Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages123>
Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Tuesday, October 7, 2014 3:08:23 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

NẠN TRỘM CHÓ GHÊ RỢN Ở VIỆT NAM LÊN TRUYỀN HÌNH ANH


(TTO - 07/10/2014 16:49 GMT+7) - Theo nhà báo Anh - Nelufar Hedayat, những gì mà cô chứng kiến, ghi nhận có thể khiến cả người phương Tây và người Việt bị sốc.

UserPostedImage
Những chú chó đáng thương bị nhốt trong lồng - Ảnh: Mirror


Kênh truyền hình Anh Channel 4 vừa phát đi phóng sự của nhà báo Nelufar Hedayat về nạn trộm cắp và buôn bán thịt chó ở Việt Nam.

Trong bài viết đăng độc quyền trên báo Mirror, phóng viên Hedayat khi bay đến Việt Nam để điều tra về "ngành công nghiệp thịt chó". "Tôi đã chuẩn bị tinh thần, nhưng những gì tôi phát hiện còn kinh khủng hơn nhiều so với điều mà tôi tưởng tượng” - Hedayat kể.

“Mùi chó và phân bốc lên nồng nặc trong căn phòng có chiếc lồng sắt giam giữ hàng trăm con chó. Những tiếng sủa vang lên nhức óc.

Tóm lấy cổ một con chó, bốn người đàn ông kéo nó tới cuối phòng. Một người gắn một chiếc ống vào chiếc xô nhỏ đầy cơm rồi tống đầu ống kia vào họng con chó. Một người khác liên tục bơm cơm vào dạ dày nó”.

“Chú chó VIệt Nam hoảng loạn rít lên đau đớn, vọt cả phân và nước tiểu ra ngoài. Rồi nó lại bị tống vào lồng và nôn mửa cơm đầy ra sàn nhà. Tôi chứng kiến cảnh tượng đó một cách kinh hoàng và hiểu rằng điều đó xảy ra với tất cả hàng trăm con chó ở đây. Gọi đây là một căn nhà kinh dị không phải là quá đáng”.

THỊ TRƯỜNG KHỔNG LỒ

Phóng viên Hedayat khẳng định đó là thực tế của ngành "công nghiệp thịt chó" ở Việt Nam, nơi hàng nghìn con chó bị nhồi cơm mỗi ngày để tăng trọng rồi bị xẻ thịt.

“Tôi hỏi người chủ rằng liệu các con chó có cảm thấy đau đớn khi bị nhồi cơm như vậy không. Ông ấy trả lời thản nhiên là chẳng đau tí nào đâu”.

Nhu cầu ăn thịt chó của người Việt Nam đã tạo ra một thị trường chợ đen khổng lồ và đem lại nguồn thu béo bở cho bọn trộm chó. Trước đây, hàng trăm nghìn con chó được chở lậu từ Thái Lan sang Việt Nam. Nhưng thời gian qua vấn đề này được siết chặt nên người ta lại tìm mua chó từ các nguồn khác.

Ở Hà Nội, phóng viên Hedayat đã phỏng vấn hai kẻ trộm chó chuyên nghiệp. Họ nói rằng công việc làm ăn đang rất thuận lợi và các băng trộm chó thường “hành nghề” ở các khu làng, ăn trộm chó cảnh và chó giữ nhà.

“Trong bảy năm hành nghề tôi đã trộm 3.000 con chó lớn nhỏ” - một tên trộm khẳng định. Chúng không quan tâm là chó cảnh, chó hoang hay chó giữ nhà, bởi tất cả đều đem lại tiền bạc.

Nhưng những người chủ chó thì quan tâm. Phóng viên Hedayat phỏng vấn một người nuôi chó tên Đặng ở Nghệ An. Ông giữ chó trong lồng để tránh bị trộm.

“Trên con đường này, nhà nào cũng từng bị trộm chó” - ông cho biết. Chỉ trong vài tháng qua, 300 con chó ở làng này đã biến mất.

Người Việt Nam cũng như Thái Lan, Hàn Quốc, Philippines và Trung Quốc ăn thịt chó vì nhiều lý do. Ước tính hàng triệu con chó bị nuôi và giết thịt mỗi năm tại châu Á.

UserPostedImage
Thịt chó được bày bán ngoài chợ ở Việt Nam trên báo Mirror


ĐÁNH CHẾT KẺ TRỘM CHÓ

Phóng viên Hedayat kể hàng ngày cô chứng kiến những chiếc xe tải chở đầy chó ở Hà Nội. Chúng bị bán vào các lò mổ, nhà hàng, bị giết ngay trên đường phố.

Các tiệm thịt chó trên một con phố ở Hà Nội có thể bán được tới 2.000 con chó mỗi ngày vào thời điểm đông khách. Ước tính mỗi ngày bảy tấn thịt chó được đưa vào Hà Nội để tiêu thụ.

Những bữa ăn nhậu đặc biệt vào cuối tháng âm lịch thường được tổ chức tại các nhà hàng thịt chó. Nhưng liệu khách hàng có biết thịt chó xuất phát từ đâu không?

“Chúng tôi không biết và không quan tâm - một khách hàng trẻ trả lời Hedayat - Chúng tôi chỉ quan tâm xem món ăn có ngon hay không thôi”.

UserPostedImage
Cảnh thê thảm của những chú chó bị bắt trộm và bị đem xẻ thịt - Ảnh: Mirror


Ở một làng tại miền trung Việt Nam, 68 người nhận tội giết hai kẻ đã trộm 300 con chó. “Chúng tôi không sợ chúng. Chúng tôi không muốn đánh chết chúng mà chỉ bẻ gẫy chân tay chúng thôi” - một phụ nữ trả lời phỏng vấn Hedayat.

Hedayat kể cô cảm thấy vô cùng kỳ quái khi mà có người bị giết chỉ để phục vụ bữa tiệc thịt chó cho người khác. Nhưng cô cho rằng điều kinh khủng nhất là cách những con chó đáng thương bị đối xử một cách tàn bạo sau khi bị bắt.

“Những vụ giết chó tàn nhẫn sẽ ám ảnh tôi cho đến cuối đời” - Hedayat cho biết.

Cô mô tả đã chứng kiến cảnh những chú chó bị đồ tể dùng gậy giáng mạnh vào đầu trước khi dùng dao cứa cổ chúng.
NGUYỆT PHƯƠNG

Edited by user Tuesday, October 7, 2014 3:09:23 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Monday, November 10, 2014 9:16:24 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
NHỮNG CẢNH KHỦNG KHIẾP TRONG LÒ ẤP TRỨNG - HATCHERY HORRORS


Video clip này do 1 người dùng phone quay lén khi viếng thăm cơ sở ấp trứng và sản xuất trứng . Toàn bộ gà trống con vừa nở ra sẽ bị bỏ vào máy xay cho chết, chỉ có gà mái là được sống vì có khả năng đẻ trứng !!!

Link trực tiếp : https://www.youtube.com/...;list=PLECFA6B6244F778F2

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Monday, November 10, 2014 6:48:47 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Xưa nay trong một bát canh
Oán sâu như bể, hận thành non cao
Muốn biết nguồn gốc binh đao
Lắng nghe lò mổ tiếng gào trong đêm .



TIẾNG OÁN BI AI CỦA LOÀI CHÓ BỊ XẺ THỊT LỘT DA ĐỂ ĂN THỊT

link trực tiếp: http://www.youtube.com/watch?v=y6zpGqoKUOI



----------------------------------------------------
Xem Thêm:

Edited by user Thursday, December 11, 2014 6:37:03 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Thursday, November 13, 2014 5:25:39 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
CÂU CHUYỆN SÁT SANH VÀ QUẢ BÁO HIỆN TIỀN



Đôi lời giãi bày: Tôi tên là Phạm Quang Bình, pháp danh Hữu Minh. Câu chuyện mà quý vị sẽ đọc dưới đây là một câu chuyện có thật đã xảy đến với tôi và gia đình tôi, trải dài từ thời niên thiếu cho đến lúc tôi trưởng thành đến bây giờ đã hơn ba thập kỷ. Chỉ vì u minh không tin luật nhân quả nên từ bé tôi đã bắt đầu sát sinh nên sau này phải nhận chịu quả báo.

Trong những lần tâm tình vào lúc rãnh rỗi giữa các anh em đồng đạo trong đó có các vị cư sĩ như Viên Trí, Diệu Âm Lệ Hiếu (TLPT), Tịnh Thái, Thiện Nhân, tôi đã kể các mẫu chuyện về nhân quả của tự thân để cùng nhau học hỏi trên bước đường tu tập. Nghe xong không ngờ các vị ấy đồng khuyên tôi nên phổ biến rộng khắp câu chuyện này như một bài học về gương nhân quả, hay quả báo hiện tiền. Thú thật tôi có phần lưỡng lự khi nghe anh em nói vậy, bởi văn chương của tôi rất vụng về và chuyện được kể không trau chuốt ngôn từ, chỉ e làm người đọc cười chê. Nhưng nghĩ lại nếu câu chuyện của tôi có thể giúp người ngăn ác làm lành, tôi cũng chẳng ngại văn vẻ thô kệch làm người đọc phải cười, chỉ với ngưỡng mong người khác lấy đó làm gương mà lo sợ quả báo về sau, và cũng để tôi có dịp được xin sám hối cùng đại chúng tội lỗi sâu dày mà tôi đã gây ra cho các loài chúng sanh.

Kính khuyên mọi người hãy dừng sát sanh, tập ăn chay, phóng sinh cứu vật, niệm Phật và hồi hướng công đức lành ấy đến cho mọi loài. Nếu làm được thế không những chúng ta có thể chuyển được nghiệp sát đoản mệnh của mình thành trường thọ khoẻ mạnh ít tật bệnh, mà thế giới sẽ không bao giờ xảy ra chiến tranh giết chóc lẫn nhau và hoà bình sẽ vĩnh viễn tồn tại nơi thế gian này.

A Di Đà Phật.
(Cư sĩ Hữu Minh)
ooo000ooo


Tôi sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, nơi có bãi biển nổi tiếng dài và đẹp. Nhà tôi không cách xa biển là bao nên thuở bé tôi thường hay xuống biển bơi lội vẫy vùng mỗi ngày, vì thế nên tôi bơi lội rất giỏi. Cũng nhờ bơi giỏi nên tôi thường lặn ngụp dưới làn nước sâu để đâm cá hay cua ghẹ thường xuyên. Từ thói quen giết vật như thế đã huân tập cho tôi tập khí sát sanh từ thời niên thiếu mà chính tôi chẳng hay vì xung quanh tôi bạn bè hay người lớn ai cũng đều như thế. Mỗi lần theo gia đình về quê tôi thấy các trẻ chăn trâu câu cá vui quá nên rất ham thích và cũng vào nhập hội câu chung. Ở nhà mỗi khi thấy bầy kiến lửa ở góc sân là tôi đốt đèn cầy, kế đó nhễu xuống khiến đàn kiến chết quăn chân cẳng. Nếu không đốt đèn cầy thì cũng lấy thau hứng nước cho đầy, rồi đổ cho ngập tổ kiến. Nhìn thấy đàn kiến lửa bị ngập nước mà vẫn bò qua lại dưới nước được tôi lại càng thấy thích thú. Có lẽ đó là cái nhân khiến giờ đây tôi phải trả quả báo về tim mạch, hơi thở của tôi hệt như người chết đuối hụt hơi, đang lặn ngụp vùng vẫy dưới nước.

Có một thời gian khoảng hơn năm tôi ở Phi Luật Tân, nhà ở gần mép biển nên tôi hay theo đám bạn cùng lứa xuống biển bắt hải sản về cải thiện bữa ăn. Lần sát sanh nhiều nhất là đi săn chình. Loài cá chình con chưa lớn nên không sống ở vùng nước sâu mà chỉ hay đào lỗ sống ở vùng nước cạn và đương nhiên đã trở thành món mồi ngon cho đám “sát thủ” tụi tôi lúc bấy giờ. Buổi trưa là lúc thủy triều hạ nên cả đám xách xô đi săn chình. Chúng tôi mỗi đứa xách 1 cái xô, cầm theo 1 cây xiên, trên đầu gắn cây sắt đã được mài nhọn dùng để đâm chình. Vì nước cạn chỉ cao đến đầu gối nên rất dễ thấy các lỗ cát nơi chình con ở. Thế là chúng tôi chỉ việc đâm xiên xuống lỗ là hầu như trúng con mồi. Chỉ một buổi trưa là xô đầy ắp chình, đem về nấu cháo chình ăn mấy ngày mới hết. Lúc ấy tôi đơn giản nghĩ đó chỉ là một bữa ăn ngon, chẳng ngờ sau này tôi phải bị quả báo.

Rời Phi Luật Tân tôi đến Mỹ định cư tại tiểu bang Washington khi tôi khoảng 14 – 15 tuổi không người thân và gia đình. Vì còn nhỏ ở lứa tuổi vị thành niên nên tôi được ở chung nhà với gia đình bảo trợ. Nhà ông bảo trợ có một chiếc tàu lớn gồm 3 phòng ngủ. Mùa hè ông hay kéo tàu ra hồ lớn để câu cá và mọi người cũng theo ông đi câu. Thế là sát cá từ bên nhà, sang Mỹ tôi lại tiếp tục sát cá. Có một hôm đi câu cá trê, loài cá này có sở thích là ban đêm mới bơi ra đi tìm thức ăn, ban ngày thì đi đâu mất. Đêm ấy đang chờ câu tự dưng tôi buồn ngủ quá nên ngủ quên trên tàu đến sáng. Buổi sáng hôm sau lúc tôi thức dậy nhìn quanh sàn tàu thấy la liệt thùng nhựa đựng cá cỡ lớn, bên trong chứa rất nhiều cá trê. Nghe mọi người kể lại đêm hôm trước trúng lớn vì cá đi ăn đêm rất nhiều. Ai cũng được cá cắn câu nên giựt cần liên hồi. Nghe vậy tôi cứ chậc lưỡi hít hà vì tiếc rẻ không chịu ráng thức để câu. Bây giờ nghĩ lại mới thấy mình vô cùng may mắn, nhờ bị ngủ quên chứ nếu không nghiệp sát của tôi cứ thế lại chồng chất nhiều thêm.

Vào trung học, những lúc rảnh rỗi chúng bạn rủ tôi đi mua súng hơi bắn chim. Vậy là tôi cũng đi mua cây súng mạnh nhất hồi ấy để vào rừng bắn chim. Vì súng mạnh nên chim đậu cao và xa cách mấy cũng bị tôi bắn trúng. Vài tháng sau đứa bạn thiếu tiền lén cầm cây súng đi bán khiến tôi cứ hậm hực vì tiếc cây súng tốt. Sau này tôi mới thấy đó lại là một điều may mắn, nếu không tôi đã tiếp tục sát sanh không biết đến bao giờ mới dừng lại.

Khi học hết phổ thông, muốn học tiếp lên đại học nhưng tôi không có tiền nên khi ấy nghe nói đi đánh bắt hải sản ở tiểu bang Alaska kiếm rất nhiều tiền, ước mộng muốn kiếm tiền nhanh để được học đại học đã thôi thúc tôi lên đường. Tôi được đưa lên một chiếc thuyền để làm và đóng gói cua nước mặn. Chiếc thuyền tôi làm rất lớn, họ chuyên đi vòng vòng trên biển Bearing Sea (giữa Liên Xô và tiểu bang Alaska của Mỹ) để mua lại cua từ những thuyền nhỏ hơn chuyên đánh bắt cua ngay trên biển. Loài cua sống ở vùng nước mặn và lạnh này rất to, thịt rất ngon nên bán rất nhiều tiền. Mỗi con cua trung bình ước lượng khoảng 1,5 kg trở lên. Con nào nhỏ không đủ cỡ là phải quăng lại xuống biển, và chỉ được bắt cua đực, không được bắt cua cái để còn sinh đẻ. Nếu làm trái luật sẽ bị phạt nặng. Người Nhật rất thích ăn loại cua này nên họ cử người từ bên Nhật sang để trông coi và mua ngay sau khi những nhân viên làm việc trên tàu như tôi đã thịt cua và sắp xếp ngăn nắp vào thùng. Mọi công việc từ mua cua, giết cua, sắp xếp vào thùng cho đến lúc bán đều xảy ra ngay trên biển. Sau 1 năm làm việc tôi cầm hơn 20 nghìn đô trở về, mua 1 chiếc xe và đi học lại. Năm đó tôi tròn 20 tuổi. Khi ấy tôi nào có biết đến Phật pháp là gì, Phật A Di Đà là ai, chùa chiền cũng không biết ở đâu để tìm đến nên cứ vô tư mà tạo nghiệp. Giờ nghĩ lại tôi mới thấy vô cùng hổ thẹn và tội lỗi ngập tràn. Đó là lần sát sanh nhiều nhất trong đời tôi và cũng là điều tôi ân hận nhất trong cuộc đời. Nếu ước tính có lẽ đã có cả nghìn chú cua không may bị tôi làm thịt để xuất khẩu sang Nhật.

Sau 1 năm làm việc tại tiểu bang Alaska, tôi về lại tiểu bang cũ Washington. Ban ngày đi học, buổi tối tôi đi làm thêm bán thời gian tại một nhà hàng ăn uống hải sản để trang trải chi phí ăn học và thuê nhà. Nơi tôi làm việc là một nhà hàng sang trọng nằm bán phần trên biển. Phần lớn thực khách là giới thượng lưu. Tàu thuyền chạy trên biển có thể ghé sát nhà hàng rồi neo lại để vào ăn uống bên trong. Nhìn bãi đậu xe của nhà hàng là người ta có thể đoán ra những người ngồi bên trong nhà hàng thuộc tầng lớp nào. Xe nào cũng đẹp và đắt tiền từ những hãng chế tạo ô tô nổi tiếng như Mercedes, BMW, Lexus, Porche… Nhân viên bên trong nhà hàng là những người được tuyển chọn kỹ càng, có học vấn và kỹ năng giao tiếp khá, vô cùng lịch sự. Phần lớn họ là giáo viên đi làm thêm ngoài giờ để tăng thu nhập vì tiền tip (boa) mỗi đêm khá nhiều.

Tôi làm ở khâu hậu cần, tức nấu bếp nên có thêm nhiều cơ hội để tiếp tục… sát sanh. Thực đơn nhà hàng đa số là hải sản trong đó có tôm hùm và cua vua Alaska (king crab). Ai muốn ăn thịt bò cũng có vì đã được nhà hàng nhập từ nơi khác về. Loại hảo hạng được cắt, cân từng miếng rất đẹp và hấp dẫn. Là dân nấu bếp nên một trong các quyền lợi là được ăn miễn phí. Thích món nào là tôi lôi ra “chén”. Có khi muốn ăn những thứ không có trên menu thì cả đám thợ nấu chúng tôi tự chế, rồi lôi soong chảo ra tự biên tự diễn. Một trong các món ăn của thực khách ở đây đòi hỏi sự tươi sống là món hào. Món này chỉ khi có khách gọi mới lấy hào ra làm chứ không được làm trước. Mỗi đĩa gồm có 7 con hào lớn, tôi phải dùng dao chuyên dụng nạy nửa vỏ hào ra bỏ đi, nửa còn lại dính vào con hào. Sau đó dùng dao mỏng cắt đi phần nối liền giữa thịt hào và vỏ hào để không bị dính. Giai đoạn cuối là vắt chanh vào phần thịt hào và khách cứ thế mà húp hào sống. Mỗi lần vắt chanh vào là tôi thấy con hào co rúm lại vì đau rát sau khi bị cắt lìa. Giờ đây nghĩ lại và tưởng tượng chính tôi là những chú hào đáng thương kia mà tôi cảm thấy xót xa tận cõi lòng. Tội nghiệp này không biết tôi phải chịu đầu thai làm thân súc sanh để bị bắt, bị giết không biết đến bao kiếp mới trả hết được món nợ sinh mạng? Trong đời tôi tất cả loài vật sống ở trên trời, dưới nước, hay trên cạn tôi đều đã giết cả. Giả như lúc trước đưa số mạng của tôi cho nhà tướng số học, chắc chắn tôi sẽ được biết tôi là người yểu mệnh, mạng chẳng thể trường thọ. May nhờ chút phước thừa từ tiền kiếp sót lại nên bây giờ tôi biết được Phật pháp, biết pháp môn Tịnh Độ để tu. Cũng nhờ biết Phật pháp mà tôi mới biết thương các loài vật, không ăn thịt và giữ giới sát. Có lẽ nhờ đó nên mạng sống của tôi mới kéo dài đến bây giờ, bằng không tôi đã phải ra đi từ lâu.

Từ nhỏ đến lớn tôi sát sanh quá nhiều, từ muỗi mòng, kiến, chuồn chuồn, thằn lằn, chim, cua, cá… tôi đều không từ nên bây giờ trong người đủ thứ bệnh. Tôi ra vào bệnh viện để mổ hết 2 lần vì căn bệnh hernia. Hernia là chứng bệnh tạm gọi là bị rách cơ thịt. Các nơi trên cơ thể có cơ mỏng như vùng bụng, rốn, háng có nguy cơ bị bệnh này nhiều hơn các nơi khác. Khi bị rách cơ thịt, ruột trong cơ thể bị đẩy ra ngoài, chạm vào da rất đau. Ngày nay nhờ ngành y khoa tiến bộ nên có thể điều trị căn bệnh đó một cách dễ dàng. Khi vào bệnh viện, bác sĩ sẽ mổ nơi bị hernia ra, sau đó bỏ một miếng vá đặc biệt bên dưới da và khâu lại tựa như chiếc áo rách phải dùng một miếng vải khác vá chồng lên để áo không bị rách thêm vậy.

1 chứng bệnh này rất lạ, tôi bị từ năm lên 15 tuổi cho đến khi ngoài 40 mà bác sĩ mãi không tìm ra. lần vào nhà vệ sinh đại tiện là máu tươi đỏ ối cứ tuôn ra ngoài rất nhiều, mỗi tuần ít nhất một lần. Ở lứa tuổi thiếu niên nên khi bị như thế tôi hoang mang vô cùng. Đi bác sĩ cho uống thuốc hay thoa thuốc gì cũng không hết. Cứ thế từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác bệnh lạ cứ kéo dài. Tôi thăm hết bác sĩ Ta đến bác sĩ Tây, dùng thuốc Tây sang thuốc Bắc mà không thấy “xi nhê” gì cả. Có bác sĩ bảo là mạch máu bị vỡ, có bác sĩ bảo do rách màng da, đọc báo thì nói rằng đó là triệu chứng đầu tiên của ung thư ruột… Thời gian đầu tôi lo lắng nhiều lắm, nhưng sau nhiều năm như thế tôi cũng quen dần và tập “sống chung với lũ”. Cho đến thời gian gần đây tôi mới chợt nhận ra các triệu chứng ấy bỗng dưng không chữa lại lành một cách thần kỳ. Tôi nghĩ có lẽ một phần là nhờ công đức giữ giới sát, ăn chay, sám hối, niệm Phật, hồi hướng công đức cho hết thảy chúng sinh. Phần khác có thể liên quan đến chuyện mẫu thân của tôi bị bệnh nặng mà căn bệnh trầm kha của tôi tự nhiên khỏi hẳn.

Đầu năm 2009 được tin thân mẫu bên nhà bệnh nặng có thể không qua khỏi tôi vội vàng quay về để thăm hỏi bệnh tình. Mẫu thân tôi bị ung thư bướu cổ, bác sĩ phát hiện ra từ năm 1997 và phải mổ hết đôi lần. Nhưng không may là mổ xong bướu này thì bướu khác mọc lên. Uống thuốc mỗi ngày chỉ làm cho bớt đau và khối u mọc chậm lại chứ không bao giờ hết.

Từ Mỹ về đến nhà, nhìn mẫu thân mà tôi xém chút nhìn không ra đó chính là mẹ ruột của mình. Ngày trước cụ có da có thịt lắm, nhưng lần cuối nhìn lại mẫu thân thì như chỉ còn da bọc xương giống người lâu ngày bị bỏ đói. Trước khi bay về Việt Nam một ngày, tôi đã tìm địa chỉ các Ban Hộ Niệm tại địa phương và liên lạc trước để nhờ họ đến hộ niệm cho mẫu thân. May mắn thay tôi tìm được Ban Hộ Niệm Thanh Liên tại Nha Trang và chị trưởng ban cũng nhiệt tình nhận lời đến hộ niệm.

