Welcome Guest! To enable all features please Login or Registers.

Notification

Icon
Error

53 Pages«<4950515253>
Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1001 Posted : Wednesday, March 26, 2014 8:41:30 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu (37 năm) kể chuyện trong ngục tù CS :
http://www.youtube.com/w...bedded&v=dX2JiKv59lc
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 4/5/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC), tý xưng on 8/11/2014(UTC)
Mén  
#1002 Posted : Saturday, April 5, 2014 9:52:47 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Chúc Thư Người Lính Mũ Xanh

- Kính dâng Mẹ Việt-Nam
- Thân tặng Hương Linh Mũ Xanh Cao Xuân Huy
- Cho các con k.duy - k.long - th.lan - m.chau - tuổi trẻ Việt Nam quê nhà và hải ngọai tha hương


Hãy Nhặt Giùm Cha

Sáng tác & trình bày Dzuy Lynh

UserPostedImage

hãy nhặt giùm cha chinh y, giày trận
súng, đạn, thẻ bài, nón sắt, ba lô
hãy lấp quân trang cho đầy huyệt mộ
thịt hộp, cá khô, gạo sấy, bản đồ

hãy nhặt giùm cha poncho, áo giáp
claymore, lựu đạn, hỏa pháo, lưỡi lê
con hãy đứng lên mà lau khô hạt lệ
chờ đợi một ngày sau sẽ có lúc trở về

hãy nhặt giùm cha cọng rơm ngọn rạ
bông lúa chín vàng và tiếng chim ca
linh khí non cha và hồn thiêng sông mẹ
để thương tiếc quê hương một thuở an hòa

hãy nhặt giùm cha tuổi thơ con đã mất
khi giặc hung tàn từ Bắc vô Nam
bao thịt nát xương tan, bao máu lệ chan hòa
ngày tổ quốc bi thương nhuộm màu tang trắng

hãy nhặt giùm cha mảnh dư đồ rách
là xương máu cha anh đã nhuộm thắm sử xanh
con gói lại chưng trên bàn thờ quốc tổ
để một sớm mùa xuân hồn cha sẽ trở về...

để lật lại từng trang... từng trang quân sử
để nuốt lệ tri ân những anh hùng vị quốc vong thân
con hãy nhặt cho cha những điêu tàn chứng tích
và thảm cảnh kinh hòang vào Tháng Tư Đen

hãy nhặt giùm cha ánh đuốc đất người
sau này con về thắp lại lửa quê hương
hãy khắc cốt ghi tâm nỗi hờn mất nước
để ngày kia cha có thác cũng ngậm cười...

thanks 3 users thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 4/5/2014(UTC), NNT on 4/16/2014(UTC), TRA-MAI on 6/19/2014(UTC)
NNT  
#1003 Posted : Wednesday, April 16, 2014 3:01:58 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
Lời người ở lại - Thơ Trần Trung Đạo qua giọng ngâm Tôn Nữ Lệ Ba :
https://www.youtube.com/watch?v=xotq7BNm0I4

Tháng Tư Ấy - Thơ HNC qua giọng ngâm Hoàng Oanh :
https://www.youtube.com/watch?v=d1Vnc26anpE
thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 4/17/2014(UTC), TRA-MAI on 6/19/2014(UTC)
NNT  
#1004 Posted : Wednesday, April 16, 2014 5:12:57 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
Tình Huynh Đệ Chi Binh tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sau 1975

UserPostedImage
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 4/17/2014(UTC), TRA-MAI on 6/19/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC)
NNT  
#1005 Posted : Friday, April 18, 2014 10:08:16 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)

CẬU ÚT
Tác giả : Nguyễn Ý Thuần

Tôi bắt đầu khó chịu khi gặp hắn lần thứ ba. Vẫn bộ quần áo vàng dành cho sinh viên sĩ quan lúc đi phép, hắn tỉnh bơ ngồi tại câu lạc bộ sĩ quan. Chung quanh, mọi người đều mặc đồ trận, kể cả những sĩ quan trẻ ngồi cùng bàn với hắn. Trừ bộ quần áo lạc lõng, còn lại từ thái độ đến cung cách ăn nói của hắn chẳng có gì khác lạ. Nâng ly bia, cụng ly, uống một hơi dài. Rồi cười nói, vung tay, xoãi chân như việc hắn có mặt tại đây trong bộ quần áo vàng là điều tự nhiên. Bất cần thiên hạ với những cái nhìn kỳ cục ném về. Kể cả tôi, tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn hắn phải trình diện.

Một vài cái nhìn của đám sĩ quan trẻ ngồi cùng bàn với hắn hướng về khi tôi ngồi xuống. Những cái cười, cái gật đầu được làm. Tôi gật đầu đáp lễ, mắt vẫn không rời hắn. Hắn thản nhiên nhìn tôi rồi bưng ly bia lên uống một hơi dài. Đám sĩ quan trẻ cùng bàn thì thầm với hắn. Hẳn đang nói về tôi. Đột nhiên tôi có ý nghĩ theo dõi thái độ hắn - sau khi đã biết tôi sẽ là tiểu đoàn trưởng của hắn - thì thế nào. Ngạc nhiên? Bối rối? Rồi sẽ làm một cái chào... làm quen đầy ngượng ngùng như hầu hết các sĩ quan vừa ra trường về trình diện đơn vị. Nhưng không, mọi điều suy đoán của tôi đều sai. Chỉ thấy sau những câu thì thầm của những người ngồi cùng bàn là cái gật đầu của hắn. Cái gật đầu hờ hững. Lại thêm một câu nói của người ngồi bên trái hắn. Lần này tôi ngạc nhiên và cảm giác khó chịu đã bắt đầu. Đó la cái nhún vai - cũng rất tự nhiên - của hắn.

Nén bực bội, tôi quay sang hướng khác. Thái độ dửng dưng và cái nhún vai của hắn vẫn đeo đuổi tôi. Cảm giác khó chịu càng lúc càng tăng khi tiếng cười của bàn hắn ngồi vang đến. Cuối cùng là tự ái bùng lên với ý nghĩ bị coi thường. Dù sao hắn cũng chỉ là một sĩ quan thuộc cấp, không thể có hành động như thế được. Liên tưởng đến hai lần trước tôi càng bực bội. Cả hai lần hẹn hắn trình diện đều không gặp cả hai. Lần đầu hắn đến khoảng 8 giờ rưỡi. Giờ trình diện là 9 giờ. Tôi ra trễ, hắn bỏ về. Lần thứ hai hắn đến văn phòng từ lúc 7 giờ sáng. Khoảng 9 giờ 10 tôi đến. Vẫn không thấy hắn. Người thượng sĩ già cho biết hắn vừa đi. Tôi im lặng theo dõi tên chuẩn úy này. Đằng nào mình cũng trễ hẹn. Tôi đã nghĩ thế và thông báo hắn đến trình diện lần thứ ba. Cái kỳ cục của hắn, kể cả bộ quần áo vàng đang mặc trên người đã làm tôi chú ý. Một mẫu người đặc biệt. Đã có lần tôi nghĩ thế với cái cười khoan dung. Nhưng hôm nay, lần hẹn thứ ba chưa đến tôi đã gặp cái nhún vai của hắn. Bao nhiêu ý nghĩ về hắn trong đầu đã thành khó chịu. Rõ ràng hắn coi tôi chả có ký lô nào. Mẹ kiếp! Ngựa non háu đá. Tôi uống cạn ly cà phê và đứng dậy với quyết định rất bình thường của một đơn vị trưởng bị xúc phạm: sẽ chứng minh cho hắn biết quyền hạn của mình.

Chín giờ sáng hôm sau tôi có mặt tại văn phòng. Hắn đã đến từ lúc nào. Vẫn bộ quần áo vàng hắn vào trình diện. Trong thế đứng nghiêm còn sặc mùi quân trường, hắn đọc nhanh cấp bậc, họ tên, số quân, câu trình diện rồi kết thúc bằng hai tiếng “chờ lịnh” lớn. Cung cách rất nghiêm chỉnh, hắn đứng nhìn tôi. Đã sẵn ý tưởng lấy uy từ chiều hôm qua, tôi để yên hắn đứng một lúc. Sau cùng là cái hất hàm.

- Chuẩn úy ngồi xuống.

- Cảm ơn thiếu tá.

Hắn ngồi xuống, hai tay đặt trên bàn, vai thẳng băng với cái cổ cứng ngắc. Tôi nhìn chăm chăm vào mắt hắn. Đôi mắt lồi với những sợi gân máu nhỏ li ti bám trên lòng trắng cũng đang nhìn thẳng vào mắt tôi. Hắn có vẻ bình tĩnh hơn tôi tưởng.

- Mãi đến hôm nay tôi mới gặp chuẩn úy.

Tôi mở đầu lửng lợ Hắn gật đầu.

- Thưa thiếu tá, tôi có đến đây hai lần theo lời gọi của thượng sĩ thường vụ.

- Đến rồi lại về?

- Vâng.

- Tại sao?

- Bởi không gặp thiếu tá.

- Tôi có nghe thượng sĩ thường vụ bảo cả hai lần chuẩn úy đều không chờ...

- Tại sao tôi phải chờ khi thiếu tá hẹn đúng 9 giờ là trình diện?

Hai bàn tay hắn vẫn đặt thoải mái trên mặt bàn khi hắn hỏi lại. Cảm giác khó chịu lại đến, tôi gằn giọng.

- Lần đầu tôi không nói. Tại sao lần thứ nhì chuẩn úy đến từ 7 giờ, chờ hơn hai tiếng rồi lại bỏ về khi vừa quá giờ hẹn độ mươi phút?

- Thưa thiếu tá, chờ hơn hai tiếng là phần tôi thích chờ, còn trễ 10 phút là phần thiếu tá trễ. Tôi không có lỗi...

Hắn vẫn nhìn thẳng vào mắt tôi khi nói. Từ cặp đồng tử đen láy của hắn, tôi bắt gặp hình ảnh của tôi ngày mới ra trường. Cứng ngắc trong từng câu nói, từng bước đi và ngại ngùng khi gặp cấp trên. Người sĩ quan trẻ trước mặt tôi khác hẳn. Hắn thoải mái và tự tin khi đối diện với mọi vật. Sự khó chịu chợt mất, trong tôi bắt đầu thích thú. Nhưng vẫn với nét mặt nghiêm nghị, tôi tiếp tục câu chuyện.

- Hôm qua ở câu lạc bộ sĩ quan, gặp tôi sao chuẩn úy lại nhún vai?

- Thiếu tá có thấy?

Hắn hỏi lại như xác nhận những ý nghĩ của tôi ngày hôm qua là đúng một cách rất ư là tự nhiên.

- Phải. Tôi thấy chuẩn úy có vẻ khinh thường tôi.

- Tại sao tôi lại khinh thường thiếu tá khi tôi chưa biết thiếu tá là ai? Hơn nữa, nếu biết là thiếu tá thì lúc đó tôi vẫn chưa trình diện...

Rất rành mạch hắn trả lời câu hỏi. Sự thích thú trong tôi chợt lớn. Cố nén nụ cười, tôi nói nhanh.

- Còn bộ quân phục, không lẽ nhà kho chưa phát quần áo trận cho chuẩn úy?

- Thưa thiếu tá tôi đã nhận được quần áo trận, nhưng quá rộng không thể mặc được. Ở quân trường có dạy nhìn quân phục biết tư cách. Tôi phải giữ tư cách, không thể ăn mặc cẩu thả được. Đành phải mặc đỡ bộ quần áo này, sau khi lãnh lương tôi sẽ sửa.

Lần này không thể nhịn được, tôi bật cười trước vẻ nghiêm trang của hắn khi trình bầy về bộ quần áo vàng đang mặc trên người. Nhưng hắn vẫn nghiêm. Bây giờ thì người giữ uy là hắn chứ không phải là tôi.

- Thôi được, chuẩn úy xuống ban quân lương để tạm ứng trước. Cố gắng sửa sớm, mình chỉ còn hai tuần để học bổ túc. Sau đó sẽ ra hành quân.

- Cảm ơn thiếu tá.

Hắn đứng dậy, lại một cái chào đúng kiểu Thủ đức. Tôi nhìn theo tấm lưng thẳng của hắn với nụ cười lạc quan. Thằng này một xanh cỏ, hai đỏ ngực, đúng điều cần thiết cho một binh chủng tác chiến mang nhiều lời khen pha trộn với tiếng chê: Biệt động Quân.

Vẫn không xanh cỏ, nhưng chẳng đỏ ngực bởi ký củ quá nhiều. Hơn một năm tại chiến trường Bồng sơn, Tam quan hắn đã trở thành một trong những trung đội trưởng chiến với cái tên dễ thương được gọi từ đồng đội: “cậu út”. Tôi thích thú theo dõi sự trưởng thành của một anh chàng chuẩn úy sặc mùi quân trường thành một sĩ quan tác chiến. Ngoài tính tự tin và kỷ luật với đơn vị khi hành quân, cậu út như đã quên hẳn những lễ nghi cứng ngắc. Phanh ngực áo, ngồi nhậu với lính từng can rượu trắng một cách hồn nhiên. Chửi thề ròn tan và đánh lộn với lính Địa phương quân tiểu đoàn 208 như cơm bữa. Bồ bịch tứ tung với các cô bán cà phê Tam quan... Nghĩa là chơi tận mạng, chơi đúng nghĩa một người chết trở về sau mỗi lần ủi. Bù lại cho những lần phá phách, cậu út đánh đấm rất đẹp. Lỳ lợm và khôn ngoan. Tự tin và kỷ luật. Cậu út đã biết áp dụng những điều cần thiết cho từng trường hợp. Con cọp đã rời khỏi bọc. Tôi đã thấy và tin tưởng. Bò vào tuyến Gia an, qua dẫy giao thông hào đầy mìn bẫy để cắm cờ. Dành lại đèo Bình đê để khai thông quốc lộ. Đánh đồi Hai vú để giữ đường vào phi trường. Giữ đồi 30, 31 để án ngữ lối vào An lão... cậu út đã thản nhiên tham dự với tiểu đoàn bằng đôi mắt nhìn thẳng như lúc trình diện tôi tại trung tâm huấn luyện Dục mỹ, khi tiểu đoàn về học bổ túc và bổ xung quân số. Cảm tình của người đơn vị trưởng dành cho một sĩ quan cấp dưới trong tôi thật kỳ lạ. Hãnh diện và thán phục. Thái độ ung dung trong mỗi lần hành quân đã làm tôi suy nghĩ nhiều về cậu út. Hắn còn quá trẻ để thành một con người như vậy. Thời gian ở đơn vị quá ngắn so với cái hắn làm được. Cộng tất cả những điều đã học ở quân trường với kinh nghiệm tại đơn vị cũng không đủ cho hắn thay đổi đến thế. Tôi đã hãnh diện. Tôi đã thán phục. Và bắt đầu tìm hiểu.

Sự thắc mắc trở nên rối bung và kín mít, không thể giải thích khi tôi biết về quá khứ của hắn. Là con út một ông đại tá thanh tra quân đoàn 3, Gia đình giàu có với hai tiệm vàng của bà mẹ làm chủ, “cậu út” sống sung sướng. Học giỏi, được mã, con ông cháu cha. Nghĩa là cậu út hội đủ điều kiện mơ ước của một thanh niên đang sống trong thời này. Lại nữa, kèm theo là hai tấm giấy hoãn dịch, một vàng vì lý do học vấn, một trắng vì lý do gia cảnh. Chữ “thọ” theo như quan niệm của số đông đeo vững vàng trước ngực. Vậy mà “tình nguyện” đi lính. Hai chữ “tình nguyện” là do mọi người nói. Nhưng sau cùng tôi biết, cậu út đi lính vì thất tình. Rất thành thật hắn kể lại mối tình với cô gái người Tiều châu. Chẳng dấu diếm để tô thêm lớp son hào hùng quanh con người lì lợm của hắn. Tất cả chỉ thế. Dễ hiểu và bình thường như trăm ngàn lý do bình thường khác. Vào lính ông cụ lo về chỗ ngon lành. Hắn từ chối, chọn Biệt động Quân. Bấy giờ có danh từ “cọp liếm”. Mặc tất cả, hắn thản nhiên xách ba lô về trình diện. Thản nhiên đánh đấm. Thản nhiên chơi bời. Để trở thành người sĩ quan tác chiến kỳ cục này với cái hỗn danh: cậu út.

Thêm vào đó những ngày trọng cấm mà hắn cũng thản nhiên ký lại làm sự thắc mắc của tôi càng thêm rối rắm. Nếu muốn chết để quên mối tình với cô gái Tiều châu - tạm gán cho hắn lý do cải lương này - thì hắn đâu cần khôn ngoan khi chiến đấu? Nếu muốn “đỏ ngực” thì hắn đâu thoải mái phá phách, rong chơi? Cả đoạn đời sau lưng và trước mặt đều không lộ ra một nguyên nhân nào giải thích cho con người cậu út. Tôi bỏ cuộc khi cậu út được đeo lon thiếu úy.

Sau trận núi Chéo, tiểu đoàn bị cày nát. Hơn một tuần lễ tăng phái cho sư đoàn 22 Bộ binh để ủi lên, ủi xuống núi Chéo - tên ngọn đồi trọc chỉ cao 81 thước - cả đơn vị còn lại chưa đầy trăm người lính và mươi sĩ quan. Trong đó có tôi và cậu út.

Trước ngày về Dục mỹ bổ xung quân số và học bổ túc, đứng trước hàng xác đồng đội quấn trong poncho tại phi trường Phù cát, lần đầu tiên tôi thấy vẻ ung dung biến mất trên mặt cậu út. Khuôn mặt như cằn lại, hai hố mắt lõm sâu. Chúng tôi im lặng khi hỏa tiễn 122 ly vẫn rót chung quanh. Người lính trong cậu út có lẽ bấy giờ đã lớn hơn.

Hắn đứng rất lâu trước hàng poncho cuộn xác. Mắt lờ đờ như đôi mắt xác chết. Nét hồn nhiên mọi ngày như chưa từng có. Đứng ngẩn ngơ, rồi đi từng bước ngắn. Thỉnh thoảng lại cúi xuống đọc một cái tên, miệng lẩm bẩm những câu không rõ. Tôi không còn nhận ra dấu vết gì của riêng hắn - người sĩ quan trẻ lì lợm, hồn nhiên và dễ thương của đơn vị. Chỉ còn lại một cái xác di động trước những cái xác đang cuộn trong poncho. Một cái xác chưa cuộn poncho.

Lê từng bước đến cuối dãy xác hắn dừng lại. Rồi bắt đầu quay lại bằng những bước ngắn hơn. Đế giày hình như không rời khỏi mặt nhựa của phi đạo. Tất cả sự mệt mỏi được bộc lộ trên con người cậu út. Tôi ngạc nhiên theo dõi thái độ hắn và vẫn không nghĩ hắn mất hồn sau trận đánh. Không thể bảo hắn là sợ hãi cái chết được. Điều hắn đã làm và tôi đang chứng kiến đã cho kết luận này. Đạn 122 ly vẫn nổ rải rác. Phi trường vắng hoe, chỉ có những người lính đang trong nhiệm vụ mới có mặt, còn lại hầu hết đều ở trong hầm. Mỗi tiếng nổ là một đám khói bốc lên, một cái chết đem đến. Ngay cả những người đang ngồi trong hầm, dưới lớp bao cát dầy vẫn thấp thoải âu lo. Nhưng hắn vẫn đi đi, lại lại trước hàng xác. Mặc đạn réo ngang đầu, mặc từng chớp lửa xa gần. Cậu út như đang sống với hàng xác quấn poncho trong một khoảng trời khác.

Từ trong miệng hầm tôi gọi tên hắn. Cậu út vẫn những bước chân lê sát mặt nhựa. Tôi gọi lần thứ nhì lớn hơn. Hắn vẫn không nghe. Rồi lần thứ ba tôi gọi bằng cái hỗn danh đồng đội thường gọi. Vừa lúc đó một loạt pháo 122 ly nổ chung quanh, rất gần. Những ánh chớp loé lên và cái ù tai rầm rĩ làm đau bọng tai. Cậu út dừng lại, đầu ngẩng lên và mắt hướng về phía hầm của tôi. Cặp mắt lờ đờ vừa có tia sáng ngạc nhiên. Tôi gọi thêm lần nữa, hắn đã nghe rõ. Trên nét mặt lầm lì vẫn không điểm thêm chút xúc cảm nào. Bằng những bước chân dài hơn khi nãy, nhưng không vội vã hắn tiến về phía hầm tôi. Đến sát miệng hầm, hắn ngồi xuống trước lối vào. Cái đầu đưa vào trong đó với đôi mắt đã trở lại bình thường.

- Thiếu tá...

- Cậu vào đây, chúng nó đang pháo, ở ngoài rất nguy hiểm...

- Không sao đâu thiếu tá.

- Biết đâu...

- Có gì thì nằm chung với anh em ngoài kia cũng đỡ buồn...

Hắn cười nhạt sau câu nói và đứng dậy, đi về phía hàng xác. Tấm lưng thẳng như chĩu xuống dưới ánh nắng. Bước chân đang nhanh lại thành chậm khi đến cạnh hàng xác. Từ miệng hầm nhìn ra, khoảng cách giữa tôi và cậu út như xa lắm. Bóng hắn in trên nền trời ngập nắng, sừng sững như một pho tượng đang sống. Trong cảm giác xấu hổ tôi thấy miệng hầm đang trú ẩn như lối vào hang chuột.

Sau lần đó, tôi được chuyển về đơn vị khác.

Tháng 3 năm 1975, chúng tôi gặp lại nhau thêm lần nữa. Đó là buổi chiều tại sông Ba. Sau đoạn đường đầy máu của liên tỉnh lộ 7B, qua Phú bổn, Phú túc... Cái mệt mỏi pha trộn âu lo làm tôi muốn bỏ cuộc khi thấy cảnh tượng tại sông Ba. Đạn pháo đủ loại vẫn rót, trực thăng vẫn tải người qua sông với chùm người bám trên hai càng sắt như đàn kiến bám trên hai sợi chỉ mỏng manh. Những cái đạp chân của đồng đội trên những bàn tay đồng đội đang tìm sự sống. Những con người chơi vơi hai tay khi rớt xuống. Những con người đong đưa, tay duỗi căng đang chờ phiên mình bị đạp để bắt đầu cái chết. Những hố đạn pháo vung vít thịt, xương... Tất cả bao quanh tôi sau cố gắng vượt qua mọi thứ để sống, từ Kontum.

Tôi ngơ ngác nhìn mọi việc xảy ra. Người và người. Đạn và đạn. Như hôn mê, tôi không còn là tôi. Ranh giới giữa cái sống và cái chết không có tại đây. Nhốn nháo pha trộn sự phó mặc, đám đông chung quanh ẩn hiện như có, như không. Tôi chán nản đến một hố đạn ngồi xuống. Một bàn tay nắm lấy vai tôi. Rồi một bàn tay nữa. Cậu út đang đứng trước mặt tôi.

- Trung tá...

- Cậu...

- Vâng. Em đây.

Tiếng “em” đầu tiên, từ ngày gặp được cậu út gọi thật bất ngờ. Giữa cái hoang mang tôi chợt thấy được an ủi. Nước mắt tôi ứa ra.

- Mình đã thua cậu ạ.

- Vâng. Mình đang thua.

Hắn gật đầu, khuôn mặt của ngày ở phi trường Phù cát lại hiện về. Bây giờ ngoài hai hố mắt sâu còn thêm những nét nhăn trên trán. Người lính trong cậu út đã già hơn.

- Cậu tính sao?

- Em không biết. Em đã ngồi đây từ đêm hôm qua. Chẳng biết phải làm gì.

- Phải về Sàigòn.

- Về Sàigòn?

- Đúng.

- Rồi từ Sàigòn sẽ về đâu?

Hắn đặt lại câu hỏi như lần đầu gặp. Nhưng ngoài thái độ điềm tĩnh còn pha thêm vẻ đau đớn trên khuôn mặt.

Tôi im lặng. Chúng tôi im lặng ngồi xuống hố đạn. Nắng đã tắt, trên bầu trời bắt đầu sáng ánh vàng hỏa châu. Trong cơn mệt mỏi tôi thiếp đi.

Sáng sau tôi tỉnh dậy, cậu út đã bỏ đi từ lúc nào.

°

Mười ba năm ở Mỹ, vật lộn với cuộc sống khiến quá khứ trở thành hỗn độn, nhạt nhòa. Có những điều nhớ, có những điều quên trộn lẫn. Một nơi chốn nào, một thời gian nào, một con người nào... Cả ba điều khó đi cùng một lúc để trở lại. Tôi đã quá mệt mỏi. Qúa khứ như vùng cát đã lấp sóng. Chỉ thương, chỉ nhớ - và ngay cả 2 điều này - cũng chỉ cảm thấy. Không thể hình dung rõ nét. Nhưng nếp nhăn trên trán của người thanh niên 24 tuổi vẫn rõ ràng trong tôi. Những nếp nhăn kỳ cục của một con người thoáng qua trong đời làm tôi phải suy nghĩ. Sau đêm đó cậu út mất biệt trong cuộc sống. Không một tin tức nào cả. Kể cả những người đi tù về, vừa vượt biển sang. Chẳng một ai nhắc đến người thanh niên đó.

Đã có lần tôi hình dung ra cái chết của hắn. Một mảnh đạn ghim vào thân thể khi rời hố đi cầu. Chỉ thế mới bỏ mình tôi ở lại trong hố đạn. Không một lời giã từ, không một lời trăn trối. Suốt 13 năm, chưa một lần tôi nghĩ hắn bỏ lại mình tôi để vượt sông Ba một mình. Sự tin tưởng thật rõ ràng. Tôi tin thế, như tôi đã tin hắn khi còn ở Bình định. Nhất là lúc đó, giữa cái hoang mang tìm cách vượt sông của mọi người hắn vẫn ngồi yên trong hố đạn. Con người như hắn chỉ có cái chết mới bỏ đồng đội. Có thể hắn tự tử... Có thể hắn bị giết... Những câu trả lời tôi đặt ra cho tôi đều bằng cái chết của cậu út. Luôn luôn thế, bởi trong trường hợp đó chỉ có cái chết mới làm cậu út sống mãi hình ảnh đẹp trong ý nghĩ của tôi. Tôi biết dù sao cũng là ích kỷ - nhưng thà thế - để cậu út có trọn cuộc sống đúng nghĩa.

