.

Nguồn:http://tongthammuu.blogspot.com/2013/08/why-were-pru-teams-successful-in.html
Được đăng bởi Mai Nguyễn Huỳnh vào lúc 02:21 [/color]

Edited by user Tuesday, October 14, 2014 9:11:26 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 10/15/2014(UTC), tý xưng on 10/25/2014(UTC)
Mén  
#1022 Posted : Monday, October 27, 2014 9:17:31 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Chuyện tình cô Y Sĩ Công An (Cựu Nữ Sinh Gia Long)
Chu Tất Tiến

(Tất cả các nhân vật trong truyện đều mang tên thật, trừ Cô Đại Úy Y Sĩ Công an)


Ngày tôi gặp lại Dung ở bệnh viện Chợ Rẫy, cô giật mình, lùi lại như nhìn thấy một bóng ma. Khuôn mặt cô tái hẳn đi, cặp môi xinh xinh cong lên, như định thốt lên một tiếng kêu. Chừng vài giây sau, cô định thần lại, nhìn tôi với cặp mắt sâu thẳm. Trên chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, và giữa luồng ánh sáng của những ngọn đèn trần, làn da trắng tinh của cô hình như trong hơn và mịn màng hơn.
Tôi cười nhẹ nhàng :
- Chào Dung ! Dung vẫn khỏe chứ ?
Dung không trả lời tôi. Cô vẫn nhìn chăm chăm vào mắt tôi. Một lúc sau, lâu lắm, cô mới thốt lên lời. Giọng cô vẫn nhỏ nhẹ như xưa :
- Anh mới được về hả ?
Tôi gật đầu và mỉm cười. Nhìn dáng Dung trong chiếc áo choàng trắng tinh ấy, tôi lại bồi hồi nhớ lại những ngày xưa, không, không xưa lắm, mới có hơn ba năm thôi, Dung cũng mặc chiếc áo trắng ấy, mà hồn tôi rộn rã, bừng bừng, như muốn bốc cháy.

* * *

Năm ấy, tôi vừa được chuyển trại về K.30 (*). Thật Ra, trước khi đổi sang K.30, tôi ở Đội 3, nhà 12, K.4. chỉ cách nhà cũ của tôi một lớp hàng rào mỏng. K.30, là trạm Y Tế của cải tạo, nơi điều trị các người tù bị bệnh nặng, trong đó có Nhạc Sĩ N.V.Đ và Bác Sĩ T.T.A, tác giả loạt bài nổi tiếng trước 1975 “Lương Tâm Của Người Thầy Thuốc”. Nhạc Sĩ N.V.Đ thì đã bị sưng tất cả các khớp xương tay và chân, không đi đứng được. Mỗi khi ông muốn đi từ nơi này sang nơi khác, phải nhờ anh em cõng. Bác Sĩ T.T.A. bị bệnh “đi cầu không người lái”, nghĩa là khi nào ông chuyển bụng, thì tất cả chất thải cứ tự nhiên toát Ra ngoài vì hậu môn ông không còn khả năng khép kín.
Ông phải dùng một nùi giẻ bện lại, và đóng nút như đóng nút chai, nhưng vẫn không thể kềm được khi ông quá mắc. Chỗ nằm của ông hôi thối kinh khủng, ông không thể múc nước tắm một mình và cũng vì đã lớn tuổi, lại yếu, nên không làm vệ sinh chung quanh giường của mình. Thỉnh thoảng, Bác Sĩ Khánh và tôi phải dựng ông đứng dậy, múc nước tắm cho ông và dội giường ông cho trôi phân đi.

Ngoài hai nhân vật đặc biệt này là các bệnh nhân kinh niên mãn tính. Tôi nhớ có một anh mới phát giác bị phong cùi qua những mảng đen đặc trên mông, vài anh ho Lao, một anh bị bệnh vẩy-nến rất nặng. Khi anh vẩy-nến tắm, anh trần truồng ngồi cạnh cái giếng, múc nước dội một mình, vì lúc anh bước chầm chậm ra giếng, là anh em bỏ vô nhà hết, không ai dám tắm chung với anh, một khối thịt đỏ ửng từ đầu xuống chân, nứt nẻ ngang dọc, ở những khe nứt đó, nước vàng chẩy ra nhễ nhãi.

Khu K.30 có 4 dẫy nhà, hình chữ W, không kể nhà bếp. Ba dẫy hình chữ U dành cho bệnh nhân. Dẫy giữa chia làm hai. Một đầu là tủ thuốc chứa đầy Xuyên Tâm Liên, phòng khám bệnh, và nơi “giao ban” của các y, bác sĩ quân y cũ chịu trách nhiệm chăm sóc các bệnh nhân với một Đại Úy Y Sĩ công an của trại tù. Hai phần ba của dẫy này là chỗ ngủ của các y, bác sĩ và ba người chúng tôi, làm các việc linh tinh, như chẻ củi, gánh nước, phụ bếp, và giúp các bệnh nhân tất cả mọi việc mà y, bác sĩ không làm.
Lúc tôi tới trại, đã có khoảng hơn 10 bác sĩ, một nha sĩ, một phụ tá nha sĩ. Trong số các bác sĩ điều trị, có Bác Sĩ Đàm, Y Sĩ Trưởng Sư Đoàn 18, và một vị Bác Sĩ già, nguyên là Y Sĩ của Cố Tổng Thống Diệm, sau này thành Thượng Nghị Sĩ. Mỗi buổi sáng, tất cả các y, bác sĩ, nhân viên của K. 30 phải ngồi trên đầu giường của mình và “giao ban” với tay công an Y Sĩ Trưởng của trại tù, một chức vụ rất lớn, chỉ thua Quản Đốc trại tù, mà có phần hơn, vì anh này chịu trách nhiệm về sức khỏe của toàn thể 5 trại K. tù và tất cả các công an coi trại. Anh ta ngồi vào chiếc bàn độc nhất trong phòng, nghe các y sĩ điều trị báo cáo tình hình bệnh nhân và cứu xét đề nghị xin chuyển bệnh nhân ra bệnh viện ngoài nếu cần cấp cứu.

Tuy chức nghiệp chỉ là y sĩ, có trình độ như y tá và đôi khi còn thấp hơn y tá của chế độ cũ, nhưng anh này có toàn quyền quyết định trên vấn đề y khoa của các bác sĩ, cũng như có quyền ký giấy cho tù nhân được ra trại dựa trên tình trạng sức khỏe.

Tôi nhớ có một bệnh nhân, xuất huyết nội, được các bác sĩ đề nghị cho ra ngoài cấp cứu gấp, nhưng tay y sĩ ỷ mình tốt nghiệp Liên Xô, cứ cho là bệnh trĩ, không cần đi đâu, chỉ cho uống thuốc giảm đau, nên bệnh nhân đã chết sau hai ngày quằn quại.

Buổi giao ban kế tiếp, anh y sĩ này chỉ nói có một câu đơn giản :

- Thôi, kỳ này ta mắc khuyết điểm. Kỳ sau khắc phục !
Thế là một mạng người ra đi, một sĩ quan chết trong tức tưởi chỉ vì sự phán quyết ấu trĩ của một tay y tá. Chúng tôi chia phiên ngồi canh xác anh bạn, vì có mấy anh bạn nhát ma, nên tôi nhận luôn ca đêm, từ 12 giờ đến 3 giờ sáng. Trong căn phòng trống lạnh, tôi ngồi cạnh xác anh, bên ngọn đèn dầu leo lét, tay phải luôn xua xịt lũ chuột cống cứ nhào lên định cắn chân tay người chết. Không sợ ma nhưng nước mắt tôi chảy lưng tròng, uất hận cái tên y sĩ ngu xuẩn kia, cho dù hắn không trực tiếp cầm súng bắn anh em, nhưng cái chết lãng xẹt vì sự ngu xuẩn đó cũng là một điều đáng căm thù. Cho đến một ngày, đời tôi có những đổi thay kịch liệt.
Một buổi sáng chờ đợi giao ban mãi không thấy bóng áo vàng của tay Đại Úy cao cao kia, anh em ngồi chờ, bàn tán mông lung. “Có lẽ hắn bị thượng mã phong, chết mẹ nó đêm qua rồi !”, Bác Sĩ Đ. nói đùa. Tất cả hùa theo, cười ầm ĩ.
Khoảng nửa tiếng sau, bất ngờ nghe bên ngoài có tiếng xôn xao của các anh em trong hai trại bên cạnh, nhóm chúng tôi đứng hẳn dậy, nhìn ra phía cổng vào và bất ngờ nhận thấy người đang tiến tới chỗ giao ban là hai cô công an áo vàng. Một cô cao, một cô thấp.
Cô cao trông lạnh lùng, nghiêm khắc trong khi cô thấp đeo kính trắng có vẻ hiền hơn.

Đang nhớn nhác nhìn ra, chúng tôi không kịp đứng nghiêm lại khi cô cao tới trước bậc thềm, và bước vào trong một cách nhanh nhẹn. Nhìn thấy dáng bộ chúng tôi lu bu, cô cao muốn tỏ uy quyền, nên cảnh cáo liền bằng một giọng Nam Kỳ đặc :
- Các anh đứng trật tự lại. Anh nào báo cáo thì báo cáo đi !
Nghe giọng oai nghiêm của cô, Bác Sĩ Đông là trưởng nhóm y sĩ, vội đứng nghiêm và lập bập báo cáo :
- Thưa cô…
Vừa nghe xong hai tiếng “Thưa cô”, cô cao chỉnh liền :
- Anh nói cái gì ? Ai cho anh gọi tôi bằng “cô” ? Từ nay, các anh phải “Thưa cán bộ”. Nghe rõ chưa ? Tôi là Đại Úy Dung, Y Sĩ Trưởng của trại cải tạo này. Tôi thay thế Đại Úy X. đi công tác xa.
Và, chỉ tay về phía cô thấp, cô Đại Úy giới thiệu :
- Còn đây là Y Sĩ Phụng, phụ tá của tôi.
Anh Đông, người Nam, vốn tính hiền hòa, nên khi bị “chỉnh” thì hơi run :
- Dạ, thưa cán bộ, vâng !
Người y sĩ công an kia nhìn thẳng vào anh Đông, kiêu kỳ :
- Anh tên gì ?
Anh Đông lúng túng thấy rõ :
- Thưa cán bộ, tôi là Trương Đông, trưởng nhóm chuyên khoa ở đây.
Cô cán bộ nhìn lướt qua từng người trong nhóm với cặp mắt vẫn lạnh lùng :
- Còn các anh kia, từng người báo cáo đi !
Lần lượt, các y sĩ và ba tên phục vụ chúng tôi báo cáo tên họ. Nghe qua hết một lần, cô y sĩ cho tất cả ngồi xuống và bắt đầu nghe báo cáo tình hình từng bệnh nhân, trong khi cô Phụng vẫn đứng gần bên, nhìn chúng tôi một cách lạnh lùng.
Nghe xong phần báo cáo, hai cô ra lệnh cho tất cả các y sĩ hướng dẫn đến từng giường bệnh nhân, hỏi qua tình trạng sức khỏe từng người và ghi ghi chép chép trong sổ tay của các cô. Thái độ của các cô vẫn hoàn toàn băng giá nhưng đã đột nhiên thay đổi khi tới giường của anh nhạc sĩ Đại Tá N.V.Đ. Nhìn thấy anh ngồi trên giường với hai đầu gối co rút lại, những khớp ngón tay đã sưng to, và cả thân thể gầy ốm, trơ xương, nhưng ánh mắt vẫn hiên ngang, nhìn thẳng vào cô cán bộ công an với một vẻ thách thức, cô Dung bất ngờ chớp mắt lia lịa. Cô hỏi anh, với giọng xúc động :
- Phải anh là tác giả của các bài Chiều Mưa Biên Giới và Hải Ngoại Thương Ca ?
Người nhạc sĩ tài hoa hơi mím môi, trả lời :
- Phải !
Cả cô Dung và cô Phụng đều mất đi vẻ lạnh lùng. Hai cô liếc nhìn nhau một thoáng rồi cùng quay lại nhìn người nhạc sĩ. Chừng một phút sau, cô Dung nhìn toán người đi theo sau, nói nhỏ :
- Thôi, đi !
Rồi không cần kiểm tra tiếp nữa, cô bảo nhóm y sĩ tiếp tục làm việc, còn hai cô ra về. Trên đường đi ra cổng, bóng hai cô chập sát vào nhau, thì thầm.
Bọn chúng tôi ở lại, ồn ào, tán phét. Chúng tôi cùng cho rằng hai cô người Sài Gòn, từng nghe nhạc của nhạc sĩ N.V.Đ. nên dù cho là công an, nhưng vẫn chưa quên hết những mộng mơ của những cô gái áo trắng ngày ấy. Tôi quay lại với anh Đ., cười cười :
- Anh Đ. ơi ! Thế là anh sẽ về sớm hơn anh em đấy ! Anh cứ tin em đi !
Anh Đ. chỉ hơi nhếch môi, thái độ thận trọng cố hữu của anh :
- Không biết đâu, em ạ !
Tôi vẫn cười :
- Em biết chắc mà ! Cán bộ mới nhìn thấy anh là run rồi ! Nhất định sẽ ký giấy cho anh về sớm !
Anh Đ. vẫn lắc đầu, không có vẻ lạc quan một chút nào :
- Anh cũng biết mà ! Cấp bậc của anh to quá, khó lắm ! Dầu cho người ta có nể mình, nhưng còn cấp trên. Đâu dễ, em !
(Điều anh nhận xét “đâu dễ” rất đúng. Cho dù có sự can thiệp của cô Dung để đưa anh ra bệnh viện ngoài đến ba lần, trở đi trở lại mãi đến vài năm sau, anh mới được tha về).
Còn nhóm chúng tôi, lúc đầu thấy nữ cán bộ đến quản lý, thì cũng là lạ, nhưng vẫn cứ đề phòng từ lời nói đến cử chỉ, không để cho ai có dịp “đì” mình, nhất là phái nữ. Mỗi ngày, hai cô đều đến một lượt, nghe báo cáo, rồi đi qua từng giường bệnh, xem biểu đồ tiến triển của bệnh nhân, mà quyết định cho ra ngoài điều trị. Khoảng một tháng sau, không thấy cô Phụng đến nữa, chỉ còn mình cô Dung. Thái độ của cô dần dần cởi mở hơn, không còn hằn học như ngày đầu nữa. Giọng nói của cô cũng dễ nghe. Anh em cũng vui vẻ hơn khi thấy cô không khó khăn như tay Đại Úy trước, hễ thấy ai trở bệnh nặng là cho xe díp tới chở ra bệnh viện bên ngoài ngay. Dĩ nhiên, anh N.V.Đ được ưu tiên ra ngoài ngay. Mỗi lần như vậy, cô ngồi bên cạnh tài xế, dĩ nhiên là một công an. Bệnh nhân nằm cáng, được đặt song song với chiều dài của xe, anh y sĩ trực tiếp coi bệnh nhân thì cầm hồ sơ, đi theo, ngồi bên cạnh một tay công an khác. Những lần ra ngoài như vậy, người sung sướng nhất là vị y sĩ trực tiếp coi bệnh, đứng chờ sẵn, khi nghe thấy cô ra lệnh :
- Anh Nhân, lên xe đi với tôi !
Hoặc anh Phượng, anh Khánh, anh Lộc, tùy theo bệnh nhân nằm nhà nào thì vị y sĩ trực nhà đó được đi. Đã nhiều năm quanh quẩn trong tù, chỉ nhìn thấy công an hay bộ đội, nay được ra ngoài, hít thở chút không khí tự do, được nhìn thấy “người ta”, thì anh nào cũng thích. Lũ chúng tôi thèm quá chừng, nhưng chỉ biết đứng nhìn bạn mình lên xe.
Ngay cả anh Đào, Nha Sĩ, cũng ngẩn ngơ. Rồi chiếc xe chầm chậm lăn bánh qua khỏi những hàng rào kẽm gai chi chít…
Từ những ngày ấy, liên hệ của các anh y sĩ với cô Dung có phần nhẹ nhàng hơn. Cô không cau có, không ra lệnh như ngày đầu, mà chỉ trao đổi trong phần chuyên môn. Những gì cô không hiểu, cô hỏi với sự kính nể, không như anh chàng Đại Úy trước. Còn tôi, chả cần lưu tâm đến cô, vì với phận sự một anh hộ lý, một chàng bổ củi, gánh nước, tôi chẳng có lý do gì lại gần cô. Cứ sau giờ giao ban, tôi đi một mạch ra giếng, gánh đầy nước vào các thùng đựng nước để nấu cơm, rồi làm mọi công việc linh tinh khác. Tôi cứ ngỡ đời tôi rồi tàn tàn như thế cho đến mãn kiếp vì không hy vọng có ngày về cho đến một hôm…
Sau khi làm đủ công việc hàng ngày xong, tôi lôi cây đàn guitar ra ngồi bậc cửa, dạo vài cung nhạc và tự dưng trong lòng buồn bã, nhớ về người vợ hiền đang cực nhọc nơi nào, tôi hát luôn một bài Trịnh Công Sơn. “Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi…” Hát tới câu này, hồn tôi chùng xuống, tôi lặp đi lặp lại hai ba lần.
Nước mắt tôi lãng đãng rơi xuống. Vài giọt rớt trên phím đàn. Nhìn thấy giọt nước làm nhòe thân đàn, tôi lấy ngón tay cố chùi cho khô, rồi đột nhiên linh cảm thấy có ai đang nhìn mình, tôi vội ngước lên và thấy Dung đang đứng đó tự hồi nào. Chắc Dung đã nhìn tôi vừa hát vừa khóc. Cô sững người giây lát và chừng như thấy mình có thái độ sai lầm với một tên tù, Dung vội quầy quả bước đi. Tôi cũng bối rối, một phần vì sự ướt lệ của mình, một phần vì tôi đang ở trần, chỉ mặc mỗi cái quần xà loỏn để làm việc.

Ngày hôm sau, khi giao ban, tôi ngồi tránh xa chỗ cô, và không liếc cô một lần. Hình như cô cũng gượng gạo hơn mọi ngày, nên chỉ nói qua loa rồi dọt mất. Thời gian trôi qua, sự việc hôm đó cũng nguôi ngoai.
Rồi Tết đến. Theo chỉ thị của cô, anh em phải trang hoàng lại chỗ làm việc cho ra vẻ Tết. Biết tôi có khiếu trang trí, mấy anh y sĩ năn nỉ tôi làm sao cho đẹp. Nổi hứng, tôi đi xin một cái vỏ dừa khô, cưa làm hai, rồi tẩn mẩn dùng dao làm bằng kẽm gai, khắc nổi bên ngoài vỏ dừa hình một Ngư Nhân bơi trong một hồ sen. Tôi lấy một cái nắp sắt, cắm mấy cái đầu đinh ngược lên, rồi đốt bao nylông cho nhỏ xuống đầy cái nắp thành một ổ cắm hoa, bỏ trong vỏ dừa. Sau đó, ra ngoài kiếm mấy bông hoa rau muống, hoa dừa, và lá rau dền, tôi cắm một bình hoa tròn trịa, để trên bàn của cô.

Còn trên tường, tôi kiếm giấy nâu đen, cuốn lại thành một cành hoa mai, dán lên tường, sau đó dán thêm vài cánh mai vàng giả, và viết vài chữ thảo “Chúc mừng năm mới” bên cạnh. Thế là phòng họp tự nhiên biến thành… Tết !

Được anh em khen ngợi, lòng tôi cũng vui vui, nhưng không rộn ràng bằng khi cô đến. Nhìn thấy bình cắm hoa đơn sơ nhưng rất lạ, cô cầm lên, hơi thất sắc, hỏi :

- Anh nào làm thế ?
Anh Đông chỉ tay vào tôi ngồi ở cuối hàng. Cô nhìn tôi một lúc lâu, rồi nhìn lên tường, và quay xuống tôi, nói vỏn vẹn hai chữ :
- Đẹp lắm !
Sau đó, cô ngồi ngắm nghía bình hoa mãi đến quên cả tinh thần buổi họp.
Anh Đông phải nhắc “Thưa cán bộ…”, cô mới giật mình, trở lại trao đổi với các anh y sĩ. Trước khi đứng dậy, đi về, cô còn liếc tôi một lần rồi mới xoay chân.

Dung vừa ra khỏi cổng, anh Nhân cười hí hí :
- Thế là Tiến chết rồi nhé ! Cô để ý rồi, là chỉ có mất mạng thôi !
Cả nhóm cười ồn ào. Tôi chỉ biết nhún vai, cười theo. Trong lòng tự nhiên xôn xao giây phút. Hình ảnh nguời con gái Nam Kỳ, (lúc ấy tự nhiên tôi quên mất cô là đại úy công an), có cặp mắt lá răm, làm tôi vương vấn. Nhưng chỉ trong một vài phút, chợt nhớ đến vợ hiền, con thơ, tôi lắc đầu, xua đuổi mấy tư tưởng hắc ám đi và tiếp tục công việc của mình, như không có gì xẩy ra.
Nhưng thực tế, có chuyện xẩy ra. Ngày kế tiếp, sau buổi họp, cô gọi nhỏ anh Đông lại, nói chi đó, rồi đưa cho anh ta một gói quà. Cô vừa bước ra, anh Đông nói ầm lên :

- Lại đây ! Lại đây ! Xem cô tặng quà cho anh Tiến này !
Tất cả xô lại. Trong tay anh Đông là một cuốn vở mới tinh, mấy cây bút chì mầu, và bút Bic, loại quà rất hiếm trong giai đoạn đó. Anh Đông giơ cao món quà và nói :
- Những cái này là cô tặng cho anh Tiến. Không ai được đụng tới.
Anh nói đùa :
- Ai đụng tới quà của anh Tiến là vô “con-nếch” (1) ngồi ngay !
Mọi người cười ầm ĩ. Anh Nhân lại nhắc lại :
- Chết Tiến rồi ! Chết Tiến rồi ! Ông liệu hồn đấy !
Trong nhóm các y sĩ ở bệnh xá, Bác Sĩ Nhân và tôi là thân nhau nhất. Hai thằng ăn cơm chung với nhau, chiều chiều sau khi ăn cơm, hai thằng hay thả bộ vòng quanh trại, tâm sự vụn. Tụi tôi hợp nhau không chỉ vì tính nết mà còn vì tình đồng môn nữa. Nhân học trên tôi một lớp, và cũng ở nội trú Đắc Lộ trước khi vào Y Khoa. Tối hôm ấy, như thường lệ, hai thằng vừa đi vòng vòng vừa nói chuyện. Nhân nửa đùa nửa thật, hỏi tôi:
- Lỡ ra, em mê ông, cho ông về sớm, bắt ông lấy, thì ông tính sao ?
Tôi cười hinh hích, đùa lại :
- Thì lượm luôn, chứ sao ?
Nhân hỏi tới :
- Còn vợ con thì sao ?
Tôi khựng lại, hết đùa :
- Nói vậy chứ không phải vậy ! Làm sao lấy vợ là công an cộng sản ? Giỡn mặt với tử thần à ?
Hai thằng cười phá lên. Tưởng đùa cho vui. Làm gì có chuyện ái tình với người cộng sản !
Mà, nếu tôi đừng đùa thêm nữa, thì chắc câu chuyện cũng không tiến xa hơn. Nhìn cuốn tập Dung tặng và mớ bút chì mầu, tôi không biết xử dụng vào chuyện gì cả.
Tự nhiên, Nhân nẩy ra ý nghĩ táo bạo, bảo tôi :

- Ê, sao ông không vẽ cho cô một vài bức tranh, cho cô chết luôn !
Tôi gật gật :
- Có lý ! Có lý !
Hôm sau, khi ngồi bên dưới nghe Dung trao đổi với các bạn, tôi ngồi ngắm Dung và vẽ lia lịa, nhưng có thay đổi. Tóc cô công an thì ngắn, tôi cho bay lượn lung tung. Áo Dung là bộ quân phục mầu vàng dợn, tôi biến thành áo dài, cho em đi hết lên đồi, lại xuống bờ hồ, rồi thông, rồi hoa, Dung trong cuốn vở của tôi là một thiếu nữ Sài Gòn, một mẫu người của thời đại 75 mà các Hha sĩ khác hay vẽ trên các tập nhạc, các cuốn báo tuổi thơ.
Tôi vẽ được khoảng 20 tờ, thì lẳng lặng để trên bàn của Dung, trước giờ giao ban.