Từ ngày biết đến Phật pháp và pháp môn Tịnh Độ tôi thường hay gọi điện thoại và gửi thư về cho mẫu thân, nhắc nhở cụ niệm Phật cầu vãng sanh, nhưng tiếc rằng thiện căn, phước đức của cụ còn ít quá nên cụ niệm Phật có lẽ không được là bao. Tôi nhớ ngày còn nhỏ tôi thường hay quấn quít bên mẫu thân và thấy cụ cắt cổ gà, làm thịt tại nhà đôi lần. Có lần cụ cắt tiết con gà xong, bỏ vào nồi đậy lại. Vậy mà một tiếng sau, khi đổ nước sôi vào để làm lông thì bỗng dưng nắp nồi bật tung lên, kế đó con gà vùng dậy, đầu ngật ngưỡng tung chạy ra ngoài làm mọi người phải rượt theo bắt và giết lần nữa. Có thể vì mang nghiệp như thế nên giờ cụ đã bị ung thư bướu cổ. Cục bướu của cụ rất to, cỡ bằng trái bưởi nhìn rất kinh sợ. Máu rỉ ra từ nơi bướu đóng cứng thành cục. Những tháng cuối cùng của đời cụ máu cứ rỉ ra từng giọt từ bướu khiến người trong nhà phải may một cái bao vải đặc biệt để thấm máu, đeo vào cổ mẫu thân. Vài tiếng là phải thay bao vải một lần. Cảnh vật ấy khiến tôi liên tưởng đến con gà năm xưa bị mẫu thân cắt tiết, máu chảy ra từng giọt rớt xuống chiếc tô hứng bên dưới để làm tiết canh.

Tôi có người em trai đã có gia đình và 3 đứa con trai. Nhà tôi có truyền thống thờ Phật từ hồi thân phụ tôi còn sống. Ông cụ tạo dựng một bàn thờ Quan Thế Âm Bồ-tát rất lớn và trang nghiêm nhất nhì trong thành phố thời bấy giờ. Thân phụ tôi bỏ công đi sưu tầm các lư đồng chạm trổ rất đẹp và công phu từ các bàn tay nghệ nhân khéo léo về để trang nghiêm nơi thờ phượng. Thỉnh thoảng tôi thấy ông cụ tụng kinh vào những ngày rằm lớn. Còn mẫu thân của tôi cũng là một Phật tử thuần thành và rất thích đi chùa làm công quả.

Bàn thờ trong nhà tôi rất lớn và nghiêm trang đến độ sau này khi anh rể tôi trong lần về thăm nhà, anh em ngồi nói chuyện vui với nhau thì được nghe anh kể lại, hồi ấy anh “kết” chị tôi nhưng khi đến nhà không dám vào, vì anh là người công giáo. Anh nói hồi đó vừa mới bước vào cửa là thấy ngay bàn thờ Phật lớn quá làm anh “khiếp” nên không dám bước tiếp. Dưới nơi thờ phượng có một tủ gỗ đựng nhiều kinh sách Phật. Thời ấy trong nhà tôi sách thiếu nhi không có nên không có gì để đọc, thế là tôi cứ lôi mấy cuốn sách mỏng nói về nhân quả, đời là bể khổ ra xem. Không ngờ những điều đã đọc ngày xưa ấy lại gieo vào tâm tôi những hạt giống tốt cho dù tôi đi đến tận phương trời nào.

Tuy gia đình tôi thờ phượng sớm hôm nhang đèn như thế, nhưng em trai của tôi lại không tin Tam Bảo. Chỉ được một điều là mỗi năm vào dịp Tết em trai tôi cũng chịu khó đem hết đồ đồng, lư hương trên bàn thờ xuống đánh bóng lại cho mới để đón Xuân. Ngoài ra hễ nói chuyện Phật pháp hay bảo tu hành thì tuyệt nhiên không chịu. Mỗi lần gọi điện thoại về tôi gắng khuyên mẫu thân niệm Phật để sau này được về với Phật, em trai tôi có vẻ không bằng lòng. Em trai tôi bảo gọi điện về nói chuyện gì quan trọng hay hữu ích thì nói, chứ nói làm gì ba thứ chuyện Phật pháp. Còn em dâu của tôi vốn sanh ra trong một gia đình công giáo, lớn lên trong nhà dòng dưới sự nuôi nấng và dạy dỗ của các sơ. Ấy vậy mà sau này không hiểu sao về làm dâu nhà tôi cô ấy chuyển tâm quay sang quy y Phật. Hài hước thay khi trong gia đình tôi có sự đổi ngôi như thế. Ngày trước lúc mẫu thân tôi còn khỏe, cụ lén lên chùa nhờ các thầy đặt pháp danh và quy y Tam Bảo vắng mặt cho cậu em trai của tôi. Mãi đến sau này em trai tôi lục lọi trong tủ, tìm thấy tấm giấy quy y có ghi tên của nó trên ấy, thế là em trai tôi có vẻ không hài lòng và gặng hỏi mọi người ai đã làm điều ấy.

Trong trong những lần tôi về thăm nhà trước kia, những câu chuyện tán gẫu giữa hai anh em với nhau giúp cho tôi thấy dường như tâm ý của em trai tôi chỉ thích hai thứ đó là: xe mô tô và tiền bạc. Biết được điều này nên khi hay tin bệnh tình mẫu thân đã đến lúc nguy kịch phải thở ôxy, tôi xin phép sở làm nghỉ 3 tuần để về Việt Nam và đem theo $2800 USD làm lộ phí. Biết tính em trai nên từ Mỹ về đến nhà, sau khi thăm hỏi bệnh tình thân mẫu xong tôi biết nếu cho mời Ban Hộ Niệm đến nhà để niệm Phật cho mẫu thân thế nào cũng bị làm khó dễ, tôi đã tương kế tựu kế bằng cách bỏ ra $400 USD “hối lộ” cho em trai để mua một chiếc TV và thêm $400 USD nữa đưa cho cô em dâu để mua thêm hàng hóa buôn bán, vì lúc ấy cô em dâu mới mở shop bán quần áo và đồ dùng trẻ con. Sau đó chị trưởng Ban Hộ Niệm đến nhà, khai thị hộ niệm cho mẫu thân. Em trai tôi có vẻ không vui vì ngày nào cũng phải canh dắt xe cộ của các chị trong Ban Hộ Niệm đến nhà trợ niệm cho mẫu thân, nhưng nhờ có “thủ tục đầu tiên” nên chỉ nghe em trai tôi càm ràm đôi câu chứ không phản đối.

Nhìn bệnh tình của mẫu thân tôi biết do nghiệp sát trong quá khứ nay quả đã đến lúc chín mùi. Tôi đề nghị với chị trưởng Ban Hộ Niệm mua vật phóng sanh, hồi hướng công đức ấy cho tất cả oán thân trái chủ của mẫu thân để giảm bớt sát nghiệp. Có một điều tôi nhận thấy lạ là tuy mẫu thân rất ốm chỉ còn da bọc xương, nhưng sức ăn của cụ gấp ba lần người bình thường. Cứ hai tiếng đồng hồ lại ăn một lần. Nếu không ăn thì người nhà phải pha sữa uống. Mỗi ngày mẫu thân phải uống thuốc giảm đau và các cơn đau dường như kéo đến vào ban đêm làm cụ đau đớn rên la, có khi vừa ôm cổ vừa đi vừa rên la lúc giữa đêm. Sau mấy hôm nằm cạnh mẫu thân và chứng kiến các hiện tượng như thế tôi biết mẫu thân đang bị oan gia trái chủ hành hạ. Sức ăn của mẫu thân không phải của một người già đã 76 tuổi ăn, mà chỉ có thể là oan gia ăn để có sức đêm đến hành hạ mẫu thân như thế.

Một đêm thấy mẫu thân đang nằm rên la vì đau, tôi đến sát bên giường cụ, một tay chạm nhẹ vào khối u nơi cổ mẫu thân, tay kia chắp lại, mắt nhắm nghiền và không hiểu sao trong đầu tôi bắt đầu “nói chuyện” với khối u, nói bằng tâm thức chứ không phải bằng lời. Tôi nói rằng: “Thưa quý vị oan gia trái chủ trên thân mẹ tôi, xin quý vị hãy khoan dung tha thứ cho lỗi lầm của mẹ tôi. Vì vô minh nên trước kia mẹ tôi đã làm tổn hại đến quý vị. Nay tôi xin thành tâm sám hối thay thế cho mẹ tôi. Tất cả công đức lành tôi xin hồi hướng đến cho quý vị để quý vị vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Giờ đây tôi xin niệm Chú Vãng Sanh để tất cả quý vị có thể về với Phật.” Và lúc ấy tôi đã nhiếp tâm vào từng câu thần chú phát ra từ trong tâm tưởng, cùng lúc quán tưởng từng con vi trùng từ nơi cổ mẫu thân đang ngự trên hoa sen bay về phía Phật A Di Đà. Sau này nghĩ lại tôi thấy hơi lạ, vì bình thường tôi chỉ niệm Phật trong các thời công phu, không niệm thêm bất cứ chú gì cả. Ấy vậy mà không hiểu vì sao lúc ấy tôi không niệm Phật, mà lại niệm chú. Tôi đã niệm một lúc lâu như thế, rồi tôi thấy mẫu thân nằm im, không rên la nữa nên tôi bèn mở mắt ra và hỏi mẫu thân có còn thấy đau nữa không? Mẫu thân trả lời rằng không. Thì ra khối u cũng có tánh linh và có Phật tánh giống như chúng ta vậy.

Sau khi “hối lộ” cho em trai, còn lại $2000 USD trong túi tôi dùng hết vào việc phóng sanh và được chia làm 2 đợt. Buổi sáng hôm ấy tôi cùng các chị trong Ban Hộ Niệm ra chợ mua các loài thủy tộc để phóng sanh. Nào cá to, cá nhỏ, ốc lớn, ốc bé, cua… mua rất nhiều. Chị trưởng Ban Hộ Niệm đã quen thuộc với việc làm này nên các thân chủ bán cá đều quen mặt biết tên. Sau khi mua vật phóng sanh xong, cả nhóm đem hết các túi, thùng đựng cá ra để tràn lan phía ngoài chợ. Không biết từ đâu có 2 chiếc xe jeep của ban trật tự đô thị lù lù xuất hiện và dừng lại ngay trước cả nhóm. Tôi nghĩ thầm chắc là rắc rối to rồi, vì chúng tôi để đồ nhiều quá, chiếm ra gần hết ngoài đường vào chợ, xe cộ không đi được và sẽ bị ban đô thị “hốt” hết. Nhìn vẻ mặt hầm hầm của anh trật tự viên tôi cũng hơi ngán. Anh ta hỏi lớn rằng: “Tất cả đồ để dưới đất này của ai, tại sao lại để ra hết ngoài đường?” Sau khi nghe nhóm giải thích là mua vật về phóng sanh và đang chờ xe đến để chở đi thì anh ta tỏ ra dễ dãi rồi bỏ đi mà không nói thêm một lời nào. Tôi mừng hết chỗ nói vì đã không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Trong khi chúng tôi còn đang loay hoay chưa biết gọi xe đến có được không thì trong chợ bỗng dưng có một anh mon men lại gần và tự giới thiệu anh ta là tài xế xe tải, chuyên chở các loại thủy sản để bán cho các chủ sạp trong chợ. Thấy mọi người mua nhiều để phóng sanh, anh tình nguyện chở hết các loài vật đi phóng sanh mà không lấy tiền. Không chỉ lần này mà bất cứ lúc nào mua nhiều như thế anh cũng sẽ tình nguyện giúp. Đúng là chuyện lạ có thật. Thế là cả hai lần phóng sanh anh ấy đều tận tình đem xe tải đến giúp thật.

Đường đến nơi phóng sanh cũng hơi xa và phải đi ngang một đoạn đường tư nhân. Đoạn đường này có một cây sắt chắn ngang giống như hàng rào bảo vệ mỗi khi có xe lửa đi qua để không cho người lạ vào khu vực ấy. Khi đến đây cả nhóm đều phải dừng lại và dáo dác tìm xem có ai có thể ra giúp được không. Hỏi ra thì được biết người chủ khu vực (người duy nhất có chìa khóa để mở khóa cây sắt chắn ngang) đang đi vắng không có nhà. Thế là cả bọn nhìn nhau không biết tính sao vì đường đi xa, địa điểm phóng sanh cũng không còn lâu nữa. Lúc ấy dường như có phép lạ khi từ đằng xa có bóng một chiếc xe Honda đang rẽ vào con đường cả nhóm đang chờ. Hóa ra đó chính là người chủ khu vực đã về, tựa như có “người” bảo ông phải về đúng vào lúc này vậy. Sau khi người chủ khu vực biết rõ nguyện vọng của nhóm, chú liền hoan hỉ mở cổng cho cả bọn đi qua và cười rất tươi. Phải mất khoảng gần tiếng đồng hồ cả nhóm mới khiêng hết các loài vật từ xe xuống để phóng sanh xuống con sông như đã định trước. Mọi người ai cũng mệt vì trưa nắng nhưng lòng lại vui vì biết rằng đã cứu được rất nhiều sanh mạng thoát khỏi cảnh bị dao thớt chặt chém. Có một chi tiết nhỏ nhưng có lẽ cũng là nhân duyên là bữa đó trong lúc cả nhóm vào chợ mua vật phóng sanh, tự dưng gặp được một nhóm đồng tu khác từ Sài Gòn ra Nha Trang chơi. Thế là chiều hôm ấy sau khi phóng sanh xong cả 2 nhóm đều đến nhà hộ niệm cho mẫu thân tôi. Kể ra cụ cũng có phước, nhưng tiếc rằng không nhiều.

Suốt thời gian tôi ở Việt Nam gần 3 tuần ngày nào Ban Hộ Niệm cũng đến để trợ duyên cho mẫu thân niệm Phật. Ngoài thời niệm Phật chung với Ban Hộ Niệm ra, tôi cũng cố gắng khai thị thêm và niệm Phật chung với mẫu thân được thêm đôi tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong phòng nghỉ của mẫu thân tôi dọn hết đồ đạc ra ngoài chỉ chừa lại cái giường nằm. Trên bốn bức tường đều có hình Phật A Di Đà đang đưa tay tiếp dẫn để mẫu thân có thể nhìn thấy Phật khắp nơi. Cẩn thận hơn mỗi ngày tôi đều dặn dò mẫu thân nếu thấy cha, mẹ, hay phụ thân đã mất của tôi đến để dẫn đi thì đừng đi theo họ vì đó là oan gia trái chủ trá hình. Chỉ được đi theo Phật A Di Đà mà thôi. Tôi thường hỏi mẫu thân duy nhất một câu mỗi ngày là: “Phật A Di Đà màu gì, tướng mạo ra sao?” Mẫu thân cũng chịu khó trả lời rằng: “Phật A Di Đà mặc áo đỏ, nền vàng, tay trái cầm hoa sen, tay phải duỗi xuống.” Đó chính là tấm hình Phật được treo trong phòng mẫu thân trên 4 vách tường. Chị trưởng Ban Hộ Niệm khuyên tôi nên đem hình Tây Phương Tam Thánh tiếp dẫn vào trong phòng để mẫu thân được nhìn thấy, tôi nghĩ cũng hợp lý, nhưng lại sợ mẫu thân bị phân tâm khi nhìn thấy nhiều hình Phật khác nhau nên tôi đã không làm theo ý chị. Hy vọng chị trưởng Ban Hộ Niệm sẽ hiểu được nỗi lòng của tôi lúc ấy.

Niệm Phật nhiều như thế được vài hôm bỗng dưng mẫu thân sanh ra giải đãi không muốn niệm Phật nhiều như trước nữa. Cụ bắt đầu niệm Phật với tâm trạng uể oải, gượng gạo và vì để tôi vui lòng, chứ không phải là tự bản thân mẫu thân thích niệm Phật. Thủa còn chưa thành thân với phụ thân tôi, mẫu thân thường đến chùa và thích nghe pháp của các thầy giảng. Chính mẫu thân là người đã tập cho tôi có sở thích nghe pháp trong những lần về thăm nhà và thường đưa các đĩa cassette (khi ấy chưa có đĩa CD như bây giờ) bên trong là các bài giảng của nhiều vị pháp sư để tôi đem về Mỹ nghe. Nhưng tiếc rằng mẫu thân chỉ biết tu phước hữu lậu chứ chưa biết tu phước vô lậu. Bởi tâm mong muốn lành bệnh của mẫu thân dường như lớn hơn tâm vãng sanh. Mặc dù tôi đã hết lời giảng giải, và Ban Hộ Niệm cũng giải thích cho mẫu thân biết rằng khi một chiếc áo đã quá cũ và rách nát, dù có vá lại nhiều lần để mặc nhưng cuối cùng cũng đến lúc phải bỏ đi chứ không thể lành mãi được. Thân người cũng thế mà thôi. Ở tuổi ngoài thất thập cổ lai hy, đời người như ngọn đèn treo trước gió, làm sao đèn cháy mãi cháy lâu được?

Suốt thời gian ở gần mẫu thân, tôi cố gắng làm hết mọi việc thiện và hồi hướng tất cả công đức cho mẫu thân.
Mỗi đêm trước bàn thờ Phật tôi thành tâm nguyện cầu cho mẫu thân được vãng sanh trong khoảng thời gian tôi còn ở Việt Nam, càng sớm càng tốt. Hết tiền phóng sanh tôi xem lại bản thân mình có thể làm gì được hơn nữa để tạo thêm công đức cho mẫu thân sớm được về với Phật trong thời gian này. Tôi đã không ngại ngần lên chùa thỉnh thầy cho tôi được xuống tóc và xin nguyện đem công đức ấy hồi hướng cho mẫu thân. Sau khi tôi xin thầy cho xuống tóc, suốt mấy ngày liền sau đó tôi cảm nhận phía trên đỉnh đầu rất nóng. Một cảm giác nóng từ bên trong tỏa ra chứ không phải do cái nóng bên ngoài của tiết trời tháng Ba tạo thành. Hơi nóng dường như nóng hơn bao giờ hết mỗi khi tôi ngồi tĩnh tọa niệm Phật. Điều này cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao, nhưng tôi đoán có thể do mới cạo tóc, lại đi dưới trời nắng nóng bên nhà nên bị như thế cũng nên? Khi tóc không còn tôi lại tiếp tục nhìn xem trên thân mình còn có gì để có thể bố thí hay cho đi để mong mẫu thân tôi được vãng sanh. Thế là khi nhìn thấy con dao Thái Lan nhỏ để trên bàn tôi nghĩ ngay đến chuyện trích máu của mình để viết hồng danh A Di Đà Phật rồi đốt để cúng dường chư Phật. Nghĩ là làm nhưng do dao xài lâu ngày không còn được bén nên tôi đã phải cứa đi cứa lại nhiều lần trên đầu ngón tay cho đến lúc tướm máu. Trước khi làm điều này tôi đã quỳ trước bàn thờ Phật để nguyện một lời nguyện không thay đổi, rằng tôi chỉ xin hồi hướng công đức này để mẫu thân được vãng sanh trong thời gian tôi còn ở VN, để tôi có thể lo cho mẫu thân một cách vẹn toàn. Nhưng tiếc thay, có lẽ lời cầu nguyện của tôi chưa đủ thành tâm để cảm đến đức Phật.

Có một lần tôi đang ngồi niệm Phật cùng Ban Hộ Niệm Thanh Liên trong phòng mẫu thân, mắt tôi hướng lên nhìn hình Phật A Di Đà thì bỗng thấy có điều gì đó khiến tôi phải chú ý. Kế đó tôi thấy vầng hào quang màu vàng xung quanh Phật cứ lớn dần và tỏa sáng rực rỡ. Trong lúc ấy mọi người xung quanh còn đang niệm Phật và không thấy ai khác có cử chỉ gì lạ. Vì vậy tôi cũng tiếp tục niệm Phật và không nói gì. Cuối buổi hộ niệm không ngờ chị trưởng Ban Hộ Niệm tự động tiết lộ rằng chị thấy hào quang của Phật tỏa ra rất sáng trong lúc niệm hồng danh Phật. Như vậy là chỉ có tôi và chị trưởng Ban Hộ Niệm nhìn thấy được điềm lành ấy, ngoài ra không còn ai khác nhận ra điều đó. Nghe chị nói tôi cũng chỉ mỉm cười nhưng không nói thêm điều gì và im lặng cho đến tận bây giờ. Qua đó chúng ta biết rằng chư Phật đã phóng quang hộ trì suốt buổi hộ niệm mà mắt phàm chúng ta không nhìn thấy được.

Sau thời gian ba tuần ở bên cạnh thân mẫu, ngày ngày cùng Ban Hộ Niệm niệm Phật, dường như sức khỏe của mẫu thân có phần tốt hơn chứ không thấy có triệu chứng vãng sanh, tôi lên đường trở về lại Mỹ và cẩn thận ghi lại tên và số điện thoại của các chị trong Ban Hộ Niệm cho cô em dâu, dặn dò khi có chuyện xảy ra với mẫu thân mà không có Ban Hộ Niệm ở cạnh bên thì hãy gọi cho Ban Hộ Niệm, không nên đưa vào bệnh viện. Tôi cũng dặn em trai như thế vì bình thường em trai tôi hay nghĩ rằng còn nước còn tát. Tôi bảo em trai rằng đúng vậy, nếu trong ao còn cá thì mới còn tát, chứ nếu trong ao đã không còn cá thì có tát nhiều cũng chẳng thu được lợi ích gì. Mẫu thân đã lớn tuổi, nếu đã đến lúc ra đi thì hãy để mẫu thân đi chứ đừng nên đưa mẫu thân vào bệnh viện làm gì nữa.

Khoảng một tháng sau đó nghe người nhà nói lại mẫu thân không còn ham thích niệm Phật cùng Ban Hộ Niệm nữa nên các chị trong Ban Hộ Niệm cũng không còn đến nhà để trợ niệm cho mẫu thân. Nghe đến đây tôi chỉ biết thở dài. Âu cũng là phước phần của mẫu thân như thế, dẫu cho tôi đã cố gắng tận lực. Nhưng hàng tháng tôi vẫn gửi tịnh tài về cho chị trưởng Ban Hộ Niệm làm lễ phóng sanh hồi hướng công đức cho cụ hầu giảm bớt được tội nghiệp của mẫu thân được phần nào hay phần nấy.

Trước khi về lại Mỹ, tôi có ghé thăm một người bà (chị của ông nội tôi) đã quá già yếu. Bà đã nằm một chỗ trên giường và rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Mọi chuyện vệ sinh cá nhân đều phải có người giúp chứ bà không còn làm chủ được bản thân nữa. Đến nhà thăm bà , tôi cũng cảm thương bà nên dù biết rằng khó có thể nói gì cho bà hiểu được vào lúc này, nhưng tôi nghĩ dù chỉ còn một tia hy vọng cũng phải cố gắng. Sau khi treo tấm hình Phật A Di Đà lớn bằng người thật nơi cuối giường để khi bà tỉnh có thể nhìn thấy, tôi còn để gần bên chỗ bà nằm một máy niệm Phật với hy vọng trước lúc lâm chung nếu bà nghe được danh hiệu Phật thì không phải rơi vào ba đường dữ như lời ngài Địa Tạng đã dạy. Sau đó tôi thử khai thị cho bà , nhưng phải nói thật lớn tiếng vì bà bị thêm chứng nặng tai. Trong thời gian khai thị có lúc bà có thể mở mắt ra nhìn và nói được vài câu, mắt hướng về phía hình Phật A Di Đà như có vẻ hiểu. Được vài phút như thế bà lại rơi vào hôn mê, nhưng tôi vẫn cứ đứng kề bên tiếp tục khai thị cho bà về nguyện lực thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, sau đó mới ra về. Vài tháng sau tôi nghe nói bà ra đi, nhưng trước khi bà ra đi may mắn thay cô em dâu của tôi thuyết phục được con cháu trong gia đình bà cho mời Ban Hộ Niệm Thanh Liên đến để trợ niệm cho bà. Không ngờ cô em dâu còn nhớ lời tôi dặn khi hữu sự hãy gọi điện cho Ban Hộ Niệm đến để hộ niệm. Thật không uổng công tôi cẩn thận ghi lại số điện thoại của các chị trong Ban Hộ Niệm vào sổ tay của cô ấy. Qua điện thoại, cô em dâu líu lo kể về sự lạ kỳ trong ngày bà tôi ra đi. Đúng ra là khi nhận một ca hộ niệm nếu Ban Hộ Niệm thấy người lâm chung đã rơi vào hôn mê không còn tỉnh táo là họ sẽ không nhận lời hộ niệm. Nhưng có lẽ do trước khi rời Việt Nam tôi có kể cho chị trưởng Ban Hộ Niệm về trường hợp của bà, nên chị có vẻ thông cảm và sau này vì nể tình mà đến nhà hộ niệm cho bà. Ngày bà ra đi ngoài thoại tướng mềm mại, cây cối trong nhà bỗng dưng trổ hoa dù cây mua về đã mấy năm rồi nhưng chưa từng ra hoa lần nào. Chim chóc từ đâu bỗng bay về đậu lại rất nhiều trên mái nhà. Sau này tôi có đem điều này hỏi ý kiến cư sĩ Diệu Âm nhân dịp chú đến chùa Phật Quốc tại tiểu bang Washington, Hoa Kỳ để giới thiệu pháp môn Hộ Niệm thì được chú ấy xác nhận rằng, căn cứ vào các điềm lành ấy có khả năng bà đã được vãng sanh.

