Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

5 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
vl  
#1 Posted : Thursday, June 12, 2014 7:16:54 PM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Bộ ngoại giao TQ công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN
Source: http://danlambaovn.blogs...o-5-bang-chung.html#more



Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên "Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc". Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam.


Bản tuyên bố được viết bằng tiếng Anh trên trang web Bộ ngoại giao Trung Quốc, sau đó lập tức được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI chuyển sang tiếng Việt.

Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.

"Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc", bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.

Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:

Bằng chứng số 1:

Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc". Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống".

Bằng chứng số 2:

UserPostedImage

UserPostedImage

Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: "Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa". Ngày 6/9, trên trang nhất của "Báo Nhân Dân"-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này".

Bằng chứng số 3:


Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng".

Bằng chứng số 4:


UserPostedImage
UserPostedImage

Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.

Bằng chứng số 5:

UserPostedImage
UserPostedImage
UserPostedImage

Trong sách giáo khoa "Địa lý" lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" viết: "Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn..., các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức 'Trường Thành' bảo vệ Trung Quốc đại lục".

*

Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "đã nuốt lời cam kết của mình" khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.

Một sự im lặng nhục nhũ đối với tập đoàn Việt gian bán nước.

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Edited by user Thursday, June 26, 2014 5:35:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#2 Posted : Monday, June 16, 2014 2:16:39 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Theo ‘đảng quang vinh,’ lâm nguy vận nước
J.B. Nguyễn Hữu Vinh (Blog RFA)
Source: http://www.nguoi-viet.co...id=189953&zoneid=271


Theo dõi các sự kiện hơn một tháng qua, kể từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, người ta thấy ở đó có đủ sắc thái bi hùng, kiêu hãnh, bạc nhược, hèn hạ và hài hước... Có những điều người ta ngờ ngợ từ lâu, nay bạch hóa trước ánh sáng, có những điều người ta lấp lửng từ lâu, nay huỵch toẹt trước thiên hạ, có những điều người ta lên án, bàn luận âm thầm từ lâu, nay người ta kết luận công khai.

Tất cả cho thấy nhiều điều mà câu hò xứ Nghệ xa xưa đã nói: “Rằng qua cơn hoạn nạn, mới hiểu tận lòng nhau.”

Cơn hoạn nạn

Ðất nước Việt Nam đang trải qua một cơn hoạn nạn khốc liệt.

Cơn hoạn nạn bắt nguồn từ một nền chính trị độc đảng, độc trị độc tài vẫn tồn tại trên đất nước này đã quá lâu, gây bao nhiêu hệ lụy và đã tự chứng tỏ mình không đủ khả năng đưa đất nước đi lên theo chiều tiến bộ mà thậm chí ngược lại. Dù vẫn luôn tự vỗ ngực xưng xưng là đỉnh cao trí tuệ nhân loại là đội quân tiên phong nhưng họ đang đi vào một cuộc khủng hoảng chính trị toàn diện. Ở đó, họ chứng tỏ sự khủng hoảng lớn về tư tưởng, lý luận và nhân sự.

Gần một trăm năm ru ngủ dân tộc này đi theo “con đường ánh sáng của đảng” về Thiên đường Chủ nghĩa Xã hội. Với cái lý thuyết huyễn hoặc rằng là Chủ nghĩa Xã hội sẽ thắng CHTB ở năng suất lao động, rằng là CHTB là đêm trước của Chủ nghĩa Xã hội, rằng là Chủ nghĩa Xã hội là khoa học của mọi khoa học và ở đó không có người bóc lột người... rồi hô hào nào là “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội, hoặc “Ði tắt, đón đầu” v.v... Ðể rồi cuối cùng muốn về số 0 lại phải một quá trình dài sau đó. Nay thì các đời tổng bí thư nói huỵch toẹt là cái Chủ nghĩa Xã hội mà luôn được vẽ ra một cách công phu, tốn kém và ảo tưởng đẹp đẽ kia ấy, nó chưa rõ ràng là đầu cua tai nheo nó ra sao, mà “sẽ dần dần sáng rõ” (Nông Ðức Mạnh) hoặc “Ðến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” (Nguyễn Phú Trọng). Thế nhưng, họ vẫn quyết không từ bỏ việc đưa cả dân tộc này làm vật thí nghiệm, một loại thí nghiệm mà cả loài người đã vứt bỏ 1/4 thế kỷ nay bởi chắc chắn sẽ thất bại.

Không chỉ khủng hoảng về tư tưởng, lý luận, đảng CS hôm nay khủng hoảng nặng nề về nhân sự. Ðã 2/3 thế kỷ đảng xây dựng “con người mới XHCN”, lớp người hôm nay lãnh đạo đất nước, đều là lớp người đã ưỡn ngực tự hào là “thế hệ Hồ Chí Minh, là con cháu bác Hồ.” Thế nhưng, tham nhũng từ những con sâu, nay là một bầy sâu, tha hóa từ là hiện tượng cá biệt, đã trở thành hiện tượng bình thường và thậm chí là phổ biến với “một bộ phận không nhỏ” dù đảng không muốn nói thẳng ra là phần lớn. Vì thế, ngay cả chân thủ tướng lãnh đạo chính phủ với nhiều những sai lầm, bao hậu quả, cuối cùng khi bị đặt vấn đề từ chức đã chỉ thẳng vào mặt Ðảng mà rằng: “Tôi không biết, đảng bảo làm thì tôi làm.” Hết chỗ nói.

Cơn khủng hoảng chính trị đã đẩy sự tín nhiệm của người dân vào lực lượng tự xưng này đến cuối đường hầm.
Và khi sự tín nhiệm của người dân xuống thấp nhất, thì ngón đòn bạo lực được sử dụng để thể hiện bản chất cái gọi là “chuyên chính vô sản” rõ nét nhất. Bạo lực xảy ra tràn lan trong xã hội, nhiều nơi côn đồ kết hợp công quyền để đàn áp người dân. Một xã hội luôn được tự ca ngợi ổn định, hòa bình, hạnh phúc đến tận... thứ 2 thế giới, nhưng người dân luôn khủng hoảng lòng tin vào mọi mặt cuộc sống.

Bắt nguồn từ tư duy lãnh đạo, một nền kinh tế Việt Nam què quặt, phụ thuộc và lâm vào miệng hố của sự mất ổn định. Nguồn gốc sâu xa từ một thể chế chính trị độc tài cộng sản đã dẫn nền kinh tế theo đường lối “kinh tế Thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa” chẳng giống ai. Ở nền kinh tế XHCN đó, không những đã không “tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn” như họ thường dạy dỗ rêu rao trong cái bộ môn Kinh tế Chính trị Mác-Lenin. Ngược lại, lực lượng lao động được sử dụng chỉ 30% tổng số nhân lực bộ máy, phần còn lại 70% ăn bám, đó chính là sản phẩm của chế độ kinh tế thị trường XHCN đã đưa lại hậu quả khủng khiếp cho nền kinh tế mà không một nguồn lực nào cáng đáng nổi.

Cơn hoạn nạn cũng bắt nguồn từ nạn thâm thủng ngân sách do tham nhũng, phá hoại và đặc biệt là những dự án bởi “Chính sách lớn của đảng” đã để lại những hậu quả khủng khiếp không chỉ cho kinh tế, môi trường, an ninh quốc phòng mà trực tiếp tác động đến đời sống người dân. Ðến mức Việt Nam đã phải đào khoáng sản thô bán vẫn lỗ mà vẫn cứ bán.

Ở các nước xung quanh, những sự kỳ thị người Việt diễn ra ngày càng nhiều. Người Việt thuộc thế hệ Hồ Chí Minh ở nước ngoài đã thi nhau “lập thành tích” trong các vụ vi phạm pháp luật nước sở tại và tạo nên những hình ảnh đáng xấu hổ trong con mắt bạn bè, trong các vụ việc làm ăn, đầu tư và cuộc sống với nạn trộm cắp, đĩ điếm, thiếu văn minh, lịch sự tối thiểu.

Trên thế giới, trước con mắt anh em, bạn bè, vị thế của Việt Nam dần dần tụt xuống hàng cuối về các chỉ tiêu tự do, nhân quyền. Hàng năm, thế giới phải nhắc nhở nhà nước VN cần tôn trọng các quyền cơ bản của con người của chính người dân đất nước mình. Công dân Việt Nam được sử dụng như những con tin cho chính nhà nước đổi lấy các hoạt động làm ăn, hội nhập.

Và trong cuộc khủng hoảng không lối thoát đó của những người cộng sản, thì đất nước lâm vào một cơn hoạn nạn mới: Nạn xâm lăng từ Phương Bắc.

Kết quả là khi Việt Nam lâm nạn, ngoảnh đi, ngoảnh lại trước sau thì nhà nước Việt Nam không có một bạn bè, đất nước cô đơn giữa những nguy biến.

Ðảng “quang vinh” - nguy vận nước


Nạn xâm lấn, và bành trướng của ngoại bang phương Bắc có từ ngàn đời nay, nó cũng như bão, như lũ lụt, như nắng hạn mưa rào, nghĩa là cứ đến mùa lại đến. Cái tâm địa bành trướng của người Phương Bắc cha ông ta đã nói lại cho con cháu rõ xưa nay, mỗi người dân Việt đã ngấm vào máu vào thịt, rằng nó cũng như dịch bệnh, cứ sơ hở là nó cắn. Cũng chính vì thế mà dòng máu trung dũng chống xâm lăng từ phương Bắc đã được lưu truyền và luôn chảy trong huyết quản người Việt xưa nay, chưa bao giờ nguội tắt.

Ðiều tệ hại nhất, là “đảng lãnh đạo” đã xác định kẻ thù của đất nước, dân tộc này là bạn “16 chữ vàng và 4 tốt” của mình. Ðây chính là nguyên nhân chính đã tạo nên cơn đại hoạn nạn của đất nước hôm nay. Chính thái độ, cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam thời gian qua đã thể hiện một điều: Trong giai đoạn này, những bi đát, gian nan của vận nước càng tăng lên gấp bội.

Không chỉ hôm nay, mà giai đoạn gần đây, những hành động của đảng Cộng sản và nhà nước CSVN đối với Trung Quốc chỉ thể hiện thành công một điều: Sự lệ thuộc, khiếp nhược đến hèn hạ. Mọi hành động, giao tiếp giữa hai quốc gia độc lập đã bị biến dạng đến thảm hại. Trong khi bọn bành trướng ngày càng lộng hành, ngang ngược đối với thể diện đất nước, đối với lãnh thổ của Tổ quốc, thì đảng luôn chỉ đạo ngậm miệng làm thinh. Chẳng những thế, tất cả những tiếng nói của người dân thể hiện sự ưu tư trước hiện tình đất nước, trước tương lai và nguy cơ của lãnh thổ của Tổ quốc, đều được Ðảng ưu tiên xếp vào thế lực thù địch.

Cũng dưới sự “lãnh đạo tuyệt đối của Ðảng CSVN,” người dân dần dần được đưa vào con đường nô lệ Trung Quốc về kinh tế, văn hóa và chính trị.

Mọi thứ hàng hóa tiêu dùng đều là Trung Quốc chi phối, từ miếng thực phẩm, từ món hàng tiêu dùng cho đến tấm bản đồ in hình lưỡi bò treo trong phòng các quan chức... tất cả đều được Trung Quốc cung cấp. Hàng hóa tràn ngập với đầy đủ độc tố để làm suy kiệt giống nòi ta về thể lực và tinh thần.

Về mặt văn hóa, báo chí, tivi tràn ngập phim Tàu, tin Trung Quốc. Báo chí đưa tin Trung Quốc cứ như đưa tin nhà mình. Thậm chí, tờ báo Ðảng Cộng sản còn để bản tin ghi rõ Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc. Trong khi tờ báo viết về biển đảo Việt Nam thì phải đình bản, người in áo chống đường lưỡi bò, người biểu tình yêu nước thì vào tù. Trong khi lịch sử Việt Nam cố tình bị quên lãng, xuyên tạc, những chi tiết lịch sử liên quan đến bọn xâm lăng bị biến tướng, bóc gỡ, che giấu một cách nhục nhã. Học sinh Việt Nam dần dần quên lịch sử Việt Nam để nhớ lịch sử Tàu.

Người dân Việt Nam không thể quên những năm tháng tủi hổ, chỉ cần nhỡ miệng, chỉ cần mặc chiếc áo có dòng chữ Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam, chỉ cần viết, nói về biển, đảo của Tổ quốc, thì y như rằng có chuyện với bộ máy công an “còn đảng, còn mình.” Nhẹ, thì phiền toái, đánh đập, bắt giữ, nặng thì vào trại giam.

Về mặt thể diện quốc gia, đón Tập Cận Bình, đảng đã cho gắn thêm một ngôi sao chư hầu trên lá cờ Tàu Cộng. Ðiều này làm ngỡ ngàng cả đất nước, cả dân tộc... Người dân, dù đã chứng kiến sự hèn hạ của cả bộ máy nhiều lần cũng không thể ngờ được não trạng nô lệ đã đến mức đó.

Có thể nói, chưa có giai đoạn lịch sử nào, đất nước Việt Nam, người dân Việt Nam chịu nhục nhã bởi thái độ đê hèn trước ngoại xâm của những người tự xưng lãnh đạo đất nước như thời gian qua, họ tưởng vậy là sẽ được yên với quan thầy. Miệng lưỡi tuyên truyền của họ là “Việc biển đảo đã có đảng và nhà nước lo.” Nhưng chưa hết, bọn cướp có bao giờ chùn tay, bọn bành trướng có khi nào dừng lại.

Dù dã tâm xâm lược của kẻ thù đã rõ, hành động xâm lăng của kẻ thù đã diễn ra khốc liệt hết sức ngang ngược và bạo lực thì những người tự xưng là lãnh đạo, là trí tuệ, là sức mạnh “bách chiến bách thắng” đã thể hiện sự khiếp nhược của mình, luôn mồm gọi kẻ thù là bạn, là anh em, là đồng chí, là bạn vàng... nhằm tiếp tục ôm chân quân xâm lược.

Khi Hoàng Sa, một phần Trường Sa đang nằm dưới gót giày quân xâm lược Phương Bắc, những người dân tưởng nhớ đến các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vi lãnh thổ thiêng liêng đảng đã cho phá đám bằng mấy đứa công an cầm loa và “cắt đá” bằng một bầy đàn bà nhảy đầm trước tượng tiền nhân và bao trò mạt hạng hèn hạ khác...

Khi những người yêu nước còn trong tù, những màn đấu tố người yêu nước còn chưa ráo mực, chưa hết những tiếng vang chói tai của những con nộm rơm lên án người yêu nước, thì nhà nước đang lo mải miết đi “cưỡng chế, thu hồi” đất đai, tài sản của nhân dân từ ngàn đời nay để lại bằng những biện pháp bạo lực và bất nhân.

Khi lãnh thổ Tổ quốc bị xâm lược, còn nằm dưới gót giày quân xâm lược, thay vì động viên toàn dân toàn quân chung sức chung lòng bảo vệ non sông, thì đảng kêu gọi quân đội trung thành với đảng và chống “diễn biến hòa bình.” Thậm chí đưa quân đội đi “chống diễn biến hòa bình,” đi cưỡng chế đất đai của dân cho đảng.

Thậm chí, khi giặc hung hãn vào tận nhà, cắm giàn khoan, đâm thủng tàu bè của lực lượng chấp pháp VN, giết chết ngư dân trên biển Việt Nam, sau một tháng đã có gần 30 cố gắng đàm phán từ phía Việt Nam, tất cả đều bị Trung Quốc bỏ ngoài tai. Ðến mức đó, đảng vẫn cứ ngậm thinh và bộ trưởng Quốc Phòng vẫn kiên quyết “không để xảy ra xung đột.” Thương thay cho ông ta, việc xảy ra xung đột không nằm ở ý muốn của ông ta và cái đảng CS của ông. Cách duy nhất để không phải xung đột, chỉ có trói tay để tự xin hàng khi giặc đến.

Khi mà đất nước VN đang có một bộ máy cai trị đã rệu rã, ươn hèn và bạc nhược. Khi mà tình trạng đất nước đã vào tình trạng: “Trong ngoài lục đục, trên dưới không yên, thiên hạ bất đồng, nhân tâm ly tán.” Bọn bá quyền biết và thấy rõ cơ hội vạn năm có một đã đến. Có lẽ chưa bao giờ việc thực hiện mộng bá quyền Ðại Hán có điều kiện thuận lợi như giai đoạn hiện nay.

Và vận nước đã nhanh chóng chuyển qua giai đoạn mới: Tổ quốc bị xâm lăng.


(Hà Nội, ngày 12 tháng 6, 2014)



vl  
#3 Posted : Wednesday, June 18, 2014 6:33:52 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Đã đến lúc phải dứt khoát
.Trần Gia Phụng
Source: http://danlambaovn.blogs...phai-dut-khoat.html#more


Trong cuộc mít-tinh của Hiệp Hội Hữu Nghị Nhân Dân Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 15-5-2014, tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) Tập Cẩm Bình tuyên bố rằng: "Không có gene xâm lược trong máu người Trung Quốc”.

Trong khi các báo điện tử trong nước, hoặc các blog tư nhân đưa tin nầy thì nhà nước Cộng Sản Việt Nam (CSVN), các chức sắc, Ban Khoa giáo trung ương đảng, Bộ Thông tin văn hóa, và các chuyên viên của nhà nước CS nín khe. Có lẽ họ cho lời tuyên bố của Tập Cẩm Bình là chuyện nội bộ Trung Quốc, CSVN không xía vào. Họ quên rằng từ khi nước Việt lập quốc, Trung Quốc đã bao lần xâm lược Việt Nam. Hay đó là chuyện thời quân chủ phong kiến, chẳng liên quan gì đến chế độ CS anh em giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc hiện nay? Thế thì người CSVN cố tình quên rằng năm 1979, CSTQ thổi kèn trên thế giới và thổi kèn ngoài mặt trận, tràn quân tàn phá sáu tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là gì?

Gần đây hơn nữa, ngày 8-6-2014, trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố năm (05) bằng chứng CSVN đã nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Tài liệu nầy được viết bằng tiếng Anh và được Đài Phát Thanh Quốc Tế Trung Quốc (China Radio International -CRI) dịch qua tiếng Việt. Năm bằng chứng đó là:

1) Ngày 16-5-1956, trong buổi tiếp đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội là Lý Chí Dân, thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Nam là Ung Văn Khiêm đã nói: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc". Vụ trưởng Á châu vụ Bộ Ngoại giao Bắc Việt Nam Lê Lộc còn tiếp lời: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống".

2) Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958.

3) Tuyên bố của Bắc Việt Nam ngày 9-5-1965 về việc quân Mỹ lập khu tác chiến ở Việt Nam, có đoạn viết: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng".

4) Tập Bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Bắc Việt ấn hành tại Hà Nội năm 1972, ghi tên hai quần đảo quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng hai địa danh do Trung Quốc đặt là Tây Sa và Nam Sa.

5) Cuối cùng là sách Địa lý lớp chín phổ thông toàn tập của nhà xuất bàn Giáo Dục, Hà Nội, 1974, trong chương “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa”, mục “Điều kiện tự nhiên”, ở trang 4, có đoạn viết: “Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung Quốc. (Hiện nay, Đài loan và các đảo xung quanh còn bị đế quốc Hoa kỳ và bọn tay sai Tưởng Giới Thạch chiếm giữ, đấy là một mối đe dọa đối với nền an ninh của Trung quốc, của Viễn đông và miền tây Thái bình dương). (Dân Làm Báo, trích ngày 13-6-2014) (Xin mời vào Google.com, dùng tiếng Việt đánh chữ khóa “Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng về Hoàng Sa và Trường Sa”, thì có nhiều thông tin về vụ việc nầy.)

Việc Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố năm bằng chứng CSVN nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc theo trong kế hoạch từng bước rất lớp lang của đảng CSTQ.

