Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages123>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Mắt Buồn  
#1 Posted : Tuesday, August 10, 2021 5:58:43 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Đã gặp tác giả Đôi dép


ĐÔI DÉP

Bài thơ đầu tiên anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi cùng nhau

Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng kẻ khác
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia

Nếu một ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế đều trở thành khập khiễng
Giống nhau lắm nhưng đời sẽ biết
Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tri khắng khít song hành
Chẳng thề nguyện mà không hề giả dối

Nguyen Trung Kien

***

Đã gặp tác giả Đôi dép

30/09/2007 08:07 GMT+7

AT - Sau khi bài thơ Đôi dép được giới thiệu trên Áo Trắng số 7, rồi bài Những thông tin đầu tiên thú vị về bài Đôi dép trên Áo Trắng số 8, cuối cùng vào đầu tháng 9-2007 chúng tôi đã gặp được tác giả Nguyễn Trung Kiên tại Áo Trắng.

34 tuổi, có dáng người rắn chắc của một... công nhân cơ khí (*), Nguyễn Trung Kiên bắt đầu câu chuyện khá rụt rè, cho biết vài năm nay vì công việc mưu sinh mà anh hầu như đã ngưng việc sáng tác.

Đúng như thông tin của bạn đọc Hoàng Hải (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tây Ninh), Kiên từng là sinh viên khóa 1997-2001 khoa ngữ văn thuộc ĐH Sư phạm TP.HCM, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên chỉ theo học được một năm rồi phải bỏ ngang để đi làm thợ. Với tờ Thế Giới Mới số 266 (15-12-1997) có bài Đôi dép in trang 91 trên tay và một số bản thảo thơ khác có giọng điệu rất giống Đôi dép, Kiên hoàn toàn thuyết phục được Áo Trắng rằng mình chính là tác giả của bài thơ đang được nhiều người truy cập nhất

Trung Kiên cho biết anh viết Đôi dép vào tháng 12-1997 và bài này sau đó đã được giải 2 chương trình "Tiếng thơ sinh viên" 1998 của Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM (giải 1 là bài Không đề của Trần Đình Thọ). Cảm hứng viết Đôi dép bắt nguồn từ cuộc tranh luận "rách việc" với một người bạn, rằng khi người ta mang dép thì chiếc bên nào sẽ mòn trước... Đôi dép được viết khi Kiên chưa có người yêu và đang mơ tưởng về một tình yêu chung thủy.

Sau đó khi lập gia đình - với một cô giáo Trường cao đẳng Sư phạm mầm non - anh đã tặng bài thơ này như một món quà cưới! Lẽ dĩ nhiên vợ Kiên rất thích thơ của chồng, và là người rất tích cực phổ biến thơ anh trong bạn bè. Không hiểu sao mà từ ấy đến nay, bài Đôi dép bỗng hóa thành thơ của Thuận Hóa (?!) với những câu chữ được sửa đổi về một nhân vật cụ thể rất thô vụng.

Mọi việc như vậy đã rõ. Với lời tâm sự sau cùng của Kiên: "Áo Trắng làm tôi rất xúc động và đã hâm nóng thi hứng của tôi. Tôi hi vọng sẽ làm thơ trở lại...", Áo Trắng xin chúc anh sẽ có tác phẩm mới trong những ngày tới.

(*) Kiên đang làm việc tại cơ sở cơ khí của gia đình (218/23 Phú Thọ Hòa, Q.Tân Phú, TP.HCM).

Sau đây là ba bài thơ Nguyễn Trung Kiên gửi tặng bạn đọc Áo Trắng:

Hồi ức

(Kính tặng cha mẹ)

Không thể nào con quên được ngày xưa
Cha ngồi quạt để mẹ ru con ngủ
Cánh võng chao đổ mùa hè ra cửa
Tiếng đàn ve đệm nhạc khúc ầu... ơ...

Con giữ gìn vị ngọt tuổi ấu thơ
Như viên kẹo ngậm cả đời không hết
Có ai dạy đâu mà con biết
Sẽ chẳng còn gì khi cha mẹ xa nhau

Rồi một ngày, con không hiểu vì đâu
Nước mắt chảy lặng thầm về hai phía
Long Quân, Âu Cơ lên rừng, xuống bể
Để đàn con ngơ ngác giữa mẹ cha!

Con muốn ngã vào hai cánh tay cha
Con muốn uống cả đôi dòng sữa mẹ
Tình cảm ấy chẳng thể nào chia sẻ
Như cánh võng đưa không chỉ một đầu dây.

Con lớn lên, thiếu thốn một vòng tay
Như dòng sông cả hai bờ đều lở
Mặt nước rộng, đời mênh mông nỗi sợ
Một cánh bèo níu kéo tuổi thơ xa.

Con lớn lên ai cũng bảo giống cha
Người yêu con thì lại hiền như mẹ
Con chỉ sợ có một ngày như thế
Phải lau giùm nước mắt trẻ chia hai...

Con đã đi qua những tháng năm dài
Chân không thể bước ra ngoài nỗi nhớ
Tuổi ấu thơ vẫn từng ngày nhắc nhở
Có một thời...Cha mẹ đã...Yêu nhau...

(28-4-1996)

Tự kiểm

(Tặng các bạn khoa ngữ văn khóa 23 - Trường ĐHSP TP.HCM)

Những tiếng "chào thầy" tươi tắn dọc hành lang
Ôi những đứa học trò trong lớp em thực tập
Lần đầu tiên, tiếng "thầy" sao mà ấm
Hạnh phúc biết bao, nhưng chợt bàng hoàng.

Ở trường mình cũng có những hành lang
Mỗi sớm chiều thầy bước qua rất vội
Lũ chúng em, những sinh viên năm cuối
Có đứa nào thốt được tiếng chào đâu?
Lũ chúng em gặp thầy đều bước mau
Mặt cúi xuống như một lời thú tội
Tiếng "chào thầy" giảm dần theo số tuổi
Chợt thấy mình có lỗi với tuổi thơ.

Đâu tiếng chào tròn miệng những ngày xưa
Hai tay khoanh và mái đầu cúi nhẹ?
Càng lớn lên, tiếng "chào thầy" càng khẽ
Giờ lặng im khi sắp được làm thầy.

Mai làm sao dạy bảo học trò đây
Khi lễ phép chính mình đánh mất?
Nếu được chào bằng những lời rất thật
Nghĩ về thầy sao khỏi ăn năn?

Ôi! Chúng em là sinh viên khoa văn
Không hiểu được những điều đơn giản ấy
Lớp học chưa tan đã ồn ào đứng dậy
Mai làm thầy, hối hận biết bao nhiêu!

(6-11-1998)

Con nhân sư

Giữa sa mạc hoang sơ
Con nhân sư
Ôm nỗi khát khao bỏ xác thân dã thú
Một ngày kia
Đứng dậy, làm người.

Thời gian nặng nề trôi
Con nhân sư gục chết
Mang nỗi hận vào luân hồi chuyển kiếp.
Ngàn năm thân dã thú chẳng thành người.

... Thế mà con người
Chỉ cần một giây thôi
Đủ để thành... dã thú!

(9-1997)

Edited by user Wednesday, August 18, 2021 5:49:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#2 Posted : Tuesday, August 10, 2021 6:02:38 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Bé Ký và Hồ Thành Đức, mối tình hai người cầm cọ


May 26, 2021
Trần Yên Hòa

ANAHEIM, California (NV)
– Tất cả đề tài Bé Ký vẽ, đều gần gũi với quê hương Việt Nam. Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên với Hồ Thành Đức, họ nên duyên vợ chồng.

UserPostedImage

Tranh của họa sĩ Bé Ký và Hồ Thành Đức. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tại Sài Gòn, một buổi chiều năm 1965, họa sĩ Hồ Thành Đức mở cuộc triển lãm đầu tiên. Buổi chiều, bên ngoài phòng tranh, nắng bắt đầu dịu dần, phòng triển lãm vắng khách. Hồ Thành Đức lơ đãng đi dạo quanh phòng, thì cánh cửa chợt mở, một người con gái bước vào. Nàng ăn mặc rất giản dị, nếu không nói là quê mùa, tóc kẹp buông thả dài sau lưng. Nàng đến xem từng bức tranh treo trên tường.

Nên duyên

Mới nhìn người con gái, Đức thấy lạ, nhưng khi nàng dừng lại ngắm từng bức tranh, anh mới chợt nhớ ra, khuôn mặt nàng là một hình ảnh quen thuộc anh thường thấy trên các báo, kể cả những tờ báo ngoại quốc. Ô! Anh nhớ ra rồi. Đó là họa sĩ “đường phố” Bé Ký. Bé Ký đã nổi tiếng qua các bài giới thiệu qua nét vẽ đặt biệt của cô.

Đức khấp khởi vui trong lòng, nhưng anh cũng cố làm mặt tỉnh.

Đức đến gần cô gái, như người chủ phòng tranh đến giới thiệu tranh mình đến với khách thưởng ngoạn. Anh vừa định lên tiếng thì cô gái đã nói trước:

-Anh là họa sĩ Hồ Thành Đức? Phòng tranh có vẻ vắng quá há?

Đức nói như muốn thanh minh, về sự thành công của cuộc triển lãm này:

-Thưa cô! Không đâu cô, buổi sáng và trưa nay khách đến xem tranh rất đông. Tôi đã bán được một số tranh khá nhiều. Bây giờ là buổi chiều nên hơi vắng.

Anh cố làm ra vẻ bằng lòng với câu trả lời của mình. Nói xong anh nở một nụ cười thật tươi, nhưng cô gái vẫn im lặng không đáp lễ. Cái im lặng của cô gái ghi nhận một sự đứng đắn, nhưng không lạnh lùng. Cô nhìn quanh phòng tranh và tiếp tục chăm chú xem từng bức tranh.

UserPostedImage

Nữ họa sĩ Bé Ký bên tác phẩm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Anh tỏ vẻ thân mật, muốn mời cô gái ký vào tập ghi chữ ký lưu niệm của khách, thì bỗng nhiên cô gái hỏi:

-Anh có biết tôi là ai không?

Dù biết đây là Bé Ký, nhưng Hồ Thành Đức vẫn cố giấu. Anh trả lời:

-Thưa cô! Thật lấy làm tiếc, xin lỗi cô là ai?

Cô gái sửa lại mái tóc, nhìn anh cười:

-Tôi là Bé Ký.

Đức xuýt xoa, nói như một sự xin lỗi vì sự không quen biết này:

-A, thế ra cô là Bé Ký, họa sĩ đường phố. Thế là chúng ta cùng một nghề, nghề cầm cọ.

Trả lời xong, Đức thấy lòng mình yên ả, nhẹ nhàng. Một tình cảm ùa vào tâm hồn anh, như một luồng gió mát len vào căn phòng trưng bày, chỉ có hai người.

Anh hỏi tiếp người con gái xưng mình là Bé Ký:

-Hôm nay cô không ra Catinat, Lê Lợi để vẽ tranh à?

Cô gái cười hiền hậu. Rồi cô nói như một tâm sự:

-Không anh ạ, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi ở Ban Mê Thuột mới về, về cốt để xem phòng tranh của anh đó.

Hồ Thành Đức reo vui trong bụng. Bé Ký đã là một họa sĩ nổi tiếng, có thể tên tuổi của nàng nổi trội hơn anh bây giờ. Dù anh đã học Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, rồi Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, nhưng đây là lần đầu tiên anh triển lãm, trong lúc đó, Bé Ký đã có cuộc triển lãm đầu tiên từ năm 1957 và sau đó đã có triển lãm nhiều lần nữa.

Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, như có một sợi dây vô hình, như là định mệnh, đã gắn kết tình yêu của hai người lại với nhau, dù trước đó, Đức đã có bạn gái, nhưng anh cũng cho qua, để đến với Bé Ký, như một tình yêu đầu đời, với sự trong sáng, giản dị, chân thành của Bé Ký. Sau khi tìm hiểu nhau, cả hai biết cùng đồng cảnh ngộ, đều là trẻ mồ côi.

Và lễ cưới diễn ra. Họ nhà trai không có ai, họ nhà gái cũng vậy. Khách mời toàn là bạn bè từ các bạn văn nghệ, các họa sĩ thân quen, đến các bạn là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, cùng đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng…

Đám cưới thế mà vui, rôm rả tiếng cười nói, của đám bạn trẻ. Và lời chúc tụng hai người hãy sống với nhau đến đầu bạc răng long.

Và đúng như vậy, từ 1965 đến nay 2021, đúng là 56 năm, một cuộc tình dài lâu, dù trải qua nhiều biến đổi của đất nước, có vượt biên, có tù tội… Nhưng cuối cùng gia đình Hồ Thành Đức-Bé Ký vẫn qua được bến bờ tự do, đã định cư tại Midway City, California, Hoa Kỳ, từ năm 1989 đến nay.

UserPostedImage

Họa sĩ Bé Ký (phải) và Hồ Thành Đức. (Hình: Gia đình cung cấp)

“Biết”

Tôi “biết” tên Bé Ký từ những ngày còn nhỏ, khi đọc trên tờ Thế Giới Tự Do ở thư viện quận lỵ nơi tôi ở. Tờ Thế Giới Tự Do in đẹp, giấy láng tốt. Tờ báo giới thiệu Bé Ký một cách trang trọng, dành hai, ba trang gì đó.

Với sự ăn mặc giản dị, Bé Ký đi trên đường phố Sài Gòn, vẽ tranh và bán cho khách qua đường. Tôi chỉ biết về Bé Ký như vậy, nhưng qua xem tranh của chị trên tờ Thế Giới Tự Do, tôi rất thích vì tất cả đề tài chị vẽ, đều gần gũi với quê hương Việt Nam, như “Mẹ và Con, “Chọi Gà,” “Mẹ Chải Tóc Cho Con,” “Giã Biệt,” “Che Dù,” “Đi Chợ Mua Bông Sen”…

Với Hồ Thành Đức thì tôi cũng chỉ nghe tên anh trong những bản tin hội họa trên các báo.

Ở Mỹ, khoảng những năm 2001, 2003, tôi phụ trách tờ Đặc San Quảng Nam Đà Nẵng, Hồ Thành Đức năm nào cũng sốt sắng đóng góp bài vở, anh không có cái kiêu hãnh của người đã nổi tiếng, là người họa sĩ đã thành danh.

Rồi những ngày sau, là ngồi cà phê. Cách đây khoảng hơn 15 năm, Hồ Thành Đức thường đến cà phê F. Anh đến một mình, đi xe buýt nhiều chặng để đến, khi về, có anh em nào rảnh, cùng đường, thì cho anh quá giang về. Còn không, anh đón xe buýt về.

Ngồi với Hồ Thành Đức, nghe anh nói chuyện, cũng là một niềm vui. Nói về anh, về Bé Ký, hay những quen biết thơ văn với các tác giả khác. Anh nói thao thao bất tuyệt, có những giai thoại rất hay về các tác giả khác, như về Bùi Giáng, về Nguyễn Đức Sơn. Anh mê thơ Bùi Giáng nên anh thuộc nhiều thơ Bùi Giáng. Hồ Thành Đức có một trí nhớ rất tốt là thuộc lòng nhiều thơ của các tác giả mà anh thích.

Sau đó, Hồ Thành Đức có thực hiện một tuyển tập tranh, lấy tên là “Ngựa Trắng Đi Khuya,” anh bỏ công hàng năm trời để “thực hiện cho bạn bè văn nghệ” tập này. Mỗi nhà thơ, nhạc sĩ, anh lấy một số đoạn thơ, hay một lời nhạc anh thích, rồi ghép với tranh của mình, để thành tuyển tập.

Sau khi thực hiện xong, anh muốn in tập này trong nước, nhưng qua “gọng kìm kiểm duyệt” trong nước, sách không được cho in. Sau đó anh chọn lọc lại, và in ở hải ngoại.

UserPostedImage

Một tác phẩm của họa sĩ Bé Ký. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tôi được anh biếu một cuốn, trong sách được anh dành cho một trang, với bức họa của anh có tên là “Đá Đam Mê” với hai đoạn thơ trong bài thơ “Uyên Ương” của tôi:

“Em hương nhụy hồng hoa ta hãy hái
Chùm môi thơm từng cánh rã trên tay
Lòng hoang tưởng mùa thu em thức dậy
Bàn tay mềm cho tình ái mê say

Ta hát khúc uyên ương trên đồi cọ
Giữa mùa thu trùng điệp ánh sao rừng
Lòng đã mở tan hoang bài ca cũ
Khúc tình tang trùng khuất giữa mùa xuân”

Lần đầu tiên tôi đến nhà Hồ Thành Đức để mượn anh một số tranh nhân ngày họp mặt đoàn tụ của các cựu học sinh liên trường Quảng Nam Đà Nẵng sắp tổ chức, tôi mới diện kiến họa sĩ Bé Ký. Dáng chị nhỏ con, gương mặt hiền lành. Thấy tôi đến chị ra chào hỏi vui vẻ. Giọng nói Bé Ký toát ra vẻ chơn chất của người đàn bà thực thà. Chị nói chuyện khoảng 5 phút là chị trở vào phòng, để tôi nói chuyện với chồng. Anh Đức đã dẫn tôi đi xem phòng tranh của anh và Bé Ký. Căn phòng khách chứa đầy tranh.

Sau đó, tôi đến nhà thăm và xem tranh Hồ Thành Đức và Bé Ký nhiều lần. Mỗi lần đến chị Bé Ký đều ra tiếp, vẫn với nụ cười hồn hậu, với khuôn mặt hiền lành, chị cũng chỉ hỏi thăm vài ba câu rồi rút vào trong phòng. Hình ảnh Bé Ký tôi chỉ nhận được có thế.

Khoảng hai, ba năm gần đây, Hồ Thành Đức không đi uống cà phê nữa. Nghe nói vì tuổi già nên anh yếu sức, lại có bệnh Alzheimer nên không đón xe buýt được nữa. Về Bé Ký, nghe nói chị cũng yếu, và cũng bị Alzheimer.

Cho đến vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, 2021 vừa qua, họa sĩ Bé Ký qua đời tại nhà, ở thành phố Midway City, hưởng thọ 83 tuổi.

Trong lời với phóng viên báo Người Việt, anh Hồ Thành Cung, con trai của anh chị, kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba.”

Chỉ từng đó chữ, mà cảm động biết bao nhiêu, khi Bé Ký ngủ và “đi” luôn, trong lúc còn nắm tay chồng.

Xúc động thay với tình yêu gắn bó của cặp vợ chồng cầm cọ này! [qd]

Mắt Buồn  
#3 Posted : Tuesday, August 10, 2021 6:07:19 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nguồn gốc bài Trưng Vương khung cửa mùa thu


(sưu tầm)
Jan 29, 2016 

UserPostedImage


Bài viết này Freelossless.com sưu tầm được, không rõ tác giả, xin phép được đăng lại và gửi lời tri ân đến tác giả bài viết.

Tell Laura I Love Her và Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu không chỉ có nội dung khác hẳn nhau mà còn mang lại cho người nghe những cảm xúc hoàn toàn trái ngược: một bi thương sầu thảm, một bâng khuâng thơ mộng.

Nội dung của Tell Laura I Love Her, một sáng tác của hai nhà viết ca khúc Jeff Barry và Ben Raleigh, là một thảm kịch tuổi “teen” thời đại:

Laura và Tommy là đôi tình nhân trẻ. Tuy còn rất trẻ, nhưng Tommy đã mong muốn xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Để có tiền mua cho Laura cái nhẫn cưới, Tommy quyết định tham gia cuộc đua xe hơi với giải thưởng 1.000 đô-la. Trước khi tới trường đua, Tommy điện thoại cho Laura nhưng không gặp, đành nhờ bà mẹ của nàng nhắn lại: Tell Laura I Love Her!…

Trong cuộc đua, xe của Tommy bị lật và bốc cháy; khi nhân viên cấp cứu tới nơi, họ chỉ kịp nghe được câu nói cuối cùng của Tommy trước khi tắt thở: Tell Laura I Love Her!…

Rồi một mình trong giáo đường thanh vắng, cầu nguyện cho linh hồn người yêu, Laura vẫn có thể nghe văng vẳng tiếng Tommy: Tell Laura I Love Her!

Tại miền nam Việt Nam trước đây, so với những ca khúc phổ thông khác của Mỹ được phổ biến vào đầu thập niên 1960, như Diana, You Are My Destiny của Paul Anka, Oh! Carol, You Means Everything to Me của Neil Sedaka, It’s Now or Never của Elvis Presley…, Tell Laura I Love Her không mấy thịnh hành; nguyên nhân có thể vì trình độ tiếng Anh giới hạn của người nghe, có thể vì lời hát kém phần thơ mộng, cũng có thể vì giai điệu không có sức thu hút bằng những ca khúc kể trên. Vì thế, vào khoảng năm 1973, khi nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt với tựa đề “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, đã không mấy người biết đây là một ca khúc ngoại quốc được đặt lời Việt.

Nhà báo Trường Kỳ kể lại:

…Điểm đặc biệt trong cách viết lời Việt của Nam Lộc là nghệ thuật dùng chữ khéo léo khiến người nghe quên hẳn nguồn gốc ngoại quốc của nhạc phẩm đã được hoàn toàn Việt Hoá như chủ trương của phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Điển hình là nhạc phẩm “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Nếu ai không am hiểu và theo dõi nhạc ngoại quốc sẽ cho rằng đó là một nhạc phẩm thuần túy Việt Nam. Thật ra đó là nhạc phẩm “Tell Laura I Love Her” với giai điệu rất phù hợp và ăn ý với lời ca bằng tiếng Việt, hoàn toàn khác biệt với nội dung. “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” được Nam Lộc coi là nhạc phẩm ưng ý nhất của anh suốt thời gian hoạt động trong phong trào nhạc trẻ lúc còn ở Việt Nam.

Về trường hợp viết lời “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, Nam Lộc cho biết đã lấy ý từ tên một đặc san do các nữ sinh Trưng Vương thực hiện vào đầu thập niên 70. Tính chất lãng mạn và mềm mại của tên đặc san đã khơi dậy tâm hồn nghệ sĩ nơi anh, một cựu học sinh Chu Văn An, với những mối tình thơ mộng cùng những hẹn hò của tuổi học trò.

(Trích “NAM LỘC: Con người văn nghệ và con người xã hội” – Tivi Tuần-san)

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của Trường Kỳ, và trong phạm vi bài này chỉ nêu thêm một chi tiết thú vị: ở Sài Gòn, thành phố của các tà áo trắng “Trưng Vương – Khung Cửa Mùa Thu” không hề có… mùa thu!

Viết ra điều này, chúng tôi không chủ ý bài bác, mà ngược lại, chỉ muốn đề cao trí tưởng phong phú của các cô nữ sinh Trưng Vương nói riêng, các thi, văn, nhạc sĩ viết về mùa thu ở một nơi chốn chỉ có mưa nắng hai mùa nói chung.

Theo các nhà khí hậu học, lãnh thổ Việt Nam được chia ra làm hai vùng khí hậu chính:

– Miền khí hậu phía Bắc: bao gồm lãnh thổ phía bắc dãy Hoành Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) và Bắc Bộ, có khí hậu “cận nhiệt đới” với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt.

– Miền khí hậu phía Nam: gồm lãnh thổ Trung Bộ từ phía Nam dãy Hoành Sơn và Nam Bộ, có khí hậu nhiệt đới với hai mùa: mùa khô và mùa mưa.

Suy ra, Nhìn những mùa thu đi, Chiếc lá thu phai, Gọi tên bốn mùa của Trịnh Công Sơn, Mùa thu mây ngàn của Từ Công Phụng, Mùa thu cho em của Ngô Thụy Miên, Mùa thu trong mưa của Trường Sa, v.v…, đều là những mùa thu đến trong trí tưởng; riêng mùa thu trong bản Thu Ca của Phạm Mạnh Cương có thể gọi là một mùa thu hồi tưởng (những ngày ông ra Hà Nội dạy học).

Còn nhớ năm 1993, Trịnh Công Sơn ra Hà Nội thăm Văn Cao; trong bút ký của mình, họ Trịnh đã so sánh cái ảm đạm của mùa thu Hà Nội với nỗi cô đơn của Văn Cao một mình ngồi uống rượu suốt mấy chục năm trường.

Mùa thu của Hà Hội buồn lắm. Đó là thu trong Buồn tàn thu, Thu cô liêu của Văn Cao, Giọt mưa thu, Đêm thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong…

Còn những mùa thu trong Thu quyến rũ, Gửi gió cho mây ngàn bay, Chuyển bến, Lá đổ muôn chiều, Tà áo xanh… của Đoàn Chuẩn, có lẽ đã được “công tử thành phố Cảng” thi vị hóa, hoặc thu trong Thu Vàng của Cung Tiến đã được cậu học trò 15 tuổi (vào năm 1953) ấy tô điểm thêm.

Trở lại với “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, trong số các trường nữ trung học của Hòn ngọc Viễn đông năm xưa, Trưng Vương nằm ở một vị trí yên tĩnh nhất, thơ mộng nhất, ngay cạnh thảo cầm viên Sài Gòn đầy hoa bướm, trên con đường rợp bóng me xanh…

Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trường Sa chỉ cần trí tưởng mà sáng tác được những ca khúc để đời về mùa thu, thì cô (hoặc các cô) nữ sinh Trưng Vương áo trắng nào đó, dù “tim chưa nghe qua rung một lần”, cũng chỉ cần một thoáng mơ mộng, nhìn qua khung cửa, bỗng thấy mùa thu.

Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu

Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh
Như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh

Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày
Những ngày đợi chờ
Trong nắng vu vơ
Trong mắt ngây thơ

Nhớ khói xưa lạc vấn vương
Cho hơi ấm lên môi người
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường
Làn mây yêu thương
Vương trong hồn em

Người cho em nghe quen môi hôn ngọt mềm
Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
Từng chiều cùng người
Về trong cơn mưa bay
Nghe thương nhớ tràn đầy
Lên đôi mắt thật gầy

Trưng vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời
Công viên năm xưa hoa vẫn rơi tuyệt vời
Bóng người thì mịt mùng
Từng hàng me rung rung
Trong cơn gió lạnh lùng
Trong nắng ngại ngùng

Nắng vẫn vương nhẹ gót chân
Trưng vương vắng xa anh dần
Mùa thu đã qua một lần
Chợt nghe bâng khuâng
Lá rơi đầy sân.

Dù không thể có con số chính xác, chúng tôi cũng tin rằng trong số những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt của thời kỳ “Việt hóa nhạc trẻ” ở miền nam Việt Nam, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu là bản được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được thính giả ưa chuộng nhất.

Trước năm 1975, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu được thu vào băng nhựa lần đầu tiên với tiếng hát thật dễ thương của Thanh Lan.

Rất tiếc, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu do Thanh Lan hát chưa kịp phổ biến rộng rãi thì xảy ra biến cố 30 tháng Tư. Mấy năm sau tại hải ngoại, “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” đã trở thành một trong những ca khúc “cầu chứng” của Ngọc Lan.

http://nhac-viet.com/ngu...hung-cua-mua-thu-suu-tam

Ở đây, chúng tôi không làm công việc so sánh các giọng hát, mà chỉ nhấn mạnh tới tính cách phù hợp giữa lời hát đầy bâng khuâng với tiếng hát mong manh buồn của người nữ danh ca vắn số.

Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu qua tiếng hát Ngọc Lan đã trở thành một trong những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt được ưa chuộng nhất tại hải ngoại cũng như ở quê nhà, đặc biệt là giới nữ sinh trong nước, vốn thiếu thốn những ca khúc tình cảm nhẹ nhàng, trong sáng trong bối cảnh xã hội xô bồ yêu cuồng sống vội thời “mở cửa”!

Khoảng 20 năm sau, Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu đã được Trần Thu Hà hát với một phong cách mới. Trần Thu Hà là một nữ ca sĩ trong nước có thực tài và lối diễn tả rất đa dạng, dù hát du ca với (chú) Trần Tiến hay hát nhạc jazz theo tiếng đệm dương cầm của Nguyễn Ánh 9, cô luôn thể hiện được tính cách nghệ thuật và phong cách riêng của mình. Hiện nay, số người nghe Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu của Trần Thu Hà trên các trang mạng trong nước đã nhiều hơn gấp đôi so với bản của Ngọc Lan. Điều này cũng dễ hiểu, bởi thế hệ trẻ hiện nay lớn lên cùng với tiếng hát Trần Thu Hà chứ không phải tiếng hát Ngọc Lan.

Hơn bốn mươi năm về trước, khi đặt lời Việt cho Tell Laura I Love Her, có lẽ Nam Lộc cũng không thể ngờ Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu sẽ thành công tới mức ấy, và rồi đây chắc hẳn vẫn tiếp tục được giới nữ sinh yêu thích. Cho dù ở khung cửa Trưng Vương, chưa bao giờ, và sẽ chẳng bao giờ có mùa thu!

(Sưu tầm)
Mắt Buồn  
#4 Posted : Tuesday, August 10, 2021 6:19:06 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Kim Tuấn, thơ mùa xuân, thơ phố núi.


UserPostedImage

Kim Tuấn tên thật là Vĩnh Khuê, sinh năm 1940 tại Huế - hậu duệ đời thứ 5 của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

Trải qua thời thơ ấu ở Phan Thiết rồi vào Sài Gòn vừa đi làm vừa đi học, làm thơ từ đầu thập niên 1960 và là thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất trước 1975: 17 bài (trong đó có 2 bài rất nổi tiếng là Anh cho em mùa xuân - Nguyễn Hiền phổ nhạc và Những bước chân âm thầm do nhạc sĩ Y Vân phổ từ bài thơ có tên Kỷ niệm).

Về bài thơ Nụ hoa vàng ngày xuân, Kim Tuấn cho biết: "Tôi làm bài thơ này để nhớ về quê mẹ: Hà Tĩnh - vùng đất sỏi đá nhiều hơn cơm gạo với mơ ước "Đất mẹ gầy có lúa" - có lúa chứ không phải cỏ lúa như nhiều người vẫn hát nhầm (cỏ lúa thì phải nhổ đi chứ ai lại mơ ước có thêm!).

Bài thơ này tôi sáng tác vào đầu thập niên 1960, sau đó in trong tập Ngàn thương (chung với Định Giang) và được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thành ca khúc..."

PSN - 20.2.2010

Kim Tuấn tên thật là Vĩnh Khuê, sinh năm 1940 tại Huế - hậu duệ đời thứ 5 của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Trải qua thời thơ ấu ở Phan Thiết rồi vào Sài Gòn vừa đi làm vừa đi học, làm thơ từ đầu thập niên 1960 và là thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất trước 1975: 17 bài (trong đó có 2 bài rất nổi tiếng là Anh cho em mùa xuân - Nguyễn Hiền phổ nhạc và Những bước chân âm thầm do nhạc sĩ Y Vân phổ từ bài thơ có tên Kỷ niệm). Về bài thơ Nụ hoa vàng ngày xuân, Kim Tuấn cho biết: "Tôi làm bài thơ này để nhớ về quê mẹ: Hà Tĩnh - vùng đất sỏi đá nhiều hơn cơm gạo với mơ ước "Đất mẹ gầy có lúa" - có lúa chứ không phải cỏ lúa như nhiều người vẫn hát nhầm (cỏ lúa thì phải nhổ đi chứ ai lại mơ ước có thêm!). Bài thơ này tôi sáng tác vào đầu thập niên 1960, sau đó in trong tập Ngàn thương (chung với Định Giang) và được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thành ca khúc..."

Mùa xuân, là đề tài lớn của nhiều thi văn sĩ. Thời điểm ấy, người và trời đất giao hòa. Năm cũ đi, năm mới đến, hứa hẹn bao nhiêu là thay đổi. Xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàn, cái vòng sinh hóa ấy với tiến trình nhất định đã làm thành sự chuyển động của thiên nhiên. Mùa xuân hoa lá tốt tươi, thời tiết ấm áp. Tình yêu vì thế cũng làm tâm hồn mở rộng ra những khuôn trời lãng mạn, những mơ ước của hình thành mộng mơ…

UserPostedImage

Nói đến mùa xuân, chúng ta phải nhắc đến bản nhạc "Anh Cho Em Mùa Xuân", thơ Kim Tuấn, Nguyễn Hiền phổ nhạc, cũng như các bản nhạc mùa xuân nổi tiếng khác. Cứ mỗi đầu năm, khi còn ở trong nước trước năm 1975 hay bây giờ ở hải ngoại, những bản nhạc ấy lại rộn rã trên những làn sóng điện, những chương trình truyền hình và cà những chương trình video, DVD nữa.

Riêng bản nhạc "Anh Cho Em Mùa Xuân" phổ từ bài thơ "Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân" có những ca từ thật dễ thương. Những đoạn thơ năm chữ dường như dễ giao hòa với âm nhạc để tạo thành những xúc động cho người nghe. Bản nhạc ấy, nhiều khi còn trở thành những kỷ niệm riêng của nhiều người, của những cặp tình nhân âu yếm trao nhau tình cảm chứa chan trong môi, trong mắt và trong cả bàng bạc đất trời.

Mùa xuân, với Kim Tuấn mở ra những hình ảnh của mơ ước đơn sơ hiền hòa, gần với thực tại nhưng lại chan chứa những mộng mơ lứa đôi thầm kín. Những hình ảnh quê hương, những tâm tình chân chất của mùa xuân rất Việt Nam. Thơ và nhạc, như một mà hai, như hai mà một, quyện lẫn vào nhau làm thành những lời tha thiết yêu đời yêu người.

Trong bối cảnh của những ngày đầu năm, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đọc thơ của thi sĩ Kim Tuấn như một duyên nghiệp tình cờ và chỉ trong một phút giây đã tạo nên một ca khúc bất tử cho âm nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ đã có lần kể lại những phút giây sáng tác ấy, như một giây phút bắt được của trời. Thơ đã ngay lập tức biến thành nốt nhạc và tiết tấu và những câu thơ ấy là của trời đất dành riêng để hiến tặng cho đời…”

Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về thấy trên mặt bàn giấy có một tập thơ mỏng tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân. Đọc xong thấy hay hay và đang lúc lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề tôi đã nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay và chỉ có một hai tiếng là xong bài nhạc. Xong tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc… Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết ”Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài nhưng không gặp được anh” Tôi cười "Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong” Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra... hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc “Anh cho em mùa xuân”. Anh chàng trẻ tuổi ấy là nhà thơ Kim Tuấn...”

Nhạc sĩ đã hầu như xử dụng phần lớn những câu thơ của nguyên tác khi chuyển thể. Và, những ý niệm của thi sĩ hình như cũng được biểu hiện theo với sự hòa đồng. Thơ chan chứa cảm xúc và nhạc làm thơ vút lên, bay bổng.

Bài thơ “Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân“ :

Anh cho em mùa xuân
Nụ hoa vàng mới nở
Chiều đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy
Chân bước mòn vỉa phố
Mắt buồn vin ngọn cây

Anh cho em mùa xuân
Mùa xuân này tất cả
Lộc non vừa trẩy lá
Thơ còn thương cõi đời
Con chim mừng ríu rít
Vui khói chiều chơi vơi

Đất mẹ gầy cỏ (có) lúa
Đồng ta xanh mấy mùa
Con trâu từ đồng cỏ
Giục mõ về rộn khua
Ngoài đê diều thẳng cánh

Trong xóm vang chuông chùa
Chiều in vào bóng núi
Câu hát hò vẳng đưa
Tóc mẹ già mây bạc
Trăng chờ trong liếp dừa
Con sông dài mấy nhánh
Cát trắng bờ quê xưa

Anh cho em mùa xuân
Bàn tay thơm sữa ngọt
Giải đất hiền chim hót
Người yêu nhau trọn đời
Mái nhà ai mới lợp
Trẻ vui đùa nơi nơi
Hết buồn mưa phố nhỏ
Hẹn cho nhau cuộc đời

Khi hoa vàng sắp nở
Trời sắp sang mùa xuân
Anh cho em tất cả
Tình yêu non nước này
Bài thơ còn xao xuyến
Nắng vàng trên ngọn cây.

Anh cho em mùa xuân - Thiên Kim trình bày

Nhà văn Võ Hồng đã viết những nhận xét của mình về bài thơ này trong bức thư gửi ngày 8 tháng 7 năm 1971 cho thi sĩ Kim Tuấn được in ở bìa của tập thơ “Thơ Kim Tuấn 1962-1972” đã nhắc đến nhạc sĩ Felix Arvers (1806-1850) tác giả của nhạc khúc nổi tiếng Le Sonnet D’Arvers[1] có những câu mà ông cho là có âm điệu giống như : ”Mon âme a son secret, ma vie a son mystere,...":

“Tôi được đọc thơ anh đã lâu, nhất là cứ vào ba mươi tết mỗi năm là tôi đón đợi nghe bài thơ được phổ nhạc của anh. Có một cái gì dịu dàng trong đó, thiết tha trong đó. Có không khí của mùa xuân trong đó, mùa Xuân trong lòng người xưng Em.

Anh cho em mùa xuân... Tôi liên tưởng đến bài Sonnet của Arvers. Nhất định nó sẽ sống như Sonnet d’Arvers, như Valse của Strauss...”

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng có những nhận xét khá lý thú về bản nhạc này:

“…Cái duyên mà nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói đến qua câu chuyện ấy là gì, nếu không phải là mối duyên cho ông gặp bài thơ ấy và tác gỉa bài thơ ấy.

Nếu không có mối duyên ấy thì “Nụ hoa vàng ngày xuân“ dẫu có là bài thơ hay vẫn chỉ là bài thơ nằm im lìm trong những trang thơ.

Nếu không có mối duyên ấy thì sẽ không có “Anh cho em mùa xuân” một trong những bài nhạc xuân hay nhất của người Việt.

Nếu không có mối duyên ấy thì chàng trai trẻ trong câu chuyện trên, tác giả “Nụ hoa vàng ngày xuân” chắc sẽ không được nhiều nhạc sĩ tìm đến thơ chàng để phổ nhạc (để mong có thêm được “Anh cho em mùa xuân“ khác).

Thế nhưng “Anh cho em mùa xuân” có thực sự là một trong những bài nhạc xuân hay nhất? hầu như trước giờ chúng ta chưa từng làm công việc tuyển chọn những bài nhạc hay nhất trong số những bài nhạc xuân.

Thế nhưng ở trong nước thì đã có làm. Tết Đinh Hợi năm kia, báo chí trong nước (Tuổi Trẻ Online/2/2007) đã tổ chức một cuộc thi gọi là “bình chọn ca khúc xuân hay nhất” Cách bình chọn : độc giả chọn ra ca khúc mình yêu thích nhất trong một danh sách... đã được chọn lựa sẵn gồm 22 bản nhạc xuân. Ba bài có số bình chọn cao nhất sẽ đạt danh hiệu ”Những Ca Khúc Xuân Hay Nhất” Trong danh sách ấy có 8 bài của các nhạc sĩ ở miền Nam trước năm 1975 (tất nhiên là không có những bài bị cấm phổ biến).

Điều thú vị, kết quả cuộc bình chọn: ca khúc đứng đầu trong ba “Ca khúc xuân hay nhất” là ”Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền, một nhạc sĩ miền Nam sống ở nước ngoài và đã qua đời (Hai ca khúc xếp hạng nhì và ba thuộc về các nhạc sĩ trong nước).

Trước đó “Anh cho em mùa xuân” cũng từng góp mặt trong Tuyển Tập Những Ca Khúc Hay Nhất về Mùa Xuân phát hành ở trong nước qua nhà xuất bản Cà Mau năm 2004.

Người việt ở ngoài nước hát “Anh cho em mùa xuân”, người Việt ở trong nước cũng hát “Anh cho em mùa xuân“ và còn bình chọn là ca khúc xuân hay nhất.

Không chỉ là một trong những bài nhạc xuân hay nhất, “Anh cho em mùa xuân” còn là một trong những bài phổ thơ hay nhất.

Khi làm công việc “lấy thơ ghép nhạc” nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã không đổi một chữ nào trong ba đoạn thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” (từ câu thơ đầu cho đến câu ”mùa xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá…) ông nhớ lại ”thật là hứng thú khi tôi lấy ba câu thơ đầu (Anh cho em mùa xuân/ nụ hoa vàng mới nở/chiều đông nào nhung nhớ...) thành một câu nhạc, thấy đi rất ngọt nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc.” Điều gì khiến ông phổ nhạc rất “ngọt” rất nhanh bài thơ ấy? Có phải vì ông bắt được ”tình thơ ý nhạc"? Có phải vì ông tìm thấy ”trong thơ có nhạc” và ông chỉ làm công việc ghi xuống những “notes”, những ký âm trên những dòng kẻ nhạc. Công việc có vẻ đơn giản ấy (không phải là ai cũng có thể làm được) đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”. Nhiều người viết nhạc chỉ mong phổ được một bài thơ như ông, không chút gượng ép, đi rất “ngọt”, đi rất ngon trớn, rất tự nhiên như nguồn nhạc hứng dâng trào, như nhạc và thơ chảy tràn như suối...”

Kim Tuấn trước năm 1975 là một người lính. Và thơ của ông cũng có nhiều bài viết về chiến tranh. Tuần báo Tìm Hiểu có bài viết về tiểu sử của ông trong số báo ra ngày 30 tháng 6 năm 1971 và được in lại ở trang bìa sau của tập “Thơ Kim Tuấn“ của nhà xuất bản Gìn Vàng Giữ Ngọc :

”Nhà thơ Kim Tuấn tên thật là Vĩnh Khuê sinh trưởng ở Huế, hiện là phóng viên chiến trường cho Đài vô tuyến truyền thanh Quân Đội tại Quân khu 2. Trước đó ông đã ở trong Lực Lượng Đặc Biệt 5 năm trông coi một toán văn nghệ trình diễn lưu động khắp các trại Biên Phòng dọc theo biên giới Việt Lào. Sau đó khi Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, ông trở về với bộ binh làm phóng viên chiến trường.

Làm thơ từ năm 1951, những bài thơ đầu đăng trên tờ Cải Tạo, tuần báo Đời Mới, Nhân Loại và mãi đến năm 1960 tác phẩm đầu tay của ông viết cùng với Định Giang lấy tên “Ngàn Thương” mới được đem in, sau đó đến tập Dấu Bụi Hồng (1971).

Bản tính thầm lặng, không muốn tham dự vào những sinh hoạt ồn ào như một số nhà văn nhà thơ khác nên mặc dầu thơ Kim Tuấn được biết đến nhiều nhưng không ai biết ông qua lớp áo dã chiến đầy bùn sình khi ông làm phóng sự chiến trường với cái tên Vĩnh Khuê.

Khác với những thi sĩ khác, thường nói đến tình yêu, chiến tranh qua những hình ảnh tại thành thị quen thuộc đến nhàm chán, thơ Kim Tuấn lựa chọn một không gian - khung trời quê hương, thứ quê hương đồng ruộng và thân phận của người dân trong chiến tranh, những người khát hòa bình như khát sống khát yêu thương.

Trong số các bài thơ êm đềm của Kim Tuấn đã được phổ nhạc. Bài thơ ”Những điều ghi được trong giấc ngủ” hay còn gọi là "Khi Tôi Về”, Phạm Duy phổ nhạc và bài “Anh cho em mùa xuân” do Nguyễn Hiền phổ nhạc...”

Thật ra, có rất nhiều bài thơ của Kim Tuấn được phổ nhạc như bài thơ "Kỷ niệm" thành bản nhạc “Những bước chân âm thầm“ Y Vân phổ nhạc, như “Ta ở trời tây nhớ trời đông” Phạm Đình Chương phổ nhạc, như “Khi xa Sài Gòn“ Lê Uyên Phương phổ nhạc, như: ”Em hát lý cây bông" Nguyễn Phú Yên phổ nhạc, như: ”Nắng cũng buồ “ Hoàng Châu phổ nhạc,...

Sau năm 1975, Kim Tuấn lưu lạc ở nhiều nơi và sau cùng thì dạy học ở trường dạy tiếng Anh và dạy nghề cho những trẻ bụi đời ở quận tư thành phố Sài Gòn bên Khánh Hội và ông mất đúng ngày trung thu sau khi đi dự lễ phát quà cho trẻ em nghèo ở trường ông dạy học trở về và bị stroke và qua đời.

Kim Tuấn đã nói về cuộc đời mình trong “Kim Tuấn Đôi Điều Với Bạn Yêu Thơ” thay lời bạt cho tập thơ ”Thời của trái tim hồng” xuất bản năm 1990. Một người làm thơ sau một thời gian dài không cầm bút với những thôi thúc thâm tâm, tuy không làm thơ nhưng lại yêu thi ca tột độ:

”... Như tôi đã nói ở trên, gần 15 năm nay tôi rất ít làm thơ. Thơ để làm gì giữa những mưu toan của cuộc sống, thơ lạc loài như đứa con hoang. Bởi vậy nếu có dăm bài thơ trong mười lăm năm ấy chính là lúc tôi yêu thơ vô cùng, chính là lúc trái tim - thơ - tôi thúc bách tôi phải biến những lời phán truyền của nó thành con chữ. Xin bạn hiểu cho, tại sao lại chỉ có những bài thơ tình yêu.

Đầu năm 1977, tôi quay lại nghề cũ của tôi ở Quận Cảng nghèo nàn. Tôi tự nhốt mình lại trong bốn bức vách với những đứa học trò nghịch ngợm. Phía sau lưng tôi là bảng đen và phía trước tôi là những đôi mắt nhìn lên ông thầy xác xơ của chúng nó. Ngày tháng qua đi, và tóc tôi mỗi ngày lại thêm những sợi bạc. Một thời dung thân ở quận nhỏ nghèo nàn với những người rất hiểu tôi là anh Nguyễn Văn Nghĩa. Trong một cuộc đời lại có những cuộc đời. Tôi vẫn sống và không dán cho mình một nhãn hiệu nào. Trong suốt thời gian gần 15 năm tôi gác bút cầm phấn, nhưng anh em quen thì vẫn phiền hà sao tôi chẳng làm thơ. Có khi trách móc, có khi thúc giục...”

Thời chiến tranh trước 1975, chúng ta có một Kim Tuấn đa diện, của thơ chiến tranh, của thơ phố núi. Ở đó, có suy tư thực, có đời sống thực của những người lính trong lửa khói chiến tranh. Thơ mùa xuân, của đời lính hiện thực, những người lính nghèo mang trên vai những lẩn quẩn sinh kế đời thường, những eo sèo của những ngày cuối năm buồn nản của bài thơ

“Gửi mẹ mùa xuân”:

“Tết này thêm chút tiền lương lính
có dăm trăm bạc gửi quê nhà
mẹ mua thêm gạo ăn qua Tết
con ở rừng cam khổ cũng qua.

con ở rừng ăn Tết cá khô
có cơm gạo sấy kiếp sông hồ
khi vui chung bạn dăm chai đế
khi chết nằm yên dưới đáy mồ.

Tết này Tết nữa chưa yên giặc
Chắc mai chắc mốt có hòa bình
Con nghe nói thế con tin thế
Phương này như cũ vẫn phiêu linh.”

Hòa bình vẫn là những mong ước của một thời binh lửa. Những ngày đầu xuân ngưng bắn, chỉ là cơn mưa mau của một trời khô hạn, mưa mà chẳng ướt được đất bởi cái thực tế vẫn y nguyên chém giết không có gì đổi thay, thay đổi. Chỉ có một vài giờ ngưng tiếng súng, chỉ một vài giờ rong chơi được trên cánh đồng còn thơm mùi cỏ rạ. Rồi sau đó lại súng cầm tay, đi vào khuôn trời mù mịt chiến tranh:

“mùa xuân rồi đó em

mấy mươi giờ ngưng chiến
mấy giờ quên hận thù
mấy giờ không súng nổ
mấy giờ ta rong chơi

trên đồng thơm cỏ rạ
trên đường không chông mìn
trên cõi đời Xuân mới
trên cõi ta một mình.

xuân nào xuân mới đến
xuân nào xuân đi qua
xuân nào ta ngồi lại
ôm nỗi sầu trống không

quê hương mù khói lửa
ta nuôi lớn hận thù
mùa xuân qua lặng lẽ...”

Thơ có lúc như đang ở giữa chiến trường, như những câu thơ Chinh Phụ ngâm thời trước hay Quang Dũng thời gần đây. Thơ ở rừng xanh, ở những khúc độc hành của người thơ bâng khuâng nhìn thiên nhiên dãi dầu quặn mình theo binh lửa.

“chiều qua biên giới Xuân vừa đến
ngẩng mặt nhìn lên chỏm núi xa
gió qua Lào Hạ mây giăng thấp
rừng lá chồi xanh bỗng nhớ nhà

nhớ nhà xa lắc phương trời đó
nhìn dưới đèo cao mây trắng bay
đêm có mình ta nơi đất lạ
cũng buồn như những thoáng men cay

men say chất ngất chiều chưa hết
Tây bắc rừng xanh màu lá xanh
Tây Bắc người đi chưa trở lại
Sông buồn con nước chảy quanh quanh…”

Thi sĩ Kim Tuấn cũng là người làm thơ về Pleiku độc đáo và trước năm 1975 đã có một thời cư ngụ lâu dài ở Pleiku. Với Pleiku, anh là một người cố cựu và đã sống đã thở với phố núi này với tâm tình của một người chọn lựa một quê hương thứ hai. Với riêng tôi thì thơ của ông có nhiều nét rất gần gũi với cuộc sống mình cũng đã một thời ở đó.

Chúng ta hãy thử đọc bài thơ “Buổi chiều ở Pleiku“ để thấy lại cảm giác của một thời thế nào. Những phút rất thật từ nỗi bâng khuâng đời sống.

“Buổi chiều ở Pleiku có cà phê và có bạn hiền
Có biển hồ nước trong, có lúc buồn soi mặt
ôi mặt mình sao bỗng gớm ghê
ôi đời mình sao nhìn muốn khóc
Ta với ta xa lạ vô cùng
Buổi chiều ở Pleiku có gì lạ đâu hở em
Có nỗi cô đơn trong cõi sương mù
Có phố buồn hiu có đêm giấu mặt
Có giấc sầu dài trong cõi thiên thu
Có bức tường vôi ghi dấu đạn thù
Có cuộc đời ta chìm trong khói lửa
Kiếp người sao đã lãng du
Buổi chiều ở Pleiku
Buổi chiều nghe mưa bay trên đầu ngọn núi
Buổi chiều như mọi buổi chiều
Tiếng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng
Anh còn tiếng nào để nói yêu em.”

Những buổi chiều ở Pleiku,với “tiềng phi cơ, tiếng xe và tiếng súng”, đúng là tình cảnh chúng tôi nhưng khác với thi sĩ là chúng tôi vẫn còn nhiều lời yêu em chứ không phải ”anh còn tiếng nào để nói yêu em”.

Có bài “Làm thơ trên núi” của những cảm giác thực của một buổi chiêu đứng trên cao nhìn xuống thành phố dưới thấp. Bài thơ của cô đơn, của những phút giây mà con người tự nhiên nghĩ ra những điều thật xa lạ, trong cái lạnh lẽo của thiên nhiên có nỗi mênh mang của số phận con người:

“làm thơ chiều trên núi
gió lạnh cùng sương mù
bụi đường vương áo đỏ
rừng xanh và tóc xanh

bếp nhà ai khói trắng
thác nước đổ sau ghành
đá mòn như tuổi trẻ
mười năm còn chiến tranh

mười năm xa phố chợ
mười năm không thị thành
mười năm còn ở lính
chiến trận xa lửa mù

lên cao cùng trời đất
ngước mặt trông mây chiều
cúi xuống nhìn vực thẳm
đã già đi bao nhiêu…”

Kim Tuấn quen thuộc với rừng với núi. Quanh quẩn ở vùng ba biên giới, những cuộc hành quân nhắc đến những địa danh gợi lại nỗi niềm hoang vu, nhắc lại những giây phút của cái Ta lẫn lộn vào không gian u tịch:

“Khi về núi đứng trông theo
con sông nước cạn bên đèo khói mây
đỉnh cao chiều gió ngang mày
lênh đênh sương phủ vòm cây nhớ rừng

mắt buồn giọt nhỏ rưng rưng
mưa bay xuống thấp lưng chừng lũng sâu
cỏ xanh màu lá hoa sầu
đá xanh màu nhớ đêm sâu ngút ngàn

với trời mây đã lang thang
với ta cuộc chiến bàng hoàng lửa reo”

Có một bài thơ văn xuôi của Kim Tuấn nhưng lại được phổ nhạc thật hay. Bài thơ ”Những điều ghi được trong giấc ngủ”. Phổ thơ văn xuôi có lẽ là một công việc khá lạ bởi vì đem âm nhạc để biểu hiện cho những giàn trải của ngôn ngữ không phải là điều dễ dàng.

“khi tôi trở về có con chim câu nằm trong tổ ấm. Dây kẽm gai hết rào quanh đồn phòng ngự và người lính đã trở về cày đám ruộng xanh

Khi tôi trở về có con diều bay đùa trong gió. Ở quê nhà, trên thảm cỏ xanh, có đứa trẻ để bụng lòi chấm rốn đen cười nụ thanh bình. Buổi chiều có con trâu rung mõ vu vơ như trong giấc mộng...”

Khi tôi về - Ý Lan trình bày

Phạm Duy đã từ những ngôn ngữ ấy của thơ để phổ thành ca khúc “Khi tôi về” với ước vọng hòa bình tươi đẹp trên quê hương. Nhưng thực tế, khi hết chiến tranh thì không phải những hình ảnh tươi đẹp ấy. Mà là chia ly, là chết chóc, là những đêm đen tối thẳm của lịch sử dân tộc chúng ta…

Kim Tuấn làm thơ về Pleiku với nhiều nỗi niềm trăn trở quá. Nhưng thơ của “Nụ hoa Vàng Cho Em” phổ nhạc thành “Anh cho em mùa xuân“ hay “Kỷ Niệm” phổ thành “Những bước chân âm thầm” lại có nhiều yêu đương tình tự và lãng mạn của những người cảm thông được với thiên nhiên với thời tiết những vẻ đẹp của đất trời.

Thơ của ông cũng có nhiều bài rất lãng mạn thơ mộng chứ không phải chỉ có trăn trở suy tư. Có khi là thơ của tuổi học trò, của tuổi mười bảy mười tám mộng mơ...

Như bài “Ngày Em Còn Thắt Bím” chẳng hạn:

“tóc bím nghĩa là tóc dễ thương
tóc bâng khuâng lá rụng bên đường
tóc chia đường gió chia thương nhớ
chia nỗi buồn cho ai vấn vương

Tóc bím nghĩa là tóc mộng mơ
Để ai thương nhớ để ai chờ
Để ai ngơ ngẩn giờ tan học
Em vẫn vô tình vẫn giả lơ

Tóc bím nghĩa là tóc ngẩn ngơ
Tình ta xanh biếc mộng ơ hờ
Chiều xanh áo trắng mùa mây trắng
Em ngọt ngào và em ngây thơ.”