Trở về Mỹ được 3- 4 tháng tôi được hay tin một ngày nọ cái bướu to trên cổ mẫu thân bỗng dưng vỡ và máu đen hôi thối chảy ra rất nhiều. Nghe đâu nhiều đến cả nửa xô nhỏ dùng để đựng nước lau nhà. Như thế là oan gia trái chủ đã rời khỏi thân thể của mẫu thân và cũng kể từ đó mẫu thân đã ăn ít lại, giống như chế độ ăn của người cao niên chứ không còn ăn nhiều như lúc trước nữa. Cuối năm ấy, vào lúc giữa đêm mọi người trong gia đình tôi đang ngủ thì nhận được điện thoại từ bên Việt Nam báo tin mẫu thân tôi đã ra đi. Nhưng cũng may là trước đó vài tiếng đồng hồ cô em dâu đã gọi cho Ban Hộ Niệm đến để trợ niệm cho mẫu thân từ lúc hấp hối và 8 tiếng sau đó. Thoại tướng tương đối tốt khi chân tay mẫu thân đều mềm mại. Tuy rằng mẫu thân không ra đi trong lúc tôi còn ở Việt Nam như lời nguyện, nhưng có một điều ứng nghiệm là tôi còn nguyện thêm cho mẫu thân được ra đi vào ban ngày và có đầy đủ thiện hữu trí thức cạnh bên hộ niệm. Quả thật mẫu thân đã không ra đi vào ban đêm mà đi vào ban ngày nên hầu như Ban Hộ Niệm đến nhà đầy đủ để trợ duyên cho cụ.

Chuyện mẫu thân của tôi có lẽ đã đến hồi kết thúc, nhưng tôi muốn nói thêm rằng: có lẽ nương nhờ chút công đức phóng sanh ngày ấy cho mẫu thân mà tôi cũng được hưởng phước lây, bởi căn bệnh lạ tôi phải chịu đựng 25 năm qua bỗng dưng ra đi không nói lời từ biệt.

Cư sĩ Hữu Minh

----------------------------------------------------
Xem Thêm:
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Thursday, November 13, 2014 5:36:26 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
GIỚI SÁT

Trích: Trúc Song Tùy Bút
Tác giả: Đại sư Liên Trì (1532-1612)
Dịch giả: Thích Viên Thành


Trời đất sinh ra vật cho người ta ăn, như bao loại ngũ cốc, bao loại hoa quả, bao loại rau dưa, bao loại thức ngon dưới nước trên cạn. Và con người còn dùng trí xảo mà làm thành bánh, thành quà, đem ướp, đem muối, đem nấu, đem rang, có thể nói là đủ ngàn vạn thứ, tội gì còn đem các vật cùng có khí huyết, cùng có mẹ con, cùng có tri giác, cùng biết đau biết ngứa, biết sống biết chết như mình đem giết thịt mà ăn. Lẽ nào lại thế? Thường ngày hay nói: "Chỉ cần tâm tốt, chẳng cứ phải ăn chay". Than ôi! Giết thân chúng mà ăn thịt chúng, tâm địa mà thiên hạ gọi là hung tâm, thảm tâm, độc tâm, ác tâm, hỏi còn có thứ tâm nào quá quắt như thế! Vậy hảo tâm sẽ ở chốn nào? Xưa tôi làm bài văn giới sát phóng để khuyên thế gian và đã có nhiều người khắc ván in bài văn này, không dưới một hai chục bản. Lành thay, đời này may sao vẫn còn có những người nhân đức, quân tử như vậy.

ĂN CHAY

Người giàu sang chẳng thể ăn chay, nguyên nhân có hai: Một là ham ăn mặn khoái khẩu, là do ăn rau dưa sẽ làm tổn hại đến thân thể. Chẳng biết rằng ăn thịt hay ăn rau, thân thể có khi vì thế mà béo hay gầy, nhưng chẳng có liên quan gì tới thọ hay yểu cả. Vả lại trong các loài thú thì hươu thọ nhất vậy mà thức ăn của nó chỉ là cỏ mà thôi. Hổ ăn thịt mà tuổi thọ lại ngắn hơn hươu, thế thì thế nào? Hươu chẳng ăn thịt mà vẫn thọ, sao riêng con người lại chẳng thế? Tuy vậy, có người bị ốm đau, tâm dẫu muốn ăn chay mà lực chẳng hợp; có người bị bề trên bắt ép, tâm dẫu muốn ăn chay mà thế chẳng được thế thì cũng tạm ăn chay một tháng, ăn chay một ngày cùng tam tịnh nhục, chỉ cần kiên trì chẳng sát sinh là được. Lâu dần, thói cũ sẽ tự đoạn trừ được.

ĂN THỊT

Người thế gian đối với bạn bè thân thuộc nếu thấy có ai bỏ thịt ăn chay thì nếu chẳng kinh ngạc cho là kỳ cục thì cũng chê cười cho là ngu.

Xét ra con người cùng với súc vật đều cùng là một đống thịt như nhau cả. Người thịt chẳng ăn thú thịt, đó là thiên lý nhân tình ắt phải như thế, cũng có gì là lạ, huống hồ lại cho đó là ngu!

Ôi! chúng sinh thật là mê muội hết mức!

NHƯ LAI CHẲNG CỨU NGHIỆP SÁT SINH

Lại nữa, thời nay tạo nghiệp, chỉ có nghiệp sát sinh là ghê gớm nhất. Không kể bốn biển rộng lớn, chỉ riêng một ấp này trong một ngày số sinh mệnh như bò dê chó lợn, ngỗng vịt cá mú ba ba bị giết đã có tới hàng ngàn hàng vạn rồi, hạng bé nhỏ thì không sao đếm xuể! Còn xuân thu nhị kỳ, cúng trời đất, thờ quỷ thần, cúng tế tổ tiên, báo đức báo công với Tiên thánh Tiên hiền, số sinh vật bị giết để sử dụng vào việc thờ cúng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy mà trời đất chẳng xót, quỷ thần chẳng thương, tổ tiên chẳng biết, Tiên thánh Tiên hiền chẳng ngầm ngăn cấm. Đến như Như Lai lòng nhân che khắp trời đất, đức từ bao dung cả quỷ thần, ơn vượt tổ tiên, đức trên Hiền thánh, sao chẳng thị hiện một chút thần thông, hoặc khiến kẻ sát sinh phải chịu ác báo nhãn tiền, hoặc khiến ác báo giáng trả lại ngay chính bản thân người đó. Như thế thì ai mà chẳng run sợ hối cải. Vậy mà lại thờ ơ dường như không hề hay biết là nghĩa làm sao? Ngẫm nghĩ hồi lâu, mới biết lũ bò dê v.v. ngày nay vì xưa kia tạo nghiệp sát sinh, nên bị quả báo tại loài súc sinh. Còn bọn đồ tể kia chính là những kẻ trước kia bị giết đã chuyển làm kẻ hay giết, nhân duyên hội ngộ, mới thỏa tấm lòng; định nghiệp sui khiến nên thế, không ai có thể cứu được, chờ khi nghiệp tận rồi báo mới đứt.

Dẫu là trời của trời, Thánh của Thánh cũng chẳng làm gì được. Huống hồ báo cũ mới bình, họa mới lại gây, nhân quả theo nhau, ta chẳng biết tới lúc nào mới kết thúc.

Vả lại, sự đã qua không ai khuyên can được, nhưng sự chưa tới thì còn có thể kịp. Thế thì nay hãy đoạn trừ cái nhân sát sinh, sau này sẽ không bị quả báo của việc sát sinh. Lời giáo huấn rõ ràng của Như Lai sáng tỏ như mặt trời như sao sáng, vì chúng sinh mà cứu sát nghiệp, há chẳng hết mức ư?

MẶC LỤA ĂN THỊT

Hối Am tiên sinh bài Phật, Không Cốc đã ra sức biện bác. Tuy vậy, Hối Am cũng có chỗ đã giúp Phật phát dương giáo hóa. Điều này không thể không biết. Như khi giải thích Mạnh Tử, ông nói: "Tuổi năm mươi nếu chẳng phải là lụa thì chẳng ấm, người chưa tới năm mươi thì chẳng được mặc. Tuổi bảy mươi nếu chẳng phải thịt thì chẳng no, người chưa tới bảy mươi thì chẳng được ăn". Xét ra, lông thú miệng tằm: tàn hại sinh vật, tổn thương tới lòng từ bi. Đó là quy chế của Phật. Cứ phải 50 tuổi mới được mặc lụa thế thì số người mặc lụa sẽ ít. Ăn thịt thì đứt mất hạt giống đại từ bi, đó là quy chế của Phật. Cứ phải 70 tuổi mới được ăn thịt, thế thì số người ăn thịt sẽ ít. Nay ngay từ đứa trẻ còn bế ắm vốn đã bao lớp áo lông để bảo vệ thân hình, nấu thịt béo giết cá tươi để cho no cho chán cái miệng chẳng phải chờ tới lúc lớn khôn, huống nữa là già! Giá như thuyết của Hối Am được thi hành thì há chẳng phải là cũng giúp cho Phật pháp một ít ư! Những người bắt tội Hối Am chẳng xét kỹ điều này, cho nên ta phải nêu ra!

TỘI SÁT SINH

Trong trận thắng ở Đồng Giáp, Khổng Minh đã đốt người Man ở các động đều cháy thành tro tàn, ông nói: "Ta tuy có công với nước, nhưng ta chắc sẽ tổn thọ!". Người thế gian đều biết giết người là có tội, vậy mà đối với trâu, dê, chó, lợn v.v. ngày ngày bị giết đưa vào bếp núc thì lại điềm nhiên chẳng biết chê trách, lẽ nào lại nghĩ việc như vậy là nhẹ ư? Đâu được vô tội. Kinh Lễ nói rằng: "Vua vô cớ chẳng giết trâu, đại phu vô cớ chẳng giết dê, si vô cớ chẳng giết chó, lợn". Người đời đều biết giết súc sinh lớn là có tội, nhưng đối với các loại như tôm, hến, ốc, sò v.v. một gắp đũa có đến hàng trăm hàng ngàn con thì lại điềm nhiên chẳng chê trách, lẽ nào lại nghĩ việc như vậy là nhẹ ư? Đâu có được vô tội! Ôi! nếu căn cứ vào lẽ mọi chúng sinh đều có Phật tính thế thì con kiến với con người là một, có gì nặng nhẹ đáng nói đâu? Nếu như sang bắt nạt hèn, mạnh ức hiếp yếu thế thì con người có thể giết mà ăn thịt cũng chẳng có gì nặng nhẹ đáng nói đâu? Kinh Phạm võng nói: "Phàm là loại có mệnh, chẳng được cố ý giết hại" ý nghĩa câu này sâu sắc thay!

NGHỀ Y GIỚI SÁT SINH

Đào Ẩn Quản lấy sinh vật làm thuốc, cuối cùng đã khiến việc thượng thăng của ông ta bị ngưng trệ.

Xét ra sát sinh để nuôi miệng nuôi bụng quả là không được; tổn hại vật mệnh để bảo toàn nhân mạng dường như vô tội. Chẳng biết quý người mà coi rẻ súc vật, thường tình thì thế, nhưng đó chẳng phải là tâm bình đẳng của chư Phật Bồ tát. Giết một mạng, cứu sống một mạng việc đó bậc nhân giả chẳng làm. Huống hồ sống chết do số phận quyết định, chưa hẳn là người bệnh đó đã có thể sống được! Như thế thì chỉ tăng thêm oan báo mà thôi.

Người có bệnh nên nghĩ kỹ điều này, người làm nghề thuốc nên nghĩ kỹ điều này!

NHÂN ỐM MÀ ĂN THỊT

Có người thụ Phật giới bỏ ăn thịt, nhưng bỗng bị duyên bị thân hữu nài ép rồi lại gặp bọn lang y dung tục xúi bậy, đến nỗi ăn chay lâu ngày mà mót sớm phá giới. Chẳng biết nghĩ rằng lực của thịt chỉ có thể vỗ béo thân, chứ chẳng thể kéo dài thọ mệnh, bậc trí giả đã nhất định không làm thế. Hơn nữa bọn con em ăn cao lương mỹ vị có người gày đét như người ốm đói, còn người làm ruộng ăn rau lê rau hoặc có khi lại đẫy đà béo tốt như lái buôn. Thế thì ăn thịt vỗ béo thân còn chưa được, làm sao mà bảo đảm được thọ mệnh? Ăn rau mà ốm, bảo họ ăn thịt. Ăn thịt mà ốm thì lại bảo họ ăn gì? Người có bệnh cứ tự giữ mình theo đúng đạo lý mà thôi. Nếu là người ở địa vị thấp bé trên có bậc tôn trưởng, do tình thế bổn phận bắt buộc, chẳng thể trái được thì ăn Tam tịnh nhục cũng được. Còn sát sinh mà ăn thì không được!

SÁT SINH LÀ TỘI ĐẠI ÁC TRONG THẾ GIAN

Có người bảo rằng: "Tội ác mà con người gây ra, tội gì lớn nhất?". Có người đáp rằng: "Đó là trộm cắp, ngỗ ngược, sui nguyên giục bị". Ta bảo rằng: "Đó là đúng, nhưng còn tội lớn hơn, tội lớn không gì lớn bằng tội sát sinh". Người kia nói: "Giết mổ nấu ăn, đó là việc thường dùng hàng ngày sao mà gọi là ác được? Huống hồ lại cho là tội lớn nhất?”. Ôi! Trộm cướp tuy ác, nhưng chủ ý là được của, nếu vui vẻ mà đưa cho chúng thì chưa hẳn là chúng sẽ giết hại mạng người. Còn sát sinh thì mổ bụng moi tim, gan óc đưa vào nồi vạc. Kẻ ngỗ ngược có khi bỏ mặc chẳng phụng dưỡng, lếu láo chẳng cung kính, nhưng chưa hẳn đã làm các chuyện giết cha như A Xà Thế, Dương Quảng. Huống hồ những người bị A Xà Thế, Dương Quảng giết hại chỉ là cha mẹ một đời, còn các loài có sinh mệnh thì như trong Kinh đã nói có khi là cha mẹ nhiều đời trước kia! Kẻ sát sinh từ lúc trẻ tới lúc già số bị hắn giết thịt nhiều vô kể, thế thì hắn phải giết hại đến cha mẹ nhiều đời! Kẻ sui nguyên giục bị tội ác gom lại tiếng xấu đồn vang, phần nhiều sẽ bị tra xét ra, ít kẻ lọt lưới. Còn kẻ sát sinh kia ai mà tra xét ra hết được? Thế thì tác hại của tội sui nguyên giục bị chỉ có hạn, còn tác hại của tội sát sinh là vô cùng tận. Cho nên đức lớn của trời đất là sinh, tội ác lớn trong vòng trời đất là sát sinh.

SÁT SINH CHẲNG PHẢI LÀ VIỆC LÀM CỦA CON NGƯỜI

Hổ báo ăn thịt đàn thú; ưng vọ ăn thịt đàn chim; cá chuối, dái cá, chim diệc, chim cò ăn các loài thủy tộc như tôm cá v.v. Loài vật vô tri thì thế. Đủ hình dáng người, mang bẩm tính người mà lại giết các chúng sinh để mà ăn thịt, liệu có được không? Đó là hổ báo, ưng vọ, cá chuối, dái cá, chim diệc chim cò trong loài người! Tuy nhiên, hổ chẳng hại tới loài bay tận trên không, cá chuối chẳng hại tới loài chạy trên cạn, còn con người thì trên tới trời, dưới tới vực, giữa tới các loài rải rác khác nhau ở rừng rú ruộng đồng, lưỡi câu dáo mác lưới bẫy, trăm phương ngàn kế để bắt chúng không sót mống nào. Thế thì con người giết hại còn thậm tệ hơn loài vật. Khổng Tử nói rằng: Nhân có nghĩa là có tính người. Mạnh Tử nói rằng: "Nhân có nghĩa là lòng người. Người mà bất nhân thì đó còn được là người nữa không. Đã mang danh là người thì ắt không có lý nào lại sát sinh ăn thịt!"

CẤM GIẾT MỔ

Người thế gian giết nhiều sinh mệnh để cung cấp việc ăn uống sớm tối, để chuẩn bị yến tiệc khao thưởng, để thờ phụng cúng tế và họ đều bảo đó là lẽ đương nhiên. Đã là đương nhiên thế thì sao hạn hán, lụt lội, quan lại cấm giết mổ. Sau đó mới biết giết mổ là sai trái?

Tuy vậy, đang hạn mới mưa nhỏ, mưa lụt mới hơi tạnh là giò lợn, chân cừu đã treo cao ở chợ búa rồi!

Hơn nữa, phong tục ở Hàng Châu hễ cầu đảo Quan Âm đại sĩ, ắt thỉnh tới chùa Hải Hội và toàn thành mổ giết, vậy thì thành ý ở đâu? Thật rất đáng than trách.

Nếu họ luôn luôn giới sát, nhà nhà trì trai, ắt có thể cảm triệu được thiên hòa, mưa nắng phải thời, lúa đồng được mùa, bốn biển thanh bình, phong tục tốt đẹp thời Cát Thiên, Vô Hoài chắc chắn sẽ tái hiện ở ngày nay! Ngặt nỗi tập tục theo nhau chẳng thể cứu vãn được. Buồn thay!

NUÔI CÁ, HẠC

Thế tục người nuôi cá vàng thì nuôi bằng bọ cơ hà, người nuôi hạc thì nuôi bằng cá con. Nuôi hạc thì một bữa phải đến hàng trăm. Nuôi cá vàng thì mỗi bữa ăn hàng ngàn. Gom ngày thành tháng, gom tháng thành năm, sát nghiệp thật vô biên. Xét ra chăn tằm, chăn nuôi gia súc, đó là vì no ấm mà gây ra sát nghiệp ấy. Cá và hạc chỉ để nhìn ngắm nhất thời mà thôi. Than ôi! Thế mà cũng chẳng thể chấm dứt được.

HỨA NGUYỆN CỦA THẾ TỤC

Người thế gian cầu tự, cầu kéo dài thọ mệnh, cầu cho qua khỏi bệnh tật, cầu trừ tai giải ách, cầu để được công danh, cầu cho nhà cửa bình an, cầu để được thêm của cải, các việc như vậy tốt nhất chẳng thể khấn khứa hứa nguyện rằng sẽ giết thịt súc vật để lễ tạ. Đó gọi là ác nguyện, chỉ có nghiệp chứ không có công, dẫu có được toại tâm tốt đẹp nhất thời, sau này sẽ phải chịu khổ báo. Cho đến hứa cúng áo bào, cúng phướn, hứa xây điện đường, hứa cúng đồ thời tuy chẳng giống như lễ mặn nói trên, song tâm đại bi bình đẳng mới gọi là Phật, chính trực chẳng thiên lệch mới gọi là Phật, lẽ nào lại có chuyện vì hối lộ mà giáng phúc? Dẫu có được toại tâm, cũng là do số mệnh của người đó tự xui nên, chẳng phải là nhờ lực hứa nguyện. Theo lý mà bàn, chỉ tại làm nhiều việc thiện mà thôi. Trung với vua, hiếu với cha mẹ, thương người nghèo, yêu người già, cứu tai thương khổ, giới sát phóng sinh, đủ mọi ân đức, đủ mọi phương tiện, tùy theo năng lực đều ra sức thực hành, công làm điều thiện lẽ tất nhiên sẽ được cảm ứng bằng những điều tốt lành. Nếu chẳng toại tâm thì nên quy cho mệnh trời, phó cho túc duyên, chẳng oán chẳng trách, càng làm điều thiện mà không chùn hối!

CON NGƯỜI CHẲNG NÊN ĂN THỊT CHÚNG SINH

Kinh nói: Giầy da áo lông v.v. các vật đó chẳng nên dùng, vì các thứ đó hàng ngày gần gũi với các súc sinh. Xét ra các thứ này chỉ dùng ở bên ngoài thân, huống hồ ăn thịt thì vào trong thân! Người thời nay dùng chó, lợn, bò, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba làm thức ăn, suốt đời chẳng thấy đó là sai, là vì sao? Xét ra ăn uống vào dạ dày, dư dật tinh khí để quy về tỳ, cặn bã dịch thải bị đưa ra khỏi ruột non ruột già còn chất tinh túy máu mỡ thì mới bồi bổ phủ tạng, tăng trưởng cơ bắp, tích lũy lâu ngày thì toàn thân đều là thân của chó, lợn, bò, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba; tấm thân do cha mẻ đẻ ra ngay trong đời này đã thành loài khác rồi, nói chi đến kiếp sau?

Xét ra dùng ngũ cốc để nuôi dưỡng, rau dưa để bổ sung, hoa quả để phụ trợ. Đó là lời trong sách nội kinh (Tức Hoàng đế nội kinh: tên một loại sách thuốc thời xưa). Những thứ thức ăn của con người cũng đã rồi. Vậy thì cần gì mà phải ăn thịt nữa. Đã gọi là người thì chẳng nên ăn thịt.

Quote:
TIỂU SỬ ĐẠI SƯ LIÊN TRÌ (1532-1612)


Đại sư Liên Trì (1532-1612), cao tăng đời nhà Minh. Sư người Hàng Châu, họ Thẩm, tự Phật Tuệ, hiệu Liên Trì. Thuở nhỏ theo Nho học. 17 tuổi đã đứng đầu môn sinh, quyết lấy việc học hành làm sự nghiệp. Sau do ảnh hưởng bạn bè, sư để tâm đến pháp môn Tịnh độ, viết bốn chữ “Sanh tử sự đại” treo trên đầu giường để tự cảnh tỉnh.

Tuổi trung niên, sư quy y theo Phật, đến Vô Môn Tánh Thiên ở Tây Sơn xin xuất gia. Rồi bái Vô Trần ở Chiêu Khánh cầu thọ giới cụ túc. Sau, sư vân du bốn phương tham thiền, học đạo.

Niên hiệu Long Khánh thứ 5 (1571), sư đến Hàng Châu, trụ ở núi Vân Thê, thường tịnh tu niệm Phật tam muội, giáo hóa xa gần, học trò dần dần vân tập, núi ấy bỗng chốc trở thành Tòng Lâm. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 12 (1584), sư sáng tác Vãng Sanh tập, 3 quyển; Vạn Lịch năm 30, sư tuyển Lăng Nghiêm kinh mô tượng ký, 1 quyển.

Đương thời, giới đàn đã lâu lắm không được thực hành, sư bèn cho những người cầu thọ giới cụ túc chuẩn bị đủ ba y, đến trước Phật đài truyền giới, thỉnh Phật làm chứng minh. Rồi sư chế định Thủy Lục Nghi Văn và Du Già Diệm Khẩu Pháp, để chẩn tế cứu khổ cho chúng sanh ở cõi u minh. Sư còn xây dựng hồ phóng sanh ở trong và ngoài thành, biên soạn văn Giữ giới - phóng sanh, khuyên mọi người chớ thương tổn đến loài vật. Sư chủ trương tu tập pháp môn Tịnh độ, đồng thời nỗ lực xiển dương Thiền Tịnh song tu, khiến cho đạo phong tỏa khắp, lợi lạc vô cùng. Những người trí thức trong thiên hạ như Tống Ứng Xương, Lục Quang Tổ, Phùng Mộng Trinh… bấy giờ đều được cảm hóa, theo sư học đạo.

Cuối đời, sư nhuốm bệnh, lại càng nỗ lực siêng tu tịnh nghiệp, viết 32 điều bất tường để cảnh tỉnh mình và người; lại viết Ba điều đáng trách, 10 điều đáng khen, để khuyến tấn đồ chúng. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 40, sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Người đời tôn xưng: Vân Thê Hòa thượng, Liên Trì đại sư.

Tác phẩm còn có: Thiền Quan Sách Tấn, Phạm Võng Giới Sớ Phát Ẩn, A Di Đà Kinh Sớ Sao, Hoa Nghiêm Kinh Cảm Ứng Lược Ký tổng cộng có hơn 30 tác phẩm.





Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#6 Posted : Tuesday, November 18, 2014 6:43:02 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)


ĐẠI SƯ ẤN QUANG giảng về VIỆC
KIÊNG GIẾT, PHÓNG SANH, ĂN CHAY v.v...

Trích "ẤN QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC"
Cư sĩ Lý Viên Tịnh kết tập
Chuyển ngữ: Như Hòa


Link trực tiếp : http://www.youtube.com/watch?v=TBjPz7ypQAY



Trích Phần "Giảng những điểm trọng yếu về việc giới sát"
trong "ẤN QUANG ĐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC"



Đại đức của trời đất là SANH, đại đạo của Như Lai là TỪ. Người, vật tuy khác, tâm tánh là đồng. Như Lai xem khắp cả tam thừa lục phàm đều như con một. Vì sao vậy? Do họ đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật. Tam thừa hãy để đó. LỤC PHÀM là trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Tuy có cao thấp khác nhau, khổ vui khác nhau, nhưng đều chưa đoạn được Hoặc nghiệp, chưa ra khỏi sanh tử. Phước trời nếu hết liền phải đọa xuống. Tội trong địa ngục nếu tiêu bèn lại sanh lên. Hệt như bánh xe, hết lên cao lại xuống thấp.

