Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

6 Pages«<456
Options
View
Go to last post Go to first unread
wild grass  
#101 Posted : Thursday, November 9, 2017 11:32:26 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 229

Thanks: 14 times
Was thanked: 72 time(s) in 64 post(s)


Ngày cuối cùng ở Dakto - 27/4/1972

Trang Y Hạ



UserPostedImage





Xã Tri Đạo những ngày không yên tĩnh.

Đoàn công tác Tâm-Lý-Chiến chúng tôi đang công tác tại xã Tri lễ trên Tỉnh lộ 512 cách phi trường Phụng hoàng - Dakto 2, chừng 3 cây số thì được lệnh rút về xã Tri đạo (Gần Võ định) trước Tết Âm lịch 1972, 10 ngày. Xin nói rõ là: Từ Kontum theo QL 14 lên Võ định - Tri đạo - Kontranglangloi - Konhnong - Konhring - Diên bình - Tân Cảnh. Đoạn đường dài khoảng 46 cây số. Từ Tân cảnh đi tiếp cũng theo QL 14 lên quận Dakto 12 cây số. Từ Tân cảnh quẹo trái vào Tỉnh lộ 512 lên dốc cao ngang qua Trung đoàn 42 - Phi trường Phụng hoàng hay còn goi là Dakto 2. Đi tiếp đến xã Tri lễ, cầu Dakmót vào tiền đồn Ben hét hay còn gọi là đồn Bạch hổ 20 cây số. Nơi đây là ngã ba biên giới,gần đường mòn Hồ chí Minh. Con đường huyết mạch của Cộng quân.

Khi đoàn chúng tôi về xã Tri đạo thì đã có lực lượng Pháo binh và Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 Dù, lập công sự phòng thủ tại cầu Tri đạo rất kiên cố. Tri đạo là một xã Dinh điền thành lập năm 1957, dân số khoảng 3000 người đa phần ở Quảng tín, Quảng nam và Bình định gồm 3 thôn, nhưng thôn 3 Bình định bỏ đi nơi khác từ năm 1965 do Cộng quân tấn công Dakto, chiếm Tri đạo cắt đứt QL 14 trong thời gian gần 2 tháng. Chúng tôi cùng với ông Xã trưởng. Đơn vị Nghĩa quân, Nhân dân Tự vệ cùng người dân trong xã canh giữ, đề phòng Cộng quân ban đêm xâm nhập vào xã quấy phá... Hơn hết là dựa vào sự yểm trợ của đơn vị lính Dù. Không khí chiến tranh bao trùm rừng núi, tiếng gầm thét của pháo binh, của máy bay suốt ngày đêm, Tri đạo không bao giờ yên tĩnh!

Tết Âm lịch cổ truyền đến! Người dân trong xã vẫn đón Tết trong không khí tưng bừng! Bánh,trái,vui chơi như: Múa lân, bài chòi, văn nghệ cây nhà lá vườn trong ba ngày Xuân. Tổ chức "Cây mùa Xuân chiến sĩ " Xã mua một con bò, còn người dân ai có gì góp nấy: Bánh tét, bánh ú, mứt, trà, thuốc, rượu...Gồm hai bao tạ vắt hai bên hông con bò! Ông Xã trưởng và các vị thân hào, chức sắc mặc áo dài khăn đóng cùng chúng tôi, dẫn con bò chở hai bao quà bánh ra Bộ chỉ huy Lữ đoàn dù " Mừng xuân chúc Tết "! Thể hiện tình Quân - Dân...Tội nghiệp các anh, đời lính xa nhà. Nhìn món quà Xuân... ngồ ngộ! Sau những cái bắt tay, đôi mắt các anh người nào cũng đỏ hoe!

Tình hình chiến sự ngày càng xấu đi, khi căn cứ Charlie sau một thời gian cầm cự... Ngày 14.4.1972 đã thất thủ! Tin anh Nguyễn Văn Đương và Nguyễn Đình Bảo cùng những người lính Dù tử trận! Mọi người ai cũng buồn, lo lắng và có ý định di chuyển về Kontum. Rồi tin từ Dakto và Tân cảnh bị Cộng quân pháo kích, nỗi sợ càng tăng thêm vì người ta quá biết - chỉ có một con đường QL 14 độc đạo nếu bị chặn là chịu chết!


Lần về thăm nhà định mệnh.

Chiều ngaỳ 24.4.1972. Lúc 4 giờ chiều, tôi có mặt tại nhà Cha mẹ tôi ở Diên bình. Cha tôi nói: "Tụi nó pháo kích vào Trung đoàn 42 mấy ngày nay, còn sáng nay cha ra sau vườn thấy một toán lính nó bảo; "Cụ vào nhà đi, đêm nay và ngày mai đừng ra ngoài"! Cha không biết lính của ai? Hay mấy chú Nghĩa quân đi gài mìn cũng không biết nữa! Cha tôi đem ra hai xị rượu thuốc bày ra trên nền sân tráng Ciment. Cha tôi nói: Uống chút với cha, ba bốn tháng nay con với về. Nhớ đêm nay xuống đồn mà ngủ, đừng ở lại nhà, cha linh cảm có chuyện chẳng lành... Khi uống xong ly rượu cuối cùng, tôi và cha tôi đếm đi đếm lại cây bông hồng trước sân - cây bông nở vừa đúng 24 cái!

7 giờ tối, tôi có mặt tại đồn Nghĩa quân Diên bình bên dòng sông hiền hòa vì mùa khô cạn nước. Tôi gặp lại những bạn bè đi phép về thăm gia đình, tối đến thường ra đồn ngủ cho an toàn, nếu có chiến sự thì chiến đấu luôn. Diên bình đến Tân cảnh 6 cây số. Nên tiếng đạn pháo từ Tân cảnh dội về nghe rất rõ. Trung đoàn 42 - Tân Cảnh bị Cộng quân tấn công! Ánh lửa sáng rực một góc trời... Tất cả mọi người đều yên lặng để theo dõi tin tức qua máy truyền tin PRC 25. Người âm thoại viên nói: "Em không liên lạc được với Chi khu Dakto" Trung tá Lò Văn Bảo, Quận trưởng quận Dakto.

