Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages123>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1 Posted : Sunday, May 8, 2011 1:36:54 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)

Nghệ thuật múa của Pina Bausch trong mắt đạo diễn Wim Wenders


Tuấn Thảo - rfi - THỨ SÁU 06 THÁNG NĂM 2011

Pina là tựa đề bộ phim tài liệu nói về nghệ thuật của Pina Bausch, nhà biên đạo múa người Đức lừng danh thế giới. Do đạo diễn Wim Wenders thực hiện với công nghệ làm phim ba chiều, tác phẩm này suýt nữa bị bỏ rơi sau khi nhà biên đạo múa đột ngột qua đời vào mùa hè năm 2009.

UserPostedImage

Tác phẩm Pina là một dự án hợp tác giữa đạo diễn Wim Wenders với nhà biên đạo múa Pina Bausch từ lúc bà còn sống. Ngoài đời, hai người là bạn của nhau và họ quyết định cách đây hơn ba năm thực hiện một cuộn phim nói về các vở múa của Pina Bausch. Ở trong giai đoạn tiền kỳ, Pina Bausch và Wim Wenders đã quyết định chọn lựa 4 vở múa ưng ý, để phản ánh nghệ thuật của Pina Bausch trong lãnh vực nghệ thuật múa ballet đương đại, tiêu biểu nhất là các vở nguyên tác Café Muller, Vollmont và Kontakthof và bản phóng tác của tác phẩm Le Sacre du printemps (Lễ đăng quang mùa xuân) dựa theo nền nhạc của Stravinski.

Nổi tiếng từ giữa những năm 1960 trong làng múa ballet, sau một thời gian đào tạo tại trường nghệ thuật Juilliard School tại Hoa Kỳ, Pina Bausch về làm giám đốc đoàn múa Wuppertal từ năm 1973 trở đi. Uy tín của Pina Bausch lan tỏa và đạt đến tầm vóc quốc tế sau khi bà sáng tạo ra thể loại Tanztheater dung hòa múa ballet và kịch nghệ.

Được mệnh danh là người đi truy tìm một ngôn ngữ mới cho nghệ thuật múa, các tác phẩm của Pina Bausch không những thể hiện những ý tưởng độc đáo, táo bạo mà còn thay đổi các quy tắc truyền thống của ngành ballet. Pina Bausch tìm cách rũ bỏ lớp bụi thời gian dày đóng trên các động tác múa, phá vỡ các khuôn thước thẩm mỹ của ballet, để đưa người xem vào thế giới của trực giác và cảm quan.

Với Pina Bausch, điệu múa không chỉ đơn thuần là những động tác đẹp mắt, mà còn có thể là một cử chỉ bộc phát từ phản xạ, kích thích để diễn đạt cảm xúc thầm kín trong nội tâm, có nhiều kịch tính mà không cần sử dụng đến lời thoại ở trong kịch. Theo lời đạo diễn Wim Wenders, qua bộ phim Pina, ông đã muốn thể hiện một cách gần sát nhất tư tưởng sáng tạo của nhà biên đạo múa. Ống kính ở đây không được đặt ở phía trước, mà lại được đặt ở bên trong vở múa. Bằng cách này, khán giả không ở trong tư thế truyền thống tức là xem tất cả những gì đang diễn ra ở trước mắt, mà lại ở trong tư thế nhập cuộc, nhìn một điệu múa dưới nhiều góc độ khác nhau.

Xem phim Pina, dù khán giả chưa hề tiếp cận với các tác phẩm của Pina Bausch, nhưng họ vẫn có thể hiểu được phần nào cách xây dựng tác phẩm của nhà biên đạo múa. Bà ít có bao giờ chỉ dẫn các diễn viên, mà lại đặt ra nhiều câu hỏi để rồi khuyến khích họ tự tìm câu trả lời thông qua ngôn ngữ của điệu bộ. Tư tưởng sáng tạo của Pina Bausch có thể được tóm gọn trong một câu : bà không quan tâm đến chuyện con người di chuyển như thế nào, mà điều gì đã làm cho họ di chuyển.

Ở trong giai đoạn tiền kỳ, đạo diễn Wim Wenders đã cùng với Pina Bausch chọn ra 4 tác phẩm điển hình cho lối sáng tác kết hợp múa và kịch nghệ. Đây là một dự án hợp tác mà hai nghệ sĩ đã đeo đuổi từ nhiều năm qua. Sau khi bà đột ngột từ trần vào ngày 30/6/2009, dự án này bị gián đoạn trong nhiều tháng liền và suýt nữa không được hoàn thành. Trả lời phỏng vấn của ban tiếng Pháp RFI, đạo diễn Wim Wenders cho biết động lực nào đã thôi thúc ông tiếp tục công việc quay phim để hoàn tất kế hoạch.

Wim Wenders : Bộ phim này thật ra là một dự án mà Pina Bausch và tôi đã ấp ủ từ 20 năm nay. Rốt cuộc thì cuộc đời đã không cho phép chúng tôi cùng hoàn tất dự án này với nhau. Pina qua đời hai ngày trước khi chúng tôi bấm máy quay thử với công nghệ ba chiều. Mặc dù vào lúc đó, giai đoạn tiền kỳ đã được chuẩn bị xong. Cái chết đột ngột của Pina khiến cho toàn bộ dự án bị gián đoạn. Bởi vì chủ đề cuộn phim không phải là đơn thuần thu hình các vở múa của bà mà lại là thể hiện và diễn đạt góc nhìn của nhà biên đạo múa. Nhãn quan ấy đã bất ngờ chợt tắt. Tôi còn nhớ là vào lúc đó cả đoàn múa gồm tất cả là 36 diễn viên ballet hoàn toàn bị sốc. Pina Bausch đang làm việc thì thình lình lại ngã bệnh. Giới bác sĩ phát hiện ra là bà bị ung thư, và chỉ 5 ngày sau bà vĩnh viễn ra đi. Đoàn múa chẳng những mất đi cánh chim đầu đàn, mà còn mất luôn lẽ sống, mất luôn lý do để tồn tại. Họ thuyết phục tôi nên tiếp tục dự án làm phim thay vì bỏ dở. Sau hơn 4 tháng bị gián đoạn, tôi bắt tay trở lại vào công việc quay phim. Đối với tôi, tác phẩm Pina không chỉ là một bộ phim tưởng nhớ người đã khuất, mà còn để làm sống lại tư tưởng sáng tạo của nhà biên đạo múa. Sinh thời, các vở múa của Pina Bausch đã làm cho tôi rung động đến tột cùng. Cảm xúc ấy như một con vi trùng ăn sâu vào xương tủy. Qua bộ phim này, tôi hy vọng rằng con vi trùng cảm xúc sẽ lây lan qua khán giả.

Khán giả đi xem phim Pina nhận thấy ngay là có một sự gắn bó rất lớn giữa đạo diễn Wim Wenders và nhà biên đạo múa Pina Bausch. Người ta có thể giải thích điều đó một phần vì ngoài đời, hai người là bạn của nhau. Nhưng đồng thời cả hai tác giả này có một sự đồng điệu trên phương diện cảm xúc nghệ thuật. Đạo diễn Wim Wenders cho biết từ đâu lại có một sự gắn bó, gần gũi đến như vậy.

Wim Wenders : Nhà biên đạo múa Pina Bausch và tôi có một cách tiếp cận với hình ảnh và nhất là với âm nhạc gần giống nhau. Cho dù chúng tôi không có cùng bộ môn nghệ thuật, nhưng phương cách tạo hình của bà thông qua các vở múa tương tự như lối tạo dựng ngôn ngữ điện ảnh. Khác biệt hay chăng là cách sử dụng lời thoại. Một nhà làm phim buộc phải dùng đối thoại giữa các nhân vật để phục vụ diễn tiến của câu chuyện. Còn trong nhãn quan của nhà biên đạo múa, thì cử chỉ động tác hay điệu bộ tự nó đã đứng vững, không cần đến lời thoại mà vẫn diễn đạt được cảm xúc hay nội tâm của nhân vật. Từ Pina Bausch, tôi học được cách sử dụng âm nhạc. Tiếng động và âm thanh trợ lực cho hình ảnh giúp thể hiện một ý tưởng, một cảm xúc nào đó mà không cần đến lời thoại.

Bên cạnh sự đồng điệu nghệ thuật, còn có một yếu tố khác giải thích cho sự gắn bó giữa tôi với nhà biên đạo múa : chúng tôi là người đồng hương, sinh ra trong cùng bối cảnh của nước Đức sau thời chiến. Mỗi người đeo đuổi một bộ môn nghệ thuật khác nhau vào cùng một thời điểm. Năm 1973, Pina về làm việc với đoàn múa Wuppertal, trước khi sáng chế ra thể loại Tanztheater kết hợp điệu múa với kịch nghệ. Cùng năm ấy, tôi có mặt tại Wuppertal để quay bộ phim Alice trong thành phố. Lúc đó, chúng tôi không hề quen biết nhau, và mãi đến sau này khi trao đổi với nhau chúng tôi mới biết được điều này. Tuy không hề vấn ý nhau nhưng có thể nói là chúng tôi đeo đuổi cùng một tiêu chí nghệ thuật : để tạo ra một ngôn ngữ mới, thì người nghệ sĩ phải xé rào vượt qua những quy tắc truyền thống. Tôi đã thử ứng dụng điều này khi thực hiện những bộ phim. Còn Pina Bausch thì càng đi xa hơn nữa khi san bằng các khuôn thước của nghệ thuật múa ballet để tạo dựng cho mình một ngôn ngữ hoàn toàn mới.

Nhiều nhà phê bình mệnh danh Pina Bausch là nhà tiên tri của nghệ thuật múa hiện đại. Một tầm nhìn xa và sâu rộng hơn so với các tác giả cùng thời. Các vở múa của Pina Bausch không chỉ thể hiện một lối quan sát tinh tế và tỉ mỉ về quan hệ giữa con người với nhau mà còn diễn đạt thế giới của nội tâm. Về điểm này, đạo diễn Wim Wenders cho biết nhận xét của ông.

Wim Wenders : Pina Bausch có một cái nhìn sắc sảo, chính xác và sâu xa hơn tất cả những người mà tôi đã gặp trong đời. Có lẽ cũng vì ngay từ đầu, nhà biên đạo múa đã gạt qua một bên khả năng dùng ngôn từ và lời thoại. Pina Bausch lúc nào cũng có một thái độ nghi ngờ đối với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ. Trong cách nhìn của bà, cảm xúc tâm hồn mất đi tính chân thực của nó một khi trải qua lăng kính của ngôn từ, và ngôn từ càng hoa mỹ trau chuốt chừng nào thì cảm xúc càng không thành thật chừng nấy. Tất cả những diễn viên múa từng làm việc với bà đều nói rằng bà có cái tài nhìn thấu tâm can của họ : phải chăng do linh cảm hay do trực giác đơn thuần mà Pina Bausch có thể nhìn thấy những ray rứt trăn trở của những người làm việc chung với mình. Dù gì đi nữa, bà luôn luôn khuyến khích các diễn viên múa hãy tận dụng những cảm xúc chôn sâu trong nội tâm ấy để rồi diễn tả qua động tác và cử chỉ.

Trong lãnh vực điện ảnh, cũng có một số nhà đạo diễn đi theo trường phái này. Trước ống kính, họ bảo các diễn viên đừng đóng kịch, mà cứ diễn đạt qua ánh mắt hay điệu bộ một cảm xúc nào đó trong một tình huống nhất định. Chẳng hạn như nhân vật muốn thể hiện nỗi buồn của mình trước cái chết, thì thay vì diễn đạt qua lời nói họ nên gắn liền cái cảm xúc đó với một kỷ niệm có thật ở trong đời. Khi hồi tưởng lại cái giây phút từng trải đó, thì cảm xúc trên khuôn mặt của họ là một sự rung động thực thụ chứ không phải là đóng phim giả vờ. Khi làm việc với các diễn viên, Pina Bausch tuy gọi là biên đạo múa nhưng ít khi nào chỉ đạo bằng lời nói, bảo các diễn viên phải làm thế này hay thế nọ. Bà chỉ khuyến khích các diễn viên tìm lại trong ký ức của họ một kỷ niệm, và từ cái cảm xúc của hồi tưởng mà thể hiện một động tác nhưng tuyệt đối không trải qua lăng kính của ngôn từ. Trong nghệ thuật múa của Pina Bausch, có một sự đối chiếu giữa lý trí và tình cảm. Tất cả những gì được thể hiện qua lời nói đều ít nhiều phải trải qua sự sắp đặt, và đâu đó phải vận dụng lôgíc của trí óc. Còn ngôn ngữ múa của bà thì nảy sinh từ cảm xúc nguyên thủy.

Làm thế nào để diễn đạt các tác phẩm của Pina Bausch với công nghệ làm phim ba chiều. Làm thế nào để quay các vở múa dưới dạng tái tạo, xen kẽ các màn biểu diễn trên sân khấu với các màn múa ngoài đường phố mà không làm sai ý tác giả. Đó là thách thức lớn nhất đối với đạo diễn Wim Wenders cũng như đoàn làm phim, khi chuyển thể các vở múa của Pina Bausch lên màn ảnh lớn.

Wim Wenders : Công nghệ làm phim ba chiều buộc tôi phải định nghĩa lại khái niệm của không gian. Khán giả không còn ở trong tư thế thụ động, ngồi xem những gì đang xảy ra trước mắt họ. Công nghệ ba chiều có khả năng lôi cuốn người xem vào trong cuộc, khán giả có cảm tưởng là họ ngụp lặn trong một không gian có chiều sâu và bề dày. Hiện giờ, đa số các bộ phim thương mại sử dụng công nghệ quay phim ba chiều như một hiệu ứng hình ảnh, nó có tác dụng ngoạn mục y hệt như kỹ xảo điện toán khiến cho khán giả phải trầm trồ thán phục. Trong trường hợp của bộ phim Pina, chúng tôi đặt trọng tâm vào các tác phẩm của nhà biên đạo múa.

Công nghệ làm phim ba chiều ở đây chỉ là một phương tiện kỹ thuật để phục vụ cho nội dung nghệ thuật của các vở múa. Chúng tôi phải quay một cách thật tự nhiên, làm thế nào để cho khán giả chỉ vài phút sau là có thể nhập đề trực tiếp, tức là họ xem các động tác múa chứ không còn để ý tới cách quay phim ba chiều. Ở đây ta có thể so sánh lối quay phim với cách viết văn. Nếu như một người đọc sách ngay từ những trang đầu bị lôi cuốn ngay vào nội dung cốt truyện thì coi như là nhà văn đã thành công. Nếu như độc giả vừa cầm quyển sách vừa chú ý tới cách hành văn của tác giả, thì đâu đó nội dung cốt truyện bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Một cách tương tự, nếu như ngay từ những phút đầu khán giả hòa mình ngay vào các vở múa của Pina Bausch thì coi như là tôi đã đạt được mục đích tối hậu. Bởi vì suy cho cùng, tôi muốn chia sẻ với khán giả những gì đã làm cho tôi thổn thức rung động, tôi thực hiện bộ phim này cho tất cả những khán giả nào chưa từng được dịp xem một vở múa của Pina Bausch trên sàn diễn.

Edited by user Friday, June 3, 2011 3:48:48 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#2 Posted : Friday, June 3, 2011 3:49:56 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 03 THÁNG SÁU 2011

Phim "Tatsumi" vinh danh cuộc đời và sự nghiệp của danh họa Nhật cùng tên


UserPostedImage
Yoshihiro Tatsumi trong dòng sáng tác

Thanh Hà
Bộ phim hoạt họa của đạo diễn Singapore, Eric Khoo (Khâu Kim Hải) đã được chú ý đến khá nhiều. Tác giả đã khéo léo kết hợp một phần tiểu sử của danh họa người Nhật là Yoshihiro Tatsumi với 5 trong số vô vàn những truyện tranh mà ông đã sáng tác trong suốt hơn 50 trong nghề.

Tại liên hoan phim quốc tế Cannes vừa qua, « Tatsumi » được chọn tham gia chương trình liên hoan trong hạng mục Nhãn Quan Độc Đáo -Un Certain Regard.

Vào cuối thập niên 50 thế kỷ trước Yoshihiro Tatsumi là họa sĩ đầu tiên nghĩ đến thể loại truyện tranh dành riêng cho "người lớn". Còn đạo diễn Eric Khoo là người đầu tiên chuyển thể truyện tranh của danh họa Tatsumi lên màn ảnh lớn.

Yoshihiro Tatsumi sinh năm 1935 được xem là một trong những họa sĩ vẽ truyện tranh manga vào bậc thầy. Thế chiến thứ Hai kết thúc, vẽ truyện tranh là một phương tiện để họa sĩ trẻ này phụ giúp tài chính cho gia đình. Cũng trong thời kỳ vừa bắt đầu sáng tác, Yoshihiro đã may mắn được gặp « ông phù thủy » của thế giới manga thời đó là Osamu Tezuka. Tezuka từng được mệnh danh là Walt Disney của xứ Hoa anh đào.

Cuộc hội ngộ đó đã đem lại cho Yoshihiro Tatsumi nhiều nguồn cảm hứng mới và đâu đó phong cách vẽ của ông đã được « định hình » cùng với những cuộc trao đổi với danh họa Tezuka.

UserPostedImage
Một chút thơ mộng trong thế giới của họa sĩ Manga, Yoshihiro Tatsumi

Cho dù đã nhanh chóng tạo cho mình một chỗ đứng riêng biệt trong thế giới truyện tranh manga Nhật Bản, nhưng ngay từ năm 1957 Yoshihiro Tatsumi thực hiện một cuộc cách mạng khi ông « phá rào » để truyện tranh không chỉ là một loại sách giải trí của riêng các độc giả tí hon. Tatsumi đã quyết định đưa chân cả những người lớn vào thế giới nghệ thuật này. Để làm được việc ấy, ông đã nhìn thẳng vào những vấn đề xã hội của nước Nhật ở vào thời kỳ hậu chiến tranh.
Yoshihiro Tatsumi đã khơi lên những mảng tối của con người, của cuộc sống chung quanh ông. Tatsumi cũng không ngần ngại đưa những đề tài được coi là cấm kỵ vào sáng tác : trong « Goodbye-tạm biệt » chẳng hạn nhân vật chính Mariko là một cô điếm, bán chôn nuôi miệng nhờ những chàng lính GI của Mỹ. Mariko bị khinh rẻ, nhưng đồng tiền cô kiếm ra lại bị ông bố già nghiện ngập bóc lột …

Hay là trong truyện ngắn « Just a Man, - chỉ là một người đàn ông » tác giả phác họa ra chân dung của Hanayama : một gã đến tuổi về già , chán chường và mệt mỏi sống bên cạnh một mụ vợ đã tặng cho hắn đến mấy cái sừng, bên cạnh một cô con gái mà đồng tiền là trên hết. Hanayma quyết định tặng cho mình một cuộc sống mới trong vòng tay của một thiếu nữ trẻ đẹp. Cho dù hắn có phải đánh đổi cả gia tài để được hưởng một làn gió mới ấy.

« Occupied - Bận» theo thứ tự trong phim thì đây là câu chuyện ngắn thứ tư của họa sĩ Tatsumi đã được đạo diễn Singapore Eric Khoo thu vào ống kính. Trong chuyện này Yoshihiro xoáy vào nỗi ám ảnh và ẩn ức của một chàng họa sĩ vừa bị sa thải và thế là hắn phải vẽ, vẽ thật nhiều, thật nhanh nhưng chỉ vẽ những thân hình nẩy lửa của phái đẹp trong bốn bức tường của các nhà vệ sinh : đấy là nơi mà hắn không bị kiểm duyệt, không bị ai phê phán. Đó cũng là nơi duy nhấn trí tưởng tượng của hắn có thể bay cao, bay xa đến bất tận.

UserPostedImage
Eric Khoo (trái) và danh họa người Nhật, Y. Tatsumi

Trả lời báo chí đạo diễn Eric Khoo giải thích : lòng ngưỡng mộ vô bờ bến của anh đối với họa sĩ Nhật Bản Yoshihiro Tatsumi là điểm khởi đầu để anh cho ra đời bộ phim hoạt họa dài gần 100 phút :
« Từ 20 năm qua, tôi rất mê những chuyện ngắn của họa sĩ Yoshihiro Tatsumi và tôi đã bị cuốn tiểu sử tự thuật của ông ''A Drifting Life – Cuộc đời Nổi trôi'', dầy hơn 800 trang cuốn hút. Tôi rất xúc động trước đam mê và tình yêu ông dành cho nghệ thuật này cũng như là tất cả những gì ông đã hy sinh để cho ra đời những tập truyện tranh hết sức ý nhị. Yoshihiro Tatsumi không chỉ là một tác giả dùng ngòi bút của mình để kể nên một câu chuyện. Ông còn là một nhà quan sát hết sức tinh tế và nhậy bén về cuộc sống hay tình yêu, về thân phận con người. Đấy mới chính là điều đã ám ảnh và lôi cuốn tôi vào thế giới của ông ».

