Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

56 Pages«<5253545556>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1061 Posted : Wednesday, November 6, 2019 12:04:08 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1062 Posted : Thursday, November 7, 2019 12:25:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1063 Posted : Thursday, November 7, 2019 12:38:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)

Berlin, 30 năm một cuộc cách mạng hòa bình

Thanh Hà - RFI - ngày 06-11-2019
Kể từ ngày 04/11/2019 đến 10/11/2019, tại Berlin diễn ra hàng chục sinh hoạt, lễ hội đánh dấu 30 năm ngày một thành phố, một đất nước và cả thế giới không còn bị ngăn đôi. Đỉnh điểm mùa lễ hội năm nay là buổi hòa nhạc đêm mồng 9/11 tại Cổng Thành Brandenburger, biểu tượng Tự Do của một thành phố từng bị chia đôi.

Cũng tại cồng thành nổi tiếng này, hai sự kiện đã diễn ra từ đầu tuần : Nổi bật nhất là một tấm thảm khổng lồ với muôn vàn tâm tình của người dân Đức phất phới bay trong gió trên con lộ 17 Tháng Sáu. Tấm thảm nhiều mầu ấy được nghệ sĩ người Mỹ, Patrick Shearn “dệt” bằng 100.000 mảnh vải mỏng, với 30.000 lời nhắn nhủ, tâm sự và ước mơ hòa bình và hạnh phúc của những con người từng sống trên một đất nước bị chia cắt. Tác phẩm nghệ thuật thứ nhì được trưng bày ngay ở địa điểm then chốt này của thủ đô Berlin là một tác phẩm xếp đặt nghệ thuật mang nhan đề “Bức tường chính kiến” mà ở đó các tác giả đã nêu bật vết hằn từ sự phân chia trong xã hội do những bức tường gây nên, cách xoa dịu những viết thương đó …

Về nghệ thuật sân khấu, nhà hát Deutsch Theater cho diễn một loạt các vở kịch, tổ chức nhiều buổi nói chuyện về “cuộc cách mạng hòa bình” của 30 năm về trước. Deutsch Theater từng là điểm hẹn của giới nghệ sĩ, trí thức Đông Berlin hội họp để bàn về chiến lược đấu tranh vì tự do, dẫn tới sự sụp đổ của Bức Tường 30 năm trước. Còn tại quảng trường mang tên Đại Đế Alexandre I của Nga, tối mồng 04/11/2019 đoàn kịch PKRK đã kết hợp thể loại kịch và múa để hồi tưởng lại đúng giờ này 30 năm trước, hàng trăm ngàn người dân Đông Berlin đã tràn ngập quảng trường Alexanderplatz để tự định đoạt lấy tương lai nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Quảng trường này năm xưa, tại một quốc gia Cộng Sản độc tài, người dân Đông Berlin đã hô to khẩu hiệu “Chúng Tôi Là Nhân Dân” đòi tự do và dân chủ. Gần khu vực East Side Gallery, nơi còn lại một “mẩu” của bức tường thành có chiều dài 155 km, cao 3,5 mét từng phong tỏa Tây Berlin trong lòng một đất nước Đông Đức Xã Hội Chủ Nghĩa, suốt từ tháng 6/1961 đến cái đêm định mệnh 09/11/1989 dọc theo bờ kè dòng sông Spree là hàng loạt các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật khác : nào là các buổi hòa nhạc, chiếu phim, rọi đèn nghệ thuật hay những vở kịch ngắn về hai bộ mặt của cùng một thành phố. Ở bên phía Tây bức tường, là cảnh người người ăn chơi nhảy múa, ở phía Đông là những con người lam lũ … Đến đêm mồng 9 tháng 11, thị trưởng Berlin, tổng thống Đức sẽ cùng có bài phát biểu trước buổi hòa nhạc khổng lồ mừng 30 một Cuộc Cách Mạng diễn ra trong Hòa Bình.

Du khách quốc tế, nhất là từ Áo và Hungary và cả những người dân Đức ở các thành phố khác đang tề tựu về Berlin. Nhiều khách sạn chung quanh khu trung tâm lịch sử đã kín phòng.


PS.

Bức tường sụp đổ : Berlin sơ lược lại quá khứ trong nguyên một tuần lễ này

video

https://fr.news.yahoo.co...lin-revit-145406724.html
hongvulannhi  
#1064 Posted : Thursday, November 7, 2019 9:32:43 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,347

Thanks: 2460 times
Was thanked: 5299 time(s) in 3550 post(s)
Bài Thơ Lục bát Tuyệt Vời


Dưới đây là một bài thơ trường thiên trên hai trăm câu viết theo thể lục bát, không rõ tác giả, kết hợp những đầu đề của các bài hát rất tuyệt vời như những câu ca dao mượt mà trong văn học dân gian nước ta hoặc như những câu thơ bất hủ trong Truyện Kiều của Thi Hào Nguyễn Du.

Thân ái mời các Bạn thưởng thức.



Quê em BIỂN MẶN dừa xanh
Sóng tình HOA BIỂN dổ dành người thương
KIẾP NGHÈO một nắng hai sương
LỐI VỀ XÓM NHỎ cuối đường cầu tre

Đượm nồng TÌNH THẮM DUYÊN QUÊ
Rung rinh GÁNH LÚA hẹn thề đêm trăng
NƯƠNG CHIỀU khói toả lều tranh
Vài con BƯỚM TRẮNG lượn quanh liếp cà

HƯƠNG THẦM còn mãi TÌNH XA
BUỒN VƯƠNG MÀU ÁO còn ra nổi này
CON THUYỀN KHÔNG BẾN có hay
THU SẦU, CHIỀU TÍM tháng ngày đơn côi

TRĂNG MỜ BÊN SUỐI ngàn đời
Sao MÙA THU CHẾT còn rơi rớt nhiều
ĐÈN KHUYA một bóng cô liêu
MÙA THU CÒN ĐÓ tình yêu ngỡ ngàng

ĐÒ CHIỀU chưa tiễn người sang
NỔI LÒNG sao biết THIÊN ĐÀNG ÁI ÂN
TRÚC ĐÀO rụng khắp đầy sân
DUYÊN QUÊ mong gặp một lần cho vơi

NỔI BUỒN HOA PHƯỢNG trong đời
DẤU CHÂN KỶ NIỆM một thời học sinh
Và TRANG NHẬT KÝ riêng mình
Làm sao có được chuyện TÌNH THIÊN THU

CÔ ĐƠN nhìn GIỌT MƯA THU
Nghe như TUYẾT LẠNH âm u sao đành
Lật từng LƯU BÚT NGÀY XANH
Thấy như LỆ ĐÁ vây quanh NỖI NIỀM

SẦU ĐÔNG chẳng phải của riêng
BÓNG CHIỀU TÀ nhạt, PHỐ ĐÊM hững hờ
ĐÒ CHIỀU chở mấy LÁ THƠ
KHUNG TRỜI TUỔI MỘNG, TÌNH BƠ VƠ sầu

Ôi NHỮNG ĐÓM MẮT HỎA CHÂU
NỦA ĐÊM NGOÀI PHỐ nhuốm màu thê lương
MONG NGƯỜI CHIẾN SĨ sa trường
Vào trong CÁT BỤI gíó sương không sờn

Để ai GIẤC NGỦ CÔ ĐƠN
NGƯỜI ĐẸP YÊU DẤU, DỖI HỜN phòng the
Từng đêm TRĂNG SÁNG VƯỜN CHÈ
TRĂNG MỜ BÊN SUỐI nghe se sắt lòng

CÔ ĐƠN, TÌNH NHỚ, phòng KHÔNG
NGHÌN TRÙNG XA CÁCH nhớ mong ngập trời
NẮNG CHIỀU giăng sợi đơn côi
GIỌT MƯA TRÊN LÁ khóc đời hợp tan

Bao giờ em bước SANG NGANG
GIỌT LỆ SẦU khóc CHIỀU HOANG VẮNG người
GA CHIỀU, NHƯ GIỌT SẦU RƠI,
TẦU ĐÊM NĂM CŨ biết NGƯỜI VỂ đâu

XÓM ĐÊM, TRĂNG RỤNG XUỐNG CẦU
TÌNH BUỒN biến SẮC HOA MÀU NHỚ thương
Cho em ĐÔI BÓNG bên đường
Chung HAI LỐI MỘNG một phương trời hồng

Sá gì ẢO ẢNH, ĐÊM ĐÔNG
NỔI BUỒN GÁC TRỌ chờ mong ngày về
NGĂN CÁCH, MẤY DẬM SƠN KHÊ
ĐƯỜNG XƯA LỐI CỦ trăng thề còn đây

Tình yêu CHIẾC LÁ THU PHAI
LÂU ĐÀI TÌNH ÁI không xây một mình
Từ ngày XẾP ÁO THƯ SINH
ANH ĐI CHIẾN DỊCH đăng trình nặng vai

NGẬM NGÙI cửa đóng then gài
NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH không phai má đào
Lỡ khi BIẾT TRẢ LỜI SAO
TÌNH CHÀNG Ý THIÊP ai sầu hơn ai

Đượm nồng TIẾNG SÁO THIÊN THAI
KHÔNG BAO GIỜ CÁCH NGĂN hai mai đầu
Một lòng ĐỪNG NÓI XA NHAU
NGƯỜI YÊU LÝ TƯỞNG trọn câu vẹn thề

Rồi MỘT MAI QUA CƠN MÊ
HAI VÌ SAO LẠC đi về BẾN MƠ
VẮNG XA vẫn mãi ĐỢI CHỜ
Để em viết tiếp BÀI THƠ CUỐI CÙNG

Có ai THƯONG VỀ MIỀN TRUNG
QUÊ NGHÈO sỏi đá khốn cùng điêu linh
Lòng như KHÚC HÁT ÂN TÌNH
Trãi dài QUÊ MẸ nắng bình minh vui

MƯA TRÊN PHỐ HUẾ sụt sùi
CHO NGƯỜI TÌNH LỠ bùi ngùi vấn vương
VỀ ĐÂU MÁI TÓC NGƯỜI THƯƠNG
NƯẢ ĐÊM NGOÀI PHỐ lòng TƯƠNG TƯ sầu

Dẫu rằng HAI ĐỨA GIẬN NHAU
Vẫn không như thể QUA CẦU GIÓ BAY
Một lần TỪ GIÃ THƠ NGÂY
Là em NHƯ CÁNH VẠC BAY mất rồi

