Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Thursday, December 26, 2013 1:04:07 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

Đức Phật dạy trong KINH KIM CANG:

Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng
Như sương, như điện chớp.
Phải nên quán như thế.


Ngày nay Hòa Thượng Thích Thanh Từ cũng có bài kệ cùng ý tưởng Đại Sư Hám Sơn đã trước tác "Mộng Du Tập" vào thế kỷ 16 như sau :

"Mộng"
Gá thân mộng, dạo cảnh mộng,
Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng, nhắn khách mộng,
Biết được mộng, tỉnh cơn mộng.


Hòa Thượng Thích Trí Giải thì có lời thi kệ :

Hãy lái thuyền “TỪ” xa cõi mộng
Quay về bến "GIÁC" để thong dong
"Quán pháp VÔ THƯỜNG" do duyên khởi
Tài sắc đam mê, rối cả lòng!




VÔ THƯỜNG
(Trích Phật Học Phổ Thông)
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa


A. Mở Ðề

Lòng tham lam của con người ôm ấp bám víu mãi mãi vào sự vật. Chúng ta, đã là chúng sinh, thì ít nhiều đều có tham vọng. Lòng tham vọng ấy bám víu chặt chẽ vào sự vật mà chúng ta đã cấu tạo, nắm bắt được. Chúng ta chỉ buông thả chúng ra, sau khi trút hơi thở cuối cùng. Nói cho đúng, không phải đến phút cuối cùng chúng ta mới chịu buông thả mọi vật; chúng ta vẫn cứ muốn nắm giữ chúng mãi, nhưng chính chúng đã rời bỏ chúng ta mà đi. Chúng ta đã bất lực, không còn đủ hơi sức để nắm giữ chúng nữa, nên đành buông xuôi tay để chúng tuông đi, chứ nếu còn hơi sức, chúng ta vẫn còn muốn nắm lại và giam giữ một cách tuyệt vọng những gì đã nắm được. Suốt đời, chúng ta vẫn lặp đi lặp lại mãi cái cử chỉ nắm bắt, giữ gìn ấy. Và suốt đời biết bao nhiêu lần chúng ta đã đau khổ, thất vọng, vì mọi sự vật ở đời không bao giờ chiều theo ý muốn của chúng ta mà chịu ở yên một chỗ. Mọi sự vật đều luôn luôn biến chuyển, đổi thay, nay đây mai đó, như một anh chàng lãng tử, như một dòng sông, như một đám mây, như một vó ngựa ! Thời gian trôi qua như thế nào, thì mọi vật cũng trôi qua như thế ấy. Nói theo danh từ nhà Phật , thì sự biến chuyển, đổi thay ấy là luật VÔ THƯỜNG.

B. Chánh Ðề

I. Ðịnh Nghĩa

VÔ THƯỜNG là thế nào? Hãy nghe đức Phật dạy: "Tất cả những gì trong thế gian đã là biến đổi, hư hoại, đều là VÔ THƯỜNG". Vậy VÔ THƯỜNG nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định; luôn luôn thay hình đổi dạng; đi từ trạng thái hình thành đến biến đi rồi tan rã... Ðạo Phật gọi những giai đoạn thay đổi của một vật là: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG (hay SANH, TRỤ, DỊ, DIỆT). Như một làn sóng, khi mới nhô lên gọi là THÀNH (hay sanh) khi nhô lên cao nhất thì gọi là TRỤ; khi hạ dần xuống thì gọi là HOẠI (hay dị), khi tan rã thì gọi là KHÔNG (hay DIỆT). Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, đến lớn như trăng sao, đều phải tuân theo bốn giai đoạn ấy cả, nên gọi là VÔ THƯỜNG.

Ðể có một ý niệm rõ ràng hơn về sự VÔ THƯỜNG, chúng ta hãy quan sát, suy nghiệm ngay cái thân chúng ta, cái tâm chúng ta và cái hoàn cảnh chúng ta đang sống, thì sẽ biết.

II. Thân VÔ THƯỜNG

"Thân tôi mạnh khỏe luôn, trẻ đẹp mãi, và đời tôi là cả một bài thơ..." Ấy là quan niệm nông nỗi của một số nam nữ thanh niên, quá yêu chuộng thân thể họ trẻ mãi, hay nếu có già, thì cũng còn lâu lắm, không ngờ rằng nó già, nó chết, từng giây từng phút. Câu thơ sau đây của người xưa thật đã nói lên được sự thay đổi mau chóng của thân ta:

"Quân bất kiến cao đường minh cảnh bi bạch phát ! Triêu như thanh ti, mộ như tuyết?"
(Anh không thấy cha già soi gương buồng tóc bạc ! Sớm còn như tơ xanh, tối đã trắng như tuyết)


Khoa học đã chứng minh rằng, trong thân thể ta, các tế bào thay đổi luôn, và trong mỗi thời kỳ 7 năm, là các tế bào cũ hoàn toàn đổi mới. Sự thay đổi ấy làm cho thân thể chóng lớn, chóng già và chóng chết. Thân năm trước không phải thân năm nay, thân ban mai không phải thân buổi chiều, mỗi phút giây trong thân ta đều có sanh và có chết.

Sau đây là một câu chuyện rất có ý nghĩa để chứng minh sự VÔ THƯỜNG của thân xác:

Một người bộ hành lỡ đường vào trọ trong một ngôi nhà bỏ hoang. Ðêm đến, anh ấy thấy một con quỷ tóc xanh, vác một cái thây ma mới chết vào, định xé xác ra ăn. Bỗng một con quỷ khác, tóc đỏ, xô cửa bước vào. Hai con quỷ tranh nhau cái xác chết, con nào cũng nói của mình bắt được trước. Chúng sắp xăn tay áo đánh giết nhau, để giành cái xác. Bỗng chúng nhìn thấy anh chàng bộ hành đang nằm run sợ trong góc phòng; chúng vội vã kéo anh ta ra làm trọng tài, hỏi xem trong hai chúng, ai là kẻ đáng làm chủ cái xác. Anh bộ hành sợ hãi quá, nhưng cứ tình thật nói rằng: cái xác thuộc về con quỷ tóc xanh vì chính anh ta thấy nó mang xác vào trước. Con quỷ tóc xanh được xác, mừng rở cảm ơn rối tít anh bộ hành; nhưng con quỷ tóc đỏ mất miếng mồi ngon, tức giận lôi đầu anh ta ra quyết ăn tươi nuốt sống cho hả giận. Nó đè anh ta xuống, rứt một cánh tay bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến...Con quỷ tóc xanh thấy thương tình anh bộ hành và để tỏ lòng tri ân, rứt cánh tay của cái xác chết lắp vào cho anh ta. Con quỷ tóc đỏ lại rứt cánh tay kia của anh bộ hành ăn tiếp; và con quỷ tóc xanh chắp tay của xác chết vào cho anh ta. Cứ như thế, hể con quỷ tóc đỏ rứt một phần nào trong thân thể anh bộ hành để ăn, thì con quỷ tóc xanh lại lấy một phần của thây ma điền vào cho thân anh ta...Sau khi ăn hết cả thân thể của anh bộ hành, con qủy chùi miệng đầy máu me, rồi bỏ ra đi. Con quỷ tóc xanh cũng đi theo.

Anh bộ hành bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn ác mộng và cứ phân vân tự hỏi: không biết cái thân hiện tại anh đang mang đó là của anh hay của ai?

Câu chuyện trên chứng minh cho chúng ta thấy từ khi sanh cho đến khi chết, thân ta đã không biết bao lần thay đổi; và cái xác khi người ta dặt vào quan tài, thật không còn gì giống với cái thân khi mới sơ sanh.

Dòng nước hôm qua của con sông Ðồng Nai chẳng hạn, ngó bề ngoài thì không khác gì dòng nước hôm nay; nhưng nước hôm qua, bây giờ có lẽ đã hòa với nước mặn ở ngoài Ðại dương và nước hôm nay chính là nước khác ở nguồn mới chảy về đây. Thân người cũng vậy, "hằng chuyển như bọc lưu" (chảy luôn như nước lũ).

Nhưng khổ thay ! Có phải nó thay một cái này để đổi lấy một cái khác, giống y như cái trước đâu ! Một tế bào nầy mất di, một tế bào khác thế lại, nhưng tế bào trước trẻ hơn tế bào sau; tế bào sau già hơn tế bào vừa được kế tiếp...Và cứ như thế mà thân người đi từ trẻ đến già, từ sống đến chết !

Ðức Phật , lúc còn là một Thái Tử, đã than với bà Da Du trong cung vui, khi nghĩ đến VÔ THƯỜNG của thân người.

"...Chúng ta sẽ già yếu và xấu xa. Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! mắt trong của em rồi sẽ mờ đục ! Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu !...Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ, dưới sức tàn phá cảu búa thời gian, tất cả những gì quý báu của đời người...chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng, những bảo vật ở trong ta, như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt một làn hương !".

Trí huệ thay ! Con người cao sang và đang trẻ đẹp, bên cạnh lại có vợ hiền sớm hôm hầu hạ, thế mà vẫn đủ sáng suốt, để nhìn thấy luật đẹp của đời người ! Những lời thống thiết ấy, chanửg những đã cảnh tỉnh Công chúa Da Du, mà còn đánh thức những ai còn say đắm trong cảnh đời giả tạm, cảnh sanh, già, bệnh, chết, là hiện thân của luật VÔ THƯỜNG. Có thân thì phải chịu công lệ sanh già bệnh chết, không thể tồn tại mãi được. Ðức Lão Tử cũng đã nhận thấy thân là nguồn tội lỗi, là gốc khổ đau, nên đã thốt ra câu:

"Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân, Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?"
(Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân,Nếu ta không thân thì đâu khổ gì?)


Thân là VÔ THƯỜNG, thế mà lắm người vì muốn trao dồi, bồi bổ, cung phụng xác thân đến nỗi gây biết bao tội ác ghê gớm ! Vì muốn được thích khẩu, bổ thân, mà lắm người đành tay giết hại nhứng con vật yếu hèn và hành hình những con vật vô tội trước khi chết một cách rùng rợn. Ðọc lịch sử, nghe Tần thỉ Hoàng ăn óc khỉ sống, ta đã cảm thông được nỗi đau đớn những con vật bị giết, thế mà người dự tiệc vẫn vui cười sung sướng, không đoái hoài đén tiếng rên xiết, kêu la, vùng vẫy cảu chúng, thì thật là độc ác đến chừng nào ! Lòng trắc ẩn của người ở đâu? Hỡi ôi ! Hung ác và thâm hiểm thay, lòng dạ của con người !

Vì tham lam làm vẩn đục, tối tăm lương tri, nên con người không thấy rõ được lý VÔ THƯỜNG của thân xác và mới nỡ tâm làm điều tán ác như thế !

III. Tâm VÔ THƯỜNG

Thân đã VÔ THƯỜNG, nhưng còn tâm niệm có thường không? Tâm niệm cũng âm thầm dời đổi, lại có phần mau lẹ và vi tế hơn, nếu chúng ta không nhìn sâu vào, ắt khó mà thấy được.

Tâm niệm chúng ta thay đổi trong từng phút giây, theo với ngoại cảnh: chúng ta buồn đó rồi vui đó, thương đó rồi giận đó. Phút trước ta nhớ chuyện nầy, phút sau ta nghĩ chuyện khác. Hôm qua ta tinh tiến tu hành, hôm nay đã ưu phiền thổi chuyển. Thật đúng như đức Phật đã nói:

"Tâm người như vượn chuyền cây, Như ngựa rông nơi đồng nội..." [/color]


Tâm niệm ta sanh diệt trong từnh sát na; và chính vì nó sinh diệt mau lẹ như thế, nên ta có cảm tưởng như nó không thay đổi gì cả. Ðối với một đứa trẻ con, nếu chúng ta bảo rằng những hình ảnh cử động in như thật trên màn bạc, là do sự tiếp nối những tấm phim, ảnh hiện lên rồi biến mất, để nhường chỗ cho những tấm ảnh khác, trước ngọn đèn chiếu..nếu ta bảo như thế với một đứa bé, chắc nó không tin, vì nó chưa hiểu được cái công dụng của tốc lực. Cũng như thế đó, tâm ta được cấu tạo bởi từng niệm sanh diệt, như ng vì chúng ta không nhận được sự biến chuyển mau lẹ của nó, nên ta cứ tưởng là nó đơn thuần và bất biến. Cái ta phút trước phải đâu là cái ta phút nầy? Và cái ta phút nầy đâu còn là cái ta phút sau? Vậy cái ta nào là cái ta thật? Cái ta phút trước, cái ta phút nầy hay cái ta phút sau? Một nhà thi sĩ dã hỏi một câu có vẻ ngớ ngẩn nhưng nghĩ ký thật là vô cùng sâu sắc:

"Ai bảo giùm ta có ta không?"