Sự tin tưởng là hắn đã chết càng mãnh liệt khi tôi nghe một số bạn vừa sang kể về cuộc sống tù đày tại những trại tập trung. Ở đó, ranh giới giữa anh hùng và anh hèn mong manh như lớp vỏ khoai mì. Con người thật lộ ra trong trại. Có những con người rất bình thường khi sống ngoài đời, hoặc giả tầm thường hay nhút nhát cũng trở thành kiên cường, quyết liệt với kẻ thù trong trại. Và ngược lại cũng có những con người rất can đảm, khí phách ngoài đời lại biến thành bần tiện, hèn hạ trong tù. Sẵn sàng bán rẻ đồng đội bằng những tiện nghi tối thiểu. Tôi ngạc nhiên khi nghe chuyện kể và mừng rỡ trong ý nghĩ nhỏ nhen là mình không lâm vào cảnh đó. Lại liên tưởng đến cậu út. Hắn sẽ thế nào nếu sống trong tù? Nghĩ đến hắn và ý nghĩ mong hắn chết lại càng lớn hơn. Thà thế, để mãi mãi người lính với cái hỗn danh dễ thương đó là một hình ảnh đẹp. Cuối cùng cái phân vân nghi hoặc trở thành sợ hãi khi sẽ nhận được một tin về hắn đã làm những năm sau này tôi nhốt kín hắn trong đầu của mình. Không muốn hỏi thăm ai và cũng chẳng muốn nghe ai nhắc đến hắn. Cầm bằng như đã chết mất một người bạn nhỏ.

Trong số những người tôi quen tại thành phố này, có một người viết sách. Một chiều tháng sáu, anh ta rủ tôi đến chơi tại tòa soạn tờ báo Việt ngữ. Mục đích, như anh ta bảo là để xem bài mình viết được trình bày ra sao. Tôi cùng đi và được nghe mẩu đối thoại tại phòng kỹ thuật và trình bày tờ báo.

- Ai lay out bài này.

- Tôi.

- Tại sao lại để ở phần cuối trang.

- Vì mỹ thuật và kỹ thuật

- Tôi đề nghị đem bài này lên đầu trang.

- Tại sao?

- Bởi vì bài này do tôi viết.

- Không được.

- Phải được. Tôi muốn thế.

- Tôi có 2 điều nói với ông. Một là tôi không cần biết ông là ai. Hai là tôi yêu cầu ông bước ra khỏi phòng này.

- Anh biết tôi là ai không?

- Tại sao phải biết?

- Tôi giới thiệu với anh, tôi được mời vào nhóm chủ trương tờ báo này.

- Ra thế!

- Anh hãy dời lên trên.

- Sau khi ông giới thiệu về ông. Ngoài hai điều vừa nói tôi còn thêm một điều thứ ba nữa để nói với ông: tôi sẽ không đăng bài của ông. Không! Phải nói là tôi không cho phép bài ông đăng vào phụ trang này, bởi tôi là người đã và đang phụ trách trang báo. Và ông, người chủ trương tờ báo không có nghĩa là ông có quyền xếp bài mình viết lên đầu trang báo theo ý muốn.

Tôi ngẩn người sau mẩu đối thoại. Lối trả lời rành mạch và giọng nói cách đây mười mấy năm sống lại. Chỉ là hắn mới có lối nói chuyện thế này. Tôi bước vào phòng kỹ thuật. Người viết sách hầm hầm nhìn một thanh niên đang vo bài báo - chắc của hắn - vất vào sọt rác. Đôi vai thẳng băng, cái lưng cứng và thái độ ung dung. Tôi gọi một cái tên. Người thanh niên quay lại. Đó là cậu út, hắn nhận ra tôi ngay.

- Anh...

- Phải, tôi đây.

Bỏ mặc người viết sách, cậu út tiến lại phía tôi. Nụ cười thật hồn nhiên trên môi. Khuôn mặt đã không còn nếp nhăn với đôi mắt đầy tự tin. Đột nhiên tôi liên tưởng đến những chuyện đã được nghe về trại tù, rồi hình ảnh hố đạn pháo cạnh sông Ba trở về.

- Sau đêm đó cậu đi đâu? Đêm ở sông Ba đó...

- Anh nhớ dai thật. Hắn vẫn cười hồn nhiên. Em không ngủ được, đầu óc nghĩ những chuyện đâu đâu, chỉ muốn tự tử. Bởi lúc đó em chẳng biết sẽ về đâu... Sau cùng, tự nhiên em đi ngược về liên tỉnh lộ 7B. Em cũng không hiểu tại sao lại quay về hướng cũ. Rồi bị bắt, sau mấy năm tù em trốn về được. Lại thêm mấy năm lang thang, làm đủ thứ nghề ở Sàigòn. Bây giờ em ở đây, như anh thấy...

- Cậu sang đây một mình?

- Vâng, nhà chả còn ai. Ông cụ mất, bà cụ thì già, anh chị cả đống con cái... Em đi một mình, hiện đi học buổi sáng, chiều làm ở đây.

Hắn kể chuyện của mình thản nhiên, như mọi việc xảy ra là điều tất nhiên. Ngay cả những chuyện tù, bị bắt, cha chết... Chỉ nhắc thoáng qua, không lộ vẻ cảm xúc nào. Và tương lai như đã vạch sẵn, chỉ bước tới. “Đi học buổi sáng, đi làm buổi chiều tại đây”. Thoải mái, tự nhiên hành động như ngày xưa chiến đấu và phá phách. Tin vào chính việc mình làm, con người cậu út vẫn không thay đổi. Người chết mười ba năm vừa sống lại. Tôi chăm chăm nhìn hắn. Mắt vẫn sáng và đang nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Chuyện lúc nãy có thể khó khăn cho công việc của cậu.

- Tại sao lại khó khăn? Em làm đúng việc của mình, mấy cái râu ria em đâu màng. Không nhận thì không làm, nhận thì làm rõ ràng...

- Cậu vẫn thế.

- Làm sao thay đổi được hả anh.

- Ngay cả lối nói chuyện.

- Vâng, ngay cả lối nói chuyện.

Hắn nhắc lại và chúng tôi cùng bật cười. Phía góc phòng người viết sách ngạc nhiên theo dõi. Hắn sẽ mãi mãi ngạc nhiên bởi đã có cuộc sống của một con người hoàn toàn khác hẳn những trang sách đã viết. Của gã và ngay cả không của gã. Cuộc sống của người lính bình thường mang tên cậu út. Hệt như trăm ngàn người lính khác đã bước ra những ngoài dòng kẻ của trang giấy. Để sống và đã sống.
Hết

Edited by user Friday, April 18, 2014 10:09:14 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
TRA-MAI on 6/19/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1006 Posted : Monday, May 26, 2014 5:10:16 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
UserPostedImage

Hôm nay là ngày lễ CHIẾN SĨ TRẬN VONG
Ngoài mấy tiệm, chợ, mấy hôm nay thấy chưng bày nhiều chậu bông với ba màu xanh trắng và tím rất đẹp

Theo Bách khoa tự điển mở

Quote:
Lễ Chiến sĩ trận vong hay Ngày Chiến sĩ trận vong (tiếng Anh: Memorial Day) là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm. Trước kia với tên gọi là Ngày Trang trí (Decoration Day), ngày lễ này tưởng niệm những quân nhân Hoa Kỳ đã tử nạn trong lúc phục vụ.[1]

Ngày lễ đầu tiên tưởng niệm quân nhân Liên bang miền Bắc đã tử nạn trong cuộc nội chiến (được tưởng niệm gần ngày thống nhất sau cuộc chiến). Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất ngày lễ này bắt đầu được mở rộng để tưởng niệm các binh sĩ bị tử nạn trong các cuộc chiến khác.

Từ năm 1971 Ngày Lễ chiến sĩ trận vong chính thức trở thành ngày lễ liên bang ở Hoa Kỳ. Vào ngày này người Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài kỉ niệm; lá cờ Mỹ để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương.
Nhiều người Mỹ coi Ngày Chiến sĩ trận vong là ngày bắt đầu mùa hè.[2] Theo truyền thống ngày này kèm theo các hoạt động gia đình, đi cắm trại hay các sự kiện thể thao.

Các truyền thống

Nhiều người tưởng niệm Lễ Chiến sĩ trận vong bằng cách thăm viếng các nghĩa trang và đài tưởng niệm. Vào đúng 3 giờ trưa giờ địa phương vào Ngày Chiến sĩ trận vong, người Mỹ được khuyến khích dành một phút mặc niệm cho những binh sĩ đã hy sinh trên chiến trường.[4] Quốc kỳ Hoa Kỳ cũng được rũ xuống từ sáng đến trưa.[4]
Ngày lễ này cũng được nhiều người Mỹ coi là ngày truyền thống bắt đầu mùa hè[2] (Ngày Lao động vào tháng 9 được xem là ngày lễ chấm dứt mùa hè). Nhân dịp ba ngày cuối tuần và thời tiết đẹp, nhiều người Mỹ thường vận dụng ngày lễ để sinh hoạt với gia đình và tham gia các hoạt động ngoài trời.[5]

Ngoài ngày nầy, trên thế giời còn có vài ngày lễ liên quan tới những người chiến sĩ:
Ngày Cựu chiến binh (Veterans Day) - ngày lễ tương tự dành cho tất cả các cựu chiến binh còn sống hay đã chết
Ngày ANZAC - tại Úc và New Zealand
Ngày Tưởng niệm (Remembrance Day) hay Ngày Đình chiến (Armistice Day) - kỷ niệm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất



Ở Việt Nam, mình có đài Chiến Sĩ Trận Vong tại Huế

UserPostedImage

Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong tại Huế còn được gọi là Bia Quốc Học, toạ lạc sát bờ nam sông Hương, trước mặt trường Quốc Học.

Mời xem video clip hình ảnh Tượng Đài Chiến Sĩ Trận Vong - Westminster, Californnia, USA 09/14/2013, xây từ năm 2001
Hôm nay tại đây sẽ có buổi lễ tưởng niệm những anh hùng vị quốc vong thân cuả chúng ta.

Thành kính TRI ÂN

Đài CHIẾN SĨ TRẬN VONG



Edited by user Monday, May 26, 2014 5:12:04 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
TRA-MAI on 6/19/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1007 Posted : Monday, June 2, 2014 7:05:21 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
Sài Gòn Nhỏ Lớn Đều Nhớ Anh

Tác giả: Philato



Tác giả tên thật là Tô Văn Cấp, sinh năm 1941, cựu sĩ quan VNCH, cựu tù công sản, định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. 1, hiện làm việc tại học khu Ocean View. Ông đã góp nhiều bài viết về nước Mỹ, bài nào cũng cho thấy tấm lòng. Bài mới sau đây được viết với nhiều hình ảnh từ một ngày tri ân thương phế binh VNCH vừa được tổ chức công khai ngay giữa Sài Gòn lớn, trong nước.


* * *

“Anh” trong tựa đề bài này là các Thương Phế Binh VNCH. Sàigòn Nhỏ không chỉ là Little Saigon mà còn là bà con tị nạn khắp nơi trên đất Mỹ.

Đã 7 lần rồi, mỗi khi Hội HO phối hợp với đài SBTN để tổ chức “Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh” thì được toàn thể đồng hương trên khắp các tiểu bang Hoa Kỳ ủng hộ, số tiền thu được, đủ đề gửi gói quà về cho gần 20 ngàn hồ sơ TPB mà hội đang chịu trách nhiệm.

Sài Gòn Nhỏ nhớ anh đã đành. Nhưng còn Sàigòn lớn, cái thành phố đã mất tên từ 39 năm nay?

Trong các thánh lễ Chúa Nhật tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, cha Giuse Hồ Đắc Tâm, chánh xứ đã thông báo:

“Nhân dịp kết thúc Mùa Chay và đón mừng đại lễ Chúa Giêsu Phục Sinh, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có tổ chức chương trình tri ân quý ông thương phế binh vào sáng thứ hai, ngày 28 Tháng 4 năm 2014, tại phòng Hiệp Nhất của giáo xứ. Chương trình gồm có chia xẻ tâm tình, cùng ăn chung với nhau một bữa cơm trưa, và đón nhận một món quà nho nhỏ”.

Quý ông thương phế binh muốn tham gia ngày tri ân có thể ghi danh trực tiếp tại văn phòng giáo xứ hoặc phòng Công Lý & Hòa Bình, hoặc gởi email về ngaytrian@gmail.com.

Trên đây là bản tin anh Nguyễn Phán, hội phó nội vụ hội HO cứu trợ TPB, phổ biến lên các diễn đàn có kèm theo một tấm hình các TPB ngồi ăn với nhau tại Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) Saigon vào năm 2013.

UserPostedImage

Các TPB ngồi ăn với nhau tại Dòng Chúa Cứu Thế.

Xem vậy thì biết vậy, vì bản tính đa nghi nên tôi còn nhiều dấu hỏi, trong lúc chờ tin tức về ngày “Tri Ân” như bản tin trên đã thông báo xem có đúng không thì tôi vô tình được gặp TPB ngồi xe lăn Nguyễn Văn Út, TĐ.9/TQLC, trong buổi lễ kỷ niệm ngày Quốc Hận 30-4 tại tượng đài Việt-Mỹ, Westminmster. Được biết Út mới từ VN qua, nên tôi đem tấm hình và bản tin trên hỏi Út thì anh cười nhe răng vàng khói thuốc nói:

“Đúng đó anh, chính em đến tham dự bữa cơm này, em có được chụp hình nữa. Tụi em không sợ, Dòng Chúa Cứu Thế cũng không sợ. Nói chung người dân trong nước bây giờ không sợ bọn chúng nữa, nhưng bọn bò vàng “căn-me” và hăm he dữ lắm”.

Nghe chính chú em cùng đơn vị xác nhận nên tôi tin, và niềm tin của tôi được thêm vững chắc khi vào chiều ngày 28/4, tin tức và hình ảnh về ngày “Tri Ân Quí Ông TPB” tại DCCT Saigòn tràn ngập trên internet. Xin mạn phép trích dẫn bản tin như sau:

Quote:
Sài Gòn - Vào lúc 8 giờ, ngày 28.04.2014, giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (38 Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn) đã tổ chức ngày “Tri Ân Quí Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa” cho khoảng 440 (danh sách chính thức 421)

Ngoài hơn 400 thương phế binh, buổi tri ân còn có sự hiện diện của cha Giám tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành, cha Giuse Hồ Đắc Tâm, bề trên và chánh xứ Gx. Đức Mẹ HCG, quý vị chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn, người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu và những người yêu mến Công Lý và Hòa Bình….
(ngưng trích).

Không có bút mực nào diễn tả hết sự xúc động và cảm phục vể buổi họp mặt này. Quý vị có thể tìm hiểu thêm chi tiết qua www.ducme.tv. Có nhiều độc giả không dùng internet nên khó mà nhìn thấy những anh em từng cầm súng chiến đấu thì nay tay cầm ghế, cầm guốc để... đi.

Đây là một sự thật mà bất cứ ai theo dõi cũng phải công nhận, không ai có thể ngụy tạo, không ai có thể ngăn được dòng nước mắt từ trái tim, dù tim sắt đá đến đâu đi nữa.

UserPostedImage

Đeo huy hiệu với dòng chữ “Tri ân quý ông thương phế binh 2014.

Khi được hỏi nguyên nhân và lý do có buổi tri ân này thì Linh Mục Lê Ngọc Thanh trong ban tổ chức cho biết đại ý như sau:

“Sáng kiến họp mặt quý ông TPB là do một số anh em bên Phật Giáo, đặc biệt là của Thượng Tọa Thích Không Tánh, ngài định tổ chức tại chùa Liên Trì, nhưng công an (CA) làm khó dễ nên ngài đã nhờ chúng tôi tiếp tay, vì thế lần họp mặt đầu tiên vào năm 2013 dự định tổ chức tại chùa Liên Trì thì đã được tổ chức tại DCCT. Để đáp ứng nguyện vọng quý ông TPB cần gặp gỡ nhau, và để tri ân qúy ông đã bỏ lại một phần thân xác nên tháng 8/2014 DCCT lại tổ chức lần thứ hai và hy vọng có lần thứ ba,thứ tư.”.

- Tài chánh từ đâu?

- Cha Lê Ngọc Thanh: Ngoài bữa cơm đạm bạc thì 421 quý ông TPB, mỗi ông được tặng một món quà nho nhỏ là 1 triệu đồng, tổng cộng số tiền là 430 triệu đồng. Đây là số tiền yểm trợ của đồng bào hải ngoại và còn lại là 1/3 do đồng bào trong nước đóng góp, người trong nước bắt đầu quan tâm tới các ông TPB, nhưng rất tiếc chính họ và chúng tôi vẫn còn nghèo.

- Ban tổ chức gặp khó khăn gì?

- Cha Thanh: “Nhiều lắm, đặc biệt là nhà cầm quyền không muốn chúng tôi làm việc này, họ ghép chúng tôi vào tội làm chính trị, nhưng chúng tôi cương quyết theo chủ trương của DCCT là đem tình yêu thương đến với nhau, và chúng tôi sẽ tổ chức cho năm 2015, chúng tôi chỉ có tấm lòng thương yêu và không sợ hãi... còn sự đóng góp là của đồng bào”.

Người tù “thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu đem đàn dến hát cho TPB nghe, anh nói:

“Trước đây tôi cứ tưởng với 36 năm tù CS đã là khổ cực lắm, tôi là người bất hạnh nhất nhưng khi đến đây thấy quý anh TPB mất mát một phần thân thể trong khi tôi còn chân tay thì với 36 năm tù của tôi không thấm thía gì so với sự hy sinh của các anh”.

Một điểm đáng kính phục là các anh TPB đã dõng dạc xưng danh, số quân, đơn vị, ngày bị thương và khẳng khái nói rằng các anh “Vẫn Hãnh Diện Là Quân Nhân QLVNCH”.

Thiếu chân đứng, nhưng các anh TPB vẫn đứng vững, không còn mắt nhưng các anh TPB vẫn sáng suốt giữa lòng địch, dám vỗ ngực xưng danh thì quả thật đáng kính phục. Trong khi đó, tại hải ngoại, cộng đồng tỵ nạn CS lại có những ông “tránh” ông “chùm”, có những ông “thầy” vì an ninh bản thân (hoặc chỉ vì cần du lịch VN) nên muốn cất kỹ cái lý lịch tỵ nạn CS “hoành tráng” của mình đi!

Ngay sau khi nhìn rõ sự thật về buổi “Tri Ân Quí Ông TPB” đã được tổ chức tại DCCT, Saigòn vào ngày 28/4/2014, thì đã có nhiều emails gửi đến Hội HO Cứu Trợ TPB đề nghị hội trích ra một số tiền ủng hộ cho họ để họ lại tổ chức ngaỳ tri ân vào tháng 4/2015 như lời cha chánh xứ đã tuyên bố, nhưng lão Bà-Bà Hạnh Nhơn, hội trưởng Hội HO đã hồi âm:

“Chúng tôi nhận được các tin tức và đề nghị,.... Ý kiến rất là tuyệt vời xuất phát từ tấm lòng của những đồng đội như chúng ta luôn nhớ đến tình Huynh Đệ Chi Binh...

UserPostedImage

Nhiều ông thương phế binh có mặt từ rất sớm.

Tuy nhiên, vì 4 lý do mà chúng ta chưa thực hiện được:

1/ Thời gian quá gấp rút, việc này tuy là ý nhỏ nhưng rất là quan trọng. Mọi công tác ngoài nội quy của Hội đều phải có buổi họp trong Hội để cùng giải quyết.

2/ Theo nguyên tắc, khi xuất quỹ phải có giấy tờ chứng minh với sở thuế (IRS), mọi số tiền thu được của Hội mỗi năm phải khai thuế, phải có những hồi báo do mỗi TPB ký nhận để chứng minh, hoặc các hóa đơn chi tiền.

3/Từ trước đến nay, Hội không có đại diện ở Việt Nam để lo cho TPB mà chỉ gởi thẳng về nhà cho mỗi anh em, không qua trung gian vì lý do muốn giữ an ninh cho họ...

4/ Số TPB hiện có ở Hội khoảng 15,000 và số Quả Phụ là 4,600, tất cả trên dưới 20,000 hồ sơ. Số TPB được 332 mạnh thường quân nhận bảo trợ thay cho Hội khoảng 700 TPB. Tất cả chỉ nói khoảng thôi, vì con số thay đổi hằng tuần, thêm cũng có mà chết cũng có, không cố định được. Về việc gởi giúp đỡ thì mỗi TPB được Hội giúp, nếu nhẹ thì 100USD/1 năm, nếu nặng thì 200USD/1 năm. TPB nào đang nằm bệnh viện thì gởi 300USD. TPB chết gởi 200 phụ lo đám tang và giúp gia đình một lần cuối.

Vì vậy xin quý vị kiên nhẫn, chúng ta sẽ họp bàn cho năm tới...Xin vui lòng thông cảm và xin đề nghị, nếu muốn hổ trợ cho chương trình tốt đẹp này, thì chúng ta nên đóng góp từ mỗi cá nhân thì sẽ hợp lý và kịp thời gian hơn. Tôi cũng xin sẽ đóng góp riêng để ủng hộ.

Thân mến,

Hạnh Nhơn

Không còn gì hợp tình hợp lý hơn khi được bà Hội Trưởng giải thích, một lão bà nay đã 88 tuổi mà vẫn gánh vác một trách nhiệm quá nặng nề, chưa có ai nhận trọng trách này để cụ bà được nghỉ ngơi. Đã vậy, mọi việc làm từ thiện đều bị tứ bề soi mói, kể cả nặng lời. Hội HO còn có trách nhiệm với hơn 20 ngàn hồ sơ TPB, trong đó có những TPB đến tham dự ngày “Tri Ân”.

Hiện nay đang có những cá nhân, những nhóm nhỏ rỉ tai nhau cùng quyên góp gửi về để yểm trợ các nhà đấu tranh trong nước và DCCT để có thể tổ chức được ngày “Tri Ân TPB” vào tháng 4/2015,...2016 v.v...

Nếu được như thế thì hằng năm, cứ vào tháng Tư, hải ngoại chúng ta tổ chức kỷ niệm ngày Quốc Hận 30/4 thì tại quốc nội, các TPB/VNCH cũng có dịp ngồi lại với nhau nâng chén trà để cùng nhớ ngày Quốc Nạn.

Chuyện “Tri Ân Quý Ông TPB” là chuyện tương lai, còn chuyện hiện tại là chúng ta sẽ tiếp tay với Hội HO để yểm trợ cho đại nhạc hội “Cám Ơn Anh” kỳ 8, tại Little Saigon như thế nào?


Và sau cùng là hình Lão Bà-Bà Hạnh Nhơn và chị Tú Quỳnh đi dán quảng cáo cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh tại Little Saigon.

Xin vắn tắt giới thiệu với độc giả về Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh hiện nay gồm:

- Hội Trưởng: cựu Tr/Tá KQ Hạnh Nhơn, 88 tuổi

- Hội Phó Ngoại Vụ: cựu Tr/Tá KQ Nguyễn Văn Ức

- Hội Phó Ngoại Vụ: CSVSQ Nguyễn Phán.

- Ủy Viên Tài Chánh: CSVSQ Nguyễn Hàm

- Thư Ký: Chị Tú Quỳnh, một quả phụ.

Trong bài viết này chúng tôi không đi vào chi tiết từng đại hội và thể thức cứu trợ như thế nào, mà chỉ nói về sự cộng tác của tập thể tỵ nạn với Hội HO trong các kỳ ĐNH vừa qua để chúng ta tiếp tay tích cực hơn trong ĐNH sắp tới vào ngày 3 Tháng 8/2014 tại Little Saigon

Dù tổ chức ở San Jose Bắc CA hay Little Saigon Nam CA thì các hội đoàn quân đội tại địa phương như Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, các hội Võ Bị, Thủ Đức, Thiếu Sinh Quân, ND, BĐQ, TQLC, HQ, KQ v.v.. là những thành phần nồng cốt của ban tổ chức, nhất là trong ngày diễn ra đại nhạc hội, các cựu quân nhân có mặt ở khắp nơi với bất cứ nhiệm vụ gì, từ tiếp tân, an ninh, bán vé v.v... Trước khi diễn ra ĐNH, trong thời gian chuẩn bị thì có nhiều việc phải làm lắm, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến việc bán vé và vận động cùng nhau kêu gọi đồng môn, đồng khóa, đồng hương yểm trợ sao cho kết quả kha-khá mà thôi.

Trước khi vận động như thế nào thì chúng ta cũng cần nhắc cho nhau biết để cảnh giác là mỗi khi có ĐNH/TPB thì bọn phá thối lại xuất hiện, xin “đừng nghe những gì bọn tay sai VC nói”. Nếu như ở trong nước, bọn “bò vàng”, cán bộ nồng cốt của chế độ CS, làm khó chùa Liên Trì và DCCT tồ chức tri ân TPB thì ở hải ngoại, bọn tay sai cũng tìm mọi cách để phá Hội HO.

Cũng có ý kiến nên dẹp hội HO đi để hội đồng hương nào thì lo cho TPB hội đồng hương đó! Hội đồng hương lo cho họ chưa xong, chưa biết hết hội viên thì lo cho ai?

Chuyện có thể làm là đơn vị nào, quân binh chủng nào thì lo cho đơn vị đó, thầy nào thì lo cho trò đó còn chưa thực hiện được thì nói chi chuyện hội đồng hương.

Theo tôi biết thì hiện nay đã có một số quân binh chủng lo cho TPB của họ, thí dụ như ND, BĐQ, TQLC, BK v.v... Các đơn vị bạn này lo cho TPB của họ như thế nào tôi không biết, riêng TQLC thì chúng tôi xin nói tóm tắt như thế này:

Hiện nay Tổng Hội TQLC chịu trách nhiệm tất cả hồ sơ TPB của binh chủng mình, hội HO không giữ một hồ sơ nào của TPB/TQLC. Tổng hội TQLC đã thành lập “Quỹ TPB”, có nghĩa là tất cả mọi quân nhân TQLC ở hải ngoại, từ ông anh cả đến chú em út, mỗi năm, mỗi người đều có bổn phận phải đóng 100 USD vào quỹ TPB/TQLC. Vì thế các anh em TPB/TQLC tạm hài lòng và ít ai bị sót tên. Ngoài ra với tình huynh đệ chi binh, các anh em TQLC và gia đình đã yểm trợ cho ĐNH Cám Ơn Anh kỳ 5 và kỳ 6, mỗi kỳ khoảng 5 ngàn đô.

