Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

78 Pages«<7475767778>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1501 Posted : Wednesday, January 27, 2021 6:10:05 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Sealed With a Kiss, phiên bản tiếng Pháp

Tuấn Thảo - RFI
Trong làng nhạc Pháp, tình khúc Derniers Baisers (Những nụ hôn cuối cùng) là một trong những ca khúc hiếm hoi, ba lần lập kỷ lục số bán trên thị trường. Đây là phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm Sealed With A Kiss rất quen thuộc từ những năm 1960. Giới trẻ ở Pháp thời nay biết đến bài này chủ yếu qua phiên bản của Laurent Voulzy, ghi âm vào năm 2006. Thế nhưng ít ai còn nhớ ai là người đầu tiên hát bài này trong tiếng Pháp.

Người từng đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc Sealed With A Kiss là tác giả quá cố Pierre Saka (1921-2010). Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris trong một gia đình nghèo, ông có hai dòng máu : mẹ là người Pháp, bố là một thợ may người Hy Lạp nguyên quán ở đảo Crète, cho nên sau này khi sáng tác ông cũng thường lấy bút danh là Jean Michal Crétois. Thời còn trẻ, ông làm việc cho đài phát thanh (Radio Luxembourg) trước khi chuyển qua sáng tác và viết lách từ những năm 1950.

Pierre Saka thành danh nhờ tài đặt lời, ca từ chẳng những hợp với ngữ điệu tiếng Pháp mà còn gần giống với nội dung nguyên tác. Ông dễ dàng kiếm sống vào cái thời bùng phát phong trào nhạc trẻ những năm 1960. Hầu hết các thần tượng nhạc trẻ thời bấy giờ đều có ghi âm các bản nhạc Pháp phóng tác từ các ca khúc từng ăn khách trên thị trường Anh Mỹ. Trong suốt những năm 1960, Pierre Saka đặt thêm lời Pháp cho các ca sĩ như Sylvie Vartan, Richard Anthony, Eddy Mitchell, Nicoletta, Frank Alamo ……

Trong quyển hồi ký mang tựa đề ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), Pierre Saka kể lại những giai thoại xung quanh ca khúc này. Bản nhạc gốc Sealed With a Kiss do hai tác giả Mỹ Peter Udell và Gary Gell sáng tác vào năm 1960, khai thác dòng nhạc pop dành cho giới trẻ trước khi có hiện tượng The Beatles và làn sóng pop rock từ Anh Quốc đổ ập vào nước Mỹ.

Trong nguyên tác, nhạc phẩm Sealed With A Kiss mang ý nghĩa của một lời tạm biệt với mối tình đầu đời. Một cặp tình nhân phải chia tay sau khi gặp nhau nhân kỳ nghỉ hè, họ hẹn gặp lại vào mùa tựu trường. Chàng trai hứa sẽ viết cho cô gái mỗi ngày một lá thư để thỏa niềm thương nhớ, để khuất lấp nỗi cô đơn. Chàng trai dùng nụ hôn để “dán lại” mỗi bức thư tình.

The Four Voices là nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, phong cách của họ gần giống với bộ tứ The Brothers Four cực kỳ ăn khách thời bấy giờ với nhạc phẩm Greenfields và sau đó là The Green Leaves of Summer. Hai năm sau khi thất bại với Sealed With A Kiss, nhóm The Four Voices rã đám, nhưng bài hát này lại ăn khách nhờ một bản phối mới qua tiếng hát của Brian Hyland, ăn khách tại Hoa Kỳ cũng như tại Anh. Bản nhạc này sau đó đã có hàng trăm phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, Hoa, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha hay tiếng Đức.

Pierre Saka đặt lời tiếng Pháp cho bài này mà ban đầu được dành cho ca sĩ Nancy Holloway. Nhưng rốt cuộc ban nhạc trẻ Les Chats Sauvages lại trở thành nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Vào thời ấy, ca sĩ chính là Dick Rivers vừa mới tách ra khỏi nhóm, điều đó buộc hãng đĩa Pathé Marconi phải tuyển lựa ca sĩ mới để thay thế. Xuất thân từ thành phố Toulouse, ca sĩ Mike Shannon (tên thật là Michel Simonet) trở thành giọng ca chính của nhóm Les Chats Sauvages.

Bản nhạc Derniers Baisers trở thành ca khúc ăn khách nhất của họ với hơn hai triệu bản bán chạy, và trở thành tình khúc mùa hè năm 1963. Thế nhưng, những bất đồng nội bộ khiến cho nhóm Les Chats Sauvages phải chia tay nhau vào năm 1964. Tên tuổi của Mike Shannon hầu như chìm vào quên lãng, và khi nhắc tới bài Derniers Baisers, nhiều người lại tưởng lầm rằng ca khúc này do Dick Rivers ghi âm, do anh là ca sĩ chính đầu tiên của nhóm.

Phiên bản tiếng Pháp của Sealed With A Kiss ba lần lập kỷ lục số bán : sau Mike Shannon vào năm 1963, bài hát ăn khách lần thứ nhì vào năm 1986 với phiên bản của C. Jérôme với lối hoà âm theo kiểu pop ballad những năm 1980. Tới năm 2006, trên album đề tựa ‘‘Làn sóng thứ bảy’’ (La Septième Vague), Laurent Voulzy giành lấy hạng đầu thị trường Pháp, Bỉ, Luxembourg, Thụy Sĩ nhờ một bản phối rất mộc của bài Derniers Baisers theo điệu bossa nova.

Còn trong tiếng Việt, bài Sealed With A Kiss có ít nhất hai lời khác nhau. Lời đầu tiên là của tác giả Trường Hải, việt hóa bài hát tiếng Anh thành Hạ Vàng Biển Xanh : danh ca Khánh Ly từng ghi âm bài này trước năm 1975. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ. Sealed With a Kiss trở thành Tình Yêu Trong Đời, trước đây do ca sĩ Trúc Mai ghi âm, sau đó có thêm nhiều bản cover của Don Hồ hay qua phần song ca của Duy Quang & Như Mai.

Tại Việt Nam, Sealed With a Kiss rất quen thuộc với người nghe, nhờ ca từ mộc mạc dễ thuộc, lời lẽ bình dị dễ nhớ, nên đã trở thành một trong những bài hát dạy học tiếng Anh thông dụng nhất. Về phần Pierrre Saka, trong quyển hồi ký đề tựa ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), tác giả ghi nhận là những ca khúc tuyệt đẹp thường hay lắng đọng trong tiềm thức để rồi bất chợt ùa về với bao kỷ niệm. Tất cả mọi chuyện đến một lúc nào đó đều sẽ qua đi, mong sao những giai điệu đẹp vẫn luôn trẻ mãi, sống hoài theo năm tháng, như thể thời gian tạm dừng chân, giữa một mùa hè bất tận.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1502 Posted : Thursday, January 28, 2021 12:42:19 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm huyền thoại nước hoa "Chanel số 5"

Tuấn Thảo - RFI - 28/01/2021
Cách đây một thế kỷ, khi chọn "số 5" để đặt tên cho nước hoa của mình, bà Gabrielle Chanel có lẽ cũng không ngờ rằng mùi hương này sẽ ngự trị dài lâu trên thị trường toàn cầu. Chính cũng vì số 5 là số hên của bà Chanel, mà lúc mới vào nghề, các sản phẩm của nhà thiết kế thời trang Pháp thường được trình làng vào ngày 5 tháng Năm.

Theo tuần báo kinh tế Capital, trên thế giới hiện nay, mỗi năm có khoảng 1.500 kiểu chai nước hoa được tung ra thị trường, tức cao gấp 4 lần so với cách đây ba thập niên (350 hiệu nước hoa vào những năm 1990). Trong số này, có hơn một nửa biến mất, sau 12 tháng đầu tiên tiếp thị. Một số khác cũng tồn tại được vài năm. Trong hàng ngàn kiểu nước hoa, chỉ có một thiểu số mới trụ lại được lâu. Nước hoa Chanel số 5 thuộc vào dạng này, còn thọ tới khoảng 100 tuổi thì có thể đếm trên đầu ngón tay.

Theo khảo sát hồi tháng 06/2020 của tuần báo phụ nữ Femina, trên danh sách các mùi nước hoa thịnh hành nhất thị trường Pháp, Chanel số 5 đã giành lấy ngôi vị quán quân trong vòng 90 năm liền. Đến đầu thập niên 2010, Chanel mới nhường lại ngôi vị bá chủ cho "J'adore" của Dior (ra đời vào năm 1999). Số mùi hương có thể tồn tại được lâu, xuyên qua các thế hệ thật ra không nhiều. Trên danh sách 10 mùi hương thịnh hành từ nửa thế kỷ qua có "Opium" của Yves Saint Laurent (1977), "L'Interdit" của Givenchy (1957), "L'Air du Temps" của Nina Ricci (1948) và nhất là mùi hương "Shalimar" của Guerlain (1925) mà trong vài năm nữa cũng sẽ tròn 100 tuổi.

Chanel số 5, biểu tượng muôn thuở nước hoa cao cấp

Theo định nghĩa của Chanel, một kiểu nước hoa đi vào huyền thoại không có nghĩa là đã trở nên xa xưa lỗi thời, mùi hương này phải biết thích nghi với thời đại cũng như các trào lưu xã hội. Chính cũng vì thế mà đã có nhiều "phiên bản" biến tấu từ công thức nguyên gốc của nhà chế biến nước hoa người Pháp Ernest Beaux (1881-1961). Chẳng hạn như phiên bản phóng tác mùi hương số 5 "l’Eau de Parfum" của Jacques Polge (1986), rồi kế đến có "L’Eau Première" (2008) và con trai ông là Olivier Polge nối nghiệp thân phụ khi trình làng phiên bản của thời đại công nghệ internet "N° 5 L’Eau" (2016) với người mẫu Lily-Rose Depp, con gái của hai thần tượng ca nhạc và điện ảnh Vanessa Paradis và Johnny Depp.

Có thể nói, Chanel số 5 không chỉ đơn thuần là một mỹ phẩm, mà còn là biểu tượng muôn thuở của ngành thời trang cao cấp. Khi được cho ra đời vào ngày 05/05/1921, Chanel số 5 đã hoàn toàn đi ngược lại với các trào lưu thịnh hành thời bấy giờ. Vào lúc các nhà tạo mốt còn gợi hứng từ phong trào Nghệ thuật mới (Art Nouveau) để chế tạo những kiểu chai nước hoa với đường nét phức tạp (gợi hứng từ đường cong của phụ nữ, những chi tiết chạm trỗ cầu kỳ giống như các loài thảo mộc hay côn trùng thiên hình vạn trạng) thì ngược lại Gabrielle Chanel và Ernest Beaux lại tung ra một kiểu chai đơn giản, vuông vức.

Đường nét cực kỳ đơn giản mà tinh tế, phản ánh quan niệm sáng tạo của một nhà thiết kế tiên phong, chai nước hoa thẳng đứng góc cạnh, y như một chiếc bình rượu mạnh, hình tượng bề ngoài nhìn rất đàn ông nhưng lại chứa đựng mùi hương quyến rũ của cơ thể người đàn bà, mà không ngôn từ nào diễn tả được nổi. Cuộc cách mạng của Chanel nằm trên cả hai vế : dùng ngữ vựng thời trang phái nam để tháo gỡ những quan niệm ràng buộc áp đặt lên phái nữ. Vào đầu thế kỷ XX, thời mà các loại nước hoa thường mang những tên gọi rườm rà kiểu cách, làm dáng như tựa bài thơ, thì cách gọi số 5 lại ngắn gọn tân kỳ, đi trước thời đại.

"Khứu giác" thần kỳ của nhà pha hương liệu Ernest Beaux

Trong vế thứ nhì, Chanrel dùng hương liệu không phải là để mô tả theo nghĩa đen một thế giới đầy hoa thơm, mà là phản ánh một ý tưởng sáng tạo bóng bẩy, giàu tính trừu tượng. Cuộc "cách mạng" của Chanel nằm ở điểm này : khi tìm cách định nghĩa thế nào là mùi hương trên cơ thể của người đàn bà, Chanel đã tạo ra khuôn thước diễn đạt cho tất cả những gì không thể đo lường được.

Nhờ vào "khứu giác" thần kỳ, ông Ernest Beaux đã thành công vào năm 1921 trong việc kết hợp các hương liệu để diễn đạt ý tưởng táo bạo của bà Gabrielle Chanel. Vào thời mà các nhà chế biến nước hoa thường dùng một hương liệu chủ đạo chiết xuẩt từ một loài hoa quý, ông Ernest Beaux (còn được mệnh danh là nhà làm nước hoa nổi tiếng) đã hòa quyện 80 hương liệu khác nhau, trong đó có ba nốt trầm chủ đạo gồm hoa lài, hoa hồng và hoàng lan, kết hợp thêm với nhiều nốt nhẹ, bay bổng mùi cam xanh bergamote, một chút mùi diên vĩ pha trộn với gỗ đàn hương, thoang thoảng mùi vani hòa quyện với hổ phách.

Nghệ thuật chế tạo nước hoa của Pháp thường dùng ngôn ngữ của âm nhạc để diễn đạt một mùi hương qua những nốt trầm bổng, hòa quyện du dương. Tài nghệ của Ernest Beaux đã phối hợp được các nốt nhạc ấy thành một bản giao hưởng. Với Chanel số 5, mùi hương phụ nữ trở nên "phức điệu". Một khi xức vào, Chanel số 5 diễn đạt tất cả những cung bậc cảm xúc trên cơ thể của người phụ nữ.

Chanel số 5 bách thọ nhờ tính sáng tạo, khuynh đảo

Những gì chạy theo thời cũng đến lúc sẽ lỗi thời. Chỉ có phong cách mới trường tồn, vì nó thể hiện cho một quan niệm phổ quát mà thời nào ta cũng có thể bắt gặp. Bí quyết thành công của Chanel nằm ở trong tư tưởng khuynh đảo, dám đi ngược lại với tất cả những gì thịnh hành lúc bấy giờ, mở ra một ngôn ngữ mới cho ngành mỹ phẩm : tái tạo cú pháp pha chế, khuynh đảo ngữ vựng hương liệu. Quan niệm ấy giải thích vì sao nước hoa Chanel số 5 thọ đến 100 tuổi.

Kể từ mùa thu năm 2020, ngôi sao màn bạc người Pháp Marion Cotillard đã trở thành gương mặt mới đại diện cho Chanel số 5, thông qua đợt phim quảng cáo với vũ điệu trên mặt trăng huyền ảo. Marion Cotillard tiếp nối truyền thống của Chanel từ hàng thập niên qua, nhờ nghệ thuật điện ảnh mà quảng bá thương hiệu trên toàn cầu. Trong gần một thế kỷ, Chanel đã ký hợp đồng quảng cáo với các ngôi sao màn bạc như Ali MacGraw, Candice Bergen, Catherine Deneuve, Carole Bouquet, Nicole Kidman, Audrey Tautou (thậm chí Brad Pitt) ... để nâng cao uy tín của mình.

Thế nhưng, gương mặt đã góp phần làm nên huyền thoại Chanel số 5 chính là Marilyn Monroe, cho dù lúc sinh tiền diễn viên tóc vàng còn được mệnh danh là "người đàn bà đẹp nhất hành tinh" chưa hề ký hợp đồng quảng cáo với thương hiệu Chanel. Trước câu hỏi, ban đêm cô mặc gì khi đi ngủ ? Marilyn Monroe từng hóm hỉnh trả lời vào năm 1954 : Còn gì khác ngoài Chanel số 5 ! Chỉ cần vài giọt nước hoa, chứ ban đêm cô không mặc gì cả.

100 năm sau ngày ra đời, Chanel số 5 đã trải qua bao phong trào thời trang, hình ảnh có thể được tái tạo, công thức có thêm những khúc biến tấu nhưng bản chất trước sau gì vẫn nguyên vẹn. Kiểu chai hình chữ nhật vẫn trung thành với đường nét đơn giản vuông vức, tên gọi bằng số là một ký tự thông dụng, dễ nhớ dễ hiểu trong bất cứ ngôn ngữ nào. Chanel số 5 đi vào huyền thoại khi được mệnh danh là mùi hương của mọi thời đại. Trong vương quốc nước hoa, Chanel số 5 lại là nốt trầm bất tử trong muôn thuở phù du.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1503 Posted : Saturday, January 30, 2021 7:35:54 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Bee Gees : Một trái tim tan vỡ

Gia Trình - RFI - 30/01/2021
Ban nhạc Bee Gees từng làm mưa làm gió thập niên 70 với bản nhạc disco sôi động Staying Alive, You should be dancing, Tragedy. Giờ đây, mọi chuyện chỉ là ký ức vàng son khi ban nhạc gia đình nhà Gibb chỉ còn lại một thành viên duy nhất, người anh cả Barry Gibb.

Bộ phim tài liệu How can You mend a broken heart (Làm sao hàn gắn một trái tim tan vỡ) gây sốt trên kênh HBO cuối tháng 12/2020 về những bí mật của nhóm.

Ban nhạc gia đình không có thủ lĩnh

Bee Gees là nhóm nhạc khá đặc biệt, vì họ gồm ba anh em ruột trong gia đình gốc Anh Quốc, lớn lên tại Úc. Barry Gibb là thành viên lớn tuổi nhất, sinh năm 1946 và hai người em sinh đôi Robin và Maurice Gibb sinh năm 1949. Cả ba thành viên đều sở hữu chất giọng mái đặc biệt, có thể lên những nốt rất cao với kỹ thuật hòa giọng, phối bè điêu luyện.

Họ thành lập nhóm từ năm 1958 và nở rộ cùng thời điểm với The Beatles, The Beach Boy, The Stones, vào đúng điểm rơi của trào lưu British Invasion (Xâm lăng văn hóa Anh). Vậy vị trí của ba chú ong Gibb ở đâu trong thế giới nhạc pop ? Đó vẫn là một câu hỏi khó trả lời. Tuy Bee Gees sáng tác được những bản hit tuyệt vời, nhưng họ không tạo được dấu ấn đột phá như các ban nhạc khác. Họ vẫn là những kẻ ngoại đạo, chệch khỏi làn sóng dữ dội của rock and roll. Âm nhạc Bee Gees pha trộn giữa pop, soul, disco và soft rock, có độ dịu ngọt hơn là mạnh mẽ.

Hình ảnh ba chàng Gibb trong mắt khán giả như một ban nhạc gia đình, cười đùa, chọc ghẹo nhau trước ống kính camera. Quan trọng hơn, họ không có một thủ lĩnh tinh thần, khiến cho hình ảnh ban nhạc mờ nhạt trước đám đông. Barry và Robin Gibb có thể thay phiên nhau hát chính và bè, đổi qua đổi lại trong nhiều hit khác nhau. Trong ban nhạc gia đình “dĩ hòa vi quý”, họ khó lòng có định hướng chiến lược. Nhưng không vì thế mà giới phê bình và các nghệ sỹ đương đại đánh giá thấp tài năng nhóm. Các nhạc sỹ tên tuổi ngưỡng mộ tài năng sáng tác của họ như Chris Martin (nhóm Coldplay), Noel Gallagher (nhóm Oasis), Justin Timberlake. Quả thực, bộ ba họ Gibb có những ballad để đời, với giai điệu bất tử, như To Love Somebody (Để yêu ai), How can you mend a broken heart (Làm sao hàn gắn một trái tim tan vỡ), How deep is your love (Tình em sâu đậm thế nào?)

Bi kịch của sự nổi tiếng quá sớm

Lớn trên trong nghèo khổ tại thành phố Brisbane Úc, Barry Gibb thổ lộ : “Chúng tôi là một gia đình nghèo túng, chúng tôi có thể kiếm đươc 10 đô la từ một suất diễn. Chúng tôi buộc phải kiếm tiền để sống. Từng phải thuê tới 20 căn nhà trên khắp nước Úc, cha tôi không thể trả nổi tiền thuê nhà. Chúng tôi là gia đình luôn rời đi lúc nửa đêm với đống hành lý”.

Sau khi rời Úc đến Anh, nhóm tam ca sáng tác được những bản hit thành công rực rỡ như New York Mining Disaster năm 1961, To Love Somebody, Words năm 1967. Ánh hào quang ập đến với họ sau chuỗi ngày thơ ấu cơ cực khiến ba anh em thực sự choáng ngợp. Maurice Gibb sở hữu tới 6 chiếc xe siêu sang Rolls-Royces ở độ tuổi 21. Thế nhưng, sự nổi tiếng phải đánh đổi với những bi kịch cá nhân. Maurice nghiện rượu từ rất sớm, Robin cũng nghiện chất kích thích amphetamine.

Người em khác trong gia đình, Andy, cũng qua đời vì nghiện cocaine khi mới 30 tuổi. Không tham gia nhóm Bee Gees, Andy tách ra hát solo dựa vào danh tiếng các anh trai. Thành viên hiện tại của nhóm, Barry Gibb 74 tuổi, cũng từng dính líu với ma túy. May mắn hơn các em trai, người bạn đời của Barry, Linda, cựu hoa khôi thành phố Edinburgh, Scotland một thời, đã giúp ông vượt qua khủng hoảng nghiện ngập. Ông kể lại : “Tôi có thể mang ma túy vào nhà, nhưng cuối cùng đã vất bỏ trong toilet. Cô ấy không bao giờ muốn tôi sa vào vũng lầy đó. Tôi có thể đã giống như các em trai của mình, nhưng tôi thực sự may mắn”.

Hơn thế nữa, không phải cứ là ban nhạc gia đình thì mọi việc đều suôn sẻ. Nhóm từng phải chia tay năm 1969 do Robin tách ra hát solo, hai thành viên còn lại cũng muốn phát triển sự nghiệp riêng. Nhưng họ lại sớm tái hợp vào giữa năm 1970. Bộ phim tài liệu How Can You Mend a Broken Heart còn chia sẻ kỹ hơn về sự đối đầu giữa hai anh em Barry và Robin khi họ va chạm với nhau trong âm nhạc.

Thành công nhờ khủng hoảng

Khả năng sáng tác và chất lượng các ballad Bee Gees thai nghén đều có giai điệu sắc nét. Tuy nhiên, ít người biết rằng, đến tận năm 1972 họ vẫn chưa định hướng được phân khúc khán giả cũng như dòng nhạc họ theo đuổi.