Cái ta (hay cái tâm cũng thế) VÔ THƯỜNG tạm bợ, giả tạo như thế, thế mà người đời cứ cho nó là trung tâm điểm của vũ trụ, bám víu vào nó, nhơn danh nó để tham lam, vơ vét tài sản, danh lợi ở chung quanh, và dù có dẫm đạp lên hạnh phúc của kẻ khác, gây bao đau thương cho người đồng loại, cũng mặc ! Thật mêm mờ lắm thay !

IV. Hoàn Cảnh VÔ THƯỜNG

Như trên chúng ta đã thấy luật VÔ THƯỜNG ở khắp mọi nơi, chẳng những thân, tâm là VÔ THƯỜNG, mà hoàn cảnh, sơn hà đại địa, cũng VÔ THƯỜNG nữa.

Sách thường có câu: "Thương hải, tang điền" (Bãi biển nương dâu)

Câu ấy mới nghe như là một hình ảnh bóng bẩy về văn chương; nhưng thật ra, đó là một nhận xét rất đúng trong thực tế. Chúng ta, thường lầm tưởng chỉ có sinh vật là biến đổi và mau già chết, chứ những vật lớn lao như núi sông, đất cát, thì muôn đời cũng vẫn ở yên một chỗ. Nhưng chúng ta đã lầm, sông núi cũng có cái già cái trẻ, đất cát cũng có khi lở khi bồi. Không có vật gì là vĩnh vin tồn tại. Tục ngữ ta có nhiều câu nói lên được sự VÔ THƯỜNG của sự vật một cách rất thâm thúy như: "Vật đổi, sao dời" hay "Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời".

Thật thế, một đời của chúng ta đã chững kiến biết bao sự thăng trầm, vinh nhục, lên voi xuống chó. Giàu nghèo, sang hèn tiếp tục din ra trước mắt chúng ta như một bức tranh vân cẩu, như một khúc phim trong rạp chiếu bóng. Bao nhiêu người, trước đây, nào dinh thự nguy nga, ruộng vườn cò bay thẳng cánh, thế mà sau một cơn binh lửa, sự nghiệp bỗng tan tành như mây khói ! Bao nhiêu người quyền cao, chức trọng hống hách, nghinh ngang, thế mà một phút sa cơ thất thế, bỗng trở thành những kẻ tha phương cầu thực, hay vướng cảnh tù đày !

Sự VÔ THƯỜNG đã sờ sờ trước mắt, thế mà có biết bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh ngộ, cứ đeo đuổi bám víu vào những cái hào nhoáng nhất thời ấy. Kẻ bán tước, người mua quan, kẻ tham danh người ham lợi...gây biết bao trò cười cho khách bàng quan, và bày ra lắm cảnh nhọc nhằn cho người trong cuộc.

Thuở xưa, có một ông vua, sau khi đi dạo khắp phố phường, thấy nhân dân giàu có sung túc, mới sanh lòng tham lam, muốn sung công bớt tài sản của họ, để bỏ vào kho. Nhà vua liền ra lệnh ai có của phải nạp bớt cho triều đình.

Lịnh truyền ra, nhà nhà đều công phẫn, nhưng biết kêu ca với ai bây giờ? Trong lúc ấy, có một người lái buôn, muốn thức tỉnh nhà vua, nên đánh bạo đem hết tài sản về kinh đô, đến giữa trào, dâng lên vua và tâu rằng: Hạ thần xin dâng hết tài sản cho triều đình

Vua ngạc nhiên phán hỏi: Ta chỉ thâu một phần thôi, sao ngươi lại dâng hết cả như thế?

- Tâu, vì hạ thần nghĩ của này không phải của Hạ thần, mà là của 5 nhà: nước trôi, lửa cháy, giặc cướp, sung công và vợ con phá tán. hạ thần dù cố sức giữ gìn thế nào đi nữa, cũng không khỏi bị một trong 5 nhà ấy chiếm đoạt. Vì thế hạ thần xin dâng hết, không giữ làm gì, để về sau khỏi khổ sở vì nó. Mong Hoàng thượng nhận hết cho, hạ thần rất cảm tạ ơn sâu ấy.

Sau khi nghe lời tâu của người lái buôn, nhà vua ngẫm nghĩ hồi lâu, chợt tỉnh ngộ, cả thẹn và thầm bảo: "Người nầy đến dạy khôn cho ta. Giang sơn cẩm tú của ta, ta có giữu gìn được lâu dài không? Hay sẽ bị năm nhà, mà người lái buôn vừa nói, đoạt mất? Giang sơn còn chưa giữ được, huống hồ tài sản của nhân dân ! Người ấy là ân nhân của ta, nếu không có người đem ánh sáng thức tỉnh ta, thì ta sẽ làm một việc rất tàn ác".

Suy nghĩ xong, vua bèn hạ lệnh ngưng sung công, lại còn xuất tiền phát cho dân nghèo nữa. Thật là một mẩu chuyện quý báu, để thức tỉnh những ai đang còn chìm đắm trong vòng danh lợi, đang gây đau khổ cho mình và những người chung quanh, vì chưa nhận chân được lẽ VÔ THƯỜNG của hoàn cảnh.

V. Quyết Ðịnh

Có người nghi rằng: Ðạo Phật nói VÔ THƯỜNG, phải chăng vô tình gieo vào lòng mọi người những quan niệm chán đời thối chí? Vì sự vật đã VÔ THƯỜNG thì không nên làm gì cả, có siêng năng hoạt động kinh doanh sự nghiệp rồi cũng không đi đến đâu cả. Tro bụi, người sẽ trở thành tro bụi hay sao?

Xin đáp: VÔ THƯỜNG của đạo Phật là một phương pháp chỉ rõ mặt trái của đời, để bài trừ những sự mê lầm, ngăn chặn người chạy theo vật dục, nó chưa phải là thuyết tuyệt đối.

Ðức Phật cũng như vị lương y tùy theo chứng bệnh mà cho thuốc. Với bịnh "chấp thường còn không mất", thì dùng phương thuốc "VÔ THƯỜNG" để đối trị, khi lành bịnh thì Phật lại cho thứ thuốc bổ khác quí báu hơn, là "THUYẾT CHƠN THƯỜNG BẤT BIẾN"
. Theo KINH LĂNG NGHIÊM, Ngài A Nan cũng lầm như chúng ta, cho nên đức Phật bảo Ngài La Hầu La đánh chuông để chỉ bày cho Ngài A Nan phân biệt cái "biến đổi tiêu diệt", và cái "thường còn không thay đổi".

Khi tiếng chuông do Ngài La Hầu La đánh ngân lên, đức Phật hỏi Ngài A Nan có nghe không?

Ngài A Nan đáp: Bạch Thế Tôn ! Nghe.

Khi tiếng chuông dứt, Phật lại hỏi: A Nan có nghe chăng?

Ngài A Nan đáp: Bạch Thế Tôn ! Không còn nghe nữa.

Ðức Phật lại bảo Ngài La Hầu La, đánh tiếng chuông thứ hai, rồi Phật cũng hỏi như lần trước, và Ngài A Nan cũng đáp có nghe.

Ðức Phật quở: A Nan, sau ông trả lời lẩn quẩn như thế?

Ngài A Nan ngạc nhiên; đáp: Chẳng những một mình con mà mọi người ai cũng thừa nhận có tiếng thì có nghe, tiếng dứt thì không còn nghe.

Ðức Phật gạn lại: "Ông và mọi người đều cho có tiếng là có nghe, tiếng dứt, thì không có nghe nữa; thế là "tánh nghe" theo tiếng mà mất, thì có lẽ không bao giờ nghe nữa. Tại sao lúc tiếng thứ hai ngân lên, lại còn nghe nữa ? Nếu nghe được tiếng thứ hai, thì nhất định biết không phải tiếng dứt mà không nghe. Tiếng có lúc còn lúc mất, "tánh nghe" vẫn thường không dời đổi. Vả lại, nếu tiếng dứt rồi mà tánh nghe không còn, thì cái gì biết được sự không nghe ấy?"

Cho biết, Phật dạy "VÔ THƯỜNG" để "đối trị chấp thường" còn của chúng sanh. Ðến khi chúng sanh đã hiểu lẽ "VÔ THƯỜNG", thì Phật lại chỉ bày lẽ "CHƠN THƯỜNG BẤT BIẾN".

C. Kết Luận

VÔ THƯỜNG là một định luật chi phối tất cả sự vật, từ thân, tâm cho đến mọi hoàn cảnh. Hiểu lý VÔ THƯỜNG, chúng ta đã có một phương thuốc thần diệu để trừ bệnh tham ái, mê mờ. Chúng ta đã đau khổ vì màu sắc tốt xấu, vì tiếng dở hay, vì mùi vị ngọt bùi, cay đắng, vì vật thích thân, vừa ý. Nay chúng ta uống thuốc "giáo lý VÔ THƯỜNG", để trừ bịnh tham ái và tiến tới sự an tịnh của tâm hồn.

Biết được VÔ THƯỜNG, con người giữ được bình tỉnh thản nhiên trước cảnh đổi thay bất ngờ và có thể lạnh lùng trước cảnh ân ái chia ly. Biết VÔ THƯỜNG, con người dám hy sinh tài sản, sanh mạng để làm việc nghĩa. Biết VÔ THƯỜNG con người mới chán ngán với những thú vui tạm bợ, giả trá, và sáng suốt đi tìm những cái vui chân thật thường còn. Vì thật ra, cái vui chân thật thường còn, cái tánh chân thường vẫn có, nhưng nó nằm bên trong cái lớp giả dối tạm bợ; VÔ THƯỜNG của cõi đời nầy, nên chúng ta không thể thấy được. Khi chúng ta đã cương quyết gạt bỏ cái vỏ giả dối ấy, thì tất nhiên cái giá trị chơn thật, cái hạnh phúc chơn chính, cái Phật tánh sáng suốt, chắc thật muôn đời sẽ hiện ra.



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, December 29, 2013 5:00:47 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Sunday, December 29, 2013 4:57:28 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, December 29, 2013 4:58:30 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#3 Posted : Wednesday, January 1, 2014 8:12:03 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
VÔ THƯỜNG
Thích Thông Huệ


Khi nói đến VÔ THƯỜNG liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có VÔ THƯỜNG. Vì vậy VÔ THƯỜNG là một định luật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh.

Vì mang tính phổ biến nên VÔ THƯỜNG là một cuộc đại hóa, sự biến hóa cùng khắp, bất cứ ở đâu và lúc nào. Dù đức Phật có xuất hiện hay không thì ngọn lửa VÔ THƯỜNG vẫn cứ điềm nhiên âm ĩ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng. Vì thế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên VÔ THƯỜNG là chân lý bất di dịch.

Thân, tâm và cảnh giới là một dòng chảy (quá, hiện, vị lai). Chánh báo và y báo của một chúng sinh tạo thành dòng sông sinh mệnh, lực đẩy tạo thành dòng sông sinh mệnh chính là sự khát ái vào những sở thuộc như sự nghiệp tài sản, danh vọng nhằm củng cố "cái Tôi" (giả Ngã) trong vòng luân hồi vô tận. Khi nào "cái Tôi" còn bén rễ, khi nào ý thức "chấp Ngã" còn bén rễ, khi nào ý thức "chấp Ngã" còn xen vào cuộc sống thì vòng luân hồi vẫn thường xoay chuyển.

VÔ THƯỜNG có ba:

- Nhất kỳ VÔ THƯỜNG - Tương tục VÔ THƯỜNG - Sát na sinh diệt VÔ THƯỜNG.
  • Nhất kỳ là thô tướng nhất của VÔ THƯỜNG, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình, như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn, mà chỉ là tạm vắng ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác.

  • Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sự chuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tể tướng của VÔ THƯỜNG.

  • Sát na sinh diệt là sự VÔ THƯỜNG ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất. Sát na là thuật ngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian. Một niệm thoáng qua trong tâm thức có đến 90 sát na. Mỗi sát na là một tiểu niệm. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm của mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được. Ba phạm trù thuộc ba phân loại VÔ THƯỜNG ở trên không chỉ có nơi các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiện tượng sinh lý và tâm lý nữa.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ. Phật dạy: "Chúng sanh bị chìm đắm trong vô số nạn khổ, thế mà không biết lại hoan hỷ vui chơi, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng hề biết chán, chẳng chịu tầm cầu giải thoát. Ở trong nhà lửa tam giới cứ dong ruổi Đông Tây. Tuy gặp đại khổ mà chẳng biết đó là nguy khốn".

