Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

6 Pages«<456
Options
View
Go to last post Go to first unread
wild grass  
#101 Posted : Thursday, November 9, 2017 11:32:26 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)


Ngày cuối cùng ở Dakto - 27/4/1972

Trang Y Hạ



UserPostedImage





Xã Tri Đạo những ngày không yên tĩnh.

Đoàn công tác Tâm-Lý-Chiến chúng tôi đang công tác tại xã Tri lễ trên Tỉnh lộ 512 cách phi trường Phụng hoàng - Dakto 2, chừng 3 cây số thì được lệnh rút về xã Tri đạo (Gần Võ định) trước Tết Âm lịch 1972, 10 ngày. Xin nói rõ là: Từ Kontum theo QL 14 lên Võ định - Tri đạo - Kontranglangloi - Konhnong - Konhring - Diên bình - Tân Cảnh. Đoạn đường dài khoảng 46 cây số. Từ Tân cảnh đi tiếp cũng theo QL 14 lên quận Dakto 12 cây số. Từ Tân cảnh quẹo trái vào Tỉnh lộ 512 lên dốc cao ngang qua Trung đoàn 42 - Phi trường Phụng hoàng hay còn goi là Dakto 2. Đi tiếp đến xã Tri lễ, cầu Dakmót vào tiền đồn Ben hét hay còn gọi là đồn Bạch hổ 20 cây số. Nơi đây là ngã ba biên giới,gần đường mòn Hồ chí Minh. Con đường huyết mạch của Cộng quân.

Khi đoàn chúng tôi về xã Tri đạo thì đã có lực lượng Pháo binh và Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Dù, lập công sự phòng thủ tại cầu Tri đạo rất kiên cố. Tri đạo là một xã Dinh điền thành lập năm 1957, dân số khoảng 3000 người đa phần ở Quảng tín, Quảng nam và Bình định gồm 3 thôn, nhưng thôn 3 Bình định bỏ đi nơi khác từ năm 1965 do Cộng quân tấn công Dakto, chiếm Tri đạo cắt đứt QL 14 trong thời gian gần 2 tháng. Chúng tôi cùng với ông Xã trưởng. Đơn vị Nghĩa quân, Nhân dân Tự vệ cùng người dân trong xã canh giữ, đề phòng Cộng quân ban đêm xâm nhập vào xã quấy phá... Hơn hết là dựa vào sự yểm trợ của đơn vị lính Dù. Không khí chiến tranh bao trùm rừng núi, tiếng gầm thét của pháo binh, của máy bay suốt ngày đêm, Tri đạo không bao giờ yên tĩnh!

Tết Âm lịch cổ truyền đến! Người dân trong xã vẫn đón Tết trong không khí tưng bừng! Bánh,trái,vui chơi như: Múa lân, bài chòi, văn nghệ cây nhà lá vườn trong ba ngày Xuân. Tổ chức "Cây mùa Xuân chiến sĩ " Xã mua một con bò, còn người dân ai có gì góp nấy: Bánh tét, bánh ú, mứt, trà, thuốc, rượu...Gồm hai bao tạ vắt hai bên hông con bò! Ông Xã trưởng và các vị thân hào, chức sắc mặc áo dài khăn đóng cùng chúng tôi, dẫn con bò chở hai bao quà bánh ra Bộ chỉ huy Lữ đoàn dù " Mừng xuân chúc Tết "! Thể hiện tình Quân - Dân...Tội nghiệp các anh, đời lính xa nhà. Nhìn món quà Xuân... ngồ ngộ! Sau những cái bắt tay, đôi mắt các anh người nào cũng đỏ hoe!

Tình hình chiến sự ngày càng xấu đi, khi căn cứ Charlie sau một thời gian cầm cự... Ngày 14.4.1972 đã thất thủ! Tin anh Nguyễn Văn Đương và Nguyễn Đình Bảo cùng những người lính Dù tử trận! Mọi người ai cũng buồn, lo lắng và có ý định di chuyển về Kontum. Rồi tin từ Dakto và Tân cảnh bị Cộng quân pháo kích, nỗi sợ càng tăng thêm vì người ta quá biết - chỉ có một con đường QL 14 độc đạo nếu bị chặn là chịu chết!


Lần về thăm nhà định mệnh.

Chiều ngaỳ 24.4.1972. Lúc 4 giờ chiều, tôi có mặt tại nhà Cha mẹ tôi ở Diên bình. Cha tôi nói: "Tụi nó pháo kích vào Trung đoàn 42 mấy ngày nay, còn sáng nay cha ra sau vườn thấy một toán lính nó bảo; "Cụ vào nhà đi, đêm nay và ngày mai đừng ra ngoài"! Cha không biết lính của ai? Hay mấy chú Nghĩa quân đi gài mìn cũng không biết nữa! Cha tôi đem ra hai xị rượu thuốc bày ra trên nền sân tráng Ciment. Cha tôi nói: Uống chút với cha, ba bốn tháng nay con với về. Nhớ đêm nay xuống đồn mà ngủ, đừng ở lại nhà, cha linh cảm có chuyện chẳng lành... Khi uống xong ly rượu cuối cùng, tôi và cha tôi đếm đi đếm lại cây bông hồng trước sân - cây bông nở vừa đúng 24 cái!

7 giờ tối, tôi có mặt tại đồn Nghĩa quân Diên bình bên dòng sông hiền hòa vì mùa khô cạn nước. Tôi gặp lại những bạn bè đi phép về thăm gia đình, tối đến thường ra đồn ngủ cho an toàn, nếu có chiến sự thì chiến đấu luôn. Diên bình đến Tân cảnh 6 cây số. Nên tiếng đạn pháo từ Tân cảnh dội về nghe rất rõ. Trung đoàn 42 - Tân Cảnh bị Cộng quân tấn công! Ánh lửa sáng rực một góc trời... Tất cả mọi người đều yên lặng để theo dõi tin tức qua máy truyền tin PRC 25. Người âm thoại viên nói: "Em không liên lạc được với Chi khu Dakto" Trung tá Lò Văn Bảo, Quận trưởng quận Dakto.

Người hùng của Chi khu tiền đồn heo hút giờ nầy ra sao? Cũng không biết, tôi thật sự lo lắng! Với tôi Trung tá Bảo -ngoài một số công tác, còn có một chút kỷ niệm. Đó là, một lần trong quán ăn tại Tân cảnh, các anh BĐQ tại Ben hét tưởng lầm tôi giống ai đấy... nên đến " Mượn" súng của tôi đem về đồn. Tôi trình bày sự việc với Trung tá Bảo. Ông cười chẳng nói gì. Vậy mà hai ngày sau ông gọi tôi lên. Ông nói: "Súng chú em ở trong hộc bàn"! Sau này tôi làm Tổ trưởng phòng phiếu đơn vị Ben hét 2 lần các anh nhận ra và bắt tay xin lỗi - cười xòa! Đêm nay, trong cái đồn Nghĩa quân nhỏ bé bên dòng sông, hầu như không một ai nói đến chuyện đi ngủ.

Càng về sáng tiếng nổ càng ít dần và các đám cháy vẫn còn nghi ngút khói... Nhưng có một điều chúng tôi không hiểu là tại sao không có chiếc máy bay B52 nào đến bỏ bom? Cũng không có máy bay phản lực nào bay đến oanh kích...? Chín giờ sáng anh em chúng tôi vẫn còn ở trong đồn, chưa dám về nhà, bởi không thấy ai từ Tân cảnh chạy về báo tin sống chết như thế nào. Thì có một bà mẹ gìa đến báo: Cộng quân chặn đường ngay đầu thôn 1 - không thể đi xuống làng Konhring được nữa!


Dồn lực mở đường.

Lực lượng gồm có: 1 Trung đội Nghĩa quân; 10 CB/XDNT; 20 Nhân dân Tự vệ Ấp; lính về phép 10 người. Vũ khí gồm có: Súng cá nhân M 16, Carbine, 2 Trung liên, 2 súng phóng lựu M79 và lựu đạn. Là dân địa phương nên rành địa hình, chúng tôi cho người mò về thám thính và được biết phía sau những vườn chuối gần xóm nhà cha tôi chạy dài ra sông Dakpsi, Cộng quân bố trí nhiều ụ súng phòng không và những cột truyền tin, đào hầm hố có vẻ bám giữ lâu dài. Về quân số có thể là cấp Tiểu đoàn hoặc Trung đoàn. Chúng giữ dân trong nhà bắt xuống hầm trú ẩn nên chúng tôi đành chịu...Tuy nhiên chúng tôi cũng tổ chức tấn công áp sát và khiêu chiến đến 2 giờ chiều nhưng không hiệu quả. Cộng quân vẫn án binh, thỉnh thoảng mới bắn ra nếu chúng tôi đến gần. Đành rút về sân vận động giữa thôn nghỉ ngơi - chúng tôi có ba người bị thương nhẹ.


Di tản bằng đường vòng...

3 giờ chiều ngày 25.4.1972. Anh em chúng tôi thấy lính Trung đoàn 42 đi xuống, đến sân vận động gặp chúng tôi. Người Thiếu tá đi đầu nói: "Trung đoàn thất thủ trong đêm hôm qua, anh em còn lại phải về Kontum gấp, các anh có đi theo không?" Tôi nói: "Cộng quân chặn đường, chúng tôi cố mở từ sáng đến giờ nhưng không được..." Người Thiếu tá nói: Chúng ta đi bọc. Địa hình thôn 1- lưng dựa dòng sông Dakpsi, trước mặt là đồng ruộng mênh mông chen lẫn những gò mối và đồi cỏ thấp. Do đó chúng tôi băng ruộng đi bọc xuống Konhring. Tôi ước tính lính Trung đoàn còn lại chừng 200 người. Súng cá nhân còn đủ, 3 xe M 113 chở người bị thương và vũ khí đạn. Trên nét mặt mọi người không hốt hoảng, nhưng đăm chiêu mệt mỏi, không ai nói với ai lời nào, cứ âm thầm mà đi. Từ Diên bình xuống Làng Konhring khoảng 3 cây số.( Sau nầy nghe nói toán quân về được Kontum) Tôi đi vào Làng Konhring lúc này đã hơn 4 giờ chiều nhưng bầu trời còn sáng tỏ. Sở dĩ tôi không theo đoàn quân vì tôi nán lại chờ tin tức cha mẹ và các em tôi.


Đêm Konhring - Thức trắng!

5 giờ chiều. Tôi vẫn đứng như trời trồng tại ngã ba Konhring, trong lòng ngỗn ngang trăm mối... nếu đêm nay trở lại tìm người thân chắc chắn sẽ bị bắt, còn không thì sáng mai buộc phải về Kontum mà nghe trong lòng tan nát! Bỗng dưng như một phép lạ! Đoàn người dân từ Tân cảnh, Diên bình, Dakrao...ào ào kéo xuống... Người khỏe cõng người bị thương; phụ nữ bồng bế con thơ mặt mày thất sắc; người già tựa vào người trẻ lê thê, lết thết đi trong bóng chiều như những hồn ma...! (Tôi nhìn thấy có Cha Carat Linh mục thừa sai Paris, Chánh xứ họ đạo Diên bình và một ít lính Trung đoàn 42) Tôi gặp đứa em gái thứ 6 của tôi trong đoàn người. Nó còn quá nhỏ nên tôi chẳng biết gì hơn ngoài những giọt nước mắt tuôn rơi!

Làng Konhring nhỏ xíu, số người di tản quá đông,người ta nằm la liệt trong nhà thờ, trong Bệnh viện do các nữ tu quản lý. Họ cứu chữa những người bị thương, lo ăn uống. Tiếng kêu khóc! Cha mẹ, vợ chồng, anh em, con nít lạc nhau trong lúc chạy hoặc còn kẹt lại ở nhà. Nỗi lo lắng là đêm nay cộng quân pháo kích hoặc đến bắt đi vào rừng. Bởi bây giờ lính Trung đoàn 42 tan rã, không còn ai nữa bảo vệ dân...!!

11 giờ đêm. Hàng loạt tiếng nổ long trời từ hướng Diên bình và sông Dakpsi, có những tiếng nổ sát làng Konhring đinh tai điếc óc... tiếng dội của bom chấn động dữ dội mọi người bụm hai tai, điếng hồn. Tiếng kêu khóc hoảng loạn chạy ra khỏi nhà thờ, Bệnh viện bởi tiếng rung chuyển từ mặt đất. Sau 10 phút trôi qua mọi người ngơ ngẩn sờ nhau như những hồn ma tìm về dương thế...! Tôi và những người lính thì không lạ gì tiếng bom của máy bay B 52. Nhưng ngạc nhiên là tại sao đêm hôm trước không thấy B52 thả bom cứu Trung đoàn 42. Sau đó B52 còn bỏ thêm đợt nữa nhưng xa hơn.( Sau 1975 VC tuyên truyền rằng: Mỹ bỏ bom giết dân tại làng Konhring...) Thật là hồ đồ hết biết! Không có người dân nào chết, chỉ sợ và hoảng loạn thôi. Chính Trung đoàn Cộng quân chốt chặn tại Diên bình có thể bị tổn thất do trận dội bom B52 đó. Bằng chứng là sáng ngày hôm sau 26.4, những người dân do chúng giữ đều chạy xuống Konhring được hết, không thấy ai ngăn cản.

Đêm nay ở Konhring mọi người đều thức trắng!


Đi vào rừng tìm Tự do.

Konhring - 5 giờ sáng ngày 26.4.1972. dân chúng vội vã chuẩn bị lên đường về Thị xã Kontum. Cha xứ Carat người Pháp - chánh xứ Diên bình dẫn đầu đoàn con chiên ngang nhiên đi trên QL 14, khi vừa đến khúc quanh làng Konhnong. Thì gặp Cộng quân chốt chặng ở đó đón lỏng ( Làng konhring cách làng Komhnong 3 cây số) Cha cố Carat bị bắt! Dân chúng nhất là các chị, các bà xúm nhau khóc lóc, quỳ lạy, năn nỉ... xin đừng có bắt ông Cha - nhưng Cộng quân không chịu và còn giữ luôn họ vì tội chạy theo "Mỹ - Ngụy" Tốp phía sau nghe tin dữ vội vã tháo chạy ngược về lại Konhring thông báo: Cộng quân chặn đường ở làng Konhnong! Như vậy là trước sau đều thọ địch. Không oan gia mà lại gặp ngõ hẹp...! Nghe tin như sét đánh ngang tai tôi bàng hoàng... như vậy chỉ còn một cách là băng rừng.

8 giờ sáng đoàn người kéo nhau vào rừng. Tôi nấn ná ở lại chờ xem trên Diên bình có còn ai xuống để hỏi thăm tin tức gia đình. Thấy không còn hy vọng, tôi dắt đứa em quay đi, thì tôi nghe một người đi ngang qua và nói: "Hình như tôi có thấy người nhà của anh đang đi xuống" Gặp lại Mẹ các em gái và đứa cháu 4 tháng tuổi. Cha tôi bị Cộng quân bắt vào rừng (Sau này có người cho biết ông nhớ vợ con nên trốn về nhà tìm và bị bắn chết trên đám đất của ông. Người con đỡ đầu nhận ra Cha tôi và đã chôn ông. Anh cũng bị bắt làm tù binh, sau năm 1975 đi Cải tạo 6 năm. Hiện định cư tại Hoa Kỳ) Từ làng Konhring xuống Tri đạo khoảng 20 cây số. Nhưng đi đường rừng thì vô cùng nguy hiểm.

Tôi đi sau nên không biết những người đi trước đi theo ngã nào. Nhóm còn lại sau cùng theo tôi có 2 Sĩ quan Trung đoàn 42, 15 thành viên gia đình người Thượng, một số người kinh và gia đình tôi tổng cộng 31 người. Không có bản đồ và địa bàn, cũng may là tôi sống ở vùng này nhiều năm và am hiểu địa hình. Tôi không dám đi theo đường mòn - đường mòn dễ bị Cộng quân chặn bắt. Tôi nhắm hướng đồi Charlie đi vào nhằm tránh chốt chặn tại làng Konhnong, dặn mọi người im lặng và không cho con nít khóc. Trên đường đi chúng tôi thấy rất nhiều dây điện thoại của Cộng quân giăng ngang và những dấu chỉ dẫn đường khắc trên những thân cây. Sáu giờ chiều chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi trong cánh rừng rậm. Khoảng 12 giờ đêm chúng tôi nghe rất nhiều tiếng nói vọng lại - toàn giọng Bắc. Tôi thì thầm với mọi người bình tĩnh và tuyệt đối im lặng, lấy tay để hờ trên miệng mấy đứa nhỏ, nếu nó khóc thì bụm miệng nó lại. Chừng 1 giờ sáng máy bay B52 đến bỏ bom từng đợt... từng đợt... gần một giờ. Chúng tôi ngồi dựa vào những gốc cây chờ sáng...

Hôm nay là ngày 27.4.1972. Trời vừa hừng sáng, chúng tôi không còn nghe những giọng Bắc vọng lại như hồi khuya, chỉ nghe tiếng chim kêu rời tổ. Tôi đoán trận bỏ bom hôm qua họ chuyển đi chỗ khác chăng? Thôi, mặc kệ họ! Nhiệm vụ của tôi bây giờ là tìm đường ra xã Tri đạo. Tôi nói với hai người Sĩ quan là chúng ta đi về hướng tay trái - cũng mở đường mà đi. Chúng tôi thay phiên nhau vén cành cây, không gây tiếng động, đạp cỏ - loài cỏ ba khía bén ngọt, nhùng nhằn cắt nát chân tay mặt mày chúng tôi, cộng với mồ hôi túa ra xót ngứa đau đớn vô cùng! Tội nghiệp hai người Sĩ quan ở miền xuôi đổi lên Cao nguyên tăng cường chiến đấu chưa được bao lâu. Nay gặp hoàn cảnh nấy, bản thân đói khác nhưng còn phải giúp đỡ phụ nữ và trẻ thơ qua đèo vượt suối...

Đến khoảng 11 giờ trưa, tôi leo lên cây cao và nhìn thấy QL 14 gần cầu Tri đạo. Không nghỉ ngơi gì cả chúng tôi bồng bế nhau chạy qua cầu! Trời mùa Hạ buổi trưa nắng nung mặt đường nhựa bốc khói... Vậy mà chúng tôi: Chân không giày dép; Đầu không nón; áo quần tã tơi, đói khác ba bốn ngày qua vượt rừng băng suối... cứ cắm đầu, cắm cổ chạy như ma đuổi. Đến xã Tri đạo chúng tôi hoàn toàn kiệt sức. Dân ở đây di tản hết mấy ngày trước. Chỉ còn Ban tiếp nhận những người từ Dakto chạy xuống. Chúng tôi được đưa lên xe về Thị xã Kontum!


Bỏ Quận Dakto.

Sau đoàn người chúng tôi, không còn một ai chạy thoát được,tất cả đều bị bắt vô rừng. Âm mưu của Công quân là giữ dân để tuyên truyền với thế giới là dân chúng bỏ vùng Quốc gia về với Quân giải phóng. Quận Dakto coi như bỏ ngõ để cho Cộng quân Miền bắc kiểm soát... Tôi thương nhớ Dakto - thương nhớ Tân cảnh - thương nhớ Diên bình - nơi một phần tuổi thơ của tôi ở đó! Em gái tôi chết lúc ba tuổi cũng ở đó! Cha tôi chết cũng ở đó! Những người bạn chiến đấu của tôi cũng ở đó! Tôi có khóc đâu... mà sao nước mắt... cứ rơi!



Trang Y Hạ

- Những ngày cuối cùng ở Dakto. Tôi viết bằng sự thật không một chút hư cấu. Để tưởng nhớ Cha tôi và những người Chiến sĩ VNCH vì bảo vệ Miền nam Tự do cùng với người dân vô tội nằm xuống vĩnh viễn nơi núi rừng đèo heo hút gió!








wild grass  
#102 Posted : Monday, November 13, 2017 1:26:11 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Nhân ngày giỗ nhạc sĩ Anh Bằng, thắp nén hương lòng tưởng nhờ người nhạc sĩ tài đức, khiêm cung. Một đời cho âm nhạc Việt Nam, một lòng vì quê hương khốn khổ.



Nhạc sĩ Anh Bằng, một người Việt thương quê mình.

Tuấn Khanh




Cho đến khi nằm xuống, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn những bài hát và dự án còn dang dở. Sức làm việc của ông thật đáng nể. Nhiều tổng kết cho rằng số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 650 bài, nhưng thực tế còn nhiều hơn như vậy, bởi gần mười năm đau yếu, ông vẫn không thôi sáng tác.