Đầu tiên, sau khi Trung Quốc cắm giàn khoan 981 ở vùng biển Hoàng Sa và bị dân chúng Việt Nam biểu tình dữ dội, đồng thời bị nhà cầm quyền CSVN lên tiếng phản đối, thì CSTQ cho người đưa ra công hàm Phạm Văn Đồng (bước thứ nhứt). Nhà cầm quyền CSVN một mặt cấm biểu tình chống Trung Quốc ở trong nước, một mặt thủ tướng CSVN lên tiếng đòi kiện Trung Quốc để vuốt ve tự ái dân chúng, thì CSTQ đưa ra vụ sách giáo khoa (bước thứ hai). Cộng sản Việt Nam vẫn còn hậm hực, chưa chịu yên, thì bộ Ngoại giao Trung Quốc bồi thêm đòn thứ ba, đưa ra năm bằng chứng kể trên.

Cách thức đe dọa của Trung Quốc từ từ theo liều lượng nặng dần dần, và ngang đây bắt đầu có hiệu lực. Trước những bằng chứng do Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra ngày 8-6-2014, lần nầy Bộ chính trị đảng CSVN đành im lặng, nhà nước CSVN im lặng, quốc hội Việt Nam do đảng CSVN kiểm soát im lặng. Các quan chức cao cấp; tổng bí thư đảng CSVN, chủ tịch nước CSVN, chủ tịch Quốc hội CSVN, thủ tướng CSVN cũng tịnh khẩu, không nói năng thêm gì nữa. Báo chí trong nước và các web trong nước có lẽ được lịnh của nhà nước CS cũng im lặng. Thật là một sự im lặng tuyệt đối từ trên xuống dưới.

Các nhà lãnh đạo đảng CSVN phải im lặng vì há miệng mắc quai, và nếu không im lặng thì CSTQ chắc chắn sẽ tung thêm ngón đòn thứ tư độc địa hơn nữa. Đó là “Kỷ yếu hội nghị đồng thuận bình thường hóa quan hệ hai nước”, ký kết tại Hội nghị Thành Đô (Chengdu), thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) vào ngày 4-9-1990, giữa đại diện đảng CSVN gồm có Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng và đại diện đảng CSTQ gồm có Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) và Lý Bằng (Li Peng).

Hai bên cam kết giữ bí mật nội dung văn bản nầy, nhưng nếu đảng CSVN không tôn trọng những điều đã bí mật cam kết, thì đảng CSTQ không có lý do gì mà giữ bí mật văn bản nầy nữa. Cho đến nay, người Việt Nam chưa biết nội dung văn bản Thành Đô, nhưng chắc chắn đảng CSVN đã cam kết những điều gì đó để được Trung Quốc giúp đỡ nhằm duy trì quyền lực của đảng CSVN, dầu có hại cho đất nước. Đây cũng có thể là một văn tự bán nước sau công hàm Phạm Văn Đồng, vì bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đều rất thất vọng, chán nản, nhưng chỉ nói xa nói gần chứ không dám nói thẳng ra. Kết quả là một người bị cất chức, còn người kia xin từ chức vì không muốn liên hệ đến tội phản quốc.

Có một điều lạ nữa là ngay sau công bố ngày 8-6-2014 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, thì khoảng gần 2 giờ sáng ngày 9-6-2014, Xí Nghiệp Bản Đồ Đà Lạt (XNBĐĐL) bị cháy nặng nề, tiêu hủy một phần ba (1/3) tòa nhà đồ sộ làm khu văn phòng, xưởng chế bản, hệ thống máy tính…

Xí Nghiệp Bản Đồ Đà Lạt thuộc Bộ Quốc phòng CSVN, số 14 đường Yersin Đà Lạt. Trụ sở xí nghiệp nầy được xây dựng năm 1939 và hoàn thành năm 1943 thời còn Pháp thuộc, tường dày, rất kiên cố. Trước năm 1975, đây là Nha Địa Dư Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Báo chí trong nước đưa tin nầy sáng 9-6-2014, và cho biết thượng tá Vũ Đình Hợi, giám đốc Cục Bản Đồ Đà Lạt, tuyên bố rằng: “Những tài liệu quan trọng liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia đã được chuyển giao Bộ Quốc phòng quản lý... Sau trận hỏa hoạn mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn. Vị trí xảy ra vụ hỏa hoạn là nơi làm việc của nhân viên, không phải nơi lưu trữ như dư luận đồn đoán…”

Ông giám đốc nói thế là đúng sách vở, chứ không lẽ ông giám đốc lại thú nhận là đã cháy nhiều tài liệu quý hiếm lưu trữ trong XNBĐĐL? Một câu hỏi được đặt ra là tại sao XNBĐĐL lại cháy ngay sau ngày Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của đảng CSVN, và cháy vào buổi khuya chẳng có người làm việc? Cháy do tai nạn hay do phá hoại? Ai là kẻ gây ra tai nạn hay chủ mưu phá hoại? Phá hoại để làm gì? Phải chăng phá hoại nhắm tiêu hủy tài liệu gốc về bản đồ? Liệu những tài liệu gốc về bản đồ vùng biên giới Việt Nam Trung Quốc và về bản đồ Hoàng Sa, Trường Sa có bị cháy chưa? Không ai có thể xác minh điều nầy trừ chính đảng CSVN.

Một điều đặc biệt nữa là từ năm 1960, nghĩa là hai năm sau công hàm Phạm Văn Đồng, và cùng một năm đảng Lao Động (tức đảng CSVN) tuyên bố quyết định tấn công VNCH, thì phủ thủ tướng Hà Nội nhận người do Trung Quốc gởi sang làm chuyên gia cho Cục Đo đạc và Bản đồ. Hồ sơ lưu trữ thấy có một người tên là Trương Hồng Kiên làm chuyên gia tại Cục Đo đạc và Bản đồ. Nói cách khác, từ năm 1960, chuyên viên Trung Quốc đã nằm vùng trong Cục Đo Đạc và Bản đồ ở Hà Nội. Sau đây là giấy chứng nhận của phủ thủ tướng Hà Nội:

https://lh5.googleuserco...Ys0PGY-osxFIYVbdoa9ZXPVc



Sự hiện diện của chuyên gia Trung Quốc tại Cục Đo đạc và Bản đồ có liên hệ gì đến việc thực hiện các bản đồ trong tập Bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Bắc Việt ấn hành tại Hà Nội năm 1972, ghi tên hai quần đảo quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng hai địa danh do Trung Quốc đặt là Tây Sa và Nam Sa? Và có liên hệ gì đến sách Địa lý lớp chín phổ thông toàn tập của nhà xuất bàn Giáo Dục, Hà Nội, 1974 không? Có chuyên viên Trung Quốc khi XNBĐĐL bị cháy sáng sớm 9-6-2014?

Trở lại với công bố ngày 8-6-2014 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, thì chúng ta cần tách bạch làm hai phần rõ rệt:

1) Phải thẩm định lại giá trị của các tài liệu nầy, ví dụ bản công bố nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc từ thời nhà Tống là điều hoàn toàn phi lý, vì cho đến năm 1974, VNCH vẫn còn quản lý hai quần đảo nầy. Trung Quốc đem hạm đội đến đánh cướp ngày 19-1-1974. Tập Bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng Bắc Việt ấn hành tại Hà Nội năm 1972, và sách Địa lý lớp chin phổ thông toàn tập là của Bắc Việt Nam, chứ không phải của Nam Việt Nam tức VNCH. Trước năm 1974, Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc tổ chức hành chánh của VNCH và không bao giờ có tên Tây Sa và Trường Sa.

2) Dù đúng hay sai, bốn bằng chứng sau do Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra gồm công hàm Phạm Văn Đồng, tuyên bố ngày 9-5-1965 của Bắc Việt cộng sản, tập Bản đồ thế giới năm 1972, và sách Địa lý lớp chín phổ thông toàn tập năm 1974 của Bắc Việt Nam là chuyện giữa nhà nước CSVN Bắc Việt Nam với Trung Quốc, chứ không phải của nhân dân Việt Nam. Phải tách nhân dân Việt Nam ra khỏi chuyện nầy vì nhân dân Việt Nam luôn luôn xem Hoàng Sa và Trường Sa là di sản do tổ tiên để lại, là lãnh thổ Việt Nam.

Bốn bằng chứng nầy cho thấy Đảng CSVN chủ trương bán nước có kế hoạch từ thời Hồ Chí Minh cho đến ngày nay, và cũng cho thấy rằng HỒ CHÍ MINH VÀ Đảng CSVN chẳng yêu nước mà họ chỉ lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, hy sinh xương máu của nhân dân Việt Nam nhằm thỏa mãn cuồng vọng quyền lực của đảng CSVN và để phục vụ cho sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, mà đại diện là Liên Xô và Trung Quốc, như Lê Duẩn đã có lần xác nhận với đám cận thần sau khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”.


https://lh6.googleuserco...AugFTKAQoJJH_hoSH39DA-xI



Vì vậy, cuộc chiến tranh ba mươi năm (1946-1975) do CSVN hai lần gây ra là cuộc chiến hoàn toàn phi lý, không có chính nghĩa và chỉ là cuộc chiến ý thức hệ để thiết lập một chế độ độc tài toàn trị, và nhất là nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc. Việc CSVN nhượng đảo, nhượng biển cho Trung Quốc càng làm sáng lên chính nghĩa quốc gia, dân tộc và nhân bản của các chính thể Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa, dầu các chính thể nầy chưa được hoàn hảo, nhưng luôn luôn bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ do tổ tiên để lại.

Trước đây, khi bất cứ ai tố cáo CSVN bán nước thì đảng CSVN, báo chí CSVN, và cả những người thiên tả, những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản đều phản bác lại, cho rằng đó là luận điệu tuyên truyền chống nhà nước “cách mạng” CSVN. Bây giờ, với bằng chứng rành rành như thế nầy, thì không còn chối cãi gì nữa. Vì vậy, đã đến lúc toàn dân dân Việt Nam phải có thái độ dứt khoát rõ ràng với chế độ CSVN vì không thể để cho CSVN tiếp tục phản dân hại nước.

Trước hết, là những người yêu nước đã lên đường năm 1945, đi theo “cách mạng” vì lầm tin chủ nghĩa cộng sản, lầm tin vào đảng CSVN, đã trọn đời hy sinh vì một lý tưởng xấu, để rồi cuối cùng bị phản bội một cách trắng trợn. Những tội lỗi của chế độ CSVN có phần trách nhiệm của quý vị vì chính quý vị đã dày công xây dựng chế độ nầy. Xin quý vị ít nhất vào cuối đời, quý vị hãy lên tiếng để bày tỏ cho con cháu biết rõ sự thật, giúp con cháu khỏi bị một lần nữa lầm đường lạc lối như thế hệ quý vị năm 1945.

Những thức giả (chứ không phải là trí thức) dưới chế độ CSVN hiện nay, như những sĩ quan quân đội, những giáo sư đại học, những chuyên viên các ngành, những nhà nghiên cứu, các văn thi sĩ, các nhà bình luận, ký giả báo chí; xưa nay quý vị lơ là với tình hình đất nước, và làm thinh cộng sinh với chế độ CSVN, nay chắc chắn hơn ai hết, quý vị biết rõ CSVN bán nước, hại dân, thì quý vị còn chờ đợi gì nữa mà chưa ly khai với đảng CSVN? Quý vị tiếp tục cộng sinh với đảng CSVN là quý vị tiếp sức cho CSVN gây họa cho tương lai đất nước.

Những sinh viên thiên tả thời VNCH, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, ở Đại học Sài Gòn cũng như Đại học Huế, biểu tình rầm rộ chống chính thể VNCH trong thập niên 60 và 70, nay trước những bằng chứng phản quốc cụ thể của CSVN, sao quý vị không xuống đường như thời VNCH, và quý vị cũng chẳng lên tiếng tý nào, nghĩa là làm sao? Hãy can đảm tiếp nối hành động cuối đời của ông Lê Hiếu Đằng, để chuộc lại những lỗi lầm của quý vị một thời phá hoại nền tự do dân chủ VNCH.

Không ai có thể trách các thế hệ trẻ ngày nay, vì từ năm 1974, các anh chị em đã bị CSVN nhồi sọ rằng Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc, các anh chị em đâu có biết Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở đâu? Vì vậy giới du học sinh Việt Nam từ trong nước ra ngoài du học, trong các ngày gần đây đi biểu tình chống Trung Quốc sau vụ giàn khoan 981, vì lòng yêu nước của anh chị em, chứ anh chị em đâu có biết chuyện Hoàng Sa và Trường Sa. Các anh chị em cũng không biết là cái lá cờ đỏ mà các anh chị em vác trên vai đi biểu tình chống Trung Quốc, chính là lá cờ của chế độ đã nhượng Hoàng Sa và Trường Sa của tổ quốc cho Trung Quốc từ lâu rồi. Các anh chị em nghĩ sao về các bằng chứng do Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra? Anh chị em hãy thử đặt câu hỏi với các tòa đại sứ CSVN vể các bằng chứng nầy, và thêm một câu hỏi nữa là tại sao trong nước cấm biểu tình chống Trung Quốc mà ở Hải ngoại, các tòa đại sứ CSVN lại ra lịnh du học sinh vác cờ đi biểu tình?

Các anh chị em theo dõi, quan sát sự im lặng nhịn nhục của lãnh đạo đảng CSVN trước công bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 8-6-2014, chắc chắn anh chị em đã hiểu nội tình rồi. Các anh chị em đừng để cho CSVN lợi dụng làm con cờ thí cho CSVN. Các anh chị em là những người ra nước ngoài học hành, hiểu nhiều, biết rộng, vậy hãy thức tỉnh và hãy đoạn tuyệt với CSVN ngay từ bây giờ để sau nầy khỏi hối hận. Các bậc cha chú, các bậc đàn anh của anh chị em đã hy sinh cho một lý tưởng xấu. Các anh chị em đừng phục vụ cho một chế độ xấu.


Tình trạng đảng CSVN ngày nay không còn có thể cứu vãn được nữa. Cứu vãn cũng vô ích. Chủ nghĩa CS đã bị dẹp bỏ từ mấy chục năn nay ở ngay đất nước của Marx, của Lenin, của Stalin. Chủ nghĩa CS bây giờ chỉ là cái vỏ bọc của những chế độ độc tài tàn bạo như Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên. Chủ nghĩa CS bây giờ ở Việt Nam chỉ gồm những tên tay sai của Bắc Kinh từ thời kẻ sáng lập là Hồ Chí Minh. Đã ký văn tự bán nước thì không còn lý do gì mà chống chế với Trung Quốc.

Nếu còn đảng CSVN thì còn làm tay sai cho Trung Quốc, còn những mật ước giữa CSVN với Trung Quốc mà nhân dân Việt Nam không biết đâu mà lường trước được. Việt Nam chúng ta muốn chấm dứt tình trạng nầy, thì nhân dân Việt Nam phải xóa sổ chế độ CSVN, để chấm dứt những cam kết bí mật của chế độ nầy với Trung Quốc.

Khi nhân dân Việt Nam không thừa nhận chế độ CSVN, chứng tỏ nhân dân Việt Nam cũng không thừa nhận những cam kết bán nước của chế độ CSVN. Lúc đó, mới có thể nói chuyện đòi đất, đòi biển trở lại. Đã đến lúc những đảng viện CSVN phải đánh giá lại đảng CSVN và ly khai đảng nầy. Đã đến lúc các thức giả trong nước phải đoạn tuyệt với chế độ CSVN để khỏi mang tội đồng lõa với phản quốc. Đã đến lúc thanh niên sinh viên Việt Nam phải tranh đấu để xóa sổ chế độ CSVN để xây dựng một tương lai tười đẹp hơn. Đã đến lúc nhân dân Việt Nam phải dứt khoát hành động! Nếu không, thời kỳ bắc thuộc đen tối đang chờ đợi Việt Nam.

Toronto, Canada



Trần Gia Phụng
danlambaovn.blogspot.com





Edited by user Wednesday, June 18, 2014 9:03:36 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#4 Posted : Thursday, June 19, 2014 5:03:34 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Hà Nội: CA đàn áp, bắt giam nhiều người người biểu tình chống Trung Quốc
Source: http://danlambaovn.blogs...eu-nguoi-nguoi.html#more





Hàng trăm công an đã được huy động nhằm đàn áp cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra vào chiều ngày 19/6/2014 tại Hà Nội. Ít nhất 7 người yêu nước đã bị bắt và đưa đi giam giữ tại trụ sở CA chỉ sau ít phút tiến hành cuộc biểu tình.

UserPostedImage

Trước đó, vào sáng cùng ngày, lời kêu gọi biểu tình đã được nhóm No-U Hà Nội phát đi với nội dung "Phản đối việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục leo thang xâm lược và yêu cầu chính quyền Việt Nam có hành động dứt khoát trước sự việc này!"

Lúc 17 giờ chiều ngày 19/6/2014, khoảng 40 người đã có mặt tại vườn hoa Lý Thái Tổ để giơ biểu ngữ và hô khẩu hiệu phản đối Trung Quốc. Ngay lập tức, một lực lượng CA thường phục đeo băng đỏ đã kéo đến trấn áp thô bạo. Theo mô tả, đội quân công an có số lượng đông gấp 3-4 lần người biểu tình.

Những người biểu tình bị bắt và áp giải đưa về giam giữ tại trụ sở CA phường Lý Thái Tổ và trụ sở CA phường Tràng Tiền. Danh sách những người bị CA bắt giam gồm có:

1. Trương Văn Dũng
2. Lê Hồng Phong (Fb Lê Thiện Nhân)
3. Nguyễn Chí Tuyến
4. Nguyễn Văn Lịch
5. Lã Việt Dũng
6. Đào Thu
7. Một phụ nữ tên Hạnh



UserPostedImage
Xe cảnh sát cơ động trực sẵn chung quanh khu vực tòa đại sứ quán Trung Quốc

UserPostedImage
Công an bắt giam blogger Anh Chí - Nguyễn Chí Tuyến. Ảnh: Fb Bạch Hồng Quyền

UserPostedImage


Hình ảnh do Facebook Mai Dũng ghi lại cho thấy đoàn biểu tình mang theo một biểu ngữ lớn có nội dung "Đả đảo Trung Quốc xâm lược" cùng một tấm biểu ngữ viết tay bằng tiếng Hoa và tiếng Việt ghi rõ "Yang Jiechi [Dương Khiết Trì] cút xéo với cái giàn khoan khốn nạn nhà chúng mày".

Trước đó, an ninh đã được huy động tối đa để bảo vệ chuyến sang Việt Nam của Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì. Tại hầu hết các giao lộ và tuyến phô tại Hà Nội, số lượng công an xuất hiện và đóng chốt cũng được gia tăng một cách đột biến.

Trong buổi gặp, Dương Khiết Trì kêu gọi phải "giữ gìn đại cục quan hệ hai nước", đồng thời chỉ trích giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã để xảy ra các cuộc biểu tình nhắm vào Trung Quốc trong thời gian qua.

Hành động đàn áp, bắt giam những người biểu tình yêu nước ngay sau kết thúc chuyến thăm của Dương Khiết Trì cho thấy nhà cầm quyền CSVN ngày càng tỏ rõ thái độ hèn với giặc, ác với dân.


CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Edited by user Thursday, June 19, 2014 5:06:57 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#5 Posted : Friday, June 20, 2014 5:40:11 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Truyền Thông TQ: Tại Việt Nam, Dương Khiết Trì gọi 'đứa con hoang đàng' trở về nhà
Source: http://danlambaovn.blogs...c-tai-viet-nam.html#more


Sau chuyến thăm của Dương Khiết Trì, truyền thông Trung Quốc tiếp tục tỏ rõ sự hả hê trước thái độ nhu nhược của giới cầm quyền CSVN. Trang mạng Hoàn Cầu Thời Báo mô tả cuộc hội đàm tại Hà Nội hôm 18/6 như một 'món quà' để lãnh đạo đảng CS Việt Nam 'tự kiềm chế bản thân trước khi quá muộn'. Ngạo mạn hơn, trang mạng sặc mùi hiếu chiến của Trung Quốc này gọi Việt Nam như một 'đứa con hoang đàng' được Dương Khiết Trì sang để 'thúc giục về nhà'.

