Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

8 Pages«<5678>
Options
View
Go to last post Go to first unread
wild grass  
#121 Posted : Wednesday, February 7, 2018 1:05:00 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Vụ Thảm Sát Khe Đá Mài Mậu Thân 1968

Linh Mục Nguyễn Hữu Giải



Trong đoàn người bị bắt từ nhà thờ Phủ Cam và bị thảm sát ở khe Đá Mài có ít nhất hai người trẻ may mắn trốn thoát. Bác sĩ Eljie Vannema có ghi lại tóm tắt trong sách mình (The Vietcong Massacre at Hue. Vantage Press, NY, 1976) một tường thuật về chặng đường thanh giá Khe Đá Mài của một một người vượt thoát, có tên là Lương. Tường thuật sau đây, cũng về đoạn đường thương khó đó, là của một (trong hai) nhân chứng đã trốn thoát. Tường thuật do linh mục Nguyễn Hữu Giải ghi lại.



UserPostedImage




Hồi ấy tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi từ quê chạy lên, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước.


Sáng mồng một tết Mậu Thân, tôi cùng gia đình đi thăm bà con thân thuộc và du xuân với các bạn đồng trang lứa, trong một khung cảnh tạm an bình, vắng tiếng súng, nhờ cuộc hưu chiến mà hai miền Nam Bắc đã cam kết tuân giữ.

Bỗng nhiên, khuya mồng một rạng mồng hai tết, nhiều tiếng đại bác và súng lớn súng nhỏ vang rền khắp xứ đạo của chúng tôi. Sáng hôm sau, tôi nghe nói Việt cộng đang tấn công vào toàn bộ thành phố Huế và đã chiếm nhiều nơi rồi. Hoảng hốt, cả gia đình tôi cũng như rất nhiều giáo dân chạy đến nhà thờ (lúc ấy mới hoàn thành phần cung thánh và hai cánh tả hữu) để ẩn trú, vì đó là nơi an toàn về mặt thể lý (xây vững chắc, tường vách dày, trần xi măng rát cao) cũng như về mặt tâm lý (có thể trông cậy vào ơn phù hộ của Chúa và đông đảo người bên nhau thì bớt sợ hãi...). Tôi thấy đủ hạng: nam nữ già trẻ, linh mục tu sĩ, ngồi chen chúc nhau cả mấy ngàn người (giáo xứ Phủ Cam lúc đó lên tới 10,000 giáo dân). Đang khi ấy, ở bên ngoài, lực lượng địa phương quân, nghĩa quân, nhân dân tự vệ cùng các quân nhân chính quy về nghỉ phép hợp đồng tác chiến, chống giữ không cho Cộng quân tiến vào giáo xứ từ hướng An Cựu, Bến Ngự, Nam Giao,Ngự Bình. Cuộc chiến đấu xem ra rất ác liệt!


Thế nhưng đến chiều mồng 6 tết, do lực lượng quá nhỏ, lại không có tiếp viện (vì mặt trận lan khắp cả thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên), các chiến sĩ đang bảo vệ giáo xứ đành phải rút lui. Thế là Việt Cộng tràn vào! Khuya hôm đó, lúc 1 giờ sáng, chúng mang AK và đèn đuốc xông vào nhà thờ Phủ Cam để gọi là "bắt đầu hàng" và lục soát mọi ngõ ngách. Sau nầy tôi mới biết chúng cố ý lùng bắt cha xứ mà chúng nghi là người chỉ huy cuộc kháng cự, lùng bắt tất cả những ai mà chúng nghĩ đã chống cự lại chúng trong 5 ngày qua, cùng mọi cán bộ viên chức chính phủ VNCH, như xảy ra tại nhiều nơi khác trong thành phố Huế lúc ấy.

Thấy chúng vừa xuất hiện, tôi liền lợi dụng bóng tối, nhanh chân chạy đến cầu thang sắt phiá cánh trái nhà thờ (gần mộ Đức Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền hiện nay), leo lên trần xi măng, sát mái ngói. Từ trên đó, qua mấy lỗ trổ sẵn để gắn đèn cao áp (nhưng chưa gắn), tôi mục kích khá rõ sự việc diễn ra bên dưới. Tôi thấy lố nhố VC địa phương (du kích nằm vùng) lẫn bộ đội chính quy miền Bắc. Chúng lật mặt từng người, chỉ chỏ bên nầy, bên kia. Một câu nói được lặp đi, lặp lại:

- Đồng bào yên tâm! Cách mạng đến là để giải phóng! Các mẹ, các chị, các em có thể ra về. Còn các anh được mời đi học tập, chỉ 3 ngày thôi! Không sao đâu!

Thế là mọi tráng niên và thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều bị lôi đứng dậy và dẫn đi, dù là học sinh, thường dân hay công chức... Tiếng kêu khóc vang động cả nhà thờ. Con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ khóc con. Ai nấy linh cảm chuyến đi "học tập" này sẽ không có ngày đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là linh mục quản xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi giữa đám nữ tu dòng Mến Thánh Giá với lúp đội trên đầu, nên may mắn chẳng bị VC nhận diện. Bằng không thì bây giờ ngài đã xanh cỏ. VC ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm đó vài tên, còn những tên khác đi lùng khắp giáo xứ để bắt thêm một số người nữa, cũng từ 15 đến 50, thành thử có nhiều thanh niên và học sinh gặp nạn.


Sáng hôm sau, lúc 8 giờ, bỗng có 2 tên VC theo thang sắt trèo lên trần và khám phá ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc Long Hồ, vừa được đồng bọn giải thoát khỏi lao Thừa Phủ (là nhà lao nằm giữa lòng thành phố Huế, ngay sau lưng tòa hành chánh tỉnh). Tên kia là Đỗ Vinh, sinh viên, người gốc làng Sịa. Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao lại trèo lên núp. Tôi trả lời là vì nghe con nít khóc ồn ào, chịu không nổi, phải trèo lên đấy để nghỉ.

Chúng dẫn một mình tôi - lúc ấy chẳng còn hồn vía gì nữa - đi xuống dốc nhà thờ, nhưng đến chắn xe lửa thì quẹo trái, men theo đường xe lửa tới chắn Bến Ngự. Từ đây chúng dẫn tôi lên chùa Từ Đàm là nơi VC đang đặt bản doanh. Chúng rất đông, vừa sắc phục, vừa thường phục, vừa bộ đội miền Bắc, vừa du kích nằm vùng miền Nam. Vào trong khuôn viên chùa, tôi nhận thấy ngôi nhà tăng 5 gian đã đầy người bị bắt, đa số là giáo dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 (đối diện với cây bồ đề) còn khá trống, để nhốt những người bị bắt trong ngày mồng 7 tết. Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói:

- Thằng ni trắng trẻo chắc là Cảnh Sát, bắn quách nó đi cho rồi!

May thay, có một người trong nhóm bị bắt đã vội lên tiếng:

- Tội quá mấy ông ơi, đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự, cảnh sát mô mà cảnh sát! Nhờ thế ông Tin được thoát nạn, được cho về. (Như rứa là Cảnh Sát có giá lắm!)

Tiếp đó, VC đưa cho tôi một tờ giấy để làm bản lý lịch. Chúng bảo là phải khai tên cha, tên mẹ, tên mình, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi, bản thân bây giờ làm chi. Khai rõ ràng chính xác, cách mạng sẽ khoan hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay tại chỗ. Lúc ấy không hiểu sao Chúa cho tôi đủ sự thông minh và điềm tĩnh nên đã khai hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên mình và giả mọi chi tiết khác, như nghề của cha là kéo xe ba gác, nghề của mẹ bán rau hành ở chợ Xép, bản thân thì đang đi học trường kỹ thuật. May mà bọn VC chẳng kiểm tra bằng cách hỏi những người cùng giáo xứ bị bắt đêm hôm trước. Bằng không thì tôi cũng rồi đời tại chỗ!

Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 tết, không được cho ăn gì cả. Lâu lâu tôi thấy VC dẫn thêm một số tù nhân, trong đó tôi nhớ có cậu Long, học sinh, con ông Nguyện ở xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh thoảng chúng lại trói ai đó vào gốc cây bồ, bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Sau nầy người ta đếm được có 20 xác, trong đó có anh Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ, bị đám VC khi được thoát tù, đã bắt đem theo lên đây.

VC cũng cho một vài người về nhắn thân nhân bới cơm nước lên cho người nhà, nhưng với điều kiện: nhắn xong phải đến lại trong ngày, bằng không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là một số anh em Phủ Cam lên tiếng xin thả ông Hồ (chẳng lẽ là ông Hồ Chí Minh?) khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc, nhà ở gần cabin điện đường Hàm Nghi, để ông về lo chuyện tiếp tế thực phẩm. VC liền hỏi: "Ai tên Hồ?" thì có một cậu thanh niên nào đó nhảy ra nói: Hồ đây! Hồ đây! Thế là nó được thả về và rồi trốn luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi với tôi cũng được cho về nhắn chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ vậy thoát khỏi cơn thảm tử. Còn ai vì sợ hãi hay thương bạn mà lên lại Từ Đàm thì cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể. Các "sứ giả" về thông báo với bà con là ai có thân nhân "đi học tập" hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là ngày hôm sau, người ta ùn ùn gánh lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề, tết mà... Họ chẵng thấy thân nhân đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc nầy mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!

Lân la dò hỏi và nhìn quanh, tôi thấy trong số thanh niên bị bắt có rất nhiều người bạn của tôi: anh Trị tây lai con ông Ngọc đờn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng, lương y thuốc Bắc ở chợ Xép, hai con trai ông Thắng nấu rượu, hai con trai ông Vang thổi kèn, ông Thịnh con ông Năm, hai anh em Bình và Minh con ông Thục mà một là bạn học với cha Phan văn Lợi... Tôi cũng nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà sau nầy tôi mới biết là thầy Nguyễn Văn Thứ, nghĩa tử của cha Nguyễn Kim Bính và bạn cùng cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy Phạm Văn Vụ, đồng nghĩa phụ với cha Lợi.


Khi trời bắt đầu sẫm tối, VC bắt chúng tôi ra xếp hàng và một tên tuyên bố:

- Anh em yên tâm! Như đã nói, cách mạng đưa anh em đi học tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ về thôi! Bây giờ chúng ta lên đường!

Rồi chúng bắt đầu dùng dây điện thoại trói thúc ké từng người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng một sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm, tức hơn 500 người.

Khi chúng tôi bị lôi ra đường (đường Phan bội Châu hiện giờ), chừng 7 giờ tối, chúng tôi thấy một đoàn cố vấn dân sự Hoa Kỳ khoảng 14 người cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn đi theo hướng khác. Áp giải chúng tôi lúc nầy không phải là VC nằm vùng, địa phương, nhưng là bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn nằm vùng ở lại để đi bắt người tiếp. Bỗng một kẻ mặc áo thầy chùa xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà nói:

- Mô Phật! Dân Phủ Cam bị bắt cũng nhiều đấy! Chỉ thiếu Trọng Hê và Phú rỗ!

Trọng con ông Hê và Phú mặt rỗ là hai thanh niên công giáo, nhưng lại là hai tay anh chị khét tiếng cả thành phố. Về sau tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 tết tại nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát, hiền lành. Còn hạng can đảm, có máu mạo hiễm hay hạng "du đãng, anh chị" đều đã đi theo binh lính, dân quân để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh chân trốn chạy, không tới nhà thờ trú ẩn, nên đều thoát chết. Sự đời thật oái oăm!

Hết đường Phan Bội Châu, chúng tôi đi vào đường Thiên Thai (bên trái đàn Nam Giao), sau đó men theo đường vòng đan viện Thiên An, xuôi về lăng Khải Định, VC dẫn chúng tôi bọc phía sau trụ sở quận Nam Hòa (lúc đó chưa bị chiếm), ra đến bờ sông Tả Trạch (thượng nguồn sông Hương). Chúng tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối, giữa trời sương lạnh, vừa buồn bã vừa hoang mang, tự hỏi chẳng biết số phận mình rồi ra thế nào, tại sao VC lại tấn công vào ngày xuân, giữa kỳ hưu chiến?


Tới bờ sông, VC cho chặt lồ ồ (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua phía bên kia mà sau nầy tôi mới biết là khu vực lăng vua Gia Long, thuộc vùng núi Tranh hay còn gọi là vùng núi Đình Môn Kim Ngọc. Lúc ấy vào khoảng 9 giờ tối. Từ đó chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, lúc lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe, lần theo con đường mòn mà thỉnh thoảng lại được soi chiếu bằng những cây đèn pin hay vài ngọn đuốc của 30 tên bộ đội. Tôi thoáng thấy tre nứa và cây cổ thụ dày đặc. Trời mưa lâm râm. Đến khoảng 11 giờ đêm, chúng tôi được cho dừng lại để tạm nghỉ, ăn uống. Tôi đoán chừng đã đi được hơn chục cây số. Mỗi người được phát một vắt cơm muối mè, đựng trên lá ráy. Hai cánh tay vẫn bị trói. Ít người ăn nổi. Riêng tôi làm 2 vắt.

Ăn xong thì được cho ngủ. Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng chợp mắt để lấy lại sức. Bỗng nhiên như có linh tính, tôi chợt choàng dậy và thấy rung động toàn thân hết sức dữ dội. Máu tôi sôi sùng sục trong đầu. Có chuyện chẳng lành rồi đây! Quả thế, tôi thoáng nghe hai tên VC gần kề nói nhỏ với nhau: "Trong vòng 15, 20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy".

Tôi nghe mà bủn rủn cả người! Nghĩ mình đang là học sinh vô tội, lại còn trẻ trung, thế mà 15 phút nữa sẽ bị giết chết, tôi như muốn điên lên. Dù thế tôi vẫn cầu nguyện: "Lạy Chúa, từ lâu Chúa dạy con phải hiền lành thật thà, không được làm hại ai, vậy mà bây giờ lại có người muốn giết con và các bạn của con nữa. Xin Chúa cho con dùng mưu trí, can đảm và sức mạnh để tự giải thoát mình”.

Tôi ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:

- Tụi mình ráng mở dây mà trốn đi! Mười lăm phút nữa là bọn hắn bắn chết hết đó!

Chúng tôi quặt ra tay sau, âm thầm lần múi dây trói. Nhờ trời vừa mưa, vừa tối, dây điện thoại lại trơn nên chỉ ít phút sau là nút buộc lỏng, vung mạnh cánh tay là sẽ bung ra. Chúng tôi cũng mở múi buộc dây thép gai đang nối mình với những người khác. Tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ vị thế bị trói thúc ké để bọn VC khỏi nghi ngờ. Tôi dặn thằng bạn tiếp:

- Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe
!

Đánh thức chúng tôi dậy xong, một tên lên tiếng nói lớn cho cả đoàn:

- Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai có một là vàng, hai là tiền, ba là đồng hồ (Seiko phai hay Seiko năm càng tốt), bốn là bật lửa thì nộp lại để cách mạng giữ cho, học xong 3 ngày sẽ trả; kẻo vào trại, ăn cắp lẫn nhau rồi lại đổ lỗi cho cách mạng, nói xấu cán bộ!

Thế là mọi người riu rít và khổ sở móc ra những thứ quý giá còn giữ trong người. Ai chậm chạp hoặc ngần ngừ thì mấy tên bộ đội tới "giúp" cho. Bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Lúc đó tôi mới để ý thấy tên cán bộ áp giải chùm của tôi đang mang trên hai vai và cột quanh lưng ít nhất cả chục cái radio lớn nhỏ mà chắc hắn đã cướp được của dân dưới thành phố. Với khẩu AK trên tay lại thêm từng ấy máy móc trên người, hắn bước đi lặt lè, chậm chạp, khá cách khoảng mấy tên khác.

Chúng tôi lại bắt đầu đi xuống dốc. Tôi nghe có tiếng róc rách gần kề. Lại một khe nữa! Được vài bước, tôi vỗ nhẹ vào lưng thằng bạn. Cả hai chúng tôi vung tay, dây tuột và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Lấy hết sức bình sinh, tôi đá mạnh vào gót và rồi dưới cằm tên bộ đội áp giải (tên mang cả chùm radio ấy). Hắn ngã nhào. Hai chúng tôi lao vào rừng lồ ô. Bọn VC tri hô lên: "Bắt, bắt, có mấy thằng trốn"; rồi nổ súng đuổi theo chúng tôi. Chạy khoảng vài chục mét, thoáng thấy có một lèn đá - vì trời không đến nổi tối đen như mực - tôi kéo thằng bạn lòn vào trong mất dạng. Tôi dặn hắn VC nó kêu, nó dụ, tuyệt đối không bao giờ ra nghe! Ra là chết! Một lúc sau tôi nghe có tiếng nói trong bóng đêm:

- Bọn chúng chạy mất rồi, nhưng rừng sâu thế nầy khó mà thoát chết nổi! Thôi đi tiếp!


Khi nghe đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi lèn, đi ngược lên trên hướng đối nghịch. Chừng 15, 20 phút sau, tôi bỗng nghe từ phiá dưới vọng lên tiếng súng AK nổ vang rền và lựu đạn nổ tới tấp, phải mấy chục băng và mấy chục quả. Một góc rừng sáng rực! Chen vào đó là tiếng khóc la khủng khiếp, chẳng hiểu sao vọng tới tai chúng tôi rõ ràng, khiến tôi dựng tóc gáy, nổi da gà và chẳng bao giờ quên được. Hai chúng tôi đồng nấc lên:

"Rứa là chết cả rồi! Rứa là chết hết rồi. Trời ơi!!”.

Lúc đó khoảng 12 giờ hay 12 giờ 30 khuya mồng 7 rạng mồng 8 tết. Tôi bàng hoàng, bủn rủn. Sao lại như thế? Các bạn tôi dưới ấy đều là những người hiền lành, chưa lúc nào cầm súng, chưa một ngày ra trận, chẳng hề làm hại ai, họ có tội tình gì? Bọn chúng có còn là người Việt Nam nữa không? Sau nầy tôi mới biết đây là vụ thảm sát khủng khiếp nhất trong lịch sử Quốc Cộng. Địa danh Khe Đá Mài mà lúc đó tôi chưa rõ, in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt đỏ không bao giờ nguội.


Chúng tôi tiếp tục chạy, chạy mãi, bất chấp lau lách, gai góc, bụi bờ, vừa chạy vừa thầm cảm tạ Chúa đã cho mình thoát chết trong gang tấc nhưng cũng thầm cầu nguyện cho những bạn xấu số mới bị hành quyết oan ức, đau đớn, thê thảm, Sáng ra thì chúng tôi gặp lại con sông. Biết rằng bơi qua ngay thì có thể bị VC rình chờ bắt lại, chúng tôi men theo sông, ngược lên thượng nguồn cả mấy cây số, đến vùng Lương Miêu Thượng. Tới chỗ vắng, tôi hỏi thằng bạn:

- Mầy biết bơi không?

- Không.

- Tao thì biết. Thôi thì hai đứa mình kiếm 2 cây chuối. Mầy ôm một cây xuống nước trước, tao ôm một cây bơi sau, đẩy mầy qua sông. Ráng ôm thật chặt, thả tay là chìm, là chết đó. Trời nầy lạnh tao không lặn xuống cứu mầy được mô!



Đúng là ngày hôm đó trời sương mù và lạnh buốt. Thời tiết kéo dài cả tháng tết tại Huế. Có vẻ như Ông Trời bày tỏ niềm sầu khổ xót thương bao nạn nhân vô tội ở đất Thần Kinh này. Vừa bơi tôi vừa miên man nghĩ tới các bạn của tôi. Máu của họ có xuôi theo triền dốc, hoà vào dòng nước sông Tả Trạch này chăng? Oan hồn họ giờ đây lãng vãng nơi nào? Có ai sống không nhỉ?


Chúng tôi cập bến đò Long Miêu. Từ đây xuôi dòng về trụ sở quận Nam Hòa, hy vọng gặp binh lính quốc gia, nhưng cũng có nguy cơ gặp bọn VC chận đường bắt lại. Thành thử chúng tôi nhắm hướng Bắc, tìm đường về Phú Bài. Thằng bạn tôi, do suốt đêm bị gai góc trầy xước, đề nghị đi trên đường quang cho thoải mái. Tôi gạt ngay:

- Ban đêm thì được, chớ ban ngày thì nguy lắm, chịu khó lần theo đường mòn!

Chúng tôi thấy máu và bông băng rơi vãi nhiều nơi, chứng tỏ có trận đánh gần đâu đó. Đang đi, tôi chợt hỏi thằng bạn:

- Chừ gặp dân thì mầy trả lời ra răng, nói tao nghe?

- Nhờ anh chớ tôi thì chịu.

Lúc khoảng 9 giờ, chúng tôi gặp hai thằng bé chăn trâu, tôi lên tiếng nói:

- Hai anh là học sinh ở đường Trần Hưng Đạo dưới phố (con đường chính của khu buôn bán, không nói là Phủ Cam). Cách mạng (không nói là Việt Cộng) số về đánh dưới, số còn trên ni. Hai anh vừa mang gạo lên chiến khu hôm qua cho họ. Nay họ cho hai anh về, nhưng lại ướt cả áo quần và đói nữa. Mấy em có biết cách mạng có ở gần đây không, chỉ cho hai anh, để hai anh kiếm chút cơm ăn, kẻo đói lạnh quá!

- Hai anh qua khỏi đường nầy thì thấy cách mạng đang hạ trâu ăn mừng!

Thế là chúng tôi hoảng hốt vào rừng lại. Chạy và chạy, chạy tốc lực, chạy như điên, không ngừng lại để nghỉ. Một đỗi xa, chúng tôi mới hướng ra lại đồng bằng. Bỗng một đồn lính xuất hiện đằng xa, đến gần thấy bên trong lố nhố mũ sắt. Phe ta rồi! Lần nầy thì vô đây chứ không đi mô nữa cả. Nhất định vô! Lúc đó là khoảng 10 giờ trưa. Đây là đồn biên phòng của một đơn vị quân lực VNCH. Chúng tôi nghe từ đồn có tiếng dõng dạc vang vọng:

- Hai thằng VC muốn về hồi chánh hả? Vào đi! Nhớ để tay lên đầu. Thả tay xuống là bắn đó!

Chúng tôi nhất nhất tuân theo. Vào được bên trong, hoàn hồn, chúng tôi mới nói:

- Hai đứa em là học sinh dưới Phủ Cam, Phước Quả, VC bắt lên rừng từ tối hôm qua với mấy trăm người khác. Nghe tụi nó định giết hết, hai em đã liều mở dây trói, đánh thằng VC rồi bỏ chạy. Còn các người kia chắc là chết hết cả rồi! Giờ tụi em chỉ có một nguyện vọng: xin đồn phát súng cho chúng em đánh giặc với, chớ không thể đi ra khỏi đồn nữa.

Viên Sĩ Quan cất tiếng:

- Tổ Quốc đang lâm nguy! Đứa con nào trung, đứa con nào hiếu lúc nầy là biết liền. Thôi mấy em thay áo quần, xức thuốc, xức men, ăn uống thoải mái rồi ở lại với mấy anh! Tội nghiệp!

Họ hỏi chúng tôi về chỗ xẩy ra cuộc hành hình nhưng chúng tôi hoàn toàn không thể trả lời được. Giữa rừng rậm lại đêm khuya, biết đâu mà lần. Gần nửa tháng sau tôi mới gặp lại gia đình họ hàng, bằng hữu thuộc giáo xứ Phủ Cam đang chạy về lánh nạn tại Phú Lương và Phú Bài. Hai chúng tôi quyết định bỏ học để đăng lính. Phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc thôi. Phải báo thù cho anh em bạn bè bị VC giết quá ư dã man, tàn ác, vô nhân đạo. Tôi nhập bộ binh. Thằng bạn tôi, nhảy dù. Nhưng vài năm sau, tôi nghe tin nó chết trận! Tội nghiệp thật, nhưng đó là cái chết ý nghĩa!


Đến gần tháng 10 năm 1969, nhờ bắt được và khai thác tù binh VC, chính phủ VNCH mới biết địa điểm tội ác chính là khe Đá Mài, nằm trong rừng Đình Môn Kim Ngọc thuộc quận Nam Hoà (nay là xã Đương Hoà, quận Hương Thủy). Nơi đây không thể vào bằng xe vì đường xe không có hoặc không thể đi lọt, mà chỉ vào được bằng lội bộ. Cây cối chỗ này rất cao, lá dày và mọc theo kiểu hai tầng, tầng thấp gồm những bụi tre và cây nhỏ, tầng cao gồm những cây cổ thụ xoè ra như lọng dù che khuất những gì bên dưới. Bên dưới hai tầng lá nầy, ánh sánh mặt trời không chiếu sáng nổi. Đúng là nơi giết người mà không cần chôn cất. Công binh đã phải bỏ hai ngày, dùng mìn phá ngã các cây cổ thụ để tạo ra một khoảng trống lớn để cho máy bay trực thăng đáp xuống và một tiểu đoàn dù quân lực VNCH đã phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Các binh sĩ đã tìm thấy cuối một khe nước chảy trong veo (về sau mang thêm tên Suối Máu, Phủ Cam Tử Lộ), cả một núi hài cốt, nào sọ, nào xương sườn, nào xương tay, xương chân trắng hếu, nằm rời rạc, nhưng cũng có những bộ còn khá nguyên. Xen vào đó là dây điện thoại và dây thép gai vốn đã trói chúng tôi thành chùm. Rồi áo quần, vải có, len có, da có, nguyên chiếc hay từng mảnh, lổ chổ vết thủng. Rồi tràng chuỗi, tượng ảnh, chứng minh thư, ống hít mũi, lọ dầu nóng... vương vãi trên bờ, giữa cỏ, dưới nước. Nhờ những di vật nầy mà một số nạn nhân đã được nhận diện. Khi tất cả hài cốt, di vật được chở về trường tiểu học Nam Hoà (nay gọi là Thủy Bằng) bên hữu ngạn sông Hương, đem phân loại, thân nhân đã ùa đến và không ai cầm nổi nước mắt. Tất cả oà khóc, nghẹn ngào. Có người cầu nguyện, có người nguyền rủa, có người lăn ra ngất xỉu khi khám phá ra vật dụng của người thân. Cái chủ nghĩa nào, cái chế độ nào, cái chính đảng nào đã chủ trương dã man như thế?


Cuối cùng, đa phần các hài cốt (428 bộ) được quy tập một chỗ, mang tên nghĩa trang Ba Tầng, nằm phiá Nam thành phố Huế, cận kề khu vực Từ Đàm (đất của Phật Giáo) và Phủ Cam (đất của Công Giáo). Nghĩa trang nầy xây thành hình bán nguyệt. Hai bên, phiá trước, có hai bàn thờ che mái, cho tín đồ phật giáo và công giáo đến cầu nguyện. Ở giữa, phía sau một trụ đá dựng đứng với dòng chử Hán làm bia tưởng niệm. Từ đó, tại giáo xứ Phủ Cam của tôi, hằng năm, ngày mồng 10 tết được coi là ngày cầu nguyện tưởng nhớ đến các nạn nhân Mậu Thân. Chúng tôi có thể tha thứ cho người cộng sản, nhưng chúng tôi không bao giờ quên được tội ác của họ, y như một câu ngạn ngữ tiếng Anh: Forgive, yes! Forget, no!


Tiếc thay sau khi vừa chiếm được miền Nam, cộng sản đã dùng mìn phá ngay trụ bia và hai bàn thờ. Lại thêm một cuộc thảm sát vào hương hồn các nạn nhân mà nỗi oan vẫn chưa được giải.


Linh Mục Nguyễn Hữu Giải
Ghi lại theo lời kể. http://www.danviet.de/doc/muc57/b2767d.htm




UserPostedImage


UserPostedImage
hongvulannhi  
#122 Posted : Friday, February 16, 2018 10:01:47 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5194 time(s) in 3450 post(s)

UserPostedImage


Chúc wild grass và gia đình hưởng mùa Xuân mới trong yêu thương hạnh phúc

HONG VU LAN NHI


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 2/18/2018(UTC)
wild grass  
#123 Posted : Sunday, February 18, 2018 1:24:08 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Nạn nhân Mậu Thân, nạn nhân Biển Cả




UserPostedImage





Phóng viên vỉa hè (Danlambao) - Những ngày đầu năm mới.

Đã nhắc đến hàng ngàn nạn nhân kết thành “dải khăn sô cho Huế”, xin đừng quên những nạn nhân đã bỏ mình nơi biển cả trên đường vượt biển.

Đã nhắc đến hàng ngàn người bị đập đầu bằng cuốc xẻng, xin đừng quên những người đã vùi thây dưới những ngọn sóng đập vào những con thuyền mong manh.

Đã nhắc đến hàng ngàn người bị xỏ tay vào nhau để khỏi trốn, xin đừng quên những người trên tàu, sau khi nạp tiền mãi lộ, đã bị những người đã bán bãi chơi xỏ, ra lệnh đánh chìm tàu để cướp chỗ tài sản còn lại.

Và nhớ đến những phụ nữ đã bị hải tặc làm nhục trước mặt thân nhân mình.

Nhớ đến những bé gái, thiếu nữ bị hải tặc đem bán cho những động mại dâm để trở thành nô lệ tình dục.

Nhớ đến các bé bị hải tặc bắt làm con nuôi, xé nát ruột gan bố mẹ ruột.

Nhớ đến những cảnh đói khát cùng cực phải ăn cả thịt người để tồn tại.

Nhớ đến những người đã đặt chân lên đảo mà sống cũng như chết, tỉnh cũng như mê.

Nhớ đến những nấm mồ chôn cất sơ sài trên khắp các hòn đảo Đông Nam Á. Những ngày đầu Xuân này, có ai thắp cho họ một nén nhang để có chút hơi ấm?


Phải nhắc và nhớ để các thế hệ sau biết về tội ác chất chồng tội ác của “sự nghiệp giải phóng” đất nước, cái giá phải trả cho thống nhất có đáng?

Phải nhắc để chủ nhân những biệt phủ và con cái họ nhớ rằng, tài sản của họ và nhóm lợi ích của họ được xây đắp bằng xương máu và nước mắt của biết bao người. Nào là Lê Thanh Hải, nào là Vạn Thịnh Phát, có cần kể thêm ở đây?

Và như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, rồi

Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Đảng
Đội lại khăn tang, đêm tàn ngày rạng


Cũng như sẽ có một ngày

tả trắng thắng cờ hồng!
Tiếng sáo mục đồng êm ả
Tình quê tha thiết ngân nga
Thay tiếng “Tiến quân ca”
Và “Quốc tế ca”
Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!