Phật nói VÔ THƯỜNG (nhà lửa) nhằm phá cái chấp thường của phàm phu, vì mê mờ điên đảo, vọng nhận các pháp là thực hữu, bèn đem cái tâm VÔ THƯỜNG, dùng cái thân VÔ THƯỜNG, nắm bắt các pháp VÔ THƯỜNG, cho đến mãn kiếp không bao giờ được thỏa mãn tâm vọng cầu.

Người lớn hay sống về quá khứ, tuổi trẻ hay mơ mộng về tương lai, người tỉnh thức biết khéo sống nơi giây phút hiện tại. Mảnh đất lập thân của người phàm là quá khứ vị lai. Nơi an thân và lập mệnh của người tỉnh thức là hiện tại. Những kỷ niệm vui buồn quá khứ chỉ còn là những viễn ảnh mờ xa rơi rớt lại trong ký ức. Những dự hướng tương lại chưa đến chỉ là những bóng ma của hư tưởng. Một cuộc vui nào rồi cũng phải qua đi. Một nỗi buồn nào rồi cũng phải nhạt theo năm tháng.

Cổ Đức có dạy: "Thời gian tợ tên bắn, ngày tháng như thoi đưa. VÔ THƯỜNG chóng qua mau, gắng gỗ chớ dần dà! Ngày tháng cứ thản nhiên trôi qua, mạng sống cũng theo đó dần dần đoạn giảm, như cá thiếu nước, nào có vui gì...". (Quang âm tợ tiễn, nhựt nguyệt như toa, VÔ THƯỜNG tấn tốc, thiết mạc ta đà!. Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...).

Trong một giây có đến 125 triệu tế bào chết đi, nhường chỗ cho 125 triệu tế bào khác sinh ra, trong ấy thực không thể tìm thấy "cái Tôi". Theo đây, luật VÔ THƯỜNG bình đẳng đối với tất cả chúng sanh (5 uẩn), dầu là kẻ sang người hèn, kẻ ngu người trí.

Quỷ VÔ THƯỜNG tuy không thấy hình dạng nhưng có khả năng làm mạng căn con người chết dần mòn. Sự nhận diện thường trực nơi tất cả mọi đổi thay chuyển dời của cuộc sống không phải để đi đến bi quan chán đời, mà là sự nhận diện cần thiết nhằm thực hiện sự chuyển hóa nơi tâm thức, vốn là sự mê lầm cố hữu đang đè nặng lên thân phận kiếp người, bình tâm mà nhận xét, vui thú thế gian tuy tạm bợ mong manh nhưng vẫn có hấp lực phi thường, hấp lực đó cũng chính là ma lực vô hình dẫn dắt chúng sanh trôi lăn theo sáu nẻo. Chúng sanh chịu khổ sanh tử không khác nào con tằm mùa Xuân kéo tơ làm kén tự trói buộc mình, cũng như con thiêu thân tự lao vào đèn chịu cái họa chết thiêu. Nếu như không đủ phước duyên gặp minh sư dẫn dắt thì làm sao tỏ ngộ được chánh pháp.

Cổ đức dạy: "Tuy sống một trăm năm như trong khoảng sát na, như lượn sóng rút về biển Đông, như ánh sáng còn sót lại của buổi chiều tà, như đánh đá nhà lửa, như ngựa câu thoáng qua khe cửa, như ngọn đèn trước gió, như giọt sương sớm mai trên đầu ngọn cỏ. Nếu không gặp được chánh pháp, ắt phải chịu vĩnh kiếp trầm luân!".(Tuy niên bách tuế du nhược, sát na, như đông thệ chi trường ba, tợ tây thùy chi tàn chiếu, kích thạch chi tinh hỏa, sậu khích chi tấn câu, phong lý chi vi đăng, thảo đầu chi triêu lộ. Nhược bất ngộ ư chánh pháp, tất vĩnh đọa ư ư đồ hỷ!).

Một tâm thức mê mờ quay cuồng trong cảnh sống say chết mộng thêu dệt nên hoàn cảnh sống, trong đó mình là tác giả. Thế nên KINH HOA NGHIÊM cho rằng tâm chính là một đại danh họa, họa ra thân năm uẩn và thế giới y báo:

"Tâm như người thợ vẽ
Vẽ mỗi mỗi ngũ uẩn
Trong tất cả thế giới
Đều do tâm tạo tác".
(Tâm như công họa sư
Hỏa chủng chủng ngũ uẩn
Nhất thiết thế giới trung
Giai do duy tâm tạo).


VÔ THƯỜNG thuộc "yếu tố thời gian" là một diễn trình đi từ NHÂN đến QUẢ. Diễn trình đó nơi "chúng sanh hữu tình" thì biểu hiện thành SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT; nơi "các pháp" thì có SINH, TRỤ, DỊ, DIỆT; nơi "thế giới" thì có THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG. Sự thay đổi của bốn mùa, sự di chuyển của các hành tinh, vệ tinh cũng không ra ngoài quy luật của diễn trình đó. Thế giới vĩ mô, thế giới vi mô và thế giới trung bình cũng cùng một loại. Hễ có thành ắt có hoại, có hợp ắt có tan. Người quán thông lý VÔ THƯỜNG thì liền dừng, ấy là người tỉnh, người giác. Cái thực vĩnh cửu vốn vô hình vô tướng, còn cái hữu hình hữu tướng chỉ là giả tạm. Nhưng sự sống vĩnh hằng cũng không thể tìm ngoài cái VÔ THƯỜNG ảo mộng. Hãy bình thường trong mọi hoạt dụng của cuộc sống, và tìm cách giải thoát ngay trong cảnh bình thường đó.

Xin thay lời kết thúc bằng đoạn thơ của Thiền sư Thanh Đàm, thuộc đời thứ 42, tông Tào Động, khoảng đầu thế kỷ thứ 19:

"Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật
Công phu luống uổng một đời ai"


Quote:
Lynn Ly chú thích:

Quy trình THÀNH-TRỤ-HOẠI-DIỆT còn được gọi là THÀNH-TRỤ-HOẠI-KHÔNG hay SANH-TRỤ-DỊ-DIỆT, hoặc SINH-LÃO-BỆNH-TỬ là mô tả diễn tiến sinh ra , phát triển, suy thoái và hủy diệt hay tan biến . Diễn tiến này còn gọi tóm tắt là "Vô Thường" (sự hoán chuyển biến đổi, không ngừng về hình tướng, về trạng thái) của vũ trụ, của muôn loài vạn vật ... Vòng xoay của sự hoán chuyến biến đổi không ngừng nghỉ này thì nằm trong luật "TUẦN HOÀN NHÂN QUẢ" (Nhân nào thì Quả đó; khi Nhân (hạt giống) mà hội đủ Duyên (điều kiện về không gian và thời gian) thì sẽ kết Quả )

Lý "Vô Thường" là Đức Phật thuyết giảng cho các đệ tử về "TƯỚNG" , còn "Chân Thường Bất Biến" là Đức Phật thuyết giảng về "TÁNH", là điều mà các đệ tử phải "Quán Tự Tại", bản lai diện mục để thấy được "TÁNH" của mình . Bản thể của "TÁNH" vốn không sinh nên không diệt!!!

Muôn loài vạn vật trong vũ trụ được Đức Phật thuyết giảng là phân làm 2 loại :
  • Loài Hữu Tình: là chúng sanh , là loài vật/ động vật; và người là 1 trong số những động vật ít bị "U Minh" chùm phủ dầy đặc như các loài vật khác. "Loài Hữu tình" thì có (Phật) "TÁNH" và (Phật) "TÁNH" hoàn toàn đều giống nhau ; Cho dù hình tướng, thể trạng có nhiều khác biệt nhưng (Phật) "TÁNH" hoàn toàn không khác biệt; Nguyên nhân những khác biệt là do bị "U minh" chùm phủ dầy mỏng nên không hiển bày được (Phật) TÁNH mà thôi.
  • Loài Vô Tình: là nói về tĩnh vật, là cây cỏ, sông núi ..v...v... ; "Vô Tình" tình thì không có có Phật TÁNH .

Tóm lại thì "Vô Thường" thì nói về "TƯỚNG" của cả hai loài "Hữu Tình" và "Vô Tình", còn "Chân Thường Bất Biến" thì nói về (Phật) "TÁNH" của loài "Hữu Tình".


Xem Thêm:

Edited by user Wednesday, January 1, 2014 8:33:18 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#4 Posted : Thursday, January 2, 2014 8:44:29 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

UserPostedImage

Khi ta đến thế gian này với đôi bàn tay trắng
Khi ta rời bỏ thế gian này cũng là trắng đôi tay ...
Nhưng những ác nghiệp hay thiện nghiệp (Quả báo) do ta tạo ra ...
sẽ luôn theo ta khi đến và khi đi, như bóng theo hình !!!






Xem Thêm:

Edited by user Tuesday, January 7, 2014 7:12:46 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#5 Posted : Tuesday, January 7, 2014 7:13:22 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)


UserPostedImage





Xem Thêm:



"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#6 Posted : Friday, August 14, 2015 2:34:21 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ... Lạy Phật Tổ soi đường dẫn lối .

TRIẾT LÝ NHÀ PHẬT: Đời là Vô Thường


Diễn Đọc : Thy Mai, Hùng Thanh
Kỹ thuật âm Thanh: Hùng Minh

Link trực tiếp : https://www.youtube.com/watch?v=jxmx0itlhnc




Xem Thêm:

Edited by user Saturday, August 22, 2015 7:52:26 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#7 Posted : Saturday, August 22, 2015 7:53:42 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
PHẬT TỬ và THỜI GIAN


"MỘt ngày trôi qua, thọ mang giảm bớt một ngày ..."
Đừng để 1 ngày trôi qua vô ích ... Hãy chân thật sống thật ý nghĩa và lợi ích ...


link trực tiếp: https://www.youtube.com/watch?v=RFNMyBTBg_c




Xem Thêm:

Edited by user Saturday, August 22, 2015 7:54:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#8 Posted : Thursday, January 12, 2017 9:49:01 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
CẢNH TỈNH VÔ THƯỜNG
Trích từ TỊNH ĐỘ VỰNG NGỮ - Tổ Sư Liên Trì


Ngài Thiện Đạo nói:

“Da mồi tóc bạc lần lần
Lụm cụm bước run mấy chốc
Dù sang vàng ngọc đầy nhà
Vẫn khổ suy già bệnh tật.
Ví hưởng khoái lạc nghìn muôn
Đâu khỏi vô thường chết mất?
Duy có đường tắt thoát ly
Chỉ niệm A-di-đà Phật!”.


Lời nói ấy của ngài Thiện Đạo thật đúng là: “MUÔN THỨ KHÔNG ĐEM ĐƯỢC, CHỈ CÓ NGHIỆP THEO MÌNH”.

THẾ NÀO LÀ MUÔN THỨ KHÔNG ĐEM ĐƯỢC? Trong đời người, tất cả quan tước, vàng bạc, nhà cửa, ruộng vườn, ẩm thực, y phục, vật quý báu, cho đến vợ đẹp con yêu nhưng vô thường đến rồi thì đem theo được vật gì?

THẾ NÀO LÀ CHỈ CÓ NGHIỆP THEO MÌNH? Con người tạo ra những nghiệp tham, sân si, gian dâm trái với lễ giáo, mặc tình sát sinh, làm con trái nghịch với cha mẹ, làm tôi lừa dối vua, thầm hạ độc hại người vật, biết bao nhiêu nghiệp ác. Khi vô thường đến rồi, những thứ ấy đều khắn chặt theo ông. Đã vậy, nếu không mạnh mẽ tỉnh giác xoay đầu sửa ác làm lành, rửa lòng niệm Phật, há chẳng phải được thân người suông mà hoang phế một đời sao? Thật khổ thay! Thật khổ thay!
  • Một là người hoàn toàn rảnh rỗi, phải nên bất kể ngày đêm nhất tâm niệm Phật.
  • Hai là người không bận lắm, thì làm việc xong rồi nên lập tức niệm Phật.
  • Ba là người rất bận rộn, cần phải tranh thủ thời giờ niệm Phật mười niệm.
  • Lại nữa, người giàu sang, tiện nghi đầy đủ chính là lúc niệm Phật. Người bần cùng, giữ phận an bần, chính là lúc niệm Phật.
  • Người có con cháu được chúng thay thế làm việc, chính là lúc niệm Phật. Người không con cháu, tâm không ràng buộc chính là lúc niệm Phật.
  • Người không bệnh thân thể khỏe mạnh, chính là lúc niệm Phật. Người có bệnh, biết mình không lâu sẽ chết, chính là lúc niệm Phật.
  • Người thông minh thấu hiểu kinh điển đạo lý, chính phải nên niệm Phật. Người ngu độn không có hiểu biết tạp nhạp, chính phải nên niệm Phật.