Album To Whom May It Concern ra đời cùng năm, không mấy thành công, đã khiến họ bay qua bên kia bờ Đại Tây Dương. Lúc này, trong đầu ba anh em nhà Gibb mới định hướng “thứ âm nhạc vui vẻ, ca khúc dance, để có thể tự tận hưởng” để làm mới mình. Soundtrack bộ phim ca nhạc disco Saturday night fever năm 1977 với bộ ba ca khúc do Bee Gees sáng tác trở thành hiện tượng hiếm có. Đó là một trong những album ăn khách nhất mọi thời đại, có mức tiêu thụ 45 triệu bản. Chiếm sóng hầu hết radio và bảng xếp hạng âm nhạc tại Mỹ là các bản nhạc Bee Gees sáng tác và biểu diễn : Jive Talking, You should be dancing, Staying Alive, More than a woman.

Thành công với nhạc disco không trải thảm đỏ cho sự nghiệp Bee Gees trên nước Mỹ. Họ bị đe dọa đánh bom, chịu làn sóng tẩy chay của các đài phát thanh vì hình ảnh phục trang dị hợm disco. Sự kiện này đẩy họ sang một chuỗi khủng hoảng cá nhân: nghiện ngập của Maurice, ly hôn của Robin, Barry đổi giọng falseto.

Tuy nhiên, họ tìm cách vượt qua biến cố này để bước sang một chương mới, đầy tính sáng tạo. Thay vì xuất hiện trên sân khấu, Bee Gees trở thành tác giả các bản hit để đời cho các ngôi sao hàng đầu như Woman in love của Barbara Streisand. Đáng chú ý, album Guilty (Tội lỗi), hợp tác với Barbara Streisand, đã đạt mốc kỷ lục 15 triệu bản.

Ngoài ra, ba anh em còn gột nên hồ cho thành công của Heartbreaker cho Dionne Warwick, Island in the stream của Kenny Rogers và Dolly Parton, Chain Reaction do Diana Ross thể hiện. Sự sáng tạo đột phá ở thập niên 80, được giới phê bình đánh giá cao, khiến chính ban nhạc phải rùng mình. Barry thổ lộ : “Bạn không biết điều gì sẽ xảy ra. Bạn chỉ biết hy vọng và cầu nguyện nó sẽ như vậy”. Cho dù giọng mái đặc trưng của ba anh em bị khóa sóng trên radio, những ca khúc họ sáng tác vẫn phản ánh nguyên vẹn nét đặc trưng nhất của âm nhạc Bee Gees.

Thành viên đơn độc còn lại

Danh tiếng của Bee Gees gần như chìm hẳn sau cái chết của Maurice do cơn đau tim năm 2003, Robin cảm giác tuyệt vọng để tiếp tục. Barry nói rằng “Bee Gees không còn là Bee Gees nếu thiếu vắng Maurice”. Tin buồn tiếp tục ập đến khi Robin Gibb phát hiện ung thư gan năm 2011 năm 61 tuổi và qua đời một năm sau đó.

Mặc dù nghĩ đến chuyện nghỉ hưu sau khi hai người em qua đời, Barry phải nghĩ lại về sứ mệnh âm nhạc của mình : “Tôi luôn quan tâm tới sự sống của âm nhạc, tôi làm đủ mọi cách để duy trì năng lượng cho âm nhạc”. Trải lòng của Barry, thành viên đơn độc của Bee Gees có thể hàn gắn hàng triệu con tim tan vỡ bằng bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất. Vì đó thứ âm nhạc họ trải nghiệm bằng nụ cười, nước mắt, đắng cay suốt cả cuộc đời thăng trầm.

(Theo Variety, New York Post, The Guardian)



hongvulannhi  
#1504 Posted : Sunday, January 31, 2021 12:04:01 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,099

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Ngư Ông Và Biển Cả: Ernest Hemingway


UserPostedImage

Trọng Đạt


Nhân ngày sinh nhật thứ 112 sắp đến của văn hào Ernest Hemingway 21-7-2011, chúng ta cùng xem lại tác phẩm tiêu biểu của ông, Hemingway tự tử ngày 2-7-1961, tác giả sinh ra và mất đi trong tháng bẩy và tháng này để kỷ niệm ông...

Hemingway là tác giả quen thuộc của độc giả Sài Gòn năm xưa, ông là một trong những nhà văn nhiều ảnh hưởng của thời đại 1900, được giải văn chương Nobel dành cho tác phẩm Ngư Ông Và Biển Cả (The Old Man and The Sea - 1954) Hemnigway đã làm một cuộc cải tiến về hành văn, đơn giản, ít tĩnh tự, đối thoại chính xác, giọng văn của ông đã ảnh hưởng đến nhiều người. Nhà văn đã tạo nên một mẫu người hùng, đương đầu với bạo lực bằng lòng can đảm và sự hiên ngang.

Hemingway nổi tiếng quốc tế một phần vì lối sống mầu mè của kẻ tha hương lãng tử và vì văn nghiệp phong phú. Nhiều người thích đọc văn ông phần vì nó tương đối sáng sủa và tên tác phẩm rất hay: The Sun Also Rises (Mặt Trời Vẫn Mọc) Farewell To Arms (Giã Từ Vũ Khí) For Whom The Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai)… dịch sang tiếng Pháp nghe lại hấp dẫn hơn nữa: Le Soleil se lève aussi; L’Adieu aux armes, Pour qui sonne le glas…

Toàn bộ tác phẩm của Hemingway gồm 24 cuốn, trong đó 16 cuốn xuất bản khi tác giả còn sống và 8 cuốn xuất bản sau khi chết, 17 cuốn được quay thành phim

Ông sáng tác nhiều nhưng có một số được chú ý, những truyện được chú ý và quay thành phim gồm: Mặt Trời Vẫn Mọc viết năm 1926, tả một nhóm người tha hương ở Ba Lê, tỉnh mộng sau Thế chiến thứ nhất, Giã Từ Vũ Khí viết năm 1929, truyện tình yêu bi thảm của một anh lính Mỹ, chiến đấu trong quân đội Ý và cô y tá người Anh, nó phản ảnh một phần cuộc đời Hemingway khi ông tham dự Thế chiến thứ nhất tại Âu châu.

Hemingway sinh tại Oak Park, Illinois, tốt nghiệp trung học năm 1918 hồi Thế chiến thứ nhất. Ông tình nguyện sang làm cho Hồng thập tự tại mặt trận Ý, lái xe cứu thương và làm việc tại quân tiếp vụ, được một tháng rưỡi bị thương nặng. Năm 1921 ông tới Paris, kết hợp một số tác giả Mỹ tha hương tỉnh mộng sau cuộc chiến, gọi là Lost generation, Thế hệ đã mất.

Năm 1923 lần đầu tiên xuất bản truyện ngắn. Năm 1926 ông viết Mặt Trời Vẫn Mọc, được quay thành phim hai lần: năm 1957 đạo diễn Henry King, năm 1984, đạo diễn Goldstone. Năm 1927 Hemingway về Mỹ viết Giã Từ Vũ Khí, quay thành phim hai lần: năm 1932, đạo diễn Frank Borzage, tài tử Gary Cooper, Helen Hayes phim đen trắng, năm 1957 đạo diễn Charles Vidor, Rock Hudson, Jennifer Jones, phim mầu, cảm động, diễn xuất hay, phim khá nổi tiếng đã được dân mộ điệu điện ảnh Sài Gòn năm xưa tán thưởng. Thập niên 30 ông sang Cuba, Ý, Tây Ban Nha, Châu Phi… năm 1936 làm ký giả chiến trường tại Tây Ban Nha, năm 1939 viết Chuông nguyện hồn ai, For Whom The Bell Tolls.

UserPostedImage

Năm 1940 Ernest Hemingway trở nên nổi tiếng trên thế giới vì cuộc đời lãng tử đầy mầu sắc của ông và hình ảnh một người hùng như trong Ngư Ông Và Biển Cả. Tác phẩm ngắn này viết năm 1951, xuất bản 1952, năm 1953 được giải Pulitzer, năm sau 1954 được giải Nobel văn chương, truyện một ông già đánh cá nghèo can đảm chấp nhận số phận, ra sức phấn đấu để sinh tồn. Đây là một hình ảnh mẫu người hùng theo kiểu Hemingway.

Khoảng năm 1950 Hemingway bị bệnh tinh thần rồi đi tới khủng hoảng, tự tử năm 1961, ông có ảnh hưởng nhiều đến việc trước tác truyện ngắn cũng như tiểu thuyết tại Mỹ. Nhà văn và nhóm người Mỹ tha hương tại Âu châu những năm 1920 có khuynh hướng triết lý bi quan, bác bỏ kỹ thuật văn chương cũ. Hemingway chủ trương cắt bỏ những chữ không cần thiết, viết câu văn ngắn gọn, đơn giản, rất ít tĩnh từ mầu mè, chỉ dùng danh từ, động từ cụ thể điển hình là truyện Ngư Ông Và Biển Cả.

Cuộc sống phiêu lưu giang hồ đầy phong phú của tác giả như một kho vô tận nguồn cảm hứng cho sự nghiệp văn chương: Chiến tranh, tình yêu, đấu bò, đánh cá… đã đem vào văn chương Hemingway nhiều đề tài và kỹ thuật sáng tác mới.

Ngư Ông Và Biển Cả chỉ vào khoảng một trăm trang, người Mỹ, Anh gọi là short novel, tiểu thuyết ngắn, người Pháp gọi là nouvelle hay court roman, ở Việt nam xưa gọi là truyện trung bình, nay gọi là truyện vừa, nó nằm giữa truyện dài và truyện ngắn. Mặc dù mỏng manh nhưng nó được coi là tác phẩm tiêu biểu đặc sắc nhất của Hemingway và là một trong những truyện hay nhất của văn chương Mỹ. Đây cũng là cuốn sách cuối cùng của Hemingway xuất bản khi ông còn sống.

Sơ lược:

“Tại một làng đánh cá ven biển ở Cuba, một ông già đánh cá nghèo khổ, bất hạnh, thất bại, bị người ta rẻ rúng. Ông lênh đênh tám mươi bốn ngày ngoài biển mà chẳng đánh được con cá nào, trong bốn mươi ngày đầu có một cậu theo phụ ông nhưng sau đó cha mẹ cậu bắt phải theo thuyền khác vì cho rằng ông già này xui xẻo...

Cậu bé sang thuyền khác đánh được nhiều cá nhưng vẫn thương ông già, ngày ngày thấy ông lão trở về với chiếc thuyền không, cậu vẫn lại thăm hỏi tâm tình với ông.

Tờ mờ sáng ngày thứ tám mươi lăm, ông đẩy thuyền ra khơi thật xa rồi thả bốn con cá mồi, lưỡi câu dấu trong thân cá, ông thả thật sâu tận nước xanh. Tự nhiên hôm nay ông già sinh ra niềm hy vọng, bỗng một cái phao mầu xanh chúi xuống, con cá marlin lớn đang rỉa mồi. Ông lão nắm nhẹ sợi giây câu, con cá vòng qua vòng lại rồi cắn mồi, ông bèn thả giây, nó nuốt vào bụng rồi kéo giây, ông cột giây vào vai, nó kéo thuyền về hướng Tây Bắc.

Thuyền ngày càng ra giữa bể khơi, ông lão ghìm con cá nhưng nó vẫn kéo thuyền đi phăng phăng, tưởng nó sẽ nổi lên trước lúc mặt trời lặn nhưng nó vẫn ngoan cố kéo thuyền đi. Qua một đêm tới sáng hôm sau, đôi lúc nó giật mạnh làm rách cả da thịt ông, máu chảy dưới mắt. Ông lão phấn đấu vô cùng gian khổ và nguyện sẽ theo nó cho tới chết.

Mặt trời lên cao, con cá đã thấm mệt, nó ngoi dần lên mặt nước, ông lão vừa nắm sợi giây vừa bắt một con cá thu xẻ từng miếng thịt ăn lấy sức. Con cá lớn ngày càng đuối sức y như ông lão rồi từ từ hiện lên trên mặt nước, đầu và lưng mầu tím đậm, nó dài hơn cái thuyền của ông. Trong cuộc đời đánh cá ông chưa bao giờ thấy con cá lớn như vậy. Nó lại chìm xuống và kéo thuyền đi phăng phăng, khi ấy ông lão bèn đọc kinh để thêm tin tưởng, ông vừa níu sợi giây thừng để kìm chế con cá lớn, ông vừa câu cá nhỏ để ăn lấy sức. Cuộc phấn đấu của ông ngày càng gian khổ, một ngày nữa sắp qua, đêm lại tới, ông già bắt đầu thấy kiệt sức.

Trời về tối, con cá giảm tốc độ, qua đêm cho tới khi mặt trời mọc, nó hiện lên bắt đầu lượn vòng và đuối sức thấy rõ. Ông lão thu giây dần dần kéo nó lại sát thuyền thật vất vả, cuối cùng đã thành công và phóng được cây lao xuyên qua tim nó. Ông cột mõm và đuôi nó vào thuyền và dương buồm về phía Tây Nam trong lòng vô cùng phấn khởi vì thắng lợi, hôm nay ông mang một gia tài lớn về bến cũ, con thuyền lướt sóng êm xuôi.

Một con cá mập thấy mùi máu trồi lên mặt nước hối hả đuổi theo thuyền, tới nơi nó xông vào đớp miếng mồi ngon, ông lão đã chuẩn bị tiếp đón nó từ lâu, ông dùng lao phóng vào giữa đầu khiến nó vũng vẫy dẫy chết chìm xuống biển, đem theo luôn cả cây lao bị đứt giây, nó ăn khoảng bốn chục cân Anh, máu chẩy nhiều thêm, cá mập cũng kéo tới nhiều hơn.

Mất cây lao, ông chế ra một thứ khí giới khác, buộc con dao nhọn vào cái bơi chèo chiến đấu với cá mập: Hai con từ đâu tiến lại ngoạm con cá lớn, ông lão đâm chết cả hai, chúng chìm lỉm xuống dưới biển sâu. Con cá bị cắn nhầy nhụa, máu chẩy nhiều, cá mập kéo đến đông hơn. Một con vừa xông tới, ông già đâm ngay vào sọ nó nhưng lần này nó vùng vẫy làm gẫy con dao.

Cuối cùng ông phải dùng bơi chèo, chày, tay lái để chiến đấu, cá mập tới đớp con cá lớn tơi bời, ông già cay cú đập lia lịa, giết được mấy con nữa. Con cá lớn bị xâu xé nay chỉ còn một nửa. Màn đem lại buông xuống, cá mập kéo đến rất đông, ông già tuyệt vọng vì hết vũ khí vả lại đêm tối không nhận diện được bọn ăn cướp, ông giận dữ đập lia lịa trên đầu trên cổ lũ cá đói, chẳng bao lâu con cá chỉ còn là bộ xương. Biết là mình bại trận ông chỉ để tâm vào việc lái con thuyền về bến cũ, thuyền lướt nhanh hơn vì con cá lớn nay đã tan biến đi. Ông già tự trách tại ra khơi quá xa.

Về tới lều mệt quá, ông già ngủ thiếp đi. Dân chài kéo lại bến xem bộ xương con cá thật lớn buộc bên thuyền…”

Câu chuyện chỉ giản dị có thế, tác phẩm có giá trị về tư tưởng nhiều hơn là văn chương, Hemingway cắt bỏ những chữ không cần thiết, hành văn ngắn ngủi đơn sơ, chỉ có một ít tĩnh từ.

Mặc dù chỉ là truyện ngắn một trăm trang giấy, Ngư Ông Và Biển Cả được coi như tác phẩm tiêu biểu và đặc sắc nhất của Hemingway, nó có những nét độc đáo đánh dấu một cuộc cải cách mới mẻ trong sáng tác văn chương.

Giữa cảnh biển khơi hùng vĩ mênh mông bát ngát chỉ một ông già, chiếc thuyền, con cá nhưng ngòi bút của Hemingway bằng lối độc thoại khéo léo đã khiến nó trở nên sống động. Lão ngư ông tiêu biểu cho mẫu người hùng của Hemingway, ông quan niệm cuộc đời là một chuỗi đau khổ phức tạp, ta phải hiên ngang đón nhận, đương đầu với nó bằng sức mạnh và nhân phẩm, sự khôn ngoan và chịu đựng mà không cần biết đến thành công hay thất bại. Mặc dù sống trong cô đơn thất bại nhưng ông lão đã phấn đấu quật cường để chế ngự nó, dù thua thiệt nhiều nhưng ông vẫn giữ được nhân cách và có thể coi đó là thắng lợi, thành công.

Theo tôi nghĩ Hemingway có chịu ảnh hưởng phần nào truyện Moby Dick, một cuốn tiểu thuyết khá dầy của Herman Merville (1819-1891) viết năm 1851, tác phẩm cổ điển Mỹ đặc biệt về hàng hải, nghề đánh cá voi.

Truyện ông thuyền trưởng Ahab bị một con cá voi trắng khổng lồ hung tợn tên Moby Dick cắn đứt một chân, Ahab nuôi mối hận thù với cá trắng một cách điên cuồng. Thuyền trưởng từ bỏ mọi cuộc săn bắt cá mà chỉ tìm kiếm Moby Dick khắp nơi trên đại dương để trả thù. Các thủy thủ khâm phục ý chí kiên quyết của Ahab và theo ông đến cùng. Trận chiến giữa người và cá voi cuối cùng diễn ra quyết liệt khiến cho cả đoàn thủy thủ bị tiêu diệt. Truyện Moby Dick diễn tả và đề cao ý chí kiên cường bất khuất của một thuyền trưởng và quyết tâm của ông ta theo đuổi mục đích đến cùng dù thiệt hại mất mát đến đâu.

Cùng đề tài về đánh cá, biển khơi của văn chương Mỹ, cùng diễn tả ý chí kiên quyết theo đuổi mục đích đến cùng, một bên để sinh tồn và bên kia để rửa hận, họ cùng phấn đấu gian khổ để đạt mục tiêu cuối cùng và như vậy Moby Dick đã ảnh hưởng đến Hemingway nhưng không thấy dư luận phê bình nhắc tới. Hai tác phẩm đã được người Mỹ hâm mộ, họ rất say mê những mẫu người hùng can đảm như lão ngư ông và thuyền trưởng Ahab.

Về phương diện điện ảnh truyện Ngư Ông Và Biển Cả không thành công mặc dù đã được quay thành phim ba lần:

-Năm 1958 đạo diễn John Sturges, tài tử Spencer Stracy, được giải Oscar về âm nhạc.
-Năm 1989 dành cho truyền hình, Anthony Quinn đóng vai chính.
-Năm 1999, đạo diễn Petrov, năm 2000 được giải Oscar phim sống động linh hoạt.

Vào khoảng 1958, hồi còn là học sinh đệ lục, đệ ngũ tôi được xem phim Ngư Ông Và Biển Cả do Spencer đóng vai chính tại rạp Modern Tân Định, Sài Gòn. Cuốn phim thất bại trên thị trường không được khán giả tán thưởng, tôi thấy các hàng ghế trống trơn chỉ lưa thưa có một ít người xem, nhiều khán giả đã bỏ về vì phim quá nhạt nhẽo. Tác phẩm không có cốt truyện, gồm nhiều độc thọai nên không thể biến nó thành cuốn phim sống động, hình ảnh không thể diễn tả được ý chí của nhân vật và tư tưởng của truyện.

Văn chương và điện ảnh mặc dù là hai môn nghệ thuật anh em bên nhau, cùng diễn tả câu chuyện một bên bằng chữ nghĩa, một bên bằng hình ảnh nhưng sự thành công lại không giống nhau, có khi truyện quay thành phim hay và có thể thất bại thành phim dở.

Ở đây một tác phẩm văn chương nổi tiếng giá trị được giải thưởng Nobel quay thành cuốn phim nhạt nhẽo hầu như không ai biết tới, ngược lại “Trong Chòm Cây” một cuốn truyện ngắn đơn sơ vô danh của Nhật khi được nhà đạo diễn Akira Kurosawa quay thành cuốn phim Rashomon bất hủ, được xếp trong số mười phim hay nhất của mọi thời đại.

Một truyện ngắn quay thành phim đã là một điều khó lại nữa nó được diễn tả bằng ý tưởng nhiều hơn diễn biến sự việc, nhưng ta thử hỏi tại sao người Mỹ đã đưa nó lên màn bạc đến ba lần, đã tận tình giúp đỡ bằng giải Oscar về âm nhạc cho cuốn phim quay 1958 và giải Oscar cho phim cùng tên quay năm 1999?

Một sự thật hiển nhiên là người Mỹ đã quảng bá, nâng đỡ Hemingway rất nhiều nếu so với những tác giả khác.

Sự thiên tư thiên vị đã thể hiện rõ khi họ đã quay thành phim ba lần truyện ngắn Ngư Ông Và Biển Cả và hai lần phát giải Oscar cho những cuốn phim thất bại nêu trên. Có người nói Hemingway chỉ là một tác giả thường vì ngoài cuốn truyện ngắn nổi tiếng được giải Nobel, văn nghiệp của ông chẳng có gì phong phú độc đáo cả.

Từ năm 1930 tới 1993 Hoa kỳ đã được mười một giải Nobel văn chương, khởi đầu là Eugene O’neill, năm 1938 Pearl Buck, năm 1949 William Faulkner, 1954 Ernest Hemingway, năm 1962 John Steinbeck, năm 1976 Saul Bellow, năm 1978 Issac Bashevis Singer, năm 1980 Czeslaw Milosz, 1987 Joseph Brodsky, năm 1993 Toni Morrison. Trong số này người ta chỉ thấy bốn tác giả trứ danh như Pearl Buck, William Faulkner, Ernest Hemingway, John Steinbeck, bẩy nhà văn kia hầu như không được nhắc tới.

Trong số bốn văn hào nổi tiếng này, Hemingway được đề cao nhiều hơn cả, nhiều sách viết về Hemingway, ca ngợi ý chí, tinh thần phấn đấu trong tác phẩm của ông. Cuộc đời phiêu bạt lãng tử của nhà văn hào đã được người ta dệt thành huyền thoại, tác phẩm của ông được lồng trong tủ kính tại nhiều trường đại học.