Nói một cách khác truyện tranh của Yoshihiro Tatsumi lôi cuốn đạo diễn Khoo do, bằng một cách hết sức cô đọng tác giả đã cho người xem thấy được tất cả nỗi đau và tuyệt vọng nơi mỗi con người : với Hell, Địa ngục thì đó là nỗi đau da thịt của những nạn nhân Hiroshima.

Một anh phóng viên chiến trường Koyanagi đã xúc động vì chiếc bóng in trên tường : đó là hình ảnh một cậu con trai đang chồm lên vai mẹ khi quả bom nguyên tử đã phát nổ trên thành phố Hiroshima. Koyanagi trở nên giàu có và nổi tiếng với pô ảnh độc đáo này. Nhưng có mấy ai biết rằng đằng sau câu chuyện cảm động mà anh tưởng chừng là đã ghi lại được vào ống kính là cả một thực tế phũ phàng và buồn tẻ.

Eric Khoo sinh năm 1965 tại Singapore, từng du học tại Úc và Hoa Kỳ. Năm 1990 anh đã trở về nước và thực hiện bộ phim ngắn đầu tiên Barbie Digs Joe. Bộ phim này là bệ phóng đưa điện ảnh Singapore đến với các chương trình liên hoan phim quốc tế.

Bốn năm sau đó Eric Khoo mới thực sự được dư luận biết đến nhiều hơn qua tác phẩm Pain và nhất là Mee Pok Man hay 12 Storeys. Với hai bộ phim này Eric Khoo được coi là một trong những nhà đạo diễn có triển vọng nhất của châu Á. Cả hai đã được trình chiếu tại trên 60 liên hoan phim lớn nhỏ khác nhau.

Năm 2005 anh đến Liên hoan Cannes với Be with me, hãy đứng bên tôi trong khuôn khổ chương trình La Quinzaine des Réalisateurs và bộ phim này của đạo diễn Singapore đã rất được khán giả hoan nghênh.

Ba năm sau đó Khoo trở lại với Cannes, nhưng lần này là để tranh tài trong chương trình chính thức. Tiếc là My Magic –Nhà Ảo thuật của anh đã không chinh phục được ban giám khảo năm đó.

Tatsumi là bộ phim hoạt họa đầu tiên anh thực hiện. Erick Khoo nhắc lại về cuộc hội ngộ với danh họa người Nhật Yoshihiro Tatsumi cũng như cách anh đã chọn đưa 5 sáng tác của ông vào bộ phim này :

« Trước Tatsumi các sáng tác của Yoshihiro Tatsumi chưa từng được đưa lên màn ảnh lớn. Khi tôi có dịp đến Nhật Bản, tôi đã thu xếp và xin được gặp ông. Buổi tiếp xúc đầu tiên diên ra tại một quán cà phê cũ kỹ. Tôi xin giới thiệu với ông một số các bộ phim của tôi và điều thú vị nhất là khi ông tuyên bố : ông cảm thấy gần gũi với mạch sáng tác của tôi, với một số những nhân vật trong các bộ phim của tôi.

Nhưng có lẽ là họa sĩ người Nhật đã đồng ý hợp tác kể từ sau khi ông xem qua tập tranh vẽ, trong đó tôi trình bày dự án và cách sẽ thực hiện bộ phim.

Yoshihiro Tatsumi tán đồng việc kết hợp tiểu sử nói về cuộc đời ông với những tập truyện ông đã sáng tác. Mỗi truyện ngắn của ông là một viên đá quý : các nhân vật trong truyện đều phản ánh đời sống hàng ngày với tất cả những gì cao đẹp, xấu xa, với những gì mong manh, phù phiếm … và cả với những nét u buồn, đơn độc trong đó.

Tôi chọn đưa vào phim « Hell- Địa ngục » vì diễn biến bất ngờ của tình huống. « Beloved Monkey –Chú khỉ dấu yêu » có lẽ là câu chuyện buồn thảm nhất trong sự nghiệp sáng tác của Yoshihiro Tatsumi và đó cũng là tác phẩm được tác giả yêu thích nhất »


"OCCUPIED"
UserPostedImage

Trả lời báo điện ảnh The Hollywwood Reporter, đạo diễn Eric Khoo cho biết khó khăn lớn nhất anh phải vượt qua là phải làm thế nào để vẫn giữ được nguyên phong cách vẽ của Yoshihiro Tatsumi nhưng đồng thời cũng phải đem lại một chút gì mới lạ, một thoáng « hiện đại », cho những nhân vật đã được ông dựng lên từ thập niên 70 – 80 thế kỷ trước.
Trong quá trình thực hiện bộ phim Eric Khoo đã luôn mời họa sĩ Tatsumi hợp tác và cố vấn. Danh họa người Nhật đã chấp nhận đọc phần thuyết minh trong các đoạn phim nói về cuộc đời ông. Ông cũng đã cố vấn cho Khoo rất nhiều về cách sử dụng màu sắc, lối phát âm theo đúng cung cách của người dân Osaka hơn nửa thế kỷ về trước. Khoo đã hoàn tất bộ phim Tatsumi trong vỏn vẹn 8 tháng với một ngân sách thấp kỷ lục : chưa đây 800 000 đô la.

Một trong những may mắn của nhà làm phim Eric Khoo là do một sự tình cờ anh đã hợp tác với một tổ thợ vẽ của Indonesia : đây là một đoàn họa sĩ trẻ, rất tài hoa mà chi phí tốn kém thì lại thấp hơn rất nhiều so với ở những nơi khác.

Đến Cannes cùng với đạo diễn Eric Khô, họa sĩ Yoshihiro Tatsumi đã có dịp xem toàn bộ tác phẩm vừa hoàn tất từ đầu đến cuối và khi bộ phim nói về cuộc đời và sự nghiệp của ông khép lại, thì Tatsumi là người đầu tiên đứng lên bắt tay đạo diễn và cảm ơn Eric Khoo đã tặng cho ông một món quà sinh nhật giá trị và đầy ý nghĩa. Tatsumi cũng đã cảm ơn đạo diễn người Singapore đã kiên trì thuyết phục ông tham gia vào một dự án thú vị và đầy thi vị.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#3 Posted : Saturday, June 25, 2011 11:59:16 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)


Gấu trúc học võ, Trung Hoa sóng gió



Tuấn Thảo - rfi - THỨ SÁU 24 THÁNG SÁU 2011
Sau ba tuần lễ công chiếu, tập nhì của bộ phim Kung Fu Panda (Gấu trúc học võ) đã thu về hơn 300 triệu đôla. Trong đó có gần một nửa số doanh thu đến từ thị trường Mỹ. Đáng ngạc nhiên hơn cả là bộ phim rất ăn khách tại Hoa Lục. Sự thành công này khiến cho nhiều người ở Trung Quốc không mấy hài lòng.

UserPostedImage
kung-fu-panda-2


Tại Trung Quốc, bộ phim Gấu trúc học võ tập nhì đã phá kỷ lục với 18 triệu rưỡi đôla (12,8 triệu euros) chỉ riêng trong tuần lễ đầu tiên ra mắt khán giả ở rạp. Như vậy, tập hai bội thu hơn cả tập một và đồng thời vượt qua mặt Hải tặc vùng Caribê (Pirates of the Caribbean), được xem như là bộ phim Mỹ đầu tiên vượt qua ngưỡng doanh thu đầy biểu tượng 100 triệu yuan tương đương với 15 triệu đôla (10,6 triệu euros), sau 7 ngày chiếu ở rạp.

Về nội dung, chuyện phim của tập nhì nối tiếp phần một. Gấu trúc sống ở vùng Thung lũng Bình yên cùng với 5 huynh đệ đồng môn (Hổ, Hầu, Hạc, Xà và Bọ ngựa). Nhưng thế giới an lành ấy lại bị đe dọa bởi sự xuất hiện của Thái tử Châu Tước (chim công). Nhân vật này trở về Trung Hoa với một loại vũ khí bí mật đáng gờm, dùng pháo hoa để chế biến súng pháo thần công (đại bác), dùng hỏa lực để tiêu diệt các môn võ cổ truyền và thỏa mãn tham vọng làm bá chủ giang sơn.

Về hình thức, Gấu trúc học võ tập nhì ngoạn mục hơn nhiều tập một chủ yếu nhờ vào công nghệ quay phim ba chiều (3D). Kỹ xảo điện toán tinh vi giúp cho các màn bắn pháo hoa trở nên vô cùng rõ sắc và đẹp mắt. Nhưng đổi lại, tập hai không gây nhiều ngạc nhiên bằng tập trước : Các màn pha trò tiếu lâm tiếp tục khai thác sự chênh lệch trong tình huống, tuy vẫn hài hước vui nhộn nhưng không còn bất ngờ như ban đầu.

Vào lúc mà bộ phim tiếp tục lôi cuốn đông đảo khán giả nhỏ tuổi vào các rạp hát, thì tranh luận lại nảy sinh về điều được gọi là ‘‘văn hóa ngoại xâm’’ trên các diễn đàn trực tuyến và nhất là trên các mặt báo ở Trung Quốc. Tại các nước Âu Mỹ, giới trẻ thích truy cập các trang Facebook và Twitter, thì một cách tương tự thanh niên Trung Quốc thích vào mạng xã hội có tên là Xiaonei (renren.com).

Được thành lập cách đây vài năm, mạng Xiaonei đã nhân lên gấp ba số thành viên từ 70 triệu vào năm 2008 lên đến hơn 200 triệu vào năm nay. Trên mạng Xiaonei, có một trang tên là Bạn mê xem phim, nhưng lại ghét Gấu trúc học võ. Đó là nơi mà các thành viên trao đổi ý kiến với nhau và đa số đều có vẻ không hài lòng cho lắm trước hình ảnh của con gấu trúc theo cách vẽ của các nhà làm phim Mỹ.

Đối với người Trung Quốc, con gấu trúc được xem như là một biểu tượng quốc gia. Chỉ cần nhìn vào các mặt hàng bày bán trên thị trường, ta sẽ thấy có khá nhiều thương hiệu sản phẩm tạc hình con gấu trúc. Còn trong mắt của các nhà làm phim hoạt hình thuộc hãng Dreamworks, thì nhân vật gấu trúc lại ham ăn lười biếng, cái bụng phệ lúc nào cũng kêu to như thể chưa xong phần tiêu hóa. Rốt cuộc, con gấu trúc cũng trở thành anh hùng, nhưng lại là một thứ anh hùng bất đắc dĩ. Bộ phim vui nhộn vì biết khai thác những tình huống ngược đời. Ở cùng một nhân vật, người Âu Mỹ chủ yếu thấy nét suy ngẫm khôi hài, người Trung Quốc lại thấy sự châm biếm mỉa mai.

Có lẽ cũng vì thế mà khi Gấu trúc học võ được công chiếu ở Trung Quốc, nghệ sĩ Zhao Bandi đã kêu gọi tẩy chay bộ phim vì theo ông, các nhà làm phim Mỹ không hiểu gì mà lại đi bóp méo văn hóa Trung Hoa. Còn giáo sư Chen Wu thuộc trường đại học Bắc Kinh thì chỉ trích thâm ý của các nhà sản xuất phim Mỹ, khai thác hình tượng con gấu trúc để trục lợi kiếm lời, nấp mình đằng sau công nghiệp giải trí để truyền đạt ý tưởng của mình đến nhiều đối tượng cùng một lúc. Vị giáo sư này gọi đó là một cuộc ‘‘xâm lăng của văn hóa ngoại bang’’ và giải thích rằng một bộ phim với toàn là những nhân vật Mỹ chưa chắc gì đã thuyết phục được khán giả Trung Quốc, nhưng một bộ phim Mỹ hàm chứa nhiều nét văn hóa Trung Hoa sẽ dễ dàng đánh trúng đối tượng là người Trung Quốc hơn.

Cuộc tranh luận xung quanh bộ phim Gấu trúc học võ thật ra là một câu chuyện dài nhiều tập. Nó bắt nguồn ngay từ lúc ra mắt tập đầu tiên tức là vào năm 2008. Vào thời đó, đạo diễn Steven Spielberg, một trong những người sáng lập hãng phim Dreamworks, đã tẩy chay Thế Vận Hội Bắc Kinh. Lúc đầu, ông nhận lời làm cố vấn nghệ thuật trong cách dàn dựng lễ hội Olympic, nhưng sau đó ông rút lui để phản đối việc chính quyền Bắc Kinh hậu thuẫn Sudan, mặc dù thảm họa nhân đạo đang diễn ra ở vùng Darfour của nước này. Chính cũng vì vậy, mà tập đầu của Gấu trúc học võ đã gây ra nhiều phản ứng mạnh mẽ, khi phim được công chiếu ở Trung Quốc.

Để tránh cho tranh luận tái diễn, hãng phim Dreamworks lần này đã tỏ ra khôn khéo hơn trước rất nhiều, đặc biệt là ở ba điểm. Thứ nhất, các nhà sản xuất chọn một nữ đạo diễn người Mỹ gốc Hoa, cô Jennifer Yuh Nelson. Thứ nhì, đoàn làm phim đã nhiều lần đến thăm các hiệp hội bảo vệ loài gấu trúc ở Trung Quốc. Thứ ba, ban đặc trách khâu quảng cáo đã thực hiện công việc tiếp thị ngay từ giai đọan tiền kỳ của bộ phim, để lọt thông tin ra bên ngoài để bắt mạch thị trường, tránh vận dụng những hình tượng như long phụng vào các nhân vật phản diện (rồng là linh vật đối với người Trung Hoa, nhưng lại là hung thần đối với văn hóa Âu Mỹ). Nói tóm lại, ngay từ đầu, đoàn làm phim đã tìm cách giới hạn càng nhiều rủi ro chừng nào, thì càng tốt chừng nấy.

Trên các diễn đàn thông tin, không phải chỉ có những ý kiến bất bình với hai tập phim Gấu trúc học võ. Về điểm này, thì các ý kiến đăng tải trên mạng cho thấy là dư luận Trung Quốc bị chia thành hai phe. Một bên thì phản đối, còn một bên thì cho rằng thay vì đi chỉ trích người khác, tại sao các nhà làm phim Trung Quốc không tự nhìn lại mình. Đối với nhiều bạn trẻ ở Trung Quốc, thì nền điện ảnh Hoa Lục còn vướng phải lưỡi kéo kiểm duyệt. Trước một sự kiểm sóat như vậy, không phải là không còn sáng tạo, nhưng các tác phẩm mang tính chất phê phán chỉ có thể thành hình ở ngoài luồng. Bằng chứng là nhiều phim Trung Quốc thành công ở nước ngoài, một là quay lén, hai là tìm cách luồn lách để đi vòng sự kiểm duyệt.

Theo lời ông Wu Jiang, Giám đốc nhà hát Kinh kịch Quốc gia, phần lớn bộ phim Gấu trúc học võ đều dựa trên văn hóa Trung Hoa, vậy thì tại sao người Trung Quốc lại không làm được một bộ phim như vậy? Báo Courier International thì trích dẫn đạo diễn Lu Chuan cho rằng thay vì phí lời chỉ trích, thì nên để dành công sức để xây dựng ngành làm phim nội địa xứng đáng hơn với hình ảnh của một cường quốc điện ảnh. Theo đạo điễn này, nếu như các tác giả Trung Quốc phải được duyệt qua trước, luôn tục làm theo chỉ đạo, thì e rằng chẳng còn ai thật sự còn có hứng thú để sáng tạo. Trong bối cảnh này, đạo diễn trẻ tuổi Lu Chuan cảm thấy vui mừng khi mà Trung Quốc đầu tư vào việc thành lập một hãng phim hoạt hình có tầm cỡ, đặt tại thành phố cảng Thiên Tân, nằm cách thủ đô Bắc Kinh khoảng một tiếng đồng hồ đi xe hơi.

Còn theo báo Le Monde, Gấu trúc học võ tập hai trước hết là một câu chuyện ngụ ngôn thú vị, dành cho mọi lứa tuổi. Bộ phim có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và một trong những cách đọc là cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai siêu cường Hoa Kỳ Trung Quốc. Anh hùng thắng kẻ tà vì ở một bên Gấu trúc tuy dùng võ nhưng thế mạnh lại xuất phát từ tâm, trong khi chim công chỉ đơn thuần dùng hỏa lực. Không biết ẩn dụ này làm cho người Trung Quốc nhột ở chỗ nào. Từ năm 2008, Bắc Kinh tập trung phát triển việc sử dụng quyền lực mềm (soft power) để tô điểm hình ảnh, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế.

Khái niệm này, kể từ một thập niên qua, được định nghĩa như khả năng thu hút và thuyết phục các quốc gia khác mà không cần sử dụng đến sức mạnh (hard power). Quyền lực mềm được thể hiện qua hàng loạt các yếu tố như hình ảnh, uy tín, năng lực giao tiếp, mức độ cởi mở của xã hội, tính gương mẫu của chính quyền và sức quyến rũ của nền văn hóa, vân vân… Nhưng rõ ràng là trong lãnh vực sử dụng quyền lực mềm, người Mỹ đã ghi được một bàn thắng với sự thành công không thể chối cãi của bộ phim Kung Fu Panda ở Hoa Lục. Tuy nhiên, bộ phim Gấu trúc học võ tập nhì sẽ hay hơn thế nữa, nếu như các nhà làm phim Mỹ đã không tự kiểm duyệt mình để tránh đụng chạm. Rốt cuộc thì Panda của Mỹ lại sợ bị gõ đầu bằng gậy trúc. Còn gấu trúc Trung hoa thì lại bị gậy ông đập lưng ông.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#4 Posted : Tuesday, August 30, 2011 3:36:31 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - Thứ hai 29 Tháng Tám 2011

Chia ly - bộ phim Iran được khán giả Pháp đón nhận nồng nhiệt

UserPostedImage
Simin (do nữ diễn viên Leila Hatami thủ vai), Nader (Peyman Moadi)
Reuters

Trọng Thành
Mùa hè này điện ảnh Pháp xôn xao bởi một bộ phim Iran, vừa đoạt giải Gấu vàng tại Liên hoan phim Berlin tháng Hai 2011. Được khởi chiếu cách đây 13 tuần, phim "Jodaeiye Nader az Simin" (sự chia tay của Nader với Simin), tên trong phiên bản tiếng Pháp “Une séparation” (tạm dịch là Chia ly), cho đến nay đã thu hút gần 1 triệu khán giả.

Sức hút đặc biệt của bộ phim được công chiếu tại 70 nước này, đối với khán giả Pháp có phần ngược lại với phản ứng của công chúng nhiều nước Châu Âu khác, như Đức chỉ có 100.000 lượt người xem.

“Chia ly” của đạo diễn Iran Asghar Farhadi kể lại một câu chuyện đời thường. Simin, một giáo viên tiếng Anh muốn chia tay với chồng (Nader) để đi ra nước ngoài. Trước khi vợ ra đi, Nader quyết định tìm một phụ nữ giúp việc chăm sóc cha mình, bị mắc căn bệnh mất trí nhớ. Nader không biết rằng người phụ nữ được thuê đang mang thai và chồng của người đó có tâm lý đặc biệt bất ổn. Gia đình cặp vợ chồng Simin - Nader vốn đang trên bờ tan vỡ đã hoàn toàn thay đổi, khi người phụ nữ nhận chăm sóc cho cha của Nader bị sẩy thai. Vốn là hai người quen biết sơ sơ, Nader và chồng của người phụ nữ bị sẩy thai đột ngột trở thành địch thủ. Toàn bộ cuộc sống của hai cặp vợ chồng cùng với hai cô con gái của hai gia đình bị đảo lộn …

Tại sao bộ phim rất đời thường này lại hấp dẫn các khán giả Pháp đến như thế ?

Trước khi đưa ra một giải thích về điều này, chúng ta biết rằng, Iran - nơi diễn ra các biến cố trong bộ phim "Chia ly" - sống dưới một chế độ độc tài. Quyền lực tôn giáo và chính trị độc đoán tại quốc gia này có xu hướng ngăn cản mọi sáng tạo, đặc biệt những gì dính dáng đến các vấn đề chính trị xã hội lớn, với một hệ thống kiểm duyệt khắc nghiệt. "Chia ly", là một trong những bộ phim cách tân hết sức hiếm hoi của Iran được phép thực hiện và được trình chiếu ngay trong nước. Để làm được điều này, đạo diễn Asghar Farhadi đã tránh đụng chạm trực tiếp đến những vấn đề chính trị, có khả năng bị giới kiểm duyệt quy kết, chụp mũ.