Người hùng của Chi khu tiền đồn heo hút giờ nầy ra sao? Cũng không biết, tôi thật sự lo lắng! Với tôi Trung tá Bảo -ngoài một số công tác, còn có một chút kỷ niệm. Đó là, một lần trong quán ăn tại Tân cảnh, các anh BĐQ tại Ben hét tưởng lầm tôi giống ai đấy... nên đến " Mượn" súng của tôi đem về đồn. Tôi trình bày sự việc với Trung tá Bảo. Ông cười chẳng nói gì. Vậy mà hai ngày sau ông gọi tôi lên. Ông nói: "Súng chú em ở trong hộc bàn"! Sau này tôi làm Tổ trưởng phòng phiếu đơn vị Ben hét 2 lần các anh nhận ra và bắt tay xin lỗi - cười xòa! Đêm nay, trong cái đồn Nghĩa quân nhỏ bé bên dòng sông, hầu như không một ai nói đến chuyện đi ngủ.

Càng về sáng tiếng nổ càng ít dần và các đám cháy vẫn còn nghi ngút khói... Nhưng có một điều chúng tôi không hiểu là tại sao không có chiếc máy bay B52 nào đến bỏ bom? Cũng không có máy bay phản lực nào bay đến oanh kích...? Chín giờ sáng anh em chúng tôi vẫn còn ở trong đồn, chưa dám về nhà, bởi không thấy ai từ Tân cảnh chạy về báo tin sống chết như thế nào. Thì có một bà mẹ gìa đến báo: Cộng quân chặn đường ngay đầu thôn 1 - không thể đi xuống làng Konhring được nữa!


Dồn lực mở đường.

Lực lượng gồm có: 1 Trung đội Nghĩa quân; 10 CB/XDNT; 20 Nhân dân Tự vệ Ấp; lính về phép 10 người. Vũ khí gồm có: Súng cá nhân M 16, Carbine, 2 Trung liên, 2 súng phóng lựu M79 và lựu đạn. Là dân địa phương nên rành địa hình, chúng tôi cho người mò về thám thính và được biết phía sau những vườn chuối gần xóm nhà cha tôi chạy dài ra sông Dakpsi, Cộng quân bố trí nhiều ụ súng phòng không và những cột truyền tin, đào hầm hố có vẻ bám giữ lâu dài. Về quân số có thể là cấp Tiểu đoàn hoặc Trung đoàn. Chúng giữ dân trong nhà bắt xuống hầm trú ẩn nên chúng tôi đành chịu...Tuy nhiên chúng tôi cũng tổ chức tấn công áp sát và khiêu chiến đến 2 giờ chiều nhưng không hiệu quả. Cộng quân vẫn án binh, thỉnh thoảng mới bắn ra nếu chúng tôi đến gần. Đành rút về sân vận động giữa thôn nghỉ ngơi - chúng tôi có ba người bị thương nhẹ.


Di tản bằng đường vòng...

3 giờ chiều ngày 25.4.1972. Anh em chúng tôi thấy lính Trung đoàn 42 đi xuống, đến sân vận động gặp chúng tôi. Người Thiếu tá đi đầu nói: "Trung đoàn thất thủ trong đêm hôm qua, anh em còn lại phải về Kontum gấp, các anh có đi theo không?" Tôi nói: "Cộng quân chặn đường, chúng tôi cố mở từ sáng đến giờ nhưng không được..." Người Thiếu tá nói: Chúng ta đi bọc. Địa hình thôn 1- lưng dựa dòng sông Dakpsi, trước mặt là đồng ruộng mênh mông chen lẫn những gò mối và đồi cỏ thấp. Do đó chúng tôi băng ruộng đi bọc xuống Konhring. Tôi ước tính lính Trung đoàn còn lại chừng 200 người. Súng cá nhân còn đủ, 3 xe M 113 chở người bị thương và vũ khí đạn. Trên nét mặt mọi người không hốt hoảng, nhưng đăm chiêu mệt mỏi, không ai nói với ai lời nào, cứ âm thầm mà đi. Từ Diên bình xuống Làng Konhring khoảng 3 cây số.( Sau nầy nghe nói toán quân về được Kontum) Tôi đi vào Làng Konhring lúc này đã hơn 4 giờ chiều nhưng bầu trời còn sáng tỏ. Sở dĩ tôi không theo đoàn quân vì tôi nán lại chờ tin tức cha mẹ và các em tôi.


Đêm Konhring - Thức trắng!

5 giờ chiều. Tôi vẫn đứng như trời trồng tại ngã ba Konhring, trong lòng ngỗn ngang trăm mối... nếu đêm nay trở lại tìm người thân chắc chắn sẽ bị bắt, còn không thì sáng mai buộc phải về Kontum mà nghe trong lòng tan nát! Bỗng dưng như một phép lạ! Đoàn người dân từ Tân cảnh, Diên bình, Dakrao...ào ào kéo xuống... Người khỏe cõng người bị thương; phụ nữ bồng bế con thơ mặt mày thất sắc; người già tựa vào người trẻ lê thê, lết thết đi trong bóng chiều như những hồn ma...! (Tôi nhìn thấy có Cha Carat Linh mục thừa sai Paris, Chánh xứ họ đạo Diên bình và một ít lính Trung đoàn 42) Tôi gặp đứa em gái thứ 6 của tôi trong đoàn người. Nó còn quá nhỏ nên tôi chẳng biết gì hơn ngoài những giọt nước mắt tuôn rơi!

Làng Konhring nhỏ xíu, số người di tản quá đông,người ta nằm la liệt trong nhà thờ, trong Bệnh viện do các nữ tu quản lý. Họ cứu chữa những người bị thương, lo ăn uống. Tiếng kêu khóc! Cha mẹ, vợ chồng, anh em, con nít lạc nhau trong lúc chạy hoặc còn kẹt lại ở nhà. Nỗi lo lắng là đêm nay cộng quân pháo kích hoặc đến bắt đi vào rừng. Bởi bây giờ lính Trung đoàn 42 tan rã, không còn ai nữa bảo vệ dân...!!