Dẫu cho CAY ĐẮNG, TÌNH ĐỜI
NGƯỜI EM SẦU MỘNG tuyệt vời yêu anh
Ân tình GẠO TRẮNG TRĂNG THANH
Làm sao NƯỚC MẮT LONG LANH cạn dòng

Bây giờ TRÊN ĐỈNH MÙA ĐÔNG
NGƯỜI EM XÓM ĐẠO chỉ mong một điều
Thương em HÃYNHỚ NHAU NHIỀU
Hãy xin LÝ LUẬN TÌNH YÊU thế nào

Cũng xin đừng VẪY TAY CHÀO
TÌNH YÊU TRẢ LẠI TRĂNG SAO thật buồn
MỘT LẦN DANG DỞ đau thương
THA LA XÓM ĐẠO thánh đường bơ vơ

Hằng đêm QUÁN NHỎ ĐỢI CHỜ
Ôm SẦU LẼ BÓNG vần thơ bẽ bàng
Còn đâu HOA SỨ NHÀ NÀNG
Gặp em trở lại CÔ HÀNG XÓM xưa

Còn đâu HUYỀN THOẠI CHIỀU MƯA
NHỮNG NGÀY THƠ MỘNG đón đưa hẹn thề
Em SAO KHÔNG THẤY ANH VỀ
MIỀN TRUNG THƯƠNG NHỚ tái tê lạnh nhiều

ĐÊM TÀN BẾN NGỰ cô liêu
AI RA XỨ HUẾ hắt hiu tháng ngày
Ôi chao THÀNH PHỐ MƯA BAY
KHÓC NGƯỜI TRINH NỬ đắng cay tình đời

HAI PHƯƠNG TRỜI CÁCH BIỆT rồi,
NGẬM NGÙI cắn chặt bờ MÔI TÍM màu
BAO GIỜ TA GẶP LẠI NHAU
NỔI BUỒN HOA PHƯỢNG giọt sầu ly tan

Anh XIN TRẢ LẠI THỜI GIAN
ĐƯA EM VÀO HẠ thênh thang vùng trời
THÔI thì ANH BIẾT EM ƠI
DƯ ÂM ngày MỘNG SẦU đời khó quên

CĂN NHÀ MÀU TÍM êm đềm
MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ làm nên CHUYỆN TÌNH
NÉT BUỒN THỜI CHIẾN điêu linh
Ráng đi em CHUYỆN CHÚNG MÌNH qua mau

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN địa đầu
Trao em ÁO ĐẸP NÀNG DÂU mai này
CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI có hay
ĐÊM BUỒN TỈNH LẺ tháng ngày héo hon

TÌNH YÊU CÁCH BIỆT mõi mòn
SAO ANH LỖI HẸN em còn đơn côi
Ngày MAI ANH ĐI XA RỒI
ĐÒ TÌNH LỠ CHUYẾN bờ môi nhạt nhoà

TÀU ĐÊM NĂM CỦ mấy toa
BIỆT LY như CHUYỆN TÌNH HOA TRẮNG tàn
NỔI LÒNG mang tận quan san
Là như vai nặng HÀNH TRANG GIÃ TỪ

Phương này VẦNG TRÁN SUY TƯ
Xem như PHÚT CUỐI, TẠ TỪ TRONG ĐÊM
Mà SAO EM NỞ ĐÀNH QUÊN
RỪNG CHƯA THAY LÁ, GỌI TÊN BỐN MÙA

Tiền đồn THÁNG SÁU TRỜI MƯA
Trọn tình thương nhớ CHO VỪA LÒNG EM
Trở về MỘT CHUYẾN BAY ĐÊM
VÙNG TRỜI NGÀY ĐÓ càng thêm mặn nồng

TẠ ƠN, TRĂNG SÁNG ĐỒI THÔNG
CƠN MÊ TÌNH ÁI phiêu bồng LÃNG DU
Ngõ hồn lạc lối VƯỜN THU
MỘT ĐÊM KHÔNG NGỦ ngục tù con tim

Ngày mai anh BIẾT ĐĂU TÌM
LINH HỒN TƯỢNG ĐÁ im lìm bơ vơ
Đắm chìm BIẾT ĐẾN BAO GIỜ
CHUYỆN NGƯỜI ĐAN ÁO đợi chờ đêm đông

Xin em ĐỪNG TRÁCH DIÊU BÔNG
BUỒN VƯƠNG MÀU ÁO má hồng chưa phai
Sao em NHƯ TIẾNG THỞ DÀI
NGHẸN NGÀO đắng GIỌT LỆ ĐÀI TRANG tuôn

Để cho TỪ ĐÓ EM BUỒN
NẾU MAI ANH CHẾT chim muôn gọi đàn
TÌNH YÊU VỖ CÁNH băng ngang
GA CHIỀU PHỐ NHỎ đèn vàng xót xa

TÌNH NGHÈO mang KIẾP CẦM CA
ĐIỆU RU NƯỚC MẮT phòng trà từng đêm
THỀM TRĂNG còn đọng môi mềm
GIỌNG CA DĨ VÃNG buồn thêm nản lòng

Cho em BẢY NGÀY ĐỢI MONG
SAO ANH KHÔNG ĐẾN phòng không cuối tuần
Anh còn VỌNG GÁC ĐÊM SƯƠNG
CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI còn vương giặc thù

BỐN VÙNG CHIẾN THUẬT mật khu
Bên RỪNG LÁ THẤP sương mù giăng giăng
Trên đồi HOA TÍM BẰNG LĂNG
NHỚ MẦU HOA TÍM đêm trăng thuở náo

Chuyện tình HÒ HẸN trăng sao
PHÚT ĐẰU TIÊN ắy nghe xao xuyến lòng
LẶNG THẦM, HOA RỤNG VEN SÔNG
Ngập ngừng GỎ CỬA hằng mong trao nàng

KỂ TỪ ĐÊM ĐÓ thênh thang
ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC vai mang chử tình
Đếm từng sợi NẮNG THỦY TINH
TÌNH XA em mãi NHỚ MÌNH ANH THÔI

Đường tình NHẬT KÝ ĐỜI TÔI
THUYỀN MƠ, CHUYỂN BẾN nhẹ trôi im lìm
CHIỀU trên NHỮNG ĐỒI HOA SIM
TÌNH THƯ CỦA LÍNH gởi niềm riêng em

Có loài HOA NỞ VỀ ĐÊM
Một loài HOA TRẮNG mang tên là quỳnh
Gót chân NGƯỜI LÍNH CHUNG TÌNH
BẠC MÀU ÁO TRẬN vẫn tình không phai

CHỜ ANH TRỞ LẠI ngày mai
ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ sánh vai TÌNH HỒNG
Bây giờ em THẤY GÌ KHÔNG
Làm sao em biết NỔI LÒNG NGƯỜI ĐI

Bây chừ ĐÔI NGÃ CHIA LY
Cho NGƯỜI Ở LẠI CHARLY nghìn trùng
Đường chiều phủ kín MƯA RỪNG
SAO EM KHÔNG ĐẾN trời rưng rưng sầu

Cạn nguồn GIÒNG LỆ THƯƠNG ĐAU
Thương HÀN MẠC TỬ sớm mau lìa trần
PHÙ DU kiếp sống chinh nhân
ĐOÀN NGƯỜI LỮ THỨ, BƯỚC CHÂN ÂM THẦM

Và SAO CHƯA THẤY HỒI ÂM
Của người TÌNH LỞ TRĂM NĂM đợi chờ
Dẫu rằng TÌNH LÀ SỢI TƠ
DẤU TÌNH SẦU vẫn BƠ VƠ cuối tuần

Phương này PHIÊN GÁC ĐÊM XUÂN
BUỒN VUI ĐỜI LÍNH trầm luân tháng ngày
chiều nào TỪ GIÃ THƠ NGÂY
AI XUÔI VẠN LÝ vui vầy nước non

LỜI THỀ SÔNG NÚI vẫn còn
TÌNH ANH LÍNH CHIẾN chưa sờn chí trai
TÌNH ANH BIỂN RỘNG sông dài
DẤU CHÂN KỶ NIỆM, THƯƠNG HOÀI NGÀN NĂM

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 11/8/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1065 Posted : Friday, November 8, 2019 1:32:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1066 Posted : Friday, November 8, 2019 1:41:52 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)

Lê Văn Khoa, người hòa nhạc Việt Nam vào dòng nhạc thế giới

Hà Vũ - VOA - 08/11/2019

UserPostedImage

Sinh tại Cần Thơ năm 1933 trong một gia đình Tin lành thuộc Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, nhạc sĩ Lê Văn Khoa có khiếu âm nhạc từ nhỏ. Theo lời ông kể, ông tự học nhạc từ một cuốn sách nhạc bằng tiếng Pháp lượm được ngoài đường vào năm 14, 15 tuổi. Nhà không có đàn piano, ông đàn tưởng tượng bằng cách gõ tay lên mặt bàn như đang gõ phím đàn. Vậy mà ông đã khiến một giáo sĩ Mỹ tại nhà thờ Cơ Đốc Phục Lâm ở Sài Gòn ngạc nhiên vì có thể cùng bà đàn một bản nhạc. Ngoài ra, ông còn đưa cho bà xem một bản nhạc do chính ông sáng tác.

“Cái lạ này là cái mà có thể tui có năng khiếu âm nhạc từ trước, cho nên hồi tui học lớp nhì, tui được trường chỉ định lên dạy lớp nhất học hát để đi thi tiểu học. Hát thì mình hát đúng nốt, nhịp nhàng nhưng đâu có biết nhạc, biết hát là cùng,” nhạc sĩ Lê Văn Khoa thuật lại.

Nhà nghèo, lương mục sư của cụ thân sinh không bao nhiêu, bị ảnh hưởng bởi thời cuộc như biểu tình, bãi khóa.. nên nhạc sĩ Lê Văn Khoa bỏ học sớm, đi làm việc cho Giáo hội và theo học một trường thần học nhỏ ở Phú Nhuận.

Ngoài những lớp đàn hát trong trường thần học, hầu hết những hiểu biết về âm nhạc của ông đều do tự học. Sách vở do một giáo sĩ người Mỹ gởi mua từ Mỹ. Tuy nhiên, nhờ năng khiếu và tinh thần hiếu học nên những nhạc phẩm đầu tay của ông đã chiếm được giải thưởng toàn quốc.

“Năm 1953 tui trúng giải thưởng sáng tác nhạc. Hồi đó thi phải gởi ra Hà Nội vì chưa phân chia đất nước,” ông chia sẻ. “Rồi 1955 chia đất nước rồi, trong Sài Gòn có cuộc thi nữa, tui tham dự nữa trúng giải luôn. Trước đó tui có đàn cho đài phát thanh Pháp Á, đài phát thanh quốc gia.”