Theo Le Monde, điểm độc đáo của "Chia ly", là thông qua sự chia tay của một cặp vợ chồng, bộ phim đã lột tả sự phân ly của bộ phận khá giả trong xã hội với tầng lớp dân nghèo, sự mâu thuẫn cao độ giữa truyền thống tôn giáo giáo điều cam chịu, tin tưởng vào những điều huyễn hoặc, với các phẩm tính của một xã hội hiện đại hướng đến tự do, công bằng và sự chân thực, đang được tìm kiếm và khẳng định ở mỗi con người ...

Trong “Chia ly”, không có sự đối lập tuyệt đối giữa cái ác và cái thiện, giữa một bên nắm giữ lẽ phải và bên kia, sự sai trái. Những tình huống trong phim biến đổi không ngừng, cùng với tâm lý nhân vật cũng không ngừng chuyển hóa. Bộ phim đã khai thác rất nhiều góc nhìn khác nhau khiến cho một sự kiện có vẻ như không có gì đáng nói đã trở thành tâm điểm của những cật vấn nội tâm về cách hành xử của con người với nhau.

Bộ phim khép lại với cảnh cô bé gái, con của Simin và Nader, đứng trước tòa. Viên thẩm phán chờ đợi cô bé sẽ đưa ra quyết định đi với mẹ hay ở lại với bố. Tuy nhiên, bộ phim đã kết thúc mà không có kết cục. Người xem không biết cô bé quyết định gì. Chỉ có điều chắc chắn là, sau những biến cố vừa trải qua, em đã không còn tin vào bố mẹ. Giờ đây, tự em phải định đoạt lấy cho mình một cách nhìn.

Có người yêu phim đưa ra một bình luận : “Chia ly không phải là một bộ phim, Chia ly chính là đời sống”, cuộc sống tranh đấu hàng ngày của hàng triệu người Iran.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#5 Posted : Wednesday, October 12, 2011 8:28:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)

Thành công của bộ phim câm đen trắng « Người nghệ sĩ »


Thụy My - RFI - Thứ tư 12 Tháng Mười 2011
Trong lãnh vực điện ảnh, hầu hết các báo Pháp hôm nay đều ca ngợi bộ phim « Người nghệ sĩ », bộ phim câm đen trắng đoạt giải trong Liên hoan phim Cannes, được trình chiếu kể từ tuần này.

Báo chí nhìn nhận, quyết định quay một bộ phim như thế - không có màu sắc cũng không có tiếng nói - trong thời đại kỹ thuật ba chiều hiện nay, quả là một ý tưởng độc đáo và can đảm, nhưng đã thành công ngoài dự kiến. Qua phim này, diễn viên nam chính Jean Dujardin đã xuất sắc đoạt giải diễn xuất của Liên hoan điện ảnh Cannes. La Croix đề cập đến sự phối hợp hết sức ăn ý với nữ diễn viên Bérénice Béjo, còn Libération ca ngợi diễn xuẩt của chú chó Huggy xinh xắn trong phim. Le Figaro cho biết thêm, đạo diễn Michel Hazanavicius, người đã thực hiện loạt phim điệp viên nổi tiếng OSS117, đã cho quay Người nghệ sĩ tại các phim trường huyền thoại của Hollywood chỉ trong vòng 35 ngày. Bộ phim xuất hiện tại Cannes như một vật thể ngoài hành tinh sang trọng, và sau khi đoạt thêm giải Quả cầu vàng, nhà đạo diễn có thể mơ đến giải Oscar, tuy con đường trước mặt hãy còn xa.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#6 Posted : Friday, October 21, 2011 1:24:48 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)

The Artist : phim câm mà gây nhiều tiếng vang



UserPostedImage
The Artist Affiche
The Artist từng có mặt trên bảng vàng Liên hoan Cannes 2011 (DR)

Tuấn Thảo - RFI - THỨ SÁU 21 THÁNG MƯỜI 2011
Vào thời đại của phim ba chiều (3D), của màn ảnh lớn tràn ngập kỹ xảo điện toán (CGI), việc thực hiện một bộ phim trắng đen và nhất là không có lời thoại chẳng khác gì một thách đố, một ý tưởng táo bạo nhen nhúm trong đầu của kẻ ngông cuồng. Sau 10 năm thai nghén, cuối cùng bộ phim The Artist vừa được trình làng, tạo bước đột phá bất ngờ, ngoạn mục.
Được cho ra mắt khán giả Pháp trong tuần này, tác phẩm The Artist (Nghệ sĩ) của đạo diễn Michel Hazanavicius được công chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan Cannes vào tháng 5 năm 2011. Vào lúc đó, bộ phim đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của ban giám khảo, của giới phê bình lẫn công chúng. Nhờ vào phim này mà vai chính là Jean Dujardin đã nhận được giải nam diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan Cannes, nâng ngôi sao màn bạc Pháp lên hàng quốc tế.

Bộ phim câm The Artist là một cuộc hành trình ngược dòng thời gian đưa người xem trở về những năm 1920. Câu chuyện diễn ra tại Hollywood, vành nôi kỹ nghệ điện ảnh. Nhân vật chính là George Valentin, một diễn viên hàng đầu thành danh nhờ các bộ phim câm. Vóc dáng chải chuốt, tướng mạo bảnh bao, cặp mắt đa tình, râu mép tỉa gọn, nhân vật Valentin (xây dựng theo phong cách của Douglas Fairbanks và Rudolph Valentino) làm thổn thức hàng loạt con tim, điêu đứng tâm hồn phái nữ. Trong số những người ngưỡng mộ, có cô Peppy Miller (do Bérénice Bejo thủ vai), một diễn viên phụ nhưng về sau lại trở thành một ngôi sao màn bạc. Hai người tình cờ gặp nhau lần đầu vào năm 1927. Khúc rẽ của cuộc đời làm cho mỗi người chọn một con đường khác biệt trước khi tái ngộ vài năm sau đó.

Song hành đối nghịch : người sáng kẻ tối

Cốt truyện bộ phim diễn ra trong một giai đoạn ngắn, vào những năm cuối cùng thập niên 1920. Trong vương quốc điện ảnh, phim câm buộc phải nhường lại ngôi báu cho phim có thu thanh và tiếng nói. Cuộc hành trình băng qua sa mạc bắt đầu : sự nghiệp của diễn viên Valentin xuống dốc rõ rệt. Trong khi đó tên tuổi của Peppy, nhờ có chất giọng dễ thương và diện mạo xinh xắn lại lên như diều gặp gió. Giữa tiền tài và danh vọng, mối tình giữa hai nhân vật chính bị giằng co lôi kéo theo những bước thăng trầm của sự nghiệp. Bộ phim kết thúc có hậu nhờ biết bắt lại nhịp cầu nối giữa hai tâm hồn dị mộng. Màn song diễn thiết hài (tap dance), qua đó hai diễn viên múa cùng đôi, nhảy cùng nhịp cho thấy là hai trái tim rồi cũng hòa chung nhịp đập.

Bộ phim The Artist có sức thuyết phục nhờ biết diễn đạt cảm xúc của các nhân vật mà không cần lời thoại. Bộ phim vừa là một cuộc hành trình tìm lại quá khứ, đưa khán giả trở về thời kỳ vàng son của phim câm, nhưng đồng thời là một cuộc song hành đối nghịch giữa hai nhân vật chính : người lên tột đỉnh vinh quang, kẻ xuống vực sâu chạm đáy. Khán giả tinh tế có thể nhận thấy là để tạo ra nét tương phản giữa hai vầng trắng-đen, phương pháp định sáng trong phim The Artist, được nâng lên hàng nghệ thuật. Điều đó minh họa cho hai hành trình đảo ngược với thời gian : một bên hào quang ngời sáng, một bên chìm vào bóng tối.

Đó là về mặt nội dung, còn về mặt kỹ thuật, đạo diễn Michel Hazanavicius thành công khi biết tận dụng một thể loại bị xem như là lỗi thời (phim câm) nhưng với công cụ thời nay để kể một câu chuyện : tuy xưa mà muôn thuở. Một mối tình lãng mạn minh họa bằng tiếng nhạc, bằng hình ảnh trắng đen, phim được quay theo khổ 4/3 và mỗi giây gồm 22 hình ảnh, khác với tiêu chuẩn làm phim hiện giờ là 16/9 và 24 hình ảnh mỗi giây.

Thể loại phim trắng đen có thể khiến cho người xem hơi ngại ngùng, nhưng The Artist không kén chọn khán giả. Phim có nhiều đoạn cảm động, tình huống gần gũi, dễ mềm lòng đại đa số người xem. Tuy chưa phải là một tác phẩm hoàn hảo : ý tưởng ban đầu táo bạo, nhưng cách dựng truyện dễ hiểu, làm mất đi phần nào nét độc đáo. Nhưng nhìn chung, The Artist đủ sức hấp dẫn người xem. Những đoạn im lặng trong bộ phim trắng đen làm cho ta chợt hiểu là xã hội hiện đại tràn ngập những âm thanh và tiếng động tạp nhiễu, thế giới dày đặc những màn ảnh rực rỡ màu sắc nhưng lại làm cho ta càng thêm hoa mắt. Điều đó có thể giải thích vì sao tác phẩm The Artist, tuy là phim câm mà lại biết gây tiếng vang lớn.


Cũng như nam tài tử Jean Dujardin, nhà làm phim Michel Hazanavicius xuất thân từ ngành truyền hình, ban đầu là diễn viên trước khi chuyển sang làm đạo diễn. Ông thực hiện bộ phim truyện đầu tay cho màn ảnh lớn vào năm 2004 (Mes Amis - Những người bạn của tôi), rồi sau đó làm việc chung với Jean Dujardin trong vòng nhiều năm sau đó. Cặp bài trùng này liên tục đã cho ra mắt ba bộ phim, trong đó có tập phim gián điệp khôi hài OSS 117 (nhái lại phim điệp viên James Bond 007).

Về phần cuộn phim The Artist, kịch bản đã được viết cách đây 10 năm, nhưng dự án này đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn kinh phí đầu tư. Ở trong tư thế của một người bơi ngược dòng, nhà làm phim đã tốn nhiều công sức nhưng vẫn không nản chí. Sự thành công của The Artist là một phần thưởng xứng đáng vì ông đã biết chọn cho mình một hướng riêng, cho dù có đi ngược lại với các xu hướng làm phim hiện giờ. Đạo diễn Michel Hazanavicius nói về quá trình thực hiện tác phẩm.

Nói chung, trước khi quay cuộn phim The Artist, tôi đã xem nhiều bộ phim câm để nắm bắt các nguyên tắc cơ bản dành riêng cho thể loại này. Do phim không có lời thoại, cho nên tôi phải tìm cách diễn đạt nội dung câu chuyện bằng những hình thức khác. Không chỉ riêng cá nhân tôi mà cả đoàn làm phim đều đồng ý rằng rất khó thể nào mà quay đơn thuần một bộ phim hài : về mặt thời lượng, các bộ phim câm thời xưa không dài như phim truyện thời nay. Khán giả giờ đây cũng không còn thói quen xem phim trắng đen và nhất là không lời. Làm thế nào để dựng lên một câu chuyện, đầy đủ tình tiết hấp dẫn, hoàn cảnh éo le để có thể lôi cuốn người xem, từ đầu đến cuối. Do những ràng buộc đó, tôi mới quyết định thực hiện một phim tình cảm, bao gồm cả hai yếu tố bi lẫn hài, xen kẻ các pha hài hước vui nhộn, nhịp điệu nhanh mà vẫn nhẹ nhàng với những màn phim chậm rãi với không khí trầm lắng hơn để diễn đạt nội tâm các nhân vật.

Điều quan trọng đối với tôi là làm sao để cho bộ phim The Artist giống như một khúc biến tấu, một phóng tác gợi hứng từ các bộ phim xưa, chứ không phải là viền nét tô đậm như một bức vẽ biếm họa. Sự chọn lựa ngay từ ban đầu này dẫn đến hàng loạt quyết định khác : từ cách soạn nhạc nền để minh họa, cách dựng cảnh đặt khung ống kính và đặc biệt là cách dùng ánh sáng bởi vì đây là một bộ phim trắng đen. Trong giai đoạn tiền kỳ chúng tôi đã thử quay phim với nhiều vận tốc hình ảnh khác nhau. Các bộ phim câm thời xưa được quay với 20 hình ảnh mỗi giây, điều đó giải thích vì sao khi xem phim câm, khán giả có cảm tưởng là các nhân vật trong phim cử động một cách rất buồn cười. Ngược lại khi quay phim với 24 hình ảnh mỗi giây, bộ phim lại giống như các tác phẩm thời nay. Rốt cuộc tôi đã chọn quay phim với 22 hình ảnh mỗi giây, tốc độ của bộ phim tuy nhanh hơn nhưng không đến nỗi lố bịch, khôi hài như phim hề. Dù gì đi nữa, chỉ cần cốt truyện có đủ sức hấp dẫn, khán giả sẽ bị lôi cuốn ngay và không còn nhìn thấy các thủ pháp điện ảnh.

Sau khi đoạt giải nam diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan Cannes 2011 nhờ vai chính trong phim The Artist, Jean Dujardin cho biết anh đã nhận được khá nhiều lời mời sang Hollywood đóng phim, nhưng theo anh, trước mắt anh vẫn còn nhiều dự án làm phim cần được hoàn tất. Riêng cho bộ phim The Artist, anh đã mất 5 tháng trời để dày công tập luyện môn nhảy thiết hài (tap dance), cũng trong khoảng thời gian này, anh cũng đã xem rất nhiều bộ phim câm. Diễn viên Jean Dujardin cho biết vì sao :

Tôi đã xem và khám phá rất nhiều bộ phim câm để chuẩn bị cho ngày bấm máy quay phim. Giai đoạn này đối với tôi y như là một khóa đào tạo nhiều hơn là ôn lại bài vở, vì có rất nhiều phim xưa tôi chưa từng được dịp xem qua. Chẳng hạn như các tác phẩm của Murnau, Lubistch, Borzage giúp cho tôi thấm nhuần không khí của các bộ phim thời trước. Còn về cách đóng phim, tôi gợi hứng nhiều hơn từ các diễn viên như Douglas Fairbanks hay Rudolph Valentino. Khi xem liên tục nhiều bộ phim như vậy, tôi mới cảm nhận được một điều : nhiều người tưởng rằng diễn viên phải cường điệu khi đóng phim câm. Theo tôi, không nhất thiết phải nhấn mạnh trên điệu bộ cử chỉ, mà là quan sát cho thật kỹ ngôn ngữ của cơ thể, để rồi từ đó tìm ra một tư thế gần sát với ý tứ, với cảm xúc mà ta muốn diễn đạt. Thời tôi mới vào nghề, tôi không hề được đào tạo bài bản qua trường lớp, mà chủ yếu rút kinh nghiệm từ việc lăn lộn với sàn diễn. Có nhiều điều mà diễn viên khi nhập vai có thể diễn đạt được mà không cần đến ngôn từ. Vả lại, phim câm không có nghĩa là trên màn ảnh, diễn viên không bao giờ hé miệng. Thật ra khi xem các bộ phim xưa, ta vẫn thấy các diễn viên vẫn đối thoại với nhau chỉ có điều là vào thời đó, không hề có chuyện ghi âm, và các lời thoại sau đó được minh họa trên màn ảnh bằng những tấm bảng chữ. Bộ phim The Artist cũng tuân thủ nguyên tắc này, kịch bản không hề có lời thoại nên khi đóng phim, tôi có thể nhép miệng hay nói tất cả những gì tôi muốn, miễn là nét mặt và điệu bộ hợp với tình huống trong phim.

Phim câm băng hà, phim tiếng đăng quang

Không phải ngẫu nhiên mà kịch bản chọn năm 1927 làm cột mốc cho bộ phim The Artist, vì vào thời điểm đó, lần đầu tiên có một bộ phim thu tiếng được cho ra mắt khán giả. Ngày trình làng bộ phim The Jazz Singer (tựa tiếng Pháp là Le Chanteur de Jazz) Nghệ sĩ nhạc jazz của đạo diễn Mỹ Alan Crosland, thay đổi hẳn cục diện của làng điện ảnh, đặt nền móng xây dựng nền công nghiệp giải trí. Ngày đăng quang của các bộ phim có thu tiếng cũng báo hiệu cho ngày lâm chung của các bộ phim câm. Nam diễn viên Jean Dujardin cho biết :

Sự xuất hiện của phim có thu tiếng hoàn toàn thay đổi số phận của nhân vật chính trong phim The Artist. Nhân vật George Valentin tiêu biểu cho tầng lớp các diễn viên trứ danh trong thời kỳ huy hoàng của phim câm, bị gạt ra bên lề nếu không nói là bị đào thải vì tài năng của họ không còn hợp với thời đại của phim thu tiếng. Nhân vật thứ hai quan trọng không kém là cô diễn viên Peppy Miller, ban đầu chỉ là diễn viên phụ nhưng nhờ sau đó lại trở thành ngôi sao điện ảnh nhờ đóng phim thu tiếng. Giữa hai nhân vật này sẽ nảy sinh một mối tình say đắm cho dù lòng tự ái của mỗi bên, cũng như tiền tài và sự cám dỗ của danh vọng tạo ra những cản lực và trở ngại khiến cho tình duyên của họ thêm trắc trở, ngang trái. Có người cho rằng bộ phim The Artist là một ẩn dụ nói lên những mặt trái của ngành công nghiệp giải trí thời nay, theo đó làng điện ảnh chẳng khác gì một thế giới thu nhỏ, hàm chứa tất cả các tình cảm mâu thuẫn trái ngược của con người. Trong mắt của đạo diễn đạo diễn Michel Hazanavicius, The Artist trước hết là một câu chuyện tình, tất cả các hoàn cảnh éo le trong phim tựa như những bài toán trắc nghiệm. Đọan cuối bộ phim cho thấy là chỉ có tình yêu thực thụ mới vượt qua được những thử thách đó.

The Artist là một câu chuyện hoàn toàn hư cấu. Phong cách của các diễn viên gợi hứng từ những nhân vật có thật trong lịch sử điện ảnh như Rudolph Valentino (George Valentin) hay Louise Brooks (Peppy Miller), nhưng câu chuyện của họ thì lại hoàn toàn khác hẳn. Thế nhưng, liệu một câu chuyện như The Artist có thể xảy ra trong đời thường, trong bối cảnh của làng điện ảnh thời nay. Nam diễn viên Jean Dujardin nhận xét :

Trong nghề điện ảnh, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Tôi không nghĩ là các diễn viên tựa như những chiếc khăn giấy, xài xong vứt liền. Nhưng điện ảnh phát triển và vận hành theo chu kỳ, tạo ra những trào lưu, lúc thịnh lúc suy. Đối với một diễn viên, điều khó nhất vẫn là làm sao để trụ lại được lâu, đi đúng hướng bằng cách chọn lựa các dự án quay phim hợp với mình, khó hơn nữa là họ biết từ chối một số dự án cho dù được trả tiền thù lao hậu hĩnh. Theo tôi, động lực thúc đẩy một người diễn viên là tâm huyết, là đam mê nghề nghiệp, chứ không thể đơn thuần là tiền bạc. Một diễn viên thành công nhờ một bộ phim không thể tiếp tục thủ diễn hoài một vai hay đóng lại những bộ phim tương tự, mà không khỏi bị gán ghép vào một hình ảnh duy nhất. Theo tôi nghĩ, diễn viên nên đóng nhiều kiểu phim khác nhau, để cho thấy nhiều khiá cạnh diễn xuất, cũng như cái khả năng nhập vai của họ biến đổi thích nghi theo từng dự án. Điều đó buộc diễn viên phải biết thay đổi hình ảnh, phong cách. Lẽ dĩ nhiên là khi một diễn viên càng có danh tiếng thì họ càng có nhiều sự lựa chọn hơn. Nhưng yếu tố quyết định ban đầu vẫn thuộc về chính bản thân họ, người diễn viên phải biết tạo cho mình một chỗ đứng riêng biệt, vì làng điện ảnh không thiếu gì các nhân tàì.