Về cuối đời, Kim Tuấn chỉ làm thơ tình yêu. Những bài thơ mượt mà, sống lại từ kỷ niệm. Những bài thơ của trái tim nguyên si hơi thở thanh xuân. Thơ tình yêu như:

“Bàn tay có gì đâu mà sao nói thật nhiều điều
khi giận hờn khoanh tròn trước ngực
và khi buồn vuốt tóc nhớ người yêu
Bàn tay viết thư tình (tha thiết biết bao nhiêu)

Để khi đọc, người ta vui... phát khóc
Bàn tay có gì đâu sao nói thật nhiều điều
Bàn tay lái xe đến nơi hò hẹn
Bàn tay che môi cười một tí làm duyên

Và bàn tay nào đó chỉ để dành riêng
Khi chải tóc thấy thêm nhiều sợi nhớ
Thấy ngọt ngào khi nghĩ đến nhau
Xin thời gian đừng vội qua mau

Bởi bàn tay tình yêu có nhiều điều muốn nói...”

Tôi thích thơ Kim Tuấn vì ở trong đời sống tôi có những kỷ niệm thực. Đó là lúc tôi vừa đến phố núi Pleiku. Cảm giác khởi đầu của tôi khi đến đó thật là lạ lùng.

Ngày đầu tiên khi tôi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Phi cơ trực thăng khi bay qua Khánh Dương bị bắn và tôi hiểu chiến tranh đã đón chào tên lính trẻ làm thân lính thú đồn xa như thế. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy mình quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời.

Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc. của Kim Tuấn, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bắc Sơn,…Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm,… của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực. Nặng tê…Tự nhiên tôi thấy mình thật gần gũi thân thiết với những vần thơ biết là bao nhiêu. Có lúc, tôi nghĩ thi ca là một phần đời sống mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

[1] Ma vie a son secret, mon ame a son mystere,
Un amour eternel en un moment conçu,
Le mal est sans espoir aussi j'ai du me taire,
Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su,
Helas j'aurais passé près d'elle inapercu
Toujours à ses cotés pourtant solitaire,
Et j'aurais jusqu'au bout fait mon temps sur la terre,
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu.
Pour elle quoi que Dieu l'est faite douce et tendre,
Elle ira son chemin distraite et sans entendre,
Ce murmure d'amour elevé sur ses pas.
A l'ostere de voir pieusement fidèle,
Elle dira lisant ces vers tout rempli d'ailes
Quelle est donc cette femme et ne comprendra pas.

Edited by user Tuesday, August 10, 2021 6:34:38 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#5 Posted : Tuesday, August 10, 2021 6:54:24 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
MÙA THU & NGƯỜI NGHỆ SĨ


UserPostedImage

Click cac link youtube de nghe nhac.

TÌNH KHÚC MÙA THU

Mùa Thu Cho Em
Ngô Thụy Miên


Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé
Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây
nắng úa dệt mi em và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng
sẽ hát bài cho em và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới
Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương ...

http://www.youtube.com/w....com/watch?v=-61B6I7MlcQ

Mùa Thu Trong Mưa
Trường Sa


Chiều mưa không có em bờ đá công viên âm thầm
chiều mưa không có em giăng mắc mây không buồn trôi
Gọi mùa thu lãng quên vào tiếng mưa rơi êm đềm
trời còn mưa ướt thêm cho dài ngày tháng không tên
Chiều mưa không có em đường phố quên chưa lên đèn
chiều mưa không có em biết lấy ai chia hờn tủi
Trời mùa thu lắm mây còn bước em đi quên về
vòng tay ôm lẻ loi cho mình còn mãi thương nhau
chậm lặng người đi qua trên đường phố rét mướt
dấu chân chưa tìm về chút kỷ niệm ngày đầu
để từng mùa thu đến ra đi không mang tin nỡ quên thôi đành sao
Kể từ em vắng xa ngày tháng bơ vơ quên mình
mùa thu mưa vẫn rơi không bước chân em tìm đến
Chuyện ngày xưa biết sao mỏi cánh chim bay phương nào
còn ngày xuân ấm êm cho mình gọi tiếng yêu em

http://www.youtube.com/w...be.com/watch?v=dm5GBHhZ7
-A

Thu Hát Cho Người
Vũ Đức Sao Biển


Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt.
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ.
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó,
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tự
Đêm nguyệt cầm ta đợi em trong gió.
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ.
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương,
Trong mênh mông chiều sương
Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín
Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ rơi .
Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận ngườị
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môị
Màu vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơị
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa ngườị
Thu hát cho người,
Thu hát cho người ,
người yêu ...ơi !

http://www.youtube.com/w....com/watch?v=4acwHYzlDkE

Thu Quyến Rũ
Từ Linh


Anh mong chờ mùa Thu
Trời đất kia ngả mầu xanh lơ
Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh.
Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồị
Mây bay về đây cuối trời
Mưa rơi làm rụng lá vàng
Duyên ta từ đây lỡ làng
Còn đâu những chiều
Dệt cung đàn yêụ
Thu nay vì đâu tiếc nhiều
Thu nay vì đâu nhớ nhiều
Đêm đêm nhìn cây trút lá
Lòng thấy rộn ràng Ngỡ bóng ai về.
Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về với giấc mơ
Mầu áo xanh là mầu Anh trót yêu
Người mơ không đến bao giờ.

http://www.youtube.com/w...pwsk&feature=related

Thu Sầu
Lam Phương


Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ
Trời chiều man mác buồn nát con tim
Lệ tình đẫm ước tà aó trinh nguyên
Kỷ niệm êm đềm còn in trên giấy
Người ôm thương nhớ ra đi từ đấy
Trời đày hai đứa vì thiếu tơ duyên
Rừng còn thay lá tình vẫn chưa yên
Thương chi cho lắm giờ cũng vô duyên.
Người từ ngàn dặm về mang nỗi sầụ
Nhịp cầu ô thước hẹn đến mai sau
Ngày đài nhung nhớ mình cũng như nhau
Trên cao bao vì sao sáng
Rung vắng có bao là vàng
Là bấy nhiêu sầụ
Người đi hoa lá chết theo mùa nhớ
Người về lặng lẽ tình vẫn bơ vơ
Thà rằng chôn kín mộng ước bên nhau
Quên đi cho hết một kiếp thương đaụ

http://www.youtube.com/w....com/watch?v=Z6iXo4LrqAg

Giọt Mưa Thu
Đặng Thế Phong


Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu
Ai khóc ai than hờ!

Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
mưa buồn chi
cho cõi lòng lâm ly

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
chân buông mau
dương thế bao la sầu

Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
mây ngỏ trời xanh
chắc gì vui
mưa còn rơi
bao kiếp sầu ta nguôi

Gió xa xôi vẫn về
Mưa giăng mù lê thê
Đến bao năm nữa trời ...
... Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu

http://www.youtube.com/watch?v=Jozd7GB6NPE
http://www.youtube.com/w...b1Z8&feature=related

Nhìn Những Mùa Thu Đi
Trịnh Công Sơn


Nhìn những mùa thu đi
em nghe sầu lên trong nắng
và lá rụng ngoài song
nghe tên mình vào quên lãng
nghe tháng ngày chết trong thu vàng

Nhìn những lần thu đi
tay trơn buồn ôm nuối tiếc
nghe gió lạnh về đêm
hai mươi sầu dâng mắt biếc
thương cho người rồi lạnh lùng riêng

Gió heo may đã về
chiều tím loang vỉa hè
và gió hôn tóc thề
rồi mùa thu bay đi
trong nắng vàng chiều nay
anh nghe buồn mình trên ấy
chiều cuối trời nhiều mây
đơn côi bàn tay quên lối
đưa em về nắng vương nhè nhẹ

Đã mấy lần thu sang
công viên chiều qua rất ngắn
chuyện chúng mình ngày xưa
anh ghi bằng nhiều thu vắng
đến thu này thì mộng nhạt phaị

http://www.youtube.com/watch?v=jYxAy_SIdt8

Ngàn Thu Áo Tím
Hoàng Trọng


Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím
Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến
Chiều xuống áo tím thường thướt tha
Bước trên đường gấm hoa
Ngắm mây chiều lướt xa
Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím
Sầu thương cho em mơ ước chưa kịp đến
Trời đã rét mướt cùng gió mưa
Khóc anh chiều tiễn đưa
Thế thôi tàn giấc mơ

Anh xa xôi bóng mưa giăng mờ lối
Anh xa xôi áo bay trong chiều rơi
Anh xa xôi áo ôm tim lẻ loi
Tím lên khung trời nhớ nhung đầy vơi
Mưa rơi rơi bóng anh như làn khói
Mưa rơi rơi bóng anh xa ngàn khơi
Mưa rơi rơi có hay chăng lòng tôi
Có hay bao giờ bóng người yêu tớị

Từ khi xa anh em vẫn yêu và nhớ
Mà sao anh đi đi mãi không về nữa
Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ
Khóc trong chiều gió mưa,
Khóc thương hình bóng xưa
Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm còn lướt mau
Biết bao giờ thấy nhaụ

http://www.youtube.com/watch?v=yVtOBb4qS6U
http://www.youtube.com/w...6-8o&feature=related
http://www.youtube.com/watch?v=03crAkT7qpw

Mùa Thu Không Trở Lại
Phạm Trọng Cầu


Em ra đi mùa thu
mùa thu không trở lại
em ra đi mùa thu
sương mờ giăng âm u
em ra đi mùa thu
mùa thu không còn nữa
đếm lá úa mùa thu
đo sầu ngập tim tôi

Ngày em đi
nghe chơi vơi não nề
qua vườn Luxembourg
sương rơi che phố mờ
buồn này ai có muả
từ chia ly
nghe rơi bao lá vàng
ngập giòng nước sông Seine
mưa rơi trên phím đàn
chừng nào cho tôi quên

Hôm em ra đi mùa thu
mùa thu không trở lại
lá úa khóc người đi
sương mờ dâng lên mi
em ra đi mùa thu
mùa lá rơi ngập ngừng
đếm lá úa sầu lên
bao giờ cho tôi quên.

http://www.youtube.com/w...m6X4&feature=related
http://www.youtube.com/watch?v=eDVZKS7Y7OY

******************

Mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu , thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành,rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.
Mùa thu là mùa các thi-nhân đi tìm những vần thơ để sáng-tác thành những tuyệt-phẩm bất-hủ nghìn năm.

Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời , lác-đác rơi qua mái đầu , rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu,mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi,rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm-thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay , mùa của lá rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. " Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về ". Ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình .

Hình ảnh nỗi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi-sĩ Tản- Ðà :

" Trận gió thu-phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang "

Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng-mạn nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ-ngác giưã rừng thu qua bài " Tiếng Thu " của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm-đềm như khúc nhạc
tình thu trong rừng vắng

" Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào-xạc
Con nai vàng ngơ-ngác
Ðạp trên lá vàng khô "

Không phải chỉ có Tản Ðà hay Lưu Trọng Lư mơí nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi- nhân Việt-nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Những dòng thơ diễn tả lá vàng mùa thu của một số thi- nhân Việt-nam :

" Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh-lùng "
(Huy-Cận)

" Rặng liễu đìu-hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Ðây mùa thu tới mùa thu tới
Với aó mơ phai dệt lá vàng "
(Xuân-Diệu )

" Ao thu lạnh-lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo-teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo "
(Nguyễn Khuyến)

" Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng "
(Chế lan Viên)

" Chẳng được như hoa vướng gót nàng
Cõi lòng man-mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái Can)

" Gió vàng hiu-hắt cảnh tiêu-sơ
Lẻ-tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa "
(Ngô chi Lan)

" Ðêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương "
(Nguyên-Du)

Ngoài lá vàng rơi là biểu-tượng của mùa thu, ta còn phải nhớ
đến ánh trăng thu huyền-ảo.Nói đến mùa thu mà không
nói đến ánh trăng thu mờ-ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya
thanh-vắng là một sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu .

Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng-vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô-tịch, có những đêm thu trăng buồn ảo-nảo , gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u-buồn man-mác trước cái lạnh không làm tê-buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng-khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung- nhớ lạnh-lùng.

Việt-Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn-tả chị Hằng giữa đêm thu huyền-diệu. Thật vậy nếu bài " Tiếng thu " của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì bài thơ mất đi rất nhiều ý-nghĩa về mùa thu :

" Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn-thức "

Riêng nhà thơ Xuân-Diệu đã nhân-cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:

" Thỉnh-thỏang nàng trăng tự ngẩn-ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Ðã nghe rét mướt luồn trong gió
Ðã vắng người sang những chuyến đò "

Tuy-nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi-sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.

Ta hãy nghe Hàn Mặc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân-cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng -Nga đang rón-rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng :

" Bóng nguyệt leo song sờ-sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn "

hay là :

" Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe "

Ngoài Lưu trọng Lư, Hàn mặc Tử, Xuân-Diệu ra , ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi-nhân ca-tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại :

" Lòng anh giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
Lòng em như bụi kinh-thành
Ða-đoan vó ngựa chung-tình bánh xe . "
(Nguyễn-Bính)

" Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào "
( Nguyễn -Khuyến)

" Ðêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nữa rồi "
( Tản-Ðà)

" Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô
Lạnh-lùng thay, bấy chiều thu,
Gió may hiu-hắt trên đầu tường vôi "

Ðặng trần Côn
(Ðoàn thị Ðiểm địch)


" Vi lô san-sát heo may
Một trời thu để riêng ai một người
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng thu từng biếc chen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần -hôn !"
( Nguyễn-Du )

"Ðêm thu gió lọt sông đào
Nửa vành trăng khuyết ,ba sao giữa trời "
( Nguyễn- Du)

Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay-gắt rực lửa như mùa hạ , trái lại rất mát diụ trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Ði dưới, nắng thu người ta thấy tâm-hồn rất thoải mái lâng-lâng ,nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng , có lá vàng bay bay rơi rụng khắp phố -phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng-khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại-lộ lúc chiều tà.

Ai cũng biết rằng các thi- nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề-cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc-nhiên khi viết mấy câu thơ liên-quan đến nắng thu như sau:

"Chao ôi! thu đã tới rồi sao ?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao ."

Nhưng ngạc-nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích-Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai-điệu tuyệt vời :

" Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh-mông ."

Dĩ-nhiên, mỗi nhà thơ diễn-tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca-ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.

Nhà thơ Xuân-Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất-ngôn đầy lưu luyến trữ-tình :

" Nõn-nà sương ngọc quanh thềm dâu .
Nắng nhỏ bâng-khuâng chiều lỡ thi. "

Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc-Ly đều cảm thấy hồn mình xao-xuyến bâng -khuâng :

"Tôi đứng bên nầy bờ dĩ-vãng
Thương về con nước ngại-ngùng xuôi
Những người con gái bên kia ấy
Ai biết chiều nay có nhớ tôi
Tôi muốn hôn bằng môi của em
Mùa thu tha-thiết nắng hoe thềm. "

Ngòai ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu
với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn :

"Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi
Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi
Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ
Thê-lương thêm bận khúc ly-hòai ."

hay là :

" Hát bài hát ngô-nghê và êm ái
Bên sườn non mục-tử cưỡi trâu về
Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái . "

Nam-Trân Nguyễn học Sỹ

Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh-vắng, và nắng chiều thu trong buổi hòang-hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh-lẽo,u-buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ-vơ giữa thế-giới mưa rơi buồn-bã.

Trước cảnh mưa thu ảm-đạm ở ngòai bệnh-viện, nhạc-sĩ tài ba Ðặng thế Phong đã xúc-động rồi sáng tác ngay bản nhạc " Giọt mưa thu. " trước khi vĩnh-biệt trần-gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức-nở, những giọt lệ tình ai-oán lâm-ly : " Ngòai hiên giọt mưa thu thánh-thót rơi. Trời lắng u-buồn mây hắt-hiu ngừng trôi.Nghe gió thỏang mơ-hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ "

Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn-bã nhất của trần thế. Ðọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu-điều buồn-bã:

" Thánh-thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu-sơ
Xanh um cổ-thụ tròn xoe tán
Trắng xóa tràng -giang phẳng-lặng tờ. "

Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân-Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u-buồn :

" Gió thầm, mây lặng , dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà. "

Tuy-nhiên nếu trăng thu,nắng thu, mưa thu ,là những đề tài bất-hủ cho các văn thi-sĩ,nhạc-sĩ lấy đó để sáng-tác thì sương thu là một đề tài không kém quan-trọng để các thi-nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh-sương, ai đã từng ra sau vườn,đều trông thấy nhưnõg giọt sương đọng trên cành cây,ngọn cỏ giống như những hạt kim-cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay,rất nhiều người Việt-nam đã thuộc lòng đọan văn của nhà văn Thanh-Tịnh tả về cảnh sương thu : " Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu-yếm nắm tay tôi,dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp." Một nhà thơ nỗi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca-ngợi sương thu qua bài thơ " Sương rơi. " Ðó là thi-sĩ Nguyễn-Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác-phẩm bất-hủ về sương thu.:

" Sương rơi Rồi hạt Rơi sương
Nặng trĩu Sương trong Cành dương
Trên cành Tan-tác Liễu ngã
Dương-liễu Trong lòng Gió mưa

Nhưng hơi Tả-tơi Tơi-tả
Từng giọt
Gió bấc Em ơi ! Thánh-thót
Lạnh-lùng Từng giọt Từng giọt

Hiu-hắt Thánh-thót Tơi-bời
Thấm vào Từng giọt Mưa rơi,
Em ơi Ðiêu-tàn Gió rơi;
Trong lòng Trên nấm Lá rơi,

Hạt sương Mồ hoang !.. Em ơi ! .. "
Thành một
Vết thương !..
Nguyễn-Vỹ.

Như đã được trình bày ở trên,mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác-đác,có trăng thu mờ aỏ giữa đêm buồn,có những giọt mưa rơi thánh-thót thật lâm-ly. Ðã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ-hành thêm cô-độc bâng-khuâng,luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc-lòai, như biệt-ly hiu-quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng ,

Mùa thu là mùa của biệt-ly,của xa cách nên tình thu thường nức-nở nghẹn-ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung-nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt-ly nhung-nhớ,là nói đến ngăn-cách xa nhau,là nói đến chia-ly buồn-bã và lắm lúc nói đến vĩnh-biệt ngàn đời để rồi " nghìn-trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười ."

Sau đây, ta hãy nghe các thi-nhân Việt-nam nói về sự biệt-ly,sự nhung-nhớ cũng như những nỗi u-buồn giữa mùa thu :

" Mây vẫn từng không chim bay đi
Khí trời u-uất, hận chia-ly
Ít nhiều thiếu-nữ buồn không nói
Tựa cưả nhìn xa nghĩ-ngợi gì "
(Xuân-Diệu )

Hay những dòng thơ lục-bát đầy vẻ âm-u,tiêu-điều của Huy-Cận;

" Non xanh ngây cả buồn chiều
Nhân-gian e cũng tiêu-điều dưới kia . "

Hoặc những câu thơ đầy nhung-nhớ quằn-quại giữa mùa thu:

" Chao ôi! mong nhớ ! ôi mong nhớ
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn."
(Chế lan Viên)

Hay hình ảnh xa vắng biệt-ly của người chinh-phu trong lòng người cô-phụ :

"Em không nghe rạo-rực
Hình ảnh kẻ chinh-phu
Trong lòng người cô-phụ. "
(Lưu trọng Lư)

Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ-thương của thi-nhân :

" Chẳng được như hoa vướng gót nàng ,
Cõi lòng man- mác giá như sương!
Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
Ðặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương "
(Thái-Can)

Nhưng sự biệt-ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ-nhung quằn-quại triền-miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức-nở lệ nhòa của nữ thi- sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất-hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi-ca Việt-nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức-nở những điệp-khúc tình thu sau đây :

" Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có còn đâu !."

hay là :

"Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái-ân lạt-lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người .

Tóm lại qua thi-ca Việt-nam, ta thấy hầu hết các thi- nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm-ly,bi-thảm vv.. Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn-cách ,của ly-biệt,là mùa của nức-nở nghẹn-ngào nên các thi-nhân Việt-nam không ai mà không xúc-động khi thấy mùa thu đến. Qua thi-ca Việt-nam,ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ

nguồn: thơvăn

Edited by user Tuesday, August 10, 2021 7:10:08 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#6 Posted : Tuesday, August 10, 2021 7:27:28 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
NHÀ THƠ VINH HỒ, TỪ BÊN NÀY BIỂN MUỘN
ĐẾN GIẤC MỘNG XANH


trần minh hiền
orlando ngày 2 tháng 10 năm 2012

Nói đến Orlando chúng ta không thể không nhắc đến nhà thơ Vinh Hồ, nói đến Ninh Hòa chúng ta cũng không thể không nhắc đến nhà thơ Vinh Hồ, và nhắc đến Hội Văn Nghệ Tự Do chúng ta cũng không thể không nhắc đến nhà thơ Vinh Hồ. Bởi vì đối với cộng đồng người Việt ở thành phố đất lành chim đậu Orlando, Florida, Hoa Kỳ thì cái tên Vinh Hồ rất quen thuộc và thân thương. Bởi vì đối với quê hương Ninh Hòa hiền hòa thì người con Vinh Hồ đã làm rạng danh quê hương bằng những vần thơ tuyệt mỹ. Bởi vì Nhà thơ Vinh Hồ đã sáng lập ra hội Văn Nghệ Tự Do và lèo lái con thuyền văn nghệ tự do vượt qua những bến bờ tươi đẹp hơn.

Tôi đọc thơ của nhà thơ Vinh Hồ từ lâu, nhiều lần và lần nào, bài nào cũng cảm nhận ra những điều lý thú độc đáo của 1 hồn thơ sâu sắc, thấm đượm tình người, tình yêu và khơi dậy những nỗi niềm day dứt về thân phận con người và quê hương xứ sở.

Hãy đọc bài " Ngậm Ngùi Tháng Năm ", một bài thơ xuất sắc đã được nhạc sĩ LMST phổ nhạc:

Về đây nắng úa dọi chiều
Ðời xuân ai đã tiêu điều dưới kia
Mặt ai nước mắt dầm dề
Hình ai bết máu đi về cô thôn
Vở ai bay giữa chiều buồn
Cánh đồng thinh lặng, lối mòn tịch liêu

Về đây lạnh lẽo đền đài
Ðứng trên đồi ngó quê ai khói mờ
Một cành so đủa đong đưa
Một chiều bấc thổi lá dừa vi vu
Người đi từ cuối mùa thu
Tôi về vườn cũ, mù u héo tàn
Ðêm dài chém đứt tâm can
Giọng cười dã thú xé toang phận người

Về đây Mẹ đã điên rồi
Tìm em trên những ngậm ngùi tháng năm
Nấm mồ trơ, nỗi buồn câm
Con chim trên ngọn sầu đông chưa về

Về đây hình lạc phách mê
Mưa chiều nắng sớm lê thê cõi người
Nửa đêm lệ chảy xuống đời
Tuổi xuân ai cướp? Một trời tang thương!

Bài thơ nức nở, ai oán và bật máu thốt lên từ tận trái tim căm hờn và đau thương cho thân phận con người.

Người viết bài này (TMH) cố ý đặt đầu đề như ở trên là có ý kết nối những vần thơ cùng con người của thi sĩ Vinh Hồ từ tập thơ " Bên Này Biển Muộn" cho đến bài thơ tiếng Anh do chính tác giả viết bằng Anh ngữ rồi tự chuyển dịch sang Việt ngữ "Tôi gặp nàng trong giấc mộng xanh".

I meet her in my blue dream

She’s a beauty queen in my soul
Her countenance is very beautiful
I see her every morning
I call her name, oh Karyn!

I meet her in my blue dream
With our friends and other tourist teams
She stands in the white yacht
She looks good-nature and glad

We make a long journey
The ship bobs in the middle of the blue sea
I look at her dreamy eyes
I see the glistening of twilight

I stroke her shining black hair
I hear the breaking waves, that is sweet
I know her love that’s romantic
In our fanciful fairy’s universe

In the afternoon, we come into the desert island
On the quiet beach where she stands
The Atlantic becomes splendid yellow under the sun of evening
Her figure is pretty, high in rank and living

On the island, we play together
I drink sweet poetic words
My love is passionate as crest of waves
I give her my foolish heart

But all things are only nothingness
At midnight, when I suddenly wake up
I regret everything that happens in the dream
I call her name, oh Karyn!

Outside the window yellow leaves are falling
They signal that the Autumn is returning
But my love is only beautiful in the dream
I call her name, oh Karyn!

Vinh Ho
Sept 24, 2012

Translation into Vietnamese:

Tôi gặp nàng trong giấc mộng xanh

Nàng là Hoa Hậu của hồn tôi
Dung nhan nàng xinh đẹp tuyệt vời
Tôi thấy nàng trong mỗi buổi sáng
Tôi gọi tên nàng Karyn ôi!

Tôi gặp nàng trong giấc mộng xanh
Cùng bạn bè và toán lữ hành
Nàng đứng trên du thuyền màu trắng
Trông nàng vui vẻ và hiền lành

Chúng tôi làm một cuộc du hành
Thuyền bềnh bồng giữa biển màu xanh
Tôi nhìn trong mắt em mơ mộng
Tôi thấy ánh hoàng hôn long lanh

Tôi vuốt ve mái tóc đen tuyền
Tôi nghe sóng vỗ bờ du dương
Tôi biết tình yêu em lãng mạn
Trong thế giới thần tiên ảo huyền

Chiều xuống chúng tôi đến đảo hoang
Biển Đại Tây Dương rực rỡ vàng
Nàng đứng im lìm trên bãi vắng
Dáng nàng kiều diễm và cao sang

Trên đảo chúng tôi cùng vui đùa
Tôi uống lời ngọt ngào như thơ
Tình tôi mãnh liệt như ngọn sóng
Tôi cho nàng trái tim dại khờ

Nhưng tất cả chỉ là hư không
Khi nửa đêm chợt tỉnh giấc nồng
Tôi tiếc những gì trong giấc mộng
Tôi gọi tên nàng ôi Karyn!

Ngoài song từng chiếc lá vàng rơi
Báo hiệu mùa Thu đã đến rồi
Nhưng tình chỉ đẹp trong giấc mộng
Tôi gọi tên nàng Karyn ôi!

Vinh Ho
Sept 24, 2012

Từng từ, từng chữ đắc địa, độc đáo và gợi tình gợi cảm thật là đặc sắc. Càng đọc càng thích thú và kinh ngạc. Những năm tù đày trong các trại tù cộng sản đã giúp nhà thơ làm những bài thơ xuất sắc trong 2 thi tập Thơ Vinh Hồ, Bên Này Biển Muộn và cuộc sống nơi xứ người với tất bật của công ăn việc làm cùng nhiều áp lực khác vẫn không làm thui chột tình thơ của một nhà thơ tài ba, thơ ông trải lòng ra với tha nhân với bè bạn với cuộc đời, với tình yêu với người bạn đời chung thủy. Thơ của thi sĩ Vinh Hồ ngày càng chững chạc, phong phú, đa dạng, sâu sắc và tinh túy tinh tế hơn . Tôi không thể kể ra hết tất cả những bài thơ của nhà thơ đặc biệt này nhưng nói chung thơ của ông điêu luyện và mộc mạc, chín chắn và tinh xảo thôi xao. Viết tiếng Việt đã khó mà 1 người Việt Nam viết tiếng Anh thì càng khó gấp bội nhưng Vinh Hồ cũng đã rất thành công trong bài " I meet her in my blue dream". Ngồi đọc thơ Vinh Hồ nghe những bài nhạc phổ từ thơ của ông từ những nhạc sĩ LMST, Đặng Văn Đồng, Linh Phương, Mã Đình Sơn, Vĩnh Điện... trong không gian của mùa thu xứ người thì thật là đặc biệt độc đáo.

Người viết có may mắn gặp gỡ quen biết với thi sĩ Vinh Hồ từ năm 1995 và càng ngày càng nhận ra nhiều nét tài hoa cũng như tính cách chính nhân của thi sĩ Vinh Hồ. Trải qua những năm tù đày trong các trại tù cộng sản cũng như bao nhiêu người trai con dân Việt như của chính cha của tác giả bài viết này, nhà thơ Vinh Hồ hiểu rõ đâu là giá trị thực sự của đời sống, của tự do và tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Sang định cư ở xứ người theo diện H.O hội nhập làm việc cật lực cùng với phu nhân, người vợ, người bạn đời tuyệt vời của mình, thi sĩ Vinh Hồ đã vừa tận tâm làm việc để nuôi hai con trai thành tài vừa tiếp tục sáng tác và sinh hoạt cộng đồng. Đầu năm 2009 khi Hội VAALA trung ương ở California đã có những hoạt động sai lầm, thách thức cộng đồng chống cộng của người Việt quốc gia, Chi hội VAALA Florida (mà nhà thơ Vinh Hồ và Trần Minh Hiền là hội viên) đã tổ chức một buổi họp, tất cả hội viên đồng giơ tay biểu quyết giải tán. Đứng trước 1 sự kiện đau buồn như thế, thi sĩ Vinh Hồ đã sáng suốt nghĩ ra việc thành lập 1 hội mới để cho tất cả mọi người trong chi hội VAALA Florida tiếp tục có chỗ sinh hoạt và do đó Hội Văn Nghệ Tự Do ra đời và thi sĩ Vinh Hồ được bầu vào chức vụ Hội Trưởng sáng lập. Nhà thơ Vinh Hồ là 1 người lính, 1 người công dân Việt Nam yêu nước, 1 thi sĩ xuất sắc, 1 người chồng 1 người cha mẫu mực, 1 người bạn tri kỷ tri âm, và 1 người Việt lưu vong xa xứ luôn có trách nhiệm với quê hương đất nước và cộng đồng. Và là một người tôn trọng, hành xử trong tinh thần dân chủ triệt để. Bằng chứng là ông chỉ làm Hội Trưởng Hội VNTD 1 nhiệm kỳ rồi nhất định nhường lại cho người khác. Thi sĩ Vinh Hồ là 1 người làm thơ xuất chúng mà cũng là 1 cây bút biên khảo nghiên cứu, tìm hiểu xuất sắc. Ông thu thập tài liệu và viết nhiều tài liệu quý giá, bổ ích được độc giả yêu chuộng. Thơ của Vinh Hồ hay trong ý tứ, độc đáo trong nghệ thuật dụng ngữ, sử dụng từ vừa chân chất mộc mạc vừa rất đỗi thanh thoát, thăng hoa và tràn ngập thi hứng trong từng câu chữ. Làm thơ thì có nhiều người làm nhưng để có những bài thơ xuất sắc thì có mấy ai. Chúng ta may mắn có thi sĩ Vinh Hồ đã đóng góp vào thi đàn Việt Nam Hải Ngoại nhiều bài thơ như thế.
***
Để kết luận bài viết này, người viết xin mời quý vị đọc 1 bài thơ khác của Vinh Hồ:

HỒN ĐI THEO NGƯỜI

Gởi Điềm Ca


1.

Mười năm tiều tụy xác xơ
Mười năm sau vẫn xác xơ tụy tiều
Dòng "Sông tạnh"* sao quạnh hiu?
"Trời ra giêng"* gió sao heo hắt buồn?
Lệ vô sắc nhiễm trong hồn
Thất thơ đi giữa cô đơn cõi người
Mười năm ôm mảnh trăng côi
Lệ trăng lã chã, lệ người tái tê
Một đời trăng tỏ đường quê
Một đời người đứng bên lề nhân gian
Dòng sông mưa chảy hàng hàng
"Gánh Hoàng Hôn"* đổ tím "Ngàn Hương"* thơ
Mười năm xa cách bơ vơ
"Bên này biển muộn"** ai ngờ gặp nhau?

2.

Niềm vui chưa nói hết câu
Vầng trăng đã xế, bên cầu xe qua
Ly bia, điếu thuốc, bình trà
Niềm vui chưa cạn đã qua một ngày
Một ngày qua chẳng ai hay
Chín mươi ngày bỗng sáng nay bay vèo
Đêm qua ly rượu buồn thiu
Như ly rượu biết buồn vui theo người
Sáng nay điếu thuốc ngậm ngùi
Như điếu thuốc cũng nếm mùi biệt ly

3.

Người về hay người ra đi?
Sáng nay tôi đứng bên cây thẩn thờ
Tôi buồn hơn những câu thơ
Của tôi/ người: xướng họa chờ trăng lên
Tôi buồn hơn cả đỉnh buồn
Buồn tôi cộng nỗi cô đơn của người
Sáng nay người với mây trời
Đã bay mất hút sao tôi mãi nhìn?
Nhìn theo những vệt khói in
Trời cao thăm thẳm cầu xin một lời...
Tạ ơn Trời đã đưa người
Vượt ngàn/ biển rộng cùng tôi tương phùng
Mừng vui lên tới chín từng!
Mừng vui như thể chưa từng mừng vui.

4.

Làm sao nói hết tình tôi
Khi nhà vắng vẻ, khi người đã đi
Ngoài hiên bao thuốc, cái ly
Gạt tàn, hộp quẹt, giấy ghi kẻ hàng
Tôi ngồi lên chiếc ghế đan
Ghế êm êm bạn vẫn nhường cho tôi...
Bên kia người xếp bằng ngồi
Ngoài hiên nhà lưới mưa rơi hàng hàng
Từng trang kỷ niệm lần đan
Giọng người ấm áp át ngàn tiếng mưa
Chuyện từ mấy chục năm xưa
Cứ theo ngọn thác vỡ đê tràn về
Cuộc đời xanh tựa giấc mơ
Cùng nhau sống lại tuổi thơ rạng ngời
Nói cười luyến tiếng quen hơi
Quên thời gian để niềm vui tuôn tràn...

5.

Chiều nay tôi thật biết buồn
Dù hôm qua biết sẽ còn buồn hơn
Sáng nay người về cố hương
Mình tôi ngồi lại nhớ thương ngập tràn
Ngày dài rồi cũng phai tàn
Và đêm rất ngắn cũng mang đi người
Ngồi đây tôi với nỗi tôi
Nỗi lưu vong với nỗi đời héo hon
Sáng nay tôi thật biết buồn
Mười năm cứ ngỡ nỗi buồn đã hoai
Nào ngờ buồn nỗi buồn dài
Buồn nỗi buồn ngắn, buồn hai phương trời
Buồn gần buồn lại xa xôi
Niềm vui kia đã thúc thôi buồn này
Người đi rồi, tại nơi đây
Tôi châm đóm lửa buồn lây xứ người
Người đi rồi, xa thật rồi
Tôi châm điếu thuốc buồn rơi xứ người.
Đời lưu vong hết lối, nơi
Tuyệt không thạch một cho tôi gối đầu

6.

Ngày xưa Chức Nữ qua cầu
Cầu Ô Thước chắc cũng sầu như tôi
Dòng sông trắng đội mưa, trôi...
Chiếc cầu lẻ bóng muôn đời ngóng trông
Nay người từ cõi nhớ mong
Mang quê hương tới cả lòng sắt son
Đời tôi lưu lạc tha phương
Gặp người như gặp quê hương xóm làng
Gặp dòng sông, gặp con đường
Gặp đồng lúa chín, gặp hàng cau xinh
Gặp tán gạo đứng bên đình
Gặp cây cầu ván gập ghình bắt ngang
Gặp tình chị, gặp nghĩa em
Gặp lời ru mẹ giữa ngàn tiếng ca
Gặp trưa hè tiếng tu qua
Gặp trăng thu sáng ngõ hoa êm đềm
Gặp câu hò giọng ngọt mềm
Gặp tuổi thơ, gặp những đêm thanh bình
Bồi hồi chiêng trống hội đình
Mơ màng tiếng đại hồng chung lễ chùa
Nồng nàn ly rượu đón, đưa
Rộn ràng tiếng pháo giao thừa nổ vang
Dạt dào tình nghĩa xóm làng
Xuyến xao én liệng, hân hoan sen hồng
Bâng khuâng sương phủ kín đồng
Ngậm ngùi chiếc lá sầu đông rơi đầy
Bồi hồi nhìn tháng ngày bay
Tình quê kỳ diệu ngất ngây tâm hồn
Mười năm nhớ nước thương non
Như cây palm đứng cô đơn giữa đời
Mười năm góc biển chân trời
Chiêm bao hay thật tôi, người gặp nhau?

7.

Chín mươi ngày thoắt qua mau
Chiêm bao hay thật để sầu riêng tôi?
Nửa đêm tôi vẫn còn ngồi
Nơi ba tháng trước người, tôi vui buồn
Tôi phà khói thuốc quay tròn
Khói bay vòng lại vui buồn có nhau?
Một ly bia giữa đêm thâu
Ly bia sủi bọt lệ đâu chảy dài?
Mười năm biệt xứ xa người
Chua cay nghìn nỗi thân tôi rã mòn
Gặp người vui nỗi vui hoan
Xa người buồn với mối buồn nguyên xi
Chiếc xe vụt đến rồi đi
Còn tôi pho tượng hồn đi theo người.

VINH HỒ
(Orlando, 2 giờ khuya 26/7/05
ngày Điềm Ca về lại VN)
* Tên 4 tập thơ của Điềm Ca
** Tên tập thơ của Vinh Hồ

Xin thành chúc nhà thơ Vinh Hồ luôn "trẻ" mãi trong tâm hồn để tiếp tục cống hiến cho đời những vần thơ mới tuyệt vời .

Trần Minh Hiền
Orlando, ngày 2 tháng 10 năm 2012

Mắt Buồn  
#7 Posted : Wednesday, August 11, 2021 7:28:37 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng: Tình Yêu, Quê Hương
và Cuộc Đời


UserPostedImage

Thụy Lan


Tôi xem bài viết Chiếc Cầu Gẫy của tác giả Tôn Thất Diên. Bài viết về tài năng của Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000). Tóm lược đôi điều về nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, ông là người quê quán tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, sáng tác một trong những nhạc phẩm để đời rất phổ biến là bài "Chuyện chiếc cầu đã gẫy". Bản nhạc gây nhiều xúc động cho người Huế nói riêng, và với người Việt nói chung ở các nơi. Bài ca hay về nhạc cùng lời ca, người viết bài học tại trường Đồng Khánh nên đi qua cầu nhiều lần. Cầu Trường Tiền khởi công xây dựng năm 1897 và hoàn tất năm 1899 dưới triều vua Thành Thái. Đây là chiếc cầu đường bộ đầu tiên bắc qua sông Hương, sự ra đời của cầu đã chấm dứt sự chia cắt của bờ bắc từ kinh đô của triều đình với bờ nam nơi đặt tòa khâm sứ của chính phủ bảo hộ Pháp, và nó còn nối dài con đường thiên lý Bắc - Nam bị cách trở giang san suốt nhiều thế kỷ. Hãng Eiffel, Pháp được thuê thiết kế và thi công cầu với hình dáng sáu vài vòng cung bằng thép, mặt cầu lát gỗ lim. Vào năm 1968 Tết Mậu Thân Cầu Trường Tiền bị quân Việt Cộng giật mìn gãy một nhịp .Biến cố này làm nát lòng người dân Huế. Rồi bài ca do Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cho ra đời một bài hát bất hủ.

Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh
Người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh
Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời
Khắp cố đô dân lành an vui ca thành điệu Nam Bình
Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ
Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ

Phải nói bài ca mang chất Huế, khi sông Hương vẫn trôi, bài bi ca Huế trên sông vẫn còn đó, nhưng con nước lững lờ di chuyển theo lời ca vang trong tôi vang văng vẳng giọng Nam Ai Nam Bình tha thiết, u buồn. Phải chăng dây là bi khúc đã đánh dấu nỗi đau quê hương của Huế vào năm lịch sử 1968, Tiếng khóc của Trầm Tử Thiêng chia sẻ với người dân xứ Huế, nhịp nối sông Hương gẫy, ngăn cách đôi bờ trong đời sống.thương nhật. Trầm Tử Thiêng đã dùng âm nhạc để phản ảnh biến cố như chất liệu lịch sử.cho ngàn sau về "Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy."

Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.
Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài
Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu

Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu rửa hờn cho nhau.

Với đất nước, Trầm Tử Thiêng chọn cho mình là một người viết sử bằng âm nhạc, Trầm nhạc sĩ yêu quê hương nói lên bằng lời ca cung nhạc như nỗi u sầu của chính thân phận mình. Tuy không phải là người dân cố đô mà nhạc sĩ cũng cảm thấy nỗi xót xa đau đớn cùng cực trước cái thực tế phũ phàng bi thảm của một hành động bạo lực phá hoại quá tàn tệ cho người dân lành Huế.

UserPostedImage

Cầu Trường Tiền thân thiết duyên dáng bắc ngang dòng sông Hương như di sản văn hoá, êm đềm ngay giữa lòng thành phố Huế. Trong bài hát,ca tụng biểu tượng rất thân yêu gần gũi với họ trong cuộc sống hằng ngày. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã bày tỏ nỗi đắng cay của mình trong đoạn cuối với những câu trách cứ giặc về gây tan thương, khi ta nghe lòng ngậm ngùi thương tiếc, nhạc thấm thía:

Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.
Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai
Tiếc thương lời vắn dài
Vì sao không thương mến nhau
Còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu *

Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy ca sĩ Duy Khánh và Hương Lan:

https://www.youtube.com/watch?v=5wnII3_oMXQ

Cầu Trường Tiền sập, tác giả Tôn Thất Diên ghi nhận bài ca biểu tượng cho năm Mậu Thân 1968 đã gây bao khổ đau cho người dân Huế

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có trên 200 bài ca. Thể nhạc ông làm như về, tình yêu, quê hương, và chiến tranh. Cuộc đời sáng tac gồm 3 giai đoạn: thuở Việt Nam Cộng Hoà trước 1975, thời gian lúc Cộng Sản Việt Nam chiếm Miền Nam sau 1975, và thời kỳ lưu vong tị nạn tại Hoa Kỳ. Xin đơn cử tên của một số nhạc phẩm tiêu biểu như:.Đêm Nhớ Về Sài Gòn (1983), Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng, Vang Vang Tình Việt Nam, Bảy Ngàn Đêm Góp Lại, Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy, Mai Kia Hòa Bình, Mưa Trên Poncho, Tôn Nữ Còn Buồn, Tống Biệt Hành (ý thơ Thâm Tâm), Trên Đỉnh Yêu Đương, Trên Quê Hương Hòa Bình, Bài Tình Ca Mùa Đông, Hành Khúc Cho Quê Hương, Hẹn Về, Hương Muộn, Lưu Vong Khúc, Mười Năm Yêu Em (1985), Bài Hương Ca Vô Tận, Bài Tango Cho Người Tình Lỡ, Đưa Em Vào Hạ,...

Sáng tác chung với Trúc Hồ như: Bên em đang có ta, Bước chân Việt Nam, Cám ơn anh, Cơn mưa hạ, Đã qua thời mong chờ, Một ngày Việt Nam, Việt Nam về trong nỗi nhớ,

Với tình yêu, ông chọn làm người tình thuỷ chung ví dụ như bài cho một người tình. "Mười Năm Yêu Em" hay "Đêm Nhớ Về Sài Gòn" mang nhiều lời ca nồng nàn và cay đắng cho một cuộc tình.

Mười năm yêu em thấm đời mộng mi
Mười năm yêu em ta thấu tình cuồng si
Mười năm yêu em ta hóa thành chiếc lá
Trôi theo từng cơn lũ của kiếp sống

Tình chưa yên vui bên sóng đời cuồng nộ
Chợt đêm chia phôi ngăn cách một đại dương
Từng đêm gian nan ta ngỡ mình sắp đuối
Nhưng em tình vẫn hát từ bến trời

Xa nhau, mười năm yêu em thấm đời mộng mi, thấu tình cuồng si. Xa nhau cuộc dời cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến, cuộc tình vẫn còn hương môi em, nhung nhớ môi em thầm đợi những mùa Xuân:

Ôi ta nhớ mãi những đêm nằm mộng biển
Hồn ta bay trên đôi cánh reo mừng
Giữa cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến
Ngỡ môi em thầm đợi những mùa Xuân

Dường như trong ta em có điều tuyệt vọng
Dường như trong em ta vẫn đầy hoài mong
Mười năm yêu em cũng sẽ là mãi mãi
Xin em cùng ta hát để nhớ hoài

(Mười Năm Yêu Em, Trầm Tử Thiêng).

Hãy nghe tiếp Đêm Nhớ Về Sài Gòn với nhịp tim rung dộng của Trầm Tử Thiêng:

Đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi
Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi
Đường im nghe quá khứ trong sấu
Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau
Tình lẻ loi canh thâu

Đêm nhớ về Sài Gòn khi tình nồng, thèm bước chân vui, sau bao lâu chờ đợi, vẫn ngóng tin nhau...

Đêm nhớ về Sài Gòn
Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa
Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa
Ai sầu trong quán úa
Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song
Mắt người tình một trời mênh mông .
Gợi bao nhiêu cho cùng …

Nhung nhớ Sài Gòn xa xôi, lưu luyến Sài Gòn khi bên nhau...

Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn
Thấy mình vừa trở lại quê hương
Đã gặp người một trời yêu thương
cho lòng thêm chút ấm
Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau
Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau

Bài Hương Ca Vô Tận

Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu Cuộc phân ly may lắm thì qua mau Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ. [ĐK:] Hương ơi sao tiếng hát em Nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào Dù em ca những lời yêu đương Hay chuyện tình gãy gánh giữa đường Dù em ca nỗi buồn quê hương Hay mưa giăng thác đổ đêm trường. 2. Hát chuyện vai em tóc xoả bồng mềm dịu ngọt môi em Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi Mẹ ru em câu hát dài buông lơi Hát để yêu cha ấm lại ngày già. 3. Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông Thuyền ham đi nên nước còn trông mong Khiến cả đêm thâu tiếng em rồi rầu.

"Bài Hương Ca Vô Tận" của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng – Những lời buồn bất tận của một thuở phân ly, theo tác giả Đông Kha thì trước nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, hình như chưa có ai đã sử dụng chữ Hương Ca trong tên bài hát "Bài Hương Ca Vô Tận" để nói về những lời hát ca ngợi quê hương. Đó không phải là một bài hương ca thông thường, mà là một bài hương ca vô tận về quê hương..

Định nghĩa "Vô tận" thì đó là sự tiếp nối nhiều thế hệ không bao giờ ngừng lại cả, từ ngàn xưa, đến ngày nay và về ngàn sau, những người Việt yêu quý quê hương sẽ còn hát mãi những bài ca ngợi quê hương, dù quê hương thanh bình hay là đang phải oằn mình trong khổ đau hay quê hương chìm đắm trong nghịch cảnh khó khăn..

Bài Hương Ca Vô Tận đã từng được nhiều danh ca làng âm nhạc Việt đã cất lên tiếng hát, điển hình là Duy Khánh, Hoàng Oanh, hay Thanh Tuyền, nhưng nó được yêu thích nhất bởi một danh ca khác nữa, một đệ nhất danh ca, đó là Thái Thanh. Bà đã hát bài này từ trước năm 1975, trong một bài phỏng vấn, Thái Thanh nói rằng lúc đó nhờ sự gần gũi trong sinh hoạt âm nhạc với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, được nói chuyện nhiều, bà đã được hiểu rõ hơn về các bài hát của ông: "Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như "Hát nữa đi hương…", nhiều khán giả tưởng "hương" là tên một người con gái, nhưng có nói chuyện với ông mới biết chữ "hương" là ông muốn nói đến Quê Hương" (Thái Thanh)

Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương.
Hát nữa đi Hương, hát lại bài ca tiễn anh lên đường.
Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu,
cuộc phân ly may lắm thì qua mau
Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.

Phải chăng điệu nhạc buồn đã là một đặc trưng muôn thuở của những bài "hương ca", từ ngân khúc Nam Bình Nam Ai cho đến những câu vọng cổ từ xa xưa thuở phôi thai Dạ Cổ Hoài Lang là một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu cảm tác năm 1917, đều là sự não nùng và da diết thấu đến tận cùng thấu tâm can. Những điệu buồn đó lại được khắc họa thêm bằng những hoàn cảnh phân tranh khói lửa, để vợ xa chồng, con phải xa cha. Cho đến đến thời điểm bài hát này ra đời (khoảng 1966), ngày đao binh vẫn còn như là dài bất tận, không ai biết được là bao lâu, và cũng không một ai đủ can đảm để hình dung là nó sẽ còn kéo dài đến tận 10 năm sau đó nữa. Cho nên "cuộc phân ly may lắm thì qua mau" chỉ là một ước nguyện đã không bao giờ có được, cuộc phân ly kéo dài đằng đẵng, và cuộc đợi chờ cũng đã trở thành vô vọng.

Hương ơi!
Sao tiếng hát em
nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào

Dù em ca những lời yêu đương,
hay chuyện tình gẫy gánh giữa đường.
Dù em ca nỗi buồn quê hương,
hay mưa giăng thác đổ đêm trường

Quê Hương đã được nhân cách hoá thành "em", đại diện cho những lời hát ngọt ngào và dạt dào tình cảm, cho dù là hát cho những yêu đương hạnh phúc tròn đôi, cho chuyện tình buồn đoạn trường gẫy gánh, hay là lời hát cho nỗi buồn quê hương trên xứ sở loạn ly đêm ngày. Quê hương là nơi ta sinh ra đời và lớn lên mà nơi đó đang chứa chan mọi vui buồn thuở ấu thơ và khi xa quê hương ta thường nhớ thương da diết. ... Quê hương là nguồn cội, là nơi thiêng liêng nhất để nghĩ tới mỗi khi đi xa, là nơi có tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ta từng sinh sống, là cái nơi mà ai ai cũng nhớ về. Quê hương dù sang, giàu, nghèo, khổ thì Quê hương vẫn là Quê hương, nơi ta yêu hương bằng nhịp đập con tim. Quê hương nơi ta chào đời, cho ta dòng sữa ngọt, tạo cho ta từng cơ gân, từng thớt thịt. Hãy ca ngợi Quê hương

Hát chuyển vai em tóc xõa bồng mềm dịu ngọt môi em.
Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già.
Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi,
Mẹ ru em câu hát dài buông lơi
Hát để yêu cha ấm lại ngày già.

Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương.
Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chĭến trường.
Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông,
Thuyền ham đi nên nước còn trông mong.
Khiến cả đêm thâu tiếng em rầu rầu.

Đông Kha mượn lời ca tiếng nhạc điệu buồn Trầm Tử Thiêng để kể về chuyện về non sông, câu nhạc là nguồn gợi lại những chuyện đau thương của quê hương, vốn là giang sơn gấm vóc đã trở thành một vùng trời lửa đạn khói bay mịt mờ. Còn gì đau thương hơn khi núi rừng đầy hoa đã thành vùng chiến địa, và đồng ruộng đã tan hoang rồi nên lúa ngại đơm bông. Xót xa trước quê hương lầm than, từng lớp trai phải tạm biệt những người thân yêu để tiếp bước nhau lên đường, hình ảnh đó được nhạc sĩ ẩn dụ bằng câu hát: Thuyền ham đi nên nước còn trông mong. "Ham đi" không có nghĩa là hân hoan phấn khởi ra đi, mà là sự quyết tâm không sờn lòng của những người chinh nhân thời tao loạn.

BÀI HƯƠNG CA VÔ TẬN (Trầm Tử Thiêng) - Thái Thanh:

https://www.youtube.com/watch?v=YQHjoFhgGFY

Hát nữa đi Hương, câu nhạc bình thường một giờ đau thương
Hát mãi nghe Hương cho rộn lòng ai ở ngoài chĭến trường

Chờ em ca cho ấm người ra đi
Mình yêu thương trong tuổi đời si mê
Hát nữa đi Hương đón nhau ngày về…

Bài viết này tôi cô đọng về các ý nghĩ "Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng: Tình Yêu, Quê Hương và Cuộc Đời". Có thể nói Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng là ngưới công dân yêu nước, yêu quê hương, nhạc ông trân trọng, lưu luyến với đất nước, dân tộc. Trầm Tử Thiêng sống trọn với cuộc đời tự trọng, nghiêm túc với ca nhân mình, những bài ca ông dành cho tuổi trẻ. Ngoài phong vị nhạc sĩ, ông còn là thầy giáo với phấn bảng và chữ nghĩa. Với tình yêu, âm nhạc Trầm Tử Thiêng:đượm nét lãng mạn trong ý nghĩa thuỷ chung. Do vậy, nhân sinh quan của Trầm Tử Thiêng:theo tôi đã chuyên chở âm nhạc qua 2 yếu tố Tình Yêu, Quê Hương vào trọn Cuộc Đời của mình. Thật ái mộ thay.

Thuỵ Lan,
Los Angeles, ngày 28 tháng 11, năm 2021.

Edited by user Wednesday, August 11, 2021 7:29:09 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#8 Posted : Thursday, August 12, 2021 10:41:45 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Tháng Sáu trời mưa


By Nguyên Tâm
- April 9, 2016

Nguyên Sa là một trong những thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất. Nhạc sĩ phổ thơ của ông nhiều nhất có lẽ là Ngô Thụy Miên. Có thể nói, hầu như bài thơ nào của Nguyên Sa được Ngô Thụy Miên (chọn) phổ nhạc đều hay cả. Nói rõ hơn, thơ cũng hay mà nhạc cũng hay; như Paris Có Gì Lạ Không Em, Áo Lụa Hà Đông, Tuổi Mười Ba… Những ca khúc ấy, thơ và nhạc như quyện vào nhau, được người ta nghe đi nghe lại, hát đi hát lại suốt gần nửa thế kỷ qua.

Tuy nhiên, có một bài thơ của Nguyên Sa được Ngô Thụy Miên phổ nhạc, cũng rất nổi tiếng, nhưng không phải nhờ công của Ngô Thụy Miên, mà là của nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm.

Nguyên Sa và Hoàng Thanh Tâm

Năm 1984, Ngô Thụy Miên phổ nhạc bài thơ ấy nhưng không được nhiều ca sĩ hát. Nếu được nghe người nào hát, không mấy ai muốn nghe đi nghe lại.

Lý do vì giai điệu không có gì đặc biệt mà người nghe thường thấy trong nhạc Ngô Thụy Miên. Nói dở thì không hẳn là dở nhưng rõ ràng nhạc không hay, rất bình thường. Giai điệu nghe cứ ngang ngang, đều đều, lạt lạt, thiếu thiếu… gì đấy! Thậm chí, nghe hai ba lần rồi vẫn không nhớ nhạc hát như thế nào.

Bỗng từ năm 1987, ca khúc Tháng Sáu Trời Mưa trở nên nổi tiếng, ai cũng (thích) hát, không riêng gì giới ca sĩ. Đấy cũng là thời điểm của tiếng hát Ngọc Lan… lan rộng khắp nơi, từ hải ngoại về đến trong nước.

Bài hát ấy theo tiếng hát Ngọc Lan đến với nhiều người. Và… nhiều người nhớ mang máng bài này hình như của Ngô Thụy Miên! Lý do là nạn thâu băng nhạc lậu ở Việt Nam đã có từ hồi ấy. Các “cửa hàng” kinh doanh băng đĩa nhạc thường kiêm luôn dịch vụ thâu nhạc “chọn lọc”. Khách cứ nói mình thích bài đó bài kia do ca sĩ này ca sĩ nọ hát rồi cửa hàng thâu đầy một băng… cassette. Trên hộp băng chỉ ghi (tay) mục lục thứ tự tên bài hát; còn tên tác giả thì không ai bận tâm. Những băng nhạc “chọn lọc” kiểu này tràn lan khắp Việt Nam giai đoạn ấy.

Ở hải ngoại thì hầu như nhà nào cũng có máy nghe và thâu nhạc nên bạn bè ai thích bài nào thì mình thâu tặng bài đó; cũng “làm biếng” ghi tên tác giả! Lâu ngày, rất nhiều người cứ tưởng cái bài Tháng Sáu Trời Mưa mà mình thích là của Ngô Thụy Miên.