Nhà thơ thường là những tiên tri, loài chim báo bão. Bão đến càng nhanh thì trẻ em đỡ phải lội suối đến trường, bệnh nhân đỡ phải bị ghép giường, phụ nữ đỡ bị gả bán cho người khuyết tật nước ngoài, thanh niên đỡ bị làm nô lệ lao động xứ khác, hộ chiếu mang hai chữ Việt Nam đỡ bị khinh thường. Bão trễ chừng nào thì vết thương càng sâu, khó có thể phân loại cấp mấy.

Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có lễ tưởng niệm chung cho nạn nhân chiến tranh Nam Bắc, nạn nhân vụ tàn sát Mậu Thân kinh hoàng gấp nhiều lần vụ Mỹ Lai, nạn nhân trên đường vượt biển; ngày đó, tiếng chuông chùa sẽ cùng với tiếng chuông nhà thờ thi nhau đổ liên hồi; những nghĩa trang sẽ được dọn dẹp tươm tất…

Forgive hay Forget? “Yes” cho cả hai hay một trong hai? “No” cho cả hai hay một trong hai?

Thật khó để biết trước những gì mà cơn cuồng nộ sẽ mang lại.

17/2/2018

Phóng viên vỉa hè
danlambaovn.blogspot.com

wild grass  
#124 Posted : Thursday, February 22, 2018 1:17:37 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



Kỷ Niệm Chiến Thắng Đống-Đa Mùa Xuân Kỷ-Dậu (1789)

Nhóm Văn Thơ Lạc Việt



Xuân về nhớ đến Tiền nhân
Trên bàn hương án minh tâm khấn thầm
Vua Quang Trung…Hỡi thánh quân...!
Con xin cung thỉnh vía thần cõi tiên
Về nơi đây với ba miền
Xem con cháu Việt nỗi niềm đầy vơi
Nỗi ưu tư vẫn nơi nơi
Thăng trầm dâu bể chân trời viễn ly
Niềm đau tổ quốc lâm nguy
Hoàng, Trường Sa đảo bỗng nhiên xa vời
Kẻ vô tri cống dâng rồi
Biết làm sao để thâu hồi ….Hỡi ơi…!


Thưa ngài…!

Con sanh muộn giữa đất trời
Trau dồi sử sách ngẫm thời vàng son
Lúc ngài mưu lược bể non
Danh cồn thiên hạ chiến công lẫy lừng
Phá Chiêm đuổi Mãn không ngừng
Hai mươi vạn Bắc quân từng rã tan
Tiếng hô quân sĩ còn vang
Tiếng vui mở hội khải hoàn đâu đây
Phải chăng thuyết mộng trả vay
Con là quân sĩ những ngày xa xưa
Dưới cờ nghe lệnh di quân
Theo ngài Nam Bắc gian chuân chiến trường
Vui say khúc nhạc vô thường
Tấm thân nguyện xả xây đường vinh quang
Ngọc-Hồi thây chất máu loang
Đống-Đa đại thắng thênh thang biển rừng
Hứa, Trương, Thượng cả ba từng
Phơi thây chiến địa thôi lừng kiêu căng


Thưa ngài…!

Hôm nay ngày lễ hằng năm
Con xin khấu tạ ghi tâm đức ngài
Xin ngài linh hiển hướng khai
Độ con dân Việt trong ngoài vùng lên
Độ anh hùng đấng nghĩa nhân
Cùng nhau đoàn kết tinh thần đấu tranh
Đánh tan quốc nội gian thần
Đuổi quân xâm lược muôn phần ác tham
Xây nền dân chủ Việt Nam
Điểm tô non nước vinh quang giống nòi
Gương ngài vạn kiếp vẫn soi
Anh hùng dân tộc muôn đời vinh danh

Chính ngài Nguyễn Huệ - Quang Trung


Tâm Thơ
Nhóm Văn Thơ Lạc Việt




HỊCH ĐÁNH GIẶC TÀU

Thân Trọng Tuấn




UserPostedImage

Gò Đống Đa 1942 - Ảnh Võ An Ninh



Hoàn cảnh lịch sử:

Sau khi chiếm Thuận Hóa, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh kéo thẳng quân ra Thăng Long với chiêu bài Phò Lê Diệt Trịnh, chỉ đánh một trận thâu tóm Bắc Hà. Nguyễn Huệ đóng quân trong phủ chúa Trịnh, xuống lệnh chiêu an. Chúa Trịnh Khải thua chạy lên Sơn Tây, hỏi đường, bị lừa đi vào vùng đóng quân của Tây Sơn, bèn dùng kiếm tự vẫn. Nguyễn Huệ sai lấy lễ vương tôn an táng. Dẹp xong đoàn kiêu binh của chúa Trịnh, Nguyễn Huệ cho báo tin trước khi vào đền Vạn Thọ yết kiến vua Lê Duệ Tông theo đúng nghi thức đại lễ vua tôi và luôn tiện đề cao Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê ôn tồn an ủi. Sau đó, vua thuận cho thiết đại triều tại điện Kính Thiên để Nguyễn Huệ vào chầu làm cho thiên hạ biết rõ việc Phò Lê Diệt Trịnh.



UserPostedImage




Vua phong Nguyễn Huệ chức Nguyên Súy Dực Chính Phù Vận tước Uy Quốc Công. Nguyễn Huệ có ý không vui, cho là bị ràng buộc. Nguyễn Hữu Chỉnh bèn dâng kế với vua Lê là gả công chúa Lê Thị Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Vua cũng bằng lòng, nhưng rồi ngã bệnh nặng vì đã 86 tuổi, chỉ kịp thiết triều nhận lễ mừng của Nguyễn Huệ xong băng hà. Ngày lễ phát tang, phò mã Nguyên Súy Nguyễn Huệ mặc áo tang đứng ở bên phía trái cung điện, thấy người Chấp sự vô lễ cười trộm bèn sai chém ngay. Ngày di quan về Lam Sơn, Nguyễn Huệ đi theo đưa ra đến tận bến sông.

Trước kia, vua Lê Duệ Tông có lập Lê Duy Cận tước Sùng Nhượng Công làm Đông Cung Thái tử để nối ngôi, nhưng bị kiêu binh (quân Tam Phủ) của chúa Trịnh phế. Phò mã Nguyên Súy Nguyễn Huệ nghe theo lời vợ là công chúa Ngọc Hân lập Lê Duy Kỳ lên làm vua tức là Lê Chiêu Thống.

Nguyễn Huệ trở về Thuận Hóa (Phú Xuân-Huế), giao binh quyền cho Nguyễn Hữu Chỉnh trông coi Bắc Hà. Chỉnh có ý mưu phản. Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra tra xét nhưng Chỉnh khôn ngoan thoát khỏi. Sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh làm phản thật, mưu chiếm Nghệ An. Gặp lúc các quan cũ trung thành với chúa Trịnh lập dòng dõi chúa Trịnh là Trịnh Bồng làm Án Đô vương định lập lại phủ chúa, nối nghiệp cũ nắm quyền cai trị. Vua Lê Chiêu Thống thấy vậy cho triệu Nguyễn Hữu Chỉnh. Trịnh Bồng bỏ trốn lên chùa đi tu. Vua Lê phong cho Nguyễn Hữu Chỉnh chức Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Đại Tư Đồ, tước Bằng Trung Công. Chỉnh lấy làm tự kiêu. Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đem quân ra hỏi tội Chỉnh. Chỉnh cùng gia quyến ra khỏi kinh thành Thăng Long trốn lên Kinh Bắc (Bắc Ninh), bị Vũ Văn Nhậm bắt giết. Vua Lê Chiêu Thống cũng mang mẹ và vợ con trốn lên Lạng Giang, một mặt ủy thác cho Hoàng Thái Hậu (mẹ), Hoàng phi (vợ) và hoàng tử (con trai) cùng một số cận thần sang Tàu cầu cứu, còn mình chạy theo Nguyễn Hữu Chỉnh, cải trang làm người dân thường nên thoát khỏi bị bắt, cứ thế mà trốn tránh và thành lập đội quân “Cần Vương” cho đến khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị mang quân tới ải Nam Quan mới mang quân “Cần Vương” về lại Thăng Long, nhằm lúc quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chỉ huy vừa bỏ Thăng Long rút về Tam Điệp.

Vua nhà Thanh là Càn Long khi nghe tin Lê Chiêu Thống cầu cứu xin binh liền nắm ngay cơ hội để chiếm nước Nam, phong Tôn Sĩ Nghị làm Chinh Man Đại Tướng Quân chỉ huy hai trăm ngàn (20 vạn) quân của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu chia làm 3 đạo, cùng chín mươi ngàn (9 vạn) dân phu theo phục dịch. Càn Long lại sai Tổng Đốc hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu là Phúc An Khang dựng 70 kho quân lương trong bốn tỉnh kể trên và dựng thêm 18 kho quân lương nữa từ ải Nam Quan xuống tới kinh đô Thăng Long. Ngày 28/10 năm Mậu Thân (25/11/1788), cả ba đạo quân nhà Thanh đều nhất loạt nhằm vào biên giới nước ta mà tiến dưới chiêu bài “Phò Lê diệt Tây Sơn”. Ngày 20/11 năm Mậu Thân (17/12/1788) Tôn Sĩ Nghị chiếm Thăng Long. Đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị đóng ở cung Tây Long, trong thành Thăng Long. Đạo quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi cát rộng hai bên bờ sông Hồng, bắt cầu phao qua sông. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại gò Đống Đa (Khương Thượng). Đạo quân Vân Nam đồn trú tại Sơn Tây. Quân “Cần Vương” của Lê Chiêu Thống đóng ở nội thành Thăng Long.

Tôn Sĩ Nghị quyết định đợi sang xuân, mùng 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (30/1/1789) sẽ xuất quân tấn công quân Tây Sơn.

Sau khi an dinh hạ trại, lính Tàu vốn người Hung Nô nhưng bắt chước theo tập tục của người Hán, liền cho cúng trời đất, tất cả các thần linh, vật dụng, oan hồn, cây cỏ, v.v. của thành Thăng Long để cầu sự như ý, xong chia nhau từng toán đi cướp phá, đốt nhà kẻ chống cự, hãm hiếp đàn bà con gái ngay giữa chợ, bày trò đánh bạc đến độ rách chiếu, uống rượu khắp nơi. Các cấp chỉ huy đã không cấm mà con a tòng, thêm tụi vô lại “Hai Mươi tháng Tý” (1) nối giáo cho giặc khiến càng thêm loạn.


UserPostedImage



Để làm yên lòng Lê Chiêu Thống và quan lại nhà Lê, Tôn Sĩ Nghị đã chia quân đóng giữ ở phía Nam thành Thăng Long như: Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì), Hạ Hồi (huyện Thường Tín), Nhật Tảo (huyện Duy Tiên) và điều một bộ phận quân Cần Vương của Lê Chiêu Thống tới giữ đồn Gián Khẩu, án ngữ đường tiến của quân Tây Sơn vào Thăng Long. Hôm sau, ngày 21 tháng 11 năm Mậu Thân (18/12/1788), Tôn Sĩ Nghị lệnh đòi vua Lê Chiêu Thống sang bản doanh của y trong cung Tây Long để nhận phong làm An Nam Quốc Vương, bắt tất cả các văn thư giấy tờ đều phải ghi niên hiệu Càn Long, và hàng ngày sau khi tan triều, vua Lê Chiêu Thống phải sang chầu Tôn Sĩ Nghị để nhận lệnh. Có ngày vua Lê Chiêu Thống bị lính hầu của Tôn Sĩ Nghị đuổi về với lý do là không có việc gì để sai khiến, thật là nhục nhã! Về sau, trên đường lưu vong, vua Lê Chiêu Thống bị Phúc An Khang lừa phải gióc tóc, thay mặc áo Tàu làm người Thanh. Phái đoàn trên 30 người bị ép làm theo, chỉ có Lê Quýnh không nghe nên bị Tàu giam mãi và hành hạ vô cùng khổ sở.


Truyền hịch đánh Tàu:

Về quân Tây Sơn tại Bắc Hà, trước lực lượng quá hùng hậu của địch, liệu không thể nào 1 lính Việt chống cự 20 lính Tàu, nên ngày Tôn Sĩ Nghị chiếm Kinh đô Thăng Long cũng là ngày hai tướng Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm và Ngô Văn Sở rút toàn bộ 1 vạn quân thủy bộ về đóng ở Biện Sơn và Tam Điệp (Ninh Bình) đợi lệnh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Ngày 21/11 năm Mậu Thân (18/12/1788), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo của Ngô Văn Sở do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chuyển về là Tôn Sĩ Nghị sẽ kéo ba đạo quân sang đánh chiếm Thăng Long. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi vua tại Phú Xuân tức là Huế sau này, đặt niên hiệu là Quang Trung. Hôm 25/11 năm Mậu Thân (22/12/1788) xuất binh. Ngày 29/11 năm Mậu Thân (26/12/1788) đoàn quân của vua Quang Trung đã tới Nghệ An. Tại đây nhà vua đã mộ thêm quân, cả quân mới và cũ lên tới hơn 9 vạn người và đội tượng binh với hàng trăm voi chiến. Lực lượng vẫn còn chênh lệch: quân Tàu đông gấp đôi quân Việt.

Để làm cho Tôn Sĩ Nghị càng chủ quan khinh địch hơn, sau khi Tôn Sĩ Nghị đã dễ dàng vào được thành Thăng Long, vua Quang Trung đã “sai người ruổi ngựa chạy gấp ra đưa thư xin đầu hàng Tôn Sĩ Nghị, lời lẽ trong thư rất nhún nhường, khiêm tốn”... Chuyện kể rằng, cùng thời điểm, vua Quang Trung cũng cho truyền hịch đánh giặc Tàu. Nguyên văn bài hịch như thế nào vẫn chưa có chứng cớ, ngày nay hầu hết trong các sách báo chỉ còn mấy câu Hán-Nôm lẫn lộn ghi theo âm đọc chứ không có văn bản:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử trí Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ


Hơn 200 năm trước, thời vua Quang Trung, có thể bài hịch đã được viết như thế này:

打未底𨱾𩯀
打未底黰𪘵
打未伮跖輪不反
打未伮幡甲不完
打未事智南國英雄之有主.

Bài này bây giờ được nhiều người giải thích, đại ý cũng giản lược giông giống như nhau. Có bài thay chữ “nó” thành chữ “chúng”. Toàn bài gồm năm câu đếm được 35 chữ.

Trưởng Hướng Đạo Lê Anh Dũng của Lại Giang, tên rừng là Sóc Lanh Lợi, thuộc làng Quảng Tế, Orange County, California giải thích:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó ngựa xe tan tác
Đánh cho nó manh giáp chẳng còn
Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ.


Bài dụ khẳng định ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, phong tục tập quán để tóc dài và nhuộm răng đen của người Việt Nam; đồng thời nói lên quyết tâm đánh giặc để bảo vệ độc lập dân tộc; tiêu diệt khiến cho quân giặc mảnh giáp không còn, không một chiếc xe nào trở về, để cho chúng biết nước Nam anh hùng là có chủ.

Thi sĩ Đặng Phú Phong của Bình Định oai hùng đã từng bị giữ lại tại phi trường Tân Sơn Nhất mấy ngày khi trở về Mỹ vì lý do an ninh cũng đồng ý như vậy.




Xác định bài hịch:

Về phần chúng tôi với chủ ý phân tích tỉ mỉ, nên dài dòng nhiều ý kiến.

Hai trăm năm trước, nước ta đã độc lập, tự chủ trên ba trăm năm. Văn vẫn dùng chữ Hán, đọc sách Tàu theo âm tiếng Việt. Hồi đó, mấy câu hịch trên nghe qua ai cũng hiểu, từ anh cày ruộng đến quan thượng thư đều rõ nghĩa lý, không như hôm nay, có thể phải để ra nhiều thì giờ giải thích mà có kẻ cố gắng nghe vẫn còn chưa chịu hiểu. Chỉ mới hơn hai trăm năm nên cách phát âm khi đọc cũng như cách viết mấy câu trên so với hôm nay, có thể không có gì khác nhau cho lắm. Vì chưa có bằng cớ xác đáng, nên cứ theo truyền thuyết tạm tin rằng mấy câu trên là của vua Quang Trung khi kéo đại quân ra Tam Điệp vào khoảng trước ngày cúng ông Táo 23 tháng chạp năm Mậu Thân (12/1788) theo phong tục Việt Nam. Tuy không thấy có chủ đề nhưng cứ gọi là Hịch Đánh Giặc Tàu.

Theo Tự Điển Hán Việt của Thiều Chửu, Hịch 檄 là lời văn của các quan đòi hỏi, hiểu dụ hay trách cứ dân… Có việc cần kíp thì viết vào mảnh ván cắm lông gà vào gọi là vũ hịch 羽檄 để tỏ cho biết là sự cần kíp.

Hịch thường được viết trên mảnh ván mỏng trắng mịn dẻo bền làm từ cây phương (Phương mộc 方 木). Hịch sau khi rao đọc được niêm yết trước các công đường phủ huyện và chỗ đông người như chợ, bến đò, v.v. Chuyển hịch về địa phương thì ông tổng hay ông lý trưởng giao xuống các làng để kẻ truyền tin là “thằng Mõ” đi rao. Nếu “thằng Mõ” không biết chữ thì ông tiên chỉ của làng, hoặc tự chính ông, hoặc ông sai người đọc cho nghe để “thằng Mõ” theo đó học thuộc lòng mà thi hành phận sự. Vì không biết những chữ được sắp xếp ra sao trên phiến hịch, nhưng chắc chắn phải có ghi niên hiệu và năm bằng chữ Nôm là Quang Trung năm thứ nhất 光中 𢆥 次 弌 chứ không ghi là Quang Trung Nguyên Niên 光中元 年 vì vua chủ trương dùng chữ Nôm. Rao hịch bằng tiếng An Nam (tiếng Việt Nam), và cũng để tiện việc cho bài này, chúng tôi cứ theo lời truyền bằng chữ Việt Latin chua thêm chữ Nôm hoặc chữ Hán để đọc lên cho dễ:

Đánh 打 cho 未 để 底 dài 𨱽 tóc 𩯀
Đánh 打 cho 未 để 底 đen 黰 răng 𪘵
Đánh 打 cho 未 nó 伮 chích 跖 luân 輪 bất 不 phản 反
Đánh 打 cho 未 nó 伮 phiến 幡 giáp 甲 bất 不 hoàn 完
Đánh 打 cho 未 nó 伮 sự 事 trí 智 Nam 南 Quốc 國 anh 英 hùng 雄 chi 之 hữu 有 chủ 主.

Cần nói thêm là mấy chữ Hán và chữ Nôm đính kèm là do chúng tôi tự ý lựa theo suy luận, do đó có thể không giống với các chữ trong bài của người khác tuy đồng âm. Hơn nữa trong câu thứ năm có thêm vào chữ “nó 伮” cho nên bài hịch dài thành 36 chữ. Chừng nào thấy chính bản, sẽ kính cẩn sửa lại cho đúng! Hiện nay tại gò Đống Đa thành phố Hà Nội có bức tượng vua Quang Trung. Đàng sau bức tượng, phần dưới chân lát đá đen, có khắc năm câu trên bằng cả ba thứ chữ Hán, Nôm và Việt Latin. So sánh thấy có mấy chữ khác với bản của chúng tôi.



UserPostedImage




Bảo vệ phong tục:

Đến nay đã có quá nhiều bài viết ca ngợi về tài ba thao lược, khí phách anh hùng của vua Quang Trung. Trái lại, về phần đức độ lễ nghĩa và văn tài của vua Quang Trung thì ít kẻ bàn. Triều Nguyễn Gia Miêu vốn thâm thù triều Nguyễn Tây Sơn, nhưng khi cho viết bộ Đại Nam Liệt Truyện, quyển thứ 30 “Truyện chép về Ngụy Tây” vẫn ghi rõ Nguyễn Huệ khi ra mắt vua Lê vẫn lạy năm lạy, ngày phát tang vua Lê, (phò mã) Nguyễn Huệ mặc áo tang đứng bên tả điện thấy một Chấp sự cười trộm bèn sai chém ngay. Ngày đưa linh cửu vua Lê về Lam Sơn, Nguyễn Huệ thân (đi bộ) đưa ra đến tận bến đò. Nguyễn Huệ lễ nghĩa như vậy đó!

Về bài hịch là một áng văn tuyệt tác. với những lời ngắn gọn, rõ ràng, thực tế. Trước hết vua Quang Trung nêu rõ lý do vì sao đánh giặc Tàu. Không cần nói đâu cho xa, vua lấy hai thứ ngay trên thân thể là tóc và răng để khuyến dụ. Hơn ba trăm năm qua, kể từ khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, dân An Nam trên đầu để tóc dài, vấn vào khăn hay búi tó. Tục nhuộm răng đen có trên hai ngàn năm, kể từ đời Âu Lạc. Răng và tóc là gốc con người. Vẫn nghe câu “Cái răng cái tóc là góc con người” thật luôn vần. Gặp kẻ cắc cớ hỏi “góc” là gì thì có thể người bị hỏi sẽ ngớ ra, trả lời lấp liếm cho xong vì con người không có “góc”. Góc trong câu do Gốc nói trại mà thành. Điểm bắt đầu gọi là gốc. Người An Nam (Việt Nam) cho rằng đàn ông thuộc dương, đàn bà thuộc âm, Theo đông y, sự thụ thai do hòa hợp dương sinh âm dưỡng. Bào thai có đủ âm và dương tương trợ lẫn nhau để lớn dần. Âm nặng là huyết nuôi dương nhẹ là khí. Thai nhi tăng trưởng sẽ dần có tượng của phổi để chứa khí và tim cùng dây gân máu để chứa huyết. Được vậy, gốc con người đã rõ như hạt nẩy mầm sau thành gốc. Khoảng tháng thứ sáu, phổi khá đầy đủ, da đã tựa và tóc bắt đầu mọc, do đó đôi khi tự nhiên người mẹ tương lai có vài tiếng ho nhẹ gọi là ho mọc tóc. Tóc do huyết. Răng do khí. Huyết là âm nên khi sinh ra con gái nhiều tóc hơn con trai. Tóc trẻ con gọi là tóc máu. Để tránh bị nạn chí (lice) nên thường cắt ngắn tóc hay cạo trọc hoặc chừa một nhúm dài trên đỉnh đầu chổ xương mỏ ác mềm chưa liền khít gọi là để chỏm, hoặc chừa một mảnh ngắn gọi là vá, cun cút hay trái đào, v.v.



UserPostedImageUserPostedImage




Qua 12 tuổi mới cho là thành nhân, không cắt tóc nữa. Tùy theo nam nữ mà vấn búi khác nhau. Lúc già, cho là huyết khô nên tóc bạc và rụng dần.


UserPostedImageUserPostedImage
Khăn đội đầu nâng búi tó (nam) và Tóc vấn Hà Nội (nữ) (1916)(ảnh Manhhai)

Hình tên phản quốc Vi Văn Định lúc 17 tuổi (1896). Mắt không nhìn thẳng.
Theo tướng pháp: Mục目bất 不ngang昂, tâm 心bất 不chính正.
Chữ Ngang 昂 có nghĩa là ngẩng lên, ngước lên, bị đọc trại ra thành Ngay𣦍 (tiếng Nôm).
Khi về thay tên phản quốc Hoàng Cao Khải, dân có bài “Hoàng trùng đi.
Vi trùng lại. Suy đi tính lại. Vi hại hơn Hoàng.”



UserPostedImageUserPostedImage
Tóc trai Saigon tháng 5, 1975 và Tóc trai Saigon 40 năm sau(Tháng 5, 2015) (ảnh Manhhai)



Về răng, trẻ sơ sinh nhanh lắm là ba tháng tuổi đã mọc răng, có khi nóng sốt gọi là sốt mọc răng. Đây là loại răng sữa, lên bốn hay năm tuổi sẽ từ từ theo nhau rụng để thay răng khác và mọc thêm một số răng hàm có 2 hay 3 chân gọi là răng cấm, răng khôn cho đến lúc già khí cạn mới rụng luôn. Nhuộm răng đen giúp làm chắc răng và bớt bị đau răng. Dùng thuốc xỉa thường xuyên răng đen đều. Ít dùng thuốc xỉa, tùy theo thời gian răng có màu đỏ nâu đậm nhạt khác biệt. Lâu lâu chà sạch răng bằng miếng cau trước khi ăn trầu, vê thêm viên thuốc lá.


Vua Quang Trung cũng để tóc dài và búi tó như các tướng và lính dưới quyền. Răng vua cũng nhuộm đen như mọi người. Vua cũng ăn trầu, hút thuốc lá và uống rượu gạo. Chải tóc, chà răng là chuyện rất quen thuộc. Nếu bị Tàu đô hộ bắt cạo đầu gióc tóc vấn đuôi sam cùng tẩy cạo để răng trắng như răng bò răng chó thì làm sao chịu được. Đang làm người mà bị bắt xuống làm chó làm sam thì chẳng ai muốn! Nhuộm răng, nuôi tóc là theo đúng tục cha mẹ ông bà truyền giữ lâu nay không thể bỏ. (2) Sờ lên đầu đã thấy tóc. Thọc vô miệng liền gặp răng.



UserPostedImage




Người An Nam cho răng và tóc là tượng của khí và huyết, là của cha của mẹ làm sao mà cạo tẩy đi cho được. Vậy phải đánh giặc Tàu để bảo vệ mái tóc dài và hai hàm răng đen của chính mình! Phong tục là đó! Lời nói của vua Quang Trung không đòi thành quách đất đai vàng bạc hay hứa hẹn nọ kia. Lời nói của vua Quang Trung đơn giản như vấn điếu thuốc lá, dễ như nhai miếng cau trầu. Lời nói bình dị, rõ ràng, thân mật như nói với người thân, với bạn bè, với anh em đồng cảnh ngộ. Kết quả là quân Tây Sơn đánh đâu thắng đó một cách thần tốc! Chỉ trong 6 ngày đánh tan 200 ngàn quân Tàu! Cả thế giới xưa nay có ai làm được như vậy chưa?

Người An Nam có tục khi ra khỏi nhà hay lúc giao tiếp: đàn ông chít khăn, đàn bà vấn tóc. Khăn dùng trên đầu nâng đỡ che chở mái tóc. Tùy giới tính và giai cấp mà có nhiều cách đội như khăn thư sinh, khăn võ sinh, khăn rìu, khăn mỏ quạ, v.v. Khăn đội đầu và mái tóc ngày xưa vẫn được người An Nam dùng như vũ khí. Bây giờ có lẽ đã thất truyền.(3)


UserPostedImage

Một “góc” Đống Đa Hà Nội (ảnh GiadinhNet)




Quang Trung nhân từ:

Ra trận phải lấy sự sát hại kẻ địch làm trọng. Phải tận diệt quân thù để chiến thắng.

Đánh cho nó chích luân bất phản. Nó là quân Tàu. Chích luân bất phản là không một chiếc xe nào trở về (Lê Anh Dũng - Lại Giang). Từ câu này thấy rằng: Chích là một. Luân là bánh xe. Chích luân là một chiếc xe. Phản là trở về. Nguyên câu: Đánh cho nó ngựa xe tan tác. Chiếc xe chở quân lương cần có ngựa kéo và phu xe hướng dẫn. Tuy không nhắc đến nhưng vẫn ngụ ý có hình dáng con ngựa. Quân Tàu dùng xe để chở thực phẩm nuôi lính, không dùng xe ra tham chiến như quân La Mã. Tiếp tế thức ăn thì phải quay xe về kho để lấy. Phúc An Khang theo lệnh vua Tàu dựng cả thảy 88 kho lương trên đường tiến quân. Phải ăn no mới đủ sức đánh nhau. Không còn xe để chở lương tiếp tế cho lính ăn thì khi đụng trận sẽ bị thua to vì lính đói sức yếu không cầm nổi khí giới làm sao mà đánh! TẬN LƯƠNG VÔ KẾ, binh thư dạy. Dùng sức người thay xe thì kém số lượng thực phẩm và thiếu phần nhân sự chiến đấu nếu dùng luôn cả lính. Dùng sự hiểu biết hơn hai trăm năm sau ngày ra hịch để tán rộng ra như vậy nghe cũng có lý, nhưng liệu lời hịch của vua Quang Trung có chủ ý như vậy không? Thời vua Lê chúa Trịnh, nền văn học cực thịnh, nước Nam có rất nhiều người tài giỏi như Lê Quý Đôn, Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Trần Danh Án, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Thiếp, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, v.v. Nguyễn Hữu Chỉnh thi đậu Hương Cống (Cử nhân) lúc 16 tuổi, tóc còn để chỏm. Đoàn Thị Điểm dịch bản Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Truyền rằng lúc còn bé, cùng anh Đoàn Hữu Luân đối ứng. Thấy em gái soi gương, Luân ra câu “Đối kính họa mi nhất điểm phiên thành lưỡng điểm”. Đoàn thị Điểm đối lại “Giao trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân”. Hai chữ “chích luân” trong câu đối có ý trỏ vầng trăng và cũng là anh Luân đối với em Điểm. Chích luân trong bài hịch phải hiểu là một chiếc xe đơn lẻ chứ không phải là cái bánh xe bị nướng trên lửa theo kiểu vị thuốc cam thảo nướng gọi là “Chích cam thảo”. Cắc cớ cho thêm rằng Chích Luân là cái xe chỉ có một bánh vẫn gọi là xe rùa hay cút kít, khi Pháp sang đô hộ gọi là xe bù ệt đọc trại từ tiếng Pháp là bruette cho nó có vẻ văn minh! Nhưng xét lại, xe cút kít là loại xe của An Nam dùng trong thành Thăng Long chứ Tàu không dùng vì chúng có xe riêng bốn bánh của chúng nó, nên Chích Luân phải nghiên cứu thêm cho rõ nghĩa. Không kể lính cỡi ngựa và các chủ tướng, hầu hết hai trăm nghìn lính Tàu dùng hai chân bước từ nước Tàu sang Thăng Long trong suốt hai mươi ngày. Hai chân đó cũng sẽ bước hay chạy ra mặt trận. Chích 跖 có nhiều nghĩa, trong số đó một nghĩa là bàn chân. Như vậy có thể nói rằng đánh cho chúng nó què chân gãy bánh xe để chúng nó bất phản! Còn chân thì dù không có xe, giặc Tàu vẫn có thể chạy tháo lui rồi về sau quay lại đánh nữa. Nhưng khi đã bị đánh què chân và gãy trục bánh xe thì làm sao mà trở về? Ai cho về? Mà về đâu? Không đủ sức chống cự thì bị bắt làm tù binh là cái chắc, làm chi có chuyện trở về trại của chúng? Chữ phản 返 có nghĩa quay trở lại hay rút lui không dùng được ở đây. Phải dùng chữ phản反 trong nghĩa phản công, chuyển bại thành thắng! Đánh cho nó chích luân bất phản nên hiểu là đánh cho nó què chân gãy cẳng bể nát bánh xe hết đường đánh lại. Hiểu như vậy mới thấu rõ sự nhân từ độ lượng của vua Quang Trung, vì chỉ cần đánh cho giặc bị thương để buộc phải đầu hàng chứ không giết chết!(4)

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn hiểu là Đánh cho nó manh giáp chẳng còn (Lê Anh Dũng - Lại Giang). Phiến giáp bất hoàn nghĩa là áo giáp không còn nguyên vẹn. Ngẫm nghĩ áo giáp甲 phải nguyên bộ, ngoài trận chiến, đánh nát rời áo giáp ra từng mảnh thì thân thể người mang giáp cũng không còn. Từ câu Y lí bất hoàn 衣履不完 nghĩa là Áo và giày chẳng lành lặn; thì hai chữ phiến giáp 片甲 không thể nhập chung làm một để trỏ mảnh giáp bể nát. Viết phiến giáp 片甲như thế này là sai, là trái cựa. Muốn trỏ đúng cái mảnh giáp thì phải ghi là giáp phiến 甲片 như ghi Miết phiến 鼈片 là cái vỏ rùa! Khi chữ giáp 甲đứng riêng lẻ thì chữ trước nó mang vần “iên” là chữ gì? Chưa kịp tìm ra thì đã được thầy Võ Văn Dật nhắc khẽ chữ phiên 幡 là cờ hiệu, ghép thành hai chữ Phiên Giáp 幡甲 nghe sao mà thích thế! Nghe là Phiến 片 nhưng phải viết là Phiên 幡!