Phim câm không ngại hàng rào ngôn ngữ

Vào lúc mà kỹ nghệ điện ảnh chạy theo xu hướng sản xuất phim ba chiều (3D), cho ra mắt hàng loạt bộ phim với kinh phí cao, sự thành công của một phim câm tạo ra được một cú đột phá bất ngờ. Điều đó cho thấy là khán giả vẫn có nhu cầu xem những bộ phim gần gũi với thực tế đời thường. Do phim không có lời thoại nên The Artist lại càng dễ đem ra nước ngoài công chiếu, dễ xuất khẩu vì không còn bị cản trở bởi hàng rào ngôn ngữ. Nam diễn viên Jean Dujardin cho biết cảm nhận của anh :

Theo tôi, đạo diễn Michel Hazanavicius đã chọn đúng hướng đi. Sự thành công vượt bực của bộ phim Avatar đã tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành làm phim, từ đó trở đi người ta nói đến thời kỳ trước và sau Avatar, cung cách làm phim thay đổi hẳn. Đối với đạo diễn Michel Hazanavicius, dự án làm phim The Artist là một cách để nối lại với các nguyên tắc cơ bản của điện ảnh. Dự án quay một bộ phim câm, theo tôi nghĩ, sẽ khó được hoàn tất cách đây một thập niên, nhưng bây giờ lại là thời điểm thích hợp để thực hiện một cuộn phim như vậy. Dĩ nhiên là các hãng độc lập tiếp tục sản xuất các bộ phim mà không hề có kỹ xảo, nhưng đối với các hãng phim lớn, thì họ vẫn dựa vào nguồn kinh phí để sản xuất các bộ phim ‘‘đại trà’’, để đáp ứng thị hiếu của nhiều tầng lớp khán giả. Chỉ có điều là việc sử dụng rất nhiều kỹ xảo, cũng như việc sản xuất rất nhiều phim hành động khiến cho người xem có cảm tưởng là phim truyện mất đi tính chất ‘‘nhân bản’’, người ta có cảm tưởng là cách làm phim trở nên tự động, như thể được điều khiển bởi máy móc.

Bộ phim The Artist đặt trọng tâm vào nộii dung cốt truyện, cách tạo dựng nhân vật và các tình huống mà ta có thể bắt gặp trong đời thường. Một câu chuyện tình xuất phát từ đáy tim chân thành, tính chất gần gũi giúp cho người xem càng dễ đồng cảm. Do phim không có lời thoại, nên cảm xúc lại càng mạnh hơn. Tôi không nghĩ là khi quay bộ phim này, đạo diễn Michel Hazanavicius muốn đối đầu với các xu hướng làm phim thời nay. Bộ phim này đã được thực hiện vì ông muốn tìm cho mình một hướng đi riêng, một cách làm khác khi mượn lại ngôn ngữ hình ảnh của phim không lời. Qua tác phẩm này, ông muốn bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với các đạo diễn bậc thầy như Billy Wilder hay Alfred Hitchcock, ban đầu vào nghề, họ cũng bắt đầu làm phim câm. The Artist vừa là một bộ phim tình cảm lãng mạn, vừa là một lời tỏ tình tha thiết của một đạo diễn đầy tâm huyết, với nghệ thuật thứ bảy.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#7 Posted : Friday, November 11, 2011 7:18:34 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 11 THÁNG MƯỜI MỘT 2011

Cuộc cánh mạng phòng the của "Những người đàn bà gánh nước"

UserPostedImage
Bộ phim La source des femmes dựa vào một câu chuyện có thật (DR)

Tuấn Thảo
Bộ phim La source des Femmes (Những người đàn bà đi gánh nước) ra mắt khán giả Pháp trong tuần này. Dựa vào một câu chuyện có thật, đạo diễn người Pháp gốc Rumani Radu Mihaileanu dựng một bộ phim bi hài để nói lên thân phận của người đàn bà bị gò bó trong khuôn phép và giáo điều của một xã hội hồi giáo.
Chuyện phim diễn ra vào thời nay, ở một ngôi làng hẻo lánh trên tận miền núi mà người xem có thể đoán ra là ở vùng cao nguyên Maroc. Ở chốn ‘‘khỉ ho cò gáy’’, nơi mà đời sống tiện nghi hiện đại vẫn chưa đến tận vùng sâu vùng xa, những người đàn bà trong làng mỗi ngày phải lên núi gánh nước về cho gia đình. Tục lệ này đã có từ nghìn xưa, từ thời mà những người đàn ông phải đi xa để kiếm sống, mọi chuyện trong nhà đều do người đàn bà gánh vác đảm đang.

Ống kính của nhà đạo diễn đưa người xem đi theo từng bước chân của những người đàn bà trèo núi, đầu vấn khăn, vai đeo bình. Cho đến cái ngày mà một phụ nữ trong làng trượt chân té nhào trên đường xuống núi. Tai nạn khiến cho cô gái bị sẩy thai. Do không phải là lần đầu tiên, nên tình trạng này châm ngòi làm bùng nổ sự phẫn nộ nơi tất cả những người đàn bà trong làng đi gánh nước.

Chăn gối nguội lạnh, phòng the né tránh

Tất cả những gì sau đó đều bắt nguồn từ cảnh phim này. Nỗi bất mãn đối với những điều khó thể chấp nhận được nữa, trước mắt không biến ngay thành một cuộc đối đầu ra mặt giữa những bà vợ và các ông chồng, mà dần dà nhen nhúm để trở thành một phong trào phản kháng âm thầm nhưng không kém phần gay go dữ dội. Hai nhân vật chính là cô gái Leila và bà cụ Biyouna (Vieux Fusil) tìm cách thuyết phục những người đàn bà khác đóng cửa phòng the, tuyệt đối không có quan hệ chăn gối, chừng nào mà đấng mày râu không chịu thay đổi cái tục lệ buộc phụ nữ đi gánh nước.

Cuộc cách mạng nhung được tiến hành từ trong bóng tối, không cần vũ khí sức mạnh mà chỉ cần tới chăn nguội gối lạnh, phòng the né tránh. Không phải ngẫu nhiên mà ống kính của nhà đạo diễn tập trung vào các cảnh quay gọi là ‘‘khép kín thân mật’’. Trước mặt những người đàn ông, phụ nữ không được quyền phát biểu ý kiến, chỉ có ở trong phòng tắm tập thể, trong phòng ngủ cài then, trong những lúc làm bếp hay giặt giũ quần áo, người đàn bà mới nói lên được với nhau những suy nghĩ thầm kín nhất của họ.


Ưu điểm của bộ phim La source des femmes nằm ở trong cách dùng cả hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Hình tượng của nguồn nước là cách đối chiếu so sánh thân phận của người đàn bà. Các màn quay những không gian khép kín, các cuộc bàn thảo giữa phụ nữ với nhau cho thấy là lời nói của người đàn bà khó thể thoát ra khỏi thế giới nội tâm (innerspace) để bước ra ngoài (outerspace) để tìm một chỗ đứng trong xã hội.

Đạo diễn Radu Mihaileanu đôi khi dùng ẩn dụ nhân đôi, hay lồng ghép nhiều ẩn dụ lại với nhau : khi đề cập đến chuyện chăn gối phụ nữ dùng những hình tượng rất bóng bẩy (chẳng hạn như : bánh mì đút lò nướng). Điều đó đặt ra câu hỏi : nếu muốn giải quyết tận gốc rễ thì nên chăng nêu thẳng vấn đề : có như thế nào thì cứ nói như thế nấy, thay vì lòng vòng ví von.

Cuộc cách mạng nhung từ trong phòng ngủ

Trong cách dùng hoán dụ, nhà đạo diễn dùng chi tiết để phác họa tổng thể : hình tượng của ngôi làng miền núi đủ để nói lên thực tế của một xã hội mà nhìn chung vẫn còn có nhiều quan niệm khắt khe đối với phụ nữ. Bộ phim La source des femmes có lẽ sẽ hay hơn nữa nếu như nhà làm phim khoanh vùng vấn đề, đơn thuần tập trung vào một số góc độ thay vì muốn diễn đạt tất cả mà lại không thấu đáo trọn vẹn.

Sinh trưởng tại Rumani, đạo diễn Radu Mihaileanu năm nay 53 tuổi đã cùng với gia đình chạy trốn chế độ Ceaucescu và sang Israel định cư vào đầu những năm 1980. Ông sau đó sang Pháp du học, tốt nghiệp trường điện ảnh IDHEC rồi quyết định ở lại Pháp lập nghiệp. Tính đến nay, ông đã quay 5 bộ phim truyện, trong đó có La source des femmes tác phẩm mới nhất từng đi tranh giải Cành cọ vàng tại liên hoan Cannes hồi tháng 5 năm 2011. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, nhân dịp ra mắt cuộn phim này, đạo diễn người Pháp gốc Rumani Radu Mihaileanu cho biết ý nghĩa của tác phẩm La source des femmes :

Tựa đề bộ phim La source des femmes có nhiều nghĩa khác nhau. Đầu tiên hết, hiểu theo nghĩa đen La source des femmes chỉ nguồn nước ở trên núi cao, nơi mà những người đàn bà phải lặn lội trèo lên để rồi gánh nước xuống đến tận ngôi làng. Con đường dẫn lên núi là một lộ trình đầy hiểm nguy, lượt đi vốn đã khó khăn, lượt về lại càng khổ nhọc hơn, vì mỗi người đàn bà phải gánh thêm trên vai hàng chục lít nước.

Còn hiểu theo nghĩa bóng La source des femmes ám chỉ việc tìm hiểu căn nguyên hay cội nguồn của vấn đề, để rồi từ đó mà có thể giải quyết tận gốc rễ. Ở trong phim chuyện đi gánh nước mỗi ngày chỉ là bề mặt của vấn đề. Đây là một ẩn dụ để nói lên sự chênh lệch trong quan hệ nam nữ. Do có quan niệm khác nhau, nên phái nam nhìn vấn đề này dưới một góc độ khác hẳn phái nữ.

Có nhiều khán giả bảo tôi rằng bộ phim này nói về sự đấu tranh đòi nữ quyền vì đằng sau chuyện gánh nước là cả một vấn đề về cách đối xử với nhau, về nếp sống gia đình cũng như lối suy nghĩ của người đàn ông về vai trò của phụ nữ. Về nội dung có thể là như thế, nhưng về hình thức, cuộc ‘‘đấu tranh’’ này diễn ra một cách nhẹ nhàng, bất bạo động. Sự thông minh của người đàn bà được thể hiện trong phim qua tính khôi hài và bản lĩnh của họ nằm ở trong sự khéo léo để đạt được điều mà họ muốn.

Ngụ ngôn thời nay, điển tích cổ đại

Chuyện phụ nữ đóng cửa phòng the, nhất quyết không có quan hệ chăn gối với chồng bắt nguồn từ một điển tích xa xưa. Cách đây 2500 năm, vào thời cổ đại Hy La, nhà thơ Hy Lạp Aristophane đã viết tác phẩm mang tựa đề Lysistrata (năm 411 trước công nguyên), kể lại câu chuyện của một nhóm phụ nữ (do nhân vật Lysistrata dẫn đầu) ngưng hẳn các quan hệ chăn gối để đòi các ông chồng phải ngưng binh đao chinh chiến.

Câu chuyện này đã gợi hứng sau đó cho nhiều phong trào phụ nữ đấu tranh đòi nữ quyền bằng hình thức bất bạo động, kể cả bà Leymah Gbowee, người Liberia từng đoạt giải Nobel Hoà bình. Còn theo lời đạo diễn Radu Mihaileanu, bộ phim của ông bắt nguồn từ một câu chuyện có thật từng diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Tôi lúc nào cũng gợi hứng từ thực tế để thực hiện các bộ phim truyện. Kịch bản tác phẩm La source des femmes dựa trên một câu chuyện có thật. Câu chuyện diễn ra vào năm 2001 ở một ngôi làng trên miền cao nguyên Thổ Nhĩ Kỳ. Những người đàn bà sống trong ngôi làng này quyết định không có quan hệ chăn gối chừng nào các ông chồng không chịu đào bới, lắp đặt ống bơm để dẫn nước về làng. Sau nhiều tháng trời ‘‘đóng cửa phòng the’’, rốt cuộc các bà đã thuyết phục được các ông, sắn tay áo lên để lắp đặt ống nước.

Vào thời đó, sự kiện này đã thu hút sự quan tâm của báo chí Pháp : tạp chí Elle và nhật báo Libération đều có làm phóng sự về đề tài này. Sau khi tham khảo thêm, thì tôi mới phát hiện ra rằng đây không phải là một trường hợp riêng lẽ vì ở nhiều nơi khác trên thế giới như Philippines, Colombia, Kenya hay Nigeria đều đã từng xẩy ra những câu chuyện tương tự. Mẫu số chung của những câu chuỵên này vẫn là để giải quyết vấn đề, cần có sự đối thoại.

Sự kiện xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ là vào đầu những năm 2000 nhưng thật ra lại xưa như trái đất. Để đạt đến tầm mức phổ quát, tôi phải kể chuyện làm sao để cho nó gần giống với thực tế nhưng đồng thời đó không phải là một thực tế của thời nay mà lại là một câu chuyện thật, đã có từ ngàn xưa. Do vậy, mà tôi chọn hình thức ngụ ngôn, bởi vì nếu thật sự muốn diễn đạt một cách gần sát nhất thì nên chọn thể loại phim tài liệu. Trong phim, câu chuyện xẩy ra vào thời nay tại một nơi nào đó của vùng cao nguyên Bắc Phi, nhưng khung cảnh khép kín đến nổi người xem có cảm tưởng là câu chuyện này có thể diễn ra ở bất cứ ngôi làng hẻo lánh nào ở trên địa cầu.

Vì nguồn nước mà sinh ra mọi chuyện

Vì là một câu chuyện ngụ ngôn, cho nên khi quay bộ phim La source des femmes, đạo diễn Radu Mihaileanu triệt để khai thác thủ pháp ẩn dụ. Ẩn dụ đầu tiên dễ thấy hơn cả, nói về vai trò của người đàn bà ở trong gia đình, và mở rộng ra hơn nữa là vị trí của họ ở trong ngôi làng nói riêng và ở trong xã hội nói chung. Nhưng theo nhà đạo diễn này, ngoài cái tầng lớp đó còn có thêm một ẩn dụ thứ nhì tiềm tàng sâu xa hơn. Ông Radu Mihaileanu cho biết :

Đối với tôi, ẩn dụ đầu tiên đằng sau chuỵên lên núi gánh nước là người đàn bà đòi hỏi sự tôn trọng. Phụ nữ không yêu cầu người đàn ông phải làm thay thế họ, họ cũng chẳng cần người khác ‘‘lên tiếng ca ngợi’’ những gì họ đã làm cho chồng con, cho gia đình hay cho xã hội. Người đàn bà chỉ muốn người ngoài đánh giá đúng mức công việc và vai trò của họ : không hơn không kém. Ở trong phim, nguồn nước còn là ẩn dụ của tình thương, dẫn nước về làng thật ra chẳng khác gì đem lại tình thương giữa các đôi vợ chồng, hay giữa cha mẹ và con cái. Tình thương vợ chồng theo tôi ở đây bao gồm cả sự quý mến và tôn trọng lẫn nhau. Nó đòi hỏi sự gách vác san sẻ trong hạnh phúc cũng như trong hoạn nạn.

Ở trong bộ phim La source des femmes, tuy không nói rõ ra, nhưng ta có thể hiểu là đa số những người đàn ông sống trong ngôi làng bị thất nghiệp, hay bị đuổi việc do khủng hoảng kinh tế. Họ không còn kiếm được việc làm ở tỉnh thành để kiếm tiền về nuôi gia đình. Họ có thời gian nhàn rỗi không phải là do ý muốn mà là do hoàn cảnh đẩy đưa. Nhưng thay vì đỡ bớt một số gánh nặng trong gia đình, họ giữ nguyên cái quan niệm cố hữu : theo đó, chuyện trong nhà cứ để cho vợ lo, và họ không hiểu là tại sao người đàn bà trước kia thường cam chịu nay lại đòi hỏi phải có sự thay đổi. Điều đó không có nghĩa là họ không thương vợ, nhưng từ lúc còn nhỏ, những người đàn ông này không được dạy dỗ để có thể đối thoại khi có bất đồng.

Ẩn dụ của tình thương đi xa hơn nữa khi nó đụng chạm đến một vấn đề nhạy cảm hơn, vì câu chuyện xẩy ra trong một xứ sở theo đạo hồi. Nhưng theo tôi tôn giáo chỉ là một phần của vấn đề : ở những quốc gia khác như Philippines hay Colombia, đa số người dân theo đạo chúa nhưng cũng có vấn đề tương tự. Điều đó chủ yếu xuất phát từ những thành kiến hay quan niệm hạn hẹp về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Trong số 5 tác phẩm mà ông đã quay, đạo diễn Radu Mihaileanu từng ăn khách trước đây với tác phẩm Va vis et deviens (tạm dịch là Cho con cơ hội thành người) và Le concert (Buổi hòa nhạc). Điểm chung giữa các bộ phim này, là đạo diễn Mihaileanu thích quay bằng tiếng nước ngoài. Sau tiếng Do Thái, và tiếng Nga ông chọn quay bằng tiếng darija, một thổ ngữ miền cao nguyên Bắc Phi. Việc chọn bối cảnh của một đất nước hồi giáo giúp cho nội dung cuộn phim càng dật đến một tầm mức phổ quát hơn.

Trong phim có hai nhân vật chính : cô gái Leila tượng trưng cho tuổi trẻ muốn có một sự thay đổi trong quan hệ nam nữ. Còn bà cụ Biyouna (nhân vật Vieux Fusil) tiêu biểu cho các thế hệ phụ nữ đi trước, kinh nghiệm của những người đàn bà theo đạo hồi này được truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Còn cô Leila do biết đọc biết biết viết nên có tư tưởng rộng mở hơn. Cả hai phụ nữ trẻ cũng như già hợp sức để khuyến khích những người đàn bà khác sống trong cùng ngôi làng tham gia vào phong trào đóng cửa phòng the. Mục tiêu của họ là thuyết phục những người đàn ông ngồi lại với nhau để tìm cách dàn xếp vấn đề.

Gọi là đấu tranh đòi nữ quyền nhưng theo quan niệm của tôi, thì một sự đối đầu giữa nam và nữ không có lợi cho cả hai phái. Họ phải bàn bạc với nhau để cùng tìm ra phương cách giải quyết vấn đề. Điều đó chỉ có thể xẩy ra khi phụ nữ được quyền phát biểu, được quyền ăn học, mở mang kiến thức. Bộ phim La source des femmes không minh họa cho sự đối chọi giữa một bên là truyền thống đạo hồi, và một bên là hiện đại, mà lại nhấn mạnh trên sự hoà thuận chung sống.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#8 Posted : Friday, December 2, 2011 7:50:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)


The Lady, người đàn bà gan lì, cành hoa lan sắt thép


UserPostedImage
The Lady kể lại một phần cuộc đời của Aung San Suu Kyi (DR)

Tuấn Thảo - RFI - THỨ SÁU 02 THÁNG MƯỜI HAI 2011
Aung San Suu Kyi, người đàn bà gan lì, biểu tượng của dân tộc Miến Điện kháng cự lại sự đàn áp của một chế độ độc tài quân phiệt. Từ khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1991, bà Aung San Suu Kyi trở thành hiện thân của phong trào đòi tự do và dân chủ, noi theo tấm gương đấu tranh bất bạo động của bậc tiền bối là Nelson Mandela và nhất là Thánh Gandhi.
Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể cuộc đời của Aung San Suu Kyi lên màn ảnh lớn. Bộ phim The Lady với nữ diễn viên Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) trong vai chính, vừa được cho ra mắt khán giả Pháp trong tuần này. Bộ phim cũng từng được công chiếu lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2011 trong khuôn khổ liên hoan quốc tế điện ảnh Toronto ở Canada.

Trái với những thông tin loan tải trước đây trên mạng, theo đó đạo diễn Pháp Luc Besson đã ấp ủ dự án quay phim này từ nhiều năm qua, thật ra diễn viên Dương Tử Quỳnh mới là người đầu tiên được đọc kịch bản The Lady. Chính cô đã thuyết phục đạo diễn Luc Besson bấm máy thu hình. Bộ phim chủ yếu được quay tại Thái Lan, phần hậu kỳ được thực hiện tại Pháp, chỉ có một số màn ngoại cảnh là được thu lén tại Miến Điện. Để luồn lách sự kiểm duyệt, để thoát khỏi sự kiểm soát của công an, các nhân viên trong đoàn làm phim đã phải giả dạng làm du khách nước ngoài.

Ra đi không ngày mai, hành trình không trở lại

Về nội dung bộ phim The Lady không kể lại toàn bộ cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, mà chỉ tập trung nói về giai đoạn từ những năm 1988 đến năm 1999, hai thời điểm định mệnh trong cuộc đời của người đàn bà gan lì. Vào tháng ba năm 1988, người thân trong gia đình báo tin cho Aung San Suu Kyi là thân mẫu của bà vừa đột qụy. Từ Anh Quốc, bà quyết định rời mái ấm gia đình, trở về Miến Điện để chăm sóc người mẹ đau yếu. Để trấn an chồng con, bà Aung San Suu Kyi nói rằng chuyến đi này chỉ kéo dài có vài tuần lễ, nhưng không ai ngờ rằng đó thật ra là một cuộc hành trình không có ngày trở lại.