(Cho tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để thông báo đến tất cả những anh em TQLC hải ngọai, dù thích hay không thích Tổng Hội Trưởng, dù sinh hoạt với Tổng Hội với Hội hay không thì quý Cọp Biển có bổn phận phải đóng góp vào quỹ TPB, quên hay cố tình quên thì hãy nhìn vào huy chương mang trên ngực, chức vụ các anh có và hỏi: “ai cho chúng ta những thứ này?”).

Có anh bạn thấy tôi kêu gọi yểm trợ cho ĐNH/TPB thì nói:

“Tôi đã về VN từ 2004, tìm đựơc 10 anh em cùng đơn vị, kể từ đó đến nay, mỗi năm vào dịp tết tôi gửi tiền lì xì 500, đâu phải đợi đến khi tiền phúng điếu 50 không nhận rồi mới chuyển qua cho thương phế binh”.

Anh bạn quả là người có cái tay quý, “tay phải làm việc thiện không cho tay trái biết”, âm thầm làm việc nghĩa và không bao giờ hô lên cho thiên hạ biết, trừ khi tức khí. Nhưng nếu bạn chỉ lo cho người cùng đơn vị thì TPB khác đơn vị ai lo? Chính là Hội HO đấy, và 50 đô la tiền phúng điếu tang gia không nhận thì chuyển sang cho Hội HO có gì sai mà anh bạn mỉa mai?

Hiện nay có rất nhiều tang gia thông báo không nhận phúng điếu vòng hoa, còn tiền phúng điếu, nếu có thì chuyển vào các quỹ từ thiện hay Hội HO. Đã có những đơn vị như ND, BĐQ, TQLC tự lo cho TPB của họ chính là phụ một tay với Hội HO để hội còn lo cho TPB các sư đoàn BB, các TPB Địa Phương Quân, Nghĩa Quân v.v... nếu không có Hội HO thì ai lo cho họ?

Vì vậy việc vận đổng đồng hương, đồng môn đồng khóa, đồng khóa khác chìa cùng ủng hộ cho Hội HO thì có gì sai? Xin quý độc giả cùng nhau tiếp tay, ủng hộ đại nhạc hội để anh em TPB có gói quà mặn mà hơn.

Muốn ủng hội ĐNH Cám Ơn Anh TPB kỳ 8 thì có nhiều cách, tôi chỉ xin nêu 2 trường hợp đơn giản nhất: mua vé đi xem ĐNH và gửi tiền ủng hộ.

Mỗi kỳ ĐNH tại Nam CA, Hội HO cần bán 10 ngàn vé, số vé này được chia cho các hội đoàn quân đội bán hộ. Ngoài ra chính các thành viên trong hội và một số thiện nguyện viên cũng mang vé xuống phố, xuống đường mời chào, sao cho số vé bán được càng nhiều càng tốt. Tuy mỗi vé chỉ có 10$, nhưng chẳng dễ dàng gì, nhiều khi cay đắng lắm mà vẫn đành ngậm “bồ hòn” làm ngọt.

Xin tất cả mọi người, nam, phụ, lão, ấu, tu sĩ, cùng nhau mua vé đến dự ĐNH/Cám Ơn Anh (ĐNH/C.Ơ.A) kỳ 8. Các anh em TPB đã chịu đựng suốt đời với thương tật thì chúng ta chỉ bỏ ra vài tiếng đồng hồ vào ngày Chúa Nhật đến để... trước nghe nhạc, sau làm việc nghĩa

Mỗi ngừơi Việt tỵ nạn CS, dù ở xa hay ở ngay vùng Little Saigon mà không thể tham dự được thì xin mở rộng bàn tay gửi tiền về ủng hộ cho ĐNH/TPB. Xin các phương tiện truyền thông giúp cho TPB một phút hoặc vài dòng kêu gọi.

Kính thưa quý niên trưởng cùng các bạn và thân hữu.

Khi quý vị đọc những dòng này thì cũng là lúc ban tổ chức ĐNH Cám Ơn Anh TPB kỳ 8 bắt đầu làm việc, chúng tôi thiết tha ước mong quý độc giả mở rộng vòng tay đối với anh em TPB/VNCH đang sống những ngày giờ còn rất ít trên chính quê hương của họ.

Một số trong chúng ta cũng đang gặp khó khăn, tuổi già, về hưu kèm theo bệnh tật, nhưng vẫn còn các con đã thành công giúp đỡ và nhất là có cậu “con nuôi OBMA” đã, đang, sẽ mãi mãi chu cấp cho chúng ta hàng tháng thuốc men và “tiền già” thì xá chi. Chỉ bằng một tô phở cũng đủ giúp cho anh em TPB một gói quà.

Chúng ta cũng nên khuyến khích con, bạn bè thân nhân tiếp tay với chúng ta “nhớ về ngừơi lính...năm xưa”, những ngửơi lính năm xưa thiếu chân đứng. Họ là những ân nhân của chúng ta, của con cháu chúng ta, TPB cho vay mà không bao giờ đòi lại hay kể công.

Kính thưa các thẩm quyền thuộc các quân trường Thủ Đức, Đà Lạt, Đồng Đế, Hải Quân, Không Quân v.v...

Có một thẩm quyền được Tổng Thống thả lon xuống ngay tại mặt trận để thăng cấp nhưng lon bị bay ra ngoài vị trí, anh em binh sĩ tìm lại được đem đến đeo cho ông thì ông nói:

“Tổng Thống thăng cấp cho tôi, nhưng chính anh em gắn lon cho tôi”.

Một câu nói được xếp vào hàng “danh ngôn”. Danh ngôn vì nó quá đúng với mọi trường hợp của chúng ta, các thẩm quyền thuộc các quân trường kể trên chắc chắn đã nhiều lần được thuộc cấp “gắn” cấp bậc và huy chương thì đây là lúc chúng ta “trả lại” anh em những gì của anh em đã cho chúng ta. Vì vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi các thẩm quyền trực tiếp tham gia vào ban tổ chức ĐNH/TPB kỳ 8 này.

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật, tôi xin đề nghị với các thẩm quyền, đại bàng, đích thân v.v... như thế này: Dù bất cứ quân trường nào cũng có nhiều khóa, các đồng khóa vẫn liên lạc thường xuyên với nhau qua emails hay diễn đàn để kêu gọi tương trợ, vậy thì đây là lúc các đại diện khóa, các bạn đồng khóa cùng lên tiếng, cùng kêu gọi nhau đóng góp cho khóa, khóa tổng kết lại rồi chuyển cho Hội HO. Đây là kêu gọi rộng rãi nhất đến với mọi cựu sĩ quan, cách đóng góp hữu hiệu nhất thay vì yểm trợ lẻ tẻ từng cá nhân.

Tôi xin đưa ra một thí dụ cụ thể: Vào năm 2012, lần tổ chức ĐNH kỳ 6, Các K16, K19, K20, K21, K24 kêu gọi nhau cùng gửi tiền yểm trợ về cho khóa thì số tiền thu được rất khả quan, gấp nhiều lần so với trứơc đó, ĐNH kỳ 5, các khóa không kêu gọi mà tự động mỗi cá nhân trực tiếp gửi nên số thu được rất khiêm nhường.

Vì vậy nếu như đại diện cựu SVSQ Không Quân các Khóa 64A,B,C,D,E,F v.v..., đại diện cựu SVSQ Thủ Đức các K12, K17, K4/71 v.v... đại diện cựu SVSQ Võ Bị các Khóa 1-31 kêu gọi đồng khóa mình gửi tiền yềm trợ ĐNH/TPB kỳ 8 về cho đại diện khóa tổng kết rồi mới chuyển đến ban tổ chức thì chắc chắn kết quả trông thấy liền, không cần “3 tháng”.

Để kết luận cho bài viết này, kính mời các thẩm quyền, cùng độc giả gần xa, những người không phải HO., chúng ta hãy ngồi lại với nhau để tự tay đốt cho anh em TPB điếu thuốc.

UserPostedImage

*

Thưa Toàn Thể Độc Giả.

Nếu những hình ảnh trên đây làm quý vị xúc động, thì hãy cầm viết lên, gọi điện thoại, gửi emails cho bạn bè bà con anh em con cháu cùng nhau yểm trợ cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh TPB Kỳ 8... chi phiê´u xin đê`:

Quote:
Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8.

Địa chỉ thư tín liên lạc: Hội H.O. Cứu Trợ TPB& QP/VNCH

P.O. Box 25554

Santa Ana, CA 92799.


Philato
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
TRA-MAI on 6/19/2014(UTC)
Lữ Khách  
#1008 Posted : Wednesday, June 4, 2014 6:42:26 PM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,175
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 121 time(s) in 56 post(s)

Cựu Nữ Quân Nhân QLVNCH Mũ Ðỏ Võ Thị Vui: Người Xưa Đâu


Sau hơn hai mươi mấy năm tại xứ người lưu lạc, người quân nhân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa xưa. Những người lính một thời mang quân phục, cầm súng giữ quê hương, ngày nay đã ra thân lữ thứ. Thỉnh thoảng có gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, nhưng khi chia tay nụ cười sao thấy ngậm ngùi

UserPostedImage


(Bài viết dưới đây của Chiến Hữu Võ Thị Vui được ghi chép thời chị Vui còn mạnh khỏe, thời mà đôi mắt chị còn tinh anh, nay thì chị đã ra người thiên cổ; mời bạn đọc theo dõi bài viết với tấm lòng của chị với nghiệp lính và nghề văn đã một thời dấn thân cho quê hương đất nước và dân tộc).


Sau hơn hai mươi mấy năm tại xứ người lưu lạc, người quân nhân của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa xưa. Những người lính một thời mang quân phục, cầm súng giữ quê hương, ngày nay đã ra thân lữ thứ. Thỉnh thoảng có gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, nhưng khi chia tay nụ cười sao thấy ngậm ngùi. Từ kẻ ra đi năm 1975 cho đến người mới sang sau hàng chục năm bị tù đày, tâm trạng dễ giống nhau và vẫn thấy lạc lõng, thấy bơ vơ. Có chăng khi mặc lại bộ quân phục xưa trong các dịp lễ hoặc hội họp của Quân Ðội. Ta mới thấy nụ cười thực sự nở trên môi các người lính cũ đã từng tung hoành ngang dọc trên mọi chiến trường của bốn Vùng Chiến Thuật. Với nhiệm vụ người dân trong thời chiến, giữ vững an bình trên mọi nẻo đường đất nước.

Trong một buổi họp mặt của binh chủng bạn, tôi đã gặp lại một cấp chỉ huy xưa. Ông là một danh tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sang đây, thỉnh thoảng gặp lại, ông luôn luôn niềm nở thân mật, hỏi han như lúc xưa. Lúc ông còn là Tư Lệnh Sư Ðoàn TQLC của QLVNCH. Một Sư Ðoàn thiện chiến mà lũ Việt Cộng nghe đến đã co cẳng chạy lẹ. Ông gặp tôi cười và nói:
- Bà đã viết nhiều về đời lính của bạn bè, đồng ngũ thuộc các quân binh chủng, bà cũng đã viết về các Nữ Quân Nhân. Vậy tại sao bà không viết về các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Tôi biết Nữ Quân Nhân thuộc QLVNCH không ít, nhưng với binh chủng Nhảy Dù chắc chỉ đếm trên đầu ngón tay, tại sao không viết?
- Trình Trung Tướng, các chị có Bằng Dù trong Sư Ðoàn Dù, thật ra cũng không nhiều. Ða số chuyện xảy ra trong đời người Nữ Quân Nhân Nhảy Dù toàn là chuyện cá nhân. Cho nên không có gì để viết.
- Thì cứ xem như chuyện kỷ niệm của các cô gái… một thời in gót trên “không gian vương dấu giày” (thơ HHC).
- Thưa, tôi sẽ cố gắng…
Vừa chào vị chỉ huy xưa, tôi cũng gặp thêm một số chiến hữu khác, ai cũng khuyến khích tôi ghi lại những kỷ niệm xưa thời trong quân ngũ. Bạn bè còn nói thêm: “Bây giờ không viết, mai mốt chống gậy sức đâu mà viết”.
Viết gì đây? Tôi trả lời, thôi viết về lúc xưa các ông lén bà xã đi du dương với các em gái hậu phương được không.
Bạn bè la hoảng:
- Nè! Bộ muốn đốt nhà… bạn hữu sao?
- Ai biểu lúc đó các ông cứ ca “Anh tiền tuyến, em hậu phương” chi?
- Nhứt bà rồi đó. Thôi thì ghi lại chuyện tình của các Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ. Giữ kín quá, lâu lâu bật mí cho anh em, để bắt chước và để mừng… cho bà.

Thế là trong lúc cao hứng, lỡ hứa với người Chủ Nhiệm KBC. Cho nên đêm nay, trong căn nhà nhỏ quạnh hiu nơi góc núi, tôi để hồn trở về dĩ vãng…
Năm 1955. Lúc đó tôi đã đầu quân vào Quân Ðội. Trong một dịp khao quân, tôi đã gặp Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, trong đêm tiệc khao quân chiến thắng Bình Xuyên, ông đã gợi ý cho chúng tôi gia nhập Binh Chủng Nhảy Dù và chính ông cổ võ chúng tôi làm đơn xin được học Nhảy Dù. Lúc ấy tuổi trẻ hăng say, 30 cô gái đã tình nguyện học Nhảy Dù, cũng là khóa I Nhảy Dù của Quân Ðội do chính các quân nhân Việt-Nam thực thụ huấn luyện.
Sau đợt tuyển chọn, chỉ có 9 cô thực sự được theo học Nhảy Dù, khóa II cũng chỉ có 6 cô được theo học. Nhưng trong lúc huấn luyện nhảy thi lấy bằng, một nữ phụ tá xuống dù bị gãy xương mông nên không có bằng. Thế Là QLVNCH từ năm 1955 đến năm 1966 chỉ có 14 cô thực sự có bằng. Nhưng đến năm 1960 thì hai trong 14 cô đã được theo học Nhảy Dù điều khiển, có bằng Huấn Luyện Viên Dù. Sau năm 1967 đến năm 1975, có khoảng 10 cô nữa có bằng Nhảy Dù. Lúc trước năm 1965, muốn có Bằng Dù bất luận nam nữ đều phải nhảy năm lần ban ngày và hai lần ban đêm. Sau năm 1967 thì chỉ cần bốn lần nhảy là được cấp Bằng Dù. Bởi vì nhu cầu chiến trường nên thời gian nhảy huấn luyện rút ngắn lại. Ða số quân nhân Dù mới đều thở dài nhẹ… nhỏm, và mỗi năm người quân nhân Dù phải có bốn Saut nhảy bồi dưỡng để có thể ăn lương Bằng Dù. Ðó là kể những quân nhân Dù. Còn các huấn Luyện Viên dĩ nhiên gấp 10 lần hơn, vì huấn luyện khóa nào cũng phải nhảy theo. Và trong đời lính Nhảy Dù của phái nữ có nhiều vui buồn lẫn lộn, dĩ nhiên là chuyện… đàn bà. Tôi ghi lại đây một số chị em có với tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kỷ niệm của người con gái mang danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ.


1. Dương Thị Kim Thanh:

Chị là một cán sự y-tế ngoài đời, được phục vụ ngành Quân Y. Người miền sông Hương núi Ngự, nhưng giọng nói đã lai… Sài Gòn 50%. Chị tốt nghiệp khóa I Nhảy Dù với tôi. Cũng là một trong 9 cô Nữ Quân Nhân Nhảy Dù đầu tiên của QLVNCH. Lúc đó chị 25 tuổi, là người lớn tuổi nhất trong 9 cô. Chúng tôi xem chị như người chị cả. Hiền lành nhỏ nhẹ. Phục vụ rất tận tâm trong ngành Quân Y, tuy quân số thuộc Sư Ðoàn Nhảy Dù (lúc đó là Lữ Ðoàn Nhảy Dù). Nhưng làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Lúc ấy, 9 cô khóa I đều là độc thân (bắt buộc) nên chị là hoa khôi của Tổng Y Viện Cộng-Hòa nhờ vào chiếc Mũ Ðỏ và Bằng Dù chị mang trước ngực. (Thời đó Nữ Phụ Tá mỗi ngành đồng phục, đội mũ calos trên đầu. Chỉ có các cô gái có Bằng Dù, được Bộ TTM cho phép đội Mũ Ðỏ dù phục vụ ở đâu). Chị đã cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp các nơi và trong một Saut đặc biệt, tình yêu đã nở trên không. Ðại Úy Trương Quang Ân, người đứng thủ khoa của Võ Bị Ðà Lạt (khóa 7, năm 1952) đã cùng chị thực hiện lời ước mơ. Ðám cưới kết thúc mối tình không gian. Chị đã có ba con. Sau này chị là phu nhân Tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Ông Bà đã tử nạn trong một tai nạn phi cơ trực thăng lúc đi thăm viếng tiền đồn. Ðể lại vành khăn tang trên đầu ba đứa bé, cùng một lúc mất cha lẫn mẹ. Ðêm nay ngồi đây viết đến dòng chữ này tôi đã không ngăn nổi hai dòng lệ chảy xuống thương cho ba cháu. Không biết bây giờ ra sao?

2. Nguyễn Thị Sang:

Chị cũng cùng khóa với tôi. Nhưng phục vụ ở Ðại đội Kỹ Thuật (Trung đội gấp dù). Chị người miền Nam cao lớn hiền lành vui tánh. Tuy lúc đó 19 tuổi mà chị như con nít, giận ai thì khóc lớn, phải dỗ và năn nỉ gần chết mới chịu. Khi nghe hứa đền cho cái bánh thì cười ngay. Có một lần đi nhảy biểu diễn ở Ban Mê Thuột, nhân dịp hội chợ. Có Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chủ tọa. Sau khi nhảy xong, chúng tôi trở về, đề nghị Trung Úy hướng dẫn đi xem thác Drakling. Khi về chị xin ngừng xe một chút. Ông Trung Úy trưởng toán không chịu ngừng. Chị kêu lên nếu Trung Úy không ngừng xe thì… tui chết ông phải chịu… Có lẽ sợ trách nhiệm nên Trung Úy cho ngừng xe. Chị nhảy xuống chạy tuốt vào bìa rừng… Năm phút sau, chị hớn hở chạy ra, tươi tỉnh không cần nhìn đến nét mặt cau có của Trung Úy trưởng toán. Lên xe xong, chị nói tỉnh bơ… “Ai cũng vậy, vua chúa cũng làm dzậy mà. Có dzô thì phải… có ra chứ”. Lúc đó mọi người mới biết là chị đi thi hành cái khoái thứ… tư.

Sau này, chị xin giải ngũ lý do “Má kêu về lấy… chồng”. Cho dù ông Trung Úy Trung đội trưởng gấp dù là người nổi danh khó tánh, cũng phải hi câu chấp thuận, mới chuyển đơn lên Ðại đội trưởng Kỹ thuật (Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam sau nầy). Nghe đâu vì sanh khó, nên chị đã từ trần. Nữ Thiên Thần thứ hai đã ra đi, để bạn bè đồng đội ngậm ngùi cho thân phận đàn bà.

3. Nguyễn Thị Thọ:

Chị cũng phục vụ trong TÐGÐ, người Hà Nội. Vào Nam cha mẹ mất chỉ có hai chị em. Chị rất vui tánh, thực thà, một mình thay cha mẹ nuôi em nên người. Chị có nhiều Saut Dù vì tình nguyện cùng chúng tôi đi nhảy biểu diễn khắp nơi. Lúc nào chị cũng thực thà nói với tôi là chị rất yêu thích miền Nam vì tính tình cởi mở, không khách sáo và trù phú dễ làm ăn, không khó khăn như ngoài Bắc quê chị nghèo nàn.
Sau này chị kết duyên với một Huấn Luyện Viên Dù Cao Ðăng Huynh, một trong những huấn luyện viên nhiều Saut Dù nhất. Vì đông con nên chị đã giải ngũ. Thế là khóa I không còn lại mấy người. Hiện gia đình chị bình yên ở Việt-Nam. Các cháu đều lớn cả.

4. Nguyễn Thị Liên:

Chúng tôi cùng chung một khóa học Dù, tuy là hai ngành khác nhau. Nhưng chúng tôi kết bạn xem như “Tình Bắc Duyên Nam”. Chị cũng là con gái Hà Nội, xinh xắn hiền lành, có hai răng thỏ rất có duyên. Sau này chị kết hôn với một sĩ quan Dù, nên giải ngũ ở nhà lo làm vợ hiền. Nhưng sau, Trung Tá Nguyễn Văn Thạnh bị Việt Cộng phục kích chết tại Vùng IV Chiến Thuật. Chị thay chồng nuôi đàn con dại. Không biết hiện giờ chị ở đâu? Tiểu bang nào?

Còn nữa. Trong 9 cô Nhảy Dù được mệnh danh là Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ còn có Khánh, Hương, Hoa (một chị nữa tôi quên tên) đã có Bằng Dù nhưng giải ngũ rất sớm. Hiện tại không biết lưu lạc phương nào. Các chị có ra đi hay còn ở lại?
Và từ khóa II thì có:

5. Ngô Bích Lộc:

Người con gái sinh trưởng tại Thủ đô Hà-Nội. Chính gốc tiểu thư Bắc Hà, dáng gầy cao, nhìn bề ngoài giống con trai nhiều hơn gái. Nó rất tinh nghịch, nhưng mỗi lần đứng trước của phi cơ chờ nhảy chỉ cần nghe tiếng của Huấn Luyện Viên nói “Go!” là phóng ra. Nó còn nhìn lại tôi nháy mắt, hẹn sau Saut Dù phóng ra Hóc Môn ăn bì bún, cái món miền Nam nó mê nhất. Tuy là đầm Tây nhưng lại Việt-Nam hơn cả các bạn Việt-Nam. Xếp của chúng tôi lúc bấy giờ là Trung Úy Nguyễn Ngọc Hạnh (Trung Tá Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh) thường hay bắt chúng tôi ra làm “người mẫu” cho ông chụp. Lúc nào nó cũng nói thầm với tôi rằng: “Khiếp thật! Tao mà ế chồng cũng vì làm người mẫu cho Lão này, mày ạ…” Tuy thế, nó vẫn có nhiều người xin bàn tay. Nó lại dân Tây cho nên rất tự nhiên trong sự giao thiệp. Cái điều kỵ nhất của các bà xếp chỉ huy, lúc bấy giờ các bà lúc nào cũng muốn nhân viên của mình e ấp… tiểu thư. Bích Lộc chúa ghét lối giả tạo, tôi bắt chước theo. Cho nên hai chúng tôi được các bà chỉ huy liệt vào hạng “ba gai”.

Sau này nó bực mình không chịu ở Quân Ðội, xin giải ngũ, ra làm phóng viên cho hãng Reuter, tiếng Anh như gió, nó sang Mỹ làm việc sớm lắm. Sau 1975, nó mở một nhà hàng trên D.C. Khách hàng của nó từ ông Tổng Thống đến các Bộ Trưởng, nhân viên ngoại giao, Thượng nghị sĩ, Dân Biểu đều đến nhà hàng của nó. Nhà hàng nổi tiếng ngon, khung cảnh đẹp. Lúc tôi sang D.C. tham dự 50 năm kỷ niệm Nhảy Dù của Quân Ðội Mỹ. Nhìn nó tiếp đãi quan khách ở nhà hàng, tôi thấy nó quyết định giải ngũ sớm là đúng.

Thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau qua phone cho dù đôi bạn lúc xưa, bây giờ có hai thứ tóc, đều làm chức… Bà cả rồi… Mà vẫn mày mày, tao tao như 40 năm về trước, gặp nhau đều khen nhau đẹp… lão.

6. Trần Xuân Lan:

Sinh trưởng ở miền Hậu Giang, tánh thực thà. Người nhỏ con nên khi mặc bộ đồ Dù, đứng trong hàng chờ điểm danh lên phi cơ chúng tôi đều cho nó lên hàng đầu, vì sợ Huấn Luyện Viên Dù bỏ sót nó. Xuống dù luôn luôn nó xuống sau, dù là nhảy trước. Nó đủ điểm nặng chứ không dư ký thịt da nào. Chúng tôi hay chế nhạo nó đi nhảy phải đeo thêm đá. Nó giận lên mét cấp trên. Làm chúng tôi bị rầy. Tuy thế mà người chỉ huy khi nghe nó khiếu nại cũng phải nở nụ cười kín đáo.
Sau lần dang dở tình yêu với một sĩ quan Mũ Ðỏ nó thề không lấy chồng nữa. Nghe đâu hiện nay nó về quê ở Sa Ðéc làm nghề y tá… vườn rất khá. Không biết có lúc nào nó nhớ lại lúc còn áo hoa Mũ Ðỏ hay không?

7. Bùi Ngọc Thúy:

Cũng sinh đẻ tại Bắc Việt. Nhưng quê nó ở Nam Ðịnh (?) được tính thật thà. Bị bạn bè hay chế nó là “Hăng Rô”. Nó không biết, hỏi tôi rằng: “Tại sao chúng nó gọi tao tên… Tây vậy hở?” Tôi cười đáp ngay là miền Nam hay nói lái. Hăng Rô… tức là “Thưa cô rằng. Ngược là… Răng cô… thừa…” Vỡ lẽ ra, nó kêu tên tam đại tụi bạn ra chửi. Ðược thể tụi bạn còn chọc thêm. Tuy xin tình nguyện đi Nhảy Dù nhưng nó sợ lắm. Bao nhiêu lần định bỏ dở, nhờ tôi khuyến khích. Có lần được lệnh đi nhảy ở Bình Ðịnh, tôi dặn nó: “Năm giờ có lệnh tập họp. Mày nên để đồng hồ reo chứ không thì ngủ quên”. Nó hứa chắc.