11 giờ đêm. Hàng loạt tiếng nổ long trời từ hướng Diên bình và sông Dakpsi, có những tiếng nổ sát làng Konhring đinh tai điếc óc... tiếng dội của bom chấn động dữ dội mọi người bụm hai tai, điếng hồn. Tiếng kêu khóc hoảng loạn chạy ra khỏi nhà thờ, Bệnh viện bởi tiếng rung chuyển từ mặt đất. Sau 10 phút trôi qua mọi người ngơ ngẩn sờ nhau như những hồn ma tìm về dương thế...! Tôi và những người lính thì không lạ gì tiếng bom của máy bay B 52. Nhưng ngạc nhiên là tại sao đêm hôm trước không thấy B52 thả bom cứu Trung đoàn 42. Sau đó B52 còn bỏ thêm đợt nữa nhưng xa hơn.( Sau 1975 VC tuyên truyền rằng: Mỹ bỏ bom giết dân tại làng Konhring...) Thật là hồ đồ hết biết! Không có người dân nào chết, chỉ sợ và hoảng loạn thôi. Chính Trung đoàn Cộng quân chốt chặn tại Diên bình có thể bị tổn thất do trận dội bom B52 đó. Bằng chứng là sáng ngày hôm sau 26.4, những người dân do chúng giữ đều chạy xuống Konhring được hết, không thấy ai ngăn cản.

Đêm nay ở Konhring mọi người đều thức trắng!


Đi vào rừng tìm Tự do.

Konhring - 5 giờ sáng ngày 26.4.1972. dân chúng vội vã chuẩn bị lên đường về Thị xã Kontum. Cha xứ Carat người Pháp - chánh xứ Diên bình dẫn đầu đoàn con chiên ngang nhiên đi trên QL 14, khi vừa đến khúc quanh làng Konhnong. Thì gặp Cộng quân chốt chặng ở đó đón lỏng ( Làng konhring cách làng Komhnong 3 cây số) Cha cố Carat bị bắt! Dân chúng nhất là các chị, các bà xúm nhau khóc lóc, quỳ lạy, năn nỉ... xin đừng có bắt ông Cha - nhưng Cộng quân không chịu và còn giữ luôn họ vì tội chạy theo "Mỹ - Ngụy" Tốp phía sau nghe tin dữ vội vã tháo chạy ngược về lại Konhring thông báo: Cộng quân chặn đường ở làng Konhnong! Như vậy là trước sau đều thọ địch. Không oan gia mà lại gặp ngõ hẹp...! Nghe tin như sét đánh ngang tai tôi bàng hoàng... như vậy chỉ còn một cách là băng rừng.

8 giờ sáng đoàn người kéo nhau vào rừng. Tôi nấn ná ở lại chờ xem trên Diên bình có còn ai xuống để hỏi thăm tin tức gia đình. Thấy không còn hy vọng, tôi dắt đứa em quay đi, thì tôi nghe một người đi ngang qua và nói: "Hình như tôi có thấy người nhà của anh đang đi xuống" Gặp lại Mẹ các em gái và đứa cháu 4 tháng tuổi. Cha tôi bị Cộng quân bắt vào rừng (Sau này có người cho biết ông nhớ vợ con nên trốn về nhà tìm và bị bắn chết trên đám đất của ông. Người con đỡ đầu nhận ra Cha tôi và đã chôn ông. Anh cũng bị bắt làm tù binh, sau năm 1975 đi Cải tạo 6 năm. Hiện định cư tại Hoa Kỳ) Từ làng Konhring xuống Tri đạo khoảng 20 cây số. Nhưng đi đường rừng thì vô cùng nguy hiểm.

Tôi đi sau nên không biết những người đi trước đi theo ngã nào. Nhóm còn lại sau cùng theo tôi có 2 Sĩ quan Trung đoàn 42, 15 thành viên gia đình người Thượng, một số người kinh và gia đình tôi tổng cộng 31 người. Không có bản đồ và địa bàn, cũng may là tôi sống ở vùng này nhiều năm và am hiểu địa hình. Tôi không dám đi theo đường mòn - đường mòn dễ bị Cộng quân chặn bắt. Tôi nhắm hướng đồi Charlie đi vào nhằm tránh chốt chặn tại làng Konhnong, dặn mọi người im lặng và không cho con nít khóc. Trên đường đi chúng tôi thấy rất nhiều dây điện thoại của Cộng quân giăng ngang và những dấu chỉ dẫn đường khắc trên những thân cây. Sáu giờ chiều chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi trong cánh rừng rậm. Khoảng 12 giờ đêm chúng tôi nghe rất nhiều tiếng nói vọng lại - toàn giọng Bắc. Tôi thì thầm với mọi người bình tĩnh và tuyệt đối im lặng, lấy tay để hờ trên miệng mấy đứa nhỏ, nếu nó khóc thì bụm miệng nó lại. Chừng 1 giờ sáng máy bay B52 đến bỏ bom từng đợt... từng đợt... gần một giờ. Chúng tôi ngồi dựa vào những gốc cây chờ sáng...

Hôm nay là ngày 27.4.1972. Trời vừa hừng sáng, chúng tôi không còn nghe những giọng Bắc vọng lại như hồi khuya, chỉ nghe tiếng chim kêu rời tổ. Tôi đoán trận bỏ bom hôm qua họ chuyển đi chỗ khác chăng? Thôi, mặc kệ họ! Nhiệm vụ của tôi bây giờ là tìm đường ra xã Tri đạo. Tôi nói với hai người Sĩ quan là chúng ta đi về hướng tay trái - cũng mở đường mà đi. Chúng tôi thay phiên nhau vén cành cây, không gây tiếng động, đạp cỏ - loài cỏ ba khía bén ngọt, nhùng nhằn cắt nát chân tay mặt mày chúng tôi, cộng với mồ hôi túa ra xót ngứa đau đớn vô cùng! Tội nghiệp hai người Sĩ quan ở miền xuôi đổi lên Cao nguyên tăng cường chiến đấu chưa được bao lâu. Nay gặp hoàn cảnh nấy, bản thân đói khác nhưng còn phải giúp đỡ phụ nữ và trẻ thơ qua đèo vượt suối...