Tại bệnh viện thành phố Rangoon, Aung San Suu Kyi chứng kiến tận mắt cảnh quân đội Miến Điện đàn áp đám đông biểu tình. Phong trào xuống đường đòi dân chủ đã bắt đầu từ tháng 5 năm 1988. Áp lực từ đường phố buộc tướng Ne Win, nhân vật số 1 của tập đoàn quân phiệt Miến Điện, phải từ chức. Thế nhưng, người lên thay thế ông (tướng Than Shwe) lại thuộc phe bảo thủ cứng rắn trong hàng ngũ quân đội. Chính quyền ra lệnh thẳng tay đàn áp người biểu tình. Quân đội không ngần ngại nã súng bắn vào đám đông, khiến hàng ngàn người bị thiệt mạng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, nên sự kiện này được gọi là "Biến cố 8888".

Sau cuộc đàn áp đẫm máu, bà Aung San Suu Kyi quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đòi dân chủ. Bà nối nghiệp thân phụ là tướng Aung San, được xem như là một vị anh hùng dân tộc vì ông đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc giành độc lập cho Miến Điện. Noi gương người cha, Aung San Suu Kyi đứng lên lãnh đạo phong trào đối lập, bà sát cánh đấu tranh Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1988. Hơn một năm sau, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ thắng đậm nhân kỳ tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 5 năm 1990, nhưng kết quả bầu cử bị chính quyền hoàn toàn phủ nhận.

Đối với giới lãnh đạo tập đoàn quân phiệt, Aung San Suu Kyi cánh chim đầu đàn của phong trào đối lập trở thành một đối thủ hết sức đáng gờm. Các tướng lãnh ra lệnh bằng mọi cách đè bẹp phong trào đấu tranh. Từ hình thức hù dọa, gây áp lực tinh thần cho đến việc bắt giữ, cầm tù hay giam lỏng, chính quyền chĩa mũi dùi vào Aung San Suu Kyi và các bạn hữu đồng hành. Càng bị trấn áp, bà lại càng gan lì. Một trong những màn biểu tượng của bộ phim là khi bà đứng trước một hàng lính giăng ngang chặn đường, các binh lính đã nộp đạn nhắm bắn, ngón tay sẵn sàng bấm cò. Thay vì hãi sợ thụt lùi, Aung San Suu Kyi lại bước tới phiá trước, bất kể các mũi súng đang dí vào mặt.

1988 - 1999 : Hai thời điểm định mệnh

Trong phim, nếu như ngày 8 tháng 8 năm 1988 là cột mốc lịch sử đầu tiên, thì năm 1999 đánh dấu thời điểm quan trọng thứ nhì. Đó là năm mà giáo sư người Anh Michael Aris (do Daniel Thewlis thủ vai), chồng của bà Aung San Suu Kyi qua đời vì bệnh ung thư. Nổi danh là một chuyên gia về văn hoá Tây Tạng thuộc trường đại học Oxford, ông Michael Aris thành hôn với bà Aung San Suu Kyi vào năm 1972. Nhân vật người chồng chiếm một vị trí quan trọng ở trong bộ phim The Lady. Vì chính ông khuyên vợ đừng mềm lòng nản chí, đừng vì chuyện nhà mà quên chuyện nước, đừng hy sinh cuộc đấu tranh cho dân tộc, chỉ vì ích kỷ cá nhân hay hạnh phúc bản thân.

Vào năm 1997, giới bác sĩ chẩn đoán phát hiện ông Michael Aris bị bệnh ung thư. Dù đã nhiều năm xa cách, nhưng ông không nỡ đòi vợ trở về Anh Quốc để chăm sóc bệnh tình cho ông. Vào lúc đó, chính quyền Miến Điện sẵn sàng để cho bà Aung San Suu Kyi lên máy bay sang Luân Đôn, vì lý do gia đình. Hù dọa không xong mà giam cầm cũng vô hiệu quả, nên chính quyền mới chuyển sang hình thức mua chuộc, mặc cả tình cảm. Theo lời khuyên của chồng, bà Aung San Suu Kyi quyết định ở lại, vì bà thừa hiểu rằng chính quyền muốn tống bà ra khỏi Miến Điện : một khi về thăm chồng, bà sẽ không còn được trở lại quê cha.


Ông Michael Aris qua đời hai năm sau đó, để lại hai đứa con mồ côi. Aung San Suu Kyi tiếp tục bị giam lỏng, không được nhìn mặt chồng bà một lần cuối. Bà nói : ở một đất nước thật sự tự do, thì không có ai bị buộc phải có một sự chọn lựa đớn đau đến như vậy. Lựa chọn theo kiểu này thì chẳng thà không chọn lựa còn hơn. Bộ phim do khép lại vào thời điểm này, kết thúc một cách lưng chừng, bỏ lửng. Aung San Suu Kyi kiên trì đấu tranh mà vẫn chưa thấy tia ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm u tối. Nhưng từ người đàn bà sắt thép này lại lóe lên một vầng hào quang sáng ngời tuyệt đối. Cái chết của ông Michael Aris nói riêng và của những người đấu tranh với bà nói chung không trở nên vô nghĩa, mà lại thắp sáng thêm niềm tin của một tâm hồn bất khuất.

Bi kịch gia đình, thảm kịch quốc gia

Bộ phim The Lady của đạo diễn Pháp Luc Besson có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Ưu điểm đầu tiên là Luc Besson đã phần nào thay đổi phong cách làm phim của mình. Nổi tiếng là một người chuyên quay phim hành động, chuộng kỹ xảo và nhịp điệu dồn dập, đạo diễn Pháp lần này buộc phải tập trung vào các diễn biến nội tâm của hai nhân vật chính. Nhà làm phim xen kẻ khá tài tình các màn qua cận ảnh với thủ pháp các màn quay toàn cảnh, hàm ý Aung San Suu Kyi và vận mệnh dân tộc Miến Điện, tuy hai mà chỉ là một.

Một cách tương tự, các nhân vật Michael Aris và Aung San Suu Kyi là hai tâm hồn đồng nhất, khi thực sự là một nửa của nhau. Đó là những vai diễn bằng vàng, nếu không nói là để đời. Về điểm này, phải công nhận là Dương Tử Quỳnh nhập vai một cách xuất thần. Cô học tiếng Miến Điện, học từng động tác điệu bộ của Aung San Suu Kyi qua phóng sự truyền hình hay phim tài liệu cho thấy bà xuất hiện trước công chúng.

Tuy có nét mặt hao hao như Aung San Suu Kyi, nhưng Dương Tử Quỳnh lại còn nhịn ăn để gầy hẳn đi, làm cho nét tiều tụy hiện lên trên nhan sắc để có thể gần giống hơn nữa với vai diễn. Cô đã được dịp đến Miến Điện gặp bà Aung San Suu Kyi lần đầu tiên vào cuối năm 2010, trước khi đoàn làm phim chuẩn bị bấm máy thu hình tại Thái Lan. Sau chuyến đi này, Dương Tử Quỳnh bị đưa vào sổ đen, vì khi trở lại thăm bà Aung San Suu Kyi lần thứ nhì vào tháng 6 năm 2011 cô đã bị chặn lại tại sân bay, không được phép nhập cảnh, rồi bị trục xuất khỏi Miến Điện.

Diễn viên Dương Tử Quỳnh và đạo diễn Pháp Luc Besson đều cho biết là công chúng thường nhìn bà Aung San Suu Kyi như là một biểu tượng đấu tranh cho tự do và dân chủ, ngược lại ít ai biết đến chồng bà là giáo sư Michael Aris. Kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, ngay từ đầu đã chọn quan hệ giữa hai vợ chồng làm điểm nhấn, trong những năm tháng đau khổ, những giây phút cam go. Theo cách đọc này, tình thương là động lực thôi thúc, duy trì ngọn lửa thiêng đối với nhà tranh đấu.

Phụ nữ gan lì, hoa lan sắt thép

Vào những năm 1990, Aung San Suu Kyi từng viết về sự đấu tranh của bà trong quyển sách mang tựa đề “Freedom from Fear” (tạm dịch là Vượt lên sự sợ hãi). Nhưng lãnh đạo đối lập Miến Điện hầu như không bao giờ nói về đời tư hay tiết lộ chuyện gia đình. Kịch bản bộ phim The Lady khi tập trung nói về mối tình của cặp vợ chồng này buộc phải điền vào chỗ trống. Nhân vật Aung San Suu Kyi vì thế mà càng trở nên lãng mạn giống như tiểu thuyết. Tác phẩm The Lady tuy gọi là phim tiểu sử (biopic), nhưng thật ra là một bộ phim tình cảm, có nhiều đoạn cảm động nhưng cũng có màn hơi cường điệu.

Thông thường, một bộ phim theo thể loại này thường lồng tiểu sử vào lịch sử, kể một câu chuyện nhỏ để làm nổi bật câu chuyện lớn. Khuyết điểm của bộ phim The Lady là tác phẩm bị mất cân đối do đạo diễn Luc Besson tập trung quá nhiều vào mối tình của cặp vợ chồng Aung San Suu Kyi, mà chỉ nhìn lướt qua bức tranh toàn cảnh của đất nước Miến Điện. Điển hình là màn mở đầu bộ phim cho thấy cảnh ám sát thân phụ của Aung San Suu Kyi vào năm 1947, nhưng khán giả không biết vì lý do nào. Các sự kiện có thật thường chỉ được phác họa, cho nên khó có thể giúp cho người xem nắm bắt để hiểu rõ thêm về bề dày lịch sử.

Suy cho cùng, bộ phim The Lady nói về hai tấn bi kịch diễn ra cùng lúc : một bên là bi kịch gia đình bà Aung San Suu Kyi và một bên là bi kịch của dân tộc Miến Điện. Nếu cả hai vế bổ túc cho nhau, thì hẳn chắc là bộ phim The Lady sẽ càng có nhiều chiều sâu hơn nữa. Nhưng điều mà người xem có thể cảm nhận rõ nhất là nghị lực và ý chí của bà Aung San Suu Kyi : một vóc dáng mong manh mà bản lĩnh gan lì, một nhánh lan mềm mại nhưng cành hoa sắt thép.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#9 Posted : Thursday, December 15, 2011 11:24:31 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
VOA - Thứ Năm, 15 tháng 12 2011

Phim câm ‘Người Nghệ sĩ’ dẫn đầu về đề cử Giải Cầu Vàng


UserPostedImage
Hình: ASSOCIATED PRESS
Sofia Vergara công bố các đề cử cho Giải Cầu Vàng lần thứ 69, thứ năm, 14/12/2011

Một phim của Pháp nhằm vinh danh giai đoạn phim câm được đề cử nhiều nhất cho Giải Cầu Vàng, một giải có uy tín của Hollywood ghi nhận các thành tựu hay nhất cho phim và truyền hình trong năm.

“Người Nghệ sĩ,” (The Artist) một phim câm đen trắng, nhận được 6 đề cử. Đó là phim Hài hước hay Âm nhạc hay nhất, Jean Dujardin được đề cử nam tài tử xuất sắc nhất cho loại phim Hài hước hay Âm nhạc, Berenice Bejo được đề cử nữ tài tử phụ xuất sắc nhất, Michel Hazanavicus được đề cử Đạo diễn và người viết truyện phim xuất sắc nhất, và Ludovic Bource được đề cử soạn nhạc hay nhất.

Hai phim khác, “Người giúp việc" (The Help) và “Những con cháu” (The Descendants) đồng hạng nhì với 5 đề cử, trong đó có đề cử cho kịch bản xuất sắc nhất.

Phim “Người giúp việc” kể lại câu chuyện của những người giúp việc Mỹ gốc châu Phi trong thời kỳ trước khi có giải phóng dân quyền tại miền Nam nước Mỹ. Phim “Những con cháu” nói về một ông vua đất đai vất vả để giữ cho gia đình hoà hợp với nhau.

Nam tài tử Mỹ George Clooney trong phim “Những con cháu” có thể được giải nam tài tử xuất sắc nhất.

Tài tử Mỹ Leonardo DiCaprio đóng vai chính trong phim “J. Edgar”, một phim về giám đốc FBI lâu đời J. Edgar Hoover cũng được đề cử nam tài tử xuất sắc nhất.

Về truyền hình, phim “Tu viện dưới phố” (Downton Abbey) dẫn dầu với 4 đề cử gồm có phim nhiều tập hay nhất, hay Phim làm riêng cho Truyền hình.

Giải Cầu Vàng hàng năm được Hiệp hội Báo chí nước ngoài tại Hollywood trao tặng, là giải có uy tín chỉ thua giải Oscar và được xem như thước đo cho những phim và tài tử có nhiều triển vọng được giải Oscar.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#10 Posted : Friday, January 6, 2012 8:49:48 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 06 THÁNG GIÊNG 2012

Bộ phim Le Havre : kiếp nghèo mà vẫn vẹn toàn nhân cách

UserPostedImage
Cậu bé Idrissa (B.Miguel) và nhà văn Marcel (André Wilms)
trong phim "Le Havre" của đạo diễn Aki Kaurismäki (Pyramide Distribution)

Tuấn Thảo
Sau khi được giới phê bình tán thưởng tại liên hoan Cannes tháng 5 năm 2011, bộ phim Le Havre của đạo diễn Aki Kaurismaki vừa đoạt giải thưởng Louis Delluc của làng điện ảnh Pháp. Hơn thế nữa, phim này được chọn để đại diện cho Phần Lan đi tranh giải tác phẩm nước ngoài xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải Oscar năm 2012.
Tác phẩm Bến cảng Le Havre có thể được xem như một bộ phim tình cảm tâm lý, khai thác mạch phim xã hội khi dàn dựng câu chuyện của một ông lão đánh giầy tình cờ gặp một cậu bé người Gabon, trôi dạt vào đất Pháp. Chủ đề này từng được nhiều nhà đạo diễn Pháp dựng thành phim chẳng hạn như Welcome của Philippe Lioret hay Eden à L’Ouest của Costa Gavras. Đặt tựa như vậy là có dụng ý châm biếm mĩa mai, vì nước Pháp không có chính sách mở tiếp đón người nhập cư trái phép (Welcome). Khác xa với thực tế, phương Tây không phải là thiên đường đối với những ai không có giấy tờ hợp lệ (Eden à L’Ouest). Bộ phim Le Havre thiên về lối kể chuyện ngụ ngôn, thâm thúy trong lời thoại, tinh tế từng chi tiết.

Đó là câu chuyện của Marcel Marx, một nhà văn hết thời hay nói cho đúng hơn là một tác giả suốt đời chờ thời, nhưng chưa một lần đúng hẹn với thành công. Từ Malakoff, vùng ngoại ô Paris, ông trôi dạt về bến cảng Le Havre, miền bắc nước Pháp. Một cuộc sống coi như là đã an phận, không trách móc mà cũng chẳng phiền hà những người xung quanh mình : từ bà chủ quán rượu, cô bán bánh mì, ông già bán rau cho đến cậu Chang, anh thợ đánh giầy người Việt nhưng lại cầm giấy tờ tùy thân của một người Hoa. Cho đến cái ngày mà vợ của Marcel lâm bệnh nặng, buộc phải vào nhà thương. Một mặt phải xoay sở cho vợ mình, ông Marcel còn phải giúp Idrissa một cậu bé người Gabon, được gia đình cho đi vượt biên, nhưng rốt cuộc lại bị kẹt trên đất Pháp. Cũng như nhiều người nhập cư trái phép khác, thằng bé tìm đường sang Anh Quốc, để được đoàn tụ với mẹ ruột.

Tuy có vấn đề gia đình, nhưng ông lão vẫn giúp cho thằng nhỏ thoát khỏi sự truy lùng của cảnh sát. Nhưng cứ mỗi ngày đem thức ăn cho Idrissa, hay giúp cho thằng nhỏ tìm nơi ẩn trốn chỉ là một giải pháp tạm thời, không thể kéo dài được nữa. Marcel quyết định tìm cho ra 3 ngàn euros, huy động sự giúp đỡ của tất cả những người mà ông quen biết để có thể đưa thằng nhỏ lên tàu đánh cá vượt biên một lần nữa. Câu chuyện ngụ ngôn kết thúc một cách có hậu, không chỉ một lần mà lại có hậu đến hai lần : vợ của Marcel tuy lâm bệnh nặng mà vẫn thoát chết, cậu bé Idrissa rốt cuộc cũng được đoàn tụ với thân mẫu trên đất Anh.

Xem phim Le Havre, ta có thể liên tưởng đến cuộn phim It's a Wonderful Life (1946) của đạo diễn Mỹ Frank Capra. Ở chỗ cả hai tác phẩm khai thác hình tượng của một vị thiên thần bị đày làm kiếp người, nhờ cưu mang đồng loại mà lấy lại được đôi cánh. Trong Le Havre, nhà văn Marcel kiếm sống nhờ nghề đánh giầy, ông chẳng khác gì một thiên thần hộ mệnh, nâng đỡ cậu bé Idrissa vì thương kẻ bất hạnh hơn mình. Bộ phim Le Havre thành công nhờ vào lối diễn xuất rất tự nhiên của dàn diễn viên nghiệp dư cũng như chuyên nghiệp.

Lối quay phim của Kaurismaki cũng rất tinh tế đầy ẩn ý khôi hài : chẳng hạn như nhà văn Marcel chẳng thà kiếm sống bằng nghề đánh giầy còn hơn luồn cúi đi nịnh hót người khác (cirer les chausures trong nghĩa đen có nghĩa là đánh giầy, trong nghĩa bóng có nghĩa là nịnh hót). Màn ảnh bàng bạc chất thơ, tình người đầy ấp lời thoại, bộ phim Le Havre đoạn tuyệt với mạch phim dấn thân, không cần vạch trần thực tế, không dùng giọng điệu lên lớp dạy đời, mà vẫn thì thầm nhắc nhở chúng ta một điều : nơi mỗi con người, không có gì đáng quý bằng hai chữ nhân cách.


Tiễn năm cũ đón năm mới, ai ai cũng chúc cho nhau những điều tốt lành. Thời điểm cho ra mắt bộ phim Le Havre vào mùa này rất là thích hợp. Tâm lý của khán giả Pháp vào thời buổi khó khăn, thiên về những bộ phim xã hội giàu tính nhân bản : sau hiện tượng Les Intouchables với hơn 15 triệu lượt khán giả, có thể nói là bộ phim Le Havre, tuy không đại chúng, nhưng vẫn có nhiều cơ hội thành công. Bộ phim Le Havre là tác phẩm đầu tiên của Kaurismaki hoàn toàn được quay bằng tiếng Pháp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban Pháp ngữ, nam diễn viên André Wilms nói về sự hợp tác của ông với đạo diễn Phần Lan Aki Kaurismaki. Đây là lần thứ tư hai người làm việc với nhau, và theo đánh giá của nam diễn viên, Kaurismaki xứng đáng được xếp vào hàng các đạo diễn bậc thầy :

Đạo diễn Kaurismaki không giống ai cả. Các bộ phim của ông thường đậm đặc chất thơ, nội dung tác phẩm khó thể đoán trước. Kaurismaki không quay phim theo kiểu Mỹ với cốt truyện dựng sẵn, ngược lại ông để nhiều khoảng trống trong kịch bản để có thể nắm bắt những ngẫu hứng trong khoảnh khắc. Do vậy mà đối với các diễn viên, không dễ gì làm việc với ông : trước hết bởi vì ông lầm lì ít nói, trên phim trường ông cũng ít khi nào điều khiển diễn viên. Ông tạo nên một bầu không khí chung, mở ra bối cảnh câu chuyện và để cho diễn viên nhập vai tuỳ theo cảm tính. Tôi đã từng quay bộ 4 phim với đạo diễn Kaurismaki. Lần trước là cách đây đúng 20 năm (1992) với bộ phim La Vie de Bohème tạm dịch Kiếp sống phiêu lãng.

Trong phim này, tôi đóng vai nhà văn Marcel Marx đến Paris để lập nghiệp và cũng như bao nghệ sĩ chờ thời khác (ngoài nhà văn này còn có một họa sĩ người Albanie và một nhà soạn nhạc người Ai Len), nhân vật Marcel không thể kiếm sống nhờ vào các sáng tác của mình, cho nên phải tìm cách xoay sở để có thể sống sót từ ngày này qua ngày nọ. Còn trong bộ phim Le Havre (Bến cảng Le Havre), khán giả tìm lại nhà văn Marcel Marx đúng 20 năm sau : kiếp sống lãng tử phiêu bạt khiến ông trôi dạt về thành phố cảng ở miền bắc nước Pháp. Sự nghiệp cầm bút của Marcel coi như là đã thất bại, ông kiếm sống nhờ nghề đánh giầy. Ông không coi đó như là một sự đọa đày mà vẫn tìm thấy nhiều niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống.