Lời lẽ kích động trên trên Hoàn Cầu Thời Báo gợi lại một tuyên bố trước đó của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh. Phát biểu tại buổi đối thoại Shangri-La, tướng Thanh đã lấy lòng Trung Quốc khi ví von: 'Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia, hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau'.


Ghi nhận phản ứng của truyền thông Trung Quốc, ngày 20/6/2014, trang mạng Diplomat đăng tải một bài viết mà chỉ cần đọc qua tiêu đề cũng đủ khiến những người Việt Nam thờ ơ nhất cũng phải tỏ ra căm phẫn.

Bài viết "Chinese Media: In Vietnam, Yang Calls 'Prodigal Son' to Return Home" (Truyền Thông Trung Quốc: Tại Việt Nam, Dương Khiết Trì gọi 'đứa con hoang đàng' trở về nhà) nhận xét: ''Truyền Thông Trung Quốc mô tả chuyến đi Việt Nam của Dương Khiết Trì là một chiến thắng về ngoại giao và tinh thần đối với Trung Quốc''

Theo Tân Hoa Xã, buổi tiếp xúc giữa Dương Khiết Trì và Phạm Bình Minh đã dẫn đến một thỏa thuận chung, hai bên 'đồng ý xử lý đúng đắn các vấn đề tế nhị song phương'. Giới lãnh đạo cộng sản VN dù cố tỏ ra lạnh nhạt trong quan hệ với Trung Quốc, nhưng trên thực tế đã rất sốt sắng trong việc đàn áp thẳng tay những người dân Việt Nam yêu nước.

Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược vào chiều hôm 19/6 đã nhanh chóng bị công an dập tắt tại Hà Nội. An ninh cũng được thắt chặt tối đa trong chuyến viếng thăm Việt Nam của Dương Khiết Trì.

Đáp lại, Trung Quốc một mặt kéo thêm nhiều giàn khoan vào Biển Đông, một mặt vẫn liên tục chỉ trích và dùng truyền thông dọa dẫm giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Rõ ràng, đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn bế tắc trong vấn đề Biển Đông. Hậu quả của việc lệ thuộc và thần phục Trung Quốc suốt hàng chục năm đã khiến giới chóp bu cộng sản rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị thực sự.

Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com






Chinese Media: In Vietnam, Yang Calls 'Prodigal Son' to Return Home

http://thediplomat.com/2...igal-son-to-return-home/

Edited by user Saturday, June 21, 2014 5:05:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#6 Posted : Saturday, June 21, 2014 5:03:50 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
JENNIFER LYNH

vl  
#7 Posted : Monday, June 23, 2014 3:19:00 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Nguyễn Hữu Cầu: Kinh Giàn Khoan

vl  
#8 Posted : Wednesday, June 25, 2014 11:18:03 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Những văn kiện xé lòng
.Nguyệt Quỳnh
Source: http://www.danchimviet.i...van-kien-xe-long/2014/06



Mấy thủ lĩnh bí cờ xôi thịt đã dính bẫy Boxite Trung Quốc?
Mẹ đau như xương sống bị đâm, như cột sống bị đè
Ai đã bán chui biên thùy bằng những mật ước?
Ai đã bán vụng lãnh hải Tổ quốc trong canh bạc độc tài?
(Mẹ Việt Nam không chỉ nhìn ra biển – Thế Dũng)

Có lẽ không có gì cay đắng hơn khi phải làm công dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nối dài ngày nay. Phải ngồi nhìn sự nhu nhược của lãnh đạo trước từng tấc đất đã mất, từng tấc biển đang mất dần trong sự hung hăng lấn chiếm của quân thù. Sự nhu nhược vượt quá mức chịu đựng đến xấu mặt, thể hiện ngay từ các phát biểu của các tướng lĩnh trong quân đội. Một quốc gia độc lập với một quá trình lịch sử hào hùng, nay trở thành một nước chư hầu, mất hết cả khả năng phản kháng. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa phải cất tiếng than: “Ôi! tổ quốc ơi, ai làm người chịu nhục.”

Nhưng điều đáng nói là sự phản bội đã bắt đầu ngay từ những năm tháng, khi người dân đặt hết niềm tin và ngay cả sinh mạng của mình vào sự lãnh đạo sáng suốt của đảng. Công hàm Phạm Văn Đồng đã được ký kết vào cái giai đoạn mà đảng được tin yêu nhất. Giai đoạn 1954-1959 là khoảng thời gian mà dân chúng miền Bắc sẵn sàng chấp nhận thiếu thốn, sẵn sàng hy sinh mạng sống, dưới ngọn cờ của đảng để bảo vệ độc lập nước nhà. Những lá đơn của một thời máu lửa vẫn còn nguyên nét tin yêu đó:

Nguyễn Gia Long, một thanh niên 23 tuổi, viết đơn tình nguyện đi B: “Tôi, một trong những thanh niên của Tổ quốc, của Đảng, tôi muốn được góp sức mình trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc…không một khó khăn nào, một trở lực nào ngăn cản được bước tiến của tôi đi theo cách mạng. Cao thượng nhất đời tôi là được chết cho cách mạng”. Ông Phạm Văn Minh đã có hai người con lớn theo bộ đội, viết đơn cho con trai thứ ba: “Tôi nguyện cho đứa con thứ 3 của tôi đi chiến đấu cho đến khi nào không còn bóng dáng một tên xâm lược Mỹ nào thì mới thôi, dù con tôi có phải hy sinh đi nữa nhưng tôi cũng vui lòng và nó cũng đã góp phần công sức vào chống Mỹ giải phóng đất nước”.

UserPostedImage


Lòng ái quốc và niềm tin của họ đã bị phản bội. Trong lúc đưa hàng ngàn thanh niên vào miền Nam với danh nghĩa chống Mỹ xâm lược, gia đình và những người trẻ đổ xương máu “giành độc lập” này không hề biết rằng sau lưng họ, cấp trên đã ký tặng những phần đất xương thịt của tổ quốc.

Phạm Văn Đồng đã lẳng lặng ký công hàm công nhận lãnh hải “lưỡi bò” thuộc về Trung Cộng vào ngày 14/09/1958. Cho đến nay, những tài liệu gây nhiều ngỡ ngàng đau đớn này đang được Trung Cộng trưng ra làm bằng chứng trước thế giới. Rõ ràng lãnh đạo CSVN sẵn sàng đặt lợi ích trước mắt của đảng lên trên mọi điều thiêng liêng và trên cả danh dự của chính đảng CSVN. Nếu một đảng phái khác làm điều này, chắc chắn họ đã phê bình và lên mặt dạy dỗ là quá ấu trĩ, là giữa các quốc gia chỉ có quyền lợi chứ không có cái gọi là “tình nghĩa”, hay ngay cả là làm “bù nhìn” cho các thế lực ngoại bang v.v…

Bảy năm sau kể từ ngày ông Phạm Văn Đồng đặt bút ký bức công hàm oan nghiệt này, ngày 10/5/1965 báo Nhân Dân lại một lần nữa khẳng định Hoàng Sa là của Tàu; Nguyên văn: Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập “khu tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: “Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đây là đe dọa trực tiếp “đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng.

Bài báo xác định cụ thể và cắt lìa xương thịt đất nước cho Tàu Cộng này chắc chắn không là bài báo duy nhất. Hẳn là trước và sau nó còn có nhiều bài báo khác nữa. Chính những bằng chứng đau đớn trên giấy trắng mực đen này, khi được Bắc Kinh đem ra xử dụng trong những ngày gần đây, đã biến các luận điệu cãi chày cãi cối rằng “công hàm Phạm Văn Đồng không nhắc tới Hoàng Sa – Trường Sa” thành loại lý luận trẻ con mà Ban Tuyên Giáo CSVN quen dùng với người dân Việt Nam.

Tiếp đến là một tài liệu gây nhiều âu lo nhất cho đến nay, đó là các bản đồ được in ấn bởi Cục Đo Đạc và Bản Đồ, trực thuộc Văn phòng Thủ tướng nước VNDCCH. Những bản đồ này cũng ghi rặt các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là Tây Sa và Nam Sa như Bắc Kinh căn dặn. Chữ viết của công hàm Phạm Văn Đồng nay được diễn đạt bằng hình vẽ và nhân rộng hàng ngàn, hàng vạn lần, do chính văn phòng thủ tướng in ấn. Cãi làm sao bây giờ ?!

Chưa hết, chứng tích bán nước của lãnh đạo đảng còn nằm sờ sờ trên các trang sách giáo khoa lớp 9 do Bộ Giáo Dục VNDCCH biên soạn mà nay Bắc Kinh đang trưng ra trước cả thế giới. Nguyên văn: Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn … làm thành một bức “trường thành” bảo vệ lục địa Trung quốc. Điều đau lòng là đã biết bao thế hệ học sinh non trẻ đã phải nhớ nằm lòng rằng các quần đảo đó là “Tây Sa” và “Nam Sa”, và là đảo của Trung Cộng. Cha ông ta suốt mấy ngàn năm đổ biết bao xương máu, thời đại nào cũng căng mình ra để giữ gìn từng tấc đất của tổ tiên truyền lại. Nay CSVN không chỉ để mất đất, mất biển, mà còn buộc các thế hệ tương lai phải chấp nhận đó là chuyện đã rồi. Khó mà không gọi đó là những hành động chủ tâm phản quốc.

Hiển nhiên, đây chỉ mới là một vài tài liệu khởi đầu mà Bắc Kinh tung ra. Năm tháng của các tài liệu trên cho thấy Bắc kinh đang có cả kho dữ liệu mà chúng đã thu thập trong nhiều thập niên qua. Điều đó cũng là bằng chứng cho thấy ý đồ xâm lấn của Bắc Kinh đã có từ rất lâu — từ thời ông Hồ Chí Minh còn sống dài cho đến ngày hôm nay — đặc biệt bao gồm cả giai đoạn mà Hà Nội hí hửng ôm 16 chữ vàng và 4 tốt.

Đó là chưa kể tấm bản đồ có hiện rõ 9 vạch khổng lồ được dùng để trang điểm phòng họp tại trụ sở thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nơi mà hàng ngày đủ loại các quan chức thượng tầng ra vào họp hành và không ai, kể cả ông Nguyễn Tấn Dũng, cảm thấy có chút gì khó chịu hay nhục nhã. Bao giờ thì Bắc Kinh sẽ dùng luôn các hình ảnh này làm bằng chứng chủ quyền của chúng?

*
Trước cả khối những văn kiện xé lòng nêu trên, tôi bất chợt rơi lệ lặng nhìn bản sắc lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký ngày 13/7/1961, dời thẩm quyền quản trị quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam.
Tới bao giờ việc bảo vệ từng tấc đất giang sơn mới sẽ lại là trách nhiệm tối thượng nhưng rất bình thường và đương nhiên của mọi chính phủ và mọi người dân Việt Nam?

© Đàn Chim Việt

vl  
#9 Posted : Thursday, June 26, 2014 5:29:19 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Hãy tỉnh táo để nhìn Đảng
Cánh Cò, viết từ Việt Nam
2014-06-20
Source: http://www.rfa.org/vietn...nhco-06202014152022.html


UserPostedImage



Người dân Việt Nam trong hơn tháng qua kể từ ngày Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan vào sâu trong vùng biển đặc quyền kinh tế, mỗi người một cách biểu lộ phản ứng của mình. Đến người hiền lành nhất cũng cảm nhận bị đe dọa bởi quân xâm lược. Ra chợ sẽ thấy, những khuôn mặt lấm lem của người mua gánh bán bưng luôn loáng thoáng nỗi lo âu chiến tranh và trong ngôn ngữ thường ngày người ta không ít lần nghe đến hai chữ "giàn khoan" cùng hàng ngàn bàn tán.

Những bàn tán rất đời thường trong quán cà phê, nơi công sở thậm chí ngay trong các bàn tiệc quan hôn tang tế lộ ra một điều: mọi sự đã phơi bày trước bàn dân thiên hạ về ý đồ xâm lăng của Trung Quốc. Khởi đầu thì người ta lo ngại, dần dà là sự tức giận và cuối cùng là cay đắng, xấu hổ.

Lo ngại vì Trung Quốc mạnh và tham vọng bá quyền. Tức giận vì Việt Nam gần như cô độc trong vùng, ngoại trừ Philippines, số còn lại trong khối ASEAN hầu như im lặng không một lời phê phán. Và cuối cùng là cay đắng, xấu hổ khi Trung Quốc công bố một loạt những bằng chứng về Công hàm Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Sách giáo khoa địa lớp 9 của Việt Nam xuất bản năm 1974 rồi bản đồ thế giới do Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam in năm 1972 công nhận Hoàng Sa - Trường Sa là của Trung Quốc. Cả nước chết lặng, cổ đắng họng khan, nghẹn ngào khi biết ra rằng cả một hệ thống cầm quyền từ xưa tới nay đã lạc vào mê hồn trận do Trung Quốc sắp đặt.

Câu hỏi từ mấy năm qua: tại sao không đem Hoàng Sa - Trường Sa vào sách giáo khoa đã có lời giải. Một lời nguyền thì đúng hơn, bởi nó chứa đựng một chính sách nhất quán sai lầm của nhiều đời Tổng Bí thư. Ngay cả Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không nhận ra lòng tham vô tận của người anh em mà ông ăn nằm và tin cẩn như ruột thịt.

Ruột thịt ấy đã quay mặt với ông từ lâu và đến hôm nay thì giọt nước cuối cùng trong chiếc ly đen tối mang tên hữu nghị đã rơi xuống đất.

Kinh thánh Thiên chúa giáo có nhân vật Giu Da cả gan bán Chúa cho quân Do Thái để lấy 30 đồng bạc sao mà giống câu chuyện của Đảng cộng sản Việt Nam công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Quốc đến thế.

Giu Da lập luận rằng Chúa của ông là quyền năng vô tận không một thế lực nào có thể bắt và giết ngài, vì vậy lừa bọn Do Thái để lấy 30 đồng bạc là một hành động thông minh có khi còn được khen thưởng. Giu Da không ngờ ý Chúa đã muốn cứu chuộc nhân loại và hành động của y như một bài học cho con người về sự phản phúc chứ không thể xem là khôn ngoan.

Ông Phạm Văn Đồng rơi đúng vào trường hợp này khi nghĩ rằng ký công hàm không phải là xác nhận chủ quyền vào tay Trung Quốc. Chữ ký ấy chỉ có ý nghĩa làm vui lòng một thế lực đang giúp Việt Nam chiến đấu chống Mỹ và do đó có thể cho là một sự khôn khéo của ngoại giao.

Ông Đồng và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi theo vết xe của Giu Da bán Chúa. Thay vì bán một thánh nhân thì ông và Đảng cộng sản đã đem đất nước ra đặt cược với Trung Quốc. Từ tờ công hàm ấy, Việt Nam trượt dài dưới áp lực của phương Bắc để có thêm hai hành động mê muội theo sau khiến Trung Quốc không dại gì mà không khai thác.

Ba chi tiết dẫn đến mất nước ấy không ai có khả năng phản biện vì càng cố phản biện thì sự ngụy biện càng lộ rõ hơn.
Bây giờ thì mọi câu hỏi trong quá khứ đã có lời giải thỏa đáng. Đảng và nhà nước Việt Nam ý thức công hàm Phạm Văn Đồng là lưỡi gươm Damocles luôn lơ lủng trên đầu nên khi dân chúng biểu tình chống Trung Quốc thì chính quyền đàn áp không thương tiếc. Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập do nhà nước cố tình làm ngơ. Nhà thầu Trung Quốc chiếm mọi cuộc thầu lớn nhỏ, nhập siêu của Trung Quốc mỗi năm mỗi cao hơn...là những biểu hiện lấy lòng để Trung Quốc quên đi chuyện cũ...

Thế nhưng Việt Nam mới là kẻ mau quên. Quên Trung Quốc là một anh bạn lật lọng và sẵn sàng làm mọi chuyện để đạt mục đích của họ. Nhường nhịn như vậy nhưng Việt Nam vẫn không bịt được mồm của một kẻ quen thói lu loa nhất là lu loa để lấy hết biển Đông thì dù có làm hơn thế trăm lần Trung Quốc cũng sẽ theo đến cùng cuộc chiến tranh mồm mép.

Còn một chút niềm tin vào Chủ nghĩa Xã hội cũng bị Trung Quốc dày xéo lên luôn, thế là Đảng và nhà nước Việt Nam đành quay mặt vào... nhau tìm phương kế thoát ra tiếng xấu ngàn đời.

Báo chí rõ ràng không dám đổ tội cho Phạm Văn Đồng, vì làm như thế là chấp nhận công hàm bán nước. Nhưng dù không chấp nhận cũng khó mà tranh cãi giữa tòa án quốc tế, nơi bài học Giu Da bán Chúa đã được các ông bà thẩm phán người phương Tây thuộc lòng từ khi mới sinh ra.

Những bằng chứng ấy phải được can đảm chấp nhận và biện pháp duy nhất giải độc nó là nhận lỗi trước nhân dân cả nước về sai lầm này.

Nhận lỗi không phải để tiếp tục cầm quyền mà phải rút lui ra khỏi cương vị hiện nay vì tất cả các ông/bà trong Bộ chính trị không ai xứng đáng đại diện cho nhân dân Việt Nam cả. Liên đới trách nhiệm buộc những người đang đi dưới lá cờ của Đảng cộng sản Việt Nam phải thấy đó là sự sỉ nhục chung không thể bào chữa. Nếu còn lương tri hãy vứt thẻ đảng để lo cứu nước còn hơn ôm một mớ ảo tưởng ngồi đó chờ ngày người dân đến tước thẻ của mình.

Nếu sau chiến tranh đảng viên được cho là những người có công với cách mạng, đất nước thì công hàm Phạm Văn Đồng và sách giáo khoa, bản đồ do Việt Nam phát hành phải được xem là hành động làm cho mất nước. Người đảng viên đi dưới lá cờ của Đảng cộng sản không thể vô can và vì vậy không được tiếp tục nhắm mắt đi theo đường của đảng vẽ ra, kể cả con đường chống giặc Tàu nếu có.

Khi chữ Đảng không còn linh thiêng nữa thì hãy trở về với lòng yêu nước còn sót lại hiếm hoi trong tim các vị. Đã đến lúc phải chấp nhận rằng Đảng không còn chút giá trị gì khi nhận vai trò lãnh đạo chống ngoại xâm. Chính Đảng mới là lực cản của toàn bộ sức mạnh dân tộc.

Đảng không còn tỉnh táo để hướng dẫn bất cứ ai vì ngay người nắm vận mệnh của nó đã không còn đủ sáng suốt từ nhiều năm qua.

Hãy nhìn ông Nguyễn Phú Trọng thì thấy ngay mặt trái của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Hơn ba triệu đảng viên Cộng sản dưới quyền của ông Trọng đã có phát biểu nào cho ra hồn khi chính ông thủ lĩnh không thèm nói một lời chống giặc?
Hay ông chờ cho tới ngày 15 tháng Tám khi giàn khoan 981 rút đi vì bão tố, sóng dữ thì trở lại vai trò nhạc trưởng, đưa chiếc gậy chỉ huy lên cho toàn đảng của ông cất lên bài ca núi liền núi sông liền sông, Việt Nam luôn trọng tình hữu nghị?

Cánh Cò, Việt Nam 18/06/2014

*Nội dung bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của RFA.

Edited by user Thursday, June 26, 2014 5:32:17 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#10 Posted : Saturday, June 28, 2014 8:29:54 PM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Việt Nam-Trung Quốc: Ai vay nợ và ai phải trả
Friday, June 27, 2014 2:19:07 PM
.Song Chi/Người Việt

Source: http://www.nguoi-viet.co...eid=190742&zoneid=97


Trong buổi tiếp xúc với cử tri tại Sài Gòn ngày 26 tháng 6, 2014, ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã có những câu phát biểu được báo chí trích dẫn, về vấn đề mà người dân quan tâm nhất hiện nay là tình hình biển Ðông và mối quan hệ với Trung Quốc.