Thật sự, đấy chính là bản phổ nhạc của Hoàng Thanh Tâm khi ông ở bên Úc năm 1987. Chính ông lúc ấy cũng không hề biết nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã phổ nhạc bài này trước đó 3 năm.

Bản của Hoàng Thanh Tâm đến với công chúng lần đầu tiên qua giọng hát Thái Hiền.

Một lý do khác khiến sự nhầm lẫn này càng phổ biến là nhiều người, giống như nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm, không biết Ngô Thụy Miên cũng có một bản trùng tên trước đó. Có một số người nghe nói Ngô Thụy Miên phổ nhạc bài này nhưng lại chưa hề được nghe chính bản nhạc đó. Thành ra, cứ đinh ninh bản “Hoàng Thanh Tâm” là của Ngô Thụy Miên!

Thậm chí sau này có internet rồi Youtube, không ít người còn nghĩ người ta viết lộn tên tác giả khi thấy tên Hoàng Thanh Tâm. Công bằng mà nói, một phần cũng vì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên không chỉ là bậc đàn anh trong làng sáng tác ca khúc mà sự nổi tiếng của ông cũng hơn hẳn nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm; nhất là những bài phổ thơ của Nguyên Sa.

Trong một chương trình nhạc Hoàng Thanh Tâm tại Úc năm 2011, chính tác giả lên sân khấu tâm sự với khán giả và nói rằng đây là nhạc phẩm tiêu biểu nhất trong cuộc đời sáng tác của ông.

Ông viết ở một căn phòng nhỏ dành cho người độc thân trong một đêm mưa gió, cũng vào Tháng Sáu. Một tác phẩm rất tâm đắc như thế lại bị hiểu nhầm của người khác thì không có gì khổ tâm bằng! Thà bị như những nhạc sĩ khác viết ca khúc mà không được trả tiền bản quyền hoặc không được nhắc đến tên, còn đỡ khổ (tâm) hơn. Tâm lý chung của nhiều người nghe nhạc, chỉ chú trọng đến bài hát và ca sĩ mà ít quan tâm đến nhạc sĩ. Có một thời người ta phát hành băng nhạc mà không thèm ghi tên tác giả ca khúc.

Không phải vì họ không cần trả tiền bản quyền tác giả mà chính vì họ biết đa số người mua băng cũng chẳng bận tâm gì lắm. Những sự vô tình ấy đôi khi gây ra những thiệt thòi về vật chất và mất mát về tinh thần đối với người nhạc sĩ.

Không ít nhạc sĩ có nhiều ca khúc được ưa chuộng nhưng chính bản thân họ sống trong nghèo khổ giữa sự thờ ơ của người đời như Trúc Phương.

Ngoài bản Tháng Sáu Trời Mưa, Hoàng Thanh Tâm và Ngô Thụy Miên còn “đụng hàng” một lần nữa trong bài thơ Cần Thiết của Nguyên Sa.

Bài này cũng được Hoàng Thanh Tâm phổ nhạc năm 1987; còn Ngô Thụy Miên phổ nhạc năm 1993.

Tuy nhiên, lần này không có rắc rối hoặc nhầm lẫn gì. Một phần, có lẽ, vì cả hai phiên bản không được công chúng đón nhận nồng nhiệt như bản Tháng Sáu Trời Mưa của Hoàng Thanh Tâm.

Phiên bản nổi tiếng này thực ra không khó để phân biệt với bản kia của Ngô Thụy Miên. Ngoài giai điệu khác hẳn nhau, lời ca cũng khác rõ nhiều chỗ. Chẳng hạn của Hoàng Thanh Tâm:

Mình dựa vào nhau cho thuyền ghé bến
Sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn
Mình cầm tay nhau nghe tình dâng sóng nổi
Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn…

Còn của Ngô Thụy Miên:

Đôi mắt em, anh xin, đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya…

Lúc còn sống, có lẽ thi sĩ Nguyên Sa rất vừa ý với những bài của Ngô Thụy Miên phổ nhạc. Không biết riêng trong bản Tháng Sáu Trời Mưa, ông thích bản phổ nhạc của ai hơn?

NT.
Mắt Buồn  
#9 Posted : Thursday, August 12, 2021 11:07:42 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Y Vân, Áng Mây Hồng Của Nhạc Việt


Quỳnh Giao


Y Vân là nhạc sĩ di cư tử Bắc vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève. Cũng từ sau 1954 ông mới được biết đến tên tuổi qua tác phẩm “Lòng Mẹ”, một ca khúc viết về Mẹ được hát nhiều nhất.

Theo lời kể chuyện của nhà văn Duyên Anh, thì Y Vân là người con chí hiếu. Lúc di cư, hai người đi cùng chuyến tầu. Y Vân đi cùng bà mẹ và em trong chuyến vượt tuyến. Hàng ngày Y Vân hầu hạ mẫu thân rất mực hiếu đễ, mà bà mẹ lại rất khó tính, tối ngày la mắng ông, nhưng không bao giờ ông cãi lại hoặc tỏ ý buồn lòng, khó chịu.

Nét hiếu đễ ấy, ít người biết tới khi chỉ nghe ca khúc “Lòng Mẹ” một cách trừu tượng và không chú ý đến tác giả. Riêng với người viết, nhờ được biết ông từ ngày còn bé, Quỳnh Giao nghĩ rằng ông không chỉ hiếu thảo với mẹ mà còn đối xử tử tế, đôn hậu cùng mọi người. Với vóc dáng bé nhỏ nhưng rắn rỏi, nụ cười luôn nở trên môi và nhất là lối nói chuyện rất có duyên, Y Vân làm ai ai cũng quý mến. Ðấy là về con người mà là một con người rất khiêm cung, hiền hòa.

Về nghệ thuật thì thật khó phân biệt và liệt kê thể loại sáng tác tân nhạc của Y Vân. Ông là nhạc sĩ đa tài, viết đủ loại, từ nhạc tình, nhạc quê hương, đến nhạc Blues và nhạc kích động, và còn có tài phổ nhạc vào thơ...

Nói đến tình ca thì điều quan trọng là lời từ. Y Vân là một trong những người viết lời hay nhất của chúng ta. Quỳnh Giao xin đan cử một vài thí dụ.

Hai ca khúc “Ảo Ảnh” và “Ngăn Cách” đều có lời ca tình tứ, thấm thía và sâu sắc như:

“Yêu cho biết bao đêm dài,
Cho quen với nồng cay
Yêu cho thấy bao lâu đài,
Chỉ còn vài trang giấy...

.Yêu nhau trong cuộc đời,
mơ duyên tình dài,
gắn bó đôi lời.
Ta quen nhau một ngày,
thương nhau trọn đời,
giữ cho lâu dài.
Nhưng không ai nào ngờ,
duyên đang mặn mà bỗng đã chia lìa.
.Ðêm chia ly lạnh lùng,
đưa tay một lần,
đến mai không còn...”

Và đây là lời ca bài “Ðừng Lừa Dối Nhau”, ông đề tặng những mối tình dang dở:

Ðừng lừa dối nhau, đừng nói “yêu” khi ta gần nhau.
Ðừng lừa dối nhau, vì biết đâu tin nơi “tình yêu”.
Có những phút mộng mơ, đừng cho ước mơ gợi lòng say sưa.
Thấy khi đôi vai kề, chắc đâu duyên thề, mà mơ...

Bài “Ngăn Cách” được coi là bài tủ của Minh Hiếu, và bài “Ðừng Lừa Dối Nhau” thì khó có ai hát hơn Duy Trác. Trên đây là lời từ về những mối tình đau khổ, bi đát. Nhưng Y Vân cũng sáng tác những bài tình ca hạnh phúc với lời ca trau chuốt, óng ả và thăng hoa hạnh phúc như bài

“Tôi Sẽ Ðưa Em Về”:

Tôi sẽ đưa em về,
về miến đất thân yêu
Về kiếp sống cô liêu,
tình thương không còn thiếu.
Tôi sẽ đưa em về,
miền hoa thơm cỏ biếc,
chiều hôn trên làn tóc,
Mùa Thu in mầu mắt.
Tôi sẽ đưa em về, tôi sẽ đưa em về,
Mà không lo thiếu “Tình Yêu”...

Hay bài “Người Vợ Hiền” sau đây:

Lòng vợ hiền như dòng suối mát
Tình vợ hiền muôn đời thơm ngát
Ðôi mắt huyền như ánh sao đêm,
những khi chờ mong
Người chồng xa vắng...

Ngày nay, đôi khi ta nên đọc lại lời ca thời ấy và so sánh với thời nay thì mới thấy được sự khác biệt của trình độ.

Loại nhạc tình tự quê hương của Y Vân rất dễ hát hay và dĩ nhiên cũng dễ chinh phục cảm tình của người nghe. Những bài “Non Nước Chung Tình”, “Bóng Người Cùng Thôn”, “Ðôi Mái Chèo Trăng”, “Thương Về Năm Cửa Ô Xưa”, “Tình Chàng Ý Thiếp”, “U Hoài”, “Xa Vắng”, v.v. đã trở thành loại ca khúc thành công của cặp song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn Hữu Thiết (“Ðôi Mái Chèo Trăng”), của Thái Thanh (“Thương Về Năm Cửa Ô Xưa”), của Hoàng Oanh (“Tình Chàng Ý Thiếp”) và Thanh Thúy (“U Hoài”) hoặc Thanh Tuyền (“Xa Vắng”)..

Thể điệu Blues rất khó viết ra hồn và cũng khó diễn tả, nhưng các sáng tác loại này của Y Vân đều hát dễ hay và rất thịnh hành vào thời đó. Ðó là “Ðồi Thông” (“ngồi trên đồi vắng, bên gốc cây thông già...”) được ban Thăng Long trình bày rất đẹp. Hoặc “Ngoại Ô Ðèn Vàng” được Thái Châu thâu vào đĩa và bán rất chạy...

Có một ca khúc cùng loại rất hay với lời ca tân kỳ, mà ít được phổ biến là “Dung Nhan Mùa Hạ”:

Khi em tắm nắng,
cho tôi xin hai thước mặt trời,
Vẻ dung nhan thần vệ nữ, ngàn đời...

Y Vân viết vào thập niên 60 bài Chacha đầu tiên để ngợi ca thủ đô miền Nam. Bài “Sài Gòn” này nổi tiếng đến độ khi được hỏi có biết hát nhạc Việt hay nói tiếng Việt không thì lính Mỹ đều hãnh diện xì xồ “Saigon đẹp lắm, Saigon ơi, Saigon ơi!”

Khi cặp song ca kích động nhạc Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trình diễn chung, ít ai để ý là họ hát toàn ca khúc Y Vân viết riêng cho họ. Kể ra thì có rất nhiều, tiêu biểu là những bài “60 Năm Cuộc Ðời”, “Cái Trâm Em Cài”, “Túp Lều Lý Tưởng”, “Tình Yêu Thủy Thủ”, “Lính Ða Tình”, “Một Trăm Phần Trăm” hay “Năm Anh Hai Mươi”... Giờ này còn mấy ai nghe lại để thương người lính và những mối tình lãng mạn thời chinh chiến?

Ðặc biệt Y Vân là người cầu kỳ trong loại thơ phổ nhạc. Ông thường dùng nguyên bài thơ, láy đi láy lại lời thơ làm phần nhạc thêm phong phú. Ðó là những bài “Người Em Sầu Mộng”, phổ thơ Lưu Trọng Lư:

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau buồn.
Ai bảo em ngồi bên song
Cho vương nợ thi nhân.

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ đêm xuân tràn.
Cho tình giăng đầy trước ngõ,
Cho mộng tràn gối chăn...

Quỳnh Giao thì yêu thích nhất bài “Thề Non Nước” do Y Vân phổ thơ Tản Ðà theo nhịp Habanera, nhưng với âm điệu ngũ cung của đất Bắc và lối luyến láy dịu dàng mà giờ này không còn ai hát, nên có thể sẽ tuyệt tích. Thật tiếc lắm thay...!

Nhạc sĩ Y Vân là một tài năng đa dạng, có nét độc đáo riêng. Dù sáng tác trên âm giai Tây phương, nhạc ông vẫn man mác nét buồn cổ kính Ðông phương. Và rất Việt Nam chứ không có hơi hướng Trung Hoa hay Nhật Bản như một số ca khúc viết trên giai điệu Á Ðông.

Ngoài tài sáng tác, Y Vân là một người soạn hòa âm rất chuẩn, và ban nhạc của ông được các đài phát thanh và các hãng sản xuất dĩa nhạc ưu ái mời công tác. Ông cũng có riêng một trung tâm băng nhạc mang tên “Mây Hồng”.

Trước 1975, ông được coi như một trong những nhạc sĩ có đời sống sung túc. Nhưng với bản tính hiền hòa đôn hậu, ông sống bình dị, khiêm tốn. Có lẽ vì thế mà ít người biết đến thực tài của ông...

Vì sao chưa có chương trình riêng về Y Vân để đời nay biết nét tài hoa đa diện của ông ?

Quỳnh Giao

Mắt Buồn  
#10 Posted : Wednesday, August 18, 2021 5:36:49 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Nguyễn Tất Nhiên Nhà Thơ Biểu Tượng


Nguyễn Bảo Hưng

August 16, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

(Viết để tưởng niệm nhà thơ di tản buồn Nguyễn Tất Nhiên, người đã được đặt chân tới Pháp rồi Mỹ, nhưng vẫn chưa toại nguyện, nên đành phải tiép tục cuộc hành trình tìm về Miền Đất Hứa)

Mời mở nghe: Thà Như Giọt Mưa (Thơ Nguyễn Tất Nhiên & Nhạc Phạm Duy)

Tôi không hề quen biết Nguyễn Tất Nhiên và cũng chẳng một lần được tiếp xúc với anh. Lần đầu tôi được biết đến tên anh là khi quanh tôi bỗng vang vang một số câu ca chẳng mấy chốc bỗng trở nên quen thuộc : « Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa… » hoặc « Thà như giọt mưa vỡ trên tương đá !…, Có còn hơn không, có còn hơn không… ». Đó là mấy câu thơ phổ nhạc, lời lẽ dung dị nhưng hình ảnh độc đáo, vần điệu tự nhiên lôi cuốn, dễ thấm sâu tâm thức người nghe. Hồi đó, đang mang tâm sự buồn vì mới phải khoác bộ đồ lính và bị chôn chân tại một nơi đèo heo hút gió. Những lúc phải ngồi nhặt cỏ vê trong Trại, tôi hay buột miệng nhâm nhi mấy câu thi nhạc này. Có lúc tôi còn nghịch ngợm đổi câu : « Ta chạy vòng vòng, ta chạy mòn chân » ra thành : « Ta chạy vòng tròn, ta chạy vòng quanh » rồi khoái chí cười thầm tự nhủ : « Đúng là thơ với thẩn, đúng là thẩn với thơ. Cái anh chàng Nguyễn Tất Nhiên quả khéo chọn cho mình cái tên tiền định. Khi không được ông Phạm Duy nổi hứng phổ nhạc cho một vài bài thơ, thế là bỗng dưng đâm nổi tiếng. »

Sự liên hệ giữa tôi với Nguyễn Tất Nhiên chỉ có vậy, không quá giới hạn mấy câu thi nhạc do quen miệng vẫn thường nghêu ngao hát hỏng. Bẵng đi một thời gian cho mãi tới cuối năm 1992, tôi bỗng nghe tin anh mất và được người bạn gửi cho bản sao chụp một vài bài báo nói về cái chết của anh. Nhờ đó tôi mới biết anh đã đi tìm cái chết bằng tự vẫn trong chiếc Toyota cũ kỹ đậu nhờ tại góc một sân chùa với bộ quần áo nhầu nát, râu tóc lởm chởm. Bên cạnh các bản tin, có khi tôi được đọc đôi ba lời của những người thân quen với anh, nói về anh, nhắc nhở một vài kỷ niệm đã sống với anh, ái ngại cho thân phận anh hoặc bày tỏ lòng trắc ẩn trước cái chết thân tàn ma dại của anh. Nhưng, cát bụi rồi cũng phải trở về với cát bụi, chẳng mấy chốc không ai còn buồn nhắc nhở tới anh nữa. Vả lại, xét cho cùng, với những người còn sống trên thế gian này, có biết bao điều ăn khách hơn để mà nói. Cái vụ cô ca sĩ máy bay bà già vừa tuyển được anh phi công trẻ này. Cái vụ án sex giữa cô thư ký với nhà chính khách khả kinh lúc nào cũng lên mặt đạo đức răn đời này. Rồi lại còn vụ anh chàng khôi ngô tuấn tú, ăn nói thật nhỏ nhẹ dễ thương, ấy vậy mà giết người hàng loạt không gớm tay ; giét xong còn đem xác ra cưa như cưa gỗ không mảy may xúc động… Những vụ việc đó đem khai thác có phải ăn khách biết mấy. Công đâu tốn giấy mực để nói nhiều về một anh chàng nằm chết rũ như dân bụi đời chính cống trong một chiếc xe tồi tàn. Cho dù người chết có là một nhà thơ từng được người đời biết đến. Muốn có thế đứng trong cái xã hội chạy theo danh vọng tiền bạc này cần phải biết mần ăn chút đỉnh. Văn chương, nghệ thuật gì cũng cần có Marketing, phải biết làm Show, phải biết biến nó thành Business. Thời buổi này mà vẫn láng cháng thích kể chuyện tình kiểu chú Cuội mơ tưởng Hằng Nga thì chỉ có nước đi chấm công thất nghiệp. Riêng tôi, tin anh chết có làm tôi phần nào xúc động. Giây lát, tôi liên tưởng tới cái chêt của nhà văn Ernest Hermingway. Nhưng rồi, cũng như mọi người, tôi lại lăn xả vào cuộc sống bon chen để kiếm miếng ăn. Và hình ảnh anh, cuối cùng, cũng bị xóa nhòa trong ký ức.

Mãi tới gần đây, bất ngờ tôi nhận được thư của một cô học trò cũ đã từ lâu không có liên lạc. Trong thư cô cho biết đã quyết định rời hẳn Sài Gòn để về sống ở làng quê thuộc một vùng Tiền giang hẻo lánh, nơi tôi được gửi tới dạy học khi mới ra trường. Trong thư cô đã bày tỏ nỗi niềm qua những hàng chữ như sau:

« Thầy ơi ! Sao thầy không chịu về Việt Nam để biết đến đời sống Sài Gòn ngày nay ra sao. Ít ra thầy cũng phải thực hiện một chuyến di để thăm dân cho biết sự tình chứ. Có về thầy mới biết được Sài Gòn sau thời kỳ mở cửa bước sang kinh tế thị trường đã biết đua đòi thói sống văn minh tiến bộ như thê nào. Có về thầy mới thấy được là Sài Gòn nay đang tái diễn lối sống như thời Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam trước đây, nhưng ở qui mô còn lớn hơn gấp bội. Cũng cảnh những tòa cao tầng sang trọng ngày được dựng thêm, nhưng càng để lộ bộ mặt vênh váo xấc xược bên cạnh nhưng khu nhà ổ chuột càng như chìm ngập giữa những đống rác chất cao như núi. Phố phường tấp nập người, xe như mắc cửi. Phòng trà, quán nhạc karaoké, tiệm ăn mọc lên như nấm. Ai nấy đều hối hả nhớn nhác lo chạy miếng ăn hay giành dật áp phe để được ăn chơi thả dàn. Và bên trên tất cả vẫn là thần đô la ngự trị. Có điều khác là Sài Gòn trước đây em còn nghe được mạch sống ưu tư, em còn được thấy những con người, em còn bắt gặp những tâm hồn. Dẫu sao thì bên cạnh những bộ mặt hoạt đầu chính trị, những tướng tá tham nhũng bất tài, những gian thương đầu cơ bất chính, Sài Gòn thời đó còn nặng chĩu một bàu không khí quê hương. Sài Gòn thời đó còn có những cuộc biểu tình xuống đường, còn có những đêm thao thức không ngủ. Và trong cái không khí đấu tranh sôi sục ấy, còn có những con người khắc khoải một nỗi ám ảnh về quê hương đất nước.

Ngày nay giữa một Sài Gòn thanh bình trong lòng đất nước đã độc lập thống nhất, vậy mà em có cảm giác như người người đều hướng ngoại và chỉ thích trọng ngoại, dường như chẳng còn mấy ai buồn nhớ rằng hãy còn một quê hương đang chờ được xây dựng và bảo vệ cả. Hay đúng ra hai chữ quê hương, nếu còn mang một ý nghĩa nào dó, thì nó chỉ đọng lại trong niềm chua xót của những con người, dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến, đã từng chấp nhận xả thân cho lý tưởng bảo vệ quê hương, nay đang bị hắt hủi gạt sang bên lề cuộc sống. Thầy ơi, thầy hãy về đi. Thầy phải về thăm một lần để hiểu dùm em tại sao em không còn tha thiết với Sài Gòn nữa. Em hết muốn ở lại để khỏi phải chứng kiến cảnh những người lính cộng hòa thời trước, nay phải lê lết tấm thân tật nguyền trên chiếc nạng gỗ để kiếm miếng ăn. Họ chỉ biết tìm lẽ sống trong niềm hãnh diện đã dám ở lại chiến đấu tới cùng để sống chêt vì niềm tin, chứ không hốt hoảng bỏ trốn như đám chỉ huy bất tài hèn nhát. Em cũng không muốn ở lại để phải chia sẻ niềm chua xót với nhưng con người từng được tuyên dương dũng sĩ diệt Mỹ cứu nước. Vậy mà nay, cũng vì một dạ sắt son với lý tưởng đấu tranh, họ đành chịu ngán ngẫm trước cảnh các đồng chí đã từng chung lưng đấu cật, nay nhờ có chức vụ và biết tham ô móc ngoặc, đã thản nhiên quay lưng với lý tưởng để được thỏa thuê thụ hưởng với tài sản và quyền hành trong cương vị một đẳng cấp mới.

Thầy ơi, Sài Gòn ngày nay đã trở thành xa hoa tráng lệ hơn khi xưa nhiều ! Nhưng cảng phô bày cảnh xa hoa tráng lệ bao nhiêu, em càng thấy cuộc sống nó lạc điệu bấy nhiêu. Bởi vậy em chán sống ở Sài Gòn lắm. Phải nói là em sợ sống ở Sài Gòn mới đúng. Em không muốn ở lại để phải chứng kiến những cảnh Sài Gòn đổi mới trong giai đoạn mở cửa kinh tế. Em ngại rằng tiền bạc đầu tư được đổ thêm vào, nếu có giúp cho tăng trưởng kinh tế, thì tình trạng này cũng chẳng đem lại cải thiện đồng đều cho toàn xã hội. Sự tăng trưởng, nếu có, rút cục chỉ giúp cho việc huênh hoang tạo thành tích nâng cao được tỉ số đo la về lợi tích bình quân tính theo đầu người ; nhưng thực chất có thể nó còn khoét sâu hố ngăn cách giàu nghèo và đảy đất nước lún thêm trong bãi lầy chậm tiến. Thầy ơi, trước đây khi phong trào đấu tranh sôi sục của học sinh, sinh viên dâng cao, trong làn không khí sặc sụa hơi cay và trước dùi cui thô bạo của cảnh sát dã chiến em chẳng biết sợ là gì. Vậy mà sao bây giờ em lại thấy sợ nhiều điều quá, thầy ơi ! Em sợ cảnh đô la hàng hóa ngày càng tràn ngập thành phố sẽ làm cho con người sài gòn ngày càng bị cướp đoạt linh hồn. Em cũng sợ mỗi lần phải gặp bộ mặt vênh váo trên thân hình béo ngậy của những kẻ từng bị coi là quân bán nước bám đít giặc, nay nhờ có mớ đô la vác về lại được trọng hậu tiếp đón như những bậc chính nhân quân tử : bởi vì những cảnh ngộ đó bắt em cứ phải nhớ lại rằng cuộc đời thực chất bao giờ cũng bất công và tàn nhẫn lắm. Em càng sợ hơn nữa khi có những lúc em tưởng như không còn nhận ra được ngay chính em. Trước đây, thầy cũng biết, em sôi nổi nhiệt tình là thê. Vậy mà ngày nay, mỗi lần nghe nhắc đến nào là độc lập tự do, nào là công bằng xã hội, nào là dân chủ dân quyền, em chỉ nghe lòng mình lạnh giá, tưởng như còn thêm muốn đóng băng. Bởi thế nên em sợ, em sợ, em sợ lắm thầy ơi ! Bởi thế em chi muốn sống xa, xa thiệt xa, sống xa Sài Gòn… ». Cuối thư cô không quên hỏi tôi có còn giữ được cuộn băng nào mang những tình khúc Nguyễn Tất Nhiên hay không ? Cô còn nhắc đến bản nhạc « Thà như giọt mưa… » mà cô rất ưa thích và cũng là bản tôi được nghe cô hát trong một buổi sinh hoạt văn nghệ của nhà trường. Cô cho biết cô đã khóc nhiều khi nghe tin Nguyễn Tất Nhiên mất. Cô khóc vì ý thơ anh đã đem lại cho cô nhiều cảm xúc đẹp. Bởi vậy cô đã khóc cái chết của nhà thơ như khóc cho chính cô, khóc để tiễn đưa một thiên đường đã mất. Nay cô mong được nghe lại những bản nhạc mang ý thơ Nguyên Tất Nhiên, chắc vì muốn được trở về với bàu trời thơ nay đã bị đẩy lui vào dĩ vãng, cái bàu trời thơ đã đùm bọc cô bằng những kỷ niệm ấm áp của thời con gái khi lòng mình chớm biết xôn xao. Thư chỉ có bấy nhiêu hàng chân tình giản dị : nhưng cảm xúc lại tràn đầy, ý tưởng thật súc tích.

Bức thư vẫn nằm trong tay, tôi chưa dứt được nỗi bàng hoàng xúc động. Bức thư tâm tình bộc lộ của cô làm tôi chợt nhớ tới Nguyễn Tất Nhiên và liên tưởng tới thái độ ơ hờ của mình khi nghe anh mất. Tôi cho rằng do môi trường sống khác biệt, những kẻ nay đã làm quen với nếp sống văn minh máy móc tây phương khó mà còn biết rung cảm với ý thơ Nguyễn Tât Nhiên như nhưng con người còn ở lại Việt Nam. Chỉ những con người vẫn sống bám rễ trên mảnh đất còn đói khổ ấy, những con người đã lớn lên trong đau thương đầy máu và nước mắt, và nay vẫn tiếp tục phải đi tìm ý nghĩa cuộc đời trong chất đắng men cay của kiếp người : chỉ có họ thôi mới cảm nhận được hết cái đẹp của ý thơ Nguyễn Tất Nhiên trong trạng thái nguyên thủy của nó.

Hình ảnh Nguyễn Tất Nhiên nằm chết trong chiếc Toyota cũ kỹ bỗng lại hiện về, mỗi lúc một rõ nét, như một tra vấn, như một ám ảnh. Tôi bỗng đâm thắc mắc. Tôi bỗng trở nên ưu tư. Tôi bỗng ham muốn tìm hiểu sâu xa về anh, về con người anh, về quyết định ra đi của anh. Cố lục lọi trong đám băng nhạc cũ bị bỏ só từ lâu, tôi mừng rỡ khi tìm ra cuộn băng « Những năm tình lận đận » mà cô ngỏ ý muốn tôi sang cho một băng cát sét. Tôi dành cả buổi tối để nghe cuộn băng, đặc biệt nghe đi nghe lại bản « Thà như giọt mưa… » qua tiếng hát Lệ Thu (1). Giọng người hát có bị chai đi ít nhiều vì thăng trầm cuộc sống, nhưng tài năng diễn xuất vẫn điêu luyện như thuở nào.

Âm thanh từ máy hát đã dứt từ lâu… Trong bóng đêm bao trùm sự sống lắng đọng, tôi nằm im chờ giấc ngủ, tai như còn nghe vang vang giọng hát điệu nhạc. Những lời ca « Thà như giọt mưa vỗ trên tượng đá… Có còn hơn không ! » vẫn vang vang trở đi trở lại, nhịp nhàng thấm dần tâm thức tôi như những giọt nước còn sót lại của cơn mưa đầu mùa, từ mái tranh vẫn nhỏ đều, nhỏ hiền lành, nhỏ kiên trì, nhỏ tí tách, nhỏ như muốn thấm sâu vào lòng đất nứt nẻ khô cằn, để từ đó làm nẩy lên một mầm mới xanh tươi. Thế rồi tôi bỗng nghe toàn thân tỏa lan một cảm giác trong sáng êm dịu, tươi mát như lần đầu tôi được tiếp xúc thế giới thơ anh. Thì ra không phải nhờ được Phạm Duy phổ nhạc mà thơ Nguyễn Tất Nhiên được người đời biết đến. Chính vì thơ anh chan chứa hồn thơ nên mới gợi hứng chou Phạm Duy muốn đem phổ nhạc. Riêng tôi, càng lắng nghe bản « Thà như giọt mưa… » tôi càng tìm thấy nơi bản tình ca một kỹ năng diễn đạt điêu luyện. Điêu luyện đến mức có thể đem so sánh với những bài thơ thành tựu nhất theo đòi hỏi của Thi phái biểu tượng.(2)

Vào giữa thế kỷ thứ 19 xuất hiện tại Âu châu một trào lưu tư tưởng dẫn đến một hệ thẩm mỹ mới mở đường cho một trường phái sáng tác mới gọi là trường phái biểu tượng hay trường phái tượng trưng (école symboliste). Ra đời vào lúc chủ nghĩa tư bản phôi thai đã bước sang thời kỳ phát triển quá độ, trường phái biểu tượng xuất hiện như một bừng tỉnh của đời sống tâm linh trước xu hướng đương thời ồ ạt chạy theo tiện nghi vật chất. Trên bình diện văn học, nó là phản ứng chống lại trào lưu thời đại bộc lộ óc tôn sùng khoa học thái quá. Vào lúc Ernest Renan với cuốn « L’avenir de la science, (1890) » đặt niềm tin vào khoa học có thể giải quyết toàn bộ vấn đề tri thức cho loài người và nhũng Emile Zola (3), những Paul Bourget(4) muốn áp dụng các phương pháp quan sát và lý luận khoa học vào việc nghiên cứu và mô tả các hiện tượng đời sống xã hội và con người trong văn học, nhà thơ Charles Baudelaire và các đồng môn của ông lại muốn ca ngợi sự hiện hữu của một thế giới siêu việt huyền diệu, huyền bí bên trên cái thế giới của tồn tại hữu hình. Cái thê giới siêu việt ấy chính là cái thế giới của đời sống tâm linh mà ta chỉ có thể gợi lên theo cảm nhận của trực giác chứ không thê mô tả theo ghi nhận của giác quan. Và chỉ với thi ca nay được quan niệm như một phương pháp biểu thị khác, ta mới có khả năng nói lên được tính huyền diệu, huyền bí của thế giới siêu việt ấy. Do đó Baudelaire đã đè xuất một quan niệm mới về thi ca hoàn toàn khác biệt với quan niệm thi ca truyèn thống, đồng thời cũng đánh dấu một cuộc ly dị trong lãnh vực ngôn ngữ giữa thi ca và văn xuôi. Quan niệm mới về thi ca này chính là chủ trương của thi phái biểu tượng hay thi phái tượng trưng (poésie symboliste) (5).

Theo Baudelaire cùng các đồng môn của ông, thơ không cùng chung ngôn ngữ với văn xuôi vì thế giới thi ca và thế giới của văn xuôi là hai thế giới biệt lập. Thế giới thi ca là thế giới siêu việt (transcendant), thế giới ưu tú thuộc về đời sống tâm linh, vượt hẳn lên cái thế giới thực dụng dung tục của giác quan. Do đó thơ phải là một loại ngôn ngữ đặc biệt mang chức năng cao cả nói lên được tính chất siêu việt của đời sống tâm linh. Bản chất khác với văn xuôi, nó không thể -theo quan niệm cổ truyền « poesis ut pictural » (thơ là tô họa) –là cách phát biểu hoa mỹ hơn, có vần điệu hơn, để cũng chỉ nói lên những gì văn xuôi có thể diễn đạt được.

Văn xuôi là ngôn ngữ của thực dụng, ngôn ngữ của kinh nghiệm thực tiễn để nói với lý trí, nói với giác quan. Nó chỉ nêu ra các sự kiện, gây cho ta một ý niệm về các sự kiện hoặc dựng lên trước mắt ta hình tượng một sự vật đã được ghi nhận theo giác quan. Chỉ danh, mô tả hoặc giải thích một sự vật (cái nhà) hay một ý niệm (ái tình) , dễ làm ta liên tưởng tới tới hình ảnh, tới quan niệm ta sẵn có về sự vật, về ý niệm đó. Và do trí óc, trí tưởng tượng đã được thỏa mãn, ta không muốn cố gắng đi sâu xa hơn để vượt qua cái vỏ bên ngoài, đi sâu đến cốt lõi, đi tận vào bản thể của từng sự vật, từng sự kiện được nêu ra. Đối với thế giới hữu hình đã vậy, văn xuôi lại càng bị giới hạn, nếu không muốn nói đôi khi còn bất lực, để nêu lên những trạng thái sống, những hình thức sinh hoạt của tâm linh. Khác với ý niệm hay hình tượng chỉ là phóng chiếu hay sao chụp của một thực tại bỗng trở nên cứng nhắc, mỗi trạng thái tâm linh đều là một thực thể cá biệt, đơn thuần, phong phú và sinh động. Nêu tên hoặc mô tả tức là đem lồng nó vào những khung sẵn có, giản lược nó vào những khuôn mẫu chung chung, làm nó trở nên nghèo nàn khô héo, giết chết tính đặc thù, tính sinh động của nó.

Để bổ xung cho khả năng hữu hạn của văn xuôi, Baudelaire chủ trương thi ca phải là một ngôn ngữ mới, một phương thức biểu thị mới, một cách tiếp cận mới hiện thực (une nouvelle approche de la réalité) để đảm nhiệm một chức năng mới : cho phép ta nói lên những gì mà ngôn từ hàng ngày không thể diễn đạt hết được. (Nhưng thơ cũng không vì thế phải là một cách nói hũ nút, nói tối tăm bí hiểm khiến không ai cảm nhận nổi). Muốn đạt được mục tiêu, thi ca phải chấm dứt ngay cuộc ăn nằm vụng trộm đã từ lâu trót lỡ với văn xuôi. Từ nay thi ca phải thay thế thói quen chỉ danh, mô tả hay kể lể của văn xuôi bằng phương thức ám chỉ, bằng dùng các biểu tượng để gợi ý. Nhờ vào các hình tượng, các biểu tượng để gây liên tưởng, nhờ biết tận dụng khả năng khêu gợi của thanh âm, của màu sắc tiềm ẩn nơi ngôn từ, thi ca sẽ lần lần dẫn dắt người đọc, người nghe hình dung được một cách sinh động, thậm chí cảm thấy như sờ được (6) toàn bộ điều nhà thơ muốn nói lên. Đặc biệt trong công tác này, nhà thơ còn phải dành cho nhạc tính một địa vị ưu thế. Nhạc tính (la musicalité) không chỉ đơn thuần là nhạc điệu (la musique) được tạo thành bởi vần điệu (la rime) và tiết nhịp (le rythme) tức là sự phân bố hài hòa giữa các âm thanh trầm bổng và các điểm nhấn trong câu thơ, trong mạch thơ. Nhạc tính cũng có thể là một hình tượng hay một nhóm từ được sử dụng như nốt nhạc chủ trong một bản nhạc hay như câu đọc lâm râm làm lời niệm chú trong một bản kinh cầu. Nhưng dù dưới dạng thức nào, nhạc tính cũng phải giữ một vai trò chủ chốt vì nó là thành phần có khả năng mê hoặc và gợi cảm nhất. Nhờ nó thi ca sẽ có thêm quyền lực để ru ngủ lý trí, đánh thức dậy những cảm xúc, những ấn tượng còn bị giam cầm nơi tiêm thức, giải thoát chúng được tự do bay bổng, đưa tâm hồn ta đi vào cõi huyền diệu, cõi huyền bí của đời sống tâm linh. Đi vào cõi thơ.

Trên đây là tóm lược nội dung quan điểm về bản chất và chức năng của thơ theo mỹ quan biểu tượng. Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn qua nghiên cứu kỹ năng bộc lộ chất thơ và ý thơ trong bản « Thà như giọt mưa…. » (7).

Đây là một tình khúc như mọi người đều biết. Thế nhưng từ « tình yêu » chỉ được nhắc đến một lần (Ta hỏng tú tài, ta hụt tình yêu). Và nó cũng chỉ được sử dụng theo nghĩa thông dụng, như khi ta nói cái bằng tú tài, cái nhà, cái tủ… Còn lại, ta không hề thấy nào là : đẫm lệ, ướt mi, xót xa, đắng cay, mặn chát…, toàn là những lời lẽ rên rỉ rất được tán thưởng trong giới mộ điệu ưa nghe kể lể những mảnh tình. Chính nhờ vậy mà bản tình ca mới ướt đẫm một không khí yêu đương.

« Người từ trăm năm » là biểu tượng cho người tình muôn thuở, nhân vật không thể thiếu trong bất cứ mọi câu chuyện tình. Tượng đá là biểu tượng cho người đẹp vô tình và những câu « Thà như giọt mưa đến ôm tượng đá… » biểu tượng cho nỗi đam mê thầm kín của chàng trai si tình. Những hình tượng này dệt thành một điệp khúc buồn dàn trải trên chỉ một vài nốt nhạc vẫn khoan thai nhỏ giọt, khiến ta liên tưởng tới một nỗi buồn gậm nhấm dai dẳng.

Mỗi lần điệp khúc trở về là hình ảnh lại hiện lên rõ nét, thêm cụ thể. Từ một biểu tượng phổ quát trừu tượng, người tình muôn thuở trở nên nhân vật có hình hài (người từ trăm năm về phai tóc nhuộm), rồi biến ra cô sinh viên trường Luật, để cuối cùng xuất hiện thành thiếu nữ mang tên Duyên. Hình ảnh tuy được ống kính thu vào mỗi lúc một gần cho vóc dáng hiện ra mỗi lúc thêm đậm nét, nhưng người con gái vẫn giữ nguyên vẻ đẹp xa xăm huyền thoại. Người nghe, do đó, vẫn có thể thoải mái hình dung người đẹp lý tưởng của mình, nhờ tác giả đã không tìm cách giam hãm trí tưởng tượng của ta bằng một vài nét đặc thù (cho dù có là những nét chấm phá thơ mộng, như cặp mắt nai tròn hay nụ cười răng khểnh răng sún gì đó). Và khi bóng dáng người đẹp sáp lại gần cũng là lúc đam mê dồn dập kéo tới. Nhưng ta cũng chỉ bắt gặp những hình ảnh động tác để gợi lên chứ không hề thấy lời tìm cách diễn tả. Vì vậy đam mê càng bộc lộ được hết cường độ của nó.

Giả dụ để tỏ tình, lúc đầu tôi có ý mượn câu nói thường tình dân gian « anh yêu em hết mình », những tưởng ăn nói thiệt thà như vậy cũng đủ cho em thấy rõ cái bộ đồ lòng của tôi nó ra sao rồi. Nhưng suy đi tính lại, tôi thấy tỏ tình kiểu đó vai u thịt bắp quá, chắc khó làm mềm lòng được người em văn nghệ có đôi mắt sầu vạn cổ vẫn thích đứng khép nép bên song cửa. Bởi vậy tôi quyết định phải đi tìm lời lẽ cho được văn chương trữ tình hơn. Cuối cùng, sau khi sưu tầm một số bài hát thuộc loại top ten trong số những đĩa nhạc được mô tả là ăn khách nhất trong các giới mộ điệu thường lưu tới các phòng trà quán nhạc ca rao O.K, tôi đã gạn lọc được một số lời lẽ rất ư là lâm ly ướt át để thảo ra một bản tuyên ngôn tình ái như sau : « Em ơi ! Từ buổi được gặp em, anh vẫn đêm ngày mơ tưởng tới em nằm bên gối mộng. Anh ước ao sẽ có bữa được cùng em ngắm ánh trăng thề. Anh mong tới ngày anh được cùng em sống chung dưới túp lều tranh, anh sao chép văn, em may đồ. Rồi chúng ta sẽ có con đàn cháu đống, tha hồ mà lãnh trợ cấp wellfare, hạnh phúc đùm đề, sống lâu trăm tuổi… Em ơi, em ơi ! Lâu đài tinh ái đó đó, sao em không chịu đén sống cùng anh ? Để anh buồn, để anh đâm tuyệt vọng. Cuối cùng anh chỉ mong được làm con thú đi hoang để quên đi mối sầu nhân thế… ». Ối chao ôi ! Nếu tôi có diễm phúc được làm địa chỉ đáo nhậm cho mấy dòng chữ không những lênh láng văn chương mà còn đầm đìa nước mắt nước mũi, rống lên tiếng lòng nỉ non của chàng trai tơ thèm khát yêu đương khiến con tim phải co thắt bầm rập đến rớm máu ấy, chắc tôi sẽ không tránh khỏi mủi lòng và ngăn nổi đôi hàng châu rơi lã chã…(Ít ra cũng là trong giây lát). Nhưng chắc chắn tôi sẽ không tránh khỏi vấn vương thắc mắc và tò mò muốn biết để tìm hiểu nhiều hơn về mối tình câm nín của chàng trai nào đó, chỉ biết ấp ủ nỗi đam mê muốn trở thành điên loạn của mình trong mấy lời bộc lộ kín đáo như sau :

« Ta chạy vòng vòng, ta chạy mòn chân.
Nào có hay đời cạn, nào có hay cạn đời. »

Hoặc:

“Ta chạy mù đời, ta chạy tàn hơi,
Quỵ té trên đường rồi, sợi tóc vương chân cười. »

Vậy đó. Thơ không phải là một cái lon ông ổng toàn những chữ với nghĩa. Thơ chỉ có là một chuỗi hợp âm chuyên chở được một cõi lòng. Và cõi lòng ấy, Nguyễn Tất Nhiên không chỉ tìm cách khơi động cảm xúc nơi người đọc, người nghe bằng kỹ thuật biểu tượng. Anh còn khéo khai triển ý thơ theo cấu trúc của một tấu khúc cổ điển.

Một tấu khúc cổ điển là một ý nhạc được khai triển qua một số hành âm. Mỗi hành âm là một trở về với ý nhạc nguyên thủy, nhưng với một vài biến dạng để mở rộng hoặc đào sâu khiến ý nhạc thêm phát triển phong phú. Và bản nhạc, cứ thế được triển khai theo đúng qui trình phát triển của sự sống nên, khi những nốt nhạc kết thúc vang lên, người nghe có được cảm giác sung mãn như khi được theo dõi quá trình phát triển biện chứng của một nhất thể sinh động. Tinh khúc của Nguyễn Tất Nhiên cũng vậy. Toàn bài thơ phổ nhạc cũng chỉ là sự trở đi trở về của cùng một điệp khúc. Nhưng mỗi lần điệp khúc được lập lại, ý thơ trở nên rõ rệt hơn và cảm xúc cũng tăng theo. Tất cả những chuẩn bị đó chỉ nhằm dẫn dắt ta đến hình ảnh thi vị cuối cùng : Ước mơ của Nguyễn Tất Nhiên được biến thành giọt nước lăn nhẹ trên làn da có những sợi lông măng của người đẹp vô tình khiến nàng cảm nhận ra mối tình ấp ủ của anh và từ đó phải ăn năn suốt đời. Hình ảnh gợi lên đẹp thiệt đẹp. Đẹp thanh tao. Đẹp tinh khiết. Dẹp mơn trớn với tôn thờ. Đẹp lãng mạn rất ngộ nghĩnh trẻ thơ. Đẹp khiến người đọc, người nghe phải mỉm cười xúc động. Xúc động trong thoáng bâng khuâng mơ màng.

Tôi không biết Nguyễn Tất Nhiên có nghiên cứu về thi phái biểu tương ? Anh có thích nghe nhạc cổ điển tây phương ? Nhưng nghệ thuật diễn đạt qua bản tình khúc của anh quả dã thành tựu đến mức thỏa mãn được những ai vốn có một trình độ thưởng ngoạn cao. Thực ra Nguyễn Tất Nhiên không làm thơ : anh chỉ bộc lộ chất thơ toát ra từ cuộc sống. Chính vì thê mà thơ anh đã mang tính chất thành tựu.

Cuộc sống tự nó đã là thơ rồi. Chất thơ đó bàng bạc trong từng biểu hiện đơn sơ, bình dị của đời sống hàng ngày. Nhưng vì nó quá gần gũi, đã quen thuộc nên trở thành tầm thường trước con mắt người đời. Và có lẽ chỉ những ai còn sống đơn thuần, còn sống chân phương, còn biết sống giao cảm với tự nhiên – hoặc phải là những con người có thừa kinh nghiệm sống – mới cảm nhận được chất thơ đó.

« Chúa ơi, Chúa ơi, cuộc sống là dó đó,
Đơn giản và thầm lặng.
Là những tiếng rì rầm bình thản
Đến tự nơi thành phố kìa. »

Có lẽ trong đời cần phải được một lần ngồi tù như Verlaine(8), ta mới biết thiết tha với những cái đơn sơ hèn mọn của cuộc sống hàng ngày vẫn diễn ra bên ngoài khung cửa sổ. Cũng cần phải có may mắn như ông, được ngồi hàng giờ trong bóng tối ta mới biết chiêm ngưỡng những hạt nắng lung linh trên vòm lá xanh tươi, thèm khát được làm chú chim non chiu chít trên cành. Và có lẽ chỉ những lúc phải ngồi bó gối trong căn phòng hẹp, đếm tháng ngày lặng lẽ trôi qua, ta mới có được sự tịnh tâm để đón nghe hơi thở nồng ấm của sự sống vẫn rón rén quanh ta. Rón rén sẵn sàng đến bên ta. Đến bằng những bước chân nhè nhẹ. Đến tự nơi thành phố lao xao. Đến với tiếng ngân nga từ gác chuông nhà thờ. Và có lẽ chỉ trong những giờ phút ấy, ta mới biết gục đầu nuối tiếc trong mấy tiếng nấc nghẹn ngào :

« Thế còn mi, phải chính mi đó
Sao cứ khóc than hoài.
Mi hỡi, hãy nói đi, mi đã làm chi
Với tuổi thanh xuân ấy ? (9)

Hình tượng và lời lẽ trong mấy câu thơ của Verlaine bình dị trong sáng là thế. Vậy mà mấy câu thơ ấy vẫn làm tôi bồi hồi xúc động. Càng về sau, càng lạc vào mê lộ cuộc đời, mỗi lần bắt gặp mấy câu thơ này, tôi càng khao khát được uống nước suối nguồn, háo hức tìm về những cảm xúc nguyên thủy, chứa chan men thơ cuộc sống.

Thơ do đó không phải chỉ có là sự tìm tòi một phương thức biểu thị. Thơ chủ yếu nằm trong phong cách của cái nhìn. Nhìn bằng cạp mắt khai phá, nhìn bằng cặp mắt xuyên phá để tìm đến Chân, Thiện, Mỹ. Sau đó, nếu cần, nhà thơ mới phải đi tìm một ngôn ngữ mới để nói lên cái mình biết nhìn ra, trong khi người khác mới chỉ ngó thấy (10). Cũng bởi là tiếng nói của Chân, Thiện, Mỹ nên ngôn ngữ thơ chỉ có thể là những lời nói chân phương. Thơ không hề là một trò chơi văn chương để tạo ra ảo giác. Nó không phải là một màn biểu diễn đu bay với chữ nghĩa theo tuồng sơn đông mãi võ. Nó cũng không phải là một sự tìm tòi lời chau chuốt óng ả để đem cái diêm dúa phủ lên một vũng bầy hầy. Thơ thực ra chỉ là một khổ công tìm tòi nhằm phục hồi tiết hạnh cho chữ nghĩa ngày càng phải mang thân phận điếm thúi do người sử dụng đã quen thói dày vò đày đọa nó. Hay nói khác đi, thơ chính là biết dùng sức công phá của tiếng, của lời để làm bật dậy những nguồn sống nguyên trinh còn bị vùi lấp dưới cái vỏ cằn cỗi của những thói đời đã trở nên xếp nếp. Bởi vậy công trình sáng tạo của nhà thơ phải là đem cái nhìn xuyên phá, cái nhìn khai phá để tìm ra những vùng đát lạ hoặc khai thông cho những mạch sống còn bị vùi lấp dưới bức màn sặc sỡ của đời sống hàng ngày. Đi tìm mới lạ bằng những thủ thuật gò ép giả tạo, thật không có gì phản lại thơ cho bằng. Xét cho cùng, thơ khác với những cái không phải là thơ vì nó không dừng lại ở các hiện tượng, ở cái vỏ dáng dấp bề ngoài. Thơ không phản ánh các cách thế tồn tại trong đời sống. Thơ dẫn dắt ta tìm đến những nguồn sáng tạo của sức sống. Thơ là bản thể đời sống. Thơ thể hiện chân lý cuộc sống. Thơ chính là sự sống. Bởi vậy thơ, nếu đích thực là thơ, chẳng cần nhờ ai làm dáng cho nó cả. Vì là tiếng nói của mạch sống tuôn trào, nên thơ tự xuất hiện trong nguyên trạng của nó và gây cảm hứng nơi ta. Do đó đặc tính của thơ bao giờ cũng là năng lực truyền cảm. Ánh mắt, tiếng cười trẻ thơ vẫn làm ta rung động bởi vì men thơ cuộc sống còn được bảo toàn nguyên vẹn trong lời nói chân thật, tiếng cười nắc nẻ, tia nhìn bỡ ngỡ của trẻ thơ. Chỉ có người lớn khi cặp mắt đã đục ngầu vì những toan tính dục vọng, con tim thì khô quắt lại mới cần mút ngón tay miệng nói “em chã, em chã…” để sáng tác ra thơ. Bởi vậy, thay vì đi tìm chữ nghĩa kiểu cọ để viết lách, người làm thơ muốn được trở thành nhà thơ cần phải học sống thơ trước đã. Có biết sống thơ mới tìm được lại cho mình một tâm hồn thơ. Có tìm lại được tâm hồn thơ mới biết đem cái nhìn thơ vào đời.

Nguyễn Bảo Hưng
(còn tiếp)

Edited by user Wednesday, August 18, 2021 5:48:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#11 Posted : Wednesday, August 18, 2021 5:42:16 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nguyễn Tất Nhiên Nhà Thơ Biểu Tượng(tt)


Nguyễn Bảo Hưng

August 16, 2021 | by Ban Tu Thư | 0


Giờ ta hãy trở về với tình khúc “Thà như giọt mưa…” của Nguyễn Tất Nhiên. Lời lẽ và ý thơ trong bản tình ca đã gây ấn tượng sâu sắc cho cả một thế hệ bởi vì nó phản ánh trung thực tâm trạng thanh niên đương thời. Hồi đó người ta yêu thơ Nguyễn Tất Nhiên, người ta bị cuốn hút vào thế giới thơ anh, không phải do Nguyễn Tất Nhiên muốn sống vượt trội hơn người, muốn biến mình thành một thứ siêu sao thời đại. Trái lại, chính vì anh đã biết sống âm thầm, sống lặng lẽ. Có thể anh còn muốn sống chìm khuất hơn mọi người để có thể lắng nghe từng hơi thở, từng mạch đập của cuốc sống hàng ngày. Bởi vậy nên mỗi lời, mỗi tiếng anh dùng đều có âm thanh lanh lảnh của một kim loại được un đúc tự cuộc sống. Chúng không phải là tiếng kêu lẻng sẻng của một dúm bạc cắc vẫn được chuyền tay nhau giữa mọi người. Cũng vì vậy ta mới thấy chất thơ bộc lộ trọn vẹn ở chính các đoạn ta không tìm ra vết tích mưu tìm tác dụng văn chương trong chữ nghĩa. Có chăng chỉ toàn là tiếng, là lời tức là những âm ta tìm cách phát ra khi muốn chỉ định các sự vật ta mới phát hiện lần đầu. Chính vì thế mà các sự vật bỗng như được phục sinh trong nguyên trạng nên càng có khả năng lay động tâm hồn những ai đã từng có chung vốn sống.

Ta hãy lắng nghe mấy câu than thở như sau:

“Ta hỏng thi rồi, ta hụt tình yêu.
Thi hỏng tú tài, ta đợi ngày đi.
Đau lòng ta muốn khóc, đau lòng ta muốn khóc!

Với những ai vẫn quen với lối viết văn gồng mình hoặc chỉ tìm ra cảm xúc trước cảnh thịt rơi máu chảy trong những pha chém giết ngoạn mục còn được làm tăng choáng ngợp nhờ kỹ xảo dàn dựng hiện đại của những đại phim trường Hollywood với kinh phí kỷ lục hang trăm triệu mỹ kim, thì mấy lời than vãn ấy, chao ôi, nghe mới thấy tẻ nhạt làm sao! Thấy chúng còn hèn mọn thê thảm phát tội nghiệp. Nhưng với những con người từng bị xoáy hút trong cơn lốc của thời Nguyễn Tất Nhiên, đã phải chia sẻ những cảm xúc tâm tư như anh, thì đặt trong khuôn khổ bản tình ca, chúng lại là thơ.

Lớp trẻ Việt Nam ngày nay đã làm quen với nếp sống Âu Mỹ, lớn lên được nuôi dưỡng bằng các kỹ thuật truyền thông internet, thích chuyển cho nhau coi những bản tin chấn động qua mạng, thường thuộc loại fakenews, nhưng cốt để gây shocks. Bằng không lại rủ nhau quay cuồng nhún nhẩy trong trong những vũ điệu cuồng loạn theo nhạc disco. Mới nứt mắt, miệng còn hoi sữa đã thuộc nằm lòng tên các cô đào trong những bộ phim X thuộc loại hard. Đã thế lại còn thích học đòi làm Rambo thời dại, chỉ cần một cái nhìn kên nhau cũng đủ rút súng bắn loạn để chết nhiều khi thật lãng nhách; lớp trẻ đó làm sao cảm thấy nổi niềm đau nhức nhối được gói trọn trong mấy tiếng thở dài uất hận ấy.

Phải sống ở miền nam Việt Nam vào những năm đầu của thập niên 70, nơi đang diễn ra những trận đánh khốc liệt như Phan Nhật Nam đã ghi lại trong “Mùa hè đỏ lửa”. Phải có những đêm ngồi cô đơn bên tách cà phê nơi quán nhỏ đầu ngõ, lắng nghe tiếng đại bác xa xăm vọng về, để thêm xót xa cho thân phận mình và tiếc thương thằng bạn thân mới ngày nào còn hàn huyên tâm sự, nay đã có tin gục ngã nơi chiến trường.

Nhưng cũng phải có lúc được đi trên những con đường có cây dài bóng mát; những con đường mang tên Duy Tân, Thống Nhất đầy kỷ niệm. Vì nơi đây có những cô sinh viên trường Luật. Vì nơi đây có những nữ sinh trong tà áo trắng thướt tha duyên dáng. Vì nơi đây có một lần ta chợt gặp nàng thiếu nữ khẽ “nghiêng nón hé môi cười” (lời thơ Nguyên Sa). Thê là ta bỗng thấy cả một bàu trời thơ mở rộng giữa cái không khí ngột ngạt sôi động của Sài Gòn trong những ngày đầu tháng Sáu. Thế là con tim ta đang tuổi thanh xuân đã một lần xao động và bỗng tha thiết yêu đời.