Nhạc sĩ Anh Bằng (1926-2015) viết rất nhiều thể loại, có lẽ vì vậy mà ông cũng là nhạc sĩ hiếm hoi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam có rất nhiều bút danh. Bản tính hào sảng của ông cũng khiến cho gia tài âm nhạc của ông càng đồ sộ hơn, với hàng loạt các ca khúc sáng tác chung với nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ – với tên chung là Lê Minh Bằng.

Năm 1975, khi nhạc sĩ Anh Bằng ra đi định cư ở Hoa Kỳ, dù lúc đó đã bước sang tuổi 50, nhưng ông vẫn sung sức trong sáng tác và đầy hoài bão trong việc dựng lại một cộng đồng sinh hoạt âm nhạc Việt ở xứ người. Công việc này lại suôn sẻ hơn, khi bà Thy Vân, con gái của ông Anh Bằng kết duyên với ông Bạch Đông, một người Việt ở Mỹ, một chuyên gia về âm thanh. Năm 1980, băng casette đầu tiên của Trung tâm Asia ra đời với các tác phẩm của Anh Bằng đã là một sự kiện của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vượt biên giới lan vào tận trong nước.

Trung tâm âm nhạc Asia dần dà trở thành một trong những chỗ dựa tinh thần quan trọng của người Việt xa quê hương. Với khuynh hướng thuần âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Anh Bằng nhưng phát triển theo khuynh hướng công nghệ giải trí của Hollywood do ông Bạch Đông dẫn dắt, khiến Trung tâm Asia nhanh chóng trở thành một cái tên thân quen của các cộng đồng Việt không chỉ ở Mỹ mà còn ở Châu Âu, Úc… Vào thời điểm rực rỡ nhất của Asia, ít ai biết được rằng các tên tuổi của âm nhạc Mỹ cũng có mối quan hệ với trung tâm này, thông qua giám đốc điều hành là Bạch Đông. Thân thiết nhất, phải kể đến Richard Carpenter, ca sĩ – nhạc sĩ, và là người sáng lập nhóm Carpenter.

Một trong những sản phẩm được tuyển chọn bởi nhạc sĩ Anh Bằng, thành công đến mức bất ngờ – đến nay vẫn còn nghe lưu hành ở Việt Nam, là băng cassette Liên khúc Hoà tấu. Vào thập niên 80, ông Bạch Đông cho biết có đến hơn 200.000 băng cassette được phát hành và tạo một thành công đủ để mở đường cho sự lớn mạnh của Trung tâm Asia sau này. Tính đến hôm nay, kể cả cd và các bản chép không bản quyền, album này có thể đã vượt con số hàng triệu.

Giữa cuối thập niên 90, ông Bạch Đông rời Trung tâm Asia và chuyển sang sống, làm việc ở Thái Lan. Công việc được giao lại cho nhạc sĩ Trúc Hồ. Lúc này ông Anh Bằng cũng bắt đầu cũng vào giai đoạn sức khoẻ không được tốt, nên công việc chính do bà Thy Vân hoàn toàn kiểm soát. Tuy vậy khuynh hướng của trung tâm Asia vẫn là tâm nguyện của nhạc sĩ Anh Bằng: giữ gìn và phát triển dòng nhạc của miền Nam tự do trước năm 1975.

Đất Nga Sơn, Thanh Hoá thật sự kiêu hãnh với hai cái tên lớn trong văn học nghệ thuật Việt Nam: đó là nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Anh Bằng. Hữu Loan lớn hơn nhạc sĩ Anh Bằng 10 tuổi, nhưng cuộc đời của hai con người tài hoa này lại có nhiều nét tương đồng đến ngạc nhiên.

Nhà Thơ Hữu Loan khi bất đồng về việc thảm sát của chính quyền cộng sản trong chính sách cải cách ruộng đất, đã cứu cô con gái còn sống sót trong một gia đình tư sản từng giúp cho cách mạng và lên núi ẩn cư. Ông rời bỏ Hà Nội và chọn sống cô đơn để làm người tử tế. Nhạc sĩ Anh Bằng thì do gia đình bất đồng với những người cộng sản nên từng bị tuyên án tử hình, một người anh của nhạc sĩ cũng bị cộng sản thủ tiêu. 1954, khi ông Hữu Loan bỏ lên núi thì ông Anh Bằng cũng di cư vào Nam, để lại nơi chôn nhau cắt rốn những kỷ niệm tha thiết, được diễn tả trọn vẹn trong bài Nỗi lòng người đi. Toàn bộ lời bài hát, có hai câu để diễn đạt nỗi niềm của ông, rất dễ nhìn thấy là “Thăng Long ơi, năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời, ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi” và “Sài gòn ơi, mộng với tay cao hơn trời”. Bất kỳ ai tinh ý cũng có thể nhìn thấy nỗi buồn của chàng thanh niên ra đi, mang theo chí lớn nhưng không thành, được hát lên như một tiếng thở dài cho thời thế.

Trong nửa thế kỷ, cả hai nhân vật tài hoa của Nga Sơn đã làm nên những huyền thoại cho riêng mình. Một người vạc tan đá núi tạc thành huyền thoại, một người viết nên những khúc ca, chồng chất nỗi buồn cao như núi.

Hai lần ra đi của nhạc sĩ Anh Bằng là hai chặng thời gian đầy biến cố của người Việt Nam. Bị cuốn vào thời cuộc và chìm trong mệnh nước nổi trôi, âm nhạc của ông cũng ngập trong nỗi buồn của riêng mình, của đời người.

Một trong những bài hát, có thể nói được hết cõi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng, có lẽ là bài Cõi Buồn, phổ thơ của nhà thơ Phong Vũ. Nỗi tiếc nhớ bạn bè, tuổi thanh xuân và mọi ước nguyện còn dang dở đã dẫn đến cao trào với phần điệp khúc như niềm tuyệt vọng “Ta muốn kéo mặt trời lặn đàng Đông mọc đàng Tây. Ta muốn giam thời gian trong khám tù đày…”. Bất kỳ ai, lúc này khi hát lên, cũng có thể cảm nhận hết sự cô đơn và muộn phiền của ông.

Giới âm nhạc chuyên nghiệp hay gọi tên nhạc sĩ Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương là tứ trụ của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam. Tài năng, sự đa dạng về phong cách, nhạc thuật, tính khai phá… của những con người này dàn trãi gần như toàn bộ trên lịch sử âm nhạc miền Nam Việt Nam từ 1954-1975 và vẫn tiếp tục nối dài từ đó đến nay.

Nhạc sĩ Phạm Duy có bài Bà mẹ Gio Linh (1948) thì nối tiếp với tinh thần đó, nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Chuyện Một Đêm (1968). Cả hai hai bài hát này vang vọng nỗi đau của người mẹ trong chiến tranh, khi đứng trước cái chết của con mình. Đi cùng với chính sử Việt Nam hiện đại, các tác phẩm này là một trong những phần bổ sung và thể hiện rõ nhất tâm tình, số phận con người Việt qua nội chiến, bên cạnh tập Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn.

Đầu năm 2013, nhạc sĩ Anh Bằng gọi nhạc sĩ Việt Dzũng đến để bàn bạc việc ông muốn thực hiện một băng nhạc tranh đấu. Việc Trung Quốc cấm cản đường biển, tấn công ngư dân Việt, bức hại quê hương… khiến ông cũng muốn hành động. Cho nhạc sĩ Việt Dzũng nghe bài Giặc đến nhà, nhạc sĩ Anh Bằng nói rằng có thể ông sẽ không còn làm gì được nữa và muốn thực hiện một album như phần để lại, một di nguyện của một người yêu thương đất nước mình, dân tộc mình. Lúc đó, chân ông đã run, mắt ông đã mờ, tai ông không còn nghe rõ, có những cuộc trò chuyện phải viết ra trên giấy, nhưng ông nói mình đã viết nhiều bài hát tranh đấu như vậy. Tiếc thay, tháng 12/2013, nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời, công việc còn đang dang dở cùng với lúc sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng ngày càng yếu hơn.

Như những bài hát đã viết, mang đầy lời hẹn và tiếc nhớ của mình, giấc mơ về lại quê hương của một người Việt tha hương mãi mãi còn dang dở, nhưng cuộc đời của ông thì lại quá đỗi trọn vẹn cho thế gian này, khi không ngừng cống hiến cho âm nhạc, cho con người Việt Nam. Khó mà biết được, ông ra đi thanh thản, hay ở cõi xa xôi nào đó, vẫn mơ về từng chiếc ghế đá, từng góc công viên, về những món nợ ân tình mà cuộc đẩy đưa khiến ông không bao giờ còn cơ hội để đáp đền.





thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
hongvulannhi on 12/12/2017(UTC)
wild grass  
#103 Posted : Saturday, November 18, 2017 1:37:17 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)


Những Anh hùng không tên tuổi

Đằng Phương



Anh hùng Vô danh.
Họ là những Anh hùng không tên tuổi.
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông.

(thơ Đằng Phương)




Kính thưa quý Niên Trưởng và các Bạn,

Bao nhiêu năm qua, kể từ ngày quê hương rơi vào tay Cộng sản, Anh linh những Danh Tướng như Thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, Thiếu tướng Phạm văn Phú, Chuẩn tướng Trần văn Hai, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Lê văn Hưng... những vị Tướng đã tuẩn tiết không chịu đầu hàng giặc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã được toàn thể dân quân cán chính VNCH ghi nhớ và tưởng niệm hằng năm. Ngoài ra, Dân Quân Cán Chính VNCH cũng không quên tổ chức những buổi lễ long trọng để tưởng nhớ đến hai vị Nguyên thủ tối cao của Quốc gia đó là Tổng Thống Ngô đình Diệm thời Đệ nhất Cộng hòa và Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu thời đệ nhị Cộng hòa. Tên tuổi của họ sẽ được ghi vào sử sách và danh thơm của họ sẽ đời đời lưu lại cho hậu thế.

Cuộc chiến tranh khốc liệt đã tàn nhẫn quét qua trên mảnh đất miền nam Việt Nam, hàng hàng lớp lớp thây người đã ngã xuống, thân xác họ đã trải dài khắp 4 Vùng chiến thuật vì mục đích đem lại sự thanh bình cho Tổ Quốc. Họ là ai? họ là những Chiến sĩ Quân Lực VNCH đã âm thầm chiến đấu và đã âm thầm ngã xuống. Trong cuộc chiến, đã là người lính dù với cấp bậc nào mỗi khi đã phải hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc họ đều là những vị Anh Hùng, họ là những anh hùng không tên tuổi, sống và chết âm thầm trong bóng tối mênh mông. Và họ là ai? Họ là những đồng môn, đồng khóa của chúng ta, là những Sĩ quan xuất thân từ Trường VBQGVN đã hiên ngang can trường nơi chiến địa với hoài bảo đem giòng máu nóng tuổi thanh xuân để gìn giữ non sông và đôi khi trong đường tên lửa đạn đã âm thầm ngã xuống...” bên con lạch nhỏ Đồng Nai hay trên cánh đồng chiêm Trung Việt... phút chốc quý liệt vị bỗng trở thành người thiên cổ... “và gần gũi hơn hết, họ là những Chiến sĩ anh hùng của Khóa 25 chúng tôi.

Khóa 25 /TVBQGVN, tốt nghiệp với quân số 258 tân Sĩ quan, qua 3 năm nung nấu trong lửa đạn chiến trường,49 người đã Vị Quốc Vong Thân. Họ là những anh hùng:

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên.
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất.
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung.
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.
(thơ Anh Hùng Không Tên Tuổi - Đằng Phương)


Những cái chết của những chàng trai trẻ Khóa 25 vào tuổi thanh xuân, những cái chết mang nhiều tính chất bi tráng. Có người trong giây phút bàng hoàng vì lửa đạn đang xé nát xác thân chợt nghĩ đến Mẹ, đến Cha công ơn nuôi dưỡng không đền đáp được mà lại thêm một gánh nặng cho đấng sinh thành đành tự kết liễu đời mình bằng phát súng cuối cùng. Có người chợt nhớ đến vị hôn thê tuổi tròn 19, ôi đau đớn thay nếu phải trở về với xác thân không trọn vẹn đã từ chối sự cưu mang thoát hiểm của thuộc cấp để thoát ra khỏi vùng lửa đạn, chấp nhận một mình ở lại để vĩnh viễn vùi thây nơi chiến địa. Cũng có cái chết kiêu hùng, anh đã bị thương với chút tàn anh hơi ra lệnh cho thuộc cấp đang cõng mình “ hãy bỏ tôi lại nơi đây hoặc tôi phải tự sát trước mặt anh, hãy rút khỏi nơi này thật nhanh, chúng nó đông quá “ và anh đã ở lại... một mình Người lính thuộc cấp kể lại: sau khi rút lui tạm ẩn nấp vào một bụi rậm, toán VC đi qua, nghe một thằng trong bọn còn nói: “ thằng lính Ngụy gan lỳ quá, nó chỉ còn thoi thóp vậy mà gọi hàng sống chống chết nó không trả lời, tưởng nó đã ngủm củ tỏi rồi, ai ngờ đến gần nó lại mở chốt lựu đạn khiến đồng chí thủ trưởng ta cùng các đồng chí phụ tá phải chết theo nó” người lính nói thêm: Đại bàng Vy văn Đạt oai hùng quá...

Những cái chết của mỗi chiến sĩ K25, mỗi người mang một sắc thái bi hùng riêng, nhưng tất cả đều vì một lý tưởng chung: bảo vệ Tổ Quốc thân yêu. Cũng như tất cả những người lính VNCH khác đã hy sinh vì Tổ quốc, họ là những anh hùng - những anh hùng không tên tuổi - nên tất cả đều có những giá trị tinh thần cao quý như nhau, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin được nêu lên 3 vị Anh Hùng Tử Sĩ K25 tiêu biểu:


1. Anh Hùng Tử Sĩ Nguyễn đình Giang:
UserPostedImage




Nguyễn đình Giang, SVSQ Đại Đội D/K25/TVBQGVN. Còn có bút hiệu là Nguyễn đình Đông Phương, những bài thơ của anh thường được đăng trên báo Đa Hiệu trước năm 1975. Sau đây là vài câu thơ mà bạn bè K25 còn nhớ:

... Ta đi ban sớm, sương thấm đời trai.
Ta về chiều đổ, xanh xao giáng trời...


Khi còn là một SVSQ anh đã chứng tỏ là một con người mang đầy nhiệt huyết sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc VN thân yêu, Với dáng người dong dỏng cao với đôi mắt sáng và nghiêm nghị anh là một SVSQ gương mẫu tôn trọng kỷ luật tuyệt đối. Bản tính hiền hòa đối với bạn bè và rất hiếu thảo đối với Mẹ Cha.

Ra đơn vị, Anh là Đại úy Nguyễn đình Giang, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cho đến buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 anh vẫn giữ vững phòng tuyến đối đầu với địch, khi hay tin Quân đội phải buông súng đầu hàng, Anh và ban chỉ huy Đại đội nắm chặt tay nhau rồi cùng mở chốt lựu đạn tuẩn tiết, xác thân tan thành trăm mảnh.

Tội nghiệp người Mẹ già mà anh đã thương yêu chắt chiu từng đồng gởi Mẹ ngay cả trong thời Sinh Viên Sĩ Quan đã mòn mỏi chờ trông Anh và mãi mãi, người Mẹ già ấy không bao giờ gặp lại con, không bao giờ thấy được hình hài thân xác của anh dù chỉ một nắm xương khô.



2.Anh Hùng Tử Sĩ Trầm Kha Nguyễn văn Đồng:

UserPostedImage



Nguyễn văn Đồng, SVSQ Đại Đội Hải Quân/K25 /TVBQGVN. Là một con người có một tâm hồn Nghệ sĩ đặc biệt ngay từ thuở Quân trường Anh đã nổi tiếng với những vần thơ lãng mạn, mượt mà và thanh thoát:

Cung kiếm tang bồng vui gió loạn.
Chàng Siêu mấy thuở hẹn thanh bình.
Yêu em ta ngắt chùm hoa dại.
Thả bốn phương trời với chiến chinh.
(thơ Trầm Kha)


Có lẽ anh có nghiệp duyên cùng với biển cả nên anh đã lấy bút hiệu là Trầm Kha. Vào trường Võ Bị với mộng hải hồ nung nấu trong tim, anh đã chọn Quân chủng Hải Quân để suốt đời làm bạn cùng sóng biển.

Trầm Kha Nguyễn văn Đồng được nhắc tên nơi đây bởi anh là một Chiến sĩ trực tiếp chiến đấu và đã hy sinh để gìn giữ Hoàng Sa trong trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam và quân đội Trung cộng xảy ra vào trung tuần tháng 1 năm 1974.

Hải Quân VNCH thời đó đã anh dũng chiến đấu, đã giữ được vùng trời vùng biển và cả vùng đảo Hoàng Sa. Ngày hôm nay, đảng Cộng sản tại Việt Nam với chế độ độc đảng trị luôn luôn áp bức dân lành nhưng lại đang khiếp nhược cúi đầu dâng đất, dâng biển dâng cả Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung cộng.

Khi trận chiến xảy ra, Trung Úy Nguyễn văn Đồng là Sĩ quan trọng pháo trên chiến hạm HQ5. Dưới áp lực mạnh mẽ của những ổ hỏa pháo từ các chiến hạm của Trung cộng, Hải quân Trung Úy Nguyễn văn Đồng trong nhiệm vụ điều động và chỉ huy trọng pháo vẫn hiên ngang trên pháo tháp và đích thân kiên cường bắn trả không ngừng.

Chiến hạm của Trung cộng thời đó tối tân hơn chiếc HQ5 của Hải quân VN là một Chiến hạm nhỏ còn sót lại từ thời đệ Nhị thế chiến, di chuyển và xoay trở chậm, cuối cùng HQ5 trúng đạn, Trung Úy Nguyễn văn Đồng trúng đạn và gục chết ngay dưới chân pháo tháp vào buổi chiều biển động ngày 19 tháng 1 năm 1974.

Nguyễn văn Đồng hy sinh trên Chiến hạm HQ5 là một mất mát lớn lao cho Hải Quân VNCH, nền trời thơ văn VN mất đi một nhà thơ tài hoa vào thuở đó. Khóa 25 xin được một lần vinh danh Anh vì chiến tích, anh đã xả thân để bảo tồn Quê Cha Đất Tổ.



3. Anh Hùng Tử Sĩ Nguyễn ngọc Bửu:

UserPostedImage




Nguyễn ngọc Bửu, SVSQ/Đại Đội A/K25/TVBQGVN. là một SVSQ hiền lành cương trực, sống yêu đời với nụ cười thân mật luôn nở trên môi. Bạn bè khóa 25, ai cũng đều thương mến.

Ngày mãn khóa, Anh “không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao nắng mưa cùng nguy hiểm”, anh chọn Binh chủng lừng danh của QLVNCH, Binh chủng TQLC.

Ngoài đơn vị, anh là một cấp chỉ huy tài ba và đức độ, thương đồng đội, thương thuộc cấp hơn chính bản thân mình. Chiều 30 Tết đơn vị đang bận hành quân nơi hỏa đầu giới tuyến, cảm thương người lính xa nhà trong những ngày thiêng liêng đó anh đã quyết định có một món quà nhỏ để làm ấm lòng binh sĩ. Hãy nghe trích dẫn một đoạn ngắn mà Cựu SVSQ Nguyễn hữu Xương K26, một Đại đội phó của Bửu đã ghi lại kỷ niệm một buổi chiều cuối năm:

“Ngày 30 Tết khoảng 3 giờ chiều, Anh đến gặp tôi và nói:

- Xương à, nhờ Xương một chút nghe!

- Chuyện gì đó Niên trưởng?

- Xương đi ngay ra Mỹ Chánh bây giờ để mua một ít mứt và hai chai rượu đế ngày mai cho Binh sĩ họ đón Xuân...

- Được tôi đi... Nhưng... tiền đâu Niên trưởng??

Nghe tôi hỏi, anh mừng lộ trên nét mặt:

- Có đây!

Miệng nói tay móc từ túi áo ra một xấp bạc khá cộm trong phong bì.

- Đây tiền lương của tôi đây Xương! Không phải tiền của lính đâu à nghen. Tôi đãi anh em. Xương cũng đừng bỏ vô đồng nào hết để tiền gởi về cho vợ con. Tôi còn độc thân không sao hết. Đây, Xương mua hết cho tôi hai thứ mứt và rượu, được ông già đi bộ càng tốt...”

Đơn vị cuối cùng của Nguyễn ngọc Bửu là Đại đội Trưởng ĐĐ1/TĐ7/TQLC do Niên Trưởng Trần ngọc Toàn K16 làm Tiểu đoàn trưởng.