Khi em bước vào, thấy cuốn tập đã cho tôi lúc trước thì ngạc nhiên, không mỉm cười chào ai như lệ thường mà mở luôn ra xem. Càng xem, cặp mắt Dung càng mở lớn. Một nụ cười Mona Lisa nở trên môi. Dung coi tới coi lui mấy lần, rồi mới đặt xuống, hỏi cho có lệ :

- Anh Đông, ai vẽ vậy ?
Anh Đông lấy tay chỉ về phía sau :
- Thưa cô, anh Tiến đó ạ !
(Buổi đầu tiên, Dung bắt mọi người phải gọi cô bằng hai chữ cán bộ, nhưng dần dần, quen thuộc rồi, cô cũng chẳng bắt bẻ, khi có người quên mà gọi bằng chữ “cô”. Từ đó, anh em quen luôn, cứ gọi bằng “cô”.)
Dung mỉm cười, nhìn xuống chỗ tôi, nói nhỏ vừa đủ nghe :
- Cám ơn anh.
Khi Dung về rồi, cả nhóm xúm lại bàn tán râm ran, vui cười thỏa thích, nhưng không ai đoán được chuyện gì sẽ xẩy ra.
Chuyện xẩy ra lại ngoài ý tưởng tượng của mọi người.
Vài ngày sau, Bác Sĩ T.T.A. trở bệnh nặng, Dung quyết định cứu ông bằng cách cho ông ra bệnh viện ngoài. Đợi cho tôi đặt ông vào cáng xong, Nhân lẳng lặng bước tới, tay ôm xấp hồ sơ bệnh lý, chờ cô nói một câu là leo lên xe, vì Bác Sĩ T.T.A. là bệnh nhân do anh trông coi. Bất ngờ, cô nói với Nhân :
- Anh Nhân ở lại. Anh Tiến đi với tôi !
Nhân chưng hửng, lúng túng giao tập hồ sơ cho tôi, rồi lui lại. Tôi cũng ú ớ, nhưng nhìn vào mắt Dung, thấy đó là một quyết định không thể thay đổi, tôi vừa mừng vừa run, dợm bước lên phía sau cùng với tay công an trẻ, như mọi lần Nhân vẫn ngồi thế.
Lại bất ngờ nữa, cô ra lệnh :

- Anh Tiến ngồi trên này với tôi !
Tôi hồi hộp chờ Dung ngồi vào ghế xong, mới dám ké né ngồi xuống bên cạnh chiếc ghế xe díp vừa đủ cho một bộ mông. Dung xích vô phía trong rồi lôi tôi ngồi sát vào cô và nói :
- Anh ngồi như thế, thì xe vừa chạy là đã té nhào !
Không còn cách nào hơn, tôi ngồi sát vào Dung. Hai cặp mông như dính với nhau trong lòng chiếc ghế. Xe mở máy chạy. Tôi nhìn liếc từ trước ra sau. Tay tài xế cùng với tay công an bảo vệ đều mở trừng mắt nhìn tôi, như muốn ăn tươi nuốt sống, nhưng chắc chúng sợ, không dám hó hé, vì Dung là người coi như có quyền thế nhất ở trại này. Ai dám nói hỗn khi biết rằng mình sẽ có ngày mắc bệnh…
Trong khi xe còn trong vòng trại, hàng trăm cặp mắt nhìn theo, ngạc nhiên thấy tôi ngồi như ôm lấy cô Đại Úy Y Sĩ trên chiếc díp… Mà hình như có ôm thật, vì chỗ chật quá, nếu tôi không ôm lấy cô, thì nhất định khi xe cua trái phải, tôi sẽ văng ra khỏi xe ngay.
Thật ra, cả hai đứa đều phải bám vào nhau cho khỏi ngã ra ngoài, vì chỉ có một tay Dung là nắm lấy khúc dây bảo vệ đính vào phía trên cửa, còn tay kia thì Dung ôm ngang hông tôi, còn tôi thì tay trái vòng ra sau lưng của Dung, ôm chặt, còn tay phải thì đặt lên đùi Dung…

Gió ơi là gió ! Gió thiên nhiên ! Gió Tự do ! Lần đầu tiên trong mấy năm trời tù ngục, tôi được ôm sát một người thiếu nữ, không cần biết là công an hay người thường, chỉ cần biết là mùi hương từ thân thể em ngột ngạt mũi tôi, gió thổi tóc em mơn man mặt tôi, mỗi khi xe thắng gấp, môi tôi muốn đụng vào má em, gò má hồng hồng con gái… Thân thể hai đứa như áp lấy nhau. Tôi thì không dám mở miệng trong tình huống như vậy, còn Dung cũng không nói gì nhiều, em đang thưởng thức giây phút êm đềm đó. Chỉ một vài lời trao đổi ngắn ngủi, nhất là có tới bốn cặp mắt, bốn cái tai đang hướng về chúng tôi, những cặp mắt cú vọ của hai tên công an, một tên tài xế và một tên an ninh.
Chừng khoảng nửa giờ sau, đến cửa bệnh viện, tôi thở ra và cố ngồi dang ra một chút.
Xe ngừng lại trước cửa cấp cứu. Một vài cô y tá bước ra, đón bệnh. Tôi xuống trước, bước ra phía sau để chuẩn bị bế Bác Sĩ A. sang giường bệnh. Bất ngờ, khi tôi vừa cúi xuống, thò tay vào dưới lưng và mông người bệnh để nhấc ông lên, cái nút bịt hậu môn của ông bật ra… Một dòng phân nóng đầy máu mủ phóng vào mắt mũi, đầu tóc tôi… Kinh hoàng ! Trong một thoáng, tôi chới với, suýt nữa thì ném ông xuống đất, nhưng vì đã quen với dơ dáy của tù ngục, nên chỉ vài giây sau, tôi bình tĩnh bế ông lên và đặt ông vào chiếc giường của Bệnh viện. Đắp chăn cho ông xong, tôi quay lại thấy mấy cô y tá đang đứng mở to mắt kinh hãi nhìn đầu tóc tôi dàn dụa phân, máu, và mủ.

Phân đầy mắt, máu đầy tai, mủ nghẹt lỗ mũi. Tôi vẫn tỉnh bơ hỏi chỗ để rửa mặt.

Hai ba cô ú ớ chỉ cho tôi cái vòi nước máy gần đó. Tôi tàn tàn bước đi trong ánh mắt thương cảm của Dung. Em đứng nhìn tôi ngơ ngẩn. Thái độ tự tin của tôi chắc làm tim em rung động thêm một nhịp. Bài hát họ Trịnh, những bức tranh tôi vẽ cho em, chiếc bình hoa tự chế đã làm cho trái tim khô của cô Công an đập sai nhịp, nhưng cảnh “người hùng” bình tĩnh bế bệnh nhân đi tỉnh bơ trong phân và máu mủ đầy người làm cho em hoàn toàn khuất phục.

Có lẽ lúc đó, hình ảnh tôi tràn ngập trái tim em khiến em quên hết sự cách biệt cực kỳ giữa một công an cộng sản và một anh tù thuộc chế độ cũ. Và từ đó, một xáo trộn mới đã đẩy đưa cô tới một quyết định quan trọng vô cùng, thay đổi toàn bộ cuộc đời cô…

Nhưng chuyện đó, để sau sẽ kể tiếp.

Rửa ráy tay chân, đầu tóc, và quần áo xong, tôi ngồi ngoài trời, hong người cho khô và chờ em. Mãi không thấy em ra, tôi bước vào phòng khám bệnh, ngồi chờ. Vừa lúc đó, một phụ nữ trẻ tiến đến bàn bác sĩ chẩn bệnh, cởi nút áo ra và xin bác sĩ tìm cách gắn giùm núm vú vào, vì mới bị ông chồng ghen cắn gần đứt. Núm vú vẫn còn tòng teng chưa rơi xuống.
Ông bác sĩ lắc đầu, cười, và viết giấy cho người kém may này vào phòng trong, chờ khâu lại. Tôi đang nín cười vì cảnh tượng tức cười của người phụ nữ trẻ đưa bầu vú no tròn cho ông bác sĩ xem, thì em bước ra, thấy cảnh ấy, em cũng cười hích hích rồi ra dấu cho tôi rời đi.

Đã tưởng là sẽ về trại ngay, nào ngờ em nói với tay công an tài xế của em đưa tôi vào chợ chính của thị xã ! Tới cửa chợ Biên Hòa, em chờ tôi bước xuống, rồi quay lại nói với hai tên công an bảo vệ của em :

- Các đồng chí đi đâu thì đi, khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa thì quay lại đón tôi !
Trời ! Một tên tù được đi với cô Đại Úy Y Sĩ công an vào trong lồng chợ.
Hai tay công an thì ở lại, coi xe ! Tôi run run đi cạnh em, bộ quần áo trây-di “ngụy” của tôi sóng vai cùng với áo vàng và quân hàm Đại Úy làm hầu như cả chợ xôn xao.

Nhưng em cũng tỉnh bơ, dắt tôi, vâng, em nắm tay tôi bước lại quầy bán đường, đậu và mua cho tôi mấy kí đường, mấy kí đậu. Vào thời gian đó, đậu, đường với người tù là vàng, là ngọc, còn da thịt đàn bà là chăn, là gối trên chốn thiên đình. Tôi như hoa mắt đi, không nói được lời nào, trong khi em kể tôi nghe đủ thứ chuyện.
Em kể cho tôi nghe, em vốn là Nữ sinh Gia Long, gia đình em là dạng “nằm vùng”, ba em là Bí thư đảng ủy. Vừa học xong Tú Tài 1, em theo lời ba má và anh chị, bỏ vào bưng, hoạt động trong hệ thống y tế. Em đươc đi học y tế dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ công an tốt nghiệp Liên Xô, sau 75, em trở lại thành phố, học thêm y tá rồi làm công an, được thăng lên làm Y Sĩ. Em cứ kể, tôi cứ nghe, thỉnh thoảng chỉ chen vào một lời. “Vâng, thưa chị !”.

Em nhăn mặt :
- Sao anh cứ gọi em bằng “chị” ? Em không thích tiếng đó đâu !
Tôi ú ớ :
- Vâng, chị, à… cô…
Em nguýt tôi một cái muốn xiêu đình, đổ quán :
- Không được gọi bằng cô luôn !
Tôi nín lặng, không trả lời. Chừng như thấy bắt bí tôi như vậy đã đủ, em hát nho nhỏ cho tôi nghe về những bản nhạc vàng hồi ấy, em coi trên đời này không có ai, chỉ có em và tôi. Em nói về nhạc sĩ N.V.Đ và những bản nhạc mà em mê mẩn.
Em bảo em đã làm mọi phương cách cho anh Đ. về sớm, nhưng vì lon lá của anh ấy to quá, tới mức Đại Tá lận, nên cấp trên còn chần chừ ! Ngày cuối trước 30 tháng Tư, anh Đ. còn là Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng ! Khó cho em lắm, nhưng em sẽ cố. Vì em cùng với lũ bạn em ở Gia Long là những người mê nhạc anh Đ. nên em thuộc mấy bài tủ và thỉnh thoảng, bây giờ, vẫn lén hát một mình.

Trong khi em nói, thì người tôi như bay bay. Một phần vì từ lâu quá rồi, tôi không được thấy… người ta, không thấy ông già, bà cả, không thấy thiếu nữ ngồi bán bánh bên chợ, không thấy trẻ em cầm mẹt bánh, kẹo chào mời, không thấy nhà cửa, không thấy gió Tự Do, nên người lâng lâng.
Một phần nữa là với sức trai nửa chừng xuân, còn xung động dữ dội, nên khi đi sát cạnh một thiếu nữ tươi nở, giọng nói ngọt ngào, mơn man bên má, trí tưởng tôi cũng lượn bay mây gió. Tôi quên cả hình ảnh vợ, con, quên thân phận tù đầy, quên tất cả. Mãi cho đến khi em bảo nhỏ tôi “Mình phải về !”, tôi mới sực nhìn lại bộ quần áo tù của mình mà thở dài.

Trên đường về, cũng lại hai thân thể áp sát nhau, nhưng em hay quay sang tôi nhiều hơn làm bộ ngực em đụng chạm nhiều lần vào tay tôi nóng bỏng. Hình như tình yêu làm em không còn biết e ngại hai cặp mắt cú vọ đàng sau của tay công an bảo vệ…
Lúc về trại, xuống xe, là đuôi mắt dõi theo nhau mãi. Bạn bè rú lên cười khi thấy tôi đi lãng đãng vào trại, hai chân như không chạm đất.
Anh Đ. chỉ tay vào tôi, nói rất to :
- Coi kìa ! Chu Tất Tiến đang ngất ngư con tầu đi !
Tôi cười mím chi, chẵng biết nói gì ! Vì có gì đâu để nói !
Một tuần lễ qua đi, tôi dần dần quên Dung vì làm việc liên tu bất tận. Bất ngờ, một buổi trưa, tay Công an trẻ, quản giáo của chúng tôi, bước vào, gọi tôi, nói một câu ngắn gọn :
- Anh Tiến lên gặp chị Dung có việc !
Tôi ngớ ngẩn :
- Gặp ở đâu ?
Tay công an nhún vai :
- Cứ đi ra ngoài cổng gác, báo cáo với anh trực là lên gặp cán bộ Dung, rồi đi thẳng mãi, tới ngã ba, quẹo phải, đi một hồi, thấy một căn nhà, chung quanh có vườn trồng chuối thì quẹo vào.
Tôi gật đầu và bước vào trong mặc quần áo. Tay quản giáo chờ tôi ở cổng, dặn thêm lần nữa :
- Nhớ hễ gặp rào cản thì cứ nói là gặp cán bộ Dung thì người ta cho đi !
Nói xong, hắn bỏ đi, không thèm nhìn lại. Anh Đ. kéo tay tôi lại, cười hí hí :
- Phen này, có bị mất trinh, thì nhớ tường trình sự việc, nghe chưa !
Tôi ráng cười không thành tiếng, mà lòng hồi hộp kinh khủng. Làm đúng như lời tay quản giáo dặn, tới chỗ nào có rào cản, là tôi chỉ cần nói mấy chữ thần chú “cán bộ Dung” kia, là lập tức cổng mở ra ngay, không có một lời thắc mắc. Tên của em nghe vang lừng trong trại rồi.
Thật tình, tôi không sợ bị kẹt, mà chỉ sợ chính mình ! Đầu óc tôi làm việc mâu thuẫn như điên giữa hai tên Thiện và Ác. Tên Thiện cho biết là lên gặp em là chỉ để nói chuyện ái tình.

Mà nói chuyện ái tình giữa một chàng trai ba mươi mấy với một em xấp xỉ ba mươi trong một môi trường khép kín, thì nhất định là phải tới mục hai thân thể xáp vào nhau… Như thế, thì tôi phản bội vợ tôi mất rồi. Không lẽ lại bỏ bê người đã mấy năm chịu đựng khốn khổ, thăm nuôi tôi? Không được!

Nhưng, ngược lại, tên Ác bảo tôi rằng đây là cơ hội hiếm có để tôi có thể được tha về ! Ở tù “mút chỉ cà tha”, tự do không có, chả biết lúc nào bị “bụp”. Lấy vợ là Đại Úy Y Sĩ công an thì như mặc áo có “Hộ Tâm Kính” bảo vệ rồi, chả đứa nào dám đụng chạm đến mình trong xã hội này ! Nhào dô ! Em lại đẹp, lại nõn nường, thân thể nóng bỏng của em làm cho bất cứ tên đàn ông nào cũng phải chẩy nước dãi, em lại chả đòi hỏi điều kiện chi… Nhào dô ! Như thế, hai tên Thiện và Ác ở hai vai cứ đánh nhau linh tinh làm tôi mệt nhoài.

Đến chỗ có một căn nhà ba gian, nằm giữa một hàng rào cây trái bao quanh, tôi gần như run bắn người. Phen này chắc chết quá ! Thoát không nổi ái tình rồi ! Tôi lập bập đi vào truớc cửa. Từ trong nhà, trông thấy tôi, Dung nhanh nhẹn bước ra ngay. Trời ơi là trời ! Chân tôi như nhũn ra, tim tôi đập mạnh như trống làng, mắt tôi muốn hoa lên. Dung mặc áo choàng bệnh viện trắng xóa, đứng ngay bậc cửa. Ngay phía bên kia tường là một khung cửa sổ mở rộng.
Ánh sáng ban trưa chiếu thẳng từ cánh cửa đó vào người Dung, xuyên qua hết, để cho tôi nhìn thấy Dung không mặc đồ lót. Nguyên vẹn thân thể của Dung hiện rõ từng nét, như một thân hình Venus đang hiện diện ngay trước mắt tôi, đẹp không thể tả. Bộ ngực no tròn căng lên dưới áo. Và cặp mông cũng căng tròn, bụng, và cặp chân xuôi nét…Ôi ! Tôi run rẩy, chân bước không tới. Dung cười cười :
- Vào đi, anh ! Đừng để ai thấy anh đứng ngoài !
Lời mời mọc này còn làm tôi nổi gai ốc lên nữa. Tôi lập cập bước vào trong. Căn nhà đơn giản, chẳng có gì ngoài một chiếc giường đôi, trải chiếu hoa, một tấm chăn để ngay ngắn trên đầu, một cái bàn gỗ làm việc, với gương lược. Một cái tủ đựng đồ dựng cuối phòng. Một kệ đựng sách. Vài chiếc ghế đẩu. Thế thôi. Không có hình “Bác”. Không có khẩu hiệu, cờ quạt gì cả. Dung chỉ chiếc ghế đẩu cạnh giường, mỉm cười :
- Anh ngồi đi !
Tôi lắp bắp :
- Chị… chị… Dung bảo tôi làm gì ?
Vẫn nụ cười bí hiểm của Venus, Dung hỏi lại :
- Anh muốn làm gì ?
Tôi đứng lên, đi lanh quanh, không biết làm gì, đành tới kệ sách :
- Dung… đọc những sách này ư ?
Dung tiến lại gần tôi, đứng ngay sau lưng. Bộ ngực Dung nhọn hoắt áp vào lưng tôi.
Hơi thở em nóng bỏng. Dung không nói không rằng, chỉ với tay lấy một cuốn sách trước mắt tôi, làm cho ngực em áp mạnh vào người tôi hơn. Tự nhiên, tôi hốt hoảng, xoay lưng lại, đi vội ra phía sau. Nhìn thấy có một lu nước và một cái gáo, tôi múc vội một gáo, dội ào lên đầu. Cơn nóng trong người của một thanh niên cường tráng hừng hực như một núi lửa. Người tôi căng cứng. Tôi ngước mắt lên trời, cầu Chúa ! Lạy Chúa ! Cứu con với ! Lạy Chúa ! Cứu con với ! Con sắp chết rồi ! Con sắp phạm tội rồi ! Con chịu hết nổi ! Không còn vợ, không có con, chỉ có ái tình đang sôi sục trong con ! Cứu con với ! Ngài ơi !

Trong lúc tôi lầm bầm cầu nguyện, Dung đứng nhìn tôi, khúc khích cười. Em gọi tôi :
- Đừng đứng đấy, anh ! Lên nhà ! Tụi nó thấy…
Dù biết rằng nhà em ở một chỗ xa đường, và không có tên nào dám láng cháng lại gần nhà Cán bộ Dung, tôi vẫn run run bước lên rồi đi lanh quanh, né em. Dung cứ đi theo tôi như bóng với hình, như mèo vờn chuột. Tôi không dám nhìn em, nhìn thân thể em nõn nà, nóng bỏng. Tôi sợ tôi phản bội vợ con. sợ tôi đưa tay ra, kéo Dung lại, không phải kéo, mà là giật, là ném, là ôm chầm, là ghì lấy, là môi chạm môi, da đụng da… Trời ơi ! Chúa ơi !
Một lúc lâu sau, dùng hết sức tàn, tôi mới dám nhìn em, thều thào như người sắp chết :
- Dung… Dung… cho tôi về nhe ! Anh em đang chờ !
Nói một câu vô ý nghĩa như vậy mà cũng làm Dung cười. Nhưng dường như muốn cho cá cắn câu sâu hơn, Dung thả cho tôi về.
Tôi lại lập cập đi lạc vào đúng trại công an. Hai ba tên nhào ra, hỏi cung, giữ tôi lại một lúc, rồi cũng cho đi.
Về tới cổng trại, báo cáo cảnh vệ xong, vào đến nơi là một băng bạn bè ập tới, sờ soạng, hỏi thăm ríu rít, rồi cười ầm ĩ. Tôi chỉ cười trừ và lăn lên giường. Muốn xỉu ! Bác Sĩ Nhân gào to :
- Anh em ơi ! Tiến nó mất trinh rồi !
Tôi cười không nổi…
Một tuần sau, em lại cho người gọi tôi lên nữa. Lần này, tôi chuẩn bị sẵn. Vừa vào tới nơi là tôi ra luôn phía sau, cười cười :
- Để tôi kéo nước giếng cho Dung tắm..
Nói giỡn cho em vui, nhưng tôi kéo nước thục mạng, nhất định không lên nhà. Em đứng nhìn tôi, thở dài thườn thượt cho đến khi tôi đòi về.
Trò chơi mèo chuột này không thể kéo dài. Trận chiến giữa Ông Thiện và ông Ác đã chấm dứt, với ông Ác thua mềm. Tôi quyết định dứt khoát. Tôi không thể là kẻ phản bội ! Lần sau, em cho người đưa giấy xuống, viết ngắn gọn : “Anh phải lên ngay. Có chuyện cần giải quyết.”
Đọc xong thư, tôi thẫn thờ, phen này Dung nhất định hiến thân cho tôi, và nếu tôi lên, tôi nhất định sẽ chiều theo ý Dung, nhưng ngược lại, tôi nghiến răng trả lời tay công an đưa thư :
- Nhờ anh nói lại với cán bộ Dung, hôm nay có vài bệnh nhân cần săn sóc đặc biệt. Ngày khác, tôi xin lên làm việc.
Thế là tôi thắng. Dung thua. Em giận. Giận điên người ! Một tên tù cải tạo có là quái gì mà dám chống lại cả một mời mọc ngon lành như vậy. Làm tàng ! Phách ! Lối ! Em không thèm đến giao ban nữa. Mặc cho bệnh nhân chết rấp đi ! Mấy anh y sĩ cuống lên, gửi hết thông điệp này đến thông điệp khác qua tay quản giáo, mời cô xuống gấp, không có anh em đang nguy hiểm. Mãi rồi Dung mới tàn tàn xuống, mà xuống không đúng giờ. Không may cho em, vừa bước vào trại bệnh, lại gặp ngay tôi đang đứng săn sóc bệnh nhân. Em giật mình, mở lớn mắt nhìn tôi, rồi bước lùi ra sân, không chẩn bệnh nữa ! Nhân, bác sĩ trực, hốt hoảng. Nếu Dung bỏ về, thì người bệnh sẽ chết ! Tôi cũng hoảng, chạy một mạch vòng ra đằng trước, chặn Dung lại :
- Dung !
Tôi gọi khẩn cấp. Em lờ đi, không nghe. Tôi gọi lần thứ hai :
- Dung ! Cho …anh nói !
Nghe tiếng “anh”, Dung mới chịu đứng lại, nhưng không nhìn tôi. Không lẽ lại quay mặt em lại giữa chốn đông người, lỡ em trở mặt, kêu lính nhốt mình thì đời tàn, tôi cứ nhìn vào lưng Dung, nói một mạch :
- Dung, dù sao đi nữa, anh cũng cám ơn Dung. Nhưng có nhiều chuyện không thể nói được trong lúc này. Chỉ xin Dung từ bi, giúp cho anh bạn ra ngoài trị bệnh, không có thì anh ấy chết mất. Anh cám ơn Dung vô cùng.
Dung đứng cắn môi suy nghĩ một lúc rồi ra lệnh :
- Anh Nhân, đi với tôi, đưa người bệnh ra ngoài.
Rồi Dung đi thẳng, vẫn không nhìn tôi một lần.
Giây phút đó, là giây phút cuối cùng tôi còn gặp Dung. Em bẽ bàng, em giận tôi kinh hoàng. Em chỉ thỉnh thoảng đến, khi có lời cầu cứu, và khi đến, thì đứng ở cổng trại, không bước vào.
Tôi chỉ cười thầm. Cám ơn Chúa, cho con an toàn xa lộ. Những tưởng không còn thấy chữ Dung trong tôi nữa. Bất ngờ, vài tháng sau, khi đang đứng làm than, anh em gọi tôi rối rít :
- Ra đây ! Ra đây ! Trời đất ơi ! Thế là hết rồi nhé !
Tôi chạy vội ra để nhìn thấy một chiếc Corolla trắng chạy tàn tàn trên con đường cạnh trại tù. Trên xe là Dung và người tài xế là Th., một Thiếu Tá, Kỹ Sư Công Binh, vừa mới được thả ra hai ngày trước một cách đột ngột ! Bạn bè cười ầm :
- Cái tên kia ! Sao dám ngồi vào chỗ của Tiến hả ?
Anh Đ. vỗ vai tôi, hát ghẹo :
- Thôi là hết, em đi đường em… ha ha ha…
Tôi không nói chi, chỉ cười.
Hôm sau nữa, thấy tay thiếu tá Th. mang hòm xiểng đi vào trại, trình diện trạm gác xong, là lê đồ đi đâu đó, chắc là kiếm chỗ ở. Anh ta lấy được em, được thả về, và được làm công nhân viên ngay trong trại tù! Lòng tôi hơi đau, tiêng tiếc, nhưng rồi tự an ủi. Tái Ông thất mã, chưa chắc ai hên ai xui. Tôi biết Dung vì muốn trả thù tôi, đã khều tay Th. này, lấy cho bõ ghét !
Đúng như câu “Tái Ông được ngựa, chưa chắc đã là hên”. Một thời gian sau, không thấy dáng em, mà một cô khác đến tiếp quản. Th. cũng không thấy nữa. Đột nhiên, một chiều, đứng dựa hàng rào nói chõ qua bên kia là bên đi lao động ở Tống Lê Chân mới về, tôi được một anh bạn kể cho tôi nghe một chuyện không thể tưởng tượng được. Đang cuốc đất, bạn tôi thấy ngay anh Trung Tá công an, Quản Lý Trại Giam của chúng tôi, cũng đang cuốc đất như tù ở bên kia hàng rào tù hình sự! Không tin nổi mắt mình, một số bạn chạy ra, hỏi thăm. Anh Trung Tá, Trưởng Trại Tù bây giờ cũng là tù nhân, cười cười :
- Có chi là lạ ! Đời mà !
Sau đó, qua mấy gói thuốc ba số Năm đưa cho tay công an quản giáo, mới được biết là chỉ vì chịu chơi, nhận làm chứng cho đám cưới của Dung và Th., một tù cải tạo, mà anh Trung Tá này bị lột lon, đi tù chung với đám hình sự ! Còn Dung, bị mất Đảng tịch, mất lon Đại Úy, mất chức vụ y sĩ, bị tống về bệnh viện Chợ Rẫy, làm y tá thường ! Tay Th., chấp nhận bỏ vợ hai con để lấy cô công an thất tình, cũng mất việc ngay, bây giờ chắc đang đạp xích lô ná thở !
Tôi buồn cho Dung, buồn cho một mối tình điên, nhưng cũng cảm phục em, đã chấp nhận chơi là chơi hết mình, không biết sợ !
Ngay sau khi được thả về, đầu năm 1981, tôi đi tìm em ở bệnh viện Chợ Rẫy. Hỏi thăm tên Dung, ai cũng biết. Lên lầu, tôi vào phòng trực, nhắn cho gặp cô Dung. Vài phút sau, Dung bước vào. Vừa nhìn thấy tôi, em giật mình, lùi lại, mắt mở to như thấy ma… Trong tấm áo choàng trắng, tôi thấy rõ cô nữ sinh Gia Long run rẩy.
Tôi cười nhẹ, hỏi thăm Dung vài câu. Em chỉ trả lời vắn tắt, nhưng mắt em càng lúc càng sâu thăm thẳm. Tôi hỏi địa chỉ. Em cho ngay và nói nhỏ :
- Anh tới trước 7 giờ tối.
Buổi tối, tôi đến khu Nguyễn Tri Phương, tìm mãi mới thấy nhà em. Gõ cửa, em ra mở ngay, vẫn đôi mắt làm tôi xao xuyến. Tôi giơ tay bắt tay Dung, em nắm lấy, không muốn buông. Nếu không có hai đứa nhỏ líu tíu chạy ra, có lẽ bàn tay Dung còn nằm trong tay tôi mãi. Chỉ vào hai đứa nhỏ, tôi cười :
- Con của bố Th. phải không ?
Dung không gật, không lắc, chỉ nhìn. Sao mà mắt em sâu hơn tất cả các cặp mắt mà tôi đã gặp. Mắt em chứa cả triệu câu nói, câu hờn, câu trách, câu buồn thảm, thương đau. Nhìn cảnh nhà em, tôi đoán cũng không khá. Vợ y tá, chồng đạp xích lô, có chi mà giầu nổi.
Trong câu chuyện, Dung chỉ trách tôi có mỗi một câu :
- Anh độc ác quá ! Em… thù anh !
Tôi cúi xuống, nói nhỏ :
- Tôi… Anh… xin lỗi Dung ! Mình gặp nhau quá trễ.
Hai đứa nhìn nhau im lặng. Một giọt nước mắt chợt lăn ra từ khóe mắt em. Lòng tôi bồi hồi, xao xuyến, cũng như ngày xưa, chỉ muốn ôm chầm em vào lòng, muốn hôn lên cặp môi căng mọng kia… để trả nợ em, trả mối ân tình sâu đậm của em, cũng vì tôi mà đời Dung tàn tạ. Nhưng tay tôi vẫn cứng khô. Tôi không thể làm gì hơn, ngoài một câu nói vô nghĩa :
- Dung, đừng khóc. Tôi… Anh…
Biết là càng ngồi, nỗi buồn càng sâu, tôi đứng dậy, đi về. Dung không tiễn tôi, chỉ có đôi mắt lá dăm theo tôi đến mãi cuối đường. Trời hôm đó không mưa mà áo tôi ướt đẫm.