Ông cho biết bắt đầu chuyển từ sáng tác ca khúc sang viết nhạc hợp ca vì nhận thấy nhạc Việt Nam rất yếu về lĩnh vực đại hợp ca-hòa tấu và ông trở thành người duy nhất cộng tác với đài truyền hình Việt Nam thời bấy giờ trong chương trình đại hợp ca-hòa tấu mang tên ‘Tiếng nhạc trầm tư’:

“Mỗi lần tui làm chương trình, anh em trên đài truyền hình họ buồn lắm. Họ cứ nói tui hoài, tại sao cứ chọn đường khó đi, không làm như mấy người khác cho dễ. Nhưng rồi tui nghĩ đã có rồi bây giờ mình làm thêm cái khác chớ, phải khai triển thêm, phải thấy cái phong phú của nó. Nhạc Việt mình đâu phải chỉ có một lối. Ý nghĩ của mình thì mình cố mình làm vậy thôi. Có thể nó không hợp với đại chúng, nhưng biết đâu chừng vài chục năm sau thì nó lại khác.”

Vài chục năm sau, CD Đại tấu khúc “Việt Nam 1975”, nói lên thân phận người Việt Nam trong cuộc chiến xâm lược của miền Bắc cho đến khi vượt thoát tìm tự do tại các nước châu Âu và Hoa Kỳ, được ra mắt công chúng vào năm 2005, với dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra và Chorus của Ukraine.

“Mình đi 75, tui cứ đắn đo hoài, 85 bắt đầu viết. Viết rồi mình ngưng, viết rồi ngưng. Mình viết rồi làm sao trình diễn đây. Mình đâu có quen ban nhạc nào của Mỹ, mình cũng là người vô danh ở đây sức mấy mà họ chịu đụng tới,” nhạc sĩ Lê Văn Khoa kể về những long đong trong một thời gian dài của Đại tấu khúc này.

“Rồi dàn nhạc Pacific Symphony Orchestra ở California làm chương trình 20 năm sau chiến tranh Việt Nam, tui làm cố vấn cho họ thì họ mới biết tui có viết nhạc, họ mới lấy ra chơi…Điều hết sức ngạc nhiên cho tui là tất cả báo Mỹ đều có bài về buổi trình diễn đó. Và họ cho đó là sự hòa hợp giữa Đông Tây tuyệt diệu,” ông tiếp lời.

Sau nhiều năm Pacific Symphony tiếp tục trình diễn sáng tác của ông, và với sự giúp đỡ của Ban Hợp xướng Trùng Dương, ông mới làm ra CD.

Về cơ duyên Đại tấu khúc ‘Việt Nam 1975’ được dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra và Chorus của Ukraine trình diễn, nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho biết:

“Đó là cơ hội hãn hữu. Thứ nhất là như tui nói đó, nhạc mình mất 10 năm để viết, 10 năm sau mới trình diễn, rồi loay hoay hoài để tìm cách thực hiện CD. Ở Mỹ họ tính mắc quá. Tui cố vấn cho Pacific Symphony, nhưng mà họ nói họ sẵn sàng làm để tui thu thanh nhưng phải mất 120.000 đô la và thu thanh làm 3 buổi. Nhưng làm sao mình có tiền để làm cái đó và mình làm ra mình bán được 1.000 cuốn hay không? Vậy mỗi cuốn bán bao nhiêu tiền, ai mua được? Thành ra tui mới chạy xuống Úc dàn xếp với dàn nhạc giao hưởng ở Sydney. Họ đồng ý nhưng sau mất liên lạc không làm được gì nữa. Tui nói thôi mình xuống tận cùng miền nam không được thì mình lên miền bắc, thì có người giới thiệu với dàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra, họ cũng đi trình diễn khắp thế giới, thì tui tiếp xúc. Họ cũng do dự nhưng mà rồi họ biểu tui gởi nhạc cho họ coi. Tui gởi nhạc cho họ coi. Họ nói được họ sẽ làm cho tui…Thành ra tui phải đi Ukraine để làm. Có hai yếu tố: thứ nhất trình độ nhạc Ukraine cao. Đúng ra đó là cái nôi của âm nhạc Tây phương. Thứ hai họ là quốc gia nghèo nên tính phí tổn không như ở Mỹ. Thành ra tui đi Ukraine để thu thanh.”

Ngoài Đại tấu khúc “Việt Nam 1975”, với mong muốn đưa các làn điệu dân ca Việt Nam ra khắp thế giới, nhạc sĩ Lê Văn Khoa chú tâm soạn nhạc giao hưởng cho các loại nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

“Tui nghĩ rằng cái văn hóa là cái gì còn tồn tại chớ không phải chính trị. Chính trị, chế độ gì gì đi nữa cũng có thể bị thay đổi, mà văn hóa thì còn. Vì thế, tui nghĩ nhiều đến dân ca để bất cứ ban nhạc nào hay nhạc cụ nào của thế giới chơi mà người Việt Nam mình nghe được mình nhận ra ‘Ồ cái bài này tôi biết, bài này của Việt Nam’ thì hay hơn…cho nên tui dùng nhiều dân ca để viết cho dàn nhạc giao hưởng, để viết cho piano mà âm hưởng hoàn toàn của Việt Nam,” ông cho biết. “Khi mà chúng tôi thu thanh ở Ukraine, nhạc sĩ Ukraine nhao nhao yêu cầu nhạc trưởng xin tui để nhạc lại để họ còn trình diễn. Tui thấy đó là điều quý. Họ chơi họ thích, họ thích họ chơi nữa.”

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho biết ông ôm ước vọng là đào tạo thế hệ kế thừa làm nhạc giao hưởng như ông, và hiện ông có dạy một số học trò sáng tác nhạc cho piano.

“Tui hy vọng chúng ta sẽ có nhiều người đạt được trình độ cao gấp trăm, gấp ngàn lần trình độ tui đạt được tới ngày hôm nay,” ông thổ lộ.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài lĩnh vực âm nhạc, ông còn là một nhiếp ảnh gia từng chiếm giải thưởng Nhiếp ảnh trong cuộc thi sáng tác Văn học Nghệ thuật Toàn quốc của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Những tác phẩm của ông cũng được trưng bày trong các cuộc triển lãm nhiếp ảnh khắp nơi trên thế giới như Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Nhật Bản… trước năm 1975 và tại Mỹ sau năm 1975.

Hiện nay dù ở tuổi 86, ông vẫn miệt mài sáng tác một tấu khúc mà ông hy vọng sẽ được trình diễn vào năm 2021.

“Tui viết một bài gọi là ‘đối thoại’, cho đàn độc huyền của mình chơi với dàn nhạc giao hưởng Tây phương đủ loại nhạc cụ và cả trăm người. Còn mình chỉ có một người đàn và cái đàn chỉ có một dây. Tui muốn nói tiếng nói nhỏ bé của mình, mỗi lần trỗi lên bị đàn áp. Đó dùng âm thanh, dùng âm nhạc để nói lên thân phận của người Việt Nam của mình, nhưng mà chưa có trình diễn được. Tui hy vọng rằng 2021 có thể sẽ trình diễn được.”


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1067 Posted : Saturday, November 9, 2019 1:57:18 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1068 Posted : Saturday, November 9, 2019 2:15:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage


MỘT NỬA TA LÀ AI CHẲNG BIẾT
CHỈ BIẾT LÀM THƠ ĐỂ MÀ SAY


PHONG CẦM

Thu xa mấy nẻo đời eo hẹp
Ta nhớ mùa vàng tan tác bay
Bậu cửa con Mèo lim dim mắt
Tóc Thu gió thoảng nhẹ hương say!
///

Mấy độ mùa tàn ta nhớ bạn
Mùi hương con gái gió Thu lay
Gió đưa nhè nhẹ len khung cửa
Ngực phập phồng- mất ngủ đêm nay!

Ta nhớ ngày qua Thu biết không!
Nhớ em Thu ánh mắt thu trong
Mấy chuyến đi xa về giũ bụi
Bụi ám lòng ta kiếp độc hành !

Độc hành vai áo bạc đời thơ
Một thuở đam mê với đợi chờ
Ta hào phóng quá đem trang trải
Bầm trái tim đời với yêu -mơ !

Mỏi vó phong trần đêm xứ lạ
Đốt thuốc ngồi hong ấm phổi sầu
Phổi sầu nên phổi hom hem lạ
Đàm lên tắc tiếng mệt gì đâu!

Hai mươi năm lẻ đời viễn xứ
Ta nhớ ngày xưa Thu rất ngoan
Dìu dàng con gái thương thương lắm
Bụi cúc vàng xưa đẹp ngỡ ngàng.

Ta xa lâu quá Thu xa quá
Thị thành hời hợt những mùa đi
Cà phê đắng họng nghiêng mắt ngó
Tìm dáng Thu đâu giữa cõi này!

Phong Cầm (Hải Liên)

FB - 6/11/2019

Edited by user Saturday, November 9, 2019 2:21:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#1069 Posted : Saturday, November 9, 2019 7:44:35 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,347

Thanks: 2460 times
Was thanked: 5299 time(s) in 3550 post(s)

NHÀ VĂN NGUYỄN VỸ XÁC ĐỊNH VỀ HUYỀN THOẠI TTKH...
Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn


UserPostedImage

Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây :

Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.

Tôi - tức là Nguyễn Vỹ - tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà "cho vui" vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.
Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới "Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn".

Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

Câu chuyện tình

Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.

Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán "Hạ mã" và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.

Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.

Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.

Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: "Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm." Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ "Thầy mẹ em nghiêm lắm" và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: "Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?" Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: "Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì..." Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.

Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm... Tuấn Trình nhận được bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).

Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu "thơ mộng" của cô với "người nghệ sĩ tài hoa son trẻ", đó là những chữ cô dùng trong thư. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất "nghiêm" theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có "bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu", cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v... Cuối thư ký tắt Kh.

Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.

Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.

Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.

Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.

Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ hoạ và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấy và hoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKH.

**NGUYỄN VỸ.

Edited by user Saturday, November 9, 2019 8:06:56 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1070 Posted : Sunday, November 10, 2019 12:23:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1071 Posted : Sunday, November 10, 2019 12:37:09 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 09 tháng 11 năm 2019

Vĩnh biệt tiếng hát Marie Laforêt

UserPostedImage
Marie Laforêt trong đợt biểu diễn cuối cùng tháng 9/2005 tại ParisJOEL ROBINE / AFP

Nổi tiếng vào đầu những năm 1960, Marie Laforêt là một trong những nghệ sĩ Pháp hiếm hoi thành công trong cả hai lãnh vực đóng phim và ca hát. Bà vừa qua đời vì bệnh ung thư vào hôm 02/11/2019 ở ngôi làng Génolier, bang Vaud, miền tây nam Thụy Sĩ, hưởng thọ 80 tuổi.