Sau ngày 30/4/75 nghe lời rêu rao của CS đang cưỡng chiếm miền nam Việt Nam,10 ngày ra đi học tập cải tạo tư tưởng. Cũng như hằng vạn quân dân cán chính VNCH đã bị lừa qua lời láo khoét này, anh cũng ra đi. Nào ngờ, thời gian biền biệt, đói khát khổ cực trăm bề trong trại tù CS. Trên thế gian này, không có một trại tù nào đầy đủ tính chất dã man tàn bạo như các trại tù CS tại VN trong thập niên 1975-1985. Trại anh đang chịu nhục hình là trại tù Xuân Phước thuộc Sơn Hòa.

Một ngày, không còn có thể chấp nhận cuộc sống dưới sự đối xử tàn tệ dã man của kẻ thù trong trại tù, anh đã quyết định một kế hoạch vượt thoát, anh quyết định đi tìm Tư Do dù phải đánh đổi bằng mạng sống... Chuyến đi được thực hiện vào một buổi sập tối mùa Đông, cùng 6 bạn tù khác, anh lên đường vượt trại Trước khi đi, các anh khống chế được 2 vệ binh CS, lấy được một AK mang theo, tha chết cho 2 vệ binh chỉ trói lại và nhốt trong một bụi rậm để trì hoãn thời gian bọn chúng khám phá đã có tù nhân vượt trại.

Ngày nghỉ đêm đi, nơi dừng chân ban ngày là các bụi cây rậm rạp, các anh qua được một tuần thoát hiểm môi sinh. Tư Do đã đến rất gần, một tuần, ngày nghỉ đêm di hành vượt bao nhiêu rừng, qua bao nhiêu suối. Nhưng chuyến đi định mệnh đầy bi hùng ấy đã chấm dứt với một kết cục tang thương. Ôi, ngọn đồi nhỏ ở buôn làng Ma Hóa, những tưởng là ranh giới của sự Tự Do các anh đang với tới được nào ngờ là mồ chôn vùi thân xác các anh. Chuyến đi vẫn có vài sơ hở trong vấn đề ẩn nấp, kẻ địch đã tình cờ trông thấy chúng bám sát, tập trung quân bao vây rồi bất ngờ bả vào các anh. 7 người ra đi, 6 người bỏ xác trên ngọn đồi Ma Hóa.

Đó là mùa Đông năm 1980, bầu trời Xuân Phước nhuốm màu tang tóc, mây che kín bầu trời xám xịt, chim rừng không vang tiếng hót, những giòng suối róc rách như thương tiếc khóc cho thân phận các anh, người Chiến sĩ Vô danh. Các anh nằm xuống không ai biết... không ai hay... chỉ có những giọt nước mắt thầm của những người bạn tù trại Xuân Phước khi hay tin các anh đã gục ngã bên kia đồi. Các Anh nằm xuống, thân xác tan tành, chúng tôi gồm gia đình Anh Bửu và các bạn khóa 25 tại VN có ra tận ngọn đồi xưa cũ mong tìm được nắm xương tàn của các anh đem về chôn cất nhưng giờ đây chỉ còn là cát bụi.

Nguyễn ngọc Bửu, anh đã sống trong cơn khát vọng về một Tổ Quốc Việt Nam Tự Do, anh đã đánh đổi mạng sống để đi tìm bầu trời Tự Do ấy và tiếc thay anh đã không níu với được sự Tự Do cho ngay chính bản thân anh trong tận cùng khao khát.

Anh đã ra đi về vùng miên viễn, mãi mãi vẫn còn để lại những tiếc thương cho gia đình, người yêu, bạn hữu. Nghe tin sắp đến ngày giỗ anh một người bạn K25 có viết bài thơ tặng anh, bài thơ có tựa đề là: Nghiệt Ngã.

Thân xác bạn giờ đang ở đâu?
Hồn miên viễn xứ? chốn giang đầu?
Có về bên lối xưa nghiệt ngã?
Hồi lại thời gian đã bể dâu.
Nhớ bạn, kiếm cung có một thời,
Mà sao con tạo khéo trêu người
Heo rừng hổ báo nào chi biết,
Rải rác xương tan, nấc giữa đời.
Nhớ bạn hồn thiêng, nỗi hận căm,
Rẫy hoang dõi dõi bóng trăng rằm.
Buôn cao gió hú, khèn man điệu,
Cồng vẵng âm u, uất kiếp tằm.
Chôn kiếm ai đang ngủ bên trời,
Mây thành, núi trụ, gió chơi vơi.
Khóc lên ba tiếng thương người bạn,
Đã có lần chung một nút đời.

(Nguyễn trung Khánh K25)


Lại sắp đến kỳ tưởng nhớ ngày giỗ anh và 5 người bạn tù của anh đã hy sinh bên đồi buôn Ma Hóa, chúng tôi những người bạn đồng khóa 25/TVBQGVN của anh, xin thắp một nén hương lòng tưởng nhớ, và xin cầu nguyện cho linh hồn anh và 5 người bạn được hoàn toàn siêu thoát về một chốn đời đời bình yên hoa thắm.

Xin được nghiêng mình kính cẩn trước linh hồn anh và các bạn tù vượt thoát của anh, những người Anh Hùng không tên tuổi.
______


* Viết để tưởng nhớ đến các bạn K25 đã ra đi vào tuổi thanh xuân và để cảm ơn trời đất đã cho tôi được vui và được sống cho đến ngày hôm nay.

Đằng Phương


hongvulannhi  
#104 Posted : Thursday, November 23, 2017 8:19:43 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,492

Thanks: 2038 times
Was thanked: 4506 time(s) in 2815 post(s)
UserPostedImage


Chúc wild grass một buổi tối xum họp cùng gia đình êm đềm, nồng ấm trong tình thương yêu tràn ngập .

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, November 23, 2017 8:22:46 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 11/30/2017(UTC)
wild grass  
#105 Posted : Thursday, November 30, 2017 12:32:25 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Nhan Sắc Cư Tang

Như Thương





Đây là chuyện đánh trại Gia Binh rất nổi tiếng tại Banmêthuột, nhân vật và mọi chuyện đều là sự thật của năm xưa, cô Yến – mà đúng ra phải gọi là bà Tiên – hiện vẫn còn sống ở Saigon và vẫn mái tóc che dấu tích xưa của bạo tàn !
Mộ của chú Tiên trong Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa đã được gia đình cải táng lâu lắm rồi …
Đọc lại … Xin thắp nén hương lòng cháu kính viếng chú Tiên, chú ơi ….

Như Thương


Bệnh viện bỗng dưng xôn xao vì phòng 120 đông nghẹt lính và những người thăm nuôi khi một người phụ nữ mang thai 8 tháng được chuyển đến . Bác sĩ và y tá chạy ngược, chạy xuôi khi biết người mẹ chuẩn bị lâm bồn. Có điều gì lạ với một sản phụ thế nhỉ ?

Người đàn bà mang thai tên Nguyễn thị Yến, còn rất trẻ, nhập viện với một vòng băng trắng ngang trán . Mảng băng trắng đã hất ngược phần tóc phía trước ra sau làm khuôn mặt cô Yến trông hơi luộm thuộm, vết thương thấm máu ra ngoài bông băng một chút nay đã thẫm màu máu lại . Điều đặc biệt là cô luôn miệng nói với tất cả bác sĩ, y tá và những người bên cạnh cô:

– Cho em đi thăm anh Tiên một chút hay cho em nhìn thấy ảnh một chút cũng được, rồi em sanh con nhanh thôi mà…
– Em biết anh ấy còn sống…
– Em đỡ cái đầu anh ấy dẫu biết anh ấy bị thương, nhưng vẫn còn sống…
– Em xin các anh chị nói cho em biết anh ấy nằm ở phòng nào đi, em đi bộ sang cũng được nữa…
– Em lạy bác sĩ cho em đi thăm chồng em…
– Bác sĩ à, chồng em còn sống mà, anh ấy chỉ bị thương ở đầu thôi . Tin em đi

Những câu nói có đầu đuôi lại dường như thảng thốt, mất bình tĩnh trong giọng nói. Cô không khóc, nhưng không còn biết mình còn một bé gái 3 tuổi đứng khóc thút thít bên bà ngoại ở góc phòng mà cô lại luôn miệng hỏi về người chồng.

Mọi người đều cầu nguyện cho người sản phụ khác thường ấy được mẹ tròn con vuông . Cơn vật vã, mồ hôi, hơi thở rướn cong, tiếng ồn ào trộn lẫn nhau gồm cả tiếng kêu xé lòng của người mẹ và gọi xót xa của người vợ …
– Anh Tiên ơi …

Máu, mồ hôi và nước mắt nhòe nhoẹt đâu đó trên những khuôn mặt người, trên bàn sanh, trong phòng bệnh . Những bàn tay vỗ về người sản phụ và nựng nịu đứa bé gái mới vừa chào đời đã làm mọi người trong phòng khóc ròng. Mẹ tròn con vuông – cảm tạ Ơn Trên vô vàn

Sau ngày ấy, lính vào càng lúc càng đông – cả cấp chỉ huy mang lon Thiếu tá – và anh em binh sĩ . Ai cũng nói một câu giống nhau duy nhất, kể cả các bác sĩ:

– Trung úy Tiên còn sống, anh ấy nằm bên phòng Hồi sức, chị mới sanh còn yếu lắm, mai mốt y tá đem anh ấy sang thăm chị, chị đừng lo!

Rồi sau đó họ lặng lẽ đi về, hết tốp này đến tốp khác – nhưng sao khuôn mặt họ nặng trĩu buồn và vị chỉ huy đã rưng rưng nước mắt … Những phong thư tiền được trao cho bà ngoại của cháu bé 3 tuổi, cụ khóc ròng mỗi lần nhận phong thư . Đứa bé gái ngơ ngác và hốc hác trông thật tội nghiệp, quanh quẩn bên mẹ nhìn em mình một cách tò mò, ngây thơ . Trong túi em đầy kẹo của các cô y tá cho, em thích lắm, nhưng sao mẹ lạ quá … mẹ không nói gì với bé cả, chỉ có bà ngoại là ôm bé hoài thôi và các bà đi vào thăm mẹ nữa …

Một tuần lễ trôi qua, người sản phụ bây giờ nằng nặc đòi đi thăm chồng – nghe đâu đó một câu nói đau lòng trong dãy hành lang:
– Chắc cô ấy sẽ điên thôi … chịu sao nổi!

Và người sản phụ quên cả cho con bú … đứa bé khóc ngất, bà ngoại lại đến kế bên dỗ dành con gái cho bé bú.

Người sản phụ ăn rất ít, gần như không chịu ăn và ngủ rất ít. Ngày cũng như đêm và vừa chợp mắt được một chốc lại giật mình trăn trở, rồi lại hỏi mẹ ruột về chồng mình.

Hành lang bệnh viện dần dần biết toàn bộ câu chuyện thương tâm não lòng của người quả phụ – cho tôi bắt đầu viết hai chữ Quả Phụ Tử Sĩ từ đây –


Đêm hôm ấy, Việt cộng đánh trại Gia Binh – trại sĩ quan lẫn trại của binh sĩ – Địch công đồn bằng chiến thuật biển người từ đồn điền café sau trại Gia Binh . Tiếng lựu đạn nổ vang trời trong đêm khuya, tiếng hô xung phong, tiếng đạn trên đồn bắn trả, tiếng chân người chạy rầm rập quanh vách nhà, tiếng đập cửa, tiếng lên đạn trên nòng súng, tiếng gọi kêu cứu, tiếng thét, tiếng gọi chữa cháy nhà … tất cả đã tạo thành một mớ âm vang cực kỳ hỗn độn khuấy động màn đêm yên tĩnh.

Tàn một đêm, sáng hôm sau … chiến trường tang thương phơi bầy những gì đã xảy ra hãi hùng đêm qua. Nhà cháy, người chết cháy, nhà sập, những cánh cửa mở toang vì những bàn chân tàn bạo đạp tung, người chết và người bị thương nằm ngồi ngẩn ngơ thất hồn bên cạnh người sống hốt hoảng!

Một người đàn bà chết cháy mùi khét lẹt bị kẹt dưới thanh gỗ kèo nhà chắn ngang cái bụng mang thai ! Người chồng – là một sĩ quan đêm qua trực đồn – ngồi im lặng bên xác vợ, chẳng buồn kéo thây vợ ra khỏi cái đà ngang ấy, những đứa trẻ đứng lớ ngớ bên cạnh gọi mẹ, gọi ba …

Một người đàn bà bụng mang dạ chửa khác nữa với vết thương viên đạn xuyên ngang trán ngồi vuốt khuôn mặt bê bết máu của chồng và luôn gọi : Anh Tiên ơi … Đứa bé gái trong góc nhà khóc ngất trong hoảng hốt và bà cụ già ngồi ôm cháu kêu Trời …

Tất cả mọi người dường như không còn nhìn thấy ai và nhìn thấy gì nữa – khuôn mặt những nạn nhân là nét vô hồn, sợ hãi còn đọng lại đêm qua. Những căn nhà bỗng mở toang hoang và đổ nát mọi ngõ ngách, đồ đạc vương vãi khắp nơi .

Lòng người chết lặng ! Và Trời Đất âm u chuyển mưa …

Giọt mưa đổ xuống phủ hết cây cối quanh khu trại Gia Binh, những lô cốt gần đấy và xóa trôi đi những vệt máu trên hiên nhà của người đàn bà ngồi ôm đầu chồng – Trung úy Huỳnh Huỳnh Tiên đêm qua xuống ca trực, nên đã ở nhà với vợ con …

Bẵng đi 30 năm sau, tôi có dịp gặp lại người quả phụ năm xưa chưa tròn 25 tuổi – bây giờ đã làm bà ngoại – vẫn mái tóc cắt ngang trên chân mày – vẫn gầy gầy, ngồi đàn tranh cho tôi nghe và giọng Bắc chùng xuống kể lại chuyện xưa …


VC đã đạp cửa nhà cô vào đêm đánh trại, chúng dùng báng súng con ạ . Rồi chúng gọi chú ra ngoài, cô sợ quá chạy theo van xin chúng đừng giết chú, chúng bắn dọa cô một viên đạn xuyên qua trán cô đây rồi lôi chú ra trước phòng khách … Chúng bắn trúng ngay đầu chú trước mắt cô … Khi chúng đi rồi, cô ngồi ôm đầu chú và kêu cứu, nhưng cảnh tượng ngoài sân thật khủng khiếp … nhà thím Bi đối diện bị cháy, nhà con bị sập và cây cối đổ ngang dọc!

Cô gọi mãi vẫn không thấy ai đến trong đêm khuya, đến sáng thì cô không còn nhớ gì nữa cả kể cả chuyện cô sinh bé Nguyệt Trừ và chuyện cô có bé Nhật Trừ 3 tuổi.


Một năm sau, người Tiểu đoàn trưởng đưa cô ra thăm mộ chú – ngôi mộ ấm cúng và được chăm sóc đàng hoàng trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa . Nhìn di ảnh chú, bấy giờ cô mới khóc chồng thật sự con ạ ! Mới tin rằng chồng mình đã chết …

Bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu hồ nghi mong manh đã che lấp được cái giấu giếm của bạn bè đồng ngũ chồng mình trong lòng cô 1 năm và cô đã sống với niềm hy vọng nhập tâm rằng chú Tiên chỉ bị thương nặng mà thôi – trí óc cô kể từ lúc ấy đã khóa lại mọi suy nghĩ khác.


Và cô bắt đầu cầm trong tay cuốn sổ CÔ NHI QUẢ PHỤ mà trước đây bà ngoại đã nhận từ vị Thiếu tá chỉ huy trưởng.

Con xem lại vết thẹo trên trán cô ẩn sau mớ tóc thời thanh xuân của tuổi chưa đầy 25 – cô vén mái tóc sang một bên và tôi nhìn thấy vết thẹo dài thật sâu nằm vắt ngang gần hết trán – Cô còn nói thêm :

– Cô biết vào tuổi làm bà ngoại của cô, cô không nên để kiểu tóc trông rất trẻ này, nhưng đó là NHAN SẮC CƯ TANG của cô dành cho người chồng yêu quý, có lẽ đời sẽ hiểu cho cô …

Người đàn bà quả phụ năm xưa cư tang chồng vẫn ở vậy nuôi hai đứa con gái Nhật Trừ, nay là bác sĩ Sản Khoa và Nguyệt Trừ nay là y tá . Bà làm bạn với tiếng đàn tranh và những đứa học trò đến học đàn . Bà không khóc nữa, lặng lẽ bình tâm sống với hình ảnh chồng trên chiếc bàn thờ trong phòng ngủ của bà.


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
NNT on 12/3/2017(UTC)
wild grass  
#106 Posted : Tuesday, December 5, 2017 12:40:01 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Trong tất cả các nước Á Châu -
Không có nước nào làm được hết!

LS Đặng Đình Mạnh





UserPostedImage





Thái Hà (13.03.2017) –
Kỷ niệm 426 năm ngày sinh Cha Alexander Rhodes, người khai sinh chữ Quốc ngữ (15/3/1591 – 2017)

Khi đọc những dòng chữ Việt ngữ này, là bạn đang chiêm ngưỡng tác phẩm của các linh mục thừa sai Dòng Tên gồm các cha Gaspar De Amaral, cha Antonio Barbosa, cha Francisco De Pina và cha Alexandre De Rhodes, tất cả họ đều là tác giả của quốc ngữ mà người Việt ta đang sử dụng hàng ngày.

Với linh mục Gaspar De Amaral, cha đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ. Với linh mục Antonio Barbosa, cha soạn cuốn từ điển Bồ – Việt. Với linh mục Francisco De Pina, được cho là cha đã dựa vào cách phát âm tiếng Bồ để chuyển tự ghi chép tiếng Việt khi ông vào Đàng Trong (Từ sông Gianh trở vào Nam). Nhưng các cha đều mất khá sớm, tuy vậy, cùng với một số linh mục khác trong giai đoạn tiên khởi này, các cha đã giúp đặt nền móng đầu tiên cho quốc ngữ Việt Nam.

Với linh mục Alexandre De Rhodes, thì cha đã dựa vào hai công trình từ điển nêu trên và bổ sung thêm phần La tinh để hình thành nên cuốn từ điển Việt – Bồ – La.

Thực tế, chính việc bổ sung phần La tinh của cha Alexandre De Rhodes đã trở thành đóng góp quan trọng bậc nhất giúp hình thành nên chữ viết theo lối La tinh mà sau đó nhanh chóng trở thành quốc ngữ Việt Nam.

Đánh giá về vai trò của linh mục Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh nên quốc ngữ Việt Nam, tờ Nguyệt San MISSI do các linh mục Dòng tên người Pháp quản lý đã từng viết nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông, đại lược như sau: “Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, cha Alexandre De Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến ba thế kỷ”.

Quả vậy, khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách in quyển từ điển và các sách đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại nhà in Vatican – Roma, thì cha Alexandre De Rhodes đã giải phóng cho nước Việt Nam về chữ quốc ngữ.

Bởi lẽ trước đó, tương tự như Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên), thì người Việt Nam sử dụng lối chữ viết tượng hình, biểu ý của người Tàu hoặc chữ nôm do tự sáng chế và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Cao Ly mới chế biến ra chữ viết riêng của họ, nhưng vẫn không theo cách viết La tinh nên bị hạn chế nhiều. Còn người Nhật Bản thì sau nhiều lần thử nghiệm chế biến lối chữ viết khác, nhưng cuối cùng đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình, biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, chính người Tàu dưới chế độ cộng sản của Mao Trạch Đông cũng đã từng tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Alexandre De Rhodes, đã tiến bộ trước người Tàu đến hơn ba thế kỷ rưỡi (1651 – 1017 – tính từ năm in cuốn từ điển Việt – Bồ – La đến thời điểm hiện nay.

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng mình cha Alexandre De Rhodes khởi xướng ra chữ Quốc ngữ. Trước đó, các cha thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã nghĩ ra một số phát âm tiếng Việt, viết bằng các mẫu tự La Tinh rồi. Tuy nhiên, chính cha Alexandre De Rhodes là người hệ thống hóa, hoàn tất công trình làm ra chữ quốc ngữ thành công vào năm 1651, tức là năm mà cuốn tự điển Việt – Bồ – La chào đời tại nhà in Vatican – Roma.

Thế nên, chính tại nhà in Vatican ở Roma là nơi mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình, và chính năm 1651 cũng là năm khai sinh chính thức của chữ quốc ngữ Việt Nam.

Theo đó, chữ viết theo lối La tinh ban đầu được các nhà truyền giáo đặt nền móng cho việc sử dụng trong cộng đồng Ki-tô giáo Việt Nam, đến khi được người dân Việt Nam chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, thì mặc nhiên nó đã tự mình được nâng cấp thành chữ Quốc Ngữ.