Đánh cho nó phiên giáp bất hoàn là đánh chúng nó gãy cờ rách giáp tan tành đội ngũ. Lời hịch chỉ có giá trị trong thời gian ấn định. Rất rõ ràng: Khi ra trận, bổn phận của người lính là đánh cho giặc ngã xuống, hết đứa này đến đứa khác. Việc bắt giữ giặc, tra xét, xử trị .v.v. là việc của kẻ chịu trách nhiệm, lính đánh trận khỏi phải lo. Trình độ chữ Nho của người Việt Nam năm 2016 có lẽ kém xa người lính và dân quê thời vua Quang Trung, lại tự kiêu nên thường không chịu trau dồi khả năng, cất công mà truy tìm vấn đề cho thấu đáo! Ngay trong phạm vi tiếng Việt Latin đang dùng, lợi dụng internet, nhiều kẻ thiếu khả năng, hoặc chủ mưu tự đề cao, lợi nhuận hay chính trị, gian manh lấy bài của người khác, sửa hoặc thêm vài chổ làm bản chính trở thành sai hay thiếu sót có lúc đến độ lệch lạc rất thảm thương. Những người dưới triều Lê và Nguyễn Tây Sơn tuy không biết chữ Hán nhưng hàng ngày vẫn có thể được nghe lời giải thích của kẻ biết đọc nên có nhiều kiến thức. Lúc còn nhỏ, chúng tôi vẫn được mấy bác làm vườn chưa hề cắp sách đến trường, họ vẫn tự cho là họ không hề biết đến một chữ Nhất Một, đã truyền khẩu Thiên Tự Kinh, Tam Thiên Tự, cùng các chuyện Thiên Lý Lương Nhân, Đại Điểm Quần Thần, các nhân vật trong Tam Quốc Chí, Lương Sơn Bạc v.v. Thời kỳ 1950 vẫn còn có những người như vậy, thì thời điểm 1788, ắt có vô số người đáng nễ hơn nhiều!



Xác định vị thế:

Câu cuối cùng Đánh cho sử trí Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ nghe không ổn. Hai chữ Sử Trí là vấn đề cần bàn. Tại Hà Nội, trên gò Đống Đa, có tảng đá được đẽo gọt làm bia khắc câu thứ năm bằng chữ Việt Latin “… ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC ANH HÙNG CHI HỮU CHỦ…” QUANG TRUNG ĐÁNH CHO BIẾT RẰNG NƯỚC NAM ANH HÙNG LÀ CÓ CHỦ (Ảnh 14) Nhận xét: Chữ TRÍ 智 nghĩa là khôn trái với ngu, thiếu dấu sắc thành chữ TRI 知 nghĩa là biết như biết ơn, biết nhau, biết rằng... Vì không khắc chữ VUA nên gặp kẻ không biết sử Việt có thể phỏng đoán người nói câu này họ Quang tên Trung. Giống như một cán bộ quản giáo cấp Đại úy trong trại cải tạo Suối Máu khi nghe một cải tạo viên nói “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” bèn hỏi “Anh nào nói câu đó?” Mọi người trả lời “Trần Bình Trọng!” Cán bộ quản giáo liền ra lệnh ”Anh Trần Bình Trọng đâu? Theo tôi làm việc!”



UserPostedImage

Một “mảnh” Đống Đa Hà Nội (ảnh GiadinhNet)



Câu dưới dịch thành ĐÁNH CHO BIẾT RẰNG NƯỚC NAM ANH HÙNG LÀ CÓ CHỦ. Người dịch ra câu này để khắc vào tấm bia kém học, dốt chữ Hán lẫn tiếng Việt. Đọc đến hai chữ Sử Trí bèn sửa Trí thành Tri và dịch là Biết, bỏ mất chữ Sử. Câu dịch thiếu chủ từ, thừa hai chữ Rằng và Là. Chữ Rằng có thể tha thứ, còn chữ Là là một trong mấy chữ Thì, Mà, Là thầy cô giáo dạy lớp 2, lớp 3 trước năm 1975 vẫn thường căn dặn các em học sinh 7, 8 tuổi cẩn thận khi dùng trong giờ “Em tập làm văn”. Đánh cho sử trí Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ (Lê Anh Dũng - Lại Giang).Trong lúc nói chuyện, vấn đề nuốt lời, nói trại, nói trệch, nói lái, v.v. vẫn được hiểu và chấp nhận. Ngôn ngữ nói khác với ngôn ngữ viết trong nhiều trường hợp. Đọc câu thứ năm, có cảm giác thiêu thiếu, ngập ngừng không thông suốt. Trưởng Lê Anh Dũng gắn thêm chữ “nó” trong câu giải thích có tác dụng như một mắt xích nối hai mệnh đề một cách tuyệt vời! Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ vẫn chưa diễn tả hết ý cả câu. Lỗi do người nghe và nhớ xong chép lại không hoàn toàn đúng và đủ! Câu chép lại thiếu chủ từ “nó” và viết sai “Sự” thành “Sử”. Nguyên câu phải như thế này mới không què: Đánh 打 cho 未 nó 伮 sự 事 trí 智 Nam 南 Quốc 國 anh 英 hùng 雄 chi 之 hữu 有 chủ 主. Tham khảo về hai chữ Sự Trí 事智, Thiều Chửu dẫn nghĩa: (術語)對於理智而有事智。見理智條。(Thuật ngữ) Đối ư lý trí nhi hữu sự trí – Kiến lý trí điều. Đánh cho nó hiểu biết rõ là nước Nam anh hùng có chủ. Chuyển ý như vậy cũng tạm được nhưng vẫn còn chưa thoải mái lắm. Các danh từ gia chủ là chủ nhà, điền chủ là chủ ruộng, địa chủ là chủ đất, đường chủ là người coi một số các nhà, hương chủ là ông trưởng làng, động chủ là người chủ một vùng, một phương như biệt hiệu của vua Lê Thánh Tông là Thiên Nam Động Chủ. Nam quốc anh hùng chi hữu chủ trong bài hịch là nước Nam anh hùng đang có chủ, tức có Vua tài giỏi cai trị, tức vua Quang Trung mới lên ngôi được một tháng! Hiểu một cách đơn giản theo kiểu lính tráng sắp ra trận, câu này phải dịch thoát là Đánh cho nó sáng mắt ra để thấy rằng nước Nam anh hùng có vua Quang Trung! Hai chữ Quang Trung 光中chắc chắn có ghi trước tiên ở đầu tờ hịch. Đây là một thông lệ không thể thiếu để biết hịch đến từ đâu. Sự Trí 事智 hiểu rộng là vỡ lẽ ra, là nhận ra, biết rõ ra, v.v. Chuyện cần phải làm ngay là đánh thắng giặc Tàu. Thắng trận xong phải an dân, sửa sang bờ cõi,v.v. Xong xuôi đâu đó mới đến chuyện sử sách! Chỉ vì coi thường hay không thông một chữ Sử và hiểu tròm trèm một chữ Tri mà dịch ra nhiều cách. Ra trận chỉ để đánh cho giặc Tàu biết lịch sử nước Nam ta rất anh hùng có chủ thì việc đổ máu chết người này được ích gì? Việc này có thể nói trong bàn tiệc hay trên chiếu bạc, cần gì phải đánh nhau! Hoặc chưa đụng trận mà kêu gọi dân đi đánh giặc để ghi công vào chiến sử là chuyện trời ơi đất hỡi chẳng ai thèm nghe! Vấn đề đặt ra ở đây là phải đánh bọn giặc Tàu đang chiếm kinh đô Thăng Long một trận tơi bời hoa lá, tan tành xí quánh, không còn manh giáp để chúng thấy rằng sự việc chúng kéo quân sang như một lũ cướp bị chủ nhà trừng trị. Các chuyện khác sẽ tính sau. Sử sách khoan nói đến!


Sử nhà Nguyễn Gia Miêu chê vua Quang Trung quê mùa, ít học. Quê mùa: Đúng! Cha mẹ vua là ông bà Nguyễn Phi Phúc làm nghề buôn lá trầu. Ít học: Xét về khoa cử: Đúng! Chưa qua bất kỳ thi hạch nào. Sử nhà Nguyễn Gia Miêu lờ chuyện sức học của vua Quang Trung. Chữ viết của vua tuyệt đẹp và lời văn thu phục được kẻ chống đối là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. Bài Hịch Đánh Giặc Tàu vẫn truyền với 35 chữ đem so sánh với bài hịch Khuyên Răn Các Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo do Trần Trọng Kim dịch ra quốc âm dài 981 chữ thấy rằng tuy chỉ bằng 1 phần 28 nhưng công dụng hơn nhiều. Phải thông chữ Hán mới hiểu bài hịch của Trần Hưng Đạo. Bài hịch đánh Tàu của vua Quang Trung, đối với người An Nam, bất kỳ ai nghe cũng hiểu và nhớ dễ dàng. Bài hịch bằng chữ Hán của Hưng Đạo Vương, mấy ai hiểu suốt và nhớ hết? Hưng Đạo Vương phải cần sáu tháng tức 180 ngày mới đuổi được 50 vạn quân Mông Cổ(5) trong khi vua Quang Trung chỉ mất có 6 ngày đã đuổi 20 vạn quân Thanh về nước! Và, vua Tự Đức là vị vua được cho là hay chữ nhất của triều Nguyễn Gia Miêu, đã ra đề thi tuyển chọn lấy Tiến Sĩ là học vị cao nhất trong bài văn Sách, hỏi về việc người Pháp chiếm Nam Kỳ là “Nên Đánh hay Hòa?” nhưng chẳng có câu trả lời nào lưu truyền cho hậu thế!

Khi viết đến đây, Hoàng Sa, Trường Sa, Tây Nguyên, Bản Giốc, Bình Dương, Chợ Lớn, Đà Nẵng, Quảng Trị, v.v. bị Tàu Cộng lấn chiếm. Hàng chục ngàn tàu đánh cá tư nhân của Tàu Cộng được bọc thép, cung cấp đầy đủ nhiên liệu, thực phẩm, vũ khí đang phân tán mỏng trong vùng lưỡi bò để rất có thể dùng chiến thuật “Biển tàu” tấn công chiến hạm Mỹ. Từ đầu tháng 4, 2016 phát hiện cá biển chết hàng loạt tấp vô bờ từ Hà Tĩnh vào qua khỏi Đà Nẵng và cá lồng bè nuôi dọc bờ biển chết không rõ nguyên nhân vô tới Nha Trang. Vụ nhà máy thép Formosa của Đài Loan ở Vũng Áng có thể nằm trong kế hoạch của Trung Cộng. Bộ Giáo Dục của Trung Cộng vừa đưa ra một bản đồ thế giới mới cho rằng Hawaii, Okinawa và Micronesia thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Thư ký báo chí của White House là Josh Earnest khẳng định: “Không quốc gia nào khác ngoài Mỹ có quyền tuyên bố chủ quyền đối với Hawaii”. Chánh văn phòng nội các Nhật Bản Yoshihide Suga đã lên tiếng bác bỏ và cho rằng lập luận của Trung Cộng thật “thiếu suy nghĩ”. Tổng thống Manny Mori của Micronesia cho Trung Cộng vô lý và tố cáo Bắc Kinh cưỡng đoạt bản đồ. (Nguồn: Internet)

Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam Cọng Hòa từ năm 1972 để chơi với Trung Cộng. Năm 1975 Tan Hàng! Di Tản! Sau 41 năm lưu vong, chúng ta nên Sự Trí 事智 trước khi nhờ White House về những gì liên quan đến Việt Nam. Nhà cầm quyền Hà Nội đang ở trong tình trạng hơn cả Lê Chiêu Thống vào cuối năm Mậu Thân 1788, vì không những dâng Việt Nam cho Tàu Cộng, lại còn ác hơn nữa là biến nước Việt Nam thành cái thùng rác để Tàu Cộng tha hồ đổ vào các chất thải độc hại khủng khiếp. Tượng đài vua Quang Trung sắp được dựng lên ở thành phố Garden Grove, Orange County, California, là một cáo trạng về việc Trung Cộng xâm lược, diễn lại cuộc chiến lịch sử năm 1788, góp phần nhắc nhở vào công cuộc vùng lên của người dân Việt Nam đánh đuổi tập đoàn Hán Gian Trung Cộng xâm lược.

Thân Trọng Tuấn
California ngày 30 tháng 4 năm 2016




Ghi chú:

(1) “Hai Mươi tháng Tý” là ngày 20 tháng 11 âm lịch, tức ngày Tôn Sĩ Nghị chiếm Thăng Long. Theo âm lịch, tháng Giêng luôn luôn là tháng Dần, nên tháng 11 là tháng Tý, tháng Chạp là tháng Sửu. Tương tự Tết Mậu Thân có “Cán Bộ Mồng Hai”. Hè năm 1975 có “Cán bộ ba mươi tháng Tư”.

(2) Người An Nam có tục thờ ông bà. Nhà nào cũng có bàn thờ để thờ đến năm đời. Người Tàu trong nhà không thờ ông bà mà thờ các vị như Quan Công, Nhạc Phi, thần tài, thần núi, sông, hà bá, v.v. Sầm Nghi Đống sau khi bị quân Tây Sơn vây phải tự vẫn ở gò Đống Đa cũng được những người Tàu ở Thăng Long lập đền thờ. Hiện thời, tục nhuộm răng đen đã bỏ. Tóc bối còn rất ít người giữ. Tuy nhiên, tục thờ cúng tổ tiên vẫn còn. Người Tàu không kỵ giỗ ông bà, trong khi người Việt Nam vẫn làm lễ giỗ hàng năm. Ngoài việc giỗ tại nhà, người theo đạo Phật còn tổ chức thêm ở chùa và người đạo Thiên Chúa xin lễ giỗ ở nhà thờ.

(3) Chuyện kể: Dưới thời Pháp thuộc, một trong những kế sách diệt nhân tài người Việt của Pháp là cho mở đài đấu võ tự do, nếu có “lỡ tay” đánh chết người cũng không bắt tội. Một số người nông nổi, háo danh chết uổng. Có một cặp vợ chồng kia tham dự. Người chồng lỡ bộ bị đối thủ thẳng tay đánh đòn độc bỏ mạng trên đài. Người vợ liền xin đấu báo thù. Quan lo về võ đài chấp thuận ngay. Kẻ địch nhìn người vợ, nhếch mép cười một cách khinh khi ngạo mạn. Người vợ vẫn điềm nhiên như không. Nhập trận, người vợ thình lình tháo khăn xõa tóc ra thế Ngọc Nữ Phân Cân thật nhẹ nhàng. Trọng tài thấy chiếc khăn rời khỏi tay người vợ thì cho rằng chiếc khăn không còn dùng như vũ khí nên lặng yên. Địch thủ nghiêng người tránh, nào ngờ trước khi kịp bình thân thì người vợ đã vận khí vào mái tóc phóng theo chiều chiếc khăn bay, quất thẳng đuôi tóc cắm vào mặt địch thủ như ngàn cây kim may. Quá bất ngờ, theo phản ứng tự nhiên, địch thủ đưa hai bàn tay lên mặt, người vợ liền áp vào với thế Nội Nguyệt Tàng Hoa, dùng cánh tay trái kềm ép hai tay địch thủ, bàn tay phải nhỏ nhắn còn lại nắm úp đảo hải dồn hết sức bình sinh cùng với sức xoay của thân hình, quài một ngọn đòn thù vào nơi chấn thủy ngay huyệt Đản Trung của kẻ giết chồng mình nghe kêu bụp như ống tre nổ! Sức đánh phá nát tim phổi, đi thẳng ra sau xương sống làm bể tung huyệt Chí Dương khiến kẻ địch chỉ kịp “Hợ” lên một tiếng, ngã vật ngữa xuống chết tươi.

(4) Quân An Nam phần nhiều dùng giáo, quân Tàu dùng mã tấu. Giáo dài gấp đôi mã tấu. Giáo biến chế từ cây côn 棍 bằng cách gắn thêm mũi sắt nhọn và dẹp dài một gang tay mà ra. Có một loại tre thẳng, cầm vừa tay, đặc ruột, nhẹ, bền dùng làm giáo gọi là tre cán giáo hay tầm vông. Côn hay roi có thể làm bằng tre, cây gỗ, sắt tùy khả năng và sở thích. Người Bình Định gọi cây côn là cây roi và sử dụng rất giỏi làm món vũ khí phòng thân và gánh dụng cụ nhẹ. Chỉ cần 10 ngày là có thể luyện thuần thục các thế đánh. Đây là lợi điểm của lính Tây Sơn trong việc đánh giặc Tàu. Phải chăng thế roi Đốc Côn Triệt Cước vẫn gọi tắt là thế Đốc Roi dùng đánh giập bàn chân và ống chân tức cẳng chân hay ống quyển của kẻ địch như ý của vua Quang Trung? Địch ngã xuống liền dùng ngay thuật trói người không giây là tạm thời hết trốn. Cây côn dài một sải tay, hoặc từ đất chống cao tới lông mày. Đoản côn dài một cánh tay. Khi loang côn phát ra tiếng gió vù vù thì sức mới có thể dùng được. Gái Bình Định có người thay cây côn bằng chiếc đòn gánh, nguy hiểm vô cùng! Chiếc đòn gánh to tròn của những người bán chiếu ngày xưa dùng đánh đuổi được cọp! Người giỏi luyện côn, miếng da giữa ngón cái và ngón trỏ bè ra như chân vịt.

(5) “Trong sáu tháng trời, từ tháng chạp năm giáp thân (1284) đến tháng sáu năm ất dậu (1285), quân An-nam đuổi 50 vạn quân Mông-cổ ra ngoài bờ-cỏi, chỉnh-đốn giang-sơn lại như cũ”. (Trần Trọng Kim -Việt Nam Sử Lược)







wild grass  
#125 Posted : Friday, February 23, 2018 4:35:16 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Người lính cầm cờ Vàng đã chết
nhưng linh hồn lá cờ sống mãi

Lê Hải Lăng




UserPostedImage




Miền nam thất thủ thua cuộc chiến là chuyện không ai chối cãi. Tuy nhiên phe gây chiến xâm lăng tuyên truyền chụp mũ “tay sai”, “bán nước” cần để cho người dân hai phía so sánh khi đã sống dưới hai thể chế dân chủ tự do và độc tài toàn trị cộng sản.

- Nền Đệ nhất và Đệ nhị cọng hòa trong tình trạng dân chủ phôi thai cho dù không được hoàn hảo vì phải trực tiếp chịu ảnh hưởng chiến tranh , nhưng cũng xứng đáng để các nước láng giềng thời buổi đó tôn trọng và thèm khát được sánh lưng với Sài Gòn biểu tượng Hòn ngọc viễn đông. Dưới chính thể Việt Nam Cọng Hòa người dân được cầm lá phiếu đi bầu.

- Trái lại đảng CSVN theo chính sách đảng cử dân bầu thông qua sự lựa chọn từ tổ chức cánh tay nối dài cho đảng là MTTQ.

- VNCH có luật người cày có ruộng, luật lệ tôn trọng quyền tư hữu đất đai.

- Đảng CSVN cướp đất ruộng của dân từ Tiền giang, Đồng Nai tới Văn Giang, Dương Nội…

- VNCH bảo vệ biển cả cho ngư dân thông thương đánh cá trong hải phận của mình.

- Đảng CSVN làm ngơ cho Trung Cộng đánh đập bắn giết tịch thu ngư cụ của người làm biển.

- Người lính VNCH đã bảo vệ Hoàng Sa đến hơi thở cuối.

- Đảng CSVN nhận lệnh không được chống trả để làm bia cho quân xâm lăng TC chiếm Gạc Ma.

- VNCH có bản Hiến pháp mọi người dân được tự do đi lại, tự do sinh hoạt, tự do tôn giáo, tín ngưởng, tự do hội họp lâp hội, lập đảng, tự do báo chí. Nhân quyền được tôn trọng theo hiến định.

- Đảng CSVN dùng hộ khẩu để trói chân dân, không được tự do phát biểu ý kiến trái ý đảng , đình chùa nhà thờ công an tuyên giáo xâm nhập lũng đoạn phá hoại niềm tin thiêng liêng. Đảng CSVN dùng Điều 4 HP để độc tài độc đảng cai trị, dùng báo chí là công cụ tuyên truyền cho đường lối đảng, không cho báo tư nhân hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào.

- VNCH có tam quyền phân lập dân chủ pháp trị, mọi người dân chịu trách nhiệm trước pháp luật công bằng.

- Đảng CSVN dùng nhà tù và công an trị. Nhà tù VNCH nhốt người phạm pháp. Nhà tù đảng CSVN giam người yêu nước chống quân xâm lăng Trung Cộng.

- Người lính VNCH cầm súng bảo vệ nền tự do dân chủ, giữ gìn tài sản đem lại hạnh phúc cho toàn dân.

- Đảng CSVN đem chủ nghĩa ngoại lai độc tài độc ác tròng lên đầu dân , mang tài sản nhân dân cũng như tài nguyên quốc gia làm của riêng chia nhau tham nhũng, mạnh ai nấy đục khoét như chuột rúc hủ gạo.

- VNCH có nền giáo dục nhân bản khai phóng , gìn giữ văn hóa tinh hoa dân tộc, phát huy sáng tạo , chấp nhận in ấn và quảng bá tài năng văn chương văn học , nâng cao dân trí và không phân biệt tác giả là người miền bắc hay nam, sống miền CS hay quốc gia. Tôn trọng chỗ đứng trong văn học sử của Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… qua các quyển sách nằm trên giá của các nhà bán sách. VNCH lấy đạo đức châm ngôn “Tiên học lễ hậu học văn” không có đem căm thù súng đạn bắn giết vào sách giáo khoa.

- Đảng CSVN dùng chính sách dạy dỗ nhồi sọ chủ thuyết ngoại lai ,mang dao búa căm hờn lùng vào thơ văn sách vở học đường để đầu độc tư tưởng tuổi trẻ cho mục đích đảng trị lâu dài .

- VNCH lấy cái thiện cải hóa cái ác trong đường lối dạy dỗ.

- Đảng CSVN lấy cái phát minh làm chất nổ gói trong bánh, vổ ngực tự hào rồi quảng bá sâu rộng cho người khác học cách giết tập thể đám đông.

- VNCH lên án phản kháng làm chết oan dân lành bằng cách gài mìn xe đò, bắn đạn pháo vào trường học.

- Đảng CSVN tuyên dương công trạng những người tham dự đặt chất nổ trong nhà hàng, cài bom trong sân vận động.

- VNCH cho trường học công hay tự chọn đồng phục cho học trò để có nề nếp quy củ và biểu trưng sắc thái như nữ sinh Đồng Khánh, Huế có chiếc áo dài trắng tinh như sương buổi sáng.

- Đảng CSVN đảng hóa học đường qua các đội khăn quàng đỏ, đoàn thanh niên CS áo xanh.



UserPostedImage




Dân tộc là vạn đại, đảng phái chính trị nhất thời. Tương lai và sự tồn vong dân tộc nằm trên đôi tay bước chân, nhịp tim và khối óc tuổi trẻ. Cho họ được tự do chọn lựa giữa cái Thiện và cái Ác. Cho họ đựơc trọn quyền chấp nhận hay bác bỏ giữa Dân chủ và Độc tài. Chính nghĩa và không chính nghĩa đã rõ ràng tỏ tường. Tay sai hay bán nước đã diễn ra cảnh tượng trước công luận.

Mọi người dân tự chọn chỗ đứng dưới lá cờ để hành xử quyền làm người của mình mà Hiến chương LHQ đã chỉ ra.

Gần 43 năm trôi qua. Những người Việt tỵ nạn tha hương ít nhiều đã được thở không khí tự do dưới bóng cờ VNCH. Bây giờ họ trọn quyền ngồi yên hưởng thụ bên thành quả mà con cháu họ mang lại trên đất khách quê người. Nhưng họ không dừng lại tại đó, vì mang máu mũ dân tộc Việt họ nhìn về quê hương đau đớn cho bà con mình rên xiết quằn quại đau thương dưới bàn tay đảng CSVN cai trị hà khắc hơn cả thực dân. Hơn ai hết lương tâm họ đã thúc đẩy yểm trợ tinh thần và vật chất sát cánh cùng người dân oan mất đất, chung tay cùng ngư dân mất biển, cùng nhau đòi nhân quyền tự do bị đảng cướp đi.


Họ là những người Việt lưu vong sống rời rạc khắp thế giới. Họ đến với nhau dưới lá cờ tượng trưng cho linh hồn dân chủ tự do *. Hơn ai hết họ biết chỉ có những người làm tay sai cò mồi CS mới thách thức họ sao không về nước mà chống. Thật ra họ chẳng sợ và cũng chẳng còn gì để mất trong tay CS nữa. Mục đích của họ là đứng dưới lá cờ vàng mang đặc tính linh hồn của chính nghĩa để cảm hóa CS bạo tàn. Cuối cùng là giúp tay phá vỡ cái hệ thống đảng độc tài 71 năm vẫn ngồi lì để bán nước như con đĩ già cuối đời.


Người lính cầm cờ để bảo vệ nền dân chủ tự do đã chết. Nhưng linh hồn lá cờ phấp phới bay mãi trong lòng người yêu tự do. Những nhà dấn thân tranh đấu và những cá nhân hội đoàn yểm trợ tinh thần nhận diện nhau tìm mẫu số chung để đương đầu với hệ thống đảng trị, không gì hơn là nghe lời khuyên của Winston Churchill: “You will never reach your destination if you stop and throw stones at every dog that barks” (Anh sẽ chẳng bao giờ đi tới đích nếu anh dừng lại và ném đá tất cả các con chó sủa).



[i]Ghi chú
:
"...người Việt lưu vong sống rời rạc khắp thế giới. Họ đến với nhau dưới lá cờ tượng trưng cho linh hồn dân chủ tự do"

Thiển nghĩ: lá cờ vàng ba sọc đỏ không chỉ tượng trưng cho dân chủ tự do, mà còn là biểu tương của linh hồn dân tộc, của hồn thiêng sông núi, của tiền nhân bao đời bất khuất hy sinh, bao lần đổ xương máu chiến đấu chống xâm lăng giữ gìn bờ cõi, lúc công sức gian lao bền bỉ khai hoang lập ấp chống chỏi với rừng thiêng nước độc, mãnh thú, thiên tai.

Lá cờ ấy đã tượng hình từ thuở hai bà Trưng (trên đầu voi phất ngon cờ vàng) dấy binh đánh đuổi quân Tô Định, nhà Hán. Về sau này được các triều vua nhà Nguyễn hoàn chỉnh và công bố là quốc kỳ Việt Nam. Lá cờ vàng ba sọc đỏ mang tính dân tộc không chỉ về mặt lịch sử mà còn tượng trưng về địa lý, như những bài hoc từ bậc tiểu học ngày xưa đã thi vi hoá ba sọc đỏ biểu tương cho ba miền đất nước: Bắc - Trung - Nam, hay ba giòng sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long. Cái tính dân tộc ấy hoàn toàn tương phản với cái tính vô tổ quốc của CS. người CSVN đã lấy màu cờ của quốc tế CS, chẳng dính líu gì đến lịch sử đặc thù dân tộc, truyền thống chống xâm lăng, văn hoá nhân bản, quý trọng lễ nghĩa, trí tín của người Việt Nam ( thậm chí còn được cho là sao chép lá cờ tỉnh Phúc Kiến, sau khi Trung cộng đã kiểm soát lục địa Trung Hoa)

Khi gõ những dòng này, người viết rất tâm đắc về bài viết và cảm ơn tác giả.

Chỉ xin nêu thiển ý về tính dân tộc - lịch sử của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Vì cứ lâu lâu lai nghe, lại đọc đâu đó:

" Không cờ đỏ, cờ vàng ..." hay "phải bỏ cờ vàng thì mới có phen hoà hợp hoà giải êm rơ ..."

nên họ có thể lý giải biểu tượng của tự do, dân chủ là cái màu gì đó cũng được : xanh xanh, lam lam, tim tím hồng hồng,

hay lý sự hơn phân nửa người Việt không biết, không có ý niệm gì về lá cờ vàng, phải chờ cho đến cái ngày nào đó cả gần 90 triệu người Việt Nam quyết định chọn lá cờ nào thì mới là quốc kỳ VN! nên không thể dùng cờ vàng để kêu gọi đoàn kết đấu tranh (còn phải dùng cờ nào thì họ đang ấp úng)

Mà họ không hề biết lý sự rằng Vì cớ làm sao rất nhiều người Việt Nam không hề biết nước Mỹ, nước Úc, nước Anh, nước Gia Nã Đại ... thậm chí còn mắng chưi" là sen đầm đế quốc, tư bản bóc lột mà cú ào ào chay qua du học rồi chẳng chịu về tay không nếu chưa có giấy tờ bảo đảm cho lần trở lai.