Theo nguồn tin từ phía gia đình, trong những năm tháng cuối đời, Marie Laforêt chủ yếu sinh sống tại Tây Ban Nha, tuy nhiên căn bệnh ung thư hiểm nghèo buộc nghệ sĩ này phải nhiều lần trở về Thụy Sĩ để điều trị. Sự nghiệp của Marie Laforêt trải dài trên gần nửa thế kỷ từ năm 1959 đến năm 2008, cho dù trong những thập niên về sau, bà đã cố tình đoạn tuyệt với làng giải trí (showbiz). Tại Thụy Sĩ, công chúng ít biết rằng Marie Laforêt từng là diễn viên kiêm ca sĩ nổi tiếng ở Pháp, ít nhất là trong hai thập niên liền, từ đầu những năm 1960 cho tới cuối những năm 1970.

Sinh tại vùng Gironde, miền nam nước Pháp, Marie Laforêt (tên thật là Maïtena Douménach) xuất thân từ một gia đình nghèo. Năm 14 tuổi, cô bé theo gia đình dọn nhà về thủ đô, sau khi ông bố làm việc trong ngành đường sắt, được chuyển tới Paris. Năm 16 tuổi, Marie Laforêt ghi tên theo học các lớp diễn xuất vì ngay từ khi còn nhỏ, cô đã đam mê ngành kịch nghệ, một cách như cô nói để chữa cái ‘‘bệnh nhút nhát’’.

Tuy nhiên, cơ duyên nào khiến cho một thiếu nữ còn rất non tay nghề lại có cơ hội đóng phim với thần tượng điện ảnh Alain Delon. Năm 1959, cô lúc đó vừa tròn 20 tuổi tham gia một cuộc thi tuyển lựa các tài năng mới do đài phát thanh Europe 1 tổ chức. Marie Laforêt về đầu trên số hơn 3.000 thí sinh. Nhờ một gương mặt hết sức ăn ảnh, Marie Laforêt được chọn để đóng vai nữ chính trong bộ phim ‘‘Plein Soleil’’ (tựa tiếng Anh là Blazing Sun) của đạo diễn René Clément, phóng tác từ quyển tiểu thuyết trinh thám ăn khách ‘‘The Talented Mr. Ripley’’ của nhà văn Patricia Highsmith.

Lần đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh lớn, cô đóng phim với hai gương mặt nổi tiếng là Alain Delon và Maurice Ronet. Thành công của bộ phim này giúp cho Marie Laforêt tham gia vào những bộ phim quan trọng nhất thời bấy giờ, bên cạnh các diễn viên ‘‘đình đám’’ chẳng hạn như tác phẩm ‘‘La Fille aux yeux d’or’’ (Cô gái với cặp mắt vàng) của đạo diễn Jean-Gabriel Albicocco hay là ‘‘Flic ou Voyou’’, đóng với ngôi sao màn bạc Jean-Paul Belmondo.

Đang trên đà thành công với nghề đóng phim, Marie Laforêt được mời ghi âm những ca khúc đầu tiên. Vào đầu năm 1963, cô trình làng đĩa hát ‘‘Les Vendanges de l’Amour’’ (tạm dịch là Gặt hái Yêu thương) do ca sĩ kiêm tác giả Danyel Gérard sáng tác. Bài hát này lập kỷ lục số bán, nhờ vào thành công ấy Marie Laforêt tiếp tục ghi âm nhiều ca khúc ăn khách khác như Viens sur la Montagne, Mon amour Mon ami, Que calor la Vida …..

Marie Laforêt xen kẻ những bài hát nguyên tác cũng như các bản nhạc phóng tác, chuyển thể từ các ca khúc Anh Mỹ thịnh hành như ‘‘Paint it black’’ của nhóm the Rolling Stones, ‘‘The Sound of Silence’’ của Simon & Garfunkel, ‘‘Summer Wine’’ của Lee Hazlewood hay là ca khúc chủ đề bộ phim Bố Già (The Godfather) của tác giả Nino Rota.

Marie Laforêt thành công chủ yếu nhờ hát nhạc nhẹ, ngược lại những bài hát pop rock do cô ghi âm vào thời phong trào nhạc trẻ những năm 1960 của Pháp đang trỗi dậy, lại không ăn khách. Có lẽ cũng vì thế mà tuy nổi danh hầu như cùng lúc với Sylvie Vartan và Françoise Hardy, nhưng Marie Laforêt không được xem như là một trong những thần tượng nhạc trẻ. Đa số các bài hát của cô cũng không nhắm vào lứa tuổi thiếu niên, và ngay từ đầu những năm 1970, cô chuyển hẳn sang dòng nhạc dân ca, các khúc nhạc dân gian đến từ châu Âu, Nam Mỹ hay Hoa Kỳ.

Có thể nói đây là thời kỳ quan trọng nhất trong sự nghiệp của Marie Laforêt, cô bắt đầu sáng tác một số bài hát của mình với một bút hiệu khác (Françoise They), cô hợp tác với nhiều nghệ sĩ đến từ Brazil (Egberto Gismonti) hay đến từ Argentina (Jorge Milchberg). Qua việc phối hợp dân ca với nhiều dòng nhạc khác, Marie Laforêt trở thành một trong những nhân vật tiên phong ở Pháp thử nghiệm dòng nhạc ‘‘world music’’ trước khi khái niệm "âm nhạc thế giới" chính thức ra đời.

Đó là lý do khiến cho hợp đồng ghi âm của cô không được triển hạn. Khi chuyển từ công ty CBS sang một hãng đĩa khác là Polydor (vào năm 1972), Marie Laforêt buộc phải ghi âm những bài hát thương mại hơn, dễ ăn khách trên thi trường. Nhạc phẩm Il a neigé sur Yesterday là một ca khúc dễ nghe, khai thác âm điệu cũng như các tựa ca khúc của nhóm Tứ Quái The Beatles. Bài hát này lập kỷ lục số bán vào năm 1977. Nhưng cũng từ đó, Marie Laforêt giải nghệ ca hát vì theo cô, cho dù có ăn khách nhưng cô không hề được quyền chọn lựa, mọi thứ đều do các nhà sản xuất quyết định.

Kể từ cuối những năm 1970, Marie Laforêt sang Thụy Sĩ định cư. Cô lập gia đình, nhập tịch Thụy Sĩ và qua các lớp đào tạo để trở thành một chuyên viên bán đấu giá. Cô mở một phòng tranh và khám phá thế giới của các nhà sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật. Theo lời đạo diễn Lisa Azuelos (tác giả bộ phim tiểu sử về Dalida,) và cũng là con gái ruột của Marie Laforêt, bà đã cố tình chọn một cuộc sống ‘‘an phận’’ ở Thụy Sĩ, nơi mà ít ai để ý tới cái quá khứ showbiz của bà. Mãi tới giữa những năm 2000, Marie Laforêt mới trở lại trên sàn diễn. Lần cuối xuất hiện trên sân khấu là vào năm 2008, bà rốt cuộc đã thực hiện được giấc mơ đầu đời : vào vai thần tượng Maria Callas trong một vở kịch kể lại cuộc đời và sự nghiệp của một trong những huyền thoại sáng chói nhất làng kịch opéra.

Từ bài hát ăn khách đầu tiên (1963), cho đến tuyển tập CD cuối cùng thực hiện vào năm 1993 với những sáng tác của chính mình, sự nghiệp của Marie Laforêt trải dài trên 3 thập niên. Cô đã đóng khoảng 40 bộ phim và phát hành 14 album, tính tổng cộng bán được hơn 25 triệu bản. Cô gái với cặp mắt vàng vĩnh viễn ra đi, để lại hình ảnh của một nghệ sĩ không vì tiền tài mà hy sinh hạnh phúc gia đình, không vì danh vọng mà lại quên sống theo ý mình.

UserPostedImage
‘‘La Fille aux yeux d’or’’ (Cô gái với cặp mắt vàng)

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1072 Posted : Monday, November 11, 2019 12:10:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage


Bí quyết sáng tác Sorry Seems To Be The Hardest Word

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 03 tháng 3 năm 2018
Bạn có biết đâu là điểm chung giữa thiên tài nhạc jazz Ray Charles, một bộ phim Mỹ với thần tượng điện ảnh Paul Newman và một ban nhạc boys band một thời đình đám tại Anh ? Mối tương quan giữa ba cái tên mà thoạt nhìn chẳng có liên hệ gì với nhau chính là tình khúc Sorry Seems To Be The Hardest Word, của hai tác giả Elton John và Bernie Taupin.

Năm nay đánh dấu 40 năm thành công của ca khúc này, và dĩ nhiên bài hát vẫn nằm trong chương trình biểu diễn cuối cùng của Elton John. Vào năm 70 tuổi, nam danh ca người Anh đã tuyên bố giải nghệ (hôm 25/01/2018) để dành thời gian cho gia đình. Vòng lưu diễn này mang tên "Farewell Yellow Brick Road" gồm tổng cộng 300 buổi sẽ lần lượt diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, kéo dài cho tới tận2021, cơ hội để cho Elton John ngỏ lời cảm ơn khán giả trên sân khấu, vì như ông nói, nhờ sự yêu mến của người nghe mà ông có được một sự nghiệp bền vững như vậy.

Được phát hành vào cuối năm 1976, bản nhạc Sorry Seems To Be The Hardest Word ngự trị trên thị trường Anh Mỹ (Top Ten) trong vòng 10 tuần lễ, đạt tới ngưỡng một triệu bản cuối tháng Giêng năm 1977, trước khi nhường ngôi lại cho hai hiện tượng lập kỷ lục thời bấy giờ là khúc đàn thần sầu Hotel California của nhóm Eagles (phát hành vào tháng 03/1977) và bản tình ca How Deep is Your Love của ban tam ca Bee Gees trích từ bộ phim Cơn sốt chiều thứ bảy (Saturday Night Fever phát hành vào tháng 09/1977).