Hemingway không sâu sắc, lôi cuốn hoặc có giá trị lịch sử hơn nhiều tác giả lớn trong nền văn chương Mỹ như Herman Melville, Edgar Allen Poe, Margaret Michell, John Steinbeck, William Faulkner... trên thực tế ông được đề cao đến mức lấn áp những tác giả lớn khác khiến cho người ta tưởng như ông được xếp ngang hàng với các văn hào lớn trên văn đàn thế giới như Léon Tolstoi, Dostoievky, Victor Hugo, Sholokhov…

Năm 1958, tại các trường trung học công lập miền nam Việt Nam, Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã nhờ ban giám học thông báo cho các học sinh biết đi xem phim Ngư Ông Và Biển Cả, họ sẽ được Phòng thông tin đài thọ một nửa giá vé. Chính phủ Hoa kỳ đã nâng đỡ một cuốn phim thất bại dựa theo cuốn truyện ngắn 100 trang được giải Nobel văn chương, họ làm như đây là lần đầu tiên Văn chương Mỹ được phát giải thưởng cao quí này.

Đối với văn chương, nghệ thuật cũng như nhiều lãnh vực khác trong xã hội, ai cũng thích sự công bằng và khách quan mà tôn giáo, đạo đức đã giáo dục con người từ bao thế kỷ qua. Một dân tộc văn minh đã có tiếng là chuộng công bình bác ái lại càng cần phải khách quan, công bằng hơn nữa.

Trọng Đạt

Edited by user Sunday, January 31, 2021 1:24:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1505 Posted : Sunday, January 31, 2021 1:23:27 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,099

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
Đọc The Old Man and the Sea (Ngư Ông và Biển Cả)
của Ernest Hemingway


Posted: 13/03/2018 in Giới Thiệu Sách / Điểm Sách, Đàm Trung Pháp

Đàm Trung Pháp

UserPostedImage


Sinh năm 1899 tại Illinois, Ernest Hemingway được coi là một trong các nhà văn lỗi lạc nhất của Hoa Kỳ trong thế kỷ XX, và được thế giới biết đến nhiều nhất qua các tác phẩm “A Farewell to Arms” và “The Old Man and the Sea.” Ông tự kết liễu đời mình năm 1961 ngay trước cửa nhà tại Idaho. Dùng một khẩu súng săn chim muông hai nòng, Hemingway tự bắn vào trán óc văng tung tóe, sau những năm mải mê – ngoài lãnh vực văn chương ra – với chiến trận, săn bắn dã thú, câu cá ngoài biển cả, toàn là những hoạt động hiểm nguy đầy nam tính và thách thức cuộc đời. Văn phong ngắn gọn và trong sáng của ông đã ảnh hưởng lớn lao đến lối viết của nhiều nhà văn Hoa Kỳ và Anh Quốc trong thời đại ông. Lối viết đó thường chỉ sử dụng các câu đơn giản với ít mệnh đề, tránh xa các câu phức tạp dài lòng thòng với nhiều mệnh đề. Các câu ấy sử dụng danh từ và động từ nhiều hơn các tính từ và trạng từ có mục đích làm huê dạng câu văn; chúng cũng ít khi biểu lộ cảm tính.

Đây là một thí dụ trích từ tác phẩm này của Hemingway: “Every day is a new day. It is better to be lucky. But I would rather be exact. Then when luck comes you are ready.” Lối viết độc đáo này phản ánh trung thành cái “Iceberg Theory” (Lý Thuyết Băng Đảo) của chính Hemingway. Theo đó phần đỉnh băng đảo trên mặt nước là nơi chứa đựng văn viết sơ sài không trang điểm với nhiều yếu tố tác giả “cố tình bỏ lửng” và phần đáy băng đảo chìm dưới nước là nơi người đọc tự tìm ra hàm ý của những yếu tố đã bị tác giả khéo léo “bỏ lửng” ở bên trên. Kiệt tác “The Old Man and the Sea” cũng là sự đóng góp sau cùng và đáng kể nhất của Hemingway vào nền văn học Hoa Kỳ nói riêng và văn học thế giới nói chung.

Nội dung của tuyệt tác chỉ là câu chuyện giản dị về một ngư phủ già (mang tên Santiago) sau gần 3 tháng không may mắn ngoài biển thì câu được một con cá khổng lồ. Con cá chống cự mãnh liệt trong suốt 3 ngày và đêm, kéo thuyền của Santiago ra tuốt ngoài khơi Cuba. Sau nhiều hiểm nguy và thương tích đầy người, Santiago không bỏ cuộc, để rồi cuối cùng đã giết con cá bằng cách dùng cây lao dài đầu nhọn (harpoon) đâm vào tim nó. Cột chặt con cá vào sườn thuyền, ông già dương buồm để vào bờ. Nhưng máu con cá hòa trong nước biển đã lôi cuốn một bầy cá mập bơi tới, tranh nhau xỉa hết thịt nó. Con cá mập nguy hiểm nhất cũng bị Santiago đâm chết. Ông cụ buồn bã trở về cùng với bộ xương con cá còn cột vào sườn chiếc thuyền, rồi nằm ngủ một giấc dài mơ thấy nhiều cảnh hạnh phúc. Nhiều người coi tiểu thuyết sơ sài này, viết theo “lý thuyết băng đảo,” là một tập hợp các ngụ ngôn và chuyên chở nhiều ẩn dụ cho tôn giáo cũng như cho đời thường. Ta thấy về tôn giáo thì Santiago là ẩn dụ rõ rệt cho Đấng Cứu Thế – ba ngày vật vã ngoài biển khơi với con cá lớn hơn cả chiếc thuyền của mình nhắc ta đến ba ngày mà Ngài bị đóng đinh và chết trên một thánh giá để chuộc tội cho nhân loại. Con cá mắc mồi câu của Santiago hàm ý những nét quý phái, mạnh mẽ, đáng nể phục. Bầy cá mập rõ là hiện thân của phá hoại, của ma quỷ. Và Santiago một mình trong chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé cũ kỹ giữa biển cả cho thấy vị thế quá mong manh (vulnerable) của con người trong thiên nhiên vô tận.

“For Whom the Bell Tolls” được xuất bản năm 1940, tức là hơn một thập kỷ trước khi “The Old Man and the Sea” xuất hiện năm 1952. Trong khoảng thời gian 12 năm im lặng giữa hai tuyệt tác, Hemingway bị văn giới coi như đã “hết thời” – một điều làm ông khó chịu vô cùng. Nhưng thành công rực rỡ của “The Old Man and the Sea” đã “giải tỏa” được hết nỗi niềm bực tức bấy lâu cho ông. William Faulkner (1897-1962, khôi nguyên Nobel văn chương 1949) rất ngưỡng mộ “The Old Man and the Sea” với nhận định rằng đã từ lâu Hemingway thường cho các nhân vật trong tiểu thuyết tự tạo ra mình, được hay thua là nằm trong bàn tay của mình để xem ai là nhân vật “chì” (tough) nhất trong đám. Nhưng nay Hemingway đã khám phá ra Ơn Trên mới là thẩm quyền tạo ra mọi sự, và đã biết đến lòng thương xót (pity) – như khi viết một cách thành tâm về nỗi buồn của ông già Santiago đã mất con cá lớn (đáng giá một lợi nhuận to) vào bụng lũ cá mập dữ dằn.

Ông già Santiago trong truyện được Hemingway mô tả dựa vào nhân dạng thật của “Gregorio Fuentes” – thân mình khắc khổ gầy còm với khuôn mặt phong sương – là người bạn chí thân thường đi câu cá lớn trên biển cả với tác giả. Con cá khổng lồ Santiago “câu” được tên tiếng Anh là “Atlantic blue marlin.” Marlin (Hán-Việt: mã lâm ngư 馬林魚) là một trong những loại cá lớn nhất ở đai dương, có thể dài đến 14 feet và nặng đến 2 ngàn pounds. Con cá mập dữ dằn đáng sợ đã bị Santiago đâm chết tên tiếng Anh là “mako shark” (Hán-Việt: hôi kình sa 灰鲸鲨). Loại cá mập này bơi nhanh nhất và uyển chuyển đến nỗi có thể nhảy vào thuyền để tấn công ngư phủ. Chúng cũng đã sát hại nhiều người, ngang ngửa với loại “great white sharks” (Hán-Việt: đại bạch sa 大白鯊) thường được coi như là bá chủ đại dương.

Nguyệt san LIFE tháng 9 năm 1952 có trích đăng một đoạn của “The Old Man and the Sea” và chỉ trong có 2 ngày thôi mà tất cả 5 triệu cuốn nguyệt san ấy đã bán hết sạch! Giới phê bình ca ngợi cuốn tiểu thuyết ấy lên đến trời xanh. Nó cũng là lý do chính để Hemingway được giải Nobel văn chương 1954 với lời giải thích súc tích và chính xác của ban tuyển chọn giải Nobel đầy uy tín: “Giải Nobel văn chương 1954 được trao cho Ernest Hemingway căn cứ vào khả năng viết văn kiệt xuất, như mới đây đã chứng tỏ trong The Old Man and the Sea và vào ảnh hưởng của ông đến văn phong thời đại.” Và ngay năm sau đó nó cũng đã được giới thiệu qua nghệ thuật điện ảnh, với tài tử Spencer Tracy thủ vai ngư ông Santiago một cách xuất sắc.

Đàm Trung Pháp, PhD
Professor of linguistics emeritus • Texas Woman’s University
Nguồn: Tác giả gửi

Edited by user Sunday, January 31, 2021 1:25:07 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1506 Posted : Sunday, January 31, 2021 6:19:30 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Chuyện tình Love Story, phiên bản mới

Tuấn Thảo - RFI
Accomplice là tựa đề album thứ nhì của cặp bài trùng Amy McConnell và William Sperandei, hai nghệ sĩ người Canada chuyên ghi âm trong cả hai thứ tiếng Anh và Pháp. Ngay từ album đầu tay, Amy và William đã gây ngạc nhiên với phong cách điêu luyện, nhờ vậy mà vào năm 2014 họ nhận đề cử tập nhạc vocal jazz xuất sắc nhất nhân kỳ tranh giải thưởng âm nhạc Juno của Canada. Năm nay, cặp bài trùng này xuất hiện trở lại với một bản phối mới của bài Chuyện Tình Love Story.

Tập nhạc thứ nhì tiếp tục kết hợp giọng ca đầy sinh khí và nội lực của Amy McConnell với tiếng kèn bay bổng phiêu diêu của William Sperandei. Cả hai tuy còn trẻ nhưng đã có nhiều năm tay nghề, nếu như William chọn đi đúng hướng ngay từ khi anh còn học trung học, thì ngược lại Amy vào nghề ca hát chuyên nghiệp sau nhiều năm loay hoay tìm tòi. Nói cách khác, trên con đường sự nghiệp, William thẳng tiến còn Amy thì lại đi ngả vòng.

Amy xuất hiện trong làng giải trí từ thời cô còn rất bé. Mới có 9 tháng tuổi, cô đã được chọn để ‘‘đóng phim’’ quảng cáo. Những năm tháng đầu đời, Amy tham gia khá nhiều vào các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi cũng như các vở nhạc kịch. Sau tú tài, cô nhận được học bổng theo học khoa thanh nhạc và kịch nghệ tại một trường cao đẳng ở Manhattan, New York (American Academy of Musical & Dramatic Arts). Sau khi tốt nghiệp, cô trở về Toronto, ghi tên vào đại học (trường Ryerson Polytechnic University) nhưng lần này cô lại theo học chuyên khoa điện ảnh.

Amy thành công nhờ nghề sản xuất và quay phim quảng cáo, bên cạnh đó cô còn dùng giọng nói của mình trong việc thu thanh lồng tiếng. Nhờ chất giọng đặc biệt ấy, cô có thể hát nhạc pop, jazz, nhạc kịch hay là rock. Nhưng mãi tới khi gặp William Sperandei, Amy mới chọn nhạc jazz. Thế giới âm nhạc của cặp bài trùng này là những tình khúc xưa, lẫy lừng vang bóng một thời nhưng với những bản phối hoàn toàn mới, phá cách những vẫn giữ được cái hồn cái cốt. Trên hai album của Amy và William, người nghe tìm lại Elvis Presley, George Harisson, Jacques Brel hay Edith Piaf bên cạnh nhóm The Carpenters qua bản nhạc Close To You.

Về phần mình, William Sperandei nổi tiếng là một tác giả kiêm nghệ sĩ nhạc jazz. Nhạc khí sở trường của anh là kèn đồng (trumpet) và dương cầm. Anh học chơi kèn từ thời niên thiếu với nhiều thầy khác nhau. Nhưng William chỉ có đủ sự tự tin trong sáng tác sau gần ba năm đào tạo khoa âm nhạc cổ điển tại trường cao đẳng Wilfrid Laurier University ở bang Ontario. Sau khi ra trường, anh đi tu nghiệp thêm ở đại học New Orleans, và cũng từ đó anh bắt đầu chơi nhạc với nhiều nghệ sĩ tên tuổi kể cả Nicholas Payton, Ellis Marsalis, Harold Battiste, Charmaine Neville, Andrea Bocelli hay là Harry Connick Jr.

Thời còn là nghệ sĩ chơi kèn trumpet, William Sperandei đã tham gia ghi âm hơn 100 bản nhạc cho nhiều nghệ sĩ khác nhau. Mãi tới những năm gần đây anh mới tính tới chuyện thực hiện album solo xen kẽ sáng tác mới và tình khúc xưa, sau hai album độc tấu, William mở rộng sân chơi kết hợp tiếng kèn ‘‘liêu trai’’ của anh với chất giọng khá độc đáo của Amy McConnell.

Cả hai cùng ghi âm nhiều bản nhạc nổi tiếng nhưng nổi trội hơn cả là ca khúc chủ đề bộ phim Love Story của tác giả Francis Lai trong cả hai thứ tiếng (tiếng Anh là bài Where Do I Begin, tiếng Pháp là bài Une Histoire d’Amour). Bản phối mới của bài Love Story đầy tính sáng tạo xen kẽ một khúc solo bằng ghi ta điện đặc chất jazz rock với phần nhạc nền đậm nét bossa nova.

Tiếng kèn phiêu diêu của William Sperandei càng làm tăng thêm nét quyến rũ trong giọng ca của Amy McConnell khoẻ khoắn tràn đầy sức sống khi dùng giọng ngực, và nhờ có cột hơi đầy đặn, tiếng hát này vẫn không kém phần tinh tế biểu cảm khi phải dùng giọng gió.

Trong hơn bốn thập niên qua, bản nhạc Love Story đã được rất nhiều nghệ sĩ thu đi thu lại, một trong những phiên bản gần đây nhất theo làn điệu bossa nova là của Andrea Bocelli hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Bản phối của Amy và William, trong tiếng Anh hay tiếng Pháp, có phần vượt trội so với phiên bản của bậc đàn anh. Tựa đề Accomplice trong nghĩa đen có thể hiểu là đồng lõa, nhưng ở đây có thể gọi hai nghệ sĩ này là tri âm, tri kỷ.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1507 Posted : Monday, February 1, 2021 7:54:25 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Thụy Điển: bị cô lập trên một hòn đảo, một y tá sẽ được một mình thưởng lãm liên hoan điện ảnh.

N.B. - 30/01/2021
Lisa Enroth, một y tá Thụy Điển 41 tuổi, sẽ có thể xem 70 bộ phim tranh giải tại liên hoan điện ảnh Gothenburg, một mình ở Hamneskär.

Bị bắt buộc phải trực tuyến vì Covid-19, liên hoan phim lớn nhất Scandinavia đã chọn một y tá, trong số hàng nghìn người nộp đơn, để có trải nghiệm độc đáo: một tuần chiếu phim cho chính mình xem ở trên một hòn đảo nhỏ bị cắt đứt với thế giới ngoài khơi bờ biển phía tây của Thụy Điển.

Với khung cảnh nhân tạo của Shining, chào mừng bạn đến với Hamneskär: một mỏm đá bị gió thổi bạt - dài 250 mét, rộng 150 mét và ngọn hải đăng màu đỏ thắm, "Pater Noster", với một vài túp lều quanh đấy.

70 phim tranh giải

Khác xa với những ồn ào nơi cuộc sống hàng ngày của cô trong phòng cấp cứu ở bệnh viện giữa đại dịch Covid, đây là nơi Lisa Enroth, một phụ nữ Thụy Điển 41 tuổi, sẽ có đặc ân được xem 70 bộ phim trong một tuần của liên hoan điện ảnh Gothenburg, trong ngôi nhà của người canh giữ ngọn hải đăng cũ được chuyển đổi thành một khách sạn nhỏ.

Trước khi xuống tàu thuỷ vào thứ bảy tại khu nghỉ dưỡng của cô ấy, trong chiếc áo khoác dài, ấm áp và một chiếc mũ len trùm kín trên đầu, cô ấy cho biết là đã nộp đơn để tìm một chút thời gian nghỉ ngơi giữa cuộc sống hàng ngày của mình đã bị khủng hoảng sức khỏe kéo dài gần một năm.

"Mọi thứ bị bào mòn", cô nói "Do đó, đây là một cơ hội tuyệt vời để ngồi xuống và suy ngẫm về một năm vừa qua".

Chỉ có thể đi đến bằng tàu thuỷ hoặc trực thăng, hòn đảo, nơi không hề có cư dân, thời tiết khắc nghiệt và chỉ có vài du khách hiếm hoi mà nơi đây chào đón.

Một màn hình đã được lắp đặt trong phòng đèn lồng trên đỉnh ngọn hải đăng, có thể nhìn ra toàn cảnh cảnh quan tuyệt đẹp của thế giới tận cùng xung quanh hòn đảo. Một chiếc khác đặt ở trong nhà và Lisa cũng sẽ có một máy tính bảng để xem phim bên ngoài trời nếu cô ấy muốn.

Không có kết nối: mối liên hệ duy nhất của y tá với thế giới bên ngoài sẽ là thông qua nhật ký video mà cô sẽ giữ để nói về các bộ phim - ngay cả khi có người khác trên đảo vì lý do an ninh.

Một "nữ anh hùng" chống lại coronavirus.

Liên hoan đã gây ngạc nhiên bởi sự thành công của sáng kiến ​​này: hơn 12.000 ứng cử viên từ 45 quốc gia. Đối với phiên bản năm 2021 này ở thể loại chưa từng có, với chủ đề (thời sự hiện tại) "Khoảng cách xã hội", Lisa đã từng cố gắng rút khỏi trò chơi, vì mang danh là một "nữ anh hùng" chống lại coronavirus, theo lời ban tổ chức.

Tại khoa cấp cứu của mình ở Skövde, miền trung Thụy Điển, Lisa Enroth đã không tránh khỏi ảnh hưởng bởi hai đợt sóng mà đất nước Bắc Âu trải qua, vốn nổi bật trong đại dịch với một chiến lược ít nghiêm ngặt hơn.

"Tôi không thể chờ đợi để thư giãn một chút và không sợ lây nhiễm cho mọi người", Lisa thú nhận về nỗi thống khổ mà cô đã chịu trong vài tháng qua khi trở lại sau công việc tiếp xúc nhiều. "Chúng tôi đã gặp rất nhiều ca Covid trong năm nay, mọi bệnh nhân nhập viện đều đã qua phòng cấp cứu, chúng tôi đều đã nhìn thấy tất cả".

Một trải nghiệm độc đáo

Ban tổ chức tin chắc rằng họ đã lựa chọn đúng. Ngoài hồ sơ điện ảnh của Lisa, nữ y tá là một trong những người "tham gia chiến tuyến chống lại đại dịch Covid-19", Jonas Holmberg, giám đốc sáng tạo của lễ hội có lời chào mừng.

Mirja Wester, người quản lý sự kiện giải thích: “Trong những thời điểm khó khăn này, thật tuyệt khi có thể mang đến trải nghiệm độc đáo này cho một trong nhiều anh hùng của hệ thống y tế, những người đã làm việc chăm chỉ để chống lại Covid-19”, Mirja Wester, người quản lý sự kiện giải thích.

Trong năm đặc biệt này, các bộ phim được liên hoan chọn lọc cũng được chiếu trực tuyến, cũng như tại hai địa điểm ở Gothenburg - rạp chiếu phim và sân chơi khúc côn cầu trên băng được biến thành phòng tối cho dịp này, trong đó mỗi buổi chiếu chỉ có một người là cũng được phép ở đây.

Cơ hội để sống một trải nghiệm mới theo Jonas Holmberg: "Cách chúng ta xem phim thay đổi cách chúng ta sống".

(HTMT dịch bản tin trên báo điện tử Pháp / yahoo fr)





Hoàng Thy Mai Thảo  
#1508 Posted : Tuesday, February 2, 2021 9:35:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Pháp lập kênh truyền hình văn hóa miễn phí Culturebox

Tuấn Thảo - RFI - 02/02/2021
Trong mùa dịch Covid-19, các hộ gia đình tại Pháp có thể nghe nhạc hay xem phim thoải mái ở nhà, nhờ có khá nhiều mạng phát hành trực tuyến (Netflix, Disney+, Salto ... ). Còn đối với những người thích xem opéra, múa ballet, kịch nói, trò xiếc hoặc biểu diễn trực tiếp thì sao ? Trả lời câu hỏi này, đài truyền hình Pháp France Télévisions vừa thành lập kênh văn hóa Culturebox miễn phí 100%.

Tối hôm qua 01/02/2021, buổi lễ khánh thành kênh truyền hình Culturebox đã được tổ chức trực tiếp tại nhà hát Mogador ở Paris. Đêm khai mạc đã xen kẻ các phần biểu diễn hoành tráng của thế hệ nghệ sĩ trẻ tuổi từng được vinh danh nhân các kỳ trao giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique trước đây. Trong số này, các gương mặt nổi bật nhất vẫn là Yseult, Pomme, Terrenoire, Noë Preszow, Lous and the Yakuza ...