Saut dù biểu diễn đó, nó không có mặt lúc lên phi cơ. Hôm sau nó trình diện người chỉ huy, với khuôn mặt bầm một bên má, cánh tay thì băng bó, có giấy bác sĩ cho nghỉ ba ngày. Tôi hỏi nó tại sao? Nó mắng tôi: “Ðồ ranh con. Ông nghe lời mày nên ông không đi nhảy biểu diễn được”. Tôi ngạc nhiên nhìn nó dò hỏi nguyên nhân. Nó bảo: “Tại mày dặn để đồng hồ reo. Khi nó reo tao đang nằm mơ. Tưởng tiếng chuông phi cơ cho lệnh GO nên tao nhảy ra. Từ trên giường hai tầng nhảy xuống mang theo cả màn mền, bị bầm mặt. May mà không gãy… răng là phúc ba đời rồi. Còn hỏi gì nữa? Ông không chửi mày là may cho mày lắm rồi. Còn làm bộ tử tế hỏi móc ông hả?” Tôi thầm nghĩ: “Ðúng là đồ Bắc Kỳ chanh chua… Làm ơn mắc oán”. Nghĩ thế nhưng tôi không trả lời, hoặc nói ra ý nghĩ đó. Vì sợ nói tạc dzăn nổi giận thì tôi cũng được bác sĩ cho ba ngày… dưỡng thương.
Bây giờ, nó và gia đình định cư, an lạc tại xứ… Úc. Lâu lâu, nó gọi phone sang kêu: “Mày, mày chịu khó sang tao chơi. Tao đãi mày… Mít Ðặc”. Già rồi vẫn còn con nít và mái Tây Hiên của nó vẫn còn… chưa rụng.

8. Nguyễn Thị Thân:

Chị này lớn tuổi nhất của chúng tôi lúc bấy giờ. Chị cũng sinh trưởng ở Bắc Việt, người quê Phát Diệm. Chị góa chồng lúc còn ở Hà Nội, rất xinh đẹp, mắt bồ câu, da trứng gà. Người cao lớn như đầm. Nhưng chỉ giống đầm về nhan sắc và vóc dáng. Khi chị nói thì sặc thổ âm quê của chị. Ví dụ, chị hay lộn chữ D thành chữ R và ngược lại. Khi nhảy dù xuống bãi, thì lệnh bắt buộc cuốn dù lại cho vào bao và vừa chạy về địa điểm tập họp trình diện Sĩ quan Bãi nhảy. Vừa chạy vừa kêu to là “Nhảy Dù cố gắng”. Bất luận nam hay nữ đều phải theo lệnh này. Cho nên chị cũng không ngoại lệ… cứ vừa chạy… vừa la to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Tôi và Bích Lộc chạy theo sau cũng gào to “Nhảy.. Rzù… cố gắng. Nhảy… Rzù… cố gắng”. Chị quay lại mắng ngay “Nằm kí rì mà to mồm vậy…? Ðồ khỉ gió…” Lũ “khỉ gió” cứ ngoác mồm la “Nhảy… Rzù… cắn gố…” (cố gắng).
Chị là người cẩn thận, lúc đi nhảy chị băng độn hai đầu gối bằng băng cứu thương thật dầy. Chị nói rằng khỏi sợ bị trầy đầu gối khi xuống dù, mặc jupe không đẹp. Nhưng chị không nhớ là đầu gối không quan trọng bằng đầu, chân và mông khi xuống dù.
Sau này chị tái giá với một sĩ quan Dù, có thêm năm con. Hiện chị ở trên Washington State từ 1975.

9. Mai Thị Minh:

Nếu chị Thân là hoa khôi của Dù từ năm 1956 đến 1960, thì Mai Thị Minh là hoa khôi Dù từ năm 1962 đến 1975. Nó đúng là con gái Hà Nội chính cống. Nhà giàu, chính Trung Tướng Thiệu, Ðại Tướng Viên lúc còn trẻ ra Bắc cũng thuê nhà của nó mà ở. Sau di cư vào Nam, gia đình bẩn chật, nên nó vào Nữ Phụ Tá. Ðúng gái Hà Nội, đẹp và tiếng nói dịu dàng mọi người đều công nhận. Phục vụ tại bệnh viện Ðỗ Vinh của SÐND. Có một vài “bà bác sĩ” (có nghĩa là vợ của bác sĩ) thấy nó bèn ôm ghè tương, nếu hôm đó ông chồng trực tại bệnh viện. Thật tội cho nó vì nó không bao giờ trực đêm cả. Vì nó độc thân nên có nhiều anh hùng để mắt. Có lẽ vì tưng tiu, nó vẫn còn hình bóng của người anh hùng TQLC năm nào ngã gục trên chiến trường ở tận địa đầu giới tuyến, để lại vết thương lòng cho Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ tài sắc.

Hiện nay nó ngày ngày một gánh bún riêu dạo khắp xóm bán nuôi thân. Có ai ngờ người đàn bà lam lũ kia đã có một thời nổi tiếng Hoa Khôi Mũ Ðỏ giầy Saut, nón đỏ áo hoa đã làm một anh hùng nghiêng ngửa…

Còn nhiều nữa. Nào Nguyễn Thị Nguyên Hoành, Lữ Thị Tám. Nguyễn Thị Thịnh, Nguyễn Thị Hợi, Phan Cẩm Phi, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Ðào Thị Phùng, Võ Thị Vui. Những Nữ Thiên Thần Mũ Ðỏ của Quân Lực VNCH lúc xưa. Nay người ra thân lữ thứ, người còn lại quê hương với bao nỗi xót xa. Có lúc nào nhớ lại lúc xưa “không gian vương dấu giày” (HHC). Lúc còn đội chiếc Mũ Ðỏ, tung mình ra không trung mang lại hãnh diện cho con cháu Triệu Trưng. Nếu nhớ lại vô tình dòng lệ tiếc thương lặng lẽ chảy xuống khóc cho mình hay người Nữ Quân Nhân Dù khóc cho quê hương ?

mk



thanks 3 users thanked Lữ Khách for this useful post.
Ngọc Anh on 6/5/2014(UTC), TRA-MAI on 6/19/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1009 Posted : Thursday, June 19, 2014 5:23:35 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
Hôm nay là ngày Quân Lực của Việt Nam Cộng Hoà

Mời các bạn nghe lại những liên khúc quân hành hào hùng của quân lực VNCH Applause Angel

Edited by user Thursday, June 19, 2014 5:24:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 3 users thanked Ngọc Anh for this useful post.
TRA-MAI on 6/19/2014(UTC), Lữ Khách on 6/23/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC)
TRA-MAI  
#1010 Posted : Thursday, June 19, 2014 10:25:22 PM(UTC)
TRA-MAI

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/20/2011(UTC)
Posts: 695
Location: USA

Thanks: 2279 times
Was thanked: 416 time(s) in 167 post(s)
NIỀM VUI QUÂN TRƯỜNG



Nguyễn Thừa Bình



UserPostedImage

Quân trường, có ai nói vui bao giờ? Những anh em trai trẻ một thời bắt đầu làm lính nơi quân trường, cứ phải vừa ách ê ‘một hai ba bốn’ vừa phải hát “thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” một cách khô khan cằn cỗi và công việc thì chạy không kịp với thời gian đong đưa. Ai tìm đâu cho ra được nụ cười mà nói vui với vẻ cho đời một chút thảnh thơi, thoải mái? Sáng mờ mờ tinh sương đã ơi ới nhau thức dậy mà vật lộn đến đêm tối.

Người ta hết sức khắc nghiệt bắt làm đủ thứ trên đời. “Quân lệnh như sơn”, ai dám nhúc nhích mà nói qua nói lại! “Thi hành trước, khiếu nại sau”, ai dám chần chờ mà hỏi tới hỏi lui. Ăn uống, không kịp ăn uống. Ðái ỉa cũng không kịp đái ỉa nữa là. Gần như không một ai có dư chút thì giờ để lên được nửa câu vọng cổ “ôi nhìn trời hiu quạnh…” mà than trời thở đất. Cả ngày, quần quật một cách vội vàng mà kỹ thì hết sức là kỹ những công việc chà láng giao thông hào, vệ sinh doanh trại, vệ sinh cá nhân, gọn gàng chỗ ăn chỗ nằm, mau mau lót bụng lót dạ một cái gì, quân trang quân dụng đi bãi, ngủ gục nghe giảng chiến thuật, “tùng thiết” chạy hộc hơi, leo trèo trên thang cao, bò trườn dưới đất nóng, nhảy chạy đoạn đường chiến binh, bắn đùng đùng đạn mã tử điếc tai, chùi súng, khám súng bở hơi tai, đánh giầy bóng lộn, chùi bút nịt sáng lạn…Bung việc ra là ngủ, là ngáy ngay mà chờ tiếp tục ngày mai như mọi ngày. Ðúng, anh em bạn của chúng ta từ đâu đâu về ban đầu lạ, sau là chiến hữu, thường cùng nhau tả oán “nỗi đau không rời”, rằng: “quân trường là lò luyện thép, nơi huấn nhục đời người, địa ngục đọa đầy thân xác, trung tâm tàn phai tuổi ngọc…”. Cuộc đời luôn luôn có hai mặt. Hai mặt là đen với trắng, phải với trái, buồn với vui… trong cái đau khổ có cái hạnh phúc; trong nước mắt có nụ cười. Cho nên “có một điều chắc chắn là không có một điều gì chắc chắn hết”. Chính vì vậy, nơi quân trường dẫu là “lò luyện thép”, là “nơi huấn nhục đời người” vân..vân… người ta vẫn bắt gặp những nụ cười “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”, không phải nụ cười “cười ra nước mắt”. Tôi, đời trai thời chinh chiến đã qua nhiều quân trường, nhưng kỷ niệm những nụ cười “cười sằng sặc”, những nụ cười “cười toe toét miệng” thì ở quân trường Trường Bộ Binh Thủ Ðức là đáng nhớ nhất và đáng nói tới nhiều nhất.

Mấy tháng trước mới vừa đi chơi với mấy thằng bạn nối khố thời học Trung Học Phan Bội Châu Phan Thiết, Chu Văn An Sàigòn, đứa nào đứa nấy chải chuốt lắm! O bế tới, o bế lui vẫn là cái đầu. Cái đầu, đứa thì tóc để “một mái”; đứa thì bờm xờm “hippi”; đứa thì tóc “tém đuôi vịt”; đứa thì “demi court”… Ai mà làm hư cái đầu thì “chết với tao”. Thằng Nghê, người cùng xóm với tôi ở Ðức Long, cái thằng đeo lon Chuẩn Úy chưa ấm ấm cái vai thì đã chết ngay ngày đầu tiên ra trận ở Hòa Tân,Gò Công đã gây lộn và “từ” ông Tư Thâu đã “hớt bậy hớt bạ cái đầu tao dưỡng gần hai năm nay”. Còn ông Bình, cái ông nhát gái phải mất tiền bao bạn bè uống nước rau má thời học Chu Văn An thì lúc nào cũng xênh xang quần áo. Vải phải hàng Anh Quốc và luôn luôn áo bỏ trong quần, tay áo cài khuy “manchette”. Anh ta thường bảo với bạn bè rằng “ai mà làm hư cái “plis” quần của tao như kêu cha tao mà chửi”. Vậy mà bây giờ, tôi lại gặp mấy đứa tụi nó, đứa nào y như đứa nào “đầu giống Ông Thầy Chùa”, còn lòi chình ình mấy cái thẹo to quá là to, dấu vết hồi nhỏ đánh lộn nhau. Quần áo của hết thảy tụi nó đều thùng thình thụng thịnh lại thêm cát bụi quân trường không sạch sẽ chút nào, nhìn thật “không giống ai”. Giày thì giày “Botte de Sault” vừa xấu xí lại vừa nặng nề. Da thịt đứa nào y như đứa nấy đen như Người Thượng Rhadé, Djarai. Gặp nhau, ai lại không cười!? Có điều, tụi nó cười tôi biết “cười ra nước mắt”. Còn tôi, tôi “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”. Tôi có bao giờ quan tâm ăn mặc, chưng diện đâu mà có cái hư, có cái mất mà giận, mà buồn, mà tức người ta? Dù là kiểu cười nào, tôi dám cả quyết, dám cam đoan ông bà nào, già trẻ nào nhịn mà không cười, dù nhếch môi thôi, tôi cũng xin bái phục làm sư phụ có công lực thượng thừa đến mức có mắt mà không nhìn thấy gì hết, không cười. Và một khi nhiều đại đội ngang dọc đụng với nhau, những Sinh Viên Sĩ Quan mới mẻ, quân phục còn luộm thuộm, người ngợm còn nhếch nhác, thân trai còn“liễu yếu đào tơ” vừa đi theo nhịp đếm “một, hai, ba bốn” vừa cứ hùng dũng nhưng yếu xìu “dù ngàn hiểm nguy quyết chí. Một lòng thề luôn nêu danh “Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Ðức” hùng anh” hay “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn. Ðoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang” hay “cố lên, cố lên, dù nhọc nhằn, da chan mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh”, ai tôi không biết, tôi không cười, không chịu nổi…

Bởi vì, cái non choẹt, cái vụng về, cái xô bồ của những người lính mới tò te nầy, ai nhìn mà không cười cũng là lạ, nhất là cho những ai đoạn đường mình mới đi qua. Nói gì những ai ngoài kia, ngoài bốn ụ đất cao to và dài một chiều dài các tuyến A, B, C. D của nhà trường, có biết gì đời lính đâu thì họ cười lăn cười ngả là cái chắc. Chỉ mới ngày đầu ở Vũ Ðình Trường được giới thiệu các ông Sĩ Quan Ðại Ðội 37, Tiểu Ðoàn 3 cũng đã muốn cười mà không dám cười rồi. Ai đời một ông Ðại Úy sẽ là Ðại Ðội Trưởng của mình cao thì cao lêu nghêu mà hai chưn lại nhỏ quá là nhỏ như hai ống thổi lửa mà dài cũng dài thiệt. Ðàn bà chắc chắn ổng sẽ được danh “trường túc bất tri lao”. Còn đàn ông, ổng được gì nhỉ? Chắc chỉ được anh em tặng liền cho một cái tên, đúng hơn là một bí danh “Ðại Úy Cò” là đúng hơn hết. Ðứng kề bên ổng là ông Chuẩn Úy vừa xấu trai chi lạ lại vừa thấp lè tè quá sức. Chuẩn Úy đứng cao lắm cũng chỉ ngang nách “Ðại Úy Cò” mà thôi. Về sau Sinh Viên Sĩ Quan Ðại Ðội 37, nhất là Trung Ðội 3 của ổng ban cho ổng một biệt danh là “Chuẩn Úy Lùn Gieo Máu Lửa”. Không xa ông Ðại Úy với ông Chuẩn Úy, một ông Thiếu Úy sau là Trung Ðội Trưởng Trung Ðội 2 của tôi, miệng dù ngậm kín cách mấy, người ta cũng thấy ổng bị sứt môi trên. Ổng dính ngay cái tên “Thiếu Úy Không Môi Mép”. Tại sao đặt ổng là “Thiếu Úy Không Môi Mép”? Mấy anh hiểu chuyện trả lời: “Có 3 cô bạn thợ may “tìm bạn bốn phương” trong báo Tiền Phong được 3 anh. Một anh “không có chưn đứng trong xã hội”. Một anh “không có môi mép với người ta”. Một anh “không khả năng ăn nói với đời. Hóa ra, anh “không có chưn đứng trong xã hội” là người chỉ có một chưn. Anh “không có môi mép với người ta” là người bị sứt môi trên. Anh “không khả năng ăn nói với đời” là người mắc tật “ngọng”. Một khi cả ba ông đứng trước hàng quân của đại đội, tiếng xì xào như làn gió rít, anh em thường cười khúc khích. Cười khúc khích không phải cái trời sinh ra cái gì cho mấy ổng, mà cười khúc khích là cười cái các ổng ưa ta đây mà huênh hoang, huếch hoác như hề. Và khi “tan hàng, cố gắng” thì cười khúc khích thành “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” cũng chẳng có lạ lùng gì.

Ai bảo quân trường không có nụ cười? Ðại đội của tôi có một anh gốc Nghĩa Quân, không nhớ chắc tên, có thể là Trí, người Phú Yên chạy chọt làm sao mà làm được chức Thư Ký Ðại Ðội. Khỏe thì có khỏe thiệt, nhưng bị “dũa” dài dài. Cho nên, tôi cũng “đếch” nhận ba cái “chức sắc” trốn đi bãi đó, nói gì đến lo với lót, chạy với chọt mà mất công mất của lại mất danh . Trí mắc một thứ bệnh trời ơi đất hỡi là “Trĩ”. Trí phải chịu chết cái tên danh chính, ngôn thuận là Trí Trĩ. Trí Trĩ đi tới đâu, người ta cười đến đó, cười ngặc nghẽo, cười lăn cười lóc, “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”. Có ai cười cái bệnh của anh ta đâu? Thương và đau giùm cho ảnh không hết! Ngay cả anh ta diễn tuồng loay hoay như đàn bà đẻ, như thằn lằn đứt đuôi. Khi đi, Trí cứ ịn ngón tay trỏ vào đít sợ “con trê” nhảt tọt ra. Khi đánh máy thì ngồi nhấp nha nhấp nhỏm kiểu nước lụt, sợ đau cái trĩ dưới xương khu. Người ta cười là cười ảnh sợ gì mà sợ đến són đái, sợ đến rịn cứt ra quần. Mấy lần bị Ðại Úy Cò xì nẹt, nói theo tiếng Pháp là “s’enerve” thì ba hồn chín vía của ảnh chạy trốn đâu mất tiêu, chỉ còn một chút tỉnh táo mà nói “tao đi thay quần”. Người ta cười bể bụng với Tùng Lâm, Thanh Việt nhưng chắc không ai mà không cười đến chết đi được khi thấy Trí Trĩ lúc bấy giờ đang “đau khổ vì bịnh trĩ”! Ðại đội 37 của tôi có 141 Sinh Viên Sĩ Quan mà có, nếu tôi không quên, chỉ 5 cái cầu tiêu vừa cho đại tiện vừa cho tiểu tiện. Cùng thức một lượt, cùng “đi cầu” một lượt tránh làm sao không sắp hàng rồng rắn mà chửi nhau như hàng tôm hàng cá! Anh trong cầu chưa kịp rặn của quý ra thì mấy anh ở ngoài đã la ơi ới “cái thằng ỉa gì mà ỉa lâu như rùa”. Anh chàng Thọ, Thọ Quốc Gia Hành Chánh, có tên Thọ Dâm Dục không nén nổi, đành “phẹt” ra cái quần treillis cho xong nợ đời mà “đụ má, tao ỉa đầy quần rồi”. Ðằng kia anh chàng Nghi, người Nùng ở Ðức Trọng, Tuyên Ðức kẹt đái, đái bậy vào người đứng trước để khỏi chờ mất công. Không may bị Thiếu Úy Lượng, Trung Ðội Trưởng Trung Ðội I bắt được và phạt Nghi chạy 30 vòng sân đại đội, vừa chạy vừa la to “tôi không bao giờ phóng uế bừa bãi nữa”. Mấy đứa anh em chúng tôi người trong cuộc, dù đang dầu sôi lửa bỏng với cái bụng là “vùng xôi đậu” cũng phải “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”. Cái cảnh đứng chờ đái, ỉa trong Trường Bộ Binh Thủ Ðức có lẽ nặng nề, éo le hơn những quân trường tôi đã đi qua. Ai mà nhìn vào hoạt cảnh lúc đó, không tức, không giận, không buồn cười quá sức thì đúng là người sắt đá, vô tâm, vô trí.

UserPostedImage

Trong trường, các Sĩ Quan Cán Bộ, các bảng viết nguệch ngoạc mấy chữ treo quanh vòng thành đại đội đều ra lệnh “cấm ăn quà rong”. Nhưng lệnh là lệnh, dòm dáo dác không thấy ai thì mua cứ mua, có “chết thằng Tây nào?”. Bởi trong quân trường, ai cũng biết rằng Sinh Viên Sĩ Quan đâu có lúc nào dư thì giờ. Không “tiện đâu làm đó” thì dễ như chơi không kịp giờ giấc mà bị “hít đất”, “nhảy xổm”, “trùm poncho”, “cúp phép”, “phạt dã chiến”… Mấy ông Sĩ Quan Cán Bộ thì núp trong Văn Phòng Ðại Ðội nhìn ra, chờ bắt “mấy con nhạn là đà”. Mấy anh chàng Sinh Viên Sĩ Quan thì “ba chớp ba nháng” mua cứ mua cho thật mau mà “dzọt”. Nhưng anh bạn Mỹ là Kỹ Sư Nông Lâm Súc; anh bạn Kham là Nhà Văn trẻ bị Ðại Úy Cò bắt tại trận, bị phạt “móc giò” mà uống, mà ăn. Móc giò là móc hai chân lên lan can trước của doanh trại đại đội, đầu chúc xuống, hai tay chống. Anh Mỹ thì “ăn cách nào không biết cho hết gói xôi”. Anh Kham thì “uống cách nào không biết cho hết ly cà phê sữa”. “Quân lệnh như sơn”, ai dám cãi. Vậy mà anh em đang trong hàng ngũ đại đội sửa soạn đi bãi cũng khúc khích. Cho đến khi Ðại Úy Cò, Chuẩn Úy Lùn Gieo Máu Lửa không giấu được cái cười xí xóa thì toàn thể đại đội “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” dù cười là cười vô tình trên sự đau khổ của hai người anh em bạn.

Những ngày đi bãi học Chiến Thuật, học Tác Xạ, học Pháo Binh, học Chống Biểu Tình… đâu có gì là lạ. Lạ là lạ những bài học “Trung Ðội Tấn Công”, “Ðại Ðội Lục Soát” vân. vân… có phe ta, phe địch “oánh” nhau dữ dội bằng đạn mã tử kêu chạch chạch, bốp bốp… cũng tơi bời khói lửa. Thọ Dâm Dục to con lớn xác nhất của đại đội và Thọ Luật Sư thì yểu điệu thục nữ như cô gái Kim Long, Huế lúc nào cũng xin cho được làm Việt Cộng. Làm Việt Cộng là làm giả VC núp trong bóng mát vài lùm cây nơi bãi tập khô khan, nóng cháy. Các anh em còn lại làm Lính Việt Nam Cộng Hòa đang hành quân dưới trời nắng chết cha và mệt thì cũng mệt chết cha. Những “chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt” là những Sinh Viên Sĩ Quan đóng giả Lính Việt Nam Cộng Hòa tấn công, chiếm mục tiêu, lục soát mấy ổ phục kích của VC là Thọ Dâm Dục, Thọ Luật Sư… thì đấm giả, đánh giả. Nhưng mấy thằng chịu nắng chịu mưa đâu để mấy thằng núp bóng an nhàn, “ngồi mát ăn bát vàng” khỏe re, nên đấm, đánh liên miên những cái đấm giả cũng hơi mạnh tay như đánh thiệt. Thọ Dâm Dục ăn to nói lớn, la lên “Đ.M sao đánh nhiều quá dzậy?”, “sao đánh đau quá dzậy?”. Thọ Luật Sư thì “răng đánh mạnh rứa?”, “răng thụi đau rứa?”. Mấy anh đóng giả Lính Việt Nam Cộng Hòa “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”.

UserPostedImage

Trong quân trường, nhất là Trường Bộ Binh Thủ Ðức, chuyện phạt là thường. Phạt đủ thứ, đủ kiểu, đủ điệu. Phạt cá nhân. Phạt tập thể. Một bữa từ Bến Nọc vào Cổng Số 9, Ðại Ðội 37 của tôi mới vừa tấp trái vào Nhà Bàn ăn cơm trưa trễ. Vì sơ xuất của anh Tuần Sự Ðại Ðội cũng như anh Ðại Ðội Trưởng Tác Chiến mà đại đội bị phạt tập thể ngay nơi sân trước Nhà Bàn, dưới ánh mặt trời chói chang. Tất cả bị bắt nằm xuống, mặt nhìn lên trời, súng để bên phải, ba lô gối đầu, hai chưn gác “chữ ngũ”, miệng phải hét tới hét lui cả 10 phút “mặt trời đã ngủ yên, xin mặt trời hãy ngủ yên”. Mình không thấy mình “không giống con Giáp nào” nhưng liếc trái, liếc phải thấy anh em mình đó, không nhịn được cười. Rồi, tất cả hét thì hét nhưng “ăn gian” được một chút thời gian là cứ cười tủm tỉm, cười kín hai hàm răng. Dĩ nhiên là đừng để mấy ông Sĩ Quan Cán Bộ thấy. Thấy là chết cha, ai không biết! Khi được đứng dậy, anh em nghe nhiều tiếng cười “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”, tiếng cười của mấy cô, mấy bà ở Khu Sinh Hoạt nằm bên kia đường. Chúng tôi, đâu có “mắc cỡ” gì ba cái lẻ tẻ đó nơi quân trường. Ngay cả chúng tôi, nhiều người cứ cười, cười hoài vì nó “ngộ”, nó “kỳ”, nó “mắc cười thấy mẹ”, huống gì người ta, người ngoài, đàn bà, con gái.

Hôm học Tác Xạ, một anh bạn trẻ tên Bơ trong Trung Ðội I vô ý một chút mà quên “người đâu súng đó” đã bị Thiếu Úy Không Môi Mép phạt “súng cầm tay” chạy 30 vòng sân đại đội, vừa chạy vừa la “súng là vợ, tôi không bao giờ bỏ súng”. Anh em, người ăn, người uống, người lặt vặt chuyện nầy chuyện kia để đi bãi, nhìn Bơ ai cũng cười quá trời. Cười to nhất vẫn là ông to con lớn xác nhất Thọ Dâm Dục. Ổng cười dai, cười dài, cười lâu, “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” còn một chút nữa là bị Thiếu Úy Lượng của Trung Ðội I bắt ra phạt rồi. Mới mấy hôm trước đó, Thọ Dâm Dục đã bị cả một tiểu đội Huynh Trưởng đứng giăng hàng phạt “30 cái hít đất”. Hít cách nào cũng bị mấy Huynh Trưởng chê là “ngỗng đầu”, “ngỗng đít”, dợt cho nhừ xương vẫn chưa đếm tới số 2, số 3 được, nói gì tới “30 cái hít đất”. May có mấy Siêu Huynh Trưởng đằng xa kia đi tới, mấy Huynh Trưởng nầy cũng ngán nên mới buông tha. Về Ðại Ðội, gặp chúng tôi, dù Thọ Dâm Dục đang thở không ra hơi, cũng ráng chữi thề “đụ má, mấy thằng Huynh Trưởng nó chơi tao quá mậy”. Ðại Úy Cò nghe được, bắt phạt Thọ Dâm Dục “30 cái nhẩy xổm”. Thử tưởng tượng, Thọ cao to, mập mạp, “nhớt” lại vụng về nữa… mà nhẩy xổm thì “không giống ai” một chút nào. Trông ổng hai tay bắt chéo đằng trước, hai ngón tay cái và trỏ nắm chặt 2 cái lỗ tai mà nhảy cao một chân đá ra trước một chân xoạc ra sau một cách nặng nề, ô dề và thở ột ột như heo bị khiêng đi làm thịt. Không ai nhịn được cười, không phải cười một người bạn bị nạn mà cười hoạt cảnh Thọ Dâm Dục đang diễn tuồng quá vụng về, dở ẹt.