Chỉ cần đọc/nghe qua những phát biểu này của một trong bốn nhân vật đứng đầu bộ máy đảng và nhà nước cộng sản, người ta cũng có thể nhận ra quá nhiều điều không ổn trong quan điểm, tư duy, não trạng của các lãnh đạo Việt Nam. Từ đó dẫn đến cách hành xử lúng túng, bị động, bạc nhược của họ trước Bắc Kinh bao lâu nay.


UserPostedImage
Chủ Tịch Nước CSVN Trương Tấn Sang “trao đổi” với cử tri
khi tiếp xúc ở Sài Gòn sáng 26 tháng 6, 2014. (Hình: Tuổi Trẻ)

Chẳng hạn, khi nói về công hàm Phạm Văn Ðồng năm 1958, “Chủ Tịch Trương Tấn Sang nhấn mạnh: ‘Ông Phạm Văn Ðồng (cố thủ tướng) có bao giờ nói Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đâu, đã đăng công khai trên mạng hết rồi.’” (“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).

Ðây là lập luận chống chế quen thuộc của nhà cầm quyền Việt Nam sau khi vụ công hàm của Phạm Văn Ðồng bị công khai trước nhân dân Việt Nam và quốc tế. Về việc này, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết trên facebook:

“Ông Phạm Văn Ðồng không nói Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu?

...Ðúng là công hàm PVÐ không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Nhưng ông tán thành tuyên bố của Tàu rằng Hoang Sa-Trường Sa là của Tàu. Trong công hàm đó câu đầu tiên viết rằng:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9, 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Vậy thì tuyên bố 4 tháng 9, 1958 của Tàu là gì? Trên mạng vẫn còn lưu hành bản tiếng Hoa và một bản dịch tuyên bố 4 tháng 9, 1958. Tuyên bố có đoạn viết:

“Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Như vậy trong tuyên bố trên Tàu cộng họ nói rõ rằng Hoàng Sa-Trường Sa là của họ (hay theo cách gọi Tây Sa-Nam Sa của Tàu). Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng và tán thành Tuyên bố đó thì cũng có nghĩa là tán thành và công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu rồi. Khó nói cách khác được.”

Không chỉ các ông lãnh đạo mà nhiều người dân, nhất là đám dư luận viên trên mạng cũng lập luận tương tự để “chạy tội” cho cái công hàm tai hại, nhưng phải thấy rằng trước quốc tế mà cứ cố cãi như thế này thì không thể thắng được Trung Cộng về lý.

Nói về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc: “Trước việc Trung Quốc lấy cớ từng giúp Việt Nam trong quá khứ để gây hấn ở biển Ðông, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang khẳng định, Việt Nam mang ơn thì có cách trả ơn, chứ Trung Quốc không được áp đặt.” (“Việt Nam mang ơn thì sẽ trả, nhưng Trung Quốc không được áp đặt,” Dân Trí).

Bao lâu nay, phía Trung Cộng tất nhiên là thường xuyên nhắc đi nhắc lại việc đã từng giúp đỡ Bắc Việt “đánh Pháp đuổi Mỹ,” lấy đó làm cớ để mắng mỏ Việt Nam vô ơn mỗi khi quan hệ giữa hai đảng cộng sản trở nên xấu đi.

Nhưng không chỉ Trung Cộng, từ các thế hệ lãnh đạo cho tới nhiều tướng tá, quan chức khác nhau của đảng cộng sản Việt Nam cũng liên tục nhắc nhở... chính họ và người dân Việt Nam, phải biết ơn Trung Quốc.

Người dân Việt Nam hoàn toàn có quyền hỏi lại đảng và nhà nước cộng sản rằng hãy nói rõ ràng và sòng phẳng một lần, ai nợ ai.

Chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam nợ đảng Cộng Sản Trung Quốc để có đủ sức tiến hành hai cuộc chiến, trong đó cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc. Ðối với đa số người Việt Nam, đó là một cuộc chiến không mong muốn, vậy tại sao người dân Việt Nam phải mang nợ Trung Quốc.

Những thông tin, tư liệu được bạch hóa phần nào trong những năm qua đã nói lên tính chất phi lý, vô nghĩa, cái giá quá đắt phải trả cũng như những hệ lụy nặng nề cho đất nước, dân tộc Việt Nam từ việc đảng cộng sản chấp nhận sự viện trợ từ Trung Cộng để đổi lấy việc tiến chiếm miền Nam, thống nhất đất nước nhưng lại bị lệ thuộc lâu dài vào Bắc Kinh về mọi mặt.

Và họ đã phải trả món nợ này không chỉ bằng hàng núi xương máu của nhân dân mà cả tài nguyên, những sự ưu tiên trong lĩnh vực kinh tế cho tới một phần lãnh thổ lãnh hải.

Những thông tin, tư liệu đó cũng cho thấy cuộc chiến chống Mỹ của Bắc Việt thật ra có lợi cho chính Trung Cộng như thế nào, đảng Cộng Sản Trung Quốc lẽ ra phải cảm ơn sự mù quáng của đảng Cộng Sản Việt Nam thì đúng hơn.

Nhưng đó là quan hệ mắc mứu giữa hai đảng, nhân dân Việt Nam chả dự phần gì vào để mà cứ phải mang ơn, biết ơn. Về phía những người cộng sản, chính cái tâm lý mắc nợ, mang ơn này đã khiến họ luôn luôn ở vào thế yếu khi phải đương đầu với Trung Cộng để bảo vệ độc lập chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ.

Tự trói buộc mình vào sự tương đồng về mặt ý thức hệ, mặc dù ai cũng rõ cho đến thời điểm này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không còn là hai đảng cộng sản đúng nghĩa và cũng chả bên nào còn thực lòng tin vào chủ nghĩa cộng sản, lý thuyết Marxism-Leninism nữa.

Tiếp đến tự trói buộc mình vào mối ân oán nợ nần, quan hệ 4 tốt 16 chữ vàng giữa hai đảng cộng sản, trong khi trên thực tế, Bắc Kinh từ lâu đã không coi mối quan hệ hai bên ra cái gì. Và bây giờ, là lần thứ hàng trăm hàng ngàn, Trung Cộng đang công khai xâm lược Việt Nam, thách thức, lăng nhục nhà cầm quyền Việt Nam.

Chừng nào các lãnh đạo, quan chức cộng sản ở Việt Nam tự mình rũ bỏ được cái tâm lý mắc nợ ấy trong mối quan hệ với Bắc Kinh thì họ mới có đủ sáng suốt và sức mạnh để đi cùng một con đường với nhân dân và với thời đại: Thoát Cộng, thoát Trung, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trông chờ ở nhà cầm quyền Việt Nam điều đó thì khác nào hái sao trên trời!

Cuối cùng, trong các phát biểu của ông chủ tịch nước, có một ý sau nói về việc bảo vệ chủ quyền:

“Năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau, đời ta không xong thì đến đời con cháu, phải dứt khoát như vậy. Trước sau như một, vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, phải giữ gìn.” (“Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang: Phải giữ bằng được chủ quyền,” báo Tuổi Trẻ).

Trước đó, tại cuộc đối thoại với các nhà khoa học Việt Nam sáng 17 tháng 5, ông Phó Thủ Tướng Vũ Ðức Ðam đã nói: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Ðời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại.” (“Nhất định phải đòi lại Hoàng Sa,” báo Thanh Niên).

Và nếu chú ý tìm kiếm thêm thì chúng ta sẽ thấy không chỉ có hai nhân vật trên phát biểu những ý tương tự.

Nghe thì có vẻ quyết tâm, đầy xúc động (!) nhưng thật ra nói như vậy có nghĩa là các ông giương cờ trắng, chào thua giặc trước rồi và ủy thác việc đòi lại Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền cho... con cháu.

Các ông không sợ người dân rồi con cháu sau này và cả lịch sử nguyền rủa muôn đời vì đã vay mượn các nước để tiêu xài cho đã đời này, mặt khác, tài nguyên đất nước, đất đai, biển, đảo& có bao nhiêu khai thác sạch, cho thuê hay bán sạch để ăn ngay đời này, còn nợ công cho tới việc đòi lại lãnh thổ lãnh hải thì để cho con cháu gánh, hay sao?

Chỉ qua một buổi nói chuyện của một trong tứ trụ triều đình của Việt Nam mà đã bộc lộ bao nhiêu vấn đề trong quan điểm, tư duy của các lãnh đạo Việt Nam, chả trách gì tình hình cứ ngày càng bi đát, tuyệt vọng.

Việt Nam có thể mất nước đến nơi mà nhà cầm quyền vẫn chưa tìm ra, và cũng không thực tâm muốn tìm, con đường để thoát khỏi Trung Cộng, bảo vệ được độc lập chủ quyền, giang sơn gấm vóc của non sông.

Edited by user Saturday, June 28, 2014 8:30:42 PM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#11 Posted : Tuesday, July 1, 2014 11:54:13 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Giới lãnh đạo CSVN bất nhất trong quan hệ với Trung Quốc
Monday, June 30, 2014 5:54:37 PM
Source: http://www.nguoi-viet.co...leid=190934&zoneid=1


HÀ NỘI (NV) - Hàng loạt ứng xử hết sức bất nhất của giới lãnh đạo Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc đang khiến dân chúng thêm nghi ngại và chắc chắn sẽ làm suy giảm nội lực quốc gia.

Trong cuộc họp định kỳ với lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố tại Việt Nam vừa diễn ra hôm Thứ Hai, ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN, khẳng định, những hành động vừa qua của Trung Quốc ở Biển Ðông là “bất chấp đạo lý, pháp lý, quan hệ hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc.”

Theo tường thuật trên website của chế độ Hà Nội, ở cuộc họp vừa kể, ông Dũng khẳng định, sự kiện giàn khoan 981 không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, mà còn “đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh của khu vực.”

Từ hạ tuần tháng 5 đến nay, giới lãnh đạo Việt Nam, bao gồm tổng bí thư Ðảng CSVN, chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng, liên tục đưa ra những tuyên bố cứng rắn, khác hẳn với trước về quan hệ với Trung Quốc, song lại có nhiều dấu hiệu khác cho thấy, những tuyên bố này chỉ nhằm trấn an người Việt.

Chẳng hạn, bên cạnh những tuyên bố cứng rắn, kiểu như dứt khoát không chấp nhận “quan hệ hữu nghị viển vông,” qua Internet, nhiều người “tận mục sở thị” một văn bản do ông Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng Ngoại Giao CSVN, ký ngày 3 tháng 6, 2014 gửi các bộ, ngành, địa phương giới thiệu “chương trình hợp tác với tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc.”

Trong văn bản đó của ông Thứ Trưởng Hồ Xuân Sơn liệt kê 16 việc mà ông Hồ Xuân Hoa, bí thư tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc, ra lệnh cho thuộc cấp triển khai với Việt Nam và ông Sơn, thứ trưởng Ngoại Giao của Việt Nam, giới thiệu để các bộ ngành, các tỉnh, thành ở Việt Nam “tham khảo, thực hiện.”

Việc đầu tiên trong số 16 việc mà viên bí thư tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc xác định cần làm là tổ chức đưa ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội và ông Lê Thanh Hải, bí thư Thành Ủy Sài Gòn đến thăm Quảng Ðông. Ông Nghị và ông Hải đều đang là ủy viên bộ Chính Trị Ðảng CSVN và đều đã từng tiếp đón ông Hồ Xuân Hoa ở Việt Nam.

Việc thứ hai cần làm là “đào tạo cán bộ cho Ðảng CSVN trong khuôn khổ chương trình đào tạo đã được Ðảng CSVN và Ðảng Cộng Sản Trung Quốc thỏa thuận. Theo đó, trong 5 năm, Quảng Ðông sẽ giúp đào tạo 300 cán bộ cho Việt Nam. Trong 300 cán bộ được gửi sang đào tạo ở Trung Quốc, có 100 ở Hà Nội, 100 ở Sài Gòn và 100 còn lại là cán bộ của các tỉnh, thành phố có quan hệ chặt chẽ với Quảng Ðông như: Hải Phòng, Ðà Nẵng, Quảng Ninh, Quảng Nam.

14 công việc cần làm khác liên quan đến việc thúc đẩy đầu tư và hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Một điểm đáng chú ý khác là trong khi Trung Quốc gia tăng vây, cản, đâm vào các tàu cảnh sát biển, tàu kiểm ngư của Việt Nam ở khu vực tranh chấp chủ quyền, xua đuổi ngư dân Việt nam ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng sa thì mới đây, tạp chí Xây Dựng Ðảng của ban tổ chức Trung Ương Ðảng CSVN, loan tin, ban tổ chức Trung Ương Ðảng CSVN vừa cử một đoàn cán bộ cao cấp đến Trung Quốc “nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm công tác xây dựng đảng tại Trung Quốc” từ 15 tháng 6 đến 24 tháng 6.”

Nội dung chuyên “nghiên cứu, khảo sát” xoay quanh hai chủ đề chính: Học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc về “tuyển chọn, sử dụng, đánh giá cán bộ” và “xây dựng tổ chức cơ đảng và phát triển đảng viên.” (G.Ð)

Edited by user Tuesday, July 1, 2014 11:56:29 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#12 Posted : Wednesday, July 2, 2014 6:03:18 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
‘Con Cháu Các Cụ Cả’
.Lê Diễn Ðức
Monday, June 30, 2014 3:10:35 PM
Source: http://www.nguoi-viet.co...eid=190907&zoneid=97



Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa.

Câu ca dao trên có từ chế độ phong kiến với tập quán cha truyền con nối. Nhưng tập quán này là một thiết chế xã hội mang tính công khai, được xã hội chấp nhận.

Các chế độ độc tài toàn trị tệ hại hơn, có cấu trúc giống như một nhà nước phong kiến nhưng mọi thứ đều không minh bạch. Những kẻ cầm quyền sống ngập trong xa xỉ nhưng chỉ đến khi bị lật đổ người dân mới biết. Saddam Hussein (Iraq) hay Gaddafi (Lybia) là những ví dụ.

Hệ thống độc tài cộng sản toàn trị thì có mô hình một nhà nước với “vua tập thế” là Bộ Chính Trị, cơ quan đầu não của một đảng duy nhất cầm quyền. Không cha truyền con nối, nhưng con cháu các lãnh đạo được cơ cấu vào các tổ chức của đảng để bồi dưỡng và quy hoạch cho tương lai.

Trong chiến tranh Việt Nam, Hồ Chí Minh đã dùng cụm danh từ “Hạt Giống Ðỏ” để đặt tên cho con cháu cán bộ nằm vùng tại miền Nam Việt nam. Những “Hạt Giống Ðỏ”/“Học sinh miền Nam” này được đưa ra Bắc nuôi dưỡng và học tập, nhiều người đi du học nước ngoài.

Từ khi Việt Nam “mở cửa,” thời cuộc thay đổi, việc quy hoạch giới “5C” (”Con Cháu Các Cụ Cả”) thường gắn liền với lợi ích nhóm lâu dài, nhằm duy trì và phát triển các mối làm ăn. Thời đại ở Việt Nam “5C” cũng được chuyển sang “Thái Tử Ðảng.”

“Thái Tử Ðảng” (Taizi Dang) là một danh xưng mang ý nghĩa châm biếm, dùng để chỉ tầng lớp con cháu của các quan chức cao cấp nổi bật và có ảnh hưởng ở Trung Quốc. Bằng một cách không chính thức, tầng lớp này thường được hưởng nhiều đặc ân của nhà nước. Do đó, tầng lớp con cháu này có nhiều cơ hội được quy hoạch để làm lãnh đạo trong tương lai, dù hình thức bên ngoài vẫn biểu hiện bởi các nguyên tắc dân chủ như thông qua bầu cử; hoặc tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, tích lũy khối lượng tài sản khổng lồ mà những người dân thường không thể nào có được” (Wikipedia).

Trong giới “Thái Tử Ðảng” nhiều người được đi du học tại Mỹ, Anh, Úc... và sau khi học về đã chỗ đứng ngon lành dọn sẵn.

Tuy nhiên không phải tất cả con cháu các nhà lãnh đạo đều là “Thái Tử Ðảng,” điều này phụ thuộc vào cơ hội, khả năng và tham vọng của bản thân. Nhiều “thái tử” lắm tiền, ăn chơi hoang túng, sa vào rượu chè, nghiện hút, gái, chẳng làm nên công cán gì. Ví dụ như Nguyễn Ðức Quang (Quang Béo), con trai cựu Cục Phó Tổng Cục An Ninh, giám đốc Công an Hà Nội Nguyễn Ðức Nhanh, hay Nguyễn Khánh Trọng, con trai cựu Thứ trưởng Thường trực Bộ Công An Nguyễn Khánh Toàn.

Trong guồng máy quyền lực hiện nay, giới “Thái Tử Ðảng” khá đông, xin được kể ra một số có “máu mặt.”

Cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn có hai vợ, nhiều con, nhưng đáng chú ý có hai người.

Một, Lê Kiên Thành (sinh 1955), kỹ sư hàng không tại Liên Xô, hiện là chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị (HÐQT) Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Và Phát Triển Ðô Thị; chủ tịch HÐQT Công ty Cổ Phần Chế Biến Thực Phẩm Thái Minh; chủ một sân golf và là phó Chủ tịch thường trực Hội Golf Việt nam, là thành viên Ưy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh.

Thứ hai, con út Lê Kiên Trung (sinh 1958), Cục trưởng Cục Hải Quan TP. Hồ Chí Minh (từ tháng 12 năm 2007), hiện là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng Cục An ninh II, Bộ Công An.

Cố Ðại Tướng Nguyễn Chí Thanh có con trai út là Nguyễn Chí Vịnh, thượng tướng, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, một người được cho là có quyền lực bao trùm, trên cả bộ trưởng Phùng Quang Thanh. Nguyễn Chí Vịnh thuở thanh thiếu niên học dốt, chơi bời, hay ăn cắp vặt, nhưng vẫn được châm chước, lên như diều gặp gió, mặc dù khi phong chức hay cơ cấu vào ủy viên Trung Ương Ðảng đã có phản ứng của các sĩ quan trong Bộ Quốc Phòng.

Vợ của Nguyễn Chí Vịnh là con gái Trung tướng Ðặng Vũ Chính, tức Ðặng Văn Trung, cựu tổng cục trưởng Tổng Cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam (từ năm 1994 đến năm 2002). Vũ Chính đã “chuyển giao” thành công quyền lực cho con rể trong Tổng Cục 2, có lúc được xem là “nhà nước trong một nhà nước,” khiến Nguyễn Chí Vịnh tạo được thế đứng vững chắc. Nguyễn Chí Vịnh có ba con, một đi du học ở Úc, một đi Nga và một đi Trung Quốc.

Nguyễn Văn Bình, thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, được xem là trung tâm chi phối các nhóm lợi ích hiện nay ở thượng tầng. Nguyễn Văn Bình học toán ở Liên Xô cũ, con ông Nguyễn Văn Chuẩn, cựu tổng Giám Ðốc Ngân Hàng Quốc Gia, tức tương đương chức Thống Ðốc bây giờ.

Anh ruột của Nguyễn Văn Bình là Nguyễn Văn Thành. Thành lấy con gái ông Lê Quang Ðạo, Trung tướng, cựu chủ tịch quốc hội, là Nguyễn Nguyệt Tĩnh, một “soái” thành đạt ở Ba Lan làm ăn nhiều với thị trường Liên Xô. Con trai của Lê Quang Ðạo là Thiếu Tướng Nguyễn Quang Bắc. Vì thế Nguyễn Văn Bình có cả mối quan hệ lợi ích dây mơ rễ má với các tướng lĩnh quân đội.

Tô Huy Vũ con trai trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa hiện là Vụ phó của Ngân Hàng Nhà Nước.

Lê Minh Hưng, con trai cố bộ trưởng Công An Lê Minh Hương là phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước.

Tướng Tô Lâm, thứ trưởng Bộ Công An là con trai ông Tô Quyền, cựu cục trưởng Cảnh Sát Giao Thông, cựu giám đốc Công An Hải Hưng. Tô Lâm sinh năm 1957, được cho là người giải cứu vụ Vinashine cho Nguyễn Tấn Dũng, một nhân vật đầy quyền uy. Tô Lâm được Tướng Nguyễn Văn Hưởng trực tiếp nâng đỡ kéo lên từ vị trí cục trưởng lên tổng cục trưởng rồi thứ trưởng Bộ Công An chỉ trong vòng mấy năm!