Tóm lại, dù ở cõi trời hay tại nhân gian, chúng sinh trong bốn loài chín cõi, đều nên niệm Phật. Kính khuyên người đời sao chẳng thừa lúc tứ đại chưa tan rã mà mau chóng niệm Phật. Đợi đến khi “MUÔN THỨ KHÔNG ĐEM ĐƯỢC, CHỈ CÓ NGHIỆP THEO MÌNH”, chừng ấy, áo não hối hận đâu còn kịp nữa!



Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#9 Posted : Sunday, March 19, 2017 2:47:32 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Nghe thuyết giảng của Thiền Sư AJAHN CHAH, Ngài khai thị cho 1 người lúc lâm chung, lúc giao điểm "Sinh-Tử" thì cảm nhận mãnh liệt động lực thúc đẩy Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni khi ngài nhìn thấy quy luật "Sinh-Lão-Bệnh-Tử" ... Đức BổN Sư đã từ bỏ tất cả để tìm kiếm và cuối cùng tìm ra 1 phương cách để "sống không khổ, già không khổ, bệnh không khổ và chết không khổ" cho chúng sanh, 1 phương cách tu rèn tâm thái "An nhiên tự tại", cảnh giới "an trú" trong "chân tâm trí tuệ" (Niết Bàn) !!!

Video Clipr chỉ dài 30' nhưng chỉ bày phương pháp hữu hiệu để luyện tâm "ung dung xả Ly, ung dung đón nhận và ung dung xả bỏ" để không cảm giác "khổ đau hối tiếc" ...v.v...

SỐNG GỬI THÁC VỀ - THIỀN SƯ AJAHN CHAH

https://www.youtube.com/watch?v=0o6QT1VTnP8










Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

Edited by user Sunday, March 19, 2017 2:50:08 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#10 Posted : Tuesday, May 2, 2017 5:58:04 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)

Nhân sinh vạn thuở mãi ganh đua
Quay cuồng một kiếp cố được thua
Trăm năm ánh chớp qua như mộng
Mới hay thế sự thảy trò đùa
Hữu Bằng




Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#11 Posted : Tuesday, May 9, 2017 5:30:16 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG
Nghe để an nhiên tự tại, thản nhiên trước mọi nghịch cảnh ...


Link trực tiếp: https://www.youtube.com/watch?v=a8ldnMgkXhI






Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

Edited by user Wednesday, May 10, 2017 7:53:45 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#12 Posted : Thursday, May 18, 2017 4:05:09 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
VÔ THƯỜNG

Thuyết Giảng: Thích Giác Thiện
Diễn đọc: Huy Hồ, Chiếu Thành


https://www.youtube.com/watch?v=lkOL6v4XTqk






Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#13 Posted : Sunday, May 28, 2017 12:49:18 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Khi lâm chung, lúc cận tử ... người Phật Tử cần kiên cố gìn giừ tâm tưởng của mình , phải nghĩ là "mọi thứ đều hư vọng" để dũng mành "xả bỏ" tất cả ... đừng luyến tiếc gì . Nếu khởi tâm luyến tiếc gì thì sẽ không vượt qua được Luân Hồi, không đến được "trường học Phật" - nơi thế Giới Tây Phương Cực Lạc có Phật A Di Đà - cõi thanh tinh an vui , nơi được làm bạn với các Bồ Tát , được hỗ trợ tu tiếp cho đến khi thành Phật . Tu hành ở cõi Tây Phương muôn vàn lần tốt hơn bất cứ thế giới nào . Khi thành Phật rồi thì xoay về thế giới này cứu độ chúng sanh !!!

TRỜI ĐÃ XẾ BÓNG, ĐƯỜNG VỀ CÒN XA


https://www.youtube.com/watch?v=TWIb39udT6o






Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#14 Posted : Monday, May 29, 2017 3:15:03 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
"Khi ta đến thế gian này với đôi bàn tay trắng;
Khi ta rời khỏi thế gian này cũng chỉ trắng đôi tay.
Tuy nhiên Thiện nghiệp và Ác nghiệp sẽ theo ta đến và đi,
Như bóng theo hình , như âm vang theo tiếng"


Cho nên phải nhớ rằng:

"Muốn biết NHÂN đời trước, xem thọ báo đời này .
Muốn biết QUẢ đời sau, xét việc hiện đang làm"




"Thiện lai, Thiện báo, Ác lai, Ác báo;
Cao bay, xa chạy cũng không thoát được:


Sau đây là 1 câu truyện lưu lại của người xưa về "Nhân Sanh Cảm Ngộ" !!!

ĐỜI NGƯỜI NHƯ MỘT GIẤC MỘNG


Bạn đã bao giờ tự hỏi mình: Ta là ai? Ta từ đâu đến, rồi sẽ đi về đâu? Đời người bất quá chỉ là mấy chục năm ngắn ngủi, trôi qua trong nháy mắt. Vậy mà chúng ta miệt mài tranh đấu ngược xuôi vì danh, vì lợi, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ có cảm nghĩ gì khi biết rằng “ĐỜI NGƯỜI CHỈ NHƯ MỘT GIẤC MỘNG ẢO”?

Tiền Vịnh tự là Lập Quần, Mai Khê, tên hiệu là Thai Tiên, người Giang Tô sinh sống ở Thường Thục. Ông là vị học giả nổi danh của triều nhà Thanh, giỏi về nghiên cứu và khắc bia đá, kim loại và sáng tác.

Một ngày, Tiền Vịnh ở trong mộng thấy mình đi vào trong đại viện của một tòa nhà cao tầng, lầu gác cao chót vót. Một người hầu ra chào đón ông, ngoài ra hai bên còn có rất nhiều tôi tớ. Vợ ông cùng một số thê thiếp từ trong nhà đi ra nói: “Hai đứa con trai của chúng ta vào kinh dự thi còn chưa về. Từ lúc tướng công rời khỏi nhà, trong nhà chúng ta có tin vui, ba tiểu muội đều mang thai con trai. Cả nhà chúng ta đều khỏe mạnh, an khang. Đây thực sự là hạnh phúc!”

Tiền Vịnh đi vào trong nhà, chỉ thấy tiền bạc chất cao như núi, không đếm xuể. Đột nhiên, một người hầu già từ ngoài chạy vào cấp báo, hai đứa con trai của Tiền Vịnh đều đỗ điểm cao đứng đầu kỳ thi. Sau khi tỉnh mộng, Tiền Vịnh vẫn cảm nhận thấy dư vị của hết thảy những điều vừa xảy ra như ở trong thực tại.

Mấy ngày sau, Tiền Vịnh lại nằm mộng. Trong giấc mộng, Tiền Vịnh đang thưởng thức báu vật cùng với một người giàu có. Báu vật ấy là bức thi họa cùng với một đôi uyên ương bằng ngọc vô giá. Khi Tiền Vịnh đang cầm trên tay đôi uyên ương bằng ngọc ấy thì vô tình sẩy tay làm rơi xuống đất khiến nó vỡ tan. Người giàu có tức giận, Tiền Vịnh quỳ xuống đất nói rằng sẽ đền bù đầy đủ.

Nhưng sau khi Tiền Vịnh bán hết của cải và nhà đất đi thì vẫn không đủ số tiền để đền bù. Ông đến chỗ những người bạn cũ để mượn tiền nhưng không có một ai cho ông mượn. Kể từ đó, Tiền Vịnh rơi vào tình cảnh khốn cùng, đói khổ lạnh lẽo, vợ của ông cũng xanh xao gầy yếu, quả thực là không thể coi được.

Sau khi tỉnh lại, Tiền Vịnh thấy mình đã trải qua hai cuộc đời giàu sang phú quý và bần cùng, được và mất, đắc ý, mãn nguyện và thất ý, ngã lòng, Tiền Vịnh bùi ngùi thốt lên rằng: “NHÂN SINH NHƯ MỘNG!” (ĐỜI NGƯỜI NHƯ MỘNG). Ông làm thơ rằng: “Nhân sinh như giấc mộng ảo, một khi chết đi thì mới tỉnh mộng. Cần gì phải lo lắng được – mất?”

Kỳ thực, giới tu luyện xưa nay đều cho rằng, cả đời của một người thực sự giống như một giấc mộng ảo. Sinh mệnh luân hồi, nguyên thần bất diệt, đời người bất quá cũng chỉ mấy chục năm, công danh nhiều hay ít thì cũng chỉ như mây khói, chẳng mấy chốc lại lướt qua. Vậy thì việc tranh đấu vô tận, chấp trước và phiền não ngoài việc tạo nghiệp, làm tổn thương thân thể ra thì đâu có thể thay đổi được vận mệnh của mình?

Ở trong vòng tuần hoàn luân hồi của sinh mệnh ấy, chỉ có “đức” và “nghiệp lực” là hai loại vật chất mà đời đời kiếp kiếp đi theo nguyên thần mà thôi.

Mai Trà biên dịch theo Secretchina






Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

Edited by user Monday, May 29, 2017 3:19:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#15 Posted : Thursday, June 1, 2017 12:55:16 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Sau đây là bài "khai thị" của Thiền sư Ajahn Chah cho 1 vị phật tử lúc sắp lâm chung . Lời ngài chỉ bảo thật quý giá . Đây là cách vận dụng "thiền tâm", thanh lọc mọi tạp niệm , buông xả mọi tham cầu trong từng hơi thở trước lúc lâm chung . Phương pháp rất thực tiễn và rất quan trọng cho bất kỳ ai khi sắp trút bỏ thân xác trong từng hơi thở cuối cùng ...

Bổn Sư Thích Ca từng hỏi các đệ tử là : "Đời người dài bao nhiêu ?" và Ngài trả lời là "Đời người dài bằng 1 hơi thở", khi thở ra mà không hít vào được thì là đã kết thúc 1 đời ... rồi thì hoán chuyển sang đời khác , sang hình tướng khác !!! Và rồi do "Nhân-Quả" nghiệp lực lôi kéo mà định đoạt hóa sanh chuyển thế ra sao ... ngay cả việc đầu thai quay lại làm người thì cũng dựa vào "Nghiệp báo" thiện ác ...

Người có Phúc báu thì được sanh vào nhà Đế Vương,
Người không có Phúc báu thì bị sanh vào nhà hạ tiện.
Người tạo được Phúc báu thì có cái "chết thiện chung" (Chết An Lành)
Người không tạo được Phúc báu thì bị "chết thảm".



Câu nói này được lưu truyền hơn mấy ngàn năm và cũng được minh chứng rõ ràng ... Rất nhiều người tận mắt thấy tận tai nghe, không phải câu nói lưu truyền "vô căn vô cớ" !!! Bổn Sư Thích Ca và sau ngài rất nhiều thiền sư, các bậc thiện tri thức , các đại thiện nhân cũng đã lấy thân mình làm "gương mẫu" minh chứng câu nói lưu truyền này !!!


"SỐNG GỬI THÁC VỀ” (SINH KÝ TỬ QUY)
Đại Sư / Thiền Sư : Ajahn Chah


Trong bài này Đaị sư Ajahn Chah, một vị sư Thái lan có lối giảng dậy thật giản dị, chân thực đã thu hút được nhiều đệ tử tây phương, nói chuyện với một nữ đệ tử già yếu đang sắp chết. Bằng một giọng trầm tĩnh sâu xa, đại sư nhắc lại cho bà nghe về lý vô thường, và dạy những phương tiện để đối phó với những đau khổ -- trước tiên là niệm chú, rồi tập trung tư tưởng vào hơi thở. Niệm chú ở đây không có ý nghĩa thần bí gì, mà chỉ là dùng những câu nói có năng lực tốt lành diệu dụng để bảo vệ tâm trí khỏi những khởi niệm về trạng thái đau khổ của một người đang nằm trên giường bệnh. Khi tâm dần dần lìa khỏi những khởi niệm tự phát nơi thân và bắt đầu cảm nhận được những năng lực tốt lành, sự lo sợ sẽ tan đi và thay vào đó là một trạng thái an tĩnh đủ để cho tâm tập trung được vào nhịp lên xuống của hơi thở.