Chỉ tội nghiệp những người chạy chọt để đi lao đông xứ người, chịu ba bốn tầng thuế thân còn bị gán cho tiếng xấu của người bất lương trộm cắp .

Tội cho những cô gái quê nhắm mắt nhân lấy chồng xứ lạ ...

Lá cờ vàng mang hồn dân tộc, thăng trầm cùng lịch sử ngàn năm, Lá cờ ấy mang tính nhân bản: không hề đẩy dân chết khô trên vùng kinh tế mới, không hề đẩy thanh niên thiếu nữ Sàigòn con cái tù cải tạo, con cái tư sản sang Miên làm bia giữa hai lằn đạn, Lá cờ ấy không đẩy thanh niên đi làm lao nô, rồi đem con bỏ chợ. Không làm lơ cho thiếu nữ phô mình để nhân lấy vài trăm đô để "được" bốc đi làm "vợ", để rồi không biết số phận về đâu, lọt vào hang ổ, hầm hố nào.

và xin có ý kiến nhỏ nữa thôi:
người lính cầm lá cờ ấy không chết trong lòng người dân Việt, trong lịch sử Việt Nam


hongvulannhi  
#126 Posted : Thursday, March 8, 2018 1:50:08 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5194 time(s) in 3450 post(s)

UserPostedImage

Nhớ ngày mồng 8 tháng 3
Là ngày phụ nữ chúng ta hưởng nhàn
Một ngày không phải lo toan
Việc nhà, cơm nước, có chàng đảm đang.

Chúc phe nữ đêm an bình
Ngập tràn hạnh phúc, đầy tình yêu thương.

HONG VU LAN NHI
3/8/2018


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 3/21/2018(UTC)
hongvulannhi  
#127 Posted : Saturday, March 17, 2018 5:35:14 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5194 time(s) in 3450 post(s)

UserPostedImage

Vài lời thăm hỏi,

Chim trời bay khuất nẻo xa
Nơi đây lạnh lẽo, cỏ hoa héo tàn
Ghi vội vài lời hỏi thăm
Nhờ gió trao tận tay nàng dùm tôi
Nhớ hồi âm nhé wild grass ơi!

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 3/21/2018(UTC)
wild grass  
#128 Posted : Thursday, March 22, 2018 12:14:17 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Originally Posted by: hongvulannhi Go to Quoted Post
UserPostedImage

Vài lời thăm hỏi,

Chim trời bay khuất nẻo xa
Nơi đây lạnh lẽo, cỏ hoa héo tàn
Ghi vội vài lời hỏi thăm
Nhờ gió trao tận tay nàng dùm tôi
Nhớ hồi âm nhé wild grass ơi!

HONG VU LAN NHI


Ô! thiệt là cảm động, Cám ơn Lan Nhi đã tặng bông mà còn thêm gói quà đẹp quá xá thì thôi ...
Cỏ mấy bữa rày mắc ... nạn, mưa quá đỗi, thành cỏ bị úng nước ngập ... ngất ngư chút đỉnh.

Chúc Lan Nhi và quý bạn forum, quý bạn đọc xa gần được an vui, mạnh khoẻ qua được mùa cảm cúm và mùa mưa lũ bình an
wild grass  
#129 Posted : Thursday, March 22, 2018 12:29:21 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)
Một Đại tá VNCH được an táng dưới cột cờ

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.



UserPostedImage

UserPostedImage

Đại-tá Nguyễn Hữu Thông
Trung Đoàn Trưởng 42 BB – SĐ 22 BB
Tự sát 31-3-1975 tại Quy Nhơn
.



QUY NHƠN - Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.




UserPostedImage

Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrÐ 42/SÐ 22BB,
tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.





Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Ðức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh Quân Y Viện chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Ðại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Ðại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Ðại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Ðồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Ðầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Ðại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.


Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm vc càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học....

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Ðại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Ðại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Ðại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.


Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.



thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 3/24/2018(UTC)
hongvulannhi  
#130 Posted : Saturday, March 31, 2018 3:30:36 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5194 time(s) in 3450 post(s)

UserPostedImage


Chúc wild grass và gia đình
Tràn đầy Hồng ân, An Bình, Vui, Khỏe trong Mùa Phục Sinh ...

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 4/3/2018(UTC)
wild grass  
#131 Posted : Tuesday, April 3, 2018 12:25:09 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Một lần chào cuối cùng của đời quân ngũ!

Trương Quang Chung




Sau 30.4.1975, người Việt tản mát trên khắp thế giới để tỵ nạn cộng sản. Trên Sách Vở, Báo Chí, Hồi Ký, Bút Ký, trên Ðài Truyền Thanh, Truyền Hình, trong các Ðại Nhạc Hội, những lúc Hội Họp các Ðoàn Thể chính trị hay các Tổ Chức khác, trong lúc ngồi nói chuyện quá khứ với nhau, đôi lúc cũng nhắc đến cái chết của những vị Tướng lãnh hay các Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cái chết đó phải được vinh danh một cách trang trọng xứng đáng, phải được ghi vào Lịch Sử để con cháu chúng ta sau này biết đến sự tuẫn tiết của cha anh họ.

Với tinh thần đó, tôi muốn viết lên sự tuẫn tiết của Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng cùng vợ con ngày 29.3.1975 tại Ðà Nẵng.



***



Tám giờ sáng ngày 28.3.1975, Tiểu Ðoàn tôi được lệnh rút về tuyến “vàng” phòng thủ, giữ phía Tây Nam của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và bảo vệ Pháo Ðội 105 ly của Sư Ðoàn 3. Mở bản đồ thì biết đó là Trục Lộ 14C từ Quận Ðiện Bàn đi Ðại Lộc, Thượng Ðức thuộc Tỉnh Quảng Nam. Tiểu Ðoàn chịu trách nhiệm từ Tháp Bằng An đến Phong Thử (khoảng 2 km). Tiểu Ðoàn di chuyển đến địa điểm lúc 10 giờ sáng, đã thấy vài khẩu đại bác 105 ly đã có sẵn ở các ruộng khô cách Tỉnh Lộ 14C khoảng 50 mét.

Sau khi liên lạc với vị Pháo Ðội Trưởng để bàn hoạch phương thức bảo vệ Pháo Ðội, tôi ra lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ định vị trí cho từng Ðại Ðội. Bộ Chỉ Huy của Tiểu Ðoàn ở gần Pháo Ðội. Khoảng 12 giờ trưa hôm đó, vị Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng báo cho tôi biết là họ được lệnh rút lui sau. Tôi không thắc mắc vì Pháo Binh luôn luôn ở sau để yểm trợ. Tuy nhiên, tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 của tôi gọi về Tiểu Khu hỏi xem chúng tôi có theo họ để bảo vệ súng không?

Hai giờ 30 chiều hôm đó Sĩ Quan Ban 3 của tôi báo cho tôi biết là Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đã thông báo là dời về Non Nước.

Lúc này, tôi có phần bi quan vì theo dõi tin tức qua máy trên các tầng số của các Ðơn Vị ở Vùng I mà chúng tôi có trong đặc lệnh truyền tin.

Bốn giờ chiều, tôi hoàn toàn không liên lạc được với Liên Ðoàn 911 do Trung Tá Lê Văn Thành Chỉ Huy mà Tiểu Ðoàn tôi trực thuộc. Tiểu khu cũng biệt vô âm tín.

Tôi gọi về Trung Tâm Hành Quân của Quân Ðoàn I cũng như của Sư Ðoàn 3, họ quá bận rộn với nhiều Ðơn Vị nên khó chen vào được.

Tôi mời các Ðại Ðội Trưởng và Sĩ Quan Tham Mưu đến cho biết tình hình và bàn kế hoạch. Bây giờ tôi không còn ai Chỉ Huy nữa nên tôi quyết định rút Tiểu Ðoàn về Hội An để vào Tiểu Khu xem sự việc đồng thời đó là con đường tương đối an toàn và gần nhất để ra Ðà Nẵng.

Ðơn Vị ra Quốc Lộ 1 thì dân, lính họ chạy về Ðà Nẵng quá sức tưởng tượng. Họ đang chạy giặc. Tình hình quá bi đát, một thoáng suy nghĩ trong đầu, tôi ra lệnh tất cả dừng lại ở trong Làng cách Quốc Lộ 100 mét, chờ lệnh tôi vì tôi sợ Lính ra đây thấy cảnh đó thì bỏ Ðơn Vị về lo cho gia đình.

Tôi tiến sát Quốc Lộ 1 để xem tình hình thì gặp Trung Tá Nguyễn Tối Lạc, Quận Trưởng Ðức Dục. Ông ta cho biết tất cả các Chi Khu của Quảng Nam đều bỏ cả rồi, Tiểu Khu thì về Ðà Nẵng không liên lạc được. Ông ta còn cho biết thêm là Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn 3 vừa cho lệnh ông là trực thuộc Ðại Tá Vũ Ngọc Hướng, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 2 thuộc Sư Ðoàn 3.

Ðại Tá Hướng chỉ huy luôn các Tiểu Ðoàn của Tiểu Khu Quảng Nam nữa. Trung Tá Lạc chỉ còn một người mang máy truyền tin, một người Lính bảo vệ thôi. Tôi đang đứng với Trung Tá Lạc thì một chiếc chiến xa M-48 từ trong đi ra thấy có Ðại Tá Hướng ngồi trên pháo tháp.

Ông ta thấy tôi liền cho xe dừng lại. Tôi là thuộc quyền của ông lúc ông ta còn là Tiểu Khu Phó Quảng Nam và hỏi tôi:

- Tiểu Ðoàn của mày đâu mà mày đứng đây?

Tôi trả lời:

- Tiểu Ðoàn tôi còn nằm trong Làng này, Ðại Tá.

Tay tôi chỉ vào trong Làng gần đó.

- Có còn đủ không?

- Còn nguyên, chưa đụng trận nào lớn cả, mà chỉ gặp du kích thôi. Bảo đảm Ðại Tá, chắc Ðại Tá biết Tiểu Ðoàn này rồi mà.

- Tao hiểu, mày đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Hinh chưa?

- Tôi chưa nhận lệnh trực tiếp của Thiếu Tướng nhưng đã nghe Trung Tá Lạc nói rồi.

- Tốt, bây giờ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu không còn ai nữa, mày trực thuộc Trung Ðoàn tao, mày có tầng số của tao chưa?

- Có đầy đủ ở đặc lệnh truyền tin rồi Ðại Tá. Bây giờ Ðại Tá cho lệnh thế nào?
- Theo lệnh Thiếu Tướng, mày cho Tiểu Ðoàn về Hội An phòng thủ với Trung Ðoàn. Ðến nơi, mày vào gặp tao tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để nhận lệnh chi tiết.

Tôi từ giã Ðại Tá Hướng trở lui Tiểu Ðoàn trình bày cuộc nói chuyện và lệnh của Ðại Tá Hướng cũng như Trung Tá Lạc cho các Sĩ Quan nghe. Sau một hồi thảo luận, cuối cùng tôi nói: Bây giờ chúng ta về Hội An như ý định của chúng ta đã nói. Trên vấn đề quân sự, chúng ta đặt dưới quyền của Ðại Tá Hướng,nếu hữu sự, chúng ta có Lực lượng quân sự cùng chiến đấu. Về đó tùy tình hình ta xử trí sau.

Tại Hội An chúng ta có các điểm lợi sau:

- Về địa thế chúng ta đã rõ như trong vòng bàn tay.

- Có kho vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men của Trung Tâm Tiếp Vận Quảng Nam của Tiểu Khu, chúng ta xử dụng nếu chiến đấu nhiều ngày.

- Nếu, có Lính chết hay Bị Thương thì có Bệnh Viện Hội An có phương tiện cấp cứu, có Bác sĩ Trung Ðoàn 2 và Y tá.

Liên Tỉnh lộ 13C từ Ðà Nẵng đi Hội An tương đối an toàn để chúng ta về Ðà Nẵng.

Tôi đã trình bày những điểm lợi hại cho các Sĩ Quan rõ, tôi nói tiếp:

- Nếu phải bỏ Ðà Nẵng như ở Huế và Vùng II thì tôi sẽ vào trình diện Quân Ðoàn để được giúp đỡ vì Tiểu Ðoàn mình còn nguyên chưa bị tổn thất thì thế nào Quân Ðoàn cũng lo cho mình vào Sài Gòn để tiếp tục chiến đấu. Nếu tận cùng mình dùng quân số đông để áp đảo Hải Quân, yêu cầu được chở vào Nam chiến đấu.


Bây giờ đã 6 giờ chiều, mặc dù còn ánh nắng mặt trời, dân chúng cũng như Binh Sĩ chạy về Ðà Nẵng quá nhiều nên di chuyển Ðơn Vị lớn như thế rất khó khăn, dễ bị thất lạc. Tôi ra lệnh cho các Ðại Ðội Trưởng, Trung Ðội Trưởng phải bám sát Binh Sĩ của mình đừng cho thất lạc. Nếu thất lạc, họ phải đến điểm tập trung là Ty Công Chánh Hội An. Ðó là điểm tập trung của Tiểu Ðoàn, đừng vào Tiểu Khu. Tôi căn dặn thật kỹ các Ðại Ðội phải ban hành lệnh đếm từng người Lính để họ nắm rõ điểm tập họp.

Sáu giờ 30, Tiểu Ðoàn bắt đầu hướng về Hội An. Lính Sư Ðoàn 2 Bộ Binh Tiểu Khu Quảng Ngãi, Quảng Tín kéo về như kiến cỏ. Họ không còn người Chỉ Huy nên hoàn toàn vô trật tự, vô kỷ luật, chỉ cần một hành động vô ý thức làm chạm tự ái, họ có thể bắn mình một cách dễ dàng.

Tôi đến được Hội An lúc 11 giờ đêm. Tại điểm tập trung, hai Ðại Ðội đầu đã có mặt. Tôi ra lệnh phòng thủ và đợi Tiểu Ðoàn đến cho đầy đủ. Tôi vào Tiểu Khu để gặp Ðại Tá Hướng nhận lệnh.

Mười hai giờ, Tiểu Ðoàn đã đến đầy đủ. Ðại Úy Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn, cho tôi biết quân số lúc đó là 470 người. Các Sĩ Quan có đủ, có 20 thường dân là thân nhân của các Quân Nhân của Tiểu Ðoàn theo họ (họ hy vọng nếu có vào Sài Gòn thì họ cùng Tiểu Ðoàn vào Nam được dễ dàng hơn) vì lúc ở Ðiện Bàn, các gia đình này ở đó nên họ biết có Tiểu Ðoàn về nên đem theo luôn.

Có 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác thuộc Tiểu Khu Quảng Nam đã thất lạc Ðơn Vị nay muốn theo chúng tôi. Tôi nói với 50 Quân Nhân này, tôi chấp thuận cho họ ở với Tiểu Ðoàn với điều kiện phải tuyệt đối tuân hành lệnh của các Sĩ Quan Tiểu Ðoàn, nếu bất tuân, tôi ra lệnh bắn bỏ, nhất là lúc đụng trận. Tôi sẽ cho họ về Ðơn Vị gốc khi tôi gặp Ðơn Vị đó. Tất cả họ đồng ý và tôi phân chia cho các Ðại Ðội tác chiến ngay.

Riêng 20 thường dân (trong số này, tôi đã biết họ vì trước đây tôi có đến nhà họ lúc thuận tiện), Tôi ra lệnh cho Trung Sĩ I Thoảng chịu trách nhiệm vì Trung Sĩ I Thoảng là Hạ Sĩ Quan Ban 5 của Tiểu Ðoàn (Trung Úy Trưởng Ban 5 vắng) đồng thời tôi giới thiệu Trung Sĩ I Thoảng cho họ biết và nói: ‘’Bà con là thân nhân của Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn tôi, tôi có nhiệm vụ bảo vệ bà con như bảo vệ Lính tôi vậy. Nếu đụng trận bà con nghe lệnh của Trung Sĩ I Thoảng để được an toàn, đừng chạy lộn xộn mà chết, Tiểu Ðoàn đến đâu, tôi đem bà con theo đó’’. Họ hiểu ý tôi nên rất hoan hỉ.

Thành Phố Hội An bây giờ trống vắng, 99% đều bỏ ra Ðà Nẵng lánh nạn. Tiểu Ðoàn rời Ty Công Chánh Quảng Nam để đến vị trí phòng thủ theo lệnh Ðại Tá Hướng. Ðó là hướng Bắc Hội An trên đường ra Ðà Nẵng. Trước khi đi, tôi còn để lại một Tiểu Ðội, một máy truyền tin do một Trung Sĩ của Ban 2 Chỉ Huy để đón nhận những người đến muộn.

Tại vị trí phòng thủ mới, tôi quá mỏi mệt, tinh thần căng thẳng. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì Hạ Sĩ I Minh bưng đến một tô cháo và một ly cà phê sữa đang nóng và nói:

- Mấy ngày nay Thiếu Tá ít ăn, ít ngủ, chỉ uống nước không, lo suy nghĩ nhiều, em thấy Thiếu Tá ốm đó nghe. Thiếu Tá ăn tô cháo hầm bồ câu và uống ly cà phê để có sức đánh giặc chứ. Tôi đang lo lắng, định bảo dẹp đi, nhưng thấy thuộc cấp của mình thương mình, lo cho mình như thế nên không đành và nói:

- Mấy ông kia ăn chưa? Bồ câu đâu mày có?

- Thưa Thiếu Tá, lúc nãy ở Ty Công Chánh có chuồng bồ câu có lẽ của ông Trưởng Ty đã bỏ đi rồi, nên em bắt 4 con, em biết Ðại Bàng sẽ rầy, nhưng giờ này có khỏe mới giết được việt cộng chứ Ðại Bàng.

- Thôi được, để đó, đừng mắc võng nữa nghe. Từ sáng đến giờ, tôi chỉ uống nước không ăn gì ngoài một tô mì gói có đập vào hai hột gà cũng do Hạ Sĩ I Minh làm mà thôi. Cảm thấy đói, hớp mấy miếng cà phê, ăn được gần nửa tô cháo thì nghe tiếng trực thăng, tôi nhìn ra thì thấy từ hướng Quân Ðoàn I có hai chiếc máy bay bay vào khá cao. Tôi bảo Trung Úy Bình, Sĩ Quan Truyền Tin mở máy qua tần số Quân Ðoàn liên lạc xem sao. Không liên lạc được mặc dù Bình đã có tất cả đặc lệnh truyền tin trong tay, đã liên lạc nhiều tần số và nhiều giới chức có thể đi bằng máy bay nhưng vô hiệu. Tôi biết chắc đó là máy bay Quân Ðoàn, nhưng không biết giới chức nào mà thôi. Lúc này, tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý, Trưởng Ban 3 gọi các Ðại Ðội Trưởng về họp đồng thời thu hết Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh trở về Tiểu Ðoàn. Tôi còn ra lệnh Ðại Úy Hà Thúc Thuyên đi với một máy, vài Lính bảo vệ đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu xem Ðại Tá Hướng thế nào mà không liên lạc được.

Bây giờ là 2 giờ sáng ngày 29.3.1975. Ðại Úy Thuyên báo Trung Ðoàn 2 đã âm thầm ra hướng biển để về Ðà Nẵng. Tiểu Ðội ở Ty Công Chánh đã đến Tiểu Ðoàn mang theo 9 người Lính đến muộn. Tôi cho về lại Ðại Ðội của họ cả. Như thế giờ này Tiểu Ðoàn có 479 Quân Nhân tham chiến chưa kể 50 Quân Nhân các Ðơn Vị khác đi theo. Sau một hồi bàn thảo của Sĩ Quan Tham Mưu và các Ðại Ðội Trưởng, tất cả quyết định rút về Ðà Nẵng, vào trình diện Quân Ðoàn.

Tôi hoàn toàn đồng ý và trình bày:

- Bây giờ còn sớm, chưa tới 3 giờ, chúng ta đến Chùa Non Nước sẽ gặp Ðơn Vị phòng thủ Quân Ðoàn ở đó trời chưa sáng, họ không nhận diện được ta có thể ngộ nhận và bắn lầm. Tôi quyết định 4 giờ sáng chúng ta xuất phát theo đội hình Ðại Ðội 1 đi dẫn đầu, Ðại Ðội 3 bên trái, Ðại Ðội 4 bên phải, Ðại Úy Thuyên Tiểu Ðoàn Phó đi với Ðại Ðội này vì có Trung Ðoàn 2 đi ra biển, nếu gặp tiện việc liên lạc hàng ngang tránh ngộ nhận. Ðại Ðội 2 đi sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn đi giữa, gia đình đi sau Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn. Trên đường đi nếu chạm địch, chúng ta phải yểm trợ nhau đưa nhau về Ðà Nẵng. Tất cả, nếu không ai có ý kiến gì khác thì về Ðơn Vị chuẩn bị lên đường khi có lệnh.

Ðúng 4 giờ sáng ngày 29.3.1975, Tiểu Ðoàn bắt đầu di chuyển thứ tự theo lệnh như đã phân nhiệm. Trên đường đi, chúng tôi không gặp một sự kháng cự nào, chỉ gặp vài du kích bắn lẻ tẻ,vô sự, các Ðại Ðội phản ứng nhưng vẫn tiến quân. Gần 9 giờ sáng, Ðại Ðội đầu do Trung Úy Thành Chỉ Huy báo cáo đã đến Non Nước, gặp Ðơn Vị bạn, đã nhận diện và nói chuyện vời nhau. Trung Úy Thành nói chuyện đã gặp một Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang ngồi trên chiến xa nói là họ được lệnh không cho một Quân Nhân nào vào Ðà Nẵng mà mang súng, muốn vào phải bỏ súng ở đây. Tôi nghe cũng ngạc nhiên. Lính mà không cho mang súng thì đánh giặc bằng gì, ôm mà cắn hả? Lệnh gì kỳ cục vậy.

Tôi nói cho Trung Úy Thành ra lệnh cho Binh Sĩ đứng tại chỗ, cấm phản ứng để tôi lên tiếp xúc. Tôi ra lệnh cho Ðại Úy Quý là các Ðại Ðội thu hẹp gần Tiểu Ðoàn, bố trí tại chỗ chờ lệnh và nói Ðại Úy Thuyên đến gặp tôi. Trên con đường đến gặp Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến, tôi suy nghĩ: Tình hình an ninh Ðà Nẵng rất xấu, đã có việt cộng cải trang thành lính xâm nhập rồi, nên mới có lệnh đó.

Tôi gặp vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và trình bày sự việc để xin được vào Ðà Nẵng. Ông ta dứt khoát và bảo đó là lệnh, tôi không thể sai được. Tôi cũng biết lệnh của Quân Ðội, tôi nói tình lý cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến và gần như năng nỉ. Ông ta mềm lòng và nói để hỏi lại cấp trên.

Tôi tìm hiểu Thiếu Tá Ðịnh là cấp trên của ông ta vì Thiếu Tá Ðịnh học chung một Khóa Bộ Binh cao cấp với tôi năm 1973 ngủ chung một phòng, cùng người Huế, nên chúng tôi cũng thân nhau. Tôi cũng nói cho ông ta biết là tôi cũng là bạn thân với Thiếu Tá Ðịnh, Tiểu Ðoàn Trưởng Thủy Quân Lục Chiến, vị Ðại Úy này xác nhận là Thiếu Tá Ðịnh là Tiểu Ðoàn Trưởng của ông ta. Ông ta nói chuyện với Thiếu Tá Ðịnh sau đó trao máy cho tôi để nói chuyện. Thiếu Tá Ðịnh cho tôi biết Quân Ðoàn đã đi hết, đã bỏ ngõ, Thủy Quân Lục Chiến cũng đang tự tìm cách về Sài Gòn chưa biết tính sao đây. Thế là hết! Tôi trả máy cho Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến.

Tôi ra lệnh Ðại Úy Quý gọi tất cả Sĩ Quan đến gặp tôi. Bây giờ là 9 giờ 30 sáng ngày 29.3.1975 tại Chùa Non Nước, Ðà Nẵng. Vị Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến cũng báo cho tôi biết là tôi được tự do vào Ðà Nẵng. Tôi chỉ nói cám ơn. Chiến xa nổ máy quay đầu chạy lui về Ðà Nẵng có tùng thiết Thủy Quân Lục Chiến theo. Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến cũng cho tôi biết không còn phương tiện vào Sài Gòn nữa, chính Ðơn Vị ông ta cũng phải tự lo liệu lấy. Không ai Chỉ Huy nữa. Hải Quân ở Tiên Sa cũng nhổ neo hết rồi.

Tất cả Sĩ Quan có mặt. Tôi trình bày tình hình Quân Ðoàn, Hải Quân do Thiếu Tá Ðịnh cho biết chính ông ta cũng không biết xử trí thế nào. Tôi nói:

- Tôi đã cùng Quân Nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn chiến đấu bên nhau bấy lâu nay, nhất là sau Tết cho đến bây giờ, tình hình chiến sự sôi động, gian lao khổ cực cùng anh em. Tôi đã đoán được tình hình, cố gắng đưa Tiểu Ðoàn về đây để được cùng nhau vào Sài Gòn tiếp tục chiến đấu, nhưng bây giờ sự việc xảy ra ngoài ý muốn của chúng ta, tôi rất đau khổ về sự việc này.

Tôi cũng kể về sự tiếp xúc của tôi và Thiếu Tá Ðịnh Thủy Quân Lục Chiến, sự suy luận của tôi, sự hiểu biết về tình hình của tôi cho tất cả nghe và nói tiếp:

- Không nên tập trung cả Ðại Ðội, sợ bị tấn công bất thường, chỉ từng Trung Ðội giải thích cho họ hiểu, thông cảm tìm cách vào Sài Gòn hoặc về gia đình tùy ý. Quyền Chỉ Huy bây giờ tùy nghi các anh lo liệu. Nếu ai về nhà thì vũ khí nên phá hủy đừng để lọt vào tay việt cộng. Các bạn tự do thi hành theo ý mình, điều cần nhất là phải an ủi, giải thích cho Lính hiểu tâm trạng của chúng ta bây giờ.

Có nhiều người lưỡng lự chưa muốn đi. Lúc này tôi như cái xác không hồn, ngồi xuống đất, dựa vào cổng trụ cửa ngõ của một nhà bên đường xem phản ứng của Quân Nhân các cấp của Tiểu Ðoàn như thế nào. Các Sĩ Quan đã đến chia xẻ sự đau khổ của tôi, mỗi người một ý.

Mười giờ 30 sáng ngày 29.3.1975. Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ. Trung Ðội Tình Báo của Ban 2 vẫn đứng quanh tôi để bảo vệ như những lúc hành quân.

Trung Sĩ I Nguyễn Thoảng đến đứng trước mặt tôi nghiêm đưa tay chào một cách trịnh trọng rồi nói:

- Chắc em không vào Sài Gòn đâu Thiếu Tá. Cả Quân Ðoàn không một trận đánh nào mà đã bỏ đi cả, em thấy chán quá rồi. Em chúc Thiếu Tá nhiều may mắn, cố gắng vào cho được Sài Gòn.


Cái xác không hồn của tôi vẫn ngồi dựa vào trụ vôi, không chào lại, không bắt tay từ giã,tôi nói:

- Tao bây giờ không biết tính sao, tao cố gắng đưa Ðơn Vị về tới đây để cùng vào Nam song không ngờ như thế này, tao rất thương anh em nhưng bây giờ ngoài tầm tay tao rồi.

Vợ Trung Sĩ I Thoảng và 2 con, một đứa 6 tuổi, một đứa 4 tuổi cùng đi với Tiểu Ðoàn từ hôm qua. Chị ta bước tới trước mặt tôi và nói:

- Em chúc Thiếu Tá lên đường bình an vào cho được Sài Gòn nghe Thiếu Tá, chứ việt cộng đến cỡ Thiếu Tá nó giết chứ không tha đâu.

Tôi đứng dậy xoa đầu hai đứa nhỏ đang đứng bên mẹ, có lẽ phản ứng lịch sự đối với đàn bà chứ tôi đã có đến nhà chị ta mấy lần rồi, nên cũng thường thôi. Tôi nói:

- Tôi cũng không biết có đi được không, đến đâu hay đó, Thoảng thì chắc nó không giết đâu vì nó cấp bậc nhỏ mà là chiến tranh chính trị ăn thua gì. Cố gắng lo cho hai đứa nhỏ.
- Cám ơn Thiếu Tá, chúc Thiếu Tá thượng lộ bình an. Thoảng tiến lên một bước, đưa tay chào tôi lần nữa.

Tôi cũng không chào lại, đưa tay bắt và nói:

-Thôi mày về đi, tùy tình hình địa phương mà sống chắc không can gì đâu. Anh ta đến chào Ðại Úy Hà Thúc Thuyên Tiểu Ðoàn Phó, Ðại Úy Lê Ngọc Nhựt Trưởng Ban 2 Tiểu Ðoàn và Ðại Úy Huỳnh Văn Quý Ban 3 Tiểu Ðoàn rồi từ giã ra đi. Ðến lúc này chỉ còn những Sĩ Quan đó và khoảng 20 Lính của Trung Ðội Tình Báo mà thôi. Còn tôi lại ngồi xuống đất dựa vào trụ vôi. Ðại Úy Thuyên đến nói:

- Thôi mình cứ về Ðà Nẵng rồi hãy tính. Tôi đang chán nản chưa có quyết định nào dứt khoát thì bỗng nghe một tiếng nổ lớn phía sau nhà tôi đang ngồi. Lính tôi phản ứng ngồi xuống trong thế sẵn sàng tác chiến.

Tôi nói:

- Minh, mày ra xem cái gì đó? Minh đi với hai người lính nữa, sau hơn 5 phút chạy lui, trả lời:

- Thiếu Tá ơi! Ông Trung Sĩ I Thoảng tự tử bằng lựu đạn với vợ con ông ta rồi.