Đến khoảng 11 giờ trưa, tôi leo lên cây cao và nhìn thấy QL 14 gần cầu Tri đạo. Không nghỉ ngơi gì cả chúng tôi bồng bế nhau chạy qua cầu! Trời mùa Hạ buổi trưa nắng nung mặt đường nhựa bốc khói... Vậy mà chúng tôi: Chân không giày dép; Đầu không nón; áo quần tã tơi, đói khác ba bốn ngày qua vượt rừng băng suối... cứ cắm đầu, cắm cổ chạy như ma đuổi. Đến xã Tri đạo chúng tôi hoàn toàn kiệt sức. Dân ở đây di tản hết mấy ngày trước. Chỉ còn Ban tiếp nhận những người từ Dakto chạy xuống. Chúng tôi được đưa lên xe về Thị xã Kontum!


Bỏ Quận Dakto.

Sau đoàn người chúng tôi, không còn một ai chạy thoát được,tất cả đều bị bắt vô rừng. Âm mưu của Công quân là giữ dân để tuyên truyền với thế giới là dân chúng bỏ vùng Quốc gia về với Quân giải phóng. Quận Dakto coi như bỏ ngõ để cho Cộng quân Miền bắc kiểm soát... Tôi thương nhớ Dakto - thương nhớ Tân cảnh - thương nhớ Diên bình - nơi một phần tuổi thơ của tôi ở đó! Em gái tôi chết lúc ba tuổi cũng ở đó! Cha tôi chết cũng ở đó! Những người bạn chiến đấu của tôi cũng ở đó! Tôi có khóc đâu... mà sao nước mắt... cứ rơi!



Trang Y Hạ

- Những ngày cuối cùng ở Dakto. Tôi viết bằng sự thật không một chút hư cấu. Để tưởng nhớ Cha tôi và những người Chiến sĩ VNCH vì bảo vệ Miền nam Tự do cùng với người dân vô tội nằm xuống vĩnh viễn nơi núi rừng đèo heo hút gió!








wild grass  
#102 Posted : Monday, November 13, 2017 1:26:11 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 229

Thanks: 14 times
Was thanked: 72 time(s) in 64 post(s)



Nhân ngày giỗ nhạc sĩ Anh Bằng, thắp nén hương lòng tưởng nhờ người nhạc sĩ tài đức, khiêm cung. Một đời cho âm nhạc Việt Nam, một lòng vì quê hương khốn khổ.



Nhạc sĩ Anh Bằng, một người Việt thương quê mình.

Tuấn Khanh




Cho đến khi nằm xuống, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn những bài hát và dự án còn dang dở. Sức làm việc của ông thật đáng nể. Nhiều tổng kết cho rằng số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 650 bài, nhưng thực tế còn nhiều hơn như vậy, bởi gần mười năm đau yếu, ông vẫn không thôi sáng tác.

Nhạc sĩ Anh Bằng (1926-2015) viết rất nhiều thể loại, có lẽ vì vậy mà ông cũng là nhạc sĩ hiếm hoi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam có rất nhiều bút danh. Bản tính hào sảng của ông cũng khiến cho gia tài âm nhạc của ông càng đồ sộ hơn, với hàng loạt các ca khúc sáng tác chung với nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ – với tên chung là Lê Minh Bằng.

Năm 1975, khi nhạc sĩ Anh Bằng ra đi định cư ở Hoa Kỳ, dù lúc đó đã bước sang tuổi 50, nhưng ông vẫn sung sức trong sáng tác và đầy hoài bão trong việc dựng lại một cộng đồng sinh hoạt âm nhạc Việt ở xứ người. Công việc này lại suôn sẻ hơn, khi bà Thy Vân, con gái của ông Anh Bằng kết duyên với ông Bạch Đông, một người Việt ở Mỹ, một chuyên gia về âm thanh. Năm 1980, băng casette đầu tiên của Trung tâm Asia ra đời với các tác phẩm của Anh Bằng đã là một sự kiện của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vượt biên giới lan vào tận trong nước.

Trung tâm âm nhạc Asia dần dà trở thành một trong những chỗ dựa tinh thần quan trọng của người Việt xa quê hương. Với khuynh hướng thuần âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Anh Bằng nhưng phát triển theo khuynh hướng công nghệ giải trí của Hollywood do ông Bạch Đông dẫn dắt, khiến Trung tâm Asia nhanh chóng trở thành một cái tên thân quen của các cộng đồng Việt không chỉ ở Mỹ mà còn ở Châu Âu, Úc… Vào thời điểm rực rỡ nhất của Asia, ít ai biết được rằng các tên tuổi của âm nhạc Mỹ cũng có mối quan hệ với trung tâm này, thông qua giám đốc điều hành là Bạch Đông. Thân thiết nhất, phải kể đến Richard Carpenter, ca sĩ – nhạc sĩ, và là người sáng lập nhóm Carpenter.

Một trong những sản phẩm được tuyển chọn bởi nhạc sĩ Anh Bằng, thành công đến mức bất ngờ – đến nay vẫn còn nghe lưu hành ở Việt Nam, là băng cassette Liên khúc Hoà tấu. Vào thập niên 80, ông Bạch Đông cho biết có đến hơn 200.000 băng cassette được phát hành và tạo một thành công đủ để mở đường cho sự lớn mạnh của Trung tâm Asia sau này. Tính đến hôm nay, kể cả cd và các bản chép không bản quyền, album này có thể đã vượt con số hàng triệu.

Giữa cuối thập niên 90, ông Bạch Đông rời Trung tâm Asia và chuyển sang sống, làm việc ở Thái Lan. Công việc được giao lại cho nhạc sĩ Trúc Hồ. Lúc này ông Anh Bằng cũng bắt đầu cũng vào giai đoạn sức khoẻ không được tốt, nên công việc chính do bà Thy Vân hoàn toàn kiểm soát. Tuy vậy khuynh hướng của trung tâm Asia vẫn là tâm nguyện của nhạc sĩ Anh Bằng: giữ gìn và phát triển dòng nhạc của miền Nam tự do trước năm 1975.