Trong đại đội, có anh cao to quá là cao to như Thọ Dâm Dục nhưng cũng có anh thấp lùn, bé tí tẹo như Cường Con, gốc Giáo Sư ở Huế, lúc nào cũng phải đi sau cùng hàng quân của đại đội. Súng M.16 mà Cường Con mang, mũi đã là đà trên mặt đất rồi. May là súng M.16, nếu là súng Garant thì Cường Con chỉ có nước cầm, vác, bồng mà thôi. Ði Ðoạn Ðường Chiến Binh, anh em trong đại đội lúc nào cũng phải “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” hai ông nầy. Ông Thọ Dâm Dục thì bị móc, bị kẹt, bị xước khi bò, trườn, lết qua lớp kẽm gai ngoằn ngoèo, chằng chịt, thấp chủn. Ông Cường Con thì khổ lắm mấy cái hầm, mấy cái hố “đào chi mà đào sâu dữ rứa, mần răng bò lên”. Anh ta cứ trèo lên, tụt xuống đỏ cả mặt, tía cả tai, mồ hôi thắm ướt bộ treillis. Tưởng “dã tràng xe cát Biển Ðông”, nhưng cuối cùng Cường Con cũng bám víu mà lên được. Lên được, Cường cũng ráng nở một nụ cười, dù là nụ cười méo miệng và cũng ráng mở miệng, dù là mở miệng nói gỡ gạc: “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.


Chuẩn bị cho ngày Lễ Gắn Alpha, anh em bảo nhau xuống Khu Sinh Hoạt ở Tuyến B mua băng vệ sinh. Ai cũng biết, sân Vũ Ðình Trường toàn đá dăm, sạn nhỏ, quỳ gối xuống đó đầu gối chỉ có “chết tới bị thương”. Hôm đó, tôi cũng xuống mua 2 cái, một cho tôi và một cho Sơn Rhadé. Mấy cô Nữ Quân Nhân đứng kế bên đang mua viết, giấy chắc để viết thư cho “bồ” lên tiếng chọc quê “Chỉ ở nhà, sao anh biết chỉ “có” mà mua nhiều dữ vậy?”. Tôi, thằng mặt lì, ba hoa nói: “Biết mấy cô ở đây “có”, tôi mua biếu vậy mà”. Trời ơi! Mấy cổ “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”. Ðằng kia, mấy ông bạn đồng Khóa 6/70 của chúng tôi đang đứng mua ba cái lăng nhăng băng vệ sinh cũng “cười sằng sặc”,“cười toe toét miệng”.

Trong Trường Bộ Binh Thủ Ðức, từ Cổng Số I đi vào, qua khỏi Ðồn Quân Cảnh 301 một đoạn, nằm phía tay phải là dãy nhà Nữ Quân Nhân. Mấy cô Nữ Quân Nhân ở Lễ Gắn Alpha đâu không biết, chứ ở đây các SVSQ coi chừng bị “ăn thịt”, bị “nuốt” như chơi. Anh em cứ bảo nhau “chốn ấy hang hùm, chớ mó tay”. Có ai nghĩ ra, Trường Bộ Binh Thủ Ðức toàn “đực rựa” mà tôi dám cam đoan, tôi dám “cá” với bất cứ ai không nơi nào trên đất nước Việt Nam Cộng Hòa xài nhiều băng vệ sinh hơn.

“Ði Dây Tử Thần”, có nhiều anh em ngán biết mấy. Quân trường, ngán chừng nào, Huấn Luyện Viên lại bắt tập nhiều chừng nấy. Ở Trường Bộ Binh Thủ Ðức, dây tử thần là hai sợi dây thép căng cứng, được treo từ một đồi cao chót vót, chạy qua một hồ nước thăm thẳm phía dưới và tới một cột xi măng xa xa đằng xa. Sinh Viên Sĩ Quan 2 tay cầm 2 cái róc rách, người Huấn Luyện Viên đẩy nhẹ xuống. Gió thổi vù vù nghe rào rào bên tai. Ngọn cờ đỏ phất, mình thả tõm xuống. Có người không lội được. Có người đau mình đau mẩy. Nhưng khốn nạn nhất vẫn là mấy anh bị “thằng nhỏ tao đau quá” mà vừa đi vừa bụm nó lại. Nhìn mặt méo mó, nhăn nhó của họ, anh em với nhau thông cảm hết sức. Nhưng bảo những ông vui tính đừng “cười sằng sặc”, đừng “cười toe toét miệng” thì khó như bắt thang lên hỏi ông trời.

Ở Khu Tiếp Tân nằm bên phải Cổng Số I, sát Tuyến B những ngày Chủ Nhật thật ồn ào, thật náo nhiệt và vui thì hết nói. Tiếp Tân là tiếp thân nhân, bè bạn của các Sinh Viên Sĩ Quan không đi phép hay bị cúp phép. Dĩ nhiên, Trường Bộ Binh Thủ Ðức mà những người vào học là những thanh niên tuổi đời còn trẻ trung sung sức. Người thăm nhiều nhất vẫn là những nữ sinh viên, nữ học sinh là những người tình thề non hẹn biển. Mỗi cặp tình nhân chọn cho mình một chốn bình yên mà tâm sự chuyện tình hai đứa mình. Họ rủ nhau cùng hát bài ca Xích Lại Gần Anh Tí Nữa của Mặc Thế Nhân: “Xích lại gần anh tí nữa đi em. Sao em ngồi xa anh thế?… Nào có ai đâu mà em ngại, để rồi ngồi xa cách nhau!” Vì quá say sưa đồng ca, anh với em đã không để ý đến mấy thằng bạn tinh nghịch đang nhìn mình mà chúm chím cười. Ngày tàn một Buổi Tiếp Tân, về doanh trại đại đội, mấy thằng bạn “quỷ tha ma bắt” đó kể toẹt loẹt chuyện đời ngoài Khu Tiếp Tân hồi sáng ra mà “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”.

UserPostedImage

Ai bảo quân trường không có niềm vui và nụ cười? Vui là vui thiệt, không phải “vui là vui gượng kẻo là”. Cười là cười thiệt, không phải cười là “cười ra nước mắt”. Những trưa trong Ðại Giảng Ðường, thường được Sinh Viên Sĩ Quan gọi là Ðại Hỏa Lò, vì nó nóng sao mà nóng quá sức! Không nóng sao được, một nhà lớn thì lớn thiệt mà làm bằng tôle với tôle đem nhốt cả mấy trăm mạng người vào những trưa Hè nóng như thiêu như đốt của cái nắng “Trên Ðồi Tăng Nhơn Phú”. Ai còn tâm dạ đâu nữa mà “Nhìn đồi xa xa muôn trùng. Mịt mờ xanh xanh cây rừng. Ghìm chặt súng hát ru cuộc tình mù sương” của Vũ Ðức Sao Biển ở Ðại Ðội 33, Tiểu Ðoàn 3 Khóa 6/70!? Vậy mà, nhìn tới nhìn lui cũng thiếu gì những người anh em bạn vốn thiếu ngủ hết sức, đang há hốc mồm ngáy to hơn cả người ta “hò kéo gỗ” không màng thế sự chung quanh. Nhịn gì nhịn, mình cũng không nhịn cười được. Ngủ thì ngủ đi một cách im lặng, ai đời còn nầy còn kia để bị “bể dĩa” mà lãnh 30 cái hít đất, 30 cái nhảy xổm cho vỡ mộng “Giấc Nam Kha”. Một anh bạn trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới” nhất của Ðại Ðội 37 của tôi “lì” hơn hết. Vào, lúc nào cũng ngủ. Ảnh ngủ mê ngủ mệt đến mơ về quê Bình Ðịnh của mình mà đi chơi với bồ, mà đánh lộn với tình địch, mà bị Quân Cảnh “hốt”… mà la hét như ngoài mặt trận. Dầu trong giờ “Liên Hợp Binh Chủng” nhưng hằng mấy chục người kế bên cũng phải “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”, ồn ào biết mấy. “Anh bạn trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới nhất của đại đội” nhận lệnh “Phạt Dã Chiến” một tuần. Tất cả Sinh Viên Sĩ Quan hiện diện được cảnh báo rằng “học là học nghiêm chỉnh, không thì đeo cánh gà”.

Một chiều chập choạng tối, tiểu đội của tôi di chuyển từ doanh trại đại đội gần Cổng Số 9 qua Vũ Ðình Trường để bàn giao gác Tuyến D, Khu Thiết Giáp. Khi đến Trung Nghĩa Ðài, thì bị một tốp đàn anh Khóa 5/70 chận lại, phạt mấy chục cái hít đất. Quân trường đừng hỏi “tại sao mà phạt”. Bởi vì, quân trường là nơi huấn nhục, nơi trui rèn kỷ luật quân lệnh, nơi luôn luôn bắt phải chịu áp lực khốc liệt cho chiến trường ngày mai xông trận. Mấy anh Huynh Trưởng Khóa Ðặc Biệt nầy, chúng tôi đã biết quá trời, quần mấy tên Khóa 6/70 thuần túy chúng tôi không một chút nương tay. “Hít thì hít”, mấy anh em chúng tôi nói nhỏ với nhau và cũng không quên nháy mắt ngầm bảo với nhau là “nằm”. Chỉ đủ cho Huynh Trưởng đếm “một” và “hai” thì cả chục chúng tôi “nằm vạ”, nhất định không đứa nào lên. Huynh trưởng la, hò, hét, thét… mệt quá, làm gì bây giờ. Huynh Trưởng đành để mấy thằng “lì như trâu” đi đổi gác cho kịp giờ. Thật mà nói, chống tay xuống đây toàn là đá, sỏi, sạn nhọn hoắc mà hít đất với trên người mang nón sắt, súng, đạn, ba lô, mùng, chăn… thì không những đổ mồ hôi mà còn đổ máu là cái chắc. “Huynh trưởng bỏ đi, thì đàn em bỏ phạt, đứng dậy “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” một cách hả hê.

“Ði Tuyến”, nhà trường có 4 tuyến A,B,C,D như đã nói ở trên, nhưng Tuyến C nằm ngang Cổng Số 9 nhìn ra ngoài kia Bến Nọc mịt mùng là tuyến được lưu ý về an ninh nhiều nhất. Những ngày không đi bãi hay không được đi phép, Trung Ðội 2, Ðại Ðội 37 của tôi mỗi khi làm tạp dịch ở đây, ông bạn Luật Sư Thọ được đề cử làm đại sứ, liên lạc với Ðại Úy Án để hùn tiền mua nước ngọt, bánh, kẹo, cà rem, xôi, chè… ổng bán. Mua nhiều, Ðại Úy mới làm lơ, mới cho cho xong công tác mà Ðại Úy kê ra dài thoòng loòng thấy mà sợ. Thầy cười, trò cười, ai ai cũng cười, “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng”, vui vẻ cả làng! Nếu không mua thứ gì của Ðại Úy bán thì làm hoài, làm miết cũng không bao giờ xong mà còn bị phạt nữa là chắc. Tội, một Ðại Úy quân trường “nghèo rớt mồng tơi” phải làm ba cái chuyện con con như vậy. “Làm ba cái chuyện con con như vậy”, vậy mà chúng tôi quý mến ông vô cùng. Quý cái tính ngay thẳng, chân tình và vui hết sức của Ðại Úy.

Người lính với sự sống, sự chết là lằn ranh mong manh vô minh, không có nhiều niềm vui bằng đau thương chất ngất, không có hạnh phúc đủ cho chính mình nhưng cứ đổ xương máu mình cho hạnh phúc đồng bào. “Cái gì hiếm thì quý”, người ta nói đúng. Người lính sống đời gian nguy nơi trận tiền nhiều hơn phù phiếm nơi phố phường, một khi bắt gặp được ở đâu đâu “niềm vui qua bữa” thì vắt cho kiệt, xài cho hết, không thì uổng biết mấy! “Mai ta ra trận, ta còn sống. Về ghé Sông Mao phá phách chơi. Tiêu hết nỗi sầu cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui”, nghe nhà thơ Bắc Sơn, bạn học Trường Phan Bội Châu, Phan Thiết của tôi nói mà thương đời lính biết chừng nào!

Trong quân trường Trường Bộ Binh Thủ Ðức, người Sinh Viên Sĩ Quan đang chịu gian đầy và đang cảm nhận con đường sẽ đi trong tương lai, thì họ cũng quý niềm vui hết sức mà lúc nào có được nụ cười là cứ “cười sằng sặc”, “cười toe toét miệng” làm hành trang xung trận ngày mai.

Tôi viết bây giờ chuyện hồi đó cũng đã bốn mấy năm rồi, bạn bè người còn còn rất ít, người chết “Vị Quốc Vong Thân” thì vô số kể. Xin những oan khiên các anh về bên kia thế giới được cởi trói mà thảnh thơi, thanh nhàn! Xin những bạn bè có những ngày vui, buồn nơi quân trường xưa còn hiện tiền hay đã quá vãng hãy xuề xòa, xí xóa với nhau để những nụ cười hiếm hoi, hiếm muộn hồi đó cho đến bây giờ vẫn chưa hề suy suyển và sẽ không bao giờ suy suyển.

NGUYỄN THỪA BÌNH
thanks 3 users thanked TRA-MAI for this useful post.
Lữ Khách on 6/23/2014(UTC), Ngọc Anh on 6/27/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC)
Lữ Khách  
#1011 Posted : Thursday, June 26, 2014 6:54:42 PM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,175
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 121 time(s) in 56 post(s)
Chuyện Mật Của Một Đơn Vị Mật:

Biệt Kích Hành Quân Ra Bắc


Trước ngày tháng xâm nhập mỗi Toán được tập trung tại “khu cấm” để chờ lệnh hành quân. Được gọi là “khu cấm” vì nơi đây chỉ dành riêng cho toán sắp hành quân, mọi người không phận sự không được vào khu nầy.

UserPostedImage




Sau khi thu nhập đầy đủ tin tức về thời tiết cũng như về an ninh tại vùng mục tiêu, lệnh hành quân được ban hành.

Toán hành quân được cấp phát đồ trang bị cho cá nhân. Mỗi toán viên thường được cấp phát trang bị như sau:

- 1 Áo vest mang vào người để đựng các đồ trang bị cho cá nhân
- 1 súng tiểu liên Thụy Điển hoặc tiểu liên Sten của Anh hoặc Uzi của Do Thái hoặc tiểu liên Đức có nòng giảm thanh và ba băng đạn.
- 1 súng lục 9 ly của Thụy Điển
- 1 bi đông nước
- 1 túi cứu thương cá nhân
- 1 bộ đồ...
- 1 dao găm
- 1 mũ nồi
- 1 bộ đồ bà ba đen hoặc nâu
- 1 đôi giày nhảy
- 1 dao bỏ túi
- 1 pen place
- 1 kính chiếu để liên lạc với phi cơ hay trực thăng
- 1 đèn pin để di chuyển trong đêm
- 1 máy radio National
- 1 bao thuốc lá Aka và diêm quẹt
- 1 lược chải đầu
- 1 bàn chải đánh răng và thuốc đánh răng
- 1 bản đồ
- 1 địa bàn
- 1 cuốn sổ và bút chì
- 1 gamen
- 1 đồng hồ đeo tay hiệu Rado hoặc Seiko
- 1 chai thuốc trừ muỗi hay vắt
- 1 toile de tent
- 1 mền ngủ
- 1 túi xắc mang trên vai
- 1 panneau để liên lạc với phi cơ
- và 3 ngày lương thực dự trữ cho mỗi cá nhân

Riêng Trưởng Toán còn được cấp phát một 6.35 và hai nhân viên truyền tin còn phải mang theo máy truyền tin RC 1 khá nặng nhảy dù theo người. Đó là trang bị cá nhân.

Trang bị cho toán, nằm trong các kiện hàng thường có:

- 3 tháng lương thực dự trữ cho các Toán
- Máy truyền tin RC 1 (dự trữ)
- 3 tháng đạn dự trữ
- Áo quần, mền dự trữ
- Thùng đồ phá hoại
- Bộ đồ hớt tóc
- Thùng thuốc chữa trị các bệnh thông thường

Sau khi mỗi toán viên đã nhận lãnh và sắp xếp đồ trang bị áo veste và túi xắc mang vai của mình, Toán sẽ tập trung để nhận lệnh hành quân.
Trưởng công tác Mỹ và Việt thuyết trình chi tiết về lệnh hành quân và thường kèm theo không ảnh vùng mục tiêu để Toán biết vùng mới sắp nhảy dù xuống.

Sau đó toán Trưởng sẽ thuyết trình lại cho toán viên, cùng lúc Trưởng Công Tác Việt Mỹ có cơ hội nhận xét và bổ khuyết thêm nếu xét ra cần thiết.
Sau khi nghe xong thuyết trình, Toán được đưa vào sân bay Tân Sơn Nhứt hoặc sân bay Long Thành.

Từ Long Thành hay sân bay TSN, Toán sẽ được không vận đưa ra sân bay Đà Nẵng. Tại đây, đợi lúc trời tối, phi cơ cởi bỏ mọi huy hiệu, bay ra biển, và từ biển bay thẳng đến vùng mục tiêu. 10 phút trước giờ bãi nhảy n/v PD0 theo Toán, sẽ báo hiệu- mọi người gắn móc dù mình vào dây cáp và đợi đèn xanh. Toán viên theo thứ tự gấp rút nhào ra cửa phi cơ để xâm nhập vùng địch.

Cũng có nhiều lúc toán xâm nhập miền Bắc sử dụng sân bay UDON hay NAKOR-PHANOM ở Thái Lan. Tuy nhiên mọi công tác xâm nhập miền Bắc bằng trực thăng vận sau nầy đều xử dụng hai sân bay nói trên.

UserPostedImage


Trường hợp xâm nhập bằng trực thăng: Việc xâm nhập được thi hành như sau.

Sau khi toán được không vận từ Long Thành hay từ TSN đến UDON hay NAKOR- PHANOM, toán sẽ lên trực thăng loại CH1 (là loại có trữ lượng nhiên liệu lớn có thể bay xa mà không cần tiếp tế nhiên liệu) và được trực thăng vận băng qua không phận Lào để tiến vào vùng mục tiêu trong lãnh thổ Bắc Việt. (Có lúc vì mục tiêu quá xa, trực thăng CH1 phải đáp xuống căn cứ bí mật của tướng Vang-Pao để nhận tiếp tế nhiên liệu).

Hầu hết mọi cuộc xâm nhập bằng trực thăng vào lãnh thổ miền Bắc thường xảy ra lúc xế chiều. Trái lại các toán xâm nhập bằng nhảy dù đêm, chỉ được xâm nhập vào những đêm có trăng và mùa trăng bắt đầu từ ngày 10 đến ngày 20 âm lịch.

Như trên đã trình bày mỗi nhân viên công tác đều được trang bị một radio nhỏ, không những để giải trí khi nhàn rỗi mà nhất là để giúp toán viên dễ dàng tập trung sau khi cánh dù của họ xuống đất. Mọi người đều biết chiếc dù T-10 rất khó điều khiển khi gió lớn, do đó có lúc gió kéo dù rời xa bãi đáp năm bảy trăm thước. Vì lý do trên, Trung Ương phải trang bị một máy beacom, máy này được đặt trong kiện hàng chính, được đẩy ra phi cơ cùng lúc với Toán xâm nhập. Lúc xuống đất mỗi toán viên sẽ mở máy radio của mình và di chuyển tập trung theo tín hiệu của máy beacom đặt ở kiện hàng chính.

Ngoài những phương cách xâm nhập biệt kích bằng đường hàng không, sở Bắc còn cho xâm nhập nhân viên bằng đường biển, hoặc đường bộ, hoặc xâm nhập chính thức vào miền Bắc từ một nước thứ ba. Vì lý do bảo mật và ngăn cách công tác, nên người viết bài này không biết rõ hết chi tiết, xin được miễn trình bày.

TIẾP TẾ

Như trước đây đã trình bày. Mỗi toán khi xâm nhập thường phải đem theo ba tháng lương thực và súng đạn cũng như chất nổ. Tuy nhiên Trung Ương thường phải tiếp tế cho Toán trước thời hạn. Về lựa chọn bãi thả có lúc do Toán thám sát xong và báo cáo về T.W. Cũng có lúc T.W dựa vào phi cơ ảnh hoặc bản đồ chỉ thị cho Toán đến thám sát và báo cáo về T.W.

Điều kiện cần thiết khi chọn bãi thả gồm có:

1. An toàn, xa làng xã, xa các trục lộ
2. Rộng, dài, đất bằng càng tốt
3. Hướng gió thổi nhẹ, nếu chọn thung lũng càng tốt
Sau khi nhận báo cáo tham sát bãi thả của toán, Trung Ương sẽ cho toán biết quyết định của Trung Ương về:
1. Ngày giờ máy bay đến bãi thả
2. Hướng máy bay sẽ đến
3. Toán phải đánh dấu bãi thả như thế nào
(Chữ T năm ngọn đèn Pin, hay pháo hiệu hoặc chữ L v.v...)
4. Số kiện hàng được tiếp tế

Mọi toán khi nhận được tiếp tế hàng không đều biết:

1. Giờ bãi thả là giờ máy bay đến tận nơi bãi thả.
2. Luật chỉ cho phép toán đánh dấu hiệu bãi thả trước 5 phút và kéo dài thêm 5 phút sau giờ bãi thả. Phi cơ có đến bãi thả sẽ không thả tiếp tế nếu toán không đánh dấu hay đánh dấu sai. Phi cơ sẽ không được quay lại lần thứ hai trên bãi thả nếu không thấy dấu hiệu của toán vào giờ ấn định.

Việc tiếp tế cho các toán ở miền Bắc cũng chỉ được thi hành vào mùa trăng, tức khởi sự từ 10 đến 20 âm kịch mỗi tháng. Tuy vậy, cũng có vài trường hợp đặc biệt như toán Hector của Đại Uý Luyện năm 1966- vì toán này bị lộ, bị địch bao vây, bị mất máy truyền tin riêng, phóng pháo cơ của TW đã đến giải vây, cùng lúc đã bắn nhiều thùng containers để tiếp tế lương thực và đạn dược. Toán Ares hoạt động tại vùng Quảng Yên (Hải Phòng) thường nhận tiếp tế bằng đường biển, những năm 67,68, hải cảng Hải Phòng bị Hoa Kỳ phong tỏa bằng ngư lôi nên Trung Ương không thể tiếp tế cho Toán bằng đường biển như trước, vì thế toán được tiếp tế bằng đường hàng không theo chỉ thị như sau:

Vào “ngày N giờ G” quy định, Toán sẽ đánh dấu bãi thả bằng ba ngọn khói hình tam giác đều cạnh trên một thửa ruộng khô ở tọa độ ấn định. Đến giờ ấn định, một đoàn phóng pháo cơ sẽ bay lượn bắn phá vùng hải cảng Hải Phòng, cùng lúc một chiếc sẽ bắn xuống bãi thả của Ares hai container lương thực và súng đạn. Trong kiện hàng còn có 10 khâu vàng 24 cara để toán trao đổi mua bán với người địa phương.

TRIỆT XUẤT

Trước năm 1963-1964, mọi toán công tác miền Bắc nếu được triệt xuất, họ chỉ có thể băng qua lãnh thổ Lào và trình diện với cấp Chỉ Huy Trưởng của Tướng Vang-Pao để xin hỗ trợ. Hoặc di chuyển đường bộ về Nam băng qua sông Bến Hải và vùng phi quân sự. Trường hợp sau nầy chỉ thành công khi toán di chuyển từng người một.

Nhưng từ năm 1965 trở đi, việc triệt xuất toán về Nam được thi hành dễ dàng hơn bằng hai cách sau đây.

1. Triệt xuất bằng trực thăng

Đến ngày giờ ấn định đã được báo trước cho Toán. Hai trực thăng xuất phát từ phi trường UDON hoặc NAKOR- PHANOM ở biên giới Thái-Lào. Có lúc bay thẳng tới vùng triệt xuất. Có lúc vì đường bay quá xa, phi cơ trực thăng phải đáp xuống căn cứ bí mật của tướng Vang-Pao để nhận tiếp tế nhiên liệu, xong trực thăng mới bay xâm nhập vào vùng triệt xuất. Sau khi đã liên lạc được với Toán, Trưởng Công Tác báo về cho Trưởng Công Tác Hoa Kỳ và sau đó hai khu trục được bay đến để yểm trợ cho việc triệt xuất. Sau khi khu trục bắn phá và tạo một vùng an ninh vây quanh, Toán được triệt xuất. Một trong hai trực thăng sẽ đáp xuống bãi để triệt xuất Toán.

2. Triệt xuất bằng C 130, còn được gọi là Sky-Hook.

Toán hoặc nhân viên được triệt xuất, trang bị mỗi người một túi xách trong đó có bình hơi và bong bóng khá lớn- Đến giờ quy định đã được báo trước, nhân viên được triệt xuất bấm bình hơi, bong bóng sẽ căng và bay lên trời, dây ny lông có sẵn, nối liền bong bóng và nhân viên được triệt xuất. Phi cơ C.130 được trang bị thêm hai râu trước mũi bay đến và kẹp mạnh vào dây nylon và bắt đầu kéo nhân viên được triệt xuất vào. Phương cách triệt xuất này cũng thường được áp dụng để cứu các phi công bị bắn hạ tại Bắc Việt.

LIÊN LẠC

Các Toán họat động tại miền Bắc liên lạc về TW bằng máy RC1, một loại máy có tầm họat động rất xa, tuy nhiên rất cồng kềnh và khá nặng.

Để bảo đảm an ninh cho việc liên lạc, mỗi Toán đều có đặc lệnh truyền tin riêng rẽ, và mỗi hiệu thính viên của Toán cũng có riêng nhóm an ninh của mình, mà chỉ có phòng truyền tin Trung Ương mới được biết, và sĩ quan Trưởng Công Tác của Toán cũng không có quyền tìm hiểu. Mỗi nhân viên trước khi đi công tác, nhịp đánh “manip” của mỗi hiệu thính viên được ghi băng, đề phòng lúc địch xâm nhập vào hệ thống, nhịp điệu thật hay giả được đối chiếu.