Kênh truyền hình miễn phí thứ nhì

Mặc dù vẫn còn nhiều quy định ràng buộc để phòng chống dịch bệnh, nhưng đối với các tài năng mới đã ngưng hoạt động từ gần một năm nay do các nhà hát hay sân khấu đều bị đóng cửa, đêm biểu diễn này vẫn là một luồng dưỡng khí cần thiết. Ban tổ chức cũng đã huy động nhiều nhân viên kỹ thuật (tương tự như chương trình tuyển chọn giọng ca Barbara Pravi đại diện cho nước Pháp đi tranh giải Eurovision) và có thể gợi hứng cho các nhà hát thực hiện những liveshow tương tự.

Đây là lần thứ nhì Pháp lập kênh truyền hình miễn phí. Lần đầu tiên là hồi tháng 04/2020 nhân đợt phong tỏa đầu tiên, các tập đoàn truyền thông TF1, M6 và France Télévisions đã gạt những mối bất đồng qua một bên, hợp sức thành lập một kênh truyền hình miễn phí mang tên là #ÀlaMaison được phát sóng khắp nước Pháp trong suốt thời kỳ phong tỏa. Còn lần này, đài truyền hình quốc gia France Télévisions gồm tổng cộng là 5 kênh khác nhau phối hợp chương trình để cung cấp cho kênh truyền hình Culturebox. Điểm mới ở đây là toàn bộ kênh này xoay quanh các chủ đề văn hóa và sẽ có khá nhiều biểu diễn trực tiếp hoặc chương trình chưa từng được phổ biến, thay vì đơn thuần phát lại những chương trình đã thu sẵn.

Được thành lập kể từ năm 2008, thương hiệu Culturebox (có nghĩa là "Chiếc hộp Văn hóa" ban đầu là một mạng thông tin và lưu trữ các chương tình văn hóa của đài truyền hình quốc gia France Télévisions. Trong những năm gần đây, ngoài các chương trình truyền hình nổi tiếng như La Grande Librairie (giới thiệu sách và ngành xuất bản), Le Grand Échiquier (show biểu diễn trực tiếp), Le Concert de Paris (hoà nhạc cổ điển) và nhất là Prodiges (cuộc thi tuyển lựa mầm non trong các bộ môn như hát kịch opéra, múa ballet hay nhạc cụ thính phòng), Culturebox còn đã mở thêm hồi mùa hè năm 2020 ngay giữa mùa dịch với 11 buổi biểu diễn phát sóng trực tuyến, hợp tác với sân khấu La Cigale và sau đó nữa là chương trình Basique Concert được thu hình tại nhà hát Casino de Paris.

Nội dung Culturebox thay đổi mỗi ngày

Với sự bảo trợ của Bộ Văn hóa Pháp, mạng văn hóa Culturebox được biến đổi thành một kênh truyền hình hẳn hoi, nhằm mở "sân chơi" cho đủ mọi thành phần nghệ sĩ vào lúc các nhà hát, các rạp chiếu phim, các sân khấu, viện bảo tàng hay các tụ điểm văn hóa đều bị đóng cửa và chưa có dấu hiệu nào cho thấy các cơ sở này sẽ sớm được mở lại. Toàn bộ chi phí của Culturebox sẽ do tập đoàn France Télévisions tài trợ, chương trình đầu tiên được phát sóng kể từ ngày 01/02/2021 vào lúc 8 giờ rưỡi tối trên kênh số 19, vốn là kênh phát sóng trước đây của đài France Ô dành để nói về các lãnh thổ hải ngoại của Pháp. Kênh 19 bị bỏ trống kể từ khi đài France Ô ngưng luôn mọi hoạt động vào cuối tháng 08/2020.

Pop rock, nhạc cổ điển, hip hop, múa ballet, opéra hay kịch nói ... tất cả các loại hình biểu diễn và nghệ thuật sân khấu đều hiện diện trên kênh Culturebox. Với kinh phí tài trợ ban đầu hơn 5 triệu euro, chương tình này sẽ giới thiệu xen kẻ các bộ phim tài liệu chưa được phát hành cũng như hàng chục liveshow mới hay từng được thu hình gần đây nhưng chưa phổ biến. Theo ông Michel Field, giám đốc chương trình văn hóa của France Télévisions, vào mỗi buổi sáng kênh này sẽ chiếu phim tài liệu và các chương tình với nội dung giải trí, rồi kể từ 8g30 đêm trở đi, kênh này vào mỗi buổi tối sẽ cố gắng đưa tới khán giả Pháp những sự kiện trực tiếp hay những chương trình biểu diễn chưa từng được phát sóng trên tivi hay trên mạng trực tuyến.

Để đáp ứng nhu cầu của nhiều thành phần khán giả, chương trình phát sóng sẽ liên tục thay đổi chủ đề vào mỗi buổi tối. Thứ hai dành cho sân khấu biểu diễn bao gồm cả kịch nói và nhạc kịch. Thứ ba dành cho nhạc cổ điển, kể cả opéra, múa ballet, độc tấu thính phòng hay hòa nhạc giao hưởng. Thứ tư được dành cho âm nhạc đại chúng kể cả pop rock, blues jazz, French Touch hay âm nhạc thế giới. Thứ năm được dành cho các thể loại âm thanh thành thị (urban sound) bao gồm nhạc rap, hip hop, afrobeat kết hợp với múa và thi đấu. Thứ sáu được dành cho hài kịch nói chung dưới dạng độc diễn (one man show hay là stand up) cũng như các cuộc thi ứng tấu tự do hoặc theo chủ đề. Thứ bảy được dành cho các buổi hòa nhạc trong khuôn khổ các liên hoan lớn. Còn chủ nhật được dành riêng để giới thiệu với khán giả các viện bảo tàng nổi tiếng nhất nước Pháp.

"Hộp Văn hóa" giới thiệu những sự kiện lớn

Một cách cụ thể, nội trong tuần này, khán giả có thể theo dõi trực tiếp trên kênh số 19 đồng thời trên mạng france.tv nhiều sự kiện nổi bật. Chẳng hạn như tối nay 02/02 có phát chương trình "Nuit Magique" (Đêm huyền diệu) trích từ liên hoan nhạc cổ điển Chorégies d'Orange. Mặc dù tất cả các buổi biểu diễn đều đã bị hủy bỏ, các sân khấu ngoài trời đóng cửa không tiếp đón công chúng, nhưng các giọng ca opéra nổi tiếng nhất, trong đó có các diva Cecilia Bartoli, Karine Deshayes, Aleksandra Kurzak và các giọng ca tenor trứ danh Roberto Alagna, Javier Camarena hay là Artur Ruciński đã tề tựu với nhau biểu diễn các đoản khúc cổ điển quen thuộc nhất của dòng nhạc lãng mạn trữ tình của Ý và Pháp.

Ngày hôm sau 03/02 là hai sự kiện lớn của làng nhạc phổ thông, nữ danh ca Catherine Ringer trình diễn tại rừng Vincennes nhân 40 năm thành lập ban nhạc rock Pháp Rita Mitsouko. Quan trọng không kém là liveshow của ca sĩ Mika tại nhà hát hoàng gia Opéra Royal với màn bắn pháo hoa muôn màu rực rỡ tại lâu đài Versailles, cung điện của Vua Mặt trời. Không hẹn mà gặp, vài ngày sau buổi biểu diễn của Mika, đến phiên nhạc trưởng Sébastien Daucé điều khiển dàn nhạc Ensemble Correspondances trình bày trực tiếp các điệu "nhạc cung đình" dưới thời vua Louis XIV, đã góp phần không nhỏ trong việc phát huy múa ballet và nhạc thính phòng tại các triều đại châu âu thời bấy giờ. Chương trình hôm 06/02 diễn ra tại nhà hát lớn thành phố Caen và lần đầu tiên được giới thiệu với giới yêu nhạc.

Còn tối chủ nhật 07/02, khán giả có sự chọn lựa giữa hai viện bảo tàng theo sự dẫn dắt của hai diễn viên điện ảnh nổi tiếng. Ngôi sao màn bạc Carole Bouquet đưa người xem khám phá các bộ sưu tập nghệ thuật nguyên thủy trong chương trình "Một đêm tại Viện bảo tàng Quai-Branly". Còn nam diễn viên François Berléand thì giới thiệu những kiệt tác đương đại và hiện đại của Georges Braque, Salvador Dali, Yves Klein, Andy Warhol hay là Louise Bourgeois, trong chương trình khám phá các tác phẩm nghệ thuật quý giá nhất của Trung tâm văn hóa Pompidou.

Nếu như các mạng nghe nhạc hay xem phim trực tuyến như Netflix, Disney+, Salto, Deezer, Spotify ... đều có tính thêm phí và buộc người tiêu dùng phải đăng ký dịch vụ, thì kênh truyền hình văn hóa Culturebox hoàn toàn miễn phí (trong suốt mùa dịch) và hy vọng rằng chương tình truyền hình này sẽ tiếp tục kéo dài trên mạng công cộng TNT, cho dù kênh 19 chỉ bổ sung chứ không thể nào thay thế cho nhu cầu của người Pháp, muốn xem các loại hình diễn biểu trong tương lai, một khi các nhà hát hay sân khấu lớn đều được mở lại.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1509 Posted : Wednesday, February 3, 2021 5:41:34 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Những giai thoại đằng sau ca khúc "Joe, le taxi"

Hoài Dịu - RFI
Bao đời nay, Paris hoa lệ luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong âm nhạc, thơ ca … Paris muôn màu và muôn mặt. Sẽ thiếu sót lớn khi không nhắc đến cuộc sống về đêm nơi đây, người Paris hẹn hò trong những quán bar hay bên bờ sông Seine. Đâu đó, tiếng nói cười quyện hòa vào điệu rock xưa cũ …

Ngoài kia, nhộn nhịp người qua lại, còi xe đông đúc. Thoảng nghe đâu đây lời hát « … Và sông Seine, và những nhịp cầu lấp lánh ,. .., là điệu nhảy rumba, nhạc rock xưa và điệu mambo… », ta chợt nhận ra rằng, nét giai điệu quen thuộc trong ca khúc « Joe le Taxi » ấy, cũng là một phần của cuộc sống Paris đầy quyến rũ.

Ba triệu hai trăm nghìn bản thu âm được bán hết sau ba tháng phát hành, ca khúc « Joe le taxi » do ca sĩ Vanessa Paradis trình bày đã giành vị trí quán quân trong top 50 những bài hát bán chạy nhất nước Pháp năm 1987. Vanessa Paradis trở thành một hiện tượng âm nhạc khi tròn 14 tuổi sau thành công vang dội của ca khúc « Joe le taxi ».

Bài hát này không những được yêu thích trong cộng đồng Pháp ngữ mà còn tạo nên làn sóng hâm mộ ở Đức, Đan Mạch, Na uy…, đặc biệt lọt vào top 3 trong số những ca khúc bán chạy nhất ở Anh, vượt qua « Isla Bonita » của Madona lúc bấy giờ. Giới âm nhạc đánh giá hiện tượng này là khá hiếm đối với nhạc phẩm hát bằng tiếng Pháp, kể từ sau sự ra đời của ca khúc « Je t’aime, moi non plus » của nhạc sỹ Serge Gainsbourg, phát hành năm 1969.

Vốn có thiên hướng nghệ thuật, ca hát, từ thuở nhỏ, Vanessa Paradis đã ấp ủ giấc mơ thành ca sỹ. Trong chương trình truyền hình mang tên « L’école des Fans », cô bé Vanessa, dáng vẻ như búp bê , với giọng hát ngọt ngào, chạm tới những nốt nhạc cao nhất của bài « Emilie Jolie » đã thực sự thuyết phục khản giả trong khán phòng nhà hát Empire hôm đó.

Người cậu ruột Didier Pain của Vanessa, luôn cố gắng tìm cơ hội để thực hiện giấc mơ của cô. Vào một ngày đẹp trời năm 1985, ông mang cô cháu gái đến giới thiệu với Frank Langolff ,người đã sáng tác nhiều bài hát cho ca sỹ Renaud lúc bấy giờ, tại phòng thu âm ở Boulogne. Didier Pain nhớ lại « Tôi đã lôi kéo sự chú ý của Frank Langoff nhiều tháng trời để ông ấy viết cho tôi một bài hát. Mỗi lần ông ấy làm điều gì đó, ông ấy lại bảo : không, không, bài này không phải của cô ấy đâu ».

Cho tới một ngày, vào năm 1987, Frank Langolff cho cô bé Vanessa nghe một giai điệu kết hợp giữa rumba và mambo mà ông mới viết. Sau đó, ông đã Langolff nhờ Roda-Gil đặt lời cho bài hát. « Joe le taxi dĩ nhiên không phải là một ý tưởng gì đó quá lớn lao để làm xáo trộn công chúng, mà đúng hơn là chớp nhoáng nhỏ nhoi của đời sống thường nhật …chỉ là câu chuyện về một gã lái taxi đầy thú vị, hay nghe nhạc mambo trong xe của mình »

Lúc đầu, « Joe le taxi » suýt thành bài hát đôi. Theo lời Joshua Darche kể lại, họ đã cho hát thử với một ca sĩ người Cuba, anh ta hát những câu tương ứng, đối đáp với Vanessa bằng tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên họ đã bỏ ý định đó vì cuối cùng họ cảm thấy không hay. Trong suốt thời gian thu âm, năm ấy, cho dù vừa tròn 14 tuổi, Vanessa Paradis đã bộc lộ rằng mình không phải là « nàng thơ dễ bảo ».

Chính cô đã gợi ý sử dụng kỹ thuật hát rung lưỡi âm « r » của từ rumba trong điệp khúc của bài hát. Cô còn tiết lộ : « Đừng có tin rằng là tôi thích Yma Sumac (tên của diva người Peru được nhắc tới trong bài hát). Thú thực là, tôi chẳng thích lắm đâu ». Ca khúc sau đó được phát trên sóng của đài RTL, và đã nhận được nhiều phản hồi bằng điện thoại với con số đạt mức kỷ lục. Một dấu hiệu mà đối với Vanessa, là giấc mơ đang trở thành hiện thực.

« Joe, tài xế taxi
Chẳng đi khắp mọi nơi
Cũng chẳng uống sô đa
Kèn saxophone vàng của anh,
Thuộc nằm lòng từng con phố
Tất cả các quầy bar nhỏ
Tất cả những ngõ ngách tối om… »

Ẩn sau những lời hát giản dị ấy là chuỗi câu chuyện lý thú về nhân vật có biệt danh Joe. Thật bất ngờ, đó là một người phụ nữ nhập cư, gốc Bồ Đào Nha tên là Marie Josée, người đã chạy trốn sang Pháp tìm tự do sau khi bị mẹ của mình phát hiện cô là người đồng tính. Trong thập niên 80, Joe là tài xế taxi đêm, chuyên đón khách tại những vũ trường ở Paris và đưa họ về nhà. Chỉ cần gọi “Joe, Taxi!”, là cô ta có mặt với chiếc xe Opel Ascona màu trắng, lịch sự trong bộ cánh đàn ông, ca vát và gi lê.

Thế rồi một ngày, nhà soạn lời Etienne Roda-Gil đi xe của cô ấy. Qua những lời thoại đầy thú vị, ngay lập tức Roda-Gil có cảm hứng về Joe và thế giới của cô ta, ông hỏi: “ Cô có cảm thấy phiền không nếu như tôi viết một bài hát mang tên cô?”. Không một chút do dự, Joe chấp nhận và chẳng hề đòi hỏi sự đáp lại. Cô kể lại trong cuộc gặp gỡ gần đây với thời báo “Người quan sát”: “Tôi còn trẻ, tôi cảm thấy được tâng bốc. Và rồi, lúc đó tôi đã không biết người đó là một nhân vật nổi tiếng…”

"Joe, tài xế taxi
Chẳng đi khắp mọi nơi
Cũng chẳng uống sô đa…”

Ít lâu sau đó, Marie Josée nghe thấy tên và cuộc sống của mình đã được thổi vào lời hát. “Joe le taxi” được phát sóng khắp nơi. Roda-Gil hỏi “cô có đi khắp nơi không?” Marie Josée trả lời rằng “không, tôi sợ lắm”, và “Tôi chỉ uống coca thôi”.

“Đi đi Joe
Lao thật nhanh nào
Lao vào màn đêm, hướng về Amazone…”

Thực ra ông ấy đã không viết “lao vào màn đêm, về phía những kẻ đồng tính” thay vì “Amazone” như trong bài hát.

Trước đây, Joe đã không bao giờ tiết lộ câu chuyện này vì không muốn bị “chết đói”, vì lo sợ bị kỳ thị về vấn đề đồng tính của mình. Gần 30 năm sau khi bài hát trình làng, Joe vẫn còn là tài xế taxi đêm, chưa một lần gặp lại Etienne Roda-Gil, người đã ra đi vĩnh viễn năm 2004. Giờ đây cô chỉ hy vọng một điều: được gặp ca sỹ Vanessa Paradis để kể lại tất cả…

Joe le taxi qua giọng hát thanh thanh, ngọt ngọt của cô bé 14 tuổi Vanessa, đã đưa công chúng đến thế giới của Joe, đến một góc nhỏ không kém phần lãng mạn của đời sống Paris diễm lệ.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1510 Posted : Thursday, February 4, 2021 1:44:54 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm ngày sinh của nhạc sĩ Georges Brassens

Tuấn Thảo - RFI - 04/02/2021
Năm 2021 đánh dấu 100 năm ngày sinh của tác giả Georges Brassens, một trong ba đại thụ của làng nhạc Pháp thành danh vào những năm 1950. Thành phố Sète, nguyên quán của danh ca sẽ là tâm điểm của một chương trình sinh hoạt hoành tráng với chủ đề tự do cá nhân. Đỉnh điểm là vào tháng 10/2021, đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của Georges Brassens.

Trước tình hình khó lường của dịch Covid-19, chương trình kỷ niệm chỉ thật sự bắt đầu từ tháng Tư trở đi, khi thời tiết ở các tỉnh miền nam nước Pháp bắt đầu đẹp trở lại. Hội đồng thành phố Sète đã liên hệ với Bộ Văn hóa Pháp để xin được tổ chức toàn bộ chương trình ở cấp quốc gia, với sự tham gia hợp tác của nhiều thành phố khác như Montpellier, Béziers, Nîmes hay là Paris thông qua các cuộc triển lãm lưu động. Đây là lần thứ nhì thành phố Sète muốn được Bộ Văn hóa ủy quyền tổ chức. Trước đây, lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà biên đạo kịch Jean Vilar cũng đã từng diễn ra tại Sète, nguyên quán của tác giả nổi tiếng, từng sáng lập liên hoan kịch Avignon.

Sète, nơi cất giữ di sản của Brassens

Từ lâu, thành phố Sète luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với gia đình tác giả hầu bảo tồn di sản của Georges Brassens. Hội đồng thành phố đã liệt kê tất cả những địa điểm gắn liền với tác giả, từ lúc ông chào đời ở Mont Saint-Clair cho tới các trường học, phiên chợ, góc phố, bến tàu nơi ông thường hay lui tới. Brassens đã trải qua thời thơ ấu tại Sète và sau đó, cho dù ông trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, ông vẫn giữ thói quen về thăm nguyên quán. Tại các địa điểm quen thuộc ấy, nhiều sinh hoạt sẽ được tổ chức, trong đó có triển lãm, hội nghị, biểu diễn ca nhạc hay liên hoan ngoài trời trong gần một năm.

Bên cạnh các thước phim tài liệu, truyện tranh và phim hoạt hình dành cho học sinh, một trong những sự kiện quan trọng nhất là cuộc triển lãm với các bản thảo quý hiếm của chính tác giả. Vào mùa thu năm ngoái, 22 văn bản với chữ ký của Georges Brassens trong đó có lời các bài hát chép tay, đã được bán đấu giá với mức kỷ lục là 377.650 euro. Đa số các văn bản đã được Thư viện Quốc gia Pháp đặt mua và chín bản thảo đã được hội đồng thành phố Sète mua đấu giá hầu chuẩn bị cho cuộc triển lãm "100 năm Brassens" (1921-2021).

Quan trọng không kém là cuộc triển lãm ngoài trời với các bức tượng điêu khắc và tác phẩm sắp đặt gợi hứng từ thế giới của Brassens rải rác trên các góc phố. Đỉnh điểm chương trình diễn ra đúng vào ngày 22/10, diễn viên François Morel được chọn làm người phối hợp tổ chức các sự kiện với các nhà hát lớn của Pháp. Ở trung tâm thành phố cảng, một sân khấu lớn được dựng trên thuyền và một buổi biểu diễn quy mô sẽ triệu mời nhiều nghệ sĩ đến từ khắp nơi, do lúc sinh tiền, các bài hát của Georges Brassens đã từng được dịch sang khoảng 20 thứ tiếng.

Brassens, thời nhỏ chỉ mê đọc thơ

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, làm nghề thợ nề từ nhiều đời qua, Georges Brassens thời còn nhỏ thích chơi bời lêu lổng. Thay vì chăm chỉ học hành, ông thường hay trốn học đi tắm biển. Từ nhà ông ra bãi biển chỉ có vài trăm thước, thời mà thành phố nhỏ còn sống nhờ nghề chài lưới với tên gọi là Cette, trước khi được sửa đổi thành Sète vào năm 1928. Ở trường lớp, ông thường hay mơ mộng và chỉ thích nghe bài giảng về văn học thi ca của thầy Alphonse Bonnafé, người không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn gieo vào hồn cậu học trò ngọn lửa đam mê, tò mò tìm đọc hầu hết các thi hào quan trọng của Pháp. Thời niên thiếu ông cũng khám phá cách đặt chữ có vần trong sáng tác của Charles Trenet và lối ngắt nhịp cách điệu trong lối soạn nhạc jazz mà ông thường nghe trên đài phát thanh. Những bản thảo đầu tiên cho thấy Brassens tự học viết nhạc khá sớm, chứ không được đào tạo bài bản. Có thể nói tài năng của Brassens sớm phát triển ở trường đời hơn là qua trường lớp.