Ngay vào thời điểm phát hành, bài hát của Elton John từng được chọn làm ca khúc chính của bộ phim Slap Shot (1977) của đạo diễn George Roy Hill với ngôi sao màn bạc Paul Newman trong vai chính. Sau này, bản nhạc được Mary J. Blige ghi âm lại làm nhạc nền cho bộ phim Nhật ký Tiểu thư Bridget Jones tập nhì. Trong số các bản ghi âm lại có các giọng ca lẫy lừng như Joe Cocker, phiên bản của Richard Marx hòa quyện với tiếng kèn của Kenny G.

Bài hát này cũng là bản ghi âm cuối cùng của Ray Charles, vài tháng trước khi ông mất vì bệnh ung thư gan. Elton John cho biết là sau đó mỗi lần ông hát bài này, ông lại nhớ tới những ngày tháng cuối cùng của Ray Charles, nhiều kỷ niệm đẹp mà buồn. Cũng vào khoảng thời gian đầu những năm 2000, Elton được mời góp giọng vào phiên bản ghi âm của Blue, nhóm boys band người Anh ăn khách thời bấy giờ. Nhờ phiên bản này mà một lần nữa ca khúc của Elton John đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Anh và nhiều quốc gia châu Âu.

Thành danh vào cuối những năm 1960, Elton John tính tới nay đã bán hơn 300 triệu đĩa hát, đoạt hàng loạt giải thưởng trong đó có 19 giải Brit Awards (kể cả giải vinh danh thành tựu sự nghiệp Brit Icon), 6 giải Grammy, 14 giải Tony dành cho sân khấu nhạc kịch và một giải Oscar dành cho ca khúc chủ đề bộ phim The Lion King Vua Sư Tử (Can You Feel The Love Tonight). Trong suốt nửa thế kỷ sự nghiệp, ông đã gầy dựng uy tín của một melody maker, một tác giả chuyên đi tìm những giai điệu sắc sảo mà dễ nhập tâm.

Được đào tạo bài bản trong lãnh vực nhạc cổ điển, Elton John từng đoạt giải nhất đàn dương cầm vào năm 11 tuổi Nhạc viện thành phố Luân Đôn (Royal Academy Music). Thế nhưng ông không đủ sự cần mẫn chăm chỉ để trở thành nhạc sĩ piano chuyên nghiệp, đòi hỏi phải luyện tập thường xuyên nếu muốn biểu diễn với các dàn nhạc giao hưởng. Đổi lại Elton John hấp thụ rất nhanh, ông có cái thú sưu tầm rất nhiều đĩa hát từ khi còn trẻ cho tới tận bây giờ (bộ sưu tập của ông gồm hơn 70.000 băng đĩa) và nhờ vậy mà làm giàu thêm kiến thức : càng nghe ông càng thấm nhuần các luồng ảnh hưởng khác nhau, đồng thời càng nghe các nghệ sĩ khác càng giúp cho ông đi tìm một nét riêng cho mình.

Từ vốn liếng âm nhạc cổ điển ban đầu (Chopin và Bach), Elton John tự học thêm lối dùng hợp âm phức điệu với dòng nhạc gospel (phúc âm), cách chơi đàn thuần chất nhạc blues, phân chia 12 nhịp theo kiểu vuốt phím boogie woogie của trường phái New Orleans. Về nhạc jazz ông rất ngưỡng mộ cái tài biến tấu linh hoạt của Ray Charles, còn được mệnh danh là Genius (Thiên tài). Về nhạc rock Elton John dư thừa bản lĩnh để chọi lại với các ban nhạc lừng danh quốc tế như The Rolling Stones, The Beatles, The Beach Boys. Chính cũng vì sân chơi nhạc rock đã quá đông người cho nên Elton John mới chọn nhạc pop làm sở trường sáng tác. Elton John sau này cũng chia sẻ các đĩa hát quý hiếm và có giá trị về mặt sáng tác qua các chương trình phát thanh đặc biệt.

Riêng về mặt sáng tác, khi nhắc tới The Beatles người ta nghĩ tới ngay cặp bài trùng John Lennon - Paul McCartney, nhóm The Rolling Stones thì có cặp song sinh ngỗ nghịch (Glimmer Twins) Mick Jagger – Keith Richards, ban nhạc Led Zeppelin thì có bộ đôi song hành Jimmy Page và Robert Plant. Trong trường hợp của Elton John, tuy là ca sĩ hát solo, nhưng sự thành công vang dội và vượt bực của ông một phần lớn là do đồng tác giả người Anh Bernie Taupin. Hai người gặp nhau vào năm 1967, tức cách đây nửa thế kỷ.

Tác giả Bernie Taupin chủ yếu đặt lời, dựa vào ngữ điệu của ca từ câu chữ, Elton John mới soạn ra những tiết tấu giai điệu sao cho hợp với lời ca. Nói cách khác, cặp bài trùng này phân công rõ ràng, đầu tiên sáng tác lời, rồi sau đó mới tính đến việc soạn nhạc. Theo lời kể của Bernie Taupin, trường hợp của bài Sorry Seems To Be The Hardest Word hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc làm việc của họ. Bản nhạc được viết vào cuối năm 1975 trong lúc cả hai tác giả có mặt tại Los Angeles.

Ngồi mò mẫm trên đàn piano, bỗng nhiên Elton John tìm ra một chuỗi nốt nhạc và ngẫu hứng hát lên câu đầu tiên : What do I do to make you love me (Ta phải làm gì để người vẫn yêu ta). Bản thân Elton thấy câu mở đầu này chẳng có gì xuất sắc, thế nhưng Bernie Taupin lại hoàn toàn nghĩ điều ngược lại : giai điệu tuôn chảy tựa như dòng lệ tuôn trào, dòng chữ nảy sinh một cách chân tình, tự nhiên ở chỗ : cứ nghĩ sao thì hát vậy.

Bài hát được hoàn tất chỉ trong 10 phút đồng hồ, từ câu hát mở đầu của Elton John, tác giả Bernie Taupin phác họa ra câu chuyện của một mối tình tan vỡ, một người (đàn ông) than van về số phận duyên kiếp, nhưng khóc than làm chi, níu kéo được gì khi người yêu đã nhất quyết dứt áo ra đi. Thành công của bài hát này thay đổi nhiều cung cách sáng tác của cặp bài trùng Elton John và Bernie Taupin.

Elton John cho biết kể từ năm 1977 trở đi, ông chỉ thích sáng tác những bài hát trong vòng 15 hay 20 phút, nếu cứ loay hoay mãi để mò mẫm ca khúc, điều đó có nghĩa là có gì đó bất ổn trong giai điệu, vướng mắc trong ca từ. Bí quyết sáng tác của Elton John nằm ở chỗ đó : hầu hết các ca khúc ăn khách nhất của ông có thể rất cầu kỳ trau chuốt trong lối hòa âm phối khí, nhưng về mặt giai điệu lại dựa trên nguyên tắc căn bản : biểu cảm sáng tác, ngỏ hồn trực giác.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1073 Posted : Tuesday, November 12, 2019 9:12:43 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
hongvulannhi  
#1074 Posted : Wednesday, November 13, 2019 8:18:32 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,347

Thanks: 2460 times
Was thanked: 5299 time(s) in 3550 post(s)

NHỮNG TÁCH CÀ PHÊ


UserPostedImage

Một nhóm sinh viên cũ gặp lại và hẹn nhau cùng trở về trường đại học cũ để thăm một vị giáo sư ngày xưa.

Họ là những người rất thành công và đang có những chức vụ, địa vị cao trong xã hội.

Trong khi ngồi hàn huyên tâm sự với nhau, mọi người bắt đầu than phiền về những sự căng thẳng trong việc làm cũng như trong đời sống của mình.

Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình uống cà phê.

Ông đi vào nhà trong và mang ra một bình cà phê lớn, cùng với những ly tách đủ loại: bằng sứ, bằng plastic, bằng thủy tinh, có những tách nhìn rất tầm thường và có những tách nhìn rất đắt tiền và sang trọng.

Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình tự rót lấy cà phê uống. Khi mỗi người đã có một ly cà phê trong tay, vị giáo sư nói:

- Nếu các anh chị để ý, những tách cà phê đẹp và đắt tiền được chọn lấy trước hết, chỉ còn lại những ly tách rẽ tiền và tầm thường. Đối với các anh chị việc ấy cũng thường thôi!

Chúng ta ai mà lại chẳng muốn chọn cho mình những gì hay và đẹp nhất, nhưng đó cũng là nguyên nhân của sự căng thẳng và những khó khăn của các anh chị trong cuộc sống.

Những gì anh chị muốn, thực sự là cà phê, chứ đâu phải là chiếc tách, nhưng các anh chị lại có ý đi lựa cho mình những chiếc tách đẹp nhất và thỉnh thoảng cũng nhìn sang người bên cạnh, xem họ có những chiếc tách nào.

Cũng vậy, nếu cuộc sống là cà phê, thì những công việc, tiền bạc, địa vị trong xã hội là những chiếc tách.

Chúng chỉ là những phương tiện để chứa đựng sự sống của mình, chứ phẩm chất của sự sống không hề khác biệt.

Và nhiều khi chúng ta vì quá chú ý và tập trung vào những chiếc tách, mà lại quên thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon trong ấy.

Vì vậy cho nên các anh chị nhớ, đừng để những chiếc ly tách sai xử mình.

Hãy thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon của cuộc sống.

Hạnh phúc không có nghĩa là mọi vấn đề chung quanh chúng ta phải được hoàn toàn.

Hạnh phúc có nghĩa là chúng ta biết nhìn xa hơn, vượt ra ngoài những sự bất toàn ấy !

ST

Edited by user Wednesday, November 13, 2019 8:21:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1075 Posted : Friday, November 15, 2019 2:55:37 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
hongvulannhi  
#1076 Posted : Saturday, November 16, 2019 11:22:02 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,347

Thanks: 2460 times
Was thanked: 5299 time(s) in 3550 post(s)

Những Cánh Rừng Khô Rụng


24/10/201300:00:00(Xem: 38938)
Vũ Công Ynh

Tác giả: Vũ Công Ynh
Bài số 4042-14-29442vb4102313


Tác giả tên thật Vũ Văn Cẩm, vượt biển năm 1981. Đến Mỹ 1982, hiện làm việc và an cư tại Oklahoma từ 2003. Nghề Nghiệp: Electrical Engineer tại Công Ty American Airlines, M&E Center, Tulsa, OK. Với hai bài viết tiêu biểu: "Puppy và Nàng"; "Rộn Tiếng Cười Mê Say" Vũ Công Ynh đã nhận Giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2013. Bài mới của tác giả là một truyện ngắn.

UserPostedImage

Tượng Đức Mẹ ôm xác con tại Oklahoma. Our Lady of Sorrows Convent, Broken Arrow, Oklahoma.