Chú ý vào hơi thở để đạt được sự tỉnh thức là một phương pháp căn bản nhất trong các cách thiền của đạo Phật, và được áp dụng trong tất cả mọi truyền thống tu. Sự vận chuyển tự nhiên, tự phát của hơi thở là một biểu lộ thật tự nhiên và liên tục về sự giản dị của giây phút này, tại nơi đây. Có hai từ ngữ tiếng Phạn được dùng đến, dharma và samskara. Chữ Dharma (Pháp) thường được dùng nhiều nhất như một phần của chữ Phật Pháp. Nó có nghĩa gần như là "con đường" (đạo) hay "sự bình thường". Nhưng trong những kinh điển Phật giáo từ ngữ này thường được dùng đến để chỉ mọi hiện tượng hay sự vật. Tất cả những gì có thể là đối tượng cho sự chú ý của tâm đều gọi là pháp (dharma). Samskara trong nghĩa hẹp hơn, chỉ cho một tác động tinh thần , trong nghĩa rộng là bất kỳ một sự hình thành nào do nhân duyên hợp. Điều đó bao gồm tất cả những gì khởi lên. Và Đức Phật đã thường xuyên nhắc nhở các đệ tử rằng: "tất cả những gì theo duyên khởi cũng đều theo duyên diệt".

Con hãy kính cẩn nghe những lời Pháp sau. Trong khi thầy nói, hãy chú tâm nghe như con đang nghe chính Đức Phật nói trước mặt con vậy. Hãy nhắm mắt lại và thư giãn tâm thân, tập trung tư tưởng. Cung kính hướng về Tam Bảo cầu cho tâm con được chân, trí, tịnh để tỏ lòng thành kính đến Bậc Toàn giác.

Hôm nay thầy không đem đến những gì vật chất cho con, mà chỉ đem đến những lời Pháp, những lời dậy của Đức Phật. Hãy nghe kỹ đây. Con phải hiểu rằng ngay Đức Phật với phước huệ vô biên cũng không thể tránh được cái chết. Khi Phật đến tuổi già ngài đã buông bỏ cái xác thân già yếu và những gánh nặng của nó. Bây giờ con cũng phải tập bằng lòng với những tháng năm con đã ở trong thân xác này. Con phải cảm thấy rằng như vậy là cũng đủ rồi.

Con có thể so sánh thân như những vật gia dụng đã dùng đến lâu năm-- những ly tách, đĩa bàn v.v... Khi con mới có chúng, trông chúng thật là sạch sẽ và bóng láng, nhưng bây giờ, sau một thời gian dài đã dùng lâu, chúng bắt đầu mờ xấu đi. Có cái đã vỡ rồi, có cái thì mất đi, và những cái còn lại cũng tàn tạ dần, chúng không giữ mãi được hình dạng cũ, và đó là bản chất của chúng. Thân của con cũng như vậy -- nó thường xuyên thay đổi ngay từ ngày con chào đời, trải qua tuổi thơ ấu và thiếu niên, cho đến tuổi già hiện nay. Con phải chấp nhận điều đó. Phật đã nói rằng những duyên hợp (samskaras), dù là duyên hợp trong tâm, thân hay ở ngoài, đều là vô ngã, bản chất của nó là luôn luôn thay đổi. Hãy quán chiếu trên chân lý này cho đến khi con thấy được điều đó rõ ràng.

Khối thịt đang nằm đây suy hoại chính là satyadharma, là sự thật. Sự thật của thân xác này là satyadharma, là cái lý bất biến Phật đã hằng dậy . Đức Phật dậy chúng ta nhìn vào thân xác này, quán tưởng về nó và nhìn nhận bản chất của nó. Chúng ta phải chấp nhận thân xác mình, dù nó có ở tình trạng nào đi nữa. Phật dậy rằng chỉ có thân xác là bị giam hãm thôi và chúng ta đừng để cho tâm minh bị giam hãm chung với nó. Bây giờ thân xác con bắt đầu suy hoại với thời gian, đừng chống lại sự kiện đó, nhưng đừng để tâm trí mình bị suy hoại theo, hãy giữ tâm mình riêng biệt. Cho tâm thêm năng lực bằng cách nhận thức được sự thật của mọi pháp. Phật dậy rằng bản chất của thân là như vậy, sanh ra , già yếu đi, mang bệnh rồi chết, không thể nào khác hơn được. Đó là một sự thật lớn mà con đang gập phải đây. Hãy nhìn thân xác mình với trí tuệ và nhận thức được sự thật đó.

Ngay cả khi nhà con đang bị đe dọa bởi bão lụt hay lửa cháy , dù hiểm nguy ấy có đến cỡ nào, cũng chỉ cho nó ảnh hưởng đến cái nhà thôi. Nếu có bão lụt, đừng để nó ngập lụt tâm mình. Nếu có lửa cháy, đừng để cho lửa cháy tâm mình, mà chỉ cháy nhà thôi, chỉ những gì bên ngoài mình mới bị ngập lụt và cháy thôi. Hãy để tâm buông xả khỏi những ràng buộc. Thời điểm đã đến rồi.

Con đã sống một thời gian lâu dài. Mắt con đã thấy được nhiều hình sắc, tai con đã nghe bao nhiêu là thanh âm, con đã có bao nhiêu là kinh nghiệm trong đời. Và chúng chỉ là thế thôi-- chỉ là những kinh nghiệm. Con đã ăn biết bao nhiêu của ngon vật lạ, và tất cả những vị ngon đó chỉ là vị ngon, thế thôi. Những vị dở cũng chỉ là những vị dở, thế thôi. Nếu mắt có thấy một bóng hình đẹp, thì đó cũng chỉ là một bóng hình đẹp, thế thôi. Một hình dạng xấu cũng chỉ là một hình dạng xấu. Tai có nghe những âm thanh hấp dẫn, du dương thì cũng chỉ là như thế, không có gì hơn. Một âm thanh khúc mắc, chói tai thì cũng chỉ là một âm thanh thế thôi.

Đức Phật dậy rằng mọi chúng sinh dù là người hay là thú , dù giầu hay nghèo, già hay trẻ, không ai là có thể tồn tại lâu dài mãi mãi trong một tình trạng , mọi thứ đều sẽ phải thay đổi và xa rời đi. Đó là một sự thật của đời sống mà chúng ta chẳng thể nào sửa đổi được. Nhưng Phật nói điều chúng ta có thể làm được là quán tưởng về tâm và thân này để thấy sự vô ngã của nó, để thấy rằng chúng không phải là "ta" hay "của ta". Chúng chỉ là những thực tại tạm thời. Cũng như cái nhà này, nó là chỉ của con trên danh nghĩa, con không thể đem nó theo đi đâu được. Cũng như những tài sản, những của cải này và gia đình thân quyến-- tất cả cũng chỉ là của con trên danh nghĩa, họ không thực sự thuộc về con, họ thuộc về thiên nhiên. Chân lý này không phải chỉ áp dụng cho riêng con, tất cả mọi người đều phải chịu như vậy, kể cả Phật và những vị đệ tử đã giác ngộ của ngài. Nhưng họ khác biệt chúng ta ở một điểm, đó là họ nhìn mọi việc theo đúng sự thực của chúng, họ thấy rằng nó là như vậy, và không thể nào khác hơn được.

Như vậy Đức Phật đã dậy chúng ta phải quán chiếu trên thân này, từ gót chân lên đến đỉnh đầu và rồi lại trở xuống chân . Hãy nhìn lại thân mình xem, ta thấy những gì? Có cái gì tự nó là thanh tịnh không? Cò thấy có chất gì thường tồn không? Thân xác này thường xuyên suy hoại dần và Phật dậy rằng nó không thuộc về chúng ta. Nhưng đó là cái lẽ tự nhiên, vì tất cả mọi hiện tượng do duyên hợp đều phải thay đổi. Ta còn muốn nó như thế nào bây giờ? Thật ra thân xác phải như vậy cũng không có gì là sai lầm . Điều làm ta đau khổ không phải là thân này, mà chính là sự suy nghĩ sai lầm. Khi ta nhìn điều phải một cách sai trái, thế nào cũng có sự lầm lạc.

Xem như nước trên giòng sông. Nước chẩy xuôi xuống từ nguồn, nó không bao giờ chẩy ngược, bản chất nó là như vậy. Nếu có một người nào đó đứng trên bờ sông nhìn giòng nước chẩy mà lại điên rồ muốn nó chẩy ngược lại, thì hắn sẽ phải chịu đau khổ. Có làm gì đi nữa, tâm hắn cũng phải khó chịu vì sự suy nghĩ sai lạc này. Hắn sẽ cảm thấy không vui vì quan niệm muốn nước chẩy ngược lại của hắn là sai lầm . Nếu có chánh kiến, hắn sẽ thấy là nước tất yếu sẽ phải chẩy xuôi từ nguồn và cho tới khi hắn nhận thức và chấp nhận được điều đó, hắn sẽ còn phải chịu những bực bội và bất an.

Giòng nước sông chẩy xuôi từ nguồn cũng ví như thân xác. Thân xác con đã có thời trẻ trung, bây giờ nó già đi và đang tiến dần đến cái chết. Đừng mơ ước điều gì khác hơn. Đó không phải là điều chúng ta có khả năng sửa đổi được. Đức Phật dậy chúng ta phải thấy rõ mọi sự là như vậy và xả bỏ đi những ràng buộc. Hãy an trú nơi tâm niệm buông xả này. Tiếp tục thiền định dù cho con có cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức. Thở một hơi dài và tập trung tư tưởng nơi câu niệm phật. Hãy tập làm điều này cho thành thói quen. Càng mệt mỏi lại càng phải chuyên chú tập trung tư tưởng để có thể đương đầu với những cảm giác đau đớn dâng lên. Khi bắt đầu thấy mệt, hãy ngừng ngay những vọng tưởng, để tâm trí tập trung vào hơi thở. Hãy chuyên chú niệm Phật trong tâm. Xả bỏ đi những vấn đề bên ngoài. Đừng vướng mắc vào những suy tư về con cái, bà con thân thuộc, đừng bám víu vào bất cứ một cái gì. Hãy buông xả, nhiếp tâm theo dõi vào hơi thở. Tập trung hoàn toàn vào hơi thở cho đến khi tâm càng lúc càng trở nên tinh tế hơn, những cảm thọ mờ dần và chỉ còn lại một trạng thái tỉnh thức và sáng suốt. Khi đó những cảm giác đau đớn dâng lên sẽ tự lắng xuống dần. Cuối cùng, con sẽ xem hơi thở như một người thân đến thăm viếng con. Khi tiễn biệt một người thân, chúng ta đi ra nhìn theo cho đến khi khuất bóng rồi mới trở vào trong nhà. Chúng ta cũng theo dõi hơi thở như vậy, Nếu hơi thở thô phù, ta biết đó là thô phù, hơi thở vi tế, ta biết đó là vi tế. Cho đến lúc hơi thở càng ngày càng nhẹ đi, chúng ta vẫn tiếp tục theo dõi trong khi giữ cho tâm mình được tỉnh táo . Dần dần tâm sẽ không nhận thức về hơi thở nữa mà ở trong một trạng thái tỉnh thức hoàn toàn. Cái đó gọi là "tri kiến Phật". Sự tỉnh thức và sáng suốt trong tâm ta ấy gọi là "Phật", chỉ cho tính giác ngộ, linh mẫn, trí huệ. Đây là sự ngộ nhập tánh Phật, trong sự hiểu biết và sáng suốt. VÌ tuy Đức Phật lịch sử bằng xương thịt đã nhập Niết bàn rồi, Đức Phật thật sự tức Phật tánh với trí tuệ quang minh vẫn có ở trong ta và ta vẫn có thể kinh nghiệm và ngộ nhập được, và khi chúng ta đạt tới đó, ta sẽ thấy rằng tâm và Phật cũng là một.

Văy con hãy buông xả, quên đi hết mọi sự để chỉ còn sự hiểu biết sáng suốt trong tâm. Đừng bị mê hoặc nếu có những ảo giác hay âm thanh khởi lên trong tâm trí con lúc thiền định. Hãy xả bỏ chúng đi, đừng ôm ấp bất cứ điều gì. Chỉ an định tâm nơi trạng thái không đối đãi này. Đừng lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy để tâm tĩnh lặng và con sẽ đạt được trạng thái của tính "không" trong đó không có tiến hay thoái, không có sự ngừng lại, không có gì để bám víu hay ràng buộc vào. Tại sao? Vì không còn có bản ngã, không còn cái "tôi" hay "của tôi". Tất cả đều đã tan biến đi rồi.