Năm 16 tuổi, do cái tính ngỗ nghịch bướng bỉnh, ông bị phạt tù treo. Bị đuổi học, Georges Brassens phải rời gia đình ở Sète đến Paris lập nghiệp. Giai đoạn này được ông kể lại trong bài hát "La Mauvaise Réputation" (Tiếng xấu). Ông ban đầu làm thợ lắp ráp trong nhà máy, nhưng cũng không được bao lâu khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Vào đầu năm 1943, Georges Brassens lúc ấy 21 tuổi, buộc phải sang Đức thi hành nghĩa vụ lao động bắt buộc (STO). Sau hơn một năm bị lao động cưỡng bách, ông được phép về Paris chữa bệnh.

Ở lại Paris luôn sau khi chiến tranh kết thúc, Georges Brassens viết báo kiếm tiền nhuận bút và nhất là ông hoàn tất quyển tiểu thuyết đầu tay (La Lune écoute aux portes), tác phẩm này được xuất bản vào năm 1947, nhưng không thành công như mong đợi. Sau nhiều năm chờ thời, Georges Brassens chỉ thật sự trở nên nổi tiếng vào mùa xuân năm 1952 sau khi ký được hợp đồng ghi âm. Thành danh ở tuổi 31 tuổi tương đối khá trễ so với các nghệ sĩ thời bấy giờ, nhưng đối với Brassens lại là một dịp may lớn.

Trường đời định hình phong cách Brassens

Tài năng của ông như một tác giả và nhạc sĩ đã chín muồi. Tất cả những bài hát do ông viết từ năm 16 tuổi, một khi được thu thanh đều trở nên nổi tiếng, trong đó có các bài như "Le Parapluie, J'ai rendez-vous avec vous, Chanson pour l'Auvergnat, Le Gorille, Il n'y a pas d'amour heureux" ... Tất cả những năm tháng khó khăn ấy đã định hình phong cách của Brassens : tướng mạo không trau chuốt, ngỗ nghịch bất cần đời, bộ râu mép với ống điếu, khi đứng trên sân khấu chỉ có duy nhất một cây đàn ghi ta.

Ở chỗ Jacques Brel chinh phục khán giả với ánh mắt thôi miên hớp hồn, tiếng hát cuồng phong chất giọng vũ bão, thì ngược lại Georges Brassens hát nhạc khẩy đàn một cách nhẹ nhàng, từ tốn. Đằng sau câu chữ ngôn từ rất khuôn thước về nhịp điệu, khá cổ điển về mặt ngữ điệu thi pháp, lại toát lên những ý tưởng táo bạo của một nghệ sĩ dấn thân, theo thuyết vô thần vô chủ. Ông chủ trương sống theo ý mình, không thuộc về phe phái nào và đặt quyền tự do cá nhân lên trên mọi giáo điều cũng như ý thức hệ. Trước khi có Gainsbourg và Renaud, Brassens có lối đặt ca từ tiếng Pháp rất hay : trong cùng một câu, ông có thể dùng cả tiếng lóng, lời lẽ thông tục với ngôn từ uyên thâm bác học.

Georges Brassens qua đời năm 1981 ở tuổi 60 vì bệnh ung thư. Trong sự nghiệp của mình, ông đã viết 250 bài hát, ghi âm khoảng 30 đĩa nhạc, trong đó có 18 album phòng thu và nhiều album chủ yếu là nhạc phổ theo thơ của các tác giả lớn như Victor Hugo, Alphonse de Lamartine, Alfred de Musset, Paul Verlaine hay là Louis Aragon ... Georges Brassens cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến lớp nghệ sĩ Pháp đi sau trong đó có Renaud, Maxime Le Forestier, Francis Cabrel, Yves Duteil. Tác giả Georges Moustaki từng viết bài "Les Amis de Georges" vào năm 1974 để vinh danh Brassens. Georges Moustaki khi chào đời được đặt tên là Giuseppe nhưng khi vào nghề lại chọn nghệ danh là "Georges" Moustaki vì ông rất ngưỡng mộ bậc đàn anh Georges Brassens.

Ngoài các phiên bản tiếng Pháp, dòng nhạc Brassens cũng đã được phổ biến nhiều trên thế giới nhờ các bản phóng tác trong nhiều ngôn ngữ khác nhau : Graeme Allwright dịch sang tiếng Anh, Luis Cilia tiếng Bồ Đào Nha, Koshiji Fubuki trong tiếng Nhật, Alberto Patrucco tiếng Ý, Yossi Banai tiếng Do Thái, Jiří Dědeček tiếng Tiệp, Mark Freidkin tiếng Nga, Paco Ibáñez tiếng Tây Ban Nha, Ralf Tauchmann tiếng Đức, Piotr Machalica tiếng Ba Lan, Cornelis Vreeswijk tiếng Thụy Điển, Tuula Amberla tiếng Phần Lan ...

Lúc sinh tiền Brassens có phong cách hiền hòa kín đáo, khi qua đời di sản của nghệ sĩ Brassens có lẽ không lộng lẫy hào quang như Piaf hay Brel, nhưng hầu hết các bài hát của ông đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ khán giả Pháp. Đôi khi người chịu "mang tiếng xấu" ban đầu, lúc về sau lại chinh phục trái tim người hâm mộ, nhờ giai điệu thấm sâu.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1511 Posted : Saturday, February 6, 2021 8:27:58 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Kim Ki Duk - Cánh cửa hạnh phúc từ những con đường đau khổ

Lệ Thu - RFI - 06/02/2021
Cuối tháng 12 năm 2020, chúng ta vừa nói lời từ biệt với Kim Ki Duk, một nhà đạo diễn điện ảnh tài ba người Hàn Quốc. Có thể nói, Kim Ki Duk là điểm nhấn mạnh mẽ của điện ảnh Châu Á trong tổng thể bức tranh nhiều màu sắc của nền điện ảnh thế giới.

Kim Ki Duk qua đời ở tuổi 59 tại Latvia trong một chuyến công tác do nhiễm virus Sars-Cov2. Gia tài ông để lại không chỉ là rất nhiều giải thưởng danh giá tại các liên hoan phim lớn trên Thế giới mà còn là triết lí sâu xa ẩn bên dưới những thước phim vô cùng độc và dị, thông qua sự dằn vặt, nỗi khổ đau, thù hận, bạo lực, cuộc sống cùng cực vật vã toát lên từ nhân vật cũng như các tác phẩm mà ông sáng tạo.

Trong các tác phẩm của Kim Ki Duk, gọi là “tuyệt tác” thì có thể nhắc tới hai bộ phim “Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại Xuân” (sản xuất năm 2003) và “Pieta” (sản xuất năm 2012). Cả hai bộ phim cùng gây tranh cãi, vì nội dung cũng như hình ảnh rất khốc liệt, mạnh bạo. Hành trình của các nhân vật trong hai tác phẩm này dường như đều đạt đến tận cùng của sự độc ác, dằn vặt, đày ải, đau đớn nhưng cuối cùng, lại vươn tới Hạnh phúc theo ý nghĩa riêng của họ.

Vòng tròn sự sống

“Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại Xuân” được chia làm 5 giai đoạn, tương ứng với 4 mùa trong năm và một mùa Xuân quay lại. Mỗi giai đoạn cách nhau một khoảng thời gian nhất định, kể về quãng đời của một chú tiểu sống trong ngôi chùa đẹp ở giữa biển hồ cùng với sư phụ của chú.

Xuân - là khi mọi sự sống bắt đầu, chú tiểu cùng sư phụ sống yên lành bên biển hồ bình lặng. Những trò chơi quái ác một cách vô tâm của chú khiến sư phụ không hài lòng.

Hạ - là khi chú đã trưởng thành. Ngôi chùa mở cửa đón khách, cũng là lúc bao nhiêu uẩn khúc, dục vọng cuộc đời xâm lấn chốn thiền tu. Chú tiểu rời bỏ chùa để đi theo tiếng gọi tình yêu.

Thu - là cái giá phải trả cho những sai lầm tiếp nối. Chú đã giết chết người yêu vì bị cô ta phản bội.

Đông - là khát vọng hoàn lương của chú tiểu sau khi thụ án tù vì tội giết người và lại trở về chùa.

Rồi mùa Xuân khác lại tới - một người đàn bà xa lạ đem theo một đứa bé tới chùa và bỏ nó lại đó.

Vòng tròn của sự sống trong “Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại Xuân” giống như “Sinh, lão, bệnh, tử… rồi lại sinh”. Một chú tiểu nhỏ tuổi với những trò chơi độc ác một cách vô tâm đã phải sống với nỗi dằn vặt vì tội ác của mình đến suốt cuộc đời. Khi chú lớn lên, cái khát khao dục vọng rất “Đời” đẩy chú ra khỏi chùa và trả lại cho chú một tình yêu bị phản bội. Con người ta sinh ra, vốn là “Nhân chi sơ tính bản thiện”, lại bị lòng Tham lam, Si mê, Sân hận khiến cho trở nên mù quáng, thúc đẩy và nuôi dưỡng sự mung muội, ngu si. Rồi, như một điều tất yếu, xuân đến, hạ sang, thu về, đông tới, con người xoay vần qua biết bao nhiêu sai lầm tiếp nối nhau, để cuối cùng, vẫn tìm đường trở về với lương thiện như chú tiểu ngày nào trở về với ngôi chùa xưa cũ.

Lúc chú bước chân quay đầu thì sư phụ chú đã tự vẫn từ lâu ngay tại ngôi chùa của hai thầy trò. Cái chết của sư phụ chú giống như nỗ lực cuối cùng mà Ông mong muốn làm, ấy là lấy sự Thiện tâm để tưới tắm cho tâm hồn đã bị vấy bẩn của học trò.

Hình ảnh vị sư, lúc này là chú tiểu đã lớn, kéo lê phiến đá đeo sau lưng, tay ôm bức tượng Phật trèo lên đỉnh núi chính là hình ảnh con người bị ám ảnh với sai lầm của mình cả cuộc đời nhưng bởi họ đã nhận thức được sai lầm, đã tự tìm cách sửa chữa nó nên cuối cùng, họ vẫn tìm được hạnh phúc. Ấy vậy mà sau mùa đông giá lạnh, một mùa xuân lại tới, cuộc đời lại tiếp tục xoay vần theo cách riêng của nó, lại có những con người mới và những sai lầm mới y hệt những sai lầm cũ.

“Bao giờ thì loài người tỉnh ngộ” có vẻ là câu hỏi lớn mà Kim Ki Duk đặt ra qua trường đoạn cuối cùng của phim, khi một chú tiểu khác lại xuất hiện ở chùa với những trò chơi độc ác như chú tiểu nhỏ năm nào. Đó là trò buộc đá vào thân thể những con vật yếm thế nhỏ bé rồi ngồi ngắm nhìn xem chúng sẽ quằn quại ra sao. Cái kết mà như không kết của bộ phim đã thực sự gây nên nỗi ám ảnh cho người xem.

Có được Hạnh phúc là Mất hay Được ?

Cánh cửa hạnh phúc tiếp tục được nhìn qua lăng kính rất khác thông qua “Pieta”, bộ phim thứ 18 trong sự nghiệp Điện ảnh của Kim Ki Duk.

Nếu “Xuân, hạ, thu, đông… rồi lại Xuân” được coi là phim đầu tiên tạo ấn tượng mạnh mẽ về cái tên Kim Ki Duk thì “Pieta” lại được nhiều nhà phê bình cho rằng đây là tác phẩm thành công cuối cùng chấm dứt chuỗi “chiến công” bất bại của ông. Một người mẹ chỉ hạnh phúc khi trả thù được cho con trai mình bằng một cách không giống ai, đó là đem trao gửi hạnh phúc cho kẻ thù đã giết con mình. Bà tự nhận là người mẹ đã bị thất lạc từ rất lâu của kẻ sát nhân, chăm sóc, quan tâm, bám riết hắn. Ban đầu, hắn cũng chối bỏ bà nhưng hận thù trong lòng người mẹ quá lớn đã biến thành một tình yêu kỳ lạ, bao bọc, chở che, vây quanh kẻ giết người.

Sau khi đã thay đổi được tâm tính kẻ thủ ác, bà đã tự vẫn, để lại cho hắn biết bao băn khoăn đau khổ. Hạnh phúc là đây ư ? Khi hắn chạm tới hạnh phúc, khi hắn sắp không còn là một kẻ cho vay nặng lãi độc ác, khi hắn không còn sẵn sàng hành hạ, tra tấn người khác, khi hắn biết quan tâm, biết yêu thì hắn lại mất tất cả ? Hành trình sống của hắn, cho đến sau khi biết tới hạnh phúc, hóa ra lại là hành trình đau khổ nhất, dằn vặt nhất.

Vậy có được Hạnh Phúc là hạnh phúc, hay mất đi Hạnh Phúc mới là hạnh phúc ? Người mẹ đã gieo vào trong hắn tình yêu, lòng trắc ẩn, sưởi ấm trái tim lạnh giá của hắn, để sau này, khi hắn phát hiện ra bà chính là mẹ của người mà hắn đã giết, cái rã rời của một Hạnh Phúc bị đánh tráo đã khiến hắn sụp đổ, không cách nào cứu vãn.

Hành trình đau khổ của bà mẹ, là trao gửi Hạnh Phúc cho kẻ thù, cuối cùng đã đem lại sự giải thoát cho bà, đã đánh gục kẻ tưởng như không thể đánh gục, đã đem lại cho bà một hạnh phúc đích thực.

Hình ảnh mạnh bạo đến rùng mình cuối cùng mà Kim Ki Duk dùng tới trong bộ phim là hình ảnh kẻ sát nhân tự buộc mình vào chiếc xe để cho nó kéo lê đi như muốn dùng nỗi đau thể xác để khỏa lấp những cào cấu giằng xé đau đớn trong tâm hồn hắn. Đó là cái giá phải trả cho kẻ đã cướp lấy hạnh phúc của người khác.

Gã phù thủy điện ảnh

Người ta gọi Kim Ki Duk là “Gã phù thủy điện ảnh” hẳn cũng là vì những lý do đó. Phim của ông thuận theo tự nhiên nhưng cũng đánh tráo cảm xúc của người xem, mạnh mẽ đầy nhục dục, nhưng cũng nặng tính triết lí sâu sa. Nó luôn đặt ra những vấn đề giàu tính khơi gợi, khiến người xem phải ngẫm nghĩ, sau đó tự tìm câu trả lời của riêng mình.

Chính vì vậy, khán giả đến với phim Kim Ki Duk thường chia làm hai luồng rõ rệt. Luồng thứ nhất chỉ xem được ít trường đoạn là quay mặt đứng lên. Luồng thứ hai sẽ ngồi lại, nghiền ngẫm những điều mà ông muốn gửi gắm.

Kim Ki Duk từng nói ông không muốn làm phim giống những người khác. Phải chăng vì thế mà phim của ông dù đầy rẫy bạo lực, dục vọng nhưng cuối cùng lại chạm tới mọi cảm xúc tột bậc của khán giả ? Sự ra đi đột ngột của Kim Ki Duk cũng giống như cái kết trong hầu hết các tác phẩm của ông … Như một cuộc dạo chơi không bao giờ có hồi kết.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1512 Posted : Tuesday, February 9, 2021 8:23:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Những cặp đôi đẹp nhất làng âm nhạc

Gia Trình - RFI - 06/02/2021
Chuyện hai nghệ sỹ hợp tác song ca hay đồng sản xuất một ca khúc không có gì mới. Nhưng sẽ đáng nói nếu họ là một cặp tình nhân ngoài đời hoặc bén duyên sau lần hợp tác đó. RFI Tiếng Việt điểm lại một số cặp đôi đẹp nhất làng âm nhạc trong dịp lễ Tình nhân - Valentine.

John Lennon và Yoko Ono : Tình yêu nổi loạn

Cặp đôi huyền thoại đã sát cánh bên nhau trước khi Beatles ran rã vào năm 1968. John và Yoko cùng sáng tác nhiều bản nhạc đi cùng năm tháng, trong đó có Imagine và Give Peace a chance. John từng chịu chỉ trích khi bỏ người vợ cũ Cynthia Lennon để theo đuổi Yoko Ono, nữ họa sỹ người Nhật không hề xinh đẹp. Yoko Ono cũng bị các fan Beatles thù ghét vì cho rằng bà là “tội đồ” cho sự tan rã của Bộ Tứ Huyền Thoại. Tuy nhiên, sợi dây gắn bó vô hình giữa hai nghệ sỹ rất mạnh mẽ. Họ có sự đồng điệu về tâm hồn, ý tưởng sáng tạo, đặc biệt khái niệm nổi loạn.

Hai nghệ sỹ cho ra đời album Unfinished Music No.1: Two Virgins (Âm nhạc chưa hoàn thiện: Hai trinh nữ) năm 1968 và thành lập ban nhạc Plastic Ono Band một năm sau đó. Ono và Lennon kết hôn trong năm 1969, một năm trước khi Beatles chính thức tan rã. Cặp uyên ương chia sẻ sự nổi loạn trong sự nghiệp sáng tác, biểu diễn trong âm nhạc. Họ từng xuất hiện khỏa thân trong bìa album Two Virgins (Hai trinh nữ) và bức ảnh trăng mật trên giường tại Amsterdam.

Cho dù John Lennon đã mãi lìa xa khán giả sau vụ ám sát năm 1980, hình ảnh lãng mạn của cặp đôi không có gì suy xuyển. Album cuối cùng của họ, Double Fantasy ra mắt vào năm 1980, chỉ ba tuần trước vụ ám sát của Lennon. Thông điệp họ truyền tải không đơn thuần là tình yêu xuyên biên giới. Mạnh mẽ hơn, họ thắp sáng tư tưởng phản chiến, yêu chuộng hòa bình. Cho đến giờ, John và Oko vẫn là hình mẫu bền vững nhất của những cặp uyên ương trong âm nhạc.

Tim McGraw và Faith Hill : Tình yêu bền vững

Tim McGraw và Faith Hill là một cặp đôi lý tưởng trong dòng nhạc country. Hai ca sỹ cùng sinh năm 1967 luôn tự hào đã sát cánh bên nhau hơn hai thập kỷ. McGraw và Hill cùng hợp tác trong nhiều giai điệu lãng mạn và dịu êm nhất trên sân khấu và ngoài đời.

Hai người gặp nhau lần đầu tại Nashville năm 1994. Tại thời điểm đó, McGraw đang hẹn họ với Kristine Donahue, Faith Hill vừa hoàn tất vụ ly hôn với Daniel Hill (ca sỹ gắn với bản hit Sometime when we touch). Hai năm sau, Hill cùng McGraw lưu diễn chung trong tour Spontaneous Combustionvà tình yêu bắt đầu nảy nở. McGraw chính thức ngỏ lời cầu hôn Hill trong phòng thay đồ của festival âm nhạc country. Chuyện tình đẹp như mơ đem đến cho họ ba cô con gái Grace, 1997, Maggie 1998 và Aubrey năm 2001.

Sự nghiệp solo của hai nghệ sỹ cũng khá thành công. Trên sâu khấu, hình ảnh McGraw đóng đinh với chiếc mũ cao bồi, quần jean giản dị, còn Faith Hill quyến rũ như diva hàng đầu nhạc country. Đáng chú ý, Faith Hill không đổi sang họ chồng sau khi kết hôn mà vẫn giữ họ của người chồng cũ.

Khi họ cùng song ca, chia lửa sân khấu, các bản song ca hầu hết có nội dung về tình yêu, sự chia sẻ. Đáng chú ý gồm có Keep Your Eyes on Me (2017), Just to hear you say that you love me (1998), Let’s make love (2002) và Like We Never Loved At All (2005). Đôi tình nhân cùng chia sẻ tượng vàng Grammy năm 2000 và 2005 với giải thưởng Hợp tác Trình diễn nhạc country xuất sắc nhất. Đến nay, khán giả vẫn trầm trồ về hình ảnh viên mãn hạnh phúc của cặp trai tài gái sắc này.

Jay Z và Beyonce : Tình yêu quyền lực

Tách ra khỏi nhóm Destiny Child, Beyonce sẽ khó có sự nghiệp solo rực rỡ nếu thiếu đi sự nâng đỡ của người chồng, rapper Jay Z. Họ là cặp đôi trời phú trong dòng nhạc R&B, hip hop. Về âm nhạc, Jay Z chủ yếu phụ trách sản xuất, biên tập cho Beyonce hơn là xuất hiện trong vai trò ca sỹ song ca. Khi họ biểu diễn chung bản hit Crazy in Love và Drunk in love, sân khấu tràn ngập trong nguồn năng lượng sáng tạo vô biên. Đồng thời, Jay Z là người có óc kinh doanh nhạy bén cả trong âm nhạc lẫn đầu tư tài chính. Do vậy, khối tài sản đồ sộ của cặp đôi không ngừng lũy tiến.

Theo thống kê của Forbes, cặp đôi Jay Z và Beyonce đang sở hữu tổng gia tài trị giá hơn 1,35 tỷ đô la Mỹ. So với người chồng, tài sản Beyonce có phần khiêm tốn, chỉ khoảng 355 triệu đô la. Nguồn tài chính của Beyonce chủ yếu đến từ tour lưu diễn, nhãn thời trang thể dục riêng và dịch vụ giao đồ ăn chay.

Khối tài sản đồ sộ của Jay Z xuất phát từ việc kinh doanh hơn là ca hát. Anh từng đầu tư vào hãng gọi xe thông minh Uber với khoản đầu tư 70 triệu đô la, hãng rượu Armand de Brignac champagne, cognac D’Ussé trị giá 100 triệu đôla, trang phát nhạc trực tuyến Tidal trị giá 100 triêu đô la. Hãng giải trí riêng Roc Nation là con gà đẻ trứng vàng cho Jay Z, anh vừa ký hợp đồng 10 năm trị giá 200 triệu đô la với Live Nation năm 2020.

Ngoài ra, Beyonce và Jay Z đang sống tại biệt thự hạng sang trong danh mục bất động sản, trị giá đến 50 triệu đô la. Khi hai cá nhân xuất sắc thành đôi uyên ương, họ biến sự nghiệp và cuộc sống riêng tư thành cuộc hôn nhân quyền lực nhất.