Nhưng rồi cũng có lúc phải tần ngần đứng trước cổng trường thi: đầu thì choáng váng, mắt thì hoa lên vì tìm mãi không thấy tên mình trên những trang giấy đánh máy đen kịt.

Thôi thế là xong, chiếc phao cuối cùng đã tan thành bọt biển!

Thôi thê là hết, hết thật rồi! Còn gì đâu nữa mà mong mà chờ…

Đường phố đã lên đèn… Ôi! cũng con đường này ta mới đi qua, sao khi nãy ta lại thấy chan hòa ánh sáng. Sao khi nãy ta còn nghe rộn rã tiếng chim ca. Sao khi nãy lòng ta lại rộn ràng hi vọng. Vậy mà cũng con đường này, sao giờ đây ta lại thấy nó buồn thảm. Và sao ta thấy nó bỗng trở nên dài. Dài thiệt dài. Dài hun hút. Và sao cũng mãi giờ này ta mới cảm thấy cái nặng chịch của sợi xích cùn dễ đã từ lâu ta không nhớ tra dàu. Trước măt ta giờ đây chỉ còn là vực thẳm. Là cái lệnh gọi nhập ngũ đang chực sẵn ở nhà. Là chín tháng quân trường dầm mưa dãi nắng. Là nỗi hồi hộp lo âu ngày ra trường chọn đơn vị. Là một tiền đồn nào đó nơi đèo heo hút gió. Và cuối con đường có thể còn là chiếc quan tài đã chờ sẵn, trên có phủ màu cờ với vòng hoa lạnh lẽo kèm thêm bốn chữ “Tổ quốc tri ân”.

Thảm kịch của tuổi trẻ miền nam Việt Nam ỏ những năm đầu của thập niên 70 là thế đó. Và Nguyễn Tất Nhiên đã sống đằm mình trong thảm kịch này. Anh đã sống đày đủ. Sống nhiệt tình. Sống trọn vẹn. Như mọi thanh niên cùng lứa tuổi.

Nếu Nguyễn Tất Nhiên học làm thơ, có thể anh đã ỉ ôi dài dòng kể lể. Có thể anh đã tập gồng mình. Có thể anh đã học đòi lộng ngôn. Có thể anh cũng lôi ra một vài khuôn sáo tuy đã mòn nhẵn, nhưng vẫn đem ra hầm lại cho chúng được chín nhừ hơn nữa. Có thể anh còn muốn chơi trội, tìm cách làm sướng cái đầu để pha chế ra một thứ ngôn từ hú họa hù hè hay ho hợm hĩnh. Với kết quả là bằng cách nào đi chăng nữa, anh cũng chỉ để lại cho người đời dăm bảy câu ca bán cao chữa mụn cóc. Nhưng Nguyễn Tất Nhiên không sống cốt đẻ làm thơ. Anh chỉ muốn được sống như thơ. Đúng ra anh đã sống chân phương, sống nhiệt tình. Sống để tiếp nhạn mọi cảm xúc trong trạng thái nguyên thủy của chúng. Chính vì vậy mà mọi cảm xúc đã đến với anh đều mạnh. Mạnh thiệt mạnh. Mạnh đến ứa lên thành lời. Để những lời đó biến thành thơ.

“Ta trượt tú tài, ta hụt tình yêu.
Thi hỏng mất rồi, ta đợi ngày đi;
Đau lòng ta muốn khóc, đau lòng ta muốn khóc!”

Vỏn vẹn chỉ có vài lời, vài tiếng thế thôi. Nhưng tình cảm sao đầy ắp. Ý tưởng lại chật ních. Còn cảm xúc thì đặc quánh lại. Cứ như một nén cao hổ cốt thứ thiệt!

Lòng mới xao động chớm biết yêu, còn chưa biết được thế nào là men say ngây ngất của tình yêu. Vậy mà trước mắt đã là cả một vực thẳm đen tối. Vậy mà trước mắt đã thấy cả một cuộc sống bị đe dọa. Thế nhưng Nguyễn Tất Nhiên vẫn không muốn biết đén tuyệt vọng. Anh tuy đã phải sống trong thất vọng. Anh tuy đã phải sống trong khổ đau. Nhưng anh không hề tuyệt vọng. Anh không tuyệt vọng vì cuộc sống với anh còn mang nhiều ý nghĩa. Anh không tuyệt vọng vì nơi đây còn có những thiếu nữ biết e ấp cười duyên làm tim anh phải xao động, cho hồn anh được mở cửa đón nhận cả một bàu trời thơ. Anh không tuyệt vọng vì nơi đây còn có những thằng bạn thân để tối tối anh được hàn huyên tâm sự bên quán cà phê đầu ngõ. Bởi vậy người đẹp dẫu có vô tình, cuộc đời tuy có bạc đãi, nhưng Nguyễn Tất Nhiên vẫn thấy thương đời. Bởi vậy đêm đêm tiếng đại bác càng vọng về đe dọa, anh lại càng thèm sống, càng khao khát sống. Và anh đã không ngần ngại thốt lên:

“Có còn hơn không!
Có còn hơn không!”

Bốn chữ “Có còn hơn không, có còn hơn không” , lập đi lập lại như một nhắc nhở thiết thân, thực ra đã nói lên sự gắn bó không rời của anh với sự sống. Nguyễn Tất Nhiên vẫn muốn sống, còn ham sống vì dẫu sao cuộc sống nơi đây với anh vẫn còn ý nghĩa. Nguyễn Tất Nhiên vẫn còn thèm sống vì nơi đây anh không cảm thấy phải sống trân trân, sống như một hiện diện ù lì, sống như một tồn tại thừa thãi vô vị, sông như một đống thịt chỉ biết hưởng thụ, sống cốt để đến lúc toàn thân đã run lẩy bẩy, hai chân còn muốn đạp tanh tách để cốt vớt vát ựa thêm ra được một chút khoái lạc. Không! Nguyễn Tất Nhiên không muốn sống để cốt chỉ được có vậy. Sở dĩ anh không sợ sống, chưa biết chán sống vì anh cảm thấy con tim anh còn biết co thắt làm mạch máu anh vẫn chảy mạnh. Anh vẫn khao khát sống vì cảm thấy nơi anh còn rạt rào cảm xúc, cho dù là những cảm xúc của thất vọng, của buồn tủi, của khắc khoải lo âu. Bởi vậy anh sẵn sàng sống. Sống để chấp nhận, chấp nhận tất cả. Chấp nhận sống để phải yêu trong câm nín. Chấp nhận sống để phải tiếc thương những thằng bạn thân. Chấp nhận sống để phải xót xa cho thân phận mình. Chấp nhận sống để được tham dự vào thẩm kịch lớn của thời đại. Sống! Sống! Sống! Sống như một chấp nhận. Chấp nhận sống để ít ra cũng đảm nhiệm trọn vẹn thân phận con người.

“Có còn hơn không!
Có còn hơn không!”

Điệp khúc này ta cần hiểu như tuyên ngôn của một ý thức hiện hữu, chứ không phải là tiếng thở dài cam phận của một kiếp sống vật vờ.

Nhận thức được ý nghĩa cảm xúc bộc lộ qua bàn tình ca này làm thức dậy nơi tôi sự ham muốn tìm hiểu sâu xa hơn về con người anh, về hành trình còn lại của đời anh, về quyết định tối hậu ra đi của anh và về ý nghĩa của sự lựa chọn này.

Sau ngày 30-4-1975, thời gian còn kẹt lại ở Việt Nam, Nguyễn Tất Nhiên đã sinh sống ra sao ? Tôi nào có biết. Lo lắng cho số phận mình chưa xong, tôi đâu có thì giờ quan tâm đến chuyện người khác, nhất là giữa anh và tôi chẳng có một mối liên hệ thân tình nào. Mãi sau này tôi mới biết anh đã vượt biên trốn khỏi Việt Nam vào năm 1978. Thời gian ba năm kẹt lại ở Việt Nam anh có phải đi cải tạo như tôi, hay may mắn không thuộc diện phải ra trình diện học tập ? Nhưng dẫu có thế nào chăng nữa, tôi cũng phỏng đoán là anh không thể thích nghi với khung cảnh sống đột ngột đổi mới này. Bản chất con người thơ chân phương, chắc chắn anh cảm thấy bị chết ngộp trong cuộc sống khuôn đúc chỉ đòi rập ra một loại tình cảm đơn điệu. Làm sao anh tìm ra được cảm hứng trước cảnh người người buộc phải đeo mặt nạ để làm bộ nhảy múa reo mừng. Bởi vậy bất chấp gian nan hiểm nghèo, anh quyết định tìm đường ra đi. Anh tìm đường ra đi do thôi thúc của hồn thơ sáng tạo, như cánh én tìm về phương nam nắng ấm theo tiếng gọi của bản năng. Phương nam, với anh, là không khí tự do trong lành, diều kiện phát triển hồn thơ anh. Và ước mơ của anh trở thành hiện thực : Sau bao gian nan trắc trở, cuối cùng anh được đặt chân lên đất Pháp, quốc gia đầu tiên tiếp nhận anh là dân tị nạn.

Pháp quốc ! Đất nước của Cách Mạng 1789. Cái nôi của Bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Quê hương của Victor Hugo, của Lamartine, của Baudelaire, của Prévert…, những nhà thơ đã bao lần anh được nghe nhắc tên tuổi… Ôi ! Ba Lê, thủ đô của ánh sáng, trung tâm văn hóa nghệ thuật thế giới ! Cái địa danh mỗi lần được nghe nhắc đến đã làm dấy lên trong anh biết bao ước mơ thầm kín, nay không ngờ lại trở thành hiện thực. Nhưng sau vài buổi đi dạo trên đại lộ Champs-Elysées như một du khách nhàn hạ, nhìn ngắm những cửa tiệm nguy nga tráng lệ, các dòng người qua lại như mắc cửi, chẳng mấy chốc cái tâm trạng lâng lâng phơi phới ấy đã biến đi để nhường chỗ cho một nỗi ê chề buồn tủi khi anh phải đối diện với hiện thực. Ôi, Tự Do ! Tự Do ! Hai chữ Tự Do anh hằng mơ ước chỉ có là vậy sao ? Ở Việt Nam sau 75, vì không được sống và bày tỏ cảm xúc theo ý muốn, anh ao ước tự do, thèm khát được ca ngợi tự do. Nhưng nay được sống trên mảnh đất tự do, sự háo hức ca ngợi tự do nay chỉ như một đống tro tàn. Ở một xứ mà tự do đã trở thành thứ không khí thở hít hàng ngày, mấy ai còn cần tới anh ca tụng hai chữ Tự Do nữa. Riêng với bản thân anh, hai chữ Tự Do nay cũng chỉ đồng nghĩa với tấm thẻ tị nạn công nhận anh được quyền sinh sống và tìm kiếm công ăn việc làm trên đất Pháp mà thôi. Và anh đã bộc lộ nỗi niềm thất vọng đầu tiên bằng lời lẽ cay đắng như sau :

kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lành
nhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất
kẻ leo rào đã chụp được Tự Do
nhưng tức thời buông tay bổ ngửa
là ta.
(Nguyễn Tất Nhiên : « Chuông Mơ, Paris, khúc tháng chin », tr.8. Văn Nghệ xuất bản – California 1987)

Trước đây, khi còn ở Việt Nam, anh đã được nghe ca tụng biết bao điều về Paris . Nào là thủ đô của ánh sáng, nào là trung tâm của văn hóa nghệ thuật, nào là ga Lyon đèn vàng nơi đưa tiễn em về xứ mẹ. Rồi lại còn những buổi hẹn hò với người em gái tóc vàng, mắt xanh, sợi nhỏ trong căn gác trọ nữa… Ôi, mấy lời thơ phổ nhạc ấy, mỗi lần nghe có ai cất lời ca, anh lại thấy cuộc đời ở bển sao mà nó ồ mề lý, mế ly đời ta thế …. Nhưng nay có mặt trên xứ sở của văn hóa nghệ thuật rồi, anh lại không tìm ra được nguồn cảm hứng sáng tác. Những lời lẽ diễn tả tâm tình của một vài chàng trai được qua Pháp du học trong khoảng thập niên 1950-60 có thể là những rung cảm chân thành đấy. Nhưng ở cương vị một kẻ tị nạn, nếu anh vẫn đem tâm tình ấy ra hâm lại bằng những vần điệu cũng mang hơi hướng thơ Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, anh biết chắc sẽ chỉ nặn ra được một thứ văn chương văn nghệ, văn chương ảo giác mà thôi. Là con người thơ để nói lên tiếng nói chân thật, anh đành gửi gấm nỗi lòng qua mấy lời lẽ thô kệch như sau :

em thì xa quá xa
làm sao nghe tiếng dội dồn
hơi thở người
vỗ theo từng nấc thang cây xưa rích
Paris
ta mỗi bữa lếch thếch leo
mút bảy tầng
sống – tóc cọ quẹt nóc nhà
sống – nơi đặc biệt
dành riêng cho hạng ở đợ.
(Chuông Mơ, bdd. tr.9)

Phải chăng tâm sự ê chề này đã thúc đẩy anh rời bỏ cái xứ sở anh hằng mơ ước để xin tới định cư tại quận Cam bang California có nhiều nắng ấm, là nơi anh nghe nói tề tựu hầu hết tập thể người Việt tị nạn và cũng là nơi anh mong tìm lại được bàu không khí quê hương.
Thời gian lưu lạc tại Mỹ, anh sinh sống ra sao ? Tôi không may mắn, ít có hân hạnh được quen biết nhiều các giới văn nghệ sĩ nên không có điều kiện để thăm hỏi những gì họ biết về anh. Nhưng có lẽ nhờ vậy, tôi đỡ tốn thì giờ, mất công lọc lựa để lấy ra một vài dữ kiện hữu ích trong số các mẩu tin thuật lại, phần đông thường là giai thoại có thêm mắm thêm muối để tăng phần hấp dẫn. Rút cục, tôi đành trông cậy vào mớ tư liệu cỏn con tôi gom góp được. Cái mớ tư liệu ấy, vỏn vẹn chỉ có một số ít bài thơ của anh và dăm ba bài báo nói về cái chêt của anh hoặc nhắc nhở tới anh. Tư liệu như vậy, quả là có ít. Nhưng may mắn thay, trong số này lại lọt vào một bài viết đặc biệt của Khánh Trường.

Khánh Trường ! Cái tên ngày nay ít ai còn nhớ tới hoặc buồn nhắc tới. Và họa hoằn nếu còn được nhắc đến thì cũng như là họa sĩ hơn là nhà văn, nhà báo. Vậy mà cũng cái tên ấy, trong năm đầu của thâp niên chót thế kỷ trước, đã có lần gây náo động trong giới cao thủ võ lâm chuyên nghề múa bút ở hải ngoại vì cho ra mắt tạp chí Hợp Lưu với chủ trương đi tìm sự hòa giải hòa hợp bằng con đường văn hóa dân tộc và nhân bản (11). Nhưng hôm nay tôi có nhắc đến Khánh Trường, không phải để nói về anh, mà vì cái bài anh viết về Nguyễn Tất Nhiên trên tờ Hợp Lưu số 58 tháng 3&4 năm 2001 khi anh còn đứng tên chủ biên và giữ mục ngày… tháng… dưới bút hiệu Kim Thi. Trong bài viết này, phần nói về Nguyễn Tất Nhiên vỏn vẹn có bảy trang thôi (H.L 58, tr.218-224). Nhưng với tôi, đây là một tài liệu quí giá còn hơn cả thỏi vàng ròng : Vào buổi chạng vạng tối giữa mùa đông rét mướt, có kẻ lại thích lang thang vào nghĩa trang đi tìm sưởi ấm tâm hồn giữa những tấm mộ bia, thì những điều người ấy nói lên về một con người đã khuất, tôi tin phải là lời lẽ của một tấm lòng. Bởi vậy, bằng một phương pháp tiếp cận văn học mới và dựa trên những điều Khánh Trường viết ra, tôi hi vọng có thể tìm hiểu thêm về con người thơ Nguyễn Tất Nhiên, diễn biến tâm hồn anh trong giai đoạn cuối đời để rồi đi đến quyết định tối hậu (ít ra là cũng theo óc tưởng tượng và cảm nhận của riêng tôi).

Những ngày đầu được sống trong khung cảnh sinh hoạt của khu Little Saigon với những cửa tiệm, hàng quán y hệt Sài Gòn và giữa những đồng hương có người chỉ thích nói toàn tiếng Việt làm như không cần biết tiếng Mỹ là gì, anh tưởng mình đã là cánh chim tìm được về tổ ấm. Nhưng chẳng bao lâu cảm giác lạc lõng bơ vơ lại trở vê với anh. Và hơn bao giờ hết anh mới thể nghiệm được điều mà anh đã linh cảm qua mấy lời thơ anh thốt ra tại Việt Nam khi vừa mới đôi mươi:

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
phải đau theo từng hớp rượu tàn
phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định !
( Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng, 1972, Khánh Trường trích lại – H.L 58 bdd, tr.219)

Điều mà anh linh cảm, ấy là cái bất hạnh anh sinh ra thuộc dòng dõi các nhà thơ mang số kiếp bị nguyền rủa (la race des poètes maudits). Lỡ sinh ra với nghiệp chướng (hay thiên chức ?) phải (được ?) là nhà thơ chỉ có thể nói lên những lời thơ đậm đặc tâm hồn Việt Nam, anh cảm thấy không thể hội nhập xã hội mới như những người khác. Trong lúc mọi người hân hoan phấn khởi như kẻ vừa thoát địa ngục tới được thiên đàng, thì anh lại càng thấm thía điều mà anh đã linh cảm sau khi được đặt chân lên đất Pháp :

phải, ta đánh rơi ta
nát vụn
sau khi đánh rơi Việt Nam
bên kia bờ biển mịt .
(Chuông Mơ – bdd, tr.9)

Ta đánh rơi ta nát vụn, bởi vì cái Hạnh Phúc và Tự Do khiến anh phải liều mạng vượt biển để tìm kiếm đâu có phải chỉ là sự mưu tìm một khung cảnh tồn tại thích hợp đáp ứng cho nhu cầu hưởng thụ của một sinh vật chỉ thích sống phóng túng theo bản năng ? Và tự do tư tưởng đâu có phải chỉ là quyền ăn nói vô tội vạ bằng những lời đao to búa lớn để, hễ không vừa ý, là phang ngay một trận, bằng không thì lại sực mùi bốc thơm ? Bởi vậy trong khung cảnh sống mới mẻ mà mọi người đều cho là thích hợp, anh lại sống như một kẻ mộng du. Và chỉ những kỷ niệm xa xưa với những hình ảnh và rung cảm thuần khiết Việt Nam mà anh gợi lại qua mấy bài thơ như Nhớ Nội, Cứ Ngỡ Như Là Mới Nhớ Thôi, Chở Em Đi Học Trường Đêm… mới làm anh thức tỉnh như những hồi « Chuông Mơ ». ( mời coi phần phụ lục). Trạng thái mộng du ấy ngày càng ăn sâu vào tâm thức anh để rồi dần dà biến thành một thứ bệnh hoang tưởng. Là người sống gần gũi bên anh, Khánh Trường đã ghi nhận những biến chuyển trong tâm hồn anh như sau : « Những tháng cuối cùng trước khi tự chọn cho mình cái chết bằng những viên thuốc, bệnh tình Nguyễn Tất Nhiên khá nặng, hắn thường xuyên sống đật dờ trong thế giới khác, đầy ắp hoang tưởng… Ám ảnh và hoang tưởng mỗi ngày mỗi nặng, chúng tôi ngại rồi sẽ đến lúc Nhiên hoàn toàn không còn biết mình là ai. » (Hợp Lưu 58 ; bdd. tr.219-220). Cái mà mọi người đều cho là bệnh hoang tưởng ấy, theo tôi, chính là biểu hiện của hội chứng (syndrome) một não trạng không thích nghi được với môi trường sống mới. Thế nhưng, đồng thời với sự phát triển của chứng bệnh hoang tưởng ấy, có lúc Khánh Trường lại phát hiện nơi Nguyễn Tát Nhiên sự kiện đặc biệt như sau : « Thế mà, lạ lùng thay, giữa cõi tối tăm của tâm thức mù lòa ấy, lại lóe sáng những tia lửa của tài hoa khi Nhiên chạm đến thơ ca. Những sáng tác của Nhiên thời kỳ này chân thật đến nao lòng. » (HL 58 ; bdd. tr.220). Và Khánh Trường đã dẫn chứng bằng bài thơ « Buồn ơi… » mà tôi lấy ra một vài trích đoạn sau :

buồn ơi…
tôi bỏ tôi chìm đắm
trong tiếng làm thinh của ghế bàn
ghế bàn không xẻ chia sầu thảm
nhưng biết làm thinh lặng cảm thông

buồn ơi tôi muốn như bàn ghế
chịu đựng đời không biết thở than!

(…)

buồn ơi…
tôi bỏ tôi rời rã
bất lực làm sao trước cuộc đời

ừ nhỉ, bây giờ tôi mới biết
ghế bàn nên kính trọng như thầy
bàn ghế dạy tôi diều nhẫn nhục
dạy tôi bình thản thứ tha đời

buồn ơi tôi muốn như bàn ghế
thương đời như thể bỉ khinh tôi!

(…)

buồn ơi…
tôi có tôi-bàn-ghế
nguyện hiến cho đời một tấm lưng.
Hợp Lưu 58; bdd. Tr.221-222)

Mấy câu “buồn ơi…” này của Nguyễn Tất Nhiên làm tôi nhớ lại hai câu thơ trong bài “Milly ou la terre natale” của Lamartine mà hồi còn là học sinh trung học tôi vẫn thích chép đi chép lại tuy đã thuộc làu làu :

Objets inanimés avez-vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer ?
(Hỡi vật vô tri, phải chăng các ngươi cũng có một linh hồn
Đã quyện vào hồn ta làm ta phải biết luyến thương ?

Giờ đọc lại, tôi thấy hai câu trên, thơ thì có thơ thật, nhưng tâm tình của Lamartine hãy còn thuộc về cái chung thiên hạ, vẫn chưa ra khỏi cái thiên la địa võng của những công thức ước lệ, và hình thức diễn tả hãy còn ít nhiều trí tuệ : Chúng chỉ nói lên tâm trạng hoài niệm các cảnh vật làm ta gắn bó và tìm cách lý giải nỗi luyến nhớ ấy. Cái buồn của Nguyễn Tất Nhiên, trái lại, cô quạnh hơn, cá thể hơn, đau đớn hơn : Nó là tiếng kêu tuyệt vọng của một nỗi cô đơn cùng cực không tìm ra được sự đồng cảm nơi những người đã từng trải qua những cảnh ngộ như mình, đành phải tìm an ủi nơi bàn ghế là những vật vô tri vô giác, nhưng lại đươc coi là những nhân chứng biết cảm thông.

Trước mấy câu thơ này, Khánh Trường thắc mắc tự hỏi : « Tôi chịu, không thể nào hiểu hắn làm những bài thơ ấy vào lúc nào, và cái gì đã giúp hắn tỉnh táo để có thể nặn ra được mớ chữ nghĩa giàu hấp lực kia. Cái hấp lực người bình thường chúng ta thúc thủ, đã đành, mà ngay cả nhiều tài năng thi ca khác cũng sẽ vất vả vô cùng, nếu muốn thủ đắc. » (Hợp Lưu 58 ; bdd. tr.220). Cái hấp lực của mấy câu thơ xuất thần ấy, theo tôi, ấy là những lúc anh được trở thành kẻ thấu thị (le voyant) theo chữ của Rimbaud, nghĩa là những lúc anh hoàn toàn thức tỉnh và tìm lại được cái ngã con người thơ đích thực nơi anh, chứ không phải cái « Tôi là kẻ khác » (Je est un autre – Rimbaud) (12), tức thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên dưới con mắt người đời.

Cuối cùng, bởi không tìm ra được sự đồng cảm, nên Nguyễn Tất Nhiên cứ phải buồn, nên Nguyễn Tất Nhiên sinh tuyệt vọng. Để rồi, một sớm thu, anh đành đi tìm quên lãng. Anh đi tìm quên lãng trong một khung cảnh thanh tịnh hài hòa của một sân chùa vắng vẻ. Nơi đây chỉ có lá rơi xào xạc. Nơi đây chỉ có chim muông ca hót. Nơi đây anh được gần gũi với thiên nhiên. Nơi đây anh được trở về với cuộc sống cội nguồn.

Nguyễn Tất Nhiên ! Thế là anh lại quyết chí ra đi. Anh đã ra đi thật rồi. Anh ra đi để đi tìm quên lãng. Anh ra đi để được đi vào lãng quên. Nhưng sao hôm nay tôi lại chợt nhớ tới anh. Nhưng sao hôm nay tôi lại thèm được ở bên anh. Thèm được ở bên anh trong những giây phút ngắn ngủi ấy. Thèm có mặt bên anh để, nếu không xin được làm kẻ đồng hành, thì ít ra cũng chúc anh hoan hỉ lên đường.

Nguyễn Tất Nhiên ! Người đời đã chỉ muốn nhìn anh nằm ngủ vùi trong chiếc Toyota cũ kỹ như một con người thua cuộc. Nhưng tôi, tôi thấy anh ra đi thật cao cả ! Nhưng tôi, tôi thấy anh ra đi rất tuyệt vời ! Nguyễn Tất Nhiên, anh ! Anh ra đi dẫu có trong lãnh đạm. Anh ra đi dẫu có giữa thờ ơ. Nhưng anh ra đi sao làm tôi lại ham muốn. Nhưng anh ra đi sao bắt tôi phải thèm thuồng. Trong bộ quần áo nhàu nát cùng với gương mặt tóc râu bờm sờm ấy, anh chính là hình ảnh của người khách phong sương muôn thuở, yêu sóng cả sông dài, yêu trời cao biển rộng. Và chiếc Toyota cũ kỹ chính là chiếc xe lãng tử sẵn sàng đưa anh tới những phương trời lộng gió. Cõi sống này sao nó nham nhở kệch cỡm quá ! Nên anh buộc lòng phải dứt khoát ra đi.

Cuộc viễn du lần này tôi biết anh chuẩn bị đã từ lâu. Anh chuẩn bị âm thầm lặng lẽ. Anh chuẩn bị trống trải cô đơn. Anh chuẩn bị mà không muốn thố lộ cùng ai. Bởi vì, đã mang tâm tư khát vọng ấy, và trong cõi đời ấy, có nói năng chi cũng thừa.

Trước giờ khởi hành, tôi biết anh hân hoan phấn khởi lắm. Tim anh rộn ràng. Mắt anh ngời sáng. Tai anh nghe trổi dậy khúc nhạc giục dã với những lời mời gọi quyến rũ như những vần thơ kết thúc bản trường ca « Viễn Du » của nhà thơ Baudelaire (13) :

O Mort, vieux capitaine, il est temps ! levons l’ancre !
Ce pays nous ennuie, O Mort ! Appareillons !
Si le ciel et la mer sont noirs comme de l’encre,
Nos cœurs que tu connais sont remplis de rayons !

Verse-nous ton poison pour qu’il nous réconforte !
Nous voulons, tant ce feu nous brûle le cerveau,
Plonger au fond du gouffre, Enfer ou Ciel, qu’importe ?
Au fond de l’inconnu pour trouver du nouveau !
Baudelaire : Le Voyage.- Les Fleurs du Mal – p.186 GF Flammarion , Paris, 1991

(Hỡi Thần Chết, vị thuyền trưởng già nua, tới giờ rồi !
nhổ neo thôi !
Cõi này làm ta chán ngấy, hỡi Thần Chết ! Nào ta lên đường !
Nếu trời và biển đều tối đen màu mực,
Tâm can ta, ngươi cũng biết, lại chan hòa ánh sáng !

Hãy rót trong ta chất độc dược làm ta hưng phấn !
Bởi có ngọn lửa đang hừng hực trong não nên ta muốn
Lao xuống đáy vực thẳm, dù Địa Ngục hay Thiên Đường, có xá chi ?
Miễn là ở tận cùng cõi xa lạ kiếm ra được cái mới mẻ.)

Những người lính ở tuyến đầu thường lâm vào cảnh khốn quẫn, bị địch bao vây tứ bề. Những lúc đó họ thường có quyết định táo bạo là đánh thốc vào địch để phá vỡ vòng vây. Nhờ vậy cũng có lúc họ thoát hiểm. Về tới đơn vị, với đồng đội, khi kể chuyện lại cho nhau nghe, họ chỉ tóm gọn hành động gan dạ đó trong câu nói cụt lủn : « Đi vào cái chết để tìm ra cái sống ! »

Nguyễn Tất Nhiên ! Khi bóng đêm bỗng đổ ập xuống mảnh đất thân yêu, anh đã một lần vượt trùng dương đi vào cái chết để tìm ra cái sống. Nhưng những nơi anh được đặt chân tới vẫn chưa làm anh toại nguyện. Bởi vậy lần này anh quyết tâm xông thẳng vào Cõi Chết để tìm cho ra Sự Sống. Giờ này anh hẳn đang ở chốn hào quang rực rỡ, nơi đó anh đã gặp được Chân, Thiên, Mỹ anh hằng mơ ước.

Nguyên Tất Nhiên ! Xin chào Anh, người chiến sĩ tiên phong dũng cảm ! Cám ơn Anh đã để lại cho chúng tôi những ý thơ tuyệt vời !

(1) Lệ Thu của Sài Gòn trong khoảng thập niên 1965-75.

(2) Bài viết này chỉ muốn nói lên sự giao cảm và đồng cảm của bản thân người viết với con người thơ, thế giới thơ Nguyễn Tất Nhiên : qua tiếp xúc với một bài thơ được phổ nhạc, người viết, bằng những cảm nghiệm riêng, đã nghe dội lên trong tâm thức những âm vang nào để, từ đó, dẫn đến một vài suy tư tản mạn liên quan đến nhiều lãnh vực trong cuộc sống.

(3) Emile Zola (1840-1902), nhà văn thuộc trường phái hiện thực (réaliste) nhưng theo khuynh hướng tự nhiên (naturaliste) với chủ trương mô tả tâm lý các nhân vật đều ít nhiều bị chi phối bởi tính di truyền và môi trường xã hội qua bộ trường thiên tiểu thuyết « Les Rougon-Macquart .- Histoire naturelle et sociale d’une famille au XIXè siècle» (Giòng họ Rougon-Macquart – Lịch sử tự nhiên và xã hội của một gia đình ở thế kỷ 19). « L’Assomoir(1877), Germinal(1885), La Bête humaine (1890), là một vài tên truyện được biết tiếng nhiều nhất trong bộ trường thiên gồm 20 tập này (1871-1893). Không chỉ là nhà văn, Emile Zola còn được biết tiếng nhờ bài báo « J’accuse »(Tôi cáo buộc) đăng trên nhật báo « L’Aurore » (13-1-1898), qua đó ông tố cáo Bộ tham mưu Pháp đã ngụy tạo hồ sơ nhằm vu cáo đại úy Dreyfus tội làm gián điệp cho Dức chi vì ông này gốc Do Thái. Kết quả là vụ án được đem ra xét lại, Dreyfus được minh oan và phục hồi chức tước tháng 12-1900.

(4) Paul Bourget (1840-1935), tác giả cuốn « Le Disciple » (Đệ tử), thuộc loại tiểu thuyết luận đề, vừa là sự mô tả đồng thời cũng là một tố cáo việc áp dụng máy móc các lý thuyết khoa học vào đời sống tâm linh. « Le Disciple » (1889) là chuyện chàng thanh niên Robert Grilou, do óc tôn sùng thầy dạy triết là Adrien Sixte và muốn ứng dụng thuyết tâm lý tất định (le déteminisme psychologique) của ông thầy, nên đã tìm cách ve vãn tán tỉnh Charlotte con gái của gia chủ mướn anh tới dạy kèm. Hậu quả dẫn đến cái tự tử của Charlotte vì tưởng rằng đã bị Grilou lường gạt và Grilou, bị cáo buộc tội đầu độc Charlotte, đã chấp nhận ngồi tù để bảo vệ thanh danh cho Charlotte.

(5) Chúng tôi chỉ muốn giới thiệu thi phái biểu tượng như là một mỹ quan (une esthétique), một nhãn quan (une vision), một cách tiếp cận (une approche) mới về hiện thực, về cuộc sống bằng thơ, qua thơ. Chúng tôi khống hề chủ trương thi phái biểu tượng là tất cả thơ. Chúng tôi cũng không có ý tham dự vào cuộc tranh luận về thõ mới, thơ cũ, thơ hiện đại hay hậu hiện đại. Vốn không phải là một đệ tử lưu linh, nhưng tôi có được nghe nói khách sành điệu chỉ đánh giá hương men qua phẩm chất của loại nếp cất rượu và kỹ thuật ủ men, chứ không phải do rượu được rót ra từ bình mới, bình cũ, bình hiện đại hay bình hậu hiện đại.

(6) Đề nghị ta hãy cùng đọc lại bốn câu thơ sau đây :

« Thân em như quả mit trên cây
Da nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có thương xin đóng cọc
Xin đừng mân mó nhựa ra tay. »

Để thưởng ngoạn mấy câu thơ này theo mỹ học biểu tượng, ta không thể chỉ cần đọc văn bản để hình dung ra cái hiện thực nhà thơ muốn mô tả cho ta. Trái lại, ta phải biết cách lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia hoặc đang câu chuyện này nhảy sang câu chuyện khác. Có thế ta mới cảm thấy được đánh thức dạy hoặc làm sống dạy nơi ta điều mà tác giả thực sự muốn truyền đạt đến ta. Có tiếp cận bằng cách này, ta mới có thể tự hào là dân mít an nam ta, với nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua các bài thơ như Quả mít hay Đánh cờ người, đã có ngay từ hậu bán thế kỷ XIX, một nhà thơ biểu tượng tiên phong, không thua gì nhà thơ Pháp Baudelaire với tập « Les Fleurs du Mal » (1857) nữa.

(7) Trong phần trình bày dưới đây, chúng tôi chi muốn tìm hiểu, qua lời lẽ bộc lộ trong bản tình ca, hồn thơ và ý thơ của anh đã khơi động được tâm tình của cả một thế hệ thanh niên miền Nam như thê nào. Chúng tôi không có ý coi bài viết này như một biên khảo về thân thế và thi nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên.

(8) Paul Verlaine (1844-1896), bạn đồng tính luyến ái với Arthur Rimbaud. Trong một vụ say sưa cãi vã với Rimbaud tại Bruxelles (1873), ông đã nổ súng làm bị thương Rimbaud và bị án hai năm tù. Về mặt thi pháp, bài “Art poétique”(1874) của ông được coi là môt tuyên ngôn biểu tượng (manifeste symboliste) khi ông nhấn mạnh tới vai trò của nhạc điệu (la musique) trong thơ và kêu gọi nhà thơ phải chú trọng tới việc vận dụng âm hưởng, sắc thái (nuance) để gợi cảm, gợi ý thay vì chỉ bằng diễn ngôn trí tuệ

(9) Trích từ bài thơ nổi tiếng của Verlaine trong tập Sagesse mà chúng tôi xin ghi lại nguyên bản :

“Le ciel est, par-dessus le toit,
Si bleu, si calme !
Un arbre, par-dessus le toit,
Berce sa palme.

La cloche dans le ciel qu’on voit,
Doucement tinte,
Un oiseau, sur l’arbre qu’on voit,
Chante sa plainte.

Mon Dieu, mon Dieu, la vie est là,
Simple et tranquille.
Cette paisible rumeur-là,
Vient de la ville.

_ Qu’as-tu fait, ô toi que voilà
Pleurant sans cesse,
Dis, qu’as-tu fait, toi que voilà
De ta jeunesse ?
Verlaine, Sagesse 111,6 (Messein, éditeur)

(10) Buổi sáng mặt trời mọc ở phương đông và lặn ở phương tây, cái hiện tượng sờ sờ trước mắt ấy người lớn con nít ai mà chẳng ngó thấy ; nhưng liệu mấy ai có được cặp mắt khai phá (hay cặp mắt thơ) của một Copernic, một Galilée để nhìn ra luật hấp lực cho phép giải thích sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời ? Bởi vậy cái mới vi tất phải là cái chưa từng có hoặc chưa hề thấy : cái mới nhiều khi lại là cái vẫn có đó, nhưng không phải điều mà mọi người tưởng rằng đã biết rồi (khổ lắm nói mãi), mà là cái vẫn đang chờ có người biết nhìn ra.

(11) … « Chúng tôi quan niệm rằng, tác phẩm, dù rằng đứng trên quan điểm nào, nếu thực sự giá trị, thực sự đáp ứng được lòng mong muốn của đa số độc giả thầm lặng, thì dứt khoát đó phải là tiếng nói nhân bản (chữ in đậm do tôi NBH), tiếng nói của lòng lương thiện. Văn học nghệ thuật không chỉ đáp ứng cho hiện tại, nó sống mãi với thời gian. Chế độ chính trị nào rồi cũng qua đi, cái còn lại sẽ vẫn là cái cận nhân tình, cái đẹp, cái tốt.. Lịch sử là thước đo chuẩn xác nhất để minh định giá trị thực sự của một tác phẩm. Vài mươi năm sau, mọi nhãn hiệu tự gắn hay bị gắn cho người cầm bút sẽ được bóc đi, còn lại chăng vẫn là cái cốt lõi. Đó là một sự thật, dù biện minh cách nào chúng ta cũng không thể phủ nhận…

… Chính vì vậy, trong tiến trình thực hiện hợp lưu văn hóa (bao gồm giữa trong và ngoài nước lẫn Việt Nam với thế giới), điều trước tiên phải phục hồi văn hóa dân tộc. Muốn phục hồi văn hóa dân tộc, phải có tập hợp dân tộc, ở đó mọi thành phần không phân biệt quá khứ chính trị hay địa dư đều có đất đứng, đều cùng góp công sức của mình để đáu tranh loại bỏ mọi thé lực độc tài, chuyên chính, bị trị, vốn là nguyên nhân gây ra thực trạng bi thảm hiên nay tại quê hương. »

(Hợp Lưu số 1 tháng 10-1991 : « Thư tòa soạn », tr.4-5)

(12) Để nắm được ý nghĩa đúng câu « Je est un autre » của Rimbaud, trước hết ta hãy xét về mặt ngữ pháp (syntaxe). Bình thường, ta phải viết hoặc « Je suis un autre » hoặc « Il est un autre », có thế mới đúng với cách chia vẹc bờ của mấy ông Tây. Vậy mà Rimbaud đã cố ý viết sai mẹo văn phạm, ấy là vì ông muốn lưu ý ta rằng cái mà ta vẫn xưng tôi (je) để phân biệt với anh (tu), với nó (il) trong giao tiếp xã hội hàng ngày, thực ra nhiều khi chỉ là cái tôi nhân vật, cái tôi ta muốn được là, cái tôi ta thích hiện ra trước mắt mọi người, chứ không phải là cái tôi mang bản ngã ta đích thực.

Nhưng khi viết ra câu này, chủ đích của Rimbaud không chỉ nhằm lột mặt nạ cái tôi giả mạo, cái tôi kẻ chiếm chỗ (l’usurpateur), cái tôi nhân vật xã hội, mà là để nói lên cái thiên chức của nhà thơ, theo ông. Muốn nắm được cái tinh hoa trong câu nói của Rimbaud, ta cần đặt nó trong ngữ cảnh (contexte) được viết ra.

Rimbaud đã viết câu « Je est un autre » hai lần trong hai lá thư, được biết dưới tên gọi « Lettres du voyant » (Những lá thư của kẻ thấu thị) : một cho thầy dạy là Georges Izambard (13-5-1871), và một cho người bạn là Paul Demeny (15-5- 1781). Đặc biệt trong thư gửi thày học có đoạn viết như sau : « Je veux être poète, et je travaille à devenir voyant… Il s’agit d’arriver à l’inconnu par le dérèglement de tous les sens… C’est faux de dire : Je pense : on devrait dire : On me pense… Je est un autre. » (Rimbaud : Poésies complètes – Le Livre de Poche.- Librairie Générale Française, 1984 ; p.200). (Tôi muốn được là nhà thơ, và tôi đang lao tác để trở thành kẻ thấu thị nghĩa là đạt tới cõi xa lạ bằng cách làm nhiễu loạn mọi giác quan của mình. Nói rằng : Tôi suy tưởng là không đúng. Lẽ ra ta phải nói : người ta suy tưởng trong tôi… Tôi là một kẻ khác.) Đoạn văn tuy ngắn ngủi nhưng đậm đặc ý nghĩa : Nó đưa ra cái nhìn mới mẻ, có thể nói là cách mạng, của Rimbaud về thi ca. Trước hết nó đánh dấu một đoạn tuyệt với các dòng thi ca truyền thống, đặc biệt là với dòng thi ca lãng mạn trước nó. Với Rimbaud, cái tôi vẫn là nguồn cảm hứng và được dùng làm chất liệu cho các nhà thơ lãng mạn không phải là cái tôi đích thực. Không hẳn là các nhà thơ ấy thiếu chân thành. Nhưng những tâm tình mà họ ưa đem ra kể lể ấy, thực ra chỉ là cái tôi mang tâm thức của một tập thể, của một thế hệ, của một thời thượng đã xâm nhập và lấn át cái tôi mang bản ngã đích thực nơi mỗi người chúng ta. Đó là ý nghĩa của câu : « On me pense ». Bởi vậy, nhà thơ muốn nói lên được cái tôi đích thực, phải tìm cách tự giải thoát khỏi cái « Je est un autre » bằng cách làm nhiễu loạn mọi giác quan (le dérèglement de tous les sens) để cởi bỏ mọi cảm nghĩ,suy tư đã xếp nếp. Có thế ta mới mong được trở thành kẻ thấu thị (le voyant) để nói lên cái ngã đích thực (le vrai moi) nơi ta.

Câu « Je est un autre », Rimbaud viết ra khi mới sắp tròn 17 tuổi, vậy mà chẳng mấy chốc đã trở thành câu nói để đời. Ấy bởi nó là kết quả của của một khổ công tư duy tìm kiếm để sáng tạo cách tân, chứ không phải chỉ là một hình thức viết loạn chiêu để hù hè thiên hạ.

(13) Charles Baudelaire (1821- 1867) được tôn là huynh trưởng của Verlaine, Rimbaud, Mallarmé trong dòng thơ biểu tượng. Ông cũng được coi là người sáng chế ra loại « Thơ bằng văn xuôi » (poésie en prose) với nhiều bài « Thơ bằng văn xuôi » (Poèmes en prose ) đăng rải rác trên nhiều nhật báo. Nhưng tác phẩm khiến tên tuổi ông được nhắc đến nhiều nhất đó là tập « Les Fleurs du Mal » (1857). Trước tiên, với người đương thời, vì ngay khi tập thơ được in ra, ông đã phải vác chiếu hầu tòa (cũng như Gutave Flaubert với cuốn « Madame Bovary » vài tháng trước đó) do một số bài thơ bị liệt vào hạng văn hóa đồi trụy. Nhưng tên tuổi Baudelaire được lưu truyền hậu thế không phải nhờ vào mấy bài thơ gây tai tiếng ấy, mà do những giá trị tiêu biểu của tập thơ ông. Trước hết là những bài thơ nói lên nhãn quan và mỹ học biểu tượng : Thiên nhiên là khu rừng mà mỗi gốc cây là một biểu tượng và ở đó mọi giác quan đều có thể tương ứng đối đáp nhau. (« Correspondances », Sdd. tr 62-63). Bên cạnh đó là một số bài thơ khác đưa ta vào một thế giới mới mở đường cho thi ca hiện đại: thế giới của những điều cấm kỵ, thế giới của le Mal. Le Mal, : cái từ chủ chốt mà theo dòng văn học phải đạo chính thống thời ấy, và ngay cả tới giờ, những gì có dính líu tới le Mal phải được coi là điều cấm kỵ nghĩa là ta chỉ được quyền nói lên để làm dấy lên những cảm giác khinh khi, ghét bỏ chứ không phải để ca ngợi. Vậy mà nhãn quan của Baudelaire lại khác. Ông cho rằng ở những cái mà người đời cho rằng chỉ đáng khinh thường, ghét bỏ vẫn có phần nào của cái đẹp cần được nói lên (như nọc rắn cũng có thể biến thành một thứ thần dược). Đó chính ý nghĩa của cái tựa ông đã chọn cho tập thơ của ông : « Les Fleurs du Mal » = « extraire la beauté du Mal » hay là nói lên cái đẹp chắt lọc từ những cái được coi là tồi bại xấu xa. Thí dụ như bài « Le vin des chiffonniers. Sdd. tr.152-153 » (Men say của những người lượm giẻ rách) : Dưới ánh đèn vàng héo hắt của một khu phố ngoại ô tồi tàn dáng đi siêu vẹo chuếnh choáng hơi men của một người chuyên nghề lượm rẻ rách, miệng nói lảm nhảm, tự xưng mình là vua chúa đang ban phát ân huệ cho thiên hạ. Hình ảnh đó, nói chung, được coi là biểu hiện cho sự sa đọa bệ rạc. Nhưng với Baudelaire lại khác. Bằng cặp mắt nhân bản và cảm thông, ông lại phát hiện vẻ đẹp siêu thoát toát ra từ cảnh ngộ của một kiếp sống lầm than tăm tối chỉ biết tìm an ủi trong say sưa để được sống huy hoàng chốc lát với ảo ảnh hào quang về mình.

P H Ụ L Ụ C

Sau đây là mấy bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên trong tập « Chuông Mơ » (1987) được nhắc tới trong bài viết :

Nhớ Nội

mưa nắng hai mùa trên xứ nội
vun trồng từng luống mạ vồng khoai
mấy dây trầu « lẹt » tươi màu lá
ôm ấp hàng cau với tháng ngày

ngoài ngõ dàn bàu rợp bóng trưa
bờ nương lả ngọn mấy cây dừa
đàn gà tíu tít bương tìm thóc
đống lúa phơi vàng sân gió đưa

no gió diều lên ở cuối đê
ca dao quê cũ ngọt hương thề
phên tre mái lá hai bà cháu
hủ hỉ vui ngầm hưởng thú quê

từ lúc giặc về, con biệt xứ
nát lòng chim quốc nhớ quê hương
mấy thu vàng úa đời xa cội
chẳng biết mộ phần nội có yên ?

(Anaheim, Ca. Ngày 28-12-82)

Cứ Ngỡ Như Là Mới Nhớ Thôi

tâm hồn tôi có một dòng sông
chảy qua nhà cô bạn chung trường
chiều sông dâng sóng miên man gió
bay tóc bay hồn tôi thanh tân…

. tâm hồn tôi có một bờ sông
bên cạnh nhà cô bạn chung trường
chiều miên man gió sông dâng sóng
dâng tuổi dâng tình tôi mênh mông…

tâm hồn tôi thức trắng đêm dài
em bay áo trắng nắng ươm mây
chiều êm nắng rủ nhau đi ngủ
trên tóc ai lành ru ngủ vai…

tâm hồn tôi có quẩn quanh tôi
có một sông quanh khúc quẩn đời
có một bàn tay ôm cặp, gói
cả mộng mơ kia, luyến tiếc này…

tâm hồn tôi có tuổi thơ tôi
có một bâng khuâng thức trắng đời
đời cứ rủ nhau đi ngủ cả
tôi thức cho buồn ngỡ… mới thôi

(Westminter, Ca. Ngày 04.7.87)

Chở Em Đi Học Trường Đêm

chở em đi học mưa, chiều
tóc hai đứa ủ đôi điều xót xa
mưa thánh thót, mưa ngân nga
(hình như có bão băng qua thị thành!)
bàn tay thiếu máu lạnh tanh
cóng tôi chịu đựng cho đành luyến thương!

chở em đi học mưa, buồn
tôi Honda cũ trèo luôn dốc đời
thình lình chết máy như chơi
đừng tin lắm chuyện xa vời nhớ em!

đèo nhau qua dãy cột đèn
khẳng khiu soi dõi đường đêm bóng người
bóng xấp nhập, bóng tách rời
bóng co, bóng dãn, bóng trôi dập dềnh…
(dối gian như bóng dối hình
dối gian theo những lời tình gió bay…)

đèo nhau qua đoạn đời này
cầu Trương Minh Giảng nghe đầy hoàng hôn
mưa rỉ rả, mưa nguồn cơn
mưa đâm lóc thịt, mưa dầm thuộc da…

chở em đi học mưa nhòa
đường loang loáng nước lập lòa loáng cây
lạnh vừa đủ siết vòng tay
run đi em để sau này…nhớ nhau…

chở em sa vũng lầy nào
về nhà nói mẹ qua cầu sẩy chân!

(Westminter, Ca. ngày 06.7.87)

Chuông Mơ

áo em trắng cả sân trường trắng
tan học chiều nay có ngẩn ngơ?
chiều nay anh ở xa lăng lắc
không cách chi về đón tiểu thơ!

chiều nay ở đất bon chen
cái mộng tan theo cái thấp hèn
cái thực lem theo ngày sông vội
không cách chi dài phút nhớ em !

chiều nay em bước ngang giáo đường
mắt Chúa chắc buồn thăm thẳm hơn
chắc cây thánh giá thành di tích
chuyện một người chuộc hoài công !

chiều nay em còn măng tóc mai
hay đã lao tâm luống bạc rồi ?
chiều nay vừa đến giờ tan học
hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi ?

chiều nay em bước trên quê hương
chắc tóc không còn óng ả chuông
chắc chuông không mượt nâng tà tóc
chắc tóc và chuông đã…đoạn trường !

chiều nay em bước trên quê hương
chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
bởi vì mắt Chúa và em đã
lóng lánh vùi chôn ngấn lệ lòng !

áo em trắng cả sân trường trắng
tan học trong đời anh thẩn thơ
đời anh quên, nhớ, quên… nhiều lắm !
chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ…

(Westminter, Ca. Ngày 23.7.87)

Mấy bài thơ này, với tôi, khá tiêu biểu cho thế giới thơ Nguyễn Tất Nhiên. Bài “Nhớ nội” gợi lên trong ta những hình ảnh hiền hòa, trung hậu đậm đặc tâm hồn muôn thuở con người Viêt Nam, đất nước Việt Nam. Hai bài “Cứ ngỡ như là mới nhớ thôi”, “Chở em đi học trường đêm” nói lên mối tình e ấp ngu ngơ của đôi trẻ vào cái thời còn là thủa ấy – cũng mới đây thôi – nhưng sao làm ta lại ngỡ được trở về với không gian trong lành vô tội của khu Địa đàng khi mà A dong và E Va còn chưa dại dột ghé răng cắn vào trái cấm. Còn bài “Chuông mơ” nói lên nỗi niềm hoài hương đã bám rễ trong tâm thức anh khiến Nguyễn Tất Nhiên không tìm ra được lối thoát trong môi trường sống mới.

(NBH)
Mắt Buồn  
#12 Posted : Thursday, August 19, 2021 2:56:47 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Nhạc sĩ Dzũng Chinh
– Tác giả “Những Đồi Hoa Sim” chết trên đồi hoa sim


Phạm Tín An Ninh


UserPostedImage

UserPostedImage

Nhạc sĩ DZŨNG CHINH

(Đã có một vài bài viết nói về cái chết của Nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhưng tiếc là không chính xác. Bài viết này nhằm mục đích làm rõ cái chết của ông, một nhạc sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”. Người viết bài này đã ở cùng một đơn vị với ông khi ông tử trận)

***
Nhạc sĩ Dzũng Chinh không có nhiều sáng tác, nhưng nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” đã làm nên tên tuổi ông. Bài hát được phổ biến trong những năm đầu thập niên 1960, thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu khốc liệt, hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Nam, hầu hết là những học sinh, sinh viên tạm gác bút nghiên, lên đường tòng quân bảo vệ giang sơn. Bài hát Những Đồi Hoa Sim (viết theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, một nhà thơ sống ở miền Bắc) phổ biến rất rộng rãi và nhanh chóng được quần chúng đón nhận khá nồng nhiệt, đặc biệt trong hàng ngũ lính chiến miền Nam Việt Nam.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh cũng là một người lính chiến thực thụ. Tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán ở Bình Can -Võ Cạnh- Nha Trang (có người bảo trong giấy tờ, anh sinh ở Phan Thiết). Trước khi theo học khóa sĩ quan đặc biệt ở Đồng Đế Nha Trang, anh là hạ sĩ quan phục vụ tại một Sư Đoàn Bộ Binh thuộc Vùng IV. Cuối năm 1968, sau khi tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, anh chọn đơn vị Sư Đoàn 23 BB và xin được phuc vụ tại Trung Đoàn 44 (trú đóng tại Sông Mao, Phan Thiết).

Thời điểm này, Sư Đoàn 23 BB đặt bản doanh tại Ban Mê Thuột, đặc trách hành quân trong lãnh thổ Khu 23 ChiếnThuật. Sư Đoàn có 3 trung đoàn cơ hữu. Trung Đoàn 45 BB trú đóng tại Ban Mê Thuột, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, phụ tránh hành quân an ninh tại các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Trung Đoàn 53 BB đồn trú tại Di Linh (Lâm Đồng), trách nhiệm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức. Riêng Trung Đoàn 44 BB trú đóng tại Sông Mao, Bình Thuận, đảm trách các tỉnh miền duyên hải: gồm Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa.

Trung Đoàn 44 BB đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt, Sông Mao, một doanh trại rộng lớn của Sư Đoàn 5 BB, thời Đại tá Voòng A Sáng, bàn giao lại để di chuyển vào Vùng 3 CT. Sông Mao là một thị trấn nhỏ thuộc quận Hải Ninh, nằm phía Bắc Phan Thiết khoảng 60 cây số, cách Quốc Lộ 1 gần 2 cây số. Hầu hết dân chúng ở đây là người Nùng, đã theo chân Đại tá Voòng A Sáng và Sư Đoàn 3 Dã Chiến (tiền thân của Sư Đoàn 5 BB) từ vùng Mống Cái,Việt Bắc di cư vào đây tháng 8 năm 1954. Phía dưới là quận Phan Lý Chàm (Chợ Lầu). Dân chúng đa số là người Chàm. Có cả dinh cơ của bà công chúa cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành, với đền thờ vua, cờ xí, long bào và ấn tín. Cách đó không xa là mật khu Lê Hồng Phong nổi danh của VC.

Nhắc đến địa danh Sông Mao và mật khu Lê Hồng Phong, người ta nhớ tới mấy câu thơ nổi tiếng hào sảng của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn:

Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
…..