Ta nay may được thân người, lẽ ra phải khéo léo bày cách để cứu giúp, thương tiếc sanh mạng loài vật, thể hiện đức hiếu sanh của trời đất, thể hiện lòng nhân trắc ẩn trong tâm ta. Ấy là vì các loài vật và ta cùng sống trong vòng trời đất, cùng hưởng sự sanh trưởng, dưỡng dục của trời đất. Lại cùng biết tham sống, cùng biết sợ chết. Người có lòng nhân đối với xương khô còn nhặt lấy đem chôn, đối với cỏ cây còn để mọc dài chẳng chặt, nào chịu vì sướng bụng miệng mà khiến cho các loài vật trên cạn, dưới nước phải chịu nỗi khổ cắt, xẻ, nung nấu ư?

Phải biết rằng các loài vật từ vô thỉ đến nay cũng từng ở địa vị cao sang, tôn quý, oai quyền hiển hách, chẳng biết mượn oai quyền để ban bố ân đức; trái lại cậy quyền tạo nghiệp, khiến cho ác nghiệp chất chứa như rừng, đọa trong dị loại. Miệng chẳng nói được, tâm không suy nghĩ, thân không tài khéo nên mắc phải nạn này. Tuy thịt mềm bị cưỡng ăn là chuyện đã đành, nhưng oán hận đã kết, há chẳng đời đời kiếp kiếp lo báo thù cái oán niệm này chăng?

Ví dù con người chẳng nghĩ đến nỗi khổ của những con vật bị giết, lẽ nào chẳng sợ oán nghiệp kết sâu, thường bị chúng giết lại hay sao? Lại chẳng sợ tàn hại loài vật của trời, trời sẽ đoạt mất phước thọ của mình hay sao? Người nào mong cho quyến thuộc đoàn tụ, thọ mạng dài lâu, thân tâm yên vui, các duyên như ý, rất nên phát tâm đại bi, thực hành phóng sanh, khiến cho thiên địa quỷ thần thảy đều thương xót tấm lòng thành thương loài vật của ta sẽ khiến cho những điều mình mong mỏi được thành tựu.

Nếu cậy mình có tiền tài, mình có trí lực, bày ra đủ cách bắt lấy các con vật hòng thỏa mãn bụng miệng mình, chẳng kể đến nỗi thống khổ của chúng, há còn đáng gọi là con người đứng cùng với trời đất thành tam tài chăng? Nhưng ta với chúng cùng trong sanh tử từ vô thỉ đến nay, cố nhiên chúng đều là cha, mẹ, anh, em, thê thiếp, con cái của mình, mình cũng là cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của chúng. Mỗi con vật ấy trong khi làm người hoặc lúc trong dị loại, từng bị ta giết; ta cũng trong lúc làm người, hoặc trong lúc làm dị loại, từng bị chúng giết. Làm kẻ oán, người thân, sanh ra nhau, giết hại nhau.

Lặng im suy nghĩ, thẹn chẳng muốn sống nữa! Hãy gấp rút sửa đổi, hối hận, vẫn còn là chậm, huống hồ cứ quen thói cũ, vẫn chấp mê tình, cho rằng trời sanh ra dị loại vốn là để làm thức ăn cho con người ư? Ta vẫn còn đầy đủ Hoặc nghiệp nên không cách nào thoát ra ngoài luân hồi được. Vạn nhất, chúng nó tội đã diệt, lại sanh làm người, thiện căn phát sanh, nghe pháp tu hành, đoạn Hoặc chứng Chân, đạt thành Phật đạo. Nếu ta đọa lạc, còn mong chúng sẽ rủ lòng từ cứu viện ngõ hầu lìa khổ được vui, chứng được Phật tánh. Há nên cậy vào sức mạnh một thời để đạt [cái khổ] bao kiếp dài lâu không được cứu vớt chăng?

Phải biết: Người cùng loài vật cùng mang cái thân huyết nhục này, cùng có tánh linh tri, cùng sanh trong vòng trời đất. Chỉ do đây kia tội phước bất đồng, đến nỗi đời này hình chất thông linh hay ngu xuẩn sai khác. Cậy ta mạnh hiếp loài yếu, dùng thịt chúng nó no đẫy bụng mình, khoái lòng thích chí, cho đó là phước báo. Chẳng biết rằng một khi phước lực đã tận, nghiệp báo hiện tiền, lúc bị người giết chóc, thân chẳng kháng cự lại được, miệng chẳng nói nổi, trong lòng buồn sợ, đau đớn, khổ sở, mới biết chuyện ăn thịt là một tội vạ lớn vậy.

Người ăn thịt đúng là La Sát, dù chẳng giết người để ăn thịt cũng không được. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm nói: “Do người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê. Như thế cho đến mười loại sanh vật. Chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau, ác nghiệp cùng sanh đến cùng tột đời vị lai”.

Lại còn nhiều kiếp đến nay sanh ra lẫn nhau. Đã không có đạo lực để cứu tế, nỡ nào để chúng nó bị dao xả cực khổ, hòng miệng lưỡi mình hưởng vị ngon chăng? Trong kinh Nhập Lăng Già, đức Thế Tôn bao lần quở trách chuyện ăn thịt. Có đoạn chép: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay ở trong sanh tử luân hồi chẳng ngơi. Không ai chẳng từng làm cha mẹ, anh em, quyến thuộc nam nữ cho đến bằng hữu thân ái, kẻ hầu. Qua đời khác, phải thọ các thân chim, thú... sao lại dùng chúng nó để ăn?” Phàm những ai sát sanh ăn thịt, nếu nghĩ đến điều này, ắt sẽ giật mình kinh sợ, tỉnh ngộ, thà tự giết mình, chẳng thể giết hết thảy loài vật nữa!

Ta cùng hết thảy chúng sanh đều trong luân hồi; từ vô thỉ đến nay thay phiên sanh ra nhau, lần lượt giết nhau. Cố nhiên ai nấy đều từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của chúng ta, ta cũng từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của mỗi kẻ đó. Cố nhiên, bọn họ do sức ác nghiệp trùng trùng ở trong loài người hoặc trong dị loại bị ta giết hại, ta cũng do sức ác nghiệp trùng trùng ở trong loài người hoặc trong dị loại bị chúng giết hại. Trải kiếp dài lâu, sanh ra nhau, giết lẫn nhau, trọn chẳng ngừng nghỉ. Phàm phu chẳng biết, Như Lai thấy thấu triệt. Chẳng nghĩ thì thôi, hễ nghĩ đến, hổ thẹn, đau xót khôn ngăn!

Ta nay may nhờ phước thiện đời trước sanh trong loài người, tất nhiên nên giải trừ oán hận, tháo mối trói buộc, kiêng giết, phóng sanh, khiến cho hết thảy những loài có sanh mạng ấy đều được yên ổn. Lại còn vì chúng nó niệm Phật hồi hướng Tịnh Độ khiến chúng được độ thoát. Nếu như chúng nó nghiệp nặng chẳng được sanh ngay, nương vào công đức từ thiện này, chắc chắn khi lâm chung sẽ vãng sanh Tây Phương. Đã vãng sanh rồi, liền được siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, dần dần chứng được Phật Quả.

Vả nữa, thương yêu loài vật, phóng sanh, cổ thánh tiên hiền đều làm chuyện ấy. Vì thế, kinh Thư chép chim, thú, cá, ba ba đều cảm mến Văn Vương. Văn Vương thương xót cả xương khô, huống hồ gì loài vật có tri giác! Còn như Giản Tử thả chim bồ câu, Tử Sản nuôi cá, Tùy Hầu cứu rắn, Dương Bảo thả chim sẻ. Đấy là do tấm lòng nhân bình đẳng của Thánh Hiền, chứ họ nào biết đến nghĩa lý: mỗi loài hàm linh xuẩn động đều có Phật tánh, lần lượt thăng trầm, làm kẻ oán, người thân lẫn nhau, tương lai quyết định thành Phật.

Mãi đến khi đại giáo truyền sang Đông, LÝ NHÂN QUẢ BA ĐỜI, CHÚNG SANH - PHẬT - TÂM bình đẳng vô nhị mới được sáng rực trong đời. Phàm là bậc đại thánh, đại hiền, không ai là chẳng kiêng giết, phóng sanh, hòng vãn hồi sát kiếp, hòng bồi đắp phước quả, dứt đao binh hầu làm nền tảng cho ngày tháng an vui. Cổ nhân nói: “Dục tri thế thượng đao binh kiếp; tu thính đồ môn bán dạ thanh” (Muốn biết binh đao trên cõi thế, lò mổ nên nghe tiếng giữa đêm). Lại nói: “Dục đắc thế gian vô binh kiếp, trừ phi chúng sanh bất thực nhục” (muốn cho thế giới thái bình, trừ phi nhân loại đồng tình ăn chay). Do vậy, biết rằng kiêng giết, phóng sanh chính là kế sách tốt lành nhổ sạch rễ, lấp tận nguồn để cứu đời vậy.

Nếu nói: “Kẻ quan, quả, cô, độc (5), bần cùng hoạn nạn đâu đâu cũng có, sao chẳng chu cấp cho họ, cứ khăng khăng lo cho bọn dị loại chẳng quan hệ chi với mình? Chẳng phải là đảo lộn chuyện hoãn - gấp, nặng - nhẹ ư?” Đáp rằng: Ông chưa biết nguyên do đức Như Lai dạy người kiêng giết, phóng sanh. Người và vật tuy khác, Phật tánh vốn đồng. Chúng do ác nghiệp đắm chìm trong dị loại, ta do thiện nghiệp may được làm thân người; chẳng tăng thêm lòng lân tuất, lại còn mặc sức ăn nuốt. Một mai phước ta đã hết, tội chúng nó đã tận, khó tránh bị nắm đầu đền nợ, no thỏa bụng miệng chúng.

Phải biết rằng: đao binh đại kiếp đều do sát nghiệp đời trước cảm thành. Nếu không có sát nghiệp, dù thân gặp phải giặc cướp, chúng sẽ khởi tâm lành, chẳng chém giết mình. Huống hồ là đối với những tai nạn ngang trái: ôn dịch, nước lửa... người kiêng giết, phóng sanh, tuyệt ít gặp phải. Vì thế, biết rằng: bảo vệ loài vật vốn là để bảo vệ mình, kiêng giết mới hòng khỏi bị trời giết, quỷ thần giết, đạo tặc giết, vị lai oan oan tương báo giết.

Đối với kẻ quan, quả, cô độc, bần cùng, hoạn nạn, cũng nên tùy phần tùy sức chu cấp, chứ nào phải người kiêng giết phóng sanh tuyệt chẳng thực hiện công đức ấy! Nhưng những kẻ quan, quả... dù thật đáng thương xót, vẫn chưa đến nỗi lâm vào tử địa. Loài vật nếu chẳng được cứu chuộc ngay, sẽ lập tức phải lên chảo, thớt để thỏa miệng bụng con người.

Lại còn có kẻ nói: Loài vật vô tận, phóng sanh được mấy? Đáp: Phải biết rằng, một việc phóng sanh chính là để khiến đồng nhân phát khởi thiện tâm tối thắng cứu giúp khắp sanh mạng loài vật, mong họ thể nhận được cái ý gấp thả, trong tâm động lòng xót thương, chẳng nỡ ăn nuốt. Đã chẳng ăn nuốt sẽ thôi săn bắt. Vậy thì hết thảy loài vật bay trên không, bơi dưới nước sẽ tự tại bay, chạy, bơi lội trong nơi sanh sống của chúng, tức là chẳng phóng sanh mà phóng sanh khắp cả, đấy chẳng phải là cả thiên hạ trở thành một cảnh hay sao?

Dù không phải ai cũng làm được như vậy, nhưng một người chẳng nỡ ăn thịt đã có vô lượng sanh mạng loài vật trên cạn, dưới nước khỏi bị tàn sát; huống hồ nào phải chỉ có một người [không nỡ ăn thịt] thôi ư? Lại vì hết thảy đồng nhân trong hiện tại, vị lai, dứt trừ cái nhân quan - quả - cô - độc, bần cùng, hoạn nạn, tạo cái duyên trường thọ, không bệnh, phú quý, yên vui, cha con xum họp, vợ chồng giai lão.

Đấy chính là thực hiện sự chu cấp, giúp đỡ sẵn, để đời đời, kiếp kiếp trong vị lai vĩnh viễn chẳng có những nỗi khổ quan quả... hưởng thọ dài lâu những sự vui: trường thọ v.v... há chẳng đáng gọi là khiến cho khắp hết thảy đều được hưởng phước ư? Há nên thờ ơ bỏ qua? Ông nghĩ kỹ đi: kiêng giết phóng sanh, rốt ráo chính là khăng khắng vì con người, nào phải cứ cắm đầu lo cho loài vật, đảo lộn chuyện hoãn - gấp, nặng - nhẹ đâu!

Một niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và một niệm tâm tánh của tam thế chư Phật trọn chẳng phải hai. Nhưng do mê chưa ngộ nên bao kiếp dài lâu luân hồi trong lục đạo, mãi không ngừng nghỉ. Tuy đường lành trời người so với tam đồ ác đạo khổ vui khác xa nhau, nhưng đều là thuận theo nghiệp lực thiện ác cứ luân hồi mãi! Thiện đạo chẳng đáng tin cậy, ác đạo thật đáng sợ. Há chẳng nên vun bồi nhân lành, cứ tạo càn ác nghiệp, cứ cậy mình mạnh, hiếp đáp kẻ yếu, bắt lấy hết thảy chúng sanh trên cạn, dưới nước giết ăn chăng?

Trước kia, khi Phật giáo chưa truyền sang, thánh nhân Nho giáo đều dùng luân thường thế gian để giảng dạy. Đối với Phật tánh sẵn có của chúng ta và sự chuyển biến, thăng trầm, luân hồi lục đạo, cũng như chuyện đoạn Hoặc, chứng Chân, siêu phàm, nhập thánh, dù là Lý hay Sự đều chưa giảng ra. Vì thế chẳng cấm giết, nhưng cái tâm bất nhẫn đã nêu tỏ lắm rồi trong các lời dạy để lại cho đời.

Chẳng hạn như, kinh Thư nói chim, thú, cá, ba ba đều quyến luyến, sách Luận Ngữ nói thả câu nhưng chẳng vãi chài, chẳng bắn ban đêm. Mạnh Tử thấy sống, không nỡ thấy chết; nghe tiếng chẳng nỡ ăn thịt. Kinh Lễ chép: Chư hầu chẳng vô cớ mổ trâu; đại phu chẳng vô cớ giết dê, kẻ sĩ chẳng vô cớ giết chó, lợn; thứ dân chẳng vô cớ ăn món ngon. “Món ngon” chính là thịt vậy.

Đủ thấy rằng: đối với việc sát sanh, Nho Giáo cũng chẳng phải không hạn chế vậy, chỉ là quyền biến để dạy dỗ, chứ chưa thể vĩnh viễn cấm hẳn được. Có duyên cớ mới giết, cố nhiên kẻ giết cũng ít. Vô cớ chẳng ăn thịt thì trong một năm ăn thịt được mấy ngày? Hậu thế, sự giáo hóa suy đồi, quen thói tàn nhẫn, bèn coi chuyện ăn thịt như chuyện cơm bữa trong nhà, chỉ cốt sao khoái khẩu, chẳng biết đến nỗi khổ của loài vật.

Đến khi Phật giáo truyền sang Đông thì chân lý, sự thật thường trụ vĩnh viễn “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh” và “mê thì luân hồi sanh tử, trọn không lúc nào xong”, “ngộ thì triệt chứng Niết Bàn” mới được xiển minh rốt ráo. Mới biết rằng các dị loại này nọ đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai. Chẳng những chẳng dám giết ăn, lại còn mong cho chúng nó đều được sống yên ổn. Do vậy, vua thánh, tôi hiền, bậc triết sĩ, bậc hồng nho, đa phần đều kính tuân lời Phật giáo huấn, tài bồi lòng nhân của chính mình. Hoặc là ăn chay, bỏ hẳn ăn mặn, hoặc là kiêng giết, phóng sanh. Những lời lẽ tốt lành, hành vi hay đẹp ấy được chép trong các sử sách cũng chỉ là để mong người đời sau cùng tu tâm từ, thương xót loài vật, cùng thấy Phật tánh.

Do ác nghiệp nhân duyên, đọa trong đường súc sanh. Ta nay may được sanh trong loài người, nếu chẳng tăng thêm lòng lân tuất, cứ mặc tình sát hại, khó tránh đời sau oan oan tương báo. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Giết thân mạng chúng, hoặc ăn thịt chúng, trải vi trần kiếp ăn lẫn nhau, giết lẫn nhau giống như bánh xe lăn, hết lên cao lại xuống thấp, chẳng có lúc ngừng. Trừ xa-ma-tha và lúc Phật xuất thế, chẳng thể ngưng nghỉ được”.

Nhưng đạo xa-ma-tha thật chẳng dễ đắc, Như Lai xuất thế cũng khó gặp gỡ, dám đâu chẳng học theo gương tiên hiền, chẳng tuân lời Phật dạy. Suy cái tâm sợ chết của mình mà cứu vớt loài đợi bị nấu nướng kia để mong tiêu trừ túc nghiệp, vun bồi căn lành, dứt vĩnh viễn cái nhân sát hại, cùng chứng quả trường thọ vậy!

Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ quá khứ, là chư Phật vị lai. Lập cách cứu giúp còn e chưa kịp, há nên để thỏa miệng bụng mình, bèn giết hại thân xác chúng nó ư? Phải biết rằng các loài vật bay trên không, lặn dưới nước đều có cái tâm linh minh giác tri, nhưng vì túc nghiệp sâu nặng đến nỗi hình thể khác xa, miệng chẳng nói được. Xem tình cảnh chúng đi tìm cái ăn, tránh né cái chết, sẽ nhận ra chúng có khác gì con người đâu!

Chúng ta nhờ sức túc phước, may được làm người, tâm có trí lự, phải nên luôn nghĩ đến dân chúng và loài vật cùng [sanh từ] một bọc cha trời, mẹ đất, mới chẳng phụ bạc cái lẽ con người đứng cùng trời đất thành tam tài vậy! Do cùng được trời đất sanh thành, nuôi nấng, phải mong cho mọi người cùng loài vật đều được sống yên ổn, cùng được trời che, đất chở, cùng vui ngày tháng mới phải. Nếu như chẳng hiểu thấu cái đức hiếu sanh của trời đất, buông lung ý niệm tham ăn tục uống của chính mình, cậy mình khỏe, hiếp kẻ yếu, ăn thịt nó để no đẫy bụng mình, ắt đến ngày nào đó, túc phước đã hết, sát nghiệp hiện tiền, muốn chẳng thay đầu, đổi mặt, bị chúng nó ăn, giết trở lại, há có được chăng?

Vả nữa, ăn thịt có chất độc, do lúc chúng bị giết tâm oán hận kết lại. Bởi thế, khi ôn dịch lưu hành, người ăn chay rất ít người bị nhiễm phải. Hơn nữa, thịt là vật uế trược. Ăn vào máu sẽ bẩn, tinh thần tối tăm, thấy mạnh mẽ ngay đó, nhưng hiệu quả tan đi rất nhanh, rất dễ tạo thành đầu mối cho bệnh tật. Rau cỏ là vật thanh khiết, ăn vào khí thanh, trí rạng, khỏe mạnh lâu, già chậm, có nhiều chất bổ. Tuy đây là lời bàn thông thường về phép vệ sinh, nhưng thật sự là lời luận cùng tột về tánh. Do thói quen kéo dài đến nỗi mê man chẳng tỉnh.

Phải biết rằng: người nhân ắt thương yêu loài vật. Người giết loài vật quyết khó thể là người có lòng nhân, do tánh quen khiến thành như thế. Vì vậy, thánh vương trị thế, chim thú cá, rùa đều sung sướng. Đạo sáng dạy dân thì gậy nhựa dính, ná bắn đạn đều bỏ sạch. Thử nghĩ: Từ xưa đến nay, phàm là kẻ tàn nhẫn tham ăn tục uống, phần nhiều dòng dõi bị tuyệt diệt. Người nhân ái tử tế, con cháu ắt hưng thạnh. Kẻ khởi đầu thói ác, Khổng Tử đoán nó vô hậu; kẻ mặc sức ăn thịt, Như Lai dự ký ắt phải đền trả. Xin chớ nói suông xa lánh bếp núc (6), đấy chỉ là cách nói quyền biến thuận theo thế tục, phải vĩnh viễn dứt hẳn đồ hôi tanh thì mới là xứng lý thật nghĩa.

Tâm tánh chúng sanh giống hệt như Phật. Do nghiệp thiện - ác, báo phân ra người, thú. Người có trí huệ, thú không tài khéo. Cậy mạnh hiếp yếu, giết để ăn thịt. Làm con trong nhà người ta chẳng ngoài [lý do đã] thiếu nợ nặng. Huống hồ giết thân mạng chúng chỉ cốt sướng miệng, oán hận cố kết, trải bao kiếp đòi nợ lẫn nhau. Thử nghĩ đến điều ấy, trong tâm đau thương.

Nguyên hết thảy chúng sanh trên cạn, dưới nước, không một loài nào chẳng biết đớn đau, khổ, vui, không một loài nào chẳng biết tham sống sợ chết, nhưng không con vật nào chẳng phải là cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, bạn bè, thân quyến trong vô lượng kiếp của ta. Lại không có một loài nào chẳng thể trong đời vị lai, gieo sâu thiện căn, tu trì Tịnh nghiệp, đoạn Hoặc chứng Chân, viên thành Phật đạo. Chỉ vì túc thế ác nghiệp, phải đọa trong dị loại.

Vì thế phải nên sanh lòng thương xót sâu xa, hộ trì chúng, khiến mỗi con vật đều được sống yên vui, há nên cậy mạnh hiếp yếu, hoặc dùng trí đoạt lấy, hoặc dùng tiền của đoạt lấy, khiến hết thảy bọn chúng bị dồn vào miệng bụng mình? Tuy chúng nó sức chẳng chống chọi được, tâm đã kết mối hận dằng dặc; cho nên đời đời, kiếp kiếp xoay vần giết nhau. Sướng miệng bụng một lúc, giết thân mạng nhiều kiếp. Sánh với chuyện tự giết mình còn khốc liệt gấp bội! Sao lại khổ sở làm chuyện chuốc lấy ương họa này, há có phải là ngu mê đến cùng cực chăng?

Xưa nước Lỗ có hai gã dũng sĩ, chỉ nghe tên nhau chứ chưa gặp mặt. Một bữa gặp nhau, mua rượu cùng uống. Một gã bảo: “Không có thịt chẳng vui, hãy đi mua thịt!” Gã kia bảo: “Thịt của tôi với anh đây, còn tìm đâu nữa!” Gã thứ nhất bảo ý kiến ấy rất hay, bèn trễ áo xẻo thịt mình, hai bên cùng ăn. Kẻ kia lại cắt thịt mình, đưa cho bạn ăn. Dương dương tự đắc, bảo là tình bạn chúng ta tình ý chân thật tột bậc. Vừa cắt vừa ăn mãi cho đến chết. Những người trông thấy đều than: “Hai gã ngu!”

Do vì ăn thịt, người đời tạo các sát nghiệp đến nỗi bao kiếp xoay vần giết hại lẫn nhau. So với hai gã dũng sĩ kia càng khốc liệt hơn! Do không mắt huệ, chẳng biết hậu báo, lại coi là chuyện đắc ý để khoe khoang, kiêu hãnh, chê kẻ ăn chay là mê tín cùng là bạc phước. Thế tục tán thành, nào biết là sai!

Vì thế, trong các kinh Đại Thừa Phạm Võng, Lăng Nghiêm, Lăng Già v.v... đức Như Lai đã cực lực phơi bày cái họa sát sanh ăn thịt, có thể nói là lòng chân từ đại bi nhổ rễ lấp nguồn vậy. Gần đây, sát kiếp thảm khốc, thiên cổ chưa từng nghe, lại còn các tai vạ: nước, lửa, tật dịch, gió lốc, động đất, hạn hán, lụt lội... thình lình xảy ra. Nói chung đều là do sát nghiệp duyên khởi đến nỗi thế đạo, nhân tâm càng ngày càng thấp. Do vậy, thiên tai, nhân họa liên tiếp xảy ra, như đứng trước tấm gương, chẳng thể tránh khỏi bị soi bóng.

Thế tục mê hoặc, coi ác là thiện, coi tạo nghiệp là tu phước, [kẻ như vậy] rất nhiều. Điều mắt nhìn thấy thảm, lòng thấy xót xa nhất không gì bằng chuyện cúng tế quỷ thần. Phú quý đại gia luôn giết con vật lớn để tế: một mặt để cầu được nhiều phước, một mặt để phô phang mình giàu có. Còn những nhà nghèo khó cũng phải giết gà, giết vịt để cầu thần thường bảo hộ, khiến cho phước thọ tăng thêm, lâu dài hơn, mọi việc đều như ý.