Ghi nhận công nghiệp của cha Alexandre De Rhodes đối với xứ sở, năm 1941, một tấm bia kỷ niệm nhân ngày sinh nhật thứ 350 của cha đã được dựng ở gần bên bờ Hồ Gươm trước cửa đền bà Kiệu – Hà Nội. Đến năm 1957, khi Hà Nội thuộc sự cai trị của nhà cầm quyền Cộng Sản thì bia đã bị gỡ bỏ.

Chính quyền Sài Gòn cũ đặt tên ông cho một con đường tọa lạc trước mặt Dinh Độc Lập, nay là Dinh Thống Nhất, đối xứng với phía bên kia là đường Hàn Thuyên, tên danh sĩ được ghi nhận có công phát triển và phổ biến lối chữ Nôm. Sau năm 1975, nhà cầm quyền cộng sản đổi tên đường thành Thái Văn Lung và bây giờ thì đã trả lại tên cũ là Alexandre De Rhodes cho con đường này.

Về tiểu sử: Nguyên, cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) sinh ngày 15/03/1591 (hay 1593?) tại vùng Avignon, miền nam nước Pháp. Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tỵ nạn ở vùng Avignon là đất của Giáo Hoàng. Ông gia nhập Dòng Tên tại Roma năm 1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1625, cha Alexandre De Rhodes đến Việt Nam bắt đầu từ Hội An. Cha bắt đầu học tiếng Việt và chọn tên Việt là Đắc-Lộ. Từ đó, Việt Nam trở thành quê hương thứ hai của cha. Nhưng cuộc đời truyền giáo của cha ở đây rất gian nan, trong vòng 20 năm, cha bị trục xuất đến sáu lần. Đến năm 1645, cha bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam. Cha mất ngày 5/11/1660 ở Iran, thọ 69 tuổi.

Hiện nay, ở Việt Nam đã từng xuất hiện ý kiến phủ nhận công lao đóng góp của cha Alexandre De Rhodes trong việc khai sinh chữ quốc ngữ, một trong số họ nêu quan điểm:

“Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông” mà thôi. [1]


Riêng đối với công chúng, thì:

– Lối chữ viết đã trở thành quốc ngữ của xứ sở với chín mươi triệu đồng bào cả trong và ngoài nước cùng sử dụng;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện những dòng lịch sử oai hùng của dân tộc từ thuở hồng hoang đến nay;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện lời ru “Ầu ơ …” ân cần của mẹ từ ngày sinh ra ta làm kiếp người;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện sự yêu thương giữa những thành viên trong gia đình, giữa những đôi tình nhân, giữa những người tri kỷ …
– Lối chữ viết được dùng thể hiện ca từ những nhạc phẩm bất tử như Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng, Trưng Nữ Vương, Lòng mẹ, Tình ca …
– Lối chữ viết mà dân ta có thể tự hào là riêng biệt trong khi rất nhiều quốc gia khác, kể cả nhiều cường quốc vẫn còn phải vay mượn (Úc, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Đại Hàn …);



Thì người khai sinh của lối chữ viết ấy chắc chắn phải là ÂN NHÂN của xứ sở mình, bất kể đến quốc tịch của họ, bất kể đến tôn giáo của họ và bất kể đến động cơ của họ khi khai sinh lối chữ ấy!


Và với chế độ:

– Lối chữ viết được Ông Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ;
– Lối chữ viết được dùng để thể hiện Hiến pháp quy định sự độc tôn chính trị của Đảng Cộng Sản;
– Lối chữ viết được dùng trong tất cả mọi sinh hoạt chính trị, hành chính, xã hội, kinh tế, giáo dục, văn hóa …
– Lối chữ viết mà hơn 700 tờ báo của chế độ đang dùng:
– Lối chữ viết mà hơn 24.000 vị tiến sĩ khoa bảng quốc gia đang dùng;
– Lối chữ viết mà hơn 400 trường Đại học, cao đẳng các loại và hàng vạn trường học các cấp đang dùng;


Nhưng lại không mấy ai trong số họ nhắc đến ngày sinh nhật của cha Alexandre De Rhodes, người có công khai sinh lối chữ viết mà nghiễm nhiên đã là quốc ngữ của xứ sở, như là một trong những ân nhân của dân tộc này thì thật là đáng thất vọng!

Tôi tin rằng, xứ sở này nợ ông ấy lời tri ân!



LS Đặng Đình Mạnh
12-03-2017


wild grass  
#107 Posted : Sunday, December 10, 2017 1:41:37 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Giết chết lòng nhân đạo

Phan Ba




UserPostedImage

Bộ trưởng Bộ Giáo dục VNCH Tăng Kim Đông gắn huân chương lên quan tài của bốn Bác sĩ người Đức
bị giết chết ở Huế trong thời gian của cuộc tổng tấn công. Ảnh: The Vietnam Center and Archive




Phan Ba dịch từ tuần báo Die Zeit số 15, 1968 (12/04/1968)

Ba Bác sĩ và một người nữ Bác sĩ Đức, những người đã công tác nhiều năm trời ở Huế – họ đã chết. Họ đã bị Việt Cộng giết chết, được tìm thấy trong một ngôi mộ tập thể. Lời cáo phó sau đây là do Tiến sĩ H. C. Nonnemann viết, Bác sĩ trưởng đầu tiên của tàu “Helgoland”. Một tường thuật về công việc của ông ấy ở Việt Nam đã được xuất bản dưới tựa “Chúng tôi không hỏi họ từ đâu đến / Bác sĩ ở Việt Nam” của nhà xuất bản Hoffmann & Campe.[/color]



Giữa tháng 3 năm 1966, tôi đáp xuống phi trường nhỏ bé ở Huế lần đầu tiên với một phần của phái đoàn chính phủ Đức. Chúng tôi muốn đến thăm các bác sĩ Đức đang giúp xây dựng Khoa Y tại trường Đại học ở đó. Từ căn nhà của phi trường mà hình dạng của nó trông hơi giống một ngôi nhà nông dân vùng Brandenburg, Giáo sư Krainick, bác sĩ nhi khoa, và Tiến sĩ Discher, bác sĩ nội khoa, bước đến phía chúng tôi.

Đối với chúng tôi thời đó, những người mới đến Việt Nam, chuyến đi Huế trong một chiếc DC-6 của Air Vietnam dường như là nguy hiểm. Nhưng những người Đức ở Huế khẳng định với chúng tôi rằng họ có cảm giác an toàn như trong lòng của Abraham vậy. Tuy nhiên, đêm nào Tiến sĩ Discher cũng đưa chúng tôi trở về khách sạn trên chiếc xe Volkswagen cũ kỹ của ông ấy, khách sạn mà thật ra chỉ đi bộ vài phút là đã đến nơi. Chúng tôi an toàn hơn trong chiếc ô tô của ông, ông thuyết phục chúng tôi: vì không ai biết chúng tôi cả, nhưng mọi người đều biết ông và chiếc xe VW của ông.

Lúc đó, Giáo sư Krainick và Tiến sĩ Discher cố tranh cãi cho bằng được, để có thể tiếp tục công việc của họ ở Huế. Năm năm trời, họ đã vượt qua được những khó khăn không thể tưởng tượng được, những cái đi cùng với công cuộc xây dựng khoa – ví dụ như Tiến sĩ Discher đã phải cần đến hơn một năm mới có được đường ống nước máy dẫn vào đến ngôi nhà của bệnh viện do ông chăm sóc. Nhưng những cuộc đấu tranh với các công sở ở Bonn và Sài Gòn còn khiến cho người ta kiệt sức nhiều hơn nữa. Có thời mà các bác sĩ Đức ở Huế còn chẳng biết được ai sẽ trả lương cho họ – và nói chung là liệu có hay không nữa. Chính phủ Nam Việt Nam, lúc nào cũng nghi ngờ Huế, đặc biệt là các phật tử và sinh viên của nó, trong trường hợp tốt nhất thì biểu lộ sự lãnh đạm nghi ngờ; họ thỉnh thoảng phong tỏa các phương tiện cần thiết và sự giúp đỡ. Và nước Cộng hòa Liên bang [Đức] có lúc không hề quan tâm đến các bác sĩ Đức.

Vì thế mà họ cố gắng dai dẳng và kiên quyết: không phải cho Bonn và không phải cho Sài Gòn, mà là vì họ đã nhận sự đau khổ của nhân dân Việt Nam làm việc của chính họ; vì trong đất nước này, một bác sĩ đứng đối diện với mười lăm ngàn tới hai mươi ngàn người dân; vì chỉ việc đào tạo bác sĩ Việt Nam về lâu dài mới cải thiện được sự chăm lo y tế cho người dân. Họ ở lại, ngay khi các khó khăn thường trông có vẻ như không thể vượt qua được. Hàng ngày, hàng tuần, họ bắt đầu lại từ đầu. Bệnh nhân và sinh viên của họ cảm ơn họ.

Rồi khi tôi trở lại Việt Nam trong tháng 9 năm 1966 với chiếc tàu bệnh viện Đức “Helgoland”, một sự cộng tác thân thiện đã tự phát xuất hiện, đặc biệt là với Tiến sĩ Discher, trong phạm vi mà các khả năng thông tin ít ỏi trong đất nước này nói chung là cho phép. Tôi thường cần một lời khuyên từ những người bác sĩ có nhiều kinh nghiệm ở Việt Nam này và đã học được ở họ những điều gì đấy. Đầu năm 1967, Tiến sĩ Alteköster cũng đến Việt Nam và làm việc ở Huế.

Tôi gặp Tiến sĩ Discher lần cuối cùng trong tháng 6 năm 1967. Trên sân hiên đã được mô tả nhiều của khách sạn Continental ở Sài Gòn, chúng tôi đã lập kế hoạch để có thể đánh lừa được sự quan liêu và tiếp tục xây dựng Khoa Y ở Huế mặc cho tất cả các thất bại gây nản lòng. “Anh chắc cũng giống như tôi”, Tiến sĩ Discher nói. “Một ngày nào đó, người ta nhận ra rằng mình yêu đất nước độc nhất vô nhị này và dân tộc này và gắn bó với nó.”

Thời điểm rời Việt Nam của riêng tôi tiến đến gần. Trong tiệc cưới của một đồng nghiệp, ở trên sân thượng của khách sạn Caravelle, tôi đứng với Tiến sĩ Alteköster ở cạnh lan can. Từ đó, người ta nhìn ra xa khắp Sài Gòn và tỉnh Gia Định. Hỏa châu lơ lững ở chân trời, những cái mà “spooky” – chiếc máy bay tuần tra về đêm – ném xuống thành hàng dài. “Tôi còn ở lại”, Tiến sĩ Alteköster nói.




UserPostedImage

On April 5, a Vietnamese farmer near Hue discovered a grave containing the bodies of four Germans killed by the Viet Cong and North Vietnamese during their TET attacks on the old imperials capital of Hue. The bodies of three German professors at the Faculty of Medicine at Hue, and the wife of one of the professors, were found with their hands tied behind their backs, and indication that they had been executed shortly after their capture. The Viet Cong victims were: Dr. Horst Krainick and Mrs. Krainick; Dr Baisund Disher, and Dr. Alois Altekoester. — Mrs. Elizabeth Krainick (foreground) and Dr. Alois Altekoester (background) — 68-0192-B





Vào ngày 4 tháng 2 năm 1968, các bác sĩ Đức ở Huế mất tích; làn sóng tấn công của Mặt Trận Dân tộc Giải phóng đã tràn qua họ. Trong lúc đó, người bác sĩ thứ tư từ Huế, bác sĩ Wulff, đã trở về châu Âu từ đầu tháng 12, đang diễn thuyết ở Đức dưới lá cờ của Việt Cộng.


Nhưng không một ai, người đã quen biết với hoàn cảnh ở đó, lại không muốn tin rằng những người mất tích chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện. Họ đã sống nhiều năm trời vì người Việt kia mà? Tuần nào họ cũng chăm sóc các trạm xá trong vùng được gọi là vùng Việt Cộng kia mà? Tất cả chúng tôi đều tin rằng họ đang chăm sóc cho những người bị thương ở đâu đó trong rừng. Đối diện với sự thật, rằng chỉ có ba bác sĩ cho vô số những người bị thương trong thành phố Huế đã bị phá hủy, là một ý tưởng khiến cho người ta lo lắng nhưng tuy vậy vẫn có thể hiểu được.


Mãi đến ngày 3 tháng 4, tin tức mới về đến Đức, rằng Giáo sư Krainick và vợ của ông, Tiến sĩ Discher và Tiến sĩ Alteköster đã được tìm thấy trong một ngôi mộ tập thể ở gần Huế, bị quân đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng giết chết; tức là quân đội của phong trào đó, phong trào mà đối với nhiều người là một đại diện hợp pháp cho dân tộc mà những người bác sĩ này đã sống và làm việc cho họ nhiều năm trời.

Giới chính thức ở Bonn sửng sốt và đầu tiên là có một sự tự phát: bào chữa cho chính mình. Các bác sĩ đó đã được gọi về trước đây nhiều tháng rồi, và chỉ ở lại đó vì họ đã tự xin phép và theo quyết định riêng của họ. Người ta sẽ lo liệu cho tất cả, các thi thể và gia quyến. Người ta đang suy nghĩ, liệu sự giúp đỡ về người ở Việt Nam có thể được thay thế bằng sự giúp đỡ thuần túy về vật chất hay không.

Mỗi người sống trong thế giới của mình như thế đó. Thay thế lòng nhân đạo bằng vật chất? Những con người đó, những con người đã không được bên nào của cuộc chiến tranh này khoan dung, chào mời tiền thay vì bác sĩ?

Trong thế giới của ba người bác sĩ Đức ở Huế, cuộc sống và cái chết của họ cho thấy chỉ một điều là có ý nghĩa: tiếp tục mang ngọn đuốc đi, ở nơi mà nó đã trượt khỏi họ, tiếp tục công việc cho những người khốn cùng của thế giới này, ở nơi mà họ đã phải từ bỏ.

Trong thời mà hàng trăm ngàn người trên đường phố của châu Âu và châu Mỹ làm cho khái niệm Việt Nam ở thành câu khẩu hiệu, và biểu tình cho sự cải mới con người, ba người bác sĩ đó đã hoạt động cho tình người nhiều tới mức cây kim của chiếc cân ngã sang phía họ rất xa. Tất cả những cuộc biểu tình đó đã giữ được bao nhiêu mạng người? Mỗi một người trong số ba người bác sĩ này đã có thể giữ được bao nhiêu?

Đứng lên trên tất cả những tiếng hô Hồ Chí Minh bây giờ là tên họ của ba người bác sĩ bị giết chết và của một người phụ nữ: Elisabetha và Horst Günter Krainick, Raimund Discher và Alois Alteköster. Tên của họ đứng ở cạnh tên của Albert Schweitzer.


09/12/2017

Phan Ba dịch từ

http://www.zeit.de/1968/...rd-an-der-menschlichkeit


wild grass  
#108 Posted : Tuesday, December 12, 2017 1:33:08 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Người Nữ Quân Nhân VNCH

Sue Phan‎




UserPostedImage





TRAO ĐỔI TÙ BINH: Khi tôi còn là nữ sinh, tôi không biết Cộng Sản là gì! Dịp Tết Mậu Thân, Mẹ tôi mất 2 người anh, vì bị CS xử tử bằng cách chôn sống. Năm đó tôi đậu Tú Tài, tôi đã tình nguyện vào quân đội, bất kể sự cản trở của ba mẹ tôi, tôi dọa nếu tôi không vào quân đội, tôi sẽ không bao giờ lập gia đình.

Sau khi tôi ra trường, tôi được thuyên chuyển làm việc ở Quân Đoàn I. Có dịp tôi đi công tác ở Quảng Trị, dịp đó tôi nhìn xung quanh từ vĩ tuyến 17, tôi mới nhận thấy rằng trong thời gian tôi là nữ sinh, được cắp sách đến trường, vui chơi với các bạn trong những buổi nhảy đầm, và cùng với các anh chị Luật Khoa cầm biểu ngữ chống chiến tranh, tôi thấy ân hận quá. Trong những năm đó, tôi đã được yên ấm như thế là nhờ công ơn người lính VNCH...

Trong một dịp công tác Quảng Trị năm 73 tôi và cô bạn tên Kim, lúc ấy Kim là Trưởng Phòng Xã Hội Tiểu Khu Quảng Trị. Chúng tôi tham dự việc trao trả tù binh do Ủy Ban Quân sự bốn bên giám sát.




UserPostedImage




Với bản chất xảo quyệt sẵn có của Cộng Sản, họ đòi hỏi phía bên Quốc Gia chúng ta, phải trang bị quần áo bà ba màu nâu và những dôi dép râu (dép làm bằng vỏ xe, có quai tréo) cho các tù binh CS mặc, khi trao trả lại cho họ. Trong bộ đồ nâu ấy sẽ làm nổi bật lên nét ảm đạm, thê thảm của người tù!

Ngược lại, với bản chất chân thật của người miền Nam, chúng ta không đòi hỏi gì họ, chỉ mong họ sớm trả lại tự do cho các chiến hữu của chúng ta càng sớm càng tốt mà thôi.

Khi tù nhân đầu tiên được trao trả bước ra khỏi căn lều nhỏ, Kim nhìn thấy và đã nhận ra sự xảo quyệt của họ. Người tù binh VNCH đã được bọn họ “trang điểm” trong quần tây xám, áo sơ mi trắng, giầy, nón thật tươm tất và có xách tay nữa, họ đã ngụy tạo hình ảnh người tù binh giống như một thư sinh sắp được đi dạo phố Hà Nội vậy, để che đậy bên trong là một bộ xương bọc da, vì đói khát lâu ngày...

Cái ngụy tạo trắng trợn ấy là một điều họ muốn cho Quốc tế nhìn qua ống kính của các phóng viên để so sánh hình ảnh của các tù binh hai phía. Kim đã nhận ra ngay cái dụng ý gian manh đó của người Cộng Sản.

Để đối đầu lại với họ, trong khi dìu người tù binh đầu tiên vừa được trao trả, Kim đã nói khẽ vào tai anh ta: “anh bình tĩnh nhé, đã có chúng tôi đây, vừa đi, vừa vất hết tất cả những gì thuộc về họ”. Hiểu ý ngay nên anh đã vừa đi vừa cởi, vừa vất hết và khi đến bờ sông để xuống ca-nô, anh chỉ còn lại trên người chiếc quần đùi cũ kỹ bạc màu, và phơi bày rõ những ống xương tay, chân khẳng khiu... Đồng loạt các bạn tù đi phía sau anh đều làm cùng động tác, quần, áo, giầy, nón vất ngổn ngang theo dọc đường đi và những tiếng hô to đả đảo CS vang dội một góc trời của bờ sông Thạch-Hãn đã dạy cho Việt Cộng một bài học đau đớn về hành động gian manh của chúng.

Có một Sĩ Quan vc tên là Dũng đã hằn học đánh thật mạnh vào vai Kim và quát: - Cô xách động tinh thần tù binh phải không? Kim hét to về hành động bỉ ổi đánh phụ nữ ngay trước mặt Ủy Ban Quân Sự bốn bên, đúng là hành động của sĩ quan VC!

Sau đó cuộc trao đổi tù binh phải tạm ngưng vài giờ để bốn bên cùng họp lại...


Sự dũng cảm của chiến sĩ tù binh chúng ta là các anh đã giấu trong người những mảnh vải vẽ hình cờ vàng ba sọc đỏ, và những chiếc quạt giấy xếp bằng tay, mà chúng không nghi ngờ khi mở ra là hình cờ vàng Quốc gia hay những hàng chữ đả đảo Cộng Sản, các anh đã đưa cao khỏi đầu cho mọi người thấy khi vừa bước qua khỏi hàng ranh của chúng.

Khi những tù binh VC được quyền rời đất tự do để về phần đất của họ, thì những người tù ấy đã đi hàng ba và tay họ nắm chặt tay nhau trước sự ngạc nhiên của mọi người, cho đến lúc một người nào trong số họ giựt được tay ra và vừa chạy ngược lại vừa la to lên: “Tôi xin ở lại”... thì lúc ấy các quân nhân miền Nam chạy vội ra, bảo vệ anh ta ngay lập tức, và đưa vào căn lều cạnh đó, và trao họ cho chúng tôi để giúp họ những gì họ cần...

Sau này chúng tôi tìm hiểu qua các tù binh vượt thoát được, họ đã cho biết là - lệnh ngầm, họ phải nắm chặt tay nhau để không ai có thể vùng chạy ngược trở lại, vì họ biết chắc rằng hầu hết các tù binh đều muốn ở lại miền Nam, khi họ hiểu rõ đời sống sung túc và tự do ở bên này.

Và ngược lại, trong số tù binh của VNCH chỉ có duy nhất một người xin ở lại với VC mà thôi, sau này chúng tôi được biết, đó là tên VC được chúng dùng tên và số quân của một tù binh đã chết, và gài người của chúng vào, để cho quốc tế thấy là cũng có người muốn ở lại với bọn chúng...