Đức Phật dậy chúng ta phải buông xả hết mọi sự như vậy, không còn vương mang một điều gì hết. Buông bỏ mọi sự đi, sau khi ta đã hiểu biết chúng rồi.

Thực hiện được Pháp, con đường đưa đến sự giải thoát khỏi vòng sanh tử, là một viêc chúng ta phải tự mình làm. Văy hãy tiếp tục buông xả và tìm hiểu được lý Đạo. Hãy dồn hết năng lực vào việc quán tưởng của mình. Đừng lo lắng gì về gia đình của con nữa. Bây giờ họ đang như thế, nhưng tương lai rồi họ cũng như con thôi. Không ai trên thế giới này là có thể trốn thoát được số phận đó. Đức Phật đã dậy chúng ta là phải buông bỏ hết mọi sự giả hợp không thật trên thế gian này. Nếu con buông bỏ được, con sẽ thấy đươc chân lý, bằng không con sẽ không thể nhận ra được. Mọi sự đều phải xẩy ra như vậy, và tất cả mọi người ai cũng phải chịu như vậy. Vậy con đừng lo lắng và đừng bám víu vào một cái gì cả.

Ngay cả khi con đang thấy mình suy nghĩ cũng không sao cả, miễn sao con biết suy nghĩ với trí tuệ. Đừng có những ý tưởng si mê. Nếu nghĩ về con cái hãy nghĩ đến chúng trong sự hiểu biết, không phải trong sự mù quáng ngu si. Tâm con hướng về đâu, hãy nghĩ đến điều đó và hiểu rõ nó, biết rõ thực chất của nó như thế nào. Nếu con có trí tuệ hiểu biết về một điều gì con có thể buông bỏ một cách dễ dàng và không còn đau khổ. Tâm của con sẽ trong sáng, an lạc, và vững chắc vì không bị phân tán. Còn ngay bây giờ thì con phải nương về hơi thở để làm phương tiện trợ giúp cho con.

Đây là việc con phải làm, không ai khác làm thế được. Để người khác làm những việc của họ. Con có những việc và trách nhiệm của riêng con và con không cần ôm lấy những trách nhiệm của người khác. Đừng gánh lấy những gì khác, hãy buông bỏ chúng hết đi. Buông bỏ đươc, tâm trí con sẽ được yên ổn. Trách nhiệm duy nhất mà con phải làm bây giờ là chuyên chú vào tâm mình và tìm cách làm cho nó được an bình. Hãy để những việc khác cho người khác lo. Sắc, thanh, hương, vị -- để lại cho người khác lo . Hãy để lại tất cả đàng sau và chỉ làm công việc con cần làm bây giờ thôi, hoàn thành trách nhiệm đối với chính con bây giờ thôi. Nếu có bất cứ cái gì khởi lên, lo sợ hay đau đớn, sự sợ hãi cái chết, hay sự lo lắng về một điều gì đó, hãy nói với nó rằng: "Đừng có làm rộn tôi. Tôi không còn can dự gì nữa." Hãy tự nhủ như vậy cho đến khi con thấy được Pháp.

Pháp có nghĩa là gì? Tất cả mọi sự đều có thể gọi là pháp. Không có cái gì mà không có pháp trong đó cả. Như vậy cái gì là "thế gian"? Thế gian chính là trạng thái tinh thần đang bị khích động của con bây giờ đây. "Người này sẽ làm gì? Người kia sẽ làm gì? Khi tôi chết rồi ai sẽ săn sóc cho họ đây? Họ sẽ xoay sở như thế nào đây?" Tất cả những điều đó là "thế gian". Ngay cả một khởi niệm lo sợ về cái chết hay sự đau đớn cũng là thế gian. Hãy buông bỏ thế gian đi! Thế gian chỉ là thế gian vậy thôi. Nếu để nó xâm chiếm vào trong ý thức, tâm trí con sẽ trở nên tối tăm và không còn nhận thấy được chính nó nữa. Vì vậy mỗi khi có khởi niệm trong tâm hãy nói rằng:"Đây không phải là việc để tôi phải bận tâm. Nó là vô thường, không đem lại sự thỏa mãn và trống rỗng".

Nghĩ rằng mình muốn được sống lâu dài sẽ làm cho ta đau khổ. Nhưng nghĩ rằng mình muốn chết ngay hay chết thật mau chóng cũng không phải là điều đúng, đó cũng là sự đau khổ. Những nhân duyên không thuộc về chúng ta, chúng đi theo những luật lệ tự nhiên của chúng. Ta không thể làm được gì với tình trạng thân thể của mình. Ta có thể làm đẹp nó một chút, làm cho nó sạch sẽ và trông hấp dẫn trong một thời gian, như những cô gái môi son má phấn và chải chuốt móng tay , nhưng khi tuổi già đến , tất cả mọi người đều ở trong một tình trạng như nhau. Đó là điều ta phải chấp nhận với thân vô thường này, ta không thể làm gì khác được. Nhưng đối với tâm trí, ta có thể cải thiện và đưa nó đến chân mỹ được.

Ai cũng có thể xây được một căn nhà bằng gạch đá và gỗ, nhưng Đức Phật dậy rằng ngôi nhà như vậy không phải là nhà đích thực của ta, nó chỉ là của ta trên danh nghĩa. Nó là căn nhà thế gian và nó sẽ đi theo con đường của thế gian. Ngôi nhà đích thực của ta là sự an bình trong tâm. Một ngôi nhà bằng vật liệu vật chất ở ngoài có thể đẹp đẽ đấy nhưng không đem lại sự an bình. Ta phải lo âu nhiều thứ về nó, hết viêc này đến việc kia phải nghĩ đến. Vì thế ta nói rằng đó không phải là mái nhà đích thực của ta, nó ở ngoài ta, sớm muộn gì ta cũng sẽ phải bỏ nó lại. Đó không phải là một nơi ta có thể ở mãi được vì nó không thực sự thuộc về ta, nó là một phần của thế gian này. Thân của ta cũng như vậy, ta tưởng rằng nó là ta, là "tôi" và "của tôi", nhưng thực sự nó không phải như vậy , nó cũng chỉ là một ngôi nhà thế gian khác mà thôi. Thân của con đã trải qua diễn tiến tự nhiên của nó từ lúc mới sanh ra cho đến bây giờ, nay nó đã già và bệnh hoạn, con không thể ngăn cấm điều đó được, đó là cái lẽ tự nhiên phải như vậy. Muốn mọi sự khác hơn sẽ ngu dại chẳng khác gì muốn một con vịt trở thành một con gà. Khi con nhận thấy điều đó không thể xẩy ra, rằng con vịt phải là một con vịt, con gà phải là một con gà, và thân con người phải già đi và chết, con sẽ tìm được sức mạnh và nghị lực. Dù con có muốn thân này tiếp tục sống và kéo dài tuổi thọ đến đâu, nó cũng không làm như vậy được.

Đức Phật nói:

Anicca vata sankhara
Uppadavayadhammino
Upajjjhitva nirujjhanti
Tesam vupasamo sukho.

Chữ sankhara (samskara) tiếng Phạn nói đến cái thân ngũ uẩn này. Thân ngũ uẩn là vô thường và bất định, vừa được hình thành xong chúng lại biến đi, vừa khởi lên chúng đã qua mất , nhưng mọi người lại cứ muốn nó thường tồn mãi mãi. Thật là điên rồ.

Xem như hơi thở, chúng vừa vào , lại phải ra ngay, đó là cái lẽ tự nhiên phải như vậy. Hít vào và thở ra là phải luân phiên với nhau, phải có sự thay đổi như vậy. Thân ngũ uẩn tồn tại qua sự thay đổi, ta không thể ngăn tránh được điều đó. Thử nghĩ xem, ta có thể thở ra mà không thở vào được không? Nếu như vậy ta có thấy tốt hơn gì không? Hay ta có thể nào chỉ có hít vào được không? Chúng ta muốn mọi vật đều thường tồn nhưng không thể nào như thế được. Một khi hơi thở đã vào trong, nó lại phải ra ngay, và khi nó ra rồi nó lại phải trở vào và đó là điều tự nhiên thôi, có phải không? Một khi đã sinh ra chúng ta sẽ phải già đi, phải mang bệnh tật và rồi chết đi, đó cũng là điều hoàn toàn tự nhiên bình thường. Đó là bởi vì thân ngũ uẩn đã làm xong việc của nó, bởi vì hơi thở ra thở vào phải luân phiên như vậy, nên nhân loại mới còn tồn tại đến ngày nay.

Ngay khi chúng ta vừa sinh ra, chúng ta đã bắt đầu chết. Sự sinh và tử của chúng ta chỉ là một. Cũng giống như cái cây: khi có rễ, tức phải có cành. Khi có cành lá, tức phải có rễ. Không thể nào có cái này mà không có cái kia. Thật là khôi hài khi con người ta mỗi khi đối diện với cái chết là đau đớn khổ sở đến mất hồn và sợ hãi, buồn rầu, trong khi lại sung sướng vui mừng khi có người được sinh ra. Đó chính là si mê: không ai đã rõ thấu đươc điều này cả. Tôi nghĩ là nếu chúng ta muốn khóc, hãy khóc khi có người sinh ra. Vì thực sự ra sinh tức là tử, mà tử tức là sinh, rễ là cành, mà cành cũng là rễ. Nếu ta cần phải khóc, hãy khóc ngay cái rễ, khóc ở nơi sự sinh ra. Hãy nhìn kỹ xem: nếu không có sinh, làm sao có tử. Con có hiểu được điều này không?

Đừng nghĩ ngợi gì nhiều. Chỉ biết là, "Mọi sự đều phải như vậy". Đó là việc của con, bổn phận của con trong lúc này. HIện tại không ai có thể giúp được con, không gì gia đình con hay của cải của con có thể làm cho con được. Chỉ có chính niệm, sự tỉnh thức mới có thể giúp con được lúc này .

Vậy đừng có ngần ngại gì nữa. Hãy buông bỏ hết cả đi.

Dù cho con có không buông bỏ, mọi sự cũng bỏ con mà đi. Con không thấy sao, trên thân thể con những bộ phận khác nhau đang dần dần suy thoái đi . Tóc con ngày nào còn đen nhánh và dầy , nay đã rụng đi. Nó đang bỏ con đi đó. Mắt con khi xưa sáng và mạnh mẽ, bây giờ mờ yếu đi . Khi những bộ phận đã kiệt lực rồi, chúng sẽ rời bỏ đi; đây không phải là nhà của chúng. Khi con còn là một đứa trẻ, răng con chắc và khỏe; giờ đây chúng lung lay; có thể con còn có răng giả nữa. Mắt, tai, mũi, lưỡi-- tất cả mọi thứ đều sẵn sàng ra đi bởi vì đây không phải là nhà của chúng. Con không thể xem thân ngũ uẩn này như nhà của con mãi mãi được, con chỉ có thể ở trong đó một thời gian ngắn và rồi lại ra đi. Cũng giống như một người ở thuê đang cố canh giữ ngôi nhà bé nhỏ của mình với con mắt đang mờ yếu dần. Răng hắn không còn tốt nữa, tai hắn cũng lãng đi, thân hắn không còn mạnh khỏe, và mọi thứ đang xa rời đi dần.

Vậy con không cần phải lo lắng gì hết bởi vì đây không phải là nhà thật của con, đây chỉ là chỗ trú ẩn tạm thời. Đã nhập vào thế giới này con phải quán tưởng đến bản chất của nó. Tất cả những gì đang hiện hữu đây rồi sẽ không còn nữa. Nhìn thân thể của con xem. Có cái gì là còn được hình dạng xa xưa của nó không? Da con có mịn như ngày nào, tóc con có xanh như thời ấy không? Không có gì còn nguyên như cũ cả. Nhưng bản chất của mọi sự là phải như vậy. Khi đã đến lúc chung cuộc, những duyên hợp phải tan rã đi. Ta không thể nào tin cậy vào thế giới này được-- đó chỉ là một vòng xoay vô tận của những xao động và phiền não, của lạc thú và niềm đau. An lạc không có ở nơi đây.

Khi chúng ta không có ngôi nhà đích thực , chúng ta là những lữ khách lang thang không mục đích, nay đây mai đó, dừng chân một nơi được ít lâu rồi lại ra đi. Khi ta còn chưa trở về nhà thực sự của mình , chúng ta sẽ còn cảm thấy bất an dù ta có đang làm gì chăng nữa, cũng như một người rời bỏ quê hương làng xóm để tha phương cầu thực. Chỉ khi nào hắn ta trở về lại nhà rồi mới có thể thảnh thơi và yên tâm được.