Đất Nga Sơn, Thanh Hoá thật sự kiêu hãnh với hai cái tên lớn trong văn học nghệ thuật Việt Nam: đó là nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Anh Bằng. Hữu Loan lớn hơn nhạc sĩ Anh Bằng 10 tuổi, nhưng cuộc đời của hai con người tài hoa này lại có nhiều nét tương đồng đến ngạc nhiên.

Nhà Thơ Hữu Loan khi bất đồng về việc thảm sát của chính quyền cộng sản trong chính sách cải cách ruộng đất, đã cứu cô con gái còn sống sót trong một gia đình tư sản từng giúp cho cách mạng và lên núi ẩn cư. Ông rời bỏ Hà Nội và chọn sống cô đơn để làm người tử tế. Nhạc sĩ Anh Bằng thì do gia đình bất đồng với những người cộng sản nên từng bị tuyên án tử hình, một người anh của nhạc sĩ cũng bị cộng sản thủ tiêu. 1954, khi ông Hữu Loan bỏ lên núi thì ông Anh Bằng cũng di cư vào Nam, để lại nơi chôn nhau cắt rốn những kỷ niệm tha thiết, được diễn tả trọn vẹn trong bài Nỗi lòng người đi. Toàn bộ lời bài hát, có hai câu để diễn đạt nỗi niềm của ông, rất dễ nhìn thấy là “Thăng Long ơi, năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời, ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi” và “Sài gòn ơi, mộng với tay cao hơn trời”. Bất kỳ ai tinh ý cũng có thể nhìn thấy nỗi buồn của chàng thanh niên ra đi, mang theo chí lớn nhưng không thành, được hát lên như một tiếng thở dài cho thời thế.

Trong nửa thế kỷ, cả hai nhân vật tài hoa của Nga Sơn đã làm nên những huyền thoại cho riêng mình. Một người vạc tan đá núi tạc thành huyền thoại, một người viết nên những khúc ca, chồng chất nỗi buồn cao như núi.

Hai lần ra đi của nhạc sĩ Anh Bằng là hai chặng thời gian đầy biến cố của người Việt Nam. Bị cuốn vào thời cuộc và chìm trong mệnh nước nổi trôi, âm nhạc của ông cũng ngập trong nỗi buồn của riêng mình, của đời người.

Một trong những bài hát, có thể nói được hết cõi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng, có lẽ là bài Cõi Buồn, phổ thơ của nhà thơ Phong Vũ. Nỗi tiếc nhớ bạn bè, tuổi thanh xuân và mọi ước nguyện còn dang dở đã dẫn đến cao trào với phần điệp khúc như niềm tuyệt vọng “Ta muốn kéo mặt trời lặn đàng Đông mọc đàng Tây. Ta muốn giam thời gian trong khám tù đày…”. Bất kỳ ai, lúc này khi hát lên, cũng có thể cảm nhận hết sự cô đơn và muộn phiền của ông.

Giới âm nhạc chuyên nghiệp hay gọi tên nhạc sĩ Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương là tứ trụ của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam. Tài năng, sự đa dạng về phong cách, nhạc thuật, tính khai phá… của những con người này dàn trãi gần như toàn bộ trên lịch sử âm nhạc miền Nam Việt Nam từ 1954-1975 và vẫn tiếp tục nối dài từ đó đến nay.

Nhạc sĩ Phạm Duy có bài Bà mẹ Gio Linh (1948) thì nối tiếp với tinh thần đó, nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Chuyện Một Đêm (1968). Cả hai hai bài hát này vang vọng nỗi đau của người mẹ trong chiến tranh, khi đứng trước cái chết của con mình. Đi cùng với chính sử Việt Nam hiện đại, các tác phẩm này là một trong những phần bổ sung và thể hiện rõ nhất tâm tình, số phận con người Việt qua nội chiến, bên cạnh tập Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn.

Đầu năm 2013, nhạc sĩ Anh Bằng gọi nhạc sĩ Việt Dzũng đến để bàn bạc việc ông muốn thực hiện một băng nhạc tranh đấu. Việc Trung Quốc cấm cản đường biển, tấn công ngư dân Việt, bức hại quê hương… khiến ông cũng muốn hành động. Cho nhạc sĩ Việt Dzũng nghe bài Giặc đến nhà, nhạc sĩ Anh Bằng nói rằng có thể ông sẽ không còn làm gì được nữa và muốn thực hiện một album như phần để lại, một di nguyện của một người yêu thương đất nước mình, dân tộc mình. Lúc đó, chân ông đã run, mắt ông đã mờ, tai ông không còn nghe rõ, có những cuộc trò chuyện phải viết ra trên giấy, nhưng ông nói mình đã viết nhiều bài hát tranh đấu như vậy. Tiếc thay, tháng 12/2013, nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời, công việc còn đang dang dở cùng với lúc sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng ngày càng yếu hơn.

Như những bài hát đã viết, mang đầy lời hẹn và tiếc nhớ của mình, giấc mơ về lại quê hương của một người Việt tha hương mãi mãi còn dang dở, nhưng cuộc đời của ông thì lại quá đỗi trọn vẹn cho thế gian này, khi không ngừng cống hiến cho âm nhạc, cho con người Việt Nam. Khó mà biết được, ông ra đi thanh thản, hay ở cõi xa xôi nào đó, vẫn mơ về từng chiếc ghế đá, từng góc công viên, về những món nợ ân tình mà cuộc đẩy đưa khiến ông không bao giờ còn cơ hội để đáp đền.





wild grass  
#103 Posted : Saturday, November 18, 2017 1:37:17 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 229

Thanks: 14 times
Was thanked: 72 time(s) in 64 post(s)


Những Anh hùng không tên tuổi

Đằng Phương



Anh hùng Vô danh.
Họ là những Anh hùng không tên tuổi.
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông.