UserPostedImage




Công viêc trao đổi tù binh tiếp nối mỗi tuần từ ba ngày đến năm ngày như thế ròng rã hơn ba tháng liền. Kim và các bạn của tôi đã làm việc với hết sức nhiệt thành... Ba mươi tháng tư 75, ngày đoạn trường mà tất cả đoàn Phượng Hoàng đã xếp đôi cánh gãy. Một số chị em chúng tôi đã phải rũ cánh trong những trại tù khổ sai dã man ấy, trong đó có Kim!

Tôi cũng là một Phượng Hoàng NQN tầm thường. Ngày xưa tôi cũng chỉ làm công tác thường xuyên của người nữ QN Xã Hội với tấm lòng yêu quê hương xứ sở mà thôi. Nên lúc nào tôi cũng trân trọng những thành tích mà các bạn tôi, hay nói chung là của đoàn Phượng Hoàng NQN đã gặt hái được để cùng hãnh diện chung.

Tôi viết những dòng chữ ngày hôm nay để vạch trần sự dối trá của CS, và cũng để xác định rằng tôi luôn luôn hãnh diện là nữ Quân Nhân Quân Lực VNCH.


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
hongvulannhi on 12/12/2017(UTC)
wild grass  
#109 Posted : Friday, December 22, 2017 1:30:59 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)

Tưởng nhớ Cố nhac sĩ Việt Dzũng



Tôi nợ Anh


Tôi nợ Anh ! Ngót bốn mươi năm bền bỉ
Non nước mình khổ hận nát tan
Chinh chiến phai thống khổ vẫn ngập tràn
Xác dân Việt khắp rừng hoang biển rông

Tôi nợ Anh ! lời hùng ca dân tộc
Nuôi quật cường chính khí Việt ngàn năm
Khúc bi tráng người anh hùng tuẩn tiết
Ngon đuốc thiêng rực sáng đất trời Nam

Tôi nợ Anh ! Lời hát nguyện cho triêu người tan biến
vào đại dương hay hoang thẳm rừng già
Ôi, đớn đau thân phận người vượt biển
Và từ đây nhân loại biết Việt Nam

Tôi nợ Anh ! nỗi đau nghen chắp thành lời nhắn gởi
Mẹ !!! Vá hộ con quê hương tơi tả đoạ đày"
Một Chút quà gói nước mắt xót cay
Đời hụt hẫng chắp víu quanh quẩn vậy

Tôi nợ Anh ! tiếng dân oan khóc nghẹn
Dáng bé thơ lây lất kiêp bên lề
Hiu hắt me già giữa lòng đời vô cảm
Ngục tối nhục hình xanh xác những đàn con


Tôi nợ Anh ! quyết đấu tranh cho nhân quyền công lý
dẫu đường xa vạn lý có nề chi
Dấu nạng tròn quyện theo vết chân đi
liêu xiêu bước, lặng lẽ Anh vẫn đến
Trong tăm tối ẩn náu bóng bình mình
Mơ quê Mẹ ngày hồi sinh rực sáng

Tôi nợ Anh ! tiếng nước non đòi đoạn
Cạn nguồn thương, sông Hồng tươm máu đỏ
Hương giang sầu thờ thẫn nước chẳng trôi !
Cửu Long khóc đất cao nguyện vun vỡ
Sóng biển Đông cuốn hút xác dân chài


Tôi nợ Anh! lời hát, ôi ! tâm huyết
Vẫn còn đây các con của Mẹ, Mẹ ơi !
Một ngày nao nước mắt ứa bùi ngùi
Dẫu sống thác sẽ về ngày mở hội


Tôi nợ Anh ! biết bao điều buốt nhói !

đêm đông buồn tiếng ai hát khôn nguôi

Một Nước non nghiêng ngả,
Một Quê Mẹ tan nát
Một Lịch sử bôi bác nhá nhem
Một dân tộc bị đồng hoá chẳng ngờ

đêm đông buồn tiếng ai hát tha thiết xót xa

Hãy vực lại, một núi sông chông chênh nghiêng ngả

Hãy cứu lấy, Một Quê hương bên bờ vực vong nô

Hãy truyền lại, Một Lịch sử đang lần hồi đánh tháo

Hãy kiên tâm gìn giữ nguồn cội, văn hoá Việt Nam


Tôi nợ Anh, lời quê hương nức nở!
CB


hongvulannhi  
#110 Posted : Friday, December 22, 2017 2:04:29 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,492

Thanks: 2038 times
Was thanked: 4506 time(s) in 2815 post(s)
UserPostedImage


Chúc wild grass & gia đình, Giáng Sinh
tràn đầy Hồng ân, và Năm Mới 2018 An bình, vui, khỏe.

HONG VU LAN NHI

Edited by user Friday, December 22, 2017 2:13:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 12/24/2017(UTC)
wild grass  
#111 Posted : Sunday, December 24, 2017 2:46:11 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)


Buồn đến kiếp nào nguôi

Kim Thanh



1. Quận Hoài Nhơn, 1969, một năm sau Tết Mậu Thân. Tôi nhận lệnh dẫn một nửa Đại đội 202 CTCT, từ Ba Gi (Qui Nhơn), đại bản doanh của Sư Đoàn 22BB, ra tăng phái cho Trung đoàn 40 –lúc ấy đóng tại Đệ Đức, trên đường Bồng Sơn và Tam Quan. Nửa đại đội được chia làm hai toán. Mỗi toán gồm trên dưới mười người do một chuẩn úy chỉ huy, hằng ngày, theo lịch trình, đi xuống các xã ấp thuộc quận, hoặc bằng xe dodge cơ hữu, hoặc thỉnh thoảng, vì lý do an ninh, bằng trực thăng của Sư đoàn I Không Kỵ (1st Cav) Hoa Kỳ, để làm công tác, một cách độc lập, nhưng đôi khi phối hợp với một toán Dân sự vụ Mỹ. Xuống những xã, ấp xa xôi, hai toán chúng tôi phải tự bảo vệ lấy, và vì thế được trang bị súng ống tương đối đầy đủ, và các toán viên thường là lính tác chiến lâu năm hoặc bị thương đổi về, có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ít khi phải nhờ đến sự trợ giúp của những đơn vị địa phương quân hay nghĩa quân.

Tôi nhớ buổi sáng hôm đó là ngày 25 tháng 12, đúng lễ Giáng Sinh. Chuẩn úy Hoàng, một trưởng toán, bị bệnh. Tôi phải đi thay, dẫn toán của anh đến ấp Vĩnh Phụng, xã Hoài Xuân –nằm dọc, cũng như những xã khác của quận Hoài Nhơn, trên hai bờ sông Lại. Không khí cuối năm vắng ngắt, đơn điệu, đến độ nhàm chán. Tại những vùng quê hẻo lánh Việt Nam thời ấy không có nhà thờ, không tổ chức mừng Giáng Sinh rầm rộ như dân thành thị, Sài Gòn, hay Nha Trang của tôi, chẳng hạn, dù có đạo hay không. Không có tiếng chuông giáo đường ngân nga, rộn rã. Không có, như bây giờ, cây sapin giăng đèn lấp lánh, và ông già Nô-En đứng trước cửa siêu thị, rung chuông leng keng, chúc lễ và phát quà cho trẻ em. Chỉ có một ngôi nhà thờ duy nhất tại thị trấn Bồng Sơn cho toàn quận Hoài Nhơn, và dân Công giáo, từ các xã ấp, phải lên đó để dự lễ mỗi sáng Chúa Nhật.

Chúng tôi đến Vĩnh Phụng làm công tác Dân sự vụ và Tâm lý chiến. Như thường lệ. Nghĩa là bắc loa kêu gọi dân trong ấp đến tập họp trên một khoảng đất trống, rộng, và chung quanh có bóng cây xanh mát, gần trụ sở ấp, rất an toàn. Tại đây, họ được y tá khám bệnh thông thường, phát thuốc tại chỗ, hoặc được xe của toán chở về bệnh xá Bồng Sơn trong trường hợp bệnh nặng, cấp cứu… Hay được nghe một toán viên nói chuyện, nhắc nhở: đề cao chính nghĩa quốc gia, kêu gọi đồng bào đừng bỏ xóm làng, “lên núi thoát ly” theo Việt Cộng, đừng “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” v.v... Các em nhỏ được phát kẹo bánh, tập vở, bút mực, và sau đó được tập bài quốc ca VNCH hay những bài hát quen thuộc, ví dụ, tôi nhớ, Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời... Việt Nam, nước tôi… hay Đây Bạch Đằng giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng…

Làm xong bấy nhiêu công việc thì đã hết buổi sáng. Tôi cho cả toán nghỉ ngơi, ăn trưa và tự do đi lại trong ấp, nhưng không quá xa, chờ đến giờ trở về Đệ Đức. Còn tôi và một vài anh lính trải poncho nằm trên cỏ, bên gốc cây, ngước nhìn ánh nắng lấp lánh chiếu qua vòm lá và nghe tiếng chim hót líu lo trên cành. Một số toán viên, còn trẻ, xin đi vào nhà dân, để thăm hỏi các cụ già và, tôi đoán, để nhân dịp, tán gẫu với các cô mơn mởn đào tơ, má hồng môi thắm tự nhiên. Thực vậy, theo cặp mắt cá nhân, chủ quan, của tôi, gái Bồng Sơn và Tam Quan nổi tiếng đẹp nhất vùng Bình Định, nếu không muốn nói cả Vùng II Chiến Thuật.


2. Tôi đang lim dim mắt, miên man suy nghĩ chuyện đời, và một anh lính đang nghêu ngao một bài vọng cổ, thì bỗng một tiếng mìn nổ vang, từ bờ ruộng, không xa chỗ tôi nằm bao nhiêu. Giật mình chồm dậy, chụp vội cây súng, và thấy một làn khói đen tỏa bay trong không gian. Nghe tiếng kêu la của vài em nhỏ hớt hải chạy về phía tôi:

Ông Thiếu úy ơi, có con nhỏ Út bị thương nằm kia kìa…

Cũng đoán biết được chuyện gì đã xảy ra, cả toán tất tả đi theo các em, về phía cánh đồng, súng cầm tay, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đến nơi, thấy nằm gục nửa dưới ruộng, nửa trên bờ, một bé gái, tức “con nhỏ Út”, độ tám, chín tuổi, cao và gầy đét như khúc củi, mình mẩy và mặt mày đầy máu, nhuộm đỏ cả chiếc áo cụt trắng. Mấy đứa trẻ mách:

Út ra ruộng sớm, mót lúa, đã đạp phải mìn gài sẵn.

Chưa biết của bên nào. Tôi thận trọng, đưa mắt quan sát hiện trường, xem có quả mìn hay lựu đạn nào chưa nổ, hay một tên du kích nào đang rình chờ chúng tôi.

Y tá Thám cúi xuống, cầm lấy tay Út bắt mạch, rồi đặt ống lên ngực nghe nhịp thở, tiêm một mũi thuốc không tên, mà anh nói để “cầm máu”, và cho uống hai viên aspirine để giảm đau, trong khi tôi choàng tay, cẩn thận, đỡ bé ngồi dậy. Người bé mềm nhũn, miệng rên nho nhỏ, liên tục. Vì trái mìn bẫy đặt ngược hướng, sợi dây kíp khá dài, và nổ khi Út đứng khá xa, nên thân thể còn nguyên vẹn, không nát bấy, chỉ bị ghim đầy những miểng sắt li ti. Gương mặt xinh xắn của bé, có vẻ già dặn trước tuổi, lúc ấy xanh như tàu lá, và cặp mắt lờ đờ ngước nhìn tôi. Thám quay sang, kín đáo khẽ lắc đầu, và tôi hiểu. Từ thân thể Út máu tiếp tục chảy từng giọt, chắc bé đau đớn lắm. Bé kêu khát. Tôi mở bi đông, đổ nước vào nắp, cho bé uống vài hớp nhỏ. Vừa suy tính rất nhanh. Tại các ấp, như Vĩnh Phụng, làm gì có trạm cấp cứu, nhân viên y tế, hay thuốc men. Chở đi Bồng Sơn không kịp nữa, vì bé đã yếu lắm rồi, lả người trong vòng tay tôi. Gọi máy PRC 25 về trung đoàn, buổi trưa, không gặp ai. Gọi thẳng Sư đoàn 1st Cav Mỹ xin trực thăng tải thương thì không biết tần số, và tốn thời gian lắm, lại sợ họ không tin mình. Không còn biết làm gì hơn, tôi dùng khăn ướt lau sơ máu trên mặt, trên tay của bé và cầu nguyện cho bé gắng gượng thêm độ nửa giờ nữa thôi –thời gian vừa đủ để xe chúng tôi chở kịp về tới Bồng Sơn.


Bỗng Út mở to mắt, nhìn thẳng vào tôi, ngơ ngác, như vừa tỉnh cơn mê từ một cõi nào rất xa xôi. Bé thều thào hỏi:

- Con qua nổi không chú?

Tôi liếc nhanh về phía y tá Thám, rồi gật đầu:

- Qua nổi chứ con! Nếu con hứa là con gượng thêm nửa giờ nữa...

Bé mở hé đôi môi, cố gắng mỉm cười khó khăn, lắc nhẹ đầu, và đáp khẽ:

- Không kịp đâu chú, con biết con không sống nổi, con mệt quá rồi. Khi nãy trong giấc mơ, con có gặp ba cô mặc áo trắng tinh, có hai cánh trên lưng, nói đang chờ để rước con đi...

Rồi Út tiếp, giọng rời rạc, càng lúc càng nhỏ dần, nhỏ dần:

- Chú ơi, con muốn được ôm, trước khi chết... con là đứa mồ côi, không cha không mẹ, không người thân thích... con ở đợ, mót lúa cho nhà người ta... không có ai thương con hết... con muốn được ôm, một lần này thôi...

Tôi bật khóc, ôm bé vào lòng, hôn lên trán, lên tóc bê bết máu, mà nước mắt tuôn rơi như mưa, chảy xuống ướt chiếc áo trận, hòa lẫn với máu của bé chưa khô. Vừa lúc ấy, trên cặp môi tím ngắt bé như cố nở một nụ cười mãn nguyện. Rồi ngoẹo đầu vào ngực tôi, bé làm động tác muốn giơ hai cánh tay lên, nhưng không đủ sức, lại bỏ xuống, và nửa giây sau, bé từ từ nhăm mắt, và trút hơi thở cuối cùng trong tay tôi. Tất cả diễn ra không đầy bốn phút, từ lúc gặp bé nằm ở bờ ruộng.

Tôi nhẹ nhàng buông xác bé xuống, đặt nằm ngay ngắn trong tấm poncho còn mới của tôi. Bé đã được liệm bằng poncho, giống như một người lính chiến thật sự. Giống như những đồng đội của tôi chết trận, mà tôi được chứng kiến, tại Ban Mê Thuột, Kontum, Phan Thiết... năm nào. Chung quanh, mọi người vẫn đứng yên, lặng thinh, mắt đỏ hoe, kể cả tốp lính địa phương quân vừa kịp đến để chứng kiến cảnh tượng thương tâm này. Tôi biết, cũng như tôi, những người lính, rất chai lì vì phải thường trực thách đố với cái chết cận kề, và định mệnh tàn nhẫn, không khóc dễ dàng. Nhưng trước thân xác gầy guộc, đẫm máu, của Út, một bé gái nạn nhân vô tội của chiến tranh khốc liệt, phi lý, cây cỏ cũng khóc theo, huống chi người. Khi tôi hỏi, mìn do ai gài, một anh địa phương quân nói lớn, có vẻ tức giận:

- Mìn của mấy thằng du kích Việt Cộng gài đó, ông thầy. Còn ai trồng khoai đất này. Sáng nay, tụi em chưa kịp đi gỡ thì con nhỏ Út ra ruộng sớm, đạp trúng. Tội nghiệp nó quá.

Tôi giao tấm poncho gói xác Út cho nhóm địa phương quân và moi tiền từ bốn túi quần, cộng với tiền gom góp của anh em tự nguyện trong toán, không đếm bao nhiêu, nhưng đoán khá bộn, đưa hết cho trung sĩ trưởng nhóm, và nói:

- Tôi nghe nói bé Út mồ côi, nghèo khổ, nên nhờ các anh mua cái hòm cho bé và làm phước, chôn cất tử tế giùm. Còn thiếu bao nhiêu các anh bù giúp cho.


3. Trên đường về lại Bồng Sơn, cả toán không ai nói với ai một lời nào. Giống như một lần trước đó không lâu, khi chúng tôi chở đến bệnh xá quận lỵ một bé trai mười tuổi từ một ấp, xã khác, gần hơn, đã đạp phải lựu đạn cũng của Việt Cộng –bị thương khá nặng, nhưng sống sót, vì được cứu kịp thời, chỉ phải cưa một chân. Tôi ngồi im, như tượng đá, và mắt vẫn còn cay sè. Đến Bồng Sơn, đi ngang nhà trọ của Thơ Thơ, tôi bảo tài xế dừng lại, chờ tôi mười phút. Nàng mở cửa, thấy quần áo tôi dính đầy máu, hoảng hốt kêu lên:

- Trời ơi, anh bị thương phải không?

Tôi lắc đầu, gượng mỉm cười. Nàng ôm tôi vào lòng, siết chặt, như sợ tôi biến thành mây bay đi, và tôi kể hết câu chuyện bé Út. Nàng vừa nghe vừa rơm rớm nước mắt. Rồi nghẹn ngào nói nhỏ:

- Tội nghiệp bé quá. Tối nay em sẽ thắp nhang khấn vái cho hồn bé được siêu thoát. Sau khi nghe chuyện này, em yêu anh quá, em yêu anh hơn, em yêu anh mãi mãi. Mãi mãi, anh biết không? Cái chết không bao giờ có thể chia lìa hai đứa chúng ta.



Hôm sau, Hoàng hết bệnh, tôi trả lại toán để anh dẫn xuống Vĩnh Phụng tiếp tục công tác thường nhật. Còn tôi, từ đó cho đến ngày rời bỏ Bồng Sơn trở về Bà Gi, tức hơn nửa năm sau, không bao giờ đặt chân lên ấp đó nữa, dù chỉ ghé qua một lần. Để tránh nhớ một trong những kỷ niệm thảm thương nhất, nếu không muốn nói một kỷ niệm thảm thương nhất, trong suốt đời lính. Sau ba tháng, tôi được lệnh của trung đoàn ngưng công tác tại quận Hoài Nhơn, và điều động cả hai toán ra Tam Quan –một quận lỵ nguy hiểm nhất của Bắc Bình Định.


4. Rồi qua bao nhiêu thăng trầm, trong suốt bốn mươi bảy năm kể từ Noël 1969 đó, tôi cố quên cái chết của bé Út, cũng như của Thơ Thơ –đã gục ngã trên đường di tản tháng 4 năm 1975, khi đoàn người chạy loạn bị Việt Cộng pháo kích. Cố quên và xem tất cả như một dĩ vãng tàn khốc và kỷ niệm thảm thương của chiến tranh, của một thời để yêu và một thời để chết. Cố quên, nhưng không thể được.


Đặc biệt bé Út. Quả thế, cứ mỗi cuối năm khi mùa Giáng Sinh tới, và cứ mỗi lần tôi giơ tay ôm hug ai, thì hình bóng tội nghiệp của bé bỗng dưng lại hiện về trong tâm trí, với thân xác đầy máu và thương tích, với vẻ mặt đau đớn tột cùng, với những lời trối trăng, đứt quãng, “con muốn được ôm... không ai thương con hết...” Hỡi ơi, buồn này biết đến kiếp nào mới nguôi? Bé hiện về như một ám ảnh dịu dàng, vời vợi. Như một linh hồn nhỏ mồ côi, trắng tinh như tờ giấy mới, lạc loài giữa trần ai quỷ ma ác độc. Như một quý nhân phù trợ mà hương linh lẻ loi còn mãi lẩn quất bên người, hơn cả chiêm bao, qua suốt nửa thế kỷ. Để cùng với Thơ Thơ –người rất yêu dấu bên dòng sông tương tư ngày nào– nắm tay tôi, dắt đi qua những phong ba của cuộc đời.

wild grass  
#112 Posted : Friday, December 29, 2017 12:35:13 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Cuối năm lại viết về
“Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” càng thương thêm thân phận người lính VNCH

Mường Giang




UserPostedImage






“Chiều buông xuống bầy dế mèn inh ỏi
Ánh đèn dầu sáng dưới mái tranh
Mẹ ngồi đan áo cho cha
Thầm thì lời cầu nguyện
Chữ A,B con đọc
Số Một, Hai con đếm
Đếm bao giờ cho tới
Ngày nghĩ phép cha về
Mùa đông đến áo mẹ đan xong
Mong cha sớm trở về
Mặc vào cho mẹ vui
Vất vã mẹ không nề
Hằng đêm bầy dế mèn vẫn gọi
Con đếm từng ngày mong đợi
Biết con học giỏi cha mừng
Biết mẹ đan áo cha vui
Chuyến hành quân gian khổ
Không giấy mực biên thư
Cha đành phải quên lời
Không hẹn kỳ trở lại
Hôm sau có người đến
trao mẹ một món quà
Tay run run nhận lấy
Nước mắt mẹ trào dâng
Con hồi họp muốn biết
Món quà nào cho Mẹ
Món quà nào cho con
Chú quân nhân nghiêm chỉnh
Con dại khờ không hiểu
Mẹ đau lòng ngả quỵ
Trên tay ôm lá cờ
Mãnh vải phủ thân người
Mẹ bảo đây là kỷ Vật quý nhất của con
Bây giờ con mới hiểu thứ gì quý nhất trên đời!!!