Chẳng biết thiên địa lấy HIẾU SANH làm ĐỨC, quỷ thần lấy THIÊN ĐỊA làm CHỦ TỂ CÁC SỰ, há chẳng phải là tâm ấy trái thiên nghịch địa ư? Vì hưởng một kỳ tế lễ của ta khiến cho vô số sanh mạng cùng chịu nỗi khổ cắt xẻ, ông thần ấy còn đáng gọi là một vị chánh thần thông minh, chánh trực, thưởng thiện, phạt ác nữa chăng? Nguyên do là bọn ngu phu tham ăn, chỉ mượn danh quỷ thần, giết thú lớn, vật nhỏ, cốt sao thỏa thích bụng miệng, quen dần thành thói, chẳng biết là đã tạo đại ác nghiệp!

Bảo là cúng quỷ thần, thần có ăn đâu? Huống hồ đã gọi là thần, ắt phải vâng giữ đức thông minh, chánh trực, ắt phải chuẩn theo việc thiện hay ác mà giáng phước hay gieo vạ. Há phải đâu ai sát sanh cúng bái mình, dù nó làm ác vẫn cứ giáng phước; kẻ nào chẳng sát sanh cúng tế mình, dù có làm thiện cũng cứ gieo vạ ư? Nếu vậy, tâm hạnh của ông thần ấy có khác gì tâm hạnh của bọn tiểu nhân vô lại nơi chợ búa đâu? Làm sao xưng là ông thần thông minh, chánh trực được nữa? Đã là một vị thần thông minh, chánh trực, chắc chắn chẳng vì thói yêu tà, quỷ quái này mà chẳng tuân thủ đạo đức, nhân nghĩa!

Người đời chỉ biết ăn thịt là ngon, bèn vì ý niệm tham cầu thứ hôi thối, tanh tưởi ấy, cho rằng thần thánh cũng giống như vậy. Từ đấy kẻ nọ người kia bắt chước nhau, chẳng biết là trái. Ví như giòi tửa ăn phân, nghĩ thiên tiên cũng phải tham ưa vị ngon này, bèn thường muốn dâng lên để cầu được ban thưởng phước khánh!

Những con vật bị giết kia phần nhiều đều là những kẻ trong đời trước sát sanh cúng tế quỷ thần ngõ hầu chính mình có dịp ăn thịt, nay phải đền trả quả báo sát sanh khi ấy. Thế nhưng hết thảy kẻ ngu nghe nói đến chuyện sát sanh tế thần bèn vui mừng, hớn hở, coi đấy là chuyện làm phước, chẳng biết tương lai sẽ phải biến thành những giống vật ấy. Lúc bị người giết, có miệng chẳng nói được, không cách nào thoát khỏi.

Huống những ai đã thâm nhập Phật pháp, đã thọ đại giới nhà Phật, là bậc cao nhân lỗi lạc suốt đời ăn chay, do ham muốn ăn thịt bèn vô cớ bịa chuyện, giết vô số sanh mạng để cúng tế. Cái tội nghịch trời, trái lý, dối thánh, khinh hiền ấy khiến cho đời đời kiếp kiếp sẽ mãi mãi làm các loài vật bị giết chóc ấy, há chẳng đáng buồn bã lắm sao?

Người đời mắc bệnh cùng bị những tai nạn nguy hiểm, chẳng biết niệm Phật tu thiện, lại lầm lạc cầu đảo quỷ thần, đến nỗi sát hại sanh mạng. Nghiệp tăng thêm nghiệp, thật đáng thương xót! Người sống trong đời có những cảnh duyên gì, đa phần là do túc nghiệp.

Đã mắc bệnh khổ, nên niệm Phật tu thiện, sám hối túc nghiệp, nghiệp tiêu bệnh sẽ lành. Hạng quỷ thần kia chính họ còn đang trong biển nghiệp, sao có thể tiêu nghiệp cho người khác được? Dù là vị chánh thần có đại oai lực đi nữa thì oai lực của vị ấy so với oai lực của Phật, Bồ Tát khác chi lửa đom đóm sánh với ánh sáng mặt trời! Đệ tử Phật chẳng hướng về Phật, Bồ Tát cầu đảo, lại hướng về quỷ thần cầu đảo, chính là tà kiến, chính là trái nghịch lời Phật dạy. Không thể không biết điều này!

Thêm nữa, hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, là chư Phật vị lai, lẽ ra nên kiêng giết, phóng sanh, yêu tiếc mạng sống loài vật, chớ nên theo tri kiến thế tục, cho rằng dâng thức ngon lành lên cha mẹ mới là hiếu. Kẻ chưa nghe Phật pháp chẳng biết sự lý luân hồi lục đạo, lầm tưởng đấy là hiếu, còn tha thứ được. Chứ nếu là người đã nghe Phật pháp, giết phụ mẫu, thân thuộc quá khứ để phụng dưỡng cha mẹ hiện tại và dùng trong tang tế v.v... chẳng những chẳng phải là hiếu đạo, mà còn thành ngỗ nghịch nữa!

Bởi vậy, do nghe nghĩa đế chân thật của Phật pháp những người thông đạt đều chẳng chịu làm theo những pháp quyền tạm của thế tục. Bởi những pháp tạm bợ ấy chỉ thuận theo mê tình thế tục mà lập, chẳng phải là đạo thấy thấu suốt nhân quả ba đời của đức Như Lai vậy!

Trong các ác nghiệp, chỉ có sát nghiệp là nặng nhất. Khắp dưới gầm trời, không một ai chẳng tạo sát nghiệp. Dù cả đời chẳng sát sanh, nhưng hằng ngày ăn thịt tức là hằng ngày sát sanh! Bởi chẳng giết, chắc chắn chẳng có thịt! Kẻ mổ thịt, kẻ săn bắt, kẻ đánh cá đều là để cung cấp cho nhu cầu của người ăn thịt, họ giết hại thay cho mình.

Nhưng một ải ăn thịt - ăn chay thật sự là nguyên nhân chẳng nhỏ khiến chúng ta thăng hay trầm, thiên hạ bình trị hay loạn lạc vậy. Những ai yêu thân mình và yêu thương khắp cả mọi người trên cõi đời, muốn được trường thọ, an lạc, chẳng mắc phải tai họa ngoài ý muốn, phải lấy việc kiêng giết, ăn chay làm diệu pháp bậc nhất để vãn hồi thiên tai, nhân họa.

Một niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh chẳng khác với chư Phật, cũng chẳng khác với một niệm tâm tánh của chúng ta. Chỉ vì túc thế ác nghiệp đọa vào dị loại; vì thế, phải sanh lòng thương xót lớn lao, lẽ đâu mặc sức giết chóc? Người đời vô tri bị tập tục trói chặt, thường coi sát sanh ăn thịt là vui, chẳng nghĩ đến các con vật bị giết ôm nỗi thống khổ, oán hận như thế nào!

Cậy mạnh hiếp yếu, coi là chuyện đương nhiên; một khi đao binh khởi lên, tình cảnh khác gì những con vật bị giết. Đốt cháy nhà cửa ngươi, hãm hiếp vợ con ngươi, cướp tiền tài của ngươi, giết thân mạng ngươi, ngươi vẫn chẳng dám dùng lời ác chửi nó vì sức chẳng chống chọi lại được. Loài vật bị giết cũng vì chẳng có sức chống cự lại được; nếu nó kháng cự được, tất nhiên nó sẽ cắn xé kẻ toan giết nó đến cùng. Sao không đối với cảnh khổ ấy, hãy thử nghĩ lại xem!

Loài vật cùng ta đều tham sống sợ chết. Ta đã có trọn vẹn cái thể chất đội trời đạp đất này, lẽ ra phải nên hỗ trợ đất trời sanh thành, dưỡng dục, khiến cho các loài chim, thú, cá, rùa kia đều sống yên vui. Nỡ nào giết thân mạng chúng để vui sướng bụng miệng mình ư? Do sát nghiệp cố kết đến nỗi phát sanh cái họa đao binh do người gây ra và các thiên tai: nước, lửa, hạn, lụt, đói kém, tật dịch, gió lốc, địa chấn, biển trào, sông ngập v.v... nối tiếp nhau giáng xuống.

Giống như biếu quà cuối năm, ta biếu quà đi, người biếu quà lại, quyết chẳng bao giờ biếu đi chẳng được biếu lại, hoặc chỉ nhận quà chứ không biếu trả. Nếu có trường hợp như vậy, tất nhiên phải có nhân duyên nào khác ngăn trở, chứ thật ra đều chẳng ngoài chuyện qua lại, đáp tạ cả. Trời thưởng phạt cũng giống như thế, huống hồ là chuyện báo đền giữa con người? Vì thế, kinh Thư viết: “Làm lành giáng xuống trăm điều tốt lành; làm việc chẳng lành, giáng xuống trăm điều họa ương”. Kinh Dịch chép: “Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà chứa điều bất thiện, ắt tai ương có thừa”. Đạo trời ưa xoay vần, không có gì qua mà chẳng lại! Muốn tránh khỏi ác quả, phải đoạn ác nhân trước đã. Muốn được thiện quả, phải trồng thiện nhân trước đã! Đấy là lẽ rốt ráo của lý trời, tình người vậy!




(1) Liệt Quốc là thời gian kể từ khi Châu U Vương (Cơ Cung Niết) lên ngôi năm 781 trước Công Nguyên cho đến khi Tần Thủy Hoàng Đế (Doanh Chính) gồm thâu lục quốc, thống nhất Trung Nguyên vào năm 221 trước CN. Thời này, các chư hầu đánh lẫn nhau, tranh nhau xưng bá nên còn gọi là thời Xuân Thu Chiến Quốc (từ năm 781 trước CN đến năm 476 trước CN là thời Xuân Thu, từ năm 475 đời Châu Nguyên Vương trở đi, chỉ còn sáu nước lớn (Tần, Triệu, Hàn, Yên, Tề, Sở, Tấn) tranh giành lẫn nhau nên gọi là thời Chiến Quốc). Tuẫn táng là hình thức chôn sống hay giết rồi chôn những người tùy tùng, ái thiếp trong lăng mộ của các bậc đế vương, công hầu.

(2) Chỉ hoàng đế. Vua ngồi trên ngai, quay mặt về hướng Nam, tự xưng là Trẫm. Thời cổ, Trẫm là tiếng thông dụng để tự xưng. Sau này, Tần Thủy Hoàng cấm ngặt người khác tự xưng là Trẫm. Các đời vua sau này, cũng bắt chước xưng là Trẫm.

(3) Hiểu theo quan điểm Nho gia, những điều này có nghĩa là nghiên cứu sự vật để hiểu thấu tận cùng lý lẽ, tu dưỡng thân, giữ cho trong nhà yên vui, thuận thảo, giúp ích cho đất nước, làm cho thiên hạ thái bình, làm sáng tỏ cái đức sáng, đạt được đạo tốt lành.

(4) Nguyên văn: “Lương thượng chi quân tử” (kẻ quân tử ở trên xà nhà) là thành ngữ chỉ kẻ trộm.

(5) Quan, quả, cô, độc: quan là góa vợ, quả là góa chồng, cô là không cha mẹ, độc là không con cái.

(6) Trong nhà Nho hay có câu: “Quân tử viễn trù” (quân tử nên tránh xa bếp núc). Ở đây, Tổ quở người học Nho chỉ nói suông “xa lánh bếp núc”, nhưng vẫn tham ăn tục uống.




Xem Thêm:


Edited by user Tuesday, November 18, 2014 6:44:07 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#7 Posted : Wednesday, November 26, 2014 6:50:53 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Dục tri tiền thế Nhân,
Kim sanh thọ giả thị.
Dục tri lai thế Quả,
Kim sanh tác giả thị.


Nghĩa là:

Muốn biết Nhân đời trước,
Xem thọ báo đời này.
Muốn biết Quả đời sau.
Xét việc hiện đang làm.

"Khi ta đến thế gian này với 2 bàn tay trắng;
Khi ta rời khỏi thế gian này cũng chỉ trắng đôi tay.
Tuy nhiên THIỆN NGHIỆP và ÁC NGHIỆP sẽ theo ta đến và đi, như bóng theo hình"


QUẢ báo nhiều khi không chờ đến kiếp sau mới ứng hiện, mà thực sự luôn ứng hiện liền sau đó nếu gieo NHÂN quá ác liệt ... Tóm lại thì "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cao phi, viễn tẩu khó nan toàn" . Kinh Đại Bát Niết Bàn có ghi :

Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.


Nghĩa là:

Việc ác không làm,
Làm các việc thiện .
Giữ tâm thanh tịnh,
Đúng lời Phật dạy.




"VĂN GIỚI SÁT" CỦA LIÊN-TRÌ ĐẠI-SƯ


Nay lược kê bảy điều giới sát, mong thế nhân hãy thương vật như người, xem nhân vật nhất thể mà kỵ sát.

1) Ngày sinh nhật không nên sát sanh:

Kinh Thi viết: "Ai ai phụ-mẫu, sinh ngã cù lao". Ta nên biết rằng, công cha cao như núi, nghĩa mẹ sâu như biển, công ơn của cha mẹ kể sao cho hết. Ngày trào đời của ta chính là ngày nguy nan nhất của người mẹ ta, do đó đến ngày sinh nhật thì nên kỵ sát, trì chay, cầu cho cha mẹ được tăng thọ thêm phúc. Nếu như cha mẹ đã qua đời thì cầu cho linh hồn của song-thân thoát được kiếp khổ nơi âm-phủ mà siêu thoát về miền cực-lạc.

2) Ngày sinh con không nên sát sanh.

Vợ chồng nếu có được một mụn con tất sinh lòng hoan hỷ, trái lại đến tuổi già mà vẫn chưa có con thì sinh lòng bi ai, lo sợ không người thừa kế hương hỏa, nối dõi tông đường. Loài vật cũng thế, cũng phải sinh sản để bảo tồn chủng loại. Vì chúc mừng ngày chào đời của con mình mà đi sát hại loài vật, lấy tâm suy tâm thì ta nỡ nào mà đi giết con của loài vật. Muốn cho con cái sau này được thông-minh, thì nên tích đức, phóng sanh, há lại đi sát sanh hay sao?

3) Ngày giỗ không nên sát sanh.

Trong ngày giỗ cũng như ngày tảo mộ đều nên kỵ sát. Nếu như giết vật để cúng tế, chẳng những không có lợi, mà còn tạo thêm oan nghiệp cho người quá cố. Khuyên những người có lòng hiếu thảo, trong ngày giỗ của thân-nhân hãy mua vật phóng sanh, lấy tiền in sách khuyến-thiện hay kinh-điển... làm công đức cho người quá cố, để linh hồn người thân sớm được siêu thoát.

4) Ngày hôn lễ không nên sát sanh.

Thiên-địa giao hóa sinh trưởng vạn vật, nam nữ thành hôn để bảo tồn nòi giống. Hôn lễ là việc trọng đại nhất trong đời người, nếu như trong ngày lễ, bầu không khí chúc mừng náo nhiệt trong nhà, nhưng mặt sau nhà bếp lại giết heo, gà, vịt... ngày lành mà sát sanh tất khắc. Do đó đãi khách trong ngày hôn-lễ nên dùng đồ chay mà kỵ sát.

5) Thết tiệc đãi khách không nên sát sanh.

Quân-tử chi giao bình đạm và trong như nước, tuy cơm rau đạm bạc cũng đủ thỏa lòng đôi bên, há cầu cao lương mỹ vị để ngon miệng! Vì đãi khách mà sát vật, vật vì ta mà chết tất sẽ giảm phúc ta. Cho nên trí nhân quân-tử kỵ sát.

6) Cầu Thần cúng Phật không nên sát sanh.

Phần đông người đều quan niệm rằng, giết trâu bò, heo, gà vịt... cúng Thần sẽ được Thần giáng phúc, nhưng không biết mục đích của sự cúng tế là cầu được tấm lòng thanh tĩnh tức là tránh họa gặp phúc. Loài vật cũng như người, đều ham sống sợ chết, giết vật để cầu lợi cho mình là tổn vật ích kỷ, nghịch bội thiên-lý, Thần Phật há lại đi nghịch với thiên-lý hay sao? Phàm người chính-trực, từ-bi mới có thể thành Thần, chẳng lẽ lại vì sự cúng bái của loài người mà giáng phúc, không nhận được sự thờ phụng của người mà giáng họa? Thần-minh chính-trực chẳng lẽ lại thiên vị ư? Bình thường có lòng kính Thiên-địa, bái Thần-minh, chỉ cần bông hoa trái cây là đủ.

7) Không nên chọn nghề sát sanh làm sinh kế.

Có người vì kế sinh nhai mà hành nghề đồ tể, săn bắn, đánh cá... nhưng biết bao nhiêu người không hành những nghề này mà vẫn được cơm no áo ấm. Hành nghề sát sanh, Trời Phật không thích. Đức của Trời là háo sanh, hành nghề đồ tể đi nghịch với lẽ Trời mà tạo nên nghiệp báo sau này. Làm nghề sát sanh mà con cháu được vinh hiển, trăm nhà không có một. Nếu như đã hành nghề này thì hãy từ bỏ mà tìm kế sinh nhai khác, đồng thời cũng nên tích đức hành thiện để trừ đi nghiệp trước đã làm.

Trên đời, quý nhất là sinh mệnh, sợ nhất là sự chết chóc. Loài người chết vì nạn đao binh, bệnh dịch, đều do sát nghiệp mà ra cả. Nay khuyên thế nhân hãy trì chay, tu đức, giới sát. Trên có thể liễu trừ oan nghiệp của những kiếp trước, dưới tích âm đức để lại cho con cháu, tự nhiên phước lộc trường tồn.



Xem Thêm:

Edited by user Thursday, January 1, 2015 2:28:11 PM(UTC)  | Reason: Chỉnh layout;

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#8 Posted : Saturday, November 29, 2014 11:28:01 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
QUÝ TRỌNG SỰ SỐNG
Đại sư Philip Kapleau - Nguyễn Văn Nhật dịch


Thỉnh thoảng vẫn có người hỏi tôi rằng tại sao Phật giáo quý trọng sự sống đến như vậy, trong khi có vẻ như việc mọi sinh vật đều ăn nuốt lẫn nhau để mà sống mới chính là luật tự nhiên. Quả thật đúng, quy luật cuộc đời là mọi sinh vật đều được nuôi dưỡng bằng sinh mạng của các sinh vật khác.

Chúng ta nhận thấy điều đó trong toàn thể sự sống, từ những sinh thể sơ đẳng nhất cho đến những sinh vật cao cấp nhất. Vì đề mục thảo luận này thường dẫn tới việc xác định nên hay không nên ăn thịt, chúng ta hãy đặt sự bàn bạc ấy trong phạm vi của vấn đề ăn thịt điều có thể làm cho vấn đề trở nên dễ hiểu hơn.

Chẳng hạn, người ta sẽ bảo. Tôi hiểu rằng một số Phật tử không ăn, không dọn thịt cá, là vì những lý do tâm linh, bởi lẽ việc ăn hay dọn [các thức ăn có] thịt [có] cá sẽ làm cho họ trở thành kẻ đồng lõa với việc giết hại. Thế còn việc ăn rau quả thì sao? Thực vật cũng có đời sống mà. Và nhất là trong những năm gần đây, chúng ta đã được nghe nói quá nhiều về việc cây cỏ cũng có cảm thức".

Câu trả lời ở đây là sự tồn tại có nhiều cấp bậc. Cùng lúc chúng ta hiện hữu trên hai cấp độ. Một cấp độ, có thể được gọi theo thuật ngữ triết học, là “vô đều kiện” hay “tuyệt đối”. Ở cấp độ tuyệt đối này của sự sống, chúng ta không thể thực hiện bất kỳ một sự phân biệt nào giữa thấp và cao, giữa tốt hơn và xấu hơn. Ở đó, chúng ta không thể nói rằng việc lấy đi sinh mạng của một con bò là tệ hại hơn việc lấy đi sinh mạng của một cái cây hoặc việc cho đi một cái cây còn đỡ xấu xa hơn việc giết một con bò.

Đó là cấp độ của sự bình đẳng chân thật. Ở đó, cá lội tung tăng giữa những cảnh cây trong lúc chim bay dập dờn dưới đáy biển. Ở đó không có sự phán biệt. Ngược lại, ở cấp độ được gọi là "tương đối", chúng ta mới thực hiện sự phân biệt; tại đây, có cả một giai tầng của những biến cố và giá trị. Một điều chắc chắn là ở cấp độ này, mạng sống của Einstein quý giá hơn mạng sống của một con chuột không biết đến bao nhiêu lần... Tương tự, việc giết một con bò phải được coi là đáng ghê tởm hơn việc ngắt một bông hoa.

Cách đây không lâu tôi có dịp nói chuyện với một người làm việc trong ngành kinh doanh thịt với tư cách một nhà phân phối, và câu chuyện của chúng tôi liên quan đến nội dung quyển sách của Upton Sinclair có tựa đề là Bãi chăn thả súc vật. Quyển sách xuất hiện trong thập niên 1920 và có kể về những sự kiện khủng khiếp liên quan đến súc vật bị giết hại trong những bãi chăn thả ấy. Vì người nói chuyện với tôi cũng đã đọc quyển sách này nên tôi hỏi ông ta. "Sự việc có được cải thiện chút nào không?". Với gương mặt thể hiện một chút xấu hổ, ông ta trả lời, "Nói thật với ngài, tôi nghĩ rằng sự việc còn tệ hại hơn".

Vậy là, trong lúc về nhiều phương diện có vẻ như ngày nay chúng ta mẫn cảm hơn trong vấn đề đối xử với súc vật, thực tế, nhận thức đó không hề thâm nhập vào cốt tủy của cuộc sống của chúng ta. Trên phương diện động lực nội tại của hoạt động con người mà nói, việc giết một con bò tệ hại hơn việc ngắt một cành hoa vì việc giết con bò đòi hỏi nhiều năng lượng và cố gắng hơn. Hệ thống thần kinh của con bò hiển nhiên phát triển hơn. Trên cái thang của sự phát triển ấy, chắc chắn việc lấy đi mạng sống của một con người lại còn tệ hại hơn việc giết một con bò rất nhiều.

Vậy thì, ở cấp độ tương đối chúng ta thực hiện sự phân biệt và chúng ta có một thang giá trị. Thế nhưng thực ra cùng lúc chúng ta sống ở cả hai cấp độ, tương đối và tuyệt đối. Chỉ có điều là phần lớn con người không hề có nhận thức về cấp độ tuyệt đối, và vì thế họ tin tưởng một cách đơn giản rằng mọi vật đều phải được nuôi sống bằng sinh mệnh của một thứ gì đó. Vậy là việc giết hại dường như không thể tránh khỏi vì sự tôn trọng đối với sự sống vẫn chưa được biết đến.

Vẫn còn một khía cạnh thứ yếu, đó là mọi sự còn tùy vào cách mà chúng ta lấy đi sinh mạng của sinh vật khác. Chính trạng thái tâm thức của chúng ta vào lúc chúng ta lấy đi sinh mạng của sinh vật khác quyết định rằng hành động đó có phải là một sự sai lầm về đạo đức hay tâm linh không. Việc giết súc vật, săn bắn thú rừng v.v... có thể được thực hiện trong trạng thái có chú tâm mà không hề có tư tưởng phân biệt giữa ta và ngoài ta, không hề có ý định, giết hại chỉ để giết hại mà thôi. Trong trường họ đó, hành động lấy đi sinh mạng của một sinh thể khác không phải là một vấn đề. Nếu một người buộc phải thực hiện việc giết hại vì để có thực phẩm hay vì vấn đề sức khỏe, chẳng hạn việc giết một thứ côn trùng gây bệnh, việc đó có thể được thực hiện với sự thương cảm và sự xin lỗi.

Trong những xã hội săn bắn-hái lượm truyền thống, có một cảm giác chân thực về việc xin lỗi, “Tao xin lỗi phải lấy mạng sống của mày vì tao cần thực phẩm . Hãy tha thứ cho tao!”. Đó cũng là một cách để chỉ ra sự đồng nhất của con người với cuộc sống. Hơn nữa, còn có một ý thức đặc trưng về trách nhiệm khủng khiếp gắn liền với bất kỳ hành động giết hại nào. Các nền văn hóa truyền thống biết rất rõ rằng toàn thể sự sống liên kết với nhau và thực sự có tính cách thiêng liêng. Và vì thế họ không săn bắt một cách khinh suất. Họ biết rằng việc giết hại là một hiểm họa tâm linh. Thế nhưng, những kẻ hoài nghi sẽ nói, “Có quá nhiều điều tốt được mang lại cho con vật, nó được xin lỗi cơ đấy!”. Câu nói đó thể hiện sự thiếu hiểu biết về cấp độ vô điều kiện, cấp độ tuyệt đối. Ở đó mọi sự đều liên kết với nhau; thiếu đi việc nhận ra rằng toàn thể sự sống, toàn thể những sự liên kết, đều ảo diệu, huyền bí và linh thiêng.

Các bạn sẽ thấy rằng, trong việc huấn luyện về Thiền, toàn thể vấn đề giết hại thường được đưa vào cuối cuộc huấn luyện vì đó là một vấn đề sâu xa cần được hiểu biết rốt ráo. Có một cấp độ của sự sống mà ở đó việc lấy đi bất kỳ một mạng sống nào trong bất kỳ một hoàn cảnh nào cũng mang lại cho bạn một cảm giác tội lỗi về mặt tinh thán. Thế rồi bạn tiến đến một cấp độ có tính toàn diện hơn, ở đó bạn có thể biện minh cho việc giết hại bằng một đều tốt hơn.