Trên thế giới này không đâu là có sự an bình thực sự. Người nghèo không được yên ổn, kẻ giầu sang cũng vậy. Người lớn không thấy an lạc, trẻ con cũng không an tâm, người ít học không thấy sung sướng , người học nhiều cũng vậy. Không có sự an lạc ở đâu cả. Và đó là bản chất của thế giới này.

Người không có tiền của đau khổ, nhưng người nhiều tiền cũng vậy. Trẻ con, người lớn, người già, tất cả đều đau khổ. Cái khổ của tuổi già, cái khổ của tuổi trẻ, cái khổ của sự giầu sang, và cái khổ của sự nghèo khó-- nơi đâu cũng chỉ có sự đau khổ.

Khi con quán sát mọi vật như vậy, con sẽ thấy được sự vô thường (anitya) và phiền não (duhkha). Và trong sự vô thường và phiền não, không có một thực thể nào trong mọi vật ( vô ngã, anatman).

Cái thân của con đang nằm đây đau yếu và cái tâm đang biết đến sự đau yếu đó của con đều gọi là pháp (dharma). Những gì không hình tướng như tư tưởng, cảm thọ, được gọi là namadharma. Cái thân đang đau yếu bệnh hoạn được gọi là rupadharma. Cái vật chất là pháp và cái không vật chất cũng là pháp. Như vậy chúng ta sống với pháp, sống trong pháp, và chính chúng ta là pháp. Thật sự ra không có một bản thể nào ở đâu cả, mà chỉ có những pháp liên tục khởi lên rồi diệt đi, vì bản chất chúng là như vậy. Trong mỗi giây mỗi phút chúng ta đều đang trải qua sự sanh và tử của mình. Mọi sự đều phải là như vậy.

Lưu Ly Dịch từ "Introduction to The Buddha and his Teachings"





Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

Edited by user Thursday, June 1, 2017 1:04:33 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#16 Posted : Sunday, June 11, 2017 7:47:46 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,303

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
TỪ BI TÂM là là tâm thương yêu tất cả chúng sanh, đem lại lợi ích, an vui và sẵn sàng giúp đỡ cho mọi chúng sanh; Muốn phát khởi và tăng trưởng TỪ BI TÂM việc trước tiên là "Ngừng sát sanh hại mạng" và ra sức "Phóng sanh cứu mạng" chúng sanh . VÔ THƯƠNG là sự biến đổi không ngừng , sư chuyển hóa không ngừng xoay vòng trong vòng xoáy luân hồi theo chu kỳ "Sinh-Lão-Bệnh-Tử" hay "Thành-Trụ-Hoại-Không" . Một khi chết đi không đem theo được gì , chỉ có Quả Báo Thiện Ác không xa rời "nguyên thần" (linh hồn) khi chuyển hóa mà thôi !!!

VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ - THEO SỐNG THIỀN


Khi nói đến VÔ THƯỜNG, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta cần lưu ý, đó là nói đến bản chất tự nhiên của pháp, hay nói đến nhận thức của mình về bản chất ấy. Thường thì người ta nhầm lẫn giữa nhận thức của mình về khái niệm (chế định) VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã với bản chất thật (thực tính) của pháp.

THẤY ĐƯỢC VÔ THƯỜNG (ANICCA)

Người ta thường ngồi suy nghĩ trên hiện tượng có sinh, có diệt, có đó, không đó rồi gán cho nó khái niệm VÔ THƯỜNG. Khoa học có thể đo lường được sự biến đổi VÔ THƯỜNG của hiện tượng vật lý và hóa học qua tính toán hoặc nhờ thiết bị máy móc đo đạc. Trong cuộc sống hàng ngày ai cũng thấy rất rõ hiện tượng VÔ THƯỜNG qua sự biến đổi của thời tiết bốn mùa, sự chuyển biến từ ngày qua đêm, hoặc mặt trời khi mọc, khi lặn, mặt trăng lúc tròn lúc khuyết… Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là qua lăng kính của tư tưởng, khái niệm, kiến thức về VÔ THƯỜNG, chứ chưa gọi là thực chứng VÔ THƯỜNG.

Người ta thường đồng hóa cái nhìn khoa học với cái nhìn của Phật giáo. Nhưng khoa học và Phật giáo khác nhau trong cách tiếp cận sự thật. Khoa học thì tìm hiểu và đo lường những thông tin chính xác về quy trình biến đổi – trạng thái sinh diệt VÔ THƯỜNG – trên từng đối tượng nghiên cứu, còn Phật giáo không nhằm nghiên cứu đối tượng mà chỉ khám phá, phát hiện thái độ nhận thức nội tâm đối với mọi đối tượng. Vì sự khác biệt này mà nhà khoa học tuy thấy rõ VÔ THƯỜNG mà vẫn không thể giác ngộ – giải thoát được. Trong khi Phật giáo có thể đạt được mục đích giác ngộ – giải thoát vì thái độ nội tâm không còn bị trói buộc bởi sự biến đổi VÔ THƯỜNG của muôn loài vạn vật.

Về mặt kiến thức chúng ta đều biết với thời gian ai cũng sẽ già đi, mang bệnh và cuối cùng sẽ chết. Chúng ta biết rất rõ không ai có thể thoát khỏi quy luật VÔ THƯỜNG này. Nhưng trong thực tế khi thấy mình già đi thì vẫn bắt đầu tiếc nuối, dùng mọi cách để níu kéo vẻ ngoài trẻ trung của mình. Khi thấy mình mang bệnh, lại bắt đầu hoảng sợ, vung tiền lo tìm cách chữa trị cho mau lành. Khi có người thân nhắm mắt ra đi, người yêu phản bội v.v… thì sự thương tiếc, sầu hận, khổ đau bên trong dằn vặt hàng đêm. Lý trí thì hiểu được bản chất cuộc sống là VÔ THƯỜNG, nhưng nội tâm chưa thấm nhuần sự thật này. Đối với Đạo Phật thì như vậy là vẫn chưa thực sự thấy được bản chất VÔ THƯỜNG của cuộc sống.

Tiến trình phát triển nhận thức của một chúng sinh có thể chia thành 4 mức độ như sau:

1) Hiểu NGHĨA qua khái niệm và kiến thức: chỉ mới hiểu NGHĨA qua khái niệm, kiến thức và hoạt động của lý trí như tư duy, suy luận, so lường, phán đoán v.v… trên hiện tượng, chứ chưa thấy được thực tánh (lý) của pháp ngay nơi thực tại.

2) Thấy ra LÝ qua trực nhận ban đầu: bắt đầu nhận được LÝ (sự thật) qua thể nghiệm của thấy biết (tri kiến) trực tiếp và trung thực bản chất của pháp ngay nơi thực tại.

3) Thông suốt LÝ qua thể nghiệm SỰ: khi đã nhận ra sự thật (LÝ) tức tiếp xúc với thực tánh pháp thì ngay đó bắt đầu thể nghiệm thực tại chân đế, xóa dần sự ngăn cách giữa người kinh nghiệm (bản ngã) và đối tượng được kinh nghiệm.

4) LÝ và SỰ không hai: khi sống trọn vẹn trong thực tánh chân đế thì không còn người kinh nghiệm và đối tượng được kinh nghiệm, tức là ngay nơi thực tại hiện tiền thân-tâm-cảnh LÝ và SỰ không hai. Dầu sống giữa tục đế vẫn tuỳ duyên thuận pháp, không xa rời thực tánh chân đế.

Hiểu sự biến đổi VÔ THƯỜNG qua kiến thức, rồi tự thân trải nghiệm sự biến đổi ấy, và nhờ đón nhận hoàn toàn sự thật này mà không sinh tâm ưa ghét, lấy bỏ nên có thể trực nhận thực tánh VÔ THƯỜNG với tâm rỗng lặng trong sáng. Tất cả những diễn biến này giúp tâm vừa thấy rõ sự thật vừa có thể an nhiên tự tại trong bản chất VÔ THƯỜNG của đời sống. Đó mới là thái độ thấy biết trực tiếp và trung thực bản chất VÔ THƯỜNG.

Khi chứng ngộ được thực tánh VÔ THƯỜNG, thì mới có thể không xen quan niệm của cái ta vào diễn biến VÔ THƯỜNG của các pháp. Pháp đến đi như thế nào thì thấy nó là như vậy, không giữ nó lại cũng không loại bỏ nó đi. Bởi vì “thọc gậy bánh xe pháp” chỉ làm tình huống trở nên tệ hại hơn, chỉ mang lại khổ đau và phiền não cho mình và người. Do đó, dù sống trong VÔ THƯỜNG tan hợp tâm vẫn có thể tự tại vô ngại.

Hễ còn cho pháp là thế này, muốn pháp phải là thế nọ, mong pháp sẽ là thế kia… rồi quy định, giải quyết, can thiệp, tạo tác theo ý mình thì vẫn chưa thấy VÔ THƯỜNG. Thực sự thấy VÔ THƯỜNG tức thấy pháp như nó là chứ không phải muốn nó là, nên dù có cái thường đi nữa tâm vẫn không dao động. Nghĩa là cho dù trên đời có pháp VÔ THƯỜNG hay thường thì tâm vẫn không bị chi phối, vẫn hoàn toàn bình thản, thanh tịnh.

Vì vậy trong cuộc đời VÔ THƯỜNG đừng cố gắng tìm kiếm sự vĩnh hằng (thường), cũng đừng nỗ lực tìm hiểu hiện tượng biến đổi diễn ra như thế nào, mà chỉ nên nhìn lại thái độ nội tâm khi đối diện với tất cả những biến đổi VÔ THƯỜNG ấy. Thái độ đúng là pháp biến đổi như thế nào thì chỉ thấy là như vậy chứ không cho là, phải là, sẽ là. Mọi chuyện đến đi đều thấy là pháp tự nhiên vô ngã. Đó mới chính là chứng ngộ được thực tính VÔ THƯỜNG. Còn muốn biến đổi theo ý mình, hoặc muốn thoát khỏi VÔ THƯỜNG, tức không muốn biến đổi thì đó là muốn thường chứ vẫn chưa thấy được VÔ THƯỜNG.

THẤY ĐƯỢC KHỔ (DUKKHA)

Có 3 loại khổ:

1) CÁI KHỔ TỰ NHIÊN:

Đi bộ lúc đầu thì thấy khoẻ, đi nhiều bắt đầu thấy mỏi mệt tức là khổ. Đứng ngoài nắng lúc đầu thấy ấm áp, đứng lâu bắt đầu thấy nóng nực đó là khổ. Mới ăn thì thấy rất ngon, ăn nhiều thấy khó chịu đó là khổ.

Cho nên Đức Phật mới nói: “Cái gì VÔ THƯỜNG là khổ”, trong tiến trình biến đổi VÔ THƯỜNG của các pháp ở mức độ nào đó sẽ thấy lạc mà ở mức độ khác sẽ thấy khổ. Nóng quá cũng khổ, lạnh quá cũng khổ… Cái khổ này là tự nhiên trong đời sống, không phải do tham-sân-si. Chúng là tín hiệu cảnh báo để mọi người có thể điều chỉnh lại hành vi của mình cho vừa phải, hợp hoàn cảnh và khả năng chịu đựng của mình. Thí dụ ăn vừa phải thôi, không ăn quá no, đi vừa phải thôi, không cố gắng quá nhanh quá chậm, v.v…

Cái khổ này rất hữu dụng, vì nó giúp chúng ta biết điều chỉnh nhận thức và hành vi của mình, nên đó hoàn toàn không phải là Khổ Đế trong Tứ Diệu Đế.

2) KHỔ DO NGHIỆP QUẢ:

Những việc mình đã làm trong quá khứ, bây giờ đương nhiên mình phải gặt lấy hậu quả của nó. Thí dụ hôm qua ăn uống không cẩn thận bị trúng thực nên hôm nay đau bụng quằn quại, phải nôn tháo hoài đến mệt lả. Tất nhiên là khổ rồi, nhưng có như vậy mới tống bớt độc ra để sớm hồi phục, đó cũng là một sự tự động điều chỉnh rất hiệu quả. Đồng thời qua đó chúng ta cũng học được bài học nhân quả để điều chỉnh lại nhận thức và hành vi của mình.

Khổ quả luôn tương ứng với nhân đã tạo trước đó, vì vậy một khi đã khổ tức phải là hậu quả hành vi tạo tác sai lầm của chính mình chứ không phải do bất cứ ai khác hoặc nguyên nhân nào bên ngoài. Cách tốt nhất là bình tĩnh sáng suốt và nhẫn nại đón nhận hậu quả do chính mình gây ra để thấu hiểu nguyên lý nhân quả và để biết sống thận trọng hơn.