Tôi quá bàng hoàng và xúc động, tự nhiên tôi bật khóc. Tôi đã đứng trước hàng trăm cái chết, sự rên la đau đớn, sự nhắn gởi trối trăn của thuộc cấp sắp chết mặc dầu tôi rất xúc động, tôi cũng có trái tim biết đau khổ nhưng tôi tự kềm chế không bao giờ khóc, nhiều lắm là đỏ con mắt. Tôi cố gắng kềm chế không để cho thuộc cấp biết sự mềm yếu về tình cảnh của tôi. Thế mà hôm nay không hiểu sao tôi lại bật khóc, có lẽ đây là lần khóc đầu tiên và cũng là lần khóc cuối cùng trong 13 năm quân ngũ của tôi đối với thuộc cấp. Tôi hỏi:

- Nó chết ở đâu.

- Ông chết ở nhà kia.

Theo tay chỉ của Minh thì sau căn nhà tôi đang đứng cách một cái nữa. Tôi đi theo Minh, 6 người Lính bảo vệ tôi cũng đi theo. Căn nhà tôn nhỏ xây vách chung quanh. Một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt tôi. Bốn thi hài không toàn vẹn, một xách áo quần, mền còn để lại trong một góc của căn nhà, máu đang chảy, thịt tung tóe dính cả vào tường. Tôi không nói gì, quan sát và đứng nghiêm chào vĩnh biệt 4 anh hùng rồi ra đi. Các Binh Sĩ theo tôi cũng bắt chước chào rồi đi ra đường.

Bây giờ là 11 giờ ngày 29.3.1975. Một Trung Sĩ I cấp bậc quá nhỏ so với tôi, một thuộc cấp mà trước đây tôi đã từng có lúc gọi bằng “thằng”, một phần vì anh ta nhỏ tuổi hơn tôi, phần khác vì gọi như thế cho thân mật, có những lỗi lầm mà tôi đã rầy la đôi khi còn nặng lời nữa, thế mà hôm nay tôi phải gọi là Ông, Ông Thoảng với lòng tôn kính vì đây là một Vị Anh Hùng hơn tôi rất nhiều, ít nhất là lòng can đảm, sự thể hiện bất khuất không thể sống chung với cộng sản. Hôm nay tôi viết để vinh danh một Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho con cháu sau này biết đến. Xin nghiêng mình tôn vinh một Vị Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hai giờ chiều ngày 29.3.1975, việt cộng đã treo cờ ở Tòa Thị Chính Ðà Nẵng.
wild grass  
#132 Posted : Saturday, April 7, 2018 12:53:01 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Hồ Sơ Đen của Cộng Sản Việt Nam:
Thuyền Nhân‏




Nhà báo, nhà văn kiêm sử gia Michel Tauriac, bạn của “người việt tỵ nạn Cộng sản”, đã từ trần.

Nhà báo, nhà văn kiêm sử gia Michel Tauriac đã từ trần ngày 26.12.2013, hưởng thọ 86 tuổi. Ông được giới văn-hoá Pháp biết đến như một nhà chuyên-khảo về tướng De Gaulle, được giới truyền-thông biết đến như một đại-phóng-viên cho các tạp-chí lớn, ký-giả của RTL, France Inter, sau đó trở thành giám-đốc thông-tin của đài truyền-thanh Pháp (Radio France) rồi tổng-giám-đốc.



UserPostedImage



Sinh ngày 21 tháng sáu năm 1927, Michel Tauriac đã từng tham-dự cuộc chiến Đông Dương trước khi trở thành ký- giả,phóng-viên cho nhiều tạp-chí lớn từ năm 1950. Đam mê về sử, ông đã viết nhiều tài liệu về tướng De Gaulle, năm 2010, ông, là thành-viên của viện nghiên-cứu Charles de Gaulle, đã cho in quyển Dictionnaire amoureux de De Gaulle, do nhà xuất-bản Plon thực-hiện. Ông đã viết trên dưới 20 tiểu-thuyết và tiểu-luận lấy cảm hứng từ các kinh-nghiệm sống ở Đông-Nam-Á.

Michel Tauriac nói thông-thạo tiếng Việt, đã viết nhiều tiểu thuyết với Việt Nam là bối-cảnh như Jade, La tunique de soie, La nuit du Tết…Ông khá gần gũi với người Việt-Nam quốc-gia, đã có những vận-động cho thuyền-nhân Việt-Nam.

Đầu thập niên 1980, ông đưa ‘một chiếc tàu vượt biên’ về Pháp triễn-lãm trước Maison de la Radio. Đó chỉ là một con thuyền mong manh, nhỏ bé như bao nhiêu ‘tàu vượt biên’ khác, chuyên chở hàng trăm người quyết-tâm liều chết để tìm tự-do. Những chiếc thuyền thông thường khoảng 15 thước bề dài, ba thước bề ngang, cũ kỹ, ọp ẹp, giả sử có mời độ mươi người tây-phương đi trên sông họ cũng không dám đi, thế mà cả trăm người tị nạn (đôi khi lên cả hơn hai trăm) đã dám liều chết để vượt trùng dương. Những hình ảnh, tài liệu phụ đính đã tạo xúc động trong dư luận công-chúng Pháp và tây phương, phần nào giúp cho sự tiếp-nhận thuyền-nhân của Pháp nhiều và nhanh hơn trong đầu thập niên 80!





[img]UserPostedImage[/img]




Michel Tauriac cũng là tác-giả một quyển sách tố-cáo tội ác của cộng-sản Việt-Nam: VIET NAM, LE DOSSIER NOIR DU COMMUNISME.

Cá nhân tôi đã có tiếp xúc với ông MICHEL TAURIAC đôi ba lần. Tôi đã có dịp mời ông về Valence thuyết trình về đề tài thuyền nhân khoảng đầu thập niên 80 và sau đó gặp lại ông cũng tại Valence trong dịp ông thuyết trình về tội ác cộng sản Việt Nam do hội ANAI- Valence tổ chức khi ông cho ra mắt sách Viet Nam, le dossier noir du communisme. Giờ đây, ông đã vĩnh-biệt cõi trần. Cầu nguyện hương-linh ông được an-bình bên Chúa.

Nhữ Đình Hùng

Nguyên tác: Viet Nam: Le Dossier Noir du Communisme

Tác giả: Michel Tauriac

Dịch giả: Nhà Báo Hồ Văn Đồng [/color][/size]



Những Con Bò Sữa



Thuyền Nhân”. Cái danh từ có một âm tự mà mỗi khi chính quyền Cộng Sản ở Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ đến danh từ “đồng đô la”. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh đã xảy ra cho danh từ đó? Mặc dù danh từ “Thuyền Nhân” xuất hiện lần đầu tiên trên tờ báo New York Times bởi ngòi bút của ký giả Henry Kamm, nhưng ai cũng biết cuộc di tản bằng đường biển của người tỵ nạn Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi các phương tiện bỏ chạy bằng đường bay không còn hữu hiệu nữa vì Sài Gòn đã bị Cộng Sản chiếm đóng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Một trong những nhóm người đầu tiên rời khỏi Việt Nam, bằng đường biển vào ngày mất nước hôm đó, là những người tỵ nạn Cộng Sản. Họ thả xuôi theo giòng nước sông Cửu Long ra đến cửa biển Cần Thơ, một thành phố lớn nhất vùng châu thổ, trên hai chiếc tầu nhỏ và một chiếc ghe, cùng với hai mười người Mỹ và trong đó có cả Tổng Lãnh Sự Mc Namara. Cùng trong ngày hôm đó, chiếc chiến hạm Mỹ tên là Mobile, nằm ở cửa biển sông Sài Gòn, đã thấy có đến hai mươi chiếc tầu đánh cá và một chiếc tầu chở hàng cũ chứa đầy người tỵ nạn. Những người tiền phong cho cả một đám đông khổng lồ ra với hành trang tuyệt vọng.


Ngày hôm sau, thứ Năm, mồng Một, tháng Năm, năm 1975. Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, ở cách bờ biển 35 dặm, đã chứng kiến một đoàn 27 chiếc tầu nhỏ ào ạt tắp đến từ đảo Phú Quốc, một hòn đảo nhỏ cách Việt Nam 25 dặm. Trên khoang những chiếc tầu, có gần 30,000 người tỵ nạn, trong số 50,000 người mà Thủ Tướng VNCH đã quyết định cho di tản đên đảo này từ hai ngày sau khi Thủ Đô Sài Gòn thất thủ. Rạng đông ngày thứ Sáu, mồng Hai, Tháng Năm, năm 1975, trên tầu Blue Ridge, chiếc chiến hạm chỉ huy của Hạm Đội VII với 46 đơn vị, đã mang đến 25,000 người Sài Gòn trong số những người cuối cùng có thể thoát khỏi thành phố bị bao vây. Trên thành tầu, những người thủy thủ nghiêng mình nhìn xuống một cảnh tượng kinh hoàng mà họ không dám tin là sự thật: mặt biển được bao phủ bởi hàng ngày ... và ... hàng ngàn chiếc thuyền ghe đủ loại đủ cỡ, từ những chiếc xà lan già nua rỉ sét cho đến những chiếc thuyền đánh cá tý hon mỏng manh và lố nhố đầy người trên khoang thuyền. Những ký giả được tầu Blue Ridge cứu lên đã ước lượng là có đến khoảng 100,000 người, đó là con số những “Thuyền Nhân” đầu tiên trong lịch sử người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản.


Từ đêm hôm đó cho đến rạng đông ngày mồng Ba tháng Năm, năm 1975, lần lượt các nước láng giềng gần ranh giới Việt Nam cũng đã đón nhận được những người đầu tiên bỏ trốn ra khỏi nước mà hành lý mang theo là hai bàn tay trắng với trái tim rướm máu và một tâm hồn tuyệt vọng. Sau này, trước sự vượt biên thường xuyên của họ, chính những quốc gia này đã đành phải đẩy họ trở ra biển để trả lại tử thần vì không còn cách nào khác hơn được. Một chiếc tầu 8,000 tấn, có tên là Đông Hải, đã mở đầu con đường hải lộ bi thương này khi thả lên Singapour một nhóm 822 người tỵ nạn. Trong khi đó, ngày mồng Bốn, tháng Năm, năm1975, 4,500 người khác, trong số có 1000 thiếu nhi, được lên tầu Đan Mạch Clara Maersk. Họ đã rất may mắn vì chiếc thương thuyền chở họ, có tên là Trường Xuân, đã rời khỏi Việt Nam ngay trước mắt Cộng Sản, và còn đang ở trong tình trạng sửa chữa. Khi sắp bị chìm thì tầu Trường Xuân được chiết tầu cứu tinh này từ phương Bắc đến gần và cứu vớt.

Tổng cộng, có khoảng hơn 200,000 người tỵ nạn Việt Nam đã trốn ra khỏi nước trong những ngày đầu tiên của tháng Năm. Khoảng 130,000 người được Hoa Kỳ tiếp nhận sau khi qua trạm Phi Luật Tân hay đảo Guam, một hòn đảo nằm ở vùng biển Thái Bình Dương mà trước đây có căn cứ Hải Quân của Mỹ. Những người khác, thường thì họ mang hai quốc tịch Việt Nam và Pháp nên đã được đi Pháp. Trong số những làn sóng người tỵ nạn đầu tiên có rất nhiều kỹ sư, chuyên viên đủ nghành, và y sĩ, họ đều quan ngại đến sự thù ghét mà Cộng Sản dành cho giai cấp của họ.

Kể từ năm 1975 đến năm 1977, làn sóng “Thuyền Nhân” đã gia tăng đều đặn, và các trại tỵ nạn cũng đã được Phủ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc (HCR) đều đặn mở ra tại Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, và Nam Dương hàng ngày đều có thêm người tỵ nạn mới nhập trại. Các quốc gia Tây Phương đã rộng rãi chấp nhận một số đông người tỵ nạn đến tạm trú như Pháp, Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, và Úc Đại Lợi (bỏ ra nhiều thời gian hơn để quyết định), ngoài ra còn có thêm một số quốc gia Âu Châu ở bên ngoài bức màn sắt.

Cho đến đầu năm 1976, Cộng Sản Việt Nam lại càng thêm cứng rắn và sắt máu với người dân. Những lời hứa hẹn về “hoà hợp hoà giải dân tộc” đã vĩnh viễn bay biến, và các trại cải tạo tập trung đầy ắp người, dân chúng miền Nam bị công an Cộng Sản theo sát như hình với bóng, và mấy chục ngàn người dân thành phố bị đày ải đi đến các thành phố khô cằn sỏi đá hay rừng thiêng nước độc mà Cộng Sản Việt Nam che đậy bằng danh từ hoa mỹ là “vùng kinh tế mới”, mà ở đó người dân bước vào kinh tế vô sản với kiếp sống đọa đày và khốn khổ. Cùng trong khi đó thì “luật cải cách ruộng đất” đã tước đoạt hết đất đai của nông dân. Do đó mà người dân Việt Nam đã bất chấp tất cả mọi thử thách kể cả những kho khăn nguy hiểm ngày càng chồng chất, thậm chí có thể bị tù đày hay giết chết, họ vẫn cứ lén lút và chen chúc nhau, từng đêm đi chôn dầu vượt biên, và đuà giỡn với tử thần trên các bờ bãi. Vào năm 1977, đã có hơn 10,000 “Thuyền Nhân” - danh từ này đã trở nên thông dụng - đến Thái Lan và Mã Lai. Các trại tỵ nạn đã phải mở rộng thêm ra và các xứ sở đầu tiên tạm dung họ bắt đầu khó chịu. Và chỉ có một nửa đơn thỉnh nguyện di trú được các nước Tây Phương chấp thuận.

Từ cuối năm 1977 đến đầu năm 1978, tình trạng lại càng thê thảm hơn. 80,000 thuyền nhân đến bờ biển các nước miền Đông và Đông Nam Á Châu, thì có đến 70,000 người đổ xô vào chỉ riêng một nước Thái Lan. Đó là thời điểm mà tiếng đại bác nổ dữ dội ở vùng biên giới Việt-Hoa, và “đàn anh Trung Cộng” đang vác gánh nặng ở vùng biên giới phía Nam vì những cuộc giao tranh giữa quân Khờ Me Đỏ và bộ đội Cộng Sản Việt Nam. Biến cố này đã khiến cho 300,000 người Hoa Kiều bỏ trốn. Hoa Kiều ở miền Bắc thì chạy bộ vượt biên giới sang Trung Cộng, Hoa Kiều ở miền Nam thì dùng đường biển mà chạy lấy mạng. Cộng Sản Hà Nội lên án Bắc Kinh là muốn phá hoại tình trạng kinh tế Việt Nam khi chiếm mất số dân cư rất năng động kia, mà đa số họ là đang nắm huyết mạch tiền tệ và thương mại thời đó. Con hát mạt hạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Khắc Viện lại rống lên những điệp khúc rẻ tiền do các quan thày của hắn ở Bắc Bộ Phủ đã soạn sẵn bài bản (Sud-Vietnam au fil des années, 241. Éditions en langues étrangères, Hanoi, 1984.): Các gián điệp Trung cộng dưới sự điều động trực tiếp của tòa đại sứ Trung cộng ở Hà Nội đã xúi giục người Hoa Kiều hồi hương “nơi đó nhà nước sẵn sàng đón rước họ để tham gia lao động tái thiết “Đại Trung Quốc”. Họ nói là người Việt Nam sẽ tàn sát họ một khi tiếng đại bác đầu tiên phát nổ ở vùng biên giới Việt-Hoa. Như thế, đối với các đảng viên Cộng Sản Việt Nam, nếu hàng trăm ngàn đồng hương của họ bỏ xứ trốn đi, thì luôn luôn là do bởi sự xúi giục từ “mạng lưới ngầm” của những người nước ngoài đáng ghét.

Mặc dù bên ngoài thì che đậy như thế, nhưng trên thực tế thì phỉ quyền Cộng Sản ở Hà Nội đã tìm ra hai mối lợi: một cơ hội để dứt bỏ một số dân chúng rất dễ trở nên nguy hiểm trong trường hợp chiến tranh vùng biên giới gây bất lợi, và một cơ hội khác là để nhét đầy túi tiền. Họ đã làm tiền người ra đi sau khi thẳng tay bóc lột sạch sẽ đủ mọi thứ. ngày 24, tháng 3, năm 1978, Cộng Sản Việt Nam bắt đầu tung công an ra tấn công tài sản của “giới tư sản mại bản” ở Chợ Lớn, khu vực người Hoa-Kiều tại Sài Gòn. Tất cả tài sản của cộng đồng người Hoa Kiều đều bị “quốc hữu hóa” đồng lúc với tư doanh. Bàn ghế, nhà cửa, nữ trang, qúy thạch, đồ sứ đắt tiền, và đồ dùng các thứ đều trở thành “tài sản nhân dân”. Kho tàng của chiến tranh, mà Cộng Sản Hà Nội hy vọng như vậy, để bù trừ các hậu qủa của việc bỏ trốn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia. Không cần phải phí phạm một giây khắc suy nghĩ nào, người ta cũng có thể hiểu được rằng việc đó sẽ đưa Cộng Sản Việt Nam vào chỗ bế tắc sau này.

Vì bị khốn đốn trong tuyệt vọng, người Hoa Kiều đã bắt buộc phải đặt chân lên những con tầu. Người ta còn nhớ câu chuyện chiếc tầu hàng hải cũ kỹ tên là Hồng Hải sắp bị chìm trong hải cảng Klong ở Mã Lai, với 2,500 hành khách mà phần lớn là người Việt gốc Hoa, đã bị khước từ không cho lên bờ. Thảm cảnh này đã làm rúng động lương tâm thế giới và thúc đẩy xu hướng cứu cấp của người Tây Phương. Một trong số đó là một y sĩ người Pháp, một cựu đảng viên đã ly khai Đảng Cộng Sản, ông ta đã tìm cách đền bù lỗi lầm vì đã hoạt động cho Cộng Sản bằng cách mua một chiếc tầu dùng để ra biển Đông vớt người tỵ nạn, mặc dù các “cựu đồng chí” của ông thấy động cơ đó không đúng chỗ. Sự ra đi của tất cả những hành khách không ngày về đó đã được tổ chức trong bóng tối, mà mỗi người đều phải mang nợ để đáp ứng yêu sách vô hạn định. Dù cho có phải là Hoa Kiều hay không, ngày nay người ta đều có thể rời khỏi Việt Nam “bán chính thức”, cho dù người Hoa Kiều bị cưỡng bách hay là do tự ý ra đi như tất cả mọi người, họ đều muốn chạy thoát khỏi nanh vuốt của kẻ áp bức là Cộng Sản Việt Nam.

Để che đậy tội ác và lừa bịp thế giới, Cộng Sản Hà Nội lên tiếng xuyên tạc sự thật rằng: “Làm sao dám giả định là các thuyền nhân trốn lánh một sự áp bức thường trực? Bọn này chỉ tuân theo mệnh lệnh của Washington và muốn phá hoại nền kinh tế nước nhà bằng cách tước đoạt lấy chất xám”. Và những luận điệu này đã được chúng lập đi lập lại nhiều lần với báo chí Tây Phương. Chưa hết, mỗi ngày, tên bác sĩ Việt Cộng hành nghề con hát tên Nguyễn Khắc Viện, đều kể lể trong bản thông tin của bọn Phỉ Quyền Cộng Sản và trên các tài liệu tuyên truyền của chúng dành cho “người nước ngoài” rằng: “Hoa Kỳ đã đề nghị cùng những người vượt biên là sẽ chở họ đi với giá từ khoảng 2,000 đến 3,000 đô la, đến tận các tầu Hải Quân Mỹ đậu ngoài khơi chờ đón. Những chuyên viên giỏi và trí thức thì không phải trả tiền gì cả”, hắn ta còn dám xác nhận rằng: “Giờ đây chúng tôi có thể quả quyết rằng nhà nước không cưỡng bức một ai phải bỏ xứ ra đi, và cũng không giữ một ai muốn ra nước ngoài sinh sống.” Thật vậy, nếu một vài người bị “lầm lạc” bởi các “lực lượng phản động ở trong nước và ngoài nước”, hắn ta còn thêm vào, đó là vì “họ không có can đảm đi khai khẩn các vùng đất mới.” Nguyễn Khắc Viện đưa ra thí dụ của một đồng nghiệp bác sĩ, dưới chế độ cũ thì ông bạn đồng nghiệp này “đi xe ô tô và sống trong vi la có gắn máy lạnh” và trở thành “quản lý của một bệnh viện công”. Như thế thì làm sao người này có thể sống trong một “xã hội mới”, thích nghi với một “xã hội cách mạng” ? Còn về phần “nhà nước”, tuy rất tiếc khi thấy những người này ra đi, nhưng không thể làm được gì khác hơn là cầu chúc cho họ được “thượng lộ bình an.”

Những bài diễn văn kiểu ngụy biện và xuyên tạc như trên, chúng ta thường thấy xuất hiện dưới ngòi bút của các ký giả Cộng Sản, là những người duy nhất vào thời điểm đó được ra vào Việt Nam, đóng kín ở phía sau bức màn sắt đầy đe dọa, từ tháng Năm, năm 1975, như một con nhím đang dương những cọng gai nhọn hoắt. Và hai mươi năm sau, nó vẫn còn nằm trong cửa miệng của một vài tay bình luận Tây Phương. Thí dụ như miệng của một phóng viên báo Pháp Đức, Arte [Le Grand Documentaire, ngày 11, tháng 2, 1995], đã chứng kiến cảnh đào thủy lợi bằng tay không của “những người dân can đảm của mười làng ra công hợp sức”, và tìm được trong “cái thú vị của sự nỗ lực chung”, và để giải thích lý do tại sao mà nhiều vạn người khác quyết định trốn khỏi nước Việt Nam Cộng Sản, thì hắn ta châm biếm rằng họ không thể “có cái cảm giác xây dựng quê hương xứ sở, như là cha ông họ đã từng đánh giặc bằng vũ khí trên tay”. Chỉ có những con hát mới biết mặt thật của họ ở phía sau lớp phấn son, và chỉ có Cộng Sản mới biết sự thật của họ ở phía sau bức màn sắt; do đó một cựu đại tá Việt Cộng như Bùi Tín thì dĩ nhiên là phải biết rõ Việt Cộng hơn một tên phóng viên của tờ báo Arte. Bùi Tín giải thích điều đó trong quyển sách “Vietnam, La face cachée du regime”, [147, Kergour, 1999], viết ít lâu sau khi ông ta đến “lưu vong” tại Paris.


Việc hối lộ của các người Hoa Kiều ra đi “bán chính thức” được chính bộ Nội Vụ Việt cộng tổ chức. Được biết đó là “Kế Hoạch 2”, mà mục đích được giữ kín, có cả một loạt những công tác cho phép các giới chức tổ chức cuộc ra đi của các người lưu vong mới sau khi “nhổ sạch lông” của họ một cách rất có phương pháp. Mỗi người phải trả giá vượt biên từ 3 đến 5 lượng vàng (một lượng = 36 grams), có khi gấp đôi. Nhà cửa, xe cộ, hoặc của cải để lại cho!


Khi đến chỗ xuống tầu, thường thì ở ngay tại thành phố như Cần Thơ, bên bờ Cửu Long, chẳng hạn, người ra đi phải chịu đựng những sự bóc lột cuối cùng như: bị tịch thu do các băng đảng tự cho là có quyền lục lọi, lấy vàng, nữ trang hoặc đô la mà người tỵ nạn có thể còn cất dấu được. Sau đó thì xuống tầu với nỗi lo sợ rằng chiếc tầu chở mình sẽ có một phần hai cơ hội sẽ bị hải tặc tấn công để lấy nốt những mẩu vàng còn sót lại trên người trước khi ném họ xuống biển. Thế nhưng khi đã lên được tầu rồi vẫn còn chưa yên với tuần cảnh địa phương nếu tầu chưa ra đến hải phận quốc tế. Nếu muốn thoát khỏi không bị bắt lại, thì tốt hơn hết là đưa ra chút của cải nào còn được dấu vào chỗ kín nhất. Bằng không thì sẽ bị bắt lại, và trong trường hợp này, tội danh là phản bội và bị “đế quốc Mỹ” mua chuộc. Tội này có thể ngồi tù từ 12 năm cho đến 20 năm (sắc luật luôn luôn có sẵn để tham khảo.)

Những người chọn cách đi tỵ nạn bằng đường bộ xuyên qua lãnh thổ Lào hay Căm Bốt đến Thái Lan thì gọi là Bộ Nhân (land people) . Những cuộc hành trình vượt biên đi tỵ nạn bằng đường bộ thì luôn luôn gặp nguy hiểm. Họ sẽ bi công an, hay bộ đội, hay là cảnh vệ nhân dân đuổi bắt, và có khi chỉ là người đi đường, thường là có liên hệ với Cộng Sản. Còn những người vượt biên nào “mượn được”, theo với giá do quân đội Nhân Dân ấn định, một chiếc xe vận tải quân sự chở quân nhu, cho phép họ núp bên trong thùng lớn, cách này được xử dụng khá thường xuyên, nhưng có khi cũng bị ngộp thở chết vì hơi xăng, và các nạn nhân trong trường hợp này cũng khá đông.

Những người may mắn hơn hết là có thể “kiếm” được một “giấy xuất cảnh chính thức” và vé máy bay đến tận Hoa Kỳ. Nhờ vào một kế hoạch do Liên Hiệp Quốc tổ chức với sự thỏa thuận giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội vào năm 1979. Thế nhưng họ cũng vẫn chịu hạch sách và tống tiền thì đơn xin xuất cảnh chính thức mới qua lọt, nhiều khi phải mất đến mười năm chờ đợi. Ngay chí Hoa Kỳ còn bị hạch sách đủ điều, và phải trả tiền cho từng đầu người tỵ nạn để được phê chuẩn cho phép đi.

Do đó, Cộng Sản Việt Nam đã phát minh ra được “NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN” của họ. Một nhà nghiên cứu ở Ba Lê tên là Bùi Xuân Quang, trong cuốn sách La Troisième guerre d'Indochine 1975-1099 (207-590, L'Harrmattan, 2000), ông đã tính toán “mối giao dịch” này của Cộng Sản Việt Nam, kéo dài ròng rã 20 năm kể từ 1975 đến 1995, đã mang lại cho Ngân Khố của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam khoảng 25 TẤN VÀNG. Với chừng ấy vàng mà người ta thấy xuất hiện trên thị trường tiền tệ Tây Phương dưới hình dạng các thỏi vàng mang ấn dấu của Việt Nam. Chủ yếu của nó là dùng vào việc bồi hoàn những số nợ mà bọn Phỉ Quyền Cộng Sản Việt Nam đã ký kết với Cộng Sản Nga và các xứ dân chủ nhân dân cùng tiền mua vũ khí chiến tranh, số vàng ấy lên đến trị giá khoảng 2.5 tỷ Mỹ Kim, tính trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1983.

Hiệp sống với nỗi ám ảnh là bỏ nước ra đi. Tôi còn nhớ tiếng nói của người “Thuyền Nhân” mà chúng tôi đã từng gặp nhau trên bãi biển Songkla tại Thái Lan giữa những người khác, bên cạnh chiếc tầu bị hư của họ, mà tôi đã được nghe anh kể lại câu chuyện thống khổ của anh. Và cho đến bây giờ bên tai tôi vẫn còn văng vẳng lời kể lại của anh: Vào một đêm nọ ở Việt Nam, một tên cán bộ Cộng Sản Việt Nam đã nói khẽ vào tai anh: “hai ngàn đô la, hay 4 cây vàng ...” Anh đồng ý với mối làm ăn; thế nhưng khi đến chỗ hẹn thì Hiệp mới nhận ra mình đã bị cướp. Thuyền thì chẳng thấy đâu mà vàng thì bị mất. Đó là cái họạ luôn luôn rình rập và cũng là một trong những cái giá mà những người muốn vượt biên tìm tự do. Làm sao để tránh khỏi bị lừơng gạt, cướp bóc hoặc bị tố cáo, và tìm ra đường giây tốt. Tôi biết có một “Thuyền Nhân” đã không thành công trong việc đi tỵ nạn mặc dù đã thử đến 27 lần. Hiệp thì đi hụt 3 lần, và sau đó thì anh quyết định tự tổ chức lấy chuyến vượt biên. Anh đã lén lút tự vá víu một chiếc tầu đánh cá cũ. Từng đêm rồi lại từng đêm cứ lo bào rồi lại trét, và những đêm trắng đêm hì hục sửa chữa máy móc. Thế rồi cuối cùng thì ngày khởi hành cũng đến, chiếc tầu đánh cá cũ kỹ của anh mang theo 85 người rời bãi xuôi giòng và trôi dọc theo những con kênh chạy dài ra biển.

Hiệp lặp lại cho chúng tôi nghe với một vẻ thống khổ: “Chúng tôi có 85 người trên chiếc tầu này và đã rất sung sướng vì có thể rời khỏi Việt Nam. Bây giờ thì ông hãy nhìn xem, ngày hôm nay chúng tôi chỉ còn có hai người. Hai người sống sót duy nhất là Ngọc, con gái của chị tôi và tôi.” Với cái đầu ướt lạnh như con mèo chết đuối và thân thể đói khát gầy trơ xương sườn như một con chó hoang, cùng với đứa bé gái lên sáu tuổi có đôi mắt nai khờ. Chúng tôi đã khóc. Nước mắt của những kẻ thừa mứa tự do đã đổ xuống mặn ướt câu chuyện phiêu lưu liều chết tìm tự do của anh. Anh đã bị kẹt lại ở trại Songkla này cùng với Ngọc sau khi thoát chết khỏi những bàn tay đẫm máu của bọn hải tặc Thái Lan đã giết chết chị anh cùng tất cả hành khách trên tầu sau khi chúng bắt mang theo gần hết phụ nữ.




UserPostedImage




Vào tháng 10 năm 1978 có 20,000 người tỵ nạn đặt chân lên bờ biển Mã Lai, và chỉ đến tháng 12 năm đó con số đã lên đến 50,000 người. Cộng thêm vào con số 5,000 người đi chân đất với ước vọng đã đến được bến bờ tự do. Chỉ trong vòng 4 tháng cũng đủ để cho hòn đảo hoang Pulau Bidong đón nhận được 20,000. Vào khoảng giữa năm 1979, có 5000 người tỵ nạn mới đến thêm vào con số những người anh em khốn khổ trong trại tỵ nạn Hồng Kông, trong khi có 90,500 người khác làm đầy ắp trại tỵ nạn Mã Lai. Những người mà cảnh sát địa phương từ chối đẩy ra biển đã trôi giạt đến Nam Dương, hoặc xa hơn nữa, đến tận Nam Hàn, hay Nhật Bản, và có khi đến tận Úc Đại Lợi. Hãy thử nhắm mắt và tưởng tượng cuộc hành trình liều chết để tìm tự do của họ trên khoang một con tầu bé nhỏ mong manh ...