(Kỷ vật quý nhất – thơ Cát Trắng- Cựu HS TH Phan Bội Châu PT)”



Đêm buồn đọc lại thơ của Cát Trắng, khiến cho người lính già cảm động muốn khóc trước nỗi đau lòng của người vợ lính, thảm thê đã ngã quỵ khi nhận được tin chồng “tử trận”, mà kỷ vật còn lại là “Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đã phủ thây chàng”, chẳng khác gì “da ngựa bọc thây” người lính thú đời xưa. Mẹ bảo đây là Kỷ vật quý nhất của con và bây giờ con mới hiểu thứ gì quý nhất trên đời!!!

Trong suốt cuộc chiến VN kéo dài gần 20 năm (1955-1975), những ai đã từng là người dân trong vùng chiến nạn, xôi đậu, bị giặc chiếm hay là lính trận chiến đấu nơi sa trường, đồn nghĩa quân cheo leo miền biên tái, những biệt chính, biệt kích cảm tử hoạt động riêng rẽ và các quân nhân bị thất lạc trong lúc đụng trận, mới cảm nhận được “sự thiêng liêng của lá cờ vàng ba sọc đỏ và bản quốc ca hùng tráng, được thổi lên khi xung trận”.

Quốc kỳ của Quốc Dân VN (chứ không phải của VNCH hay bất kỳ cá nhân nào dù đó là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương..) như một ngọn đuốc, soi đường mở lối đấu tranh cho thanh niên nam nữ miền Nam trong suốt 20 năm đoạn trường máu lệ, vì đất nước bị cọng sản đệ tam xâm lăng cướp đoạt. Cũng nhờ Lá Quốc Kỳ, mà những người Việt lưu vong tị nạn khắp bốn phương trời, sau ngày mất nuớc 30-4-1975 đã ngồi lại với nhau để cùng sớt chia buồn vui vận nước. Đó mới chính “là cấp lãnh đạo tối cao nhất của Cộng Đồng VN Tị Nạn Hải Ngoại” hầu như từ truớc tới nay chưa có ai dám phản đối hay xúc phạm.

Có còn nhớ hay không những ngày tang tóc hỗn loạn của Tết Mậu Thân (1968), mùa hè đỏ lửa 1972 tại An Lộc (Bình Long), Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định.. Rồi những ngày thi hành cái gọi là hiệp định ngưng bắn vào tháng 1-1973 và sau rốt là 55 ngày cuối cùng của VNCH vào năm 1975, lá cờ lại đẳm thêm thịt xương, máu và nước mắt Lính trận và hàng triệu người dân Việt Miên Nam, trên khắp các nẻo đường trốn chạy sự truy sát có một không hai của bộ đội Bắc Việt.


Tại chiến trường, để treo được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ “ biểu tượng của quốc dân” lên Kỳ Đài Huế trong Tết Mậu Thân, trên ngọn Đồi Đồng Long (An Lộc), Tòa Hành Chánh Kon Tum và nhất là tại Cổ thành Đinh Công Tráng-Quảng Trị.. đã có không biết bao nhiêu sinh mạng của lính, trong mọi binh chủng từ NQ+DPQ, Bộ Binh, Biệt Động Quân, Biệt kích Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, đã hàng nối hàng gục ngã, trong quyết tâm làm thang cho đồng đội, tiếp nối hết lớp này tới đợt khác, mới đạt được thắng lợi cuối cùng.

Năm 1973, cọng sản Hà Nội qua đồng thuận của Mỹ, được công khai đóng quân trên lãnh thổ VNCH theo tinh thàn hiệp ước ngưng bắn. Chúng đã cố gắng treo dán khắp nơi từ cờ lớn tới cờ nhỏ, những lá cờ máu, khiến cho người lính VNCH, lại phải chịu nhiều thương vong, dễ bảo vệ xóm làng, dân chúng, không để mất vào tay cọng sản. Điều vinh hạnh nhất hiện nay tai hải ngoại, đối với những người lính già mang mọi cấp bậc, thành phần, giai cấp xã hội.. ai mà chẳng mơ ước được Cộng Đồng người Việt Quốc Gia và đồng đội, phủ cho mình một Lá Quốc Kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên nắp quan tài, trước khi vĩnh viễn bước vào cõi niết bàn thênh thênh không vướng bận.

Rồi những ngày cuối cùng của tháng tư đen 1975, hằng vạn người lính chết hay bị thương, vì đã ở lại để bảo vệ thủ đô, bến tàu, phi trường, xa lộ và những bãi đáp trực thăng, giúp Mỹ và hậu phương bạc bẽo, có cơ hội chạy.

Thử hỏi trong giờ thứ 25, tính sổ lại xem có bao nhiêu tướng lãnh đã bỏ chạy? Hay nói đúng hơn gần hết đã ở lại chiến đấu với đồng đội thuộc cấp, cho tới lúc tàn cuộc. Những danh tướng Lý Tòng Bá, Lê Minh Đảo, Trần Quang Khôi, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Tấn Nghĩa.. há không có phương tiện để trốn chạy ra tàu Mỹ hay sao? Nhưng họ là thanh niên thời đại, là kẻ sĩ nên coi trọng khí tiết làm tướng, hơn sinh mạng phù vân một đời.

Vì vậy biết ở lại sẽ bị giặc đày đọa lăng nhục tới chết nhưng vẫn chấp nhận hoàn cảnh. Cuối cùng, kẻ thì tự tử, còn người bị giam cầm nhiều chục năm nơi tận cùng biên tái, làm gương muôn đời cho hậu thế soi chung, vì hai chữ hy sinh cao quý ‘lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh’, được tất cả mọi người từ dân tới lính, thương mến trân trọng.

Hơn 80 năm qua, CSVN lúc nào cũng tìm đủ mọi cách để trương ngọn cờ máu trên lãnh thổ Hồng Lạc. Hiệp định Genève năm 1954 chia cắt VN thành hai miền riêng biệt tại vĩ tuyến 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới. Theo quy định, mỗi một miền được đặt hai đồn canh, dọc theo bờ sông giới tuyến: Đồn Hiền Lương và Cửa Tùng (Bắc Việt), Xuân Hòa và Cát Sơn (VNCH), cả hai phía đều có treo cờ hằng ngày. Và đó là nguyên nhân đã làm hai phía đổ máu nhiều lần vì ‘Lá Cờ’ được treo ở hai đầu cầu Hiền Lương.


Thời gian đầu thi hành Hiệp định (1954-1956) còn có sự hiện diện của các toán kiểm soát đình chiến, nên hai phía vẫn tôn trọng cở lá cờ được qui định 3,2x 4,8m. Nhưng từ sau năm 1956, phía VNCH bên đồn canh Xuân Hòa luôn thay đổi khổ lá cờ Vang ba Sọc Đỏ, theo lệnh của các đơn vị trưởng trấn đóng miền giới tuyến. Thế là trận giặc ‘Chọi Cờ’ bùng nổ hai bên bờ sông Bến Hải, mà phần thắng luôn về phía VNCH vì có đủ phương tiện và được tự do quyết định hơn phía CSBV. Theo các tài liệu còn lưu trữ cho biết suốt 20 năm chia cắt, cả hai phía đã thay đổi cở ‘ cờ ‘ tới 267 lần để ăn thua, trong đó nhiều lần cột cờ phía Bắc bị máy bay oanh tạc mà nặng nhất vào năm 1967, cả cột cờ, đồn canh và cầu Hiền Lương về phía CS bị bom đánh xập.


Có hiểu thấu những câu chuyện bên lề lịch sử, chúng ta mới thấy được tầm mức quan trọng và thiêng liêng của lá cờ. Cho nên không ai có thể muốn người khác phải theo ý mình “ đứng chung dưới một ngọn cờ “mà trong thâm tâm của họ, đã coi nó như là biểu tượng của một chế độ dã man, xấu xa bán nước như lá cờ máu đỏ sao vàng của Cộng Đảng VN.


Theo sử liệu, thì quốc hiệu VIỆT NAM chính thức xuất hiện vào niên lịch 1802 là năm mà Đức Gia Long Hoàng Đế, đã có công thống nhất được toàn cõi sơn hà từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 năm nội chiến triền miên, giữa các dòng họ Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn.

Thật ra từ thế kỷ thứ XIV, hai tiếng Việt Nam đã thấy xuất hiện trong nhiều tác phẩm lúc đó như “Nam Thế Chí của Hồ Tông Thốc, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, Du Địa Chí của Nguyễn Trải, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ Văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm..” Ngoài ra, các nhà khảo cồ sau này, còn tìm thấy nhiều bia đá có niên lịch ghi trước thế kỷ XVIII ở Bắc Việt. Trong tất cả các bia ký này, đều thấy có khắc hai chữ Việt Nam. Theo nhận xét của các học giả, sử gia hiện tại, thì hai chữ Việt-Nam lúc đó, mang chung ý nghĩa rất thiêng liêng, nhằm chỉ về một nước Việt ở Nam Phương. Để đối chọi với sự mai mỉa khinh nhờn của người Tàu phương Bắc, mà suốt dòng lịch sử, luôn coi VN như một quận huyện bản xứ, qua danh từ miệt thị ‘An Nam hay Giao Chỉ’. Thời Pháp thuộc, thực dân cũng sử dụng những danh từ hạ bạc của người Tàu trong quá khứ, mục đích cũng chỉ để làm nhục dân tộc VN mà thôi.

Theo Dự Am Thi Tập của Phan Huy Chú viết năm 1792, cho biết vào thời Quang Trung thứ 5 nhà Tây Sơn, đã ban chiếu đổi quốc hiệu An Nam thành Việt Nam. Tiếc thay triều đại trên quá ngắn ngũi, nên việc sử dung quốc hiệu VN cũng theo vận nước trôi vào quên lãng.

Riêng hai tiếng VN cũng đâu có khác gì thân phận của dân tộc Hồng-Lạc nhược tiểu, luôn bấp bênh trong dòng sinh mệnh lịch sử. Năm 1802 ngay khi thống nhất được đất nước, vua Gia Long đã cử Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đi sứ sang nhà Thanh, trả lai ấn phong của vua Quang Trung và xin nhận quốc hiệu cũ là Nam Việt.

Ta biết Nam Việt là quốc hiệu của VN thời nhà Triệu (207-111 trước tây lịch), có lãnh thổ rộng lớn, bao gồm Vân Nam, Lưỡng Quảng, Hải Nam, Bắc Việt và ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tỉnh phía bắc Trung Phần. Do đó, chừng nào vua Càn Long mới chịu chấp nhận. Bởi vậy cho tới năm Gia Long thứ 3 (1804), nhà Thanh mới sai Tế Bá Sâm, mang quốc ấn và chiếu phong vua Gia Long, đồng thời cũng chấp nhận quốc hiệu của nước ta vào thời nhà Nguyễn là Việt Nam thay vì Nam Việt. Tuy nhiên phải đợi tới cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hai tiếng VN mới được cả trong và ngoài nước, sử dụng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng và toàn bích.


1- Cờ Đỏ Sao Vàng Của Đảng CSVN:

Về lá quốc kỳ VN hiện tại, lại càng thêm phức tạp vì đang sử dụng hai lá cờ: Đảng cọng sản quốc tế đệ tam đang đô hộ VN, được Bắc Bộ Phủ tại Hà Nội, xài lá cờ máu đỏ sao vàng, nhái theo lá cờ của đảng cong sản Trung Hoa tỉnh Phúc Kiến. Ngoài ra Việt Cộng còn xài thêm lá cờ đảng giống cờ nước VN xã nghĩa có vẻ thêm búa liềm, theo nguyên mẫu lá cờ của Liên Bang Xô Viết cũ.

Căn cứ các nguồn sử liệu hiện tại, thì lá cờ máu trên được gọi là Hồng Kỳ (Cờ Đỏ), do Nguyễn Hửu Tiến đã vẽ và xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 11-1940. Tuy nhiên Lá Cờ Đảng đã xài từ sau ngày 20-7-1954 tới nay, đã khác với Kỳ Hiệu của Phong Trào Việt Minh, vì các cạnh của Ngôi Sao Vàng không còn là đường cong, mà đã trở thành đường thẳng, y chang Cờ Liên Xô và Trung Cộng

Tổng hợp các tài liệu viết về phong trào đầu tiên của Cộng Sản Tàu tại Huyện Phúc Châu (Fuzhou) tỉnh Phúc Kiến, vào năm 1934, đã tìm thấy Lá Cờ Đỏ Sao Vàng, mà CSVN đang sử dụng làm quốc kỳ từ đó đến nay. Ngoài ra Đảng còn xài thêm Lá Cờ Búa Liềm, đã sao chép của Liên Xô. Đây là những lá cờ của ngoại bang đem về, nên làm sao có thể bắt buộc mọi người phải tôn trọng, trừ phi họ bị áp buộc và khủng bố.



2- Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ:


Quốc dân VN thì chính thức sử dụng lá cờ màu vàng ba sọc đỏ, xuất hiện từ ngày 2-6-1948 cho tới tháng 7-1954. Sau đó, dù đất nước bị chia đôi nhưng chính phủ VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17, từ Đồng Hà-Quảng Trị, vào tới Mũi Cà Mâu, vẫn tiếp tục sử dụng quốc kỳ của quốc dân VN. Kể từ ngày 1-5-1975, tuy đất nước VN bị cọng sản quốc tế đô hộ nhưng cũng từ đó, trên khắp mọi nẻo đường hải ngoại, hơn ba triệu ngươì Việt tị nan cọng sản, vẫn theo truyền thống của ông cha, trân quý và chấp nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, như một biểu tượng của Tổ Quốc và Dân Tộc VN.

Tại Úc và nhất là Hoa Kỳ, hai quốc gia tự do có nhiều người Việt tị nạn định cư, sau bao chục năm đấu tranh liên tục, nên đã đạt được ý nguyện, thỉnh cầu chính quyền sở tại, công nhận ‘Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ’ của VN, như là một biểu tượng tinh thần cao quý nhất của Cộng Đồng VN tị nạn. Sự kiện mới đầy, chính quyền tại Tiểu Bang California (Hoa Kỳ), ban hành quyết định công nhận Lá Quốc Kỳ VN Hải Ngoại, là một chiến thắng lớn của người Việt, trên đường đấu tranh quang phục đất nước.

Về nguồn gốc của Lá Cờ, căn cứ theo tác phẩm ‘Quốc Kỳ Việt Nam’ của tác giả Quốc Duy Nguyễn Văn An, thì quốc kỳ VN được khởi đầu từ sáng kiến của Phan Thanh Giản. Năm 1863 khi làm Chánh sứ hướng dẫn phái đoàn đi sứ sang Pháp, để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Phần: Gia Định, Biên Hòa và Định Tường, đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm vào năm 1862. Khi tàu vào tới hải cảng, Pháp yêu cầu phái bộ VN treo quốc kỳ, để họ tổ chức bắn súng đại bác chào đón theo nghi cách ngoại giao quốc tế. Vì không chuẩn bị trước, nên Phan Thanh Giản phải lấy tạm chiếc khăn lụa màu vàng và dùng son đỏ viết trên đỏ bốn đại tự ‘Đại Nam Khâm Sứ’. Cũng từ đó, lá cờ trên đã trở thành Cờ Long Tỉnh, tượng trưng cho Triều Đình Nhà Nguyễn, với lãnh thổ còn lại gồm Bắc và Trung Phần.

Ngày 16-4-1945, học giả Trần Trọng Kim được Quốc Trưởng Bảo Đại, ủy nhiệm lập Chính Phủ với nội các gồm 10 Bộ Trưởng. Ngày 2-6-1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim quyết định chọn quốc kỳ mới cho VN. Đó là lá cờ nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ Ly (–-)trong kinh Dịch. Ngày 30-6-1945, Ông lại chọn bài Đăng Đàn Cung làm Quốc Thiều.

Tháng 2-1946, D’Argenlieu được cử làm Cao Ủy Đông Dương, mục đích tái lập lại sự đô hộ trên ba nước Việt-Miên-Lào, mà Pháp đã bị quân phiệt Nhật đánh đuổi khỏi vùng vào ngày 3-9-1945. Để tiến tới ý đồ bất lương trên, thực dân mưu toan nhiều lần tách hẳn Nam Kỳ của VN, để nhập vào lãnh thổ Pháp, đồng thời cai trị Bắc và Trung Phần như trước tháng 3-1945. Tuy nhiên âm mưu xảo trá và nguy hiểm của giặc, lần lượt bị quốc dân VN phát hiện và chống trả, khiến cho các chính phủ Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, cũng lần lượt sụp đổ theo ý đồ thâu tóm đất đai của người Việt.

Ngày 8-10-1947, Nguyễn văn Xuân làm Thủ Tướng và lập nội các mới, trong đó Trần Văn Ân được cử làm Thứ Trưởng Thông Tin. Trong giai đoạn này, hầu như tất cả các vị trí thức yêu nước cũng như những đảng phái quốc gia, đều cực lực chống lại chiêu bài chia cắt Nam Phần thành một miền tự trị thuộc Pháp.

Nương theo lòng dân lúc đó, cụ Trần Văn Ân qua tư cách của một chính khách kiêm Thứ Trưởng Chính Phủ, đã đề nghị Thủ Tướng Xuân, sử dụng danh xưng ‘Nam Phần VN’, để thay thế cái gọi là ‘Nam Kỳ Cộng Hòa Tự Trị’, mà Pháp và bọn Việt Gian lúc đó đã ngụy xưng một cách trơ trẽn. Ngoài ra ông cũng đã chọn Quốc Ca – Quốc Kỳ cho cả nước.

Vào thời điểm 1948, lúc đó trên lãnh thổ VN đang sử dụng năm lá cờ khác nhau: Ba lá của ba kỳ Bắc-Nam-Trung, một của đạo Cao Đài và lá thứ năm của Phật Giao Hòa Hảo.

Trong thành phần Ủy Ban chọn Quốc Ca và Quốc Kỳ cho Quốc Gia VN độc lập, lúc đó có Nguyễn Hữu Thiều là chủ tịch, cùng các đại diện Đổ Quang Giai (Miền Bắc), Trần Văn Lý (Miền Trung), Nguyễn Văn Xuân (Miền Nam) cùng hai đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Cuộc triển lãm năm mẫu cờ tại Phòng Khánh Tiết Sài Gòn. Cuối cùng Uỷ Ban đã quyết định chọn Lá Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ, làm Quốc Kỷ của Quốc Dân và Quốc Gia VN.

Sự kiện lịch sử trên, về sau được Cựu Hoàng cũng là cựu Quốc Trưởng Bảo Đại, đề cập tới trong tác phẩm ‘ Con Rồng Việt Nam (Le Dragon D’Annam)’, xuất bản năm 1990. Ngày 5-6-1949, trên chiến hạm Duguay Trovin, bỏ neo trong vịnh Hạ Long. Lúc đó trên tàu có sự hiện diện của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân, Cao Uỷ Pháp tại Đông Dương là Emile Bollaert đại diện nước Pháp, thừa nhận nền độc lập của VN, mà quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ như chúng ta hiện tại đang trân quý trên khắp mọi nẻo đường lưu vong hải ngoại và cả trong hồn tim của triệu triệu người VN trong nước đang sống nơi xã nghĩa thiên đàng.

Cho nên Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ có một ý nghĩ khác biệt với Lá Cờ Máu của Cọng Sản VN, vì nó không phải là của riêng bất cứ ai, từ Bảo Dại tới Nguyễn Văn Xuân, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương hay Dương Văn Minh. Trong khi đó lá cờ máu sao vàng, từ hình thức tới nội dung là tài sản riêng của đệ tam cọng sản quốc tế, của Liên Xô, Trung Cộng và Việt Cộng. Đó cũng là lý do thiêng liêng mà người Việt qua mọi giai đoạn lịch sử, từ trong nước cho tới cuộc sống lưu vong, vẫn quyết tâm gìn giữ và đấu tranh để quốc tế công nhân, dù hiện nay ngươi Việt quốc gia không có lãnh thổ, từ sau ngày 30-4-1975, quốc hận, gia vong, đổi đời, súc vật lên làm chánh quyền, cai trị cả nước.