(thơ Đằng Phương)




Kính thưa quý Niên Trưởng và các Bạn,

Bao nhiêu năm qua, kể từ ngày quê hương rơi vào tay Cộng sản, Anh linh những Danh Tướng như Thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, Thiếu tướng Phạm văn Phú, Chuẩn tướng Trần văn Hai, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Lê văn Hưng... những vị Tướng đã tuẩn tiết không chịu đầu hàng giặc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã được toàn thể dân quân cán chính VNCH ghi nhớ và tưởng niệm hằng năm. Ngoài ra, Dân Quân Cán Chính VNCH cũng không quên tổ chức những buổi lễ long trọng để tưởng nhớ đến hai vị Nguyên thủ tối cao của Quốc gia đó là Tổng Thống Ngô đình Diệm thời Đệ nhất Cộng hòa và Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu thời đệ nhị Cộng hòa. Tên tuổi của họ sẽ được ghi vào sử sách và danh thơm của họ sẽ đời đời lưu lại cho hậu thế.

Cuộc chiến tranh khốc liệt đã tàn nhẫn quét qua trên mảnh đất miền nam Việt Nam, hàng hàng lớp lớp thây người đã ngã xuống, thân xác họ đã trải dài khắp 4 Vùng chiến thuật vì mục đích đem lại sự thanh bình cho Tổ Quốc. Họ là ai? họ là những Chiến sĩ Quân Lực VNCH đã âm thầm chiến đấu và đã âm thầm ngã xuống. Trong cuộc chiến, đã là người lính dù với cấp bậc nào mỗi khi đã phải hy sinh vì bảo vệ Tổ quốc họ đều là những vị Anh Hùng, họ là những anh hùng không tên tuổi, sống và chết âm thầm trong bóng tối mênh mông. Và họ là ai? Họ là những đồng môn, đồng khóa của chúng ta, là những Sĩ quan xuất thân từ Trường VBQGVN đã hiên ngang can trường nơi chiến địa với hoài bảo đem giòng máu nóng tuổi thanh xuân để gìn giữ non sông và đôi khi trong đường tên lửa đạn đã âm thầm ngã xuống...” bên con lạch nhỏ Đồng Nai hay trên cánh đồng chiêm Trung Việt... phút chốc quý liệt vị bỗng trở thành người thiên cổ... “và gần gũi hơn hết, họ là những Chiến sĩ anh hùng của Khóa 25 chúng tôi.

Khóa 25 /TVBQGVN, tốt nghiệp với quân số 258 tân Sĩ quan, qua 3 năm nung nấu trong lửa đạn chiến trường,49 người đã Vị Quốc Vong Thân. Họ là những anh hùng:

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên.
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất.
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung.
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.
(thơ Anh Hùng Không Tên Tuổi - Đằng Phương)


Những cái chết của những chàng trai trẻ Khóa 25 vào tuổi thanh xuân, những cái chết mang nhiều tính chất bi tráng. Có người trong giây phút bàng hoàng vì lửa đạn đang xé nát xác thân chợt nghĩ đến Mẹ, đến Cha công ơn nuôi dưỡng không đền đáp được mà lại thêm một gánh nặng cho đấng sinh thành đành tự kết liễu đời mình bằng phát súng cuối cùng. Có người chợt nhớ đến vị hôn thê tuổi tròn 19, ôi đau đớn thay nếu phải trở về với xác thân không trọn vẹn đã từ chối sự cưu mang thoát hiểm của thuộc cấp để thoát ra khỏi vùng lửa đạn, chấp nhận một mình ở lại để vĩnh viễn vùi thây nơi chiến địa. Cũng có cái chết kiêu hùng, anh đã bị thương với chút tàn anh hơi ra lệnh cho thuộc cấp đang cõng mình “ hãy bỏ tôi lại nơi đây hoặc tôi phải tự sát trước mặt anh, hãy rút khỏi nơi này thật nhanh, chúng nó đông quá “ và anh đã ở lại... một mình Người lính thuộc cấp kể lại: sau khi rút lui tạm ẩn nấp vào một bụi rậm, toán VC đi qua, nghe một thằng trong bọn còn nói: “ thằng lính Ngụy gan lỳ quá, nó chỉ còn thoi thóp vậy mà gọi hàng sống chống chết nó không trả lời, tưởng nó đã ngủm củ tỏi rồi, ai ngờ đến gần nó lại mở chốt lựu đạn khiến đồng chí thủ trưởng ta cùng các đồng chí phụ tá phải chết theo nó” người lính nói thêm: Đại bàng Vy văn Đạt oai hùng quá...

Những cái chết của mỗi chiến sĩ K25, mỗi người mang một sắc thái bi hùng riêng, nhưng tất cả đều vì một lý tưởng chung: bảo vệ Tổ Quốc thân yêu. Cũng như tất cả những người lính VNCH khác đã hy sinh vì Tổ quốc, họ là những anh hùng - những anh hùng không tên tuổi - nên tất cả đều có những giá trị tinh thần cao quý như nhau, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin được nêu lên 3 vị Anh Hùng Tử Sĩ K25 tiêu biểu:


1. Anh Hùng Tử Sĩ Nguyễn đình Giang:
UserPostedImage




Nguyễn đình Giang, SVSQ Đại Đội D/K25/TVBQGVN. Còn có bút hiệu là Nguyễn đình Đông Phương, những bài thơ của anh thường được đăng trên báo Đa Hiệu trước năm 1975. Sau đây là vài câu thơ mà bạn bè K25 còn nhớ:

... Ta đi ban sớm, sương thấm đời trai.
Ta về chiều đổ, xanh xao giáng trời...


Khi còn là một SVSQ anh đã chứng tỏ là một con người mang đầy nhiệt huyết sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc VN thân yêu, Với dáng người dong dỏng cao với đôi mắt sáng và nghiêm nghị anh là một SVSQ gương mẫu tôn trọng kỷ luật tuyệt đối. Bản tính hiền hòa đối với bạn bè và rất hiếu thảo đối với Mẹ Cha.