Theo tôi, cách nhìn này phản ánh rất nhiều cá tính của đạo diễn Kaurismaki. Ông vào nghề làm phim không phải vì tiền tài danh vọng, mà chủ yếu để thỏa mãn đam mê nghệ thuật thứ 7. Đạo diễn này thành danh sau một giai đoạn dài gặp nhiều khó khăn. Đến khi nổi tiếng và được giới phê bình chuyên nghiệp công nhận, Kaurismaki vẫn giữ nguyên tính khiêm tốn. Ông không coi mình như là một ‘‘tác giả lớn’’ mà chỉ là một người thợ làm phim, trung thành với chính mình, tâm huyết với nghề nghiệp.

Trong bộ phim Le Havre, đạo diễn Kaurismaki nói về thân phận của những kẻ nhập cư trái phép vào nước Pháp, nhưng khác hẵn với nhiều tác phẩm trước đây nói về cùng một chủ đề của các đạo diễn khác, Le Havre không phải là một bộ phim hiện thực mà lại gần giống với một câu chuyện ngụ ngôn. Vì sao đạo diễn Phần Lan lại chọn cách quay phim như vậy, diễn viên André Wilms cho biết :

Bộ phim của đạo diễn Kaurismaki không thuộc về thể loại tài liệu mà lại là một tác phẩm hoàn toàn hư cấu : hoàn cảnh số phận của những người nhập cư bất hợp pháp chỉ là một phần của câu chuyện. Điều mà ông quan tâm là các nhân vật chính ở trong phim ứng xử như thế nào khi bản thân họ đứng trước một con người đang gặp hoạn nạn, liệu họ sẽ khoanh tay đứng nhìn hay sẽ giúp đỡ ‘‘kẻ lạ’’ này hay chăng ?

Theo tôi, không phải ngẫu nhiên mà đạo diễn Kaurismaki chọn thể loại ngụ ngôn, dùng tính chất hư cấu để soi rọi một thực tế, dùng chất thơ để phản ánh đời thường. Đạo diễn Kaurismaki quan niệm rằng : mạch phim hiện thực theo kiểu bám sát thực tế khó thể diễn tả điều mà ông muốn truyền đạt. Ông không muốn khán giả cảm thấy chua xót thương hại khi phải chứng kiến hoàn cảnh của những kẻ bất hạnh. Đó là cái cảm giác mà ta thường thấy khi xem phim tài liệu hay phóng sự điều tra truyền hình về chủ đề này. Khi tạo dựng trên màn ảnh lớn những nhân vật không có thật, nhà làm phim đặt một khoảng cách giữa hư cấu và thực tại, nhưng nhờ vậy mà nội dung tác phẩm đạt đến một tầm mức phổ quát hơn.

Nhân vật mà tôi đóng ở trong phim là Marcel Marx, một nhà văn quèn, với sự nghiệp cầm bút dỡ dang. Sự kiện Marcel chịu khó giúp đỡ Idriss để cho cậu bé da đen có thể đoàn tụ với gia đình, không biến nhà văn này thành một ‘‘nhân vật anh hùng’’. Điều đó chỉ có nghĩa là Marcel tuy nghèo khó nhưng vẫn biết đùm bọc những kẻ còn gặp nhiều khó khăn hơn mình. Đó là thông điệp chính yếu mà nhà đạo diễn muốn gửi gấm đến người xem.
Le Havre - Clip (HD)
http://www.youtube.com/w...;feature=player_embedded

Trung thành với lối làm phim giàu tính nhân văn, cảnh phim hết sức bình thường nhưng lại đậm đặc chất thơ, đạo diễn Kaurismaki đã hoàn thành một tác phẩm có tầm vóc, ngang hàng với tác phẩm trước đây của ông là L’Homme sans Passé Người không có quá khứ, từng đoạt hai giải thưởng lớn của ban giám khảo liên hoan Cannes vào năm 2002, cách đây đúng 10 năm. Aki Kaurismaki được liệt vào hàng đạo diễn kỳ cựu vì ngôn ngữ điện ảnh của ông hết sức tinh tế.

Đạo diễn Kaurismaki không thích lối quay phim mà qua đó người xem có thể nhìn thấy cách di chuyển ống kính. Ngôn ngữ điện ảnh của ông thiên về lối quay nửa thân và cận ảnh, mỗi màn quay tựa như một bức tranh, nhưng lại là một bức tranh sinh động : cái khung cảnh không hề xê dịch, chỉ có nhân vật ở ‘‘trong tranh’’ mới di chuyển cử động. Nhà đạo diễn không yêu chuộng các hiệu ứng hình ảnh mà lại đặt ống kính khá gần sát để tạo ra sự gần gủi với các nhân vật. Ông thường dùng ánh sáng để minh họa nội tâm của nhân vật : chẳng hạn như cảnh u tối của một người đàn ông trung niên ngồi trong quán rượu, đến khi người tình đẩy cửa bước vào trong quán nước, thì đột nhiên ánh sáng luồn vào làm cho khung cảnh của quán nước cũng như nội tâm nhân vật bớt tối tăm buồn bã hơn.

Trong phim của Kaurismaki, ánh sáng được đặt ngang hàng với các nhân vật cũng như tất cả các chi tiết nhỏ nhặt. Theo quan niệm của nhà làm phim, nỗi buồn của nhân vật không chỉ thể hiện qua nét mặt hay ánh mắt mà còn hiện lên trong cách dùng ánh sáng chiếu vào ly rượu mà nhân vật này đang cầm. Tất cả những chi tiết này thoạt nhìn qua không thể thấy ngay được, chỉ có những khán giả nào tinh ý mới nhận thấy là ngoại cảnh thường phản ánh nội tâm. Sự tinh tế đó là dấu ấn riêng biệt trong ngôn ngữ điện ảnh của đạo diễn Kaurismaki.

Tuy nội dung của bộ phim Le Havre không nói rõ là bộ phim diễn ra tại Pháp vào thời điểm nào, nhưng về màu sắc cũng như lời thoại thì có thể nói là bộ phim gợi hứng rất nhiều cách làm phim của những năm 1950. Theo nam diễn viên André Wilms, không phải ngẫu nhiên mà đạo diễn Phần Lan Kaurismaki chọn một lối quay như vậy, bởi vì ông rất ngưỡng mộ các đạo diễn Pháp nổi tiếng vào thập niên này.

Đạo diễn Kaurismaki rất sành về điện ảnh Pháp, nhất là thế hệ thành danh vào những năm 1950. Cách làm phim giàu chất thơ nhưng không kém phần hiện thực của ông gợi hứng từ các bậc đàn anh như Becker, Bresson, Melville, Renoir… Nếu như ở Pháp, các đạo diễn như Chabrol hay Sautet chuyên kể những câu chuyện về những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, tiểu tư sản, thì ngược lại các đạo diễn Pháp mà Kaurismaki hằng ngưỡng mộ thường tạo dựng những nhân vật thuộc giai cấp thấp hơn trong xã hội.

Họ có thể là công nhân thợ thuyền, họ có thể xuất thân từ những gia đình nghèo, không được ăn học tới nơi tới chốn. Nói chung là họ không thuộc thành phần được xã hội ưu đãi. Ta có thể tìm thấy những yếu tố này trong phim Le Havre, nhà văn Marcel do hoàn cảnh đẩy đưa trở thành một ông lão đánh giầy, cậu thanh niên Chang, một người Việt nhập cư bất hợp pháp buộc phải mang giấy tờ của một người Hoa, cậu bé da đen Idrissa xuất thân từ một gia đình có học, thân phụ là giáo sư ở Gabon, nhưng khi cậu bé trôi dạt vào đất Pháp, thì coi như là không còn lý lịch nào cả.

Đối với xã hội người ngoài họ trở thành những kẻ vô hình, sống vất vưởng bên lề, không còn ai thật sự để ý đến. Khi trao tiếng nói cho những con người vô hình này, điều mà đạo diễn Kaurismaki cũng như các bậc đàn anh muốn gửi gấm là những kẻ xa lạ không cần đến sự thương hại của chúng ta. Điều mà họ coi trọng là cách đối xử giữa con người với nhau. Đạo diễn Kaurismaki gọi đó là phẩm giá của những kẻ bần cùng. Cho dù đã mất tất cả, nhưng những mảnh đời trôi dạt ấy vẫn còn ưu ái tình người, quý trọng nhân cách.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#11 Posted : Monday, January 16, 2012 1:52:02 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - Thứ hai 16 Tháng Giêng 2012

Phim Pháp The Artist đoạt ba giải Quả cầu vàng

UserPostedImage
Thomas Langmann (trái), nhà sản xuất phim, Jean Dujardin (giữa) và chú chó diễn viên, đạo diễn Michel Hazanavicius tại Los Angeles, ngày 15/01/2012.
REUTERS/Lucy Nicholson

Tuấn Thảo
Nhân buổi lễ trao giải Golden Globes tối hôm qua (15/1/2012) tại Los Angeles, bộ phim Pháp The Artist (Nghệ sĩ) đã dẫn đầu bảng vàng khi giành được cùng lúc ba giải thưởng quan trọng. Tác phẩm của đạo diễn Michel Hazanavicius đã được xướng tên ba lần trong các hạng mục bộ phim hài hay nhất, nam diễn viên hài xuất sắc và nhạc phim nguyên tác hay nhất trong năm.
Phần lớn được quay tại phim trường Hollywood, tác phẩm The Artist nói về sự suy tàn của thời đại phim câm cuối những năm 1920, báo hiệu cho ngày đăng quang của các bộ phim có thu tiếng, mở ra một kỷ nguyên mới cho nghệ thuật thứ bảy. Nhân vật chính trong phim, do diễn viên Jean Dujardin thủ vai là biểu tượng của tất cả các ngôi sao màn bạc thành danh trong thời kỳ huy hoàng của phim câm để rồi sau đó chìm hẳn vào quên lãng (xem bài điểm phim The Artist của RFI phát vào ngày 22/10/2011).

Nhờ vai diễn này mà Jean Dujardin đã nhận được một Quả cầu vàng năm nay. Lần trước, một diễn viên Pháp đoạt giải này là nam tài tử Gérard Depardieu trong bộ phim Green Card (Thẻ xanh) quay vào năm 1991. Phim câm gây nhiều tiếng vang, không dùng tiếng nói nên không bị rào cản ngôn ngữ . Sự thành công của The Artist phần lớn dựa vào cái ý tưởng khá táo bạo của tác phẩm : diễn đạt nội tâm các nhân vật mà không cần đến lời thoại, đi ngược lại với xu hướng hiện giờ làm phim có thu tiếng, thiên về các pha hành động và kỹ xảo điện toán. Nhờ vào ba Quả cầu vàng, mà The Artist đã dẫn đầu bảng vàng Golden Globes và dự báo nhiều điều tốt lành cho kỳ trao giải Oscar ngày 26/2/2012 tới.

Golden Globes 2012 cũng đánh dấu sự thành công của phim The Descendants với giải dành cho phim chính kịch hay nhất (drama) và giải diễn viên xuất sắc về tay George Clooney. Về phía các nữ diễn viên, Meryl Streep và Michelle Williams đều đoạt giải diễn xuất nhờ vào thể loại phim tiểu sử (biopic). Meryl Streep xuất sắc nhờ vai cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher trong phim The Iron Lady (Người đàn bà thép). Còn Michelle Williams thì lại nổi bật trong vai thần tượng Marilyn Monroe trong phim My week with Marilyn (Một tuần với Marilyn).

Trong các hạng mục khác, giải phim hoạt hình được trao cho bộ phim Tintin, bí mật của kỳ lân. Giải đạo diễn về tay Martin Scorsese cho bộ phim Hugo Cabret nói về những bước đầu của nghệ thuật thứ bảy trên đất Pháp. Còn bộ phim Midnight in Paris cũng chọn thủ đô Pháp làm bối cảnh, và giúp cho Woody Allen đoạt giải kịch bản, nhân kỳ trao giải Quả cầu vàng 2012.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#12 Posted : Saturday, January 28, 2012 6:12:40 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - Thứ bảy 28 Tháng Giêng 2012

Phim Polisse dẫn đầu với 13 đề cử César của Pháp

UserPostedImage
Đạo diễn Maiwenn (phải) với đoàn diễn viên phim Polisse tại liên hoan Cannes (REUTERS)

Tuấn Thảo
Hôm qua 27/01/2012, giới chuyên nghiệp đã công bố các bộ phim đi tranh giải thưởng César của làng điện ảnh Pháp. Một cách bất ngờ, bộ phim Polisse của nữ đạo diễn Maïwenn dẫn đầu danh sách với tổng cộng là 13 đề cử, vượt qua mặt hai bộ phim ăn khách là The Artist (Nghệ sĩ) và Les Intouchables (Những kẻ bên lề).
Thuộc vào thể loại tâm lý hình sự, bộ phim Polisse kể lại câu chuyện của một nhóm cảnh sát điều tra về các vụ án, trong đó các trẻ vị thành niên là đối tượng hoặc là nạn nhân. Đó là trường hợp của các thiếu niên phạm pháp chuyên đi ăn trộm hay móc túi. Nhiều vụ điều tra khác thì lại liên quan đến các vụ xâm hại tình dục thiếu nhi, các gia đình hành hạ bạc đãi con cái. Nhưng bộ phim Polisse không đơn thuần là một xâu chuỗi các vụ án, mà còn mổ xẻ tâm lý các nhân vật trong cuộc, vì các vụ điều tra đều ảnh hưởng ít nhiều đến hoàn cảnh gia đình đời sống tình cảm riêng tư của giới nhân viên cảnh sát.

Bộ phim Polisse của nữ đạo diễn Maïwenn Besco từng thành công lớn tại liên hoan Cannes hồi tháng 5 năm 2011, khi được trao giải thưởng lớn của ban giám khảo. Lần này trên bảng đề cử César, bộ phim Polisse sẽ tham gia tranh tài trong 13 hạng mục. Trong khi đó, bộ phim L’exercice de l’État của đạo diễn Pierre Schoeller nhận được 11 đề cử. Tác phẩm The Artist (Nghệ sĩ) về hạng ba với 10 đề cử và bộ phim Les Intouchables được 9 đề cử. Tất cả các bộ phim này đều tham gia vòng đua để giành lấy các giải thưởng quan trọng, trong đó có giải dành cho tác phẩm hay nhất trong năm, đạo diễn xuất sắc, kịch bản nguyên tác, diễn viên chính cũng như diễn viên phụ.

Còn trong hạng mục phim nước ngoài, có đến 7 bộ phim được đề cử đi tranh giải này. Phim Anh Mỹ vẫn chiếm thế thượng phong, vì Black Swan, Drive, The King‘s Speech (Le discours d'un roi – Bài diễn văn của nhà vua) sẽ thi đấu với phim Melancholia của đạo diễn Đan Mạch Lars Von Trier), Le Gamin au vélo phim của hai anh em đạo diễn người Bỉ Dardenne, Incendies phim Canada nói tiếng Pháp của Denis Villeneuve và Une Séparation (Ly hôn), phim của Iran.

Cho dù kết quả của giải César có như thế nào đi chăng nữa, thì năm 2011 đánh dấu sự thành công rực rỡ của hai bộ phim The Artist (Nghệ sĩ) và Les Intouchables (Những kẻ bên lề). Những kẻ bên lề được người xem hưởng ứng nồng nhiệt với hơn 18 triệu lượt khán giả. Trong khi The Artist thì rất được giới phê bình tán thưởng vì được 10 đề cử César của Pháp cũng như 10 đề cử Oscar của Mỹ. Lễ trao giải César sẽ diễn ra vào ngày 24/02/2012 tức là hai ngày trước lễ trao giải Oscar.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#13 Posted : Tuesday, February 14, 2012 11:21:55 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
VOA - Thứ Hai, 30 tháng 1 2012

Phim 'The Help' thắng lớn trong giải SAG 2012


UserPostedImage
Hình: AP
Hai nữ diễn viên Octavia Spencer (trái) và Viola Davis trong buổi lễ trao giải lần thứ 18 của Hiệp hội Diễn Viên Mỹ SAG

Bộ phim 'The Help' nói về những người giúp việc Mỹ gốc châu Phi trong thập niên 1960 tại bang Mississippi đã giành được thắng lợi trong buổi lễ trao giải lần thứ 18 của Hiệp hội Diễn Viên Mỹ SAG.

Phim này đã nhận giải xuất sắc toàn bộ, nữ diễn viên chính xuất sắc cho Viola Davis, và nữ diễn viên phụ xuất sắc cho Octavia Spencer.

Khi lên nhận giải, diễn viên Viola Davis nói rằng “vết nhơ của chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc và giới tính” không chỉ đến với phụ nữ da màu, mà còn “là một gánh nặng cho tất cả chúng ta.”

Tài tử người Pháp Jean Dujardin được giải nam diễn viên xuất sắc qua bộ phim câm The Artist.

Giải nam diễn viên phụ xuất sắc về tay tài tử 82 tuổi Christopher Plummer trong bộ phim Beginners, trong đó ông đóng vai vào tuổi xế chiều, ông biết mình là người đồng tính.

Trong lĩnh vực truyền hình, Jessica Lange là nữ diễn viên xuất sắc cho show American Horror Story trên đài FX, và giải nam diễn viên xuất sắc là Steve Buscemi trong show Boardwalk Empire của đài HBO. Show này cũng đoạt giải xuất sắc toàn bộ.

Về thể loại phim truyền hình nhiều tập, Kate Winslet chiếm giải nữ diễn viên xuất sắc trong bộ phim Mildred Pierce của đài HBO, Paul Giamatti chiếm giải nam diễn viên xuất sắc trong bộ 'Too Big to Fail' của đài HBO.

Giải sự nghiệp trọn đời về tay nữ diễn viên Mary Tyler Moore. Người đồng diễn với bà trong các chương trình hài kịch truyền hình vào thập niên 1960, là Dick Van Dyke, đã lên trao giải cho bà.

Các giải thưởng điện ảnh của Hiệp hội Diễn Viên Mỹ SAG thường được xem là có nhiều hy vọng được Oscar, giải thưởng danh giá nhất của Hollywood, sễ được trao vào tháng tới.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#14 Posted : Friday, February 17, 2012 10:19:27 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 17 THÁNG HAI 2012

Liên hoan điện ảnh Berlin càng đậm màu chính trị

UserPostedImage
Angelina Jolie đến liên hoan Berlin để giới thiệu bộ phim In the Land of Blood and Honey (Reuters)

Tuấn Thảo
Trong số các liên hoan điện ảnh có tầm cỡ hàng đầu thế giới, Berlin nổi tiếng là nơi chuyên giới thiệu các tác phẩm đậm màu chính trị, hay ít ra nói lên được quan điểm dấn thân của các nhà làm phim. Năm nay, liên hoan Berlin lại càng duy trì truyền thống này nhằm tạo cho mình một nét riêng, đối trọng bằng thế chân vạc với hai liên hoan Cannes và Venise.
‘‘Quan điểm dấn thân’’ dường như đã trở thành một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để cho ban tổ chức liên hoan Berlin chọn ra những tác phẩm để giới thiệu với công chúng năm nay. Theo giới chuyên gia điện ảnh, sở dĩ Berlin có một lập trường như vậy là vì liên hoan này đã được thành lập trong thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông Tây. Hơn nửa thế kỷ sau ngày liên hoan ra đời, lập trường của Berlin, hay nói cho đúng hơn là cương lĩnh, đã trở thành một thông lệ. Liên hoan Cannes càng lộng lẫy hào nhoáng, festival Berlin càng bàn về chuyện lịch sử sang trang.

Không phải ngẫu nhiên mà bộ phim được trình chiếu trong buổi lễ khai mạc liên hoan Berlin năm nay là tác phẩm Adieu la Reine (Vĩnh biệt hoàng hậu) của đạo diễn Pháp Benoît Jacquot. Bộ phim nói về sự thoái trào của một vương triều. Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 lật đổ một chế độ vua chúa, đã tồn tại từ bao đời qua. Tuy là một bộ phim lịch sử cổ trang, nhưng hầu hết các nhà phê bình cho rằng khi xem bộ phim này, ta có thể liên tưởng đến ngay những gì đã xảy ra một năm trước đó, khi luồng gió tự do của phong trào Mùa xuân Ả Rập thổi qua các nước Libya, Tunisia và Ai Cập. Một số nhà phê bình còn đi xa hơn nữa khi cho rằng : các cảnh phim cho thấy sự hoảng loạn trong triều đình Pháp thời bấy giờ, cũng như sự tẩu thoát của hoàng hậu Marie Antoinette và vua Louis XVI về thành trì Montmédy qua ngõ Varennes, chẳng khác gì sự tháo chạy của gia đình cựu tổng thống Ben Ali.