Tô Lâm khôn ngoan, thường nhận con cháu lãnh đạo cấp cao về đơn vị mình để tạo ơn nghĩa, vây cánh. Phan Minh Hoàn (Hoàn Ty), con cựu Thủ Tướng Phan Văn Khải; Trần Quốc Liêm, em vợ Nguyễn Tấn Dũng, hay con trai giám đốc Công An Tuyên Quang; con trai giám đốc Công An Ninh Bình đều làm việc dưới trướng Tô Lâm.

Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Chung (Chung con), giám đốc Công An Hà Nội, là con nuôi của Lê Hồng Anh, thường trực Ban Bí Thư.

Nguyễn Hoàng Linh, sinh năm 1971, là cục phó thuộc Tổng Cục Tình Báo (Tổng Cục 5), con trai tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, một người cho lúc về hưu đã có ảnh hưởng lớn đến Nguyễn Tấn Dũng, quyền hành mênh mông, khuynh loát mọi quan hệ làm ăn lớn.

Phùng Quang Hải
, trung tá, giám đốc Tổng Công Ty 319 thuộc Bộ Quốc Phòng, con trai của bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Phùng Quang Thanh. Phùng Quang Hải đang cùng với Nguyễn Thanh Phượng, con gái Nguyễn Tấn Dũng, điều hành môi giới mua bán vũ khí cho quân đội, một sân chơi rất hẹp mà chỉ “Thái Tử Ðảng” nặng ký mới vào được.

Con trai của Lê Ðức Anh, cựu chủ tịch nước, Lê Mạnh Hà, là phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh.

Trong giới “Thái Tử Ðảng” hiện nay, có lẽ Nguyễn Thanh Nghị, con thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng, được quan tâm nhất.

Ông Nghị, sinh năm 1977, con trai cả của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng theo học tại Ðại học Kiến Trúc trong nước, sau đó đi du học tại Mỹ.

Năm 2011, tại Ðại Hội Ðảng Cộng Sản Việt Nam XI, tuy không được đại hội đảng từ cơ sở đề cử lên, song Nguyễn Tấn Dũng đã mặc cả với Nguyễn Văn Chi, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, kéo con trai vào danh sách do đại hội toàn quốc đề cử. Nghị được bầu làm ủy viên Dự Khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương, cùng với con trai của Nguyễn Văn Chi là Nguyễn Xuân Anh, hiện là phó Bí Thư Thành Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân TP. Ðà Nẵng.

Ngày 11 tháng 11 năm 2011, Nghị được “bổ nhiệm” làm thứ trưởng Bộ Xây Dựng, phụ trách kiến trúc và quy hoạch thay cho Thứ Trưởng Nguyễn Ðình Toàn.

Tháng 3 năm 2014, Nghị được Bộ Chính Trị cử giữ chức phó bí thư Tỉnh Ủy tỉnh Kiên Giang, nơi Nguyễn Tấn Dũng từng làm phó bí thư, rồi bí thư Tỉnh Ủy và chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân. Nghị cũng kiêm giữ chức phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh từ ngày 28 tháng 3 năm 2014.

Nghị được cha phân công chỉ đạo đầu tư phát triển đảo Phú Quốc, vùng đất mà gia đình Nguyễn Tấn Dũng đã đầu tư khá nhiều. Nghị được giao chuẩn bị đề án “Ðặc Khu Hành Chính Kinh Tế Phú Quốc,” với tham vọng biến hòn đảo này thành một trong ba đặc khu kinh tế lớn nhất của Việt Nam.

Thế nhưng, vừa qua thủ tướng có quyết định rút ông Nghị khỏi tổ công tác về phát triển đảo Phú Quốc và đồng ý để bà Phan Thị Mỹ Linh, thứ trưởng Bộ Xây Dựng, thay Nguyễn Thanh Nghị.

Trong khi đó, con trai út của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận quyết định “đi đào tạo thực tế ở cơ sở” tại tỉnh Bình Ðịnh và làm phó bí thư Tỉnh Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Bình Ðịnh nhiệm kỳ 2013-2017 củng cố bậc thang đi lên danh vọng.

Rõ ràng có sự lúng túng của Nguyễn Tấn Dũng trong việc sắp đặt chỗ ngồi cho con trai lớn, nhưng có lẽ Dũng quyết chọn bài đi từ cơ sở. Nếu vào ủy viên chính thức ở Ðại Hội Ðảng XII, chức bí thư tỉnh sẽ trong tầm tay và từ bí thư Tỉnh Ủy ra trung ương đảm nhận vai trò cao hơn mặc nhiên thuận lợi.

Nhiều người cho rằng giới “Thái Tử Ðảng” có học, sẽ là hy vọng cho những cải cách tương lai hướng về thể chế dân chủ. Tôi thì không tin. Loại này cơ hội và láu cá hơn thế hệ trước nhiều. Một tay trí thức lưu manh còn nguy hiểm hơn một lão nông dân ngu dốt. Kim Jong Un ở Bắc Triều Tiên hay Assad ở Syria là những tấm gương nhãn tiền.

Tóm lại, thế hệ trước, những ông nông dân vô học đi làm cách mạng, sau khi cướp được chính quyền leo lên ghế lãnh đạo, đã chuẩn bị sẵn một tương lai cho con cháu, đôn nhau vào những vị trí ngồi mát ăn bát vàng, vừa để duy trì chế độ, vừa bảo vệ tài sản kiếm được. Một guồng máy cai trị mà sự tiếp nối giống như chế độ phong kiến cha truyền con nối, chỉ khác về hình thức.


Edited by user Wednesday, July 2, 2014 6:11:10 AM(UTC)  | Reason: Not specified

vl  
#13 Posted : Thursday, July 3, 2014 4:21:13 AM(UTC)
vl

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/5/2011(UTC)
Posts: 2,851

Thanks: 46 times
Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
Trằn trọc tháng bảy
.Hà Sĩ Phu
Source: http://danlambaovn.blogs...troc-thang-bay.html#more


Khoa học cho biết trong không gian luôn có những sóng vô hình tác động vào cơ thể con người làm cho mình bỗng nhiên thay đổi sinh hoạt, thay đổi tính tình, cảm xúc. Đã hai tháng nay, thềm lục địa của nước mình bị cái giàn khoan khổng lồ của của tên cướp biển cắm vào trúng long mạch của nòi giống Việt, chẳng biết có phải vì thế mà khiến cho nhiều người Việt mình ăn ngủ không yên, hằng đêm thắc thỏm, cứ thắp nhang lên bàn thờ là thấy hình ma quỷ hiện về, lo nghĩ mung lung, đêm nằm thường sinh ác mộng. Tôi ngẫm từ cá nhân mình thì biết. Xin kể với bạn bè những suy nghĩ mung lung ấy của mình thường bất chợt hiện về trong giấc ngủ. Tản mạn đủ điều, không mạch lạc.

1. Ác mộng

Cứ lơ mơ ngủ là hiện ra rõ mồn một cảnh một gia đình cự phách bỗng dưng tan tác như một lũ ăn mày. Tổ tiên họ để lại cho con cháu một cơ ngơi đồ sộ đủ làm ăn no ấm đến muôn đời. Chẳng ngờ thằng anh cả say mộng gia trưởng, hão huyền, lừa đàn em để lén đi đánh bạc với lão hàng xóm tinh quái, bị thua bạc phải đem gán cả cái gia tài gấm vóc ấy, lại ngầm ký mấy bản giao kèo hẳn hoi.

Hốt hoảng sợ gia đình biết sẽ đánh đuổi ra đường, thằng thua bạc bèn nói khó với lão hàng xóm tìm cách lo liệu sao cho trót lọt. Hồi lâu bàn bạc, hai bên nghĩ ra một mẹo, không trao cả gia tài ngay một lúc mà cứ “bàn giao” từng phần, cho gặm dần như tằm ăn lá dâu, nay thuê khoảnh vườn này 50 năm, mai cho một bọn gia nhân sang làm nhà ở nhờ một góc, mốt cho thuyền bè sang đánh cá chung tại hồ, lại cho mấy con nô tỳ ăn ngủ với thằng anh cả ấy đến có con riêng…

Gia đình có phát hiện thì thằng anh cả mất nết ấy cứ dùng “quyền huynh thế huỵch” lấp liếm vài câu lấy lệ, cũng ra vẻ khoa chân múa tay phản đối lão hàng xóm cho qua chuyện, hứa hươu hứa vượn cốt sao gia đình không nổi giận, nổi khùng. Cứ thế chẳng mấy chốc cả gia tài đồ sộ rơi hết vào tay lão hàng xóm, còn gia đình thì “may mắn” được lão hàng xóm “tốt bụng” mở lượng hải hà cho lưu trú ở một góc vườn, con cháu đời đời được làm kẻ hầu người hạ cho lão hàng xóm tham lam tinh quái. Cả gia đình bất hạnh chỉ còn biết ngậm một nỗi căm hờn trong tủi nhục, chẳng biết trách mình ngu dại, lại thầm trách tổ tiên đã làm gì thất đức để sinh ra một thằng con trưởng vô phúc, bán cả cha ông…

Tỉnh dậy thấy mắt mình ươn ướt, chắc mắt già kèm nhèm nó thế, chứ chẳng lẽ lại vớ vẩn thương cái gia đình trong mộng, thế rồi mệt quá mà ngủ thiếp đi.

2. Ngộ độc hàng Tàu

Đấy là chuyện ngủ, giờ đến chuyện ăn. Một đất nước xưa nay rất trong lành mà bây giờ hằng ngày ăn gì cũng sợ độc, một thứ độc rất… Trung Quốc! Vợ tôi thường mua lê mua táo thắp nhang, những quả táo quả lê rất đẹp nhìn mà phát thèm, thế nhưng để quên ba tháng trên bàn thờ mà trông vẫn đẹp mã như không mới hoảng hồn chứ, bổ ra thấy quả thì rắn như đá, quả thì thối đen bên trong, không biết họ tẩm chất gì lạ thế, chỉ dân mình là khổ.

Nhưng đêm nằm nghĩ lại thấy người dân còn may, chứ lớn lao như Đảng ta mà xơi phải món vịt tiềm thuốc Bắc “Thập lục kim tự” (vịt đây là vịt Bắc Kinh chính hiệu) là biến thái ngay không cứu được nữa là.

Động lòng trắc ẩn, tôi nhập hồn Bút Tre, nhỏm dậy, bật đèn ghi vội vào nhật ký:

Ngộ độc là tại hướng (ba) đình
Cả làng ngộ độc, cớ chi mình kêu ca?
Đường đường như thể đảng Ta
Xơi phải mười sáu chữ, cũng biến ra… đảng Tàu!


Biết có bậc đại nhân cũng ngộ độc như mình, như có người “đồng bệnh tương lân” nên tấm lòng AQ cũng tự sướng đôi chút.

3. Ước gì mình nhầm

Viết thế rồi vẫn cứ áy náy, liệu mình nghĩ như thế có nhầm không, có quá không? Vẫn biết tình hình hiện nay, hai chữ “bán nước” thiên hạ đã nói, đã viết giăng giăng khắp nơi, đến nhà “Hồ Chí Minh học” Nguyễn Khắc Mai cũng đã công khai bảo cái công hàm của chính phủ Phạm Văn Đồng (tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch) là phản động, phản quốc rồi, nhưng thôi, cứ níu lấy hy vọng chút xíu, cứ đắm đuối, cứ mong sao những suy nghĩ của mình là nhầm lẫn thì đại phúc cho dân, theo kiểu “lạc quan vô tận” ấy mà. Trước đông người, ai nỡ buông một lời tuyệt vọng? Lạy trời cho những lời phê phán của mình là nhầm, nhầm vài phần trăm thôi cũng được.

Nhưng khốn nỗi, không gì chống nổi thực tế, những tin tức sáng nay (xem phần dưới) đã thêm một lần quyết định, cho thấy sự kết tội như thế chẳng những không nhầm, rất không nhầm, mà trái lại còn chưa tới, chưa ngang tầm với thực tế đồi bại không thể chối cãi. Cuộc đầu hàng và Hán hóa đã đi nhanh hơn sức mình tưởng tượng, vì được chuẩn bị quá lâu rồi.

4. Những tin tức sáng nay.


Tin thứ nhất là ảnh chụp bức công văn của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi các địa phương về 16 điều cần làm ngay để thực hiện theo ý kiến của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (xem tại đây, và tại đây). Trong đó có điều 1 “Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông”.

Và trong điều 2, Trung Quốc sẽ đào tạo các cán bộ đảng cho Việt Nam, cụ thể là 'trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam'.

Tưởng Việt Nam đã cam tâm làm một tỉnh “Quảng Nam” của Trung Quốc, hóa ra không được thế, chỉ đáng là một địa phương trong vòng quản trị của tỉnh Quảng Đông thôi. Chẳng trách UV BCT Nguyễn Thiện Nhân cũng chỉ ở tầm nhảy múa với tỉnh Quảng Tây, thế cũng vinh dự chán! Hề hề, trước đây học sách thấy hai chữ “khuyển mã”, giờ mới hiểu nghĩa. Bình luận thêm nữa là thừa.


Tin thứ hai, một cán bộ khá cao cấp cho biết tinh thần chống xâm lược mới nhất của Trung ương cần được quán triệt là :

Một: Tận dụng mọi phương tiện truyền thông, mọi diễn đàn để tố cáo China, NHƯNG DỨT KHOÁT KHÔNG KIỆN.

Hai: Xác định Mỹ vẫn là kẻ thù lâu dài (của đảng) vì đi với Mỹ thì mất chế độ.

Ba: ĐẢNG RẤT THƯƠNG DÂN, có chiến tranh thì nhân dân sẽ khổ, nên đảng phải nhịn Trung Quốc hết mức, không để xảy ra chiến tranh tránh khổ cho dân.


Tuy đây chỉ là thông tin từ thư của bạn bè, nhưng đối chiếu với thực tế và theo kinh nghiệm cho biết những tin tức này là đáng tin cậy, một đảng viên tử tế không thể bịa ra những tin đang phổ biến trong đảng như thế này. Tin tức này gợi ra một số vấn đề mà tôi thường nghĩ tới nhưng chưa có dịp viết ra, xin đề cập đến ở phần sau.

5. Kiện hay không kiện?

Có ba vấn đề khác nhau:

- Về đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông thì Trung Quốc vô lý hoàn toàn, Việt Nam dứt khoát phải cùng với các nước vừa kiện vừa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn như liên kết với Hoa Kỳ, lập liên minh phòng thủ Biển Đông, vân vân, Việt Nam không có lý do gì lảng tránh việc này.

- Về những giàn khoan ngang ngược, cũng giống như việc đường lưỡi bò nhưng phức tạp hơn vì ranh giới chồng chéo và cũng liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa, có thể phát sinh nhiều luận điểm, tuy nhiên vẫn phải kiện, và đừng quên nếu không có sức mạnh thực tế thì cũng không đẩy được chúng đi. Nói chung, việc kiện ra các tòa án quốc tế, dù hiệu quả ít hay nhiều vẫn phải tiến hành, để vạch rõ chính nghĩa, vì danh dự dân tộc hoặc tạo hồ sơ giải quyết sau này.

- Riêng Hoàng Sa (và có thể cả Trường Sa) thì khó khăn hơn nhiều, dân đã có kiến nghị yêu cầu nhà nước phải kiện Trung Quốc, nhưng nhà nước thì lưỡng lự, chập chờn, không chuẩn bị gì, bây giờ quyết định không kiện gì hết (?), mà chỉ tuyên truyền (chắc là để xoa dịu cho dân yên tâm) [theo thông tin mới nhất thì Thủ tướng đã giao các cơ quan củng cố hồ sơ để báo cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước cân nhắc việc đấu tranh pháp lý về Biển Đông; xem ở đây – BVN]! Ở đây có nhiều điều cần thảo luận.

Trước hết phải đau lòng thừa nhận rằng việc Hoàng Sa – Trường Sa nếu kiện ra Liên Hiệp Quốc thì khả năng thua nhiều hơn thắng. Tại sao?

Đồng ý rằng về pháp lý công hàm Phạm Văn Đồng (trả lời Bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó họ khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc) không có giá trị “mua bán”, vì người ta không thể bán cái không có trong tay mình, vì không có sự đồng thuận của chính phủ ở nửa nước miền Nam, hoặc vì chưa thông qua Quốc hội, vân vân.

Nhưng trách nhiệm của Công hàm Phạm Văn Đồng lại nguy hại ở ý nghĩa khác. Đối với Hoàng Sa – Trường Sa công hàm Phạm Văn Đồng tuy không có giá trị pháp lý của một giao kèo mua bán hay sang nhượng, nhưng có giá trị của một bản tuyên bố chính thức, minh định nhận thức và lập trường của chính phủ Việt Nam, để Trung Quốc và thế giới được rõ, rằng Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc (đã là của Trung Quốc thì đương nhiên không phải của Việt Nam, Việt Nam chúng tôi không liên quan gì đến các quần đảo đó!)

Một người khách quan đọc bản công hàm ấy ắt phải hiểu như thế. Nếu có kẻ nào còn mơ hồ tưởng lầm Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam thì hãy xem thêm các bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam sẽ rõ! Phạm Văn Đồng đã giúp Trung Quốc chu đáo đến thế là cùng.

Trong công hàm Phạm Văn Đồng không cần có nửa lời về Hoàng Sa – Trường Sa là đương nhiên, vì đã minh định Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc thì cũng như các đảo Bành Hồ, Trung Sa… chứ liên quan gì đến Việt Nam đâu mà phải đề cập? Đã của Trung Quốc, không phải của Việt Nam thì Trung Quốc cứ tự nhiên sử dụng, cần gì đến chuyện “mua bán” hay sang nhượng?

Một sự phủ định chủ quyền thản nhiên và sạch trơn như vậy còn tai hại hơn một giao kèo bán đất rất nhiều, vì nếu “bán” thì trước khi bán Hoàng Sa – Trường Sa vẫn còn là của Việt Nam, sau này còn có thể chuộc lại, nhưng khẳng định như Phạm Văn Đồng có nghĩa là từ trước chí sau Hoàng Sa – Trường Sa không liên quan gì đến Việt Nam cả. Chu đáo đến thế thì con cháu bây giờ hết chỗ cựa (nếu cãi lại sẽ sẽ phạm luật estoppels).

Là người Việt Nam dù với chính kiến nào, không ai muốn hải đảo nước mình rơi vào tay Trung Quốc, nhưng giải pháp “khôn ngoan” muốn hạ thấp trách nhiệm của công hàm Phạm Văn Đồng để vừa thoát khỏi ràng buộc với Trung Quốc mà vẫn bảo vệ được uy tín cho Đảng Cộng sản e rằng bất khả thi.

Bây giờ, sau nửa thế kỷ mới trưng các bản đồ lịch sử ra, xét về tình, thế giới có thể thông cảm, nhưng về lý, mình đã trói mình quá chặt thì cũng khó gỡ ra, ấy là chưa kể lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh.

Tự chối bỏ chủ quyền thì còn tai hại hơn bán chủ quyền. Vì thế, đối với Hoàng Sa – Trường Sa kiện thì cứ kiện, nhưng chỉ có thể giải quyết trong một giải pháp trọn gói, chống lại toàn bộ sự xâm lấn của Trung Quốc cả ở biển đảo và trên đất liền.

Thật vậy, việc xâm chiếm Việt Nam đâu chỉ giới hạn ngoài biển đảo? Nào ai biết đã có bao nhiêu văn bản ký kết tạo điều kiện cho Trung Quốc chiếm dần lãnh thổ Việt Nam, đi đôi với việc xâm lấn nhân sự vào các cấp lãnh đạo từ tỉnh huyện đến Trung ương? Muốn thoát khỏi cái ách Trung Quốc đã quàng rất nhiều vòng vào cổ dân tộc này, tức là muốn “Thoát Trung” chỉ có một con đường duy nhất là từ bỏ thể chế cũ một cách thật sự, để một nhà nước mới, một nhà nước dân chủ, mới có tư cách nhân danh nhân dân chối bỏ những ràng buộc mà chế độ cũ đã ký kết, phương hại đến đất đai, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam.