Ra đơn vị, Anh là Đại úy Nguyễn đình Giang, Đại đội trưởng Đại đội Trinh sát Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Cho đến buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 anh vẫn giữ vững phòng tuyến đối đầu với địch, khi hay tin Quân đội phải buông súng đầu hàng, Anh và ban chỉ huy Đại đội nắm chặt tay nhau rồi cùng mở chốt lựu đạn tuẩn tiết, xác thân tan thành trăm mảnh.

Tội nghiệp người Mẹ già mà anh đã thương yêu chắt chiu từng đồng gởi Mẹ ngay cả trong thời Sinh Viên Sĩ Quan đã mòn mỏi chờ trông Anh và mãi mãi, người Mẹ già ấy không bao giờ gặp lại con, không bao giờ thấy được hình hài thân xác của anh dù chỉ một nắm xương khô.



2.Anh Hùng Tử Sĩ Trầm Kha Nguyễn văn Đồng:

UserPostedImage



Nguyễn văn Đồng, SVSQ Đại Đội Hải Quân/K25 /TVBQGVN. Là một con người có một tâm hồn Nghệ sĩ đặc biệt ngay từ thuở Quân trường Anh đã nổi tiếng với những vần thơ lãng mạn, mượt mà và thanh thoát:

Cung kiếm tang bồng vui gió loạn.
Chàng Siêu mấy thuở hẹn thanh bình.
Yêu em ta ngắt chùm hoa dại.
Thả bốn phương trời với chiến chinh.
(thơ Trầm Kha)


Có lẽ anh có nghiệp duyên cùng với biển cả nên anh đã lấy bút hiệu là Trầm Kha. Vào trường Võ Bị với mộng hải hồ nung nấu trong tim, anh đã chọn Quân chủng Hải Quân để suốt đời làm bạn cùng sóng biển.

Trầm Kha Nguyễn văn Đồng được nhắc tên nơi đây bởi anh là một Chiến sĩ trực tiếp chiến đấu và đã hy sinh để gìn giữ Hoàng Sa trong trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam và quân đội Trung cộng xảy ra vào trung tuần tháng 1 năm 1974.

Hải Quân VNCH thời đó đã anh dũng chiến đấu, đã giữ được vùng trời vùng biển và cả vùng đảo Hoàng Sa. Ngày hôm nay, đảng Cộng sản tại Việt Nam với chế độ độc đảng trị luôn luôn áp bức dân lành nhưng lại đang khiếp nhược cúi đầu dâng đất, dâng biển dâng cả Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung cộng.

Khi trận chiến xảy ra, Trung Úy Nguyễn văn Đồng là Sĩ quan trọng pháo trên chiến hạm HQ5. Dưới áp lực mạnh mẽ của những ổ hỏa pháo từ các chiến hạm của Trung cộng, Hải quân Trung Úy Nguyễn văn Đồng trong nhiệm vụ điều động và chỉ huy trọng pháo vẫn hiên ngang trên pháo tháp và đích thân kiên cường bắn trả không ngừng.

Chiến hạm của Trung cộng thời đó tối tân hơn chiếc HQ5 của Hải quân VN là một Chiến hạm nhỏ còn sót lại từ thời đệ Nhị thế chiến, di chuyển và xoay trở chậm, cuối cùng HQ5 trúng đạn, Trung Úy Nguyễn văn Đồng trúng đạn và gục chết ngay dưới chân pháo tháp vào buổi chiều biển động ngày 19 tháng 1 năm 1974.

Nguyễn văn Đồng hy sinh trên Chiến hạm HQ5 là một mất mát lớn lao cho Hải Quân VNCH, nền trời thơ văn VN mất đi một nhà thơ tài hoa vào thuở đó. Khóa 25 xin được một lần vinh danh Anh vì chiến tích, anh đã xả thân để bảo tồn Quê Cha Đất Tổ.



3. Anh Hùng Tử Sĩ Nguyễn ngọc Bửu:

UserPostedImage




Nguyễn ngọc Bửu, SVSQ/Đại Đội A/K25/TVBQGVN. là một SVSQ hiền lành cương trực, sống yêu đời với nụ cười thân mật luôn nở trên môi. Bạn bè khóa 25, ai cũng đều thương mến.

Ngày mãn khóa, Anh “không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao nắng mưa cùng nguy hiểm”, anh chọn Binh chủng lừng danh của QLVNCH, Binh chủng TQLC.

Ngoài đơn vị, anh là một cấp chỉ huy tài ba và đức độ, thương đồng đội, thương thuộc cấp hơn chính bản thân mình. Chiều 30 Tết đơn vị đang bận hành quân nơi hỏa đầu giới tuyến, cảm thương người lính xa nhà trong những ngày thiêng liêng đó anh đã quyết định có một món quà nhỏ để làm ấm lòng binh sĩ. Hãy nghe trích dẫn một đoạn ngắn mà Cựu SVSQ Nguyễn hữu Xương K26, một Đại đội phó của Bửu đã ghi lại kỷ niệm một buổi chiều cuối năm:

“Ngày 30 Tết khoảng 3 giờ chiều, Anh đến gặp tôi và nói:

- Xương à, nhờ Xương một chút nghe!

- Chuyện gì đó Niên trưởng?

- Xương đi ngay ra Mỹ Chánh bây giờ để mua một ít mứt và hai chai rượu đế ngày mai cho Binh sĩ họ đón Xuân...

- Được tôi đi... Nhưng... tiền đâu Niên trưởng??

Nghe tôi hỏi, anh mừng lộ trên nét mặt:

- Có đây!

Miệng nói tay móc từ túi áo ra một xấp bạc khá cộm trong phong bì.

- Đây tiền lương của tôi đây Xương! Không phải tiền của lính đâu à nghen. Tôi đãi anh em. Xương cũng đừng bỏ vô đồng nào hết để tiền gởi về cho vợ con. Tôi còn độc thân không sao hết. Đây, Xương mua hết cho tôi hai thứ mứt và rượu, được ông già đi bộ càng tốt...”