Chu Tất Tiến

Ghi chú : Nhân vật nữ chính vẫn ở Sàigòn, nên không tiện nêu tên thật. Tên trại tù cũng không thể kể, chỉ những ai biết K.30 thì rõ. Bác sĩ Đ. và nhạc sĩ N.V.Đ. vẫn còn ở Việt Nam. Các bác sĩ Khánh, Lộc, Đông, đã qua Mỹ, nhưng không biết ở đâu. Nha Sĩ Đào ở Thủ Đô Tị Nạn. Riêng Bác sĩ Nhân đã chết sau mấy lần vượt biên không thành và còn bị từ chối đi diện bảo lãnh. Vợ anh ở Canada đã lấy chồng khác, không chịu bảo lãnh. Anh mất trước khi có diện H.O

Edited by user Wednesday, November 5, 2014 10:44:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
tý xưng on 10/27/2014(UTC)
Mén  
#1023 Posted : Thursday, October 30, 2014 11:55:31 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Lời tỏ tình
Phạm Thành Châu

Sau khi chiếm được Nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc "khổ sai biệt xứ". Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men... giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi:

- Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là "con bà xơ" (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân “con bà xơ” nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.

- Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường... hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo:

- Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên:

- Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo:

- Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh. Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

* * *


Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ...

Đến khi thi xong Tú Tài I, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi "Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên". Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng "Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu". Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng "Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời". Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng "Một túp lều tranh hai quả tim vàng". Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình "nhà thơ" nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng "Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ... ". Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay "Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?".

Tôi trả lời "Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi". Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp "Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được... Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi... ". Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt "Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?.. ". Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp "Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi". Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi "Có chuyện gì vậy?". Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói "Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do". Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi "Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu". Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại "Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế". Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh "Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi".

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi "Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay". Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi "Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?" Tôi nhìn và nói ngay "Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?". Anh trầm tư "Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói "Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai... ".

Tôi ngắt lời anh "Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?". "Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng "tôi" và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi "anh, em" như vợ chồng bình thường... Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

- Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

- Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi "Ai thăm nuôi mình?" vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

- Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?


Anh trầm ngâm:

- Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy... Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh. Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị. Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng
.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.

Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư... Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp... Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên:

- Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi:

- A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu dây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng:

- Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu "Đau đầu quá!" rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

- Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

- Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

- Ảnh không sao đâu. Chị bình tĩnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm. Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tĩnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện
.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.
Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm:

- Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh...

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra:

- Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy...

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ:

- Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

- Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời...


Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.

- Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tĩnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm:

- Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận; nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh...

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta:

- Xin chị bình tĩnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi:

- Tôi là Nguyễn Văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm... Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng:

- Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một:

- Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh... Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.

- Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ tôi:

- Không sao đâu. Chị ấy xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá...

Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu

Edited by user Wednesday, November 5, 2014 10:40:42 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked Mén for this useful post.
tý xưng on 10/30/2014(UTC), Ngọc Anh on 11/8/2014(UTC)
Mén  
#1024 Posted : Friday, October 31, 2014 1:56:26 PM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Tuần rồi tham dự lễ giỗ của Cựu Thiếu Sinh Quân Việt Nam, trong chương trình văn nghệ có giọng hát của Victoria Thúy Vi, bé 11 tuổi, cha người Mỹ, mẹ Việt, giọng hát thật khoẻ và truyền cảm, kính mời quý vị thưởng thức.

Dong Duong


Quê Hương Bỏ Lại

Sáng tác Tô Huyền Vân
Tiếng hát Bé Victoria Thúy Vy


Còn hơn thế nữa, cô bé 5 tuổi Celine Tam có giọng hát thật tuyệt vời, bé đã được chọn là một tài năng trẻ. Khi bé hát mọi người đứng dậy và cổ võ nồng nhiệt.

You Raise Me Up

Sáng tác Josh Goban
Tiếng hát Celine Tam

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 11/6/2014(UTC)
Mén  
#1025 Posted : Wednesday, November 5, 2014 10:36:21 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Ngày tàn của một ông Tướng
Trần Hoài Thư

Buổi trưa nóng như lò lửa. Ngồi trong nhà, ông Ba Thi có thể nhận ra những những tàn cây bông sứ im lìm không lay động, con đường bên ngoài hàng rào như chảy nhựa, và những mảng nắng lay động trên chiếc hồ nuôi cá đặt trong vườn đến nhức mắt. Mặc dù chiếc quạt máy đã mở tối đa, nhưng hơi nóng như theo gió táp vào da thịt ông.

Tự nhiên, ông nhớ lại hơi mát lạnh tỏa ra từ chiếc máy điều hòa không khí chạy suốt đêm ngày trong văn phòng ông đã làm việc suốt gần hai năm, kể từ sau khi bộ đội ông tiếp thu thị xã. Ông nhớ đến chiếc bàn làm việc bằng gỗ láng bóng, khung cửa kính có treo màn, và căn phòng phía sau cánh cửa, với chiếc giường nệm êm ả để ông tìm đến khi cần một chỗ đặt lưng. Ông nhớ đến nỗi êm ái thật dịu dàng khi ông ngồi trên chiếc ghế nệm, trước mặt là điện thoại, và lá cờ quân đội nhân dân, trên vách treo tấm hình của Bác, thêm những tấm hình chụp chung với anh Văn, người mà ông xem như người anh đỡ đầu của ông trong suốt quãng đời binh nghiệp. Ông nhớ đến những người lính phục vụ, buổi sáng không quên mang vào bình trà, và buổi trưa mùa hè, không quên mang vào những chai bia ngoại, cùng chiếc cốc đầy nước đá… Họ bước vào khúm núm, rời phòng khúm núm. Có khi họ biết ý ông, lại mang vào gói thuốc ngoại như Camel, Craven A, hoặc 555. Không biết họ lấy ở đâu loại thuốc quí hiếm như thế này. Mặc kệ. Ông không bao giờ thắc mắc. Ông chỉ biết tận hưởng, như cả Đảng ông, từ trung ương xuống hạ tầng đang điên cuồng tận hưởng. Mà tại sao lại không. Những biệt thự nguy nga sang trọng mà Mỹ Ngụy để lại, với bao nhiêu đồ đạc tiện nghi, những ngôi nhà vắng mà chủ của chúng đã bỏ chạy ra nước ngoài, những chiếc xe bóng loáng, những tủ lạnh, máy truyền hình, những thảm, bàn ghế, máy may…ê hề, dư dật, no nê, sẵn sàng chờ tiếp thu…

Không chụp thì dại. Ông biết điều ấy, nhưng ông không thể nhanh tay hơn đám trung ương ngoài Bắc. Họ đã đánh hơi trước ông. Họ đã chặn đầu ông bằng cách cho người mau mắn vào Nam kiểm kê vơ vét tất cả để chở mang ra Bắc. Ông đã bó tay. May mà ông giành được một ngôi nhà bên con phố chính của thành phố. Nếu không, giờ này ông đâu còn được ngồi trong căn phòng với điện nước xài thả dàn, quạt máy quạt tối đa, tủ lạnh cũng chạy suốt cả đêm lẫn ngày để sản xuất những bịch đá cục mà ông bám vào để sống trong lúc: “Đầu đường Đại Tá vá xe. Cuối đường Thiếu Tá bán chè đậu đen… ” như số phận của hầu hết những anh hùng Điện Biên bị về vườn khác…

Ông nhớ lại những ngày tháng đầu tiên sau giải phóng. Ông đã trở lại thành phố nơi ông đã ra đời, và đã trải qua những năm tuổi thơ đến tuổi trưởng thành. Ông trở về, bộ quân hàm Tướng trên cổ áo, ngồi xe díp Mỹ, có lính hầu, lính phục vụ, và cả một đại đơn vị dưới quyền. Ông trở về như một người hùng. Ông đã ngồi lại chỗ ngồi của viên tướng Ngụy tự sát, nhìn lại cái bản đồ còn sót lại trước khi Mỹ cút Ngụy nhào, để cám ơn Bác, Đảng, cám ơn Đại Tướng đã tiến cử ông,… Rõ ràng ông đã sống như cơn mơ. Ông bấy giờ chẳng khác bậc lãnh chúa.. Ông còn hơn cả những người đảng viên tập kết khác. Như lão Sáu Bồng, giữ chức viện trưởng Viện Đại Học, lão Tám Minh, giữ chức Bí Thư Tỉnh Ủy. Ông nắm quyền số một của Ủy Ban Quân Quản, là người muốn tha ai là tha, và bắt ai là bắt. Ông thi hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng, lùa sĩ quan Ngụy vào rọ, đập tư sản mại bản, đổi tiền, đốt hủy văn hoá đế quốc, truy kích tàn dư. Họ gọi ông là anh Ba, tâng bốc ông lên tận mây xanh. Họ đọc tên ông đầu tiên trong các bài diễn văn, trong các buổi họp… Ông ngồi ở hàng ghế danh dự, ban huấn thị. Họ xem ông là một tấm gương cho một người lính công bộc trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Nhưng ông có nỗi lo buồn không ai có thể hiểu nổi. Cả gia đình ông, trừ ông, đều là đại phản động. Một thằng em của ông nguyên là Trung Tá, hiện đang nằm trong “trại cải tạo”. Và hai đứa em khác đã chạy qua Mỹ vào tháng 4 năm 1975. Tàn tích Mỹ Ngụy rõ ràng quá sâu đậm trong dòng họ ông mà những người thèm chức vụ của ông thì quá nhiều và những kẻ ganh tị với ông thì cũng không ít. Bọn họ đang chờ chực cơ hội để giành lấy chức vụ béo bở… Bởi vậy, ông càng chứng tỏ là một người không có dính líu gì đến cái huyết thống giai cấp đầy nợ máu. Mặc mẹ ông đã từng khóc lóc khi nói về thằng em đang cơ cực trong trại cải tạo… Hãy để “Cách Mạng” giáo dục dạy dỗ nó nên người. Ông luôn luôn nói với bà như thế. Nó đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân dân. Mặc bà luôn luôn kể về những năm huy hoàng cũ, chưa bao giờ bà biết cơm độn khoai độn sắn, với những bữa cơm lúc nào cũng thịt, cá ê hề. Ông nghe bà than thở, chỉ biết nói : “Đất nước mình còn nghèo, mới thoát ra từ chiến tranh, má à. Không bao lâu, Nhật bỏ ta chạy, nhà nhà đều có tủ lạnh, có đài”. Ông đã lặp lại những lời của Tổng Bí Thư Lê Duẩn, để “động viên” bà. Nhưng ông đã bị bà mỉa mai bằng một câu quá đau: “Chờ đến ngày ấy, người dân đói quá làm sao mà chạy được hả con ?”.

Khi ban huấn thị hay nói về những đề tài liên quan đến chính trị, ông thao thao bất tuyệt, ca ngợi chế độ, ca ngợi Bác, Đảng lên tận mây xanh. Ông say sưa kể về một thủ đô Hà Nội không có một cô gái điếm, nhân dân được tự do đến nỗi chuông nhà thờ Hà Nội còn đổ sớm hơn chuông nhà thờ Rô Ma. Ông không quên nói về người con gái Hà Nội xinh đẹp, má khỏi cần đánh phấn hồng như cô gái miền Nam. Ông nói gái Hà Nội đẹp tự nhiên bởi vì mỗi ngày họ đều ăn một quả trứng ngỗng, còn gái Sài Gòn vì thiếu ăn đói rách nên da mặt xanh xao, phải ngụy trang bằng đánh phấn má hồng. Bài nói chuyện của ông khiến sinh viên, công nhân viên miền Nam phải nín thở, phải hít hà. Thì ra thiên đàng đâu cần tìm ở đâu xa, mà ngay tại Hà Nội này. Họ vỗ tay. Họ hoan hô “Cách Mạng”. Ít ra, “Cách Mạng” phải mang những điều tốt đẹp hơn trước, nếu không, thì “Cách Mạng” là cái quái gì.

Họ làm sao biết khi ông nói về những điều này lòng ông cảm thấy bất an. Ông phải chứng tỏ ông là một đứa con trung kiên của Đảng, để đám cán bộ xung quanh không thể có chứng cớ nào để buộc tội được ông. Ông cũng đã viết thư qua Mỹ, dạy hai đứa em của ông, phải sống như người lương thiện. Thằng em nhận thư, đọc xong, nổi giận viết thư trả lời : “Anh ở trong hàng ngũ bất lương mà lại dạy tôi phải sống như người lương thiện”. Rồi đến cả lời chúc Tết của nó trên đài Hoa Kỳ nhân danh một nhân sĩ hải ngoại đúng vào nửa đêm giao thừa. Nó mạt sát chế độ. Nó lại còn hẹn một ngày về trong vinh quang… Đúng là thằng ngoan cố phản động. Trời ơi, ông rủa thầm. Giữa lúc cuộc đời của ông lên như diều gặp gió thì tiếng nói của nó trên đài nước ngoài như một cái điềm tai ách. Tay chân ông rụng rời. Vợ ông, người đàn bà mà ông cưới ngoài Bắc, thì đau khổ không ít. Bà linh cảm được cái tương lai u ám trước mặt. Sẽ không còn cái mộng làm một bà tướng của “Quân Đội Nhân Dân”. Sẽ hết cái mộng tậu thêm một căn nhà có vườn ăn trái, có cả một cây đàn dương cầm cho con gái hay cho con cái bà qua Mỹ du học như đám con của các cán bộ cao cấp khác…

Và cái ngày ấy đã đến. Trước hết, vai trò của Đại Tướng bị hạ bệ từ chức Tổng Trưởng Quốc Phòng xuống chức ngồi chơi xơi nước. Dù sao người anh nuôi của ông vẫn còn được may mắn. Còn ông và đám bạn bè cùng lứa thì từng người một ôm khăn gói về vườn. Mà vườn thì chẳng có để mà an hưởng tuổi già. Thôi thì cả bọn chỉ biết tụ họp tại câu lạc bộ kháng chiến để ngồi lại mà nhớ thời dĩ vãng vàng son. Nhưng cuối cùng Đảng cũng không chịu buông tha. Câu lạc bộ cũng bị đóng cửa dẹp tiệm nốt.

Nhục. Hèn. Ông nhắm mắt nhìn tuổi già trôi qua hiu hắt. Đời của một ông tướng cuối cùng như vậy sao?

oOo

- Ông Ba, còn nước đá cục không ông Ba !
Giọng của thằng bé hàng xóm như hét ngoài cổng, khiến ông phải bỏ dở giòng ý tưởng đang tuôn trào trên ngòi viết. Ông tháo cặp kính lão bỏ xuống bàn viết rồi mở tủ lạnh nhìn vào. Còn khoảng ba bịch đá. Ông mở cửa, nói vọng ra :
- Còn, mua mấy bịch ?
- Dạ, mười bịch, ông Ba.
Ông nhìn thằng nhỏ. Nó là một khách hàng quen thuộc với ông. Nó lại hỏi, giọng có vẻ xấc xược :
- Tôi kêu mấy lần mà ông không nghe. Bộ ông ngủ hở ?
- Ừ thì tao ngủ.
Ông trả lời, lòng tê tái. Ông hỏi thằng bé :
- Hôm nay nhà mày có khách hay đình đám mà mày mua nhiều thế ?
- Dạ, có khách Việt Kiều. Cô Năm của tôi, thêm con trai của cổ. Ảnh là bác sĩ.
- Từ Mỹ về ?
- Dạ. Cô về mang nhiều quà. Cổ cho tôi chiếc quần cao bồi…
- Nhà cô Năm chắc gần đây ?
- Cổ là con ông Tám Lợi.
- Tao biết rồi.
- Ông vào nhà lấy nước đá đi ông. Kẽo người ta chờ… Tiệc lớn lắm ông Ba.
- Tao biết… - Ông nói. Phải ông đã biết. Biết thế nào là một sự phũ phàng của lịch sử. Ông đã trả cái giá quá đắt cho cả đời của ông, tuổi trẻ của ông, hoài bão của ông, và lý tưởng của ông nữa.
- Ông biết cô Năm của tôi không ?
- Không. Nhưng tao biết ông Tám Lợi.
Thằng bé nhận lấy ba bịch nước đá rồi vụt chạy. Ông trở vào nhà, ngồi lại trước bàn. Bản thảo về bộ quân sử mà Đại Tướng nhờ ông viết nằm trước mặt. Đó là niềm vui trong những ngày còn lại của ông, và của Đại Tướng. Đó là bát tro tàn của quá khứ làm của tự hào. Nhưng hôm nay ông cảm thấy bất an. Danh dự của ông đã bị tổn thương. Ngay một đứa con nít vẫn còn sai ông chạy. Nó đâu cần biết quá khứ của ông. Nó chỉ biết cô nó, một Việt Kiều trở về để nó có quyền hãnh diện cùng bạn bè, hàng xóm, và cả ông nữa.

oOo

Buổi chiều, ông Ba Thi đạp xe đạp trở về nhà mẹ ông. Ông cần lấy vài cuốn sách trong tủ sách gia đình của thằng em ở Mỹ để lại. Vừa bước vào nhà, bà Năm, mẹ của ông đã nói :
- Con Năm con của chú Tám Lợi ở Mỹ về, mới ghé nhà. Nó có mang ít quà của thằng Sáu gởi về má.
- Bộ con Năm có quen biết thằng Sáu ?
- Nó nói gặp thằng Sáu hoài.
Rồi bà lại khóc tấm tức.
- Dù sao em con vẫn còn biết thương má. Tuy ở xa, nó vẫn còn biết má ho mà gởi về hộp thuốc ho…
Bà không nói hết, nhưng ông Ba biết là bà đang gián tiếp trách ông.
Ông nói với bà :
- Má có thể nói giùm cho con được gặp cô Năm được không ?
- Để má sẽ nói cho. Gia đình mình và gia đình chú Tám Lợi thân thiết từ xưa nay. Ngày xưa ba con và chú Tám vẫn hay đánh tứ sắc chung…
- Con nhớ.

oOo

Buổi tối ông Ba đạp xe đến nhà chú Tám. Ông nhớ lại căn nhà mà thời tuổi trẻ, trước khi ông ra Hà Nội học, ông vẫn thường ghé qua. Ông cũng có thể nhớ lại đứa con gái mà ngày xưa vẫn hay rụt rè, với đôi mắt to đen như hai hòn bi. Bây giờ cô bé ấy đã trở thành quá lạ. Cô ta không rụt rè như trước nữa, mà trái lại đã nói huyên thuyên khi ông mới bước vô nhà :
- Anh Hai, anh còn nhớ em không. Em là Thương đây.
Cô líu lo nói, mừng rỡ như thể gặp lại một người thân xa cách từ lâu :
- Em nhớ có lần anh Hai đến nhà học bài chung với anh Hai Minh của em… Má em sai em nấu nước pha cà phê cho hai anh uống…
Lòng ông Ba Thi ấm lại. Ông ngậm ngùi nói, lòng dâng lên xúc động :
- Anh nhớ. Anh nhớ hết em Năm. Anh làm sao quên được. Anh cũng nhớ đến bên kia đường, tên mật thám Tây bị bọn anh bắn nằm trước cổng nhà.
- Bộ anh bắn sao ?
- Anh ở trong toán công tác nội thành mà.
- Sao ngày ấy em thấy anh hiền khô không à.
Ông Ba cười. Rồi ông hỏi tiếp:
- Em có thường liên lạc với thằng Sáu em của anh không ?
- Dạ, thỉnh thoảng anh Ba.
- Gia đình nó thế nào ?
- Dạ thưa khá lắm. Con cái ảnh đều thành tài hết.
- Năm à. Cho anh tâm sự với em điều này.
Ông ngưng lại, như lấy can đảm. Mắt ông đỏ, ngấn lệ :
- Anh vẫn nhớ ngày nó còn nhỏ anh vẫn hay cõng nó đi chơi. Chiều chiều, anh hay dẫn nó ra bờ sông, anh em cùng tắm lội…Có lần anh tập nó chạy xe đạp, anh phải chạy theo nó kẻo sợ nó té. Tại sao nó vẫn không hiểu anh ?
Giọng của ông trở nên tha thiết hơn :
- Anh mong em nếu trở lại Mỹ gặp nó thì nói lại là anh lúc nào cũng thương cũng nhớ nó. Nói với nó anh bây giờ anh khổ lắm. Anh cần nó gởi cho anh một ít quà hay thuốc men. Anh bây giờ là một ông Tướng bán nước đá… Nhục lắm. Nhục lắm…

Đôi vai ông bật run lên và giọng nói của nghẹn trong cổ họng. Chừng như ông đã mất hết bình tĩnh. Cái bình tĩnh cố hữu của một ông Tướng ngoài mặt trận.

Trần Hoài Thư
(đã ghi danh bản quyền tại US Library of Congress)

Edited by user Wednesday, November 5, 2014 10:38:42 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 11/6/2014(UTC)
Mén  
#1026 Posted : Saturday, November 8, 2014 9:49:51 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
HUYỀN THOẠI ĐU DÂY
Đào Hiếu

Phục anh Đào Hiếu, cựu Binh Nhì VNCH viết bài hay hơn nhiều ông “Tiến Sĩ” !

Seniors,

Đọc bài viết này của Đào Hiếu, thấy hay hay, muốn chia sẻ đến quý Seniors.
Tác giả bài viết này là người Tây Sơn Bình Định, ông ta sinh năm 1946 gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1968. Năm 1970 ông đi quân dịch và mang cấp bậc Binh Nhì ở Sư Đoàn 22 bộ binh QLVNCH. Vì là đảng viên đảng Cộng Sản, nên ông đã lén lút hoạt động chống Mỹ cho đến ngày 30 tháng 04 năm 1975. Sau ‘75 ông đã từng là phóng viên của báo Tuổi Trẻ ở Saigon.

Sự mở mắt của ông quá muộn màng, cũng giống như bao nhiêu sinh viên của chế độ cũ tham gia “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” trước đây.

Kính mời.
Đồng


* * *

HUYỀN THOẠI ĐU DÂY
Đào Hiếu

Khi người ta nói Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì sự ví von ấy hàm ý liều lĩnh, bắt cá hai tay, muốn chơi với cả hai bên mà lại không thật lòng với bên nào. Có nghĩa là cà chớn. Và như thế thì rốt cuộc chẳng được gì. Sẽ trơ trọi, sẽ đơn độc. Và trò “đu dây” ấy sẽ rất nguy hiểm.

Nhưng trên thực tế Việt Nam có đu dây không ?

Người đu dây là một người tự tin, dũng cảm, mạnh mẽ và tài năng. Nhưng đứng trước Trung Quốc và Mỹ thì chính quyền Việt Nam không hề có các tố chất ấy.

- Không tự tin vì mặc cảm nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu. Trước đây Việt Nam huênh hoang là “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ”. Nay thì tự ti đến nỗi một ông Bộ Trưởng Tàu sang Việt Nam để “kêu gọi đứa con hoang trở về” mà chính quyền cứ im thin thít.

- Không dũng cảm vì nó giết ngư dân mình mà mình còn sợ phạm huý, chỉ dám gọi nó là “tàu lạ”. Nó đổ quân chiếm đảo của mình mà mình lại ra lệnh không được kháng cự để đến nỗi bị nó bắn tan xác 65 chiến sĩ hải quân ở Gạc-Ma chỉ trong vòng mấy phút.

- Không mạnh mẽ vì vũ khí thời chiến tranh để lại thì đã rỉ sét, vũ khí mới mua thì lèo tèo vài ba cái làm kiểng, và nạn tham nhũng tràn lan, quanh năm lo vơ vét ăn chặn, cắt xén, rút rỉa ngân sách, còn chí khí đâu mà đánh giặc ?

Thử hỏi một kẻ nhu nhược, tự ti mặc cảm và nghèo rớt mồng tơi như Việt Nam thì nhìn thẳng vào mặt người ta còn không dám, nói chi tới chuyện đu dây. Vì đu dây là “giỡn mặt tử thần”. Việt Nam có bản lãnh gì mà dám đu dây ?

Và điều quan trọng nhất là từ khi “ông Hồ” tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp đã khẳng định chỗ đứng của mình là trong vòng tay Trung Quốc rồi. Thắng trận Điện Biên Phủ cũng là nhờ vũ khí Trung Quốc, thắng Mỹ cũng nhờ vũ khí Trung Quốc.

Cho nên miệng thì nói “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng trong lòng thì đã quyết “đổi độc lập tự do đề nắm cho được chính quyền”.

Từ chọn lựa đó mới đẻ ra “Cải Cách Ruộng Đất”. Trong chiến dịch này nhà cầm quyền Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc đến nỗi vì muốn lấy lòng họ mà phải bắn bỏ nhiều nhân sĩ yêu nước từng đem cả tài sản mình ra giúp đỡ kháng chiến.

Năm 1990 “ông Linh” cùng các đồng chí của ông tại hội nghị Thành Đô đã làm một việc mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”.

Năm 2010 liên tiếp nhiều phái đoàn quân sự cấp cao của Việt Nam sang học tập ở Trung Quốc, dấn thêm những bước quan trọng vào sự lệ thuộc quân sự.

Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc -- trừ một giai đoạn ngắn từ năm 1975 đến 1979 có ý muốn thoát Trung và lập tức bị TQ “cho một bài học” bằng cuộc chiến tranh biên giới 1979 -- còn lại, từ trước 1945 đến nay, chính quyền Việt Nam đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của các vị “cha già dân tộc”: Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.

Với một “thân phận” như vậy, liệu Việt Nam có tư cách để “đu dây” qua phía Mỹ không ?

* * *


Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.

Nhưng sao lại có chuyện các vị lãnh đạo cao cấp Việt Nam thăm viếng Hoa Kỳ ?

Tôi cho rằng các cuộc thăm viếng ấy cũng nằm trong kịch bản của Trung Quốc. Việt Nam muốn vào TPP, muốn mua vũ khí của Mỹ. Cả hai việc ấy cũng chỉ có lợi cho Trung Quốc.

Xưa nay phần lớn các “hàng xuất khẩu của Việt Nam” sang Mỹ chỉ là trên giấy tờ, chỉ là nói cho oai, thực ra đó là hàng của Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu -- tiếng là của Việt Nam -- thực ra cũng là kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc.

Việt Nam mua của Nga 2 tàu ngầm Kilo, nhưng Trung Quốc đã mua 20 tàu ngầm kilo giống như vậy. Liệu 2 chiếc có gãi ngứa được 20 chiếc nếu xảy ra chiến tranh không ? Nếu câu trả lới là KHÔNG thì mua tàu ngầm để làm gì ?

Đối với một kẻ nhu nhược, mặc cảm và run rẩy thì có con dao trên tay hay không, cũng giống hệt nhau. Bởi vì vấn đề là anh có dám đâm hay không. Nếu anh không dám đâm thì cầm dao để làm gì? Mua dao để làm gì ?

* * *


Vậy thì những dư luận cho rằng :

- Việt Nam đang đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ.

- Mỹ bỏ cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam vì vấn đề nhân quyền.

- Việt Nam mua vũ khi của Nga và Mỹ để đương đầu với Trung Quốc… tất cả đều xạo, vì :

1/ Đảng, Nhà Nước, Chính phủ, Quân Đội và Nhân Dân Việt Nam luôn khẳng định mối quan hệ trước sau như một với Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ, Quân Đội và Nhân Dân Trung Quốc; thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển theo phương châm “16 Chữ Vàng” và tinh thần “4 Tốt”.