6. Thoát Trung chủ yếu là thoát về chính trị, không phải văn hóa

Lịch sử đưa đẩy hai nước Việt Trung vào cùng một “đại gia đình Cộng sản” là tạo ra cơ hội bằng vàng, nhốt con thỏ và con sói vào cùng một chuồng thành hai anh em ruột, chị em ruột. Thế là toàn bộ chương trình dài hơi nhằm nô dịch Việt Nam, biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới của Trung Quốc được thiết kế trên cái nền Cộng sản, trong đó “quyền đảng” được nâng lên tối đa và “quyền dân” thực tế bị hạ xuống tối thiểu, khiến cho hai đảng cứ tự do làm việc ngầm với nhau, quyết định mọi việc trong quan hệ cá lớn nuốt cá bé, trong khi nhân dân bị đứng ngoài cuộc. Vậy đây là một cuộc cờ chính trị “vĩ đại”, yêu cầu thoát Trung chẳng qua là thoát khỏi sự kìm kẹp chính trị cộng sản khủng khiếp ấy.

Trong tiến trình ràng buộc có sử dụng sự ràng buộc kinh tế, ràng buộc tư tưởng, ràng buộc văn hóa – xã hội, nhưng tất cả chỉ là phương tiện nhằm cái đích nô dịch chính trị. Chính trị là cái nút thắt, cũng là nơi để chiếc chìa khóa mở ra. Nếu hiểu lý thuyết rằng văn hóa hoặc kinh tế là nền móng rồi dồn sức vào các lĩnh vực mênh mông là văn hóa hoặc kinh tế thì chỉ luẩn quẩn mãi trong rừng rậm không có lối ra, có khi gây tác dụng ngược, cuối cùng vẫn bị yếu tố chính trị thắt lại, vì chính trị nhanh tay hơn, ma mãnh hơn văn hóa và kinh tế rất nhiều.

Thật vậy, về văn hóa, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với Việt Nam tuy có những điều bất lợi nhưng nhìn tổng thể cũng là điều bình thường xưa nay, trong đó có xấu có tốt, có thể điều chỉnh, có yếu tố đã trở thành sức mạnh của Việt Nam. Thế giới có khoảng 200 quốc gia nhưng con số những nền văn hóa lớn thì ít hơn rất nhiều, mỗi nền văn hóa lớn thường tỏa rộng ảnh hưởng ra các quốc gia xung quanh, tạo nên những vùng “địa văn hóa”, “cụm văn hóa” gồm nhiều quốc gia lân cận. Quan hệ quốc tế hiện nay làm cho ranh giới “địa văn hóa” mờ dần đi, ngày càng thâm nhập vào nhau một cách đa phương nên muốn dùng độc quyền văn hóa làm công cụ nô dịch cũng không dễ dàng như trước. Trái lại những giá trị văn hóa dù hình thành ở đâu cũng là thành quả chung của loài người để dùng chung như ta dùng lửa, dùng điện, dùng Internet vậy. Không có gì phải mặc cảm khi một quốc gia nằm trong cụm văn hóa Hy-La hay văn hóa Trung Hoa (chưa kể theo tác giả Hà Văn Thùy thì văn hóa Trung Hoa bắt nguồn từ Văn hóa Việt!).…

Mặt khác, vì xã hội luôn có hai thành phần tương sinh tương khắc là nhân dân và tầng lớp thống trị nên nền văn hóa nào cũng cấu thành bởi hai nhân tố xung khắc ấy, vừa có mặt nhân văn tích cực của nhân dân, lại có mặt phản dân chủ mà giới cầm quyền khéo dùng làm công cụ để nô dịch dân mình và nô dịch cả dân nước khác, đồng thời tất cả vẫn nằm trong dòng tiến hóa từ lạc hậu đến ngày một văn minh hơn. Khi du nhập những nét văn hóa tích cực luôn phải thanh lọc những yếu tố nô dịch tiêu cực hoặc không phù hợp với tập quán dân tộc mình. Điều này dân tộc Việt Nam đã làm, làm khá thành công nên sau 1000 năm Bắc thuộc mà vẫn không bị đồng hóa. Tóm lại, thái độ đối với văn hóa là sàng lọc, đồng hóa hoặc tẩy trừ từng phần chứ không nhất thiết phải xử lý trọn gói. Tấm gương biết sàng lọc văn hóa không ai bằng cụ Phan Châu Trinh, xuất thân Nho học, tiếp tận Âu Tây mà biết sàng lọc rất trúng, vừa chống “hủ Nho” vừa chống “hủ Âu” trở thành nhà dân chủ, nhà cách mạng đầu tiên của nước nhà
  • . Cụ chẳng vì chuộng Âu mà phải thoát Á, vì khi đã lệch về một phía thì dễ thiên vị, quên sàng lọc mà tôn sùng cả cái xấu của người ta.

    Điều oái oăm với văn hóa Việt Nam là trong khi dòng chảy văn hóa đang từng bước tự hoàn thiện thì có sự du nhập “một nền văn hóa trọn gói” nặng tính ngoại lai và áp đặt, là “văn hóa vô sản” thực chất là “văn hóa cộng sản”, “văn hóa đảng”. Nói văn hóa Cộng sản có tính “trọn gói” vì nó tách biệt hẳn ra thành một khối, không kế thừa, dính vào đâu là nó hủy diệt các giá trị truyền thống ở đó, nên không có khả năng hòa đồng vào bất kỳ nền văn hóa nào. Vì bản chất là phi dân chủ nhưng lại nhân danh dân chủ nên văn hóa cộng sản cộng hưởng ngay với chất mị dân của chủ nghĩa thân dân phong kiến, mà thực chất là vương quyền áp đặt, tôn sùng minh quân, đồng thời làm mất gốc dân chủ và tương thân tương ái của văn hóa bản địa, thay bằng thứ tình yêu giai cấp vừa chật hẹp giữa con người lại vừa mở rộng phi lý vượt biên cương.

    Chính nền chuyên chính độc đảng toàn trị Cộng sản đã làm cho quan hệ “quỳ lạy-xin cho” tiêu cực của văn hóa phong kiến trỗi dạy và làm tha hóa xã hội đến mức bệnh hoạn. Tôi hiểu đấy chính là lý do khiến nhà báo Lê Phú Khải phải kịch liệt phê phán thứ “văn hóa quỳ lạy” đang chế ngự xã hội. Một nét tiêu cực của văn hóa phong kiến như thế tưởng đã qua đi, nay gặp môi trường mới thích hợp lại nảy nở thành một tệ nạn, chứ đạo Nho chỉ khuyên người ta đứng thẳng, không khuất phục trước uy vũ (uy vũ bất năng khuất) và con người phải biết tự trọng thì người khác mới trọng mình (ngô tự trọng nhi hậu nhân trọng chi, ngô tự khinh nhi hậu nhân khinh chi), Khổng giáo không khuyên người ta quỳ lạy.

    Văn hóa Khổng Mạnh vừa sinh ra Phan Châu Trinh rất dân chủ, vừa sinh ra tên vua Khải Định thích dân quỳ lạy. Cho nên Cụ Phan viết thư hạch tội vua Khải Định 7 điều, trong đó tội thứ nhất là quá tôn quân quyền, cậy quyền thế mà ép dân, tội thứ nhì là không công bằng và tội thứ ba chính là “Chuộng sự quỳ lạy”!

    Ngày nay một lực lượng vũ trang ăn lương của dân mà coi dân như cỏ rác, ngang nhiên thách thức “chỉ biết còn Đảng còn mình”, tất nhiên nịnh trên mà nạt dưới, thì chắc chắn người đưa ra khẩu hiệu rất “quỳ lạy” đó không hề đọc sách Khổng Mạnh mà chỉ nhiễm “văn hóa Đảng” thôi.

    Nhiều người dân vào đồn công an bị đánh đến phải quỳ lạy, nơi “quỳ lạy” ấy không hề có đạo Khổng, chỉ có “6 điều Bác dạy” (mặc dù lời dạy cũng có câu “với dân phải kính trọng, lễ phép”).

    Thuở nước nhà sơ khai, các trí thức chịu ảnh hưởng đạo Nho và văn hóa Trung Hoa rất nhiều, nhưng những Giang Văn Minh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt đã dùng chính chữ Nho làm vũ khí chống lại Tàu, sức mạnh Nho giáo đã thành sức mạnh dân tộc. Trong khi Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc lại dùng chữ Nho để theo Tàu phản bội Tổ quốc, còn khối kẻ hàng Tàu bây giờ đâu có biết một chữ Nho bẻ làm đôi? Vậy hèn mạt hay anh hùng ít khi do nền văn hóa, chủ yếu do nhu cầu chính trị, vì chính trị gắn với quyền lợi và nhu cầu sinh tồn.

    Ngay chuyện bây giờ, khi ta nói sở dĩ Đảng Cộng sản Việt Nam phải lệ thuộc Tàu là do Ý thức hệ cộng sản thì cũng chỉ đúng một phần. Đâu có phải cứ hai nước cùng chung Ý thức hệ Cộng sản thì thôn tính nhau? Vấn đề là nước Cộng sản nhỏ muốn tiến hành chiến tranh, rồi lại muốn chống xu thế dân chủ để tiếp tục nắm quyền độc trị thì phải dựa vào nước Cộng sản lớn giúp đỡ, nước lớn vốn rắp tâm xâm lược nên sử dụng sự giúp đỡ làm cái bẫy để bắt Đảng Cộng sản nhỏ bán dần chủ quyền, mặc dù đến nay cả hai bên chẳng ai xây dựng chủ nghĩa Cộng sản gì hết, chẳng ai còn tin vào cái bánh vẽ “thế giới đại đồng”. Vậy bản chất sự lệ thuộc Tàu là do ràng buộc chính trị trong môi trường Cộng sản, như một hệ quả đau đớn của việc chọn con đường Cộng sản, chứ không phải do sự thấm nhuần Ý thức hệ. Ý thức hệ chỉ là yếu tố bắt nguồn lúc đầu. Những kẻ theo Tàu hiện nay là do nhu cầu chính trị, do quyền lợi chứ chẳng vì lý tưởng giai cấp vô sản gì hết.

    Lại so sánh chế độ miền Bắc và chế độ miền Nam trước đây về hai mặt Thoát Trung và Khổng học. Miền Nam còn giữ Khổng học rất nhiều, từ sách vở đạo đức, đến quan hệ xã hội nhưng họ dứt khoát Thoát Trung, biểu hiện ở việc chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974, và quy định một số nghề người Hoa không được làm để phòng người Tàu chi phối kinh tế và quốc phòng.

    Trong khi miền Bắc khi đó bài trừ Khổng học, coi Khổng học là phong kiến phản động nên phá hết văn chỉ, đem câu đối làm cầu ao, chuồng lợn, đấu tố Nho học, thì lại ôm chân Tàu rất rõ, dập khuôn Tàu, phụ thuộc Tàu đến nỗi sinh ra nguy cơ Bắc thuộc hiện nay. Vậy không phải chống Khổng học thì Thoát Trung mà có khi ngược lại, vì nhiều nét của Khổng học đã được người Việt đồng hóa để thành vốn liếng văn hóa của chính người Việt.

    Cuối cùng, xin cảm ơn việc khơi ra cuộc thảo luận Thoát Trung, đã huy động được sự đóng góp từ nhiều phía, làm cho một vấn đề rất hệ trọng được sáng ra, lần đầu tiên được đề cập một cách hệ thống, thiết tưởng là một sáng kiến đóng góp rất hữu ích cho công cuộc Thoát Trung hiện nay.

    7. Nghĩ về mấy ngụy biện trong việc chống Tàu xâm lược


    * Ngụy biện về đoàn kết và phân ly:

    Như quy luật của muôn đời, sự đấu tranh để dân chủ hóa luôn luôn là cuộc đấu tranh giữa giới cai trị và giới bị trị, giữa chủ và thợ, nước nào cũng có, ở những mức độ khác nhau. Nhưng Đảng Cộng sản muốn phủ định, coi như cuộc đấu tranh ấy không có trong xã hội ưu việt này, nên dùng khẩu hiệu “ý Đảng lòng dân” để đúc hai khối “cai trị và bị cai trị” thành một khối đồng nhất (nhưng đầy mâu thuẫn bên trong). Dân mà “có ý kiến khác” tức tách khỏi khối đúc ấy thì không phải là dân, Đảng coi là kẻ xấu hay là địch đấy!

    - Nay trước tình trạng bị nước Cộng sản lớn xâm lược đang xuất hiện ngụy biện: “Bây giờ phải tập trung chống xâm lược, cả nước phải một lòng, đứng dưới sự lãnh đạo mà chống giặc, trong nước mà còn đấu tranh với nhau là mắc mưu chia rẽ của phản động đấy!”. Lời hô hào nghe cảm động ghê, đoàn kết cả với kẻ nội xâm, nội gián sẵn sàng “mở cửa thành” cho giặc hả?

    - Lập trường đúng đắn của Đảng ta là làm bạn với tất cả mọi người, không liên minh với nước này để chống lại nước kia! Nghe sao đạo đức quá, thế sao trước đây lại dựa hẳn vào Liên Xô – Trung Quốc để đánh “Mỹ-Ngụy”, sao bây giờ chỉ liên kết chiến lược toàn diện, thiết lập cả đường dây nóng với quân xâm lược, để đề phòng nhân dân ư?…

    Ngụy biện này là để giải thích vì sao Việt Nam không liên minh chiến lược với Hoa Kỳ, nhưng nội bộ Đảng giải thích với nhau nếu liên minh với Hoa Kỳ thì mất Đảng! Vẫn biết nếu liên minh với Hoa Kỳ thì sẽ không mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn là mất Đảng! Thế là rõ!

    - Nhiều nhà nghiên cứu, bình luận cứ phát hiện “con đường cho Việt Nam”, “lối thoát cho Việt Nam”, “giải pháp tối ưu cho Việt Nam” mà không biết rằng bây giờ làm gì có “Việt Nam” như một khối thống nhất. Như ông Lê Hồng Hà nhận xét “Đảng bây giờ chỉ còn mỗi chức năng là cản trở sự phát triển của dân tộc”, vậy thì bài toán cho chính quyền Việt Nam và bài toán cho nhân dân Việt Nam là hai bài toán đáp số ngược nhau, đáp số tối ưu cho bên này sẽ là tai họa cho bên kia, làm gì còn khái niệm “Việt Nam” chung chung?

    * Ngụy biện về cương và nhu


    Bất đắc dĩ phải tuyên bố công khai mâu thuẫn với Trung Quốc (về lãnh hải thôi, còn những mâu thuẫn khác vẫn giấu biệt), nhưng không cho dân bộc lộ sự phẫn nộ, mà khuyên “phải bình tĩnh, chuyện lâu dài không nóng vội, mâu thuẫn như anh em trong nhà, mình phải chung sống lâu dài với nước bạn, bát nước đổ đi khó bốc lại, ta cần mềm dẻo giữ hòa bình để phát triển kinh tế…”.

    Ai cũng biết cương quá hay nhu quá đều không tốt, nhưng lúc cần nhu lại cương, lúc cần cương lại nhu thì thật quái đản.

    Có một danh ngôn “kẻ nào chấp nhận nhục nhã để tránh chiến tranh cuối cùng sẽ lãnh đủ cả hai thứ đó”. Có cứng rắn, không sợ chiến tranh mới tránh được chiến tranh. Chính sự hèn nhát là thủ phạm rước chiến tranh vào nhà! Còn tình nghĩa anh em ư, nó đập vào mặt, nó nhục mạ cả dân tộc, nó xâm lăng rành rành, nó tè vào cái bát nước hữu nghị, còn anh em nữa ư?

    * Ngụy biện về lòng thương dân

    Người ta đang giải thích phải chịu nhún nhường Tàu Cộng hết cỡ vì sợ đánh nhau thì nhân dân khổ! Chỉ thương dân thôi!

    Ôi chao, cảm ơn! (Giá nói 50 năm trước đây thì hơn).

    Sao một bảng thống kê về điều tra, chỉ xếp nhân dân Việt Nam thuộc loại hạnh phúc thứ nhì thế giới thôi nhỉ, chắc vì lúc ấy cơ quan điều tra chưa được “quán triệt” chủ trương rất cảm động này.

    2-7-2014
    .Hà Sĩ Phu

    Edited by user Thursday, July 3, 2014 6:36:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

  • vl  
    #14 Posted : Friday, July 4, 2014 3:08:03 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    Phạm Thanh Nghiên phỏng vấn ông Ngô Nhật Đăng về việc thành lập Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam

    Nhân sự kiện Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam tuyên bố thành lập cùng với việc ra mắt số đầu tiên của “Việt Nam Thời Báo”, Phạm Thanh Nghiên đã có cuộc trò chuyện với ông Ngô Nhật Đăng, một trong những thành viên sáng lập Hội. Cùng với hai người khác là Blogger Nguyễn Tường Thụy và Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, ông Ngô Nhật Đăng sẽ đảm nhận trách nhiệm trong Ban Biên tập cho “Việt Nam Thời Báo” (VNTB).

    Hồi giữa tháng 4, ông Đăng cùng với một số nhà hoạt động xã hội khác như Nghệ sĩ Kim Chi, các blogger Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Đình Hà, Lê Thanh Tùng đã có chuyến đi Mỹ kéo dài khoảng 1 tháng để vân động cho Tự do báo chí ở Việt Nam. Ngày16 tháng 5 khi trở về Việt Nam, ông đã bị công an cửa khẩu câu lưu và thẩm vấn 6 tiếng đồng hồ tại sân bay Tân Sơn Nhất.

    Ông Ngô Nhật Đăng là con trai của nhà thơ quân đội Xuân Sách - một người được nhiều đồng nghiệp, đồng đội mô tả rằng “nổi tiếng không biết sợ điều gì”.

    Sau đây, mời quý độc giả theo dõi cuộc trò chuyện của Phạm Thanh Nghiên với ông Ngô Nhật Đăng:


    Phạm Thanh Nghiên: Chào anh Ngô Nhật Đăng, cảm ơn anh đã dành cho Phạm Thanh Nghiên cuộc trò chuyện ngày hôm nay. Câu đầu tiên xin được hỏi anh Đăng về thời điểm ra đời của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam(HNBĐL). Vì sao lại chọn thời điểm này để thành lập Hội NBĐL và cho ra mắt “Thời Báo Việt Nam” chứ không phải sớm hơn hay muộn hơn?

    Ông Ngô Nhật Đăng:
    Vâng, cám ơn Thanh Nghiên vì câu hỏi rất hay. Việc ra đời một tờ báo Độc lập là mơ ước của nhiều người (trong đó có tôi) từ rất lâu rồi. Thực tế đã cho thấy sự cần thiết của một tờ báo tư nhân và việc điều hành nó như thế nào ? Do đó “Hội nhà báo Độc lập Việt Nam” ra đời vì nó cần rất nhiều những cây bút tâm huyết và có tư duy độc lập. Việc này chúng tôi cũng đã có sự chuẩn bị từ lâu và cuối cùng như chị đã biết đó là chuyến đi vận động cho một nền báo chí độc lập ở Việt Nam tại Hoa Kỳ và dự cuộc hội thảo về Tự do báo chí nhân ngày báo chí Quốc tế. Đó là một trong những công việc cuối cùng. Và nữa, ngày 4/7 là ngày tờ báo ra mắt cũng có một ý nghĩa nhất định, nó là ngày mà bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng ra đời, ngay cả bản Tuyên ngôn ngày 2/9/1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng trích một câu nói của bản Tuyên ngôn (Độc lập) này. Nó như một sự tình cờ thú vị chứ không có một sự sắp đặt nào cả, mà sắp đặt sao được (cười).