Đơn vị cuối cùng của Nguyễn ngọc Bửu là Đại đội Trưởng ĐĐ1/TĐ7/TQLC do Niên Trưởng Trần ngọc Toàn K16 làm Tiểu đoàn trưởng.

Sau ngày 30/4/75 nghe lời rêu rao của CS đang cưỡng chiếm miền nam Việt Nam,10 ngày ra đi học tập cải tạo tư tưởng. Cũng như hằng vạn quân dân cán chính VNCH đã bị lừa qua lời láo khoét này, anh cũng ra đi. Nào ngờ, thời gian biền biệt, đói khát khổ cực trăm bề trong trại tù CS. Trên thế gian này, không có một trại tù nào đầy đủ tính chất dã man tàn bạo như các trại tù CS tại VN trong thập niên 1975-1985. Trại anh đang chịu nhục hình là trại tù Xuân Phước thuộc Sơn Hòa.

Một ngày, không còn có thể chấp nhận cuộc sống dưới sự đối xử tàn tệ dã man của kẻ thù trong trại tù, anh đã quyết định một kế hoạch vượt thoát, anh quyết định đi tìm Tư Do dù phải đánh đổi bằng mạng sống... Chuyến đi được thực hiện vào một buổi sập tối mùa Đông, cùng 6 bạn tù khác, anh lên đường vượt trại Trước khi đi, các anh khống chế được 2 vệ binh CS, lấy được một AK mang theo, tha chết cho 2 vệ binh chỉ trói lại và nhốt trong một bụi rậm để trì hoãn thời gian bọn chúng khám phá đã có tù nhân vượt trại.

Ngày nghỉ đêm đi, nơi dừng chân ban ngày là các bụi cây rậm rạp, các anh qua được một tuần thoát hiểm môi sinh. Tư Do đã đến rất gần, một tuần, ngày nghỉ đêm di hành vượt bao nhiêu rừng, qua bao nhiêu suối. Nhưng chuyến đi định mệnh đầy bi hùng ấy đã chấm dứt với một kết cục tang thương. Ôi, ngọn đồi nhỏ ở buôn làng Ma Hóa, những tưởng là ranh giới của sự Tự Do các anh đang với tới được nào ngờ là mồ chôn vùi thân xác các anh. Chuyến đi vẫn có vài sơ hở trong vấn đề ẩn nấp, kẻ địch đã tình cờ trông thấy chúng bám sát, tập trung quân bao vây rồi bất ngờ bả vào các anh. 7 người ra đi, 6 người bỏ xác trên ngọn đồi Ma Hóa.

Đó là mùa Đông năm 1980, bầu trời Xuân Phước nhuốm màu tang tóc, mây che kín bầu trời xám xịt, chim rừng không vang tiếng hót, những giòng suối róc rách như thương tiếc khóc cho thân phận các anh, người Chiến sĩ Vô danh. Các anh nằm xuống không ai biết... không ai hay... chỉ có những giọt nước mắt thầm của những người bạn tù trại Xuân Phước khi hay tin các anh đã gục ngã bên kia đồi. Các Anh nằm xuống, thân xác tan tành, chúng tôi gồm gia đình Anh Bửu và các bạn khóa 25 tại VN có ra tận ngọn đồi xưa cũ mong tìm được nắm xương tàn của các anh đem về chôn cất nhưng giờ đây chỉ còn là cát bụi.

Nguyễn ngọc Bửu, anh đã sống trong cơn khát vọng về một Tổ Quốc Việt Nam Tự Do, anh đã đánh đổi mạng sống để đi tìm bầu trời Tự Do ấy và tiếc thay anh đã không níu với được sự Tự Do cho ngay chính bản thân anh trong tận cùng khao khát.

Anh đã ra đi về vùng miên viễn, mãi mãi vẫn còn để lại những tiếc thương cho gia đình, người yêu, bạn hữu. Nghe tin sắp đến ngày giỗ anh một người bạn K25 có viết bài thơ tặng anh, bài thơ có tựa đề là: Nghiệt Ngã.

Thân xác bạn giờ đang ở đâu?
Hồn miên viễn xứ? chốn giang đầu?
Có về bên lối xưa nghiệt ngã?
Hồi lại thời gian đã bể dâu.
Nhớ bạn, kiếm cung có một thời,
Mà sao con tạo khéo trêu người
Heo rừng hổ báo nào chi biết,
Rải rác xương tan, nấc giữa đời.
Nhớ bạn hồn thiêng, nỗi hận căm,
Rẫy hoang dõi dõi bóng trăng rằm.
Buôn cao gió hú, khèn man điệu,
Cồng vẵng âm u, uất kiếp tằm.
Chôn kiếm ai đang ngủ bên trời,
Mây thành, núi trụ, gió chơi vơi.
Khóc lên ba tiếng thương người bạn,
Đã có lần chung một nút đời.

(Nguyễn trung Khánh K25)


Lại sắp đến kỳ tưởng nhớ ngày giỗ anh và 5 người bạn tù của anh đã hy sinh bên đồi buôn Ma Hóa, chúng tôi những người bạn đồng khóa 25/TVBQGVN của anh, xin thắp một nén hương lòng tưởng nhớ, và xin cầu nguyện cho linh hồn anh và 5 người bạn được hoàn toàn siêu thoát về một chốn đời đời bình yên hoa thắm.

Xin được nghiêng mình kính cẩn trước linh hồn anh và các bạn tù vượt thoát của anh, những người Anh Hùng không tên tuổi.
______


* Viết để tưởng nhớ đến các bạn K25 đã ra đi vào tuổi thanh xuân và để cảm ơn trời đất đã cho tôi được vui và được sống cho đến ngày hôm nay.

Đằng Phương


hongvulannhi  
#104 Posted : Thursday, November 23, 2017 8:19:43 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)
UserPostedImage


Chúc wild grass một buổi tối xum họp cùng gia đình êm đềm, nồng ấm trong tình thương yêu tràn ngập .

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, November 23, 2017 8:22:46 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (3)
6 Pages«<456
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.