Bất thình lình, một hồi chuông báo động nổi lên khi hai nước Thái Lan và Mã Lai tuyên bố rằng từ nay về sau họ sẽ không nhận thêm thuyền nhân mới. Bị dồn vào đường cùng, Liên Hiệp Quốc phải triệu tập một hội nghị quốc tế ở Genève và thu hoạch được ba kết qủa là: Các quốc gia ở vùng duyên hải bảo đảm là thuyền nhân sẽ không bị đẩy lui ra biển; các quốc gia tiếp nhận họ gia tăng thêm một số lượng hạn định tái định cư bổ túc là 130,000 người; và quan trọng nhất là Hà Nội, lo ngại khi phương diện của chúng bị bôi đen tối dần ở biển Đông trước sự bất mãn của cả thế giới, nên đã cho phép thuyền nhân có thể ra đi chính thức hợp pháp “trong vòng trật tự”, bằng phương tiện hàng không, chương trình này Liên Hiệp Quốc gọi là “Ra Đi Trong Vòng Trật Tự” (Orderly Departure Program) viết tắt là ODP. Kể từ giờ phút đó, nhịp điệu những người vượt biển đến các trại tỵ nạn thưa thớt một cách rõ rệt. Mực độ từ 300,000 người vào năm 1979, xuống chỉ còn 24,500 vào năm 1984, và đến năm 1986 chỉ còn 19,500 người. Cũng vào năm đó, lần đầu tiên, các cuộc ra đi tỵ nạn chính thức bằng hàng không với giấy nhập cảnh nhiều hơn con số những người trôi dạt đến bằng đường biển. Kết quả của hội nghị thuyền nhân tại Genève đã thỏa mãn thấy rõ, nơi mà Liên Hiệp Quốc nhắm vào một giải pháp mới cho vấn đề “Thuyền Nhân”.


Nhưng chỉ hai năm sau thì tình hình lại đổi ngược và đã làm cho thế giới thất vọng. Những người tỵ nạn đi tìm tự do lại trở ra biển: con số tăng lên 45,000 người vào năm 1988 (25,000 người nhiều hơn hai năm trước đó), 71,300 người vào năm 1989, trong số đó phải cộng thêm vào khoảng 17,000 người “bộ nhân”. Vấn đề trở nên không giải quyết được và các quốc gia ở vùng duyên hải bắt đầu nổi giận.

Đó chính là lý do mà tại trại tỵ nạn Hồng Kông, nơi mà mỗi ngày có đến 34,000 “Thuyền Nhân” mới nhập trại, và chính quyền Hồng Kông quyết định từ đó về sau họ sẽ đưa những người mới đến vào trại tạm giam. Thế là những cuộc nổi loạn và tự tử nối tiếp theo quyết định của chính quyền Hồng Kông. Để đóng chặt cánh cửa ngăn chận hẳn cái mạch chính của làn sóng vượt biển tìm tự do không ngưng này, các quốc gia tiếp nhận di trú lại tập họp lại thêm một lần nữa và họ đã tìm ra một biện pháp mới gọi là PAG (Plan d'Action Global) tức là chương trình Hành Động Toàn Cầu. Bất cứ thuyền nhân nào đến trước ngày 13 tháng 3 năm 1989 ở một quốc gia lân cận Việt Nam, kể từ đó, trên phương diện hành chánh, được xem như một người có quyền xin cư trú, nghiã là một người tỵ nạn chính trị hoàn toàn có quyền hy vọng được đi sống hết cuộc đời mình ở một nước Tây Phương. Dĩ nhiên là với điều kiện xứ này phải bằng lòng cấp cho họ một visa nhập cảnh. Ngược lại, tất cả hồn tồn khác đối với một người tỵ nạn CS lên bờ sau ngày 19 tháng 3, năm 1989. Họ bị xếp loại là di dân kinh tế, người đó phải chứng minh dược mình có một sự sợ hãi có căn cứ về việc bị xử tội, nếu không thì người đó bị đe dọa là sẽ bị cưỡng bách hồi hương. Trừ phi chính mình tự quyết dịnh quay về nước!

Bọn Phỉ Quyền Hà Nội có thể tự khen chúng. NHỮNG CON BÒ SỮA THUYỀN NHÂN ĐÃ MANG ĐẾN CHO BỌN PHỈ QUYỀN CỘNG SẢN HÀ NỘI RẤT NHIỀU QUYỀN LỢI. CHƯA HẾT, NHỮNG CON BÒ SỮA VẪN CÒN TIẾP TỤC CUNG CẤP SỮA DÙ Ở TẬN BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG.

Qua những gói qùa họ gởi về cho gia đình mà những người tỵ nạn CS không bao giờ ngừng gởi về nuôi thân bằng quyến thuộc còn kẹt lại ở Việt Nam, bắt đầu từ ngày đầu tiên họ đặt chân định cư trên một quốc gia tự do. Bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt mà họ không bao giờ ngưng chuyển về ngõ hầu giúp đỡ những người thân sống còn. Và bằng sự hiện diện của họ bởi vì ngày nay họ được phép về nước nghỉ hè bên cạnh thân bằng quyến thuộc. Một ước tính vào năm 1999 cho thấy có đến hai tỷ đồng Đô La hàng năm họ đã mang lại cho Phỉ Quyền Cộng Sản, tức là một phần ba ngân sách của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam.


GẦN HAI TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ CHỌN ĐỜI SỐNG LƯU VONG NƠI XỨ LẠ QUÊ NGƯỜI THAY VÌ LÀM NÔ LỆ CHO CỘNG SẢN, HÀNG TRĂN NGÀN NGƯỜI ĐÃ GỤC CHẾT TRÊN ĐƯỜNG TRỐN CHẠY NANH VUỐT CỘNG SẢN VIỆT NAM. KẺ NÀO ĐÃ DÁM ĂN NÓI NGƯỢC NGẠO, VÀ TUYÊN TRUYỀN LÁO KHOÉT RẰNG TOÀN THỂ NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM ĐOÀN KẾT CÙNG CÁC “ANH HÙNG GIẢI PHÓNG” VÀO NĂM 1975 ???


Nỗi ám ảnh bỏ nước ra đi của Hiệp. Tôi còn nghe anh nói, run rẩy trong bộ đồ bà ba ướt sũng nước biển, gia tài duy nhất còn sót lại trong đời anh. Giữa vùng vịnh Thái Lan, tiếng máy tầu của Hiệp hình như văng vẳng tiếng kêu của những linh hồn lìa xác. Thức ăn và nước uống đều sắp cạn. Những người đàn bà qùy trên khoang tầu khấn nguyện trời đất. Phải chăng trời đất đã chấp thuận lời cầu nguyện của những thuyền nhân vừa mới thoát ra khỏi nanh vuốt Cộng Sản và đang dẫy trên giữa lòng đại dương ??? Vào giữa trưa ngày thứ sáu, có một chiếc thuyền lướt sóng chạy nhanh về phía họ. Đó là một chiếc thuyền đánh cá Thái Lan. Rồi hai chiếc ... rồi ba chiếc .... Thoát Nạn chăng ? Nhưng ... Than ôi, đó là những chiếc thuyền hải tặc Thái Lan. Chúng cướp bóc trên tầu, giết chết những người đàn ông kháng cự, và bắt đi 18 người đàn bà trẻ nhất, rồi bỏ đi sau khi đâm thủng tầu. Những người Việt Nam cố bám vào thân tầu thì bị chúng dùng gậy đập chết. Khi trời sáng thì chỉ còn hai người sống sót duy nhất đang bám víu vào sự sống cuối cùng là chiếc thùng đựng nước bằng nhựa hóa học mà định mệnh của họ bập bềnh theo sóng biển vô tình. Hai người đó là Hiệp và Ngọc, cô bé gái có đôi mắt của con nai bị thương vừa thoát chết dưới lưỡi hái của tử thần. Tôi nhìn cô bé đầu nghiêng mắt nai, tựa cằm trên bàn, và đăm đăm nhìn tôi với ánh mắt để đời. Dường như tất cả tuổi thơ đã bỏ em mà đi. Cô bé chỉ còn lại một khoảng trống rỗng của đời người. Một chiếc bình hoa tuyệt mỹ đã rơi xuống bên thềm địa ngục và tan vỡ giữa trần gian!


Đó là lịch sử của những người chạy trốn nanh vuốt Cộng Sản Việt Nam mà đời gọi họ là “THUYỀN NHÂN”, và cũng có những người còn mệnh danh họ là kẻ “CHẾT ĐUỐI CHO TỰ DO”. Lịch sử của một dân tộc trong suốt 20 năm trường đã bị tàn hại dưới nanh vuốt của một thứ chính trị đầy thù hận và kỳ thị (CSVN) của bất cứ một chế độ Cộng Sản nào trên thế giới.


TAM73F sưu-tầm





wild grass  
#133 Posted : Saturday, April 14, 2018 2:16:50 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



Quốc Hận 30-4-75

Vi Anh




UserPostedImage




Đã bắt đầu vào tháng Tư, năm 2018. Thế là bắt đầu thêm một Quốc Hận, Quốc Hận thứ 43, kể từ 30 tháng 4 năm 1975. Quốc Hận là Quốc Hận là sự kiện lịch sử Ông Trời cũng không đổi được. Lịch sử sẽ vô ích nếu Con Người không vận dụng, nếu Con Người không nhớ để rút kinh nghiệm, để ôn cố tri tân. Để chống lại kẻ gian ác, để kẻ gian ác không thể tái diễn tai họa cho quốc gia dân tộc nữa. Nhớ và tưởng niệm Quốc Hận vì thế là bổn phận của cá nhân và nghĩa vụ của xã hội trong dòng lịch sử, trên phương diện nhân sinh quan và vũ trụ quan.!


Nên mạnh dạn dẹp qua một bên những lời khuyên giả đạo đức, thực dụng và lợi dụng, bảo “ để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai phía trước”, của những đám tàn dư Phản Chiến Mỹ, những chánh trị gia kẻ thiên Tả, người thân Cộng thập thò đi đêm với CSVN. Những người CSVN mà Thượng nghị sĩ McCain có lần đi Hà nội đã nói đó là “bọn ác đã thắng” và đang thống trị Việt Nam. Những người CSVN đã từng tuyên truyền dối gạt, dụ dổ nữ tài tử Jane Fonda ngồi lên và khen cây súng và các “ chiến sĩ” của CS Bắc Việt đã bắn phi cơ Mỹ ở Hà nội để chụp hình tuyên truyền chống Mỹ, nhưng sau này hối hận, khóc trước những cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại VN.

Và nhớ Ba Mươi Tháng Tư là Ngày Quốc Hận là cơ hội tưởng niệm, là bổn phận của người đi sau nhứt là thế hệ trẻ sanh sau Chiến tranh VN nhớ những người đi trước, nhớ những biến cố đau thương đã qua để rút kinh nghiệm. Ở Âu Châu, nhơn cơ hội kỷ niệm 60 năm ngày được giải thoát ra khỏi gông cùm Hitler và Đức Quốc Xã, lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt cũng bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi và đem vào chương trình môn lịch sử bó buộc học ở các trường trung tiểu học - gọi là Holocaust hay Shoah.

Ở Mỹ cũng thế, người Mỹ đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt chánh quyền Mỹ cưỡng bức dời cư Thổ dân thời Viễn Tây, lập khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ờ trường lớp, đó cũng là bài học để chống sai lầm của nhân cầm quyền diệt chũng, gây tội ác chống Nhân Loại .

Ở Âu châu chẳng những giáo dục ở trường lớp mà còn tổ chức du khảo, cho sinh viên học sinh thăm Trại Tập Trung Auschwitz ở Ba Lan, để tận mắt thấy những lò thiêu, thấy những hành động dã man, tàn ác và dối trá mà những người Đức Quốc Xã đối với người Do Thái. Nhiều học sinh, sinh viên nam nữ, đứng chết trân hoặc hét lên kêu Thượng Đế khi thấy hình ảnh hàng ngàn người mẹ Do Thái mình không quần áo, tay bồng con, đứng chờ đi vào chỗ chết mà tưởng đi tắm vì nghe “quản giáo“ bảo xếp hàng để đi tắm.

Làm như thế người Âu Châu lẫn người Mỹ chánh yếu muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa. Làm thế là để giúp cho đàn hậu tấn có những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài binh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã đã giết người hàng loạt, giết hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tấn thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, tránh sai lầm của chế độ.

Thì tại sao thế hệ trẻ Việt ở Hải ngoại, nhất là ở Mỹ không có quyền nhớ, thế hệ lớn tuổi không có quyền nói. Rằng phụ huynh mình, gần 300.000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “ học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và lao động khổ sai hàng chục năm mà không có xét xử.

Rằng Ô. Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ. Theo cuốn “ Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline nữa cộng lại nữa. 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và nửa triệu làm mồi cho cá.

Cả thế giới bàng hoàng, lương tâm Nhân Loại chấn động, Con Người chánh trực rụng rời tay chân.Toàn dân Việt rúng động. Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử nước nhà VN. Chưa xảy ra suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc. Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy. CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm cho dân phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy.

Lớp trẻ có bổn phận nhớ nếu không có những thân nhân là quân dân cán chính VNCH dẫn theo trên đường tỵ nạn CS và định cư ở Mỹ, thì dù đậu tiến sĩ đôi ba bằng nếu không có gia đình là quân dân cán chính VN Công hoà, không phải là con cháu HO, con cháu thuyển nhân cũng không thể được ở lại Mỹ, được hưởng nhiều cơ hội tiến thân trăm lần hơn những bạn đồng trang lứa còn kẹt sống trong chế dộ CSVN.

Thế mà gần đây CS Hà Nội và một số nhà chánh trị thiên tả, thực dụng và lợi dụng và một số tài phiệt siêu quốc gia ở Mỹ, lớn tiếng kêu gọi bỏ quá khứ ra phía sau và hướng về tương lai phía trước. Những người đó vì quyền lợi riêng tư, phe đảng đã tung hỏa mù . Một mặt để thế hệ trẻ Mỹ Việt xem thảm cảnh diệt chủng của CS ở VN suốt nửa thế kỷ như không có. Mặt khác khác chụp mủ “quá khích” cho những người nhớ bài học lịch sử đau thương nhứt của người Việt với nhãn hiệu “ nặng quá khứ nên quá khích” với CSVN.

Âu Châu là căn cứ địa lâu đời của văn minh Tây Phương. Lịch sử Âu châu dài cả trăm lần hơn lịch sử Mỹ. Người Âu Châu vì thế có nhiều kinh nghiệm đau thương với độc tài dưới mọi hình thức và với ý thức hệ phi nhân hơn người Mỹ. Giáo quyền độc tôn trên thế quyền thời Trung Cổ Đen Tối; Đức Quốc Xã; Cộng sản chủ nghĩa thời cách mạng kỹ nghệ đều xuất phát từ Âu Châu. Nên người Âu Châu chú trọng bài học lịch sử hơn. Người đi trước cảm thấy có nhiệm vụ truyền đạt kinh nghiệm đau thương cho lớp trẻ. Còn lớp trẻ cũng nhận thấy có “ bổn phận phải nhớ” ( devoir de memoire ) để ngăn chận lịch sử đen tối đừng tái diễn.

Người Việt Nam ở sát nước Tàu khổng lồ coi mình là Thiên Tử Con Trời, coi các nước xung quanh là nhược tiểu, man di, hể có dịp là xâm lăng, thôn tính, người Việt có kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Châu nữa. Nên ngươi Việt coi ôn cố tri tân là bổn phận. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS độc tài, đảng trị toàn diện, đoạ đày nhân dân, suy sụp đất nước.

Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi dầm mưa dải nắng, chịu nóng, chịu lạnh, tham dự các cuộc biểu tình chống CS. Ngày Quốc Hận người Việt không tiếc thì giờ và tiền bạc, chuẩn bị cả tháng trước trong việc tổ chức cả một chuỗi sinh hoạt công đồng, đoàn thể, tôn giáo tưởng nhớ Quốc Hận 30 tháng Tư. Không phải mới làm đây, mà làm suốt 40 mấy năm rồi, làm liên tục và còn làm nữa vì đó là tình liên đới của các thế hệ, bài học ôn cố tri tân của Con Người trong dòng lịch sử.



wild grass  
#134 Posted : Sunday, April 15, 2018 12:25:08 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



Ngày Quốc Hận: Thương tiếc người Phi Công Trẻ

Hoàng Ánh Nguyệt




UserPostedImage




Cuộc chiến tranh Việt Nam đã khép lại 40 năm qua, nhưng những dư âm tang thương từ “Tháng Tư Đen” vẫn còn là nỗi đau vang vọng trong lòng chúng ta, trong lòng từng gia đình, nhất là những gia đình có những người thân yêu đã một thời khoác áo Kaki…


Gia đình tôi cũng không ngoại lệ. Anh, em trai hầu hết là Quân nhân. Chồng tôi, Hoàng Ngọc Thái, Đại úy Công Binh, anh Hai Thiếu Tá Pháo Binh, anh Ba Chiến Tranh Tâm Lý, em thứ Năm Trung Tá, Tiểu Đoàn Trưởng, Công Binh, em thứ Sáu Trung Sĩ Pháo Binh, và em thứ Bảy Thiếu Úy Không Quân. Tất cả những Quân nhân trong gia đình đã chiến đấu hào hùng vì lý tưởng, chính nghĩa Quốc Gia, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho một Tổ Quốc Tự Do toàn vẹn.


Năm 1967, Em tôi, Hồ Xuân Đạt, khi vừa đậu xong bằng Tú tài I, dù vẫn được hoãn dịch vì lý do học vấn, vẫn tình nguyện lên đường theo tiếng gọi của non sông. Em đã xếp áo thư sinh, Từ giã học đường, gia đình, bạn bè… gởi lại sau lưng những kỷ niệm, những ước mơ thật đẹp, thật hồn nhiên của tuổi mới lớn.

Năm 1968, sau khi tốt nghiệp trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, em được chọn vào ngành Không Quân và được gửi đi Hoa Kỳ thụ huấn khóa đào tạo phi công trực thăng (Helicopter) tại Tiểu bang Texas Hoa Kỳ.

Năm 1970, khi tốt nghiệp em về lại Việt Nam, phục vụ tại phi trường Biên Hòa, thuộc Sư Đoàn III Không Quân QLVNCH. Ngay chính nơi chôn nhau cắt rún của mình.

Hai năm sau, vì nhu cầu chiến trường, em nhận lệnh thuyên chuyển ra Vùng I Chiến thuật, công tác tại phi trường Đà Nẵng rất gần với đơn vị của chồng tôi. Khi ấy, chồng tôi, Đại úy Hoàng Ngọc Thái, Đại đội trưởng đại đội Biệt Lập 127 Cầu Nổi.

Hàng tuần vào những ngày nghỉ, em hay về nhà tôi chơi trong khu Cư xá Phước Tường, Đà Nẵng. Chị em có nhiều dịp gần gũi nhau hơn. Em hay kể cho tôi nghe về những chuyến bay tác chiến, những phi vụ tiếp tế và tải thương tại chiến trường về đêm đầy những hiểm nguy mà em tham dự. Về những người lính can đảm đã anh dũng chiến đấu, đã hy sinh bỏ mình cho Tổ quốc.

Chiến tranh vẫn tiếp diễn và em tôi, vẫn hằng đêm thực hiện những phi vụ hiểm nguy để yểm trợ, sát cánh cùng chiến hữu các đơn vị để chiến đấu bảo vệ mảnh đất Quê hương.


Tháng 3 năm 1975, Đà Nẵng trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tin tức địch quân sắp chiếm Đà Nẵng làm dân chúng xôn xao, hỗn loạn tìm đường thoát chạy. Trong khu Cư xá Sĩ quan của Liên Đoàn 8 Công Binh, tôi không làm sao liên lạc được với chồng vì anh đang phải cấm trại tại đơn vị. Vừa lo lắng cho chồng, vừa lo cho Đạt em tôi, vừa lo cho chính bản thân mình và các con. Sau này nghĩ lại, thời gian ấy thật sự đáng sợ và kinh khủng nhất trong đời tôi.

Bỗng nhiên một buổi sáng trước ngày Đà Nẵng thất thủ, Đạt lái trực thăng đáp xuống khoảng sân rộng trước nhà tôi ở khu Cư xá Sĩ quan Công Binh Phước Tường. Khi bước vào nhà gặp tôi, trông em có vẻ căng thẳng và lo lắng. Em nói “Chị và các cháu chuẩn bị sẵn sàng. Em sẽ trở lại đón vào phi trường tìm đường về Sàigòn càng sớm càng tốt”. Nói xong, em quay lưng bước vội về chiếc trực thăng vẫn còn đang nổ máy ngoài sân. Trước khi cất cánh, em nhìn tôi rồi gượng nở nụ cười qua khung cửa gió của con tàu... Tôi không bao giờ ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy Đạt. Cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy nụ cười của em tôi. Một nụ cười buồn, rất buồn. Bởi, em chẳng bao giờ trở lại đón tôi như lời đã hứa.


Ngày 29/03/1975 Đà Nẵng thất thủ.

Ngày 05/05/1975 với nhiều vất vả, khổ cực, tôi một mình dìu dắt bốn đứa con nheo nhóc từ Đà Nẵng về nhà mẹ ở Sàigòn. Về đến nhà Mẹ thì mới hay Thái, ông xã tôi, đã có mặt ở nhà Mẹ cả tháng, vì nghĩ rằng chú các cháu đưa vợ con vào phi trường về Sài Gòn trước nên trong lúc thất thủ anh cũng vất vả tìm cách về Sài Gòn, anh có ngờ đâu vợ con anh còn kẹt lại Đà Nẵng. Bỏ ăn, bỏ ngủ với thân hình tiều tụy, vì nhớ thương vợ con, anh đã không từ một xác trôi nổi nào được tấp vào bất cứ bãi biển, bến tàu nào anh cũng tìm đến nhìn mặt, anh lang thang khắp nơi như người mất hồn. Tôi cũng không gặp được anh vì anh đã đi ngược ra Đà Nẵng tìm vợ con sau một tháng trời mất liên lạc. Giữa đường anh bị bắt, bị bịt mắt còng tay ra sau lưng, bị dẫn độ đi ngày đêm trong rừng sâu, và từ đó anh bặt tăm, một lần nữa tôi lại đi tìm chồng, không biết địch có để cho anh sống hay chúng đã giết anh rồi…Nhưng may mắn anh còn sống. Tôi đã gặp anh và anh đang bị tù mãi tận trong núi Kỳ Sơn, Quảng Nam…

Ngày tháng trôi qua cả nhà tôi lại tiếp tục đi tìm em trai Đạt, hết trại tập trung này đến trại cải tạo kia, vẫn không nơi nào có tên em, cứ tưởng Đạt bay đi được ra khỏi Việt Nam và đang tị nạn ở Hoa Kỳ, Canada hay một nước nào đó trên thế giới, không ngờ đến tháng 11/1975 một anh Quân nhân VNCH cùng đi trên chuyến bay định mệnh, sau khi máy bay bị bắn rớt, anh bị bắt đi tù gần 8 tháng về kể lại :

Máy bay cất cánh vội vàng với số lượng quá tải, cũng cố cất cánh bay cao rời khỏi phi trường Đà Nẵng với bao nhiêu người trên chuyến bay định mệnh trong những giờ phút mà đạn pháo quân thù bay ra xối xả, Đạt có ngờ đâu đó là phi vụ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp…

Khi phi cơ bay qua vùng Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định thì bị một loạt mưa đạn AK của địch từ phía dưới bắn lên nhắm ngay buồng lái, Đạt bị trúng thương, người phi công nữa vào thay cũng bị bắn, trong lúc Đạt bị bắn trọng thương anh lính đã chăm sóc, Đạt biết mình không thể sống, nên đọc địa chỉ nhờ nhắn tin về nhà, cả hai phi công đều tử nạn, chiếc trực thăng không người lái, bay chúi xuống ruộng, sát chân núi. Những người trên chuyến bay còn sống đã bị địch bắt…

Vẫn giữ lời, sau khi ra tù anh Quân nhân tốt bụng, đã tìm đến tận nhà báo tin về chiếc phi cơ của Đạt bị địch bắn và rơi xuống vùng Bồng Sơn (Bình Định) ngày 27/03/1975 như tôi đã kể trên. Và chỉ rõ địa điểm máy bay lâm nạn.

Quá bất ngờ lẫn đau xót và vô cùng bối rối, và cũng vì anh lính vội vã về gia đình nên anh lính chỉ báo tin cho biết và đi ngay, cả nhà tôi nghe tin sét đánh, đã lặng người, không còn nghe thấy gì, không còn nhớ tên anh lính cũng như địa chỉ hay quê quán nơi anh cư ngụ…

Theo lời anh lính chỉ đường, tôi và Má tôi đi xe đò ra Bồng Sơn, mặc dù không rành đường, nhưng khi xe chạy gần đến nơi tôi linh tính như có ai dẫn đường, tôi kêu xe ngừng lại đúng ngay địa điểm chiếc máy bay vẫn còn nằm dưới đám ruộng tuốt trong xa, gần chân núi, chỉ cần sơ ý xe chạy lướt qua, coi như không thể tìm thấy.

Xuống xe quan sát, tôi nhìn thấy ngay nấm mộ đất dưới bờ ruộng, sát lề đường QL.I không mộ bia. Hai bên đường là ruộng, xa xa mới có một căn nhà. Má và tôi tìm đến căn nhà gần nhất để hỏi thăm, cũng may mắn chính ông chủ căn nhà là một trong số những người dân ở đó chôn em tôi khi bị nạn giữa đường mà không có thân nhân… Mộ em nằm cách nhà ông khoảng 50 m. Thuộc thôn Vân Cang, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, Tỉnh Bình Định.

Ông chủ nhà rất tử tế, khi được biết chúng tôi đi tìm mộ người thân, ông mời Má và tôi ở lại nhà ông,vì khi tìm đến nhà ông trời cũng đã chạng vạng. Một căn nhà tường xây thật lớn, coi như ông là người khá giả nhất vùng đó, tắm rửa xong, ông mời dùng cơm, một bữa cơm thịnh soạn, thật cảm động, ông kể:

Khi máy bay rớt ông là người đứng ra chôn cất em tôi và một phi công nữa cùng bị nạn chung trên chuyến bay này. Nhưng anh phi công đó được gia đình biết sớm nên đã di dời về quê. Đêm đó ông lại nhường phòng ngủ của ông cho hai má con tôi ngủ, cái đặc biệt nữa là cái bóp của Đạt, tôi đã nhận ra ngay vì khi em tôi du học Mỹ em mua về sử dụng tôi có biết cái bóp da có hình đầu con Ngựa được đóng nổi. Trong bóp lại còn có tấm hình em mặc bộ đồ bay, tôi mang ra và xin phép ông được nhận lại kỷ vật…Ông rất vui vẻ. Ông cho biết khi ông chôn cất em tôi ông giữ lại kỷ vật này, ông vẫn để trên đầu giường (giường hộp) của ông.

Sáng hôm sau, Má tôi nhờ ông làm dùm tấm bia bằng gỗ cắm trên mộ em tôi. Vì mộ mới nên không thể hốt cốt mang về. Và lần gặp này gia đình tôi rất mang ơn ông, mỗi khi có dịp vào Sài Gòn ông và các con ông đều ghé nhà chơi.

Năm năm sau Má tôi trở ra Bình Định hốt cốt em về và hỏa thiêu, sau đó gửi cốt vào chùa, Đạt mất khi em mới 25 tuổi.

Cái kỷ niệm đau thương, buồn rầu ấy cứ mãi đeo đẳng theo tôi đến tận bây giờ, trong trí tôi lúc nào cũng hình dung cái chết tức tưởi, đau đớn của em mình và trong lòng tôi như có một vết thương chưa lành hẳn…

Bài viết này, tôi ôn lại và ghi lại những gì tôi còn nhớ, những gì tôi được biết. Tôi chỉ còn nhớ và chắc chắn là không đầy đủ chi tiết.

Đã 40 năm qua, thời gian cứ trôi, bao kỷ niệm cay đắng vẫn còn, càng cố quên hình ảnh đứa em thân thương đó tôi lại càng cứ nhớ, càng yên lặng là lúc hồn tôi miên man nhớ về quá khứ, cái quá khứ đau xót mà gia đình tôi nhận lấy.

Có nhiều kỷ niệm, kỷ niệm vui buồn, nhiều thứ để quên, nhưng nỗi đau mất mát này không thể nào phai nhạt. Đạt là đứa em gần gũi tôi nhiều nhất.

Chiến tranh qua đi, là một nỗi đau hằn sâu vết thương lòng cho những người còn lại, sau cuộc chiến là sự mất mát tang thương, bao nhiêu người con yêu của Tổ quốc đã xong nợ xương máu không trở về, bao nhiêu quả phụ chít khăn tang khi mái tóc còn xanh, trở thành góa phụ ngây thơ với nỗi buồn và sự mất mát to lớn.

Không có người Mẹ, người vợ nào trên Thế giới lại không tan nát trái tim, trước sự mất mát quá lớn này, sự ra đi vĩnh viễn của những người con, những người chồng, người cha của mình “Vị Quốc Vong Thân” ! Đã hy sinh một cách âm thầm.

“Tổ Quốc Không Gian”, vùng mây trời mênh mông bao la đã vương giọt máu đào của em tôi, của Đạt, của những người anh hùng nghiêng cánh sắt. Cố bảo vệ, gìn giữ Quê hương, đã đem sinh mạng đổi lấy hai chữ “Tự Do”.

Hồ Xuân Đạt một phi công trẻ của QLVNCH, đã chết vì Quê hương, Dân tộc. Là người thanh niên Biên Hòa, lớn lên trên dãy giang sơn hoa gấm thân yêu hình chữ “S”, một đất nước hiền hòa đầy tình Dân tộc được dựng xây bằng xương máu của các bậc tiền nhân bốn ngàn năm Văn hiến, sẽ mãi mãi làm trang sử QLVNCH đời đời sống dậy và người lính Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ chết.