Mọi điện văn sau khi mã hóa chỉ được chuyển về TW qua nhiều tầng số. Không khi nào quá 5 phút ở một tầng số. Các điện văn gửi về TW không khi nào được gửi trực tiếp mà phải qua đài “BUZZ” ở Phi Luật Tân và sau đó đài BUZZ mới chuyển về TW tại Sài Gòn.

- Các Toán Hồi Chánh còn gọi là Toán Đề Thám được thành lập năm 1968, cũng như các Toán Phượng Hoàng người Miên đều được trang bị máy truyền tin nhỏ hơn để dễ di chuyển, nhưng khả năng liên lạc tầm xa luôn luôn được bảo đảm. Nếu bị trở ngại liên lạc với phi cơ bằng pháo hiệu Den Flare hoặc bằng Panel hoặc bằng kính chiếu, hoặc bằng đốt khói v.v...

- Các điệp viên hoạt động trên lãnh thổ Kampuchia

Họ liên lạc về TW qua hộp số sống tại chợ Trời Gò Dầu Hạ, nơi người Miên và Việt tụ tập mỗi ngày để buôn bán. Nhân viên làm hộp số sống luôn có mặt tại tiệm buôn của mình được mở ngay trong chợ, để nhận báo cáo mọi lúc cần thiết.

nv

thanks 1 user thanked Lữ Khách for this useful post.
Ngọc Anh on 6/27/2014(UTC)
Ngọc Anh  
#1012 Posted : Thursday, July 3, 2014 9:34:59 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
XIN PHỔ BIẾN


Kính xin quý vị, mỗi người nhận, chuyển đi email này đến với bạn bè, người thân của mình. Nó sẽ LAN RA RỘNG và HY VỌNG ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ.

CẦU XIN THÂN NHÂN CỦA NGƯỜI ĐÃ KHUẤT BIẾT ĐƯỢC

ĐÂY LÀ TRƯỜNG HỢP NHÂN ĐẠO RẤT ĐẶC BIỆT, XIN QUÝ VỊ PHỔ BIẾN RỘNG RÃI TIN NÀY.

XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN

Thông Báo


Chúng Tôi có tìm thấy một hài cốt của một Quân nhân
đã hy sinh tại chiến trường Chi Khu Kiến Đức, thuộc tỉnh Daklak (cũ)
có Thẻ Bài ghi rõ:

Họ Tên là Nguyễn An Khang
Số Quân: 68/144.681
Loại Máu B.Rh+



Vậy, nếu ai là thân nhân của Quân Nhân đã hy sinh nói trên xin vui lòng liên lạc
ĐT: 0903698807 (gặp Long) hoặc 0903716345 (gặp Nhung) để nhận lại hài cốt.

Edited by user Thursday, July 3, 2014 9:37:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Ngọc Anh  
#1013 Posted : Thursday, July 31, 2014 10:12:51 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)
UserPostedImage
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Ngọc Anh  
#1014 Posted : Tuesday, August 5, 2014 6:51:18 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage



SBTN News:

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 nhằm giúp đỡ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa còn kẹt lại tại quê nhà đã diễn ra vào ngày Chủ Nhật 3 tháng 8, 2014 từ lúc 12 giờ trưa và kết thúc lúc 8 giờ tối tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, California. Số tiền quyên được tính cho đến 8 giờ tối là 520 ngàn mỹ kim gồm thu tại chỗ và đồng hương khắp nơi gọi điện thoại về để yểm trợ cho chương trình.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình SBTN và Trưởng Ban Tổ Chức Đại nhạc hội cho biết hi vọng con số này sẽ tăng thêm trong thời gian tới vì khi đài truyền hình SBTN chiếu lại chương trình này thì khán giả sẽ yểm trợ thêm và theo kinh nghiệm những năm trước thì con số tăng thêm khoảng thêm hai trăm ngàn mỹ kim.

Và như vậy có thể kết luận rằng kết quả tài chánh của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 cũng thành công giống như mấy năm trước.

Đây là một công tác được phối hợp tổ chức giữa Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa, đài SBTN, đài truyền hình SET 57.4, Trung Tâm Asia, và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Chương trình văn nghệ thật phong phú với sự góp mặt của hơn một trăm ca nhạc sĩ nổi tiếng của cộng đồng văn nghệ hải ngoại, trong đó có nhiều ca sĩ của Trung Tâm Asia cùng các ban nhạc Trung Nghĩa, ban nhạc Trúc Sinh, và ban nhạc Moon Flower.

Tối Thứ Bảy Quận Cam mưa nhẹ, tin thời tiết loan báo có thể mưa nhẹ vào Chủ Nhật làm Ban Tổ Chức lo lắng nhưng trời không mưa và thời tiết mát dịu hơn mấy ngày trước làm cho khán giả thoải mái thưởng thức chương trình văn nghệ phong phú. Chương trình càng về cuối buổi càng đặc sắc.

Cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH nói rằng khí thế của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 năm nay hùng mạnh hơn bao giờ hết.

Một số nghệ sĩ trình diễn và một số khán giả đã đến từ San Jose đã phải về sớm vì đường dài sáu trăm cây số bày tỏ sự thích thú được tham dự buổi nhạc hội đầy ý nghĩa này. Năm ngoái 2013, đại nhạc hội Cám Ơn Anh Kỳ 7 đã tổ chức tại San Jose cũng thành công thu được 735 ngàn mỹ kim.

Các ca sĩ sau khi trình diễn đã ôm thùng quyên tiền đến với khán giả để xin ủng hộ và bà con đã nồng nhiệt bỏ vào những tờ giấy đô la đầy tình nghĩa dành cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh một phần thân thể cho tổ quốc.

Hàng ngàn khán giả đến tham dự, ngồi trong căn lều che nắng để thưởng thức chương trình văn nghệ được truyền hình trực tiếp trên đài SBTN và đài SET 57.4 đến với nhiều đồng hương tại các thành phố xa. Cũng không quên một một ban thiện nguyện viên ngồi hàng giờ để nhận điện thoại khán giả khắp nơi gọi về để yểm trợ cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, nhờ vậy mà số tiền thu được cao như vậy.

Ban Tổ Chức vẫn tiếp tục nhận sự ủng hộ của đồng hương dành cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8.

Mọi chi phiếu xin ghi ĐNH CÁM ƠN ANH KỲ 8 và gởi về địa chỉ:

Hội H.O Cứu Trợ TPB&QP/VNCH: PO BOX 25554, Santa Ana, CA 92799

SBTN & TT Asia: PO BOX 127, Garden Grove, CA 92842. (P. Thy)
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
UyenVy on 8/11/2014(UTC)
NNT  
#1015 Posted : Saturday, August 9, 2014 4:05:32 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
CHUYỆN ĐÁNG KÍNH PHỤC

Hôm lễ July Fourth (Quốc Khánh) của Mỹ mình có tới nhà một sĩ quan lớn tuổi chơi. Thế là có câu chuyện...

Vợ ông Thuận sau cơn bạo bệnh đã mất cách nay hơn 10 năm. Các con trai và gái của ông bà đều lớn cả và có gia đình nên ông ở một mình. Từ ngày vợ mất, ông đã ngoài 65, nhưng vẫn còn tráng kiện và khoẻ mạnh.

Cái tin ông về VN mấy lần, khá tốn kém để cưới vợ qua Mỹ, làm chấn động cả một thị trấn nhỏ, nơi có tin lành dữ gì là ai cũng biết. Dĩ nhiên đâu ai có thiện cảm với một ông lão 75 tuổi về VN cưới một cô gái trẻ đẹp mới ngoài 20, chỉ đáng tuổi con, cháu chắt. Đúng là trâu già thích gặm cỏ non!

Ra phi trường đón cô gái trẻ ấy, chỉ có một mình ông. Tất cả con cháu, họ hàng không có người nào. Thái độ đó ông thừa hiểu là họ phản đối!

Giấy tờ hợp lệ, hôn thú hẳn hoi, ông đưa cô về nhà.

Đêm đầu tiên cô gái cơm nước xong, tắm rửa sạch sẽ, ngồi coi tivi, cô chưa biết tiếng Anh nên ông mở mấy băng Paris By Night, Asia... cho cô coi. Khuya, ông chỉ tay vào một căn phòng và nói:

- Đó là phòng riêng của Hằng, tất cả đồ đạc có đầy đủ, Hằng cứ tự nhiên.

Nói xong, ông đứng lên đi vào phòng của ông.

Cô gái hơi ngạc nhiên, nhưng chỉ nghĩ là bên Mỹ vợ chồng ngủ riêng mỗi người một phòng, khi nào cần làm "chuyện ấy" thì mới...mò sang! Hix!

Nhưng cả tháng sau cô chờ hoài mà vẫn không nghe tiếng ông gõ cửa hay có thái độ nào khác!

Sau khi hoàn tất mọi thủ tục bổ sung để làm giấy tờ như thẻ SS (Social Security), thẻ ID, permanent resident card (thẻ xanh thường trú)..., ông nói nhẹ nhàng, nhưng nghiêm trang với cô:

- Từ mai tôi sẽ chở Hằng đi học ESL, sau một thời gian, sẽ đăng ký học tiếp ở college, Hằng phải cố mà học, tôi không sống mãi mà bảo bọc cho cô được đâu.

Ở cái xứ sở này, đâu ai để ý ai, đâu ai biết đó là vợ chồng hay cha con, chỉ thấy ngày ngày ông chở cô đi và đón cô về, ân cần thăm hỏi động viên học hành.

Cô chỉ biết vâng dạ.

Những đêm xa nhà, xa quê hương một mình nơi đất khách quê người, mới hiểu thế nào là cô đơn cực kỳ, là cần hơi ấm người đồng hương, là thèm một tiếng nói dù là của một ông già. Nhiều lần, cô lưỡng lự, muốn qua gõ cửa phòng vào nói chuyện với ông, nhưng rồi lại thôi.

Một năm thấm thoát trôi qua. Cô còn trẻ, lại khá thông minh nên tiến bộ trông thấy, cô apply vào trường college và vượt qua các tests để vào ngành y tá.

Khi cô đi thi quốc tịch cũng là ngày ông mừng ra mặt, được cô báo tin đã "passed" : đậu. Rồi ông đốc thúc cô nhanh chóng bảo lãnh cha mẹ qua Mỹ! Cô còn đi học nên tất cả mọi chi phí ông đều đài thọ.

Ba năm sau, cô và ông ra đón cha mẹ cô và đứa em nhỏ dưới 21 tuổi. Từ xa, bố vợ của ông tách khỏi gia đình, chạy lại ôm chầm lấy ông, mắt đã nhoè lệ và kêu lên sung sướng.

- Ông Thầy!

Thì ra ông Thuận nguyên là sĩ quan Tiểu Đoàn Trưởng, thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 bộ binh VNCH. Còn "ông bố vợ", bố của Hằng nguyên là một trung sĩ, thuộc cấp của ông.

Hai thầy trò ôm nhau mừng mừng tủi tủi.

Chỉ đến khi ông và Hằng ra toà ly dị các con ông Thuận mới vỡ lẽ. Họ biết là họ đã sai lầm.

Ngày xưa, sau 1975, lúc ông phải đi tù cải tạo, người lính thuộc cấp ấy đạp xích lô nuôi gia đình bữa no, bữa đói, mà vẫn chia sẻ, giúp đỡ gia đình ông dù chỉ là những đồng tiền khiêm tốn. Những lần vợ ông đi thăm nuôi gần như là toàn bộ đồ dùng người thuộc cấp mua cho ông.

*****

Ông bùi ngùi nói với tôi:

- Chú Hòa biết không, trong trại cải tạo là những ngày đói triền miên, đói vô tận, đói mờ mắt, đói run chân thì một cân đường, một kg chà bông, một bịch đậu phọng, vài viên thuốc... quý hơn vàng, nhưng những thứ ấy vẫn không quý bằng tình nghĩa mà người lính dành cho mình. Đó là niềm tin và hy vọng.

Khi qua Mỹ, tôi được tin gia đình chú ấy kiệt quệ, đau bệnh liên miên. Tiếp tế vài ba trăm cũng chỉ nuôi được mấy tuần nên tôi đành phải bàn ... làm rể "giả" của chú ấy. (Ông hóm hỉnh khi nói câu này.)

*****

Tôi hiểu câu chuyện. Thì ra ông về VN, "giả" cưới cô Hằng là để đền ơn người thuộc cấp đã cưu mang giúp đỡ ông và gia đình sau 1975.

Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc:

- Thế sao cô Hằng không biết chú là cấp chỉ huy của ba cô ấy?

Ông mỉm cười:

- Đám cưới giả mà, phải giữ bí mật chứ, chỉ có hai người biết là tôi và người lính ấy.

Nhắp ngụm bia, bỗng nảy ra ý tưởng, tôi nói:

- Chuyện của chú cháu đưa lên... facebook được chứ?

- Tôi chỉ làm một việc rất bình thường. Sống có tình có nghĩa là vui lắm rồi, cần gì òm ĩ...

Hằng và các con ông đang ngồi ăn uống vui vẻ, cô đứng dậy, đi về phía tôi và nói:

- Anh Hòa, anh cứ đưa lên facebook cho em, coi như là lời cảm tạ người Bố thứ hai của em vậy!

Tôi thấy mắt Hằng long lanh!

ĐNH
18/7/2014
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
tý xưng on 8/10/2014(UTC), UyenVy on 8/11/2014(UTC), Ngọc Anh on 8/11/2014(UTC)
UyenVy  
#1016 Posted : Monday, August 11, 2014 9:02:44 AM(UTC)
UyenVy

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 1,506
Location: Somewhere

Thanks: 1475 times
Was thanked: 525 time(s) in 366 post(s)


Người Việt hải ngoại chúng ta rất hãnh diện lần đầu tiên có người Mỹ gốc Việt được thăng cấp là Chuẩn tướng Lương Xuân Việt
-Genaral Việt Lương
UserPostedImage
thanks 2 users thanked UyenVy for this useful post.
tý xưng on 8/11/2014(UTC), Ngọc Anh on 8/11/2014(UTC)
NNT  
#1017 Posted : Friday, August 15, 2014 6:17:56 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
QUÂN LỰC VNCH 1968-1975
Tác giả : Sử gia Bill Laurie

http://vnchtoday.blogspo...-cong-hoa-1968-1975.html

Edited by user Friday, August 15, 2014 6:20:54 PM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#1018 Posted : Monday, August 25, 2014 11:56:18 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,322
Man
Location: USA

Thanks: 1304 times
Was thanked: 2679 time(s) in 1469 post(s)
Phút thành Thần của Tướng Lê văn Hưng
http://baovecovang2012.w...n-hung-nguyen-dat-thinh/
Ngọc Anh  
#1019 Posted : Thursday, October 2, 2014 10:18:58 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,664

Thanks: 4917 times
Was thanked: 4157 time(s) in 2013 post(s)

UserPostedImage


Tặng Quý Bạn quê Quảng Trị
Tôi yêu “ thôn VĨNH HUỀ “ .


(thời điểm khoảng tháng5/6 năm 1964)
Chí Hợi Australia.


Nói đúng tên ra thì phải gọi là “ thôn Vĩnh Hoà “, lý do tránh dùng tên húy của một bậc quân vương nào đó. Có lẽ phải đi tìm các vị bô lão của thôn để truy nguồn ra vị quân vương này.
Thôn mang một cái tên đẹp vô cùng, nhưng trong thực tế phũ phàng , thôn đã từng chịu bao “ách nước, tai trời “do địa thế mà chẳng được thiên nhiên ưu đãi tí nào. Lại còn cái cảnh binh đao do bọn CS phương Bắc gieo xuống, làm cư dân đau khổ triền miên vì nạn khói lửa chiến tranh, huynh đệ tương tàn, nồi da sáo thịt đã kéo đài nhiều năm.
Tôi được dịp thuyên chuyển phục vụ tại một đơn vị, đóng quân gần đó, có nhiệm vụ bảo vệ và duy trì an ninh lãnh thổ cho thôn. Thôn thuộc xã Triệu Vân, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Đơn vị là Duyên Đoàn 11 thuộc Bộ Chỉ Huy Vùng 1 Duyên Hải đang đồn trú ,dùng lại một cái bót của quân đội Pháp khi xưa.Nếu đi ngược lại thời thật xa xưa nữa, thì đây là một cái đồn nhỏ của triều đình Huế lập ra, chuyên kiểm soát các ghe thuyền ra vào tỉnh và cũng đồng thời là trạm thu thuế, mà quan trọng nhất là thuế muối.( nói lại theo lời kể của các vị bô lão trong thôn).

Con sông Thạch Hãn bắt nguồn từ nơi xa xăm trong rặng Trường Sơn , tận bên phía Lào, chảy dọc theo hướng Đông Tây, xuyên ngang qua tỉnh Quảng Trị, Đông Hà và đổ thẳng góc ra bờ biền, nơi đây gọi là Cửa Việt và cửa này ở phía Nam của Cửa Tùng, tức Bến Hải, vùng trái độn phi quân sự (demilitary zone )nơi chia cắt hai miền đau thương của đất nước và cách xa nhau khoảng 15 km. Đơn vị đóng ở hữu ngạn hay là bờ Nam của con sông.Giòng nước trong veo, lúc nào cũng hiền hòa, êm đềm, chậm chạp lững lờ chảy , có thể thấy được tận đáy sông với những loài thảo mộc xanh rì mọc ở dưới đáy, nghiêng ngả lướt theo chiền nước chảy. Đi trên ghe, có thể trông thấy rõ được, tương tự như con sông Hương ở Huế.
Tôi trưởng thành trong một thành phố lớn ở miền Nam, nên không biết thôn quê là gì cả. Họa chăng chỉ đưọc biết qua các vùng nông thôn ven biên thành phố Saigon với vài đám ruộng xanh rì, chưa qua giới hạn của tầm quan sát con mắt.Nay được đổi ra một đơn vị xa xôi hẻo lánh, tôi mới biết rõ và nhận diện ra quê hương, nông thôn Việt Nam đẹp vô cùng.

Nơi tôi đang tả đây là thôn Vĩnh Huề, cũng còn gọi là Vĩnh Huề Biển, như đã dẫn ở ngay phần đầu.Vì nằm ngay sát bờ biển, thôn chịu ảnh hưởng nặng nề của mùa mưa, mùa gío Đông Bắc ( khỏang tháng 9 dương lịch cho đến tháng2/3 năm sau ) với những cơn gío to thổi đến , rất mạnh đem theo nhiều cơn mưa nặng hột, đôi khi cũng có bão nữa, tàn phá nhà cửa và hoa mầu của cư dân. Song song dọc theo bờ biển, một hàng dương liễu xanh rì không biết được trồng từ thời nào, có hàng lối đều đặn,chạy ngút ngàn theo hướng Bắc Nam, che chở thật hữu hiệu mỗi khi có các cơn gió to.Những tháng còn lại trong năm là mùa nóng với ngọn gío Lào từ lục địa, nơi dẫy Trường Sơn thổi qua. Gió khô khan, không có hơi nước và độ ẩm làm bức rức, khó chịu con người với cái nóng hung dữ của miền nhiệt đới mà cư dân phải hứng chịu. Những dải cát dài hay còn là những cồn cát cao hơn đầu người, chạy xen kẽ trong lùm dương, nhấp nhô lên xuống,tàn cây che nắng làm tăng thêm cảnh âm u, thiếu ánh sáng mặt trời trong thôn.
Tóm lại, thiên nhiên chẳng ưu đãi một tí gì cái mảnh đất cầy lên đá sỏi này mà cư dân cũng cứ phải bám chặt lấy mảnh đất thân thương này do tổ tiên họ đã qua bao đời truyền lại cho. Cả năm,xuyên qua hai mùa căn bản : nóng và mưa, cư dân sinh sống cứ nhìn thời tiết để mà canh tác hay ra biển , kiếm cá sinh sống.

Cư dân sống sát ngay biển, họ làm nghề đánh cá trong những mùa gío êm, tức mùa gío Tây Nam thổi.Gío này bắt nguồn từ phương Nam, vùng vịnh Thái Lan thổi đi, nhưng khi qua đến nơi, gío yếu dần, để lại những luồng gío phe phẩy, không gây sóng gió, biển động nên người dân có thể ra xa bờ bắt cá.Ghe của họ đều là kiểu” ghe mê”, một từ địa phương ám chỉ loại ghe nhỏ, dài khoảng 4/5m, lườn được làm bằng các cật tre ( lớp tre có vỏ cứng bên ngoài ) đan chéo lại với nhau. Hai bên lườn được ghép bởi hai thanh gỗ dầy và dài, chạy từ trước mũi ra sau lái. Đầu mũi và cuối lái của hai thanh gỗ được kẹp với nhau bởi các sợi kẽm to hoặc dây thừng dừa lớn,vững chắc. Đáy ghe được trét bởi một lớp dầu rái( loại dầu do một cây được rút mủ nhựa ra, giống như mủ cây cao-su trồng ở miền Nam ), trộn chung với một thứ cát thật mịn.Hỗn hợp hai thứ vật liệu trên trở thành một loại keo mầu đen, sền sệt, kết dính chặt lại với nhau, làm kín lườn ghe,nước không thể thấm nhập vào được.
Người nghèo thường dùng mái chèo có phụ thêm buồm để ra khơi. Những năm chiến tranh do VC chủ trương đem lại khốn khổ cho người dân, lúc chưa đến giai đoạn khốc liệt cho lắm, Ty Ngư Nghiệp của Quảng Trị có giúp đỡ họ bằng cách cho vay trả dài hạn đề mua thủy động cơ hành nghề. Đó là những động cơ có lòng máy nhỏ ( cỡ ghe máy đưôi tôm mà miền Nam hay xử dụng ) chạy xăng, nhẹ, dễ xử dụng, gắn trực tiếp vào lườn ghe ( không dùng kiểu đôi tôm). Máy nổ, ghe lưót nhanh, trời êm họ có thể ra xa bờ….

Một điều bất lợi cho họ, đó là lúc trời nổi gío, biển lay động, sóng tát vào thân ghe làm ướt và máy chết ( vì nước biển bị hút vào trong xi-lanh và động cơ không có mái che) và đây là lúc mà ghe rất cần đến động cơ mà không thể xử dụng được.Lâu ngày, ngư dân để máy bị sét rỉ vì họ không phải là thợ máy giỏi, không biết cách làm xả nước trong máy ra.Họ phải đem lên tỉnh, đi lại nhiều lần, tốn kém và động cơ càng bị sét rỉ thêm và dần dà trở nên bất khiển dụng, cho dù máy vẫn chưa xử dụng bao nhiêu.

Theo tôi nghĩ, không biết ai chế ra kiểu động cơ như vậy. Đúng ra họ phải dúng loại outboard engine, một loại động cơ được vẽ kiểu để có thể ra biển mà không sợ bị nước biển hay nước mưa làm ướt và chết máy, nhưng khốn nỗi, các động cơ đó quá mạnh và nặng, không thích hợp để lắp vào các ghe mê ọp ẹp, yếu đuối. Nếu lắp vào, ghe không chịu nổi và có thể bị chìm.

Dọc theo bờ biển là dải cát dài vàng ánh chạy thẳng tắp đến chân trời, không có gành đá nhô ra, nên cá không ở quanh quẩn đó để làm tổ hay trú ở.Chỉ có những loại cá bé nhỏ xiú, bắt được rất khó và số lượng cũng ít. Ngư dân nghĩ ra cách bắt cá như sau.Họ dùng một thanh tre to cỡ bằng cổ mắt cá, dài độ hơn 5m, ở phía dưới có cột đặt một khối đá nặng bởi các dây thừng dừa to lớn và vững chắc.Họ đem ra một địa điểm nào đó đã chọn lựa trước, thả hết xuống biển.Khi thả xuống nước, thanh tre đó sẽ nằm thẳng đứng, chỉ thiên. Đầu cuối khối đá ở dưới nước được cột chặt bởi một sợi dây dừa khác, cũng to lớn và vững chắc, đầu kia cột vào một neo gỗ. Neo này giữ cho cột tre không di chuyển đưọc, trên đầu chót cột tre có treo cờ mầu, đánh dấu vị trí và chủ quyền của họ. các người khác không được lại gần bắt cá. Lâu dần, rong rêu mọc từng chùm đầy chung quanh thân cây tre, làm chỗ núp ẩn tốt cho các loại cá ẩn núp và ăn rong rêu.Ngư dân cứ cho ghe lại gần, thả cần câu có mồi ngon là việc bắt cá thật dễ dàng. Mỗi cột tre đó là cả một gia tài to lớn đối với họ vỉ phải bỏ nhiều tiền ra thực hiện nên rất được bảo trì và trân qúy.
Cuộc sống lấy nghề sóng nước của họ cực khổ lắm, đôi khi không đủ nuôi sống cả gia đình bé nhỏ, ít người.Họ ra đi lúc mặt trời vừa tắt lịm bên trời Tây. Khi bóng tối nhá nhem trùm tới là họ đã rời xa nhà, lênh đênh suốt đêm trên sóng nước để bắt cá. Họ không dùng lưới, lý do cũng dể hiểu vì gía lưới ny-lông cao, không đủ tiền mua, chỉ dùng lưỡi câu mà thôi và các mồi tươi đem theo. Họ cùng đem theo người gia đình, anh em hay người chòm xóm, chung sức bắt cá suốt thâu đêm, không ngừng nghỉ.Qua đêm , gần hừng sáng, họ quay ghe về bến, nơi đó trên bãi cát, vợ con và bạn hàng đã chờ từ lâu. Họ sẵn sàng đem lên bờ những rổ cá thật tươi ( không có ướp đá), quang gánh, rổ rá đã sẵn sàng để quảy lên chợ làng bán.Có người dùng mọi phương tiện để đem lên Đông Hà, bán với gía cao hơn, nhiều lời nhuận.