Chẳng hạn, nếu có một con chó điên chạy rông trong thành phố và có khả năng cắn một ai đó, hẳn là bạn sẽ bắn hạ con chó ấy. Nhưng đứng về mặt tâm linh mà nói, rất nhiều điều còn phụ thuộc vào việc bạn bắn hạ con chó điên ấy như thế nào. Nếu bạn giết con chó ấy với sự giận giữ, Đồ chó điên! Cho mày chết đi!”, hoặc với sự điên cuồng, sự sợ hãi hay sự bốc đồng... có thể bạn đã gây ra một vấn đề rồi đấy. Nhưng nếu việc giết con chó điên được thực hiện không phải vì sự ghét bỏ mà chỉ là một điều cần phải làm, có sự nhận biết trọn vẹn và có cả lòng thương xót đối với con vật, khi đó, hành động ấy trở nên một điều hoàn toàn khác. Đã có một sự chuyển hóa thật sự về điều phân biệt tương đối giữa người xạ thủ và con vật hoặc bất kỳ sinh thể nào bị tước đi mạng sống. Ngay cả khi ngắt một cành hoa, nếu bạn buộc phải nhổ một cành hoa, việc xin lỗi bằng cách nói với cành hoa ấy một cách chân thành, “Tôi chẳng hề có ý làm hại bạn" sẽ mang lại một hiệu quả tích cực, tinh tế. Một cõi của sự bình đẳng và của sự trị liệu đã mở ra.

Vậy là đối với người Phật tử, điều xấu ác chính là sự phân biệt và sự ghét bỏ đối với chính mình và đối với người khác. Người theo đạo Phật có mười giới điều phải giữ, tất cả đều dẫn xuất từ ý niệm về sự phân biệt và sự ghét bỏ ấy, đó là:
  • không giết hại,
  • không nói dối,
  • không trộm cắp,
  • không có những quan hệ tình dục bừa bãi,
  • không sử dụng rượu và các loại thuốc làm cho đầu óc u mê đồng thời không khuyến dụ người khác sử dụng những thứ ấy,
  • không tự đề cao mình mà lại nói xấu người khác,
  • không vạch lỗi của người khác,
  • không bủn xỉn trong việc giúp đỡ người khác về vật chất hay tinh thần,
  • không trút sự giận dữ của mình, và
  • không coi thường Tam bảo (nghĩa là Phật, giáo pháp của Phật và cộng đồng những người tự nguyện sống chung với nhau theo đúng giáo pháp của Phật; thường gọi là Phật, Pháp, và Tăng).

Ngoài ra, người Phật tử còn có ba điều quyết tâm chung, đó là
  • tránh làm những việc xấu ác,
  • chuyên tâm làm những điều lành, và
  • giải thoát mọi sinh thể có tình thức.


Không làm những điều xấu ác thực sự có ý nghĩa là đừng tự tách rời mình khỏi cuộc sống thường nhật của chính mình, khỏi cái thế giới đúng như nó đang phơi mở ra chung quanh ta. Sự tách rời có nghĩa là phủ nhận hay phủ định bản chất thật của chính chúng ta, mà chính là trong cái bản chất thật ấy mới tồn tại mọi sự thanh tịnh, mọi sự lương thiện, mọi đức tính. Chúng ta có lòng từ ái tự trong bản chất với tính cách là đặc điểm tâm linh của chúng ta ngay từ lúc chào đời. Chúng ta không cần phải góp nhặt những đức tính đó từ bên ngoài. Đạo Phật rao truyền rằng chúng ta vốn dĩ lương thiện, theo ý nghĩa là một sinh thể toàn bộ và trọn vẹn, không hề bị tách rời. Tránh những điều xấu ác có nghĩa là tránh thực hiện những việc làm cho chúng ta bị tách rời khỏi, bị xa lánh bởi, bị ghẻ lạnh bởi sự sống. Và thực hiện những điều lành có nghĩa là khẳng định bằng một đường lối xác quyết về sự thống nhất thiết yếu của mọi thực thể.

Mười giới đều của đạo Phật (như là không giết hại, không trộm cắp v.v...) được nêu ra từ cái nhìn của một Bậc Giác ngộ đã được nhận thức một cách trọn vẹn. Những giới điều đó là một sự biểu thị về đường lối mà một vị Phật sẽ hành động. Điều đó có nghĩa là một chúng sinh đã phát triển tâm thức đến mức độ cao tột như vậy sẽ không giết hại vì sẽ chẳng có gì để giết hại, chẳng hề có nhận thức nào về cái không phải là mình. Vả chăng, sự giận dữ, sự bạo hành, và các trạng thái tâm lý hành động xấu ác khác, đều nổi lên từ một cảm giác bất an, một cảm tưởng của sự bị tách rời, bị cô lập. Ngay cả những giới đều đỏ vốn là nguyên lý được phát biểu từ quan điểm của một vị Phật, chúng ta cũng hãy cố gắng hết sức để có thể theo được những giới điều ấy.


Bây giờ, câu hỏi phải được đặt ra là: "Có ai đó tấn công bạn, bạn phải làm gì? Phải chăng bạn có quyền tự bảo vệ? bạn có đánh trả hay không?". Hoặc hãy đặt ra một vấn đe cho nó có tính cách nghiêm trọng hơn, "Giả sử có kẻ có ý định - hoặc đã - đánh đập con bạn một cách tàn nhẫn hoàn toàn không có lý do - bạn sẽ làm gì? Một người Phật tử muốn thành trong trường hợp đó sẽ làm gì? Điều rắc rối là người ta chỉ muốn một câu trả lời có hoặc không, một câu trả lời trắng ra trắng, đen ra đen. Chẳng hề có điều đó đâu. Thực ra, người ta chẳng bao giờ biết được mình có ý định làm điều gì. Tuy nhiên, là Phật tử, chúng ta còn có những giới điều nói trên như một thứ kim chỉ nam hành động.

Bạn có thể nghĩ rằng, nếu bạn đã bị đánh, bạn sẽ đánh trả. Bạn có cái quyền đó mà! Nhưng bạn có quyền thật không? Sự thừa nhận này là một loại ước định. Có một ghi nhận thú vị là ngay cả luật pháp cũng quy định rằng bạn không thể sử dụng một sức mạnh nhiều hơn mức cần thiết để đẩy lùi một cuộc tấn công. Nếu một người tát vào mặt bạn một cái tát mà bạn chụp lấy khẩu súng để bắn người đó thì rõ ràng hành động của bạn không thể được biện hộ bởi bất kỳ một bộ luật hợp pháp nào.

Một đứa trẻ có thể giẫm lên một con bọ hung một cách vô tâm. Nhận thức của đứa trẻ là sự sống của con bọ hung không quan trọng. Con bọ chỉ cản đường đứa trẻ, vậy mà đứa trẻ đã lấy đi mạng sống của con bọ. Chắc chắn đứa trẻ đó đã chứng kiến những người trưởng thành phản ứng với sự căm phẫn, bực bội hay sợ hãi đối với côn trùng... Điều đó thiết lập một loại ước định về sự phản ứng trong trường hợp căm phẫn, bực bội hay sợ hãi. Và như thế mà thói quen bạo hành được truyền từ thế hệ này qua thế hệ kia. Toàn thể cái ý niệm về vấn đề bạo hành, dù là thuộc phần kẻ tấn công hay phần người tự bảo vệ, đều phụ thuộc vào trạng thái tâm thần riêng của bạn. Ở một trình độ nào đó, bạn có thể phản ứng theo cách thức này; ở một trình độ phát triển hơn, bạn sẽ phản ứng theo lối khác.

Trong tập tự truyện của mình, Thánh Gandhi có kể lại sự thể khi ngài kiên trì ngồi vào chỗ dành cho người da trắng trên những chuyến xe buýt ở Nam Phi. Hậu quả là ngài bị đánh đập nhưng không bao giờ ngài đánh trả. Ngài chỉ tự bảo vệ mình, hệt như phản ứng của những người biểu tình bất bạo động ở Hoa Kỳ, luôn luôn nhẫn nại tiến bước. Việc chống trả thường chỉ kích thích sự bạo hành mãnh liệt hơn mà thôi.

Một sự quý trọng đối với sự sống mở rộng trong tâm trí chúng ta đến những sinh thể mà chúng ta xem là có hại như côn trùng hoặc hơn nữa, đến những kẻ bị coi là kẻ thù của chúng ta như những kẻ áp bức là điều được nâng đỡ và trau dồi thông qua việc thực hành ngồi thiền. Nuôi dưỡng công phu ngồi thiền và những thái độ phát triển từ công phu ấy, cộng đồng những người hành trì theo phương pháp của Phật giáo cung cấp một chốn nương thân cho những hành giả trước một nền văn hóa rộng lớn hơn chi khuyến khích sự gây gổ trong việc giải quyết những tranh cãi và mâu thuẫn. Bất kỳ người nào cũng đều có thể thực hành để trở nên chú tâm hơn và biết quý trọng hơn về sự thống nhất của sự sống. Ngay cả kiến thức để một phương pháp giải quyết như thế có thể xảy ra cũng là điều đáng quý. Cuối cùng thì nhu cầu đánh trả, mặc dù có vẻ hết sức tự nhiên, cũng chỉ xuất phát từ sự phân biệt và nỗi sợ hãi.

Khi toàn bộ sự sống thực sự được thấy là có chung một gốc rễ, có liên hệ chặt chẽ với nhau, có tỉnh chất thiêng liêng, khi ấy, ngay cả trong một nền văn hóa bạo lực những biện pháp đáp trả mới sẽ xuất hiện, và cuối cùng, cái chu kỳ bạo lực cổ lỗ sẽ phải chấm dứt.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ ĐẠI SƯ Philip Kapleau

UserPostedImage


Năm 1965, Đại sư Philip Kapleau từ Nhật Bản trở về Hoa Kỳ và ngay năm sau, 1966, ông thiết lập Trung tâm Thực hành Thiền định Rochester ở New York. Ngay từ khi mới thành lập, Trung tâm này đã thu hút thiền sinh trên toàn thế giới đến thực hành thiền. Ngày nay, giáo lý và ảnh hưởng của Đại sư Philip Kapleau mở rộng khắp vùng Bắc Mỹ và một số nước ở Tây Âu.

Thời thanh niên, Kapleau học luật rồi trở thành một phóng viên lấy tin ở các toà án tiểu bang và liên bang thuộc Connecticut, Hoa Kỳ. Năm 1945, ông được chỉ định lấy tin tại Toà án Quốc tế Quân sự ở Nuremberg, sau đó ông được gởi đến Tokyo để đưa tin về Toà án Tội nhân chiến tranh đang diễn ra tại đây. Đến Nhật, ông tiếp xúc với ngài D.T. Suzuki và điều đó đã thay đổi hẳn hướng đi của đời ông. Vào năm 1950, khi ngài Suzuki sang Mỹ giảng dạy về Phật giáo Nhật Bản ở Đại học Columbia, ông Kapleau, lúc ấy đã trở về Mỹ, có ghi tên học về triết học Phật giáo. Tuy nhiên, việc tiếp cận Phật giáo theo khảo hướng thuần tuý tri thức đã không làm ông thoả mãn.

Năm 1953, ở tuổi 42, ông giải tán doanh nghiệp truyền thông của mình để trở lại Nhật với khao khát tìm được sự chứng ngộ. Ông đã trải qua mười ba năm thực hành miên mật về thiền định với nhiều vị thiền tăng danh tiếng Nhật Bản trước khi thụ giới với bổn sư là ngài Hakuin Yasutani và được ngài cho phép hoằng pháp vào năm 1965.

Đại sư Philip Kapleau là tác giả của nhiều tác phải thiền học quan trọng. Quyển The Three Pillars of Zen (Bản dịch Việt ngữ của Như Hạnh: Tam Trụ Thiền) vẫn được giới học thuật Âu Mỹ coi là tài liệu nhập môn tiêu chuẩn về thực hành Thiền định.

Đại sư Philip Kapleau thị tịch ngày 6 tháng 5 năm 2004 tại Thiền viện Rochester vì biến chứng của bệnh Parkinson hưởng thọ 92 tuổi.

Nguyễn Văn Nhật dịch




Xem Thêm:

Edited by user Saturday, November 29, 2014 11:33:49 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#9 Posted : Thursday, December 11, 2014 6:25:59 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)


Giới cấm đầu tiên trong Ngũ Giới là Cấm Sát Sanh . Là người Phật Tử đã thọ Ngũ Giới thì nên gìn giữ giới luật nghiêm cẩn !!!

NGŨ GIỚI (5 GIỚI CẤM)

1) Không sát sanh, hại mạng để làm người Nhân từ .
2) Không tham lam, trộm cắp để làm người biết đạo Nghĩa.
3) Không tà dâm, tà hạnh để làm người biết Lễ nghi.
4) Không gian dối, lọc lừa để làm người được Tín nhiệm.
5) Không nghiện hút, uống rượu để làm người có Trí tuệ .


Các vị cổ đức có lưu truyền kệ rằng :

"Máu thịt tràn trề khen hợp miệng,
Đâu hay oán tắng sánh bằng non!
Thân ta chốn đó đang tâm nghĩ,
Ai dám cầm dao cắt thịt mình."

"Xưa nay trong một bát canh,
Oán sâu như bể, hận thành non cao.
Muốn hay nguồn gốc binh đao,
Lắng nghe lò mổ tiếng gào trong đêm."


Video chiếu cảnh "giết bò" ở thôn quê Trung Quốc...

https://www.youtube.com/watch?v=KDfJRDAa3RM





Xem Thêm:
"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#10 Posted : Monday, December 15, 2014 12:29:31 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

VÌ SAO KHÔNG NÊN SÁT SANH
Trần Thị Phương (Theo Phật giáo & Đời sống)


Chúng sanh đều có Phật tánh như nhau, người và vật đều có tri giác bình đẳng chỉ vì kiếp trước gây tội, tạo nghiệp ác nên kiếp này đầu thai làm con vật để trả mạng. Nếu chúng ta giết hại những con vật này thì phải trả nghiệp ở kiếp sau, và cứ thế nhân quả nghiệp báo cứ lập đi lập lại mãi không dứt.

Sát sanh còn là cội nguồn của sự chết chóc, thù hận và chiến tranh… thế nên chúng ta phải tránh sát hại những con vật đó để nuôi dưỡng lòng từ bi, yêu thương loài vật vì chúng cũng biết đau, biết sợ, biết vui, biết buồn và biết khóc
. Con người chúng ta cũng vậy, ai cũng tham sống sợ chết, sao có thể nhẫn tâm đâm chém những con vật đó được. Cho nên người giữ giới không sát sanh luôn được an vui, hạnh phúc, tăng trưởng lòng từ bi, mang lại sự yên ổn cho mọi sinh vật quanh mình và để tránh việc sát sanh chúng ta nên tập ăn chay. Theo nghiên cứu khoa học thì trong thịt động vật có rất nhiều chất độc hại đối với sức khỏe con người. Trong khi rau, củ, quả lại là các chất bổ dưỡng, thanh khiết, dễ tiêu và tránh được nhiều bệnh tật. Thời nay, đồ chay rất đa dạng và phong phú, có lợi cho con người, vậy tại sao chúng ta lại phải giết hại những con vật để ăn thịt, rồi phải chịu luật nhân quả. Trong khi đó thay cho một bữa cơm toàn thịt của sự thù hận và bát canh máu đau khổ, thì có một chén cơm trắng thơm, một đĩa rau thanh tịnh và một bát canh tinh khiết.

KHẢO SÁT THỰC TẾ - BÀI CẢM NHẬN


Hôm nay, con xin công ty về sớm để làm bài cảm nhận này. Khu vực con đang ở không có lò mổ nào cả mà có con cũng không dám dũng cảm vào đó để khảo sát. Vậy là con quyết định ra chợ lớn nhất khu vực xem thử có chỗ nào làm thịt động vật số lượng lớn không.

Giờ con đang đứng trước căn nhà nằm sát mặt đường ở ngoài chợ, một cảnh tượng khiến con nổi hết da gà… đây là một cửa hàng chuyên bán rất nhiều gà, vịt, gà ác con, bồ câu và thịt chó. Có khoảng 4 cái lồng để nhốt con vật này mà lồng nào cũng chật cứng. Chúng không thể di chuyển hay xoay mình được, nhìn rất tội. Những đôi mắt lim dim, giống như mệt mỏi và cam chịu, con thì đang cố gắng thoát khỏi cái lồng đó dù biết chắc là không được. Con đang đứng ngẫm nghĩ về những chú gà, chú vịt thì có người tới mua gà, người bán bắt lấy con gà mà khách đã chọn… mới chưa đầy 10 phút, con gà đang ở trước mặt con còn đang nhốn nháo mà giờ đã trở thành một con gà được làm sạch sẽ, vậy là đã xong một mạng, đầu óc con lúc này trở nên trống rỗng… con vẫn đứng ở đó và nhìn ngôi nhà đó như vô thức… chứng kiến hết con này rồi con khác đem vào rồi đem ra. Rồi có tiếng ai đó gọi, làm con giật mình trở lại với thực tại. Nhờ có cô bán hàng bánh nên con được biết ngôi nhà mà nãy giờ đã giết không biết bao nhiêu con gà… là hai vợ chồng từ Đồng Nai lên Thủ Đức lập nghiệp mở cửa hàng đã được 4 năm, bán loại gà đất nên rất đắt khách tới mua. Mỗi con gà nặng 1kg-1,8kg giá từ 130-180 ngàn/con. Họ còn bán cả những con gà ác con. Một ngày trung bình họ bán được 30-40 con, tính ra trung bình họ bán được 9000 con/ năm, họ đã bán được 4 năm đến giờ tính số con thì ôi thật kinh khủng. Không chỉ có số gà đó mà có vịt còn nhiều hơn nữa, vì làm ăn hùn hạp với anh em họ nên có mở thêm quán cháo vịt mỗi ngày họ làm sẵn và bán gấp đôi số gà, lại còn cả chó nữa chứ. Họ thu mua những con chó đó rồi tự làm, nhìn trong nhà có những cái nồi rất to… những con chó được làm sạch, chặt đôi và bày trên bàn nhìn rất ghê rợn. Đầu chó có con để nguyên, có con chặt nửa đầu, răng con nào con nấy cứ cắn chặt vào nhau trông rất đáng sợ. Máu còn đọng lại trên mình nó rất nhiều nhìn mà rùng rợn, thật không hiểu sao những người kia thấy vậy mà vẫn mua về ăn được. Thường thì thay vì chỉ đi ngang qua mà không dám nhìn thì giờ con đang đứng nhìn chúng, những con vật tính mạng đang được tính theo từng giờ, theo từng cái chỉ tay của những người đi mua. Không biết hai vợ chồng bán gà này có nghĩ tới số lượng mình đã giết không nhỉ. Họ còn dùng cả máy đánh lông tự động nữa, họ chỉ cần bỏ con gà vừa cắt cổ xong vào cái máy đó xoay tròn vài vòng là con gà sạch hết lông. Nhìn không khí ngôi nhà rất u ám đến nỗi con không thể nào bước chân vào trong được. Cô bán hàng nói vì cuộc sống vì mưu sinh nên phải tìm cách để có tiền trang trải, còn phải nuôi hai đứa con đang tuổi lớn.

Về tới nhà mà đầu óc con cứ bị ám ảnh bởi những cảnh tượng hồi chiều. Họ giết hại những con vật đó vì lo cho gia đình, lo cho cuộc sống mà phải tạo lấy nghiệp ác. Đấy có phải là biện minh hay họ không biết đó là điều ác. Vì cuộc sống , vì cái thân bất tịnh này họ phải làm bao nhiêu việc ác đó sao? Họ có đáng bị lên án hay nên cảm thông với hoàn cảnh của họ… một cửa hàng thôi mà mỗi ngày bán được gần cả trăm con gia cầm đủ loại, vậy còn một lò mổ thì có tới bao nhiêu chúng sinh bị sát hại đây. Có lẽ dưới con mắt họ, chúng chỉ là những con vật nên họ giết hại mà không ngần ngại và máu họ trở nên lạnh lùng vô cảm chăng? Cứ như vậy, những con vật bị giết ngày một nhiều hơn, chúng sẽ thù oán người giết chúng, rồi mạng đòi mạng, thù trả thù, nghiệp trả nghiệp, nhân quả và khổ đau cứ lặp đi lặp lại đến bao giờ. Đi dọc trên con đường về nhà, con thấy toàn cảnh giết hại rất nhiều.

Trong hàng cá, họ bắt những con cá đang bơi trong nước ra và dùng cái cây bự đập liên tục vào đầu chúng cho đến khi chúng không còn vùng vẫy nữa. Rồi những con cua đang bò họ dùng chày giã cho chúng nát nhừ. Gần về tới nhà, có mấy thanh niên hàng xóm đang tụ tập chơi chọi gà.

Hôm nay, sao con cảm thấy xung quanh mình toàn sự giết chóc và u ám đáng sợ, tiếng kêu la thảm thiết ở đâu đó làm tim con đau nhói đến khó thở. Có phải nghiệp sát sanh ở đời trước, sự hận thù làm con người trở nên tàn nhẫn chăng? Làm thế nào mà mọi người hiểu được sinh mạng của người và vật đều quan trọng như nhau. Con đang tự hỏi tại sao con người lại giết hại tàn nhẫn những con vật cũng có mạng sống, cũng có cảm xúc, chúng cũng biết đau, biết sợ hãi khi thấy đồng loại đang bị giết trước mắt chúng, cũng có những giọt nước mắt cùng tham sống như con người… ôi tội lỗi quá.

Con cảm thấy may mắn khi biết ăn chay từ nhỏ, nên cảm nhận được một cơ thể trong sạch khi dùng những món ăn chay tinh khiết, không có những sinh mạng, không có sự hận thù trong thức ăn… để giảm thiểu sự sát sanh những con vật vô tội, con sẽ nêu rõ lợi ích của việc ăn chay và tác hại của sự sát sanh cho những người con quen biết, cầu mong mọi người xua tan cái vô minh mà tìm lại Phật tánh nhận thức được tội ác của sự sát sanh và quý trọng mạng sống của người và vật.

Trần Thị Phương



Xem Thêm:

Edited by user Monday, December 15, 2014 12:30:53 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#11 Posted : Sunday, December 28, 2014 4:09:30 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

NGŨ GIỚI là năm điều ngăn cấm mà Phật đã đặt ra, để ngăn những ý niệm tư tưởng ác độc, nói năng chẳng lành, hành động bất chánh. Đức Bổn Sư Thích Ca đặt ra "Ngũ Giới" dựa trên TÂM TỪ BI, bình đẳng trên mọi phương diện để dứt trừ tội lỗi cá nhân, đem lại trật tự an vui cho xã hội, và tạo môi trường sống an bình hài hòa cho mọi chúng sanh. Năm điều ngăn cấm ấy là:

1) Không sát sanh, hại mạng để làm người NHÂN từ .
2) Không tham lam, trộm cắp để làm người biết đạo NGHĨA.
3) Không tà dâm, tà hạnh để làm người biết LỄ nghi.
4) Không gian dối, lọc lừa để làm người được TÍN nhiệm.
5) Không nghiện hút, uống rượu để làm người có TRÍ tuệ .

Đức Phật không bắt buộc chúng ta phải triệt để tuân theo và cũng không hăm dọa nếu chúng ta không tuân theo thì phải bị Ngài trừng phạt. Việc giữ giới hay không giữ giới là hoàn toàn do chúng ta tự liệu lấy. Đạo Phật khác với các tôn giáo khác chính là ở điểm đức Phật không phải là một quan toà tối cao giữ quyền thưởng phạt. Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó một cái mầm (nhân) thưởng phạt (quả) rồi.

Đức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi và rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào là con đường sáng và con đường nào là con đường nguy hiểm không nên đi. Nhưng nếu chúng ta không theo con đường sáng mà lại muốn đi vào con đường nguy hiểm, thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai họa thật hiển nhiên, chứ Phật không tạo ra tai họa để trừng phạt chúng ta. Tòa án chính là QUI LUẬT NHÂN QUẢ. Ta làm ác thì ta bị quả báo xấu; ta làm thiện thì ta được quả báo tốt. (Thiện lai thiện báo; Ác lai ác báo)

NGŨ GIỚI chính là năm thành trì ngăn chặn cho ta đừng đi lạc vào đường ác, là năm hàng rào ngăn chặn cho ta khỏi rơi xuống vực sâu tội lỗi, giúp ta đi đúng đường, đúng phương hướng để đạt được Chánh Giác (giác ngộ), để thị hiện "Phật Tánh" từ trong tâm (bổn tánh).
  • Đối với người Phật Tử Tại Gia (cư sĩ), thì "GIỚI SÁT" (Cấm sát sanh) là điều ngăn cấm đứng đầu;
  • Đối với người Phật Tử Xuất Gia (Tăng Ni = tu sĩ) thì "GIỚI DÂM " (Cấm dâm dục, ái dục) là điều ngăn cấm đứng đầu

Nói về GIỚI SÁT, điều ngăn cấm đầu tiêN, thì Đức Bổn Sư Thích Ca ngăn cấm sát sanh bởi nhiều lý do, tạm xin tóm tắt như sau:
  • Quý trọng sinh mạng của mình và của muôn loài vạn vật; Ai ai cũng sợ chết, sợ bị đâm chém giết hại. Vậy nên lấy lòng mình suy ra … chớ giết, chớ xui dục ai giết hại..