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Chuẩn Úy Nguyễn Bá Chính xin về Trung Đoàn 44 BB nhằm được gần quê quán. Anh được bổ sung về Đại Đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 2/44. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Ngô Văn Xuân (đến tháng 5 năm 1972 ông là Trung tá Trung Đoàn Trưởng). Một tháng sau khi về đơn vị, anh được vị sĩ quan trưởng khối CTCT Trung Đoàn biết anh là nhạc sĩ Dzũng Chinh nên xin biệt phái anh về Khối CTCT, tạm thời đảm trách Ban Văn Nghệ, mới được thành lập. Vốn mang tính nghệ sĩ và sống phóng khoáng, nên anh thường (dù) về Phan Thiết chơi với bạn bè, nhiều lần vắng mặt tại đơn vị, nên bị trả lại Tiểu Đoàn, tiếp tục giữ chức vụ trung đội trưởng tác chiến.

Đầu tháng 3 năm 1969, Tiểu Đoàn 2/44 di chuyển ra hành quân tại khu vực quận Ninh Phước thuộc Tiểu Khu Ninh Thuận. Đại Đội 1/2 đảm trách an ninh tại Văn Lâm, một làng của người Chàm, nằm phía Đông Nam tỉnh lỵ Phan Rang khoảng 25 cấy số. Nhận tin tức của Phòng Nhì Tiểu Khu, cho biết có một mũi công tác của Việt Cộng từ mật khu núi Chà Bang (tiếng Chàm: Chơk Chabbang) sẽ về Văn Lâm thu thuế và thực phẩm, Tiểu Đoàn ra lệnh Đại Đội 1 cho một trung đội đến án ngữ dưới chân núi Chà Bang để phục kích toán quân VC khi chúng trên đường ra Văn Lâm. Trung Đội của Dzũng Chinh nhận lãnh trách nhiệm đặc biệt này. Đến địa điểm phục kích khoảng 7 giờ tối, Chuẩn úy Chính cho tiểu đội của Trung sĩ Luận ra nằm tiền đồn phía trước, bên con đường mòn dưới chân núi, cách trung đội chừng 500 mét, vừa theo dõi báo cáo bằng tín hiệu riêng khi địch quân xuất hiện, vừa làm nút chặn, khi đám địch bị trung đội tấn công, chạy ngược lại phía sau.

Khoảng 11 giờ tối, một toán người xuất hiện và lên tiếng: “Luận về đây”. Chuẩn úy Chính tưởng là Trung sĩ Luận đã dắt trung đội về, nên hỏi lại: “Sao Luận về sớm vậy?” Một tràng súng nổ tức thì. Chinh ngã xuống.

Thì ra có một trùng hợp kỳ lạ, quái ác, đã đưa đến cái chết tức tưởi của Dzũng Chinh. “Luận về đây” lại là mật khẩu của địch, trong đó cũng có tên Luận trùng với tên Trung sĩ Luận, người tiểu đội trưởng của Chính có nhiệm vụ tiền đồn. Địch quân sợ bị phục kích nên đã chia làm hai toán, sử dụng lộ trình khác, không đi theo con đường mòn, nên tiểu đội tiền đồn của Trung sĩ Luận không phát hiện được. Chính vì sự ngộ nhận đáng tiếc này làm Dzũng Chinh đã hứng trọn một tràng đạn AK của địch. Đại Đội cho bắn trái sáng, kịp thời bao vây và truy kích tiêu diệt đám địch quân. Chính bị thương khá nặng. Được trực thăng của Mỹ tản thương kịp thời về Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch Phan Thiết. Nhưng vì vết thương quá nặng ở vùng bụng và ngực, nên sáng hôm sau Dzũng Chinh qua đời.

(Núi Chà Bang – nơi Dzũng Chinh nằm xuống)

Cái chết oan uổng của Dzũng Chinh đã được bạn bè cùng đơn vị bàn tán khá nhiều với vài sự kiện mà mọi người cho là những điềm gỡ báo trước:

Ngày xưa lương lính thường không đủ xài, nhất là những khi được về thành phố, nên trước cuộc hành quân, Dzũng Chinh đến Ban Tài Chánh Trung Đoàn xin mượn lương trước. Vị sĩ quan tài chánh ngần ngừ, bảo sao mượn lương sớm thế. mới đầu tháng đã mượn, hơi khó xử cho ông. Dzũng Chinh gãi đầu năn nỉ:

– Thì Đại úy cứ xem như ứng trước tiền tử tuất cho tôi thôi mà.

Vị Đại úy cho mượn, nhưng rầy anh:

– Cậu chớ nói điều gỡ, không nên!

Sau đó, anh rủ hai người lính về thành phố Phan Thiết chơi. Không hiểu đụng chạm thế nào, nhóm anh đánh nhau với một nhóm lính hải thuyền. Trước ngày đi hành quân, anh nhận giấy báo của Quân Cảnh Tư Pháp Phan Thiết, gọi trình diện. Anh khoe với đám bạn bè trong một buổi nhậu rồi nói:

– Kỳ này tao đi luôn, xem thử lấy ai mà trình diện!

Không ngờ anh đã đi luôn thật.

Dưới chân núi Chà Bang, nơi Dzũng Chinh ngã xuống là một vùng đầy hoa sim. Tác giả nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” cuối cùng cũng đã nằm xuống trên ngọn đồi bạt ngàn hoa sim tím. Anh đựợc an táng tại Nghĩa Trang Mả Thánh ( Phương Sài, Nha Trang), sau này bị chính quyền CS giải tỏa, không biết đã được di dời về đâu.

Cái chết của Chuẩn úy Nguyễn Bá Chính, một trung đội trưởng bộ binh, cũng lặng lẽ như hàng vạn chiến sĩ vô danh khác đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt để bảo vệ quê hương, nhưng tên tuổi Dzũng Chinh được nhiều người tiếc thương, nhắc nhở, bởi vì anh là một nhạc sĩ trẻ tuổi, đã tạo nên một tác phẩm đi vào lòng người, và mãi ở lại với thiên thu.

Phạm Tín An Ninh

Edited by user Thursday, August 19, 2021 3:08:49 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#13 Posted : Thursday, August 19, 2021 3:56:45 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Người Vợ Của Nhà Thơ Thế Lữ


Đoàn Dự

April 15, 2020 | by Ban Tu Thư | 0

Thưa Quý Bạn, cứ kể những chuyện vợ chồng chán ghét nhau, ly dị nhau hoặc ghen tuông, đánh đập nhau riết cũng chán và hiện nay là vấn đề đại dịch Vũ Hán, chắc chắn báo chí các nước bên ấy đăng ầm ầm, quý bạn đã biết cả rồi. Vậy nay tôi xin “đổi món ăn chơi”, kể hầu quý bạn một câu chuyện hơi lạ về người vợ của nhà thơ Thế Lữ. Bà này “lạ” ở chỗ chồng bồ bịch, có vợ nhỏ ngay trước mắt mà bà vẫn cố gắng chịu đựng, không ghen tuông một tí nào cả chỉ với một niềm tin duy nhất rằng chồng là người Công Giáo, theo giáo lý Công Giáo đàn ông chỉ có một vợ, đàn bà chỉ có một chồng, do đó cuối cùng rồi chồng sẽ trở lại với mình. Vì vậy bà vẫn yên tâm buôn bán kiếm ăn, chăm sóc bà mẹ chồng khó tính coi như mẹ ruột của mình, và nuôi dạy con cái, 2 người con trai ăn học tới tiến sĩ ở bên Mỹ, còn người con gái thì trở thành một nhà doanh nghiệp. Đặc biệt, từ cuối năm 1977, “chàng lãng tử” Thế Lữ nay đã 70 tuổi, vào trong Nam sống với vợ con suốt 12 năm tại tiệm vải ở đường Nguyễn Đình Chiểu (Phan Đình Phùng cũ, quận 3, gần Tòa Đại Sứ Miên hiện nay là văn phòng UBND Quận 3) cho tới khi ông qua đời cũng tại Sài Gòn mà hình như đa số chúng ta không biết. Đây là câu chuyện về người đàn bà đó nhưng xin mời quý bạn xem xét về nhà thơ Thế Lữ, chồng của bà trước đã.

I. Tiểu sử Thế Lữ

Nhà thơ Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh năm 1907 tại ấp Thái Hà, Hà Nội, mất năm 1989 tại Sài Gòn, hưởng thọ 82 tuổi. Sau 1975, ông từ Hà Nội vào Sài Gòn (cuối năm 1977) sống với vợ con gần 12 năm ở đường Phan Đình Phùng (cũ), quận 3, Sài Gòn, cho đến khi mất. Quê quán của cha ông ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội), quê mẹ ở Nam Định, nhưng sinh ra ông tại ấp Thái Hà, HàNội. Ấp Thái Hà nằm trên phần đất của 4 làng: Thịnh Quang, Nam Đồng, Khương Thượng và Yên Lãng (làng Láng), nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Gọi là “Ấp” vì đây là phần thưởng của Pháp dành cho Hoàng Cao Khải (Kinh lược sứ Bắc Kỳ, kẻ đã đàn áp phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi) như một “thực ấp” của các “đại thần” có công lao lớn thời trước. Mặc dầu Hoàng Cao Khải đã có dinh cơ tại phố Tràng Thi, Hà Nội, nhưng vẫn muốn lập cơ ngơi tại đây để sống khi về già. Ấp được Hoàng Cao Khải lập năm 1893, mang tên “Thái Hà” gồm tên làng Đông Thái và tên tỉnh Hà Tĩnh là quê quán của Hoàng Cao Khải.. Những người sống ở ấp Thái Hà hàng năm đóng thuế thổ trạch cho Hoàng Cao Khải chứ không phải cho Sở Điền Địa của Pháp.

Thế Lữ hồi còn nhỏ có một người anh lớn hơn cậu 1 tuổi (và một em gái), vì vậy cậu được cha đặt tên là Nguyễn Thứ Lễ với ngụ ý đó là con thứ. Đến năm Thế Lữ 10 tuổi, chẳng may cậu anh trai (11 tuổi) bị bệnh mất, cha bèn làm giấy khai sinh khác, đặt tên mới cho Thế Lữ là Nguyễn Đình Lễ vì họ Nguyễn Đình là một họ lớn ở làng Phù Đổng, không nên để người con trai duy nhất còn lại trong gia đình là “con thứ”. Do đó, Thế Lữ có 2 giấy khai sinh: Nguyễn Thứ Lễ và Nguyễn Đình Lễ. (Thời Pháp thuộc, khai sinh tại làng rất dễ, chỉ cần nói với “ông ký” giữ sổ sách làng vài tiếng là được, hơn nữa cha của Thế Lữ lại là sếp ga xe lửa tuyến đường sắt Lạng Sơn – Hà Nội, gia đình khá giả, thỉnh thoảng ghé về quê chơi, ai cũng vị nể. Như vậy, tài liệu nào nói Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ hay Nguyễn Đình Lễ đều đúng. Sau này, tất cả các con của Thế Lữ đều mang họ Nguyễn Đình, như nhà đạo diễn sân khấu danh tiếng Nguyễn Đình Nghi tại Hà Nội chẳng hạn.

Tuy nhiên, xem ra Thế Lữ thích cái tên Nguyễn Thứ Lễ hơn tên Nguyễn Đình Lễ. Bởi vậy khi viết văn, làm thơ, hoạt động kịch nghệ, ông đều lấy bút hiệu là “Thế Lữ”, tức nói lái từ hai tiếng “Thứ Lễ”. Ngoài ra, khi viết văn vui trên báo Phong Hoá và sau đó là báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn, do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chủ trương mà ông là một trong 6 thành viên cốt cán, Thế Lữ còn ký tên là “Lê Ta” với ý nghĩa: Chữ “ta”trong tiếng Việt, theo Hán tự là “ngã”; mà “ngã” theo tiếng Việt lại còn có nghĩa là dấu ngã. Bút danh “Lê Ta” tức chữ “Lê” có dấu ngã”, đó là chữ “Lễ”, tên thật của ông. Trên báo Ngày Nay số Xuân năm 1937, Thế Lữ đùa nghịch đưa ra câu nói vui: “Thế Lữ mừng xuân hai thứ lễ: một quả lê tây, một lê ta”, độc giả ai cũng tức cười và phục tài biến báo của ông.

Như trên đã nói, cha của Thế Lữ là sếp ga xe lửa, trong thời Pháp thuộc rất có vai vế và có “ngoại tài” (tiền bạc ngoài lương bổng) nên gia đình rất khá giả. Tuy nhiên, mẹ của Thế Lữ buôn bán nhỏ, không giàu có gì nên gia đình bên nội không bằng lòng, song bà nội phải chiều ý con trai, tổ chức cho hai người một đám cưới nho nhỏ tại Hải Phòng, nơi cô dâu buôn bán ở đây. Tuy nhiên, ít lâu sau, bà nội lại cưới cho cha của Thế Lữ một cô gái con nhà giàu ở Lạng Sơn và cho cô này làm vợ cả, còn mẹ của Thế Lữ thì làm vợ lẽ. Kệ, muốn sao cũng được, chuyện này rất thường xảy ra đối với các gia đình giàu có ở ngoài Bắc thời xưa khi người được cưới trước không phải làcon nhà khá giả. Hơn nữa mẹ của Thế Lữ buôn bán ở Hải Phòng nuôi hai con trai (lúc này bà chưa sinh cô con gái út) , ít còn thì giờ về Lạng Sơn thăm gia đình nhà chồng nên không quá để ý đến chuyện mình là người được cưới hỏi trước mà phải làm vợ lẽ.

Khi Thế Lữ được 3 tháng tuổi, bà nội lại ra một lệnh khá đặc biệt: “Đứa cháu lớn (anh của thế Lữ) hay ốm đau thì cho ở Hải Phòng với mẹ cũng được; còn đứa nhỏ (tứcThế Lữ) mạnh khoẻ, bụ bẫm thì phải đem nó về Lạng Sơn sống với bà nội, cha và “mợ cả” (vợ mới của cha)”.

Phải rời xa mẹ ruột từ lúc còn bế ẵm, lớn lên, mỗi năm chỉ được gặp mẹ một đôi lần, Thế Lữ cho biết cậu rất nhớ mẹ. Mãi đến năm cậu bé 10 tuổi, bà nội mất, rồi cậu anh ruột (11 tuổi) cũng mất, Thế Lữ mới được đưa về Hải Phòng sông với mẹ ruột tại cửa hàng vải. Tuy nhiên, Thế Lữ cũng nói rằng chính do sống ở xứ Lạng từ nhỏ cho tới năm 10 tuổi, cảnh vật thiên nhiên cũng như các câu chuyện “đường rừng”, ma quái, kinh dị, có thể là những chuyện tưởng tượng của đồng bào thiểu số mà cậu được nghe kể lại đã ăn sâu vào tâm trí cậu, khiến cậu có nguồn tư liệu dồi dào khi viết những cuốn truyện“đường rừng” rất được độc giả ửng hộ. Năm ấy Thế Lữ 23 tuổi và đã là một nhà văn, nhà thơ cốt cán trong Tự Lực Văn Đoàn.

Cuộc đời

Thế Lữ học chữ Nho do bà nội bắt phải học khi lên 8 tuổi ở Lạng Sơn; học chữ quốc ngữ lúc hơn 10 tuổi sau khi được trở về Hải Phòng ở với mẹ ruột. Tại Hải Phòng, cậu học tư với cha của Vũ Đình Quý – đứa bạn thân đầu tiên của cậu tại đất Cảng. Ít lâu sau, mẹ xin cho cậu vào lớp Đồng ấu của trường Pháp Việt (École communale Française et Vietnammiene ) mới mở ở Ngõ Nghè. Năm 1923, 16 tuổi, cậu thi đậu bằng Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’études en Langue Française, thường gọi là bằng “Xéc”, tương đương với bằng Tiểu học sau này) dành cho các học sinh từ 12 tới 16 tuổi. Đậu xong bằng “Xéc”, cậu ốm một trận rất nặng tưởng chết, phải nghỉ học mất một năm. Năm sau, khỏi bệnh,17 tuổi, cậu được mẹ hỏi cưới cô Nguyễn Thị Khương, gốc ở Nam Định, cũng buôn bán hàng vải tại Hải Phòng, lớn hơn cậu 2 tuổi. Mẹ thấy cô Khương xinh xắn, nhanh nhẹn, cũng buôn bán vải, nhất là cũng theo Thiên chúa giáo như gia đình mình nên hỏi cưới cho con trai vậy thôi chứ sự thực giữa Thế Lữ với cô Khương không quen biết gì cả. Điều này không quan trọng trong thời đại của Thế Lữ. Nhiều cô dâu chú rể mãi đên lúc cưới mới biết mặt nhau, nhưng sau khi thành vợ thành chồng, họ rất yêu thương nhau, chung thuỷ với nhau trọn đời.

Năm 1925, Thế Lữ 18 tuổi, học Cao đẳng Tiểu học (tức Trung học ngày nay), gọi là bậc Thành Chung, 4 năm, sau đó sẽ thi lấy bằng Thành Chung thường gọi là bằng Diplôme. Nếu đậu, đã có thể xin đi làm, nhưng chỉ học được 3 năm thì Thế Lữ bỏ. Năm sau, cậu lên Hà Nội, với chứng chỉ đã học hết năm thứ ba ban Thành chung, cậu thi đậu vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nhưng cũng chỉ học được một năm rồi lại bỏ do bất mãn với một giáo sư Pháp và ban giám đốc nhà trường. Trong thời gian ở trường Cao đẳng Mỹ thuật, Thế Lữ chơi thân với các bạn như Nguyễn Đỗ Cung, Trần Bình Lộc; ngoài ra ông cũng chơi thân với các nhà văn, nhà thơ như Vũ Đình Liên, Ngô Bích San, Hoàng Lập Ngôn…, và cùng nhau lập một Hội quán Văn học (Salon littéraire), chuyên thảo luận về văn chương.

Làm nghề viết văn

Thời gian này, Thế Lữ bắt đầu viết văn với những truyện ghi lại từ những gì mình đã được nghe kể khi ở Lạng Sơn. Được nhà thơ Vũ Đình Liên (tác giả bài thơ Ông Đồ) khuyến khích, Thế Lữ gửi các tác phẩm đầu tay của mình cho Nhà xuất bản Tân Dân,nhưng ngoài bút hiệu Thế Lữ ông còn ký thêm bút hiệu tưởng tượng là “Đào Thị Tố” để thu hút sự chú ý của nhà xuất bản. Hai cuốn “Một truyện báo thù ghê gớm” và “Tiếng hú hồn của mụ Ké” rất được ông Vũ Đình Long chủ nhà xuất bản Tân Dân khen ngợi và cho in ra. Điều này càng khích lệ Thế Lữ từ bỏ con đường hội họa để bước hẳn sang địa hạt văn chương. Bút danh “Thế Lữ” của ông ngoài chuyện nói lái từ hai tiếng “Thứ Lễ” thì theo ông, còn có nghĩa là “người lữ khách lang thang trong trần thế”, rất phù hợp với quan niệm sống của ông.

Hoạt động văn học và Tự Lực văn đoàn

Sống tại Hà Nội, Thế Lữ làm người sửa bản in (correcteur, thường gọi là “thầy cò”) cho báo Volonté Indochinoise (tức báo “Ý Nguyện Của Đông Dương”) và thường đi làm qua Vườn bách thú Hà Nội, do đó ông làm bài thơ “Nhớ Rừng” nổi tiếng, nói lên tâm sự của mình:

“Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm…

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự….” ..vv..

Sau khi nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam mua lại tờ Phong hóa của Vũ Đình Long chủ nhà xuất bản Tân Dân và ra bộ mới vào tháng 9 năm 1932, Thế Lữ có gửi bài. Bài thơ đầu tiên của Thế Lữ đăng trên bao Phong hóa bộ mới là “Con người vơ vẩn”, số Tết năm 1933. Sau đó, khi đến tòa soạn báo Phong hóa lần đầu tiên để lãnh nhuận bút, ông đọc những bài thơ mình đã sáng tác cho mọi người nghe và được nhà văn Khái Hưng khen ngợi là “Lamartine của Việt Nam”. Bên cạnh đó, nhà văn Nhất Linh cũng đặc biệt chú ý đến những truyện dài “Một đêm trăng”, “Vàng và máu” và cho rằng Thế Lữ là một cây bút mới có nhiều triển vọng, “Phải mời bằng được vào cộng tác với báo Phong Hoá, chắc chắn điều đó cũngkhông khó”. Chẳng bao lâu sau, Thế Lữ được mời làm việc cho báo Phong hóa, đồng thời Nhất Linh cũng có bài viết đề cao Thế Lữ cũng như thơ văn của ông. Đoạn trên đây cho chúng ta thấy Nhất Linh và Khái Hưng là những người tôn trọng tài năng như thế nào.

Tháng 3 năm 1934, Tự Lực Văn Đoàn chính thức ra đời với 6 thành viên: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ. Tự Lực Văn Đoàn chủ trương lên án tư tưởng phong kiến, đả kích các thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội bằng cách châm biếm, hài hước, đồng thời đổi mới quan niệm sáng tác, xây dựng một nền văn chương và ngôn ngữ mới hoàn toàn Việt Nam. Thế Lữ rất tán đồng quan điểm này. Trong suốt 10 năm hoạt động văn học, ông gắn bó chặt chẽ với Tự Lực Văn Đoàn và nói: “Anh em đối xử với nhau như bát nước đầy. Nếu không có Tự Lực Văn Đoàn thì đã không có Thế Lữ”.

Tháng 9 năm 1936, báo Phong hóa bị đóng cửa do động chạm tới Kinh lược xứ Bắc kỳ Hoàng Cao Khải và Tổng đốc Hà Nội Lê Hoan. Nhất Linh bèn ra tờ Ngày Nay, tôn chỉ cũng giống như tờ Phong hoá.. Thế Lữ với bút hiệu Lê Ta giữ các tiết mục: “Điểm báo”, “Điểm sách”, “Tin thơ”, “Tin văn vắn”, “Tin tức…mình” … Ngoài ra, ông cũng viết các bài bình luận ký tên Thế Lữ, phân tích về các vấn đề văn học nghệ thuật và làm giám khảo cho tất cả 3 cuộc thi của Tự Lực Văn Đoàn trong các năm 1935, 1937, 1939,góp phần khẳng định tài năng của các tác giả trúng giải. Ông là một “kiện tướng” hết sức xông xáo của Tự Lực Văn Đoàn.

Tài năng đa dạng: Thơ, Nhạc, và Kịch

Ngoài sự nghiệp văn chương, nhà thơ Thế Lữ còn là một nhân vật lừng lẫy danh tiếng trong đời sống kịch nghệ. Không chỉ góp phần hình thành Thơ mới, ông còn đặt nền móng cho nền sân khấu Việt Nam hiện đại. (Thời trước, kịch là kịch thơ, kể từ Thế Lữ trở đi mới có thoại kịch, tức bây giờ gọi là kịch nói, như các ban kịch nói Kim Cương, Thẩm Thuý Hằng, Vũ Đức Duy..vv.. thời VNCH chẳng hạn),và ông cũng là tác giả phần lời tiếng Việt của ca khúc “Xuân và tuổi trẻ” được hát suốt từ đó đến nay.

Năm 1935, tập “Mấy vần thơ” của ông xuất bản, góp phần cổ võ mạnh mẽ cho phong trào Thơ mới. Trong bài thơ “Cây đàn muôn điệu”, ông tâm sự:

“Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ đẹp có muôn màu muôn vẻ
Mượn cây bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca”…

Trong bài thơ “Giây phút chạnh lòng” cảm đề truyện Đoạn Tuyệt của Nhất Linh,ông viết thay lời nhân vật Loan nói với người mình yêu tên Dũng nhưng hai người không lấy được nhau vì nhà Loan quá nghèo mà gia dình Dũng quá giàu, bà Phán mẹ Dũng lại quá khắc nghiệt, khinh bỉ người nghèo. Khi Dũng bỏ nhà ra đi hiến mình cho lý tưởng, Loan nói cứng nhưng trong lòng khắc khoải khôn nguôi:

“Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong sum họp mãi
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi

Non nước đang chờ gót lãng du
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ”…

Về nhạc, năm 1944, khi cùng đoàn kịch Tinh Hoa của mình đi lưu diễn tại Hội An tỉnh Quảng Nam mà ông vừa là chủ gánh, vừa là người viết kịch bản, vừa là đạo diễn kiêmdiễn viên nòng cốt trong đoàn, Thế Lữ tình cờ được nghe một bản nhạc có âm điệu rất hay của nhạc sĩ La Hối (1920- 1945, người Việt gốc Hoa) với phần lời bằng tiếng Hoa của tác giả Diệp Truyền Hoa. Lập tức ông tìm gặp nhạc sĩ La Hối (lúc ấy mới 24 tuổi), đề nghị chính mình sẽ viết thêm một bản lời Việt. Nhạc sĩ La Hối đã biết tiếng Thế Lữ nên rất lấy làm hân hạnh, và sau đó, chỉ một đêm, bản “Xuân Và Tuổi Trẻ” tiếng Việt ra đời:

“Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Lòng đắm say bao nguồn vui sống
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng.”

Năm sau (1945), người nhạc sĩ trẻ tuổi gốc Hoa, do lòng yêu nước, cùng các bạn thân ở Hội An tổ chức một hội đoàn chống Nhật, dần dần lan rộng khắp Quảng Nam nên bị hiến binh Nhật vây bắt, xử bắn cùng 9 người bạn, nay 10 nấm mộ vẫncòn ở Hội An nhưng bản nhạc “Xuân Và Tuổi Trẻ” do Thế Lữ đặt tên và viết lời Việt vẫn được mọi người hát cho đến bây giờ, nhất là trong các dịp xuân về. Thế Lữ chơi đàn guitare, thổi sáo và hát rất hay. Ông đã từng tổ chức một đêm ca nhạc kịch tại Nhà Hát Lớn Hà Hội, gồm toàn các nhà văn, nhà thơ và các cộng tác viên của Tự Lực Văn Đoàn biểu diễn, do chính ông đạo diễn và xếp đặt chương trình. Đêm ca nhạc kịch thành công mỹ mãn, đối với độc giả của báo Ngày Naycàng thêm thân thiết.

II. Người vợ đáng nể của Thế Lữ

Như phần trên đã nói, người vợ đầu tiên của nhà thơ Thế Lữ là cô gái ở Nam Địnhnhưng buôn bán hàng vải ở Hải Phòng, tên là Nguyễn Thị Khương, lớn hơn Thế Lữ 2 tuổi, do mẹ cưới cho chứ chưa từng quen biết Thế Lữ. Bà Khương sinh cho Thế Lữ cả thảy 4 người con, 3 trai 1 gái. Bà chấp nhận ở Hải Phòng buôn bán, thay chồng chăm sóc mẹ già và nuôi dạy các con để Thế Lữ được thỏa sức bình sinh phô diễn tài nghệ ở Hà Nội. Tuy “chỉ là một khách tình si” nhưng Thế Lữ cũng nhận thức được những vất vả mà vợ mình phải chịu đựng khi sống với bà mẹ chồng quá khó tính. Ông giải thích cho vợ hiểu rằng do mẹ đã gặp nhiều khó khăn khi làm dâu bà nội ở Lạng Sơn với những uất ức không nói ra được, nên bây giờ bà cũng khó lại với con dâu như cái “nợ đồng lần” vậy thôi.

Để cải thiện mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu, Thế Lữ viết một truyện ngắn, mổ xẻ những vướng mắc trong cái “nợ đồng lần” đó và ký tên khác hoàn toàn xa lạ, coi như của độc giả rồi đọc cho mẹ nghe. Không ngờ chỉ mới nghe qua một đoạn, bà mẹ đã cầm cái ống nhổ đựng quết trầu dằn mạnh xuống mặt bàn: “À, thế ra anh muốn dạy tôi đấy phải không? Ai nuôi anh ăn học từ năm 10 tuổi? Ai chăm sóc anh suốt một năm trời bệnh nặng tưởng chết, để rồi bây giờ anh dạy lại tôi! …”. Thế Lữ sợ mẹ giận, chống chế rằng đấy là truyện do độc giả viết. “Muốn do ai viết cũng là nói tôi. Anh đọc cho tôi nghe tức là muốn khuyên tôi đừng khó khăn với vợ anh nữa chứ gì! Tôi thừa hiểu cái thâm ý của anh…”. Thế Lữ bèn xin lỗi mẹ rồi hôm sau trở về Hà Nội, bao nhiêu tai ương vợ lại tiếp tục gánh chịu.

Thế Lữ có người yêu

Những ngày mê mải với việc dựng kịch, Thế Lữ đã gặp một người con gái Hà Nội đam mê sân khấu tên là Phạm Thị Nghĩa. Cô sinh năm 1913, kém Thế Lữ 6 tuổi, con gái quan tuần phủ Phạm Đình Mẫn ở Hà Đông, cô ruột của các ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng và nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Phạm Thị Nghĩa học trường Pháp, năm 20 tuổi là giáo viên trường tư thục Victor Hugo nhưng lại mê hát chèo và diễn kịch. Gia đình không chấp nhận“xướng ca vô loài”, nên “cô giáo” Phạm Thị Nghĩa chỉ tập kịch và tập hát cheo do bạn bè dạy. Cô rất có năng khiếu về hai bộ môn này và rất hâm mộ tài năng của Thế Lữ, nên thường đi xem các vở thoại kịch rất gần với kiểu thoại kịch của Pháp, do Thế Lữ đóng hoặc dàn dựng, rồi tự ý làm quen với Thế Lữ.

Nhận ra Phạm Thị Nghĩa tuy là giáo viên trường Pháp, chuyên nói tiếng Pháp nhưng lại có tài diễn xuất và hát chèo tiếng Việt, vì vậy khi đưa vở kịch “Gái không chồng” của Đoàn Phú Tứ lên sân khấu tại Hải Phòng, thiếu vai chính phù hợp, Thế Lữ bí mật cho người về Hà Nội mời Phạm Thị Nghĩa vào vai cô Mão. Dù diễn ở Hải Phòng nhưng cô Nghĩa cũng sợ gia đình phát hiện nên lấy biệt danh là “Song Kim”, coi như cả mình lẫn Thế Lữ đều là… hai cục vàng rất có giá trị. Vở kịch thành công mỹ mãn, trình diễn nhiều đêm liền, Song Kim bỏ nhà, bỏ cả nghề dạy học đi theo tiếng gọi của tình yêu và dần trở thành một diễn viên gạo cội trong đoàn kịch Tinh Hoa của Thế Lữ. Họ kết duyên với nhau. Đó là cặp nghệ sĩ rất nổi tiếng và đẹp đôi mặc dầu “chàng” hơn nàng 6 tuổi và đã có vợ con.

Ở Hải Phòng, bà Khương biết chuyện, buồn lắm nhưng cố chịu đựng, không tỏ thái độ ghen tuông. Bà không coi Song Kim là “vợ hai” của chồng, vì theo giáo lý Công Giáo, đàn ông chỉ có một vợ, bà tin rằng Thế Lữ là người Công giáo, được bà nội huấn luyện từ nhỏ cho mãi tới năm 10 tuổi, rồi mẹ ruột lại dạy tiếp, sẽ có một ngày ông trở lại với mình. Di cư vào Nam, nuôi 2 con trai học tới tiến sĩ và người con gái trở thành một nhà doanh nghiệp.

Năm 1954, Thế Lữ đã đưa người con trai cả là Nguyễn Đình Nghi đi theo mình cùng Song Kim lên Việt Bắc từ năm 1945 và sau này Nguyễn Đình Nghi cũng trở thành một đạo diễn sân khấu nổi tiếng. Hiệp định Genève diễn ra. Mặc dầu Thế Lữ và Song Kim ở lại Hà Nội nhưng bà Khương quyết định dẫn mẹ chồng và 3 người con di cư vào Nam. Tại Sài Gòn, bà vẫn sống bằng cách mở một tiệm bán vải để nuôi các con ăn học. Khi mẹ chồng mất, bà làm đám tang “hoành tráng” không khác gì có mặt Thế Lữ ở nhà.

Thời gian qua đi, biến cố 1975 xảy ra, miền Nam sụp đổ. Ở ngoài Bắc, Nghệ sĩ Nhân dân Song Kim không có con, bà đối xử với đạo diễn Nguyễn Đình Nghi như con ruột và coi các con của vợ chồng Nguyễn Đình Nghi như cháu nội. Trong khi đó, ở trong Nam, hai người con trai của bà Khương là Nguyễn Đình Học và Nguyễn Đình Tùng đã lần lượt thi đậu Tiến Sĩ và trở thành giảng viên đại học, còn người con gái tên Nguyễn Quỳnh Tâm đã có gia đình. Năm 1977, mặc dầu là con người phiêu lãng và đã luống tuổi nhưng Thế Lữ vẫn dành sự quan tâm tới vợ con. Ông thương thảo với Song Kim để dọn vào Sài Gòn còn bà thì vẫn ở lại Hà Nội.

Hai vợ chồng già gặp nhau, vẫn vui vẻ sau bao nhiêu năm xa cách. Ông sống chung với bà từ cuối năm 1977 tại căn nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu (Phan Đình Phùng cũ) quận 3 SàiGòn và qua đời vào ngày 3/6/1989, thọ 82 tuổi. Như vậy ông bà “tái hồi Kim Trọng” gần 12 năm đúng như bà suy nghĩ: dù phiêu bạt đến mấy,cuối cùng là ông sẽ trở lại với bà. Sau khi ông mất, hai người con trai của bà là Nguyễn Đình Học và Nguyễn Đình Tùng đem vợ con vượt biên sang Mỹ năm 1990, hiện nay đang ở bên Mỹ. Còn người con gái là Nguyễn Quỳnh Tâm thì không vượt biên, sau thời kỳ mở cửa, sẵn có gia tài,tiền bạc của mẹ để cho, vợ chồng tiếp tục làm ăn, buôn bán, trở thành một nhà doanh nghiệp chuyên về xuất nhập khẩu vải vóc có tiếng tại Sài Gòn.

Bà Song Kim sinh năm 1913, mất năm 2008 tại Hà Nội, thọ 95 tuổi. Cả bà và Thế Lữ đều được phong tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Nhân Dân, được Giải Thưởng Hồ Chí Minh nhưng đều không phải là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, bởi vì bà là con gái quan tuần phủ thời Pháp, còn Thế Lữ là người Công Giáo, không chịu bỏ đạo mặc dầu ông rất bận, ít khi đi lễ nhà thờ.

Mắt Buồn  
#14 Posted : Thursday, August 19, 2021 4:07:38 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Ba Phụ Nữ Trong Nghề Làm Báo Tiền Bán Thế Kỷ 20


Dương Thanh Bình

August 15, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

Lời nói đầu:

Trong một dịp bàn luận về các nữ lưu một thời vang danh trong tiền bán thế kỷ 20 với một anh bạn từ New Zealand sang chơi, anh đã cao hứng nói về những người phụ nữ trong nghề làm báo và kết luận: “Phụ nữ Miền Nam là tiên phong trong lãnh vực làm báo, thế nhưng không hiểu vì sao sau đó lại chìm lắng”. Câu nói gợi tò mò cho tôi để rồi sau đó khi đọc được phóng sự “Mấy bà quản lý nhà báo trong Nam” của ký giả Văn Lang tôi quyết định tìm hiểu về ba vị nữ lưu với ba tờ báo do quý bà làm nòng cốt: bà Sương Nguyệt Anh với tờ Nữ Giới Chung, bà Cao Thị Khanh với tuần báo Phụ Nữ Tân Văn và bà Bút Trà với nhật báo Saigon Mới[1].

Bà Sương Nguyệt Anh và Tờ Nữ Giới Chung

UserPostedImage

Sơ lược về bà Sương Nguyệt Anh

Thân thế:

Ba Suong Nguyet AnhBà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê, sanh ngày 24 tháng Chạp, năm Quý Hợi (1864) tại xã An Đức, huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre, con gái thứ tư của Cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu; mẹ là bà Lê Thị Điền, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc.

Bà nổi tiếng công dung ngôn hạnh, lại có văn tài nên rất nhiều nhân vật có tiếng tăm cầu thân. Nhưng mãi đến năm 24 tuổi bà mới vu quy, làm kế thất cho ông Phó Tổng Nguyễn Công Tính ở Mỹ Tho và sanh được một gái là Nguyễn Thị Vinh. Ông Phó Tổng Tính tạ thế khi cô Vinh lên ba, bà quyết lòng thủ tiết thờ chồng nuôi con.

Bà Sương Nguyệt Anh được cha dạy chữ Hán và chữ Nôm từ nhỏ, thấm nhuần luân lý tam cương ngũ thường và tam tùng tứ đức. Trong bài “Sương Nguyệt Anh – Nữ Sĩ, Nữ Chủ Bút Tài Hoa và Trí Tuệ” [2] tác gia Lê Tâm cho rằng bà Sương Nguyệt Anh còn học cả chữ Pháp, và cho biết tài liệu này dựa vào các công bố của nữ sĩ Mai Huỳnh Hoa, người cháu ngoại mà bà đã nuôi từ nhỏ. (Mai Huỳnh Hoa tên thật là Mai Kim Ba, vợ của nhà cách mạng Phan Văn Hùm.)

Khi Cụ Đồ Chiểu mở trường dạy học ở Ba Tri, bà Sương Nguyệt Anh đã nổi tiếng về làm thơ xướng họa với các Nho sinh. Nhiều bài thơ chữ Hán và chữ Nôm được bà sáng tác với những bút danh Nguyệt Nga, Xuân Khuê, nhưng được biết đến nhiều nhất là Nguyệt Anh[3]. Khi chồng mất Bà thêm chữ Sương trước chữ Nguyệt Anh để tỏ tâm ý quyết làm sương phụ thờ chồng, không tái giá.

Năm 1918 bà được mời làm chủ bút tờ Nữ Giới Chung, tờ báo tiếng Việt đầu tiên dành cho phụ nữ. Tiếc thay tờ báo chỉ tồn tại được khoảng nửa năm rồi bị đình chỉ. Đó cũng là lúc đôi mắt của bà bắt đầu khởi bệnh. Bà về sống ở Ba Tri với em trai út là Nguyễn Đình Chiêm, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân chúng và lấy việc sáng tác văn thơ làm vui. Cuối đời bà cũng bị mù lòa như Cụ Đồ Chiểu. Sương Nguyệt Anh mất ngày 12 tháng Chạp năm Tân Dậu (tức ngày 9/1/1922), lúc mới 58 tuổi[4]. Mộ bà ở Mỹ Nhơn, đến năm 1959 cải táng dời về cạnh mộ phần của song thân trong khu đền thờ Nguyễn Đình Chiểu.

Tác Phẩm:

Tiếng đồn bà Sương Nguyệt Anh có nhiều bài thơ cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Tuy nhiên những tác phẩm còn lưu truyền cho đến ngày nay không nhiều, có thể lược kể như sau:[5]

a) Thơ chữ Hán:

– Đoan dương tiết cảm (Đoan Ngọ nhật điếu Khuất Nguyên)
- Linh sơn nhất Thu Mai
– Một bài thơ tứ tuyệt không rõ tựa trong sách Nam Xuân Thọ

b) Thơ quốc âm:

– Cây mai (họa thơ ông Bái Liễu)
– Nhân vua Thành Thái vào Nam
– Cái lọng (chùm hai bài tứ tuyệt họa thơ ông Bảy Nguyện)
-Tiển ông Trần Khải đi Sa Đéc nhậm chức
– Tiết chẳng dời (một trong hai bài họa thơ ông Phủ Học)
– Thơ gửi chồng của vợ ông thầy thuốc
-Thưởng Bạch Mai
– Vịnh ni cô
– Thơ cho con rể góa vợ
– Thơ Khai bút (Vị định thảo)
– Thơ khuyến học

c) Văn tế chồng: Gia đình chồng bà theo nghề thuốc nên khi ông mất bà đã làm một bài văn tế rất nổi tiếng. Bà dùng tên của các vị thuốc Bắc để viết lên sự thương tiếc và nỗi bi ai của một người vợ khóc chồng.
d) Nhiều bài báo đăng trong tờ Nữ Giới Chung.
Tuần báo Nữ Giới Chung:

Năm 1918 ông Henri Blanquière, giám đốc tờ báo tiếng Pháp Le Courrier Saigonnaise, được phép xuất bản một tuần báo tiếng Việt dành cho phụ nữ, tờ Nữ Giới Chung, phát hành vào mỗi Thứ Sáu, toà soạn ở số 15 đường Taberd (nay là đường Nguyễn Du). Bà Sương Nguyệt Anh được mời làm chủ bút, và đây là vị nữ chủ bút đầu tiên của làng báo Việt Nam. “Nữ Giới Chung” có nghĩa là “Tiếng Chuông của Nữ Giới”. Trong “Mấy lời kính tỏ” đăng trong số báo đầu tiên ra ngày 1/ 2/ 1918 viết “Tờ nử báo này lại thuộc tay nử sĩ, đám hùng đàm, thêm có khách anh thơ, việc ấy nước ta bây giờ mới có”[6].

Tuan bao Nu Gioi Chung Mỗi số báo có 18 trang nội dung và 8 trang quảng cáo.

Thời đó dân trí nước ta còn thấp, số người biết đọc chữ quốc ngữ không nhiều, nhất là phụ nữ vốn ít được coi trọng trong xã hội Việt Nam. Vì vậy mục đích và tôn chỉ của Nữ Giới Chung là nâng cao tri thức cho phụ nữ. Bà Sương Nguyệt Anh ghi rõ mục tiêu của tờ báo trong “Mấy lời kính tỏ”:

Vun trồng gốc luân lý.
Trau giồi lẽ biết thường
Gây dựng cuộc công thương.
Liên lạc mối cảm tình.
Có thể khái quát các đề mục hàng tuần của Nữ Giới Chung như sau[7]:

Xã thuyết: luận đàm về các vấn đề có quan hệ hay có lợi cho phụ nữ; về thuần phong mỹ tục hoặc cổ động việc công thương.

Gia chánh: hướng dẫn những việc cần thiết trong nhà như may vá, nấu nướng, cách nuôi dạy con, đối xử với người giúp việc.

Văn uyển: Viết về văn chương, chữ nghĩa để trau giồi học thức và thư giản một cách tao nhã.

Tạp trở: Viết về cách ngôn, thành ngữ, những chuyện ngụ ngôn hay khôi hài.

Thời đàm: luận về thời cuộc; những diễn biến trên thế giới và trong nước có liên quan đến nữ giới, do phóng viên ghi lại hay dịch từ báo nước ngoài.

Truyện kí: nhắc về gương liệt nữ, anh thư “đem phấn son tô điểm non sông” để “làm gương cho khách hồng quần”.

Tiểu thuyết: đăng truyện hay, ý đẹp của các đại thuyết gia.

Tuần báo Nữ Giới Chung chỉ được xuất bản vỏn vẹn 22 số. Nguyên nhân chính khiến chính quyền thuộc địa buộc tờ báo phải đình bản là báo đã đánh động tinh thần nhân bản, khai phóng và dân tộc nên có ảnh hưởng, tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ, đến các phong trào yêu nước. Tờ báo chính thức đình bản ngày 19 tháng 7 năm 1918. Thời gian này cũng là lúc bệnh đau mắt của Bà Sương Nguyệt Anh bắt đầu bộc phát.

Một vài nhận xét

Tờ Nữ Giới Chung đã vạch ra cho phụ nữ Việt Nam tiến trình xây dựng một nền học thuật mới, một xã hội, văn hóa mới. Đó là nền học thuật kết hợp luân lý, đạo đức Á Đông với văn minh khoa học Âu Tây. Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa, viết “đạo đức của một người phụ nữ theo Nho Giáo đã được Nữ Giới Chung bảo tồn một cách uyển chuyển phóng khoáng khi tiếp nhận nền văn minh phương Tây”Eight Ball.

Những bài dịch từ tiếng nước ngoài hay chuyện thời sự chuyển hóa nếp suy nghĩ của người dân về vai trò và vị trí của phụ nữ. Những bài xã luận, thời đàm hay truyện ký giúp họ nâng cao kiến thức và kỹ năng.

Nhưng có lẽ do vị chủ bút quá thấm nhuần tư tưởng Khổng Mạnh nên tuy rất chú trọng đến tinh thần khai phóng và nhân bản, Nữ Giới Chung cũng chỉ gói gọn vị trí của phụ nữ trong phạm vi gia đình, chưa mạnh dạn bước lên ngang hàng với nam giới. Vì vậy tờ báo chỉ đóng vai trò phát động, cổ vũ về sự tự do, bình đẳng cho phụ nữ và cùng họ trau giồi kiến thức trong giai đoạn chuyển hóa xã hội. Trong số báo đầu tiên bà Sương Nguyệt Anh viết:

“Chị em tôi vẫn biết thân phận rằng: Khôn ngoan không thể đờn bà; trận bút trường văn đâu đến khách hồng quần mà gà mái cục tác, muốn mượn tờ giấy cây viết làm chuông hối thúc kêu đoàn chị em. Thế thì trái với bổn phận thiệt.”

Bà nói thêm

“Và đang cuộc đời cạnh tranh, trách hưng vong còn đến thất phu. Huống chi đờn bà rất có quan hệ lớn ở xã hội. Há lại chẳng nên mượn ngòi bút sắt, tả tấm lòng son, đặng thỏ thẻ với bà con trong ba xứ. Bởi thế bổn báo xuất hiện ngày nay, cái chủ nghĩa cần thiết là đề xướng việc học chứ chẳng dám can thiệp đến cả chính trị, cũng chẳng đua danh với bực tài trai.”

Mặt khác, có lẽ vì thời gian tồn tại quá ngắn, Nữ Giới Chung vận động, khuyến học một cách thuần lý bằng bài viết. Tờ báo chưa có một hoạt động cụ thể cho mục đích và tôn chỉ của mình. Nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi xem nhẹ vai trò khởi xướng, gióng hồi chuông đầu tiên tranh đấu cho nữ quyền. Ngược lại, Nữ Giới Chung đã xuất sắc trong việc khơi mầm, tiên phong cho cả nước về tự do ngôn luận của phụ nữ. Để sau này phụ nữ đã mạnh dạn tiếp bước làm phong phú nền văn học nước nhà trong lãnh vực báo chí dành cho phụ nữ. Điển hình là các tờ báo của nữ giới lần lượt xuất hiện như

ở Sài Gòn: Phụ Nữ Tân Văn (1929-1935), Đàn Bà Mới (1934-1936), Nữ Lưu (1936-1937)….

ở Hà Nội: Phụ Nữ Thời Đàm (1930-1934) Việt Nữ (1937), Phụ Nữ (1937)….

ở Huế có tờ Phụ Nữ Tân Tiến (1932-1934)

Bà Cao Thị Khanh và tuần báo Phụ Nữ Tân Văn

Hơn mười năm sau tờ Nữ Giới Chung, một tờ tuần báo thứ hai dành cho nữ lưu được xuất bản. Đó là tờ Phụ Nữ Tân Văn do bà Cao Thị Khanh và chồng là ông Nguyễn Đức Nhuận sáng lập và điều hành.

Sơ lược về bà Cao Thị Khanh

Thân thế

Bà Cao Thị Khanh sinh năm 1900 người Gò Công, là con gái của cụ Cao Văn Nhiêu, một nhà thâm nho, giàu có; thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Mỹ. Hai cụ nổi tiếng nhân đức, hiền lành. Phu quân của bà Khanh là ông Nguyễn Đức Nhuận, sinh năm 1900, người Trà Vinh. Ông Bà Nhuận-Khanh rất trượng nghĩa, sẵn lòng giúp đỡ mọi người, nhất là người nghèo, lo cho sự tiến bộ của phụ nữ bằng nhiều hoạt động tích cực và hữu hiệu. Bà Khanh được khen là điềm tĩnh, quý phái. Bà quy tụ một đội ngũ phụ nữ trí thức có văn tài, lấy tờ Phụ Nữ Tân Văn làm phương tiện thực hiện những công trình xã hội khá quy mô. Có thể nói Bà Cao Thị Khanh là người phụ nữ mở kỷ nguyên mới vì đã sáng lập một tờ báo dành cho phụ nữ với tôn chỉ mới mẻ, độc đáo rồi dùng nó để tổ chức những hội đoàn phục vụ cho xã hội và lý tưởng canh tân môt cách hữu hiệu.

Sự nghiệp văn chương

Văn tài của Bà Cao Thị Khanh thể hiện qua các bài viết sắc bén, thấu tình đạt lý đăng trong Phụ Nữ Tân Văn, ký tên Mme Nguyễn Đức Nhuận. Bà khẳng định Vai trò của tờ Phụ Nữ Tân Văn là “Cơ quan giáo dục và phấn đấu cho phụ nữ Việt Nam” [9], luận đàm về sự nghiệp của phụ nữ như trong bài “Vấn Đề Chức Nghiệp của Đàn Bà”, thuyết giảng về quyền bình đẳng của phụ nữ trong xã hội văn minh như trong “Nữ Quyền”, khuyến khích chị em từ bỏ hủ tục như trong bài “Đàn bà ta so với sự tấn hóa của đàn bà Tàu”[10], “Luân lý xã hội chỉ buộc có một mặt?” …. Bà đã viết nhiều bài mở đầu trong mỗi số báo nói lên chủ đề và giới thiệu nội dung. Các bài xã luận trong mục thường kỳ “Ý Kiến Của Chúng Tôi Đối Với Thời Sự” cho thấy bà am hiểu thời cuộc, góp ý kiến với độc giả và khuyến khích họ nói ra ý kiến của mình…. Bà cũng làm thơ. Tiếc rằng chúng tôi chỉ tìm được một bài thơ bà làm năm 1941 không rõ tựa, được Bà Phương Lan nhắc trong quyển “Anh Thư Nước Việt” như sau

Ván cờ nước bí nghĩ thêm buồn
Không đánh mà thua mấy trận luôn
Bến Nghé ngỗn ngang xe ngựa chạy
Đồng Nai chật ních lính quân lùn
Kéo lều tàu đậu đầy hai bến
Ngậm ngùi nghĩ giận cuộc tang thương.

Phu nu Tan Van so 10Ít làm thơ, nhưng bà Cao Thị Khanh đã tiếp đại thi hào Tagore[11] khi ông đến Sài Gòn, ghé thăm tòa soạn ngày 23/6/1929. Bà viết bài “Thi Sĩ Tagore Ghé Viếng Tòa Báo Phụ Nữ Tân Văn”[12], tả chân dung “tiên phong đạo cốt” của Tagore. Bà khen màu da trắng hồng và bàn tay nho nhã của ông, “ngón dài đẹp như tay những người phụ nữ khuê các”…. Bài đăng kèm hình có chữ ký tặng của Tagore, do Photo Khánh Ký chụp. Đây là một vinh dự lớn của bà và tờ báo.

Ngoài biên tập, viết xã luận, bà Khanh lấy tờ Phụ Nữ Tân Văn làm phương tiện vận động và thực hiện những việc làm từ thiện – xã hội.

Sau khi báo đóng cửa, ông bà Khanh – Nhuận sang Pháp định cư và bà mất ở Pháp ngày 24/2/1962. Cuối đời ông Nguyễn Đức Nhuận về sống ở Việt Nam và mất ngày 5/6/ 1968.

Phụ Nữ Tân Văn

Sơ lược về Phụ Nữ Tân Văn

Phụ Nữ Tân Văn do tư nhân điều hành và quản lý chứ không nhận sự trợ cấp của chính quyền thuộc địa như một số báo thời đó[13]. Số đầu tiên ra ngày 2/5/1929. Lúc đầu tòa soạn ở số 42 đường Catinat, tức đường Tự Do, bây giờ là Đồng Khởi. Đến tháng 8 năm 1931 tòa báo dời về số 48 Rue Vannier, tức đường Ngô Đức Kế, và gọi là Báo Quán. Trong mỗi số báo ngoài địa chỉ, số điện thoại còn ghi: “Sáng lập[14]: Mme Nguyễn Đức Nhuận. Chủ Nhiệm: M. Nguyễn Đức Nhuận.”

Phụ Nữ Tân Văn quy tụ một ban biên tập rất hùng hậu gồm những nữ sĩ uyên thâm như: Ðạm Phương, Cao Ngọc Môn, Trần Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ðăng, Ðắc Hoa, Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm)…, với sự hỗ trợ của Ông Lê Ðức, Ðào Trinh Nhứt, Chương Dân, Nguyễn Hóa Ðàng, Hồ Biểu Chánh, Trịnh Đình Thảo, Thiếu Sơn, Quách Tấn, Thượng Tân Thị, Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Mại… Mục tiêu của tờ tuần báo là tranh đấu cho nữ quyền và chứng minh phụ nữ có đủ khả năng và trình độ để gánh vác trách nhiệm với xã hội như nam giới. Trong lời giới thiệu đăng ở số báo đầu tiên Bà Cao Thị Khanh viết

“Ngày hôm nay, Phụ Nữ Tân Văn ra đời, là non sông thêm một tay thợ điểm tô, xã hội thêm một người lo công việc, trên trường văn trận bút thêm một đội binh đàn bà, mà trong buồng khuê các của chúng ta cũng có một cơ quan để cùng nhau phấn đấu với đời đây!”[15]

Về nội dung, ngoài những phần tương tự trong báo Nữ Giới Chung như Văn Uyển, Gia Chánh, phần dành cho nhi đồng…, Phụ Nữ Tân Văn còn có những mục thường kỳ như “Ý Kiến Chúng Tôi Đối Với Thời Sự”, “Y tế và vệ sinh” do Bác Sĩ Trần Văn Đôn đảm trách. Tin tức thời sự trong và ngoài nước được cập nhật hóa và bình luận trong các mục “Việc Thế Giới Trong 5 Tháng Nay” và “Việc Nước Nhà Trong 5 Tháng Nay”. Tờ báo phát động cả nước viết bài vinh danh gương đạo đức của những người phụ nữ đương thời để độc giả cùng bầu chọn, trao giải thưởng đức hạnh. Đây là một hoạt động văn minh nói lên sự minh bạch, nhân bản và tinh thần khai phóng. Song song với giải thưởng đức hạnh, tờ báo cũng đặt giải thưởng văn chương dành cho độc giả có bài viết xuất sắc.