Mùa biển động, không ra khơi được, họ quay ra trồng trọt, làm nương rẫy hay cầy cấy , làm công thuê kiếm sống.Gío mùa Đông Bắc thổi liền liền nhiều ngày, các dẫy dương liễu bị uốn bẻ cong vút, ra sức ngăn cản ngọn gío tai ác làm hại cư dân, che chở gió cho họ trong những lúc tại biến. Nhưng khi bão ập đổ tới, họ đành phải chịu tai ươn này.Nhà cửa, mái tranh, mái rơm có thể bị tróc nóc,không nơi nương tựa, ướt át.
Phần thôn ở trong đất liền , cư dân đặt tên là Vĩnh Huề Ruộng,một dải đất bằng phẳng, có nhiều ruộng nương ,có thể canh tác lúa gạo nuôi dân địa phương. Một vài nhánh nhỏ của con sông Thạch Hãn chảy xuyên qua,tắm tưới các nương ruộng, đủ nước để lúa sống tăng trưởng suốt năm.
Dân địa phương thôn này có thể nói là nghèo nhất tỉnh.Các nhu yếu phẩm thường dùng hằng ngày đều do Huế chở ra, nên cộng chung gía thành rất đắt. nhiều người sống trong cảnh thật túng thiếu, khổ sở.Những mái tranh xiêu vẹo được dựng tạm bợ dưới những lùm dương che chở nắng mưa. Nưóc ngọt là thứ qúy hiếm. Những lỗ đất lõm xuống sâu độ 1 mét ở trong giữa các lùm dương, chứa nưóc mưa thiên nhiên đưọc họ trân qúy như những giếng nước mà họ dùng quanh năm.

Được đổi về phục vụ tại đây, đơn vị tôi có trách nhiệm bảo vệ an ninh lãng thổ vùng này. Nhiệm vụ chính là canh gác, ngăn chậm mọi di chuyển vũ khí và người của VC từ phương Bắc đột nhập vào bằng đường biển. Thời đó VC ít dùng đưòng biển mà chỉ xâm nhập lẻ tẻ, bí mật bằng đường bộ , qua lối Lào, đi ngang Cà Lu, Lao Bảo,Khe Sanh, xuyên qua vùng Mỹ Chánh rồi phân tán mỏng do giao liên dẫn đầu, chỉ lối cho chúng đi vào các địa bàn hoạt động. Đại đa số đều do những người tập kết năm 1954 trở về và là người địa phương cũ, nên rất am tường địa hình, địa vật. Đôi khi họ đi tìm về những người thân cũ như vợ con cha mẹ, anh em đang sống rải rác trong nhiều vùng hẻo lánh, tránh xa tầm kiểm soát của chính quyền.
Đa phần dân trong tỉnh yêu nước đi theo kháng chiến chống thực dân Pháp dành độc lập kể từ 1945. Tỉnh Quảng Trị có biên giới sát với miền Bắc, nên khi đình chiến năm 1954, họ đã nghe theo lời dụ dỗ lừa bịp của mặt trận Việt Minh mà sau này hậu thân chính là bọn Cộng Sản chính hiệu và phần lớn họ đều theo nhau tập kết ra Bắc. Họ đi đường bộ dọc quốc lộ 1, qua sông Bến Hải là đến nơi với hy vọng phỉnh lừa của VC là họ sẽ quay trở về sum họp gia đình hai năm sau khi có cuộc tổng tuyển cử.Sau này họ trở về sống lén lút trong vùng do có sự che chở, giấu diếm của dân địa phương là bà con của họ. Chính quyền biết rõ nhiều về việc này, nhưng cũng đành phải gặp rất nhiều khó khăn vì qủy kế du kích chiến của chúng, lấy dân làm bia dỡ đạn những khi bị bao vây, truy lùng.
Thời gian sau này khi chiến dịch chiêu hồi của ta được phát động mạnh mẽ và cũng đem nhiều thành qủa hiệu nghiệm, một số cán binh tập kết cũ ra trình diện và được giúp đỡ tận tình về mọi phương diện sinh sống khi họ trở về hồi chánh.

Việc đầu tiên mà tôi tự đặt ra để hành động là phải hoà mình vào đời sống thường nhật của dân tại đây. Tôi cố gắng quan sát thật kỹ lưỡng cuộc sống khổ sở, lam lũ hằng ngày của họ đề có thể hiểu rõ hơn và truy lùng ra những tên VC nằm vùng. Đơn vị không phải là các chiến sĩ bộ binh, chuyên tác chiến bộ mà là những chàng thủy thủ , được huấn luyện để hải hành ngoài biển. Nhưng thôi, vì nhu cầu cấp bách cũng phải thuận theo tình thế mà hành động. Đơn vị trưởng là một sĩ quan bộ binh, có thâm niêm tác chiến và kinh nghiệm trận địa rất giỏi. Đó là Đại úy Đặng Đức Quốc , được biệt phái từ Sư Đoàn 1 chuyển sang. Ông này thành lập một toán quân báo, trang bị vũ khí thật đầy đủ và hùng hậu với những tay xạ thủ bắn súng rất giỏi và nhất là xử dụng thật tài tình loại súng phóng lựu.
Dạo đó, đơn vị được ưu tiên cấp phát đầu tiên súng phóng lựu M79, có tầm bắn xa, nhẹ, rất dễ trúng đích và tầm sát hại rất hữu hiệu. VC trong vùng rất sợ loại súng này và chúng đặt tên là súng cối cầm tay.Quân số của toán quân báo chừng một tiểu đội, thường hay đi kích những điểm trọng yếu mà bọn du kích nằm vùng thường hay qua lại, giao liên với nhau.Mục đích của tiểu đội này là đi thu lượm những tình báo, các hoạt động của VC trong vùng như là tập họp dân làm mít-tinh ban đêm để tuyên truyền hay bắt dân đóng thuế. Tìm hiểu và điều tra việc VC tổ chức lại những ban tự quản, tổ phụ nữ, tổ thiếu niên , kêu gọi bắt buộc trai tráng làm du kích hay những ai tiếp tay hoạt động hoặc bắt dân làm các công tác giao liên mà chúng buộc mọi người phải hợp tác .Tin tức nhận được sẽ tổng hợp lại, rồi phối kiểm với tiểu khu Quảng Trị hay các đơn vị khác cùng đồn trú trong vùng lãnh thổ liên hệ.

Sau khi đáo nhiệm đơn vị mới lần đầu tiên, tôi như “ con ngé mới sinh, không sợ con cọp”, cứ lấy sừng non mà húc càn, rất hăng say chiến đấu, thích hay đi hành quân chung cùng tiểu đội quân báo , bất kể lúc kích ngày hay đêm, mặc dù việc đó không phải lả của tôi, một sĩ quan chỉ huy, nhưng đơn vị trưởng cũng không ngăn cản. Một sự may mắn là tôi đã suýt chết hai lần, có lẽ cũng do phúc ấm của ông bà để lại mà tôi đã thoát nạn, được sống đến ngày hôm nay. Bây giờ, khi hồi tưởng lại, tôi không thể không run rẩy khi thấy sự nguy hiểm sát cận kề mà đã thoát được.( Tôi sẽ kể lại vào một bài khác chuyện VC cố tình giăng bẫy để bắt sống trọn ổ tiểu đội quân báo này khi chúng dùng kế “độn thổ”.Chúng đánh hơi và đoán biết đường về đơn vị của chúng tôi, nhưng nhờ anh tiểu đội trưởng nhanh trí và khôn ngoan, đã tránh được cái bẫy độn thổ này ,thoát chết……thật hú hồn ).
Sau nhiều lần len lỏi, xâm nhập và quan sát kỹ lưỡng vào các thôn quê trong vùng trách nhiệm đang có VC hoạt động, tôi mới thấy tường tận , nhận rõ và suy luận ra cảnh cơ cực mà người dân thôn Vĩnh Huề phải chịu đựng suốt trong chiến tranh.

“ Quê em nghèo lắm ai ơi!....Mùa đông thiếu áo….Mùa hè thiếu ăn….”

Thật qủa đúng như vậy,tôi đã từng chứng kiến người dân sống lầm than trong vùng VC ảnh hưởng.Tin tình báo cho biết thay đổi từng giờ, từng ngày. Bọn VC như ma trơi, mới đêm nay chúng ở thôn này, qua hôm sau chúng lẩn trốn đi đâu không biết.Nhưng chắc chắn là có hiện diện của chúng quanh đâu đây, tìm không ra vì chúng sống trong các khu dân nghèo khổ và thường hay ẩn núp bên dưới các tàn dương rậm rạp che kín. Quân ta không dám hành quân truy lùng , e sợ qủy kế dùng dân làm bia đỡ đạn chết thay cho chúng và nhất là tai hại đến tài sản và tính mệnh của dân.Pháo binh của tiểu khu và oanh tạc cơ không yểm của ta nhiều khi không dùng hết khả năng.
Trụ sở xã Triệu Vân đã bị đánh tan hoang, chỉ còn trơ lại cái nền gạch xi-măng.Xã trưởng cùng toán dân vệ cơ hữu phải đi lánh nạn , xin tá túc nơi đơn vị tôi. Như vậy cũng càng tốt, vì có thêm chiến sĩ để tăng cường tác chiến . Trường tiểu học cạnh bên cũng bỏ hoang vì không có thầy cô, học sinh ở nhà làm ruộng hay ra biển giúp gia đình.
Một lần,tôi vào nhà một bà gìa sống đơn côi, có chồng chết trong thời chiến tranh Việt Minh với Pháp.Gọi là nhà, nhưng chỉ là cái chòi không hơn không kém, mái tranh thấp lè tè, đi vào phải khom lưng xuống. Của cải chỉ là cái giường tre cao cỡ một gang tay sát mặt đất, rải rác ở trên với vài ba bộ quần áo cũ, rách toe tua cùng với cái chăn dạ lính đã sờn rách nhiều chỗ, bên trên có mắc một cái mùng lính cũ rich, bám đầy bụi bậm. Bên góc kia có ba cục đất chụm lại làm bếp lò, một đống lá dương khô được gom lại ở lùm dương bên ngoài, chất đống kế bên dùng làm củi đốt, nấu ăn.Cạnh đó, một cái lu sành nhỏ, bể nát, để lộ ra nhiều lát khoai lang sắt nhỏ, mỏng đã khô, trộn chung với các lá chuối khô lót độn dưới đáy. Tôi không hiểu cụ gìa này sống đến giờ bằng cách gì. Cụ gìa cả, lại bệnh hoạn, không lao động được, nhưng nghe nói có thằng con út đi lính , làm hạ sĩ QLVNCH, đơn vị đóng đồn tại xa xôi, nơi Lao Bảo heo hút gì đó. Nó đã trốn đào ngũ để về nhà lo phụng dưỡng mẹ gìa.
Ôi thương thay! một tấm gương chí hiếu của đứa con trai kia.
VC biết rõ chuyện này, vẫn để nó sống nuôi mẹ gìa, nhưng buộc nó phải làm nhiểu công tác giao lien mà chúng chỉ định , thì mới được yên thân , sống còn mà nuôi mẹ gìa.

Bất kể vật dụng gì dùng trong cuộc sống hằng ngày đều qúy gía. Một mẩu bút chì cụt , dài khoảng 3 lóng ngón tay cũng vẫn còn là một vật qúy cho học sinh dùng.Quyển tập viết học trò 48 trang giấy trằng, cái bút bi hiệu BIC ( rất thông dụng cho các học sinh ) cũng là các vật mà phải trân qúy.
Một xấp vải tétoron mầu vài mét để may áo dài cho con gái hay xấp vải tergal để may quần Tây là cả một vật xa xỉ , qúy báu đối với người dân.
Người nghèo, đêm xuống là nhà họ tối thui, không dám dùng dầu hôi đề đốt đèn. Ánh trăng là ngọn sáng dùng làm đèn hắt qua khung cửa vàng vọt. Khi cần thiết cấp phải mua, họ chỉ có thể đong từng lon sữa bò nhỏ mà thôi, ít ai có đủ tiền để mua một hai lít dùng dự trữ khi cần.
Đơn vị được lãnh gạo lương khô do quân nhu cấp phát, đôi khi dư ăn. Anh lính hỏa vụ nấu cơm cho sĩ quan thường đem đi đổi lấy gạo đỏ ngon rất thơm do dân làm ra. Họ bằng lòng đổi một lon gạo dân để lấy hai lon gạo lính.Họ cần số lượng hơn cần gạo ngon.
Một rổ đậu xanh, rổ ớt khô, rổ rau xanh do dân trồng trọt được , đem quẩy gánh ra chợ làng là một gía trị to lớn để đổi lầy những rổ gạo mà họ có thể nuôi sống gia đình. Chợ làng là chợ chồm hổm, dân thường nhóm họp ngay dưới một tàn cây có bóng mát rộng lớn, hàng trao đổi nhanh với nhau xong là lúc mặt trời vừa ngang xế bóng, chưa lên đến đỉnh đầu . Đó là lúc mọi người quẩy gánh, hớn hở ra về, tránh được cái nóng thiêu đốt của buổi ban trưa.Những ai đổi gạo để lấy cá tươi, họ nhanh chóng quẩy gánh lên vai, đi nhanh như chạy, mau mau đem đến nơi tiêu thụ kẻo cá bị ươn.
Tôi đã gặp những cụ gìa ( chắc đến bây giờ gần 50 năm qua, họ cũng đã ra thiên cổ rồi ), khi ra đầu làng, lúc nào cũng chỉnh tề có khăn đóng ở đầu, áo dài đen vắt ngang vai, đôi guốc gỗ cầm tay, không dám xỏ, e sợ mau mòn.Khi đến nơi đình làng, họ mới dám mặc vào.Họ là những nhà nho lỗi thời của buổi mạt nho này. Kiến thức Hán Văn tinh thông của cụ ,chữ nghĩa đạo Khổng Thánh Hiền chứa đầy trong người cụ…… ..nay chỉ là các thứ mà chẳng có ai quan tâm đến nơi cụ đang ở. Họa chăng, nếu có ai mời cụ lên thành đô, nhờ làm cho những áng văn,những bài thơ, những bài bình luận cho một tờ báo , một tạp chí nào đó, có lẽ cũng nuôi sống được cụ và cùng cả gia đình.

Nhưng than ôi!

Cái học nhà Nho nay đả hỏng rồi….
Mười người đi học,chín người thôi…..

Thôn lại có những cô con gái, lao động thật cực nhọc, có sức khỏe hơn con trai, vai gánh đôi thúng hàng nặng mà đi nhanh như chạy, nhiều người theo không kịp.Các cô này có thể làm đủ mọi công việc nặng nhọc đồng áng. Để ý đến cách ăn mặc, họ ra khỏi nhà là mang ngay cái áo dài vải, có hai tà vạt áo bay phất phới trước sau, mầu đã ngả nâu, bạc xếch, gấu áo rách toe tua, bung chỉ quết bay xuống đất là là.Một đôi cô vẫn còn quấn vành khăn xô mầu trắng quanh đầu. Tôi không hiểu các cô đó để tang ai? tang cha? tang mẹ hay tang chồng?....Nghi vấn mà tôi không có câu trả lời.
Các cô thôn nữ đều có lớp da bánh mật ở mặt, chứng tỏ họ ở ngoài trời nhiều hơn trong nhà, nhưng trong cái nét phong sương ấy cũng phản phất cái đẹp hoang sơ, quê mùa, mộc mạc mà nơi các cô đang sinh sống.
Có những bà mẹ gìa đã lớn tuổi, nay cũng phải cố công nuôi thêm đàn cháu để phụ giúp cho cha mẹ chúng.Không biết cha mẹ chúng đi làm ăn xa nơi phương nào mà cụ gìa phải lo lắng, nuôi dưỡng chúng. Ru ngủ hay cho chúng ăn, dỗ dành những lúc chúng khóc hay bệnh hoạn. Đó cả một công việc cực nhọc mà cụ chẳng than oán gì cả. Cái võng tre kêu kẽo kẹt đu đưa , lắc lư ru đứa bé ngủ trong cái nóng mùa hè oi bức, gió im phăng phắc, cụ cất tiếng ca lên câu hò mái đẩy, hò Nam Ai nghe tha thiết, thảm thương làm sao.Tiếng ru vang xa ra bên ngòai, ai đi ngang qua cũng có thể nghe được!.Thằng bé nằm ngũ say sưa, an lành trên ngực bà cụ, cái áo bung khuy nút, để lộ ra cái ngực lép kẹp, gầy gò giơ xương sườn ra.
Nếu không có chiến tranh tàn khóc, huynh đệ tương tàn do bọn VC Hà-Nội chủ trưong đem đến cho dân tộc ta, dân thôn Vĩnh Huề cũng sống một đời cơm no áo ấm thật đầy đủ, tuy rằng không được sung túc so với các nơi khác.
Nhưng than ơi! Thôn dân sống trong cảnh trên búa dưới đe. Nơi nào xa tầm kiểm soát của chính quyền ta, nơi đó bọn VC lén lút trở về đóng thuế,hành hạ, bắt bớ, tra khảo để lấy tin,làm đủ mọi nhục hình để bắt dân ủng hộ một cách miễn cưỡng, chúng bắt buộc mọi người đều phải tham gia vào cái cuộc cách mạng chiến tàn sát đẫm máu này.Dân không thể từ chối được,chỉ còn lại trong thôn những cụ gìa, trẻ thơ còn các thanh niên có học, các thầy cô,y tá,cảnh sát nông thôn, dân vệ, công chức các cấp đang nhiệm của chính quyền đều bỏ trốn lên tỉnh hay quận mà sinh sống.

Sống cuộc đời cơ cực đó, nhiều người khác không có cách nào để rời bỏ nơi quê nhà yêu qúy, họ đành phải bám vào mãnh đất cố hữu mà sinh tồn.
Chuyện kể có một cô thợ may , tay nghề cũng vững, đi mở một tiệm may bên trong một túp lều tranh bé nhỏ.Vốn liếng to lớn nhất là cái bàn đạp máy may hiệu SINGER.Tiệm may này ở ngay con lộ đất dẫn đến nơi đồn trú của DĐ, xa khoảng nửa cây số. Lính tráng trong đơn vị thường hay lân la nói chuyện tán gẫu, thuê vá quần áo rách hay đặt may quần áo mới.Một thời gian sau, không còn thấy bóng dáng cô em thợ may nữa và túp lều may kia cũng hoang vắng, đồ đạc bên trong biến đi đâu mất hết.Ai cũng ngạc nhiên và nhất là các anh lính trong đồn rất thắc mắc. Họ truyền rỉ tai nhau, kể lại câu chuyện thật thương tâm.
Bọn VC tinh quái, biết chỗ may của cô thường hay có lính duyên đoàn qua lại, một địa điểm tốt để chúng bắt cô làm tình báo không công cho chúng,bắt theo dõi, quan sát mọi hoạt động ra vào của quân ta. Bằng không, cô thợ may này sẽ không được yên thân mà sinh sống. Qúa sợ hãi, sau nhiều lần bị dọa nạt có thể nguy hiểm đến tính mệnh, một ngày bất ngờ nào đó, cô lặng lẽ mang đi hết cả tài sản lên Quận, tránh xa cái tai ươn do VC đem lại.
Thầy giáo làng không còn chỗ dậy học, y tá và cô đỡ hương thôn cũng không còn chỗ hoạt động vì trạm xá do chính quyền ta xây cấp với trụ sở khang trang, có đủ mọi dụng cu y tế đều bị VC phá hoại tan tành, dân chúng chẳng còn gì để được chăm sóc nữa.
Phục vu và hoạt động nơi thôn Vĩnh Huề một thời gian sau khi tôi đã thấm nhuần và hiểu rõ cuộc sống cơ cực của dân và yêu thương thôn hơn, tôi được đổi về hạm đội, tiếp tục hải nghiệp chuyên môn của mình.
Một sự tình cờ, ít lâu sau, tôi gặp lại anh lính cũ của Duyên Đoàn.Anh kể trong đau.thương nghẹn ngào phát ra lời nói:
“ Chiếc đò máy chở đầy khẳm dân lên quận…. qua một cua quẹo…. bị thủy lôi nổ….làm bắn nước tung bay và chìm lỉm mọi người trên ghe. Quang gánh, thúng, rổ rá trôi nổi lênh bềnh, máu loang chảy, nhuộm đỏ cả một khoảnh sông !..... Đau thương qúa ! Ông thầy ơi !...........”

Tôi cũng cảm động nghẹn ngào, con tim như ngừng đập mà thương đau cho dân lành của thôn.Chỉ có các con đò dọc là phương tiên duy nhất để chuyên chở đi lại với các nơi, quận và tỉnh chạy dọc theo con sông Thạch Hãn.Con sông này là huyết mạch của tỉnh và cũng là máu chảy lưu thông của toàn dân.
Mùa hè đỏ lửa 1972, Cộng quân phương Bắc ồ ạt xua quân tràn ngập Quảng Trị, cư dân bồng bế, gồng gánh theo nhau chạy lánh nạn chiến chinh, xu nhau chạy về phương Nam. Máu của họ đã đổ tràn lan dọc theo con Quốc lộ số một, chết chóc, xác người trải dầy trên nhiều đoạn đưòng dài
Lòng đau da diết !.........không biết có các dân thôn Vĩnh Huề đổ máu trong đó không?
Tôi vẫn không thể nào quên được hình ảnh những cụ gìa có cặp kính lão dầy cộm của thời buổi mạt Nho lúc đi ra ngoài với bộ áo dài đen truyền thống,những gương mặt phong sương,dầm mưa dãi nắng , lao động hăng say của người dân quê để kiếm sống thật mãnh liệt và cũng rất thật thà hiền lành thân thương , những nụ cười đẹp duyên dáng, quê mùa trong khuôn mặt mầu da bánh mật của các cô gái người dân thôn Vĩnh Huề năm xưa….
Nhớ thôn Vĩnh Huề ơi là nhớ !Thôi chào mi !.......

CHÍ HỢI
Mừng ngày họp khóa SN12/ 2012
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Mén on 10/3/2014(UTC)
Mén  
#1020 Posted : Friday, October 10, 2014 4:02:39 PM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Đường vào thiên thu !
Y Vũ


UserPostedImage


Viết bài này, người kể chuyện không hề có cao vọng nào khác hơn, vì lẽ giản dị là mình không phải là một văn tài. Người viết chỉ làm nhân chứng nhỏ bé trong một giai đoạn lịch sử đau thương khi đất nước chuyển mình.

Xin dành một phút tưởng niệm các bạn tù đã vĩnh viễn nằm xuống và thành thật chia sẻ những đau thương mất mát của gia đình các anh chị.

Bên đồi núi trắng sương sa

Bên đồi núi trắng sương sa
Ngày đi năm tháng phôi pha mong chờ.
Chia ly ngăn cách mịt mờ.
Lòng ta đau xót lững lờ chơi vơi.
Vợ chồng đôi ngã đôi nơi.
Sông sâu cách trở muôn đời hay sao.
Đêm nằm khấn nguyện trời cao.
Biết ai là bạn tâm giao lúc này.
Hàn thuyên hay khó tỏ bày.
Ngậm cay nuốt đắng đọa đày tấm thân.
Thương nàng lệ úa sầu dâng.
Đêm đêm thao thức bâng khuâng đợi chờ.
Ngày đi đâu có ai ngờ.
Tính sai một bước, cuộc đời phôi pha.
Đây Bến Ngọc - sông Hồng Hà.
Thân trai, thương nước nhớ nhà.
Thương đàn trẻ dại, mẹ già cố hương.
Cầu cho đất nước tha hương.
Cho đời thắm đẹp, quê hương màu hồng.
Phương Đoài kết hợp Phương Đông.
Tình ta kết tục, đoàn viên vợ chồng.

Y Vũ
1977 - Việt Bắc

Nỗi Lòng Người Vợ Miền Nam

Thân em như chiếc thuyền nan.
Lướt trên sóng vỡ bạt ngàn trùng dương.
Xa xôi mưa nắng mười sương.
Thuyền trôi ngàn dặm tha phương mịt mờ.
Thương ai tháng đợi năm chờ.
Ngày xanh mòn mỏi bên bờ nhiễu nhương.
Ngày về nối lại tình thương.
Cung đàn lỡ nhịp tơ vương bụi hồng.
Tình ta xa cách mặn nồng.
Cũng luôn ấp ủ tơ đồng yêu đương.

Nhật Mỹ (Hiền thê Y Vũ)
1977 - Sài Gòn


* * *


Cửa Địa Ngục :

Buổi sáng hôm đó, tôi thức dậy sớm, chuẩn bị đi trình diện cải tạo. Lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò. Chuyến đi lành ít, dữ nhiều. Phải chăng đây là những giây phút cuối cùng bên vợ dại con thơ. Tương lai mịt mờ, biết ra sao ngày sau. Vai đeo ba lô, bước chân vào cửa nhà tù thứ nhất để nộp với hành trang chỉ đủ cho 10 ngày. Vào thì dễ mà ra thì thiên gian vạn nan. Như con cá chui vô trong rọ. Đã qua cái hom bắt cá thì đành thúc thủ.

Cả một đội Quân Hùng Tướng Mạnh ngoan ngoãn theo lệnh tập trung cải tạo. Định mệnh đã an bài. Tôi bước chân vào trường Taberd. Ôi nơi đây ngày mới đây còn là nơi ấp ủ tình thương, nào thầy nào trò. Mới ngày nào tôi còn đứng trên bục giảng với phấn trắng bảng đen. Nay tự dưng tôi biến thành kẻ tội đồ, chờ mang đi lưu đày khổ sai chung thân. Cuộc đời là sắc sắc không không. Nhìn qua khung cửa sổ lầu hai, thấy người qua lại tự do, tôi thèm hai chữ tự do mà toan nhảy xuống đường. Nhưng với bản chất nhà giáo, tôi ngại mạo hiểm.

Những cái chết đầu tiên :

Trong hành trình tù cải tạo từ Nam ra Bắc, tôi đã chứng kiến bạn bè kề cận lặng lẽ vĩnh biệt. Người đầu tiên là anh Tường Thế Bỉnh, anh là Kỹ Sư Công Nghiệp, Chánh Sự Vụ sở Kiểm Lâm Cao Nguyên Trung Phần. Anh cùng chung một đội và phòng giam với tôi tại Trại Suối Máu, phi trường Biên Hòa.

Tối hôm đó, khoảng 9 giờ tối tháng 7 năm 1975, mọi người đã vào chỗ nằm ngủ. Phòng không có điện, chỉ có ngọn đèn dầu hôi, tỏa ánh sáng lờ mờ. Trong phòng bỗng có tiếng ồn ào xôn xao. Thì ra anh Bỉnh đã dùng dao cạo râu tự cắt mạch máu ở cổ tay. Máu chảy lênh láng ra sàn nhà, miệng thở phì phò. Thế là đã trễ, anh đã vĩnh viễn ra đi. Cạnh anh có Bác Sĩ Hoàng - Bác Sĩ Bệnh Viện Từ Dũ hết lòng cấp cứu, nhưng cũng đành bó tay. Anh Bỉnh thường ngày hay trầm ngâm. Mới cách đó 1, 2 tiếng đồng hồ, anh còn kiểm soát nước của đội. Mỗi tù nhân chỉ được quyền dùng 1 lon nước để làm vệ sinh răng miệng. Vì nước rất hiếm, anh em phải thay phiên nhau chở từ xa về.