Xin chân thành biết ơn những anh em Thương Phế Binh VNCH đã hy sinh một phần thân thể cho Quê hương, cho chúng tôi còn được nguyên vẹn.

Xin chân thành gởi nén hương lòng Tưởng Niệm đến những Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những người nằm xuống trong cuộc chiến, những người tuẫn tiết vì Quốc Hận 30/04/1975 và những người ngã gục trong lao tù Cộng sản. Những Anh Hùng Bất Tử trong dòng lịch sử Việt Nam.
[/i]


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 4/17/2018(UTC)
wild grass  
#135 Posted : Thursday, April 19, 2018 11:38:51 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



Đừng quên Mối Thù QUỐC HẬN 30/4

Nguyễn Văn Chức



Cách đây gần 27 năm, trong phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại Genève ngày 21.7.1979 về vấn đề Đông Dương,, Cao ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc đã long trọng tuyên bố trước thế giới rằng: tất cả những người Đông Dương bỏ nước ra đi sau biến cố 1975 đều là Tỵ Nạn Chính Trị và được hưởng quy chế Tỵ Nạn Chính Trị.


Đó là quy chế của Liên Hiệp Quốc, trên bình diện luật pháp của Liên Hiêp Quốc.


Chúng ta nên nhớ: lúc đó là thời cực thịnh của Trung Cộng, Liên Sô, Đông Âu và những nuớc không liên kết. Tất cả cái khối ấy đè nặng lên Liên Hiệp Quốc. Đọc lại tài liệu xưa, chúng ta thấy: tiến sĩ Kurt Waldeim, tổng thư ký Liên Hiẽp Quốc thời đó, đã phải vô cùng thận trọng.


Có hiểu như vậy, chúng ta mới ý thức trọn vẹn được lời tuyên bố của Cao ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc liên quan đến quy chế tỵ nạn chính trị của Người Việt Tỵ Nạn.

Phải chăng: Cao ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quóc đã nhìn thấy sự thật, nhưng không thể nói ra. Sự thật đó, là: cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn đứng ở một bình diện cao hơn bình diện của quy chế và của luật pháp, kể cả quy chế và luật pháp Liên Hiệp Quóc. Đó là bình diện của Con Người VN. Của nhân dân VN.Và của dân tộc VN.

Thực vậy.

Ròng rã hơn mười thế kỷ, giặc Tầu đô hộ nhân dân ta, và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân ta. Những tiếng thét căm hờn trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi không những chỉ áp dụng riêng cho quân Minh, mà áp dụng cho toàn thể ách đô hộ của giặc Tầu, một ách đô hộ vô cùng man rợ “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ, bại nhân nghĩa nát cả càn khôn, nặng khóa liễm vét không sơn trạch”.


Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi.


Giữa thế kỷ 19, giặc Pháp xâm lăng nước ta, “đô hộ và đầy đọa dân ta”. Tại đại hội Đảng Cộng Sản quốc tế lần thứ 5 ở Mạc tư Khoa tháng 7 năm 1924, trong tài liệu Nguòi Cùng Khổ (Le Paria) và Bản Cáo Trạng Chống Chế Độ Thực Dân Pháp (Le Procès Contre le Colonianisme francais)—do cụ Nguyển Thế Truyền và Ls Phan Văn Truờng viết -- Nguyễn Ái Quốc, tức tên giặc già Hồ Chí Minh, đã lớn tiếng tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Nguyễn Ái Quốc cũng đã kể ra muôn vàn thống khổ của nhân dân ta dưới ách thực dân Pháp.


Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi.


Năm 1945, giặc Nhật xâm chiếm và tàn phá nước ta. Trận đói năm Ất Dậu (1945), hai triệu dân ta chết thê thảm.


Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi


Năm 1956, “đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, và phạm muôn vàn tội ác đối với nhân dân VN”-- tôi vừa nhắc lại lời của tên giặc già Hồ Chí Minh..


Nhưng, lịch sử còn đó, người Việt không bỏ nước ra đi.



* * *



Nhưng năm 1954, khi Việt Cộng tiếp thu miền Bắc, thì gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam. Và tháng Tư năm 1975, khi Việt Cộng tiếp thu Miền Nam thì hàng trăm ngàn người Việt bỏ nước ra đi. Rồi sau đó, đằng đẵng hơn 10 năm, khỏang ba triệu người Việt đã bỏ nước ra đi.


Người Việt bỏ nuớc ra đi, không phải để tránh thiên tai bệnh tật. Mà vì một sứ mạng: đem tự do về cho quê hương đất nước.


Người Việt bỏ nước ra đi, đại đa số với hai bàn tay trắng. Họ phải vượt qua cả một đại dương đầy sóng gió, trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho đói khát, bão tố và cướp biển. Và khi ra đi, họ đã cầm sẵn cái chết trên tay. Bao nhiêu gia đình đã chết trên biển cả! Bao nhiêu gia đình đã bị cướp bóc, bị hành hạ, bị đánh đập, và bị giết trên biển cả! Bao nhiêu phụ nữ, em bé gái, đã bị hải tặc hãm hiếp dã man, đánh đập, và bắt mang đi mất tích ...!

...Thế mà Người Việt vẫn lũ lượt ra đi.


Tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ đó?


Chắc chắn không phải vì họ không chịu được sự kham khổ trong cái chế độ mang tên Cộng Hoà Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, như tên thủ tướng VC Phạm Văn Đồng đã tuyên bố trước Hội Nghị Các Nước Không Liên Kết tại Cuba năm 1978. Bởi lẽ: giữa cái khổ và cái nguy hiểm đến tánh mạng, con nguời vẫn chọn cái khổ. Nhất là đối với người Việt Nam, thà lam lũ trên quê huơng mình, còn hơn tha phương cầu thực; thà yên phận bên cạnh mồ mả ông cha, còn hơn mất xác trên sông trên biển, hoặc gửi xác nơi quê nguời.

Câu hỏi lại được đặt ra: tại sao người Việt bỏ nước ra đi? Đến đây, chúng ta hãy nhìn vào lịch sử thế giới.


Năm 1945, khi Đức Quốc Xã xâm lăng và thống trị Đông Âu, dân chúng địa phương không bỏ nước ra đi. Nhưng khi cộng sản lên cướp chính quyền, thì dân chúng điạ phương lũ lượt ra đi. Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Lỗ Ma Ni, Đông Đức, v. v...

Rồi sau đó là Trung Hoa, A Phú Hãn, Cu Ba. CS đến đâu, thì ở đó “đồng bào ruột thịt” chạy trốn. Chạy trốn chính những kẻ đến giải phóng họ.

Cách đây gần 40 năm, năm 1969, trong chuyến đi dự Đại Hội Liên Hiệp Nghị Sĩ Quốc Tế (Union Interparlementaire) tại Hoà Lan, tôi gặp một ông già Ba Lan làm nghề khuân vác. Tôi hỏi tại sao lại bỏ nuớc ra đi. Ông nói: “Quân Đức đến, dân chúng tôi không ra đi, nhưng cộng sản đến, dân chúng tôi phải ra đi. Sống dưới chế độ cộng sản, là cả một sự tuyệt vọng, Tuyệt vọng không được làm người. Cộng sản vừa là qủy vừa là súc vật.”


Thì ra, tỵ nạn cộng sản không phải là vấn đề của NGƯỜI CÔNG DÂN chống lại NHÀ NƯỚC, nhân danh quyền chính trị. Cũng không phải là vấn đề chạy trốn một thiên tai ôn dịch. Mà là vấn đề của CON NGƯỜI chống lại QUỶ VÀ SÚC VẬT, nhân danh quyền làm người.

Hiển nhiên, trên thế giới, không cộng sản nào qủy và súc vật bằng cộng sản VN. Và trên thế giới, không dân tộc nào tha thiết đến quyền làm người bằng dân tộc VN. Hai sự kiện này đã giải thích một sự kiện thứ ba: trong lịch sử nhân lọai tự cổ chí kim, chưa có cuộc ra đi nào đông đảo, ròng rã, thê thảm nhưng can trường, bằng cuộc ra đi của Người Việt Tỵ Nạn.


Lịch sử nhân lọai sẽ mãi mãi nhắc đến cuộc ra đi này. Và lịch sử sẽ không quên ghi nhận một điều: chúng ta, Người Việt Tỵ Nạn, đã chịu đựng tất cả bất trắc khổ sở nhục nhằn hiểm nguy, để tồn tại. Không tồn tại như những người ra đi vì cơm áo hoặc vì thiên tai. Mà tồn tại như những người ra đi vì tự do, với sứ mạng đem tự do về cho quê hương đất nước. Tồn tại để vươn lên, và tổn tại để chiến thắng.

Nhìn lại ba muơi năm qua, chúng ta có quyền tự hào. Chúng ta đã vươn lên và đã chiến thắng. Vươn lên và chiến thắng cùng với lá cờ vàng ba sọc đỏ ngạo nghễ khắp năm châu.

Hơn ai hết, Việt Cộng đã ý thức được điều dó. Nghị Quyết số 36/NQ/TU ngày 24/ 3 / 2004 của chúng nó đã mặc nhiên nhìn nhận: người Việt Tỵ Nạn không ra đi vì miếng cơm manh áo, cũng không ra đi để tránh thiên tai bệnh tật, mà ra đi vì một sứ mạng lịch sử: Sứ mạng đó, là: cùng với nhân dân trong nuớc đấu tranh đem tự do dân chủ cho quê hương VN.

Trong chuyến đi Úc và đi Mỹ hồi tháng 5 và tháng 6 năm ngóai (2005) tên thủ tuớng VC Phan Văn Khải cũng đã nhìn thấy sự thật, khi ôm đầu chạy như con chó trước hàng ngàn đồng bào hải ngọai và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Khỏi cần nói đến chuyến đi Mỹ chữa bệnh của tên viện trường cò mồi rẻ tiền Hoàng Minh Chính tháng 10/2005.


* * *



Trong đại tác phẩm The Gulag Of Archipelago cũng như trong bài diễn văn nhận giải Nobel năm 1970, văn hào Solzhenitsyn đã lớn tiếng suy nghĩ: “Tội ác lớn nhất của những nguời được hưởng tự do là im lặng.” Im lặng trước những tội ác của bạo quyền CS. Im lặng truớc những thống khổ của đồng bào mình đang phải sống dưới ách bạo quyền CS.

Những người đã và đang can đảm dõng dạc đứng lên cất tiếng nói trung thực đòi tự do, đòi quyền làm người cho người dân, đòi chủ quyền của đất nước và dân tộc tại quốc nội. Họ là ai? Họ là những người đang sống trong tầm hủy diệt của bạo quyền, nhưng đã dám đứng lên vạch mặt tội ác của bạo quyền, bất chấp ngục tù và coi thường cái chết. Chúng ta ở hải ngọai, nghĩ gì truớc những tấm gương anh hùng ấy?

Tôi vừa đặt câu hỏi, và xin trả lời.

Từ ba mươi năm nay, chúng ta đã không ngừng chiến đấu để đem lửa chiến đấu về quê hương, đồng thời đem lửa chiến đấu từ quê hương ra hải ngọai. Những đóaù hoa mà chúng ta ở hải ngọai dâng lên mẹ Việt Nam đẹp lắm, và gồm đủ mầu sắc. Mầu sắc của báo chí chống cộng, của văn hóa chống cộng, của anh em cựu chiến sĩ QLVNCH chống cộng, của tập thể Người Việt Tỵ Nạn chống cộng. Và của lá cờ vàng ba sọc ngạo nghễ.


* * *



Hiện nay, cuộc chiến đấu chống bạo quyền của nhân dân ta trong và ngọai nước đang bước vào giai đọan quyết liệt. Kẻ thù, tức bạo quyền Việt Cộng, ngày càng suy yếu, đang khi đó cường độ của chống đối ngày càng gia tăng.


Có thể nói rằng: chưa bao giờ bạo quyền VC lo sợ như bây giờ. Vì vậy chúng ta, Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, lại càng phải tiến tới để cùng với đồng bào trong nước lật đổ bạo quyền, và thay thế vào đó bằng một chính quyền của dân, bởi dân và vì dân trong một cuộc tổng tuyển cử – tôi xin mượn lời của Mikhael. S. Gorbachev--hợp pháp, lương thiện và dân chủ..

Và chúng ta đừng quên: Việt Cộng hiện đang phải căng da mặt, che hàm răng chó sói, để “hoà hợp dân tộc”, để “xây dựng dân chủ”, để đánh lừa dư luận, nhất là dư luận Mỹ.

- Tổ chức bầu cử một quốc hội tay sai có những đại diện hải ngọai về tham dự, những thứ vô liêm sỉ như “biển dâu mulberry sea” Nguyễn Ngọc Bích của hãng nhà quàn (funeral homes) quốc doanh mang tên Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ do cựu đại sứ Bùi Diễm làm Giám Đốc.

- Kêu gọi hải ngọai quên đi quốc hận 30/ 4. Từ hơn tháng nay, Hoàng Cơ Định. của băng đảng Hoàng Cơ Minh--- nay đổi tên thành VN Canh Tân Cách Mạng Đảng-- không ngớt kêu gọi trưng cầu dân ý đổi ngày Quốc Hận 30/4 ra Ngày Tỵ Nạn. Người ta cười thầm cái gian manh của y, cái gian manh đã bị FBI còng tay tống giam trước mặt công chúng và báo chí Cali năm nào. Người ta cười thầm cái vô liêm sỉ của y. Và người ta cười thầm cái dốt của y, dốt về hàn lâm cũng như dốt về lý luận.


* * *



Tháng 6/2005 vừa qua, chúng ta đã đánh đuổi tên Phan Văn Khải chạy như con chó. Rồi tháng 10/2005 vừa qua chúng ta đã lột mặt nạ tên Hoàng Minh Chính và bè lũ đón gió điếu đóm.

Hiển nhiên, những hành động nói trên của chúng ta không phải là của– cũng như không thể là của -- những kẻ tỵ nạn một thiên tai.

Những hành động ấy chỉ có thể phát xuất từ những ngừời Việt Nam coi cộng sản là kẻ thù cần phải hủy diệt.

Hỡi đồng bào tỵ nạn CS, hỡi Người Quốc Gia, hỡi các anh chiến sĩ QLVNCH đã chết trên chiến trường cũng như đã chết trong ngục tù cộng sản! Máu của các Anh cùng với mồ hôi nước mắt của đồng bào trong nước, vẫn còn đó, không khô đi, không tan đi, mà sẽ đọng mãi trên quê hương Việt Nam, bao lâu quê hương Việt Nam còn quằn quại dưới ách của bạo quyền.

Hỡi đồng bào tỵ nạn, hỡi đồng bào trong nước, đùng quên rằng: đảng CSVN, từ Hồ Chí Minh cho đến nay, là kẻ thù đểu cáng nhất và tai họa lớn nhất của nhân dân ta kể từ ngày lập quốc.

Đó là SỰ THẬT. Của thế kỷ. Của lịch sử. Và của muôn đời.

Nhân danh sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quốc Gia đã nằm xuống, nhân danh sự sống còn của dân tộc Việt Nam, và vì những thế hệ mai sau, chúng ta hãy nói lên và đấu tranh cho SỰï THẬT. Bởi vì: chỉ có SỰ THẬT mới kết hợp được lòng nguời. Chỉ có SỰ THẬT mới chiến thắng được bạo lực và lật đổ bạo quyền. Chỉ có SỰ THẬT mới giải thóat được quê hương chúng ta.


SỰ THẬT là sức mạnh lớn nhất, và cũng là sức mạnh mà CSVN khiếp sợ nhất.


* * *



A WORD OF TRUTH OUTWEIGHS THE WORLD” (Một lời của sự thật cân nặng hơn vũ trụ.)

Người tù khổ sai và cũng là đại văn hào Nga Solzhenitsyn đã dùng câu nói trên để kết thúc bài diễn văn nhận giải thưởng Nobel năm 1970.

Đêm nay, mái đầu bạc gục trên di ảnh những anh hùng Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Trần văn Hai, Lê Văn Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, và đêm nay, tưởng nhớ các chiến sĩ QLVNCH đã hy sinh cho tổ quốc Việt Nam thân yêu, tôi xin được nói câu nói trên, và thét lớn:

HỠI ĐỒNG BÀO TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
HỠI ANH EM CỰU CHIẾN SĨ QLVNCH
HÃY ĐÁNH GIẬP ĐẦU SỰ PHẢN BỘI
VÀ ĐỪNG QUÊN MỐI THÙ QUỐC HẬN 30 /4



wild grass  
#136 Posted : Tuesday, April 24, 2018 12:53:17 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Viết cho Tháng Tư Đen:
Những Người không sợ Thần Chết

Lão Móc




Dẫn nhập: Những ngày này, 41 nãm về trước, trước khi ông Tổng Thống thời cơ Dương Văn Minh hèn nhát kêu gọi QLVNCH đầu hàng để giao trọn miền Nam cho VC thì, trong giờ phút Miền Nam lâm tử, đã có những vị Tướng lãnh miền Nam – NHỮNG KẺ ĐÃ KHÔNG SỢ THẦN CHẾT – bằng chính mạng sống của mình đã được THẦN CHẾT kính cẩn nghiêng mình mở CỔNG CHÍNH và mời các vị này bước vào lịch sử! Bài viết này xin được tỏ lòng tri ân các vị anh hùng bất tử của QLVNCH; bởi vì như ai đó đã nói: Chết vì nước là sống mãi với thiên thu!


* * *



Mỗi năm người có mười hai tháng
Ta có trong lòng một tháng Tư
” (Thanh Nam)


Thần Chết, tức Tử Thần xưa nay vẫn là nỗi ám ảnh, lo sợ của đại đa số con người. Đông và Tây thuở giờ mang hai nền văn hóa khác biệt. Ai đó đã từng nói: “Đông là Đông và Tây là Tây”.

Nhưng theo tôi, Đông Tây vẫn có những cái thống nhất với nhau. Một trong những cái thống nhất đó là hình tượng Thần Chết. Tử Thần vẫn được Đông và Tây tượng trưng bằng một bộ xương khô, tay cầm lưỡi liềm. Quả là một hình tượng làm trẻ già lớn bé khắp nơi, tự cổ chí kim đều sợ hãi. Tôi cũng vậy, tôi cũng ớn cái lão ấy lắm. Cái lưỡi liềm ghê rợn trên tay lão lúc nào cũng như múa lên, chực chờ mà cắt phăng đi sinh mạng người ta! Sợ quá đi chớ! Cái lão Thần Chết đáng sợ ẩn ẩn hiện hiện khắp mọi nơi, mọi lúc.

Tuổi già ư? Lão chẳng tha ai cả. Lão từ tốn ra tay, chậm chạp nhưng chắc chắn, từng người một.

Tai nạn ư? Lão đột ngột vung lưỡi liềm, số nạn nhân của lão vô chừng, khi nhiều, khi ít.

Bệnh tật ư? Lão hành hạ người ta chán chê rồi mới xuống tay.

Chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai ư? Lão đắc ý vung tay lấy mạng người ta hàng loạt …


Người ta ít ai ưa lão, mà cũng ít ai không sợ lão. Lão tung hoành ngang dọc, coi thường mọi sự; kể cả những tiến bộ khoa học của đời nay. Những thứ đó thì cùng lắm chỉ ngăn cản bớt mức tàn khốc của cái lưỡi liềm trên tay lão mà thôi. Lâu ngày chầy tháng rồi thì cuối cùng lão vẫn thắng. Có lẽ lão lấy làm đắc ý với sức mạnh vạn năng của lão. Ai mà chẳng sợ? Lão nghĩ thế! Mà kể lão cũng đáng sợ thật. Nhưng lẽ đời mà, có cái gì tuyệt đối đâu. Đại đa số người ta sợ lão, nhưng không phải là tất cả. Có những người không hề sợ lão.

Ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (1248), 50 vạn quân Mông Cổ dưới quyền thống suất của Thái tử Thoát Hoan và hai danh tướng Ô Mã Nhi, Toa Đô ào ạt kéo sang xâm lăng Đại Việt. Hội quân trên đất Hồ Quảng phía Nam Trung Hoa: Lục quân do Thoát Hoan điều động tiến vào Lạng Sơn. Thủy quân từ Quảng Châu theo Toa Đô vượt biển vào Chiêm Thành; tự phía Nam tiến lên Bố Chánh (Quảng Bình) rồi thẳng ra Nghệ An. Quân Đại Việt bị kẹp giữa hai gọng kềm.

Ngày 27 tháng Chạp, giặc chiếm Nội Bàng, Hưng Đạo Vương lui về Bái Tân (thượng lưu sông Lục Nam).

Ngày 6 tháng Giêng, giặc đến Bình Than.

Ngày 12 tháng Giêng, giặc chiếm Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hưng Đạo Vương chuyển quân về Thiên Trường. Giặc cậy mạnh đuổi theo rất gấp. Ngài giao Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, còn mình bảo vệ vua Nhân Tông và Thượng Hoàng Thánh Tông lui về Hải Dương. Ngày 21 tháng Giêng, Trần Bình Trọng chận đánh giặc tại Bãi Thiên Mạc (bên sông Cái, thuộc tỉnh Hưng Yên). Quân ít, thế cô, ông bị giặc vây bắt được. Thoát Hoan biết ông là một tướng tài, muốn trọng dụng nên hết sức vỗ về để dụ hàng. Ông khẳng khái từ chối.

Thoát Hoan hỏi ông:

Có muốn làm Vương đất Bắc không?

Trần Bình Trọng quắc mắt đáp:

Ta chỉ bị bắt thì chỉ có chết mà thôi, đừng nhiều lời vô ích”.

Thoát Hoan biết không thể lung lạc được ông, đành ra lệnh chém.. Lưỡi gươm Mông Cổ vung lên, cái lưỡi liềm của Tử Thần hạ xuống. Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng giây phút đó chợt trở thành cái tên thiên thu bất tử. Thần Chết ngỡ ngàng. Lão núp sau lưỡi gươm Thoát Hoan. Lão nghĩ rằng bại tướng kia sẽ kiêng oai lão. Đứng trước cái oai Thần Chết cùng với miếng mồi ngon là tước Vương đất Bắc, lão nghĩ người bại tướng nước Nam kia sẽ khó lòng cưỡng lại. Lão mỉm cười chờ đợi lời quy phục …

“Ninh vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương …”

Câu trả lời ngạo nghễ kia đã tạt vào mặt lão một gáo nước lạnh, làm cho lão nhớ ra rằng trên đời này vẫn có những con người không hề sợ oai Thần Chết! Lão cay đắng nhận ra mình mới là người chiến bại.

Tới gần đây, nhân đọc một bài thơ, tôi mới biết thêm rằng, chẳng những con dân Đại Việt có rất nhiều người coi thường Thần Chết; mà hơn thế nữa, có những người còn làm cho Thần Chết sợ họ nữa kia!

Ngày 24-1-1930, tại hội nghị Võng La, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học tuyên bố: “Chúng ta nhất định phải phát động cuộc Tổng khởi nghĩa. Không thành công thì thành nhân”.

Ngày 10-2-1930, cuộc Võ trang khởi nghĩa do Việt Nam Quốc Dân Đảng lãnh đạo nổ ra. Cách mạng quân tấn công Yên Báy, Hưng Hoá, Lâm Thao, Sơn Tây, Đáp Cầu, Phả Lại, Phủ Đức, Vĩnh Bảo và nhiều nơi trong nội thành Hà Nội. Một số lãnh tụ của Đảng hy sinh hoặc bị bắt.

Ngày 28-3-1930, Hội đồng Đề hình của thực dân Pháp đã mở phiên xử tại Yên Báy với kết quả:

-100 án khổ sai chung thân;
-50 án tử hình.

Đó là chưa kể đến hàng hàng lớp lớp chiến sĩ ái quốc đã bị tù đày và bắn giết ngay sau ngày khởi nghĩa.

5 giờ sáng ngày 17-6-1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí lần lượt bước lên máy chém, và cũng là đài vinh quang đưa tên tuổi họ vào lịch sử.

Đó là các liệt sĩ:

1- Bùi Tư Đoàn, 37 tuổi, nông dân,
2- Bùi Văn Chuẩn, 35 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy.
3- Nguyễn An, 31 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
4- Hồ Văn Lạo, 35 tuổi, thợ hồ,
5- Đào Văn Nhít, 32 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
6- Ngô Văn Du, 29 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
7- Nguyễn Đức Thịnh, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn yên Báy,
8- Nguyễn Văn Tiềm, 28 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
9- Đỗ Văn Sứ, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
10- Bùi Văn Cửu, 30 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
11- Nguyễn Như Liên, 27 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Báy,
12- Phó Đức Chính, 32 tuổi, công chức,
13- Nguyễn Thái Học, 29 tuổi, Đảng trưởng
.


Muời ba lần, lưỡi gươm máy chém nặng nề rơi xuống. Mười ba tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” dõng dạc vang lên …

Trong buổi sáng sớm của ngày Quốc tang đó, Thần Chết không còn dám núp mình trong cái khí cụ giết người là cái máy chém kia nữa. Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên! Lão Thần Chết lần này không còn cái dáng vẻ đáng sợ như mọi ngày. Thần Chết giờ đây đang kính cẩn đứng khắc từng cái tên anh hùng vào bia Tuẩn quốc!

Tôi có lỗi quá! Không nhớ hết bài thơ, tôi cũng không nhớ được tên tác giả. Tôi chỉ có được một nén hương lòng. Bằng hữu xa gần, ai nhớ, xin làm ơn nhắc dùm tôi!


Cũng vào những ngày này, 38 năm trước; cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do đã kết thúc một cách bất hạnh. Quân đội miền Nam đã chiến đấu anh dũng nhưng lực bất tòng tâm, vả lại sinh mạng miền Nam tự do chỉ là một con cờ trên bàn cờ quốc tế, mà những người có quyền quyết định kết quả đó không phải là những người Việt yêu tự do ở miền Nam. Và cũng trong những ngày bi thảm đó, Thần Chết đã phải thêm một lần kính cẩn đón tiếp những con người Việt Nam bất khuất; những con người mà đứng trước giờ lâm tử của Tổ quốc họ đã quay ra coi thường Thần Chết. Trái với lệ thường, những con người kia đã bình tĩnh ra lệnh cho Thần Chết đến trình diện họ. Và lão đã kính cẩn tuân lệnh.


-Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn IV & Quân khu IV, nói với sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền: “Tôi chấp nhận chết. Một người Tướng không giữ được nước thì phải chết vì nước, không thể bỏ dân, bỏ xứ để cầu an cho bản thân, Vĩnh biệt anh em …” Một tiếng súng nổ, 8 giờ tối ngày 30-4-1975.


-Tướng Nguyễn Khoa Nam: “… Chúng tôi là Tướng chỉ huy, nếu chúng tôi không bảo vệ được đất nước thì chúng tôi phải chết theo đất nước”. Một tiếng súng nổ, 6 giờ sáng ngày 1-5-1975.


-Tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh: “… Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được… Chúng ta đã chiến đấu hết sức mình, nhưng trong giờ phút này chúng ta đành phải bó tay… Xin cám ơn và vĩnh biệt các anh em”. Một tiếng súng nổ, sáng ngày 1-5-1975.


-Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh: “… Tôi nghĩ thân làm Tướng là đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc gia hơn các anh em, nên tôi đã nghĩ đến một lối đi riêng cho tôi”. Và lối đi đó đã mở ra bằng một phát súng, trưa ngày 30-4-1975.


-Tướng Phạm Văn Phú: “… Tôi không thể bỏ ra đi khi đất nước của tôi trong tình trạng như thế này. Tôi sẽ ở lại đây để chết chớ không đời nào chịu đầu hàng Cộng sản”. Tướng Phú đã trả lời tướng Smith ngày 27-4-1975 như vậy khi ông này ngỏ ý mời tướng Phú và gia đình di tản. 32 viên Chloroquines uống vào lúc khoảng 2 giờ trưa ngày 29-4-1975.


Cái danh sách mà Thần Chết được lệnh phải đi đón trong những ngày đó còn dài. Những sĩ quan cấp Tá, cấp Úy, những hạ sĩ quan, binh sĩ, cảnh sát, công chức, cán bộ… Cái danh sách đó đang được lão Thần Chết trân trọng giữ gìn, chờ một ngày để trao lại cho những nhà viết sử,
Từ lâu rồi, lão đã học được một điều, là khi người ta lấy Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm làm trọng, thì người ta sẽ không còn sợ lão. Rồi theo lẽ tự nhiên, lão đâm ra sợ ngược lại những con người kia. Khi họ gọi lão đến, lão cung kính đến trình diện và mẫn cán làm cái nhiệm vụ mà Danh Dự và Trách Nhiệm của những người kia giao cho lão. Lão kính cẩn khắc tên họ vào bia Tuẩn quốc. Như vậy thì xét ra cái lão Thần Chết này cũng không đáng sợ và đáng ghét cho lắm. Lão là người đôi khi cũng biết điều. Lão hay dọa dẫm người ta. Nhưng nếu gặp người, gặp lúc lão cũng biết cách cư xử. Lão cũng làm được nhiều việc đáng làm. Lão rất rạch ròi phân minh. Lão đã kính cẩn khắc những cái tên Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học … vào lịch sử. Lão đã đặt tên ai vào chỗ nào là không bao giờ sai chạy. Đâu ra đó. Không bao giờ lão lầm lẫn để cái tên Nguyễn Hữu Hạnh, Dương Văn Minh… lẫn lộn với những cái tên Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ… Không bao giờ! Bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu sách vở, tài liệu ngụy tạo dấu diếm đều không qua được mắt lão. Không bao giờ!


Trần Bình Trọng, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân… cùng những con người khác nữa; đứng trước cổng lịch sử, họ dõng dạc lên tiếng gọi lão. Lão đã kính cẩn mở cái cổng ấy ra, cổng chánh, và kính cẩn, lão rước họ vào!
*

“Đây là điều nhắc nhỡ ta rằng - Không thể bịt miệng một dân tộc Mà người ta không thể thuyết phục - Bằng lưỡi kiếm của đao phủ

-nói theo cách nói của nhà thơ Louis Aragon.