Cái khổ này tuy có dính líu tới Khổ Đế nhưng vẫn chưa phải là Khổ Đế trực tiếp mà Đức Phật chỉ dạy trong Tứ Diệu Đế.

3) CÁI KHỔ TÂM LÝ:

Đây là cái khổ mang tính tâm lý nhiều hơn là cái đau thể xác. Cái khổ này do thái độ tâm lý sai lầm – là ảo tường – nên thực ra nó chỉ là ảo giác. Tuy vậy nó còn khổ hơn cả hai loại khổ trên nên mới gọi là Khổ Đế. Và khi giác ngộ chỉ thoát khỏi loại Khổ Đế này thôi chứ không cần phải thoát khỏi hai loại khổ kia.

Sở dĩ Khổ Đế là ảo giác vì đó là cảm xúc, cảm giác do những ảo tưởng tâm lý gọi là ái (dục ái, hữu ái, phi hữu ái) tạo ra. Thí dụ, con nhà giàu mà bắt nhai bánh mì không thì thấy thật là khổ, nhưng con nhà nghèo thường chịu đói, nay được nhai bánh mì thì thật là sung sướng. Như vậy, loại khổ này xuất phát từ thái độ tâm lý không vừa lòng, còn nếu cảm thấy vừa lòng thì cho là lạc. Cảm giác lạc hay khổ loại này hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ tâm lý mà thôi, vì vậy rõ ràng là không thật. Và cái khổ này mới chính là Khổ Đế mà Đức Phật chỉ dạy trong Tứ Diệu Đế.

THẤY ĐƯỢC VÔ NGÃ (ANATTA)

Đức Phật có nói rất rõ: pháp hữu vi là VÔ THƯỜNG, pháp hữu vi là khổ nhưng tất cả các pháp hữu vi hoặc vô vi đều vô ngã.

PHÁP HỮU VI CÓ HAI LOẠI:

1) Hữu vi tự nhiên (Sankhàra): đó là những gì do duyên hợp từ nhiều yếu tố mà thành. Thường là những hiện tượng xảy ra trong vật lý, hóa học và những hoạt động tự nhiên của nội tâm. Thí dụ như nước do oxy với hydro tạo thành, hoặc những cảm xúc, tư tưởng của tâm vv… Pháp hữu vi này gây ra cái khổ tự nhiên.

2) Hữu vi tạo tác (Sankhata): Đó là những hành động, phản ứng có chủ ý tạo tác (cetana) của bản ngã mà thành. Thí dụ như hành động thiện ác của thân khẩu ý. Pháp hữu vi này gây ra khổ quả (vô nhân dị thục) và khổ tâm lý (Khổ Đế).

Bản ngã chấp lầm pháp tự nhiên thành “Ta” và “của Ta”. Thí dụ thay vì đi thì chấp là Ta đi, nhìn thì tưởng là Ta nhìn,… từ đó cho là thân của Ta, tâm của Ta, nhà của Ta, v.v… Sự chấp lầm này lâu ngày sẽ trở thành ảo tưởng lớn hơn đó là “tự ngã” của Ta.

Trên bình diện mối quan hệ xã hội thì có thể tạm dùng khái niệm chế định “Ta” và “của Ta” được. Gọi “Ta” để phân biệt với người khác, gọi “của Ta” để phân biệt với quyền sở hữu của người khác. Nhưng đó chỉ là khái niệm, quy ước của xã hội thôi chứ không phải thực. Những quy ước này có thể chấp nhận được nhưng “tự ngã” của Ta thì hoàn toàn là ảo tưởng không có thực.

Bản ngã được hình thành từ điều kiện khác nhau về môi trường thiên nhiên và xã hội. Từ đầu khi sinh ra thì ai cũng giống nhau, bao gồm Đất, Nước, Lửa, Gió, Hư Không và Tính Biết. Do các điều kiện sống tự nhiên và xã hội khác nhau nên biến đổi về mặt vật lý, sinh lý và tâm lý khác nhau, thành ra mỗi người có mỗi cá thể độc đáo, không ai hoàn toàn giống ai.

Từ sự khác biệt tự nhiên giữa các cá thể này mà hình thành ảo tưởng mình là một cá nhân riêng biệt với người khác, từ đó mỗi cá nhân chọn lựa cái mình thích, loại bỏ cái mình ghét để rồi hình thành một bản ngã mà thuộc tính của nó chính là tất cả những yếu tố được nó chọn lựa và sở hữu. Thế là từ sự tương giao hài hòa giữa những cá thể biến thành sự sinh khắc trong mối quan hệ giữa mỗi cá nhân, và rồi dẫn đến sự yêu thương hay ghét bỏ nhau, đồng hay bất đồng quan điểm với nhau, thỏa hiệp hay đối kháng nhau, giúp đỡ hay tranh giành nhau, hỗ trợ hay cô lập lẫn nhau…

Trong nhân duyên tự nhiên thì sự khác biệt này là đúng, nhưng trong tâm lý của mỗi người, sự khác biệt này trở thành tự ngã thì hoàn toàn là ảo tưởng. Nếu quan sát cho kỹ thì chỉ có đi, chỉ có thấy, chỉ có xúc chạm,… tức là chỉ có hoạt động thuần tuý của thân và tâm mà không có cái Ta nào ở trong những tiến trình ấy cả. Trong khi ngủ, thì không có ý niệm bản ngã, nhưng thân-tâm vẫn sống như thường. Tim vẫn đập, tâm vẫn biết, cái biết không qua giác quan này có khi còn chính xác, linh nghiệm hơn cái biết nhờ giác quan.

Tóm lại tất cả các pháp hữu vi hay vô vi, vật lý hay tâm lý đều là vô ngã. Trong thấy chỉ có thấy, trong nghe chỉ có nghe… không có ai đang thấy, không có ai đang nghe và cũng không có cái gì được thấy, không có cái gì được nghe. Những người thấy như vậy và sống đúng với cái thấy đó thì người đó đã thấy được Vô Ngã.

Nhiều người khi bình thường thì có thể sáng suốt – định tĩnh – trong lành được, nhưng khi gặp nghịch cảnh nào đó, thí dụ bạn mình thay đổi thái độ với mình thì tâm không còn sáng suốt – định tĩnh – trong lành được nữa, mà cứ liên tục phản ứng, bực tức… Đó là do mình vẫn muốn được thường, được lạc và được như ý muốn của mình, vì chưa thấy ra được bản chất VÔ THƯỜNG, khổ và vô ngã.

Khi gặp một nghịch cảnh do duyên tự nhiên hay do nghiệp quả mà mình phải gánh chịu, lúc đó mà mình nhận thức được rằng: “Nghịch cảnh này đang thử thách xem mình có thật sự sáng suốt – định tĩnh – trong lành chưa, hay chỉ bình tĩnh sáng suốt được trong thuận cảnh mà thôi” thì ngay đó nghịch cảnh liền trở thành điều kiện quí giá để tu tập. Vậy nhờ có nghịch cảnh VÔ THƯỜNG, khổ mà khám phá ra được phản ứng của mình xuất phát từ ngã hay vô ngã.

Mình cần biết ơn những nghịch cảnh đã đến với mình, vì nhờ có chúng mà mình mạnh mẽ hơn, sáng suốt hơn, biết giữ thăng bằng hơn. Còn nếu muốn giữ mãi cái mình đã đạt được, coi chừng trong khi thực hành mình có khuynh hướng thường hoá thay vì là VÔ THƯỜNG; muốn lạc hoá thay vì đối diện với khổ.

Tu để làm gì? Là để được bình an – không thay đổi? Là để được hỷ lạc – không khổ đau? Là để được… cái này cái kia như ý muốn của mình? Hiểu như vậy thì thật là nhầm lẫn. Nếu là muốn thường được an bình không biến đổi giữa cuộc đời vốn là VÔ THƯỜNG này thì chỉ chuốc thêm bất an mà thôi. Người có trí tuệ thấy tất cả những gì đến với mình đều có nhân duyên của nó. Vì không đủ sáng suốt, nhẫn nại để thấy ra bản chất VÔ THƯỜNG nên mới bất an, do đó tu là thấy ra bản chất VÔ THƯỜNG tất nhiên của đời sống chứ không phải muốn được cái bình an thường hằng bất biến. Bất an là do thái độ nội tâm chứ không phải do VÔ THƯỜNG của đời sống. Vì vậy sự bình an tối hậu chỉ có khi nội tâm thăng bằng thanh tịnh (sáng suốt, định tĩnh, trong lành) trước mọi biến đổi VÔ THƯỜNG.

Cũng không phải tu là để được hỷ lạc, không muốn đau khổ, vì càng muốn hỷ lạc thì càng đau khổ hơn thôi. Thấy ra bản chất thật của đau khổ để biết nhẫn nại thì sẽ không rơi vào cái khổ tâm lý do ảo tưởng ảo giác vẽ ra, mà đó mới là cái khổ nặng nề khó chịu nhất. Thực ra lạc hay khổ đều do thái độ của mỗi người. Tu chính là thấy, biết, hiện quán, thực chứng khổ, mà người lo tìm hỷ lạc không thể nào chứng ngộ được. Vậy người nào chưa thấy được bản chất thật của sự khổ thì sẽ không thể nào thoát khổ được.

Thái độ đối diện với VÔ THƯỜNG hay đối diện với khổ mới quan trọng, chứ không phải trạng thái VÔ THƯỜNG, hay trạng thái khổ nó như thế nào. Đối diện với VÔ THƯỜNG và khổ có hai thái độ: thái độ nhận thức sự kiện đó như thế nào, và thái độ phản ứng (hành vi) lại sự kiện đó ra sao. Nhận thức sai và hành vi tạo tác sẽ gây thêm nghiệp, còn nhận thức đúng và hành vi không tạo tác thì lúc đó là giác ngộ giải thoát. Thấy ra được những điều này thì việc tu tập sẽ dễ dàng hơn, còn không thì chỉ ngày càng loay hoay mà tạo thêm những ảo tưởng về cuộc sống.

Người giác ngộ giải thoát hoàn toàn thì phải thấy được bản chất VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã. Cái tâm thực chứng được tính chất VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã ấy mới là chính yếu chứ không phải chỉ tìm hiểu trạng thái VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã là gì qua lý trí, kiến thức. Đối với tâm vô vi, rỗng lặng, trong sáng thì tất cả các khái niệm về VÔ THƯỜNG, Khổ, Vô Ngã đều không còn quan trọng nữa.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ

VÔ THƯỜNG, khổ và vô ngã được gọi là Tam Pháp Ấn, tức là 3 ấn tướng hay 3 yếu tính trong cùng một pháp chứ không phải là 3 thành phần riêng biệt với nhau. Vì vậy chỉ cần thấy được một trong ba tính chất này tức là đã thấy được thực tính pháp, nên ngay đó liền thấy được hai tính chất còn lại, chứ không phải thấy yếu tính này xong rồi mới tìm hiểu yếu tính kia.

Người có quá nhiều kiến chấp, tức là luôn cho là, phải là, sẽ là thì chỉ cần thấy ra được VÔ THƯỜNG là giác ngộ. Người đầy lòng tham ái tạo tác các nghiệp bất thiện thì chỉ cần thấy được khổ là giác ngộ. Còn người chấp ta, của ta và tự ngã của ta thì chỉ cần thấy được tất cả các pháp đều vô ngã là giác ngộ.

Một khi không thấy được VÔ THƯỜNG, còn cho là, phải là, sẽ là thì chắc chắn sẽ không toại nguyện và sẽ rơi vào khổ, vì pháp vận hành VÔ THƯỜNG theo luật duyên khởi chứ không theo ý muốn của mình. Vạn vật không cái gì có thể tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc lẫn nhau, nương nhau mà sinh cũng nương nhau mà diệt, đó chính là vô ngã.

Người thấy ra bản chất thực của cuộc sống là VÔ THƯỜNG, Khổ, Vô ngã và có thái độ rỗng lặng trong sáng khi đối diện với chúng thì có thể sống tự tại vô ngại ngay giữa cuộc sống VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã này. Đó là người đã giác ngộ giải thoát, chứ không phải giải thoát tức là “trốn” khỏi VÔ THƯỜNG, khổ, vô ngã.



Kiến thức là từ học tập mà có,
Năng lực từ tôi luyện mà thành,
Phẩm hạnh, nhân phẩm là từ tu dưỡng mà xuất sanh.

Mưa lớn không gột rửa được rễ sâu trong lòng đất;
Đạo pháp rộng lớn cũng chỉ độ được người hữu duyên.



Xem Thêm:

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.