Tâm sự của đa số anh em lúc đó là tuyệt vọng. Hằng ngày chứng kiến xe vận tải chuyển gạo cho trại tù nên ai cũng lắc đầu. Nhẩm tính biết là không phải tù chỉ trong 10 ngày mà là chung thân. Nếu anh biết, chỉ 3 tháng sau, những tù có chuyên môn như anh sẽ được trở về cơ quan cũ, có lẽ anh không tự sát vì tuyệt vọng. Vì bề gì thì tù ngoài cũng còn dễ thở hơn tù trong, còn được gần vợ con.

Cái chết của một Nhạc Sĩ :

Anh là nhạc sĩ Minh Kỳ, tên thật là Vĩnh Mỹ, gốc người Huế và tính tình hiền lành, vui vẻ. Anh là tác giả của nhiều bài ca nổi tiếng, trong đó có bài Nha Trang và Đàn Chim Việt mà tôi rất thích. Những lời ca giản dị, dễ thương “Nơi ấy có người trai vượt sóng cười... ?” hay “Hót đi chim... hót đi chim... ” vẫn còn đâu đây, vang vọng trong tôi. Hôm ấy là một chiều mùa Hạ oi bức, cũng tại Trại Suối Máu, Biên Hòa, một phân trại cách chỗ tôi ở khoảng 200 mét. Một tiếng nổ long trời lở đất, khiến tôi tưởng là có biến cố lớn. Người tù nào mà chả mong có một cái gì thay đổi, một sự giải thoát nào đó. Nửa tiếng sau đã có tin anh Minh Kỳ tử nạn cùng một số anh em khác vừa chết vừa bị thương. Con số nạn nhân khoảng mấy chục người. Sau một ngày lao động, anh em tù tụ tập lại chuyện trò. Một trái nổ phóng vào từ phía ngoài hàng rào kẽm gai. Có người nói, vì mua bán trao đổi không sòng phẳng gì đó giữa lính canh và tù cải tạo nên bộ đội ném trái nổ vô. Lại có tin là vệ binh bắn M79 hay lựu đạn giết hại tù cải tạo để trả thù cho người thân đã bị chết trong chiến tranh Việt Nam. Trung Ương có cho một phái đoàn xuống điều tra, nhưng kết quả ra sao thì không rõ.

Bị chôn sống :

Ngoài một số anh em lao động khai quang đó đây trên các đồng cỏ trong phi trường Biên Hòa bị trúng trái nổ, còn những tai nạn khác do đất bị sụp lở. Trại phát động kế hoạch đào ao thả cá và đào giếng lấy nước. Anh em tù bảo nhau, bọn cai tù có kế hoạch “Tù tự đào hố chôn tù”. Khi có biến, chúng chỉ cần lùa tù xuống những cái hố đã đào sẵn, thả trái nổ hay xả súng bắn. Sau đó lấp đất là hoàn tất các mồ chôn tập thể một cách gọn nhẹ. Không biết ý kiến đó đúng hay không, nhưng chả cần chờ đợi gì lâu, trong khi đào đất, một số anh em đã bị đất lở, chôn sống. Khi anh em moi lên được thì chỉ còn là những cái xác tím bầm, mềm nhũn, không hồn. Cán bộ cho bắt loa phóng thanh hát những bài ca cách mạng, khích động cái hào quang giả “Anh Hùng Lao Động”. Đói không có gì ăn, khát không nước uống, một số anh hùng vẫn tranh nhau mà chết. Cứ hai hay bốn người tù khiêng một cái cáng làm bằng nứa hoặc tre đan lại để chuyển đất đá do các anh em khác đào xới. Cán bộ thì nói : “Có sức người, sỏi đá cũng thành cơm”. Nhưng cơm đâu thì chả thấy, vì có chút cơm nào thì cán bộ đã ăn hết rồi còn đâu đến lượt tù.

Sinh Nam Tử Bắc :

Khoảng cuối tháng 8 tù cải tạo phần lớn được chuyển ra ngoài miền Thượng Du Bắc Việt để lưu đày. Chỉ trong vòng 2 tháng đầu giam giữ, hàng trăm tù cải tạo đã bỏ xác tại ngay quê hương miền Nam. Từ nay, trong cuộc lưu đày biệt xứ, hàng nghìn tù bình lần lượt bỏ mình nơi xứ khách với đủ cảnh ngộ.

Đêm hôm đó, từng đoàn tù tay xách nách mang hành lý đi giữa 2 hàng vệ binh cầm súng, cầm đuốc dẫn tù trực chỉ hướng Bến Tàu Tân Cảng.

Đó là những chiếc tàu nhỏ chật chội, hôi thối, dơ bẩn. Từng hàng tù binh mò mẫm leo trên những chiếc cầu gỗ mong manh nhỏ hẹp để đi vào lòng tàu sâu thẳm, chỉ chừa một lỗ nhỏ độ một mét vuông lộ thiên. Dưới hầm tàu, anh em chung sống ngột ngạt với phân và nước tiểu do chính anh em tiểu và đại tiện ra một cái thùng. Mỗi ngày một lần, khi thùng đầy quá, tràn ra ngoài sàn, anh em phải hô lên để xin cai tù kéo thùng lên nóc tàu đổ đi. Phân và nước tiểu, nhất là của những anh em bị tiêu chảy, hôi thối vô cùng.

Nhờ ánh sáng trên trời dội qua lỗ hổng trên nóc tàu, anh em đoán chừng tàu đã đi vào hướng nào và khoảng thời gian nào trong ngày hay đêm. Chúng tôi biết mình đang được chở ra ngoài Bắc, dọc theo bờ biển miền Trung. Trước khi bước lên tàu, chúng tôi phải cúi rạp mình xuống, bò nép trên chiếc cầu ván ọp ẹp. Thỉnh thoảng có bạn tù chẳng may té xuống sông, bị nước xoáy cuốn đi tức khắc. Chẳng biết giây phút đó, cha mẹ, vợ con, anh em của họ có linh cảm gì khi thân nhân đang cố vùng vẫy trên sông nước. Phần chúng tôi, không biết giờ này thân nhân có hay rằng chúng tôi đang nằm trong bụng những khoang tàu đem đi lưu đày miền viễn xứ, nơi xứ lạ quê người ?

Chết vì thiếu dưỡng khí :

Tàu đưa chúng tôi tới Đồng Hới thì cập bến. Chúng tôi lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình biệt xứ ra miền Bắc bằng xe lửa.

Có hàng trăm dân chúng đứng bên đường, sẵn sàng dàn chào tù binh bằng những lời chửi rủa và gạch đá nắm sẵn trên tay. Họ muốn ăn tươi nuốt sống, biểu dương lực lượng như đàn sói muốn vồ mồi. Cán bộ nói : “Các anh hiện đang ở trên đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Lần lượt chúng tôi được nhét vào những khoang tàu lửa bụi bặm, chật chội, hôi thối dùng để chở than và súc vật. Chúng tôi ngồi lê lết dưới sàn tàu, chật như nêm cối. Goong tàu đóng kín không một kẽ hở khiến mọi người ngộp thở, miệng ngáp như những con cá ở trên bờ. Tôi cố gắng ghé mũi vô kẽ hở của cánh cửa goong tàu, tìm một chút khí để thở. Trời mùa hè miền Bắc nắng như nung. Mồ hôi toát ra đẫm áo mà không có một chút nước thấm cổ họng. Đây đó vài bạn tù ngất xỉu và tắt thở. Tiếng bàn tay đập lên thành toa xe kêu cứu. Nhưng tiếng xình xịch của con tàu át cả tiếng la hò. Giữa đường, xe ngừng để cán bộ kiểm điểm nhân số. Chúng tôi được dịp chạy ùa xuống cánh đồng, ruộng lúa. Thật là sung sướng được thưởng thức những giọt khí trời quý hóa, ngọt ngào, và những hớp nước giải khát. Bấy giờ là lúc trời nhá nhem tối, không biết rằng đó là những đầm nước, những vũng nước trên đầm, đầy những vi trúng sốt rét, kiết lỵ. Thậm chí nhung nhúc cả những con đỉa đói đang tung tăng bơi lội. Bệnh và chết chóc sẽ tính sau, chỉ biết bây giờ đang khát và khát... Những xác tù chết thì được vùi dập đâu đó. Chả biết sau này gia đình thân nhân có tìm ra được không để mà hốt cốt ? Tàu ngược miền Bắc Thượng Du Bắc Việt. Chúng tôi tới Yên Bái vào lúc hoàng hôn. Ôi ! Hoàng hôn của cuộc đời...

Sơn lâm chướng khí & Ma thiêng nước độc :

Tù cải tạo được thả vào trong những khu rừng vắng. Mỗi người được giao cho một con dao. Một nhóm vào trong rừng, vượt suối để chặt gỗ, tre, nứa chở về trại để làm nhà, hoặc đi lấy củi. Tù lao động suốt ngày đêm, làm thêm ngày Chủ Nhật. Kiếp trâu ngựa kể từ đây. Hoàn toàn thiếu đồ ăn thức uống và thuốc men. Tất cả chỉ được hứa hão. Thiên đường Cộng Sản là đây.

Cán bộ còn viết trong cầu tiêu : “Ngụy tù trong, ta tù ngoài” và dân chúng quanh vùng hầu hết là dân sắc tộc, hoặc những dân đi kinh tế mới hồi 1954. Họ sống nghèo nàn, khổ sở. Thân mình gầy gò ốm yếu, áo quần rách rưới, chân đi trần. Như thế thì lấy đâu mà được lo cho đủ ăn đủ mặc được. Anh em tù đói quá thì mang hết chút ít quần áo lén đem đổi chác với dân chúng trong vùng lấy chút thực phẩm ăn cho đỡ lòng.

Đi lao động, gặp gì thì nhét hết vô bao tử cho nó đỡ hành hạ. Có một lần, đi ngang qua quãng đường thấy một cây khế chua đã chặt, tôi ngừng lại điểm tâm một trái. Khế chua gặp bụng đói, bao tử cồn cào. Chịu không nổi, làm thêm một trái nữa cho đỡ cồn ruột, trái lại, bụng lại càng xót xa hơn. Và cứ thế, cái vòng lẩn quẩn tái diễn... Cóc, nhái, rắn, rết, bọ cạp, cào cào... Con gì nhúc nhích là ta chén liền. Xuống ao rửa tay, bắt được chú cá con bỏ ngay vào bụng nhai sống. Tôi thèm có một chút đạm. Ai ngờ sau mấy phút, bụng chuyển dạ, tào tháo đuổi ào ào. Bệnh kiết lỵ tiêu chảy làm cho con người mệt lả. Gió thổi cũng ngã. Nhu cầu bao tử làm cho trí óc mê muội. Ao tù, cả ngàn con người ngày nào cũng tắm giặt, thậm chí đem cả những thùng phân nước tiểu, sau khi tưới cây rau, đem xuống rửa. Trách gì mà bỏ cá vào miệng nhai ngấu nghiến mà không bị bệnh đường ruột cho được. Không thiếu gì anh em tù bị ngộ độc chết khi đi rừng và kiếm được những củ, trái cây. Nhẹ nhất thì cũng ngất ngư con tàu đi như ăn những củ sùi, sắn còn sót lại trên đồi. Cán bộ không cho nấu nướng, tù chỉ lột vỏ, đưa xuống suối rửa hay lấy vạt áo chùi đất cát xong ăn liền. Trại phát mỗi bữa một chén bo bo, vỏ dai cứng như chất Nylon, ăn vào bao nhiêu ra hết bấy nhiêu. Như thế sao không kiệt sức cho được.

Càng là những thân thể to lớn như lực sĩ, võ tướng càng dễ chết. Hai anh bạn tù nằm cạnh tôi đều đột ngột ra đi.

Trước hết là anh Nguyễn Văn Hai, tục gọi là Hai Cua-rơ vì anh là cựu tay đua xe đạp Quốc gia. Tướng tá anh Hai to lớn. Sáng sớm hôm đó, tù được tập trung lên Hội Trường để được học tập và nghe đọc tên chuyển trại lên Văn Bàn Hoàng Liên Sơn, một địa danh của địa đầu giới tuyến biên giới Lào-Trung Cộng-Việt. Lúc tới Hội Trường, anh còn khỏe mạnh. Nửa giờ sau khi về láng trại anh đã mê man bất tỉnh. Khi được cáng đi bệnh xá, nửa đường anh Hai đã tắt thở. Lý do vì đói và lạnh quá, anh không chịu nổi. Chỗ anh nằm bên tay trái tôi. Người ta đem xác anh vùi dập ở chân núi đầy cỏ rậm. Mưa rừng, chẳng bao lâu sẽ làm cỏ mọc, cây cối um tùm. Và anh vĩnh viễn bỏ xác nơi rừng thiêng miền Bắc.

Người khác là anh Lê Trí Hồ. Lúc trước anh là Đại úy Cảnh Sát Tư Pháp Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Saigon. Anh nằm bên tay mặt tôi ở trại Văn Bàn. Anh bị kiết lỵ cả tuần. Sáng anh còn cố đưa quần áo ra suối giặt giũ. Xế trưa, khi chúng tôi đan liếp tre nứa cạnh nhà thì anh đã âm thầm yên lặng ra đi. Đầu giường của anh còn để nguyên chén cháo. Anh đã kiệt sức quá rồi. Một tuần sau, có 2 gói quà của gia đình anh gởi tới trại với đủ loại thuốc tây. Nhà anh có 2 tiệm thuốc tây ở Saigon. Tối đó, đội tôi phải đốt đuốc đưa anh vào rừng sâu, đào hố chôn anh. Khi trở về tới trại thì đêm đã khuya. Không biết sau này, khi Trung Cộng đánh tràn qua biên giới, không biết có ai còn nhớ được chỗ chôn anh nữa không ? Chứng kiến những cái chết cô lạnh của các bạn tù, tôi chẳng trông mong gì có ngày được thả ? Đêm ngày tôi chỉ thầm mong và cầu nguyện sao cho được để xác lại miền Nam, thì cũng là may mắn, hạnh phúc lắm rồi.

Lao Động là chết :

Con số tù trong các trại cải tạo chết càng ngày càng nhiều. Ban đêm những tiếng cú rúc tiễn đưa những linh hồn vĩnh biệt trần gian.

Có những anh em khi leo trên vách núi, trượt chân té xuống vực sâu và suối nước. Nước cuốn xác đi bị mất xác luôn. Trời mưa dầm dề, đường đất lầy lội như mỡ trơn. Cây chặt rồi, anh em phải chuyển về trại. Có cây to và nặng quá, cả chục anh em phải ghé vai vào hè nhau vác về trại. Chẳng may, một người té ngã thì cả toán đều té và bị cây đè, cổ bị gẫy, bể đầu và gẫy tay, chân, xương sống. Có khi phải chuyển cây từ núi xuống suối và chuyển qua suối lên bờ, đưa về trại. Anh em phải cột dây rừng vào đòn gánh, khiêng đi như khiêng những cái cột đình. Một hôm, anh em đẵn cây xong, đến giờ trưa nghỉ tay ăn cơm trưa, một bạn tù ngồi dưới chân núi dở bọc cơm ra ăn trưa, các bạn khác kéo một thân cây lớn, đẩy xuống triền núi theo vết mòn của bờ dốc. Thân cây đổ dốc xuống chân núi kêu rền rĩ, ầm ầm như tiếng xe tăng hoặc tiếng súng thần công, vang vọng cả một vùng. Anh bạn ngồi ăn trưa dưới chân núi, bị cây đâm thẳng vào người không kịp né tránh, thân thể bầm nát, chết không kịp la lên một tiếng.

Cái chết rình rập mọi nơi, có khi tấn công cả một đội nông nghiệp khoảng 100 người. Tất cả lội xuống nước ngập cỏ dại để khai quang. Nào đỉa, nào muỗi, nào bọ vàng, bọ chét tấn công. Hầu hết anh em bị sốt rét, sốt vàng da. Ở tù cải tạo thì lấy đâu mà chữa lành. Cuối cùng thì mặt bủng, da vàng, bụng chướng lên mà chết. Ở Văn Bàn có câu : “Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyển”. Ruồi vàng tấn công nhanh như cắt. Khi bị chúng chích vào da thì sưng lên và nước vàng cứ tiếp tục chảy ra không cầm lại được. Có bạn tù vào rừng bị ong đốt sưng hết cả mặt, ngất xỉu. Đi dọc đường, qua những tàng cây, những con vắt tinh khôn phục kích sẵn trên cành, thấy có người qua liền phóng xuống hút máu. Nếu bắt nó mà vứt đi xa, nó sẽ đánh hơi nóng thân nhiệt và di chuyển về phía người trở lại. Có lần, tối về trại ngủ, con vắt hút đầy máu mới nhả ra và lăn ra lớp trải giường. Thường thì chúng tôi dùng vài bao cát bằng nylon cắt ra và may lại thành những quần lót hoặc tấm trải giường. Vải bao cát có cái lợi là dễ giặt và dai, khó rách. Tuy nhiên, nếu dùng làm ba lô thì mấy chú chuột với bộ răng nhọn hoắt cũng không tha. Chiều đi lao động về, tù đem ra khâu lại. Tối đến chuột lại chui rúc vào cắn nát. Khổ nhất là chúng chui rúc dưới thùng cầu tiêu, mình trây trét đầy phân và nước tiểu. Khi chúng bò vào túi quần áo lại trây trét hết vào quần áo, vật dụng cá nhân và chăn màn. Ngoài ra thì rệp, gián, kiến, chúng hợp đồng phá hoại khủng bố tù không ngớt. Thân tù chỉ còn có da bọc xương nhưng chúng cũng chiếu cố tối đa. Có lẽ da thịt tù hấp dẫn lắm sao? Rệp, chí tăng dân số rất mau, dở gối mền lên thì lúc nhúc như đậu đen. Mọi thứ được tập trung để hành hạ bọn tù. Tù với tù cũng hành hạ nhau. Ngày bị áp đảo lao động. Tối đến còn phải học tập và tố khổ với nhau tới khuya. Thật là Trời không dung Đất không tha. Mọi người, mọi nơi, mọi lúc. Con người muốn điên lên được.

Thỉnh thoảng có người nhà đi thăm tù. Đi cả ngàn cây số khổ cực, vượt đồi vượt núi, sông suối, nhưng Ngưu Lang - Chức Nữ chỉ được gặp nhau có 5 phút. Mới hỏi được câu “Ở nhà có khỏe không ?” thì đã bị cán bộ ra lệnh vào trại. Vợ chồng ngậm ngùi lưu luyến chia tay. Có cặp thì bà vợ còn đem theo chồng mới lên thăm chồng cũ, yêu cầu ký giấy ly hôn. Một anh bạn mới đưa đồ thăm nuôi vào trại, chưa kịp coi xem có những gì thì đã ngã lăn ra chết vì kiệt sức. Khi được người nhắn tin, vợ anh quay trở lại thì chồng đã nằm sâu trong mộ phần. Tội nghiệp chị khóc vật vã, cắt mớ tóc để lại trên mộ như muốn gửi cả cuộc đời, thân xác được theo chồng vào lòng đất. Chị chỉ còn biết để lại một mộ bia :
Hiền thê lập mộ”.

Cũng có những trường hợp, trên đường ra Bắc thăm chồng, cha, lúc đi hoặc trên đường về, hoặc vợ hoặc con ngả bệnh và để xác ở dọc đường. Thật là trăm nỗi truân chuyên.

Chết nơi rừng lá :

Càng ngày, áp lực Trung Cộng đánh sâu qua biên giới càng mạnh. Tù cải tạo được lệnh rút dần về Trung Châu - Bắc Việt và sau cùng là rút về miền Nam. Trước đó vào ngày, tôi nằm mơ thấy các bạn tù đội mồ đứng dậy đuổi tôi về đến tận thành phố mới thôi. Chúng tôi được báo cho biết : “Các anh sẽ về trại Thủ Đức Z - 30D Xuân Lộc”. Người chót nằm xuống tại Trại 11B Yên Bái - Hoàng Liên Sơn có lẽ là linh mục dòng Đa Minh, Linh Mục Bản. Cha bị bệnh tiêu chảy kiết lỵ. Vĩnh biệt Cha, người thầy cũ lớp Trung Học Đệ Nhị ở Vũng Tàu.

Trên đường trở lại miền Nam, đồng bào nô nức đón mừng tiếp tế đồ ăn thức uống và hô to : “Hãy trả lại chồng cha chúng tôi !”. Bộ đội phải nổ súng giải tán dân chúng tụ tập ngày một đông. Anh em tù ghi vội mấy hàng chữ vào những mảnh giấy, quẳng ra ngoài khoang xe lửa, báo tin cho gia đình...

Chúng tôi lại tiếp tục cuộc đời tù cải tạo tại Rừng Lá, Thuận Hải. Trại có kế hoạch xây đập, ngăn nước suối. Chúng tôi phải tải đá xanh, đất, xi măng y hệt như cảnh nô lệ thời cổ La Mã. Đập đá xây xong rồi, nước dâng lên. Sau những trận mưa rừng, nước cuồn cuộn xô đẩy xuống chân đập.

Ở Z 30 D, nam tù binh được nhốt cạnh trại nữ tù bình. Đó là những Soeur Công Giáo, Ni Cô Phật Giáo, người vượt biên bị bắt trở lại, học sinh, sinh viên trong các tổ chức chống đối. Nam tù cải tạo đã khổ, nhưng đời sống nữ tù có lẽ còn phức tạp, khổ cực hơn. Nên có những trường hợp, các bà, các cô như bị mất trí, cởi tung hết quần áo, chạy tới chạy lui. Vì trại giam cạnh nhau nên đôi khi cũng có những mối tình thầm lén trao đổi giữa hai trại. Sau khi ra khỏi trại, họ thành vợ thành chồng.

Trại cũng gồm cả thành phần tư bản địa chủ. Một buổi đi lao động về, anh em xuống đập nước tắm. Một ông người Hoa thuộc loại “xì thẩu” Chợ Lớn, không biết tính toán độ nước chảy. Ông bơi giỏi, thả trôi từ bên này sang bên kia sang bên đập nước, cách cửa đập khá xa. Nhưng ông đã tính toán lầm, nước chảy xiết quá, sức ông không đủ để chống lại sức nước nên bị cuốn theo những ngọn thác đổ từ bờ xuống bên kia chân đập. Trại cho người mò mẫm mãi mới tìm được xác ông trôi dạt, kẹt vào gốc cây bên bờ suối. Chiều hôm đó, gia đình ông ở Chợ Lớn lên trại lãnh xác ông về Saigon.

Cái chết cuối cùng :

Anh thuộc cơ quan Cảnh Sát Đặc Biệt (thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Saigon). Trẻ trung, đẹp trai, hiền lành nhưng số phận hẩm hiu. Cha mẹ mất sớm, anh phải đi làm rất sớm để nuôi bầy em dại đi học. Anh đâu biết là đi cải tạo là vĩnh biệt đàn em nhỏ.

Anh được giao cho làm “công tác diện rộng”, nghĩa là tương đối tự do đi làm đây đó gần trại mà không cần sự giám sát chặt chẽ của vệ binh. Anh không có vợ vì rất thương và lo cho các em. Anh hy sinh cả cuộc đời cho đám em nhỏ. Dáng dấp anh luôn luôn trầm ngâm tư lự.

Một hôm anh vô rừng lấy củi, đem theo một cái thùng múc nước và cuộn dây thừng. Xế chiều rồi mà không thấy anh về Trại, các vệ binh, bộ đội được huy động đi tìm kiếm. Mọi người đều nghĩ rằng anh đã trốn trại. Không biết giờ này anh ở đâu... Mọi sự tìm kiếm đều vô hiệu. Tôi thầm cầu nguyện và hy vọng mong cho anh được an toàn và thoát hiểm. Ngày hôm sau, có người phát giác ra anh treo cổ trên cây ở bìa rừng. Nội tạng, ruột gan bị loài chim rút rỉa hết.

Tội nghiệp, chắc là anh tuyệt vọng vì nghĩ rằng : “Thuộc ngành Cảnh Sát Đặc Biệt như anh thì tù mãn đời, cuộc đời kể như hết rồi. Cho đến khi ấy thì rất hiếm có người nào được thả”. Nếu anh chậm quyết định kết liễu đời mình vài tháng nữa thì có lẽ không đến nỗi vì ít tháng sau có tin đồn : “Chính phủ Mỹ sẽ tiếp nhận tù cải tạo từ trong trại và liên tiếp một số đông tù cải tạo được cho về với gia đình”. Do đó, có một số anh em, khi được đọc tên cho về lại cảm thấy không mấy hài lòng vì sợ sẽ không được Mỹ chiếu cố.

Phần tôi, là người theo tín ngưỡng Công Giáo, tôi vẫn nghĩ rằng : “Linh hồn anh (Anh tên gì, tôi không còn nhớ được, mong rằng sẽ có các bạn khác bổ túc), một người anh tuyệt đối hy sinh vì hạnh phúc của đàn em nhỏ, sẽ được Thiên Chúa nhân lành cho về chốn nghỉ ngơi”. Tôi cũng luôn nhớ đến và cầu nguyện cho linh hồn anh mỗi kỳ lễ Tháng Các Linh Hồn.

Trước khi chấm dứt, tôi xin dành một phút nhớ tới và cầu nguyện cho hương hồn các bạn tù từ Bắc tới Nam được mỉm cười nơi chín suối. Như một nén hương dâng lên các anh, các chị, các cháu ít nhiều liên quan đến Người Tù Cải Tạo. Cầu cho các anh, chị, các cháu được tiêu diêu nơi miền cực lạc. Và cũng xin phù trợ cho gia đình chúng tôi, đất nước chúng ta còn trải qua bao đau khổ Trần Thế. Xin cảm ơn những đóng góp phù hợp của các anh chị và các cháu.

Y Vũ

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 10/12/2014(UTC)
Users browsing this topic
Guest (4)
53 Pages«<4950515253>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.