2/ Mớ vũ khí Việt Nam mua được quá ít ỏi (tiền đâu mua nhiều ?), đối với Trung Quốc chỉ là những đồ chơi. Chưa kể việc Trung Quốc đã xây xong một sân bay quân sự trên đảo Hoàng Sa rồi. Cái sân bay ấy còn lợi hại hơn cả một hàng không mẫu hạm vì nó “đậu” sát bờ biển Việt Nam (chỉ cách Đà Nẵng hơn 300 km) và không thể bị đánh chìm !

3/ Mỹ cũng rất muốn bán vũ khí cho Việt Nam (chế tạo vũ khí là một trong những nền công nghiệp quan trọng của Mỹ). Mỹ đưa vấn đề “nhân quyền” ra để mặc cả với Việt Nam cũng chỉ là màu mè, ra vẻ ta đây quan tâm tới nhân quyền; còn phía Việt Nam thì giữ thể diện cho Mỹ bằng cách thả tượng trưng vài người nổi tiếng. Trên thực tế nếu Việt Nam đếch thả người nào thì Mỹ vẫn bán vũ khí như thường (ngu sao không bán ?).

4/ Việt Nam mua vũ khí của Nga, của Mỹ nhưng không xài (vì có dám đánh nhau với Trung Quốc đâu mà xài ?). Vậy mua để làm gì ?

Câu hỏi này làm người ta nghĩ ngay tới vụ Vinashin mua cái “ụ nổi”. Và vô số vụ “mua về đắp mền” khác nữa.

* * *


Chúng ta đang sống trong một thời đại XẠO HẾT CHỖ NÓI (XHCN). Nga cũng xạo, Mỹ cũng xạo, Trung Cộng cũng xạo và Việt Nam cũng… rứa.

“Mười Sáu Chữ Vàng”, “Bốn Tốt” cũng xạo, Mỹ “quan ngại sâu sắc” cũng xạo, Mỹ “bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí” cũng xạo, mà “đu dây” cũng xạo nốt.

ĐÀO HIẾU

Edited by user Saturday, November 8, 2014 10:15:42 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 3 users thanked Mén for this useful post.
Tí Trễ on 11/8/2014(UTC), tý xưng on 11/8/2014(UTC), Ngọc Anh on 11/8/2014(UTC)
Mén  
#1027 Posted : Sunday, November 9, 2014 10:32:40 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Câu chuyện đời thường
Ngọc Lan & Huy Phương


Nghĩ về những người lính đã chết

UserPostedImage

Tượng Đài Cựu Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 11/9/2014(UTC)
Mén  
#1028 Posted : Tuesday, November 11, 2014 1:34:05 PM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Happy Veterans Day Hoa Kỳ (Nov. 11-2014)

UserPostedImage


HONOR OUR VETERANS


* * *


NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH GIÀ
Vĩnh Toàn

UserPostedImage


Rồi đêm dài cũng hết, liếc thấy đã gần 11 giờ 30, tôi thu dọn lại những việc riêng của mình để sửa soạn ra bãi đậu, đóng sổ và kiểm tiền cho mấy người sắp hết ca về nghỉ.

Trời khuya vắng lặng, tất cả chuyến bay đến đều đã đáp xong. Trong bãi đậu, một hai nhóm khách nhận hành lý trễ đang rảo bước tìm về xe của họ với hành lý kéo lê rồn rột theo sau. Áng chừng phải mất 10 phút cho đám khách nầy lấy xe và lái ra cổng trả tiền, tôi thong thả rảo bước vòng quanh mấy trạm xem lại cửa nẻo.

Mây vần vũ, gió lạnh, thế nào đêm nay cũng mưa to và bên trong booth, tức là cái trạm của người thâu tiền, máy móc và các hộc tiền sẽ ướt sũng nếu cửa để hở, vì khu vực phi trường trống trải, gió lồng lộng, chỉ cần mở hé cửa chừng một ngón tay, nước mưa sẽ vung vãi đầy trên các máy móc tính tiền và hệ thống đó hôm sau ắt gặp đủ thứ trở ngại.

Sau khi tắt hết các đèn chiếu sáng lối ra, cảnh vật trở nên âm u, chỉ còn đèn trong booth hắt xuống thành vệt dài trên nền xi măng xám xịt. Tôi chợt giật nẩy người khi suýt đụng vào một đống đen thui đang ngồi bệt xuống thềm, dựa lưng vào thành sắt đằng sau cái booth, thở phì phò, " hắn" phải mệt nhọc lắm mới ngồi đại xuống thềm xi măng lạnh lẽo đang ướt đẫm sương đêm. Một người da đen, trong chiếc áo bông bù xù, không rõ đàn ông hay đàn bà, đội chiếc mũ vải có vành nhỏ chung quanh như của mấy người lính biệt kích năm xưa hay đội, trời tối quá không nhìn được rõ mặt, tôi e ngại bước lui lại, hỏi :

- Sao you lại ngồi ở đây ? You có cần giúp gì không ?
Hơi thở phì phò đáp lại :
- Tôi không tìm được xe của mình… -- rồi ngưng một chút như để lấy hơi thêm -- hắn cáu kỉnh :
- Cái phi trường chết tiệt của mấy ông rắc rối quá, làm người ta lẫn lộn lung tung !
- Không đâu…

Tôi nói và chỉ vào hàng xe đang tiến đến gần cổng trả tiền, tôi bảo hắn :
- You có thấy mấy người kia không, họ tìm ra xe mình rất dễ dàng.
Hắn nói gần như lẩm bẩm trong miệng :
- Tôi không giống như họ.
Dĩ nhiên rồi, tôi thầm nghĩ, và để chấm dứt đôi co, tôi hỏi ngay :
- Xe you đậu ở đây bao lâu rồi ?
- 7 ngày.
- OK… Nhưng you có chắc là đậu trong bãi nầy không, phi trường còn có nhiều bãi đậu khác nhau nữa đó.

Hắn im lặng, tỏ vẻ phân vân, tôi hỏi tiếp :
-- Vé gởi xe của you màu gì ?
- Chẳng biết nữa, nó ở trong xe. Cái xe thì màu xanh, dark blue, Chevy 2000.

Sợ hắn nổi giận tôi không dám nói là ở trong nầy, dark blue Chevy 2000 có cả trăm chiếc như thế.
- Thôi… Cho tôi bảng số xe, tôi sẽ tìm ra nó nằm ở đâu rồi chỉ đường cho you đến đó, OK ?
- Bảng số xe ư ?
- Vâng, chúng tôi kiểm kê xe hằng đêm, bằng bảng số. You có vẻ không nhớ số xe mình hả ?
- No way… !


Nhìn đoàn xe ra cổng đã gần hết, tôi sắp phải làm việc nên bảo người da đen :
- Gọi phone về nhà you xem có ai nhớ được số xe không rồi cho tôi hay, tôi phải đóng sổ cho người cashier nầy ra về đã rồi quay lại với you sau nhé ?
Hắn nhìn tôi lo lắng :
- Còn ai ở nhà nữa đâu, chỉ có vợ tôi mà cũng đang ở đây với tôi.
- Thế thì tôi chịu thua luôn, làm sao giúp you được.

Rồi nhìn hắn ái ngại, tôi nói thêm cầu may :
- Trước khi đi, you ráng tìm xem có cái thứ giấy gì có thể có số xe ở trong đó không, giấy đăng bộ xe của DMV, giấy mua bảo hiểm xe… Cố gắng lên, đó là cách sau cùng để có thể giúp ông được đấy -- bây giờ thì tôi biết hắn là đàn ông rồi.
Hắn lồm cồm đứng dậy, một người đàn ông đen, mặt mày thô kệch, râu bạc lún phún đầy 2 bên má, chắc cũng phải 60, 70 tuổi hoặc hơn nữa, bước chân nặng nề đến bên quầng sáng của ánh đèn, khó khăn lắm mới móc ra được cái ví dày cộm, rồi lần lượt lôi ra các thứ giấy tờ. Tôi vừa làm việc mình vừa liếc nhìn giùm cho hắn, thấy cái giấy in chữ xanh quen thuộc của DMV, tôi thở phào : “Nó kìa !”. Nhưng không phải, đó chỉ là cái giấy chứng nhận người đàn ông là handicap thôi, một người thương tật, thảo nào đi đứng khập khiểng, chậm chạp. Hình như một bàn tay cũng không sử dụng được, chỉ để chận cái ví cho tay kia lục lọi giấy tờ mà thôi. Tôi ái ngại nói với bà cashier người Mễ cũng đang theo dõi câu chuyện :
- Nầy Rosa, thôi bà đếm tiền đi nhé, tôi phải giúp hắn một tay đây.
- OK, dĩ nhiên, trông "him" cũng đáng thương quá
-- nhưng bà níu tay tôi nói nhỏ : “Mà ông coi chừng trễ giờ của tôi nhé, gần 12 giờ rồi đấy”.
- Không sao đâu Rosa, tôi quay lại với bà ngay.

Trong cái mớ giấy tờ hỗn độn của gã đàn ông da đen nầy, tôi thoáng thấy được một loại giấy làm tôi rất xúc động, mà nếu không nhìn thấy nó, chưa chắc tôi đã hết sức giúp đỡ ông lúc ấy, loại giấy đó là cái thẻ DAV Goldcard Membership. DAV là Disabled American Veterans -- Cựu Chiến Binh Tàn Phế Mỹ. Không biết ông ta có phải là một cựu chiến binh hay không, nhưng đã đóng góp giúp đỡ cho hội CCB nầy, đóng góp khá lâu và có thể là khá nhiều nên mới có thẻ Goldcard như thế. Chia sẻ tiền trợ cấp tàn phế của mình cho những người tàn phế khác, thật cảm động. Ông già da đen nầy cao hơn những gì tôi đã đánh giá về ông -- "Đừng đánh giá một con người qua bề ngoài của họ" -- bài học nầy đã được dạy tự bao giờ mà cứ vấp phải hoài. Tôi thấy ngượng, không dám nhìn vào mặt ông trong lúc ông cứ nhìn tôi chờ đợi. Tôi nhẹ nhàng nói :
- Giữ chặt những thứ nầy ông nhé, không thì gió thổi bay mất.
Sau khi bà Rosa xong việc và rời khỏi booth, thấy ông già có vẻ tin cậy mình và thân thiện hơn, tôi hỏi :
- Vợ ông đang đợi ở đâu ?
- Trước cửa thang máy tầng 3, tôi cứ ngỡ là mình đậu xe ở đó.
- Được rồi, ông có nghĩ là còn loại giấy tờ nào liên quan đến chiếc xe nữa không ?

Ông già lục lọi thêm nữa rồi đưa ra một cái giấy… chỉ có số VIN.
Thấy ông tìm giấy tờ một cách quá khó khăn và chậm chạp, tôi hỏi :
- Tôi có thể tìm giúp ông được không ?
- Why not ?... Please !


Cầm lấy cái ví và mớ giấy tờ hỗn độn vào trong cho khỏi bị gió thổi bay, tôi cẩn thận xếp cất lại những giấy tờ không cần thiết, và do đó ngỡ ngàng thấy được thêm một phần trái tim bao la nữa của ông lão tàn tật, đó là một phong bì có in sẵn địa chỉ của PVA, và xuyên qua ánh đèn sáng trắng, tôi thấy đã có một tấm check nằm sẵn ở bên trong. Tấm check ký bao nhiêu tiền thì tôi không biết, nhưng PVA và cái logo có hình người ngồi xe lăn thì với tôi không lạ gì, đó là Paralyzed Veterans of America -- Cựu Chiến Binh Bại Liệt Hoa Kỳ. Hoá ra ông già đen đúa xấu xí nầy đây là ân nhân của cả 2 hội Cựu Chiến Binh Mỹ. Tôi không biết rõ lắm những hoạt động của 2 hội nầy vì không bao giờ đọc hết những giấy tờ của họ gởi, nhưng tôi biết họ là những Cựu Chiến Binh, phục vụ giúp đỡ lại cho những Cựu Chiến Binh khác yếu đuối, tàn phế hơn mình, hay nói theo cách những người Việt mình hay nói, tàn nhưng không phế.

Chúng tôi đứng nhìn nhau, đầy thiện cảm. Tôi nhìn ông, và không giấu diếm sự ngưỡng mộ nhưng không dám nói ra vì mình coi lén giấy tờ riêng tư của người khác, còn ông thì nhìn tôi tin cậy, nghĩ là chắc tôi sẽ tìm ra được chiếc xe của ông. Tuy vậy, cuối cùng vẫn không có một chi tiết gì hơn về chiếc xe của ông cả, tôi quyết định phải chở ông đi vòng quanh các bãi đậu để cho ông nhìn từng chiếc một, và như vậy tôi có thể về nhà trễ hơn thường ngày chừng nửa giờ.
Tôi bảo ông gọi cho bà vợ, dặn cứ chờ tại chỗ và hỏi bả xem có nhớ được gì thêm về việc đậu xe hay không rồi cho biết khi tôi trở lại, vì tôi phải vào văn phòng nộp hết báo cáo của cashier mới chấm dứt nhiệm vụ của mình hôm nay. Hơn 20 phút sau, quay lại với xe riêng của mình thì bà vợ của ông cũng đã đến đó, với mớ hành lý hỗn độn. Bà cũng là một người da đen, nhỏ con, nói năng nhỏ nhẹ dịu dàng thật khác hẳn với anh chồng .
Họ tự giới thiệu: Paul và Helena, trong lúc chúng tôi đã yên vị trên xe.
- Gọi tôi là Tony ông bà nhé !
- Oke do !

Paul bật ra tiếng OK mà những người lính hay dùng làm tôi nghe mà xúc động, tưởng như nghe bạn mình đang nói trên tần số vô tuyến như những ngày nào.
Họ có vẻ rất yên tâm, thoải mái hẳn ra, còn tôi rất vui được có dịp giúp đỡ những người có tấm lòng tốt như họ.

Paul không phải là người vui chuyện kể lể ba hoa như những người da đen khác. Ông nói ít, giọng trầm trầm có lẽ tại tuổi già, tôi khơi chuyện của mình trước mà cũng có ý ngầm tìm hiểu thêm về Paul :
- Ở tuổi của ông chắc có nghe nói đến chiến tranh Việt Nam, quê hương của tôi đó Paul, tôi rời quê sang đây đã 15 năm.
Cả 2 người im lặng hồi lâu, rồi Paul cất giọng khàn khan :
- Tôi đã ở đó… Đơn vị tôi đóng đâu đó trên vùng cao nguyên, tên là An Khê.
- Thật thế ư, còn tôi thì ở Pleiku, không xa nơi đó là bao nhiêu, chắc ông cũng thường được yểm trợ từ phi trường Pleiku chứ.
- Vâng, dĩ nhiên… Hầu như mỗi ngày. Và rồi một lần… Chuyện chết tiệt ấy xảy ra cho tôi, họ mang tôi về Mỹ, cưa cụt chân, và để tôi rời quân đội từ đó, năm 1967.

Sợ nhắc đến chuyện cũ làm ông không vui, tôi hỏi qua hướng khác :
- Năm 67, chắc ông còn trẻ lắm, lúc ấy đã có bồ chưa ?
- Vào ngày giải ngũ, tôi vừa đúng 20. Helena còn ở lại Việt Nam, nàng là một y tá, về Mỹ năm sau rồi lại phải sang Âu châu. Tôi trở lại trường đại học, nhưng không học hành được gì, chỉ tối ngày biểu tình phản chiến, rồi nghiện ngập, chán chường, suýt tự tử. May sao đó là lúc Helena trở về…


Paul không biết diễn tả gì hơn nữa, chỉ chậm rãi gật gù, nói thêm nhè nhẹ :
- Nàng là một thiên thần, đối với tôi.
- Dĩ nhiên rồi… Tôi thấy bà rất dịu dàng đối với ông…
-- và muốn nói thêm với Paul : “Ông cũng là một thiên thần, tuy rằng đã gãy cánh, nhưng vẫn cứ là một thiên thần đối với những người bất hạnh khác” -- nhưng tôi đã yên lặng. Paul chắc là loại người không thích những lời khen.

Chạy vòng chầm chậm qua các dãy xe, chúng tôi lại nói chuyện. Paul và Helena có vẻ thân mật, tin cậy hơn, họ kể thêm về cuộc sống gia đình, kể về tiểu bang Alabama, nơi ông và Helena lớn lên. Không văn hoa màu mè, Paul thành thực kể lại nỗi đau của những người lính trở về, nhất là những cựu chiến binh da đen như ông, những người nổi loạn bị cảnh sát đánh đập, dân tình cũng hất hủi, đến nỗi ông phải bỏ xe lăn tập đi nạng, rồi phải bỏ nạng đi bằng chân giả, cắn răng nuốt xuống nỗi đau vừa tâm hồn vừa thể xác để đi học, cố kiếm lấy mảnh bằng chỉ để làm giáo viên thôi, vì một bàn tay ông cứ tê liệt dần và rồi thì không còn cử động mấy ngón tay được nữa…

Tôi cố gắng trở lại cái điều mà tôi muốn hỏi :
- Là một Cựu Chiến Binh, hẳn ông hiểu họ nhiều lắm nhỉ ?
- Đương nhiên rồi, tôi hiểu họ lắm ông Tony ạ, vì tôi đã từng là họ. Làm xong bổn phận của một người lính, cho dù có là một anh hùng đi chăng nữa, cụt chân trở về, cởi trả quân phục, họ như những con chim bị vặt trụi hết lông, không có ngay đến lớp áo để tự vệ, mà cũng không thể giấu mình hoài trong tổ được, phải chui ra ngoài để kiếm ăn nữa chứ…
-- Giọng ông vẫn trầm trầm như thương cảm cho những người Cựu Chiến Binh nào đó, không hề có ẩn giấu một chút gì cay đắng cho chính số phận của mình …
- Tôi luôn luôn cố gắng làm một cái gì cho họ, nhưng có làm được gì nhiều đâu, lâu lâu mới giúp được một món quà nhỏ trong cái trợ cấp của mình, thế thôi.
- Thế là đã nhiều lắm đối với ông rồi, Paul ạ. Càng thiếu thốn sự chia sẻ của ông mới càng cao quí. Thế bây giờ ông có làm một công việc gì thêm nữa không
-- Tôi nói nửa đùa nửa thật -- [/i]Chỗ chúng tôi đang còn cần nhiều cashier lắm đó.[/i] Paul bình thản trả lời :
- Làm gì còn thì giờ nữa ông, mẹ của Helena cảm ơn Chúa bà vẫn còn sống, Helena thì dạy học cho lũ trẻ và làm việc ở nhà thờ; tôi phải ở nhà chăm sóc bà cụ một buổi, còn buổi chiều vào bệnh viện quân đội giúp việc thiện nguyện. Chúng tôi sống tạm đủ, có cần tiền vào việc gì nữa đâu…

Tìm được chiếc xe của Paul không khó lắm, tôi phụ giúp 2 ông bà chuyển đồ đạc sang xe họ, khi tôi vừa đóng nắp thùng xe thì 2 người đã đứng sát sau lưng. Trong tay cầm sẵn mấy tờ giấy bạc, bà Helena trang trọng nói :
- Cảm ơn Tony, nếu không có ông giúp thì đêm nay chúng tôi không biết sẽ ra sao trong cái phi trường rộng lớn nầy, chúng tôi hết sức biết ơn sự giúp đỡ của ông mặc dù ông chưa bao giờ biết chúng tôi, Chúa sẽ phù hộ cho ông.
Hít một hơi dài trấn tĩnh, tôi giữ chặt trong tay mình những bàn tay đen đúa của họ, nói chậm rãi :
- Hai người đừng bận tâm, tôi chỉ làm công việc thường ngày của mình thôi. Vâng, tôi chưa hề gặp ông bà lần nào, nhưng ông Paul đây cũng đâu có biết một người Việt Nam nào mà ông vẫn sang chiến đấu cho quê hương chúng tôi, đổ máu trên đất nước chúng tôi, và cuối cùng đã bỏ lại những phần thân thể trên đất nước không phải là của ông mà là của chúng tôi, vì vậy tôi mới là người phải nói lên những lời cảm tạ và biết ơn quý bạn về việc đó…
Paul hẳn là không thích nghe người khác ca tụng mình, ông lắp bắp :
- Thôi… Thôi Tony, đó chỉ là làm nhiệm vụ thôi, đã ở trong quân đội thì ông cũng biết rồi.
- Vâng, cứ cho là như vậy, còn bây giờ thì sao, khi ông vẫn tiếp tục giúp đỡ đồng đội, những cựu chiến binh thương tật khác. Còn có nhiều người như mình nữa, ông Paul ạ, nghĩa là những Cựu Chiến Binh như chúng ta, nhưng họ có làm như ông đâu. Khi nhìn thấy tấm thẻ DAV và PVA của ông, tôi kính phục tấm lòng của ông lắm. Mặc cho chuyện gì đã xảy ra, ông vẫn không quên các quân nhân, các đồng đội, ghét chiến tranh nhưng yêu mến chiến binh ông nhỉ. Ông bà rất xứng đáng được Chúa phù hộ và bảo vệ. Số tiền nầy nếu ông bà muốn cho tôi thì cho phép tôi đóng góp vào phần giúp đỡ của ông bà cho họ nhé. Thôi đã quá khuya rồi, xin tạm biệt, chúc hai ông bà lên đường bình an.


Cả hai người đều xúc động, họ cầm tay tôi khàn khàn nói tiếng cảm ơn, trong cái ôm vai của những người không quen biết nhưng đã hiểu nhau, tôi thấy mắt Paul đẫm ướt, nhưng chỉ một bên thôi, còn con mắt bên kia vẫn trong sáng, vô hồn. Ô, hoá ra những gì mà Paul bỏ lại trên quê hương tôi năm nào, không phải chỉ có một bàn tay, một bàn chân mà còn có thêm một con mắt nữa.

“Ông Paul ơi, cơ thể ông thương tổn như vậy mà tấm lòng thì bao la vô cùng. Xin chân thành cảm ơn ông”.

Vĩnh Toàn

Edited by user Tuesday, November 11, 2014 1:36:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 1/9/2015(UTC)
Mén  
#1029 Posted : Friday, November 14, 2014 10:52:24 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
MÙI ÁO LÍNH
Nguyễn Thị Thêm


UserPostedImage


Hôm nay tui lãng mạn một chút cho vui cuộc đời.
Tui muốn viết về tình yêu.
Úy chu choa quơi ! Đời mà không có tình yêu thì chán chết. Tẻ ngắt, chua lè.
Tình yêu là đầu dây mối nhợ cho biết bao nhiêu nhì nhằng, đau khổ, sướng rên và cũng lâm ly bi đát trên cõi đời này.
Chả thế mà mẹ chúng mình sinh con gái ra thương quá là thương. Rồi thì chắt chiu gìn giữ. Sợ con yêu nhầm, sợ con lạc bước. Sợ đủ thứ và tưởng tượng nhiều thứ mỗi khi con vắng nhà.
Bởi vì con đường đó mẹ đã bước qua, mẹ là tấm gương trước mắt. Khi gương sáng, đẹp thì mở ra cho con coi. Khi quá khứ tối mù đau thương thì giấu kín tận đáy con tim vỡ nát. Giấu để nghiền ngẫm nỗi buồn, để lo sợ cho con. Để bảo vệ con bằng tất cả tình thương và những lời giáo huấn.
Cái hồi chúng mình còn con gái mơn mởn má đào là thời kỳ chiến tranh. Tình yêu trong thời kỳ chinh chiến nó nhiều màu sắc lắm. Nó cuồng nhiệt, nó lãng mạn mà cũng nhiều thú đau thương.
Bạn có đồng ý với tui không ?
Này nhé biết bao bài hát, lời ca để nói về lính và các mối tình em gái hậu phương. Mà thiệt ra thời buổi chiến tranh đó không lấy lính thì chỉ có nước lấy ông già hay mấy tên tàn tật bị lính chê. Hoặc giả lấy mấy anh chàng trốn lính vào bưng làm du kích. Còn mấy ông hoãn dịch vì lý do gia cảnh rồi thì cũng từ từ khăn gói vào quân trường khi có lệnh tổng động viên.
Thiệt ra hồi tui còn lang thang đón xe đò lên Sài Gòn vào văn khoa thì mấy bài ca về lính tụi tui không có phê đâu. Cứ chê nhạc "Sến" dù đôi khi thấm tình, hợp cảnh cũng lôi ra rên rỉ. Nhưng nhạc sinh viên mê và hợp thời thượng nhất là nhạc Pháp, nhạc Từ Linh, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy... nghĩa là nhạc cao cao hơn. Hổng hiểu cao tới đâu nhưng dường như là phong trào lúc đó.

Tui thì không lãng mạn bồ bịch vì má tui khó lắm. Bà cứ lấy nước mắt ra mà hù tui.
- Con thấy rồi đó ! Ba mày vợ lớn, vợ nhỏ lung tung. Má chỉ có mình con con gái. Con có bề nào má xấu hổ má chết cho con coi.
Ui ! Bài ca con cá má tui hát hoài mà khán giả là tui không vỗ tay là không được. Nên tui đành trốn chạy tình yêu.
Thế mà ông tơ bà nguyệt cà chớn thiệt, cột cái dây tơ hồng vào chân tui hồi nào tui cũng không biết. Mới lúc trước thấy cái mặt khó ưa, nói năng trọ trẹ không hiểu gì hết trơn, lại lì lợm tới nhà người ta ngồi lì hoài không biết mắc cỡ. Thế rồi ... Ủa sao mình thấy nhớ nhớ vậy ta ? Sao hôm nay hắn không tới ? Không biết có đụng trận không ? Nếu hắn bị thương mình có nói láo má để đi thăm hắn không ?
Cái đầu lung tung thứ nghĩ về hắn, nhớ hắn cho mình tức, mình giận chính mình.
Thiệt là kỳ ! Hổng lẽ : “Bừng con mắt dậy biết mình đã yêu”.
Cái dáng ốm ốm cao cao, nụ cười nửa miệng và bộ đồ treillis có cái mùi lạ lạ, quen quen.
Cái mùi áo lính kỳ kỳ đó mê hoặc tui lúc nào tui cũng không ngờ.
Các bạn từng là vợ lính có cảm giác giống tui không ?
Dường như áo lính có cái mùi rất lạ. Mùi đàn ông, mùi chinh chiến, mùi chỉ có lính mới có mà tui không cắt nghĩa được. Nó không phải là mùi mồ hôi vì khi chàng mà đến thăm tui thì thay bộ đồ treilli ủi thẳng nếp. Giày cũng soi gương được và hàm râu cắt tém rất phong độ.
Chàng về rồi, trong nhà vẫn còn mùi áo lính, nó làm tui bị vây chặt trong không gian có chàng quanh quẩn. Tui nhiều lần chống trả bản thân là không nghĩ, không nhớ, không lo. Nhưng con tim thao thức chờ đợi, nó chụp hình chàng trong đó cho tui không thể so sánh chàng với ai để mà chọn lựa. Chàng chỉ là chàng của tui, của trái tim tui.
Thế mới chết các bác ạ !
Tui nhắn con nhỏ bạn thân nhất của tui :
- Mày lên đây với tao, coi thử tên này có được không ? Hắn tới nhà tao hoài. Tao không biết làm sao ?
Con nhỏ bạn từ Sài gòn khăn gói lên nhà tui. Nó nhìn cái tướng tui đứng ngồi không yên, nó phán một câu xanh lè :
- Thôi đi má ! Mày chờ đợi kiểu này thì mày yêu chõng gọng rồi còn hỏi tao gì nữa.
Thế rồi :

Dù ai nói ngã nói nghiêng,
Tim em cũng chỉ là riêng của chàng.