  • Tôn trọng sự công bằng, bình đẳng; Chúng sanh vì do nghiệp báo khác biệt nên có hình tướng khác biệt, dù khác loài, khác hình tướng nhưng vẫn có đồng một Phật Tánh như nhau.

  • Nuôi dưỡng TÂM TỪ-BI; "TÂM TỪ” (lòng nhân từ) là tâm luôn ban vui, trấn an, an ủi chúng sanh khi bị buồn khổ, lo sợ. "TÂM BI" là tâm xót thương và cứu khổ, giải trừ ách nạn cho chúng sanh .

  • Tránh bị luân hồi quả báo oán thù; Luân hồi do “oan oan tương báo không dứt” thì thường bị tai ương ách nạn, tật bệnh, chết non (yểu mạng), hay bị đọa đày, thân bằng quyến thuộc phân ly, hay sinh sống ở những nơi luôn bị thiên tai nhân họa, chém giết tàn sát v..v...


Sau đây là 1 video clip về 1 bé trai tên là Luiz Antonio đã từ chối ăn thịt 1 loại cá mực (bạch tuột) do mẹ nấu . Lý do cậu bé đưa ra để từ chối ăn thịt ngay khi mẹ đề nghị ăn thịt gà, bò v..v... vì cậu bé đã hình dung ra cảnh giết hại con vật, và cảm nhận được sự đau đớn v...v... Những câu hỏi và câu trả lời của cậu bé đã đánh động lương tâm, lòng nhân từ và đã thay đổi quan điểm, cách nhìn về các động vật của 1 số người xem ...







Xem Thêm:

Edited by user Saturday, January 3, 2015 9:17:42 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#12 Posted : Sunday, January 18, 2015 11:08:44 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
VÌ SAO CHÚNG TA NÊN PHÓNG SANH?
Lão Pháp sư Viên Nhân


Người tu Đạo Phật phải lấy "GIỚI LUẬT LÀM THẦY" như lời Phật dạy, phải không được SÁT SANH, mà nên PHÓNG SANH;
  • PHÓNG SANH là "trả vô số nợ sát sanh" từ nhiều đời nhiều kiếp của mình đến nay . Người đời nay bị bệnh tật, nạn tai, chiến tranh ...v...v.. đều là do phải "trả nợ sát sanh" .
  • PHÓNG SANH là "cứu mạng chúng sanh", mà cứu mạng chúng sanh cũng là đang cứu mạng mình, là đền trả món nợ sát sanh;
  • PHÓNG SANH là gia tăng lòng Từ-Bi trong Tâm mình, vun trồng hạt giống Bồ Đề Để chứng đắc quả vị Phật"

NHÂN QUẢ BÁO ỨNG như bóng theo hình, như âm vang theo tiếng .
SÁT SANH là tạo tác ác nghiệp sẽ bị ác báo;
PHÓNG SANH là tạo thiện nghiệp sẽ được thiện báo;


KINH DƯỢC SƯ LƯU LY BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC dạy rằng: "Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn." Người phóng sinh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.

PHÓNG SINH CÓ NHỮNG CÔNG ĐỨC GÌ?

Công đức phóng sinh rộng lớn vô biên, không thể tính đếm. Nay xin nói đại lược như sau:

1. Không có nạn đao binh, tránh được tai họa chiến tranh tàn sát.
2. Sống lâu, mạnh khỏe, ít bệnh tật.
3. Tránh được thiên tai, dịch họa, không gặp các tai nạn.
4. Con cháu đông đúc, đời đời xương thạnh, nối dõi không ngừng.
5. Chỗ mong cầu được toại nguyện.
6. Công việc làm ăn phát triển, hưng thạnh, gặp nhiều thuận lợi.
7. Hợp lòng trời, thuận tánh Phật, loài vật cảm ơn, chư Phật hoan hỷ.
8. Giải trừ oán hận, các điều ác tiêu diệt, không lo buồn, sầu não.
9. Vui hưởng an lành, quanh năm đều được an ổn.
10. Tái sinh về cõi trời, hưởng phước vô cùng. Nếu có tu Tịnh độ thì được vãng sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc.

Trong KINH HOA NGHIÊM, PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN dạy rằng: "Chúng Sinh thương yêu nhất là Sinh Mạng, chư Phật thương yêu nhất là Chúng Sinh. Cứu được thân mạng Chúng Sinh thì thành tựu được tâm nguyện của chư Phật."

SAU KHI PHÓNG SINH, TỰ MÌNH CÓ NHỮNG THAY ĐỔI GÌ?

Phóng sinh có thể nuôi dưỡng lòng TỪ BI của chúng ta. Trong khi thực hiện việc phóng sinh, chúng ta nhân đó có thể thấu hiểu được chân lý vạn vật đều bình đẳng, đều có cảm giác, đều có tánh Phật, đều có thể thành Phật. Nhờ đó, chúng ta có thể khởi tâm từ bi với hết thảy chúng sinh, lại còn tôn trọng trân quí. Tiến thêm một bước nữa, trong cuộc sống hằng ngày có thể thực hiện việc giới sát, ăn chay, cứu giúp sinh mạng muôn loài; các điều ác không làm, các điều thiện cố gắng làm; khởi tâm từ bi đối với tất cả muôn loài trên thế gian.

Pháp sư Viên Nhân



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, January 18, 2015 11:29:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#13 Posted : Sunday, January 18, 2015 1:49:49 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Là người mà "bất nhân" , không có "lòng Nhân" thì có lẽ đã thua loài súc vật, cầm thú trong câu chuyện sau đây ...


MÈO HOANG SƯỞI ẤM CHO EM BÉ BỊ BỎ RƠI TRONG TRỜI GIÁ LẠNH


(Dân Trí - 18-01-2015 ) Masha, một cô mèo vô gia cư tại thị trấn Obninsk, Nga, sau khi tìm thấy một em bé sơ sinh bị bỏ rơi đã dùng chính nhiệt độ cơ thể mình để giữ ấm cho bé.

Em bé mười hai tuần tuổi bị bỏ rơi bên lối lên cầu thang của một chung cư vào ngày mùa đông khi nhiệt độ ngoài trời đã tụt xuống dưới 0 độ.

Masha là một cô mèo hoang thường được cư dân trong chung cư cho ăn và có thể ngủ lại trong sảnh.

Masha đã tình cờ nhìn thấy em bé bị bỏ lại trong chiếc hộp nó hay dùng để ngủ. Sau khi chui vào hộp nằm cùng em bé, nó liên tục kêu lên để gây chú ý với người xung quanh. Masha đã dùng chính cơ thể mình để giữ ấm cho bé suốt nhiều giờ đồng hồ.

UserPostedImage
Mèo Masha giữ ấm cho em bé suốt nhiều giờ đồng hồ


Một người dân trong chung cư đã nghe thấy tiếng mèo kêu và tìm thấy chiếc hộp. Khi em bé được đưa đến bệnh viện, Masha đã chạy theo và thậm chí muốn leo lên xe cứu thương để đi cùng.

UserPostedImage
Masha trong chiếc hộp các-tông


"Masha rất lo lắng, không biết chúng tôi sẽ đưa em bé đi đâu nên đã vừa kêu vừa chạy theo xe. Masha là một sinh vật rất có lý tính," nhân viên y tế kể lại.

Người dân cho biết Masha đã ngồi hàng giờ bên đường để đợi chiếc xe mang em bé trở về.


UserPostedImage
Em được đưa đến bệnh viện


Nhờ có Masha, em bé không phải chịu thương tổn gì. Người ta còn tìm thấy tã bỉm và đồ ăn bị bỏ lại cùng. Hiện cảnh sát đang tìm kiếm cha mẹ của em bé còn Masha thì được coi là người hùng của khu chung cư.

Ngô Vân - Theo RT



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#14 Posted : Sunday, January 25, 2015 5:58:01 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Con người là 1 loài động vật; Sự khác biệt giữa loài người và các loài động vật khác là loài người có giáo dục và có rèn luyện luân lý đạo đức. Vậy thì, 1 người mà không có giáo dục, không có luân lý đạo đức thì sẽ giống như loài cầm thú !!!

Tóm lại thì, "Luân Lý Đạo Đức" thông qua phương cách Giáo Dục đã tạo nên "Nhân Tánh" trong hình tướng "loài người" ... Và chính "Nhân Tánh" là điểm vượt trội của loài người so với các loài vật khác !!!



UserPostedImage


Nam Quang: Cầu mong đừng ai trộm hắn, đừng đầu độc bằng hóa chất như đánh bã...mà để cho hắn chung sống với con người. Năm năm rồi cứ chiều về hắn ra ngồi trên bãi biển làng chài Tam Hải, dù có tối hắn cũng ngóng đợi...Đợi và cầu mong chủ về sau một ngày đi biển bình an



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, January 25, 2015 6:12:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#15 Posted : Saturday, February 7, 2015 3:31:22 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Yêu thương loài vật như yêu thương trẻ con !!!
UserPostedImage


Vi Thao Nguyen : Có một vài lần tôi có việc đi Củ Chi, và lần nào cũng vậy, bao giờ tôi cũng bắt gặp hình ảnh một người đàn ông chở theo sau là một cái lồng nhốt chó, đi khắp làng trên xóm dưới để rao mua chó. Ấy vậy mà cũng có người mang con chó đang nằm ngủ vô tư dưới hiên nhà của họ ra bán. Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng. Đến nỗi những con chó còn chưa kịp tỉnh ngủ và chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra. Những ánh mắt đó, những chuyện lạ đời đó đã ngăn tôi không bao giờ muốn trở lại nơi đó nữa, bởi tôi không biết khi nào thì mình tắt thở vì tim ngừng đập vì bị bóp nghẹt.

Hỏi một vài người bạn ở đây, họ cho hay đó là chuyện bình thường và diễn ra đều đặn mỗi ngày.

Tôi chọn không quay trở lại Củ Chi, cũng giống như chọn không quay trở lại một vài vùng đất mà tôi đã đi qua với những biển hiệu thịt cầy và tiểu hổ trải dài 2 bên quốc lộ.

UserPostedImage


Bức ảnh này tôi tình cờ thấy trên mạng. Con người này và vùng đất này tôi không biết chính xác ở đâu. Nhưng nhìn thấy nụ cười của 2 con chó tôi chạnh lòng nhớ đến những điều tôi vừa kể ở trên. Tôi luôn bị ám ảnh về số phận của những con chó. Người phụ nữ trong ảnh tôi cũng không biết bà thuộc vùng quê nào, nhưng tôi thấy sự hồn hậu và chân chất ở bà. Nó thể hiện ở nét mặt của 2 con chó, ở 2 cái nón xinh xinh chúng nó đang đội. Tim tôi cũng thắt lại, nhưng đó là một cảm giác bị bóp nghẹn vì sung sướng. Vì sao có những người đội nón cho chó và chở chúng đi chơi, vì sao có những người kéo một con chó đang ngủ ngay trong nhà mình để đem bán? Đó sẽ mãi mãi là một câu hỏi tại sao mà chắc suốt đời này tôi cũng không tìm được câu trả lời.


Xem Thêm:

Edited by user Saturday, February 7, 2015 3:32:56 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#16 Posted : Tuesday, February 17, 2015 10:43:10 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
LỜI NÓI ĐẦU
(Trích bài thuyết giảng HT Thích Thông Lạc - KINH THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO )


Ước vọng của nhân loại, khi sanh ra đời đều mong được mạnh khỏe, sống lâu, gặp nhiều may mắn. Nhưng mấy ai đã được toại nguyện? Sự thực đời người là một chuỗi dài đau khổ, phiền lụy về mặt vật chất, lẫn tinh thần, chẳng bao giờ có được phút giây an vui, hạnh phúc.

Con người vốn vô minh, mê mờ, sanh ra chấp đắm vật chất, nuôi lớn ngã mạn, tạo nhiều điều ác độc, không những trong đời này mà còn nhiều đời trước nữa. Do đó ngày nay chúng ta phải chịu quả báo khổ sở, mà không ai hay biết gì cả. Ta cứ mãi mê chạy theo danh lợi và tạo thêm nhiều ác nghiệp, tội lỗi.

Muốn chấm dứt hoàn cảnh khổ đau của đời sống, vượt thoát cảnh tù tội của thế gian, hoặc những tai nạn hiểm nghèo, những bệnh tật khó trị, những xung đột tỵ hiềm, nhỏ mọn, ích kỷ, dối trá, xảo quyệt, v.v... hãy tu Thập Thiện!

  • Thập Thiện là con đường đưa nhơn loại đến nơi hạnh phúc chân thật, và giúp con người thoát cảnh thường tình thế gian.

  • Thập Thiện rèn luyện con người trở thành người tốt cho xã hội hiện nay và mai sau, giúp tâm tánh con người thành điềm đạm, khiêm hạ, giản dị, có nhân cách hẳn hòi, và đủ sức nhẫn nại để vượt qua những cam go của đời sống.

  • Thập Thiện chuyển cảnh khổ đau, đói rét thành cảnh an vui, no ấm và đưa con người đến cảnh thuận duyên mãi mãi.

  • Thập Thiện giúp cho cuộc sống của chúng ta trở thành cuộc sống đạo đức, chân thật, làm gương tốt cho mọi người soi.

  • Thập Thiện giúp cho chúng ta không trở thành kẻ hung ác, sát nhơn, trộm cướp, hi ếp dâm. Nhờ thế tâm hồn chúng ta không còn lo sợ tù tội thế gian và đọa ba đường ác.

  • Thập Thiện giúp cho thân, khẩu, ý thanh tịnh, không phạm lỗi lầm, tội ác. Người không tu Thập Thiện ba nghiệp tạo đủ mười điều ác; đó là nhơn quả khổ đau, là địa ngục. Địa ngục là con đường khổ đau nhất trong sáu nẻo luân hồi. Đâu có đợi xuống địa ngục mới khổ, mà ngay trong cuộc sống hiện tại này, nếu ai làm đủ mười điều ác, chắc chắn phải chịu một đời hoàn toàn đau khổ.

Chúng ta cứ xem những kẻ một đời làm ác (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, tham lam, sân hận, và si mê), có lúc nào mà họ được an vui đâu? Dù họ ở vào địa vị nào trong xã hội, bản thân và tâm hồn của họ vẫn đen tối và đau khổ triền miên.

Phật dạy chúng ta tu Thập Thiện cốt là tạo nhân duyên, có đầy đủ phước báo để đời này được an vui, và kiếp sau cũng được giàu sang, sung sướng, thỏa mãn mọi nhu cầu của thế gian. Thập Thiện có ích lợi như vậy, nên ai có đủ duyên nghe Thập Thiện, được thấy Thập Thiện mà không chịu thực hành Thập Thiện, luống để cuộc đời đen tối và khổ đau, thật uổng phí vô cùng. Có kho báu không chịu đem ra dùng, mà đi chấp nhận một đời lang thang, làm kẻ cùng tử thì chúng ta quả là kẻ quá dại khờ.

Kính ghi,
Thích Thông Lạc

(...)

KHÔNG SÁT SANH

Người đời thường nói: Thà nghèo mà mạnh giỏi, còn hơn là giàu sang mà đau ốm. Mọi vật sanh ra trong vũ trụ không có con vật nào mà không sợ chết, sợ khổ đau và bệnh tật. Thế nên tha mạng chết cho người (ân xá), cho vật (không sát sanh) là một ân huệ lớn.

Loài vật sắp bị giết mà được tha thì nỗi vui mừng không thể tả được. Hòa Thượng Thiện Hoa dạy: Như khi chúng ta thả một con chim sắp bị cắt cổ, nhổ lông, thả một con cá sắp đem chặt kỳ, đánh vảy. Chim được sống vui mừng bay nhảy, cũng như cá khỏi chết hớn hở lội bơi. Vậy, không sát sanh mà còn phóng sanh, là nghiệp lành đứng đầu trong Thập Thiện.

Chúng ta ai cũng ham sống, sợ chết, lẽ đâu lại cướp mạng sống của loài vật? Thử hỏi chúng ta tự đặt mình vào hoàn cảnh con vật xem chúng ta có còn lòng dạ nào giết hại chúng không? Đừng mượn câu: Vật dưỡng nhân mà cho rằng trời sanh ra con vật để cho mình giết nó mà ăn thịt. Vậy nếu vào rừng mình bị cọp ăn thì có phải ta là Nhơn dưỡng vật không? Chớ có lý luận kiểu tham ăn (thịt chúng sanh) mà tạo cho đôi tay luôn vấy máu và tâm hồn hung ác. Hãy quán sát và so sánh: Chúng sanh giãy giụa trên thớt, dưới dao, chúng ta lăn lộn trong cơn bệnh ngặt nghèo, cơ thể rã rời, đau nhức. Niềm đau, nỗi khổ của ta và muôn loài cũng giống nhau không khác!

Muốn không sát sanh, chúng ta hãy chế ngự và khắc phục tâm mình, đừng chạy theo sự ăn ngon của khẩu nghiệp mà tạo tội lỗi, máu đổ thịt rơi như núi, như biển. Hãy quán chiếu nỗi khổ của chúng sanh cũng là nỗi khổ của mình để tránh sát sanh. Người tu còn phải quán chiếu ăn thịt chúng sanh như ăn thịt con mình, hay cha mẹ tiền kiếp của mình. Sát sanh là cái nhân của bệnh tật, khổ đau, hoạn nạn. Nợ máu xương phải đền bù bằng máu xương, dù trốn đi đâu cũng không khỏi.

Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo dạy: Nếu ai không sát sanh thì sẽ được mười điều lợi ích như sau:

1/. Tất cả chúng sanh đều kính mến.
2/. Lòng TỪ BI mở rộng đối với tất cả chúng sanh.
3/. Trừ sạch thói quen giận hờn.
4/. Thân thể thường được mạnh khỏe
5/. Tuổi thọđược lâu dài.
6/. Thường được Thiên Thần hộ trì.
7/. Ngủ ngon giấc và không chiêm bao, ác mộng.
8/. Trừ được các mối thù oán.
9/. Khỏi bị đọa vào ba đường ác.
10/. Sau khi chết được sanh lên cõi Trời.

Thật vậy, kẻ nào biết làm lành, làm phước, thường giúp đỡ, săn sóc người nghèo khổ, bệnh tật, tai nạn, khổ đau, v.v... thì tự thân mình ít bệnh tật, ít tai nạn. Nếu ai biết lo tạo phước lành thì ngay trong đời hiện tại thân thể được khỏe mạnh, tinh thần được thơi thới và tâm hồn lúc nào cũng an vui. Nếu thấy người nào được sung sướng, an vui, ít bệnh thì ta phải hiểu rằng đây là cái quả do nhân lành đời trước, và của đời này mà người ta được như thế. Là Phật tử, thọ năm giới hay mười cũng đều có giới bất sát đi đầu. Không sát sanh, hại vật là hành động từ bi, là học theo hạnh nguyện từ bi của Bồ Tát đối với vạn vật trong vũ trụ.

Học hạnh TỪ BI của Phật thì chẳng những chúng ta không sát sanh hại vật, mà còn phải thực tập ăn chay, không ăn thịt chúng sanh. Người xưa đã nói: Kiến kỳ sanh bất nhẫn kiến kỳ tử Thấy nó sanh sống thì không thể nào nhẫn tâm giết hại cho đành. Tôi biết có nhiều người ở miền quê, hiểu đạo Phật, khi nuôi con gà, con vịt thì họ không muốn ăn thịt chúng vì thấy thương. Thấy thương nên ta phải ăn chay, ăn rau đậu, không ăn thịt, cá. Lúc đầu thì mình ăn chay kỳ, mỗi tháng hai ngày, sau đó lên bốn ngày, sáu ngày, mười ngày. Rất nhiều Phật tử sau một thời ăn chay một tháng mười ngày thì họ ăn chay kỳ, nghĩa là mỗi năm ăn chay suốt tháng giêng (Thượng nguôn), tháng bảy (Trung nguơn), tháng mười (Hạ nguôn).

Người tu sĩ xuất gia theo Phật mỗi khi ăn còn phải Tam Đề, Ngũ Quán.
  • Tam Đề là ăn ba miếng cơm lạt, trước mỗi bữa ăn và thầm nguyện: Nguyện đoạn các điều ác, nguyện làm các điều lành, nguyện độ tất cả chúng sanh.

    Tại Tu viện Chơn Như thì Tăng Ni và Phật tử nguyện như sau: Nguyện sẽ không làm khổ mình, nguyện không làm khổ người, nguyện cho tất cả chúng sanh không gây đau khổ cho nhau.

  • Ngũ Quán là: Trong bữa ăn hôm nay, con nghĩ đến công lao khó khổ của bao nhiêu người làm nên thức ăn này, nguyện cố gắng tu tập tốt để xứng đáng thọ nhận thực phẩm này, nguyện ngăn ngừa những tật xấu ác, chỉ xin nhận thức ăn vừa đủ để nuôi thân, vì muốn thành tựu đạo giải thoát và cứu độ chúng sanh nên con xin thọ nhận thức ăn này.

Người tu sĩ của đạo Phật, khi đi kinh hành còn phải lưu ý tránh giẫm đạp, làm chết cỏ. Cỏ cây mà không làm tổn hại vô lý thì làm sao giết hại mạng sống cho đành? Cho nên người nào làm đồ chay mà đặt tên đồ mặn như Thịt Kho Tàu, Gà Xé Phay, Thịt Gà Xào Sả Ớt, Xá Xíu, Tôm Kho, Mắm Chay, v.v... là còn tâm thèm ăn mặn. Người đệ tử Phật muốn thoát sinh tử luân hồi mà còn ăn mặn thì tu ngàn đời cũng không giải thoát. Nếu ai bảo rằng Phật cho phép chúng ta, kể cả các tu sĩ, được ăn thịt chúng sanh nếu không thấy, không nghe, không nghi thì đó là lý luận của người sau để biện minh cho cái tâm thèm thịt, hợp thức hóa chuyện ăn mặn của mình, nghĩa là không giữ được giới cấm sát sanh. Trong kinh sách Nguyên Thủy, Đức Phật không có dạy điều đó. Đây là lời chân thật, xin các Phật tử phải ghi nhớ và hành trì để được phước báo và tu tập có kết quả tốt.

Trong kinh Nguyên Thủy bài kinh Jivaka dạy: Người cư sĩ cúng dường Phật và chư Tăng bằng thực phẩm động vật thì có năm điều "phi công đức" (không không đức). Thế sao các cư sĩ lại cúng dường thực phẩm động vật cho chư Tăng? Như vậy có đúng không?

Đức Phật đã cấm đệ tử cư sĩ Giới thứ nhất không sát sanh. Thế sao các cư sĩ lại sát sanh, cúng dường thực phẩm động vật cho chư Tăng? Điều này có trái và mâu thuẩn lại với lời dạy giới cấm của đức Phật chăng?

Tóm lại, ĐẠO PHẬT LÀ ĐẠO TỪ BI, thương yêu tất cả mọi người, mọi loài chúng sanh, kể cả cầm thú, côn trùng, cỏ cây, đất đá ... Người đệ tử Phật giữ giới KHÔNG SÁT SANH là giữ ĐỨC HIẾU SINH. Thử tưởng tượng một ngày mà chúng ta không ăn thịt thì biết bao nhiêu sinh mạng được thoát chết! Nếu chúng ta có Làng Trường Chay thì mọi người đều giữ giới sát sanh thật dễ dàng. Người người giữ giới sát, nhà nhà giữ giới sát thì làm gì có chiến tranh, gây cảnh máu đổ thịt rơi, cửa nhà tan nát! Ngày xưa, vào những ngày rằm lớn, tại chợ Long Hoa, Tây Ninh, không có một nơi nào bán thịt, quả là một điều hy hữu.

Giết mạng thì phải đền mạng, đó là luật nhân quả. Thế nên Đức Phật dạy cho hàng cư sĩ, sau khi qui y thì phải từ bỏ sáu nghề cũng là để trau dồi đức hiếu sinh vậy. Không sát sanh mà còn phóng sanh thì phước đức vô lượng.

Để kết luận, tôi xin ghi lại đây bài thơ của Cổ Đức để sách tấn mọi người con Phật cố gắng hành trì giới bất sát:

Hàng ngày trong bát cơm ăn,
Oán sâu như bể, hận bằng non cao.
Muốn xem binh lửa thế nào,
Hãy nghe lò thịt, tiếng gào đêm thâu.




Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, February 17, 2015 11:16:12 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#17 Posted : Tuesday, March 17, 2015 4:12:03 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
ĐẠO PHẬT LÀ ĐẠO TỪ BI, thương yêu tất cả mọi người, mọi loài chúng sanh, kể cả cầm thú, côn trùng, cỏ cây, đất đá ... Người đệ tử Phật giữ giới KHÔNG SÁT SANH là giữ ĐỨC HIẾU SINH.