Lá quốc kỳ VN là biểu tượng cao quý nhất trong linh hồn người Việt. Tháng 7-1954 hơn hai triệu người đất Bắc và các tỉnh miền Trung bên kia vĩ tuyến 17 vì công nhận lá cờ vàng ba sọc đó của quốc dân, nên cắt ruột gạt nước mắt, bỏ xứ vào Nam tìm tự do dưới bóng lá quốc kỳ màu vàng. Ngày 30-4-1975 người Việt lại bỏ nước ra đi vì không sống nổi đưới lá cờ máu của đảng cọng sản, cho tới ngày nay, lập trường chính trị vẫn không hề thay đổi.

Lá Cờ của quốc dân VN hiện tại, nền màu vàng, hình chữ nhật bề ngang bằng 2/3 chiều dài. Trên nền vàng, ở phần giữa là ba sọc đỏ có kích thước bằng nhau. Màu vàng của lá cờ tượng trưng cho dân tộc VN, trong cộng đồng các dân tộc Châu Á da vàng. Màu đỏ tượng trưng cho sự đấu tranh gian khổ, đẫm đầy huyết hận, nước mắt đoanh tròng, trong suốt chiều dài của lịch sử chống ngăn ngoại xâm. Riêng Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba phần của đất nước VN.

Lúc đó, chính ký giả Nguyễn Kiên Giang (tên thật Lý Thanh Cần ), giữ chức Giám Đốc Phòng Báo Chí thời Thủ Tướng Xuân. Ông là người được chính phủ giao phó thực hiện lá quốc kỳ. Song song Thủ Tướng Xuân còn chấp nhận bài hát ‘ Thanh Niên Hành khúc ‘ của Lưu Hữu Phước sáng tác làm Quốc Ca, vì lúc đó đương sự cũng như hằng triệu triệu thanh niên nam nữ VN yêu nước, đang dấn thân đấu tranh chống thực dân Pháp, trong hàng ngũ Việt Minh.. nên tim-óc, chữ nghĩa, chỉ hướng về hồn nước, hồn người. Đó cũng là lý do mà Chính phủ VNCH khi trước và Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại hiện nay, không thay đổi bài hát nào khác, dù bài ‘ VN-VN của Phạm Duy, rất được nhiều người ưa thích nên đề nghị dùng nó để thay thế bài hát của họ Lưu.


Cũng liên quan tới Lịch sử Lá Quốc Kỳ, trong tác phẩm ‘Việt Nam Nhân Chứng’, cựu tướng Trần Văn Đôn đã viết là, chính ông ta và tướng Lê Văn Kim, là tác giả đã đề nghị thực hiện quốc kỳ và quốc ca VN hiện tại. Nhưng sự xác nhận trên, chẳng những bị cụ Trần Văn Ân là nhân chứng, tác giả cờ và quốc ca, cực lực phản đối, mà còn bị nhiều người gạt bỏ không tin là sự thật. Bởi vào năm 1948, Trần văn Đôn cũng như Lê Văn Kim.. chỉ là sĩ quan cấp nhỏ trong quân đội Pháp, thì chừng nào mới tới phiên được mời vào phòng hội, để nghị sự một vấn đề trong đại của quốc gia lúc đó, chỉ có Nguyên Thủ, các cấp Bộ Trưởng, Thủ Hiến ba kỳ và lãnh đạo cao cấp của của các giáo phái.. mới được mời họp với ý kiến và quyết định.


Gần hai trăm năm trước (1858), vua Tự Đức nhà Nguyễn vì thiển cận, không chịu nghe theo lời canh tân đất nước của các sĩ phu trí thức thời đó như Nguyễn Trường Tộ, Đinh văn Điền, Bùi Viện.. mà cứ chạy theo ôm chân người Tàu lúc đó cũng lạc hậu yếu hèn, nên rốt cục dân tộc phải bị thực dân Pháp đô hộ đày đọa gần 100 năm tủi nhục thương đau. Ngày nay Việt Cộng cũng đã bước vào lối mòn năm cũ, đã và đang ôm chân Tàu đỏ lẩn Tàu trắng một cách tận tuyệt, để có một chỗ dựa an toàn cho đảng sinh tồn. Rồi tháng lại ngày qua làm ngơ nhắm mắt, mặc kệ cho đồng bào cả nước càng lúc càng lầm than đói rách, qua cái vỏ phát triển tiến bộ, được sơn phết và tuyên truyền, khiến cho bất cứ ai còn một chút hơi hám của con người, thấy ngó cũng phải đau lòng cho vận nước, chỉ vì một gã Hồ Chí Minh trôi sông lạc chợ, đã làm cho non sông gấm vóc phải tan hoang, không biết đến bao giờ mới được quang phục.


Bốn mươi hai năm rồi, Việt Cộng vẫn là Việt Cộng dù ngày nay hình người có thay đổi từ quần áo vải thô sang lụa tơ gấm nhiễu. Tất cả vẫn nguyên vết như cái thuở hồng hoang mới rời hang Pắc Pó, rừng Bắc Sơn hay chui ra trong các hang Củ Chi, Vĩnh Mốc. Vẩn đảng cọng sản là trên hết, còn nước thì nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cả nước, đều là tài sản của đảng, của cán bộ nên cứ ngang nhiên xén bán, cầm thế, mà không cần biết tới hậu quả di hại cho con cháu mai sau.


Tám mươi lăm năm qua, người Việt đã trăm lần hòa hợp, hòa giải, hòa bình với cọng sản nhưng trăm lần như một, lần nào cũng bị chúng xảo quyệt, lường gạt, đâm sau lưng, mà lần cuối cùng đau đớn nhất là ngày 30-4-1975. Cho nên bốn mươi hai năm qua, kể cả trẻ con cũng không còn ai tin vào sự hứa hẹn của cọng sản, trừ cây cột đèn không nói được…



Chừng nào CSVN còn nắm giữ quyền hành và súng đạn trong tay, ngày đó đừng hòng chúng san sẽ hay nhượng bộ bất cứ ai, nhất là giai đoạn đảng đang sống sướng trên núi bạc rừng vàng, lại được cả Tàu và Mỹ chống lưng, còn nhân quyên, tự do dân chủ, chủ quyền đất nước, sinh mạng người dân..Tất cả coi như là cỏ rác.



Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối năm 2017
Mường Giang

hongvulannhi  
#113 Posted : Friday, December 29, 2017 6:25:00 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,492

Thanks: 2038 times
Was thanked: 4506 time(s) in 2815 post(s)

UserPostedImage

Chúc wild grass & gia đình Năm Mới tràn đầy Phúc lộc, an bình và Vui, Khỏe

HONG VU LAN NHI


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 12/31/2017(UTC)
wild grass  
#114 Posted : Sunday, December 31, 2017 1:58:08 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



100 năm trước, điều Kỳ-diệu xảy ra trong đêm Giáng Sinh đất người –
50 năm trước, điều dã-man xảy ra tại đêm Tết Mậu Thân đất Việt ta!

Ts. Phan Văn Song




UserPostedImage


Hưu chiến đêm Noël 1914 tại chiến hào Pháp Đức
Tàn sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế Việt Nam
Hai cuộc chiến, Hai ngày lễ.
Hai văn hóa! Hai văn minh!




1/ 100 năm trước, Giáng Sanh 24 tháng 12, 1914, văn hóa người:

Nhơn dịp hôm nay là ngày 27 tháng 12, 2017, sau lễ Giáng sanh 3 ngày, người viết chúng tôi xin được chia sẻ cùng quý thân hữu vài suy nghĩ về sự kiện nầy, tuy đã xảy ra vào dịp Noël, ở đất người trong một cuộc chiến được xem là đẩm máu nhứt của lịch sử của Âu châu. Sở dĩ ngày 27 vì chúng tôi muốn kỷ niệm ngày 27 tháng 12 năm 1914, cách đây trên 100 năm, hiện tượng hiếm có đó, được những tờ báo của Anh và Mỹ đưa tin. Tờ The Daily Telegraph cho đăng một bài viết vào ngày 27 tháng 12 năm 1914, về việc quân đội Đức và liên quân Anh-Pháp, đối mặt tàn sát nhau, vừa ngày hôm trước, lại tự động đồng lòng ngưng bắn, cùng nhau hưu chiến, chẳng những đêm 24 tháng 12 năm 1914, đêm thánh thiện Giáng Sanh, rồi cả ngày 25 ngày Noël nữa, rồi cùng nhau ca hát, trao đổi quà tặng, bánh sô cô la và thuốc lá. Tờ New York Times cũng đưa cái tin của cái đêm giao thừa và ngày Noël năm ấy. Sau đó, các tờ báo của Anh như Mirror hay Sketch cuối cùng cũng đăng ảnh về những chiến sĩ đứng lẫn với nhau trên chiến tuyến ở trên trang nhứt tạp chí của mình..

Hiện tượng hy hữu nầy, xảy ra tại những chiến hào, ngay tại một điểm nóng giằng co ác liệt giữa liên quân Anh–Pháp và quân đội Đức, nơi người ta không thể biết được liệu ngày mai mình còn sống hay không, câu hỏi bao giờ được về nhà như hòn đá ném xuống vực sâu không hồi đáp, ở nơi đó, liệu có thể có phép màu? Thế nhưng cuộc sống luôn có chỗ cho những điều kỳ diệu. Vào đêm Noël năm 1914, sau nhiều ngày giao tranh dữ dội giữa giá rét của mùa đông phương Bắc. Bất chấp những làn bom rơi, đạn nổ, những tiếng gào thét thê lương, những thân người đổ gục vô hồn… đêm Giáng Sanh vẫn phải được tưởng nhớ và chào đón. Binh lính của ba nước âm thầm tổ chức lễ Noel ngay dưới chiến hào của mình. Không có gà tây, không có bếp hồng hay món tráng miệng ngọt lịm, không cả lời chúc tụng mà chỉ có những lời cầu nguyện cho sự yên bình và sự sống.

Đêm Giáng Sanh 24 tháng 12 năm 1914, giữa sự tịch mịch hiếm hoi của địa ngục trần gian, nơi diễn ra trận chiến khốc liệt của Thế chiến I, một tiếng hát vút lên không gian, và tiếp theo sau đó là một trang sử sáng ngời giữa lịch sử tối tăm của chiến tranh đã được viết nên.

Một binh sĩ người Đức, Nikolaus Sprink, vốn là một nam ca sĩ opera tài danh bị triệu tập đi lính, bỗng cất tiếng hát vang «Đêm Thánh Vô cùng – O Silent Night-Holly Night…» giữa chiến trường. Và bắt đầu, một thời khắc đi vào lịch sử. Và trong đêm tịch mịch đó, Silent Night-Holly Night – bài hát Giáng sanh nổi tiếng nhất mọi thời đại, từ phía chiến hào của người Đức, cất lên văng vẳng, cao vút. Người Anh và người Pháp ngừng cụng ly và xì xầm, không gian và thời gian như bất động. Như được đánh thức sau cơn mê, một viên sĩ quan binh đoàn Scotland của quân đội Hoàng gia Anh bất ngờ chộp lấy cây kèn túi-cornemuse, thổi lên điệu nhạc du dương hòa cùng giọng ca bên kia chiến tuyến. Nikolaus vốn chỉ đang trổ chút tài nghệ phục vụ những đồng đội của mình, ngỡ ngàng trước màn hồi đáp đầy chất thơ, đã hứng khởi quên cả hiểm nguy, bước ra khỏi chiến hào, tay cầm cành thông vừa đi vừa hát bất chấp sự can ngăn của vị chỉ huy. Bài ca vừa dứt, anh lập tức nhận được những tràng pháo tay vang dội của những người lính từ… cả hai chiến hào.

Đó là một phần nội dung của bộ phim «Joyeux Noel» do Pháp sản xuất với sự hợp tác của Anh, Đức. Bộ phim từng nhận được đề cử cho giải Phim nước ngoài xuất sắc nhất tại Oscar 2006, Quả cầu vàng, BAFTA 2006… Đó không phải chỉ là một bộ phim lấy đề tài chiến tranh. Mà nó dựa trên một sự kiện hoàn toàn có thật trong Thế chiến I.

Và trong suốt hơn 100 năm sau, sự kiện này đã được xem như là một phép lạ, giây phút đình chiến hiếm hoi trong cuộc chiến từng cướp đi sanh mạng của hơn 15 triệu người.

Người ta cũng ghi nhận thêm rằng, qua sáng ngày 25 tháng 12, ở một số đoạn trên chiến hào, lính Đức đã bước lên và hô to “Chúc mừng Giáng Sanh” bằng tiếng Anh. Binh sĩ đồng minh cũng thận trọng tiến ra chào đón họ. Người Đức nhanh chóng giơ tay ra hiệu “Bạn không bắn, chúng tôi cũng không bắn”. Binh sĩ hai bên trao đổi những quà tặng như thuốc lá, thực phẩm và mũ. Đồng thời họ có thời gian yên bình để chôn cất những những đồng đội thiệt mạng trong nhiều tuần trước đó của mình. Ở một nơi sanh tử không có giới hạn, đến một nấm mồ tươm tất và một buổi lễ tiễn đưa ấm áp không thể diễn ra trọn vẹn, thì khoảng thời gian đình chiến hiếm hoi đó, chính là dịp, để người ta dành cho những người đã khuất những điều ý nghĩa cuối cùng.


2/ 50 năm trước, Tết Mậu Thân, 30 tháng giêng 1968, văn hóa thú:



UserPostedImage



Sự kiện Quân đội Việt Cộng thảm sát dân lành ở Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968, đến năm nay, với Tết Mậu Tuất 2018, tròn trèn đã 50 năm.


Như quý thân hữu và đọc giả đã thấy như trên vào dịp lễ Giáng Sanh xứ người 100 năm trước, hai phe thù địch ngưng chiến cùng nhau hát thánh ca, trao đổi lời chúc tụng và tặng quà kỷ niệm nhau, trên chiến tuyến cạnh những địa đạo chiến hào. Trái lại với lễ Tết xứ ta, 50 năm trước, mặc dù đã hẹn nhau giữ truyền thống quê hương là mọi sanh hoạt xã hội phải ngưng lại, huống chi là chiến tranh, nên phải hưu chiến trong ba ngày linh thiêng của dân tộc là ba ngày Tết cổ truyền thờ cúng tổ tiên, thăm viếng sum họp gia đình. Lại thêm «Trong những ngày trước cuộc tấn công, quân đồng minh nới lỏng phòng thủ. Phe Bắc Việt (cũng) tuyên bố ngưng chiến vài dịp Tết (Mậu Thân) từ ngày 27 tháng giếng đến ngày 3 tháng hai 1968» – (Wikipédia en français «L’offensive du Tết … Dans les jours précédant l’offensive, les alliés se relâchent. Le Nord-Viêt Nam annonce une trêve pour le Têt, soit du 27 janvier au 3 février 1968)


Sự Kiện:

Đúng nửa đêm ngày 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968, thừa quân đội đồng minh và đặc biệt quân cán chánh của Việt Nam Cộng Hòa được nghỉ phép về gia đình «ăn Tết» ; quân đội Cộng sản Bắc Việt và quân Việt Cộng ẩn nấp ở miền Nam Việt Nam cùng lúc tấn công bất thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên toàn lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa – trong đó có Sài gòn và Huế. Với một tổng số vào khoảng 84,000 quân cộng sản Bắc Việt cùng với hàng ngàn du kích địa phương nằm vùng, đồng loạt nổi dậy, tiền pháo binh và súng cối, hậu xung, tấn công các phi trường, các cơ sở quân sự quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng 64 khu quân sự các thành phố là làng xã.

Sau các thành công quân sự ban đầu, họ bị quân dân cán chánh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa áp đảo và đẩy lui khắp nơi, trừ Huế. Trong mọi tình huống, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng với các đơn vị địa phương quân và cảnh sát tử thủ đã đẩy lui liên quân cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng. Trừ Huế, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa tuy ở thế bị động, hoàn toàn phòng thủ, nhưng dưới quyền chỉ huy của Tướng Ngô Quang Trưởng, nên vẫn giữ vững được phòng tuyến. Thế nhưng một phần lớn thành phố vẫn bị chiếm bởi quân Việt Cộng. Cuộc chiến dằn co đẩm máu suốt 28 ngày. Theo thống kê đồng minh Mỹ-Việt, quân Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng nằm vùng đã bỏ lại khoảng trên dưới 5,000 cán binh vừa chết, vừa bị thương, chỉ độ 100 tên bị bắt hay đầu hàng thôi. Phía đồng minh 216 tử thương, 1,609 bị thương, riêng quân lực Việt Nam Cộng Hòa 421 quân nhơn đã hy sanh vì Tổ quốc, 2,123 bị thương và 31 người mất tích.
Trái lại, trên 5,800 thường dân vừa thiệt mạng và bị thương, 116,000 mất nhà mất cửa mất cả tài sản trên tổng số dân Huế là 140,000 người
Và … Sau khi thành phố vừa lấy lại, người ta tìm thấy những hố chôn tập thể với 2,00 xác chết. (Nguồn Wikipédia Pháp)


Số liệu về các hố chôn tập thể:



UserPostedImage



Trong những tháng và những năm tiếp theo, bắt đầu từ ngày 31 tháng 1 năm 1968, và kéo dài tổng cộng 26 ngày, hàng chục ngôi mộ tập thể được phát hiện trong và xung quanh Huế. Nạn nhơn bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em và trẻ sơ sinh.

Theo Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên, trong 22 địa điểm tìm được các mồ chôn tập thể, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau Tết, các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, đưa ra danh sách 4,062 nạn nhân được họ xác định là đã bị bắt cóc hoặc bị giết. Theo các báo cáo của Việt Nam Cộng Hòa, nhiều thi thể được tìm thấy ở tư thế bị trói buộc, bị tra tấn và có khi bị chôn sống. (Wikipédia Việt Ngữ)


Tại sao thành phố Huế? Vì chiến lược?:


Ở thành phố ngày diễn ra trận chiến dài và đẩm máu nhứt của cuộc Tấn công Việt Cộng ngày Tết Mậu Thân 1968.


Thành phố Huế, nằm ngang đường quốc lộ 1, nằm 1,2 cây số cách biển Đông và 100 cây số phía Nam giới tuyến Bắc (vĩ tuyến 17) của Việt Nam Cộng Hòa. Huế là thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên, là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam Cộng Hòa, với 140,000 cư dân.Và Huế cũng là cố đô của triều đình Nhà Nguyễn, là trung tâm văn hóa của miền Trung của toàn đất nước…


Cho mãi đến năm 1968, Huế vẫn là nơi được xem là khá an toàn, dù là nằm trên một trục lộ thông thương Nam Bắc. Huế thật sự được chia làm hai thành phố bổ trí theo Sông Hương cắt theo hướng Đông-Nam Tây-Bắc 2/3 dân chúng sống ở phía bờ Bắc của Sông Hương, (Hữu ngạn– theo cái nhìn Á đông – từ cửa biển lên nguồn – Âu Mỹ nhìn từ nguồn xuống biển) bao bọc ngoài và trong Cổ Thành, với các vườn xưa, chùa xưa, hố đào, nhà cửa xưa, và, với cạnh sát bờ thành, là phu phố cổ Gia Hội, chằnh chịt nhà xưa, ngỏ hẹp.


Phía bờ Nam Sông Hương (Tả ngạn), bên kia cầu Nguyễn Hoàng, là thành phố mới, thành phố Tây, với một diện tích 50% nhỏ hơn Cổ Thành, và với 1/3 cư dân còn lại. Ở đấy, gồm có nhà thương, nhà giam, nhà thờ Thiên chúa giáo La mã – Phú cam, và những cơ quan công quyền với những địa ốc tân thời như Tòa Lãnh sự Mỹ, Viện Đại học, và nhiều cư xá các viên chức…


Bộ tham mưu sư đoàn 1 của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đóng ở mạn Đông Bắc Cổ Thành Huế, với những công sự chiến đấu nhưng phần đông được bố trí dọc theo quốc lộ 1 về hướng Quảng Trị. Đơn vị gần nhứt Huế là Trung đoàn 3 với ba tiểu đoàn nằm cách Huế khoảng 4 cây số mạn Tây Bắc. Đơn vị duy nhứt có mặt trong thành phố là một Đại đội «Hắc Báo», gồm các binh sĩ thiện chiến, chuyên ngành thám sát hay phản chiến trả đủa nhanh chóng. Riêng phần an ninh thành phố thuộc quyền của Cảnh sát quốc gia.