Phụ Nữ Tân Văn được xem là dư âm của phong trào Duy Tân. Tờ báo tỏ rõ mục đích đấu tranh cho nhân quyền, phản đối chính sách bóc lột của thực dân Pháp, đấu tranh cho nền tự do độc lập của dân tộc.Ông Nguyễn Ngọc Phan nói:

“Liên tiếp 14 số đầu, Phụ Nữ Tân Văn đã đăng những bài phỏng vấn các vị trí thức, học giả đương thời như cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá… Tất cả đều tán đồng chủ trương tiến bộ của Phụ Nữ Tân Văn, là cổ súy dân sinh dân chủ, bênh vực phụ nữ, đề cao luân lý giáo dục…”[16]

Phụ Nữ Tân Văn dám đề cao các anh hùng bị án tử hình ở Yên Bái trong bài “Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính đã bị hành hình hôm 7 Juin”[17] đăng trong số 215 ngày 7/9/1933. Sau đó tiếp tục ca ngợi tinh thần yêu nước của các anh hùng Việt Nam Quốc Đảng, đưa tin và viết bài ca ngợi Cô Giang tuẫn tiết theo Nguyễn Thái Học. Nhà báo Thiếu Sơn trong “Hồi Ký Một Đời Người” viết:

“So sánh với những báo trong Nam như Đông Pháp thời báo hay Thần Chung thì nó ôn hòa hơn. Nhưng so sánh với những báo ngoài Bắc lúc bấy giờ thì nó lại dám ăn, dám nói nhiều hơn. Bởi thế nên PNTV có rất nhiều độc giả ở Trung, Bắc. Hồi có cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái và vụ xử án những nhà cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, chính độc giả ngoài Bắc lại trông đứng trông ngồi những số báo Phụ Nữ Tân Văn từ Nam gửi ra để được nghe những lời nói can đảm binh vực cho những người đã hy sinh cho giống nòi và đất nước. Những lời nói như thế không thể có được ở báo giới miền Bắc thời bấy giờ”

Phụ Nữ Tân Văn dũng cảm lên án người Pháp cố ý tiêu diệt cả làng Cổ Am, viết bài chống chính sách thực dân một cách sắc bén. Báo tường trình việc chính quyền đàn áp những cuộc biểu tình của dân chúng ở Cao Lãnh và Mỹ Tho đòi giảm thuế và công nhân đồn điền Phú Riềng đình công đòi tăng lương. Vì vậy nên cuối năm 1930, sau khi xuất bản số 82, Phụ Nữ Tân Văn bị buộc đình bản trong năm tháng. Khi được tái bản, số 83 ra ngày 21/5/ 1931, tuần báo một lần nữa khẳng định tôn chỉ của mình trong bài “Cùng bạn cũ người xưa”:

“Tôn chỉ và việc làm của bổn báo trong 18 tháng trời về kiếp trước, sốt sắng, thành thiệt và lợi ích ra thế nào… Ngày nay bổn báo lại được tái sanh, thì cũng là theo đuổi tôn chỉ xưa, làm nổi công việc trước, đinh ninh tất dạ, sau trước một lòng chứ không vì một lẽ gì mà thay dường hay lùi bước. Tôn chỉ ấy là cùng chị em mở đường tiến hóa cho phụ nữ quốc dân… cùng quốc dân xây nền tương lai cho nhơn quần xã hội”[18]

Đến tháng 10 năm 1931 vì sự ảnh hưởng mạnh mẽ về chính trị nên Phụ Nữ Tân Văn bị nhà cầm quyền Bảo Hộ cấm lưu hành ở đất Bắc gần 2 năm từ tháng 10 năm 1931, đến tháng 8 năm 1933. Đây là một thiệt thòi cho hơn 3000 đọc giả thường xuyên của đất Bắc.

Phụ Nữ Tân Văn hoạt động được gần 6 năm thì bị đình bản vĩnh viễn vì hai nguyên nhân chính:

Sau sự thành công vượt bực của Hội Chợ Phụ Nữ tháng 7 năm 1932 các tờ báo: Công Luận, Trung Lập, Sài Thành… viết bài tố cáo ông Nguyễn Đức Nhuận đã thâm lạm khoản tiền thu được từ hội chợ. Từ ngày 3/6 đến ngày 2/7/1932, Phụ Nữ Tân Văn ra thêm nhật báo để đáp lại luồng dư luận này, sau đó đưa nội vụ ra tòa. Tuy cuối cùng Ông Bà Nguyễn Đức Nhuận được trắng án nhưng bị mất mát rất lớn cả tài chánh lẫn tinh thần.

Năm 1934, Phụ Nữ Tân Văn đưa tin người Pháp Homberg đút lót cho ông Bùi Quang Chiêu. Chính quyền thực dân ghép Phụ Nữ Tân Văn vào tội “mạ lỵ”. Số báo cuối cùng 273 ra ngày 21/ 4/1935[19].

Tờ báo mất đi để lại bao tiếc nối cho công chúng. Nguiễn Ngu Í[20] nhận xét: “Nếu Nam Phong là một cụ già khắc khổ, bàn những chuyện nghiêm trang sâu rộng thì Phụ Nữ Tân Văn quả là một cô gái con nhà nề nếp nhưng tính tình vui vẻ, lời lẽ bình dân, ta có thể cùng cô nói chuyện trên trời dưới đất, bốn biến năm châu hay chuyện trong nhà dưới bếp… Phụ Nữ Tân Văn chết đi nhưng vẫn còn để lại cảm tình cho người cộng sự cũng như người đọc”[21].

Các hoạt động thực tiển của Phụ Nữ Tân Văn

Phụ Nữ Tân Văn có những hoạt động thực tiển để tranh đấu cho nữ quyền, xây dựng một xã hội nhân bản tốt đẹp. Có thể nói đây là tờ báo duy nhất đã có được những công trình hữu ích mà cho tới ngày nay chưa tờ báo Việt nào có thể sánh kịp.

· Hoạt động thiện nguyện – xã hội:

Học bổng cho học sinh: Bài “Đồng xu cho học sinh nghèo”[22] đăng trong số thứ 2 ra ngày 9/5/1929 kêu gọi sự trợ giúp gây quỹ giúp học sinh nghèo. Báo vừa phát hành thì đã trích ngay 15% lợi nhuận để cấp học bổng cho 2 học sinh Lê Văn Hai và Nguyễn Văn Hiếu sang Pháp du học. Sau đó thành lập Quỹ Học Bổng Phụ Nữ, mời nghệ sĩ Năm Phỉ tổ chức diễn tuồng “Phụng Nghi Đình” để củng cố tài chánh; mặt khác kêu gọi những hội đoàn khác lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo.[23] Một trong những đơn vị hưởng ứng là Hội SAMIPIC[24].

Thành lập Hội Dục Anh: để giúp đỡ và nuôi dưỡng trẻ em nghèo hay mồ côi. Giấy phép được cấp ngày 7/11/1931. Hội quán tọa lạc tại số 65, đường Massiges, nay là đường Mạc Đĩnh Chi, sau dời về đường Cống Quỳnh. Trong số 112 ra ngày 10/12/1931, bài “Chị em nên vô hội Dục Anh”, kêu gọi: “Chúng nó cô thân cô thế, không ai săn sóc chăm nom, thì ta phải săn sóc chăm nom. Chúng nó gặp cha mẹ nghèo nàn, cả ngày lo làm ăn vất vả, không nuôi nấng được chúng nó, thì ta phải nuôi nấng. Vì đó mà có Hội Dục Anh của phụ nữ Việt Nam lập ra, mà bữa nay bổn báo giới thiệu cùng chị em và hô hào chị em nên đem lòng góp sức vào công việc từ thiện nầy cho đông cho mạnh vậy.”[25].

Thành lập 3 quán cơm miễn phí: “Chúng tôi tùy theo sức mình lập ra cách cứu giúp tạm thời để đỡ ngặt cho mấy người hụt bữa. Chúng tôi có đặt sẵn ba quán cơm tại Saigon: – Ở số 54 đường d’Ormay – Ở trước gare Tabert – Số 29 đường Amiral Roze chợ mới Saigon. Ai là người thiếu hụt, muốn dùng bữa ăn, bất hạng đàn ông, đàn bà, con nít cứ lại tại báo quán Phụ nữ tân văn ở số 48 Vannier (chợ cũ) Saigon, hỏi lấy một tấm thiệp rồi đến ngay các quán cơm kể trên đây dùng bữa. Sẽ có người tiếp dọn tử tế” (“Giúp nhau khi đói khó”, PNTV số 200, ngày 18/5/1933, tr.15).
Tổ chức Hội chợ Phụ Nữ Việt Nam: lần đầu tiên một hội chợ với quy mô cả nước được tổ chức. Dự kiến hội chợ sẽ diễn ra trong 3 ngày từ 4/5/1932 để gây quỹ cho Hội Dục Anh. Nhưng do “trong mấy hôm đó miền nam Trung kỳ như Phan Rí, Phan Rang, Đàlạt có xảy ra trận bão, lũ lụt, tai hại lớn lắm, Hội chợ bèn mở thêm một ngày nữa, 8 Mai[26], nhằm bửa chúa nhựt, để thâu tiền lời gởi giúp nạn-dân mấy nơi ấy. Một ngày đêm riêng về sự cứu giúp ấy thâu huê lợi vào phỏng được bảy hay tám trăm đồng.” (bài “Nói lược về kết quả cuộc hội chợ Phụ Nữ”, PNTV số 130 ngày 12/5/1931)

· Hoạt động tranh đấu cho nam nữ bình quyền và canh tân xã hội
Nu vo dich quan vot dau tien VN Tổ chức cuộc đấu xảo nữ công của phụ nữ cả 3 miền Nam Trung Bắc đầu tiên vào đêm 7/11/1931[27] để phô trương tài năng của phụ nữ cả nước về nữ công mỹ nghệ và thể dục thể thao. Đây là lần đầu tiên người Việt tổ chức một giải tranh chức vô địch cho phụ nữ về thể thao, cụ thể là môn quần vợt, người đoạt giải là cô giáo Nam[28].
Thành lập Hội Cựu Học Sinh Nữ Học Đường và Ủy Ban Phụ Nữ Chủ Nghĩa để phổ biến tri thức và nâng cao nghiệp vụ cho phụ nữ, bởi vì “Muốn nâng cao nữ quyền không phải chỉ mấy tiếng kêu gào, mấy bài cáo luận mà thâu lấy hiệu quả… Cần nhất là ở nử giới chúng ta phải biết tự mình nâng cao trí thức và năng lực của mình lên đã” (PNTV số 226). Đây là hội cựu nữ sinh đầu tiên của Nữ Học Đường tức trường Áo Tím. Buổi họp đầu tiên tổ chức vào ngày 1/8/1933[29].

Nữ Lưu Học Hội: thành lập cuối năm 1933 để giúp đỡ phụ nữ nâng cao kiến thức, nghiệp vụ và hướng nghiệp. Tập hợp những bậc nữ lưu có học thức thành Ban Xướng Xuất để cổ động cho Nữ Lưu Học Hội. Bài “Nhơn dịp Nữ Lưu Học Hội sắp thành lập” ghi: “Nữ Lưu Học Hội không những sẻ có cái phận sự, cái lợi ích, giúp cho chị em có tri thức lại cũng sẽ rèn tập luôn cho chị em có chức nghiệp nữa.” (PNTV số 226, ngày 30/11/1933)

Phong trào thơ mới được khởi xuất từ Phụ Nữ Tân Văn với bài “Tình già” của Phan Khôi đăng trong số 122 ngày 10/3/1933. Manh Manh nữ sĩ, tức Cô Nguyễn Thị Kiêm, đáp ứng mạnh mẽ bằng các bài thơ mới, không niêm luật, gieo vần tự do cùng những bài văn xuôi cổ vũ cho lối thơ mới. Phụ Nữ Tân Văn đã làm sôi nổi làng báo khắp ba miền, dấy lên một trận bút chiến gay cấn giữa phe thơ cũ và thơ mới.

Phụ Nữ Tân Văn tổ chức và hậu thuẩn cho các buổi diễn thuyết của Manh Manh về nếp sống mới và quyền bình đẳng của phụ nữ. Điển hình là cuộc bắc du diễn thuyết vào cuối tháng 8 năm 1934. Ông Nguyễn Đức Nhuận lái xe, cùng Bà Cao Thị Khanh đưa Manh Manh ra Bắc diễn thuyết để đáp lại những chỉ trích dữ dội của tờ Phong Hóa (nhóm Tự Lực Văn Đoàn) về những tư tưởng mới của Phụ Nữ Tân Văn. Cô Kiêm diễn thuyết 3 lần: Tại Hà Nội với “Một ngày của một người đàn bà tân tiến”, tại Nam Định “Có nên tự do kết hôn chăng?” và tại Hải Phòng “Nên bỏ chế độ đa thê không?” Báo Đông Pháp viết “Tối hôm thứ bảy vừa rồi, cái tối Cô Kiêm lên diễn đàn, công chúng đã ồ ạt kéo đến hội quán Phố Hàng Trống như nước chảy, lũ lượt bọn năm bọn ba, ông có, bà có, trai có gái có đến đổi mấy bác nhà quê đi đường ngơ ngác hỏi nhau: họ đi xem hội gì đông thế?”. Tờ Ngọ Báo tả: “Trong nơi diễn đàn, ngày thường lõng chõng mấy bàn, coi rộng thênh thang, hôm nay đã gấp đôi ghế cũng chẳng đủ chỗ cho công chúng đứng ngồi. Trên gác dưới nhà, không một chỗ hở…”[30]

Một vài nhận xét

Nếu Nữ Giới Chung của Bà Sương Nguyệt Anh là tiếng chuông đầu tiên gióng lên hiệu lệnh tranh đấu cho nữ quyền thì Phụ Nữ Tân Văn là đỉnh cao của phong trào canh tân và đòi bình quyền bình đẳng.

Nữ Giới Chung là bước đầu của thế hệ phụ nữ thấm nhuần Nho Giáo vào ngưỡng cửa văn minh phương Tây. Vì thế Nữ Giới Chung còn rất khép mình trong phạm vi nhỏ hẹp, dè dặt rằng: “trận bút trường văn đâu đến khách hồng quần”, tự nhận “Khôn ngoan không thể đờn bà”, và rất khiêm nhường “chẳng dám can thiệp đến cả chính trị, cũng chẳng đua danh với bực tài trai.”

Ngược lại, Phụ Nữ Tân Văn thuộc thế hệ phụ nữ tân tiến, chịu ảnh hưởng Tây học khá sâu. Họ đã mạnh dạn khẳng định quyết tâm của mình bằng hai câu thơ in trên bìa mỗi số báo:

“Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”

Vì là bước đầu trong sự nghiệp canh tân nên Nữ Giới Chung tranh đấu với thái độ nhỏ nhẻ bằng văn chương “mượn ngòi bút sắt, tả tấm lòng son, đặng thỏ thẻ với bà con trong ba xứ”. Trong khi đó Phụ Nữ Tân Văn đi vào hành động cụ thể với các buổi thuyết trình và các trận bút chiến không nhân nhượng nên đã thực sự quảng bá tư tưởng bình đẳng một cách hiệu quả và đại trà. Phụ Nữ Tân Văn cũng đã thực hiện được một cuộc cách mạng về thi ca qua việc khởi xướng, cổ vũ và tranh đấu kiên định, đưa thơ mới lên vị trí chiếm lĩnh cho đến bây giờ.

Bà Bút Trà và nhật báo Saigon Mới

UserPostedImage

Sơ lược về bà Bút Trà

Thân thế

Ong ba But Tra Bà Bút Trà, phu nhân của nhà thơ Bút Trà– Nguyễn Đức Nhuận[31], nhủ danh Tô Thị Thân, sanh năm 1903 tại Long An. Bà Thân người đẫy đà, tính tình thẳng thắn. Bà ít học nhưng thông minh, có tài kinh doanh với những ý nghĩ khác thường, táo bạo.

Bà cùng người chồng đầu tiên, một Hoa Kiều, gây dựng đến hơn 20 cơ sở kinh doanh, đa số là tiệm cầm đồ. Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc viết trong “Hồi Ký Văn Nghệ”[32], bà Thân muốn chuyển sang nghề làm báo vì các tiệm cầm đồ bị các báo chí lên án kịch liệt. Bà tìm người “biết làm báo mà ăn lương rẻ” để giúp bà lập một tờ báo đáp trả lại luồng dư luận này. Vậy là nhà thơ Bút Trà[33]-Nguyễn Đức Nhuận, người Quảng Ngãi, đang du phương ở Saigon được Ông Bình Nguyên Lộc gián tiếp giới thiệu với bà Thân. Bình Nguyên Lộc viết “Từ bao lâu nay, con buôn nào cũng chỉ hành động có một trong ba cách: thứ nhứt cắn răng mà chịu đựng khi nào bị báo chí chưởi. Thứ nhì hối lộ cho các ký giả viết bài chưởi bới. Thứ ba thuê du côn đánh các ký giả đó. Bà Tô-Thị-Thân là người đầu tiên nghĩ ra giải pháp thứ tư. Mà bà là người chẳng viết được câu văn nào cả. Thật là oanh liệt.”

Ông Bút Trà đã có thời làm cho các báo Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Công Luận, nay làm chủ nhiêm báo Sài Thành, nhưng thực tế người điều hành là bà Thân. Bà đích thân chọn tất cả các bài báo đăng trên Sài Thành. Nhưng tuyệt nhiên bà không đăng bài nào trả đủa lại những tờ báo công kích bà. Ông Bình Nguyên Lộc cho đó là “mưu lược” của bà. Thật vậy, cách tốt nhất để người ta im tiếng nói xấu mình là chứng tỏ những lời đó không ảnh hưởng đến mình. Khi người ta chế diễu bà là Thiếm Xồi, tục danh của người chồng Tàu, bà chỉ điềm tỉnh, khẳng khái đăng báo đáp lại “Ừ, tôi tên là thím Xồi thì đã sao kia chớ? Thím ấy có làm hại xã hội bằng những bài vở khiêu dâm chăng? Có nêu gương đồi phong bại tục chăng?” Họ xoay qua chửi bà làm nghề cầm đồ. Bà đáp trên báo “Hàng ngàn người khác cho vay cắt cổ, sao cứ bà họ Tô mà chửi?”[34] Chỉ vậy mà bà thành công, không báo nào dị nghị nữa. Sau một thời gian làm báo bà ly dị người chồng Hoa Kiều, kết hôn với ông Bút Trà. Từ đó ông bà Bút Trà chuyên tâm với nghề làm báo, đưa tờ Sài Thành (sau đổi thành Sài Gòn rồi Saigon Mới) thành tờ báo bán chạy nhất. Thành công với nhật báo, bà xuất bản thêm 2 tờ tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn và Phụ Nữ Thời Báo do con trai của ông bà đảm nhiệm.

Nguyễn Nhật Vy trong quyển Ba Nhà Báo Sài Gòn trích một giai thoại khác do nhà báo Ngọa Long[35] viết trong loạt bài “10 Năm Làng Báo Sài Gòn 1927-1937” về bà Thân và nhà thơ Bút Trà. Chuyện rằng khi các báo chí tấn công các tiệm cầm đồ thì bà Thân được chủ nhân các tiệm đó cử đến thương thuyết với báo Công Luận. Tờ báo này là nơi khởi xướng việc công kích các tiệm cầm đồ, do ông Nguyễn Đức Nhuận, bút hiệu Phú Đức, làm chủ nhiệm và nhà thơ Nguyễn Đức Nhuận – Bút Trà làm thơ ký tòa soạn. Lợi dụng việc trùng tên, Chủ nhiệm Phú Đức thay vì tiếp bà Thân lại cử thơ ký tòa soạn Bút Trà ra thế. Chuyện được giải quyết tốt đẹp nên họ được giới thương nhân thết đãi. Trong buổi tiệc ấy ông Bút Trà đã tặng bà Thân hai câu thơ chữ Nho rồi dịch ra tiếng Việt, đọc to:

“Đời tôi lắm lúc không bằng mộng
Tỉnh mộng thân mình sống lẻ loi”

Ngọn lửa tình yêu đã được nhen nhúm. Kết cuộc là bà chủ tiệm cầm đồ đã trở thành bà Bút Trà rồi cùng ông khởi nghiệp làm báo.

Sau biến cố 30/4/1975, gia sản của gia đình bà Bút Trà gồm một vi la ở Phú Nhuận, rạp chiếu bóng Kim Châu ở quận Ba, một nhà bảo sanh ở Bàn Cờ, một trường tiểu học ở Khánh Hội và nhiều cơ sở kinh doanh, bị tịch thâu. Tiền bạc ông bà gửi ngân hàng cũng bị mất trắng.

Bà Bút Trà mất năm 1978 tại Sài Gòn trong cảnh nghèo khó. Cuối đời ông Bút Trà mắc bệnh quên lãng, không còn nhận được người quen. Ông mất ở Sài Gòn năm 1987.

Sự Nghiệp

Trong nghề làm báo

Nói về bà Bút Trà trong lãnh vực văn chương, tất cả các nhà báo đều khẳng định bà Bút Trà không viết một bài nào. Tuy mỗi số báo Xuân của Saigon Mới đều có một bài thơ chúc xuân ký tên Bà Bút Trà, nhưng Bà Tùng Long[36] khẳng định đó là những tác phẩm của ông Bút Trà. Và một lần, trong buổi họp do Bộ Thông Tin tổ chức, bà Bút Trà đi dự và có một bài thơ mừng Bác Sĩ Thọ vừa nhậm chức Giám Đốc, nhờ Bà Tùng Long đọc dùm. Sở dĩ Bà không tự đọc vì cho rằng ai cũng biết tác giả là ông Bút Trà. Ông Tử Vi Lang còn có thơ hài hước như sau:

“Năm nay mưa thuận gió hòa

Ông Đinh Văn Khai viết sách, Bà Bút Trà làm thơ”[37]

Tuy vậy, bà Bút Trà lại là linh hồn của tờ báo. Tổng thư ký tòa soạn báo Saigon Mới, Ông Trọng Nguyên, kể với ông Bình Nguyên Lộc: “Khi nào bà ấy quá bận việc khác, bà ấy chỉ thị cho tôi làm việc, đúng y như bà đã làm. Có tôi, bà cũng cứ thủ vai chánh. Bà chỉ cần tôi về mặt kỹ thuật mà thôi. Tôi chết đi, bất kỳ ai thay thế cũng được, bởi cứ còn bà.”

Bà điều phối ký giả đi phỏng vấn hay dự các buổi thuyết trình, họp báo, rồi theo dõi và xem các bài tường trình rất kỹ lưỡng. Tuy vậy bà đối xử với nhân viên rất khôn ngoan, tâm lý. Hoàng Hải Thủy viết về sự tế nhị của bà:

“Hai lần làm trong tòa báo của bà, tổng số 9 năm trời, tôi không một lần thấy bà Bút Trà sẵng giọng, to tiếng với nhân viên, bà không rầy la nhân viên có lỗi trước mặt đồng nghiệp của anh ta, bà cũng chẳng bao giờ than phiền một nhân viên nào làm việc bê bối với người trong tòa soạn, cần nói gì bà mời riêng nhân viên đó vào nói chuyện với bà.”

Hoàng Hải Thủy càng nể trọng bà hơn trong cách cư xử khi một lần ông không đi dự họp báo, lại còn tìm cách nói dối. Ông bị bà lật tẩy một cách thông minh. Sau đó bà đã nói riêng với ông rằng”

“Nhà báo có nhiều người. Việc nào anh không muốn đi hay anh có việc bận không đi dự được anh cứ cho biết, nhà báo cử người khác đi. Anh đừng nhận đi rồi bỏ không đi như vậy.”

Ông viết thêm” Lời chỉnh rất nhẹ. Lời chỉnh làm tôi tự thấy xấu hổ, tôi đã không làm việc tôi phải làm, tôi còn can tội nói dối. Nhưng bà không làm tôi xấu hổ quá.”

Trong một bài phóng sự đăng trên Trung Bắc Tân Văn số 18, ngày 30/6/1940, ký giả Văn Lang viết về tài quán xuyến của bà như sau:“ Có thể nói ở nhà báo Sài Gòn, chính bà Bút Trà mới thật là tổng lý, lại kiêm luôn cả ba chức nội vụ tổng trưởng, tài chánh tổng trưởng và ngoại giao tổng trưởng…. cho đến việc biên tập, cách xếp đặt và bài vở trong mỗi số báo bà cũng kiểm soát được nữa mới tài”

Ông còn cho biết thêm

“Đêm nào cũng thế, trước khi báo sắp lên máy, thợ phải vỗ một bản đưa trình bà quản lý xem sự xếp đặt như thế có được không, hay tin nào nên bỏ, lời rao (quảng cáo) nào còn thiếu.”

Ngay cả truyện kỳ đăng trong Saigon Mới cũng được bà Bút Trà để tâm góp ý kiến cho phù hợp với thị hiếu của đọc giả. Bà Tùng Long kể “Tôi đang viết một câu chuyện dài, có chiều hướng không cho hai nhân vật yêu nhau đi đến hôn nhân, thì một buổi sáng vừa để cái cặp lên bàn, toan ngồi lại làm việc thì bà Bút Trà – chị dâu của tôi mà cũng là chủ nhiệm của báo Sàigòn Mới lúc bấy giờ – cho người mời tôi vào và nói:

– Thím không định cho Yến và Thanh kết hôn sao?

Thấy tôi cười mà không trả lời thì chị tôi nói:

– Thím nên cho tụi nó kết hôn với nhau, như thế mới hợp tình hợp lý và mới đúng với cái tên tiểu thuyết mà thím đặt Gương Vỡ Lại Lành.”

Cần giải thích thêm rằng Bà Tùng Long là vợ của nhà văn Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy, em ruột ông Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận. Năm 1952 Bà Tùng Long phải một mình đưa các con từ vùng kháng chiến ở Quảng Ngãi về Đà Nẵng nên lâm vào cảnh thiếu thốn. Bà Bút Trà đã gửi một lượng vàng và tư trang để giúp đỡ em dâu. Dù món quà không đến được tay người nhận, nhưng đó là tấm lòng nhân hậu của bà Bút Trà đối với họ hàng.

Với nhân viên bà cũng rất nhân đạo. Bà giải thích với ông Hoàng Hải Thủy ký do bà cương quyết không đổi các máy in kiểu cũ qua kiểu rotative cho hiệu quả hơn: “Mỗi máy in của mình bây giờ có một anh thợ trông nom, mỗi anh thợ có một gia đình ít nhất 5 người… Mười máy in nuôi nuôi 50 người. Nay tôi dẹp đi dùng máy rotative chỉ cần 2 anh thợ thôi, tám người mất việc, 40 người nheo nhóc. Tôi không muốn thay đổi là vậy.”

Theo ông Lý Phong Miên, bà Bút Trà còn mua đất bên cạnh tòa soạn, cất nhà cho công nhân báo Saigon Mới. Về sau, các căn nhà này trở thành nhà riêng của họ.

Không phải lúc nào việc làm báo cũng suông sẻ, nhưng nhờ đã từng là một nhà kinh doanh thành công nên bà Bút Trà đã biết cách đối phó để giữ vững tờ Saigon Mới. Đơn cử các trường hợp:

Năm 1952 Saigon Mới đăng tin “lô can”[38] một tên cướp chạy sang lãnh địa Bình Xuyên, và được che chở. Ông Bút Trà bị lực lượng Bình Xuyên bắt. May nhờ đã kết thân với Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm làm thanh thế nên ông Bút Trà chỉ bị đánh cảnh cáo rồi thả, còn tờ báo không hề hấn gì.
Tháng 11 năm 1960, trong cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm thất bại, báo Saigon Mới đăng bản tuyên cáo của phe đảo chánh. Tưởng rằng tờ báo đã phải đình bản. Chủ nhân đã biện luận rằng làm báo thì phải đăng tin, báo không ủng hộ mà cũng không chống ai cả. Nhờ vậy tòa soạn chỉ phải chấp nhận hai “ký giả” của chính phủ đưa xuống làm “cố vấn” để được tồn tại.

Đầu thập niên 1960, vì đăng bài phóng sự bị cho là thiếu khả tín, tờ Saigon Mới bị các tờ báo khác “đánh hội đồng”. Ký giả Nguyễn Hoạt của nhật báo Tự Do nói với Vũ Hoàng Chương:“Cả bọn chúng tôi xúm vào đánh bà Bút Trà mà bà ấy chẳng hề hấn gì, cứ như là châu chấu đá voi.”
Và thi sĩ đã làm ngay hai câu thơ

“Hai chân tanh tách làm luôn mãi
Một đống lù lù cứ thế thôi. [39]”

Hoạt động xã hội

Ngoài việc làm báo phục vụ người lao động, bà Bút Trà còn có những hoạt động xã hội như:

-lập Hội Phụ Nữ Việt Nam năm 1952 và làm Chủ Tịch vĩnh viễn cho tới khi bị xáp nhập vào Hội Phụ Nữ Liên Đới của Bà Ngô Đình Nhu, năm 1963[40]. Nhờ sự cổ động của Saigon Mới, Hội Phụ Nữ Việt Nam hoạt động mạnh mẽ. Đầu thập niên 60 gần như mỗi tỉnh đều có một chi hội, phục vụ cho các chị em bình dân.

-sáng lập và làm chủ tịch vĩnh viễn Bình Dân Học Hội để hỗ trợ cho Hội Phụ Nữ Việt Nam.

-Một trường tiểu học, Trường Bình Dân Học Hội ở Khánh Hội, cũng được bà thành lập để giúp trẻ em nghèo, tạo việc làm cho nhiều phụ nữ. Ông Phạm Lộc đã viết cho Hoàng Hải Thủy một bức thư có đoạn sau: “Bà má tôi là giáo viên dậy ở Trường Bình Dân Học Hội số 266 đường Tôn Ðản của BÀ BÚT TRÀ. Tôi phải viết hoa BÀ BÚT TRÀ vì nhờ mẹ tôi có việc làm ở trường của bà nên mẹ tôi mới có tiền nuôi tôi ăn học, tôi có bằng Tú Tài, vô lính lên đến Ðại Uý. Tôi vẫn cám ơn BÀ BÚT TRÀ và cầu nguyện mong Bà được yên vui trong cõi vĩnh hằng.”[41]

-Tháng Chạp mỗi năm Hội Phụ Nữ Việt Nam liên kết với Bình Dân Học Hội vận động các tiệm buôn, các chị em có lòng từ thiện tài trợ để tổ chức “Cây Mùa Xuân”cho các em nghèo liên hoan.

Nhận xét của vài nhà văn về bà Bút Trà

Với thành công lớn trong nghề nghiệp, bà Bút Trà không tránh khỏi lời khen chê của các đồng nghiệp. Người ta chê bà ít học, không viết nổi một câu văn, lấy nghề nghiệp và vị thế của bà ra dè biểu “Thiếm Xồi”, “chị Tư Bồn Binh”[42]. Người ta còn chê tờ báo của bà không xuất sắc, chỉ trích lối cạnh tranh bằng cách tặng phụ bản. Nhưng họ không thể phủ nhận tài năng của bà Bút Trà. Bình Nguyên Lộc viết “Rõ ràng đó là một người đàn bà oanh liệt. Và tờ báo bán mạnh là nhờ cả ở bà, chớ ông Bút Trà chẳng trổ tài được lần nào hết…. Thiên hạ đều chê bà Bút Trà, đều chửi bà, tôi cứ thấy là bà có lý của bà, và cái lý ấy, không là cái lý điên cuồng đâu. Bà là người buôn bán chứ đâu phải và nhà văn hóa. Và người buôn bán ấy cứ tiếp tục giỏi buôn bán, giỏi ngoài thương trường và giỏi cả trong làng báo”.

Khi bị từ chối đề nghị được cộng tác với Saigon Mới, ông không buồn lòng, ngược lại còn nể phục bà đã cương quyết giữ vững lập trường “viết cho chị bán cá đọc cũng hiểu”. Bình Nguyên Lộc viết “Có thể nói mà không sợ sai là chính tôi đã tạo ra bà Bút Trà. Và ngược lại chính bà Bút Trà đã tạo ra Bình Nguyên Lộc”

Hoàng Hải Thủy, người đã cộng tác 9 năm với Saigon Mới, rất khâm phục bà Bút Trà, ông nói

“Tôi kính phục bà Bút Trà. Tôi coi bà là bà chủ của tôi. Trọn một đời làm báo của tôi, tôi đã làm với khoảng trên dưới mười ông bà chủ báo, chỉ có một bà Bút Trà được tôi coi là chủ nhân của tôi”.

Từ Chung, một nhà báo khoa bảng có bằng Tiến Sĩ Kinh Tế[43], nói về tài năng của bà Bút Trà: “Bà là một người làm báo, một nữ quản trị có tài bằng bốn người khác.”[44]

Nhật Báo Saigon Mới

Lịch Sử của tờ báo

Có nhiều tài liệu khác nhau về năm ra đời của tờ Sài Thành, tiền thân của Saigon Mới. Trong tác phẩm Ba Nhà Báo Sài Gòn, Trần Nhật Vy trích Hối Ký của nhà báo Ngọa Long trong loạt bài “10 năm Làng Báo Sài Gòn 1927-1937”, rằng khởi đầu tờ Sài Thành là của ông Mạnh Tự Trương Duy Toản, đến năm 1930 nhường lại cho ông Bút Trà[45]. Ông Thanh Việt Thanh[46] trong “Ba nhà báo cùng tên Nguyễn Đức Nhuận” lại cho rằng tờ Sài Thành của Bút Trà đã xuất hiện từ năm 1929, đến năm 1931 đổi tên là Sài Gòn[47]. Đến cuối năm 1946, lại đổi tên lần thứ hai thành Saigon Mới. Lúc đầu tòa soạn ở số 23 đường Filippini[48], nay là Nguyễn Trung Trực, Saigon, sau dời về 39 đường Colonel Grimaud tức Phạm Ngũ Lão, gần bùng binh chợ Bến Thành. Nơi đây vừa là tòa soạn, vừa là nhà in và cũng là nơi cư ngụ của gia đình Bút Trà.

Cuối năm 1963, khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, tòa báo Saigon Mới bị đập phá và phải lấy lại tên cũ là Sài Gòn. Qua năm 1964, sau cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh, tờ Sài Gòn bị đóng cửa vì “tội cấu kết với Độc Tài”. Nhờ tài xoay sở của bà Bút Trà, tờ báo tái sinh một lần nữa, trở về tên Saigon Mới. Đến năm 1972 báo phải đình bản vĩnh viễn vì không ký quỹ 20 triệu đồng cho Nha Ngân Khố[49] theo luật báo chí mới thời đó. Như vậy, nhật báo có nhiều tên (Sài Thành- Sài Gòn- Saigon Mới) của Bà Bút Trà tồn tại hơn 42 năm, có tuổi thọ dài nhất trong lịch sử báo chí của Miền Nam trước năm 1975.

Chủ trương và các sáng kiến của Sai Gòn Mới.

Saigon Mới là tờ báo thành công nhất ở Sài Gòn trước năm 1975. Thời cực thịnh, từ năm 1957 đến 1963. Đối tượng của tờ báo là quần chúng ít học, người lao động và các tiểu thương. Quan điểm này thể hiện rõ trong lời từ chối của bà Bút Trà khi Bình Nguyên Lộc xin được cộng tác với Sai gòn Mới “Tôi chỉ đăng bài mà chị bán cá có đọc cũng hiểu. Cậu viết khó hiểu, người bình dân không đọc đâu”.

Tờ báo được sự cộng tác của nhiều cây bút rất được ưa chuộng như Bà Tùng Long, Hồng Tiêu, Thiếu Lăng Quân, Hàn Mạc Tử, Hoàng Hải Thủy, Phi Long (Ngọc Sơn), Thanh Phong, Hoa Đường, Jean Baptiste Đồng, Trọng Nguyên, Vũ Bình Thư, Mộng Đài, Nguyễn Vỹ…. và cả những nhà thơ nổi tiếng như Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, ký giả nổi tiếng tường thuật bóng đá, Huyền Vũ, cũng là biên tập viên mục thể thao của Sàigòn Mới.

Một yếu tố quan trọng khác giúp các tờ báo của gia đình bà Bút Trà thành công là những sáng kiến của người điều hành và các cộng sự:

Mục Gỡ Rối Tơ Lòng: do Bà Tùng Long đề nghị và phụ trách và đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Ông Trần Quân cho rằng “Độc giả của bà (Tùng Long) thuộc nhiều thành phần khác nhau, phần đông ở giới lao động, ít học, những người nội trợ muốn tìm cái chìa khóa hạnh phúc, những kẻ không có phương tiện để đến trường nghe lời giảng dạy của các thầy giáo, cả những quân nhân ở những vùng xa xôi hay những thủy thủ thiếu mái ấm gia đình”.

Mục Vận Số Trong Tuần: do người anh ruột của bà Bút Trà, ông Tôn Văn Khuê[50], phụ trách. Ông Khuê là một trong những ngưới sáng lập Hội Trưởng Hội Tam Tông Miếu, ở số 42 đường Cao Thắng, Bàn Cờ. Lịch Tam Tông Miếu -có chú thích ngay giờ lành, dữ và những việc nên hoặc kiêng làm trong mỗi tờ lịch ngày nên rất được ưa chuộng- do nhật báo Saigon Mới độc quyền phát hành.

Sai gon Moi Giải Đáp Pháp Luật: do Luật Sư Diệp Văn Kỳ, cũng là luật sư riêng của báo Saigon Mới, phụ trách.

Giải Đáp Y Tế: Theo ông Trần Quảng Á thì đây cũng là một trong những sáng kiến mới chưa tùng có trong làng báo Việt Nam.

In phụ bản tặng kèm mỗi số báo: Phụ bản in offset màu mè, vui mắt tặng kèm theo tờ báo. Lúc đầu in hình bản đồ Việt Nam rồi đến bản đồ Nam Kỳ; về sau in tranh ảnh, chim muông, thú vật…. Nhờ vậy mà số độc giả tang vọt. Nhiều người mua báo chỉ để lấy phụ bản dán lên vách trong nhà. Tết 1962 Saigon Mới vất vã lắm mới được phép độc quyền in hình đại gia đình Tổng Tống Ngô Đình Diệm, cũng vì vậy mà sau biến cố 1963, tờ báo gặp rắc rối về tội “ủng hộ chế độ độc tài” như đã viết trong phần trên.

Ảnh hưởng của Saigon Mới

Saigon Mới đáp ứng tức thời nhu cầu tinh thần của giới bình dân. Người lao động không có thói quen đọc sách, nhưng lại thích xem nhật báo Saigon Mới với dủ thứ tin tức từ chuyện linh tinh trong xóm đến các tài liệu hữu ích, cả các chuyện lạ khắp năm châu. Những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ hấp dẫn, phù hợp với đạo lý và phong tục người Miền Nam. Saigon Mới lại có thể giúp độc gia giải quyết được nhiều bế tắc qua mục Gỡ Rối Tơ Lòng. Trong hồi ký của mình Bà Tùng Long đã trích bài viết của ký giả Trần Quân như sau:

“Khi tiếng gà vừa gáy đợt đầu, một người đàn bà đã già mở cửa một cái chòi và sai một đứa bé đi mua một cái gì đó. Mấy phút sau đứa bé chạy về với hai bàn tay không và sẳn sàng chống đỡ những lời rầy la của bà. Bà ta đã đưa cho nó hai đồng bạc để mua cho bà một tờ Sai Gòn Mới, tờ báo mà ai cũng biết xuất bản vào buổi sáng, và thằng bé đã lấy tiền đó để mua một khúc bánh mì… Người đàn bà đã không dằn được tức giận, bảo tại sao nó không chịu ăn sáng với cơm nguội như mọi người trong gia đình và để tiền mua tờ báo. Tờ báo đối với bà thật sự là một bữa điểm tâm tinh thần, cũng như một hơi thuốc lá và một tách cà phê nóng vào buổi sáng của những người thượng lưu.”

Như vậy Saigon Mới đã trở thành một nhu cầu tinh thần của người lao động. Thật ra nó cũng có ảnh hưởng lớn đến cả thành phần trí thức và doanh nhân:

Dương Hà, một cây bút mới, với tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm đăng trên Saigon Mới, đã từng làm cho cả giới trí thức cũng phải say mê. Vì vậy khi truyện vừa đăng hết trên báo thì đã xuất bản ngay thành sách và đến bây giờ vẫn còn tiếng vang.

Trong hồi ký của mình, Bà Tùng Long viết “Đọc giả của tôi (qua Saigon Mới) không phải là người những người bình dân ít học như người ta thường nói mà trong giới trí thức cũng có người là độc giả trung thành của tôi” và bà cho biết đã gỡ rối cho những gia đình trí thức như giáo chức, thương gia…; đã thức tỉnh được một vị bác sĩ đã có vợ còn biểu hiện tình cảm khác thường với một bệnh nhân là em của bạn mình. Bà còn giúp một bà cụ giải tỏa được sự bế tắc giữa mẹ chồng và người con dâu trí thức vừa góa chồng. Bà cụ tha thiết xin gặp mặt người giúp mình, khi đó Bà Tùng Long mới nhận ra bà cụ chính là một cô giáo cũ dạy bà hồi tiểu học.

Bà kể chuyện mình lấy kinh nghiệm dạy học của bản thân để trả lời cho một giáo viên. Không dè ông Hiệu Trưởng trường Sư Phạm cũng là đọc giả nên dùng nó làm tài liệu dạy học và có nhã ý mời bà đến trường thuyết trình.

Như vậy Saigon Mới cũng đã từng có ảnh hưởng rất lớn đến đại chúng. Nhờ thế mà tờ báo có tuổi thọ dài nhất với số báo tiêu thụ nhiều nhất, giúp cho gia đình bà Bút Trà một tài sản đồ sộ trước năm 1975.

Lời kết:

Ba người phụ nữ điển hình cho ba tầng lớp: bà Sương Nguyệt Anh khuê các nho phong, bà Cao Thị Khanh tân tiến quý phái, bà Bút Trà bình dị thiết thực; đã giữ những vai trò quyết định trong tờ báo của họ và làm vẻ vang làng báo Việt Nam. Họ đã hoàn thành sứ mạng trong thời đại của mình bằng ba phong thái:

Sương Nguyệt Anh từ khung cửa Nho Giáo bước vào nền văn minh phương tây khiêm nhường và uyển chuyển. Nữ Giới Chung gióng hồi chuông đầu tiên khởi xướng việc làm báo để đấu tranh cho phụ nữ.

Bà Cao Thị Khanh, một phụ nữ trí thức, chịu ảnh hưởng Tây học, tiếp nối sự nghiệp đấu tranh cho nữ quyền một cách mạnh mẽ bằng ngòi bút và bằng hoạt động thực tế. Cao Thị Khanh với hoài bão lớn lao, quần tụ chị em trí thức trung lưu và thượng lưu quyết chen vai với nam giới “đem phấn son tô điểm sơn hà” giúp người, làm đẹp đời. Tờ Phụ Nữ Tân Văn và các hội đoàn vệ tinh hoạt động một cách bác học, đả phá hủ tục, cổ vũ tư tưởng tự do, bình đẳng trong quan hệ nam nữ, đổi mới trong văn thơ và dũng cảm thực hiện tâm huyết “làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”.

Bà Bút Trà ít học, mộng ước bình thường, tạo sự nghiệp bằng nghề làm báo. Bà chọn thành phần lao động làm đối tượng để phục vụ. Các tờ báo cùng với các hội đoàn do bà sáng lập, phụ trách là những bàn tay trực tiếp giúp đỡ, đáp ứng tức thời nhu cầu tinh thần của giới bình dân. Ngược lại bà cũng đã làm cho Saigon Mới trở thành một nhu cầu hằng ngày của họ.

Để kết thúc bài viết chúng tôi xin trích hai ý kiến sau:

Ý kiến thứ nhất: trích phóng sự “Mấy bà quản lý nhà báo trong Nam”, của ký giả Văn Lang đăng trong Trung Bắc Tân Văn số 18, ngày 30/6/1940. Ông so sánh phụ nữ Nam, Bắc trong nghề làm báo như sau:

“Chắc hẳn chị em Bắc Hà ta phải chịu mình thua kém phụ nữ phương Nam về tài nghệ kinh doanh một tờ báo. Làng báo ta ngoài này tuy cũng có một vài bạn phụ nữ đứng quản lý một vài tờ báo nhưng chỉ coi đại thể bề ngoài hoặc giúp việc tòa soạn, thử hỏi có một bà nào, cô nào đảm đương nổi vận mạng lý tài của một tờ báo như mấy bà nữ quản lý kể chuyện trên chưa?”

Y kiến thứ hai: trích kết luận của ông Trần Quảng Á trong bài “Bút Trà trong làng báo Việt Nam” (http://www.nuiansongtra.com/index.php?c=article&p=536), viết về công lao của báo chí thời trước 1975 nói chung và các tờ Nữ Giới Chung, Phụ Nữ Tân Văn và Saigon Mới nói riêng:

“Đứng ra đảm đương một tờ báo từ những thập niên đầu thế kỷ XX, thời báo chí Việt Nam còn sơ khai với chữ Việt vừa mới được công nhận là quốc ngữ, với số lượng người viết báo chưa tới hàng trăm và với tên đầu báo có thể đếm trên đầu ngón tay, cùng với những tờ báo Việt Ngữ khác, các báo của ông bà Bút Trà nhờ có nội dung ăn khách, đã làm được những việc mà bộ Giáo Dục và các trường học chưa làm được: hàng triệu đồng bào ít học nhờ ghiền báo mà

dần dần đọc thông tiếng mẹ đẻ”.

Sydney, tháng Giêng năm 2016

Dương Thanh-Bình

Tài liệu tham khảo:

http://chimviet.free.fr/.../ngthanhliem/ntln050.htm
Thiếu Sơn – Hồi ký một đời người, tạp chí Phổ Thông số 13, ngày 15/6/1959.

Anh Thư Nước Việt Từ Lập Quốc Đến Hiện Đại, Bà Phương Lan, cơ sở xuất bản Đại Nam, in ở Đài Loan.

https://hoanghaithuy.wor...1/29/thang-tan-nam-cung/
Báo Chí Việt Nam //www.hobieuchanh.com/pages/baochiVN.html

http://chuyencuachi.blog...cach-mang-thang.html?m=1

http://baotanglichsu.vn/...ich-su/2013/10/3A923B99/

http://www.dongnaicuulon...t_detail.php?nhanVatId=9

http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?
option=com_content&view=article&id=1631:sng-nguyt-anh-n-s-n-ch-but-tai-hoa-va-tri-tu&catid=63:vn-hc-vit-nam&Itemid=106

http://phapluattp.vn/van...-bao-sai-gon-581284.html

Ba Nhà Báo Sài Gòn, Trần Nhật Vy, NXB Văn Hóa Văn Nghệ. TPHCM-2015
Hồi Ký Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc

http://www.binhnguyenloc...yVanNghe_OngBaButTra.htm

Hồi Ký Bà Tùng Long; ebook.
Viết ở Rừng Phong, Hoàng Hải Thủy

https://hoanghaithuy.wor...ry/uncategorized/page/6/

[1] Tác giả xin cám ơn anh Lý Hồng Giang và bạn Nguyễn Thị Thùy Nhiên đã tìm giúp các tài liệu hữu dụng.

[2] http://khoavanhoc-ngonng...c-vit-nam&Itemid=106

[3]月英,có tài liệu phiên âm sai là Nguyệt Ánh.

[4] Cũng có tài liệu cho rằng bà mất ngày ngày 20/1/1921

[5] Về các tác phẩm của Bà, độc giả có thể tham khảo

http://m.anninhthudo.vn/...bao-viet-nam/327002.antd

http://khoavanhoc-ngonng...c-vit-nam&Itemid=106

[6] Trích nguyên văn bài “Mấy lời kính tỏ”. Trong bài viết này, khi trích nguyên văn các bài báo cũ, chúng tôi giữ nguyên những chữ sai chính tả để tôn trọng sự trung thực. Đó cũng là cách để so sánh sự tiến triển của chữ quốc ngữ theo thời gian.

[7] Các chữ in nghiêng là trích nguyên văn bài báo của Bà Sương Nguyệt Anh.

Eight Ball http://chimviet.free.fr/.../ngthanhliem/ntln050.htm

[9] Các chữ in nghiêng trong đoạn này là tựa bài báo. Có thể xem thêm bài viết của Bà Cao Thị Khanh trong các tờ Phụ Nữ Tân Văn ở Thư Viện Báo Chí

http://baochi.nlv.gov.vn...l=CL1&sp=HtCq&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[10] Bà Cao Thị Khanh bàn chuyện phụ nữ Tàu đã dám vứt bỏ hủ tục bó chân, bỏ quan niệm hủ lậu “nam nữ thọ thọ bất thân”. Phụ Nữ Tân Văn số 87 ngày 18 tháng 6 năm 1931.

[11] sinh năm 1861, mất năm 1941 là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Môn và nhà dân tộc chủ nghĩa được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, là người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel.

[12] Đăng trong số 10, ngày 4 tháng 7 năm 1929 http://baochi.nlv.gov.vn...04.2.6&srpos=&e=—–1933–vi-20-HtCq-1–txt-txIN-H%E1%BB%99i+c%E1%BB%B1u+h%E1%BB%8Dc+sanh+n%E1%BB%AF+h%E1%BB%8Dc+%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng+—–

[13] Theo ông Thiếu Sơn trong Đuốc Nhà Nam, số 1, ngày 9 tháng 10 năm 1968

[14] Sau sửa lại là “Chủ Nhơn”

[15] http://baochi.nlv.gov.vn...mp;d=HtCq19290502&e=——-vi-20–1–img-txIN——#

[16] http://www.sachhay.org/c.../phan-son-to-diem-son-ha

[17] Đăng trong số 215 ngày 7 tháng 9 năm 1933

http://baochi.nlv.gov.vn...os=&dliv=none&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[18] http://baochi.nlv.gov.vn...os=&dliv=none&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[19] http://lainguyenan.free.fr/pk1929/tieudan.html

[20] Theo Bà Tùng Long, cách dùng chữ I thay cho Y là cách chế biến kỳ lạ của Nguiễn Ngu Í.

[21] Nguiễn Ngu Í, Thử Nhìn Lại 100 Năm Báo Chí, tạp chí Bách Khoa Thời Đại, số 217 ngày 15/1/1966

[22] Thời đó 1 giạ lúa giá chưa đến 1 đồng bạc.

[23] Trong bài Bội Thực Nhơn Tài, quỹ học bổng của P.N.T.V đã đến ngày kết quả

http://baochi.nlv.gov.vn...os=&dliv=none&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[24] Xem bài Hội Trí Đức Thể Dục Nam Kỳ SAMIPIC, tập san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai – Cửu Long số 9.

[25] http://baochi.nlv.gov.vn...=HtCq19311210.2.2&e=——-vi-20–1–img-txIN——#

[26] Tiếng Pháp, nghĩa là ngày 8 tháng 5.

[27] http://baochi.nlv.gov.vn...os=&dliv=none&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[28]Bài tường trình Cuộc Đấu Xảo Nữ Công do PNTV tổ chức và ảnh đăng trong PNTV số 109, ngày 19/11/1931

http://baochi.nlv.gov.vn...os=&dliv=none&e=——-vi-20–1–img-txIN——

[29] Phụ Nữ Tân Văn số 218 ra ngày 10 tháng 8 năm 1933

[30] Phụ Nữ Tân Văn số 259 ra ngày 20 tháng 9 năm 1934

[31] Thời đó có 3 ông làm báo cùng tên. Nguyễn Đức Nhuận, phu quân bà Cao Thị Khanh, chủ nhiệm tuần báo Phụ Nữ Tân Văn; nhà thơ Bút Trà – Nguyễn Đức Nhuận phu quân bà Tô Thị Thân chủ nhiệm nhật báo Saigon Mới; và nhà văn Phú Đức – Nguyên Đức Nhuận, chủ nhiệm báo Công Luận.

[32] Trong bài này các trích dẫn liên quan đến Bình Nguyên Lộc đều trích từ Hồi Ký Văn Nghệ của ông.

[33] Nhà thơ Nguyễn Đức Nhuận ghép tên núi Bút Sơn và sông Trà Khúc làm bút hiệu.

[34] Hồi Ký Văn Nghệ- Bình Nguyên Lộc http://maxreading.com/sa...ng-ba-but-tra-40311.html

[35] Ngọa Long tên thật là Trần Kim Lượng, là con trai của chủ nhiệm “Công Luận Báo”

[36] Trong bài này các trích dẫn liên quan đến Bà Tùng Long đều được trích từ Hồi Ký Bà Tùng Long.

[37] Theo Hồi Ký Bà Tùng Long thì Tử Vi Lang ngạo ông Đinh Văn Khai, chủ nhiệm báo Tiếng Chuông vừa ra 1 quyển sách ký tên mình nhưng do người khác viết, còn thơ của Bà Bút Trà là do ông Bút Trà làm.

[38] Hoang Hải Thủy, Viết ở Rừng Phong.

[39] https://hoanghaithuy.wordpress.com/2012/09/

[40] Hồi Ký Bà Tùng Long.

[41] https://hoanghaithuy.wor...m/2012/09/25/ba-but-tra/

[42] Vì bà kiên quyết ở luôn trong tòa soạn báo, đường Phạm Ngũ Lão, ngay bùng binh gần chợ Bến Thành, dù bà có một biệt thự sang trọng bỏ không.

[43] Từ Chung tên thật là Vũ Nhất Huy sinh năm 1924 người Sơn Tây, là tổng thư ký của nhật báo Chính Luận, một tờ báo chống cộng nổi tiếng. Ông bị ám sát năm 1965. http://minhduc7.blogspot...i-quan-cam-1997.html?m=1

http://minhduc7.blogspot...quyen-tu-do-bao-chi.html

[44] Từ Chung-“Nói chuyện với những bạn thích làm báo”. Tạp chí Bách Khoa Thời Đại số 217 ngày 15/6/1965

[45] Trong tác phẩm này Trần Nhật Vy trích nhiều nguồn khác nhau về những năm ra đời của tờ Sài Thành, nhưng theo chúng tôi đây là tài liệu khả tín nhất.

[46] Thi sĩ Thanh Việt Thanh tên là Lưu Ngọc Thành, người Tây Ninh, sinh năm 1930, từng cộng tác với các tờ báo Phổ Thông (của Nguyễn Vỹ), Nhân Loại, Ngày Mới, Thời Luận, Nhân Quyền…

[47] http://tanmanvanchuongth...en-uc-nhuan-bai.html?m=1

[48] Có thể đây là tòa soạn thời Sài Thành còn là của ông Trương Duy Toản.

[49] Theo điều 4 của sắc luật số 007/TT ngày 4/8/1972 số tiền này để bảo đảm việc thanh toán các án phí hay tiền bồi thường thiệt hại dân sự. 20 triệu đồng rất lớn vì vàng thời đó chỉ chừng 16 ngàn/lượng

[50] Theo Trần Nhật Vy trong Ba Nhà Báo Sài Gòn thì cha và các anh chị em của Bà Bút Trà đều họ Tôn và không rõ vì sao bà lại đổi thành họ Tô.

Edited by user Thursday, August 19, 2021 5:16:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#15 Posted : Saturday, August 21, 2021 7:48:04 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Vũ Hán và Hoàng Hạc Lâu


Trần Nguyên Thắng
/ATNT Tours & Travel
January 31, 2020

UserPostedImage

Một góc Hoàng Hạc Lâu. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu ra đời tại thành Vũ Xương vào thế kỷ 8, thời thịnh Ðường, với tám câu:

“Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tĩnh xuyên lịch lịch Hán Dương Thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”

Ngày xưa lầu Hoàng Hạc đẹp như thế nào thì ngày nay khó mà có ai có thể hình dung ra được, nhưng “Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu” thì quả là một hình ảnh thật đẹp. Ðẹp đến nỗi mà dù đã trải qua hơn 1250 năm rồi mà Hoàng Hạc lâu vẫn là một hình ảnh thần tiên dịu ngọt kèm theo một nỗi buồn man mác trong lòng những người đọc thơ của Thôi Hiệu, nhất là đọc qua bài thơ dịch tuyệt vời của nhà thơ núi Tản sông Ðà Nguyễn Khắc Hiếu.

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh, cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Con sông dài Trường Giang là con sông dài nhất (6,300 km) của Trung Hoa. Nguồn sông phát xuất từ cao nguyên Thanh Tạng, chảy qua các bình nguyên Tứ Xuyên, xuyên qua hẻm vực Tam Giáp rồi chảy vào bình nguyên Giang Hán. Cũng tại nơi đây, một chi lưu sông Hán Thủy từ hướng Bắc cũng tuôn chảy nhập vào con sông lớn Trường Giang tạo thành ngã ba sông Trường Giang – Hán Thủy.