Camila Cabello và Shawn Mendes : Tình yêu nên thơ

Shawn Mendes và Camila Cabello chính thức trở thành cặp đôi quyến rũ nhất làng giải trí vào mùa hè năm 2019. Bốn năm trước, họ mới chỉ là bạn bè khi hợp tác trong ca khúc I Know What You Did Last Summer (Em biết anh làm gì mùa hè năm trước). Tình yêu nảy nở giữa chàng trai điển trai Canada và cô ca sỹ gợi cảm người Mỹ gốc Cuba trong bản hit sexy Senorita. Ca khúc này chiếm sóng trên đài phát thanh và Spotify thời gian dài.

Trước đó, cả Mendes và Cabello đều được coi là hai ca sỹ trẻ đầy triển vọng trong làng âm nhạc. Tách ra khỏi nhóm Fifth Harmony, nữ ca sỹ sinh năm 1997 đã gặt hái thành công vang dội với bản single Havana năm 2017. Ngoài bản hit hợp tác với Shawn Mendes, Cabello còn hợp tác với Ed Sheeran trong ca khúc South of Border tạo được ấn tượng tốt đẹp. So với người yêu, Shawn Mendes trẻ hơn một tuổi và nổi tiếng sớm hơn khi có album đầu tay năm 2015. Ngoài việc xuất bản các album nhạc liên tiếp, Shawn lọt vào mắt xanh các hãng thời trang và thực phẩm lớn với nhiều hợp đồng quảng cáo.

Sự hợp tác giữa Mendes và Cabello nhanh chóng thu hút sự quan tâm của fan hâm mộ cả đôi bên. Ngay từ khi bài hát ra mắt, đã xuất hiện tin đồn về mối quan hệ lãng mạn của cặp đôi. Ca từ bài hát song ca ám chỉ phần nào sự dịch chuyển mối quan hệ từ bạn bè sang tình yêu : “You say we're just friends. But friends don't know the way you taste” (Anh nói rằng chúng ta chỉ là bạn bè. Nhưng bạn bè không thể nào hiểu được anh thú vị đến vậy). Cabello xác nhận họ đã phải lòng nhau khi cùng hợp tác trong ca khúc này. Họ được đề cử giải Grammy Trình diễn Pop Song ca xuất sắc cho lần hợp tác bén duyên này.

Chuyện tình yêu trên khuông nhạc dịch chuyển sang tình yêu đời thực luôn bất ngờ hơn mọi dự tính. Phải chăng âm nhạc khiến họ dễ dàng xích lại gần nhau? Hay đó là môi trường phù hợp nhất để gửi gắm thông điệp tình yêu?

(Theo Business Insider, Forbes, USToday)


hongvulannhi  
#1513 Posted : Thursday, February 11, 2021 9:47:43 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,099

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5350 time(s) in 3596 post(s)
UserPostedImage

Chuc cac ban, doc gia tham lang & GD
Nam Moi An Binh, Hanh Phuc va Suc Khoe

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, February 11, 2021 10:00:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/11/2021(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1514 Posted : Friday, February 12, 2021 9:48:00 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Valentine : Xu hướng ở Pháp tặng hoa mùa đông thay vì hoa hồng

Tuấn Thảo - RFI - 12/02/2021
Hoa tươi, chocolat, mỹ phẩm, trang sức ...... theo thứ tự đó là những món quà mà người Pháp hay tặng cho nhau nhân mùa Valentine, Ngày lễ tình yêu. Trong số các món quà thường thấy nhất nhân ngày 14/02, hoa hồng luôn là hình tượng đầu tiên xuất hiện trong tâm trí của mọi người. Thế nhưng trong vài năm gần đây, bắt đầu có xu hướng tặng hoa mùa đông thay thế cho hoa hồng.

Tại Pháp hàng năm, có tới 600 triệu nhánh hoa hồng được bán trên thị trường, thời kỳ tiêu thụ mạnh nhất vẫn là vào mùa lễ tình yêu Valentine (Saint Valentin trong tiếng Pháp) với từ 5% đến 7% tức khoảng 30 triệu đoá hoa hồng được bán sạch chỉ trong vài ngày.

Đặc biệt loài hoa hồng màu đỏ được khách hàng qua tâm nhiều nhất chủ yếu cũng vì màu này là biểu tượng của tình yêu mãnh liệt, và đam mê cuồng nhiệt. Đó là nét truyền thống văn hóa.

Pháp nhập 80% hoa hồng từ nước ngoài

Nhưng khi nhìn từ góc độ kinh tế và môi trường, chuyện tặng hoa hồng ở Âu Mỹ vào mùa đông lại làm cho món quà này mất đi phần nào giá trị ban đầu của nó. Tại các xứ lạnh, hoa hồng chỉ nở rộ tươi thắm dưới ánh nắng mùa hè chứ không mọc vào mùa đông. Theo khảo sát gần đây của công ty tư vấn Novethic, chuyên về "tiêu thụ có trách nhiệm", 80% các đóa hoa hồng tươi bán trên thị trường Pháp (đã được cắt sẵn, mua về cắm trong bình) đều là hoa nhập khẩu từ nước ngoài. 20% còn lại chủ yếu là hoa hồng trồng trong nhà kính, thường là tại những vùng ở miền nam nước Pháp, có khí hậu tương đối ôn hào, ấm áp hơn so với các tỉnh miền bắc.

Hoa hồng bán tại Pháp vào mùa đông, một phần được nhập từ Hà Lan (quốc gia xuất khẩu hoa hàng đầu thế giới), nhưng đa phần chủ yếu được nhập từ các nước Châu Phi hay Châu Mỹ Latinh trong đó có Kenya (31%), Ethiopia (15%), Colombia (12%) hay thậm chí Ecuador (9%). Một khi được thu hoạch, đa số các nhánh hoa hồng được vận chuyển bằng máy bay sang châu Âu trong vòng từ 24 giờ đến 48 giờ. Do vậy đằng sau việc mua một bó hoa hồng làm quà tặng, còn đồng nghĩa với một lượng khí thải carbon đáng kể nhìn dưới góc độ phát triển bền vững hay là thân thiện với môi trường, chưa kể đến các điều kiện làm việc của người dân các nước châu Phi và Nam Mỹ, trong trường hợp họ không làm việc cho những công ty có chủ trương kinh doanh thương mại công bằng (fair trade).

Còn theo nghiên cứu trong năm 2019 của hiệp hội "60 triệu người tiêu dùng ở Pháp", đa số các loại hoa hồng trồng ở các nước châu Ph và Nam Mỹ có tới 49 loại hóa chất khác nhau, kể cả thuốc trừ sâu, chất bảo quản, phân bón hóa học trong đó có cả chất rất độc hại tên là dodemorph, một loại thuốc xịt để diệt nấm bị cấm sử dụng ở Pháp. Tất cả những yếu tố đó đã thúc đẩy sự thành lập của một số hiệp hội ở Pháp nhằm khuyến khích người tiêu dùng nên chọn mua những loại hoa được trồng ngay tại địa phương, ở các vùng miền càng gần nơi đang cư trú thì càng tốt, nói theo thuật ngữ kinh tế tuần hoàn là các hệ thống phân phối ngắn và trực tiếp, không cần có trung gian mua bán.

Mimosa, sơn trà, đỗ quyên dễ tìm thấy vào mùa đông

Một trong những giải pháp đơn giản nhất cho những ai muốn tặng hoa cho người yêu của mình nhân mùa Valentine là mua các loài hoa thường dễ tìm thấy vào mùa đông. Về điểm này, hoa tươi cũng như các loài trái cây hay rau quả đều được trồng theo mùa. Trên danh sách các loài hoa "mùa đông", thịnh hành nhất vẫn là các loài hyacinthe (hoa tiên ông), hellebore (hoa hồng Giáng Sinh), camellia (hoa sơn trà), hoa mimosa, hoa bruyère (thạch thảo), rhododendron (đỗ quyên) hay là một số loài oeillet (cẩm chướng) ......

Về màu sắc và hình dáng, hoa sơn trà camellia (camélia trong tiếng Pháp) đặc biệt là sơn trà Nhật bản với kích thước to gấp đôi mức bình thường, có nét bên ngoài rất gần giống với hoa hồng. Ưu điểm của sơn trà là có thể mọc vào cuối mùa đông, hay mọc sớm vào mua xuân, cho nên có thể được tìm thấy vào tháng Hai. Bên cạnh đó hoa sơn trà có thể được tặng theo từng chậu, không cần nhiều chăm sóc nhưng vẫn giữ lâu hơn là hoa cắm trong bình.

Hoa tiên ông hay còn gọi là "dạ lan hương" (hyacinthe) mọc từ củ như hoa tulipe là loài hoa có hương thơm nhẹ nhàng dễ chịu, được nhiều người Pháp mua sắm vào mùa đông, có đầy đủ màu sắc đỏ, trắng, hồng hay xanh dương, hoa này được sắp xếp từng cụm thành những chậu khá thanh tao trang nhã, thích hợp cho việc trang trí nội thất, phòng khách cũng như phòng ngủ .... Một cách tương tự, người Pháp cũng thích mua một số loài cẩm chướng (oeillet) hay là hoa đỗ quyên (rhododendron) nhưng chủ yếu là hoa trong chậu hơn là hoa đã cắt sẵn.

"Fleurs de France" khuyến khích mua hoa trồng ở Pháp

Các nhánh hoa mimosa, bán theo chùm hay trồng trong chậu với màu vàng tươi rói như ánh nắng mặt trời đợc bán với giá thật mềm do các bụi mimosa mọc rất nhiều ở miên nam nước Pháp. Xuất xứ từ các lãnh thổ phía nam bán cầu, hoa mimosa giữ nguyên cốt cách dễ thích nghi về mặt phong thổ địa lý, cho nên mimosa thường trỗ hoa kể từ tháng 12 (kể cả tại các nước Âu Mỹ hay tại các vùng trung cao nguyên Việt Nam). Mùa mát hay mùa lạnh ở các nước bắc bán cầu chính là mùa hè rực rỡ ở nam bán cầu.

Xinh xắn mà bền bỉ nhất vẫn là các loài hoa hellebore còn có tên gọi nôm na là "hoa hồng mùa đông" hay là "hoa hồng Giáng Sinh". Loài hoa này thuộc giống cây lê lư và dù mang tên là "christmas rose" nhưng hellebore lại chẳng có quan hệ gì với họ hoa hồng. Đặc điểm của "hoa hồng Giáng Sinh " là cây có thể trỗ hoa trong suốt mùa đông, để ở ngoài trời nhưng vẫn không bị đóng băng dù trong suốt tuần này nước Pháp đang trải qua một mùa lạnh khác thường, phủ đầy tuyết trắng. Sức chịu đựng của "hoa hồng mùa đông" cũng giống như loài galanthus, gọi nôm na là hoa xuyên tuyết (perce neige) và thường được bán thay thế cho các loại hoa mùa hè.

Kể từ năm 2015, Bộ Nông nghiệp Pháp đã tạo ra thương hiệu "Fleurs de France", hầu khuyến khích người tiêu dùng mua các loài hoa trồng ở Pháp. Tại thành phố Bordeaux, thương hiệu "Fleurs de Mars" cũng có lối tiếp cận tương tự : các tiệm hoa ở đây chỉ bán những loài hoa trồng theo mùa tại các vùng lãnh thổ địa phương, chứ không đem từ xa về bán. Tại nhiều thành phố khác ở Pháp, nhiều tiệm hoa cũng gắn thương hiệu "Fleurs d'Ici" và đặc biệt nhân ngày lễ tình yêu Valentine giúp người tiêu dùng chọn ra những loài hoa đẹp khác để giữ truyền thống tặng quà cho người yêu, mà vẫn quan tâm đến môi trường.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1515 Posted : Saturday, February 13, 2021 10:12:59 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Hương vị ngày Tết xưa và nay trong âm nhạc

Gia Trình - RFI - 13/02/2021
Ngày Tết nghe nhạc gì? Một câu hỏi vừa khó, vừa dễ trả lời. Đã qua cái thời, chúng ta chỉ biết đến một ca khúc muôn thuở do ABBA trình bày “Happy New year” để chào đón không khí Tết rộn ràng. Giờ đây nhạc Việt có nhiều điểm sáng tự hào hơn để đón cái Tết ấm cúng và sum họp.

Hương vị Tết xưa : Ký ức đẹp và lời ca hoa mỹ

Hương vị của ngày Tết, ngày xuân luôn thổn thức, dịu dàng như trong câu hát của nhạc sỹ Đoàn Chuẩn - Từ Linh trong bài ca đi cùng năm tháng Gửi người em gái. Đó là một ca khúc đượm buồn vì mối tình rơi vào vô vọng giữa nhạc sỹ tài hoa và ca sỹ xinh đẹp tên Mộc Lan.

Bài hát ra đời từ năm 1956, mở ra một không gian mang đậm chất Hà Nội, phản chiếu một không khí Tết truyền thống : “Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng. Đượm đà phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng. Hà Nội chờ đón Tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi. Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh”.

Không ai phủ nhận được màu sắc, hương vị Tết Hà thành quyện trong từng lời ca, giai điệu. Âm nhạc Đoàn Chuẩn - Từ Linh luôn sang trọng và lịch lãm. Nhưng khó ai cho rằng đây là một ca khúc đón Tết vì lời ca gắn với chuyện tình buồn đơn phương.

Gần nửa thế kỷ sau, thập niên 1990-2000 chứng kiến sự hồi sinh ngoạn mục của nhạc pop Việt trước làn sóng áp đảo của nhạc nước ngoài. Không khí xuân về và hương vị Tết không thể bỏ qua của các sáng tác của nhạc sỹ Dương Thụ.

Trong đó, ca khúc Lắng Nghe Mùa Xuân Về do nhạc sỹ Dương Thụ sáng tác vẫn là một tác phẩm tiêu biểu, được thể hiện nhiều nhất vào thời khắc chuyển giao năm mới. Sở hữu giai điệu mạnh mẽ, bài hát từng được thể hiện bởi nhiều giọng ca tên tuổi như Hồng Nhung, Bằng Kiều, Mỹ Linh : “Và chúng ta lại đón giao thừa. Phút giây lặng lẽ mong chờ. Lắng nghe mùa xuân về”.

Hai nhạc sỹ ban nhạc Anh & Em, Anh Quân và Huy Tuấn cũng thổi cảm hứng bất tận của âm hưởng Tết bằng bằng ca khúc Phút Giao Thừa Lặng Lẽ do ca sỹ Mỹ Linh thể hiện : “Mùa xuân để ta hái đem trao tặng nhau. Lòng tin yêu mãi xanh rờn sống trong ta mãi muôn đời. Kìa mùa xuân về giao thừa đã qua”.

Hương vị Tết ngày nay : Nhịp sống hiện đại

Sau gần 20 năm, nhạc trẻ Việt chứng kiến sự đổi mới không ngừng như tốc độ thay da đổi thịt của đô thị và cuộc sống vật chất. Hương vị Tết trong âm nhạc giờ đã phản ánh cuộc sống hối hả, năng động, đôi khi còn khắc nghiệt hơn so với Tết xưa.

Khác với ca khúc xuân của thế kỷ trước, những ca khúc đón Tết không quá coi trọng ca từ hoa mỹ, mà tìm kiếm cảm xúc chân thực, gần gũi hơn. Sự đơn giản của Tết chính là được về nhà, sum họp, tìm lại cảm giác thân quen mà Justa Tee và Đen Vâu truyền tải qua bản hit Đi về nhà.

Trước đó, ca sỹ Ái Phương và SooBin Hoàng Sơn cùng tung ra các bản hit dịp Tết có nội dung tương tự. Họ đều tìm kiếm một mẫu số chung : đoàn tụ, sum họp dịp Tết của những người con lăn lộn kiếm sống, hay xa nhà lâu ngày.

“Về ăn cơm mẹ nấu, về mặc áo mẹ may. Về đưa ba ra chợ, mua cây đào cây mai về bày. Cả năm trời làm việc, nhiều khi rã rời như cái máy. Về nhà thấy áp lực nhẹ như bấc thổi cái là bay. Ấm êm hơn bếp lửa, ngọt bùi hơn lúa non” (Đen Vâu, JustaTee - Đi về nhà).

Ở góc nhìn trực diện hơn, một số ca khúc phản ánh được mặt trái của cái Tết hiện đại. Cuộc sống vật chất tạo ra áp lực tinh thần, đồng thời, khiến con người mất đi cảm nhận vẻ đẹp của Tết hay cảm hứng sắm sửa đón Năm mới.

Nhạc Việt có sự tiến bộ đáng kể nhờ việc phổ cập, kết hợp nhiều thể loại rap, pop, funk tạo nên bản hit dễ nghe, video clip vui nhộn. Có lẽ đây là điểm mạnh của thế hệ X trong thời đại phát triển vũ bão của công nghệ thông tin và âm nhạc số.

“Lương thì chưa kịp tăng. Xe thì hết cả xăng. Mong chờ bao mùa trăng, trăng mà mút mùa "cò không tiến" (Tiền không có). Ăn còn không đủ no. Trăm ngàn thứ phải lo. Đang bình yên tự do mà chưa về mo đã lo sốt vó.

…Mong chị kế toán ở bên đó, luôn mạnh khoẻ và luôn vui. Chuyển tiền em sớm cho em còn tính, plan em đã lên xong xuôi.

…Làm gì phải hốt? Làm, làm gì mà phải hốt? Việc của mình là đón Tết đến không lo toan” (JustaTee, Hoàng Thùy Linh, Đen Vâu - Làm gì mà phải Hốt).

Mặt trái của Tết hiện đại không chỉ là sức ép vật chất, mà còn là nỗi sợ trước việc soi mói đời sống cá nhân bằng những câu hỏi xã giao. Ca sỹ Bích Phương là một trong số ca sỹ trẻ thổi được mối quan tâm này vào ca khúc Tết. Ngay lập tức, ca khúc được giới trẻ đón nhận tích cực vì luồng tư tưởng thực tế này.

“Em chào Tết. Tết ơi có biết không là Em mệt lắm. Mỗi khi Tết đến ghé thăm, Trăm việc khó, Chỉ một tay em phải lo. Nhưng dẫu thế Em vẫn yêu Tết, thích mê…

Là con gái thời 4.0, em sợ Tết như sợ mẹ chồng; Phải gói quà biếu ra sao, và mâm cỗ thì phải thế nào” (Bích Phương, Em chào Tết).

Quả thực Tết bây giờ khác xưa rất nhiều, khi giới trẻ đối mặt với nhiều thách thức của cuộc sống hiện đại. Ví dụ như sống độc lập với cha mẹ, làm cha/mẹ đơn thân, sống thử trước hôn nhân.

“Đầu năm cùng cha mẹ đi mừng Tết ông bà. Cô chú ai nấy đều hỏi con ế rồi à. Bạn trai đã có chưa sao chẳng dắt về nhà. Trời ơi một câu mà ai cũng hỏi vậy ta !” (Bích Phương, Bao giờ lấy chồng).

Bóng dáng nhà tài trợ và xu hướng liên kết

Khác với các ca khúc Tết xưa, các bài hát mang âm hưởng Tết ngày này đều cần truyền tải qua video clip phát trên mạng xã hội hoặc Youtube. Không khó nhận ra các đơn vị tài trợ “cài cắm” logo thương hiệu của mình trong video clip ca nhạc. Ví dụ, Đi về nhà thấp thoáng bóng dáng xe máy Honda, Đi đi để trở về được coi là ẩn dụ cho hãng giày dép Bitis, Làm gì mà phải hốt như thông điệp cho tiện ích Viettel Pay. Hơn 20 năm trước, nhóm nhạc Spice Girl, Anh quốc, từng bị chỉ trích vì đưa ca khúc quảng cáo Pepsi vào album Spice World của họ.

Cũng dễ hiểu, nếu không có tài trợ thì các nghệ sỹ phải dốc hầu bao ra để sản xuất video clip ngốn tiền. Cho dù kiếm được tiền nhờ số lượng người xem trên Youtube thì họ vẫn chịu rủi ro. Nhờ có tài trợ, chất lượng video ca nhạc khá chỉn chu, tạo được hiệu ứng mạnh về thị giác nhất là cảnh đẹp thiên nhiên Việt Nam.

Một điểm thú vị khác là thời điểm phát hành video hầu hết rơi vào tháng 1 sát Tết. Nhà tài trợ cũng tính toán đây là đòn bẩy để kích thích doanh số cho sản phẩm của họ. Vậy là lợi ích chia đều cho cả các bên, nghệ sỹ, nhà tài trợ, khán giả.

Ở một góc nhìn khác, xu hướng “ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ. Sự kết hợp nhiều ngôi sao trong một ca khúc chắc chắn sẽ thu hút khán giả hơn một ngôi sao đơn lẻ. Xu hướng này ngày càng nở rộ trong những năm qua. Đây cũng có thể là chiêu trò và quyền lực của nhà tài trợ thương mại cho từng ca khúc. Nhưng cũng không phủ nhận được sự dí dỏm, hài hước mà các ngôi sao tập hợp lại được.

Xuân về con cũng về do ba ngôi sao Phạm Quỳnh Anh, Lam Trường và Ưng Hoàng Phúc thể hiện, đều thấp thoáng bóng hình của trang web thương mại điện tử Tiki. Hay như bộ ba, Hòa Minzy, Lăng LD, Huỳnh Hiền Năng cùng kết hợp trong ca khúc Tết Nhà Mình.

Cho dù Tết hiện đại hay Tết ngày xưa, khán giả vẫn chờ đợi món ăn tinh thần đặc sắc nhất trong năm. Chúng ta tự hào rằng người Việt giờ có thể đón Tết không cần nghe ca khúc Happy New year của ABBA vì kho nhạc Tết Việt giờ đã đa dạng, phong phú.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1516 Posted : Sunday, February 14, 2021 1:49:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Giới văn nghệ thời Covid: "Câu chuyện âm nhạc" của Nguyên Khang

Thanh Phương - RFI - 14/02/2021
Do tình hình dịch Covid-19, cũng như bao đồng nghiệp khác ở Hoa Kỳ, nam danh ca Nguyên Khang, hiện sống tại Quận Cam, California, không còn sinh hoạt văn nghệ nào nữa từ gần một năm nay, toàn bộ các show đều đã bị hủy.