Hồi đó trước mặt chàng tui cũng lắc đầu ngoay ngoảy . Mặt vẫn tỉnh queo. Nhưng đàn ông mà, họ biết tẩy ngay tui đã cắn câu. Thế là không cần tỏ tình cho tốn nước miếng, tốn hoa, tốn quà. Chàng của tui chơi kiểu nhà binh đánh nhanh rút gọn. Chàng a thần phù một buổi trưa mùa hè đẹp trời chàng bước vào nhà ba má tui.
Trời đất thánh thần ơi ! Ba tui nhìn chàng hết hồn, má tui lấm lét ngó xung quanh. Đây là vùng xôi đậu, bốn bên Việt Cộng nằm vùng. Một tên sĩ quan ăn mặc chỉnh tề hỏi từ đầu xóm đến cuối làng để tìm con gái ba má tui.
Tui bước ra cửa thấy chàng mặt tui tái mét. Dù đã đi dạy rồi nhưng tui là con gái ngoan của ba má. Tui không biết phen này mình lãnh án tử hình hay chung thân hoặc tha bổng với án treo.
Chàng cười cầu tài, cúi đầu lễ phép và nói :
- Như ri là trúng rồi. Con tìm nãy chừ giờ mới đúng nhà ni.
Úy mèn ơi ! Má tui há hốc miệng, bà già không hiểu gì hết trơn. Ba tui thì hiểu bằng sự phán đoán tinh tế của đàn ông và mời chàng vào nhà. Tui rót nước rồi rút vào nhà sau.
Chàng lễ phép thưa với ba má tui là chàng và tui đã tìm hiểu và yêu thương nhau. Vì mẹ chàng còn ở ngoài Huế chưa vào kịp. Chàng xin phép tới thăm trước để khi mẹ chàng vào sẽ đem lễ vật tới nhà. Chàng xin ba má tui cho chàng được tới nhà riêng của tui để thăm viếng danh chánh ngôn thuận.
Má tui không nghe được giọng Quảng Trị nên cứ ờ ờ! Còn ba tui hỏi dăm ba câu rồi cũng gật đầu, kêu dọn cơm lên cho chàng ăn để còn về sớm.
Chàng về rồi tui lãnh nguyên bốn viên đạn lửa lên nòng xuất phát từ hai đôi mắt của ba má tui. Ba tui kêu tui ngồi xuống ghế và từ từ, nhẩn nha tuyên bố :
- Ba má không ép con, con đã chọn thì con ráng chịu. Sau này sướng khổ là do con.
Còn má tui ứa nước mắt :
- Sao lại ưng người Huế ? Nó nói con có hiểu không mà thương nó. Trời ơi ! Ớt mà nó dám cầm nguyên trái cắn thì nó khó và dữ lắm con ơi !
Tui hả ? Tui nghẹn lời. Nói không cũng không được vì hình như tui đã yêu. Mà nói đã yêu để lấy chồng thì cũng không đúng vì tui chưa có một lời ước hẹn.
Ba tui là người ngay thẳng, chính trực. Ông bảo :
- Ba đã hứa với nó rồi. Một lời như đinh đóng cột. Má nó vô đem trầu cau dạm hỏi là con đã có chồng.
Thế là tui đi lấy chồng mà không biết ất giáp gì về bên nớ. Cũng may miền Nam nắng đẹp hai mùa. Má chồng tui khăn gói vào Nam cưới dâu rồi mọc rễ luôn ở Biên Hòa.

Tui trở thành vợ lính và gắn liền đời mình với mùi áo lính.
Cái mùi lính ấy thật lạ, dù áo đã giặt rồi, phơi khô, ủi kỹ nó vẫn có cái mùi hăng hăng, thơm thơm. Người ta nói đó là mùi da thịt của chồng nên mình quen hơi.
Chim quyên quen chậu, vợ chồng quen hơi í mà !
Thật ra tui cũng không biết người khác đi lính có cái mùi đó không ? Nhưng chồng tui quả thật cho tui cái mùi mà mỗi khi nhớ, chỉ có cái áo lính của chồng, tui mới tìm lại được những cảm giác có anh bên cạnh.
Khi chàng đổi đi xa hay đi tù Cộng Sản, tui vẫn giữ lại bộ đồ lính, nhất là cái áo để theo tui những lúc ra ngoài đồng làm việc. Mùi đó từ từ theo năm tháng, theo mưa gió, theo sông nước quê người đã không còn hiện hữu. Nó phôi pha theo người lính buông súng bại trận và xa hẳn quê hương.
Bây giờ, thú thiệt cái mùi đó mất rồi kể từ khi chàng trở về từ trại tù Cộng Sản. Không còn cái áo lính nào cho tui giữ lại để lấy hơi.
Và nếu đó là mùi mồ hôi chồng thì tui xác định không phải. Vì bây giờ chàng cũng có mồ hôi, nhưng tất cả các áo anh mặc không hề có cái mùi ngày xưa. Cho nên cái áo lính do vải, do hồ, do nhiều thứ của một thời chinh chiến cộng lại. Quyện với mồ hôi chồng tui cho tui có những hồi ức đẹp khó quên trong đời.
Tui yêu chồng tui và yêu vô cùng mùi áo lính của anh.
Mùi áo lính yêu thương của một thời kỷ niệm :
Tui lại làm thơ nè :


UserPostedImage


Nguyễn Thị Thêm
(Hội Ái Hữu Biên Hòa)

Edited by user Friday, November 14, 2014 10:53:55 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 12/7/2014(UTC)
Mén  
#1030 Posted : Saturday, November 22, 2014 10:48:56 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
“Bên thắng cuộc”
TLC Bùi Trọng Nghĩa (K18TĐ)

Phần 1: Giết

“Chú bộ đội ơi ! Tiếc quá, hòa bình rồi, không còn chiến tranh để lớn lên, cháu được giết kẻ thù như các chú… ”.

Đó là lời của một đứa trẻ được phát đi trên đài phát thanh từ Hà Nội vào một buổi sáng sớm qua cái loa của trại giam những người “bên thua cuộc” ở giữa rừng Hoàng Liên Sơn miền Bắc.

Một viên gạch thẻ xây nhà, đánh thẳng vào giữa mặt một tên tù trẻ hình sự miền Bắc, khiến hắn đổ gục xuống, nằm bất tỉnh trên đường đất mòn cỏ úa, giữa một đám người đứng vây quanh mà, qua nét mặt, diễn tả cái thành quả của họ như thể là một chiến công lớn trong một “trận chiến” rượt đuổi, vây bắt kẻ địch vì nó đã nhổ trộm một gốc khoai mì.

Ở nhà trường, trong lớp học ở miền Bắc, thầy cô giáo dạy học trò làm tính nhân như sau : “Một quả lựu đạn giết được năm người, vậy hai quả giết được bao nhiêu?”.

Ở miền Nam, thầy cô lại dạy rằng: “Một trái cam ngọt chia cho bốn em, vậy hai trái cam ngọt chia được bao nhiêu em?”.

“Nhân chi sơ, tính bản thiện” - Đứa trẻ lớn lên, thiện, ác do kết quả của hoàn cảnh. Bà mẹ Mạnh Tử, xưa kia dạy con đã phải ba lần giọn nhà : Lần đầu ở cạnh nhà một đồ tể. Hàng ngày bà thấy con mình thường hay cầm dao giả giết heo như người hàng xóm; sợ quá, bà bèn dọn nhà đến một nơi khác. Ở nơi mới này, bà lại thấy con mình cùng đám trẻ hàng xóm giả làm người nhà đòn, chôn khóc người chết; hóa ra người hàng xóm làm nghề chôn cất; bà thấy không được, vội dọn đến ở cạnh một trường học. Những ngày sau, bà thấy con mình đòi mua sách vở, rồi cắp sách, cầm bút giả đi học như những đứa học trò kia; bà thấy yên tâm, vui mừng, thầm nghĩ : "Đây là nơi ở cuối cùng. Sau này Mạnh Tử trở thành thánh hiền.

Người Việt miền Nam Tự Do và người Việt miền Bắc Cộng Sản khác nhau về bản chất, cũng chính do từ lớn lên trong những môi trường : giáo dục của nhà trường, dạy bảo của gia đình và sinh hoạt của xã hội, v.v…

Mới đây, ông Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Hưng Quốc dạy ở đại học Úc có đề cập đến “những cái chết trên quê hương Việt Nam” qua tựa đề : “Tại sao người ta tàn nhẫn đến vậy?”. Trong đó,ông liệt kê những sự chém,giết hung ác, hỗn loạn trong xã hội Việt Nam ngày nay. Cuối bài ông kết luận : “Tại Việt Nam bây giờ, bất cứ điều gì cũng dẫn đến cái chết oan nghiệt”.

Một điều chắc chắn rằng chủ trương : “Trồng cây mười năm, trồng người trăm năm” của “Bác Hồ”, mọi người lớn, bé miền Bắc trước kia và, người Việt Nam trong nước bây giờ đều biết.

Như vậy, thì rõ ràng kết quả của những con toán nhân qua quả lựu đạn ở nhà trường, dẫn đến đứa trẻ than phiền vì hòa bình rồi, không còn kẻ thù để nó giết người chính là kết quả tất yếu của một nền giáo dục kỹ thuật “trồng người”.

Tại một trại giam những người “bên thua cuộc” ở núi rừng miền Bắc, một ông Trung Úy “tháng ba gẫy súng” đi lạc trong rừng, bị người dân vây ví, hò hét, gậy gộc đánh tới chết, trói tay trói chân, đòn tre dài xuyên qua, “hồ hởi” khiêng đến vứt xác trước cổng trại. Được bộ đội cám ơn vì đã lập công bắt kẻ trốn trại.

Một tên bộ đội tài xế xe molotova, thú tính nổi dậy, âm thầm, lặng lẽ, trèo nhẹ lên xe, nổ máy, vội vã lùi xe, cán chết một bệnh nhân “bên thua cuộc” đang “lao động trị liệu” nhổ cỏ ở sau xe. Nét mặt lạnh lùng, cười đểu : “Lỡ… !”.

Tại một đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuột, chủ là người Hà Nội. Ba người đàn bà, một già, hai trẻ lẻn qua hàng rào vào nhặt mót những hột cà phê sau khi đồn điền đã thu hoạch xong. Chủ đồn điền lẳng lặng thả hai con chó bẹc-giê ra rượt cắn. Vì sức yếu, bà già không kịp trèo lên cây như hai cô gái trẻ kia, bị hai con chó xé xác. Chủ vườn lạnh máu đi mở cũi thả thêm hai con chó nữa, buông nhẹ một câu : “Cho mày chết… !”.

Chưa hết, vợ chồng người em giết chết vợ chồng anh ruột chỉ vì con mèo của mình qua ăn vụng nồi cá bị anh ruột đánh chết. Hai “cẩu tặc” bị đánh chết vì trộm một con chó ! Chê nước mía bán không ngọt bị chủ đuổi theo đánh chết ! Mắt bị lé, nghĩ nhìn trộm người yêu của mình, bị đâm chết ! Nghiện ngập, túng tiền, dẫn người tình vào khách sạn, sau khi ân ái, giết chết, lấy tiền, lấy vàng, lấy điện thoại di động, lấy xe, đi cầm ! Cướp giật dây truyền bằng cách chém đứt bàn tay cho chắc ăn, v.v… Nhiều lắm, kể ra đây không hết. Nói theo kiểu văn chương của người Hà Nội là : “Lấy nước biển đông làm mực, lấy lá rừng làm giấy” cũng không đủ viết hết cảnh chém giết trong xã hội của “bên thắng cuộc” hiện nay.

Karl Marx - ông tổ của chủ nghĩa duy vật - nói rằng : “Trong lao động có phát minh”. Ông Hồ và người Hà Nội lập đền thờ ông và học trò ông Marx như Stalin, Lenin, v.v… Dựng ra một trường học lớn có tên là “Viện Triết Học Marx”, bắt cả nước miền Bắc học tập.

Bắt nguồn từ “trong lao động có phát minh” đó, cho nên, mới đầu giết người bằng gậy gộc thô sơ, sau tiến lên đến súng đạn, mã tấu, rồi tinh vi hơn nữa là giao, kéo, cắt cổ, lọc xương, bỏ vào bao bố phi tang… Dã man hơn cả bọn nhà nước Hồi Giáo đang giết người hiện nay.

Miền Nam Việt Nam xưa kia, đàn bà đi đánh ghen chỉ xẩy ra có một lần độc nhất tạt át-xít đối thủ là vũ nữ, mà cả vợ lẫn chồng bị mất chức, vào tù. Nạn nhân được gửi đi Nhật để chữa trị. Vũ trường trên cả nước bị đóng cửa.

Ngày nay, đất nước của “Bác” và của “Đảng”, đàn bà đánh ghen, không chỉ tạt ác-xít, mà nạn nhân còn bị lột trần truồng giữa phố, được công an can thiệp bằng câu : “Đó là chuyện riêng… !”. Đúng ý nghĩa : Dân làm chủ”.

Giã từ quê hương mà : “Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ… cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường”. Đó là lời của bài chính tả trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà tôi học khi còn bé ở lớp Ba trường làng. Hơn bẩy mươi năm qua, tôi vẫn còn xúc động, vấn vương hình ảnh và cõi lòng lưu luyến của kẻ ra đi trong bài chính tả đó.

Thê thảm thay, ngày 30/4/1975, ngày miền Nam được “bên thắng cuộc” “giải phóng”, cả triệu người kinh hoàng hoảng hốt bỏ chạy, không dám quay đầu nhìn lại quê hương. Không vấn vương, không lưu luyến, không hề mang chút tâm sự của kẻ xa nhà nhung nhớ như ở trong bài chính tả kia.

Bây giờ, bốn mươi năm qua, quê hương rách nát, quê hương bệnh hoạn, quê hương phồn vinh giả tạo, quê hương như trái dưa hấu xanh vỏ nhưng lòng đỏ đã rữa nát… Vô phương cứu chữa !

Bùi Trọng Nghĩa
(Quận Cam 15/10/2014)

Edited by user Saturday, November 22, 2014 10:56:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
tý xưng on 11/22/2014(UTC)
Mén  
#1031 Posted : Saturday, November 29, 2014 9:56:15 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)

Chuyện một lá cờ
Phạm Văn Thành

UserPostedImage


Tôi được đưa vào gần bờ. Biển không còn những con sóng cao bạc đầu nữa, thay vào đó là những con thuyền gỗ sơn trắng xanh với hai bè càng bằng tre đặc thù của dân đảo Phi. Sóng dạt nghiêng ngửa hai con thuyền sắt từ trong bờ vươn ra đâm sầm lại, đầu cột ăn-ten là lá cờ Phi Luật Tân, dưới hai cửa sổ buồng hoa tiêu là phần phật hai phiến vải màu vàng đâm ra hai bên mạn thuyền. Càng đến gần, màu vàng như càng bật phun ra những tia máu đỏ thẫm, như vẫy vùng trên mặt biển xanh đang bắt đầu xám.Gần ba trăm con người hốt nhiên lặng người thảng thốt. Đám trẻ măng sữa đen đủi khựng cảm xúc khi nhìn thấy những khuôn mặt cha mẹ tự dưng như cứng lại, hầu hết đều lặng lẽ khóc ; những giọt nước mắt không dễ hiểu đối vơí tuổi thơ chúng đang mang.

Đàn người thoát chết trước đón đàn người thoát chết sau ! Đại dương hùng vĩ lùi dần, vùng miền ngăn cách lùi dần, giọng nam giọng bắc giọng trung… Tự nhiên mất hẳn biên cương, chỉ còn là đàn người xúm xít hỏi han, tay bắt mặt mừng, sụt sịt vắn dài lẫn trong tiếng đập gió phành phạch của những lá cờ vàng đang hòa trong tiếng sóng. Họ tự nhiên chia chung một cảm xúc của người vừa biết mình chính thức mất nước. Họ tìm được đâu đó tình yêu khó diễn giải về một tổ quốc nơi họ đã sinh ra, một đất nước mà họ ý thức rõ ràng rằng không còn trở về được nữa. Họ hốt nhiên cảm thấy lá cờ vàng như gói linh hồn quê hương của họ trong đó. Họ mờ mờ nhận ra sự sống, sự tự do mà họ đang vừa cầm chặt được, nó gắn bó mật thiết với lá cờ vừa trồi lên từ đại dương cho họ bám vào trong cơn "cuồng phong lũ Đỏ". Lá cờ ấy, từ đấy được họ gọi là Lá Cờ Của Tự Do.


UserPostedImage


Bạn không là chiến binh. Bạn cũng chưa bao giờ thấy những quan tài chật cứng trên những quân xa vận tải GMC chạy hơ hãi trên những quốc lộ miền Nam. Cạnh những quan tài phủ cờ vàng là những người cha mặt khắc khổ im lìm không còn nước mắt. Bạn chưa từng trông những đám tang liên tiếp, mà những người thiếu phụ lăn lộn cả xuống mộ huyệt, khi những tiếng súng vĩnh biệt vừa xé toang bầu trời, từng xẻng đất hất xuống cỗ quan tài không một vòng hoa, lá cờ vàng và những tia máu thắm lạnh lùng cuốn lại trao cho người thiếu phụ đang còn đứa con khát sữa, đang lăn lộn đòi lại cái mà họ không bao giờ muốn mất : Chồng họ ! Con họ !

Bạn chưa từng xốn xang, khi đứng trước hàng ngàn ngôi mộ vừa mới đắp, bóng cờ vàng lặng lẽ xếp thành những hàng dài bát ngát, chân mộ có những đứa trẻ khóc ngất kêu lên những tiếng ba ơi lạc giọng; có những người con gái tóc thề tay chân luống cuống một nhành hoa, lảo đảo bước chân tìm huyệt mộ người yêu trong trời chiều gió lộng ! Bạn chưa bao giờ thấy những đôi vai thanh xuân bé nhỏ ấy run lên từng chập giữa trời trưa xao xác đâu đó tiếng dế rù rì tình tự, như một lời kinh tận tình, bền bỉ…

Những người đã chết. Họ không chết vì những sự tung hô. Không chết vì những lý tưởng cao xa huyễn hoặc. Họ chết chỉ vì họ là một người thanh niên, lớn lên giữa thời binh lửa, nhà cầm quyền bảo họ tòng quân thì họ tòng quân, không muốn cũng không được. Họ ngã xuống giữa trận tuyến, chưa chắc ý thức của họ đã hiểu rằng HỌ LÀ NGƯỜI VỪA CHẾT CHO SỰ TỰ DO CỦA XỨ SỞ. Họ chết bình thường, như hơi thở của một con người, cuốn theo những đau đớn tột cùng cho những người ở lại.

Những con người ở lại đó, 40 năm sau mới thật sự chín muồi cho một nhận định về cái chết của những người lính miền Nam đã hy sinh trong chiến tranh. CÁI GIÁ CỦA TỰ DO ! Bốn mươi năm sau cuộc chiến, con người Việt Nam mới thật sự ý thức được để cúi đầu lặng lẽ tri ân những người lính chết trẻ ấy.

Con người ta không ai là không sai lầm !
Con người ta, luôn luôn cần sự sám hối !

Thời gian đằng đẳng đã qua đi gần nửa thế kỷ. Thù hận ngỡ sẽ dễ tiêu tan, nhưng sự thực lại không diễn ra như vậy. Thế hệ một chết đi, thế hệ hai vẫn tiếp tục giữ kỹ trong lòng, thế hệ ba cũng vậy. Tất cả chỉ bởi chúng ta đã thiếu lòng sám hối chân thực. Người lính miền Bắc đã tận tình phá nát miền Nam, vì những chương giáo lý điên khùng. Đã đến lúc cần tỉnh táo. Tỉnh táo cho em chúng ta, tỉnh táo cho con cháu chúng ta.

Chúng ta sẽ mãi mãi lầm lũi trong vô vọng, khi cứ nhất nhất rằng lá cờ mà chúng ta đã đứng chào, đã hướng trông lên nó mà chiến đấu trong chiến tranh… là ta sẽ tôn thờ mãi mãi ! Đã đến lúc ta phải đặt những câu hỏi nghiêm khắc cho chính chúng ta, rằng lá cờ đó đã từ đâu đến ? Nó có thực sự là lá cờ “giải phóng” dân tộc hay không, hay đó chỉ là một lá cờ đã được vận dụng khôn khéo để lùa dân ta vào những chiến trường nồi da xáo thịt khốc liệt nhằm phục vụ cho quyền lợi một đế quốc màu đỏ mang tên cộng sản và mang quyền lợi cho Trung Quốc khổng lồ ?

Các anh chị. Mười năm trước, hai mươi năm trước, bảo tôi viết những dòng chữ này tôi sẽ không viết! Không viết vì biết chắc chắn rằng các anh các chị không bao giờ nghe những gì chúng tôi nói hay chúng tôi viết ! Bảy mươi năm ! Bốn thế hệ đã liên tiếp kế tục nhau trưởng thành thì lý lẽ truyền thông một chiều chắc chắn đã vững chãi như thành đồng ! Nên chúng tôi chỉ còn cách duy nhất là tìm bom đạn để giành lại quê hương đất nước, được phần nào hay phần nấy, thậm chí không giành lại được cho dân tộc mảnh đất nào, chúng tôi cũng cam lòng chết bờ chết bụi bằng cái chết vô danh, cái chết của những người bị các anh các chị gọi là “Bọn Phản Động Phá Hoại”. Cung cách chết ấy đúng thực là cung cách của người uống nước dòng Đồng Nai, nuốt hạt cơm dòng sông Hậu để khôn lớn làm người.

… Chúng ta đang có một cánh đồng bát ngát của tri thức mà ai cũng có thể mở được nó ra, tận dụng và hưởng thụ. Vì cánh đồng tri thức bát ngát ấy, hôm nay tôi dám viết những dòng chữ này, nhân danh một người chiến binh chống Cộng Sản không quân phục còn sót lại của giai đoạn 1980, trân trọng gởi đến các anh các chị lời chân thành mong được nhìn thấy sự sám hối cao cả của các anh các chị, như chúng tôi hằng luôn sám hối vì đã để toàn vẹn đất nước rơi vào tay các anh các chị; vì đã để lớp đàn em tươi thắm phải giáp mũ kiếm đao bút sách đâm sầm vào cuộc chiến đấu đầy cạm bẫy và muôn vàn sự đểu giả.

Sự sám hối ấy không phải với chúng tôi, không phải cho chúng tôi hay cho những người lính miền Nam đã chết. Chúng ta đã đầu hai thứ tóc, mặn nhạt đắng cay ắt rằng đã dôi dư để không còn muốn hơn thua với nhau nữa làm gì. Chúng ta sám hối vì đàn em chúng ta, vì con cháu chúng ta, vì thế hệ tương lai bắt buộc chúng ta phải sám hối. Vì chỉ có thật lòng sám hối, chúng ta mới kết tụ lại được cùng nhau, mới bảo vệ được giang sơn đang bấp bênh bên bờ vực tử sinh này.


UserPostedImage

Hà Nội 1945


Hãy can trường vượt qua chính mình. Lá cờ vàng không có tội tình chi cả. Lá cờ ấy không phải của ông Diệm hay ông Nhu ông Thiệu. Lá cờ ấy là truyền thừa từ những Vị Vua Anh Hùng Dân Tộc Thành Thái - Duy Tân... đã tung bay ngay tại thủ đô Hà nội, ngay khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, đế quốc Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam với đại diện chính thức là chính phủ Trần Trọng Kim. Lá cờ ấy hiền lành và đơn độc, đã bị đàn áp dã man bởi chủ nghĩa quốc tế Cộng Sản cominter để sau đó trương lá cờ đỏ đậm đà bản sắc Trung Quốc lên, xô đẩy ba bốn thế hệ thanh niên Việt Nam vào chảo lửa chiến tranh đúng với phương châm "Đánh Cho Đến Người Việt Nam Cuối Cùng"!

Vì danh dự của tiền nhân. Vì danh dự của con cháu chúng ta. Chúng ta phải chiến đấu. Phải tìm lại với nhau để chiến đấu.

Phạm Văn Thành
(Paris, 30/10/2014)

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 12/7/2014(UTC)
Mén  
#1032 Posted : Monday, December 1, 2014 11:18:25 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
CHÌ 10 NĂM NỮA THÔI

Chu Tất Tiến

Chỉ 10 năm nữa thôi,
Lá cờ thân yêu sẽ chìm trong bóng tối
Những cuộc biểu tình sẽ thưa dần đi
Những bích chương, biểu ngữ sẽ ngủ li bì
Trong góc kẹt tối tăm và lạnh lẽo

Chỉ 10 năm nữa thôi
Thế hệ Một sẽ trở thành bạc bẽo
Sẽ qua đi như chiếc bóng bên đường
Kẻ còn lại thì ngơ ngẩn nhớ thương
Mái tóc bạc run trong nhà hưu dưỡng

Chỉ 10 năm nữa thôi
Các Hội Ái Hữu sẽ chỉ còn tưởng tượng
Thầy, Cô, Trò đi gần hết, còn ai?
Hội Quân Nhân lúc đó đã mệt nhoài
Không giơ nổi cây cờ thân yêu cũ

Chỉ 10 năm nữa thôi
Những chửi càn, bênh nhau hay chụp mũ
Chẳng qua là tiếng nói xa xăm
Thế hệ 2 không hiểu, tưởng nghe lầm
Ai Chủ Tịch ? Ai chống ai ? Ai hùng ? Ai phản ?

Chỉ 10 năm nữa thôi
Đảng Cộng đỏ sẽ hân hoan sáng lạn
Khép con người trong cũi sắt mênh mông
Người Việt ta sẽ nói tiếng Quảng Đông
“Ùa ái nị !”, “Tỉu nà ma !”, “Hẩu lớ !”

Chỉ 10 năm nữa thôi
Tất cả các điều này sẽ hiện thân ra đó
Nếu bây giờ, không biết đứng bên nhau
Không cảm thông, tha thứ, bắt tay nhau
Lỡ chia hai, nay phải nối lại cầu
Mong nối lại tình bạn thân yêu dấu

Chỉ 10 năm nữa thôi
Tất cả các điều này sẽ rành rành ghi dấu
Trong sử xanh, nếu hải ngoại cứ rẽ phân
Không nhoài ra, nắm lấy tay Dân Oan
Mà quăng nón tai bèo loạn xạ
Thằng này nằm vùng, con kia… tình nghi quá !
Thà giết lầm, hơn bỏ sót một tên !
Dù cho mi chống Cộng mấy năm liền
Vì bộ đội, mãi vẫn là bộ đội !