Hiện diện của Huê kỳ và quân đội Mỹ, khi cuộc chiến bắt đầu, chỉ với sự có mặt của 200 quân nhơn của thuộc cơ quan cố vấn MACV gồm 200 quân nhơn của lục quân US Army và thủy quân lục chiến USMC Huê kỳ, vài sĩ quan (cố vấn) Úc, và vài sĩ quan cố vấn cạnh sư đoàn 1 Việt Nam. Tất cả đang «ăn Tết» tại một doanh trại, được trang bị chiến đấu sơ sài – légèrement fortifié nằm phía Đông của thành phố mới bờ Nam Sông Hương, cách cầu Nguyển Hoàng một khu phố.

Tả dông dài để nói rõ, cái nhẹ dạ của Liên quân Mỹ-Việt miền Nam Việt Nam, do quá «gentlemen Âu Mỹ», quá «quân tử Á đông», tin tưởng rằng Hà nội tôn trọng hưu chiến, nhưng tập tục Á đông tôn trọng ngày giờ tháng linh thiêng tuyền thống đã được tôn trọng từ bao năm nay; (cũng do tuyên bố của phe Bắc Việt ngưng chiến vài dịp Tết (Mậu Thân) từ ngày 27 tháng giếng đến ngày 3 tháng hai 1968) nên đã bị văn hóa Cộng Sản chủ nghĩa Vô Thần-Vô Gia Đình-Vô Tổ quốc bịp!

Trái lại, Bộ chánh trị Đảng và công an Cộng Sản đã sửa soạn sẳn một danh sách dài những nhơn vật – mục tiêu cần phải thanh toán ngay từ những giờ đầu của cuộc tấn công. Những sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã đành; những nhơn vật, nhơn sự hành chánh chánh trị, thôi cũng đành nhưng đàng nầy lại thêm tất cả những thường dân có quốc tịch Huê kỳ hay quốc tịch khác, ngoại nhơn, ngoại kiều hay người Việt làm việc với ngoại kiều, dù người hay dù cơ sở. Sau khi bắt, phải đem ngay ra khỏi thành phố trừng trị giết hoặc thủ tiêu, vì có tội với nhơn dân Việt Nam… Thảm sát do đó Huế bắt đầu.

Thời điểm cuộc tấn công cũng đã nghiên cứu rất kỹ, nhờ lệnh ngưng bắn, quân lực liên quân Mỹ Việt sẽ lơ là, nhiều quân nhơn Việt Nam đi phép về thăm nhà… và thời tiết, mùa mưa vẫn còn sót ở miền Trung sẽ giảm cường độ hoạt động của Không Quân Mỹ Việt. Do đó khi, quân Cộng Sản bắt đầu tấn công, một nửa quân lực Việt Nam Cộng Hòa đang nghỉ phép, quân phòng thủ lo phòng ngoại biên hơn phòng giữ trung tâm các thành phố. Lúc Huế bị tấn công, chỉ có một Đại đội Hắc Báo đang giữ đường sân bay, nằm ở Đông Bắc Cổ Thành. Do đó Cổ Thành bị tràn ngập ngay!


Vài câu chuyện, vài nhơn chứng:

Từ Chuyện Ta: Nguyễn Công Minh, con gái của phó Quận trưởng quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào thời điểm đó, nói rằng cha cô, sắp về hưu, đã bị bắt tại nhà riêng khởi đầu cuộc tấn công. Sau khi ông nói với quân Giải phóng rằng ông là Phó Thị trưởng thành phố Huế sẽ được cho nghỉ hưu trong năm sau (1969), ông được lệnh phải trình diện ở khu cải tạo. Hai ngày đầu, ông được cho về nhà sau khi đến khai báo, đến ngày thứ 3 thì ông được yêu cầu đóng gói quần áo và thực phẩm để tới khu trại trong 10 ngày. Ông không bao giờ được nhìn thấy một lần nữa, cũng không tìm được hài cốt của ông. Cô kể lại rằng vào mùa hè năm 1969, khi tìm kiếm thi thể của cha cô (việc tìm kiếm do một người Cộng sản trình diện chiêu hồi chỉ dẫn), cô đã chứng kiến 7 thi thể trong một ngôi mộ đã được tìm thấy. Nguyễn Công Minh ước tính khoảng 250 thi thể được tìm thấy trong 1 tháng tìm kiếm trong 8 hố chôn tập thể.

Đến Chuyện Tây: Ba giáo sư, Giáo sư Horst-Günther Krainick, bác sĩ Alois Alteköster, và Tiến sĩ Raimund Discher, người giảng dạy tại Đại học Y Khoa Huế, là thành viên Đại sứ Văn hóa CHLB Đức, cùng với bà Horst-Günther Krainick, đã bị bắt giữ bởi quân Giải phóng trong cuộc tấn công Huế của họ vào tháng 2 năm 1968. Ngày 5 Tháng Tư năm 1968, các bộ phận thi thể của giáo sư cùng với nhiều người dân Việt Nam đã được phát hiện trong ngôi mộ tập thể gần Huế.

Một số soạn giả và phóng viên như Stephen Hosmer (Viet Cong Repression and Its Implications for the Future, 1970); Peter Braestrup (phóng viên, viết cuốn Big Story, 1977); Barbara Tuchman (viết cuốn The March of Folly, 1984); Loren Baritz (Backfire, 1985) và Uwe Siemon-Netto (Springer Foreign News Service) tất cả đều cho rằng quân Cộng Sản thực hiện một cuộc tàn sát. Siemon-Netto cho rằng những thi thể bị trói tay là chứng minh họ không chết vì bom mìn mà đã bị bắn với mục đích thủ tiêu chứ không phải vì lạc đạn.


3/ Kết luận:

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là một thất bại lớn của Việt Cộng và quân đội Cộng sản Bắc Việt.

Thắng thua không còn tánh thời sự của bài viết nầy của chúng tôi! 50 năm hồi tưởng lại để nhắc lại người dân Việt Nam, dù là người tỵ nạn Cộng Sản hiện nay ở yên phận ở hải ngoại, hay dù là người còn sống trong nước… hãy cùng nhau đốt một nén hương tưởng nhớ các nạn nhơn của cuộc thảm sát Huế tháng giêng năm 1968, và các nạn nhợn của toàn cuộc chiến Chống cộng giữ vững Miền Nam trong vòng trên 20 năm.

Bài học đáng ghi. Khỏi cần nói nhiều chỉ so sánh hai cái hiện tượng:

Noël 1914, ngưng bắn trên chiến hào, để cụng ly hát mừng Thiên Chúa ra đời, dù là ba quốc gia, ba quốc tịch khác nhau không đồng ngôn ngữ – Pháp Anh Đức!

Tết 1968, Cộng Sản Bắc Việt bịp dân quân Nam Việt nhẹ dạ, ngưng bắn, để tấn công, dễ dàng tàn sát, cắt đầu, mổ bụng, chôn sống, tuy dù là đồng hương, tuy dù là đồng ngôn ngữ – Việt Nam.



Hồi Nhơn Sơn, 29 tháng 12 2017 nhớ về 27 tháng 12, 1914
Ts. Phan Văn Song




wild grass  
#115 Posted : Thursday, January 4, 2018 12:55:38 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)



Câu chuyện ...
phá hoại tuyến đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt

Phan Ba
December 31.12.2017




UserPostedImage




Do địa hình phức tạp, người Pháp đã phải cần đến 25 năm để xây dựng tuyến đường sắt răng cưa đặc biệt từ Phan Rang lên đến Đà Lạt, tiêu tốn mất 200 triệu đồng Franc Pháp. Thế nhưng sau năm 1954, tuyến đường sắt răng cưa độc đáo này nhiều lần đã là mục tiêu tấn công của MTDTGP. Việt Cộng đã đặt mìn tự nổ khi tàu chạy ngang qua chừng tám lần. Qua phá hoại, một chiếc đầu tàu đã trật đường ray, trong một lần khác, mìn nổ đã tạo ra một hố to cho tới mức đầu tàu đã sụp vào trong hố đó và không chạy được nữa.

Năm 1967, một nhóm bốn người có vũ trang chận đoàn tàu chở hàng lại trên đoạn Da Tho (Le Bosquet) và Cầu Đất (Entrerays). Nhóm điều hành đầu tàu bốn người bị bắt mang vào khu rừng gần đó. Tại lần này, tổ lái tàu chỉ bị hỏi cung. Hai tuần sau đó, cũng chiếc đầu tàu đó và cũng cùng tổ lái tàu đó đã bị cũng nhóm bốn người đó chặn lại ở giữa tuyến Cà Bơ (K’Beu) và Ei Gió (Bellevue). Lần này tổ lái cũng phải rời khỏi đoàn tàu và phải cung cấp thông tin bằng cách nào có thể phá hủy đầu tàu một cách hiệu quả nhất. Ý tưởng đầu tiên của nhóm du kích là muốn cho nổ ở nơi đốt lò. Nhưng người lái tàu đã có thể giải thích cho họ hiểu rằng cho nổ lò hơi trong lúc không có thời gian kịp chạy ra đến một khoảng cách an toàn là một hành động tự sát. Người lái tàu đề nghị cho nổ những thùng dầu được gắn thêm trên tàu, nhưng lại đánh lừa bốn người du kích bằng cách chỉ vào một thùng đựng nước. Do vậy, sau vụ nổ và sau khi nhóm du kích đó rút đi, người lái tàu với máy liên lạc vô tuyến đã có thể gọi một đầu máy khác cộng với quân đội VNCH tháp tùng bảo vệ đi đến nơi mà mang chiếc đầu tàu hư hỏng nhẹ này về đến Đà Lạt.



UserPostedImage




Sau sáu tháng sửa chữa, một tổ lái khác đã lái đoàn tàu từ Đà Lạt về Sông Pha và lần này thì đầu máy 40-302 đã chạy trên một quả mìn có sức nổ mạnh cho tới mức lò hơi của đầu máy đã nổ tung. Ba thợ đốt lò Hữu, Bích và Ngọc bị phỏng nặng và chết ngay tại chỗ. Người lái tàu tên An bị sức nổ hất văng lên một cành cây. Ông thoát chết, “chỉ” bị gãy tay.

Đầu tàu 40-302 bị phá hủy hoàn toàn, sau đó được kéo về Cầu Đất. Tuyến đường sắt răng cưa độc đáo ngưng hoạt động sau đó.



UserPostedImage




Sau năm 1975, trong lúc thiếu vật liệu để tái xây dựng đường sắt Thống Nhất, đường ray đặc biệt của tuyến đường sắt răng cưa cũng bị tháo dỡ nhằm lấy vật liệu mặc dù không phù hợp. Được chế tạo đặc biệt cho các yêu cầu cao của đường sắt leo núi, ngay từ bu lông đến đai ốc cũng đã khác với vật liệu thông thường rồi. Sau đó chúng bị trộm cắp và mang đi bán sắt vụn.



UserPostedImage



Rồi đến năm 1990, toàn bộ các đầu máy xe lửa răng cưa hay những gì còn sót lại từ chúng được bán phế liệu về cho Thụy Sĩ (là nước đã sản xuất ra các đầu máy này), chấm dứt mọi hy vọng mỏng manh tái thiết tuyến đường sắt vốn là một kỳ công kỹ thuật độc đáo của người Pháp để lại. Hai chiếc đầu tàu sau đó đã được người Thụy Sĩ phục hồi và bây giờ vẫn hoạt động đều đặn trên tuyến đường sắt răng cưa leo núi tại Thụy Sĩ (Furka-Bergstrecke).


Tấn bi kịch về công trình kỹ thuật độc đáo của người Pháp ở Việt Nam này là điển hình cho sự phá hoại miền Nam vì ngu dốt và thiển cận!



Nguồn tham khảo:

http://www.dieselcrew.ch/web/vn/vn.html
http://www.vnafmamn.com/tracing_shangrila.html
https://www.dfb.ch/index.php?id=erleben&L=0

wild grass  
#116 Posted : Friday, January 12, 2018 2:12:00 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 249

Thanks: 18 times
Was thanked: 86 time(s) in 74 post(s)


Tâm tình nhớ Hoàng Sa

Nguyễn Lộc Yên, Ngày 11-1-2018



UserPostedImage

Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 - Cali Today News –


Mỗi năm đến ngày 19 tháng Giêng thì người Việt hải ngoại và người Việt trong nước dù ở miền Nam hay miền Bắc đều cảm phục, tưởng nhớ đến “Hải Chiến Hoàng Sa”. Nơi đấy, Quân nhân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã can trường giữ đảo và biển Đông, đã oanh liệt hy sinh. Sắp đến ngày tưởng nhớ trận “Hải Chiến Hoàng Sa” năm nay là năm thứ 44 (2018-1974). Từ đấy, tôi xin viết bài này là để thắp nén tâm hương đến người đồng đội đã xả thân vì nước.



Tôi xin khẳng định: “Chiến sĩ VNCH son sắt giữ Hoàng Sa”. Vì sao, vì so sánh về tương quan lực lượng thì Hải quân của Trung cộng quân số đông đảo và sử dụng vũ khí hiện đại để xâm lược. Dù vậy, Hải quân VNCH đã giáng cho quân xâm lược 4 tàu bị tan tác, 18 quân Tàu tử thương. Về phía Hải quân VNCH có 74 chiến sĩ đã hy sinh, Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 bị trúng đạn ở phòng máy và phòng chỉ huy. Hạm trưởng Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà và hạm phó đại úy Nguyễn Thành Trí đều bị thương. Biết tình trạng chiếc tàu không thể cứu vãn, Hạm trưởng lo lắng cho sinh mạng của đồng đội nên ra lệnh cho thủy thủ đoàn dùng bè thoát nạn vì đang nguy ngập. Anh em Hải quân lại tha thiết Hạm trưởng cùng rời tàu nhưng Hạm trưởng vẫn sắt son ở lại tuẫn tiết theo tàu, nêu cao tinh thần “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm”.


Sự hy sinh anh dũng của thiếu tá Ngụy Văn Thà như sự hy sinh oanh liệt của anh hùng Trần Bình Trọng, Lê Lai… Thế mà, có hai đại tướng giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Cộng sản Việt Nam (CSVN) mà Bộ Quốc phòng là cơ quan có nhiệm vụ quân sự, chỉ huy Quân đội và bảo vệ Tổ quốc. Hai đại tướng này lại nhục nhã quỵ lụy quân xâm lược Tàu, đấy là:

1- “Đại hèn tướng Lê Đức Anh” vào năm 1988 giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Lê Mã Lương đã tiết lộ: “Kẻ thủ phạm tiếp tay cho quân Tàu cộng đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam, chính là đồng chí lãnh đạo cấp cao”. Trước khi xảy ra trận Hải chiến Trường Sa ngày 14-3-1988, quân đội Việt Nam đã nhận lệnh oái oăm: “Không được nổ súng trong trường hợp Trung Quốc đánh chiếm Gạc Ma hay bất kỳ một đảo nào ở Trường Sa”. Phẫn nộ trước hành động bán nước! Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã đập bàn chất vấn: “Ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?” Thế là, Nguyễn Cơ Thạch bị thiên triều Bắc Kinh ra lệnh Đảng CSVN cách chức Bộ trưởng Ngoại giao.

Quân xâm lược Tàu cướp được đảo Gạc Ma, đã xây sân bay quân sự trên đảo này để uy hiếp toàn bộ khu vực miền Nam Việt Nam. Tài liệu còn tiết lộ: “Đại hèn tướng Lê Đức Anh đã đi đêm với Trung cộng, đưa đến Hội Nghị Thành Đô năm 1990”, từ đấy Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn vào Trung cộng!.


2- “Đại hèn tướng Phùng Quang Thanh” trong lúc giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam thì giàn khoan HD 981 của Trung cộng xâm phạm lãnh hải của Việt Nam từ ngày 1-5-2014, Đồng bào Việt Nam đã quyết liệt biểu tình phản đối, có người cương quyết tự thiêu để phản đối quân xâm lược. Thế mà, vào trưa ngày 31-5-2014 tại Hội nghị Đối thoại Shangri-La ở Singapore, đại hèn tướng Thanh đã trơ trẽn phát biểu: “Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau, còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi”. Đến ngày 29-12-2014, đại hèn tướng Thanh còn trơ tráo phát biểu rằng: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.

Hai đại hèn tướng này đúng là thứ ăn lương của Đồng bào Việt Nam lại làm quan cho Tàu?! Tư cách của hai Đại hèn tướng này, nếu tôi dùng từ hạ cấp để chỉ về họ thì tự mình cảm thấy thèn thẹn vì dùng từ thiếu lịch sự. Dù vậy, với tư cách của họ chính xác chỉ có: “Hai đại hèn tướng mặt người dạ thú!” Tôi xin lỗi độc giả, vì tôi đã dùng từ thiếu lịch sự trong bài viết này! Vì sao nói vậy, vì họ đã mang lon đại tướng, giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng CSVN nhưng họ không đủ tư cách để so sánh với thiếu tá Ngụy Văn Thà và 73 chiến sĩ Hải quân VNCH đã oanh liệt hy sinh tại đảo Hoàng sa.

Qua trận Hải chiến Hoàng Sa, xác định chắc chắn rằng: “Chiến sĩ VNCH dù tử nhưng danh bất tử”, Vì sao, vì tên tuổi của các Chiến sĩ đã hy sinh trận “Hải Chiến Hoàng Sa”, người Việt tri ân muôn thuở và trận “Hải Chiến Hoàng Sa” đã, đang và sẽ xác định hùng hồn rằng đảo Hoàng Sa rõ ràng là của Việt Nam, chính Trung cộng là kẻ xâm lược đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
Kính phục các anh hùng “Vị quốc vong thân”, tôi xin thắp nén tâm hương bằng mấy vần thơ:

Bảy tư Chiến sĩ, nhớ nhung tâm!
Gìn giữ Hoàng Sa, há ngại ngần
Tử tiết trung trinh, danh bất tử
Ngụy Văn Thà, Tổ quốc tri ân!


Tôi không muốn “bới bèo ra bọ” nhưng chính công hàm của ông Phạm Văn Đồng với sự đồng lõa của ông Hồ Chí Minh đã dẫn dụ Trung cộng độc chiếm biển Đông, mời xem video clip bằng tiếng Việt của đài phát thanh Trung Cộng, ở cước chú (*), nội dung video clip này Trung cộng công nhận trước kia quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, kể từ khi có công hàm bỉ ổi của thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng thì quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là của Trung cộng???!
Ngoài ra, xin hỏi ai là thủ phạm đã gây cho người Việt ở tại đất nước Việt của mình lại sợ sệt người Tàu???!

.
Từ đấy, tôi xót xa cảm tác bài thơ “Tâm tình nhớ Hoàng Sa” là để thắp nén tâm hương dâng anh linh các Chiến sĩ VNCH đã xả thân vì nước và tâm tình với bà con mình vận nước đang tối tăm:

Nỗi trăn trở tồn vong nước Việt
Tiền nhân ta, tha thiết núi sông
Máu xương ngăn giặc, chất chồng!
Lo toan, mong mỏi Lạc Hồng quang vinh?!

Giặc Tàu lại rập rình xâm chiếm?!
Năm bảy tư, hải chiến Hoàng sa
Việt Nam, Quân đội Quốc gia
Giữ gìn biển đảo, xông pha hào hùng

Trang sử Việt, nấu nung tiết nghĩa(* *)
Gương Tiền nhân chan chứa can trường
Hoàng Sa, quyết chẳng nhịn nhường?!
Giao tranh ác liệt, trùng dương mịt mù!

Lòng son sắt, diệt thù báo quốc
Dạ trung trinh, trừ giặc an dân
Vẹn toàn trách nhiệm quân nhân
Bảy tư Chiến sĩ xả thân nước nhà!

Giặc Tàu lại điêu ngoa ngạo ngược
Vẽ lưỡi bò để nuốt biển Đông?!
Mưu mô chiếm biển mênh mông!
Sân bay bồi đắp, chúng hòng xâm lăng?!

Ngừa Đại Hán hung hăng, cay nghiệt?!
Mỹ-Nhật-Phi liên kết ngự phòng
“Công hàm bán nước” nhục không?!
Phạm Văn Đồng hỡi, biển Đông mất còn???!(*)

Ngư dân Việt căm hờn “tàu lạ”?!
Ngại khó khăn đánh cá xa bờ!
Giặc Tàu gian trá sờ sờ?!
Do đâu, Việt cộng “giương cờ sáu sao”?!!!

Chống Bắc thuộc, Đồng bào khẩn thiết
Cứu quê hương, đoàn kết đứng lên
Đập tan xiềng xích bạo quyền
Ngăn ngừa xâm lược, mới yên nước nhà?!


Users browsing this topic
Guest (2)
6 Pages«<456
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.