Những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam - những Thái Thú tân thời của Trung Cộng - không thể bịt miệng dân tộc Việt Nam, một dân tộc có những người không sợ chết và biết cách chết!




wild grass  
#137 Posted : Sunday, April 29, 2018 12:06:36 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


Bài Quốc Ca hát trên Đất Nước Ngày Cuối Cùng
hay Cuộc Chiến Đấu Bi Hùng của Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu

Đào Vũ Anh Hùng




UserPostedImage




Bài ca ly biệt của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa được diễn tả bằng những hành động ngoạn mục, những trận đánh ngoạn mục của người lính VNCH trong trận thư hùng với các binh đoàn cộng sản lần cuối, vào giờ phút hấp hối của miền Nam. Đó là những trận đánh cực cùng dũng cảm, bi thương, hùng tráng và tuyệt vọng, trước sự chứng kiến của hàng trăm ký giả, phóng viên ngoại quốc, những nhà ngoại giao, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu quân sử…

Đó là thiên anh hùng ca bất khuất của một quân lực trong suốt hơn hai mươi năm chống giữ và bảo vệ cái tiền đồn của thế giới tự do trước làn sóng xâm lăng cộng sản. Thiên anh hùng ca bất hủ đã được nhiều nhân chứng tôn vinh và ngưỡng phục. Sau cuộc tan hoang, miền Nam Việt Nam bị mất về tay cộng sản, nhiều người đã công khai nói lên lòng cảm phục cùng sự thương tiếc cho một quân lực hùng mạnh và quả cảm đã gánh chịu một kết thúc đau thương ngập tràn uất hận.

Ký giả Peter Kahn của đại nhật báo The Wall Street Journal, dưới cái tựa “Truy Điệu Nam Việt Nam”, ngày 2-5-75, nghĩa là hai ngày sau khi Saigon sụp đổ, đã ngậm ngùi kết luận, “Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm và không phải họ luôn luôn được người Mỹ giúp. Tôi nghĩ không có quốc gia nào có thể chịu đựng được một cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc đến như vậy… Rốt cuộc, quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của mọi người!…

David Halberstam, một ký giả Mỹ đầy thiên lệch khi nhận định về chiến tranh Việt Nam, nhưng khi chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam, cũng phải phẫn nộ thú nhận trên tờ Newsweek, “Tất cả những sự thất bại lịch sử, và tất cả những sự hèn nhát tồi tệ của các nhà lãnh đạo Tây phương đều chồng chất lên lưng những người lính Nam Việt Nam. Thật là bất lương và bất công! Sự nhục nhã là của chúng ta chứ không phải là của quân đội VNCH!”

Hầu hết các phóng viên báo chí, các ký giả ngoại quốc trước đây từng công khai bênh vực và nghiêng hẳn về phe Việt cộng, đã phản tỉnh, đã sám hối khi chứng kiến sự kháng cự dũng mãnh, hào hùng và bi thảm của những đơn vị quân đội ở lại chiến đấu đến người lính cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng. Pière Darcourt đã nồng nhiệt ca tụng lòng dũng cảm của quân lực VNCH ở Xuân Lộc, của một đơn vị Nhảy Dù ở Lăng Cha Cả, của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu và dành hẳn một đoạn dài mô tả cuộc chống trả hiên ngang của các sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt trên các đường phố Saigon. Người ta đã nói rất nhiều đến những tấm gương tuẫn tiết của các vị tướng anh hùng, những cuộc tự sát tập thể của những người lính vô danh không chịu đầu hàng kẻ thù, nói đến những kỳ tích chiến đấu của những đơn vị quân lực miền Nam.

Một trong những trận đánh anh hùng ấy đã làm mủi lòng biết bao nhiêu người, đã gây xúc động biết bao nhiêu con tim. Những giòng nước mắt đã dàn dụa đổ xuống khi chứng kiến sự chống trả tuyệt vời và ngoạn mục, có thể nói trên thế giới, không một quân sử nước nào có được.

Đó là cuộc chống trả của các Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tầu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong thị xã. Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân, ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13… đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sĩ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường. Địch đã tung ra hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đã gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng.

Cộng sản đã coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắc loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời dậm dọa… Tiếng loa vừa dứt, Việt cộng nhận được ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 400 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn Việt cộng bên ngoài, phẫn nộ nẩy cò. Vài tên bộ đội bị đốn ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên. Bọn Việt cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử của 400 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không dám tấn công ngay vì các em quá nhỏ và vì có sự hiện diện của đồng bào. Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9 giờ 30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư 1975.

Mặc Việt cộng kêu gọi và đe dọa, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm tuyến phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hỏa… Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dạy ở quân trường. Đúng 9 giờ 30 sáng ngày 30-4, cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sĩ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn.

Việt cộng nổi cơn khát máu. Chúng khai hỏa, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mãnh liệt và hỏa lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những cái bia sống - những cái bia người “sinh Bắc tử Nam”! Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả căm thù, mong giành lại những gì sắp bị cướp mất.

Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự phòng thủ trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp trong khi bộ đội cộng sản lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và quân nhân vỡ ngũ từ bên ngoài, hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường hay đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và rối hoảng. Việt cộng bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua lưới đạn của các chiến sĩ nhỏ tuổi mà can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và kỷ luật như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến, nhà nghề. Đây là trận đánh thực sự đầu tiên mà cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn dở dang khóa học. Trận đánh quyết tử đã đi vào lịch sử.

Các thiếu sinh quân chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, rất xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn, trì kéo ngọn súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong. Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của Việt cộng đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy… Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực tuổi trẻ, hăng say, hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn.


Cuộc chống cự kéo dài đến 3 giờ chiều. Cho tới khi kho đạn dược đã cạn và kho lương bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho Việt cộng thương thảo. Họ đòi hỏi Việt cộng chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng…

Các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ không để cho bọn cộng sản làm nhục lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đã thề nguyền phải thương yêu và bảo vệ.


Chừng hơn một trung đội Thiếu Sinh Quân đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá quốc kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai Thiếu Sinh Quân lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc dây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài cái phút giây thiêng liêng cảm động đó, nước mắt chảy đầm đìa.

Tất cả Thiếu Sinh Quân từ trong các từng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, sau những bờ tường, trên mái nhà… không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật giậy, đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca. Gần 400 giọng hát hùng tráng cất lên, vang khắp sân trường. Bọn địch nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch, vang đến tận Bãi Dâu, đến tận Bến Đình… Mọi người dân Vũng Tàu đều nghe và rúng động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cũng ngẩn ngơ rớm lệ khi nghe tiếng hát.

Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã trang nghiêm rửa sạch tấm bia danh dự của quân đội Vieetj Nam Cộng hòa, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, nước mắt chảy ra ràn rụa, nghẹn ngào. Đồng bào cũng thổn thức hát theo và thương tủi khóc theo.


Thời gian ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng, bi thảm, xúc động và lẫm liệt đó. Cho đến bây giờ, hàng chục năm sau, nhiều người vẫn còn nghe văng vẳng trong sâu thẳm buồng tim thắt nghẹn, tiếng bi thương hùng tráng của các em Thiếu Sinh Quân hát bài Quốc ca trên đất nước lần cuối cùng, trong ngày cuối cùng của tháng Tư đen, ngày oan khiên định mệnh của dân tộc Việt.




wild grass  
#138 Posted : Tuesday, May 1, 2018 1:28:11 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



Phóng sự hình ảnh cuộc biểu tình Quốc Hận 30/4 ngày 29/4/2018 tại Anh quốc



Cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản tại Vương quốc Anh đã tổ chức cuộc biểu tình Quốc Hận 30/4 tại trước sứ quán Việt cộng tại Anh, vào lúc 14:00 - 16:00 giờ chiều ngày 29/4/2018.



Tại địa điểm tập trung trước giờ khai mạc:


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Ông Lê Phát Định, Trưởng Ban tổ chức



Chào cờ, mặc niệm:

UserPostedImage



Tuần hành đến trước sứ quán Việt cộng:

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage
Bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

UserPostedImage

UserPostedImage
Ông Ngô Ngọc Hiếu

UserPostedImage
Ông Nguyễn Khánh

UserPostedImage


Đạp mặt Hồ chí Minh, giẫm và xé cờ Việt cộng:

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage


Trở về địa điểm tập trung:

UserPostedImage

UserPostedImage




wild grass  
#139 Posted : Sunday, May 6, 2018 3:02:15 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)


UserPostedImage





Thiêng liêng như những linh hồn

Nguyễn Kiến Việt




Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975.

Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt.

Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được.

Mẹ tôi nói:

-“Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!

Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ cộng sản bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của Việt cộng. Hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cãi tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, “chính sách kinh tế mới”,.. và nhiều nữa không kể hết.

Ai nói Việt cộng ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy họ chỉ vô đạo đức và kém văn hóa, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật cao thâm! Chính sách nào của Việt cộng cũng làm cho người dân miền Nam khốn đốn, dìm sâu con người đến tận bùn đen.

Đầu tiên là “chiến dịch đổi tiền”, họ phát cho mổi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mổi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai đươc.

Họ tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của Nhà Nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là “chính sách hộ khẩu”, tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mổi người (mà họ gọi là “nhân khẩu”) được 13 kg lương thực mổi tháng.

Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, Việt cộng sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu.

Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm, ...

Như vậy là họ đã hình thành một cái chuồng gia súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói.

Chính sách này còn cao thâm ở chổ mà miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc “các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà” như Việt cộng đã đĩ miệng, phỉnh phờ người dân trước đây.

Ba tôi rồi cũng đi tù “cãi tạo” như bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam khác, mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ.

Bây giờ mỗi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn trãi một mình để vừa nuôi chồng trong tù vừa nuôi một đàn con dại như vậy không ?

Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho mẹ tôi và những phụ nữ như mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.

Từ một công chức cạo giấy mẹ tôi trở thành “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một “bà bán vé số, thuốc lá lẻ” đầu đường.

Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có “chiến dịch làm sạch lòng, lề đường”, công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được.

Có khi mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn.

Thời bấy giờ, do chính sách “bần cùng hóa nhân dân” của Việt cộng đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm.

Có tên đến gạt mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!

Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một anh bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá.

Hồi đó, bộ đội Việt cộng giấu, không mang quân hàm nên chẳng biết là cấp nào, chỉ đoán là anh nào trẻ, mặt mày ngố ngố là bộ đội thường, cấp nhỏ, anh nào người lùn tẹt, mặt mày thâm hiểm, quắt queo như mặt chuột thì có thể là công an hay chính trị viên,...

Anh bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa.

Mẹ tôi nói:

- “Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn.

Anh bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:

- “Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!

À, thì ra những thằng oắt con Việt cộng này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng, giọng của kẻ nhân danh một chính quyền!

Lúc này tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà hắn đang mặc được may bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ!

Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc. Khi hắn đã đi xa, mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:

- “Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt... Hắn mặc cái quần..., làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hí?”.

Thì ra mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá cờ quốc gia và điều mà mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách!

Khi Việt cộng mới chiếm miền Nam, nhiều người vẫn tưởng Việt cộng cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào.

Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ cộng sản, tôi hiểu ra rằng Việt cộng xem dân miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, họ tự cho họ là phe chiến thắng “vẻ vang” và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.

Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó.

Một lúc sau mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh.

Mẹ kể:

- “Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo cờ quốc gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là cờ quốc gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi!

Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình.

Thời gian trôi mãi không ngừng...

Cuối cùng rồi ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù cộng sản, mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống.

Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!?

“Mọi người sinh ra đều bình đẳng .. và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc ...” câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.

Một ngày khoảng đầu năm 1990, công an phường đến đưa cho ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của Công An Thành Phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông “sĩ quan học tập” về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại.

Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tùy ý.

Rồi ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, công an thành phố kêu ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi được Nhà Nước “nhân đạo” cho đi định cư ở Hoa Kỳ!

Thật không sao kể xiết nổi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới!

Những ngày sau đó lại cũng là mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”, ... để làm thủ tục xuất cảnh.

Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan.

Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được.

Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm!

Tôi quay lại nhìn thấy ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, mẹ tôi mới nói:

- “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!

Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, Hoa Kỳ.


Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam bay phất phới trên mái nhà, mẹ tôi nói:

-“Ui chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái cờ quốc gia của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?”.


Rồi mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá cờ quốc gia bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ.


Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).

Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là “Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn” thì mẹ tôi lại viết về lá cờ quốc gia.
Ý mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ.

Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Việt cộng.

Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ cộng sản).

Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: “interesting! “, “Narrative”, “I can’t believe it!”,... và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì... lạc đề!

Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi.


Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng của Việt cộng trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận, đồng bào đem cả ngàn lá cờ quốc gia, nền vàng ba sọc đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm.

Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:

- “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!

Ý mẹ tôi nói là sau này khi không còn cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng cờ quốc gia chớ không phải chỉ chừng này đâu.

Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi.

Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở mẹ tôi đi học ESL nữa nên mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm.

Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, mẹ tôi nói:

- “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hòa bình rồi thì mẹ mới về!” Ý mẹ nói “hòa bình” nghĩa là khi không còn cộng sản nữa.

Rồi mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa).

Mẹ tôi mất không lâu sau đó.

Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.

Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tùy thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước,..


Trong một ngăn ví là lá cờ vàng ba sọc đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó.


Tôi bồi hồi xúc động, thì ra mẹ tôi vẫn giữ mãi lá cờ quốc gia bên mình, có lẽ lá cờ vàng hiền lành này đối với mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã khuất.


Nguyễn Kiến Việt



*****



Đã vào tháng 5, những ngày đau thương tháng tư vẫn dội về trong tâm trí ...

Xin thắp nén hương lòng, một chút muộn màng, hướng về quê mẹ xa xôi, tưởng nhớ đến những người chiến sĩ hy sinh trong suốt cuộc chiến tương tàn, thống khổ. Những người lính đã nằm xuống bất khuất kiên cường trong những ngày cuối cuộc chiến và những người chiến sĩ đã chết rất thảm thương khi chiến chinh đã tàn trong lao tù khổ sai.

Xin thắp nén hương lòng tưởng niém hồn phách những người dân lành chết oan nghiệt từ ngày chủ nghĩa sắt máu vô thần, vô tổ quốc, vong bản, phi nhân manh múm trên đất Viêt Nam, chết trên đường vào Nam tìm tự do, chết tủi đau nhục nhằn trong cải cách ruộng đất, chết vì chôn sống, lấp vùi hàng loạt trong tết Mậu Thân, chết kinh hoàng trên đại lộ máu ... Chết bơ vơ trên đường chạy giặc vào ngày tàn cuộc chiến bởi đạn pháo bắn doc theo những con lộ dẫn vào thủ đô, cạn dòng máu tuôn, tàn hơi thở mỏn , thân xác chìm dưới xích xe tăng.

Xin thắp nén hương lòng tượng niệm nhữNg đồng bào đã chêt trên đường vượt biển, vượt biên .


Nguyện cầu hương hồn được an nghỉ thanh thoát

Nguyện xin anh linh phù hộ giúp dân tri kiên cưòng, giúp lòng người bền vững đưa dân tộc thoát ách vong nô



wild grass  
#140 Posted : Saturday, June 9, 2018 1:23:31 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 299

Thanks: 47 times
Was thanked: 101 time(s) in 85 post(s)



1/11/63: Việt Nam ra sao nếu ông Diệm vẫn còn?

Thiện Ý



UserPostedImage





Thấm thoát mà đã 54 năm kể từ biến cố ngày 1-11-1963, một số Tướng Tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã làm cuộc đảo chánh quân sự và sát hại Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, trong cương vị cố vấn chính trị. Mặc dầu lịch sử đã sang trang, song những di hại khởi đi từ biến cố này đã là một trong những nguyên nhân đưa đến thực tế tồi tệ hôm nay: Miền Nam tự do mất vào tay Việt cộng, nhân dân Việt Nam trên cả nước đã phải sống dưới ách một chế độ độc tài toàn trị cộng sản đã 42 năm qua (1975-2017) và vẫn đang phải tiếp tục sống dưới chế độ tàn hại này chưa biết đến bao giờ.

Chính vì vậy mà nhiều người, trong đó có chúng tôi tự hỏi: Nếu như ngày ấy Tổng thống Diệm không bị lật đổ và sát hại, Việt Nam có tránh được thực tế ngày càng tồi tệ như hôm nay không?

Bài viết lần lượt trình bày:

I - TỪ MỘT BIẾN CỐ LỊCH SỬ

Lịch sử ghi nhận rằng, ngày 1-11-1963, với sự gợi ý, cho phép và ngầm hỗ trợ, cam kết của chính phủ Hoa Kỳ, một nhóm Tướng Tá Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã thành công trong việc đảo chánh lật đổ và sát hại Tổng thống Ngô Đình Diệm, đưa đến sự cáo chung nền Đệ Nhất chế độ Việt Nam Cộng Hòa (1956-1963), khai sinh nền Đệ Nhị VNCH (1963-1975) tại Miền Nam Việt Nam. Cuộc đảo chánh quân sự này đã đưa đến cái chết bi thảm cho vị Tổng thống tiên khởi của chế độ VNCH, vốn có tiếng là thanh liêm chính trực, có đạo đức và tác phong lãnh đạo. Cùng bị sát hại với Tổng thống là bào đệ Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị của Tổng thống, một nhà chính trị uyên thâm, mưu lược và có viễn kiến.

Lý do mà các Tướng Tá làm đảo chánh đưa ra là vì chế độ Ngô Đình Diệm là chế độ độc tài gia đình trị, chủ trương tiêu diệt đối lập chính trị, kỳ thị và đàn áp tôn giáo; lại có âm trực tiếp thương lượng với chế độ Cộng sản Bắc Việt về một giải pháp chính trị cho Việt Nam (1), làm cho công cuộc chống cộng sản ở Miền Nam có thể bị lâm nguy. Vì vậy cần phải lật đổ chế độ Diệm để có điều kiện củng cố phát triển một chế độ dân chủ đích thực tại Miền Nam; để công cuộc chống cộng ở Miền Nam hữu hiệu và bảo đảm cho chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa quốc gia ở Miền Nam đối với ngụy nghĩa cộng sản Bắc Việt.

Thế nhưng, thực tế những tháng năm sau đó đã cho thấy nhiều lý do ngụy tạo hay xuyên tạc (2) và các mục tiêu cuộc đảo chánh đưa ra đã không thực hiện được: Chế độ dân chủ đích thực ở Miền Nam đã không củng cố và phát triển được sau đảo chánh mà đôi lúc còn tệ hại hơn nhiều so với chế độ “Độc tài gia đình trị” trước đó; công cuộc chống cộng bảo vệ Miền Nam đã không hữu hiệu và bảo đảm hơn cho chiến thắng cuối cùng; mà đảo chánh đã mở đầu cho một giai đoạn suy thoái chính trị, suy yếu quân sự và suy đồi toàn diện ở Miền Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đối phương CSBV thôn tính Miền Nam.

II - ĐẾN MỘT GIẢ ĐỊNH LỊCH SỬ

Đứng trước một thực trạng đất nước ngày một suy đồi toàn diện, kể từ sau ngày đảo chánh lật đổ, sát hại Tổng thống Diệm; nhất là thảm trạng ngày nay khoảng hơn 90 triệu nhân dân Việt Nam đã và đang phải sống dưới ách chế độ độc tài toàn trị Việt cộng, nhiều người đã tỏ ra nuối tiếc rằng: Nếu như ngày ấy Tổng thống Diệm không bị lật đổ và sát hại, tình hình Miền Nam Việt Nam phải khác, không thể có ngày 30-4-1975 và lịch sử Việt Nam đã biến chuyển theo một chiều hướng khác, tốt đẹp hơn cho Đất nước và Dân Tộc Việt. Vì sao?

1 - Chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam sẽ được cải thiện từng bước, ngày một vững mạnh và tồn tại cho đến hôm nay.

- Vì cái tội “Độc tài gia đình trị” nếu có thì không thể lớn hơn sự sống còn của Miền Nam VN trước hiểm họa cộng sản và hoàn toàn có thể cải sửa được bằng phương cách khác hơn. Chẳng hạn, dưới áp lực gia tăng vừa đủ của Hoa Kỳ, đồng minh, đòi hỏi chính đáng của các chính đảng quốc gia và quần chúng sẽ buộc được Tổng thống Diệm phải thay đổi, sửa chữa các nhược điểm. Người ta tin rằng, một nhà lãnh đạo tài đức với tâm địa “Tiết-Trực-Tâm Hư”, hết lòng lo cho dân cho nước như T.T. Diệm; bên cạnh lại có một cố vấn mưu lược là bào đệ Ngô Đình Nhu, và nhiều người tài đức khác trong chính quyền, sớm muộn gì các nhược điểm của cá nhân và chính quyền của TT Diệm sẽ được điều chỉnh, sửa sai.

2 - Chính trường Miền Nam sẽ dần dần ổn định, đối lập chính trị có tiếng nói, chế độ được dân chủ hóa theo một tiến trình phù hợp với tình trạng đang có chiến tranh với VC, niềm tin của dân với chính quyền và sức mạnh đoàn kết quân dân ngày một củng cố tạo thế và lực đương đầu thắng lợi với quân CSBV xâm lăng.

- Với phương thức cải sửa “Độc tài gia đình trị” ôn hòa, có thời gian và hữu hiệu, Miền Nam Việt Nam sẽ tránh được bất ổn, xáo trộn nghiêm trọng như đã xẩy ra sau đảo chánh. Các Tướng Tá quân đội thì mải mê tranh giành quyền lực, bỏ ngỏ chiến trường, nếu lúc đó quân đội Hoa Kỳ không nhẩy vào thì Miền Nam đã lâm nguy. Thêm nhiều đảng phái được thành lập không phải để tạo thế và lực mới cho mục tiêu chống cộng mà chỉ cốt để có bảng hiệu, kết bè phái tranh thầu chống cộng hoặc chia chác quyền hành với phe nhóm được Hoa Kỳ chấp nhận cho “Trúng thầu chống cộng”.

- Thượng tầng kiến trúc chế độ Miền Nam sau đảo chánh thì băng hoại như vậy, hạ tầng cơ sở chống cộng thì bị phá đổ nhiều mảng, ví như quốc sách “Ấp Chiến Lược” dù có cố gắng đổi tên thành “Ấp Tân Sinh” vẫn không tránh khỏi tan rã. Quần chúng nhân dân thì bị phân hóa bởi óc kỳ thị địa phương, tôn giáo chống phá lẫn nhau, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần đoàn kết và sức mạnh chiến đấu của quân dân Miền Nam; nhất là lực lượng chủ lực là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Tựu chung Miền Nam Việt Nam sau đảo chánh đã suy đồi toàn diện, rơi vào tình trạng tự do vô tổ chức, vô chính phủ…

3 - Chính nghĩa đấu tranh của nhân dân Việt Nam sẽ ngày một sáng ngời trong nhân dân và trên trường quốc tế.

- Vì đảo chánh rồi, quân Mỹ ồ ạt kéo vào trực tiếp tham chiến chống cộng. Hoa Kỳ trực tiếp chỉ đạo chiến tranh, cuộc chiến đấu cho chính nghĩa Dân Chủ, Tự Do và độc lập Dân tộc của chính quyền và quân dân Miền Nam bị đối phương xuyên tạc trong nhân dân hai miền để kích động lòng ái quốc chống ngoại xâm; tuyên truyền trên trường quốc tế để cô lập chính quyền VNCH. Đây là điều Tổng thống Diệm cấm kỵ từ lâu và đã có hành động cản ngăn ngay cả việc Hoa Kỳ muốn mở rộng lực lượng “Cố vấn Mỹ” trong các cấp chính quyền và quân đội VNCH. Điều này sẽ không xẩy ra nếu còn T.T. Diệm. Và cũng vì muốn bảo vệ chủ quyền của một quốc gia độc lập mà T.T. Diệm đã bị lật đổ và sát hại thảm thương như thế đó.

Nói cách khác, nếu không thì chính nghĩa đấu tranh của chính quyền và quân dân VNCH sẽ bảo đảm cho thắng lợi sau cùng. Vì đó là chính nghĩa quốc gia dân tộc dân chủ tất thắng ngụy nghĩa cộng sản quốc tế phi dân tộc, phản dân chủ. Cuộc chiến tranh phi nghĩa của công cụ CSBV nhằm nhuộm đỏ Miền Nam chắc chắn bị tàn lụi, ý chí xâm lăng của tập đoàn tay sai cộng sản quốc tế là Cộng đảng Viêt Nam sẽ bị đập tan, một khi chính nghĩa quốc gia dân tộc dân chủ sẽ cho nhân dân hai miền thấy rõ đâu là chính (Việt quốc) đâu là tà (Việt cộng). Thực chất của cái gọi là “Cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước trong Độc Lập-Tự Do- Hạnh Phúc” mà CSBV lúc bây giờ tuyên truyên lừa mị sẽ bị vạch trần trước nhân dân và công luận thế giới. Một khi nhân dân biết rõ mặt thật, Việt cộng sẽ không còn huy động được “sức người, sức của” để làm “Chiến tranh giải phóng Miền Nam”; lại bị cô lập trên trường quốc tế, bị quân dân Miền Nam đánh trả quyết liệt, với sự hỗ trợ tích cực, hữu hiệu của nước bạn đồng minh Hoa Kỳ (theo đúng nghĩa) và hậu thuẫn quốc tế, cộng sản Hà Nội sẽ không còn con đường nào khác là phải rút về cố thủ Miền Bắc, như cộng sản Bắc Hàn đã làm sau khi cuộc xâm lăng Nam Hàn năm 1950-1953 bị liên minh Hoa Kỳ và đồng minh dưới ngọn cờ Liên Hiệp Quốc đánh bại.

4 - Sau cùng, nếu Miền Nam không muốn “Bắc tiến” để giải phóng Miền Bắc như chủ trương của các chính quyền quốc gia để tránh đổ máu, thì ít ra cũng duy trì được tình trạng tạm thời qua phân như Bắc Hàn và Nam Hàn hiện nay, để chờ cơ may thống nhất Đất nước một cách hòa bình, bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị VNCH giầu mạnh ở Miền Nam, trên chế độ độc tài đảng trị CS nghèo yếu ở Miền Bắc.

Đó chính là cơ may đã dến với dân tộc Đức quốc năm 1989, đã thống nhất đất nước một cách hòa bình, với phần ưu thắng của Tây Đức dân chủ giầu mạnh trên Đông Đức độc tài cộng sản nghèo yếu, để có một Nước Đức thống nhất trong một chế độ dân chủ ngày nay. Việt Nam nhất định đã có được tình trạng song song tồn tại hai chế độ đối nghịch trên hai Miền Đất nước như Nam-Bắc Triều Tiên ngày nay, nếu Tổng thống Diệm không bị lật đổ và sát hại. Điều này không có nghĩa là chỉ có Tổng thống Diệm mới tạo cho Đất nước có được tình trạng và chiều hướng phát triển tốt đẹp như thế. Và cũng không có nghĩa là Tổng thống Diệm sẽ tồn tại lâu dài trong ngôi vị lãnh đạo chính quyền VNCH cho đến hôm nay. Đến một lúc nào đó, Tổng thống Diệm phải được thay thế và cần thiết phải thay thế cho phù hợp với thể chế dân chủ, nhưng không phải và chưa phải vào thời điểm năm 1963. Càng không phải và không cần thay thế T.T. Diệm bằng bạo lực và sát hại tàn bạo một nhà ái quốc như thế, mà xét ra trong chín năm cầm quyền đã làm được nhiều điều tốt đẹp cho dân, cho nước, dù cũng có những sai lầm, khiếm khuyết về lãnh đạo .Tuy nhiên vẫn có thể cải sửa bằng phương pháp dân chủ và phải để cho ông có đủ thời gian cải sửa, đặt nền móng cho chế độ VNCH vững mạnh về chính trị, kinh tế, ổn định xã hội, tiến tới tự túc tự cường vừa chiến đấu, vừa phát triển, như chủ trương tự túc tự cường (tam túc, tam giác) mà Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu dự hoạch thực hiện nhằm chống lại áp lức ngày một gia tăng của Hoa Kỳ, tạo thế lực bảo vệ chủ quyền quốc gia.


III - KẾT LUẬN


Tựu chung, nếu không có cuộc đảo chánh quân sự lật đổ và sát hại T.T. Diệm vào ngày 1-11-1963, chắc chắn Cộng sản Bắc việt đã không cưỡng đoạt được Miền Nam vào ngày 30-4-1975, xô đẩy nhân dân Việt Nam trên cả hai miền đất nước vào một thảm trạng trong hòa bình: Cả nước trong một thời gian dài đã phải sống đói nghèo cơm áo, đói nghèo tự do dưới chế độ độc tài toàn trị CSVN; nhiều người dân đã phải trốn chậy bỏ nước ra đi tìm tự do bằng mọi cách và bằng mọi giá, kể cả mạng sống, nhiều người đã chết trong lòng biển cả hay rừng già biên giới trên đường tìm tự do.

Nếu không có đảo chánh lật đổ và sát hại cố Tổng thống Diệm, chế độ tự do dân chủ Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại ở Miền Nam Việt Nam cho đến hôm nay, và triển vọng thống nhất đất nước bằng sự tất thắng chế độ độc tài phản dân chủ Cộng sản Bắc việt, đã phải là một tất yếu, sớm muộn chỉ còn là vấn đề thời gian.


CHÚ THÍCH:
(1) và (2): Sự thật về việc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu bí mật tiếp xúc với Phạm Hùng của CSBV, theo nhận định của chúng tôi có thể chỉ là “động tác giả”, để gián tiếp cảnh cáo Hoa Kỳ đừng xâm phạm chủ quyền VNCH quá sâu và áp lực ngày càng nặng nề trên chính quyền Ngô Đình Diệm, nếu không họ sẽ nói chuyện thẳng với CSBV về một giải pháp giữa người Việt Nam cho vấn đề Việt Nam.

Thực tế những tài liệu khả tín từ nhiều phía sau này cho thấy nội dung cuộc tiếp xúc bí mật mà không bí mật này (CIA có biết) không có gì làm mất Miền Nam vào tay CSBV sớm hơn như nhiều người lầm tưởng đưa ra như là lý do cần phải loại trừ Diệm-Nhu.

Sau đây là lời của Ông Cao Xuân Vỹ, một người thân cận của Ông Nhu đã tháp tùng chuyến đi gặp Phạm Hùng của Ông Nhu, trước khi chết đã trả lời câu hỏi thứ 19 trong một cuộc phỏng vấn của Phong Trần, tác giả bài viết “Cao Xuân Vỹ - "LỜI NÓI CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC TRƯỚC KHI CHẾT" như sau (Xin trích nguyên văn):

“19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược. Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

-Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
- Rồi cho dân qua lại tự do.

- Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn.

- Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.

- Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.

- Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng…


Users browsing this topic
Guest (2)
8 Pages«<5678>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.