Chỉ 10 năm nữa thôi
Tất cả các điều này sẽ không thể chối
Nếu vẫn còn chia rẽ, chống nhau
Còn tranh giành chống Cộng để sống lâu
Còn : “Tao Chính Nghĩa, mày là thằng Việt Cộng !
Không chào cờ tao, mày không còn đất sống !
Sẽ đấu tố mày cho đến liệt tứ chi
Không cần nghe theo ai, không cần nghĩ suy
Cứ vác cờ vàng ra mà đập loạn”

Chỉ 10 năm nữa thôi
Khi các lời nói biến thành viên đạn
Khi “độc tài vàng” khống chế mọi niềm tin
Cho dù “ta” đang chống lại chính “mình”
Ta sẽ chẻ sợi tóc làm tư, làm tám
Sẽ làm như năm 54, lập “tòa án”
“Tòa Án Nhân Dân” xử tội chúng bay
Dồn trách nhiệm của Đảng Cộng Sản lên đầu, lên tay
Cho mi chết, nếu không chào cờ Tổ Quốc!

Và như thế, còn gì đâu đất nước ?
Bao niềm tin Phục Quốc sẽ tan hoang
Dù vẫn vinh danh một lá cờ vàng
Nhưng thực tế: tận tình chia rẽ
Ai cũng có thể làm Cha, làm Mẹ
Xử tội người này, buộc oán người kia
Làm thì không, mà nói lia chia !
Phun nước bọt lên đầu giới trẻ
Là những người cách sau một thế hệ
Vẫn ngửng đầu tôn trọng nhóm đàn anh
Vẫn mong một ngày người đi trước hùng anh
Về giải cứu Dân Oan đang cùng khổ

Ôi ! Việt Nam ! Một ngàn năm đô hộ
Đã làm một số dân biến chất, sống hoang mang
Cư xử như Tầu phù, khuyếch khoác, huyênh hoang
Không huynh đệ, không bạn bè, chiến hữu
Như vậy, tương lai nước Việt yêu dấu
Sẽ ra sao ? Trời hỡi ! Lạc Long Quân !
Ôi Vua Hùng, bao danh tướng dấn thân
Xin chứng giám ! Xin về đây chứng giám
Lũ chúng con, giờ chia ra từng đám
Đánh lẫn nhau, tan nát, vì lợi danh !
Ôi! tiền nhân từng khắc tên sử xanh
Xin thứ tội ! Xin khoan dung thứ tội…
Mất nước rồi, mãi mãi, tan hoang…
Xin nhận cho đây dòng lệ hai hàng
Của những đứa con hoàn toàn bất lực.
Xin chứng giám ! Xin về đây chứng giám…

Chu Tất Tiến

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 12/7/2014(UTC)
Mén  
#1033 Posted : Friday, December 5, 2014 2:18:32 PM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
40 Năm Tỵ Nạn... Nhìn Lại Đoạn Đường (30/4/1975-2015)
Philato

Sau khi bài viết về Trâu Điên Và Cố Vấn Mỹ được đăng trên Việt Báo ngày 11/11/14, trong đó tôi có nói đến Đại Úy Sheehan, là cố vấn Tiểu Đoàn 2/TQLC, sau này ông ta về Mỹ và lên tới cấp tướng 4 sao, là Tư Lệnh NATO, thì một bạn cùng đơn vị, ra đi từ 1975, hiện định cư tại Paris 13, gửi email cho tôi, trong đó có một câu nửa đùa nửa thật như thế này:

Hồi đó, 1968, ông Sheehan là đại úy cố vấn, sau này ông ta lên tới tướng 4 sao và là Tư Lệnh NATO, còn bạn lúc đó là đại úy đại đội trưởng, sau vào tù CS rồi ra đi HO thì nay bạn làm được cái “thống chế” gì chưa, hay vẫn là tư lệnh “NATO”?

Tôi hiểu ý bạn tôi viết chữ “NATO” trong ngoặc kép là muốn ám chỉ “No action, talk only”, bạn ấy muốn chọc quê tôi có làm được chuyện gì ra hồn đâu mà chỉ nói thôi. Tôi thấy đúng quá và vui vì cách gán ghép này nên email hồi âm:

Bị đi tù thì làm sao là tướng, nhưng nhìn thế hệ thứ hai làm tướng là sướng rồi.

Trong chỗ bạn bè đơn vị cũ, chiến trường xưa, chúng tôi thường có những câu đùa vui để nhớ về dĩ vãng, nhớ về “thời oanh liệt ấy nay còn đâu”! Tuy rằng đường binh nghiệp nửa đường gẫy gánh, tuy không được làm tướng, nhưng an ủi nhau rằng trước sau gì cũng là “Anh Sáu”.

Ngày xưa trong quân đội, chỗ thân tình anh em, chúng tôi thường gọi những vị đại tá mà chúng tôi kính trọng là “Anh Sáu”, nhưng nay, sống đời tỵ nạn, người lính trẻ nhất cũng lục tuần, chúng tôi đang sắp hàng tấn công lên đồi... nên “anh sáu” còn có hàm ý là sáu tấm. Trước khi làm anh sáu..., được mặc áo quan thì hãy ôn lại với nhau, sau 40 năm tỵ nạn, chúng ta đã làm được những gì hay chỉ nói thôi?

Mau thật, thế mà đã 40 năm rồi đấy, kể từ ngày “gẫy súng”, đã quá nửa đời người rồi mà sao tôi thấy mọi chuyện cứ như mới xẩy ra ngày hôm qua. “Hôm qua”, ngồi trong Trung Tâm Hành Quân Thủy Quân Lục Chiến tại căn cứ Non Nước Đà Nẵng thì tôi nhận được tin Đại Úy Tô Thanh Chiêu tử trận và mất xác tại bãi biển Thuận An! “Hôm qua”, lúc 6 giờ 30 sáng, các Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng, Trần Văn Hợp và tôi cùng đứng bên bờ biển Non Nước, chia nhau điếu thuốc, ngụm cafe đựng trong cái ca nhôm nhà binh, cafe không đường, miệng chúng tôi đang đắng nghét, càng đắng thêm. “Hôm qua”, sau khi nghe “Đại Tướng Tổng Tư Lệnh Quân Đội” ra lệnh bắt chúng tôi buông súng, thì từ anh cả là Đại Tá Tư Lệnh Phó đến chú em út Binh Nhì đều ngửa mặt lên trời nuốt nước mắt rồi kêu thầm: “mất nước rồi”!

“Mất nước là mất tất cả”, mà thời gian trôi qua quá nhanh, “hôm qua và hôm nay”, cách nhau 40 năm mà như chỉ cách nhau “24 giờ phép, 4 giờ đi lại thêm 4 giờ về” nên chúng tôi, những cựu quân nhân có làm được gì đâu! Sau những năm tháng tù đày và “kéo cày” trên mảnh đất tạm dung đầy sỏi đá về ngôn ngữ. “Chí tuy còn mong tiến bước, nhưng sức không kham nổi đoạn đường” nên còn chút hơi để thở, để nói, “talk ony” là quý lắm rồi. Chúng tôi nói với chính mình, nói với các bạn đồng minh và nói với con cháu, gọi là thế hệ thứ hai, thứ ba.

1/ Nói Với Chính Mình:

Ai đã từng là quân nhân, đã đội trên đầu câu: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”, đã đưa cao tay thề nơi vũ đình trường thì thời gian, không gian nào, dù “giấy rách cũng phải giữ lấy lề”, nên đại đa số các cựu quân nhân đã, đang và sẽ cùng với cộng đồng người Việt tỵ nạn xây dựng một xã hội mới. “Chúng ta đi mang theo quê hương” nên từ văn hóa, chính trị, kinh tế đang lớn nhanh trên đất tạm dung này.

Những cộng đồng gốc Á Châu khác, họ đã đến Mỹ hẳng trăm năm trước, đến từ lúc là công nhân làm đường rầy xe lửa cho người bản xứ đi tìm vàng nên họ có China Town, Korean Town, Japan Town v.v.. chúng ta vừa mới chân ướt, chân ráo đến đây trong hoàn cảnh chạy giặc mà Quốc Kỳ VNCH đã tung bay khắp nơi, đã có Little Saigon, tuy chưa nhiều, nhưng rồi sẽ có nhiều. Mua một căn nhà cũng cần thời gian 30 năm mới trả xong nợ. Chỉ mới có 40 năm mà chúng ta đã xây dựng được một cộng đồng người Mỹ gốc VN như thế là đáng hãnh diện rồi. Mỗi người tỵ nạn xin xét mình để góp sức vào sự thành công này.

2/ Nói Với “Đồng Minh”:

Thành phần phản chiến đi với tuyên truyền của VC đã khiến một số người dân, giới chức Hoa Kỳ hiểu lầm về cuộc chiến đấu chính nghĩa của chúng ta và hậu quả là những gì thì ai cũng biết, điều nguy hiểm hơn nữa là sách báo nói láo của VC tiếp tục chui vào “quần” chúng Mỹ.

Thầy Dan, giáo sư dạy Sử về chiến tranh Việt Nam ở Shoreline Communit College, WA, ông cứ theo sách trong thư viện mà dạy, mà ca tụng HCM và CS, bởi vì chúng ta chưa nói cho họ biết sự thật. Khi có học viên là một cựu quân nhân gốc Việt mang những vết thương trên người ra chứng minh rằng sách báo VC nói láo thì ông giáo sư Dan mới tin.

Vì vậy, mọi công dân VNCH, mọi nơi, mọi lúc, nên nói và phải nói cho các bạn “đồng minh” biết sự thật. Có nhiều người đã, đang làm điều đó, dù công khai hay âm thầm, từ trường học đến sở làm và kết quả rất đáng mừng, những người hiểu lầm đã dần dần tỉnh ngộ.

Về văn học, đã có rất nhiều sách viết về chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa, về tội ác VC đã được các nhà văn nhà báo Hoa Kỳ đọc và dịch sang tiếng Mỹ để phổ biến khắp nơi, một trong những thí dụ điển hình là cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” của nhà văn Nhã Ca đã được Indiana University Press chuyển ngữ thành “Mourning Headband For Hue”.

Đã có biết bao người Việt tỵ nạn nói với “đồng minh” cho họ hiểu sự thật về cuộc chiến VN, vì sao chúng ta có mặt tại đây. Tôi xin nêu ra một vài trường hợp cụ thể.

Người đồng minh Hoa Hỳ từng chiến đấu bên cạnh quân đội VNCH thì sau 40 năm họ càng gắn bó thêm với đơn vị xưa. Một tấm hình thay cho ngàn lời nói, tấm hình các cựu quân nhân Hoa Kỳ sát cánh cùng các cựu BĐQ/VN dương cao Quốc Kỳ Việt Mỹ trong các buổi họp mặt hằng năm mà họ gọi là: “Together Then Together Now”.

Với TQLCVN thì các cựu cố vấn Mỹ, trong đó có các đại úy Sheehan và Hoar, sau này các ông là đại tướng 4 sao, chúng tôi vẫn “nói” với nhau nên càng ngày họ càng hiểu, càng nể phục TQLC, nói riêng, và quân đội VNCH nói chung. Thomas Campbell, cựu cố vấn TĐ2/TQLC sau khi về Mỹ, ông dạy môn lãnh đạo và chỉ huy tại Đại Học Austin Texas và viết sách. Trong tựa đề một cuốn sách, Đại Tá hồi hưu Thomas Campbell đã nói các TQLCVN Lê Hằng Minh, Nguyễn Thế Lương, Ngô Văn Định, Nguyễn Xuân Phúc là “ my best teachers”, ông ta viết như sau:

In November 1965 when I was assigned as an advisor to the Vietnamese Marines. I thought that I would make them better Marines, but in the final analysis they made me a better Marine. I learned things from them that are not taught in American military schools. My best teachers were Major Le Hang Minh, Major Nguyen The Luong, Major Dinh Van Ngo, Captain Nguyen Xuan Phuc and Minh’s ever faithful bodyguard.

This is the story and the lessons.

Co van My
Tom Campbell
(Austin, Texas)


* * *


Các cựu quân nhân hai quốc gia hiểu nhau, đến với nhau đã là quý, nhưng qua lời nói và hành động của mỗi người dân tỵ nạn khiến người dòng chính cảm phục mới là điều có ý nghĩa. Người anh em của tôi, Phạm Lương, tâm sự trong bài viết: 15 Năm Làm Worker Cho Tiểu Bang.

Xin trích: Muốn làm công chức bình thường, không khó, nhưng muốn được những worker khác và supervisor hay Director thay đổi thái độ đối với mình, cần phải có thời gian và cách cư xử. Từ worker A&B thành worker C bình thường phải cần từ 15-20 năm trong nghề, tôi đã trở thành worker C trong khoảng 3 năm. Công việc của worker C là Homeless Coordinator, là công việc nhiều người phải lắc đầu, vì hàng ngày họ phải làm việc với nhóm người “tận cùng bằng số, không còn gì để mất”, họ không có chỗ ở, không có tiền, nhưng khổ một nỗi, họ tự cho là dòng chính, họ nhìn tôi vẫn chỉ là một người thiểu số Á Châu.

Tôi không đủ thâm niên khi làm Homeless Coordinator, nhưng do khả năng làm việc và cách cư xử đã khiến cấp trên, đồng nghiệp, và cả những “homeless” dần dần dành cho tôi sự quý mến và cảm phục. Bà Harriette Harris, Director of Boston Family Housing, phỏng vấn tôi vì sao tôi lại có khả năng như thế? Tôi trả lời, là một cựu quân nhân VNCH, tôi từng chiến đấu cho sự thật và bảo vệ tự do, tôi đem kinh nghiệm đó vào nhiệm vụ của một Homeless Coordinator.

Bà Harriette Harris thực sự đã hiểu thế nào là người Việt tỵ nạn CS, bà ta hứa chuyển tôi lên một nhiệm vụ khác cao hơn, khó hơn và dĩ nhiên quyền lợi cũng thay đổi, bà ấy nói:

- Hi. Mr. Pham. I offer you a new Job Interview on.. at… Are you ready for the interview. You are the first one I pick from the list.

Tất nhiên, tôi sẵn sàng, 3 ngày sau cuộc Job Interview, bà ta lại nói:

- Mr. Pham. Congratulation. I offer you the job. Are you ready to work.

- Thank you very much for the job. I am always ready.

- I know that from the beginning of the interview. (She laughs) (hết trích).

Một anh em kết nghĩa khác, Vương Mộng Long, ghi danh học lớp History 274 “U.S. and Vietnam” với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào? Từ đó, hy vọng biết được phần nào, nguyên nhân vì sao, giữa đường, Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam, vì sao chúng ta đã thua trận. Nhưng gặp ông giáo sư dạy sử phản chiến, mỗi khi nói tới phong trào Việt-Minh, ông ca tụng HCM như một lãnh tụ, ông nói những phần có lợi cho VC. Đã có đôi lần Long dơ tay nêu ý kiến, thì ông chỉ cười, chỉ tay vào quyển Sử: “Book said!”. Nhưng với quyết tâm nói cho “đồng minh” biết sự thật, Long đã trình bày cho ông nghe những gì Long sống và chiến đấu, cuối cùng ông phải phục người cựu quân nhân VNCH.

Xin trích đoạn bài viết: “Ông Giáo Sư Dạy Sử” của Vương Mộng Long:

Thưa giáo sư. Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua. Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không Thầy Dan niềm nỡ:

- Dĩ nhiên là được. Ông có điều gì cần cứ nói.

- Thưa giáo sư, tôi là một người Việt-Nam tỵ nạn. Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Đội VNCH. Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên, thầy có nhắc đi, nhắc lại rằng, phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B52 trên Cao Nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia-Drang...

Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia-Drang qua báo chí, truyền thanh, và truyền hình. Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó, đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó, đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó. Trong số những người nằm xuống ấy, không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy. Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày, vì nền độc lập của đất nước tôi, và vì quyền lợi của nước Mỹ.Thầy chưa từng khoác áo nhà binh, chưa một lần có mặt trên chiến trường. Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến, thế nào là lòng khát khao chiến thắng, thế nào là tình huynh đệ chi binh...

Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn 20 thương binh của BĐQ/VNCH phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ, trong đó có hai người bị trọng thương, và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu. Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa-Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc, bóp méo tất cả những có liên quan tới nguyên nhân, diễn tiến, và hậu quả của cuộc Chiến-Tranh Việt-Nam...

Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng, thiếu tinh thần chiến đấu, mà vì người Mỹ đã phản bội, nửa đường rút quân, cắt viện trợ. Từ khi người Mỹ rút lui, chúng tôi bị bó chân bó tay, bụng đói mà vẫn phải chiến đấu. Trong khi đó, Miền Bắc lại tràn ngập lương thực, quân dụng, quân nhu, và vũ khí viện trợ từ khối Cộng...

Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy, chúng tôi đã hy sinh như thế đấy, và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy. Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến, trong đó có thầy, lại xuống đường tranh đấu, cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi, và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ? Thầy ơi! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù, đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy...

Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ:

- Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.

Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư, lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Trước mắt tôi, ông đã thành một người bạn đồng minh, ông đưa bàn tay ra cho tôi bắt:

- Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công! (hết trích)

3/ Nói Với Thế Hệ Thứ Hai, Thứ Ba.

Nói với chính mình, nói với “đồng minh” chỉ là để ôn chuyện cũ, “giấy rách phải giữ lấy lề”, còn nói với thế hệ thứ hai, thứ ba mới là chuyện quan trọng, chuyện tương lai cho cộng đồng Việt trên đất tạm dung hay cho chính quê hương VN không còn Việt Cộng.

Khi người bạn gọi tôi là thành viên “NATO”, tôi bảo chỉ cần nhìn thế hệ thứ hai làm tướng là sướng rồi, đó là Tướng Lương Xuân Việt. Truyền thông đã nói nhiều về vị Tướng gốc Việt đầu tiên này rồi nên tôi không cần nói gì nữa, nếu cần thì tôi xin thêm thân phụ của Tướng Xuân Việt là TQLC Lương Xuân Đương đã nói với con bằng chính hành động của mình, của một người lính.

TQLC Lương Xuân Đương đã “đi xa”, không thể đến tham dự ngày vui của con, và Lương Xuân Việt không còn dịp kính tặng cha nụ cười hạnh phúc, nhưng bù lại, đã có các TQLC là bạn của bố Đương đến chúc mừng Việt: “con hơn cha là nhà có phúc”. Tướng Việt hạnh phúc, cười vui mãn nguyện khi thấy các bộ quân phục TQLC của bố đến tham dự ngày Việt làm tướng.

Một tuổi trẻ khác đang là cấp chỉ huy trên chiến hạm USS Carl Winson 70, với chức vụ là Navy Commander, AIMD Aircraft Maintenance đó là Hải Quân Đại Tá Paul Long My Choate.

Truyền thông Mỹ Việt đã nói nhiều về Hải Quân Đại Tá Long Mỹ rồi. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là ít ai biết Long Mỹ là thế hệ thứ ba, anh đã thừa hưởng từ ông ngoại lòng dũng cảm, tận tụy với nhiệm vụ và rồi ông ngoại hy sinh vì nhiệm vụ. Ông ngoại của Long Mỹ là một phóng viên chiến trường trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, ông đã hy sinh trong trận chiến Mậu Thân đợt hai. Xin chúc Long Mỹ sẽ là vị tướng gốc Việt thứ hai trong quân đội Hoa Kỳ để ông ngoại mỉm cười nơi chín suối.

Tôi xin nói thêm một thí dụ nữa về thế hệ thứ hai đã noi theo gương cha. Giấc mơ của chúng tôi khi còn là SVSQ trường Võ Bị là được tuyển chọn đi học Westpoint như một vài đồng môn khác, nhưng lực bất tòng tâm, nên sau khi định cư tại Hoa Kỳ, Trương Khương khuyến khích các con vào Westpoint, và “hổ phụ sinh hổ tử”, Trương Vũ và em gái là Trương Nha Trang đều tốt nghiệp Westpoint, còn Trương Quân tốt nghiệp Air Force Academy.

Ngoài những sĩ quan Mỹ gốc Việt trên đây, chúng ta còn rất nhiều thế hệ thứ hai trong quân đội Hoa Kỳ với nhiều cấp bậc và chức vụ khác nhau, trong đó có con cháu của những TQLC Đoàn Trọng Cảo, Nguyễn Văn Diễn, Phạm Văn Tình, BB Quan Văn Kính, Nguyễn Phước Ái Đỉnh, KQ Võ Phi Hổ v.v.. đã đang phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ hoặc đã giải ngũ để tiếp tục con đường học vấn.

Người Việt tỵ nạn CS cần có một thống kê về số con em gia nhập quân đội Hoa Kỳ, cần có và phổ biến tài liệu về những quân nhân Mỹ gốc Việt đã hy sinh trên chiến trường. Đó là những trang sử anh hùng, những thành quả và đóng góp đáng ghi nhớ của người Việt trên đất Mỹ sau 40 năm tỵ nạn. Tôi đề nghị Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt, trong đó có các luật sư đang hành nghề vốn là các cựu quân nhân nên lưu ý đến trang sử này, hoặc trang Viết Về Nước Mỹ (VVNM) của nhật báo Việt Báo.

Ngoài những đóng góp về quân sự, còn có biết bao con cháu chúng ta tham gia và thành công trong nhiều ngành nghề khác nữa. Có rất nhiều “quan tòa” và luật sư gốc Việt mà truyền thông nhắc tới, nhưng cũng có những luật sư âm thầm làm việc nghĩa, tôi xin đơn cử một vài trường hợp.

Anh chị KQ Joseph - Đàm Kim mời tôi đến tham dự lễ tốt nghiệp của 2 con, tôi thấy nổi bật trong đám đông mũ tốt nghiệp của các tân khoa là hai cái mũ có chữ “FOR DAD” và “FOR MOM” cháu gái Vân Anh tặng bố Joseph-To, cháu trai Quốc Anh tặng mẹ Đàm món quà quý báu. Điều tôi muốn nêu ra ở đây là do bố làm việc thiện khiến hai cháu chưa vội mưu sinh mà tình nguyện làm việc nghĩa theo gương bố trước đã.

Ít ai biết bố các cháu vừa làm việc vừa tích lũy các lon nhôm, chai nhựa rồi mang bán cho các chỗ mua đồ “recycle”, cứ mỗi 3 tháng, anh gom bạc cắc thu được rồi ký chi phiếu gửi tận tay lão Bà Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội H.O để giúp anh em thương binh, vì vậy hai cháu theo gương bố, tình nguyện làm “Public Defender”. Các cháu luôn tìm mọi dịp để tiếp xúc, tìm hiểu tâm tư của các nghi can, đặc biệt là các nghi can thanh thiếu niên gốc Việt.

Các cháu đang làm việc tại Sacramento, nhưng các “thân chủ” nào ở vùng Quận Cam, nếu cần thì có thể vào website sau đây để tham khảo với các luật sư Pubdef gốc Việt.

Luật sư Vân Khanh, ái nữ của TQLC Lê Nguyên Khang thì lại dấn thân vào việc tìm sự sống cho cho các bệnh nhân bị ung thư máu. Tôi đã nhiều lần gặp cô cùng các bạn trẻ trong những địa điểm hội chợ y tế để kêu gọi “đồng hương giúp đỡ đồng hương”, xin đồng hương cho một tí “nứơc bọt” để may ra, trong hằng chục ngàn người sẽ có người cùng tế bào tủy với bệnh nhân để mà cứu sống những người đang chờ thần chết. Còn gì cao quý cho bằng?

Cùng một nghĩa cử đối với bệnh nhân ung thư, cháu Xuân Dung, ái nữ của nhà văn CXH, sau khi bố ra đi vì bệnh ung thư mắt, cháu đã dồn tâm sức chạy bộ để gây quỹ giúp tổ chức Ocular Melanoma Foundation (OMF) tài trợ các cuộc khảo cứu nhằm tìm ra phương thức điều trị tốt hơn và hy vọng có được cách chữa được chứng ung thư này. Thư của cháu gửi bố:

Bố Yêu Quý.

Con dự cuộc chạy bộ này cho bố. Con chạy cho bố vì sự chịu đựng, quyết tâm, và nhất là nỗi đau đớn (của cuộc chạy đường dài này) nhắc con nhớ lại sức mạnh và ý chí của bố khi phải đối diện với một điều kinh khủng và hoàn toàn mù mờ lúc đó. Lời chẩn đoán của bác sĩ là một cú shock cho bố và con, vì mình hoàn toàn không biết mức độ của nó như thế nào. “Choroidal Melanoma” là hàng chữ mình đọc trong kết quả thử máu, nhưng bố và con, mình chỉ biết hỏi nhau và tự hỏi: “ung thư mắt?”, “dữ vậy sao?”. Chúng ta chẳng biết gì hết, Bố cũng chẳng biết bệnh tình mình thế nào nữa.

Con ước gì lúc đó mình biết nhiều hơn thế, con ước gì lúc đó bố có nhiều cách chữa trị để lựa chọn, con ước gì lúc đó có cách chữa bệnh cho bố…

Vì vậy, cuộc chạy này của con là để cho bố. Con chạy cuộc đua này để ủng hộ cho tổ chức đang nỗ lực tìm ra cách chữa trị căn bệnh đó. Con biết là bố sẽ hãnh diện khi biết con bố làm chuyện này. Mỗi ngày con tìm thấy phấn khởi và động lực trong cuộc sống từ bố và cuộc đời bố đã sống. Con biết là bố lúc nào cũng bên con, và con biết là bố sẽ có mặt ở đó khi con vượt đích đến của cuộc đua,

Con yêu bố.
Bé Xuân Dung


Một cháu gái khác, vì muốn dấu tên và việc mình làm nên tôi gọi cháu là Trần Như Tiên. Như Tiên đã sớm biết theo gương ông nội và bố Trần Như H.. mà đem tình thương gieo khắp nơi, cháu cổ động phong trào làm đẹp cho đời bằng cách nhờ bố cầm “tông-đơ” hớt trọc để lấy tóc của mình làm tóc gỉa rồi đem tặng cho các bệnh nhân đang điều trị ki-mô. Chỉ có những phụ nữ mới hiểu giá trị của mái tóc, mới hết ý nghĩa cao quý của cháu Như Tiên. Thấy con đầu trọc, không tóc, bố khóc vì sung sướng, thấy con đẹp như tiên nữ, hạnh phúc quá, bố ôm con vào lòng, nghẹn lời không nói.

Các cháu biết hy sinh chuyện riêng tư để nghĩ đến tha nhân thì đó là những tấm gương sáng cho đời noi theo. Gương sáng không nên cất trong tủ để soi một mình mà hay đưa cho mọi người soi chung, làm đẹp chung.

Học giỏi và thành công của tuổi trẻ gốc Việt thì đông lắm, nhiều lắm, vì nhiều lý do, các cháu còn phải lo chuyện riêng tư cũng là điều hợp lý, nhưng quý biết bao những tấm gương tuổi trẻ mà tôi vừa nêu trên. Nhưng sẽ thiếu sót nếu chúng ta không nhắc tới tuổi trẻ đang tiếp bước cha ông để tham gia vào dòng chính, tranh đấu tự do cho Việt Nam.

Trong các buổi lễ cộng đồng tại Nam CA, hẳn độc giả thường thấy một toán thanh thiếu niên trong quân phục TQLCVN rước Quốc Quân Kỳ, kể cả nghi lễ chào kính và biểu tình chống Cộng, các buổi gây quỹ cho thương binh VNCH và ủng hộ tuổi trẻ trong nước đấu tranh cho tự do dân chủ, thưa... đó là thế hệ thứ hai, thứ ba của TQLCVN, các cháu YM (Young Marines). Trong số này có cháu đã tốt nghiệp ngành luật, ngành y. Chim đầu đàn YM là cháu Thu Hà, ái nữ của TQLC Định Nguyên. Các cháu đang là những mầm non để nối tiếp anh chị đi trước, để làm đẹp cho cộng đồng tỵ nạn gốc Việt.