(HT Thích Thông Lạc)

CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH

Link: http://www.tangthuphatho.../18-congducphongsanh.htm

Mục Lục

LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
LỜI DẪN
CHUƠNG I: PHÓNG SINH LÀ GÌ?
CHUƠNG II: CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH
CHUƠNG III: NHỮNG LỜI KHAI THỊ CỦA LỊCH ĐẠI TỔ SƯ
  • Đại sư Trí Giả
  • Đại sư Vĩnh Minh
  • Đại sư Huệ Năng
  • Đại sư Hàn Sơn và Đại sư Thập Đắc
  • Thiền sư Chí Công
  • Thiền sư Phật Ấn
  • Đại Sư Liên Trì
  • Đại Sư Ngẫu Ích
  • Đại sư Ấn Quang
  • Đại sư Hoằng Nhất
  • Lão Hòa Thượng Hư Vân
  • Đại sư Diệu Thiện
  • Cư sĩ Lý Bỉnh Nam
  • Pháp sư Viên Nhân

CHUƠNG IV: GIẢI TRỪ NGHI VẤN
CHƯƠNG V: BỐN PHÁP BẢO
  • Sám hối
  • Phóng sinh
  • Ăn chay
  • Niệm Phật

CHƯƠNG VI: PHÓNG SINH LÀ NUÔI DƯỠNG LÒNG TỪ BI
LỜI KẾT
PHẦN II.NHỮNG CÂU CHUYỆN PHÓNG SINH
A. PHÓNG SINH ĐƯỢC PHƯỚC BÁU
  • TÂM TỪ BI CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG
  • THỰC HÀNH PHÓNG SINH CHUYỂN HÓA ĐƯỢC GIA ĐÌNH
  • THẢ CÁ ĐƯỢC THOÁT NẠN
  • DÙNG VOI CHỞ NƯỚC
  • SA DI CỨU ĐÀN KIẾN
  • THẦY ĐỒ THẢ CÁ LÝ NGƯ
  • BẦY CHIM CHÔN CẤT ÂN NHÂN
  • PHÓNG SINH TĂNG TUỔI THỌ
  • ĐƯỢC PHƯỚC SỐNG LÂU
  • ĐÀO AO PHÓNG SINH
  • THƯƠNG CON ĐỨT RUỘT

B. SÁT SINH CHỊU ÁC BÁO
  • ĐỨT LƯỠI VÌ DAO MỔ TRÂU
  • ĐAU ĐỚN SUỐT SUỐT BA THÁNG
  • CẮT LƯỠI THÚ VẬT – CON BỊ KHUYẾT TẬT
  • NGƯỜI TÀN ÁC CHẾT ĐAU ĐỚN
  • NGƯỜI LÀM ÁC PHẢI BỊ CHẾT THÊ THẢM
  • CÁ LƯƠN TRẢ THÙ
  • BẮT ẾCH BỊ QUẢ BÁO
  • CỘNG NGHIỆP SÁT SANH
  • ẾCH ĐÒI MẠNG
  • SÁT SINH BỊ NƯỚC CUỐN
  • CON BA BA ĐÒI MẠNG
  • QUẢ BÁO HIỆN TIỀN
  • CẮM ĐẦU VÀO NỒI VÌ BẠO SÁT
  • GIẾT HEO BỊ QUẢ BÁO THẢM KHỐC
  • GIẾT DÊ BIẾN THÀNH DÊ
MẤY LỜI TÂM HUYẾT




Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#18 Posted : Saturday, March 21, 2015 8:03:38 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
TÂM TỪ BI CHUYỂN HÓA CÔN TRÙNG
(Trích từ " CÔNG ĐỨC PHÓNG SINH "
http://www.tangthuphatho.../18-congducphongsanh.htm )


Câu chuyện sau đây được ghi lại theo lời kể của Đại đức Thích Nhuận Châu. Thầy hiện nay đang tu học tại Tịnh thất Từ Nghiêm, Đại Tòng Lâm.

Đại đức Thích Nhuận Châu từ khi mới xuất gia theo học với Thượng tọa Thích Quảng Hạnh, cùng với một số huynh đệ khác tu tập tại chùa Đức Sơn, thuộc huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Vào những năm cuối thập niên 1980, chùa được xây dựng trong vùng dân mới lập nghiệp, điều kiện kinh tế nói chung còn rất khó khăn. Dân cư trong vùng đa số chỉ sống nhờ vào nông nghiệp. Nhà chùa cũng có được một khoảnh đất khá rộng để trồng tỉa, tự túc một phần lương thực cho đồ chúng.

Vụ mùa năm ấy, cũng như thường lệ, quý thầy trồng đậu phộng để ép dầu ăn quanh năm. Khi đậu vừa lên xanh tốt, bỗng thấy bắt đầu xuất hiện nạn sâu rầy ăn lá, khiến cho những cây đậu đang tươi tốt chẳng bao lâu trở thành vàng vọt, không phát triển. Những người nông dân quanh đó liền lập tức sử dụng thuốc trừ sâu phun xịt liên tục. Vì thế, đám đậu phộng của nhà chùa trở thành nơi trú ẩn của đám côn trùng. Trong khi những ruộng đậu chung quanh ngày càng xanh tốt trở lại thì ruộng đậu của chùa vẫn cứ vàng vọt, tưởng như sắp chết cả.

Mấy chú tiểu trong chùa thấy vậy nóng lòng, muốn sử dụng thuốc trừ sâu để cứu lấy ruộng đậu, nhưng thầy Nhuận Châu và các thầy khác đều ngăn lại. Quý thầy nói: “Vì sự sống của mình mà diệt sự sống của muôn loài, như vậy đâu có hợp với lòng từ bi của nhà Phật? Huống chi, ruộng đậu này có mất sạch thì chúng ta cũng chưa đến nỗi phải chết, vậy sao lại nỡ dứt đi con đường sống của muôn vạn côn trùng?”

Tuy nói thì nói vậy, nhưng trong điều kiện kinh tế khó khăn khi ấy, phần thu hoạch mỗi năm của đám đậu phộng này là một phần chính yếu cho sự sống của tăng chúng trong chùa, nên quý thầy cũng không khỏi lo lắng. Vì thế, mấy hôm sau thầy Nhuận Châu liền mời thêm mấy thầy nữa cùng đi lên đám đậu phộng. Thầy đứng ở đầu đám đậu phộng, lâm râm khấn nguyện rằng: “Hết thảy các chúng sinh côn trùng xin hãy nghe đây. Quý vị cũng vì sự sống mà nương náu nơi đây. Chúng tôi cũng vì sự sống mà phải gieo trồng đám đậu phộng này. Nay chúng tôi không đành lòng làm hại quý vị, chỉ mong quý vị hạn chế sự tàn phá, để tăng chúng trong chùa còn thu hoạch được đôi chút.” Khấn nguyện như vậy rồi, các thầy cùng nhau trì chú Đại bi ngay tại đám đậu phộng, cầu sức gia hộ của thần chú để chuyển hóa tình trạng bế tắc này.

Thật kỳ diệu! Khoảng vài tuần sau đó, khi ra thăm lại đám đậu phộng, quý thầy đều ngạc nhiên khi thấy sự tàn phá trên đám đậu phộng dường như không còn nữa. Đám đậu phộng tuy vẫn chưa hết màu vàng vọt nhưng đã thấy đâm lá non và phát triển đôi phần.

Kỳ lạ hơn nữa, đến vụ thu hoạch thì mỗi gốc đậu của nhà chùa đều sai trái, chắc hạt, dù cây đậu rất vàng vọt, ốm yếu. Trong khi đó, những đám đậu quanh đó tuy xanh tốt, rậm rạp nhưng khi nhổ lên lại chẳng được mấy trái! Năm ấy, chùa Đức Sơn được một mùa bội thu kỳ diệu, và cũng được một bài học thực tế vô cùng quý giá rằng lòng từ bi có thể chuyển hóa được tất cả.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#19 Posted : Sunday, June 21, 2015 1:44:29 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Originally Posted by: lly Go to Quoted Post
VÌ SAO CHÚNG TA NÊN PHÓNG SANH?
Lão Pháp sư Viên Nhân


Người tu Đạo Phật phải lấy "GIỚI LUẬT LÀM THẦY" như lời Phật dạy, phải không được SÁT SANH, mà nên PHÓNG SANH;
  • PHÓNG SANH là "trả vô số nợ sát sanh" từ nhiều đời nhiều kiếp của mình đến nay . Người đời nay bị bệnh tật, nạn tai, chiến tranh ...v...v.. đều là do phải "trả nợ sát sanh" .
  • PHÓNG SANH là "cứu mạng chúng sanh", mà cứu mạng chúng sanh cũng là đang cứu mạng mình, là đền trả món nợ sát sanh;
  • PHÓNG SANH là gia tăng lòng Từ-Bi trong Tâm mình, vun trồng hạt giống Bồ Đề Để chứng đắc quả vị Phật"

NHÂN QUẢ BÁO ỨNG như bóng theo hình, như âm vang theo tiếng .
SÁT SANH là tạo tác ác nghiệp sẽ bị ác báo;
PHÓNG SANH là tạo thiện nghiệp sẽ được thiện báo;


KINH DƯỢC SƯ LƯU LY BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC dạy rằng: "Cứu thả các sinh mạng được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn." Người phóng sinh tu phước, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách thì bản thân không gặp các tai nạn.



Xưa nay trong một bát canh
Oán sâu như bể, hận thành non cao
Muốn biết nguồn gốc binh đao
Lắng nghe lò mổ tiếng gào trong đêm .


“GHÊ RỢN” NHỮNG HÌNH ẢNH TẠI LỄ HỘI THỊT CHÓ LỚN NHẤT TRONG NĂM



Hàng nghìn con chó bị giết mổ, chúng đau đớn kêu gào và sau đó được bày bán la liệt khắp nơi. Những hình ảnh này khiến không ít người, đặc biệt là du khách phương Tây sợ hãi.

Ngày Hạ Chí hàng năm, thường vào ngày 21 hoặc 22.6, người dân ở Ngọc Lâm (Trung Quốc) lại tưng bừng tổ chức lễ hội thịt chó lớn nhất trong năm. Lễ hội này được tổ chức từ những năm 1990, khuyến khích người dân ăn thịt chó để có được may mắn.

UserPostedImage


Theo quan niệm từ xa xưa của người Trung Quốc, ăn thịt chó có thể kích thích sinh nhiệt bên trong cơ thể. Người dân địa phương tin rằng họ sẽ có may mắn và sức khỏe nếu ăn thịt loài động vật vốn rất gần gũi với con người.

Đặc biệt China Daily còn dẫn lời của người dân ở Ngọc Lâm, rằng ăn thịt chó với vải thiều và uống rượu vào ngày dài nhất trong năm – 21.6 sẽ giúp mọi người khỏe mạnh trong suốt cả mùa đông. Dù các nhà khoa học đã bác bỏ lập luận này và kêu gọi người dân dừng việc giết mổ và ăn thịt chó nhưng lễ hội vẫn tiếp tục được tổ chức rầm rộ.

Trong khuôn khổ lễ hội, khoảng 10.000 con chó bị giết thịt để phục vụ nhu cầu của người dân. Người dân tới chợ mua thịt chó thui về nhà chế biến thành những món ăn khác nhau để thưởng thức với quan niệm ăn thịt chó trong ngày này mang lại may mắn cho cả năm.

Những năm gần đây bị phương Tây lên án, người dân Ngọc Lâm đã chuyển vào “bí mật” khi không giết mổ công khai chó ngoài chợ mà chuyển hết vào lò mổ, rồi vận chuyển ra chợ bày bán.

Thịt chó được bày bán la liệt ở các chợ. Đa phần số chó bị bán là vật nuôi của các gia đình bị cẩu tặc bắt trộm. Bên cạnh những vấn đề về hành hạ động vật, thì vệ sinh an toàn thực phẩm, gia tăng bệnh dại cũng là điều được các nhà bảo vệ động vật khuyến cáo người dân nhằm ngăn chặn nạn bắt trộm chó của các gia đình để phục vụ cho lễ hội này.

Một số hình ảnh ghê rợn tại lễ hội thịt chó:

UserPostedImage

Hàng ngàn con chó được nhốt trong các lồng sắt chờ giết mổ.

UserPostedImage

Những thùng phuy lớn đựng nước sôi nhuốm màu đỏ máu của những con chó. Chó sau khi cạo sạch lông vứt la liệt dưới nền đất cáu bẩn.

UserPostedImage

Chó to, chó nhỏ đều được giết thịt để phục vụ lễ hội. Thịt chó, lục phủ ngũ tạng của chó được vứt khắp nơi.

UserPostedImage

Ngày này, lễ hội thịt chó ở Trung Quốc còn có thêm những món từ thịt mèo.

UserPostedImage
.
Chó sau khi giết thịt được bày bán la liệt ngoài chợ.

UserPostedImage

Những chiếc xe ga đắt tiền cũng được sử dụng để vận chuyển thịt chó đi bán.

UserPostedImage

Du khách rùng mình chứng kiến những hình ảnh này khi đến Ngọc Lâm (Trung Quốc).

UserPostedImage

Những hình ảnh ghê rợn được du khách chụp lại tại lễ hội thịt chó.


Theo Bích Hà
Lao động



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, June 21, 2015 1:50:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#20 Posted : Saturday, February 13, 2016 3:44:15 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,320

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Người xưa lưu truyền câu "Cứu vật, vật trả ơn; Cứu nhân, nhân trả oán..." ... điều này không phải không có căn cứ ... vì câu truyện sau đây là 1 trong rất nhiều minh chứng cho câu nói lưu truyền của người xưa !!!

Tóm lại thì Người mà không có "nhân tánh", không đạo đức ... sống bất nhân, bất nghĩa và phản phúc ... phản bội người cứu giúp, trợ giúp mình ... thì chắc chắn kẻ đó đã thua xa loài cầm thú !!!

Cho nên làm người để không thua kém loài cầm thú thì ...

Đừng chỉ nói suông tiếng "Cám Ơn",
cần chuyển "Lời Cám Ơn" thành "Hành Động Báo Ơn"

HT Thích Thánh Nghiêm

UserPostedImage



CHUYỆN LÃO THỢ SĂN GIẢI NGHỆ SAU KHI ĐỐI ĐẦU VỚI KHỈ ĐẦU BẠC


(ĐSPL) - Nói về vùng đất Phượng Tiến, Định Hóa, Thái Nguyên người ta vẫn thường biết đến những câu chuyện nhuốm màu kỳ bí ở Hang quan tài cổ, kho lưu trữ tiền Quốc gia...

Có một câu chuyện về tình nghĩa giữa con người và động vật được giới thợ săn ở Định Hóa truyền tụng như huyền thoại giữa vùng đất bốn bề rừng núi. Câu chuyện về người thợ săn lão luyện Hoàng Văn Nam, xóm Hợp Thành suốt mấy chục năm làm nghề thợ săn, bỗng một ngày “sát thủ của rừng” đột ngột tuyên bố “rửa tay gác kiếm” sau một chuyến đi rừng về. Câu chuyện gắn liền với cuộc đối đầu với “khỉ đầu bạc” dù đã bị trọng thương.

Cuộc đối đầu với "khỉ đầu bạc"

Có dịp ngồi uống cà phê cùng một số anh em làm ở ban văn hóa xã Phượng Tiến, nghe họ kể về lão thợ săn khét tiếng một thời như “Nam xạ thủ” mà phải bỏ nghề chỉ vì một con khỉ khiến chúng tôi vô cùng thắc mắc. Để giải thích sự tò mò của mình, chúng tôi hỏi thăm đường về nhà ông Nam ở xã Phượng Tiến, Định Hóa. Khi chúng tôi hỏi chuyện tự nhiên bỏ nghề, ông Nam không giấu giếm mà cởi mở trả lời hết những thắc mắc. Ông cho biết, câu chuyện cách đây đã hơn 10 năm nhưng mọi thứ vẫn như mới hôm qua và ông muốn mọi người biết câu chuyện của mình như một bài học ở đời và cho tâm hồn của ông thanh thản phần nào.

“Tôi còn nhớ như in một buổi trưa cuối 1997, đó cũng chính là buổi đi săn tạo bước ngoặt cuộc đời giải nghệ của tôi”, Nam xạ thủ bắt đầu một giọng trầm buồn. Sau khi cơm nước xong, Nam xạ thủ khoác đồ nghề lên vai, dẫn theo đàn chó săn tinh nhuệ đã gắn bó suốt một thời chinh chiến thẳng tiến cùng anh em lên rừng Ba Tổng. Tay lăm lăm khẩu súng săn và chục cái bẫy dùng để săn thú với đủ loại, bẫy kiềng 30, bẫy kiềng 10... Như thường lệ, sau khi tìm chỗ đặt bẫy xong, Nam xạ thủ chọn một gốc cây ngồi hút thuốc chờ đến khi trời sáng để đi thu thành quả. Ngồi đợi rất lâu, dạo đi một vòng để nghe ngóng tình hình mà không hề có động tĩnh gì. Lúc này, nhóm chúng tôi quyết định cùng nhau đi truy lùng theo kiểu đánh động gọng kìm”, Nam xạ thủ nhớ lại.

Ông Nam kể tiếp: “Ngày đó, ngoài việc đi săn các loại thú khác chúng tôi vẫn ngày ngày lên rừng để săn bắt và tìm kiếm một thứ có tên gọi “huyết linh khỉ”, đó là máu của những con khỉ khi bị thương chúng thường bỏ chạy, những phiến đá khỉ ngồi lại sẽ đọng một số máu. Thứ máu đó người ta cho rằng có tác dụng trị các vết thương rất tốt vì vậy đám thợ săn ai cũng mong tìm cho được thứ quý hiếm đó. Bốn người đang truy lùng ở sườn núi, thì thấy trên gành đá xuất hiện một con “khỉ đầu bạc”, chúng tôi đã tìm cách tiếp cận con mồi, khi khoảng cách chỉ còn cách con mồi khoảng chừng 30 mét, tôi đã ngắm bắn. Một tiếng nổ... đoàng,... đoàng... sau đó khi đầu bạc đã bị thương và bỏ chạy, chúng tôi truy đuổi con khỉ đến cửa hang Ba Tổng. Chạy đến đây, con khỉ không chạy nữa mà ngồi ngay trên phiến đá giữa cửa hang, chỉ cách chúng tôi khoảng 10m. Biết rằng, hang sâu đó chưa ai dám xuống nhóm thợ săn chúng tôi đã quyết định cùng giương súng để bắn hạ con khỉ ngay tại cửa hang. Tất cả bốn người cùng giương súng lên nhằm bắn về con khỉ đầu bạc nhưng lạ thay súng của ba người đi cùng tôi thì nổ nhưng không trúng đích, riêng súng của tôi thì không thể nào phát nổ”.

“Chúng tôi bắt đầu cảm thấy lạnh xương sống, những giọt mồ hôi bắt đầu chảy lã trã trên trán. Con khỉ vẫn ngồi đó nước mắt nó chảy, cộng với máu ở chân sau của nó cũng tuôn ra không ngừng vì bị thương. Tay nó móc ra một nắm quả rừng như chìa ra để mặc cả với chúng tôi tha mạng. Tôi rợn người, một cảm giác chưa bao giờ xuất hiện trong con người tôi. Tôi tự trấn tĩnh, mình đã theo cái nghiệp làm thợ săn thì chuyện giết thú rừng là chuyện hết sức bình thường để tiếp tục công việc. Bất ngờ lại xảy đến khi bỗng nhiên xuất hiện hai con khỉ khác, một con khỉ cái to và một con khỉ nhỏ. Có lẽ những cảnh tượng đó chỉ con người mới làm được khi muốn cầu xin một ai đó điều gì. Cả hai con khỉ xuất hiện sau đó đều chắp tay vái lạy về phía chúng tôi, nước mắt chảy ròng ròng, những tiếng kêu ú..ớ..ớ. Trong đầu tôi xuất hiện lên cảnh cuộc sống yêu thương ở gia đình nhà khỉ này. Tôi quay sang nhìn ba người đồng nghiệp, cả bốn chúng tôi không nói không rằng lẳng lặng hạ súng xuống, ngồi đơ như phiến đá, ánh mắt nhìn về ba con khỉ dẫn nhau vào hang sâu”, ông Nam nhớ lại.

Gã thợ săn được khỉ đầu bạc trả ơn

Sau cuộc đối đầu đầy căng thẳng và sự yếu lòng của những người thợ săn trước cảnh van xin cuộc sống của gia đình khỉ đầu bạc, trong lòng những người thợ săn đã dần có những sự ám ảnh. Dù đi săn nhưng sự gan lì trong tâm lý đã dần có sự thay đổi khác lạ.

Nâng chén trà nóng vẫn còn bốc hơi nghi ngút, ông Nam lể tiếp: “Kể từ khi chúng tôi tha mạng cho khỉ đầu bạc, ngày ngày tôi vẫn lên rừng để đi săn, đặt bẫy thú. Đã có những lần vì bản tính tò mò, tôi đã ngồi rình rất lâu ở của hang ma xem có thấy những con khỉ đó xuất hiện nhưng không thi thoảng chỉ có những con chim chào mào, những con chuột xuất hiện... Những khi đó ngán ngẩm, tôi lại đi một vòng thăm những chiếc bẫy mình đã đặt để lượm nhặt những con thú dại dột. Cài lại những chiếc bẫy cho kín đáo, tôi lặng lẽ chở về nhà với lòng nặng trĩu mà không hiểu vì sao”.

“Ngày kế tiếp tôi lại sách súng và đồ nghề lên rừng, khác với mọi ngày là đem theo cả đàn cho đã vào sinh ra tử với tôi. Nay tôi chỉ dẫn theo một con chó khoảng 6 cân, đây là con chó tôi thấy nó khá tinh ranh trong việc bắt rắn nên muốn đem nó theo để huấn luyện dần. Con chó lăng xăng chạy trước, sục sạo khắp các bờ bụi, cách chủ vài mét nó lại dừng lại sủa lên một tiếng rồi nằm phục đợi chủ. Cả chủ và chó săn cùng đến gành núi dựng đứng ở bia rừng, nơi mà những lần trước tôi cùng với anh em mới chỉ đứng từ xa nhìn vào. Hôm nay tò mò tôi muốn đi sâu vào những hang hốc ở phía gành đá để khám phá”. Kể đến đây ông Nam rùng mình, rót thêm trà vào chén rồi kể tiếp.

Ông Nam kể tiếp câu chuyện: “Khi tôi đang bám tay để leo lên gành đá cao khoảng 7m để vào một cái hang sâu phía trên, phía dưới chỉ có một khoảng đất trống đủ người đứng nếu vô tình ngã xuống thì sẽ bị rơi xuống gành đá rất sâu cạnh đó. Biết như vậy nên từng cái nắm tay bám vào đá để leo lên của tôi đều rất thận trọng nhưng tai họa lúc này ập đến, khi tay phải tôi bám vào gờ đá trên cùng để dùng sức leo lên có chạm vào một cái gì đó mềm mềm. Bất ngờ ở phía trên là một con rắn hổ ngon cao, đầu bạnh như cái bàn tay đớp về phía bàn tay tôi. Nhanh như chớp tay trái tôi bám chặt vào gành đá, tay phải theo phản xạ buông khỏi phiến đá tránh cái đớp của con rắn. Tuy nhiên, lực tay trái của tôi không đủ chắc khiến tay tôi trượt ngã, tiếng con chó nhỏ vẫn sủa vang khu rừng. Chỉ trong tích tắc nhưng tôi đủ suy nghĩ để biết rằng cái chết đang cận kề. May thay khi tôi rơi xuống khoảng đất trống với cú đau điếng người và sẽ lăn rơi xuống gành đá thì có một con vật gì đó to lớn túm lấy áo tôi giật lại vào chỗ đất trống để không bị rơi xuống gành đá”.

Sau tai nạn được khỉ đầu bạc cứu, ông Nam đã quyết định giải nghệ.

“Sau khi khỏi cơn choáng váng, tôi nhìn sang bên cạnh thấy một bầy khỉ gần chục con nhưng ngồi phía đầu đàn đang nhìn về phía tôi là con khỉ đầu bạc hôm trước chúng tôi bắn bị thương nhưng rồi lại tha chết. Cũng may có được sự cứu giúp của khỉ đầu bạc chứ bị rơi xuống gành đá đó chắc tôi không biết mình có còn sống nổi nữa hay không”, ông Nam kể lại.

Trước khi tôi ra về ông Nam có trút bầu tâm sự: “Tiếc một thời ngang dọc giữa chốn đại ngàn của mình, một thời “làm ác” nên tôi cũng răn dạy con cháu tìm kế khác sinh nhai không được sát sinh như nghiệp của tôi nữa. Con người ai cũng có một lần lầm lỗi, nhưng quan trọng là phải biết sửa sai, từ bỏ cái ác để hướng thiện”.

Thiên Long – Hàn Phong






Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, February 23, 2016 3:23:41 PM(UTC)  | Reason: Chỉnh sửa layout

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
3 Pages123>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.