1.

Ông nhìn ra ngoài cửa sổ, trời vào Đông, cây sồi sau vườn trơ trụi lá. Không gian như ngậm đầy hơi nước, với lẻ loi chút nắng vàng vọt hắt ra từ đám mây xám lặng lẽ trôi. Ông hi vọng trưa nay trời sẽ nắng trở lại trong chốc lát để ông đi thăm mộ vợ con. Cảnh trời buồn làm ông thở dài, thời gian trôi qua lẹ quá.

Bố ông mất vì một cơn bệnh vào lúc ông chín tuổi. Thằng bé mồ côi cha, ở với mẹ, đi học cho tới ngày thành một thanh niên. Thi xong Tú Tài I, cũng là lúc ông thấy sách vở là một gánh nặng, nhìn qua lại, bạn bè lên đường nhập ngũ hết cả, nên ông cũng tình nguyện vào lính, mà đúng ra, ông vẫn còn được hoãn dịch vì lý do con độc nhất của bà mẹ góa. Trường Bộ Binh Thủ Đức đã rất sẵn sàng đón nhận một chàng trai sốt sắng như ông. Bản tính ngang bướng của thằng con làm bà mẹ đau buồn. Bà hối hả cưới vợ cho ông để có cháu nối dõi tông đường. Cũng hên là ông đồng ý với mẹ lấy cô hàng xóm. Đứa con gái đen đen không đẹp lắm, nhưng hiền lành. Bà mẹ mừng thầm vì thằng con ngang tàng có nơi cột chân cột cẳng.

Lấy vợ chưa được bao lâu thì chiến trường ngày càng trở nên khốc liệt. Vừa lúc xin được căn nhà trong trại gia binh ở hậu cứ, cũng là lúc vợ ông có bầu, thật là ngổn ngang trăm đường lo nghĩ. Ngày ông về đón vợ, mẹ ông nhất định không cho vợ ông theo chồng ra đi, vì nàng con dâu đang mang giòng máu độc nhất của gia tộc trong bụng, mà bà đinh ninh sẽ là con trai vì sự thành tâm cúng quả, cầu khẩn của bà vào các ngày rằm. Bà không muốn con dâu phải lang bạt vào những nơi nguy hiểm trong lúc này, nhưng ông nằng nặc đòi vợ phải ra đi với ông, bà mẹ ngước đôi mắt u buồn nhìn thằng con, và dáng dấp đứa cháu trong bụng mẹ nó, bước lên chuyến xe đò về miền Trung.

Sống trong trại gia binh, chưa kịp sắm cho vợ đủ bộ nồi niêu xoong chảo, thì đã lo chạy giặc.

Đơn vị ông từ Tuy Hòa di tản về Nha Trang, may là chạy tới đâu, cũng dắt theo được bà vợ ỳ ạch bầu bì. Đơn vị thất lạc, mạnh ai nấy kiếm đường xuôi Nam. Chẳng ai ngờ cuộc đời trôi nổi, theo giòng người di tản, hai vợ chồng bước chân lên tàu, rồi cuối cùng đặt chân đến trại tỵ nạn trên xứ Mỹ, một nơi mà cả hai vợ chồng chẳng bao giờ nghĩ ra được.

Đến một đất nước thanh bình, nghe tin về Việt Nam, tâm hồn lính tráng buông súng làm ông ray rứt, hết nhớ bạn bè đơn vị, lại nhớ đến mẹ. Được cái an ủi là chỉ vài tháng sau ngày đến Mỹ, vợ ông sanh thằng con, lúc vẫn còn trong trại Fort Chaffee. Đến hay, cái thằng bé giống cả bố lẫn mẹ, đen đen, mũi ngắn, lông mày đen rậm, nhìn đến là… xấu trai như bố. Nhưng được cái hay cười, cứ mỗi lần ông đút cái núm bình sữa đến là thằng bé nhếch môi cười. Ừ, phần xấu giống bố, người mẹ tranh cãi giành phần đẹp cho mình, ông chẳng quan tâm. Bà mẹ đặt tên Mỹ cho con, nhưng ông vẫn thích gọi nó với cái tên là thằng Tỵ Nạn.

Thằng con dễ thương vậy, mà người mẹ lại bỏ nó cho ông để ra đi sớm quá. Hai cái tang một lúc. Mới tháng trước ông đã buồn rã rượi vì được tin mẹ mất ở Việt Nam qua lá thư bà cô gởi từ bên Úc, bây giờ lại tới cái tang của vợ. Một cơn đột quy đã cướp đi mạng sống người vợ thương yêu của ông. Chẳng biết sao, vợ ông không mập, không ốm, vừa tầm với dáng lùn lùn của ông hết sức, vậy mà lại cao cholesterol mới là lạ. Đến lúc chết rồi, ông mới ân hận đã không khuyên vợ đi khám bác sỹ định kỳ. Đành ở vậy một mình nuôi con!

2.

Tỵ Nạn lớn lên với tình thương của bố. Cũng may là nó thông minh, lại không phá phách, nên chẳng bao giờ ông phải nghe lời thầy cô giáo phàn nàn điều gì. Chỉ một lần ông buồn, là lần nó mang về tờ giấy tình nguyện vào lính cho ông ký. Ôi, bây giờ ông mới hiểu nỗi đau thương và sự lo lắng của bậc cha mẹ, khi thấy con mình từ chối sự êm ấm được che chở, để đi vào vùng nguy hiểm.

Nhận được thư con trai từ trại huấn luyện ở New Jersey, rồi bẵng đi cả năm trời, lại thấy thư nó viết về từ chiến trường Afghanistan - A Phú Hãn, cái tên nghe đã thấy kỳ bí xa xôi. Nhưng tin tức về đứa con ngày càng thưa dần, cho tới một ngày, ông nhận hung tin chết trận của đứa con trai yêu dấu. Chiến trường năm xưa đã không hề hấn gì với ông, mà chiến trường hôm nay lại lỡ cướp đi sinh mạng của con trai ông. Ông sững sờ, bất động một hồi lâu trong căn nhà nhỏ.

Ông xin với đơn vị của con, để được chôn cất thằng con bên cạnh mộ mẹ nó. Phần mộ mà ông đóng tiền hai chỗ, cho vợ và cho mình, nhưng trời lại để thằng con được hưởng phước gần mẹ. Ông tiếc hồi đó chỉ mua hai miếng huyệt kế cận nhau. Nhưng ai dè, thằng con ra đi sớm hơn bố như thế! Ông rưng rưng rơi lệ, khi toán lính tiễn đưa bắn súng chào và xếp lá cờ Mỹ đặt vào tay ông.

Nhìn hình thằng con hào hùng trong bộ quân phục, ông ngậm ngùi là không còn vợ bên cạnh, để ông nhường phần thằng con giống mẹ, dù người vợ chẳng mặc quân phục ngày nào. Ông nhớ lại lần tuốt gươm đứng hầu Trung Nghĩa Đài, đêm trước ngày ra trường, trên đỉnh đồi Tăng Nhân Phú. Những Sinh Viên Sỹ Quan, trước khi lon chuẩn úy còn thơm mùi đồng được gắn trên cổ áo sáng mai, đêm nay đang làm lễ canh thức chào hồn tử sỹ. Cầu mong anh linh tiên tổ, cùng những vị đàn anh, về chứng giám và tăng thêm hùng khí cho những đứa con tổ quốc, rồi đây sẽ phải ra đi khắp bốn vùng chiến thuật. Như một kiếm sỹ, ông vung lưỡi kiếm ở thế chào trước mặt. Mũi kiếm chỉ thẳng lên trời. Từ đôi mắt ông, chỉ còn thấy giữa lằn kiếm là những vinh quang của Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm như huy hiệu trên mũ mà ông đang đội.

Ôi oai hùng làm sao!

Nhưng rồi ông cảm thấy rũ liệt, vì hôm nay, nơi góc rừng vắng này, cánh rừng tạp mang một màu vàng ối, già cỗi như cuộc đời ông, ông thấy mình đã mất tất cả, vợ con, bạn bè, quê hương, tổ quốc… Ông thở dài vì đã không thể là một kiếm sỹ để bảo vệ được những gì thân yêu trong đời.

Ta thua một đường guơm
Nên không thành kiếm sỹ
Đành một kẻ dung dị
Nơi cánh rừng vàng gậm nhấm vết thương đau

Ừ đau thương quá. Ông chớp mắt, giơ tay chào hai mẹ con nó theo kiểu nhà binh, rồi lặng lẽ về nhà, xếp lá cờ kỷ vật của con ngay ngắn dưới bàn thờ tổ tiên từ lúc đó.

3.

Hồi đầu năm, đi khám bác sĩ. Vị bác sĩ Mỹ, người mà biết về cơ thể ông còn hơn cả ông nữa, đã lắc đầu với kết quả thử nghiệm, nhìn ông già tỵ nạn và thắc mắc là ông có nhớ uống thuốc không mà cả năm rồi chẳng thấy tiệm thuốc gọi đến xin re-fill. Vị bác sĩ đành quên lời vợ là cố giữ bệnh nhân luôn có sự liên hệ mật thiết với phòng mạch. Vì lương tâm nghề nghiệp, dù có mất đi một thân chủ, ông cũng quyết định khuyên ông già này vào trung tâm điều dưỡng, để có người dặn dò uống thuốc hàng ngày.

Ông già tỵ nạn có cảm giác sững sờ khi nghe lời khuyên của bác sĩ, dù từ lâu, ông vẫn biết sẽ có ngày phải nhập viện, nhưng lời khuyên chân thành của vị bác sĩ vẫn làm ông giật mình. Thôi vậy, có sinh phải có tử, ông cúi đầu chấp nhận.

Ông nhìn quanh căn phòng nhỏ thân yêu, rồi đi vào trong bếp nấu nước pha trà. Ông vẫn còn thói quen pha trà như hồi ở Việt Nam. Đun nước sôi, tráng ấm trà, rồi cho trà vào. Đổ vào ít nước sôi ngâm trà. Một phút sau, đổ nước ngâm trà đi, rồi mới thực sự đổ nước sôi vào ấm. Chừng quá nửa bình trà là ông dừng lại, như vậy, độ trà và nước sôi vừa với hương vị mà ông thường thức. Ông cười một mình về những thói quen, mà đến giờ, qua Mỹ đã mấy chục năm, vẫn không bỏ được. Không biết vào trong viện, có còn dễ dàng cho ông nấu nước pha trà như thế này không? Hoặc cho phép ông được ra thăm mộ vợ con như vẫn làm không?