Trong lãnh vực chính trị, tuy chỉ mới 40 năm mà nhiều tuổi trẻ gốc Việt đã đang là những vị dân cử, đó là niềm hãnh diện, không riêng cho cộng đồng người Việt hải ngoại, mà ngay cả báo chí trong nước cũng loan tin, người Việt trong nước cũng không tiếc lời khen ngợi và chúc mừng các vị dân cử này thành công.

Trong mùa bầu cử tháng 11/2014, riêng tại Orange County, CA, tuổi trẻ gốc Việt đã mang hết tâm huyết vào một cuộc tranh cử với những ứng cử viên kỳ cựu dòng chính và tuổi trẻ gốc Việt đã thắng, đã là Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang, là 3 Thị Trưởng và nhiều nghị viên thành phố, ủy viên giáo dục. Đáng chú ý là em Nguyễn Bảo đã đắc cử Thị Trưởng Garden Grove, hơn cựu thị trưởng chỉ có 15 phiếu. Điều này nhắc cho những ai là người Mỹ gốc Việt hãy quyết tâm đi bầu cử. Mỗi lá phiếu của người Mỹ gốc Việt là tiếng nói mạnh nhất của chúng ta đối với dòng chính, dù cho không biết nói tiếng Mỹ. Có quyền nói mà chúng ta từ chối thì hóa ra ngọng, chúng mong gì người khác nói thay hay làm điều hữu ích cho chúng ta!

Nước Mỹ là môi trường lý tưởng cho tuổi trẻ tiến thân, mới chỉ trong thời gian ngắn, gần 40 năm mà thế hệ thứ hai thứ ba đã đạt được những thành quả đáng khâm phục thì chúng ta cứ vững tin ở các em. Các em không những sẽ đưa cộng đồng Việt tiến xa hơn nữa, tham gia dòng chính nhiều hơn nữa mà sẽ đem tự do, dân chủ, dân quyền về quê hương Việt Nam.

Hiện nay, nước Mỹ là nơi có số sinh viên ngoại quốc đến học tập đông nhất, trong đó có hơn 16 ngàn sinh viên đến từ Việt Nam. Dù cho họ xuất thân từ nguồn gốc giai cấp độc tài, nhưng họ đang sống và học tập trong môi trường tự do dân chủ thì chính thành phần này sẽ là người đóng đinh đậy nắp quan tài CSVN.

Tuổi trẻ ngưởi Mỹ gốc Việt, tuổi trẻ trong nước du học Hoa Kỳ sẽ là những người cất những cái bình vôi độc tài đảng trị vào gốc cây đa để nứơc Việt chúng ta sạch sẽ bóng bọn xâm lăng phương Bắc. Hãy tin vào tuổi trẻ, dù ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ mà Việt Nam vẫn là Việt Nam thì ngày nay, tuổi trẻ Việt, tự do, dân chủ, văn minh học được từ Mỹ thì đừng lo bọn phương Bắc xâm lăng.

Nhiệm vụ chúng ta, những người đi trước hãy nói cho tuổi trẻ biết việc chúng ta đã làm, làm dang dở trong 40 năm qua để họ tiếp tục.

Nói với “đồng minh”, tôi xin mựơn câu nói của ông Dan, giáo sư dạy sử của Shoreline Community College nói với một học trò cựu quân nhân gốc Việt:

- Từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông.


Để kỷ niệm 40 năm tỵ nạn, người viết xin cám ơn cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cám ơn tuổi trẻ “Vẻ Vang Dân Tộc Việt” về những thành quả mà chúng ta đã đạt được để hy vọng và tin tưởng rằng tương lai tuổi trẻ gốc Việt sẽ là những dân biểu và thượng nghị sĩ Liên Bang, những thống đốc. Tuổi trẻ hải ngoại là hậu phương vững mạnh yểm trợ tuổi trẻ trong nước để đuổi bọn xâm lăng Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam.

Philato
(Nguyệt San Việt Nam)

Edited by user Friday, December 5, 2014 2:19:34 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked Mén for this useful post.
tý xưng on 12/5/2014(UTC), Ngọc Anh on 12/7/2014(UTC)
Mén  
#1034 Posted : Saturday, December 6, 2014 1:10:49 PM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Vẫn Còn Đây Các Con Của Mẹ

UserPostedImage

Sáng tác Nguyệt Ánh & Việt Dzũng
Trung Tâm Asia trình bày


Vẫn còn đây vẫn còn đây các con của mẹ
Vẫn còn đây vẫn còn đây các con của cha
Con sẽ về bằng trọn thân xác
Con sẽ về bằng hồn phách linh thiêng
Từ dòng Cửu Long lên đỉnh Trường Sơn
Từ lòng đại dương đến chân trời quê hương
Trăm con từ khắp tang thương quay về
Như ngày nào cùng bọc mẹ ra đi

Vẫn còn đây vẫn còn đây giống dân Tiên Rồng
Vẫn còn đây vẫn còn đây cháu con Lạc Long
Năm mươi người cùng mẹ lên núi
Xây bưng biền lập chiến đấu tranh
Còn năm mươi người vượt đại dương
Nguyện cùng cha quyết xây lại quê hương
Trăm con cùng chung góp máu đào
Từ Động Đình về tận miền Cà Mau

Hẹn gặp lại anh trong một ngày mới
Hẹn gặp lại em trong một ngày vui
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi
Hẹn gặp mẹ cha trong ngày hội lớn
Hẹn gặp lại nhau trong ngày Việt Nam
Là ngày giải phóng nước non rạng ngời
Là ngày hạnh phúc thanh bình ngàn nơi


Vẫn còn đây vẫn còn đây trái tim Diên Hồng
Vẫn còn đây vẫn còn đây máu xương Việt Nam
Con không hờn dù đời cay đắng
Tâm không sờn dù lòng trắng khăn sô
Còn hồn Việt Nam là còn niềm tin
Còn người Việt Nam sẽ có ngày quang vinh
Trong đêm trường phục sẵn mặt trời
Mai bình minh về rồi Việt Nam ơi!

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 12/7/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1035 Posted : Wednesday, December 24, 2014 6:33:33 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
[img]
UserPostedImage

Chúc Anh chủ nhà, quí ACE vãng lại Trang Lính cùng gia đình

Giáng Sinh Bình An

Năm mới Tốt Lành


Angel

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Ngọc Anh  
#1036 Posted : Wednesday, December 24, 2014 6:34:34 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)

UserPostedImage

Chúc anh chủ nhà, quí ACE vãng lai Trang Lính , cùng gia đình

Giáng Sinh Bình An

Năm mới Tốt Lành


Angel

Edited by user Friday, January 9, 2015 6:29:12 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Xích Hùng on 12/29/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1037 Posted : Friday, December 26, 2014 4:58:25 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
CAO ĐẮC TUẤN

"CĂN NHÀ NGOẠi Ô


UserPostedImage


Cao-ĐắcTuấn (Danlambao) - Tóm lược: Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác ca khúc "Căn nhà ngoại ô" kể một chuyện tình trong thời chinh chiến giữa một chàng trai sống trong căn nhà ngoại ô và một cô bạn hàng xóm trẻ. Câu chuyện có vẻ chỉ là một chuyện tình xa cách của hai người yêu nhau, nhưng thực ra chất chứa một tình yêu cao thượng và lòng hy sinh vĩ đại. Tác giả gói ghém ý tưởng qua lối diễn tả bình dị, bằng cốt truyện dựa vào nhân vật thay vì tình tiết, và dẫn đến cực điểm sắp xếp một cách táo bạo với kết cục tuyệt diệu.

*

Nhạc sĩ Anh Bằng viết ca khúc "Căn nhà ngoại ô" vào năm 1966 về một chuyện tình thời chinh chiến. Bài hát không phải là bài được ưa chuộng nhất trong những bài ông sáng tác, nhưng cũng rất được ưa thích vì nó nói lên tính chất bình dị của một cuộc tình giữa hai người trẻ vì quê hương phải xa nhau. Tuy nhiên, ít người nhận ra ý nghĩa sâu xa của bài hát vả do đó bài hát không được đón nhận tích cực như những bài hát khác của ông.

Sau đây là tiểu sử vắn tắt của tác giả.

Anh Bằng tên thật Trần An Bường, sinh năm 1926 tại Thanh Hóa. Vì gia đình anh em ông chống Việt Minh, vào thời kỳ Kháng Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam ở trại Lý Bá Sơ. Các anh em ông bị tuyên án tử hình nhưng sau được thả, riêng người anh Trần An Lạc bị Việt Minh thủ tiêu. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn cho đến năm 1975 (Wikipedia 2014).

Trong thời kỳ 1954 - 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như "Nỗi lòng người đi" (đanh dấu cuộc di cư vào Nam), "Nếu vắng anh," "Hoa học trò," "Người thợ săn và đàn chim nhỏ" rất thịnh hành trong giới yêu nhạc.

Ông gia nhập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) năm 1957 ngành Công binh, sau chuyển sang Nha Chiến tranh Tâm lý cho đến năm 1962 thì ông giải ngũ. Cũng trong thời gian trong quân đội, ông là đạo diễn cùng là diễn viên trong ban kịch Liên đoàn Công binh lưu diễn từ Quảng Trị vào Bình Định. Sau khi giải ngũ ông tiếp tục hoạt động trên đài truyền thanh, phụ trách ban Sóng Mới (sđd.).

Cũng vào thời gian hoạt động ở Sài Gòn, Anh Bằng hợp tác trong nhóm Lê Minh Bằng (tên ghép từ ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, và Anh Bằng), quản lý nhà xuất bản và hãng đĩa Sóng Nhạc. Quán cà phê Làng Văn nổi tiếng một thời ở Sài Gòn cũng do ông tổ chức. Năm 1975, Anh Bằng cùng gia đình đi tỵ nạn cộng sản qua Mỹ, và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassette Dạ Lan (1981-1990). Thời gian sau này ông cộng tác với Trung tâm Asia và vẫn tiếp tục sáng tác.

Nguyên văn lời bài hát "Căn nhà ngoại ô" như sau (Nhạc Việt trước 75).

Tôi ở ngoại ô, một căn nhà xinh có hoa thơm trái hiền
Gần kề lối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn
Hai đứa chưa ước hẹn lấy một câu, chưa nghĩ đến mai sau
Nhưng đêm thức giấc ngỡ ngàng
Nghe lòng thương nhớ biết rằng mình yêu

Khi hiểu được nhau, thời gian gần gũi đã qua đi mất rồi
Nào còn những phút hái hoa vườn trăng suốt đêm chung tiếng cười
Tôi bước theo tiếng gọi những người trai, tha thiết với tương lai
Vui xa ánh sáng phố phường, xa người em nhỏ lên đường tòng chinh.

Là chinh nhân tôi bạn với sông hồ
Tình yêu em tôi nguyện vẫn tôn thờ
Và yêu không bến bờ
Niềm tin là một ngày mai non nước chung một màu cờ

Rồi hôm nao tôi về ghé thăm nàng
Ngoại ô đây con đường tắm trăng vàng
Mà sao không thấy nàng
Tìm em, giờ tìm ở đâu! Sao không gắng đợi chờ nhau

Tôi hỏi người quen... Nàng nay là Nữ Cứu Thương trên chiến trường
Dặm ngàn sóng gió, biết sao nàng vui dấn thân trên bước đường
Tôi đứng nghe gió lạnh giữa màn đêm, thương xé nát con tim
Em ơi, trái đất vẫn tròn,
Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!




Trong bài này, tôi sẽ trình bày nhận xét về nội dung và hình thức của "Căn nhà ngoại ô." Ngoài ra, như trong các bài viết về âm nhạc trước, tôi sẽ chú trọng thảo luận chi tiết về các khía cạnh văn chương của lời nhạc. Tôi dùng "khán giả" để chỉ người nghe, người đọc, và người xem.

Trước khi đi vào chi tiết bài hát, ta nên biết sơ qua về Nữ Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) để giúp cho sự hiểu biết rõ thêm về ý nghĩa của bài hát.

A. Nữ quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:

UserPostedImage

"Những nữ quân nhân của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có lẽ là những người bị lãng quên nhiều nhất và không được đề cập chút xíu nào trong chiến tranh Việt Nam. Ngày nay, nhiều người thuộc thế hệ sau không biết sự hiện hữu của họ trong Quân đội VNCH, những đóng góp và hy sinh của họ trong sự bảo vệ miền Nam Việt Nam" (VNAF).

Trước ngày 30 tháng 4, năm 1975, quân số nữ quân nhân trên lý thuyết là 10,000 người và đã thực hiện được trên 6,000. Riêng về sĩ quan thì có khoảng 600 kể cả cấp Chuẩn Úy (Hồ; Nguyen 2009, 60-62). Nữ quân nhân hoạt động trong các ngành truyền tin, tham mưu hay trong những nghề chuyên môn như y tá, nha tá, dược tá, chuyên viên thí nghiệm, tiếp huyết và các nữ điều dưỡng trong quân đội, giáo dục cho các cô nhi của tử sĩ.

Thành lập vào năm 1965, văn phòng trưởng đoàn Nữ Quân Nhân và Trung Tâm Huấn Luyện đặt tại đường Nguyễn Văn Thoại, trước đài Phát Tuyến ngay trên ranh giới quận 10 và quận 11 Saigon, nay là đường Lý Thường Kiệt.

Trung Tâm Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đảm nhận việc tuyển mộ phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, tình nguyện gia nhập quân đội và huấn luyện căn bản quân sự như về tổ chức quân đội, cơ bản thao diễn v.v… Nhiệm vụ Nữ Quân Nhân là không tác chiến nên chỉ được học ít giờ làm quen với vũ khí do Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đảm nhận (Hồ).

Sau phần căn bản quân sự, tùy nhu cầu quân số do bộ TTM ấn định, khóa sinh tốt nghiệp sẽ được thụ huấn chuyên môn tại các trường Tổng Quản Trị, trường Quân Y, trường Hành Chánh Tài Chánh, trường Quân Nhu, trường Xã Hội v.v... Trường Xã Hội Quân Đội thuộc Cục Xã Hội (Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị), tọa lạc trong Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô nằm trên đường Lê Văn Duyệt. Trường Xã Hội Quân Đội còn đào tạo huấn luyện những cô giáo nhà trẻ mẫu giáo để phục vụ tại trung tâm, trường học ở khu gia binh do quân đội xây cất (OVV 2009).


B. Ca khúc "Căn nhà ngoại ô" kể một câu chuyện tình trong thời chiến với ý nghĩa cao quý.

"Căn nhà ngoại ô" nói về chuyện tình hai người trẻ trong thời chinh chiến. Khác với các chuyện tình thời chiến khi người trai ra đi tòng quân để lại người yêu nơi hậu phương, trong "Căn nhà ngoại ô" cả hai đều gia nhập quân đội để phục vụ đất nước. Câu chuyện mới thoạt nghe là chuyện tình bình thường trong thời chiến, nhưng thực ra là một chuyện tình cao quý với ý nghĩa huy hoàng.

Nhan đề bài hát nói lên nơi mối tình hai người nẩy nở, căn nhà của chàng trại tại một vùng ngoại ô thành phố. Chàng trai sống trong một căn nhà nhỏ xinh xắn vùng ngoại ô, có vườn trồng hoa và cây ăn trái ("Tôi ở ngoại ô, một căn nhà xinh có hoa thơm trái hiền.") Ta không rõ ngoại ô đó là với thành phố nào. Tuy nhiên, qua hình ảnh êm ái thanh bình và an ninh của cuộc sống, ta có thể hiểu đây là vùng ngoại ô của một đô thị lớn tại miền Nam Việt Nam, rất có thể là Sài Gòn. Nhạc sĩ Anh Bằng sống ở Bà Chiểu, coi như là ngoại ô của Sài Gòn và quen thuộc với nhà cửa cuộc sống ở đó.

Chàng trai có một cô bạn thân ở gần nhà. Cô gái là người chăm chỉ học hành. ("Gần kề lối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn.") Tuy không cho biết, ta có thể hiểu hai người là bạn học chung trường qua chi tiết "thân" và "sớm hôm lo sách đèn." Tuy nhiên chi tiết này không quan trọng. Hai người có thể là bạn thân vì lý do hàng xóm qua lại. Ngoài ra, chắc cả hai đang học lớp đệ nhị hoặc đệ nhất (lớp 11-12) vì trong khoảng năm 1966, hai kỳ thi Tú Tài I và II vẫn còn. Thông thường, học sinh thức khuya dậy sớm học hành khi vào những năm thi cử.

Tình bạn giữa hai người là tình bạn trong trắng thuần túy bên ngoài và hai người không có ngỏ lời thương yêu gì với nhau, thề non hẹn biển, hoặc lo nghĩ đến chuyện tương lai, có thể là còn bận rộn chuyện học hành ("Hai đứa chưa ước hẹn lấy một câu, chưa nghĩ đến mai sau.") Tuy nhiên, chàng trai nẩy ra lòng thương yêu cô bạn gái, qua những đêm thức giấc nhung nhớ nàng ("Nhưng đêm thức giấc ngỡ ngàng/ Nghe lòng thương nhớ biết rằng mình yêu.")

Rồi cả hai có lời yêu thương với nhau. Tình bạn bây giờ trở thành tình yêu. Vấn đề này thực ra phức tạp hơn những gì bài hát cho biết. Khi chàng trai tỏ tình với cô gái, anh ta phải suy nghĩ kỹ lắm. Nếu cô gái chấp nhận tình yêu của chàng thì không nói làm chi. Nhưng nếu cô gái từ chối thì sao? Có thể cô ta chỉ muốn coi chàng trai như một người bạn và không phải là một người tình. "Thổ lộ tình yêu với bạn mình có thể đòi hỏi một lòng can đảm to lớn vì bạn có thể bị từ chối" (Hickson 2013) Nếu cô gái từ chối, liệu hai người có thể tiếp tục duy trì tình bạn được không? Ta thấy một khi cô gái biết chàng trai yêu cô, mà cô không yêu chàng, thì cả hai sẽ lâm vào cảnh khó xử. Rất khó mà chàng có thể rút trở lại thành tình bạn, vì như vậy là dối lòng. Cũng rất khó mà nàng đối xử với chàng như người bạn như xưa khi nàng biết chàng yêu nàng. Ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

Dù chàng có suy nghĩ kỹ hay không, sự việc xảy ra tốt đẹp. Nàng chấp nhận tình yêu của chàng, và nàng cũng yêu chàng. Lúc bấy giờ, giây phút hai người gần gũi bên nhau đã trôi qua. ("Khi hiểu được nhau, thời gian gần gũi đã qua đi mất rồi.") Những giây phút hai người vui đùa bên nhau hái hoa trong vườn suốt đêm trong quá khứ sẽ không còn nữa ("Nào còn những phút hái hoa vườn trăng suốt đêm chung tiếng cười.") Tại sao? Đó là vì chàng phải lên đường tòng quân gia nhập quân đội, xa rời thành phố và người yêu bé bỏng ("Vui xa ánh sáng phố phường, xa người em nhỏ lên đường tòng chinh.")

Tuy bài hát không cho biết, ta ngầm hiểu là khi hai người tỏ tình với nhau, họ chỉ cho nhau biết là họ yêu nhau, và cũng vẫn không hứa hẹn gì với nhau cả, vì không có lời cập nhật về "ước hẹn lấy một câu" hoặc "nghĩ đến mai sau." Chuyện đó cũng không lấy gì là bất thường, vì khi hai người nâng mối liên hệ lên một nấc, họ có thể chỉ cho cái tình cảm đó một cái tên mới, là "tình yêu" thay vì là "tình bạn" và do đó thực ra cũng không có gì thay đổi để phải có những hứa hẹn với nhau. Hai người có thể có những hứa hẹn ngầm mà không cần phải nói ra, thí dụ như trung thành với nhau, hoặc sẽ tiến tới hôn nhân. Tuy nhiên, ta thấy có một cái gì ngây thơ (naivety) trong tình yêu giữa hai người. Có thể nào họ tin nhau đến độ xa nhau mà không cần phải có lời hẹn ước. Nàng có thể tin tưởng chàng không quên nàng và ngược lại? Chi tiết này khá quan trọng khi câu chuyện diễn tiến sau đó. Trên thực tế, ta thấy cho dù có hứa hẹn nhau, lời hứa hẹn đó cũng không có gì bó buộc, vì tình cảm con người có thể thay đổi, nhất là khi xa mặt cách lòng. Cả hai, rõ ràng là còn trẻ tuổi và mới biết yêu lần đầu, chưa có kinh nghiệm trên tình trường. Do đó, họ không thấy sự cần thiết phải có lời ước hẹn hoặc toan tính cho mai sau.

Thế rồi, chàng trai ̣trở thành một chiến sĩ, đi đây đi đó ra chiến trường trận mạc, vui với núi non sông hồ ("Là chinh nhân tôi bạn với sông hồ.") Nhưng chàng lúc nào cũng tôn trọng tình yêu hai người. Cho dù không có lời hẹn thề, chàng còn yêu thương nàng vô bờ ("Tình yêu em tôi nguyện vẫn tôn thờ/ Và yêu không bến bờ.")

Có cái gì gắn bó tình yêu chàng với nàng một cách mãnh liệt. Đó là niềm tin đất nước không những sẽ hết chiến tranh mà lại còn được thống nhất, chung một màu cờ ("Niềm tin là một ngày mai non nước chung một màu cờ.") Ta phải hiểu đó là màu cờ vàng của lá cờ nền vàng ba sọc đỏ của miền Nam Việt Nam vì chàng trai đang chiến đấu dưới lá cờ vàng. Ta thấy tác giả Anh Bằng có cùng ước vọng như nhạc sĩ Lam Phương là "quân Nam về Thăng Long" để thống nhất đất nước, dưới lá cờ vàng.

Thế rồi, có lẽ trong một dịp về phép, chàng trai trẻ bây giờ là một anh lính trở về khu căn nhà ngoại ô, thăm người yêu vào môt buổi tối trăng vàng tỏa sáng ("Rồi hôm nao tôi về ghé thăm nàng/ Ngoại ô đây con đường tắm trăng vàng.")

Trong nỗi bàng hoàng, anh lính không thấy nàng ở nhà ("Mà sao không thấy nàng.") Anh buồn bã thất vọng tái tê, không biết nàng đã đi đâu, và biết tìm nàng ở đâu. Trong cơn ê chề, anh trách móc nàng nỡ nào bỏ đi không lời từ giã, mà không ráng chờ anh ("Tìm em, giờ tìm ở đâu! Sao không gắng đợi chờ nhau.")

Ta nhận ra vài chi tiết trong cuộc tình hai người.

Trước hết, trong lúc xa cách hai người dường như không có liên lạc với nhau. Bấy giờ là thời chinh chiến vào thập niên 1960, và kỹ thuật liên lạc viễn thông chưa được thịnh hành. Điện thoại có, nhưng không phải gia đình nào cũng có, nhất là ở ngoại ô. Nhưng thư từ qua bưu điện hiện hữu, và hai người có thể trao đổi thư từ. Tuy anh lính đi đây đi đó, anh vẫn có thể nhận thư qua Khu Bưu Chính (KBC) quân đội và viết thư hồi âm. Anh lính không nhắc gì đến chuyện thư từ trong lúc xa nàng. Có thể anh không thấy quan trọng trong việc thư từ vì anh biết anh sẽ về thăm nàng không lâu. Nhưng việc nàng không viết thư cho anh là một chuyện hơi khác thường. Ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

Thứ nhì, câu trách móc "Sao không gắng đợi chờ nhau" quả thật xác nhận việc hai người không thề non hẹn biển gì trước đó, và sự chờ đợi nhau là một kỳ vọng ngầm, không cần phải tuyên bố lẫn nhau ra bằng lời. Chuyện này tuy hơi khác thường cho mối tình khởi đầu là tình yêu, nhưng rất bình thường trong mối tình hai người. Đó là vì họ có tình bạn trước đó, và tình yêu nẩy nở sau một tình bạn thân thiết lâu dài. Như trình bày ở trên, hai người chỉ cho một cái tên mới cho tình cảm của họ, và không thực sự gia tăng tình cảm đó, sau khi ngỏ lời yêu nhau. Vì vậy, hai người vẫn giữ nguyên trạng và không thấy sự cần thiết cho việc hứa hẹn đợi chờ nhau.

Sau đó, anh lính thăm dò tin tức nàng, có thể chỉ hỏi người hàng xóm, hoặc người quen gần đó, và được biết lý do ra đi của nàng. Nàng đã gia nhập quân đội là nữ quân nhân, phục vụ trong ngành quân y, nơi chiến trường ("Tôi hỏi người quen... Nàng nay là Nữ Cứu Thương trên chiến trường.")

Có vài chi tiết ta nên để ý. Thứ nhất, nơi nàng cư ngụ dường như không phải là nơi gia đình nàng ở. Nàng không có cha mẹ, người thân quyến thuộc, vì anh lính hỏi "người quen" chứ không phải thân quyến. Với chi tiết này, ta có thể suy diễn hoàn cảnh gia đình nàng. Cái suy diễn hợp lý nhất là cô gái ở trọ với một gia đình, Gia đình nàng có thể ở xa và nàng phải lên vùng đô thị ăn học. Chuyện này rất thông thường trong thời gian đó. Tuy trường học có đầy đủ khắp nơi trong miền Nam nhưng các vùng quê xa xôi hẻo lánh, hoặc những nơi dầu sôi lửa bỏng, chuyện học hành thường bị gián đoạn. Do đó, nhiều gia đình cho con đến nơi đô thị có an ninh để đi học. Những học sinh có thể ở với người quen, hoặc mướn phòng tạm trú.

Thứ nhì, cô gái lúc gia nhập Nữ Quân Nhân phải hội đủ điều kiện. Một trong những điều kiện là từ 18 tuổi trở lên. Tuy ta không rõ khoảng thời gian nàng và chàng yêu nhau cho tới lúc nàng gia nhập quân đội là bao lâu, nhưng dựa vào chi tiết nàng là người chăm chỉ học hành, "sớm hôm lo sách đèn" ta có thể suy diễn nàng học đúng tuổi hoặc gần đúng tuổi. Do đó, khi nàng chấp nhận tình yêu chàng, nàng đã là một cô gái trưởng thành, và có chút suy nghĩ chín chắn về tình yêu và tương lai.

Thứ ba, thời gian huấn luyện cho Nữ Quân Nhân ít nhất là vài tháng. Trước năm 1968, thời gian huấn luyện cho căn bản quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cho nữ quân nhân là sáu tuần (Hồ). Sau đó là đi học thêm các lãnh vực chuyên môn như xã hội quân đội, quân y, truyền tin, quân nhu. Vì nàng là nữ cứu thương, hoặc y tá, nàng phải đi học thêm về quân y. Ta cũng nên phân biệt "nữ cứu thương,""phụ tá quân y," và "trợ tá xã hội." Thực ra, "nữ cứu thương" chỉ là một danh từ chỉ người y tá hoặc phụ tá trong ngành quân y. Để là một "nữ cứu thương," người nữ quân nhân phải theo học ngành "phụ tá quân y" trong trường Quân Y. Còn "trợ tá xã hội" là những người tốt nghiệp trường Xã Hội Quân Đội thi hành những nhiệm vụ xã hội cho gia đình quân nhân như trợ cấp khó khăn, sanh đẻ, giấy tờ con em đi học, báo tử, v.v... (Xem, thí dụ như, Thạch 2014).