Với niềm đam mê âm nhạc, với sự khao khát được đến với khán giả, nam ca sĩ với chất giọng trầm ấm, quyến rũ này đã phải tự tạo ra một "sân khấu" ngay tại nhà riêng, với chương trình " Câu chuyện âm nhạc" do chính anh thực hiện, với sự tham gia của một số bạn bè ca nhạc sĩ. Sau đây là những tâm tình của Nguyên Khang với đặc phái viên Thanh Phương tại Westminster, Quận Cam, California, trong cuộc phỏng vấn ngày 07/02/2021:

RFI: Xin chào ca sĩ Nguyên Khang, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng như thế nào đến sinh hoạt của giới ca nhạc sĩ ở hải ngoại và đến bản thân Nguyên Khang ?

Nguyên Khang : Ảnh hưởng rất là nhiều. Bản thân em và các đồng nghiệp tại Mỹ cũng như trong nước đều bị hủy các show, không được trình diễn, nói chung là tụi em thất nghiệp từ tháng 3 cho đến bây giờ, gần một năm ! Không chỉ về kinh tế, mà về tâm lý thì cũng xáo trộn rất nặng nề. Em không biết nói gì hơn là chỉ cầu mong là đại dịch qua sớm, hoặc có một thuốc gì đó để trị bệnh này, cho mọi người an tâm hơn mà trở lại cuộc sống bình thường.

RFI: Ngoài tác động kinh tế, tức là không được trình diễn, nên mất một nguồn thu nhập rất lớn, còn có vấn đề tâm lý như Nguyên Khang nói, một người nhạc sĩ, ca sĩ mà không có đất dụng võ trong suốt một thời gian khá dài như vậy, thì chắc rất là khó chịu. Cụ thể tâm trạng của Nguyên Khang hiện nay như thế nào ?

Nguyên Khang: Thưa anh, thường thường ít nhất là cứ hai tuần hoặc ba tuần là mình xách giỏ lên máy bay, đi đây đi đó, mình được hát, mình được gặp khán giả, mình được thỏa mãn niềm đam mê của mình, mình đi phục vụ. Khi mà không có những cái đó, thì mình mất nhiều lắm, khiến cho mình có cảm giác là bị « vô dụng ». Vô dụng tại vì thú thật với anh cũng như quý vị, hầu hết ca sĩ như tụi em chỉ biết làm nghề đó thôi, không biết làm nghề nào khác để kiếm sống hoặc để quên đi tình hình này.

RFI: Trung tâm Thúy Nga thì có chương trình Music Box, nhóm của Quốc Khanh thì MMG, còn Nguyên Khang thì có « đất dụng võ » nào trên mạng để tiếp tục cống hiến cho khán giả ?

Nguyên Khang: Trong suốt thời gian ở nhà, em buồn quá, không biết làm gì, thế là em mở một sân khấu tại nhà, làm chương trình « Câu chuyện âm nhạc », livestream trên Facebook cho mọi người xem, thứ nhất cho mình đỡ nhớ nghề và thứ hai là được gặp gỡ khán giả qua mạng, để có cái tương tác, giúp giải tỏa phần nào tâm lý của mình. Em đã làm chương trình đó được 12 số, chiếu trên kênh Youtube của em và trên đài truyền hình SBTN. Cái đó phần nào giải tỏa tâm lý của mình. Đỡ nhiều lắm anh. Mình hát thấy « feel good » lắm. Sang đây anh thấy là Tết năm nay không sung túc như những năm trước, bằng chứng là Chợ Hoa rất là vắng, không ai buôn bán nhiều cho 3 ngày Tết. Về ca nhạc Tết thì Thúy Nga đã lên một chương trình, MMG cũng đã chiếu một chương trình, nhưng làm với tính cách phục vụ nhẹ nhẹ thôi, chứ không làm cái gì « ghê gớm » như những gì mà họ đã từng làm.

Em cũng vậy, production của em rất là nhỏ, chỉ có vài anh em ngồi đàn với nhau, em là người hát chính, rồi em mời vài người bạn làm « guest ». Tất cả các bạn đều đến với em vì âm nhạc, không ai lấy một đồng nào hết, cho nên cũng dễ cho em làm. Em chỉ cần một tí sponsor, SBTN đã bảo trợ cho em một ít để trang trải một số chi phí production cho anh em. Em hy vọng sẽ tiếp tục làm được như vậy để phục vụ cho khán giả, cho đến khi mọi việc trở lại bình thường thì em sẽ ngưng, hoặc là nếu quý vị vẫn thích và vẫn có bảo trợ, thì em sẽ tiếp tục làm.

RFI: Thời gian này chúng ta không có hoạt động gì khác, Nguyên Khang có thấy rằng mình có thể lợi dụng thời gian này để trau dồi thêm khả năng chuyên môn, hay tìm tòi những gì mới về âm nhạc để sau này khi đại dịch hết, ta có thể xuất hiện trở lại với một trình độ cao hơn?

Nguyên Khang: Thật sự thì trong đầu em lúc nào cũng có nhạc, cũng nghĩ đến nhạc hoặc là một bài hát nào đó. Đó là cái mà em trao dồi thường xuyên. Chương trình của em cũng tạo một pressure (áp lực) để mình tập làm producer (nhà sản xuất):Chương trình này mình làm như vậy nhe anh em, rồi mình hát làm sao, tập làm sao, đèn này nó như vậy hả em, đàn kia mướn bao nhiêu. Có nghĩa là em học về producer hơn là học hát! Làm sao tạo ra một cái show theo ý mình muốn, với số tiền chỉ có bao nhiêu đó.

RFI: Tức là nhờ đại dịch Covid-19 mà Nguyên Khang học thêm nghề mới. Trong chương trình của Nguyên Khang thì Nguyên Khang còn có vai trò mới là MC.

Nguyên Khang: MC là bất đắc dĩ, tại vì chương trình của mình nên mình bắt buộc phải nói. Em muốn tạo một không khí gần gũi, có nghĩa là em làm trong phòng khách nhà em, thì khán giả nhìn qua màn ảnh sẽ cảm thấy gần gũi. Em nói trước, đây không phải là một sân khấu chuyên nghiệp. Đây là những gì mà Nguyên Khang muốn chia sẻ từ tấm lòng của mình đối với âm nhạc và sự nhớ nhung của Nguyên Khang đối với khán giả của mình. Mình chia sẻ những tâm tình về bài hát đó, về kỷ niệm của bài hát đó. Và cái quan trọng hơn hết, đó là để mình được sống trong âm nhạc.

Quý vị có thể xem chương trình " Câu chuyện âm nhạc" của Nguyên Khang trên trang Nguyên Khang Singer Official:

https://www.youtube.com/...I8PFmVG7-7DY0jw/featured
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1517 Posted : Monday, February 15, 2021 8:09:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Pháp: Một tài năng trẻ cho hiệu thời trang Rochas

Tuấn Thảo - RFI - 15/02/2021
Tại Pháp, Rochas là một hiệu thời trang có uy tín, xấp xỉ 100 năm tuổi. Thương hiệu này chủ yếu nổi tiếng nhờ dòng mỹ phẩm nước hoa nhiều hơn là thời trang y phục. Sắp tới đây, Rochas sẽ xuất hiện trở lại với một bộ sưu tập thời trang cao cấp, sau khi bổ nhiệm nhà thiết kế trẻ tuổi người Pháp Charles de Vilmorin làm giám đốc nghệ thuật.

Tuy chỉ mới 24 tuổi, Charles de Vilmorin gia nhập câu lạc bộ "haute couture" của Paris, nổi tiếng là kén chọn thành viên, và đòi hỏi tay nghề thật cao. Một nhà tạo mốt trẻ tuổi được chọn để thực hiện dòng sản phẩm của một thương hiệu lâu đời, sự kiện này tương đối hiếm hoi. Trước đây, Olivier Rousteing cũng từng được hiệu thời trang Balmain (sáng lập vào năm 1945) đề cử làm giám đốc năm anh mới 25 tuổi. Trong vòng một thập niên sau đó, anh đã thành công trong việc đổi mới hình ảnh cũng như mô hình tiếp thị, kinh doanh của thương hiệu này.

Thừa hưởng năng khiếu hội họa của mẹ

Về phần mình, Charles de Vilmorin đã thu hút nhiều sự chú ý của giới chuyên ngành chỉ trong một thời gian ngắn. Xuất thân từ một gia đình khá giả, mẹ là giáo viên ngành hội họa, còn bố là giám đốc tài chính, anh đã thừa hưởng thời còn nhỏ năng khiếu vẽ từ thân mẫu và anh đeo đuổi rất sớm ngành thiết kế thời trang. Trong năm 2020, vào lúc nước Pháp bị phong tỏa hai lần, các hoạt động thời trang bị hạn chế, Charles de Vilmorin lại là một trong những nhà thiết kế "có gan" sáng lập thương hiệu của mình.

Anh đã trình làng bộ sưu tập thời trang cao cấp xuân-hạ đầu tiên vào ngày 27/01/2021 vừa qua. Hiện giờ, anh đang nghiên cứu việc biến đổi thích nghi dòng sản phẩm cao cấp này thành các kiểu y phục may sẵn. Bộ sưu tập thời trang xuân-hạ 2022 sẽ là dòng sản phẩm "haute couture" đầu tiên anh sẽ thiết kế cho hiệu Rochas (được thành lập vào năm 1925). Trong thời gian đầu, Charles de Vilmorin phụ trách toàn bộ dòng sản phẩm kể cả y phục và phụ kiện thời trang phái nữ cho công ty này.

Theo ông Philippe Benacin, giám đốc điều hành tập đoàn Interparfums, hiện đang nắm giữ quyền khai thác dòng sản phẩm hiệu Rochas, Charles de Vilmorin đã chứng tỏ tài năng cũng như tính mạo hiểm của mình khi trình làng các mẫu thiết kế vào lúc mọi người đang co cụm lại. Đối với Rochas, hiệu thời trang từng là biểu tượng của nét thanh lịch, trẻ trung và táo bạo. Vì thế cho nên, việc tuyển dụng một tài năng trẻ sẽ đem lại luồng sinh khí mới cho thương hiệu này.

Thay đổi hình ảnh cùng mô hình kinh doanh

Khi ra mắt bộ sưu tập của mình vào lúc các hoạt động của làng thời trang đang ở mức tối thiểu, Charles de Vilmorin ngoài các mẫu thiết kế còn cho thấy một thế mạnh khác mà các công ty có uy tín lâu đời đều rất cần: đó là sự tinh thông của giới trẻ trong cách sử dụng các mạng xã hội, song song với các phương tiện truyền thông. Các kiểu áo do anh thiết kế được quảng bá rộng rãi trên mạng xã hội và chỉ được sản xuất theo đơn đặt hàng để tránh tình trạng phung phí do "sản xuất quá mức". Cách làm việc này đã lọt vào mắt của một số nhân vật nổi tiếng, họ nghĩ rằng tài năng của anh đáng để dìu dắt nâng đỡ.

Nhà thiết kể trẻ tuổi Charles de Vilmorin cho biết anh đã được bậc đàn anh là nhà thiết kế lừng danh Jean Paul Gaultier chỉ bảo tận tình. Về tuổi đời cũng như tay nghề, anh thú thật không phải là một nhà thiết kế "thâm niên" và nếu như ngành thời trang cao cấp chọn lựa theo tiêu chuẩn kinh nghiệm lâu năm, thì hẳn chắc Charles de Vilmorin sẽ hoàn toàn không có cơ hội để chứng tỏ bản lĩnh của mình. Khi quyết định hướng dẫn, tạo cơ hội cho tài năng Charles de Vilmorin có thêm cơ hội vươn lên, bản thân nhà thiết kế Jean Paul Gaultier cũng nhớ lại cách đây nửa thế kỷ, ông đã thành danh trong nghề một phần cũng nhờ vào sự dìu dắt của bậc thầy là Pierre Cardin.

Sau khi thành công trong vòng 50 năm trong làng thời trang, Jean Paul Gaultier đã chính thức giải nghệ vào năm 2020, nhưng ông vẫn có kế hoạch ra mắt những bộ sưu tập thời trang, mỗi năm hợp tác với một tài năng khác biệt với tư cách là khách mời của thương hiệu Gaultier. Trong quá trình làm việc ấy, Jean Paul Gaultier đã tình cờ khám phá tài nghệ của Charles de Vilmorin, không những trong cách thiết kế y phục, mà còn rất giỏi trong cách dùng Instagram cũng như các mạng xã hội khác để truyền đạt ý tưởng của mình. Điều đó phần nào cho thấy làng thời trang "haute couture" biết khám phá những bộ óc sáng tạo chứ không còn đơn thuần dựa theo tiêu chuẩn thâm niên.

Nét tương đồng với Yves Saint Laurent ?

Những kiểu mẫu thời trang đầu tiên cho thấy Charles de Vilmorin nắm vững ngôn ngữ thiết kế, rồi làm giàu thêm nhờ nghệ thuật hội họa, thông qua cách dùng màu sắc cơ bản rực rỡ tươi sáng, cũng như cách vẽ tay trực tiếp trên vải những hình khối phóng đại, hay là những họa tiết nguyên thủy, sơ khai của các loài côn trùng, thảo mộc. Các người mẫu khi giới thiệu các kiểu quần áo được trang điểm thêm, thậm chí cơ thể của họ được vẽ thêm nhiều màu sắc (body painting) để phụ họa, cộng hưởng với trang phục.

Nhà thiết kế này cho biết là anh muốn phản ánh khái niệm tự do trong thời kỳ phong tỏa. Tuy các quy định hạn chế tối đa vấn đề di chuyển đi lại, nhưng rốt cuộc điều đó vẫn không trói buộc hay kiềm chế được luồng gió sáng tạo, nhẹ nhàng bay bổng như cánh bướm, tươi thắm nở rộ như hoa rừng. Qua việc sáng tạo theo bản năng, Charles de Vilmorin đã thiết kế nhiều kiễu mẫu đủ màu gốc nhưng vẫn thô chứ không quá tỉ mỉ trau chuốt. Anh cho biết thời trang cao cấp không phải là dễ mặc, nhưng lại là nơi thử nghiệm những ý tưởng "cuồng dại" nhất trước khi đưa vào khai thác trong dòng sản phẩm đại chúng.

Ngoài tư tưởng khá triệt để, Charles de Vilmorin còn có một vóc dáng cao ráo mảnh mai, điều đó làm cho nhiều người trong giới chuyên ngành liên tưởng đến một nhân vật trứ danh khác là nhà thiết kế Yves Saint Laurent. Được mệnh danh là vị "hoàng tử nhỏ" của làng thời trang, do Yves Saint Laurent được bổ nhiệm làm giám đốc nghệ thuật của hiệu thời trang Dior dù chỉ mới 21 tuổi, Yves Saint Laurent đã trở thành một trong những nhà tạo mốt có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20. Hy vọng rằng Charles de Vilmorin cũng sẽ thành công không kém, cho tên tuổi thêm rạng ngời vẻ vang, còn thương hiệu Rochas 95 năm sau ngày được thành lập, sẽ rũ sạch lớp bụi thời gian.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1518 Posted : Tuesday, February 16, 2021 9:56:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm phóng tác điện ảnh "Ba chàng ngự lâm"

Tuấn Thảo - RFI - 16/02/2021
Hãng phim Pháp Pathé vừa công bố hôm 12/02/2021 kế hoạch thực hiện một phiên bản điện ảnh mới phóng tác từ "Les Trois Mousquetaires" của văn hào Alexandre Dumas. Dự án này đánh dấu đúng 100 năm trào lưu chuyển thể quyển tiểu thuyết nổi tiếng lên màn ảnh lớn. Thật vậy, phiên bản điện ảnh đầu tiên của Pháp "Ba chàng lính ngự lâm" đã ra đời vào năm 1921.

Trong vòng một thế kỷ, tiểu thuyết của Alexandre Dumas đã được phóng tác thành cả trăm bộ phim điện ảnh cũng như truyền hình, kể cả ngoại truyện và hậu truyện tại Pháp cũng như tại Mỹ. Làng phim Hollywood từng chuyển thể thành công với phiên bản của George Sidney quy tụ (năm 1948) hai ngôi sao Lana Turner và Gene Kelly trên cùng một màn bạc. Trong phim "The Man in the Iron Mask" (1998), Gabriel Byrne và Gérard Depardieu đối đầu với John Malkovich để phò vua Leonardo Di Caprio. Trong bộ phim "La fille D'Artagnan" (1994), Sophie Marceau vào vai con gái của chàng ngự lâm nổi tiếng nhất nước Pháp. Còn phiên bản phim chiếu rạp gần đây nhất là "Ba chàng ngự lâm" trong mắt của đạo diễn người Nga Sergueï Jigounov (2014).

Hàng chục bộ phim gợi hứng từ "Ba chàng ngự lâm"

Về phía Pháp, cách đây đúng 100 năm, Henri Diamant-Berger là đạo diễn đầu tiên thực hiện hai phiên bản điện ảnh từ kiệt tác "Ba chàng lính ngự lâm" (Les Trois Mousquetaires). Phiên bản thứ nhất là một bộ phim câm được phát hành vào năm 1921. Bước sang kỷ nguyên phim có âm thanh và tiếng nói, đạo diễn người Pháp Henri Diamant-Berger lại bấm máy quay thêm một phiên bản kinh điển thứ nhì, quy tụ một dàn diễn viên Pháp nổi tiếng thời bấy giờ.

Cũng như tác phẩm "Napoléon" của đạo diễn Abel Gance, bộ phim "Ba chàng ngự lâm" của tác giả Henri Diamant-Berger được xếp vào hàng kiệt tác điện ảnh, một tác phẩm trường thiên ngoạn mục, với lối dàn dựng công phu nhờ vào ngân sách khổng lồ khoảng 3 triệu franc thời ấy, tức hàng chục triệu euro thời nay. Gần như toàn bộ tác phẩm cổ trang đã được quay ở ngoài trời với khung cảnh tự nhiên và khán giả Pháp thời ấy được dịp khám phá trên màn ảnh lớn một bộ phim hoành tráng quay tại lâu đài nguy nga tráng lệ Chenonceau, nhà thờ hùng vĩ Chartres và thị trấn cổ kính Pérouges.

Đúng 100 năm sau ngày phát hành phiên bản đầu tiên của Pháp, hãng phim Pathé hợp tác với nhà sản xuất Dimitri Rassam, năm nay 40 tuổi (ngoài đời, anh là con trai ruột của ngôi sao màn bạc người Pháp Carole Bouquet) để khởi động một dự án đầy tham vọng : dùng công nghệ hình ảnh và kỹ xảo hiện đại để phục vụ cốt truyện lịch sử cổ trang đầy tình tiết hấp dẫn, nhưng đồng thời tránh gây mâu thuẫn với bối cảnh và trình tự thời gian như điều đã từng xẩy ra trong phiên bản phát hành năm 2011 của đạo diễn người Anh Paul W.S Anderson, tập hợp một dàn diễn viên hùng hậu : Milla Jovovich, Orlando Bloom, Logan Lerman, Luke Evans, Christoph Waltz, Mads Mikkelsen ... Trong phiên bản tiếng Anh của "The Three Musketeers", có các màn giao tranh trên không trung giữa các chiếc khinh khí cầu. Vấn đề là chuyến bay khinh khí cầu đầu tiên có người điều khiển đã được thực hiện vào những năm 1870 (cuối thế kỷ 19) trong khi bối cảnh phim lại diễn ra dưới thời vua Louis 13 tức Ià vào khoảng 1620 (đầu thế kỷ 17).

Đoàn phim, diễn viên, cảnh quay : 100% Pháp

Theo nhà sản xuất Dimitri Rassam, chi phí thực hiện phiên bản mới "Les Trois Mousquetaires" là trên 60 triệu euro. Bộ truyện dày 700 trang của Alexandre Dumas sẽ được phóng tác thành 2 bộ phim dành để chiếu ở rạp : tập một mang tựa đề ngắn gọn là "D'Artagnan", còn tập hai là "Milady" (kẻ thù không đội trời chung của Ba chàng ngự lâm). Cả hai bộ phim này được khởi quay cùng lúc tại Pháp trong vòng 7 tháng từ tháng 08/2021 đến tháng 04/2022. Ngày ra mắt bộ phim được dự trù cuối năm 2022, đầu năm 2023.

Đoàn làm phim đã chuẩn bị xong khâu tiền kỳ, chọn những cảnh quay tự nhiên và có thật tại Pháp, trước hết là để bám sát bối cảnh cốt truyện, sau đó là để tạo việc làm cho giới nhân viên kỹ thuật điện ảnh vốn đã chịu quá nhiều thiệt thòi trong mùa dịch Covid-19. Chính cũng vì thế, đoàn làm phim đã dành ưu tiên cho việc thực hiện phim từ đầu đến cuối tại Pháp. Đằng sau ống kính quay phim là đạo diễn Martin Bourboulon, người đã từng quay bộ phim (biopic) kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Gustave"Eiffel" với nam diễn viên Romain Duris trong vai chính, bộ phim tiểu sử này dự trù được phát hành vào đầu mùa hè năm 2021.

Điều đó giải thích vì sao Romain Duris sẽ hợp tác một lần nữa với Martin Bourboulon. Lần này, Romain Duris vào vai Aramis, trong khi Vincent Cassel và Pio Marmaï đóng vai Porthos và Athos. Louis Garrel đội vương miện của vua Louis 13, trong khi nam diễn viên François Civil được chọn vào vai D'Artagnan thời trai tráng, ở độ tuổi "ngựa non háu đá". Vai phản diện đáng gờm nhất "Milady de Winter" được giao cho Eva Green (từng đóng vai tình nhân của điệp viên 007 trong "Casino Royale" và là kiện tướng Artemisia trong bộ phim "Đế chế trỗi dậy", tập nhì của 300 chiến binh).