Ông nhấp miếng trà ấm. Một cơn gió thổi tấm mành cửa xào xạc, làm ông giật mình, quên là mình vẫn để hé cửa từ chiều qua. Ông đến bên cửa sổ, nhìn ra ngoài. Phía xa bên trái là đỉnh đồi, với tháp chuông của một tu viện đang nổi bật trên nền trời mờ xám trưa nay.

Ông biết đến tu viện là do Mike kể lại. Mike là một người bạn trẻ của ông, gốc thổ dân Da Đỏ Muskogee, hiền lành, chất phác, cùng làm ở Home Depot với ông trước đây. Sau khi ông về hưu, Mike vẫn lâu lâu, đi làm về, tạt ngang nhà ông, trò chuyện và cho ông những bịch cà chua trồng sau vườn. Theo như Mike kể, đó là một tu viện cho những nữ tu Công Giáo về hưu. Những nữ tu sau một đời dâng hiến tận tụy cho Thiên Chúa và tha nhân, đã được đưa về đây, cùng nhau kinh nguyện cho hết quãng đời còn lại. Nhưng chẳng hiểu sao, mấy năm gần đây, các nữ tụ lại được chuyến đi nơi khác, và tu viện trở thành vắng lặng từ đó.

Đã có lần, ông lái xe ghé vào tu viện.

Khung cảnh nhà dòng hoang vu quá, không biết có bàn tay săn sóc không, mà cửa sổ cái mở, cái khép, nhuốm màu hiu quạnh. Trên nóc tu viện, cây Thập Giá của đỉnh tháp nhỏ bơ vơ chĩa lên trời như tưởng nhớ một dĩ vãng xa xôi. Ông đi bộ chậm rãi lại bức tượng phía trước tu viện.

Bức tượng Đức Mẹ đang ôm xác con dưới cây Thánh Giá!

Ông yên lặng chiêm ngưỡng. Lớp sơn đã bắt đầu bong ra nhiều chỗ. Phần đầu tượng Đức Mẹ là màu vàng hoen rỉ của chất sắt đúc bên trong lâu ngày đã thấm ra ngoài. Bức tượng có vẻ rêu phong, nhưng nét tạc đúc thật là sống động. Ông nhìn ra được nỗi đau đớn của Đức Chúa, và nỗi thống khổ nhưng đầy can đảm trong nét mặt đang cúi xuống nhìn con của Đức Thánh Nữ. Dù ông đạo Phật, thờ ông bà, nhưng sao ông thấy tượng Đức Mẹ có nét hiền từ, giống như tượng Phật Bà mỗi khi theo mẹ đi lễ chùa trong những ngày rằm thời thơ ấu. Lần đầu tiên trong đời, ông đã lâm râm lời khẩn cầu bằng an cùng vị Thánh Nữ đang ôm xác con.

UserPostedImage

Our Lady of Sorrows Convent, Broken Arrow, Oklahoma

Mải đứng nhìn pho tượng, ông chẳng để ý đến con chó gầy còm đang nằm phục bên hông bệ tượng. Con vật có vẻ đói ăn và không được nuôi dưỡng nhiều ngày, giương đôi mắt lờ đờ nhìn ông già. Chẳng biết con vật có phải từ trong tu viện hoang vắng kia không? Ông giơ tay vuốt đầu nó. Con vật thè lưỡi liếm tay ông, rồi như mệt quá, lại xệp mặt xuống, đôi mắt lờ đờ.

Ông đi ra ngoài xe lấy mấy miếng bánh, đút vào miệng nó. Con vật há miệng đớp miếng bánh, nhưng vẫn nằm phủ phục. Tội nghiệp, ông bước quanh một vòng tu viện, xem có ai mà xin cho nó được theo ông về nhà. Cửa đóng, ông chẳng gặp được ai. Không lẽ để nó chết vì đói, vì bệnh. Ông ôm nó về nhà, dự trù sẽ đem trả lại tu viện sau. Ông lấy một viên thuốc Tylenol, pha vào chén sữa cho con vật uống. Chẳng biết vì thuốc, hay vì cách trị liệu mát tay, mà con vật đã khoẻ lại.

Càng ngày nó càng quấn quít ông hơn. Ông đưa nó vào lại tu viện, con vật chạy quanh chân tượng Đức Mẹ, liếm lưỡi và ngửi ngửi chân tượng như quen thuộc, nhưng rồi lại theo ông ra về sau đó. Con Ky, mà ông gọi tắt theo tên Mỹ từ chữ Lucky cho được may mắn, sống với ông trong căn nhà nhỏ từ đó.

3.

Chần chừ mãi ông mới quyết định đi tìm cho mình một Nursing-home như lời bác sĩ đòi hỏi. Ông đã chọn được một trung tâm dưỡng già nằm kế cận nghĩa trang, mà từ sân trước viện dưỡng lão, ông mờ mờ thấy đuợc khu vực phần mộ vợ con ông.

Ngày đến điền đơn, bà giám đốc người Mỹ tốt bụng, giúp ông từng chi tiết trong tờ đơn. Sau khi đọc đến gia cảnh đơn chiếc của ông già Việt Nam, bà khuyên ông nên làm tờ di chúc, để những tài vật của ông, biết đường mà đến đúng chỗ một khi ông ra đi. Ông mỉm cười “di chúc” à? Ông chẳng nghĩ có ngày ông lại phải làm tờ di chúc như vậy, nhưng thôi, cũng như vị bác sĩ, bà Mỹ có lời khuyên cũng vì lòng tốt với ông thôi. Ông thầm cảm ơn bà Mỹ sốt sắng vì công việc.

Gì chứ di chúc đối với ông chẳng có gì khó. Vợ con chết cả, một mình trên xứ Mỹ, cha mẹ ở Việt Nam cũng đã ra đi, nên về Việt Nam thì ông chả về. Hơn nữa, bây giờ còn mồ mả vợ con ở đây. Ông đã quyết chọn nơi này làm quê hương. Ông sẽ để lại cho xứ sở này tất cả của cải nghèo nàn mà ông có được. Văn phòng luật sư, làm việc với trung tâm điều dưỡng, sẽ lo bán nhà và cho tiền vào ngân khỏan trong bank của ông. Một cơ quan thiện nguyện, có chi nhánh ở Á Châu và Phi châu, sẽ thừa hưởng số tiền đó một khi ông ra đi.

Ừ đúng! Á Châu thì chắc là phải có Việt Nam rồi. Ông chẳng quên được đồng bào, và nhất là gia đình con cái những đồng đội ông trước kia. Phi Châu thì quá nghèo khổ như tấm hình những đứa trẻ mà ông đọc trên báo. Những đứa bé với đôi mắt trớ lồi còn to hơn cả cái miệng đang thở rốc vì đói, hơi thở nhẹ đến nỗi chẳng đủ làm rung cánh những con ruồi, đang vo ve chơi trò tìm bắt, vào ra trên mũi miệng. Ôi những con người nghèo khổ, màu da tuy có khác nhau, nhưng cũng biết lạnh lẽo giống nhau, và cái bao tử lép xẹp, cũng cồn cào queo quắt vì đói như nhau mà thôi. Ông thấy đúng đắn cho sự lựa chọn của mình.

Xong tờ di chúc, ông có vẻ mãn nguyện. Đúng rồi, ngày ông đặt chân đến Mỹ, chỉ có cái quần lính và cái áo thung ba lỗ, thì bây giờ có chết đi, được mặc bộ đồ suit sang trọng, nằm trong quan tài êm ấm là có lời chán rồi, của cải có mang theo được đâu. Vì không còn mua được phần đất bên cạnh vợ con, nên ông xin được hoả thiêu đề về với cát bụi. Thôi, hòa vào đất trời, cũng là cùng chung một nấm mộ với vợ con vậy.

Nhưng điều ông băn khoăn nhất là con Ky. Tội ngiệp con vật, ở với nhà dòng, các nữ tu cho ăn toàn bơ sữa, giờ ăn theo kiểu Việt Nam, chút cơm với cá, hay thịt kho. Vậy mà con chó lại có vẻ khỏe mạnh ra, bộ lông vàng nâu bóng mượt hết sức. Con vật đã sống với ông lâu ngày, giữa nó và ông, chẳng biết ai già hơn ai. Theo quy luật nhà dưỡng lão, ông không thể mang nó theo được. Đăng báo rao cho thì không nỡ, ông quyết định đưa nó cho Mike, dẫu sao cũng là chỗ quen biết.

Ngày đưa nó đến nhà Mike, như biết sẽ phải xa nhau, mắt con chó già như ướt lệ. Sau khi phụ Mike xích con chó sau vườn, ông vuốt đầu nó:

- Ta không mang con theo được. Vậy con ở đây nhé!

Con chó Mỹ như hiểu tiếng Việt Nam, vùng vằng đầu, và rên rỉ trong cuống họng. Ông vội từ giã Mike mà bước nhanh ra xe. Vì biết, nếu ở lâu, ông sợ không còn can đảm để bỏ lại con chó thương yêu. Con vật vùng vằng khỏi sợi dây buộc, rú lên những tiếng đau thương khi thấy xe ông xa dần vào cuối ngõ.

Ông thẫn thờ lái xe như kẻ mất hồn!

4.

Chiều nay, dù không có nắng, ông vẫn mang theo cái cào, đi thăm mộ vợ con lần nữa, để yên tâm nhập viện tuần tới. Chỉ cần vài ba tiếng đồng hồ cũng đủ cho ông dọn dẹp sạch sẽ hai ngôi mộ, trước khi trời giông tuyết vào tối nay, như lời tiên đoán từ cái ti vi màu, hình ảnh nhập nhòe, mà chẳng biết vì mắt ông kém, hay vì kỹ thật truyền hình của Mỹ ngày càng tệ!

Trước khi đi, ông gọi cho Mike đến lấy những vật dụng trong nhà nếu hắn muốn, trước khi căn nhà được niêm phong giao lại nhà bank. Người bạn trẻ cười hề hề báo cho ông biết tin buồn là con chó, đã lợi dụng lúc Mike mở ổ khóa, vùng khỏi dây cột cổ, chui qua hàng rào rồi phóng vào rừng. Ông tội nghiệp nó, không biết có biết đường về nhà không? Hai nhà cách nhau cả gần chuc miles chứ ít gì. Ông đi vào bếp lấy đồ ăn, đổ vào cái khay trước cửa cho con chó, hy vọng con vật trở về.