    Phạm Thanh Nghiên:
    Vâng, có nghĩa vào thời điểm này, việc cho ra đời một tổ chức báo chí tư nhân là đòi hỏi cần thiết và cấp bách, nhất là tình hình Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến khá phức tạp và rất khác so với chỉ vài tháng trước đây?

    Nhưng liệu Nhà Nước có cấp phép cho Hội họat động không khi mà trên thực tế, tất cả những tổ chức, hội nhóm XHDS do người dân lập ra, không chấp nhận sự quản lý của đảng đều không được khuyến khích thậm chí bị cho là phạm pháp, thù địch hoặc chống lại Nhà nước?

    Ông Ngô Nhật Đăng: Chính ông Hồ Chí Minh đã từng nói (tôi không bàn đến việc ông ta có thực tâm hay không ) rằng: “Dân chủ nghĩa là cho dân được mở miệng”. Nhưng việc để “cho dân mở miệng” đã kéo dài gần 70 năm mà vẫn chưa trở thành hiện thực. Một tờ báo tư nhân độc lập chính là nơi mà người dân mở miệng, nó là bước đầu tiên để thúc đẩy tiến trình dân chủ đang còn rất sơ khai ở nước ta. Nhà nước cũng cần phải lắng nghe những tiếng nói từ phía người dân.

    Ở các nước có nền báo chí phát triển (như Mỹ chẳng hạn), khi ra một tờ báo không cần phải xin phép, miễn là anh phải chịu trách nhiệm về những phát ngôn của tờ báo và nhất là không được…trốn thuế (cười).Việc hiện nay tờ báo sẽ không (chưa) được cấp phép là do một số điều luật, nghị định v.v…về báo chí hiện hành. Tôi cho rằng những luật đó đã lỗi thời rồi. Bây giờ không phải là trong tình trạng chiến tranh hay bao cấp nữa. Hoàn cảnh bây giờ đã khác rồi, việc quan niệm là “thù địch” hay “chống lại Nhà nước” cũng cần phải xem xét lại thậm chí phải thay đổi. Chúng ta vẫn thường được nghe “Chính phủ này là của dân, do dân và vì dân” điều đó cần phải trở thành sự thật chứ không phải là nói suông. Ít nhất là chính phủ cần phải biết lắng nghe và chấp nhận sự khác bịệt một cách thiện chí, nghiêm túc và thực sự dù nó có vẻ khó chấp nhận.

    Phạm Thanh Nghiên: …Có nghĩa là không cần cấp phép họat động? Vậy cá nhân anh cũng như những thành viên sáng lập khác của Hội đã lường trước những khó khăn thậm chí rủi ro, hiểm nguy mà mình sẽ phải đối mặt?

    Ông Ngô Nhật Đăng: Vâng, chúng tôi sẽ không làm cái việc đi xin phép, điều này được quy định rất rõ trong Hiến pháp về quyền Tự do báo chí. Hiến pháp là luật Mẹ, mọi điều luật đi ngược lại đều là vi hiến. Nhân đây trong các điều luật của chúng ta rất hay có cụm từ “ theo đúng quy định của pháp luật…”, điều này có lẽ còn phải tranh luận nhiều, nhưng nó không là chủ đề của cuộc phỏng vấn này, thưa chị.

    Tất nhiên sẽ có những rắc rối, nhưng nguy hiểm thì tôi không cho là như vậy. Tôi cũng có những cuộc trao đổi với các anh bên An ninh tư tưởng văn hóa với tính chất thẳng thắn và xây dựng về việc ra đời một tờ báo độc lập. Có ý kiến rằng : “Cũng muốn sớm được đọc tờ báo của các anh, chỉ khuyên các anh một điều “Hãy lấy quyền lợi Quốc gia là tối thượng”.

    Cá nhân tôi cũng như anh em trong nhóm sáng lập đều sẵn sàng chấp nhận mọi hệ lụy một cách bình thản dù gặp tình huống xấu nhất. Tôi thích một câu nói của một triết gia kiêm nhà báo Tiệp Khắc nói trên giường bệnh trước lúc ông qua đời : “Có cái gì đó đáng để hy sinh”. Xin mở ngoặc ông cũng nhiều năm trải qua tù đầy và bị săn đuổi ngay cả khi nằm trên giường bệnh.
    Vâng, rất đáng để hy sinh.


    Phạm Thanh Nghiên:
    Xin anh cho biết tôn chỉ và mục đích hoạt động của Hội NBĐLVN? Muốn trở thành thành viên của Hội phải có những tiêu chuẩn gì thưa anh? Một nhà báo trong Hội nhà báo Việt Nam có thể trở thành thành viên của hội Nhà báo độc lập VN được ko?

    Ông Ngô Nhật Đăng: Ồ những điều này đã có đầy đủ trong “Bản tuyên bố và Điều lệ của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” và sẽ được đăng trong số báo ra mắt thưa chị. Chỉ xin nói thêm đây là một Hội mở, tham gia tự nguyện với tôn chỉ :“Sự thật và khách quan”, không phân biệt đang ở trong một tổ chức Nhà nước nào. Và tất nhiên một điều kiện tối thiểu là phải có bài viết để đăng (cười).

    Phạm Thanh Nghiên: Vừa rồi anh có nhắc tới chuyến đi Mỹ để vận động cho 1 nền báo chí độc lập ở VN? Anh đánh giá thế nào về cái nhìn của chính giới Hoa Kỳ, của giới làm báo tại Mỹ và Âu Châu về nền báo chí hay nói chính xác hơn là về Tự do ngôn luận của VN? Họ đánh giá thế nào thưa anh?

    Ông Ngô Nhật Đăng: Có một điều khá đáng tiếc là một số người bị “cấm xuất cảnh” nên không thể có mặt tại Hoa Kỳ trong cuộc vận động này. Chúng tôi chỉ là những “tay ngang” thậm chí còn bị gọi là “Chưa bao giờ có nổi một bài báo đúng nghĩa mà cũng đòi vận động cho tự do báo chí…” nên chỉ biết cố gắng thậm chí còn quá cả khả năng vốn có. Nhưng xin khẳng định với chị rằng đó là một chuyến đi thành công vượt quá mức kỳ vọng của chúng tôi.

    Báo giới cũng như chính giới Hoa Kỳ dành cho chúng tôi một sự quan tâm đặc biệt, Việt Nam được đánh giá là “vùng trũng” (đen) trong bảng xếp hạng về Tự Do báo chí trên thế giới, thậm chí còn dưới cả Lào và Cambodia. Tất cả những nơi chúng tôi đến thăm như Tổ chức phóng viên không biên giới, Ủy ban bảo vệ ký giả,…hay một số tờ báo lớn đều đánh giá như vậy. Do đó đã có một cuộc hội thảo với chủ đề: “Các tổ chức dân sự và chính giới Hoa Kỳ phải làm gì cho Tự do báo chí ở Việt Nam”.

    Điều này đã động viên chúng tôi rất nhiều. Nhưng có một điều mà cá nhân tôi thấy đã thu hoạch được nhiều nhất là về nền báo chí của họ: cách làm báo, những điều chưa được, những xu hướng tiêu cực trong việc “định hướng thông tin”… của một số tờ báo nằm trong tay các nhà tài phiệt. Cách mà các nhà báo có lương tâm làm để thoát ra những tiêu cực đó, dành lại quyền lực thứ tư về tay nhân dân, một “nền báo chí công dân” được trợ giúp đắc lực bởi internet.


    Phạm Thanh Nghiên:
    Thưa anh, “Việt Nam Thời Báo” sẽ ra mắt số đầu tiên vào ngày 4 tháng 7 tới. Nhưng ngoài báo mạng ra, VNTB có ra báo giấy ko thưa anh?

    Ông Ngô Nhật Đăng:
    Theo dự tính số đầu tiên của “Việt Nam Thời báo” sẽ ra đời vào ngày 4/7. Đó là tờ báo online, trong thời đại internet thì báo giấy phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt và có vẻ yếu thế. Nhưng dù sao có một tờ báo giấy tử tế vẫn là niềm ước mơ của các tờ báo. “Việt Nam Thời báo” cũng có kế hoạch hàng tháng hoặc vào những dịp đặc biệt sẽ có những ấn phẩm để…biếu, tặng. Mơ ước ra được báo giấy, nhưng điều đó phụ thuộc vào chất lượng của tờ báo vào bản lãnh của người cầm bút vì nếu không thì sẽ không có người đọc.Và một điều cũng rất quan trọng nữa là…tài chính.

    Cảm ơn anh Ngô Nhật Đăng về cuộc trò chuyện thú vị ngày hôm nay. Xin chúc Hội Nhà báo độc lập sẽ có nhiều đóng góp cho Tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam. Chúc Việt Nam Thời Báo nhận được thật nhiều sự quan tâm, đón đọc của độc giả.


    Việt Nam Thời Báo:
    https://www.facebook.com...amp;hc_location=timeline

    Edited by user Friday, July 4, 2014 3:13:30 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    vl  
    #15 Posted : Monday, July 7, 2014 5:50:02 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    Ngày cho Biển Đông và Nhân Quyền Washington DC 6.7.2014


    Đoàn biểu tình phản đối ngay trước cổng sứ quán Trung Cộng

    UserPostedImage

    UserPostedImage


    So với cảnh công an CSVN cấm ngặt người biểu tình không được đến gần sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội hàng cây số, nhiều người tại Washington DC hôm nay vừa đau lòng vừa lo âu cho vận mạng đất nước Việt Nam.

    UserPostedImage

    Edited by user Monday, July 7, 2014 6:13:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    vl  
    #16 Posted : Monday, July 7, 2014 7:25:39 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    Tường trình Chương trình "Hát Cho Biển Đông và Quyền Con Người", July 6th, 2014

    https://www.youtube.com/watch?v=i26CuOT2Hws#t=33

    Edited by user Monday, July 7, 2014 7:30:50 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    vl  
    #17 Posted : Tuesday, July 8, 2014 3:13:42 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    Ngư dân ta phải hứng chịu tai họa đến bao giờ ?
    .Nguyễn Trần Sâm

    Source: http://ethongluan.org/in...;catid=66&Itemid=301

    "...Từ vài năm nay, tôi đã rất muốn viết gì đó về nỗi khổ của những người đi biển, những người bất đắc dĩ phải làm thay việc của các "lực lượng mạnh" hiện đang ẩn mình kín đến mức dường như không tồn tại. Nhưng thật khó, vì nếu viết thì lại phải nói những điều nặng nề, đôi khi có thể gây nguy hiểm cho người duy trì một trang báo mạng..."

    UserPostedImage


    Theo dõi số phận những ngư dân đánh bắt xa bờ, nhất là ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, chỉ có những kẻ vô cảm mới không thấy xót xa, uất hận và không cảm thấy mắc nợ họ quá nhiều.

    Không phải chỉ đến giờ, khi hàng trăm tàu Trung Quốc quần đảo chung quanh cái giàn khoan chết tiệt, những ngư dân ta mới phải chịu cảnh bị đâm tàu, bị bắt, bị làm nhục cả về thể xác lẫn nhân phẩm. Việc đó đã xảy ra nhiều năm nay rồi!

    Ngày 4 tháng 7 năm 2009, báo chí Trung Quốc đăng ảnh khoe hải quân Trung Quốc bắt giữ, trói gô những người ngư dân Quảng Ngãi cùng các chiến sỹ hải quân Việt Nam. Trước đó, họ đã bị đánh đập, đến lúc "lên ảnh" thì họ ở trong tư thế dúm dó, vẻ mặt sợ hãi vô cùng.

    Ngày 4 tháng 8 năm 2009, báo Việt Nam đưa tin: lại một tàu đánh cá Việt Nam bị hải quân Trung Quốc đuổi bắt, và sau đó không ai biết số phận của những ngư dân trên tàu ra sao.

    Ngày 10 tháng 6 năm 2010, Thông Tấn Xã Việt Nam cho hay tàu cá QNg-66478-Tiến sĩ cùng 9 ngư dân bị Trung Quốc bắt.

    Ngày 20 tháng 8 năm 2011, sở ngoại vụ tỉnh Quảng Bình thông báo 5 ngư dân tỉnh này bị Trung Quốc bắt.

    Ngày 23 tháng 4 năm 2012, báo chí Việt Nam đưa tin tàu cá QNg-66074 đưa 21 ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc bắt và giam cầm hàng tháng trời đã trở về đến đảo Lý Sơn.

    Trong khoảng 5 năm qua, đã có hàng chục, thậm chí có lẽ gần 100 vụ Trung Quốc bắt giữ, đâm chìm tàu hoặc đánh đập ngư dân ta. Chúng đem những người ngư dân này về Trung Quốc rồi bắt gia đình những nạn nhân đó phải bán cốt lột xương lấy tiền đem sang tận nơi chuộc họ về.

    Trong khi đó, cách đây vài năm, ngay tại diễn đàn quốc hội, đã có một vị có địa vị cao lắm, nói: "Tình hình biển Đông có gì nghiêm trọng lắm đâu".

    Nhiều vụ gây hấn nghiêm trọng trên biển Đông chỉ được đưa tin chung chung, và quy tội cho "tàu lạ".

    Nhiệm vụ bảo vệ lãnh hải trước hết là của lực lượng hải quân, và các chiến sỹ hải quân cũng sẵn sàng gánh vác. Thế nhưng không hiểu tư duy kiểu gì mà ở quốc hội có những vị "dân biểu" đề nghị giao súng cho ngư dân, để họ thay hải quân chiến đấu bảo vệ vùng biển! Hãy thử hình dung những ngư dân cầm súng chưa thạo, khi giơ súng lên trước lực lượng hải quân Tàu Cộng thì sẽ thế nào? Tất nhiên, họ sẽ bị bọn côn đồ đó đánh đập thẳng tay hoặc bắn bỏ tức thì. Và bọn chúng có cớ để biện hộ cho hành động độc ác của chúng. Vậy phải chăng mấy vị dân biểu kia định tạo cớ hộ bọn cướp biển để chúng giết ngư dân ta?!

    Từ hai tháng nay, trong tình thế nguy nan, những ngư dân nhẹ dạ cùng với một ít tàu kiểm ngư vẫn đang tiếp tục bị biến thành lực lượng chính trong cuộc vật lộn giữ chủ quyền trên biển. Những chiếc tàu gỗ của họ lúc nào cũng có thể bị húc bể, đâm chìm. Lúc nào những người dân lành này cũng có thể hứng đòn của giặc Tàu, thậm chí tính mạng của họ cũng bị đe dọa.

    Ngày 26 tháng 5 vừa qua, tàu Trung Quốc đã đâm chìm tàu cá ĐNa-90152 cùng 10 ngư dân, đồng thời còn cố tình ngăn các tàu cá khác và tàu kiểm ngư Việt Nam đến cứu những ngư dân này.

    Ngày 3 tháng 7, 6 ngư dân Quãng Ngãi bị lính Trung Quốc dùng súng đe dọa và bắt giữ. Sau đó, truyền thông Trung Quốc đã thừa nhận vụ việc với một thái độ hết sức láo xược.

    Trong khi đó, những người có quyền hạn và trách nhiệm đã làm gì để giảm bớt tai họa cho những ngư dân cùng lực lượng kiểm ngư?

    Nói là không thì không đúng. Họ có làm. Và không ít việc.

    Họ cho đài phát thanh, truyền hình hát những bài nêu cao khi thế chiến đấu, ca ngợi những người dám xông ra tuyến đầu, chịu hy sinh vì tổ quốc, để khích lệ ngư dân và kiểm ngư cố chịu đựng hiểm nguy, tiếp tục xông ra làm lá chắn giữ gìn hải phận.

    Họ cho người đến tặng cho ngư dân và kiểm ngư một ít quà cáp, và nói với những người đó rằng họ đang làm một nhiệm vụ vô cùng vẻ vang, và đang được cả nước, nhất là các đồng chí lãnh đạo cao cấp, hướng về với cả tình yêu bao la. (Những ngư dân đó vốn chất phác thật thà, lại cả đời chưa được ai tặng quà khích lệ như vậy, thôi thì cũng cố gắng, lấy hết tinh thần để tiếp tục ra khơi.)

    Họ cho các cấp "mặt trận" vận động ủng hộ vật chất và tinh thần cho ngư dân và các chiến sỹ đang canh giữ biển trời. Bằng những việc làm như… nhịn đói, bớt bữa để góp gạo gửi nuôi ngư dân!

    Chao ôi! Đó là những sự hỗ trợ được thực hiện ở một quốc gia gần 100 triệu dân với mức "thu nhập trung bình"! Một quốc gia với chế độ xã hội "ưu việt"!

    Đúng là gần đây thì cấp trên còn có những quyết sách mạnh mẽ hơn. 16 ngàn tỉ đã được quyết chi để đóng tàu và làm những việc khác để hỗ trợ lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư và ngư dân. (Quyết chi, nhưng bao giờ và bao nhiêu phần trăm của cái con số 16 ngàn tỉ đó đến được với những người khốn khổ?)

    Một việc rất thiết thực, với những con số và kết quả cụ thể, và chắc chắn sẽ đến được với những con người cần được giúp, nhưng lại là do quyết tâm của một cá nhân: ông Phạm Ngọc Lâm, chủ tịch công ty Đức Khải, Sài Gòn. Ông đã quyết định đầu tư đóng 100 tàu cá công suất 500-1500 mã lực và mua hai trực thăng để cùng ngư dân bám biển. Vì nỗi gì mà một vài cá nhân phải làm thay việc của cả một quốc gia như vậy?

    Nhưng dù ngư dân có được hỗ trợ cỡ nào thì việc để họ phải lăn vào nơi nguy hiểm cũng là thiếu tình người.

    Và liệu họ còn phải "hưởng vinh quang" làm "điểm tựa" cho cả nước đến bao giờ nữa? Nếu cần có những người đánh cá bám biển, sao không cho chính lực lượng vũ trang kiêm nghề đánh cá để những ngư dân có chỗ mà nương tựa?

    *

    Từ vài năm nay, tôi đã rất muốn viết gì đó về nỗi khổ của những người đi biển, những người bất đắc dĩ phải làm thay việc của các "lực lượng mạnh" hiện đang ẩn mình kín đến mức dường như không tồn tại. Nhưng thật khó, vì nếu viết thì lại phải nói những điều nặng nề, đôi khi có thể gây nguy hiểm cho người duy trì một trang báo mạng.

    Đến giờ thì tôi buộc phải viết ra những dòng này. Chỉ là nói cho bớt nặng nề, chứ biết rằng cũng chẳng đi đến đâu.

    Ôi, những con người đang làm vật hy sinh để những con người khác duy trì một "tình hữu nghị" ở "tầm cao"…

    Nguyễn Trần Sâm (07/07/2014)
    Theo Đào Hiếu Blog

    Edited by user Tuesday, July 8, 2014 3:17:59 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    vl  
    #18 Posted : Wednesday, July 9, 2014 11:09:53 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    HD981 - Thép cũng hóa bùn trong chế độ chìm xuồng chủ nghĩa
    Source: http://danlambaovn.blogs...un-trong-che-o.html#more


    Ông Tổng Bí thư đảng cộng sản tuyên bố "Chừng nào ngư dân còn bám biển thì còn giữ được đảo...". Cần phải nói thêm cho trọn gói: "Chừng nào đảng còn bám ghế thì ngư dân vẫn phải còn bám biển".

    Ông Tổng Bí thư đảng cộng sản tuyên bố "Ngư dân bám biển là Tổ quốc còn chủ quyền". Phải nói thêm cho trọn ý: "Đảng còn bám ghế là Tổ quốc còn nhiều... HD981".

    Nhưng nếu nhìn cho kỹ thì chuyện ngư dân đem thân nghèo bám biển cho lãnh đạo giàu có của đảng được nệm ấm chăn yên thật sự không ăn nhập gì đến những thái độ cần phải có của một quốc gia đối với vụ việc HD981.

    Nếu dùng hình ảnh bình dân để minh họa thì nó chẳng khác gì chuyện kẻ cướp vào nhà ngang nhiên xúc phạm phụ nữ và đảng với ông Tổng bí chủ nhà lại kêu gào trẻ con trong nhà ra mé hiên ngoài mà bám trụ để xem như còn bám chút chút thì nhà... ta vẫn là của... đảng. Còn đám hải tặc 981 đang thoải mái khoan thì cứ để yên cho chúng khoan.