Làm giàu tuyến truyện với những chi tiết có thật

Trong phiên bản mới, đội ngũ viết kịch bản cho hai bộ phim "D'Artagnan" và "Milady" đã dày công tham khảo các tài liệu lịch sử, trích dẫn thêm nhiều chi tiết để làm giàu tuyến truyện chính. Trong số các nhân vật mới, có Hannibal, chàng lính ngự lâm da đen đầu tiên trong lịch sử nước Pháp, nhân vật hư cấu này dựa trên câu chuyện có thật của "Louis Aniaba". Đó cũng là một cách để nhắc lại nguồn gốc của Alexandre Dumas, lúc sinh tiền nhà văn này mang hai dòng máu : ông nội là một nhà quý tộc da trắng còn bà nội là một nô lệ da đen.

Được xem là một trong những dự án điện ảnh Pháp quan trọng nhất trong một thập niên gần đây, "Les Trois Mousquetaires" trong mắt của giới chuyên ngành là cơ hội để thu hút khán giả Pháp đi xem phim ở rạp một khi các biện pháp phòng chống dịch bệnh được dỡ bỏ. Hiện giờ, các rạp chiếu phim vẫn còn phải đóng cửa ở Pháp và chính phủ dường như chưa muốn cho các cơ sở văn hóa hoạt động trở lại chừng nào chiến dịch chính ngừa chưa được triển khai rộng rãi. Dù muốn hay không, các hãng phim lớn của Pháp như Pathé hay Gaumont đều phải lên kế hoạch chuẩn bị cho thời kỳ hậu "phong tỏa".

Các cuộc thăm dò ý kiến đều cho thấy mặc dù có rất nhiều mạng phát hành phim trực tuyến, nhưng các dịch vụ này vẫn mang tính bổ sung chứ chưa thay thế được thú vui đi xem phim ở rạp. Để chuẩn bị cho giai đoạn sắp tới, giới sản xuất đầu tư vào các dự án phim mang tính đại chúng. Ngoài "Ba chàng ngự lâm" còn có tập phim mới về anh hùng gô loa "Astérix" của đạo diễn Guillaume Canet. Thành công vượt bực gần đây của loạt phim Arsène (Assane) "Lupin" với Omar Sy trong vai chính, càng khuyến khích các nhà sản xuất chọn thể loại phim phóng tác dựa trên những nhân vật quen thuộc, gần gũi với công chúng từ bao thế hệ qua.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1519 Posted : Wednesday, February 17, 2021 9:33:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Giới văn nghệ thời Covid: Hương Lan vẫn gần khán giả nhờ Music Box

Thanh Phương - RFI - 17/02/2021
Do đại dịch Covid-19 mà từ gần một năm qua, nữ ca sĩ Hương Lan đã không thể về Việt Nam để trình diễn. Tuy nhiên, nhờ chương trình Music Box của Trung tâm Thúy Nga, phát trên mạng Youtube, mà Hương Lan vơi đi phần nào nỗi nhớ khán giả. Trong chuyến đi Hoa Kỳ vừa qua, RFI Việt ngữ đã có dịp gặp và trò chuyện với Hương Lan tại tư gia của ca sĩ ở Garden Grove, Orange County, California.

RFI: Xin chào nữ ca sĩ Hương Lan. Cám ơn chị đã nhận trả lời phỏng vấn. Thưa chị Hương Lan, như vậy là gần một năm rồi, chị đã không thể về Việt Nam, cũng như không thể xuất hiện trên sân khấu, do tình hình đại dịch Covid-19. Hiện nay, tâm trạng chị ra sao?

Hương Lan: Trước hết chị xin cám ơn quý vị nghe đài, cám ơn em đã đến đây để tạo cơ hội cho chị nói chuyện với khán giả để khán giả biết thêm về cuộc sống của nghệ sĩ.

Một năm mà không đi hát thì rất là buồn, tuy nhiên chị vẫn làm việc với Trung tâm Thúy Nga, làm những chương trình Music Box cho Youtube và làm những chương trình cho trang Youtube Official của Hương Lan. Hàng tháng vẫn có chương trình làm và vẫn có thời gian để thâu thanh những chương trình đặc biệt riêng, để khi hết dịch rồi từ từ sẽ phát hành.

RFI: Tức là tranh thủ những lúc không thể đi lưu diễn các nơi thì chị có nhiều thời giờ hơn để chăm chút cho các dĩa CD của chị?

Hương Lan: Các CD thì cũng giống như hàng năm, bây giờ không bán nhiều nữa, mà chỉ bán khi đi show cho các khán giả ủng hộ. Thường thường là làm hai năm một cuốn. Trong năm qua thì tê liệt hết, không có hát show, nhưng mình vẫn thực hiện CD, để mà mai mốt mình sẽ phát hành cái mới, và cũng để bớt đi phần nào sự trống vắng khi nằm buồn ở nhà.

Riêng Hương Lan thì có một hạnh phúc khác: trong thời gian không đi hát, cô con dâu lại mới sinh một đứa cháu gái, bây giờ đã được 9 tháng, cho nên cũng bận rộn với cháu, giữ cháu từ lúc mới sinh. Cũng rất là vui, vì có nhiều thời giờ hơn cho cháu.

RFI: Chị có tham gia chương trình Music Box của Trung tâm Thúy Nga, nhưng trong điều kiện hiện nay, việc tập hợp các ca sĩ, nhạc sĩ để tập với nhau có bị trở ngại nhiều hay không, vì chúng ta phải tuân thủ giản cách xã hội, cũng như đeo khẩu trang?

Hương Lan: Khẩu trang thì ở đâu mình cũng phải đeo hết. Tất cả nhạc sĩ, ca sĩ khi vào phòng quay ( phòng quay nhỏ lắm ), đều phải có giấy chứng nhận mình có kết quả xét nghiệm không bị bệnh gì hết, mà thời gian thâu cũng chỉ hơn một tiếng thôi. Thành ra cũng OK lắm.

Dĩ nhiên là Hương Lan cũng mong cơn dịch này qua mau, để mình được về gặp khán giả, nhưng hiện tại vẫn chưa tính được và cũng chưa nhận lời. Ở Việt Nam họ vẫn hoạt động, mới bị cấm gần đây thôi. Cách đây vài tháng cũng có chương trình mời mình về hát, nhưng mình nghĩ là, thứ nhất, về cũng không thoải mái, cứ lo sợ, mà mình thì chưa được chích ngừa, thứ hai là về tới Việt Nam lại bị hai tuần cách ly, xong rồi trở sang đây lại bị cách ly 2 tuần, tổng cộng là đúng một tháng! Mình thấy vô lý quá, nên không tính đến chuyện về Việt Nam. Ngay cả trong năm 2021 này cũng chưa có định về. Có thể thoải mái hơn là về vào năm 2022.

RFI: Trong thời gian qua, chị Hương Lan có tiếp xúc, liên lạc thường xuyên với các đồng nghiệp bên Hoa Kỳ, trong điều kiện dịch bệnh hiện nay?

Hương Lan: Trong thời gian dịch bệnh này thì các ca sĩ của Trung tâm Thúy Nga cũng ít có dịp gặp nhau, mà chỉ gặp nhau trong chương trình Music Box. Mình hát với người nào, thì chỉ có mình với người đó thôi, vì chương trình Music Box chỉ có 2 hoặc là 3 ca sĩ, chứ không đông mấy chục người. Mới đây Thúy Nga có quay chương trình PBN 131 Xuân Hy Vọng. Khi quay thì một người vào hát xong, đi ra, thì người khác mới vào, cho nên có một sự xa cách lắm, không được gần nhau. Mình phải giữ khoảng cách cho đúng, để giữ sức khỏe cho nhau.

RFI: Thời gian dịch bệnh là thời gian mọi chuyện đều dừng lại, có thể đây là thời gian để chị Hương Lan nhìn lại những chặng đường đã qua. Chị là một nghệ sĩ đã có một hành trình rất dài, những điều gì chị cảm thấy đã thỏa mãn và những điều gì chị thấy cần làm thêm nữa khi đại dịch chấm dứt?

Hương Lan: Nếu nói về lãnh vực sân khấu thì mình muốn nhiều lắm, mà làm chưa bao giờ thấy hết, mình vẫn phải cố gắng để làm sao lần tới sẽ hay hơn. Chưa bao giờ mình cảm thấy hài lòng về những gì mình làm trong những năm tháng qua. Tuy nhiên mình cũng cám ơn khán giả là nhờ có sự thương yêu của khán giả mình mới kéo dài được cho tới hôm nay.

RFI: Bây giờ nếu dịch bệnh chấm hết, ngoài việc trở lại Việt Nam, chị Hương Lan có dự án nào mới, những chương trình đặc biệt?

Hương Lan: Thật sự thì một năm rồi làm mình ngưng đọng hết, chưa muốn làm gì hết, tại vì nếu có tính toán gì thì chưa biết lúc nào thực hiện được. Cái bệnh này đúng là làm cả thế giới tê liệt. Cái ngành entertainment ( giải trí ), ngành sân khấu sân khấu coi như đã ngưng hẳn luôn, tại vì không cho đám đông thì làm sao ai đi coi hát được. Đó là điều rất là buồn. Ở bên đây, không có tiền vô, nhưng chính phủ cũng cho tiền trợ cấp thất nghiệp, mình sống eo hẹp một chút nhưng vẫn OK. Nhưng về tinh thần thì buồn lắm, mình nhớ khán giả, mình nhớ sân khấu. Chương trình Music Box của Thúy Nga cũng đỡ phần nào cho khán giả, có chương trình xem để đở nhớ ca sĩ, chứ còn ca sĩ vẫn chưa thỏa mãn nỗi nhớ khán giả.

RFI: Qua chương trình Music Box, chị đã nhận được những phản hồi gì từ phía khán giả? Họ có suy nghĩ gì khi thấy Hương Lan xuất hiện trở lại trên sân khấu, mặc dù là qua mạng xã hội

Hương Lan: Music Box thì có một cái là nó không giống như một sân khấu lớn và đẹp, mà là trong phạm vi nhỏ hẹp. Ca sĩ thì phải hát "live", chứ không phải thâu trước và hát "lip-sync" ( hát nhép) như trong các chương trình lớn. Nhiều khán giả rất là thích, tại vì họ thấy rất gần gũi, chứ còn trên sân khấu, tuy nhìn rất đẹp nhưng phải nhìn từ xa, vì đâu có nhiều người ngồi gần.

Ngoài ra, Music Box còn có những chương trình rất đặc biệt, ví dụ như chương trình chủ đề nhạc Lam Phương, chủ đề nhạc Nhật Ngân. Nói chung đó là những chương trình ngắn gọn. Chương trình Lam Phương thì chỉ có một mình Hương Lan hát mười mấy, hai chục bài, rồi chương trình Nhật Ngân thì có thêm Ngọc Ngữ và Băng Tâm. Còn chương trình Mẹ thì có Hương Lan và Ý Lan.

Đó là những chương trình đặc biệt, có lẽ khán giả thích hơn, tại vì mình được hát nhiều, chứ không phải như những chương trình lớn, mình chỉ hát một bài, có khi song ca, thì coi như chỉ hát nữa bài. Mình rất thích những chương trình này, mặc dù hát rất là mệt, vì một mình hát mười mấy bài, nhưng là hát live, cho nên mình có cái cảm hứng khác và mình nghĩ là những khán giả yêu mến mình cũng thích vì được nghe mình hát nhiều.

RFI: Hiện nay thì mình bắt buộc phải trải nghiệm hình thức âm nhạc on line, nhưng trong tương lai biết đâu chị có thể duy trì hình thức âm nhạc đó, mới hơn và độc đáo hơn, một cách tương đối thường xuyên, ngoài việc xuất hiện trên sân khấu thật?

Hương Lan: Hương Lan cũng nghĩ đó là một cái rất hay. Khi làm tiếp tục các chương trình Youtube Official, Hương Lan có lẽ sẽ làm về các tác phẩm của những nhạc sĩ nổi tiếng và hát một mình cho những khán giả riêng của mình thưởng thức.

RFI: Cơn đại dịch này đã cướp đi sinh mạng của nhiều tên tuổi trong giới âm nhạc Việt Nam, mà gần đây nhất là nữ ca sĩ Lệ Thu. Khi nghe những tin như vậy, tâm trạng của chị như thế nào?

Hương Lan: Rất là buồn, bởi vì Hương Lan và chị Lệ Thu rất là thân. Hai chị em đã có nhiều dịp đi hát chung với nhau, nhất là ở nước ngoài. Mình thấy buồn, nhưng làm sao bây giờ? Đó là số mạng. Căn bệnh này một phần là rất nguy hiểm, nhưng một phần cũng có tiền bệnh của những người lớn tuổi, nên nó dễ lấy mạng sống của người ta hơn.

Chị Lệ Thu cũng đã đến nhà này để ăn bún mắm một lần rồi. Chị thích lắm và có dặn: "Khi nào mà em làm nữa thì nhớ gọi chị nhe". Mình cũng dự tính là sau mùa bầu cử này mình sẽ rủ lại nhà ăn uống. Mình có gọi nhưng lúc ấy chị đã bệnh, không gặp nhau được nữa.

RFI: Chị Hương Lan còn giữ những kỷ niệm nào đáng nhớ nhất về Lệ Thu?

Hương Lan: Đối với Hương Lan, Lệ Thu là người đàn chị rất dễ thương. Tính tình của chị rất thẳng thắn, nhẹ nhàng, thoải mái lắm, không để ý chuyện lặt vặt, lúc nào cũng coi mình như em út trong nhà, lúc nào cũng hỏi chuyện, vui lắm. Nói chung là giữa chị Hương Lan với Lệ Thu có một tình cảm rất đặc biệt. Hầu như những ca sĩ trẻ biết chị Lệ Thu thì ai cũng mến hết. Chị là người rất vui và sống rất thật tình.

RFI: Cám ơn ca sĩ Hương Lan đã dành cho RFI cuộc phỏng vấn này và nhân đây cũng xin chúc chị cùng gia đình nhiều sức khỏe và may mắn trong năm mới.

Hương Lan: Cũng nhân dịp năm mới Hương Lan xin kính chúc quý vị bình an, sức khỏe và gia đình hạnh phúc. Hương Lan xin gởi lời chào đến tất cả các quý vị thân thương. Hương Lan cũng hy vọng sẽ được trở lại sân khấu, để gặp lại quý vị, hát cho quý vị nghe trong một ngày rất gần.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1520 Posted : Thursday, February 18, 2021 8:49:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,000

Thanks: 6939 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Covid-19 : Disney đành đóng cửa hãng phim Blue Sky

Tuấn Thảo - RFI - 18/02/2021
Nổi tiếng trên thế giới nhờ hai bộ phim hoạt hình ăn khách là Kỷ băng hà "Ice Age" và Chú vẹt đuôi dài "Rio", hãng phim Blue Sky tưởng chừng có đủ sức chịu đựng mọi cú sốc kinh tế. Nhưng dịch Covid-19 đã không chừa một ai, cá nhân hay doanh nghiệp. Rốt cuộc, công ty chuyên sản xuất phim hoạt hình Blue Sky bị đóng cửa luôn, theo quyết định của tập đoàn Disney.

Ban giám đốc điều hành Disney đã xác nhận thông tin này hồi trung tuần tháng 02/2021 từ mạng Deadline, một trang tin tức chuyên về ngành điện ảnh sân khấu Hollywood. Ra đời vào năm 1987 (trong số các gương mặt sáng lập nổi tiếng, có chuyên gia phần mềm Michael Ferraro và đạo diễn Chris Wedge), Blue Sky trở thành một chi nhánh khá quan trọng của hãng phim 21st Century Fox. Vào năm 2019, tập đoàn Disney đã chi hơn 71 tỷ đô la để mua lại hãng phim Fox, vốn nắm giữ nhiều thương hiệu có khả năng hái ra bạc tỷ đô la.

Thương vụ với giá trị khổng lồ này đã giúp cho Disney mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, giành lấy quyền khai thác tất cả các dòng sản phẩm có liên quan đến thế giới hình ảnh của Avatar, Star Wars, Deadpool, Mật vụ Kingsman, Dị nhân X-Men, Bộ tứ siêu đẳng Fantastic Four, Quái vật không gian Alien, Quái thú vô hình Predator, Hành tinh khỉ Planet of the Apes .... còn trong thể loại phim hoạt hình, kể từ năm 2019, Disney nắm luôn quyền kiểm soát các sản phẩm do Blue Sky (chi nhánh của Fox) sản xuất.

Disney nắm giữ các thương hiệu của Blue Sky

Vấn đề ở đây là dịch Covid-19 đã gây nhiều thiệt hại đáng kể cho tập đoàn này. Mảng doanh nghiệp khai thác các công viên giải trí Disneyland ban đầu dự trù cắt giảm 5.000 việc làm, rốt cuộc phải sa thải đến 32.000 nhân viên trong vòng một năm tính đến tháng Giêng 2021. Cú sốc kinh tế cũng lan rộng sang các mảng dịch vụ cũng như khâu sản xuất phim ảnh, cho thấy tác hại khốc liệt của dịch Covid-19 lên mọi lãnh vực. Khi mua lại hãng phim 21th Century Fox, tập đoàn Disney đã có nhiều kế hoạch để tái khởi động (reboot) các thương hiệu của Fox, nhưng rốt cuộc nhiều dự án buộc phải đóng băng trong khi một số khác đành bị hủy bỏ. Đứng trước các thiệt hại khổng lồ về mặt doanh thu, tập đoàn Disney lấy quyết định "giải thể" hãng phim hoạt hình Blue Sky, hơn 450 nhân viên công ty này bị mất việc làm.

Theo ban giám đốc điều hành, Disney không còn đủ khả năng để duy trì 3 xưởng phim hoạt hình (Disney Classic, Pixar và Blue Sky) trong cùng một thực thể, trong khi hàng loạt các rạp chiếu phim, các công viên giải trí, các sân khấu biểu diễn tại Hoa Kỳ đều lần lượt ngưng hoạt động. Trước mắt, Disney tập trung vào việc phát triển các dự án Pixar, quan trọng hơn nữa là tìm kênh phân phối cho các sản phẩm "tại gia" do chính mình sản xuất. Tuy vậy, bộ phim hoạt hình "Soul" của đạo diễn Pete Docter đã không thành công như mong đợi khi được phát hành trực tuyến trên mạng Disney+.

Những thành tích ngoạn mục nhất của Blue Sky

Nhìn lại, trong vòng gần 25 năm hoạt động, Blue Sky đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc phát triển hoạt hình và đồ họa qua máy tính CGI. Vào năm 1998, bộ phim ngắn "Bunny" của nhà sáng lập kiêm đạo diễn Chris Wedge đã đoạt giải Oscar. Tuy là phim ngắn, nhưng Blue Sky đã thành công trong việc thực hiện phim hoạt hình "trông y như thật". Những hình ảnh vẽ bằng máy tính nhưng lại phản ánh trọn vẹn và đầy đủ các hiệu ứng như thủy tinh trong suốt, lông thú mềm mại, ánh sáng lấp lánh phản chiếu trên kim loại ..... những "hiệu ứng" hình ảnh mà thời bấy giờ, chưa ai có đủ khả năng thực hiện được.

Thành tích ấy chính là hướng nghiên cứu tìm tòi mà hãng phim Blue Sky đeo đuổi trong vòng nhiều năm liền. Trên số 13 bộ phim hoạt hình mà công ty này sản xuất, có tới 9 tác phẩm ăn khách, quan trọng nhất vẫn là 5 bộ phim chiếu rạp "Ice Age" (Kỷ băng hà) đem về cho Blue Sky gần 3,5 tỷ đô la doanh thu (từ năm 2002 đến năm 2016). Loạt phim này đã cho ra đời một trong những nhân vật khôi hài nhất của làng phim hoạt hình trên thế giới trong những năm gần đây : chú sóc Scrat bằng mọi cách đi tìm lại chiếc hạt dẻ bị đánh rơi.

Hai bộ phim "Ice Age" ăn khách nhất vẫn là tập 3 "Khủng long thức giấc" và tập 4 "Lục địa trôi dạt". Mỗi tập đem về gần 900 triệu đô la toàn cầu. Bên cạnh đó, còn có hai tập phim "Rio" (từ năm 2011 đến năm 2014) kể lại chuyến phiêu lưu của chú vẹt màu xanh đuôi dài trên xứ sở Brazil, thương hiệu này cũng đã đem về hơn một tỷ đô la doanh thu.

Disney đành hy sinh lớp "tân binh"

Sự thành công đó chủ yếu cũng vì phim hoạt hình của Blue Sky khá tiên phong mà vẫn đậm nét dí dõm khôi hài, hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật, còn nội dung ngụ ngôn lại giàu tính nhân văn. Cho dù kể từ năm 2017 trở đi, Blue Sky không còn thành công rực rỡ như trước, nhưng hãng phim này vẫn còn nhiều dự án đang ươm mầm, tác phẩm được thai ngén.

Tuy là một trong những xưởng phim hoạt hình CGI tiên phong trong thời kỳ đầu và nhờ vậy mà sánh vai với các đối thủ nặng ký như Dream Works, Disney hay Pixar, thế nhưng Blue Sky lại bị hy sinh vì là lớp "tân binh". Một khi được sát nhập vào Disney, đội ngũ của Blue Sky vẫn thuộc vào hàng lính mới. Giới chuyên ngành đã từng lo ngại rằng Blue Sky sẽ bị "nhấn chìm" trong dải ngân hà Disney. Bản thân tập đoàn này khi chi hơn 71 tỷ đô la để mua lại hãng phim Fox cũng không ngờ rằng chưa đầy 2 năm sau, toàn bộ guồng máy điện ảnh bị tê liệt trước đà lây lan, bùng phát của dịch Covid-19.

Tuy Blue Sky vĩnh viễn ngưng hoạt động, nhưng điều đó không có nghĩa là Disney ngưng trục lợi từ các thương hiệu ăn khách trước kia. Disney đã bắt đầu lên kế hoạch sản xuất một loạt dự án khai thác cả hai tuyến ngoại truyện và hậu truyện về "Ice Age". Điều trớ trêu nhất là dự án này sẽ không có sự tham gia của 450 nhân viên Blue Sky, nguyên là đội ngũ khai sinh trên màn ảnh lớn các nhân vật dễ thương kỳ lạ trong các chuyến mạo hiểm phiêu lưu xuyên suốt "Kỷ băng hà".


Users browsing this topic
Guest (3)
78 Pages«<7475767778>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.