Đến trước mộ hai mẹ con. Ông cào lớp lá rơi rụng chung quanh mộ bia. Những chiếc lá vàng như cố tình chọc ghẹo, vừa hất ra, lại theo gió bay trở lại, làm ông thở hổn hển. Rồi cũng xong, ông nhìn hai ngôi mộ hài lòng, bịn rịn gật đầu từ giã vợ con, rồi lặng lẽ bước ra khỏi nghĩa trang.

Lòng ông chợt buồn, dường như hối hận vì quyết định nhập viện hơi sớm cho tuổi đời bảy mươi của mình. Ông nghĩ giá như đừng cho con chó, ông sẽ đổi ý, về ở lại với con vật trong ngôi nhà cho đến hết đời. Chết chỉ một lần, chết ở nhà hay trong viện dưỡng lão, cũng là chết cả, nhưng ở nhà, ông sẽ được sống với con chó, nhất là được thường xuyên đi thăm mộ vợ con. Ông lặng lẽ thở dài!

Chạy xe ngang qua tu viện, ông chợt có tư tưởng vào thăm bức tượng lần chót. Lại xách theo cái cào cỏ, ông ra tay cào những lá vàng chung quanh tương đá. Mồ hôi rịn ra hai bên thái dương dù trời đang se se lạnh, ông đành ngồi xuống nghỉ.

Trời chiều, gió mạnh hơn, dường như cơn mua mang theo những bụi tuyết, lại sắp thổi đến.

Những cành cây khẳng khiu của khu rừng trước mặt, bên kia đường, bất chợt làm ông liên tưởng đến những cánh tay vươn ra nứu kéo nhau, trên đường chạy giặc cùng vợ con, bạn bè. Những cách tay cố bám vứu nhau trèo lên tàu trong một buổi chiều cuối tháng Tư, cũng nhiều gió, sụt sùi mưa, và giông tố như chiều nay. Ôi tháng Tư đau buồn! Một vết thương lòng đã mấy chục năm như vẫn còn nhức nhối.

Hôm nay tuyết lạnh
Gió mưa trở về
Vết thương tháng Tư
Da chưa khép kín
Và lòng ta,
Những cánh rừng khô rụng
Chưa thấy một hồi sinh

Trong một phút mơ màng, ông rướn người lên để phóng về phía bạn bè, vợ con, mặc cho đôi mắt buồn giận của người mẹ phải xa ông trong ngày đưa tiễn. Ông quay lại nhìn mẹ. Đôi mắt của bức tượng, đôi mắt của Đức Mẹ… mà không, đôi mắt của Phật Bà. À, mà đúng rồi, đôi mắt mẹ ông đây mà! Ôi, không phải ánh mất buồn giận năm xưa, mà là ánh mắt dịu hiền thương mến. Vậy là mẹ đã tha thứ cho ông. Mẹ, mẹ ơi! Ông sung sướng ôm lấy ngực như đang lên cơn tưng tức vì xúc động. Ông lảo đảo, dựa hẳn lưng vào bệ tượng, dõi mắt xuống chân đồi.

Bỗng ông chớp mắt, vì từ phía bìa rừng bên kia đường, mờ mờ bóng dáng con Ky đang băng băng chạy lại. Ông nhận ra bộ lông vàng xậm của nó, hình như cũng là lúc nó nhận ra ông, nên cố phóng tới, băng ngang qua đường.

Tiếng thắng gấp của chiếc xe truck làm ông giật mình đứng vụt lên, chiếc xe đã hất tung con chó vào lề đường. Bỏ chiếc cào cỏ, ông vừa ôm ngực vừa phóng xuống chân đồi, đến bên nó, nâng đầu con vật bằng cả hai tay. Giòng máu đỏ trong miệng con chó chảy loang đám cỏ vàng úa. Một giọt nước từ đôi mắt lạc thần của con vật đang chảy ra. Ông chớp chớp mắt, trời mưa phùn và tuyết bắt đầu rơi, nên phút chốc chẳng biết trên mặt con chó lúc này, đang đầm đìa nước mưa hay nước mắt của ông, ông thấy quay cuồng, từ từ gục xuống.

Hình như có tiếng người lao xao bên tai, nhưng ông… đã không tỉnh lại.

Vũ Công Ynh

Edited by user Saturday, November 16, 2019 11:27:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1077 Posted : Saturday, November 16, 2019 2:33:45 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
hongvulannhi  
#1078 Posted : Saturday, November 16, 2019 8:25:27 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,347

Thanks: 2460 times
Was thanked: 5299 time(s) in 3550 post(s)

‘Nhạc sĩ thần đồng’ Cung Tiến


17/11/2019
Hà Vũ

UserPostedImage

Với hai sáng tác đầu tay bất hủ ‘Thu vàng’ và ‘Hoài cảm’ viết từ khi mới lên 13-14 tuổi, nhạc sĩ Cung Tiến được nhiều người ca tụng là thần đồng âm nhạc dù ông xuất thân từ một gia đình không ai có năng khiếu âm nhạc.

“Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả,” nhạc sĩ Cung Tiến nói với VOA.

Tuy nhiên, bản thân ông đã bắt đầu sinh hoạt văn nghệ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.

“Thời trung học có tổ chức những đại hội học sinh toàn thành. Hồi kỷ niệm thành lập Việt Nam Cộng hòa năm thứ hai của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm thì có đại nhạc hội học sinh toàn thành của các trường trung học Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Petrus Ký, Marie Curie, thành lập Ban Hợp ca và tôi điều khiển ban hợp ca đó, vào năm 1956,” nhạc sĩ Cung Tiến tâm sự.

Từ nhỏ, ông từng học thổi sáo, biết chơi đàn mandoline, đàn guitar cổ điển trước khi làm quen với đàn piano lúc qua Úc du học về âm nhạc.

“Sau này qua Úc học âm nhạc đích thực rồi tôi mới học piano. Rồi tôi vào học trường âm nhạc bên Úc về tất cả các bộ môn của âm nhạc như hòa âm, đối điểm, phối trí, âm nhạc sử, tất cả những gì liên quan đến âm nhạc Tây phương tôi đều học kỹ,” ông cho biết.

Các bản nhạc đầu tay của ông đã đi sâu vào lòng người hâm mộ như Thu Vàng, Hoài Cảm, Hương Xưa hoàn toàn xuất phát từ trí tưởng tượng, không dính líu đến đời thật của ông.

“Hồi đi học, tôi học ban văn chương, triết học. Tôi chịu ảnh hưởng thơ lãng mạn Việt Nam hồi đó như Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử …nên lời ca mang những ý tưởng lãng mạn trong thi văn Việt Nam. Không có cái gì sâu xa gọi là kinh nghiệm của con người cả. Hoàn toàn là trí tưởng tượng,” ông nói.

“Hồi đó tôi học đệ nhất, mình bắt đầu mê nhạc cổ điển Tây phương lắm. Tôi nhớ thời hoàng kim, thời xưa của Việt Nam hãy còn hòa bình, nhớ lại cảnh hòa bình xưa của Việt Nam đẹp như thế nào, so với cảnh chiến tranh, lúc đó vào khoảng năm 57-58, so sánh hai trường hợp cảnh chiến tranh hiện đại và cảnh thanh bình hồi xưa của Việt Nam mà thành lời ca của bản Hương xưa,” ông cho biết về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Hương xưa.

Ông nói ông yêu thích văn thơ Việt Nam, đọc sách, đọc thơ nhiều và tình yêu này đã thấm nhuần vào những ca từ ông sáng tác thời trẻ.

Sau này, phần lớn những nhạc phẩm của nhạc sĩ Cung Tiến là những bài thơ được ông thổi vào giai điệu du dương.

“Viết lời ca khi hồi còn trẻ. Sau này mình không có hứng, không có dịp để viết lời ca thường nữa. Phần lớn tôi phổ thơ của Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền. Thanh Tâm Tuyền tôi phổ nhiều lắm. Ngoài tập 10 bài thơ viết trong tù cải tạo, tôi còn phổ những bản trước khi ông vào tù, khi còn ở Sài Gòn như bản Lệ đá xanh, Đêm…,” ông giải thích.

Cung Tiến chưa hề về Việt Nam và từ khi sang Mỹ ông không viết bản nhạc nào về Việt Nam ngoài ‘Hoàng Hạc Lâu’, phổ thơ của Vũ Hoàng Chương dịch bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường, tác phẩm duy nhất của ông có ‘dính líu’ với Việt Nam sau ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975.

Sau khi đậu Tú tài hai, nhạc sĩ Cung Tiến được học bổng Colombo sang Úc học về môn kinh tế trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1965. Dịp này, ông tham dự các lớp học về âm nhạc phương Tây tại Viện Âm nhạc Sydney.

Từ năm 1970 đến 1973, ông được học bổng của Hội đồng Anh (Bristish Council) để nghiên cứu về kinh tế tại trường đại học Cambridge. Trong thời gian đó, ông trau dồi thêm về âm nhạc bằng cách tham dự các lớp về nhạc học, lịch sử âm nhạc và nhạc lý hiện đại. Cho nên về sau này, phong cách sáng tác của ông khác hẳn những bản nhạc thời học sinh mà ông gọi là 'nhạc phổ thông'. Thay vào đó là những tác phẩm mà ông gọi là ‘ca khúc nghệ thuật.’

“Về sau tôi sáng tác nhiều tác phẩm khác được chơi ở bên Mỹ rất nhiều, nhất là tập tổ khúc (Suite) Chinh Phụ Ngâm. Tổ khúc giống như một symphonie nhưng nhỏ hơn, viết cho dàn nhạc đại hòa tấu. Dựa vào những tình tứ, tình cảm trong tập thơ đó, tôi viết thành một tổ khúc ba phần. Không phải tôi phổ nhạc. Không phải tôi phổ thơ Chinh Phụ Ngâm. Tôi dựa vào tình tiết, cảnh tượng trong Chinh Phụ Ngâm mà viết thành một tổ khúc cho dàn nhạc đại hòa tấu,” ông chia sẻ.

Hiện nay, nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác rất ít để chủ yếu dành thời gian hoàn chỉnh những tác phẩm trước đây như phổ nhạc tập thơ của Tô Thùy Yên, tập ‘Ta về’, hay tập tổ khúc quan họ viết cho dàn nhạc Tây phương.

Nhạc sĩ Cung Tiến từng là một viên chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975.

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1079 Posted : Sunday, November 17, 2019 1:08:22 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1080 Posted : Monday, November 18, 2019 2:46:53 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,194

Thanks: 6794 times
Was thanked: 2748 time(s) in 1939 post(s)
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest
56 Pages«<5253545556>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.