Đây chính là khu vực địa danh lịch sử nổi tiếng của hơn ngàn năm trước của Trung Hoa như Hạ Khẩu, Hán Dương, Di Lăng… (những ai đã từng thích thú với bộ truyện Tam Quốc Chí đều nghe biết đến các địa danh trên). Ðây cũng chính là khúc sông đã cho người đời sau những điểm di tích, những câu chuyện thần tiên và các sự tích lưu truyền mà người dân Trung Hoa (và ngay cả những quốc gia nào bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa) cũng đều biết đến. Nào là Ðộng Ðình Hồ, trận thủy chiến Xích Bích nổi tiếng thời Tam Quốc của Chu Du – Khổng Minh – Tào Tháo, Lầu Hoàng Hạc, Nhạc Dương Lầu, câu chuyện tri âm tri kỷ… có ai mà không nghe đến.

Một trong những điểm văn hóa nổi bật ở ngã ba sông này, phải nói đến Lầu Hoàng Hạc. Thử tìm hiểu đôi chút về “thân thế” của Hoàng Hạc Lâu như thế nào! Thời cuối Ðông Hán thế kỷ thứ 3, vua nhà Ðông Hán nhu nhược bị các lộng thần chèn ép. Tào Tháo lợi dụng danh nghĩa phò vua Hán chiếm giữ phía Bắc (sau là Tào Ngụy), Lưu Bị xưng là tôn thất nhà Hán, lập ra nhà Thục Hán chiếm giữ miền Tây Nam. Tôn Quyền lui về Giang Ðông lập ra Ðông Ngô, xưng đế hiệu Ngô Hoàng Vũ.

Thế Tam Quốc phân chia từ đó, thành Kinh Châu thuộc về Ðông Ngô nhưng “được” Lưu Bị mượn và giao cho Quan Vân Trường (Quan Vũ). Vì ỷ y và khinh thường quân tướng Ðông Ngô nên Quan Vũ thiệt mạng và để mất Kinh Châu về tay Ðông Ngô. Năm 223, Tôn Quyền ra lệnh xây thành Giang Hạ (Hạ Khẩu) bên ngã ba sông Trường Giang và Hán Thủy để đóng quân. Trong cái thế Tam Quốc thời đó, Hạ Khẩu là một thành trì chiến lược rất quan trọng vì cả ba nước Ngụy – Thục Hán – Đông Ngô đều cho rằng phe nào chiếm được Hạ Khẩu thì phe đó sẽ chiến thắng cuộc chiến.

Nhằm để theo dõi binh tình, Tôn Quyền cho xây trên góc một ngọn đồi nhỏ cạnh sông Trường Giang một tháp quan sát bên phía tây nam của thành Giang Hạ để theo dõi binh tình. Ðứng trên tháp, người ta có thể quan sát được thuyền bè di chuyển trên sông Hán Thủy và phía Tây của Trường Giang. Tháp quan sát này được đặt tên là Hoàng Hạc Lâu.

Cho đến ngày nay, không ai hiểu vì sao tháp lại có tên là Hoàng Hạc Lâu, một cái tên có vẻ trong câu chuyện thần tiên hơn là một cái tên dùng trong giới quân binh.

Dân tộc Trung Hoa thường có quan niệm triết lý “Thiên Nhân hợp nhất” nên họ thường hay tạo ra những câu chuyện thần tiên trong bất cứ các câu chuyện lịch sử, đền đài hay bảo tháp. Vì vậy, câu chuyện về ngọn tháp quan sát của Ðông Ngô thời Tam Quốc cũng đã được thiên hạ ít nhiều khoác vào tháp canh những câu chuyện thần tiên cho tháp.

UserPostedImage

Hoàng Hạc Lâu ngày nay tại Vũ Hán. (Hình: ATNT Tours & Travel)

Một trong những câu chuyện thần tiên của ngọn tháp quan sát thời Đông Ngô, có lẽ phát xuất từ thời Nam Bắc Triều, một thời đại loạn lạc liên miên khiến con người không còn tin tưởng nhiều về đời sống, giữa cái bình yên và chiến tranh, giữa cái sống và cái chết, giữa cái giàu sang và nghèo đói khốn cùng. Con người thời đó có khuynh hướng nghiêng về các câu chuyện thần tiên để quên đi những thực tại đau khổ (thời đại Cộng Sản ngày nay thì người ta dùng chiêu bài dân tộc chủ nghĩa để “mị dân,” toàn quyền thống trị người dân vì sự tự ti của người Trung Hoa bị đô hộ, thất trận, thua kém thế giới trong suốt thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20). Từ tâm lý đó, người ta dễ dàng lui về tìm một nơi chốn ẩn náu bình yên để thêu dệt, tưởng tượng ra những điều mơ ước. Hoàng Hạc Sơn là một ngọn đồi cao tại vùng Hạ Khẩu, gần bên thành Giang Hạ, vì vậy ngọn đồi này trở thành một điểm lý tưởng cho con người thời Tam Quốc tìm về ẩn dật, lánh xa những chuyện đời thường.

Trong thời Nam Bắc triều Trung Hoa, người ta lại nói về câu chuyện tiên ông Vương Tử An cỡi hạc vàng bay trên ghềnh đá Hoàng Hạc của Hạ Khẩu. Ngồi trên lưng hạc nhìn từ cao xuống, Tiên ông Tử An đã thấy được sự hiểm nghèo và hùng vĩ của con sông Trường Giang, thấy được cái cao của ngọn tháp Ðông Ngô, thấy được cái mênh mông của bình nguyên Giang Hạ.

Ðến đời nhà Ðường, thì câu chuyện tiên ông cỡi hạc vàng Vương Tử An được biến đổi thành câu chuyện khác. Một vị thừa tướng của Thục Hán Lưu Bị tên Phí Vĩ bị ám sát chết. Sau khi chết, Phí Vĩ được lên cõi tiên, ông cỡi hạc vàng và đã dừng chân nghỉ trên ngọn tháp quan sát của Ðông Ngô. Vì sự tích này mà tháp này được đặt tên là Hoàng Hạc Lâu.

Một số các câu chuyện thần tiên khác về Phí Vĩ nhưng được thêm thắt nhiều hơn. Có truyện kể rằng sau khi lên tiên, Phí Vĩ hay thơ thẩn đi chu du đây đó, nhất là hay thả bộ dọc theo bờ sông Trường Giang. Ông thường hay ghé vào một tửu lầu ở cuối đồi Hoàng Hạc Sơn uống rượu nhưng ông không có tiền nên uống rượu “ghi sổ.” Tuy nhiên, chủ quán vẫn luôn vui vẻ cho ông thiếu tiền rượu mà không hề đòi.

Nhiều năm trôi qua như thế, bỗng một ngày Phí Vĩ gọi chủ nhân họ Tân lại nói: “Tôi nợ ông tiền rượu quá nhiều rồi. Bây giờ là lúc tôi xin trả cho ông.” Nói xong, Phí Vĩ một tay cầm vỏ cam, và gọi hạc vàng đến. Phí Vĩ leo cỡi hạc vàng bay dọc theo bờ tường của tửu lầu nói vọng theo: “Mỗi khi có khách đến uống ruợu thì ông hãy vỗ tay và hát lên thì ngay lập tức hạc vàng sẽ từ tường đá hiện ra và múa theo điệu ông hát.” Nói xong Phí Vĩ bay mất!

Người chủ quán tuy nghi ngờ về những điều Phí Vĩ nói nhưng rồi thì vì
tò mò ông ta cũng làm theo những gì mà Phí Vĩ đã dặn. Và đúng như thế, mỗi lần họ Tân vỗ tay và hát thì chim hạc luôn luôn hiện ra nhảy theo nhịp hát của ông. Cứ như thế, mười năm trôi qua, chủ quán trở nên giàu có, nhưng lòng lúc nào cũng nhớ đến Phí Vĩ. Chợt một hôm Phí Vĩ trở lại gặp họ Tân và hỏi rằng: “Chim hạc của tôi đã trả nợ đủ tiền rượu cho tôi chưa?” Ðể cám ơn, chủ quán đã mời Phí Vĩ dùng cơm tối, nhưng Phí Vĩ không nói gì, ông lấy ra một ống sáo bằng ngọc và thổi lên một tấu khúc. Chỉ trong chốc lát, một cụm mây trắng từ trời sa xuống, hạc vàng bay đến chỗ ông. Phí Vĩ cỡi chim hạc và bay theo vầng mây trắng mất hút vào trời không. Sau đó, người chủ quán đóng cửa tiệm rượu và dùng hết số tiền mình có để xây Hoàng Hạc Lâu, để nhớ đến Phí Vĩ và hạc vàng. Người đời sau dùng câu “bạch vân hoàng hạc/ mây trắng hạc vàng” để ám chỉ về sự tích này.

Ðến đời nhà Minh nhà Thanh, người ta còn có thêm thắt các câu chuyện thần tiên khác vào với sự tích đời nhà Ðường. Nhưng có lẽ chúng ta cũng không cần biết đến ở đây vì dù sao thì nhà thơ Thôi Hiệu đã viết bài “Hoàng Hạc Lâu” ở trong không gian và thời gian đời nhà Ðường mất rồi!

Trải qua bao nhiêu thăng trầm với thời gian và lịch sử, Hoàng Hạc Lâu
đã được trùng tu và xây dựng lại nhiều lần. Triều đại nào của Trung Hoa cũng cho xây lại Hoàng Hạc Lâu, không hiểu có phải vì bài thơ của Thôi Hiệu hay không? Nhưng rõ ràng là dân gian Giang Hạ, người của đất Sở ngày xưa sống không thể thiếu được Hoàng Hạc Lâu. Không ai muốn cho Hạc vàng bay đi mất cả!

UserPostedImage[/img]

Họa tranh diễn tả “Bạch vân Hoàng Hạc/ Mây trắng Hạc Vàng.” (Hình:
ATNT Tours & Travel)

Đời nhà Ðường, Hoàng Hạc Lâu đã được xem như là nơi đàn hát, tiêu khiển và thưởng ngoạn phong cảnh của tao nhân mặc khách. Chẳng vì thế mà Thôi Hiệu, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Ðỗ Phủ… và không biết là bao nhiêu thi tài đã dừng gót tại Hoàng Hạc Lâu, ngắm cảnh “bạch vân hoàng hạc” và để lại cho đời sau những thi ca bất tử. Một câu chuyện kể lại rằng khi Lý Bạch đến Hoàng Hạc Lâu ngắm cảnh. Thấy cảnh sinh tình, nhà thơ muốn phóng tay viết về Hoàng Hạc Lâu nhưng ông chợt thấy đã có bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Biện Châu Thôi Hiệu treo ở đấy.

Ðọc bài thơ của Thôi Hiệu, Lý Bạch đành bái phục mà viết rằng “nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (trước mắt có cảnh mà đành chịu, vì thơ Thôi Hiệu viết trên đầu).

Nhà Ðường suy tàn để nước Trung Hoa hỗn loạn với thời kỳ Ngũ Ðại và Hoàng Hạc Lâu cũng bị tàn phá vì chiến tranh và thời gian. Thế nhưng “Hoàng Hạc Lâu” đã là một nét văn hóa, một cái điều gì đó mà người đời sau cảm thấy không thể thiếu được khi nhắc đến Hán Dương, Giang Hạ. Chẳng vì thế, khi nhà Tống thống nhất Trung Hoa thì Hoàng Hạc Lâu lại được kiến trúc lại, nhưng theo phong thái đời Tống. Thế nhưng sau khi nhà Tống sụp đổ thì Hoàng Hạc Lâu một lần nữa lại bị phá hủy.

Nhà Nguyên Mông Cổ chiếm trọn và cai trị Trung Hoa gần 100 năm. Chu Nguyên Chương khởi nghĩa thu phục Trung Hoa trở lại cho Hán tộc, lập ra triều đại nhà Minh kéo dài gần 300 năm. Rồi thì nhà Minh suy tàn để nhà Thanh thay thế và cũng trị vì gần 300 năm. Bốn Mùa Xuân Hạ Thu Đông luân phiên thay nhau có cả hơn ngàn lần, Hoàng Hạc Lâu tan nát vì chiến tranh và hỏa hoạn tất cả 12 lần và cả 12 lần đều được cho xây dựng kiến thiết lại (không kể các lần trùng tu) cho dù dưới bất cứ triều đại nào, vua nào. Vì thế, Hoàng Hạc Lâu có hơn 12 kiểu kiến trúc khác nhau, từ một tháp quan sát thời Ðông Ngô trở thành Hoàng Hạc Lâu đời Ðường, Hoàng Hạc Lâu đời Tống, đời Minh, đời Thanh, cho đến bây giờ thời Cộng Sản. Thế mới biết có những điểm văn hóa người ta muốn quên cũng không quên được, muốn dẹp bỏ đi cũng không dẹp bỏ được.

Từ năm 1957, dân Vũ Hán đã có chương trình phục hồi lại Hoàng Hạc Lâu nhưng mãi cho đến năm 1985 thì Hoàng Hạc Lâu hiện đại mới được hoàn thành. “Lầu” bây giờ cao hơn 50 mét, có năm tầng lầu và được xây lại theo vóc dáng Lầu cũ của đời nhà Thanh Ðồng Trị. Ðể tránh rủi ro về hỏa hoạn, sườn của Lầu mới được xây bằng sắt thép và xi măng chứ không còn bằng gỗ như ngày xưa nữa.

Ðứng ở trên tầng cao nhất của Hoàng Hạc Lâu, người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, của hai sông Trường Giang và Hán Thủy. Phong cảnh quả là hữu tình! Bước qua ranh giới của hai chữ quốc gia, văn hóa Trung Hoa quả thực cho người ta nhiều cảm khái về suy tư, về tâm hồn thi vị. Không có được cái cảm khái đó thì có lẽ Tản Ðà chúng ta đã không dịch ra được một bài thơ tuyệt hảo về Hoàng Hạc Lâu.

Tản Ðà không những vẫn giữ nguyên được cái ý nghĩa nguyên thủy Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu mà còn vượt qua nổi cái thâm trầm ngôn ngữ của nguyên tác để đưa vào lòng người đọc thơ những điều nhẹ nhàng tinh túy nhất của ngôn ngữ Việt Nam (giảng luận về Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu của Bùi Giáng).

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” nghĩa là “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Vũ Hán là tên ghép của Vũ Xương – Hán Thủy có một thời văn hóa lộng lẫy như thế!

Ngày nay “văn hóa Cộng Sản” thay thế, từ nghèo-đói tiến đến bần-cố-nông cộng với sự cao ngạo trong lãnh vực Đông y, Trung Cộng phát triển ra một thứ văn hóa ẩm thực quái gỡ, người ta ăn tất cả mọi loài thú vật, động vật, côn trùng thảo mộc để ngày nay phát triển ra dịch bệnh Corona ngay tại Vũ Hán. Tất cả chỉ vì đồng tiền và quyền lực, giấu giếm đi sự an toàn sinh mạng của người dân Vũ Hán nói riêng.

Cơn dịch bệnh đang vô hình trung nhốt người dân Vũ Hán “ở trong một trại tập trung khổng lồ nhất thế giới qua bao thế kỷ.” Hỡi tiên ông Phí Vĩ, liệu Hạc Vàng của ông có đem thuốc tiên xuống cứu dân Vũ Hán được không?

(Trần Nguyên Thắng)

Du lịch Vũ Hán: Thưởng ngoạn vẻ đẹp Hoàng Hạc Lâu


03/03/2016

Hoàng Hạc Lâu tọa lạc tại thành phố vũ Hán. Đây là một trong ba công trình nhà tháp văn hóa lớn, nổi tiếng và đặc sắc nhất của Trung Quốc, được mệnh danh là Tam Đại Văn Hóa Danh Lâu. Hàng năm, nơi đây thu hút hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế đặt vé máy bay đi Vũ Hán đến tham quan, du lịch.

Thưởng ngoạn vẻ đẹp Hoàng Hạc Lâu

Tên gọi Hoàng Hạc Lâu

UserPostedImage

Tên gọi Hoàng Hạc Lâu được bắt nguồn từ nhiều truyền thuyết dân gian xưa cũ. Đến này, có rất nhiều tranh cãi về những tryền thuyết này. Bài viết xin mượn một câu chuyện tiêu biểu có nội dung ca nợi vẻ đẹp quyến rũ của công trình độc đáo này.

Chuyện kể về một vị tu sĩ đắc đạo thành tiên có tên là Phí Văn Vi. Vị tiên nhân này rất thường hay cưỡi hạc vàng đi ngao du sơn thủy khắp nơi ở hạ giới. Một ngày kia, tiên nhân tình cờ cưỡi hạc bay ngang qua vùng lãnh thổ của Vũ Hán, vì đã đi một chặng đường khá dài nên ngài quyết định dừng lại ở Đồi Rắn để nghỉ ngơi và ngắm cảnh đẹp sông Trường Giang với Ngũ Hồ trong làn sương diễm lệ.

Từ đó, người đời sau lưu truyền rằng vì say đắm với cảnh vật tuyệt mỹ nơi đây tiên nhân cưỡi hạc vàng đã xây lên một tháp lầu để thường xuyên lui tới. Nơi đó được đặt tên là Hoàng Hạc Lâu, người ta còn hay gọi là Lầu Hoàng Hạc. Ngoài ra, còn rất nhiều truyền thuyết kỳ ảo khác xung quanh Lầu Hoàng Hạc này.

Công trình lầu tháp độc đáo

UserPostedImage

Nằm giữa lòng trung tâm thành phố Vũ Hán – thủ phủ hoa lệ của tỉnh Hồ Bắc, Hoàng Hạc Lâu là ngôi tháp lịch sử nổi tiếng ở khắp Trung Quốc từ mấy thế kỷ qua. Công trình độc đáo này được xây cất trên ghềnh đá Hoàng Hạc đặc biệt của ngọn núi Xà Sơn.

Nép mình bên bờ sông Dương Tử hiền hòa, Hoàng Hạc Lâu trở nên nổi bật với kiến trúc cổ kính hấp dẫn, được đánh giá là một trong tứ đại danh tháp của đất nước Trung Hoa. Danh thắng này cũng là cái tên được nhiều thi nhân hết lòng ca tụng.

UserPostedImage

Với chiếc vé may bay đi Vũ Hán của hãng China Eastern Airlines, du khách sẽ có cơ hội đến thăm công trình lầu tháp Hoàng Hạc Lâu độc đáo bậc nhất tại Trung Hoa. Công trình này được xây dựng vào năm Hoàng Vũ thứ 2 của đời nhà Ngô thời Tam Quốc, tức là năm 223 dương lịch.

Với tuổi thọ gần 1,800 tuổi, Hoàng Hạc Lâu trở thành một trong ba công trình lầu tháp cổ nhất tại Trung Hoa. Ngôi lầu này từng trải qua 12 tu sửa và xây cất lại, mỗi lần tái thiết chiều cao của nó cũng được tăng lên và có thêm nhiều tầng tháp mới.

UserPostedImage

Sau khi được tái sinh, nơi đây hội tụ sự kết hợp độc đáo giữa phong cách kiến trúc của các triều đại trong lịch sử Trung Quốc bao gồm: đời Ðường, đời Tống, đời nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh,… Công trình nổi tiếng này trở nên lộng lẫy hơn với ngói vàng, trụ đỏ. Ngoài ra, sự uốn cong cách điệu của các mái hiên làm cho ngôi lầu tháp như có thêm đôi cánh hạc, uyển chuyển giữa tầng không, làm cho cảnh vật nơi đây nên thơ và tráng lệ.

Cảnh vật làm say lòng nhiều lãng tử

UserPostedImage

Xưa kia, công trình lầu tháp này là nơi gặp gỡ hữu tình, lý tưởng của rất nhiều văn nhân mặc khách thời Đường (618-907). Các thi nhân này đến đây vừa thưởng ngoạn vừa uống rượu, ngâm thơ. Bởi không một ai dám phủ nhận cảnh, vật nơi đây làm say hồn rất nhiều lãng tử và thi nhân, trong đó có cả Thôi Hiệu, Lý Bạch từng viết nên những vần thơ về cảnh đẹp vô song này.

Hoàng Hạc Lâu còn là thắng cảnh nổi tiếng gắn liền với sông Trường Giang, trận Xích Bích, Khổng Minh mượn gió đông, Khuất Nguyên viết Ly tao, Tôn Quyền xem trận thế, Nhạc Phi trần tình biểu, Nguyễn Du,… cùng rất nhiều danh họa, nhiếp ảnh gia khắc họa nên một hình ảnh làm say đắm lòng người.

UserPostedImage

Đến nay, ngôi lầu tháp này được xây lại với chất liệu hiện đại. Bên trong công trình còn được lắp đặt hệ thống thang máy tiện nghi. Tuy nhiên, Hoàng Hạc Lâu vẫn giữ được những nét kiến trúc rất riêng biệt, được thiết kế tinh xảo với những đường nét hoa văn độc đáo.

Ngày này, nơi đây vẫn luôn là nơi thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đặt vé máy bay đi Trung Quốc nhiều nhất. Công trình này cũng là một biểu tượng tiêu biểu, thể hiện niềm tự hào về lịch sử cũng như nét đẹp kiến trúc đặc biệt đối với người dân Vũ Hán.

Edited by user Thursday, September 30, 2021 6:44:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#16 Posted : Tuesday, August 24, 2021 3:11:29 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Frederic Chopin - Chàng Nhạc Sĩ Đa Tình


Phạm Văn Tuấn
Thursday, August 30, 2018 Biên Khảo

UserPostedImage

1/ Trường phái Cổ Điển và trường phái Lãng Mạn.

Các thời kỳ lịch sử của bộ môn Âm Nhạc được phân biệt bằng các trường phái hay giai đoạn trong đó một đường hướng diễn tả âm thanh đã được thịnh hành. Các nhà nghiên cứu đã dùng các danh từ như "cổ điển" và "lãng mạn" để phân biệt về tác giả, tác phẩm và thời kỳ.

Trong các năm từ 1770 tới 1800 và đôi khi tới tận 1830, nét nhạc của các nhạc sĩ lừng danh như Haydn, Mozart, Beethoven đã mang nhạc vẻ "cổ điển". Danh từ này hàm chứa các ý nghĩa về sự toàn hảo, tiêu chuẩn, dùng làm mẫu mực cho các sáng tác âm nhạc về sau. Việc phân loại cũng đã được căn cứ vào số lượng nhạc âm (musical sound) bị giới hạn, vào cách hòa âm căn bản, do cách sử dụng nhịp điệu (rhythm) và nhạc thức (form) và do cả cách truyền cảm đi từ nhạc sĩ sáng tác qua nhạc sĩ trình diễn tới thính giả.

Các nhạc sĩ sáng tác đã thí nghiệm, làm biến đổi và làm phát triển cách diễn tả âm nhạc từ các nguyên tắc căn bản. Như thế, cách nhận thức về mỹ thuật nói chung và về âm nhạc nói riêng đã thay đổi theo thời gian và trường phái "lãng mạn" dần dần xuất hiện.

Vào đầu thế kỷ 19, tinh thần lãng mạn đã thể hiện qua cách nhận thức về vẻ đẹp của các "khu vườn Anh" (English garden), tại nơi này không còn cách trồng tỉa cân đối, cách xếp đặt công phu nữa. Nhiều người đã bắt đầu đánh giá cao loại phong cảnh tự nhiên, mang vẻ hoang dã, phóng khoáng. Về kiến trúc, đường nét cổ điển với cách đối xứng và phức tạp đã nhường chỗ cho tính bất quy tắc và sự đổi mới về chi tiết. Cách thưởng thức nghệ thuật đã thay đổi từ năm 1764 với sự xuất hiện của lối kiến trúc Gothic mới.

Cách nhận thức mới về nghệ thuật đã làm nẩy sinh ra một thế giới xa xôi với thế giới "quen thuộc và mỗi ngày" và trường phái lãng mạn đã khác biệt với trường phái cổ điển về sự “xa lạ và xa vời” (strangeness and remoteness). Do đó Walter Pater đã định nghĩa trường phái lãng mạn là "sự thêm vào vẻ đẹp chất liệu xa lạ" (the addition of strangeness to beauty).

Một nét vẻ đặc biệt khác của trường phái lãng mạn (romanticism) là tính không giới hạn (boundlessness). Nghệ thuật lãng mạn lùi về quá khứ và hướng cả về tương lai, trải rộng tầm vóc phủ lên thế giới và lan ra vũ trụ. Trong khi các quy tắc cổ điển chú trọng đến tính trật tự, sự cân bằng về kiểm soát và sự hoàn hảo trong các giới hạn được hiểu rõ, thì trường phái lãng mạn lại ca ngợi tính tự do, sự say đắm, các chuyển động để theo đuổi những gì đạt tới được và không bao giờ đạt tới được. Nghệ thuật lãng mạn bị ám ảnh bởi tinh thần mong đợi, ước vọng về một hoàn thành rất xa vời.

Âm nhạc được định nghĩa là một loại ngôn ngữ không phải là lời nói thông thường. Các nhạc cụ vì vậy đã trở nên một phương tiện, một thứ xe chuyên chở tư tưởng và tình cảm.Trong các bộ môn nghệ thuật, Âm Nhạc là thứ dễ diễn tả, dễ bộc lộ nhất. Nhờ âm thanh và nhịp điệu, âm nhạc đã mô tả các cảm xúc, ấn tượng, làm lộ ra những xúc động nội tâm. Âm Nhạc đã dùng thứ ngôn ngữ riêng để nói lên thứ hình ảnh hiện thân của thế giới cũng như các cảm xúc trong cuộc đời của mọi người. Âm nhạc được định nghĩa là một loại ngôn ngữ không phải là lời nói thông thường. Các nhạc cụ vì vậy đã trở nên một phương tiện, một thứ xe chuyên chở tư tưởng và tình cảm.

Các nhạc sĩ lãng mạn đã khéo léo phối hợp âm nhạc với lời nói, thành lời ca, hòa vào tiếng đàn như trong thể nhạc Lied, một loại bài hát đã được sáng tác thành công vào thế kỷ 19 bởi Schubert, Schumann, Brahms và Hugo Wolf, hay trong loại nhạc kịch trường (music drama) của Wagner. Ngoài ra còn có loại nhạc chương trình (program music) phối hợp với thơ, với cách mô tả, cách tường thuật, cách bắt chước các âm thanh thiên nhiên và các âm thanh chuyển động, đã dùng tới các hình ảnh tưởng tượng và được diễn tả ra bằng âm thanh.

Nhạc chương trình của thế kỷ 19 khởi đầu bằng bản "Giao Hưởng Đồng Quê" (Pastoral Symphony) của Beethoven, kéo dài tới giữa thế kỷ với các nhạc sĩ Mendelssohn, Schumann, Berlioz, Liszt rồi với các nhạc sĩ đại diện của cuối thế kỷ là Debussy và Richard Strauss. Các nhạc sĩ của thời đại này đã cố gắng bằng cách dùng âm thanh, liên kết một câu chuyện, một bài thơ, một hoạt cảnh với một bản nhạc lãng mạn.

Thế kỷ 19 cũng gặp sự chuyển tiếp về thính giả và sự bảo trợ âm nhạc. Loại thính giả đồng nhất, thường có văn hóa cao và số lượng hạn hẹp như giới quý tộc, đã được thay thế bằng giới trung lưu đông đảo hơn nhưng không đồng nhất, không có trình độ cao về thưởng thức âm nhạc. Các bảo trợ về âm nhạc của các hầu tước, bá tước, các cung đình cũng bị nhường chỗ cho các hội hòa nhạc (concert societies) và các đại hội âm nhạc (musical festivals).

Nhạc sĩ sáng tác vào thế kỷ 19 đã đứng trước một sân khấu rộng lớn hơn, phải cố gắng làm sao cho nhạc phẩm của mình được nhiều người nghe và hiểu. Sự tương phản về tính phổ thông của thời đại này đối với thời đại trước đã được thể hiện qua các sáng tạo đồ sộ của Meyerbeer, Berlioz, Wagner, Strauss hay Mahler, hay qua các bản nhạc dương cầm ngắn của Schubert, Mendelssohn và Chopin.

Trường phái lãng mạn của thế kỷ 19 còn có một nét đặc thù, đó là sự khác biệt giữa các nhạc sĩ chuyên nghiệp và các nhạc sĩ tài tử. Các nhạc sĩ độc tấu với tài nghệ xuất sắc đã xuất hiện như Paganini về vĩ cầm và Liszt về dương cầm. Đã tăng thêm các tiêu chuẩn chuyên nghiệp khiến cho sang thế kỷ 20, vai trò của nhạc trưởng trở nên rất quan trọng và nhạc trưởng đôi khi còn được gọi là "nhà độc tài của dàn nhạc".

Trường phái cổ điển và trường phái lãng mạn có thể được coi là hai cực của nền nghệ thuật... Cả hai đặc tính trái ngược cổ điển và lãng mạn đã là hai xung lực căn bản của bản chất con người.Trường phái cổ điển và trường phái lãng mạn có thể được coi là hai cực của nền nghệ thuật. Tinh thần cổ điển đi tìm kiếm sự trật tự, sự cân đối, sự trong sáng của đề tài trong khi tinh thần lãng mạn lại đặt nặng sự xa lạ, tính ngạc nhiên và tình cảm ngây ngất (ecstasy), nhìn cuộc đời với tính chủ quan, khác hẳn yếu tố khách quan của tinh thần cổ điển. Chính vì thế nhà triết học người Đức Friedrich Nietzsche trong các bài viết về nghệ thuật, đã so sánh hai tinh thần cổ điển và lãng mạn bằng hình ảnh của Apollo, vị thần Hy Lạp của ánh sáng và đo lường, tương phản với Dionysus, vị thần của lòng đam mê và tính say sưa. Cả hai đặc tính trái ngược cổ điển và lãng mạn đã là hai xung lực căn bản của bản chất con người.

UserPostedImage

Franz Liszt

Các cải tiến kỹ thuật vào thế kỷ 19 đã làm phát minh ra các nhạc cụ mới, chẳng hạn như các kèn saxophone và tuba. Việc thêm các "van" (valves) vào loại kèn đồng (brass instruments) đã cho phép kèn tù và (horn) thổi được các giai điệu của Wagner và Tchaikovsky. Đàn dương cầm cũng nhờ các tiến bộ khoa học mà có một khung căng dây đàn (frame) đúc bằng gang, các dây đàn cứng cáp hơn và to dài hơn nên đã phát ra các âm thanh lộng lẫy hơn, sâu đậm hơn. Nhờ cây đàn dương cầm với các âm thanh từ nhẹ (soft) tới mạnh (forte), Liszt đã trình tấu các bản nhạc thuộc trường phái lãng mạn khác với các bản sônát của Mozart vào thế kỷ trước.

Trong thế kỷ trước, nhạc sĩ sáng tác cũng là nhạc sĩ trình diễn. Mozart và Beethoven đã trình bày các concerto của chính mình giống như Franz Liszt diễn tấu nhạc phẩm "Tưởng Khúc Hungari" (Hungarian Rhapsodie) hay Niccolo Paganini với các giai điệu vĩ cầm mang âm sắc quái dị. Sau đó, các nhạc sĩ trình diễn tài ba dần dần diễn tấu các nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ sáng tác khác.

Trong thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, đàn dương cầm đã đóng một vai trò quan trọng trong bộ môn âm nhạc. Tại châu Âu và châu Mỹ trong thế kỷ này, cây đàn dương cầm trở nên nhạc cụ chính trong gia đình, đã hấp dẫn các nhạc sĩ tài tử vì khả năng của đàn có thể diễn tả vừa giai điệu, vừa hòa âm, khác với các loại nhạc cụ dây và gió.

UserPostedImage

Các bậc thầy về các nhạc bản dương cầm của thế kỷ 19 gồm Schubert, Chopin và Liszt, Mendelssohn, Schumann và Brahms… những nhạc sĩ đại tài này đã khai thác các nguồn vô tận của đàn dương cầm và diễn tả một cách xúc tích vẻ lãng mạn và kịch tính của các nhạc phẩm trữ tình.

2/ Thời niên thiếu của Frederic F. Chopin.

Frederic F. Chopin (1810 - 1849) được gọi là "nhà thi sĩ" của cây đàn dương cầm. Nghệ thuật âm nhạc của Chopin là trái tim của thời kỳ âm nhạc lãng mạn và nhờ Chopin, đàn dương cầm đã đạt được thời kỳ vàng son rực rỡ.

UserPostedImage

Cha của Chopin
ông Nicholas Chopin

Frederic Chopin sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810 tại Zelazowa Wola gần Warsaw, nước Ba Lan, là con thứ hai trong bốn người của ông Nicholas Chopin, một người Pháp đã qua Ba Lan để dạy tiếng Pháp cho các gia đình quyền quý. Mẹ của Chopin là người Ba Lan, một người có giáo dục cao, thuộc gia đình quý tộc Skarbek nhưng đã bị sa sút và ông Nicholas đã là phụ giáo cho gia đình này.

Cậu bé Frederic đã tiếp thu được một nền giáo dục căn bản tốt đẹp và đã được học âm nhạc với nhạc sĩ Joseph Elsner, vị sáng lập và cũng là giám đốc của Nhạc Viện Warsaw mới được thành lập. Năm lên 7 tuổi, Frederic đã sáng tác nhạc và nhạc bản đầu tiên đó đã được trình diễn nơi công cộng. Năm sau, Frederic cũng đã biểu diễn âm nhạc trước công chúng bằng bản Concerto của Adalbert Gyrowetz.

Năm 1826, Frederic Chopin là sinh viên chính thức của Nhạc Viện Warsaw nhờ đó đã học hỏi được căn bản về nhạc lý, hòa âm và đối điểm. Chopin cũng làm quen với các nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ rồi từ đó đã sáng tác ra các biến khúc (variations) từ những ảnh hưởng của nhạc bản Don Giovanni của Wolfgang A. Mozart.

Nhạc phong của Chopin từ lúc đầu đã mang âm vẻ đặc biệt, khiến cho vị giáo sư âm nhạc là ông Elsner không muốn ép buộc môn đệ đi vào khuôn mẫu cổ điển và đã cho phép chàng nhạc sĩ trẻ tuổi này hoàn toàn tự do để phát triển những nét nhạc đặc sắc cá nhân. Chopin là một nhạc sĩ trẻ tuổi tài hoa và cũng sớm đa tình. Trong các năm còn là sinh viên âm nhạc, Chopin đã say đắm cô ca sĩ trẻ trung tên là Constantia Gladkowska, người đã gây nên trong nội tâm của chàng nhạc sĩ "nước mắt và tiếng thở dài", thứ lãng mạn phổ thông của thế kỷ 19. Chính trong hoàn cảnh đam mê này, Chophin vào tuổi 19 đã viết nên phần Adagio của Concerto cung Fa thứ vì nghĩ tới nàng ca sĩ trẻ đẹp đó.

Năm 1828, nhạc sĩ sáng tác kiêm dương cầm thủ tên là Johan Nepomuk Hummel, người thành phố Vienna, đã viếng thăm Warsaw và đã trình diễn các nhạc kịch kiểu Ý (Italian opera). Chopin nhờ thế làm quen được với nền âm nhạc của thế giới Tây phương thời bấy giờ. Sau đó, Frederic Chopin đã tới thăm thành phố Berlin, được nghe các nhạc phẩm của George Frederick Handel và của Felix Mendelssohn rồi lúc trở về Warsaw, lại được nghe Niccolo Paganini trình diễn âm nhạc. Tới lúc này Chopin cảm thấy rất cần phải ra khỏi nước Ba Lan. Cha của chàng xin chính phủ trợ cấp cho việc du học nhưng lời yêu cầu bị khước từ, vì thế Chopin đã tự túc ra đi, tới thành phố Vienna để dàn xếp việc xuất bản một số nhạc phẩm cũng như trình diễn âm nhạc tại vài địa điểm.

Ngày 11-8-1829 tại rạp hát Karntnerthor, Chopin đã biểu diễn âm nhạc trước công chúng rồi lúc trở về Warsaw năm sau, lại ra mắt thính giả bằng nhiều nhạc phẩm có tên là "Tùy hứng khúc" (fantasie) mang nhạc đề quốc gia (national themes) cùng với một loạt các luyện khúc (etudes) đầu tiên. Sau đó, Chopin đã du lịch qua nhiều thành phố như Breslau, Dresden và Prague, tới Vienna rồi vì hoàn cảnh chính trị không ổn định, Chopin đã không sang được nước Ý. Trong khi sống tại Vienna, Chopin đã sáng tác "nhạc khúc sinh động cung Si thứ" (B minor Scherzo) và "nhạc khúc kể chuyện cung Sol thứ" (G minor Ballade). Những tác phẩm này đã bộc lộ nơi Chopin các nét nhạc đặc sắc cá nhân trước khi Chopin gặp Franz Liszt, Vincenzo Bellini và Hector Berlioz. Chopin chịu ảnh hưởng âm nhạc của Hummel và của phong điệu dương cầm (piano style) từ nhà soạn nhạc người Ái Nhĩ Lan John Field, là người đầu tiên đã dùng danh từ "nhạc khúc đêm" (nocturne) cho các bản nhạc ngắn, trữ tình.

Frederic Chopin là nhạc sĩ dương cầm đồng thời là nhạc sĩ sáng tác ra các nhạc phẩm với đặc tính lãng mạn, tập trung vào một tượng ý (motive) trong các dạo khúc (preludes) và luyện khúc (etudes). Chopin cũng nghiên cứu kỹ lưỡng về nhịp điệu, hòa âm, nhạc thức và các nét giai điệu của nhạc phổ thông Ba Lan cùng các vũ điệu để viết ra các nhạc khúc Mazurka, luân khúc (waltzes), nhạc khúc Ba Lan (polonaises), nhạc điệu Bolero và Tarantella rồi do cảm xúc, các biểu tượng âm nhạc được Chopin viết ra bằng các nhạc khúc đêm (nocturne), nhạc khúc sinh động (scherzo), nhạc khúc kể chuyện (ballade), nhạc khúc ứng tác (impromptu) và nhạc khúc tùy hứng (fantasie). Tất cả các thể nhạc này đã phát triển vào thời kỳ đầu thế kỷ 19 là giai đoạn mà cây đàn dương cầm trở nên một nhạc cụ ưu việt, dùng để độc tấu tại gia đình lẫn nơi thính đường.

UserPostedImage

Chopin độc tấu dương cầm cho một gia đình quý tộc Ba Lan Radziwiłłs, 1829
(tranh của Henryk Siemiradzki, 1887)

Frederic Chopin đã không viết các bản giao hưởng, các nhạc kịch (opera), các bản tứ hòa (quartet) ngoài một bản hòa tấu ba đàn (trio) gồm dương cầm, vĩ cầm và hồ cầm (cello). Ngoài 2 sônát và 2 concerto dành cho dương cầm đặc sắc, Chopin nổi danh về những nhạc phẩm ngắn với kỹ thuật cao trong tầm tay của các nhạc sĩ tài tử.

Frederic Chopin cũng không phải là một nhạc trưởng hay một giáo sư âm nhạc trong nhiều năm mặc dù do dạy đàn, ông đã kiếm được những món tiền lớn. Trong cả cuộc đời, Frederic Chopin đã trình diễn trước công chúng khoảng 30 lần với những đặc điểm trầm buồn, với sắc nhạc đi từ rất khẽ (pianissimo) tới mạnh vừa (mezzo forte) và rất ít khi dùng sắc nhạc mạnh (forte).

3/ Thời trung niên và cuối đời của Frederic Chopin.

Khi Chopin đang sống tại thành phố Vienna, chàng nhạc sĩ được tin thủ đô Warsaw của Ba Lan đã bị quân đội Nga xâm lăng. Tin đau buồn này tới với Chopin và làm chàng nhạc sĩ cảm xúc và sáng tác ra "Luyện Khúc Cách Mạng" (the Revolutionary Etude).

UserPostedImage

George Sand
(tranh của Charles Louis Gratia c. 1835)

Tháng 9 năm 1831, chàng nhạc sĩ tài danh này tới Paris và làm quen với các văn nhân của thành phố hoa lệ này. Paris trong các năm của thập niên 1830 là nơi quy tụ những nhân tài gồm các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ…. như Victor Hugo, Honoré de Balzac, Bá Tước Alfred Victor Vigny, Alfonse de Lamartine, Henrich Heine, Ferdinand Delacroix… Trong số các nghệ sĩ lừng danh cũng có các nhạc sĩ như Liszt và Berlioz, Rossini và Meyerbeer. Qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Liszt, Chopin làm quen với bà Aurore Dudevant là một phụ nữ có đôi mắt to, đen, u buồn và được giới văn chương biết đến qua bút hiệu George Sand. Bà này còn là một nhà hoạt động chính trị, một người phản kháng vương quyền, chống đối các tập tục và quy ước cổ điển của xã hội. Khi tình bạn bắt đầu, Chopin 28 tuổi còn nữ văn sĩ George Sand 34 xuân xanh. Hai người thấy các điểm hợp với nhau: nàng với tính tình ưa áp đảo, lãng mạn, thường hút thuốc lá luôn miệng và mặc bộ âu phục nam, còn chàng lại có tính ủy mị, dễ bị chinh phục. George Sand đã nhận thấy ở Chopin khả năng sáng tạo rất to lớn, rất kỳ diệu, đạt tới nghệ thuật rất dễ dàng. Tại Paris, Chopin đã dạy dương cầm cho một số mệnh phụ và đã nhận được các món thù lao rộng rãi.

Trong thời kỳ sống tại Paris, Chopin đã nhận thấy mình không đủ sức chịu đựng để tranh tài với các nhạc sĩ bậc thầy về diễn tấu (virtuoso) như Franz Liszt và Sigismund Thalberg, vì vậy Chopin đã dồn thời gian vào việc sáng tác âm nhạc. Chàng nhạc sĩ mảnh mai này đã đóng cửa, ở trong nhà nhiều ngày để dạo đàn và viết ra các nhạc phẩm mà công chúng đều khen ngợi.

Mùa đông năm 1838-39, do tình bạn, George Sand đã đưa Chopin đến sống tại đảo Majorca với hy vọng rằng nơi tĩnh dưỡng này sẽ sớm làm phục hồi sức khỏe cho chàng nhạc sĩ yếu đuối. Nhưng thời tiết đã trở nên xấu và sức khỏe của Chopin suy giảm, tuy thế nhạc sĩ thiên tài này đã sáng tác được 24 dạo khúc (preludes) tại Valldemosa khiến cho nơi này về sau trở thành Viện Bảo Tàng Chopin.

Trong các năm trường từ 1839 tới 1846, Chopin đã trải qua các mùa hè tại lâu đài Nohant của nữ văn sĩ, nơi thường quy tụ giới trí thức, tinh hoa của nước Pháp thời đó. Đây cũng là thời kỳ mà Chopin đã sáng tác phong phú nhất trong khi sức khỏe của chàng nhạc sĩ tài hoa này suy giảm dần, và rồi tình yêu đối với George Sand trở thành xung đột, ghen tuông và đố kỵ. Các người con của George Sand đã trở nên một vấn đề. Chopin đứng về phía Solange là người con gái của George Sand, còn phía kia là nữ văn sĩ và người con trai Maurice, họ thường bất đồng ý kiến trong nhiều chuyện tranh cãi. Hai người tình nghệ sĩ đã cách ly nhau. Sự việc này đã khiến cho Chopin mất đi nguồn cảm hứng và năng lực sáng tạo, cảm thấy thất vọng và bị suy sụp tinh thần. Tình cảm giữa Frederic Chopin và George Sand chấm dứt vào năm 1847. Chopin trở về Paris.

UserPostedImage

Jane Stirling
(tranh của Devéria, c. 1830)

Năm 1848, Frederic Chopin sang nước Anh do lời mời của một người học trò tên là Jane Stirling. Tại London, Chopin đã trình diễn âm nhạc nhiều lần và vào ngày 15-5, đã biểu diễn trước Nữ Hoàng Victoria của nước Anh. Sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi tại Tô Cách Lan, Chopin trở về London và vào ngày 16-11-1848, đã biểu diễn các nhạc phẩm của mình tại Thính Đường Guildhall để gây quỹ cứu trợ cho các người tị nạn Ba Lan. Sau đó Chopin quay trở về Paris và sống nhờ sự giúp đỡ của gia đình Stirling.

Frederic Chopin chết vì bệnh lao phổi vào ngày 17-10-1849 tại thành phố Paris. Theo lời yêu cầu của chàng nhạc sĩ lãng mạn này, bản nhạc Cầu Hồn Requiem của Mozart đã được đàn lên trong buổi tang lễ. Đám tang của Frederic Chopin thật là rực rỡ. Các nhà quý tộc, các văn nghệ sĩ lừng danh đã đến viếng thăm quan tài trong đó có cả Meyerbeer, Berlioz và Delacroix nhưng nữ văn sĩ George Sand đã vắng mặt. Frederic Chopin được chôn trong lòng đất Paris cùng với nắm đất của xứ Ba Lan mà chàng nhạc sĩ đã mang theo khi rời khỏi quê hương.

4/ Các tác phẩm chính của Frederic Chopin.

Các tác phẩm của Chopin gồm phần âm nhạc dành cho dương cầm và dàn nhạc, với 2 concerto dương cầm, phần nhạc thính phòng và một số bài hát, nhưng quan trọng nhất là phần nhạc dương cầm gồm 4 bản nhạc khúc kể chuyện (ballades), nhạc khúc tùy hứng cung Fa thứ (Fantasy in F minor, 1841), nhạc khúc ru em (Berceuse, 1844), nhạc khúc đưa đò (Barcarolle, 1846), 3 sônát (sonatas), các dạo khúc, luyện khúc, nhạc khúc đêm, nhạc khúc sinh động, nhạc khúc mazurka, nhạc khúc rondo, hành khúc và biến khúc.

Các sáng tác của Chopin đều liên hệ chặt chẽ với cây đàn dương cầm, đặc biệt nhờ vào sự tăng thêm các phím đàn. Chopin lại là nhạc sĩ rất khéo léo, biết cách dùng bàn đạp (pedal) của đàn dương cầm để có được các cấp độ về sắc nhạc (color) và tiếng vang (sonority) cũng như thí nghiệm nhiều về các cách bấm phím mới (new fingerings), dùng hết khả năng của ngón cái hay ngón thứ 5 trên các phím đen, tận dụng cách trượt ngón từ phím đen xuống phím trắng hay dùng kỹ thuật bắt chéo tay.

Nhờ kỹ thuật ngón tay của Chopin, các bản đàn rất khó trình diễn trước kia, nay trở nên dễ dàng và do trí tưởng tượng sáng tạo về kỹ thuật, các luyện khúc của Chopin đã làm cho các bài tập tầm thường biến thành các nhạc phẩm mang tính chất trình diễn. Chopin còn cải tiến hòa âm với các nét nhạc trữ tình, bay bổng, nhờ đó đã đứng ngang hàng với Liszt và Wagner là hai nhạc sĩ đã nới rộng các quan niệm quy ước về cung điệu (tonality).

Chopin đã dùng kỹ thuật của đàn dương cầm để chuyển âm nhạc thành một nghệ thuật rất nên thơ, một cách diễn tả trữ tình bằng âm thanh. Các người Ba Lan luôn luôn suy tôn Chopin như một nhạc sĩ của đất nước Ba Lan. Miền quê hương này đã được lý tưởng hóa trong trí tưởng tượng của chàng nhạc sĩ lãng mạn với ước vọng về niềm hạnh phúc nơi quê mẹ, với lòng trông đợi hướng về đất tổ của kẻ lưu vong. Các nhạc khúc Ba Lan của Chopin có thể được coi là cách bày tỏ tinh thần quốc gia và là một nhạc thức đặc biệt, tới với nền âm nhạc tây phương bằng tinh thần hiệp sĩ và anh hùng.

Frederic Chopin là một nhạc sĩ lừng danh về các nhạc khúc đêm, nhạc khúc ứng tác và dạo khúc (nocturnes, impromptus & preludes) với cách sử dụng rất tài tình về hòa âm và chuyển cung bán âm (chromatic harmonies & modulations). Các nhân vật danh tiếng như các nhà văn Balzac và Heine, các nhạc sĩ tài danh như Liszt, Berlioz, Mendelssohn và Schumann đều ngưỡng mộ Chopin. Nhạc sĩ Schumann đã gọi Frederic Chopin là "một tinh thần thơ nhạc táo bạo nhất và hãnh diện nhất của thời đại" (the boldest and proudest poetic spirit of the time).

Phạm Văn Tuấn
(Đặc San Lâm Viên)

Tài liệu tham khảo: Wikipedia.org., A History of Western Music by Donald Jay Grout, W.W. Norton, N.Y. 1996; Masterworks by Dr. Kern Holoman, Prentice Hall, N.J. 1998…

http://www.dslamvien.com...ang-nhac-si-da-tinh.html

Edited by user Tuesday, August 24, 2021 3:27:01 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Mắt Buồn  
#17 Posted : Saturday, August 28, 2021 1:17:48 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

AI MỚI THẬT SỰ LÀ TÁC GIẢ BÀI HÁT TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG


Jan 24, 2016 | Giai thoại, Nhạc Sĩ | 0 

UserPostedImage

Tôi đưa em sang sông là một bài hát hay, rất quen thuộc được nhiều người ái mộ trong thập niên 60. Thời học sinh sinh viên tôi cũng thích bài nầy vì giai điệu đơn giản – slow rock – lời hát chân thành xúc cảm. Gần đây qua internet với nhiều tư liệu khác nhau cho thấy hai vị đồng tác giả của bài hát (Nhật Ngân và Y Vũ) đều phát biểu khác nhau về nguồn gốc bài hát. Nhật Ngân thì cho rằng bài nấy ông có cảm xúc sáng tác từ Đà Nẵng và đưa vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân lăng-xê dùm. Còn nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân ) thì nói rằng bài hát được cảm xúc từ mối tình lãng đãng với một cô gái ở Sài Gòn. Vậy không biết sự ra đời bài hát bắt nguồn từ đâu?

Mời quý vị xem tư liệu mà tôi sưu tập được để cùng nhận định, góp ý thêm một giai thoại về bài hát.

Trần Nhật Ngân, sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều, nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Ðà Nẵng.

Vào khoảng cuối thập niên 50, bố ông đã qua đời, Nhật Ngân cùng mẹ vào Sài Gòn, theo chân các anh chị đã vào đây từ trước. Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài, ông trở ra Ðà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó, tại Ðà Nẵng và Huế, Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn, qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Ðỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.

Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.

Về trường hợp ra đời ca khúc này, Nhật Ngân cho biết: khi trở về dạy học ở Ðà Nẵng, ông có yêu một người. Thời đó đối với các gia đình ở miền Trung là phải có chức phận thì họ mới gả con gái cho mình. Ông chỉ là người dạy học thôi, nhất là còn trẻ lắm, nên gia đình cô ấy không chịu gả. Và cô ấy đi lấy chồng. “Thật sự là ngẫu hứng thôi, tôi làm bài hát đó”.

Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.

Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sôngđược ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ. (Theo Trường Kỳ -nhacvangonline)

Còn đây là lời tâm sự của nhạc sĩ Y Vũ (Y Vũ là tác giả bài Kim nổi tiếng năm 1964 với điệu twist sôi động qua tiếng ca của nữ hoàng nhạc twist thời đó – ca sĩ Túy Phượng):

Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.

Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày cưới em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”.

Tôi là kẻ đa tình nhưng cũng rất chung tình. Trong đời tôi chưa lần nào phụ người. Khi yêu ai đó, tôi đều yêu hết lòng, sống hết mình. Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ bị ruồng bỏ. Tại tôi vụng về chăng? Tôi cũng tự vấn mình rất nhiều, nhưng rồi cũng không thể trả lời câu hỏi ấy được. Chỉ biết rằng, đời nghệ sĩ như tôi long đong, lận đận đến tận bây giờ, ngoài 60 tuổi mà vẫn chưa có một mái ấm gia đình. Sau mỗi đêm tại nhà hàng Arnold với công việc phụ trách âm nhạc, tôi lại cô đơn trở về căn phòng trọ. Nhưng dù thế nào thì cuộc sống vẫn tiếp nối; dù thế nào tôi cũng vẫn phải làm việc, sáng tạo và yêu thương.

Mỗi tác phẩm của tôi đều in dấu ấn của kỷ niệm, của nỗi niềm riêng. Ca khúc Kim được nhiều người yêu thích chính là ca khúc tôi viết tặng cô gái tên Kim có gương mặt buồn và gia cảnh thật đáng thương. Một năm sau ngày bài hát được tung ra, Kim đã mất vì bệnh tim.

( tham khảo link http://my.opera.com /diemxuacafe/blog/show.dml/2402789)

Ghi chú: theo Chương trình phát thanh radio Australia : 70 năm tình ca trong Tân nhạc Việt Nam thì cho rằng bài Tôi đưa em sang sông là của Nhật Ngân (sở dĩ để tên Y Vũ vì nhạc sĩ Y Vân ghi tên em mình lên cho thu hút thính giả mà thôi).

Nguyễn Duyên (sưu tầm)

Mắt Buồn  
#18 Posted : Saturday, August 28, 2021 1:57:17 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Tôi Đưa Em Sang Sông là của ai sáng tác?


2018/09/23

UserPostedImage

“Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết bài này có đọc trên Internet những tranh luận, nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân. Nếu hỏi là nghi ngờ, mà nghi ngờ là xúc phạm. Ngoài ra thì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng, và cũng đã giải thích rõ lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ khi phát hành bài nhạc.

Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân:

Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính: “Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.

Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.

Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến giùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa”. Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ“.

Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.

Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ

Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông:

“Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.

Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”

Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: ”Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”

Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”

Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông:

“Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.”

Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.”

Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: “Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông. “

Khoan, xin đừng quá vội.

– Bản gốc



“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác.

Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo.

– Thời điểm nhạc phẩm ra đời

Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp.

Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra.

Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào?

Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc.

– Thời điểm tìm ra “bản thảo”

Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: “Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này.”

Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước.

Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”

Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời.

Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt?

– Vai trò của nhạc sĩ Y Vân

Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm.

Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”?

Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.

– Lời nhạc

Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông.

Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp.

Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trong Tôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm.

Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí “chưa một lần nắm tay nhau” thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.

Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn.

– Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em

Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày cưới em.

Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng.

Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:

Tôi đưa em sang sông,
chiều xưa mưa rơi âm thầm
để thấm ướt chiếc áo xanh,
và đẫm ướt mái tóc em

Nếu xưa trời không mưa,
đường vắng đâu cần tôi đưa
chẳng lẽ chung một lối về
mà nỡ quay mặt bước đi

Tôi đưa em sang sông,
bàn tay nâng niu ân cần
sợ bến đất lấm gót chân,
sợ bến gió buốt trái tim

Nếu tôi đừng đưa em,
thì chắc đôi mình không quen
đừng bước chung một lối mòn,
có đâu chiều nay tôi buồn …

Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em:

Hôm nay ngày cưới em
Nào men nồng nào hoa thơm
Nào môi hồng nào giá phấn
Khăn áo muôn sắc đua chen

Mắt biếc ngời ánh đêm
Làn tóc nụ cười ngát hương
Từng bước dập dìu bước êm
Chỉ mình lòng tôi hoang vắng

Hôm nay ngày cưới em
Mừng vui họ hàng đôi bên
Vì đâu nàng mời tôi đến
Tuy có đây cũng như không

Chiếc áo tình chóng phai
Một sớm một chiều đã thay
Thì nhớ đừng vì có tôi
Mà nàng giấu vui không cười…

Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.

Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi.

– Tiền bản quyền

Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.

Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này.

Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi.

Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông.

Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ.

Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời.”

Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.

Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật.

Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này.

Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.

Hãy để “em sang sông”, thưa nhạc sĩ Y Vũ.

Trần Trung Đạo

Mắt Buồn  
#19 Posted : Friday, September 3, 2021 8:42:09 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)
Duyên Anh


Đỗ Trường

September 3, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

Dường như, chẳng cứ thế hệ chúng tôi, mà cả miền Bắc rất ít người được đọc, và biết đến nhà văn Duyên Anh. Bởi, tuy sinh trưởng ở Thái Bình, nhưng tài năng văn thơ Duyên Anh chỉ được phát tiết từ năm 1960, sau khi ông di cư vào Nam. Sau biến cố 1975, thơ văn cũng như con người ông bị đốt bỏ, vùi dập. Trong cái hỗn tạp đó, rất may cũng có vài ba tác phẩm của ông lọt lưới ra đất Bắc, và được âm thầm chuyền tay nhau đọc. Rồi mãi đến những năm gần đây, hình như người ta mới dám (rón rén) hồi sức cấp cứu cho một vài tác phẩm của ông thoi thóp trở lại. Nhiều độc giả miền Bắc khoái, tìm Duyên Anh để đọc. Khoái đến độ họa sĩ Nguyễn Việt (cùng quê Thái Bình) dứt khoát phải lấy tên Duyên Anh để đặt cho con gái của mình.

Có thể nói, Duyên Anh là một nghệ sĩ đa tài. Lĩnh vực nghệ thuật nào Duyên Anh cũng để lại những dấu ấn thật đâm nét trong lòng mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp người đọc, người nghe. Thật vậy, ở Duyên Anh ta có thể tìm thấy hai con người, hai tính khí đặc trưng: Một Duyên Anh chân chất, giàu cảm xúc của nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ và một Duyên Anh nhà báo sắc sảo đến cay nghiệt.

Nhìn vào Văn học sử Việt đương đại, cùng với Tô Hoài, Võ Phiến, tôi đánh giá cao nội lực sáng tạo của Duyên Anh, qua (trên) bảy chục tác phẩm chính đã xuất bản trước và sau 1975. Viết nhiều, đủ mọi thể loại, làm cho người đọc tưởng chừng, Duyên Anh viết bằng bản năng, cùng cảm xúc của người nghệ sĩ, chứ không tuân thủ theo một thủ pháp nghệ thuật nhất định. Song không hẳn vậy. Cái giản dị đến hồn nhiên và chân thực ấy, đã đưa Duyên Anh đến gần với người đọc, nhất là tầng lớp bình dân, học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, với đặc tính này, truyện của ông có một số nhược điểm, tình tiết, hành động đôi khi bị trùng lặp, hoặc có những cái kết (khuôn mẫu) đã được biết trước, ít gây bất ngờ cho người đọc.

Có thể nói, không chỉ hai mươi năm Văn học miền Nam, mà tiếp nối dòng chảy văn học nơi hải ngoại, Duyên Anh vẫn là một hiện tượng văn học rất đặc biệt. Sự đặc biệt ấy, không hẳn vì vốn sống, nội lực sáng tạo, mà do tư tưởng dân tộc của ông: “Dân tộc Việt Nam, một dân tộc phi Cộng Sản, phi Tư Bản, bị nhiễm cả hai thứ vi trùng chủ nghĩa…“ (Saigon ngày dài nhất). Nhận ra, thân phận bi thương của đất nước, dân tộc như vậy, nên sự phản kháng cường quyền, châm biếm cái ác cứ đầy ăm ắp trên trang văn, và xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Duyên Anh. Khi chiến tranh đến giai đoạn khốc liệt, cái tư tưởng dân tộc đó trong thơ văn, dường như đã quá chật chội, nên buộc Duyên Anh phải rẽ sang ngạch báo chí. Với bút danh Thương Sinh (và hàng chục danh khác) cùng với Chu Tử, Duyên Anh đã chọc thẳng vào cái ung nhọt trong mọi lãnh vực, mọi tầng lớp của xã hội lúc đó. Sự phê phán, diễu cợt sâu cay ấy, đôi khi vỗ mặt, quá đà gây không ít sóng gió, và Duyên Anh buộc phải trả cái giá quá đắt cho tận đến những năm tháng cuối đời, bởi thù hận. Tuy không đọc nhiều về mảng báo chí của Duyên Anh, hay Chu Tử, nhưng kẻ hậu sinh như tôi rất cảm phục ngòi bút, cũng như bản lĩnh, sự kiên cường của hai nhà văn này. Thật ra, dù sống ở chế độ Cộng Hòa, hay Cộng Sản, một nhà văn đích thực luôn chĩa bút về phía cường quyền. Và đối lập với chính quyền là điều quan trọng bậc nhất của người cầm bút. Nó không chỉ nhằm vạch ra những yếu khuyết của chính quyền, thúc đẩy xã hội phát triển hơn, mà còn là thước đo nhân cách của một nhà văn vậy. Và tôi nghĩ, Duyên Anh, hay Chu Tử đã làm được điều đó. Tuy nhiên, ở khuôn khổ bài viết này, chân dung hồn vía Duyên Anh chỉ được soi rọi từ khía cạnh văn học, dưới cái nhìn chủ quan của (cá nhân) người viết mà thôi.

UserPostedImage

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, sinh năm 1935 tại Thái Bình. Chiến tranh, đói khát đã phá nát tuổi thơ ông, thế hệ ông. Sự ám ảnh, và nghèo đói theo ông cùng gia đình lưu lạc khắp nơi. Do vậy, con đường học hành của ông bị gián đoạn, không được như ước vọng.

Năm 1954, ông di cư vào Nam, và trải qua rất nhiều công việc, song cái nghèo, sự vất vưởng vẫn không chịu buông tha ông. Trong cái tận cùng gian khó ấy, ước mơ trở thành tác giả, người viết văn vẫn cháy bỏng trong ông. Và mãi đến những năm đầu thập nhiên sáu mươi, tài năng, tên tuổi Duyên Anh mới được khẳng định, và người đọc biết đến. Tập truyện Hoa Thiên Lý ra đời năm 1963 như một chiếc thẻ thông hành đưa Duyên Anh đến với làng văn vậy. Trên 50 tác phẩm được in ấn phát hành trước 1975, đã nói lên tài năng, trí tuệ, sức làm việc dẻo dai, phi thường của ông. Biến cố 1975, Duyên Anh bị bắt, với đằng đẵng sáu năm tù cải tạo. Chẳng biết có cải tạo, học tập được gì hay không, mà sau khi mãn khóa (tù), Duyên Anh chuồn ngay, và định cư tại Paris. Năm 1997, ông mất bởi căn bệnh xơ gan.

Cũng như các nhà văn cùng thời, cuộc sống, thơ văn của Duyên Anh được chia cắt theo vận mệnh, nỗi đau của đất nước, và con người. Với tôi, Hoa Thiên Lý, Điệu Ru Nước Mắt. Saigon Ngày Dài Nhất, và Nhìn Lại Những Bến Bờ cùng Nhà Tù, tuy không hẳn là những tác phẩm hay nhất, nhưng nó là những trang văn tiêu biểu về tư tưởng, tài năng bút pháp qua từng giai đoạn sáng tạo, cũng như cuộc sống của Duyên Anh. Có điều đặc biệt, một số tác phẩm như: Đồi FanTa, Một Người Nga Ở Sài Gòn của ông đã được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim.

Nếu ta đã đọc Miền Thơ Ấu của Vũ Thư Hiên, thì sự xúc động sẽ được tiếp nối, và nhân lên trước nỗi buồn, thân phận, tình yêu khi đọc Hoa Thiên Lý của Duyên Anh. Có thể nói, Vũ Thư Hiên, và Duyên Anh là hai nhà văn cùng thế hệ, viết về tuổi thơ, về miền quê cho tôi nhiều cảm xúc nhất khi đọc. Có lẽ bởi, cái tình yêu, nơi bắt đầu trở về miền ký ức ấy của hai nhà văn này, không chỉ làm mê mẩn tuổi học trò, mà còn chinh phục đủ mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp người đọc trong xã hội. Ngoài sự hồn nhiên, trong sáng với những cảm xúc chân thực khi viết, ta còn thấy tài năng nắm bắt, miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật của Vũ Thư Hiên, và Duyên Anh, không phải nhà văn nào cũng có được.

Tôi chưa thể tìm đọc hết toàn bộ trên bảy chục tác phẩm, nhưng có thể nói, Con sáo của em tôi là truyện hay, truyền cảm nhất của Duyên Anh. Dù nó nằm trong số truyện viết đầu tay của ông. Đọc truyện này, tôi không chỉ xúc động, và có một sự đồng cảm sâu sắc, mà còn bị ám ảnh suốt mấy ngày liền. Cả thiên truyện như một lời tự sự của nhân vật hay chính của tác giả vậy. Với phép so sánh, cùng hình ảnh ẩn dụ con sáo nhỏ không cha, nhà văn làm bật lên nỗi bất hạnh, đói khát cả vật chất, lẫn tình thương của anh em Hữu và Mai. Bị khinh bỉ, và hất hủi của người đời, hai đứa trẻ chỉ còn biết co mình lại, dành tình yêu, bầu bạn với con sáo nhỏ. Tuy nhiên, cuộc sống nghiệt ngã, buộc Hữu phải giết chim sáo, giết chết niềm vui của mình, của em mình. Đoạn trích lời tự sự dưới đây là sự giằng xé, mâu thuẫn nội tâm, hay một bi kịch làm người đọc không khỏi xót xa, bùi ngùi trước cái bi thương của một kiếp người:

“Lúc này đứng nhìn thiên hạ đón xuân, tôi nghĩ đến em gái tôi, nghĩ đến miếng thịt gà, thịt lợn hay thịt chim khi em tôi tỉnh dậy. Anh em tôi chỉ có mỗi con sáo. Con sáo nuôi bao nhiêu ngày mới biết nói. Chẳng lẽ tôi giết nó? Chẳng lẽ em tôi ăn cơm với muối ngày đầu năm? Năm nay em tôi mười tuổi, mười mùa xuân bay vụt qua, mười mùa xuân tẻ nhạt, buồn thảm chấp nối thành thời thơ ấu của em tôi. Mùa xuân trôi theo kỷ nhiệm, có khi nào níu lại được? Tôi không muốn em tôi lớn lên phải nghẹn ngào nhắc tới một trang chua chát, xiên lệch trong cuộc đời. Vậy thì tôi sẽ giết con sáo…Tôi len lén trở vào xách cái lồng sáo xuống bếp. Trời còn tối, sáo không nhận ra tôi. Nếu nó chết thì nó oán hờn sự nghèo khổ và bàn tay tàn ác nào đó. Vong hồn cha tôi sẽ phù hộ tôi. Giết nó, tôi đau đớn vô ngần nhưng tôi phải thương em tôi hơn. Em tôi phải được ăn thịt sáo nấu su hào ngày mồng một tháng giêng năm mới. Chỉ vì em, tôi quên tất cả.” (Con sáo của em tôi).

Tình yêu, nỗi nhớ nhà, nhớ quê luôn thường trực trong lòng người viễn xứ. Do vậy, ngay từ truyện ngắn đầu: Hoa Thiên Lý, Duyên Anh đã tìm về tuổi thơ, với một nỗi u hoài. Đọc tập truyện Hoa Thiên Lý, có thể thấy, văn thơ ông chín ngay từ những truyện ngắn đầu. Và một điều đặc biệt, mảng truyện này của Duyên Anh mang nặng hơi hướm hồi ký, tự truyện. Đôi lúc, tưởng chừng ông trộn tất tần tật các thể loại vào nhau vậy. Cũng với thủ pháp nghệ thuật này, có thể nói, nhà văn Đỗ Chu ở đất Bắc, hay sau 1975 nhà văn Phạm Tín An Ninh sử dụng rất thành công ở hải ngoại…Với từ ngữ mộc mạc, trong sáng giàu hình ảnh gợi cảm, mẹ, tâm hồn mẹ dưới ngòi bút Duyên Anh hiện lên rất nhẹ nhàng lãng mạn, song cũng rất cô độc. Tình thương và nỗi nhớ ấy, quả thực làm cho người đọc không khỏi bùi ngùi, xúc động. Không dừng lại ở đó, thông qua hình ảnh hoán dụ, nhà văn dường như muốn nâng nỗi đau, sự nhớ thương lên một nấc, rộng mở, và sâu sắc cao cả hơn. Vâng, đó là tự do – một nỗi đau còn (hay) mất của cả miền quê đất Bắc. Với thủ pháp này, cho ta thấy, Duyên Anh có trí tưởng tượng, liên tưởng rất phong phú. Đoạn trích lời tự sự, từ truyện Hoa Thiên Lý dưới đây, sẽ chứng minh rõ điều đó:

“Giàn thiên lý quê nhà giờ đây héo khô tàn tạ. Loài ve sầu không rủ rê mùa hạ sang nữa nên họ hàng nhà bọ ngựa cũng chết hết vì buồn. Ở ngoài ấy người ta ngăn cấm không cho ai buồn, không cho ai nhớ, không cho ai thương nhau thì dễ gì mẹ tôi đã được ngồi duới giàn hoa mà kể chuyện cho em tôi nghe. Thì dễ gì có phút giây mẹ nằm tưởng tượng bão táp ngoài trời thấy con chim nhỏ lạc bầy dạt trôi thảm hại. Tôi buồn, tôi muốn khóc khi nghĩ rằng chiều nào người ta bắt mẹ tôi nhổ hoa lý, phá giàn tre để trồng ngô khoai chẳng hạn. Mẹ tôi sẽ chết khô héo trên mảnh đất xác xơ đầy những oán thù…“

Tôi không dám nói, tất cả những hình ảnh, câu chuyện là hiện thân của tác giả, song ở đó chắc chắn ta tìm được sự chân thực của ngòi bút Duyên Anh. Và Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ, là một trong những truyện ngắn tiêu biểu như vậy của ông. Hình ảnh người cha nghèo đến độ phải ăn cắp chiếc áo ngoài chợ cho con, bị dày vò đến chết, là tột cùng của sự bi thương, làm cho người đọc phải xót xa, và ám ảnh. Tính chân thực ấy, như một thủ pháp nghệ thuật (một cái ngòi) dẫn đến sự cảm thông cho người đọc vậy. Thật vậy, đoạn văn tuyệt đẹp, đầy ăm ắp hình ảnh so sánh dưới đây, đã làm cho nước mắt tôi rơi ngay trên bàn phím, khi ngồi viết những dòng chữ này:

“Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời…Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ.“ (Đại dương trong lòng con ốc nhỏ)

Và không chỉ chiến tranh, mà cả cách mạng cũng giết chết tuổi thơ, bạn bè, thế hệ Duyên Anh. Những vết nứt đầu đời ấy, như nhát dao đâm xuyên qua cuộc sống, tâm hồn nhà văn. Và Khúc Rẽ Cuộc Đời là một truyện ngắn, hay là câu hỏi, lời tự vấn của Vĩnh đã ám ảnh suốt cuộc đời Duyên Anh. Cho nên, cả cuộc đời cầm bút, dường như ông cứ phải đi tìm lời giải đáp, và chống lại cường quyền, chống lại cái ác là vậy:

“Phải chứng kiến lưởi kiếm đâm từ ngực xuyên qua lưng ba Vĩnh. Phải thấy ba Vĩnh dẫy dựa trên vũng máu, Phải thấy me Vĩnh chết ngất trên thây ba. Phải thấy xác chị Hiền trần truồng. Phải thấy mắt chị trợn trừng uất hận mới hiểu cách mạng và chiến tranh. Tại sao những người hiền lành lại phải chết khốn nạn thế nhỉ?“. (Khúc Rẽ Cuộc Đời)

Với tôi, những truyện ngắn, hồi ký của ngày đầu cầm bút này, là giai đoạn quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Duyên Anh, xét về cả nội dung, lẫn hình thức nghệ thuật. Có thể nói, đây là giai đoạn viết hồn nhiên, với những hình ảnh chân thực, sâu sắc, truyền cảm nhất của ông. Chính vì vậy, nó đi sâu và đọng lại trong lòng mọi tầng lớp người đọc. Và nhắc đến Duyên Anh, chắc chắc như một phản xạ tự nhiên: Hoa Thiên Lý tập truyện ngắn, được bật ra từ người đọc.

* Bế tắc cuộc sống, mất niềm tin vào xã hội, và con người:

Sau 1954, nhát dao cắt đôi hình đất nước. Duyên Anh rời bỏ quê hương, theo dòng người di cư, trốn chạy. Tưởng rằng sẽ bình yên ở đất trời phương Nam, nhưng không phải vậy. Chiến tranh, và nỗi cô đơn cùng nghèo đói bủa vây lấy ông. Sự thất vọng ấy, đã làm cho Duyên Anh bất mãn trước một xã hội, mà ông cho rằng, giả dối và bất công. Vì vậy, ngòi bút của ông chọc thẳng vào ung nhọt đó. Sự can đảm ấy của ông luôn không vừa lòng với bất cứ chế độ, đảng phái, đoàn thể nào. Vâng, có thể nói, đây là tư tưởng dẫn đến hành động xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Duyên Anh. Và đoạn văn rất sinh động: “Học chống cộng, để chống đói” có lời thoại mang tính mỉa mai, trào lộng, không chỉ chứng minh tư tưởng, hành động ấy của Duyên Anh, mà ta còn thấy được, cái sân khấu hề chèo của xã hội lúc đó:

“Mẹ ơi, Trần Học chỉ là Trần Văn Thông, thằng cán bộ thông tin, đệ tử ông Quốc Phong, bạn Hà Nội của tôi, từng thuê tôi làm thơ chống cộng ăn cơm ghi sổ. Nó nhìn thấy tôi. Nó khớp. Nó ngó tôi, mỉm cười. Vì nó có quyền, nó xin lỗi toàn thể học viên cho nó ngưng giây lát rồi ngoắc tay gọi tôi ra thật xa khỏi lớp học.

– Mày ngồi như mả ông tiên sư, tao làm ăn gì được, hả?

– Ông đâu biết mày trở thành lý thuyết gia chống cộng!

Nó móc ví xỉa cho tôi hai trăm:

– Cút mẹ mày đi cho ông dạy chống cộng!

Tôi nói:

– Khóa học 10 ngày, 5 bò lận.

Lý thuyết gia Trần Văn Thông, biệt danh chống cộng Trần Học dậm chân, nhăn nhó:

– Mày cút đi chơi, ông giảng bài xong sẽ về gặp mày. Ông cho mày ký tên vào tờ giấy xác nhận mày học đủ 10 ngày, cụ Ngô sẽ trả mày đủ 5 bò. Mày sẽ có bằng chống cộng. Từ chiều nay, ông không muốn nhìn mặt mày nữa. Cứ nằm nhà. Ngày mãn khóa nhớ đến liên hoan đớp hít, lĩnh tiền và bằng cấp.

– Thế thôi à?

– Muốn gì nữa?

– Tao muốn học chống cộng!

Lý thuyết gia chống cộng Trần Học xỉa thêm hai trăm nữa.

– Cấm mày tiết lộ vụ bán thơ.

Tôi phú lỉnh ngay.“ (Trích: Nhìn lại những bến bờ)

Trước một xã hội bất ổn, nạn bè phái, tướng tá khoái đảo chính hơn trận mạc, càng làm cho Duyên Anh chán nản, và khinh bỉ: “Với tôi, dù khát khao đổi mới, dù không ưa thái độ của Tổng giám mục Ngô Đình Thục, không chịu nổi ngôn ngữ của bà Trần Lệ Xuân, dù không chấp nhận sự thao túng của ông Ngô Đình Cẩn, tôi vẫn coi 1-11-1963 là một thoán nghịch đê tiện…“ (Nhìn lại những bến bờ). Và từ đó, ta thấy Duyên Anh xuất hiện trên cả hai diễn đàn báo chí và văn chương. Nếu trên báo chí Duyên Anh đào sâu, hạ nhục các tướng lãnh, những nhân vật cốt yếu… và cường quyền thối nát, thì ở diễn đàn văn chương ông đi tìm, xây dựng, ngợi ca du đãng, giang hồ. Và có thể nói, Điệu Ru Nước Mắt ra lò năm 1965, là một trong những cuốn tiểu thuyết điển hình như vậy của Duyên Anh ở giai đoạn này. Và sau đó, nó được chuyển thể thành kịch bản phim cùng tên do Hãng Phim Liên Ảnh thực hiện.

Từ nhận thức, tư tưởng như vậy, cho nên không chỉ ở Điệu Ru Nước Mắt, mà những tiểu thuyết cùng viết về đề tài này, Duyên Anh đều xây dựng tính cách nhân vật, với những bố cục truyện khá đồng nhất. Do vậy, thành thật mà nói, đọc đến cuốn tiểu thuyết thứ hai, thứ ba… của ông về đề tài này, cảm hứng của tôi cũng vơi dần đi ít nhiều.

Vẫn thông qua nghệ thuật đối thoại, thái độ nhân vật, Duyên Anh cài cắm ý thức tư tưởng của mình về xã hội, và con người vào đó. Tư tưởng, hồn vía ấy của Duyên Anh ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý người đọc, nhất là giới trẻ khi tương lai, và niềm tin đã mất. Thật vậy, đoạn trích lời thoại, như một lời tự sự đắng chát giữa hai tầng lớp trong xã hội (bác sỹ Niệm và gã giang hồ Trần Đại) dưới đây, chứng minh cho ta thấy sự đảo lộn giá trị đạo đức, giá trị con người. Buộc Duyên Anh phải làm sáng tỏ nó, và giải quyết nghịch lý ấy, trong tác phẩm này:

“Bác sĩ Niệm nói chưa dứt, Trần Đại chặn lại :

– Không đi hoang đâu bác sĩ ạ ! Đi tìm tương lai đấy. Gia đình bỏ rơi chúng tôi, xã hội hất hủi chúng tôi, tổ quốc khinh bỉ chúng tôi. Có ai nghĩ cho chúng tôi đâu. Vậy chúng tôi tự nghĩ lấy, tự tạo lấy con đường riêng của chúng tôi. Chúng tôi đi làm du đãng. Bác sĩ chơi với du đãng, bác sĩ sẽ hối hận đấy.

Bác sĩ Niệm đứng lên :

– Tôi không có mặc cảm gì cả, nhưng tôi nhận thấy, nếu du đãng như anh và cậu Hùng cả thì xã hội này đỡ bẩn hơn. Tôi thường nhìn lại cuộc đời mình, dĩ vãng và hiện tại, tôi nói thật, nó dáng “buồn nôn” lắm. Những mẫu người mà cuộc đời đang công kênh lên, đặt vào chiếu tri thức, giá tâm hồn họ bỗng được một phần nhỏ tâm hồn anh, tôi chắc tổ quốc này đỡ tủi nhục nhiều. Khốn nỗi, họ đê hèn hơn cả những người vô học đê hèn, họ sống ích kỹ và rỗng tuếch. Chính tôi, tôi cũng thấy mình rỗng tuếch đáng phỉ nhổ. (Điệu Ru Nước Mắt)

Khác hẳn với những truyện ngắn, bút ký về quê hương thuở ấu thơ, tiểu thuyết ở giai đoạn này Duyên Anh ít đi sâu vào miêu tả diễn biến tâm lý. Nhưng ông dành nhiều trang không chỉ thi vị hóa, mà còn còn (phóng đại) cường điệu hóa (hình ảnh, hành động) nhân vật:
“Anh Trần Đại được làm tướng đi đánh nhau với cộng sản, chắc chắn anh ấy thương lính của anh ấy như thương chúng mình, anh ấy lại cừ nữa, cộng sản cứ gọi là hết ngáp…” (Điệu Ru Nước Mắt).

Có thể nói, Duyên Anh đề cao nhân cách giới du đãng, giang hồ, (hay nói cách khác mượn họ) để bóc trần bộ mặt thật, giả dối lưu manh của giới chính trị, tầng lớp ăn trên ngồi trốc. Với những hình ảnh so sánh, đoạn trích dưới đây, cho ta thấy rõ điều đó:

“Nó đã làm đủ nghề. “Thổi nghẽo, đi hiu”, gác khách cho “phỉnh cấc” và ma cạo. Nhưng nó anh dũng hơn nhiều thằng khác trong cái xã hội bẩn thỉu này là nó dám nhận nó là ăn cắp xe đạp… Tôi yêu nó. Chúng tôi yêu nó. Không hiểu bác sĩ nghĩ thế nào, chứ theo ý tôi, những thằng đang vỗ ngực nhận mình là chính khách là cách mạng chưa thằng nào có can đảm như Năm Hòa Hưng. Tôi khinh chúng nó bác sĩ ạ!” (Điệu Ru Nước Mắt).

Và trong cái xã hội trắng đen đảo lộn ấy, hình ảnh chính trực của nhà văn Thiên Chương can đảm, dám đi đến tận cùng của công lý, và sự thật, như một ngọn lửa chợt lóe lên giữa đêm đen vậy. Và phải chăng hình ảnh đó, chính là hiện thân của tác giả Duyên Anh? Đây là nhân vật đặc biệt, bất ngờ đã mở ra lối thoát cho xã hội, con người, và gieo niềm tin vào lòng người đọc. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, như (đại ý) Duyên Anh đã nói ở đâu đó, viết để giải tỏa uất ức bấy lâu. Song tôi nghĩ, chưa đủ, ông viết trên hết vì cuộc sống, cơm áo gạo tiền. Do vậy, lối viết của ông róng riết, không còn hồn nhiên, trong sáng như những năm tháng đầu.

* Biến cố 1975, với những năm tháng tù đày.

Tôi đã đọc khá nhiều hồi ký, bút ký về những ngày Saigon hấp hối của các nhà văn, tướng sĩ cả hai miền Nam Bắc. Tuy nhiên, đến lúc này, chưa có cuốn sách nào cho tôi nhiều cảm xúc như: Saigon thất thủ của Komori Yoshihisa, và Saigon ngày dài nhất của Duyên Anh. Nếu Komori Yoshihisa đi sâu vào tìm hiểu, phân tích nguyên nhân Saigon thất thủ, với những nhân vật chóp bu, thượng tầng, thì Duyên Anh đi sâu vào cái không khí đặc đến nghẹt thở, và hình ảnh cuối của người lính, cũng như tâm trạng người Saigon lúc đó. Saigon ngày dài nhất được Duyên Anh viết vào năm 1988 tại Paris. Với độ lùi của thời gian như vậy, dường như đã ủ chín những suy nghĩ, nhận định của Duyên Anh. Thật vậy, bằng kỹ năng quan sát của người làm báo, tư duy liên tưởng viết của một nhà văn, giờ phút hấp hối ấy, Saigon hiện lên rất đau thương, với hình ảnh rất chân thực, sinh động.

Trong cái mớ bòng bong, hỗn loạn ấy, nhà văn vẫn còn nhận ra sự bình tĩnh đến lạ thường của người lính. Trách nhiệm với non sông đất nước, như là một biểu tượng tự nhiên của người lính vậy. Có điều đặc biệt, không chỉ tác phẩm Saigon ngày dài nhất này, mà tác phẩm nào cũng vậy, nếu Duyên Anh đề cao, hãnh diện bởi người lính VNCH, thì bên cạnh đó, kiểu gì cũng là những lời tổng sỉ vả về sự hèn nhát, vô trách nhiệm của tướng lĩnh, và tầng lớp lãnh đạo cao nhất. Cái tư tưởng, tình cảm này xuyên suốt những trang viết của Duyên Anh. Có lẽ, đây cũng là một trong những hạn chế, mang tính cực đoan của ông chăng?

Và nếu hình ảnh bi thảm, chán chường ở người lính thất trận trong Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy cho người đọc nỗi cảm thông, thì vẫn hình ảnh người lính ấy, còn đọng lại ở cây viết của Duyên Anh một sự điềm tĩnh đầy tự tin:

“Người lính xe tăng mở nắp, cầm cái búa lớn nhẩy xuống đường. Chiếc tăng bị trục trặc. Bình tĩnh, người lính giáng những nhát búa. Chắc chắn, anh không nghe tướng Vĩnh Lộc hài tội tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu và kêu gọi tiếp tục chiến đấu. Người lính ấy, biểu tượng rực rỡ và đích thực của quân đội, còn nguyên vẹn danh dự và trách nhiệm. Anh thừa hiểu bọn tướng lãnh đầu sỏ đã chạy trốn hết. Bọn thống trị bù nhìn đã chạy trốn hết. Nhưng là lính, dù thoi thóp một phút chiến đấu, anh vẫn bảo vệ danh dự quân đội, vẫn chứng tỏ trách nhiệm với tổ quốc, dân tộc. Người lính im lặng làm công việc của anh. Hẳn nhiên, anh không hò hét. Nên, anh vẫn còn đây, trước cổng nhà tôi số 225 Bis đường Công Lý, sửa xích xe tăng một cách thản nhiên. Sự thản nhiên của người lính, tôi đã không tìm thấy ở tướng Vĩnh Lộc trên vô tuyến truyền hình.” (Saigon ngày dài nhất)

Và chứng kiến sự tuẫn tiết của người sĩ quan cảnh sát, ngòi bút của Duyên Anh càng sắc bén và sâu cay. Vẫn hình ảnh so sánh đề cao khí tiết của người sĩ quan, và nhằm bóc trần bộ mặt đê hèn (trốn chạy) của các tướng lĩnh, Đô trưởng Saigon. Cùng đó, sự liên tưởng về cái giả dối, hão huyền của con người, hay của chính chúng ta nơi hải ngoại này, đã được Duyên Anh đưa tuốt tuồn tuột lên trang sách của mình. Và một đoạn văn, hay một câu hỏi tu từ dưới đây, Duyên Anh làm cho người đọc uất uất nghèn nghẹn, đắng chát không chỉ nơi cổ họng:

“Trung Tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sàigòn là Tổng Trấn Sàigòn đã đào ngũ… Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhận sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của Trung tá cảnh sát tên Long…Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ Trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ?” (Saigon ngày dài nhất)

Từ chỗ tuẫn tiết của Trung tá Long, Duyên Anh băng sang nhà thờ Đức Bà. Nơi vừa xảy ra trận chiến quyết tử của một trung đội nhảy dù. Một trận chiến không hề cân sức. Và Saigon đã không thành Leningrad, nhưng dưới ngòi bút Duyên Anh, tinh thần người lính đi vào bất tử:“…Đánh lấy chết. Chết vinh. Tôi vừa mới khô nước mắt. Trung đội nhẩy dù chết hết. Giặc cũng chết bộn. Xác quân ta và xác giặc đã được mang đi. Chiến trường đã rửa sạch vết máu. Ông ra mà xem, đường còn ướt mèm.” (Saigon ngày dài nhất). Hình ảnh đẫm máu, và nước mắt ấy, có thể là trận chiến cuối ngay trên đường phố Saigon. Nhưng chắc chắn từ đây bắt đầu một trận chiến mới trong lòng Duyên Anh, trong lòng thành phố. Và bên cạnh những người lính đi vào bất tử ấy, Duyên Anh cũng cho người đọc nhận ra, chân dung những người cách mạng mới. Có thể nói, với những biện pháp tu từ như vậy, làm cho văn của Duyên Anh sinh động, đầy ăm ắp những hình ảnh so sánh: ”A, những người này tôi đều biết. Họ ở dưới chợ Xóm Lách. Họ đã là nhân dân tự vệ chọc chó, hái trộm khế nhà tôi và gây phiền nhiễu cho dân lương thiện. Họ đã là những tên sống cù bơ, cù bất ngoài vòng pháp luật. Họ đã là ông thợ may hiền lành, bà chạp phô dễ tính. Họ đeo băng đỏ chờ đợi hoan hô cách mang…” (Saigon ngày dài nhất)

Có mặt ở thời khắc đó, do vậy Duyên Anh có một cái nhìn chân thực, sống động. Tuy nhiên, với nỗi đau cùng tâm trạng ê chề đó: Nhìn lá cờ không sinh khí? Hay hồn vía Duyên Anh cũng rũ rượi như một ngày thiếu nắng, thiếu gió. Đoạn trích sau đây, không chỉ cho ta thấy rõ điều đó, mà còn vạch trần những cái giả dối, lưu manh của lịch sử bấy lâu nay che đậy. Vâng, chẳng có cái xe quái nào ủi sập cái cổng Dinh Độc Lập, như sân khấu hề chèo trình diễn suốt gần nửa thế kỷ qua. Cảm ơn Duyên Anh, một nhân chứng sống: “Chúng tôi đã đến Dinh Độc Lập. Lá cờ Mặt trận giải phóng miền Nam đã thay thế cờ vàng ba sọc đỏ. Nó không phất phới bay theo khí thế giải phóng. Nó rũ rượi trong ngày thiếu nắng, thiếu gió. Chiếc xe tăng thứ nhất theo ngả Thị Nghè, Hồng Thập Tự, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thống Nhất đã vào khuôn viên Dinh Độc Lập ngon lành. Cổng mở rộng sẵn. Không hề bị T-54 ủi sập như báo chí Cộng Sản tường thuật…Cộng Sản vào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút.“(Saigon ngày dài nhất).

Sau tháng 4-1975, cùng với quân cán VNCH, các nhà văn đều lần lượt chui vào rọ cả. Không bị lên thớt như Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường hay Vũ Hoàng Chương…bác nào may mắn còn trở về cũng trầy vi tróc vảy. Tuy nhiên, những năm tháng dày vò, hành hạ về cả thể xác lẫn tinh thần ấy, chưa hẳn đã là điều đáng sợ đối với họ. Mà nỗi lo sợ cho vợ con, gia đình ở một cái xã hội đảo lộn tùng phèo về đạo đức, luật pháp mới là nỗi đắng cay nhất trong lòng văn nhân tù đày. Thật vậy, tác phẩm Nhà Tù, Duyên Anh đã dành nhiều trang văn cảm động, súc tích nhất để nói về nỗi đớn đau này. Có thể nói, Duyên Anh là một trong những nhà văn hàng đầu của Việt Nam viết về tâm lý, nỗi đau, thân phận con người: “Con gái tôi, Vũ Nguyễn Thiên Hương, tức con Ki…giỏi môn văn, được ra Hà Nội thi, đậu cao sẽ sang Moscow, thương bố bị tù, thương anh bị đuổi học đã xin nghỉ học luôn. Con trai út tôi, Vũ Nguyễn Thiên Sơn, tức thằng Đốm, bị cấm đến trường. Vợ tôi bệnh hoạn dài dài, bị lừa gạt vượt biên, bị hăm dọa thủ tiêu nếu không rời căn nhà đường Công Lý. Thư hăm dọa trình công an. Công an lờ tít. Vợ con tôi bỏ nhà…lưu vong. Con chim đại bàng đã không đến ăn khế vườn nhà tôi. Và cổ tích của thằng Đốm là thất học.” (Nhà Tù)

Không như những sĩ quan, người lính cùng cảnh lao tù, cải tạo, mà dường như Duyên Anh ngơ ngác với những “nỗi khổ thật mới”. Không giấy mực, ông vận nỗi thống khổ ấy vào thơ. Những cái chết bất ngờ, rẻ mạt của người tù cải tạo làm cho Duyên Anh giật mình, kinh hãi. Lời thơ cho vợ, hay là lời tuyên án cho những kẻ giết người giấu mặt, ẩn tên này. Tôi đã đọc rất nhiều trang văn xuôi kinh hoàng về những năm tháng cải tạo tù đày sau 1975, song về thơ dường như không được nhiều. Ngoài thơ Tô Thùy Yên, thì quả thực bài “Về nỗi khổ thật mới” Duyên Anh đã làm cho tôi xúc động. Có thể nói, đây là bài thơ hay, với những hình ảnh, sự liên tưởng độc đáo, một cảm giác chờn chờn, rợn rợn, khi đọc: “Lưỡi cưa cùn cưa gỗ cưa cây thật ớn/ Đã cưa xương cưa thịt con người/ Bạn anh thét kinh âm hưởng vút lên trời/ Bạn anh giẫy giụa đất nứt tung cục cựa/…Mắt cài then kín cửa”. Hình ảnh chân thực, nỗi đau tận cùng trời đất ấy, đã đọc nhiều lần, song tôi không đủ can đảm nhắm mắt để tưởng tượng, nên đôi lúc có tính hoài nghi… Vâng! Có lẽ, chỉ có người tù cải tạo mới thấu cảm hết những điều đó mà thôi:

“Báo tin cho em biết
Bạn anh vừa cuốc đất trúng mìn
Mìn nào đó, ôi trái mìn xảo quyệt
Ai cũng được quyền gài và quyền lớn tiếng thanh minh…

Lưỡi cưa cùn cưa gỗ cưa cây thật ớn
Đã cưa xương cưa thịt con người
Bạn anh thét kinh âm hưởng vút lên trời
Bạn anh giẫy giụa đất nứt tung cục cựa

Anh ghì tay bạn anh
Mắt cài then kín cửa
Hồn đi xa khỏi thế giới lầm than
Nỗi đau đóng đinh thập giá có đâu bằng

Bạn anh bị cưa chân bởi thứ cưa cưa gỗ
Nhân loại có nhiều nỗi khổ
Nhưng chưa có nỗi khổ nào giống nỗi khổ bạn anh…”
(Về nỗi khổ thật mới)

Nếu ta đã đọc Ở Cuối Hai Con Đường của nhà văn Phạm Tín An Ninh, thì sẽ có sự đồng cảm hơn khi đọc Nhà Tù của Duy Anh. Cả hai nhà nhà văn cùng đi sâu vào khía cạnh tình người. Với cái nhìn chân thực của nhà văn, hơn hết là một người tù: Không phải tất cả những người quản giáo đều tàn nhẫn, và mất hết tình người. Ở họ, nhà văn vẫn tìm thấy sự đồng cảm, sự sẻ chia. Vâng, có lẽ đây là một trong những giá trị chân thực nhất mà tôi đã tìm được ở những tác phẩm này: “Các anh nhà văn, nhà báo, các anh có tội với Đảng chứ không có tội với ai hết. Các anh lao động đầu óc, khác mấy anh tư sản mại bản. Tôi kính trọng các anh với tư cách cá nhân. Tôi là bộ đội, đang là công an tạm thời, chờ chuyển ngành hoặc giải ngũ…” (Nhà Tù)

Không chỉ người quản giáo, mà ở người cán bộ kiểm sát cấp cao, nhà văn may mắn gặp được cái tình người còn sót lại. Thành thật mà nói, đây là lần đầu tôi bắt gặp chi tiết này, trên trang văn của các cựu tù cải tạo. Có thể nói, đây là chi tiết, tư tưởng hành động khá thú vị. Nó không chỉ cho người đọc cảm được sự trung thực, mà còn làm dịu mát đi tác phẩm vốn dĩ đã nóng bỏng, và chua cay này. Hồi ký, bút bút thường mang tính chủ quan, các sự kiện được kể lại, theo thứ tự thời gian tác giả trải qua, chứng kiến. Do vậy, lời văn chậm, khó gây cảm hứng cho người đọc, nhất là giới trẻ. Tuy nhiên, cũng ở thể loại này, Duyên Anh sử dụng nhiều, và rất tinh tế nghệ thuật đối thoại, làm cho lời văn ngắn gọn, sinh động, buộc người đọc phải đi đến tận cùng trang viết. Thật vậy, lời thoại dưới đây, cho chúng ta thấy rõ điều đó:

“Buổi sáng ngày thứ ba, ông ta đưa tôi gói cà-phê:

– Tôi đã qua nhà anh rồi ngại không dám vào. Một cán bộ vào nhà một nhà văn bị tam giữ sẽ xẩy ra nhiều dị nghị cho cả hai. Tôi mua tặng anh hai lạng.

Tôi nói:

– Tôi xin phép gửi lại tiền anh.

Ông ta lắc đầu:

– Anh quên tôi là cán bộ và anh là người bị tạm giữ. Trên tất cả vẫn là con người…

Lúc quản giáo dẫn tôi về phòng, ông ta chỉ thị: “Tôi cho phép anh Vũ Mộng Long đem cà-phê vào”. Buổi chiều, tôi chấm dứt bản tự khai. Ông ta không đọc, không chấp pháp mà cất vào ba-lô…

Ông ta đứng dậy, bắt tay tôi:

– Giữ gìn sức khoẻ.

Tôi bắt tay ông ta. Lần đầu tiên và là lần duy nhất người của Đảng bắt tay tù nhân, chúc sức khoẻ tù nhân…” (Nhà Tù)

Đọc Duyên Anh ta có thế thấy, chưa khi nào giá trị, thân phận con người rẻ mạt như những năm tháng sau 1975. Có thể nói, đó là nỗi đau khó có thể đóng thành sẹo của một dân tộc bất hạnh. Một dân tộc sợ hãi chiến tranh, và sợ hãi ngay cả khi hòa bình, nhưng vẫn phải chấp nhận cả hai. Như một lần ông đã nói (đại ý) như vậy.

* Nỗi cô đơn, bất hạnh với những năm tháng tha hương

Cũng như nhà văn Trần Hoài Thư, hay Lữ Quỳnh, đến được bến bờ tự do Duyên Anh càng thấy lẻ loi, và cô đơn. Do vậy, ông trở lại với thi ca nhiều hơn. Và dường như, chỉ có thi ca mới phần nào giải tỏa được nỗi u uất trong lòng văn nhân. Chính sự cô đọng ấy, thi ca cũng như hồn vía Duyên anh ở giai đoạn này, để lại sự đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc. Dù văn xuôi vẫn giữ vị trí quan trọng nhất trong quỹ thời gian sáng tạo của ông. Ta Và Ta là một bài thơ thất ngôn như vậy của Duyên Anh. Có thể nói, đây là bài thơ hay về nỗi cô đơn tột cùng trong tâm hồn người thi sĩ. Sự khó khăn, buồn phiền không người sẻ chia, cảm thông và bế tắc ấy của Duyên Anh, chợt làm tôi nhớ đến: Sắt Thép Đau. Một bài thơ đau đớn, oan nghiệt của linh hồn, đọc lên ai cũng phải chờn chờn, rợn rợn, được ông viết vào khoảng năm 1975. Như vậy, có thể thấy cái tâm hồn cô quạnh, đa cảm này, không phải khi Duyên Anh phải trốn chạy, lạc lõng nơi xứ người mới có: “Hồn ta thanh sắt đường rầy/ Con tàu oan nghiệt tháng ngày nghiến lên/ Cường toan nhỏ giọt đêm đen/ Lặng thinh ta đếm ưu phiền rụng rơi”. Khác hẳn với văn xuôi, thơ Duyên Anh sử dụng nhiều hình ảnh, điển tích và cổ ngữ. Do vậy, nhiều bài rất hay, sâu sắc, song không hẳn đã dễ đọc. Với đặc điểm này, thơ ông kén người đọc, nhất là giới trẻ. Và cũng chính bài “Ta Và Ta” sẽ cho ta thấy rõ điều đó:

“…Ta đến một mình không có ai
Gập ghềnh địa nạn, dốc thiên tai
Thế gian vùi ngủ uên hồng thuỷ
Thuyền vắng Noé, nước ngập đầy

Ta đến một mình ta với ta
Bỗng dưng thương ngục đá đêm già.
Cuối đường hiu hắt chiều giăng mắc
Thấp thoáng hồ ly đóm lửa xa.”

Không hề nghèo đói, không thiếu bạn bè, người thân và gia đình, nhưng Duyên Anh vẫn cảm thấy bơ vơ, đói khát trên hè phố Paris. Nhớ lại quá khứ, mà ông cứ ngỡ, mình đang ăn mày dĩ vãng, gặm nhấm linh hồn vậy. Cái cảm giác, với những bước chân lỡ nhịp đó của Duyên Anh không chỉ dừng lại ở bài Cái Bang, mà dưới hình thức này, hay cách bộc lộ khác, xuất hiện ở khá nhiều lần trong thi tập “Em Tôi Saigon Và Paris“. Có thể nói, Duyên Anh có tài làm thơ Lục bát, bởi đọc khá kỹ tập “Thơ Tù“ và “Em Tôi Saigon Và Paris“, không có bài dở, hầu như bài nào cũng cảm động cho tôi những cảm xúc khác nhau. Và bài Cái Bang dưới đây chưa hẳn đã nằm trong số những bài hay của Duyên Anh, song nó cho tôi sự đồng cảm của những kẻ xa quê, xa Tổ Quốc trên dưới bốn chục năm (như chúng tôi):

“Bị đeo tưởng đã lệch vai
Vỉa hè đất khách rạc rài bước hoang
Ăn mày chỗ đứng nhân gian
Vì chưng thiếu gậy, cái bang lỡ thời”

Nếu ta gặp hồn vía cổ thi ở những Phạm Ngọc Lư, hay Vũ Hoàng Chương, thì đọc Duyên Anh sẽ thấy, dường như ông đang thổi hồn cổ phong vào thơ lục bát vậy. Đây là một trong những đặc trưng khá tiêu biểu của thi ca Duyên Anh. Khai Bút được ông viết ngày đầu xuân Ất Sửu 1985. Bài thơ không chỉ là nỗi đớn đau, thất bại của người nghệ sĩ tài hoa lỡ vận, mà còn như một lời dự báo về nỗi đau tàn phế và cô đơn bất hạnh mà Duyên Anh thực sự phải gánh chịu vào những năm cuối đời:

“…Ngựa về vết chém ngang lưng
Ủ ê chiến tích rưng rưng chiến bào.
Tài hoa mối gặm hư hao
Tủi thân nhan sắc, nghẹn ngào phấn son.
Đường xa rêu lấp xanh buồn
Hồ ly rình rập hớp hồn tinh anh
Rượu xuân mừng chén lênh đênh
Nghìn năm sau vẫn một mình mình thôi“

Duyên Anh làm khá nhiều thơ có tính thời sự, nhưng “Trót Quên“ viết tặng Huy Cận (người rất yêu thơ về Paris của ông), đã mang đến cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Vẫn thể lục bát, viết về một thời lầm lỡ của thi nhân như thể răn đời, và răn mình vậy: “…Vòng tay ôm lãnh tụ hèn/ Vòng tay ôm ý thức điên rối bời/ Vòng tay ôm rã ôm rời/ Đã quên ôm chặt một người mình yêu“. Nếu được phép tuyển chọn, với tôi bài thơ trữ tình: “Bấy Giờ, Em Ơi“ là bài thơ hay nhất trong thi tập Em Tôi Saigon Và Paris của Duyên Anh. Và hơn thế nữa, cùng với Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Khi Chưa Có Mùa Thu của Trần Mạnh Hảo, Tình Ca Ban Mai của Chế Lan Viên… Bấy Giờ, Em Ơi là một bài thơ trữ tình hay nhất ở thể ngũ ngôn của thi ca đất Việt. Trích đoạn có lời thơ, hình ảnh tuyệt đẹp, và nhẹ nhàng dưới đây chứng minh thêm tài năng thi ca của nhà văn Duyên Anh:

“…Có bao giờ em nói
Lời tình tự ca dao
Có bao giờ em gọi
Hồn ta về với nhau
Mùi hương nào gợi nhớ
Vườn trăng thoảng hương cau
Con diều nâu đòi gió
Gửi nhạc sáo lên cao
Nhịp võng trưa mùa hạ
Ngày xưa ru ngày sau
Thi ca trong sữa lúa
Tiểu thuyết trên lụa đào…“

Có thể nói, cuộc đời Duyên Anh là một cuốn tiểu thuyết đầy biến cố, và bi kịch. Nhưng bằng tài năng, lòng vị tha, và nghị lực sống đã giúp ông vượt qua những bất hạnh đó, nhất là những năm tháng cuối đời. Cuộc đời và trang viết của ông đi qua nhiều thế hệ người đọc, bởi cái tư tưởng dân tộc, sự can đảm nói, viết những điều không ai dám nói. Vâng, chỉ có sự thật mới cảm hóa được lòng người. Và sự can đảm, tính nhân bản này, là một đặc tính, một nhân cách rất cần cho một nhà văn.
Mắt Buồn  
#20 Posted : Sunday, September 5, 2021 7:10:18 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 5,662

Thanks: 669 times
Was thanked: 581 time(s) in 421 post(s)

Nhà Thơ Nguyễn Mạnh Trinh Đã Ra Đi Vĩnh Viễn


Phúc Quỳnh

September 5, 2021 | by Ban Tu Thư | 0

UserPostedImage

Nhà thơ, nhà biên khảo Nguyễn Mạnh Trinh đã từ biệt gia đình, từ giã bạn bè, và giã biệt cõi đời vào một buổi sáng sớm của một ngày hứa hẹn nắng gắt của tháng Tám tại Nam California. Tin ông mất được loan đầu tiên trên trang Facebook của Văn Học Press, sau đó được bạn bè truyền tay, chia sẻ lại trong sự sửng sốt, bất ngờ, cùng sự thương tiếc dành cho một người bạn rất khiêm tốn, hiền lành.

Nhà văn Trịnh Y Thư, một bạn thân của ông Nguyễn Mạnh Trinh, cho biết nhà thơ đã qua đời lúc 4 giờ sáng thứ Ba, ngày 24 tháng 8, 2021 tại tư gia. Ông chỉ mới vừa từ nhà thương về nhà được một hôm thì ra đi vĩnh viễn, để lại người vợ thân yêu là bà Nguyễn Thị Thế, thọ 73 tuổi. Lễ hỏa táng sẽ được cử hành ngày 10 tháng 9.

Trên mạng xã hội, chỉ trong mấy giờ sau khi hay tin nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh đã mất, hàng chục bằng hữu đã mau chóng viết những dòng thương tiếc.

Trong bốn thập niên, Nguyễn Mạnh Trinh ban đầu xuất hiện trong giới văn chương là một nhà thơ, dần dần ông chuyển sang biên khảo và trở thành một trong những nhà bình luận văn thơ viết khỏe nhất tại hải ngoại. Trong tình thân, các bạn văn thường nói giỡn Nguyễn Mạnh Trinh là “một nhà thơ to con,” vì ông có thân hình vạm vỡ (ông từng đi lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa), không phù hợp với ấn tượng một thi sĩ phải là một anh chàng thư sinh, thân hình ẻo lả, ốm yếu, tay cầm điếu thuốc, miệng hớp ly cà phê (hay rượu), mắt mơ màng nhìn xa xăm, vân vân. Ông sống rất lành mạnh, chừng mực, không hút thuốc, không bia rượu, cũng không lăng nhăng chuyện tình cảm, có nụ cười rất hiền hòa và thường híp mắt cười mỗi khi bị bạn bè chọc ghẹo. Ông chỉ có một đam mê là thơ, hay thi ca theo lời ông từng nói với ký giả Mặc Lâm của đài RFA trong một cuộc phỏng vấn năm 2009.

Khi đó Mặc Lâm cho biết “Nguyễn Mạnh Trinh không nhận mình là cây bút phê bình văn học chuyên nghiệp, ông tự nhận mình chỉ là một người đọc văn, ghi lại cảm nghĩ và chia sẻ những bài viết ấy trên mặt báo với những người yêu văn học như ông.”

Ông đã nói với Mặc Lâm về việc viết bài phê bình thơ văn, “Thật ra tôi là người yêu thơ và yêu mến sách vở. Vì yêu thơ thành ra tôi muốn làm một nhịp cầu giữa độc giả và người sáng tác. Tác phẩm đầu tiên mà tôi viết là tập thơ của nhà thơ Nguyên Sa số 1. Có những bài viết mà tôi nghĩ rằng là phản ảnh tâm tư của một số đông độc giả.”

“Nguyễn Mạnh Trinh sinh năm 1949 tại Hà Nội, lớn lên ở miền Nam. Năm 1969, ông tình nguyện gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa, phục vụ tại Không Đoàn 60 Bảo Trì Tiếp Liệu thuộc Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku từ khi thành lập đơn vị này vào những năm 1971 cho đến ngày tàn cuộc chiến.

“Sau biến cố 1975, ông tị nạn tại Hoa Kỳ và bắt đầu dấn thân vào những sinh hoạt văn học nghệ thuật tại tiểu bang California. Ngoài viết văn và làm thơ, ông thường viết những nhận định văn học liên quan đến tác phẩm của những tác giả nổi danh như Xuân Vũ, Trần Văn Minh, Dương Hùng Cường, Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Quang Dũng, Phạm Đình Chương, Phạm Công Thiện, Tô Thùy Yên, Kim Tuấn, Du Tử Lê… Những bài viết của ông xuất hiện trên hầu hết các tạp chí văn học tại hải ngoại.

“Ông chủ trương tủ sách tác giả tác phẩm Đời và là thành viên trong nhóm chủ trương Hợp Lưu – Hoa Kỳ. Nguyễn Mạnh Trinh cùng với Nhã Lan chủ trương chương trình “Tản Mạn Văn Học” trên đài phát thanh Little Saigon mỗi sáng thứ Bảy, được đông đảo người Việt tại California theo dõi.

“Tác phẩm đã xuất bản: Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (Người Việt, 1985). Tập truyện Hai Mươi Ba Người Viết Sau 1975 (biên tập cùng Trịnh Y Thư, Văn Nghệ Hoa Kỳ, 1989). Rì Rào Sóng Vỗ, tập truyện ngắn.”

Nhà văn Vĩnh Hảo, chủ bút Nguyệt San Chánh Pháp, từng viết về thơ của Nguyễn Mạnh Trinh như sau:

“Thơ mới của Nguyễn Mạnh Trinh đọc lên, nghe như nhạc. Một loại nhạc buồn thấm thía. Một loại buồn rất đau. Nhất là bài này, Dặn Anh Khói Sóng, giọng thơ thật trầm tĩnh, mà nỗi đau thì lạnh tê vào tận tim gan:

Anh, rẽ thẳng ngôi em làn tóc xõa
Không quanh co khuất khúc mối tình em
Dù biển gió sẽ rối tung trăm ngả
Anh vuốt ve cho giấc ngủ em mềm

Anh, ru em lời ca dao mật ngọt
Cho em quên cơn khát biển nhọc nhằn
Nhìn thẳng mắt em chân trời hy vọng
Cho mênh mông anh trán phẳng vết nhăn

Anh, vuốt khẽ cho em tà áo mộng
Khép sau lưng tia nắng đẹp phố phường
Ô kìa anh tung tăng đôi bướm đẹp
Đang nô đùa bãi cỏ biếc quê hương

Anh đọc nhỏ thơ anh lời dưới mộ
Có phải em đang dần rã xác thân
Có phải đang bập bềnh muôn khói sóng
Đường hải hành trăm lối dạt phân vân

Anh, hãy hôn em bờ môi vời vợi
Ấm vòng tay tà áo đẹp em đan
Đợt phiêu bạt gió bên trời tiếng gọi
Ơi nụ cười sao đau xót vô vàn

Anh, em đã vùi trong lòng biển thẳm
Vèo cánh chim qua nhịp sóng đoạn trường
Rêu xanh sẽ muôn đời xây nấm mộ
Trái tim không ngưng nhịp đập quê hương.

Thành kính phân ưu cùng gia đình nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh trước sự mất mát đau buồn này.

Users browsing this topic
Guest
3 Pages123>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.