    Ngày 2 tháng 5, 2014 đến nay đã hơn 2 tháng.
    HD981 vẫn thoải mái khoan.
    Đã nhiều lời tuyên bố ở nhiều mức độ - từ "thối" đến "thơm" - của lãnh đạo đảng.
    Đã nhiều con tàu ngư dân VN bị đâm thủng đánh chìm.
    Đã nhiều xác người trôi giạt biển Đông...
    Nhưng HD981 của khựa-Tàu vẫn hò khoan theo nhịp hò 164 của khựa-Việt.


    Trong điệu hò 164 này:

    Đảng và nhà nước thay thế hình ảnh tàu khựa khoan đất mẹ bằng hình ảnh của những ngư dân "hào hùng" bám biển ở đâu đó không có bóng dáng HD981.

    Trí thức của đảng hân hoan hát bài thoát-trung và đảng viên cao cấp của đảng khăn gói lặn lội sang Tàu học cách giữ đảng, giữ ghế cho đúng với tinh thần còn đảng còn quyền và còn tiền.

    Truyền thông báo chí lề đảng hàng ngày gieo vào đầu 90 triệu dân một trạng thái yên tâm - đã có đảng và nhà nước lo.

    Đảng và Nhà nước lo như thế nào? bằng cách gì?

    Đó là bằng chiêu bài "Hoạt động kinh tế biển của ngư dân gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo", "Đánh bắt xa bờ là chủ trương chiến lược" và "Cùng với phát triển kinh tế và đời sống, huyện đảo phải làm tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ."

    Lo không xong như lời của ngài tổng bí thì sao?

    Thì đến đời con cháu chúng lo.

    Tất cả đều có sự tính toán "khôn ngoan", có mục tiêu và có chiến lược bởi bộ chỉ huy Ba Đình. Đánh võ mồm chính trị, xoa dịu quần chúng bằng tuyên truyền mị dân, ngăn chận mọi chống đối quân xâm lược nhưng không nằm trong "ý" của đảng, và đem ngư dân làm tốt thí là chủ trương toàn diện của đảng trước họa xâm lăng. Nhưng chủ trương này không phải để chống xâm lược mà để cố giữ bộ mặt sơn son trét phấn của đảng "ta": bộ mặt nạ dòng yêu nước. Giữ bộ mặt yêu nước là chủ trương của đảng từ thuở đảng còn chui rúc trong hang cho đến ngày Hồ Chí Minh đem lá cờ Phúc Kiến phất lên ở Ba Đình... và cho đến ngày hôm nay.

    Với chủ trương này của đảng, HD981 sẽ vẫn còn đó, đảng vẫn còn đây và thời gian sẽ là con nước cho dư luận chìm xuồng mà HD981 vẫn nổi lềnh bềnh.

    Cứu đảng trước.
    Cứu nước sau.

    Mà làm sao có chuyện cứu nước từ tập đoàn bán nước!?

    Thôi thì:

    Cứu đảng trước
    Bán nước tiếp tục theo sau.
    vl  
    #19 Posted : Thursday, July 10, 2014 9:12:21 AM(UTC)
    vl

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 5/5/2011(UTC)
    Posts: 2,851

    Thanks: 46 times
    Was thanked: 238 time(s) in 175 post(s)
    Chọn ai: Thời gian quyết định không còn dài nữa
    .Nguyễn An Dân
    Source: http://www.danchimviet.i...hong-con-dai-nua/2014/07


    Theo nhiều nguồn tin hành lang “không có cách gì kiểm chứng”, thì trung ương đảng đang rất lo ngại về nội dung cuộc gặp Trung Quốc-Mỹ (Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung) đang diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 08-09/07/2014 (1).

    Nỗi lo của đảng là liệu rằng Mỹ và Trung Quốc, sau hàng loạt những phát ngôn leo thang của hai nước về việc Trung Quốc đang dùng các giàn khoan dầu bành trướng Biển Đông, đã nhận ra quyết tâm của nhau và “sự lừng chừng của Việt Nam”, nên có thể sẽ đi đến một thỏa hiệp “gạt Việt Nam sang một bên” nhằm chia chác các lợi thế địa chính trị của Việt Nam cho lợi ích riêng của các cường quốc. Nếu có thỏa thuận đó thì “thân phận” Việt Nam sẽ như thế nào?

    Trước tiên, việc Mỹ muốn ủng hộ Việt Nam và tác động vào đảng cầm quyền để từ đó dựng lên một phe chính quyền thân Mỹ là điều có thể xẩy ra. Tuy nhiên, đó chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là bản thân phe này phải tự mình mạnh lên và nắm quyền chủ động khi tình thế đòi hỏi quyết tâm hành động. Bất kỳ vì một lý do gì làm cho phe này lừng chừng lại và đưa Việt Nam vào một tình thế “muốn có cả Mỹ và Trung Quốc là đồng minh” để “vừa giữ nước vừa giữ đảng trong chiến lược lâu dài” thì điều kiện đủ lại không có để điều kiện cần kia xẩy ra được. Đảng hãy nhớ rằng các cường quốc họ đối lập trong chiến lược nhưng luôn có sự hợp tác khi cả hai cùng có lợi trong từng thời điểm.

    Điểm qua những tuyên bố gần đây nhất của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng CSVN, thì dường như đảng vẫn chưa dứt khoát muốn thoát Trung. Ngày 1/7 phát biểu trước cử tri Hà Nội “bức xúc” vì tình hình biển Đông, ông vẫn nói về Trung quốc như “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau”, và cho rằng làm gì thì cũng phải “giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, không để nội bộ rối ren” (2).

    Dù đảng có nói gì đi nữa, tôi biết đảng thừa hiểu rằng chỉ có thể dựa vào Mỹ để ngăn cản âm mưu lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc đối với Việt Nam nên hôm nay họ “lo lắng không yên” cũng là phải. Đảng biết kịch bản các nước lớn bắt tay để chia chác lợi ích trên vai các nước nhỏ là chuyện xưa nay không thiếu. Nhưng với những tuyên bố như trên từ người lãnh đạo cao nhất nước, làm sao Mỹ yên tâm để “bắt tay” với Việt Nam?

    “Khu tự trị Việt Nam”

    Mỹ và Trung Quốc, trong chiến lược đường dài dĩ nhiên họ là đối thủ, nhưng trong chiến thuật ngắn hạn, sự liên minh tạm thời là điều luôn luôn có vì những lợi ích kinh tế. Nhất là Mỹ, bản thân nhà nước Mỹ xây dựng trên học thuyết Tư Bản, có nghĩa là các bước đi ngoại giao, chính trị, quân sự nào đó… thì cũng chỉ phục vụ cho lợi ích kinh tế. Trong quan hệ Mỹ-Trung-Việt cũng thế, khi Mỹ xét chọn, kết quả kinh tế sẽ là yếu tố quyết định cho quả cân nghiêng về bên nào.

    Trừ khi Trung Quốc xâm phạm đến Mỹ (hoặc những đồng minh lâu đời của Mỹ) một cách thẳng thắn và bá đạo thì khác, còn lại đối với những nước mà quan hệ “chưa đạt được gì cụ thể” như kiểu Việt Nam thì dù Trung quốc có “bắt nạt” kiểu nào, mà Việt Nam lại vẫn “lừng khừng” muốn “bắt cá hai tay”, Mỹ dĩ nhiên phải tính toán “được-mất”. Trong tình thế đó thì lợi ích kinh tế sẽ là yếu tố chi phối quan trọng, theo đó Mỹ sẽ chọn chiến thuật mà cả Mỹ và Trung Quốc đều có sự hài lòng tương đối. Việt Nam với một thị trường tiêu thụ chỉ bằng 8% thị trường Trung Quốc, kim ngạch Mỹ- Trung cũng cao hơn kim ngạch Mỹ-Việt gấp hơn 10 lần, dĩ nhiên Mỹ phải ưu tiên Trung Quốc hơn Việt Nam trong các quyết sách đối ngoại ngắn và trung hạn của mình theo nhu cần trong từng thời điểm.

    Về địa chính trị, biết rằng vai trò của Việt Nam là quan trọng ở Biển Đông và với dự án Kênh Đào Kra, nhưng Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được nếu đảng cầm quyền Việt Nam không tỏ ra một thiện chí cho thấy họ thật sự coi trọng quan hệ Việt-Mỹ hơn quan hệ Việt-Trung. Đó là nói về mặt lý thuyết chiến lược, còn lý thuyết chiến thuật ngắn hạn hiện nay thì Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được khi mà về công khai, chưa có hiệp ước quân sự hay đồng minh chiến lược nào được ký kết chính thức giữa hai nước.

    Trong quá khứ đến hiện tại (và nhiều khả năng là sẽ còn tiếp diễn ở tương lai), Việt Nam (dưới sự dẫn dắt của đảng CS) đã nhiều lần từ chối các bàn tay mà Mỹ chìa ra cho mình, khiến cho quan hệ Mỹ-Việt chiều rộng thì có mà chiều sâu thì chưa vì vốn dĩ thể chế hai bên khác nhau, và đa số người dân Việt Nam (trong và ngoài nước) đều không tin cậy chính quyền Việt Nam, thì làm sao Mỹ tin cậy đảng cầm quyền Việt Nam để cùng tiến vào chiều sâu được?

    Mỹ cần Việt Nam cho chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á, nhất là trong chính sách xoay trục hiện nay không ? Khẳng định là có. Chính vì thế nên từ năm 1991 Mỹ xem xét bỏ cấm vận, tái lập quan hệ đại sứ, ủng hộ cho Việt Nam vào Asean, WTO… cấp quy chế có lợi cho Việt Nam trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ… khi các ông thủ tướng Việt Nam sang Mỹ vận động và xin giúp đỡ. Mới nhất là Mỹ đã “thông cảm” cho Việt Nam được tạm hoãn và thi hành dần dần một số điều kiện để vào TPP bất chấp nội lực của Việt Nam là yếu nhất và mô hình chính trị “không giống ai” của Việt Nam trong khối đó. Sự kiên nhẫn của chính phủ Mỹ với đảng cầm quyền Việt Nam theo tinh thần “chúng ta cùng thắng” (win-win) là thiện chí ai cũng có thể thấy và không thể phủ nhận.

    Thế nhưng bất chấp các thiện chí trên của Mỹ, đảng cầm quyền luôn lý luận rằng quan hệ với Mỹ không cần thiết bằng quan hệ với Trung Quốc, vì mục tiêu giữ đảng và đường lối XHCN. Ngay cả khi lúc này, dù đa số nhân dân (và các đảng viên thân Mỹ) cũng đã biết rằng dã tâm của Trung Quốc là lấn chiếm lãnh thổ (cả trên biển và đất liền) của Việt Nam. Dùng miếng mồi ý thức hệ XHCN để chi phối hệ thống chính trị Việt Nam, Trung Quốc đã và đang tiến tới việc biến Việt Nam chỉ còn là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa nhưng trong thực tế thì ở tư thế như một “tỉnh tự trị” của Trung Quốc. Các điều kiện cần của âm mưu này đều đã thể hiện ra bằng các thỏa thuận “ngầm” song phương mang tính áp chế và ràng buộc mà đến nay phe chính quyền đang xì ra cho dân biết dần dần.

    Cường quốc thôn tính nước nhỏ tưởng chỉ có một bài bản. Đó là làm nước nhỏ suy yếu về nội lực, phụ thuộc về kinh tế-chính trị-quân sự… cô độc về ngoại giao để không phản kháng được. Điều này đảng cũng biết, thế nhưng đảng vẫn đưa Việt Nam sa vào ngày càng sâu. Trong các bước đi quan trọng, Trung Quốc đều muốn Việt Nam phải đi theo và đi sau mình. Sự kiện Trung Quốc cản trở Việt Nam gia nhập WTO là một ví dụ gần và dễ thấy nhất.

    Sau năm 1972, Mao Trạch Đông chủ động bắt tay với Mỹ để phát triển kinh tế theo học thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình để tái thiết Trung Quốc. Dù thế, họ vẫn ép đảng tiếp tục đánh Mỹ “đến người Việt Nam cuối cùng” và coi Mỹ là “thù địch”. Sau khi thành công trong việc làm Việt Nam xa lánh Nga và Mỹ, Trung Quốc đi các bước tiếp theo là tất yếu, xâm lấn lãnh thổ và tìm cách “chi phối chính trị để gián tiếp đô hộ”. Tiến công chi phối-phá hoại toàn diện từ kinh tế, chính trị, an ninh quân sự cho đến việc hôm nay là các giàn khoan… tất cả là một bài bản nhịp nhàng logic và là chiến lược lâu dài.

    Vậy quan hệ thân thiết với Mỹ hay với Trung Quốc, quan hệ nào có lợi và bất lợi cho Việt Nam hơn, chắc mọi người Việt “tử tế” đều thấy rõ. Đảng, dù “lú” tới mấy, chẳng lẽ không thấy sao, nhưng dường như đảng không muốn chọn lối đi tốt nhất cho đất nước và cho dân tộc. Nguyên nhân nằm ở đâu?

    Gần đây nhất, Mỹ và các đồng minh trong khu vực Đông Á đều chính thức lên tiếng là sẽ ủng hộ Việt Nam nếu Việt Nam thoát Trung cũng như cải cách chính trị để nội lực mạnh lên, nhằm phụ họ trong việc kềm chế Trung Quốc trong đường dài, nhưng phe đảng quyền vẫn tỏ ra không muốn thực hiện. Điều đó dĩ nhiên làm các nước phương Tây và đồng minh Đông Á càng có cơ sở để hoài nghi việc liệu họ có nên giúp đỡ Việt Nam mạnh mẽ hơn không? hay là họ giúp Việt Nam lúc này để rồi sau này Trung Quốc hưởng lợi vì Việt Nam vẫn là đàn em của Trung Quốc?

    Nếu Việt Nam cứ tiếp tục chọn con đường trở thành “khu tự trị và là tiền đồn ĐNÁ” của Trung Quốc như lâu nay, thì tôi tin rằng Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam mà thỏa hiệp với Trung Quốc để làm dịu đi sự căng thẳng vì mấy cái giàn khoan lúc này. Nếu Việt Nam là “ông em” của “ông anh Trung Cộng” thì dĩ nhiên các “đại ca” như Mỹ sẽ không quan trọng đàn em nữa mà đàm phán với “ông anh-người có quyền quyết định”. Đó là phong cách làm việc của tư bản, nhanh gọn lẹ và đúng người đúng việc.

    Điều này đã bắt đầu hé lộ khi chúng ta thấy các phát biểu của Tập Cận Bình (*) với John Kerry tại Bắc Kinh trong ngày 09/07/2014. Một mặt Trung Quốc khẳng định với Mỹ là lập trường của họ trong tranh chấp Biển Đông (với Việt Nam) hiện nay là đúng và sẽ không từ bỏ, một mặt Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ và đề nghị củng cố thương mại để cùng nhau kiếm tiền. Tập Cận Bình dùng những từ ngữ mang tính hàm ý rất cao như “Đối đầu TQ – Mỹ chắc chắn sẽ là một thảm họa (Mỹ-Trung không nên vì một Việt Nam “thấp kém và không nhất quán” như thế mà đi đến đối đầu?). Phát ngôn của Tập Cận Bình hàm ý như thế e rằng không sai mấy nếu Việt Nam không nhanh chóng tỏ rõ lựa chọn đối ngoại của mình.

    Nội dung quan chức hai bên như John Kerry và Tập Cận Bình nói ra cho thấy khả năng thỏa hiệp Biển Đông theo mô thức “bỏ Việt Nam qua một bên” là có cơ sở để nhận định nếu Việt Nam vẫn cứ “thiếu nhất quán” như lâu nay. Nếu đảng cầm quyền Việt Nam vẫn tự huyễn hoặc rằng Biển Đông, kênh đào Kra và cảng Cam Ranh là những lợi thế địa chính trị để mặc cả với Mỹ hơn là thiện chí chân thành hợp tác để hai bên cùng có lợi thì Mỹ sẽ bỏ thật. Công thức thỏa hiệp có thể dự đoán theo kịch bản: tranh chấp lãnh hải với các nước Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc (các đồng minh của Mỹ lâu nay) thì Trung Quốc nên và phải dừng lại (ít nhất là tạm thời trong lúc này) vì các nước này Mỹ không thể bỏ. Còn lại là Nga cứ ở Cam Ranh, Trung Quốc cứ lấy Hoàng Sa-Trường Sa và Mỹ sẽ giữ kênh đào Kra. Thế là xong vấn đề Việt Nam, và ba cường quốc Mỹ-Nga-Trung Quốc tạm chấm dứt vấn đề Biển Đông để quay qua các khu vực khác. Kịch bản đó đối với Việt Nam chính là thời kỳ Hán thuộc lần thứ 3.

    Cơ hội cuối cùng cho tất cả


    Một quốc gia Do Thái Giáo nhỏ bé như Israel mà quyết tâm lập quốc và làm mình lớn mạnh lên được trong một khu vực toàn các quốc gia Hồi Giáo, là nhờ làm đồng minh với Mỹ-Âu châu. Dù khác nhau về hình thức nhưng giống nhau về bản chất trong kiểu như Việt Nam ở sát bên Trung Quốc. Vậy vì cái gì mà đảng cầm quyền Việt Nam không thể đưa đất nước làm được như dân Do Thái, phải chăng vì chủ nghĩa Mác Lê và quyết tâm tiến lên CNXH quan trọng hơn lãnh thổ và sự hùng mạnh, tự chủ của quốc gia-dân tộc trong một tư thế như Israel hôm nay?

    Chừng nào đảng còn muốn giữ quan hệ cộng sản và XHCN cho “giống Trung Quốc” thì sẽ không có ông Mỹ- ông Âu nào có thể giúp gì được cho Việt Nam vì họ không tin và không cần mối quan hệ “thiếu nhất quán” đó. Nếu các quan chức trung ương đảng thuộc phe thân Mỹ lo sợ sự thỏa hiệp này sẽ làm Việt Nam “mất nước” như tôi nghe đồn sáng nay thì hãy nhanh chóng hành động trước khi quá trễ, đây là CƠ HỘI CUỐI CÙNG CỦA ĐẢNG để chọn con đường chuyển hóa từ trên xuống trước khi cuộc cách mạng quần chúng từ dưới lên xảy ra (mà các điều kiện cần và đủ đang dần hội tụ rồi). Coi chừng đây cũng là cơ hội cuối cùng, mà chọn lựa sai lầm sẽ “sai một ly đi một dậm”: sẽ dẫn đến mất nước và mất cả đảng.

    Chuyện xưa không xét, nếu Hoàng Sa-Trường Sa mất lúc này, dân tộc Việt Nam “có đầy đủ thông tin và thẩm quyền” để nhận định: “tội là ở đảng”.

    Nguyễn An Dân

    (Ngày 09/07/2014)


    (1) http://vietnamnet.vn/vn/.../185125/ong-tap-can-binh–doi-dau-voi-my-se-la-tham-hoa.html
    (2) http://vietnamnet.vn/vn/...h-tri/183735/tong-bi-thu–khong-ai-chon-duoc-lang-gieng.html
    ________________
    LTS (CH): Tác giả gửi trực tiếp cho Chuyển Hóa. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

    Edited by user Thursday, July 10, 2014 9:17:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    NNT  
    #20 Posted : Thursday, July 10, 2014 11:45:19 AM(UTC)
    NNT

    Rank: Advanced Member

    Groups: Registered
    Joined: 3/24/2011(UTC)
    Posts: 6,343
    Man
    Location: USA

    Thanks: 1324 times
    Was thanked: 2709 time(s) in 1483 post(s)
    你好嗎 ?
    習近平
    Users browsing this topic
    Guest (2)
    5 Pages123>»
    Forum Jump  
    You cannot post new topics in this forum.
    You cannot reply to topics in this forum.
    You cannot delete your posts in this forum.
    You cannot edit your posts in this forum.
    You cannot create polls in this forum.
    You cannot vote in polls in this forum.