Ta không biết rõ thời gian học phụ tá quân y là bao lâu, nhưng dựa vào tính chất quan trọng của ngành này, chắc cũng phải khoảng 6 tháng. Ngành trợ tá xã hội cần 6 tháng học tại trường Xã Hội Quân Đội (xem, thí dụ như, Thạch 2014) nên ta thấy ước đoán học 6 tháng cho phụ tá quân y không đến nỗi sai lắm. Một điểm quan trọng hơn là tuy ta cố tìm những chi tiết chính xác khi tìm hiểu một câu chuyện, việc đó có lẽ không quan trọng lắm trong một tác phẩm nghệ thuật. Nhạc sĩ Anh Bằng có thể tạo dựng nhân vật trong ca khúc ông dựa vào nhân vật có thật hoặc tưởng tượng, và những chi tiết có thể dựa vào những chi tiết chính xác hoặc đại khái nếu những chi tiết đó không ảnh hưởng đến ý chính của tác phẩm.

Nói tóm lại, những chi tiết trong bài hát cho ta hình dung ra được vài điểm sau: (1) Cô gái lúc yêu chàng trai đã là một cô gái trưởng thành, biết suy nghĩ cho tương lai, (2) hai người xa nhau không liên lạc nhau trong một khoảng thời gian khá dài, có thể lên đến 6-9 tháng hoặc một năm; và (3) trong khoảng thời gian xa nhau, hai người hầu như không có liên lạc. Cô gái có vẻ không muốn cho người yêu biết dự tính gia nhập nữ quân nhân. Những điểm này sẽ được nhắc lại trong phần sau.

Trở lại câu chuyện, anh lính biết được người yêu mình đã gia nhập quân đội và hiện đang là nữ cứu thương trên chiến trường. Anh biết cuộc sống trên sa trường sóng gió như thế nào. Người nữ cứu thương là người giúp các bác sĩ quân y hoặc làm việc trợ giúp y tế cho quân nhân, có một trách nhiệm nặng nề. Anh tự hỏi không biết nàng có vui trong công việc của nàng ("Dặm ngàn sóng gió, biết sao nàng vui dấn thân trên bước đường.")

Hẳn nhiên tin đó làm anh sững sờ. Anh đứng trong cơn gió lạnh màn đêm, mà lòng thương yêu nàng xé nát tim anh ("Tôi đứng nghe gió lạnh giữa màn đêm, thương xé nát con tim.") Phản ứng "xé nát con tim" dường như xảy ra chậm chạp, vì nó xảy ra sau khi anh lo lắng không biết nàng có vui không, và trong lúc anh đang đứng trong gió lạnh màn đêm, như thể anh đang suy nghĩ nhiều. Tác giả không nói rõ lý do tại sao nghe tin đó mà anh lính có nỗi đau thương thống thiết như vậy. Nhưng ta có thể suy diễn ra trong hai câu sau. Thực ra, theo tôi nghĩ, câu này là cực điểm của bài hát vì nó gói ghém những ý nghĩ của chàng trai về cô gái và cuộc tình của hai người như sẽ được thảo luận sau.

Chàng biết là cơ hội gặp lại nàng rất mong manh, nhưng với niềm tin mãnh liệt, chàng vẫn tin hai người sẽ gặp lại nhau ("Em ơi, trái đất vẫn tròn/ Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!") Nhóm chữ "trái đất vẫn tròn" thường dùng chỉ cuộc tái ngộ sẽ xảy ra, dù không có gì là chắc chắn. Và đó là điều chàng mong ước.

Câu chuyện chỉ có vậy. Anh Bằng có vẻ kể lại một chuyện tình trong thời chinh chiến như bao chuyện tình khác: hai người yêu nhau, chàng tòng quân, trở về tìm nàng thì nàng đã đi xa, và chàng hy vọng sẽ gặp lại nàng. Câu chuyện không có nhiều tình tiết éo le, nếu không muốn nói là khá đơn giản. Kết cục cũng không có gì thê lương hoặc vui vẻ.

Tuy nhiên, có một ý nghĩa thật cao cả và vĩ đại hơn mà Anh Bằng tinh tế dàn xếp ở phần cuối bài. Đó là khi anh lính chợt hiểu lý do tại sao người yêu mình gia nhập quân đội.

Tuy chuyện tình, mới thoạt nghe, có vẻ là về một mối tình bình thường, thực ra là một mối tình cao cả biểu lộ lòng hy sinh vĩ đại của một cô gái trong tinh thần yêu thương những chiến sĩ đang xả thân nơi chiến trường.

Ta nên hiểu rõ mối tình giữa hai người như thế nào.

Nhạc sĩ Anh Bằng khôn khéo kể câu chuyện dưới quan điểm của chàng trai, từ đầu đến cuối. Khán gỉả không biết tâm tư cô gái thế nào. Nhưng qua lời chàng, và phản ứng chàng khi biết nàng là nữ cứu thương nơi chiến trường, khán giả, cũng như chàng trai, bừng hiểu ra.

Trước hết, hai người là hai bạn thân, có thể qua trường học, có thể do hàng xóm qua lại. Tình bạn đó ắt là ngây thơ trong trắng, vì hai người thường vui đùa với nhau hái hoa trong vườn, cười đùa suốt đêm. Thế rồi, từ tình bạn, chàng trai nẩy sinh lòng yêu thương cô gái, và ngỏ lời yêu thương. Tuy bài hát không nói rõ, ta hiểu nàng chấp nhận tinh yêu đó một cách dễ dàng, không có gì khó khăn.

Câu hỏi là: nàng có yêu chàng thực sự không? hay chỉ vì "lịch sự" hoặc không muốn chàng buồn mà nhận lời?

Ai cũng biết phái nam và phái nữ khác nhau, nhất là về phương diện tình cảm. Đã có nhiều nghiên cứu về đề tài này và tôi không có ý định duyệt lại mọi lý thuyết về tình yêu trai gái. Tuy nhiên, có một nghiên cứu trình bày vài kết quả khá ngạc nhiên. Nghiên cứu này cho thấy cả phái nam và nữ biểu lộ tình yêu qua hành động trìu mến (affectionate) như nhau, nhưng phái nữ biểu lộ tình yêu qua sự chiều ý (accommodating) hơn phái nam (Schoenfeld, Bredow, và Huston. 2012, 1, 9). Tuy nghiên cứu này chú trọng đến tình yêu trong hôn nhân, tâm lý phái nam và phái nữ giống nhau trong hoặc ngoài hôn nhân. Ngoài ra, văn hóa cũng có ảnh hưởng đến cách diễn tả tình yêu. Trong văn hóa Á Châu, phái nữ thường đóng vai trò thụ động hơn trong tình yêu, và hỗ trợ kết luận của nghiên cứu này.

Trở về "Căn nhà ngoại ô," ta có thể hiểu cô gái thực sự yêu chàng trai, và sự nhận lời của cô là cách biểu lộ tình yêu qua hành động "chiều ý" của mình. Nếu cô không yêu chàng, cô sẽ có cách từ chối tế nhị, hoặc cô có thể có cách biểu lộ có giới hạn để chàng trai không có dịp nẩy nở ra tình yêu. Cô gái ở tuổi trưởng thành, xa nhà, do đó ắt là phải có đầu óc khôn ngoan, biết lo cho tương lai. Tuy đây có thể là mối tình đầu, cô vẫn biết dùng lý trí để kiểm soát tình cảm. Việc cô gái qua nhà chàng trai và cười đùa hái hoa suốt đêm có vẻ như là cô gái đang khuyến khích chàng trai ngỏ lời yêu thương. Cô có thể cho những gợi ý khiến chàng trai có can đảm để ngỏ lời mà không sợ bị từ chối. Như đã trình bày ở trên, chàng trai phải suy nghĩ đắn đo lắm trước khi mở lời vì nếu nàng từ chối, hai người sẽ rơi vào tình trạng khó xử. Nhờ có những gợi ý và khuyến khích của cô, chàng trai mới có can đảm tiến tới. Ngoài ra, với hành động gia nhập quân đội sau này của cô, ta hiểu cô là một người có ý chí mạnh mẽ dứt khoát, và không phải là người sợ chàng trai buồn mà phải nhận lời yêu. Vì những lý do này, ta hiểu cô gái thực sự yêu chàng trai.

Nếu nàng yêu chàng thực sự, tại sao nàng không chờ đợi chàng trở về, mà lại gia nhập nữ quân nhân để trở thành nữ cứu thương trên chiến trường?

Ta biết nàng là người chăm chỉ học hành và không có lệnh động viên cho phái nữ trong miền Nam. Tại sao nàng bỏ học, có thể làm nghịch ý gia đình đã gửi nàng lên gần đô thị học hành, và tình nguyện gia nhập nữ quân nhân? Một cách sâu sắc hơn, nàng gia nhập ngành phụ tá quân y để làm y tá nơi chiến trường. Tại sao?

Tới đây, một hình ảnh cao cả hiện ra và một mối tình thiêng liêng nổi bật, như hiển hiện trong trí óc chàng lính trẻ đang lặng người trong cơn gió lạnh về đêm, suy nghĩ về lý do tại sao nàng bỏ học và gia nhập nữ quân nhân. Cái ý thức về hình ảnh cao cả và mối tình thiêng liêng đó dần dần hiện ra trong óc chàng, xé nát con tim chàng.

Đúng vậy. Nàng không muốn chỉ là một người em hậu phương khuyến khích người yêu ngoài trận mạc qua tinh thần. Vì quá yêu chàng, nàng muốn tham gia vào cuộc chiến đề cùng chàng bảo vệ non sông, cùng sát cánh với chàng (một cách biểu tượng) trong cuộc chiến bảo vệ tự do dân chủ cho đất nước, và nàng muốn hiểu rõ cuộc đời chinh chiến của chàng như thế nào để có thể chia sẻ buồn vui và những nỗi nhọc nhằn khó khăn trong nghiệp lính. Nàng không cho chàng biết chuyện này vì nàng biết chàng sẽ ngăn cản nàng, và nàng không muốn phải thảo luận tranh cãi với chàng về quyết định mình.

Một cách thiêng liêng, nàng trừu tượng/ tổng quát hóa cuộc đời chinh chiến của chàng cho đến mọi chiến sĩ đang hy sinh ngoài sa trường. Chàng không còn là một người xương thịt mà biến thành một biểu tượng, một khái niệm trừu tượng mà nàng có bổn phận chăm sóc, bảo tồn. Vì vậy, đối với nàng, hình ảnh chàng ở khắp nơi, biểu hiện là các chiến sĩ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nàng không cần để lại nơi liên lạc vì chuyện đó không cần thiết. Với nàng, chàng ở khắp nơi ngoài chiến tuyến và lúc nào nàng cũng gặp chàng. Nàng không coi tình yêu nàng cho chàng là một tình yêu vị kỷ giữa hai người, mà là một nhiệm vụ nàng phải thi hành cho tấ̀t cả mọi chiến sĩ.

Do đó nàng trở thành nữ cứu thương, thay vì làm việc trong quân nhu, hoặc là trợ tá xã hội. Nàng muốn bàn tay nàng trực tiếp săn sóc chàng, qua những chiến sĩ, và cùng xông pha với chàng nơi trận địa.

Nếu hành động hy sinh tình yêu vị kỷ cho một tình yêu vĩ đại hơn của nàng là một hành động cao quý, phản ứng của chàng lại còn làm tăng giá trị mối tình cao thượng đó.

Anh lính có hiểu chuyện đó không?

Đương nhiên. Anh hiểu rất rõ, sau một lúc đứng trong gió lạnh giữa đêm. Và đó là tại sao anh cảm thấy lòng thương yêu "xé nát con tim." Nhóm chữ "xé nát con tim" nói lên một nỗi niềm thống thiết, đau nhói, xót xa. Nó không phản ảnh một phản ứng buồn bã vì xa nhau, mà phản ảnh một xúc động mãnh liệt, một lòng thương yêu vô bờ, và sự ngưỡng mộ mênh mông cho mối tình bao la mà nàng dành cho chàng. Ngoài ra, anh biết anh sẽ khó gặp lại nàng, vì nàng không để lại chi tiết liên lạc. Và anh hiểu lý do tại sao, vì với nàng, anh ở khắp nơi.

Khi chàng nghĩ ra được lý do tại sao nàng gia nhập làm nữ cứu thương, chàng đau buồn vô cùng. Nhưng chàng tôn trọng quyết định của nàng, và lại càng yêu quý nàng hơn vì mối tình cao cả đó. Ngay tại lúc đó là cực điểm của bài hát.

Chuyện tình của hai người là chuyện tình có ý nghĩa thiêng liêng, cao quý, nói lên lòng hy sinh vô bờ của cả hai.

Ngoài ra, bài hát là lời tuyên dương mạnh mẽ cho các nữ quân nhân VNCH. Họ là những người thực sự đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp các chiến sĩ. Tuy không tham gia tác chiến, họ hoạt động trợ giúp gia đình vợ con binh sĩ để đem lại niềm an tâm cho các chiến sĩ xông pha trận mạc. Họ còn trực tiếp săn sóc thương binh, hoặc đóng vai trò phụ giúp trong các hoạt động quân sự. Những nỗ lực của họ, tuy nhiên, thường không được biết đến.

C. Bài hát có lối diễn tả bình dị nhưng có hiệu quả và kỹ thuật táo bạo dàn xếp cực đỉnh và kết cục:


Anh Bằng có lối diễn tả bình dị nhưng có tác dụng mạnh. Ta thấy ông gói ghém một ý tưởng cao quý, đề cao một hình ảnh cao thượng một cách điêu luyện.

Ông dùng từ ngữ cụ thể, đơn giản nhưng tượng hình như "hoa thơm," "trái hiền," "sớm hôm," "hái hoa," "chung tiếng cười," "bước theo," "trăng vàng," "gió lạnh," "xé nát." Một cách tài tình, ông sắp xếp những từ ngữ cụ thể tượng hình này bên cạnh những từ ngữ trừu tượng để diễn tả ý tưởng hoặc tình cảm mạnh mẽ. Thí dụ, "thức giấc ngỡ ngàng" cho thấy một phát giác tạo kinh ngạc. Tại sao kinh ngạc? Chàng trai kinh ngạc vì chàng không ngờ chàng đã yêu nàng từ lâu mà chàng không biết. Một thí dụ khác, "bước theo tiếng gọi" diễn tả một hành động tự nguyện, không phải vì bị bó buộc. Một thí dụ nữa, câu "thương xé nát con tim" là một diễn tả tuyệt vời, như tôi đã trình bày ở trên.

Cả bài hát rải rác nhiều mỹ từ và từ ngữ mạnh, tạo nên những nét chấm phá linh động cho ý tưởng hoặc hình ảnh. Thí dụ, "trái hiền," "tắm trăng vàng," "dấn thân trên bước đường," "trái đất vẫn tròn."

Đặc biệt nhất, Anh Bằng dùng một kỹ thuật độc đáo trong cách thức dàn xếp cốt truyện và tạo dựng cực điểm và kết cục.

Ông thiết lập cốt truyện không bằng tình tiết hoặc sự kiện, tuy bề ngoài có vẻ như vậy. Ông tạo dựng cốt truyện dựa vào nhân vật. Ta thấy ông tả nhân vật với các gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp cho cốt truyện. Thí dụ, ông tả cô gái là người học hành chăm chỉ, chàng trai và cô gái là hai người trẻ trong trắng trong tình bạn, chàng trai là người có lý tưởng, và có niềm tin mạnh mẽ, cô gái là người quả quyết. Bằng cách cho thấy những đặc tính của hai nhân vật, ông giúp khán giả hình dung rõ rệt cốt truyện. Quan trọng hơn, ông dùng cá tính của hai nhân vật để đưa đến một cực điểm mạnh mẽ, khiến khán giả bàng hoàng.

Cực điểm (climax) có ý nghĩa tùy vào thể loại của một tác phầm văn chương. Với tiểu thuyết, đó là điểm mà mọi chuyện trong câu chuyện cuối cùng xảy ra. Với thơ, đó là ý chính của cả bài, thường được diễn tả một cách gián tiếp hoặc qua các ẩn dụ tinh tế. Với ca khúc, đó vừa là ý chính vừa là nơi mọi chuyện cuối cùng xảy ra.

Cực điểm của bài hát này ở đâu?

Như đã trình bày ở trên, đó là câu "Tôi đứng nghe gió lạnh giữa màn đêm, thương xé nát con tim." Câu này cho thấy chàng trai bàng hoàng sau khi biết tin người yêu là nữ cứu thương nơi chiến trường qua câu "Nàng nay là Nữ Cứu Thương trên chiến trường." Tác giả cho chàng trai một khoảnh khắc lo lắng không biết nàng có vui với quyết định đó không qua câu "Dặm ngàn sóng gió, biết sao nàng vui dấn thân trên bước đường." Bằng cách dùng hai câu này, tác giả đưa khán giả dần dần tới cực đỉnh, khi chàng chợt nhận ra lý do tại sao nàng gia nhập nữ quân nhân và là nữ cứu thương. Tác giả để chàng đứng giữa màn đêm (một hình ảnh suy tư), và sau đó, như một tiếng sét đánh vào đầu, chàng bừng hiểu và lòng yêu thương nàng "xé nát con tim" chàng.

Cái táo bạo của Anh Bằng là ông để cực điểm ở gần chót, lúc đoạn kết. Cái liều lĩnh của cách xếp đặt này là khán giả có thể bị chưng hửng, vì đoạn kết đến quá nhanh, khiến nhiều người có thể không có dịp để ý tưởng thấm dần trong óc. Tuy nhiên, Anh Bằng khéo léo đánh tan cái tác dụng bất lợi đó nhờ hai việc.

Thứ nhất, khác với một cuốn phim hoặc một tiểu thuyết, một bài hát thường ngắn hơn nhiều và có thể được nghe đi nghe lại nhiều lần. Do đó, cho dù cảm giác chưng hửng có xảy ra trong lượt nghe đầu tiên, các lượt nghe sau sẽ làm giảm đi cảm giác đó, và người nghe càng thấm khi nghe lại nhiều lần.

Thứ nhì, phần kết kuận có tác dụng hữu hiệu với câu "Em ơi, trái đất vẫn tròn," và "Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!" Câu "Em ơi, trái đất vẫn tròn" hàm ý chấp nhận, chịu thua. Chàng lính trẻ hiểu được ý người yêu và đành chấp nhận chuyện đó. Chàng không oán trách nàng đã bỏ đi đột ngột hoặc có một quyết định cực đoan (theo ý chàng). Câu "Chúng mình hai đứa sẽ còn gặp nhau!" nói lên nỗi hy vọng, niềm tin mạnh mẽ. Khán giả sẽ vui vì kết cục này. Tuy hai người không được xum họp, nhưng họ hiểu nhau, và họ cùng bỏ qua mối tình vị kỷ sang một bên để hướng đến một mục tiêu cao thượng hơn.

Chấp nhận và hy vọng. Còn gì tuyệt diệu bằng?

D. Kết Luận:

Ca khúc "Căn nhà ngoại ô" là một bài hát kể chuyện tình trong thời chinh chiến giữa một chàng trai sống trong căn nhà ngoại ô và một cô bạn hàng xóm trẻ. Qua lối diễn tả bình dị nhưng hữu hiệu và kỹ thuật táo bạo xếp đặt cực đỉnh và kết cục, nhạc sĩ Anh Bằng gói ghém một ý tưởng kín đáo nhưng mạnh mẽ cho một mối tình cao cả và lòng hy sinh vĩ đại của cô gái.

Bài hát ca ngợi sự đóng góp ít được biết đến của những nữ quân nhân phục vụ trong QLVNCH. Cộng với những hy sinh dũng cảm của người lính VNCH, sự đóng góp này nói lên tinh thần đoàn kết, oai hùng, và cao quý của miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản, giành tự do dân chủ cho quê hương xứ sở.

Edited by user Friday, December 26, 2014 5:03:16 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Xích Hùng on 12/29/2014(UTC)
Xích Hùng  
#1038 Posted : Monday, December 29, 2014 9:54:32 AM(UTC)
Xích Hùng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/25/2011(UTC)
Posts: 219

Thanks: 49 times
Was thanked: 270 time(s) in 108 post(s)
Chúc Mừng Năm Mới

UserPostedImage

Xích Hùng  
#1039 Posted : Monday, December 29, 2014 10:25:43 AM(UTC)
Xích Hùng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/25/2011(UTC)
Posts: 219

Thanks: 49 times
Was thanked: 270 time(s) in 108 post(s)
Quote:

"CĂN NHÀ NGOẠI Ô"

UserPostedImage

Căn Nhà Ngoại Ô

Nhạc Sĩ Anh Bằng
Ca Sĩ Trường Vũ



Xích Hùng  
#1040 Posted : Wednesday, January 7, 2015 10:36:32 AM(UTC)
Xích Hùng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/25/2011(UTC)
Posts: 219

Thanks: 49 times
Was thanked: 270 time(s) in 108 post(s)
AI LÀ TÁC GIẢ BẢN CỜ TA BAY TRÊN CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ ?
Trần Chí Phúc

Dựng cờ chiến thắng trên Cổ Thành Quảng Trị 16/09/1972




UserPostedImage


Một tiểu đội Thủy Quân Lục Chiến, quần áo đầy đất bụi, mệt nhọc sau những ngày kịch chiến, đã buộc lá cờ vàng ba sọc đỏ lên một cây cột cao chừng 7 thước và cắm trên đỉnh tường về phía tây của Cổ Thành. Gió bão thổi lá cờ bay phần phật một cách oai hùng và ngạo nghễ giữa cảnh chiến trường chưa im tiếng súng…

Phóng viên Ted Kurrus của hãng thông tấn UPI - chứng kiến cảnh dựng cờ trên Cổ Thành Quảng Trị - đã cho rằng thật hùng tráng không khác gì cảnh dựng cờ của quân đội Mỹ trên đảo Iwo Jima hồi Đệ Nhị Thế Chiến.


* * *


Trong những bài ca chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì bản hùng ca hay nhất được nhiều người hát trong suốt 40 năm qua ở hải ngọai trong mỗi lần sinh hoạt cộng đồng là ca khúc Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân Yêu, mà đồng hương hay gọi tắt là bản Cờ Bay Cờ Bay. Ngoài giá trị nghệ thuật của nhạc phẩm còn có một lý do khác là lúc làm lễ thượng kỳ lá cờ vàng ba sọc đỏ, sau khi hát bản quốc ca “Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi”, nhìn thấy lá cờ vàng thân yêu tung bay phất phới, thì lòng người phấn khởi cất lên bản Cờ Bay Cờ Bay.

Xin ghi lại lời ca như sau :

Cờ bay… Cờ bay… oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu
Cờ bay… Cờ bay… tung trời ta về với quê hương
Từng ngóng đợi quân ta tiến về

Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quì hôn đất thân yêu
Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng
Hồi sinh rồi này mẹ này em
Vui hôm nay qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời
Đi lên. Đi lên trên hoang tàn ta xây dựng ngày mai
Nhà vươn lên người vươn lên
Quân bên dân xây tin yêu đời mới
Đón nhau về, anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà
Sạch bóng thù, đồng ta xanh thắm nắng mới
Vang câu hát tự do…


Lịch sử sáng tác của bài hát oai hùng này là khi quân Cộng Sản Bắc Việt đưa quân ào ạt đánh chiếm tỉnh Quảng Trị vào tháng 3 năm 1972 thì quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tái chiếm lại vào ngày 16/9/1972 trong một trận đánh được mô tả là rất ác liệt, được ghi vào những chiến công oai hùng của người lính miền Nam. Lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ được kéo lên trên Cổ Thành tỉnh Quảng Trị trước sự vui mừng của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Và chỉ một thời gian ngắn sau đó trên đài phát thanh Sài Gòn vang lên bản hùng ca Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân Yêu làm nức lòng mọi người. Không ai biết rõ chính xác tác giả của ca khúc này, chỉ biết là do các nhạc sĩ của Cục Chỉnh Huấn sáng tác.

Thời điểm đó, khoảng năm 1972/1973, có nhiều bản nhạc hùng ca được viết và được trình bày hợp ca và phổ biến trên đài phát thanh Sài Gòn và đài phát thanh Quân Đội để nhân dân cả nước nghe, và tác giả thuộc Cục Chỉnh Huấn Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi Sài Gòn thất thủ vào tháng 4/1975 thì những người di tản và vuợt biển tạo thành cộng đồng Việt Nam tại hải ngọai và mang theo những bản hùng ca đó. Trên trang mạng có người ghi tên tác giả bản Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân Yêu là Lê Kim Hoa, một cái tên rất xa lạ với giới thưởng thức nhạc.

Đối với một bản hùng ca hay như vậy mà tên tác giả hầu như là vô danh vì sau đó không thấy Lê Kim Hoa viết thêm bài nào khác nữa.

Nhạc Sĩ Đỗ Kim Bảng năm nay trên 80 tuổi, hiện sống tại Quận Cam tiết lộ rằng Lê Kim Hoa là bút hiệu của Tô Kiều Ngân. Lê Kim Hoa là tên người yêu của Thi Sĩ họ Tô. Ông đã mất vào 20/10/2012 tại Sài Gòn.

Cách đây hơn mười năm, tình cờ ngồi nói chuyện văn nghệ với Nhạc Sĩ Ngô Mạnh Thu (đã mất) đã từng làm việc trong Cục Chỉnh Huấn thì ông cho biết rằng tác giả của bản Cờ Bay là hai người : Thi Sĩ Tô Kiều Ngân và Nhạc Sĩ Trương Hoàng Xuân.

Nhạc Sĩ Trương Hoàng Xuân làm việc trong Phòng Văn Nghệ Cục Chiến Tranh Tâm Lý - còn gọi là Cục Chỉnh Huấn. Trong nhóm nhạc sĩ này có Trầm Tử Thiêng, Đỗ Kim Bảng, Ngô Mạnh Thu…

Ca sĩ Mai Hương bảo rất thích bản Cờ Bay Cờ Bay và chị còn nhớ rõ lời ca vì thời đó chị đã hát hợp ca bản này cũng như những bản hùng ca khác trên đài phát thanh Sài Gòn.

Bài hát có nét nhạc tươi sáng, lời ca hùng hồn mà thắm thiết tình cảm. Mấy câu “Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quì hôn đất thân yêu… Hồi sinh rồi này mẹ này em… Anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà… Vang câu hát tự do” vẫn là nét đặc biệt của các ca khúc thuộc chế độ Sài Gòn đầy chất nhân bản. Có vẻ như là một bài thơ phổ nhạc hoặc là sự cộng tác của một nhà thơ với một nhạc sĩ, cảm hứng từ một chiến công để viết thành bản hùng ca hay nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và còn lưu truyền bên này hải ngọai.

Trần Chí Phúc
(1-1-2015)

Edited by user Wednesday, January 7, 2015 10:53:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Xích Hùng for this useful post.
Ngọc Anh on 1/9/2015(UTC)
Users browsing this topic
Guest
53 Pages«<50515253>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.