Cũng không phải là một sự tình cờ khi mà ban tổ chức liên hoan Berlin chọn giới thiệu những bộ phim mang tính thời sự. Tác phẩm Captive của đạo diễn người Philippines Brillante Mendoza nói về vụ giải thoát con tin Tây phương bị lực lượng hồi giáo vũ trang Abu Sayaf bắt giữ vào năm 2001. Về phần mình ngôi sao màn bạc Angelina Jolie lần đầu tiên đứng đằng sau ống kính với tư cách là đạo diễn. Bộ phim đầu tay của cô mang tựa đề In the Land of Blood and Honey tạm dịch là Xứ sở của máu hồng và mật ong.

Bộ phim chọn bối cảnh chiến tranh Nam Tư cũ vào những năm 1990 để nói về thân phận của phụ nữ Bosnia, nạn nhân của các vụ bạo hành cưỡng hiếp mà thủ phạm là binh lính phục vụ trong quân đội chính quyền Serbia. Để hiểu rõ tựa đề cuộn phim, thì trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, chữ balkan ghép hai từ : bal có nghĩa là mật ong và kan có nghĩa là máu. Tựa đề cuộn phim của Angelina Jolie có thể hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng : nội dung đề cập đến xung đột vũ trang ở vùng Balkan, đồng thời nói về tội ác chiến tranh (máu) đối với thường dân vô tội (mật).

Bộ phim Just the Wind (Chỉ là ngọn gió), tựa tiếng Pháp là Les Corbeaux (Bầy quạ đen), của đạo diễn người Hungary Benedek Fliegauf (gọi thân mật là Bence Fliegauf) thì nói về các hành vi của một nhóm người thợ săn truy bức rượt đuổi một gia đình người du mục, nhưng thông qua một câu chuyện nhỏ lại nói lên được nỗi bất hạnh truyền kiếp của người tsigane cũng như sự phân biệt đối xử mà cộng đồng du mục phải gánh chịu từ đời này qua đời nọ. Bộ phim mang tựa đề Rebel (Nổi loạn) của đạo diễn Kim Nguyễn người Canada gốc Việt thì lại quan tâm đến số phận của các trẻ em bị bắt đi làm lính. Tuy bộ phim chủ yếu diễn ra tại Congo, nhưng thật ra tình trạng cưỡng bức trẻ em cầm súng khá phổ biến tại nhiều nước châu Phi như Uganda, Somalia, Liberia …

Trong thể loại tài liệu, có ít nhất là ba bộ phim đi dự liên hoan Berlin, nói về một số chủ đề thời sự : phong trào ‘‘Occupy’’ tự bộc phát chiếm đóng các quảng trường tại nhiều thành phố lớn trên thế giới chống lại xu hướng tự do quá đà trong chủ nghĩa tư bản, hay là phong trào chống hiệp định ACTA (Anti Counterfeiting Trade Agreement), theo đó giới thanh niên Âu Mỹ sử dụng mạng xã hội để hẹn với nhau, đồng loạt xuống đường phản đối một hiệp định đã được nhiều quốc gia ký kết, nhưng bị giới trẻ cho là bóp nghẹt quyền tự do chia sẻ thông tin trên mạng internet. Bên cạnh đó còn có vấn đề khủng hoảng kinh tế, khiến cho nhiều công ty phải đóng cửa hoặc là phải di dời cơ sở sản xuất. Điều đó dẫn đến tình trạng sa thải nhân viên, nhiều người lao động bị mất việc rồi mất luôn nhà cửa khi không còn đủ khả năng chi trả.

Có thể nói là hơn bao giờ hết, liên hoan Berlin bám sát thời sự nóng bỏng. Phim truyện hay phim tài liệu, với nội dung hoàn toàn hư cấu hay dựa theo các sự kiện có thật, các tác phẩm được gửi đến Berlin năm nay khi được kết hợp, lại tạo ra được một bức tranh toàn cảnh của thế giới thời nay, phim không chỉ là một tấm ảnh chụp thực tế xã hội vào thời điểm nhất định, mà còn bắt mạch thăm dò, đôi khi soi rọi chất vấn trước những biến chuyển của thế giới.

Nhờ đeo đuổi xu hướng này mà liên hoan Berlin ngày càng củng cố uy tín. Bất kể khủng hoảng tài chính mà hậu quả đầu tiên là số dự án tài trợ quay phim có phần sụt giảm, Berlin năm nay lại giới thiệu nhiều tác phẩm hơn năm trước (hơn 400 phim vào năm 2012 so với 385 vào năm 2011). Thành quả này phần lớn là nhờ vào nỗ lực của ban tổ chức. Có nhiều khả năng là liên hoan Berlin sẽ tiếp tục đà tiến vì hợp đồng của ban giám đốc vừa được triển hạn thêm 4 năm cho đến năm 2016. Ông Dieter Kosslick, giám đốc liên hoan Berlin cho biết là festival năm nay vừa lập thêm một số sinh hoạt mới, song song với các chương trình chiếu phim có tranh giải.

Liên hoan phim Berlin năm nay trình chiếu hơn 400 bộ phim đến từ gần 60 quốc gia trên thế giới. Trong vòng 10 năm qua, ban tổ chức đã có nhiều sáng kiến để khuếch trương tầm vóc của liên hoan, chẳng hạn như chú trọng đến việc giới thiệu tác phẩm đầu tay của các tài năng trẻ, các dự án hợp tác giữa nước Đức với một số quốc gia để tạo thêm điều kiện thuận lợi trong việc sản xuất phim. Bên cạnh đó liên hoan Berlin còn thành lập có Quỹ điện ảnh thế giới (World Cinema Fund) mà mục tiêu là tài trợ cho các nhà làm phim, bất kể họ đến từ quốc gia nào.

Ngoài ba chương trình lớn là chương trình tranh giải Gấu vàng, Toàn cảnh và Diễn đàn, đặc biệt liên hoan Berlin năm nay còn mở thêm một số chương trình mới, trong đó có hạng mục Generation (Thế hệ) dành cho giới thanh thiếu niên cũng như chương trình Talent Campus, một ‘‘cư xá’’ dành cho các tài năng mới, một sân chơi dưới dạng xưởng viết kịch bản, nơi mà các đạo diễn trẻ tuổi có thể vấn ý, trao đổi với các đạo diễn đàn anh. Qua sự trao đổi này, chúng tôi muốn tạo điều kiện để cho thế hệ sau có cơ hội học hỏi, đồng thời thế hệ trước có dịp truyền đạt những kinh nghiệm làm phim của mình.

Liên hoan phim Berlin diễn ra đúng vào thời điểm một năm phong trào Mùa Xuân Ả Rập. Thông thường, Berlin đã nổi tiếng là một liên hoan chuyên trình chiếu các tác phẩm mang đậm màu sắc chính trị. Do vậy mà năm nay, nhân dịp kỷ niệm một năm cuộc cách mạng tại Libya, Ai Cập và Tunisia, sắc thái chính trị lại càng rõ nét hơn nữa. Ông Dieter Kosslick, giám đốc ban tổ chức liên hoan Berlin cho biết :

Tại liên hoan Berlin 2012, có rất nhiều bộ phim tài liệu và phim truyện đều có liên quan ít nhiều với tất cả những gì đang xẩy ra trong thế giới Ả Rập. Ngay cả bộ phim công chiếu trong buổi lễ khai mạc của đạo diễn Pháp Benoît Jacquot cũng nói về những biến chuyển lịch sử, vì tác phẩm của ông đề cập đến cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, dẫn đến việc lật đổ vương triều và cái chết của hoàng hậu Marie Antoinette và vua Louis XVI. Các nhà làm phim thường hay phản ánh xã hội xung quanh họ, cái môi trường họ đang sống. Mạch phim hiện thực khi nói về con người sống trong một thế giới đang chuyển mình, làm cho khán giả liên tưởng đến phong trào Mùa Xuân Ả Rập.

Bên cạnh chủ đề mang tính thời sự nóng bỏng, còn có một vế phim khác tập trung nói về các quan hệ trong gia đình hay là giữa con người với nhau. Một chủ đề rất rộng nhưng các tác phẩm được tuyển chọn năm nay, lại có cùng một góc độ. Các đạo diễn có mặt tại Berlin thường nói về khát vọng đổi đời, đoạn tuyệt với quá khứ để làm lại từ đầu, hay là hội nhập vào một cuộc sống mới. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ trong gia đình bởi vì mỗi người sẽ có phản ứng khác nhau khi không biết tương lai sẽ ra sao. Một bên là phim tình cảm tâm lý, còn một bên là phim hiện thực xã hội lồng vào bối cảnh lịch sử. Thoạt nhìn có vẻ khác nhau nhưng thật ra vẫn có một điểm chung : Cả hai đều nói về sự thay đổi.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#15 Posted : Friday, February 24, 2012 8:03:29 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 24 THÁNG HAI 2012

Angelina Jolie và bộ phim : Vùng máu hồng, Đất mật ong

Tuấn Thảo
Nổi tiếng là một trong những ngôi sao sáng giá nhất của làng điện ảnh Hollywood, nữ diễn viên Angelina Jolie lần đầu tiên chuyển sang làm đạo diễn. Đề tài mà cô chọn quay không dễ dàng chút nào vì bộ phim In the Land of Blood and Honey (Trong vùng đất của máu hồng và mật ong) xoáy vào cuộc chiến tranh Nam Tư cũ, đầu những năm 1990.
Các đạo diễn còn non tay nghề khi đề cập đến một chủ đề như vậy, có thể luồn lách hay dùng cách nói vòng. Nhưng Angelina Jolie tuyệt đối thì không : chiến tranh càng thảm khốc, con người càng tàn nhẫn, góc nhìn của Angelina lại càng thẳng thừng bằng cách trực diện xung đột vũ trang và cuộc thanh lọc sắc tộc mà quân đội Serbia cùng với các lực lượng dân quân đã tiến hành nhắm vào người dân Bosnia.

Ngay từ những giây phút đầu của bộ phim, ta có thể cảm nhận được ngay động lực nào đã thôi thúc Angelina thực hiện tác phẩm đầu tay này. Sự dấn thân của cô trong các chương trình hoạt động nhân đạo, với tư cách là Đại sứ thiện chí của Phủ Cao ủy Tỵ nạn Liên hiệp quốc kể từ 10 năm qua, đã tạo cho Angelina cơ hội tiếp xúc với các nạn nhân của các vụ giao tranh xung đột.

Bằng chứng là cách đây 9 năm, Angelina đóng vai chính trong bộ phim mang tựa đề Beyond Borders (tựa tiếng Pháp là Sans Frontières – Không biên giới), trong đó cô thủ vai Sarah Jordan, một thành viên của tổ chức nhân đạo Oxfam, chứng kiến cảnh sát hại thường dân vô tội ở Cam Bốt, Angola hay Tchechenia. Lần này với bộ phim In the Land of Blood and Honey (Trong vùng đất của máu hồng và mật ong), quan điểm của Angelina càng chín chắn nghiêm túc khi trao tiếng nói cho các nạn nhân chiến tranh, cho những phụ nữ Bosnia còn sống sót sau ba năm xung đột vũ trang đẫm máu.
In the Land of Blood and Honey Trailer (HD) (Directed by Angeline Jolie)
http://www.youtube.com/w...;feature=player_embedded

Bộ phim mở đầu với màn quay tại một vũ trường ở Sarajevo. Cô gái Aja (do Zana Marjanovic thủ vai) là một họa sĩ người Bosnia, mái tóc nâu huyền và nét mặt thùy mị của cô lọt vào mắt của Danijel (do Goran Kostic thủ diễn), một người đàn ông Serbia. Mối tình giữa hai nhân vật chính chớm nở trong ánh mắt nụ cười, khi vòng tay cùng dìu nhau say đắm trong điệu nhảy. Cặp tình nhân đang đắm đuối, thì tiếng nổ đột ngột vang ầm. Giao tranh xung đột vừa mới bắt đầu. Đôi tình nhân vừa mới gặp nhau, lại trở thành kẻ đối đầu ở hai bên chiến tuyến.

Cảnh quay kế tiếp diễn ra bốn tháng sau, một nhóm binh lính tấn công vào một khu chung cư, bắt những người đàn ông đem ra xử bắn, còn phụ nữ thì bị tống lên xe buýt, đưa về trại tạm giam, nhồi nhốt vào những căn phòng chật chội. Một số người đàn bà bị hãm hiếp ngay tại chỗ và khi sắp đến phiên của Aja, thì Danijel lại bước vào can thiệp, cho rằng trường hợp của cô gái này sẽ được tính sau. Thật ra, Danijel chỉ là sĩ quan cấp dưới, một kẻ thừa hành, nhưng anh lại tìm cách dung tha cho cô gái, nói dối là làm theo mệnh lệnh cấp trên.

Thân phụ của anh, sĩ quan cao cấp Nebojsa (do Rade Serbedzija đóng vai) mới là người nắm quyền chỉ huy lãnh đạo. Ông bố nghi ngờ là con trai ông không đủ bản lãnh và máu lạnh để tiến hành các kế hoạch tấn công, làm tất cả những gì cần phải làm trong một cuộc chiến. Dường như dân tộc Serbia, theo đạo chúa có một mối thù truyền kiếp đối với người hồi giáo Bosnia, và để biện minh cho điều này, viên tướng lão thành nhắc lại tất cả những tội ác có từ xa xưa, thời mà đội binh viễn chinh của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ gieo rắc kinh hoàng, san bằng các thành trì, đè bẹp các dân tộc Đông Âu.

Dưới sự che chở và bảo vệ của Danijel, cô Aja thuộc vào hàng tù nhân được ưu đãi. Số phận của cô không bi thảm như trường hợp của rất nhiều phụ nữ Bosnia khác, khi mà trong trại tạm giam, các vụ cưỡng hiếp là chuyện qúa thường tình, xảy ra như cơm bữa. Nhưng Danijel dung tha cho cô là vì tình yêu hay chỉ vì người đàn ông này muốn giữ cô làm ‘‘của riêng’’, một chiến lợi phẩm của người thắng dành cho kẻ bại trận, để phục vụ quan hệ tình dục mỗi khi cần đến.

Người đàn ông Serbia này có thật tình thương cô gái Bosnia, đến nổi vạch hướng chỉ đường cho cô đi tìm một lối thoát, hay đó chỉ là một trò chơi theo kiểu mèo giỡn chuột, nạn nhân càng hãi sợ đau khổ, đồ tể càng khoái chí, đao phủ càng sung sướng. Cô gái Aja có thể đủ tin tưởng nơi Danijel để nhắm mắt đưa chân, khi mà các hành động của người Serbia đối với đồng bào của cô ngày càng trở nên tàn khốc, quân đội chính quyền dùng thường dân làm bia đỡ đạn, phụ nữ trước sau gì cũng bị giết một khi binh lính đã nhàm chán với ‘‘đồ chơi’’. Phải xem đến đoạn kết, người ta mới hiểu được thực tâm dụng ý của các nhân vật. Cô gái tưởng chừng thóat nạn, đâu ngờ hiểm nguy vẫn còn rình rập từ trong bóng tối.

Au Pays du Sang et du Miel Bande Annonce VOST
http://www.youtube.com/w...;feature=player_embedded

Bộ phim In the Land of Blood and Honey (Trong vùng đất của máu hồng và mật ong) chưa phải là một tác phẩm hoàn hảo, phim có những tình huống hơi khó tin dù được lồng trong một bối cảnh rất thực. Đổi lại, sự tàn khốc của chiến tranh mà Angelina Jolie muốn vạch trần, xứng đáng để cho ta phải khâm phục, nhất là ở một tác phẩm đầu tay. Angelina quay phim với một quan điểm hoàn toàn dấn thân, triệt để và dứt khóat, chứ không nửa vời và khoan nhượng. Nhiều người có thể trách cô có thái độ thiên vị, bênh vực phụ nữ vì hai lần bị vùi dập : họ chẳng những là nạn nhân cuộc chiến cũng như bao thường dân khác, mà còn trở thành mục tiêu của các vụ cưỡng hiếp hàng loạt, hành hạ trước, sát hại sau.

Bộ phim In the Land of Blood and Honey (Trong vùng đất của máu hồng và mật ong) cũng không giải thích rõ nguồn gốc và nguyên nhân dẫn đến chiến tranh Nam Tư cũ, điều đó buộc khán giả muốn hiểu rõ hơn bối cảnh phải tham khảo tài liệu và tìm hiểu thêm về cuộc chiến này. Nhưng chẳng thà làm như vậy còn hơn là muốn kể hết mọi chuyện chỉ nội trong hai tiếng đồng hồ, mà lại không đi đến đâu. Góc độ mà Angelina đã chọn hạn hẹp và đầy kịch tính hơn. Qua mối tình của hai nhân vật chính trong thời chiến, bộ phim cho thấy là có một sự khác biệt rõ rệt giữa một bên là ý thức hệ (đơn giản và một chiều) để phục vụ chiến tranh và một bên là tâm tư tình cảm của con người (phức tạp và mập mờ).

Angelina Jolie đặc biệt nhấn mạnh trên một khía cạnh là trong thời chiến, một số người đàn ông khi mặc bộ quân phục, tự cho mình cái quyền làm gì thì làm đối với tù binh hay kẻ thù. Sự bao che của giới chỉ huy quân đội càng lớn, binh lính cấp dưới lại càng lộng hành. Về điểm này, số phận của các phụ nữ Bosnia trong phim chỉ bằng một phần của thực tế mà thôi.

Vùng máu hồng, đất mật ong làm cho ta liên tưởng đến một bộ phim khác mang tựa đề Whistleblower, phát hành trong năm 2011, với diễn viên Rachel Weisz trong vai chính. Bộ phim này kể lại câu chuyện của một nhân viên cảnh sát được gửi sang Bosnia để điều tra về một đường dây buôn phụ nữ. Cô phát hiện ra sự móc nối giữa một công ty an ninh tư nhân Mỹ với nhóm dân quân tàn dư thời chiến tranh Nam Tư cũ, bắt cóc các cô gái vị thành niên để phục vụ cho các đường dây mại dâm và buôn người.

Bộ phim Whistleblower dựa vào những chi tiết có thật để phóng tác thành một tác phẩm hoàn toàn hư cấu, trong khi cuộn phim của Angelina Jolie thì chủ yếu dựa vào lời chứng của các phụ nữ Bosnia còn sống sót, từng được thu thập trong bản phúc trình của Liên hiệp châu Âu. Sau hội nghị thượng đỉnh Edimbourgh (1993), ủy ban châu Âu đã mở điều tra về các vụ cưỡng hiếp hàng loạt và xác định đó là một chiến lược mà quân đội Serbia đã tiến hành.

Đó là cái bối cảnh mà người xem cần nắm bắt để hiểu rõ hơn về bộ phim Trong vùng đất của máu hồng và mật ong vì kịch bản phim không nêu bật điều này. Diễn biến câu chuyện dù muốn hay không lại vay mượn ít nhiều từ tác phẩm Danh sách của Schindler (Schindler’s List) do đạo diễn Steven Spielberg thực hiện. Trong phim này, nhà kỹ nghệ giàu có Schindler dùng mưu kế để cứu một số tù nhân Do Thái khỏi bàn tay của Đức Quốc Xã, viện dẫn không thể nào giết tù nhân khi năng lực của họ được sử dụng như phương tiện hậu cần, để sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh. Một cách tương tự trong phim của Angelina Jolie, nhân vật Danijel tìm cách cứu thóat cô gái Aja, khi cho rằng không thể giết cô gái này ngay, bởi vì tài năng hội họa của cô được dùng để vẽ các bức chân dung chính thức của giới chỉ huy quân đội Serbia.

Bộ phim In the Land of Blood and Honey (Trong vùng đất của máu hồng và mật ong) chưa có đủ tầm nhìn xa để có thể được liệt vào hàng xuất sắc, nhưng có đủ góc nhọn làm nhức nhối trở lại những vết thương chưa lành lặn. Cuộc chiến Nam Tư cũ đã diễn ra trong vòng 3 năm mà không hề có sự can thiệp của cộng đồng quốc tế, nếu không nói là thái độ khoanh tay đứng nhìn, và giờ đây chưa chắc gì mọi người muốn nhớ lại trang sử đen tối của vùng Balkan. Angelina Jolie nhìn lại lịch sử để nhắc nhở người xem đừng vội quên quá khứ.

Trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, balkan ghép từ hai chữ : bal có nghĩa là mật ong và kan có nghĩa là máu. Tựa đề cuộn phim của Angelina Jolie đề cập đến xung đột vũ trang ở vùng Balkan, chiến tranh làm lộ rõ bộ mặt con người, dã man khát máu. Nhưng trong thế giới đầy thú tính ấy, tình thương là một thứ mật ngọt nhắc nhở tính nhân bản còn có thể tồn tại trong mỗi con người. Như tiểu tựa bộ phim nói rõ : chiến tranh thay đổi chúng ta, tình thương thay đổi tất cả.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#16 Posted : Saturday, February 25, 2012 8:38:48 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - Thứ bảy 25 Tháng Hai 2012

Bộ phim The Artist đoạt 6 giải César của Pháp

UserPostedImage
Nhờ bộ phim The Artist mà đạo diễn M. Hazanavicius cùng với vợ là diễn viên Bérénice Bejo đều đoạt giải César (REUTERS)

Tuấn Thảo
Tối hôm qua 24/02/2012, buổi lễ trao giải César đã diễn ra tại nhà hát Châtelet, trung tâm thủ đô Paris. Bảng vàng năm nay khẳng định đà thành công của bộ phim The Artist của đạo diễn Michel Hazanavicius đồng thời đánh dấu một năm bội thu đối với ngành điện ảnh Pháp.
Trên tổng số 10 đề cử, bộ phim The Artist rốt cuộc đã giành đến 6 giải César, trong đó có 4 giải quan trọng dành cho đạo diễn, nữ diễn viên chính, nhạc phim nguyên tác và nhất là giải dành cho Phim xuất sắc nhất trong năm. Kể từ khi được công chiếu cho đến nay, bộ phim The Artist liên tục xuất hiện trên các bảng vàng của liên hoan Cannes, tại giải Quả Cầu vàng, giải BAFTA của Anh và nay tại giải César của Pháp.

Nữ diễn viên Bérénice Bejo sau nhiều lần được đề cử, mãi đến hôm qua mới giành lấy được giải diễn xuất. Ngược lại, nam diễn viên Jean Dujardin, sau nhiều lần được đăng quang, lần này lại để vuột mất giải nam diễn viên tài ba nhất. Dù gì đi nữa, sự thành công của bộ phim The Artist tại giải César của Pháp hôm qua có thể được xem như một điềm lành, tạo thêm cơ hội thuận lợi cho đoàn làm phim Pháp, sẽ tham dự vào ngày mai lễ trao giải điện ảnh Hoa Kỳ, với tổng cộng là 10 đề cử Oscar.

Bộ phim The Artist càng thắng lớn, thì các tác phẩm đi tranh giải khác càng thua đậm. Bộ phim Polisse của nữ đạo diễn Maiwenn tuy ban đầu nhận được 13 đề cử, rốt cuộc chỉ chiếm được có hai giải dành cho diễn viên mầm non, và kỹ thuật dựng phim. Một cách tương tự, bộ phim L’Exercice de l’État của đạo diễn Pierre Schoeller, trên tổng số 11 đề cử đã nhận được 3 giải, trong đó chỉ có một giải quan trọng dành cho kịch bản nguyên tác.

Về phần mình, bộ phim Les Intouchables trên tổng số 9 đề cử, chỉ giành được một giải duy nhất dành cho nam diễn viên chính xuất sắc. Tuy ít được giới phê bình bỏ phiếu, nhưng Les Intouchables lại là bộ phim được công chúng tán thưởng nồng nhiệt, với 19 triệu lượt người xem, chỉ sau 4 tháng công chiếu.

Trong số các giải thưởng khác, khán giả ghi nhận sự thành công của bộ phim Le Cochon de Gaza (Con lợn trên dải đất Gaza) của đạo diễn Sylvain Estibal, đoạt một giải César dành cho tác phẩm đầu tay. Giải kịch bản phóng tác thì được trao cho bộ phim Carnage của Roman Polanski, với nữ diễn viên Kate Winslet trong vai chính.

Còn giải César dành cho phim nước ngoài, đã về tay đạo diễn người Iran Asghar Farhadi với bộ phim Une séparation (Ly hôn). Cách đây đúng một năm, phim này từng đoạt Gấu vàng liên hoan Berlin. Sau khi đoạt giải César hôm qua, bộ phim Iran sẽ lên đường sang Hollywood tham gia cuộc tranh tài Oscar của Mỹ.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#17 Posted : Friday, March 2, 2012 9:27:38 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 02 THÁNG BA 2012

2012 : Điện ảnh Pháp bội thu nhưng vẫn khó xuất khẩu


UserPostedImage
Nhà sản xuất và các diễn viên chính của phim "The Artist", trong đó có cả diễn viên bốn chân là chó Uggie, trong đêm nhận giải Oscar.
REUTERS/Mike Blake

Tuấn Thảo
Tại Pháp, ngày 12/07/1998 được xem như là một sự kiện trọng đại đối với những người mê bóng đá, bởi vì đó là thời điểm mà đội Pháp đã giành được World Cup. Một cách tương tự, giới ghiền xinê xem ngày 26/02/2012 là một ngày lịch sử, vì lần đầu tiên một bộ phim Pháp - The Artist - đoạt 5 giải Oscar của Mỹ, trên tổng số 10 đề cử.
Cho dù sự thành công của The Artist có ngoạn mục cách mấy, nhưng chưa gì đã có nhiều tiếng nói trong giới chuyên nghiệp cho rằng đừng nên mừng quá vội. Điện ảnh Pháp đang ở trong giai đoạn thích nghi với công nghệ mới, cơ cấu phát hành, hệ thống phân phối còn đang cần sửa đổi. Liệu sự thành công của The Artist có thể tạo thêm cơ hội xuất khẩu phim Pháp ra nước ngoài ? Đó là điều mà nhiều người làm việc trong ngành đang rất mong đợi.

Nhìn lại sau các buổi lễ trao giải César (Pháp) rồi Oscar (Mỹ) năm 2012, doanh thu của điện ảnh Pháp đã đạt mức kỷ lục. Với tổng cộng là 215,6 triệu vé được bán ra trong năm 2011, các nhà sản xuất phim cho rằng đây là một con số chưa từng thấy kể từ năm 1967. Theo khảo sát của cơ quan Médiamétrie, trong năm qua, cứ trên 10 người Pháp, là có 7 người thường đi xem phim tại các rạp hát (con số chính xác là 67,5%).

Đối với những bộ phim cỡ nhỏ và trung bình, tức là chi phí sản xuất được ước tính từ một triệu đến 5 triệu euro, chỉ cần thu hút từ 500 ngàn cho đến 3 triệu lượt người xem, thì coi như là có lời. Những bộ phim lớn, với kinh phí sản xuất cao hơn, thì phải thu hút từ 4 hay 5 triệu lượt khán giả trở lên, mới mong thu hồi vốn. Về điểm này, bộ phim Les Intouchables đã lập kỷ lục với hơn 19 triệu vé bán ra, phí tổn sản xuất chỉ có 10 triệu euro, mà lại thu về lợi nhuận đến gấp 6 lần. Bộ phim này vẫn còn đang chiếu ở rạp, và sẽ càng có nhiều lời hơn khi được khai thác qua đĩa hình DVD, và xem video theo yêu cầu (VOD - pay per view ) qua dạng đặt mua trực tuyến.

So với toàn bộ các bộ phim được công chiếu ở rạp, điện ảnh Pháp chiếm 41,6% thị phần, tức là không kém gì lượng phim nước ngoài (chủ yếu là các bộ phim blockbuster của Mỹ) được phát hành tại Pháp. Theo Trung tâm Điện ảnh Quốc gia (CNC), sự bội thu này sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước có thêm điều kiện để tài trợ các dự án làm phim sắp tới, nhất là các tác phẩm đầu tay, vốn rất khó tìm được nguồn vốn kinh phí, do bị xem là không dễ thu lời và nhiều rủi ro hơn.

Tuy nhiên, một khi đã khui rượu sâm banh, cạn ly chúc mừng thành quả bội thu, một số nhà chuyên nghiệp cho rằng việc phân phối phim ngày càng trở nên phức tạp. Đa số các rạp hát đang hiện đại hóa các thiết bị, chuyển sang khai thác phim ba chiều (3D) và phim làm với công nghệ số. Do vậy các rạp hát có chiều hướng chọn những bộ phim thương mại, dễ xem, dễ thu hút khán giả vào rạp. Các bộ phim ‘‘nghệ thuật’’ vì thế càng khó mà chen chân, không được giữ lâu trên màn ảnh lớn. Nói cách khác, các món ăn trên thực đơn ngày càng nghèo đi. Đối với khán giả, sự chọn lựa phim để xem khó mà còn đa dạng như trước.

Đó là quan điểm của cô Bénédicte Couvreur, nhà sản xuất của bộ phim Tomboy, một trong những bộ phim do Céline Sciamma đạo diễn, có kinh phí rất thấp (1 triệu euro) nhưng lại thu hút đến 2,5 triệu lượt người xem. Theo cô, để bảo tồn tính đa dạng của điện ảnh Pháp, thì bên cạnh các quần thể quy mô "multiplex" chiếu cùng lúc từ 12 cho đến 20 tựa phim khác nhau, thì cũng nên duy trì các rạp hát nhỏ, để tránh tình trạng rút khỏi màn ảnh lớn các bộ phim nghệ thuật, khi phim không thu hút đông đảo khán giả trong tuần lễ công chiếu đầu tiên.

Có khá nhiều bộ phim như Pater, Polisse, l’Apollonide, l’Exercice de l’Etat hay The Artist, tuy không phải là phim thương mại nhưng vẫn tồn tại được lâu trên màn bạc, chủ yếu vì các phim này đã được trình chiếu tại các Liên hoan lớn, hay là đoạt nhiều giải thưởng điện ảnh. Điều đó thu hút sự chú ý của khán giả Pháp, mỗi lần có dịp đi xinê, họ dành ưu tiên cho các tựa phim này.

Đó là trường hợp của L’Apollonide, do đạo diễn Betrand Bonello thực hiện. Sau khi được trình chiếu tại Liên hoan Cannes, rồi nhận được nhiều đề cử César, bộ phim này tuy chỉ tốn khoảng 3 triệu euro, lại được duy trì tại các rạp hát trong vòng nhiều tuần lễ, và nhờ vậy chẳng những thu hồi vốn mà lại có thêm lời nhờ bán được vé. Theo nhà sản xuất Edouard Weil, cũng nhờ vào nỗ lực phân phối mà cuộn phim La guerre est déclarée của đạo diễn Valérie Donzelli trở thành một trong những bộ phim thu lợi nhiều nhất. Phim có kinh phí thấp nhưng nhờ vào sự hưởng ứng của khán giả mà lợi nhuận cao gấp bốn lần số vốn bỏ ra. Nếu phải so sánh số tiền lời, phim La guerre est déclarée đứng hạng nhì, chỉ thua bộ phim Les Intouchables. Ngược lại, bộ phim Un été brûlant của đạo diễn Philippe Garrel với Monica Bellucci trong vai chính, có chi phí sản xuất thuộc cỡ trung bình, nhưng chỉ thu hút khoảng 25 ngàn khán giả, cho dù phim ra mắt người xem tại các rạp hát lớn.

Sự thành công vượt bực của bộ phim Les Intouchables của hai đạo diễn Olivier Nakache và Eric Toledano với hơn 19 triệu lượt khán giả chỉ trong vòng bốn tháng, chứng tỏ là khán giả Pháp thích xem ‘‘phim nội’’ không kém gì phim ngoại. Nhưng thành tích đáng khen ngợi đó cũng không làm cho ta quên đi một thực tế : đó là hàng năm có hơn 200 bộ phim do Pháp sản xuất, trên tổng số 500 phim được cho ra mắt khán giả. Điều đó có nghĩa là dù muốn hay không, chỉ có khoảng một phần năm (20%) phim Pháp sẽ thành đạt về mặt doanh thu. Khán giả không thể nào mà hấp thụ được hết số lượng phim. Không ai có thể nắm chắc bí quyết thành công, nhưng về công thức phân phối, thì để duy trì nét đa dạng, không có cách nào khác là xen kẽ phim thương mại và nghệ thuật, để cho khách hàng tùy ý lựa chọn.

Theo các chuyên gia phê bình, điện ảnh Pháp đi tìm sự sáng tạo chủ yếu theo hai xu hướng gọi là : nguyên mẫu (prototype) và khuôn mẫu (stereotype). Đó là trường hợp tiêu biểu của The Artist và Les Intouchables. Tuy thu hút đến hơn 19 triệu lượt khán giả, nhưng Les Intouchables không được làm theo kiểu blockbuster của Mỹ. Ngược lại, đây là một bộ phim hiện thực xã hội, khôi hài và đầy tình cảm. Có vay mượn hay chăng là trong cách tạo dựng hai nhân vật chính : một người bị tàn phế, còn một người là thanh niên da màu. Các màn khôi hài nảy sinh từ những chênh lệch, những tình huống ngược đời của cặp bài trùng ‘‘trắng-đen, giàu-nghèo’’. Mô hình này thường được Hollywood khai thác trong các bộ phim gọi là buddy movies, theo đó hai nhân vật rất khác biệt nhau nhưng rốt cuộc vẫn là bạn. Có thể nói là Les Intouchables được xây dựng trên một khuôn mẫu (stereotype), nhấn mạnh trên những gì có thể hàn gắn hai tâm hồn, thay vì nói đến những gì có thể chia rẽ hai trái tim.

Ngược lại, bộ phim The Artist tuy có thể không thâm thúy về mặt kịch bản nội dung, nhưng lại táo bạo ở ngôn ngữ hình ảnh. Việc quay phim trắng đen, không dùng lời thoại, quay với 22 hình ảnh mỗi giây thay vì 24/giây, tựa như phim câm thời xưa biến The Artist thành một nguyên mẫu (prototype). Kể từ những năm 1970 cho tới giờ, thì không có một bộ phim nào lại chọn cách làm phim như vậy. Tính chất ‘‘nguyên mẫu’’ táo bạo đó phần nào giải thích cho sự thành công của bộ phim tại Liên hoan Cannes, rồi sau đó đến giải Quả cầu vàng, và cuối cùng là César và Oscar 2012.

Sự kiện The Artist đoạt 5 bức tượng vàng, trong đó có 3 giải quan trọng dành cho bộ phim, đạo diễn và diễn viên xuất sắc nhất, lặp lại thành tích một năm trước đó của tác phẩm Bài diễn văn của nhà vua (The King’s Speech - năm 2011). Chỉ có điều là Bài diễn văn của nhà vua là một bộ phim nói tiếng Anh, trong khi The Artist là cuộn phim đầu tiên ngoài khối Anh ngữ thắng đậm tại lễ trao giải Oscar.

Sự thành công của "The Artist" có thể giúp đẩy mạnh việc xuất khẩu phim Pháp sang nước ngoài. Ít ra theo lời đạo diễn Pháp Claude Lelouch, đây là một tin vui đáng mừng cho điện ảnh Pháp, vì theo ông nó mở đường cho nhiều bộ phim Pháp được phân phối thêm tại Hoa Kỳ. Còn theo lời đạo diễn Costa Gavras, bên cạnh ngành kỹ nghệ giải trí Hollywood, Hoa Kỳ cũng có thêm luồng phim ngoài dòng chính, đầy sức sáng tạo nhờ các hãng phim độc lập cũng như nhờ với Liên hoan Sundance. Sự thành công của The Artist sẽ càng thu hút nhiều hơn sự chú ý của các nhà chuyên phân phối phim độc lập trên thị trường Mỹ.

Ngay sau lễ trao giải Oscar, số lượng quốc gia đặt mua phim The Artist đã nhân lên gấp bội, theo ghi nhận của ông Frederick Goldsmith, giám đốc điều hành Hiệp hội các nhà sản xuất phim Pháp (APC). Cũng như Les Intouchables, bộ phim The Artist bán rất chạy cho các nước ngoài châu Âu. Hai bộ phim này tựa như cái đầu tàu, lôi kéo theo nhiều bộ phim khác nằm trong cùng lãnh vực xuất khẩu.

Còn theo lời ông Jean-Paul Salome, chủ tịch Hiệp hội các tác giả, đạo diễn và sản xuất (ARP), trong năm 2011, lượng phim Pháp được bán ra nước ngoài đã tăng thêm 7%, doanh thu nhờ vào việc bán vé cho khán giả ngoại quốc lên tới 420 triệu euros. Tuy nhiên theo ông, The Artist có thể được xem như một trường hợp ngoại lệ, do phim không có lời thoại, dễ hiểu ở khắp nơi, không cần phải có lời dịch, lồng tiếng hay phụ đề, cho nên bộ phim lại càng dễ xuất khẩu hơn nữa.

Ông Antoine de Clermont Tonnerre, giám đốc Unifrance, cơ quan nhà nước chuyên quảng bá phim Pháp ở nước ngoài thì không lạc quan bằng các đồng nghiệp. Theo ông thì trong thời buổi này, phim Pháp càng lúc càng khó xuất khẩu, bởi vì các hệ thống chiếu phim multiplex là một xu hướng chung của toàn cầu. Các nhà phân phối ở nước ngoài thay vì phát hành nhiều sản phẩm, thường tập trung khai thác những bộ phim nào dễ hái ra tiền nhất. Nếu như ở Pháp, vẫn còn có nỗ lực duy trì sự đa dạng của các tác phẩm điện ảnh, thì chưa chắc gì ở các quốc gia khác, tiêu chí đa dạng nghệ thuật được đặt lên trên lợi nhuận kinh tế.

Trước mắt thành công của The Artist sẽ tạo thêm sức hấp dẫn, thu hút thêm các nhà phân phối nước ngoài tìm mua phim Pháp, nhưng về dài hạn, thì điều đó vẫn không giải quyết tất cả những khó khăn liên quan đến vấn đề xuất khẩu phim Pháp. Nếu chỉ nhìn vào trường hợp của The Artist mà vội mừng, thì chẳng khác gì : thấy cây mà chẳng thấy rừng.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#18 Posted : Friday, March 9, 2012 7:59:10 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - THỨ SÁU 09 THÁNG BA 2012

Các bộ phim nổi bật tại LH điện ảnh châu Á Deauville

UserPostedImage
Festival Deauville

Tuấn Thảo
Deauville là trạm nghỉ mát thơ mộng quyến rũ nằm ven biển, ở vùng Normandie miền Bắc nước Pháp. Một thành phố nhỏ, chỉ với khoảng 7 ngàn dân, mà lại có sòng bạc casino, cửa hàng Vuitton, khách sạn nhiều sao và biệt thự sang trọng. Deauville là thành phố duy nhất trên đất Pháp tổ chức mỗi năm hai festival điện ảnh : liên hoan phim Mỹ vào tháng 9, liên hoan phim châu Á vào tháng 3.

Do trạm nghỉ mát chỉ nằm cách Paris có hai tiếng đồng hồ, cho nên vào những ngày cuối tuần đẹp trời, người dân thủ đô hay du khách nước ngoài thường rủ nhau đến đây để nghỉ ngơi giải trí. Đặc biệt vào tháng ba và tháng 9, Deauville lại đón thêm dân ghiền xinê, kéo nhau đi xem phim. Tuy có tầm cỡ nhỏ hơn, nhưng liên hoan Deauville lại thu hút hàng ngàn khách tham dự, do mở rộng cho công chúng, theo mô hình của Berlin và Locarno thay vì chỉ dành riêng cho giới truyền thông báo chí như Cannes và Venise.

Chương trình chiếu phim của liên hoan Deauville lần thứ 14 chính thức bắt đầu từ sáng ngày 08/03/2012 và kéo dài cho đến tối Chủ nhật 11/03/2012. Trong vòng 4 ngày, Deauville giới thiệu với công chúng gần 40 tác phẩm đủ loại, được chia thành nhiều hạng mục khác nhau. Đầu tiên hết là Chương trình tranh giải chính thức và chương trình chiếu phim hành động Action Asia. Chỉ có hai hạng mục này là có trao giải thưởng bằng hiện kim. Chương trình Hommage thì được dành để vinh danh một nhà làm phim có tay nghề : năm nay là đạo diễn Nhật Bản Kiyoshi Kurosawa. Còn Regards (Nhãn Quan) thì muốn giới thiệu góc nhìn của các đạo diễn khác : năm nay là đạo diễn Thái Lan Pen-ek Ratanaruang.

Nhìn vào chương trình chính thức năm nay, có tất cả là 9 bộ phim đi tranh giải : Trung Quốc, Hàn Quốc, Iran mỗi nước đều có hai tác phẩm dự thi. Ba bộ phim còn lại là của Philippines, Thái Lan, và Nhật Bản. Trong hạng mục này, giới phê bình chú ý đến các tác phẩm đầu tay, trong đó cuộn phim Baby Factory (Xưởng đẻ) của đạo diễn trẻ tuổi người Philippines Eduardo Roy Junior (32 tuổi).

Câu chuyện của Sarah, một cô y tá làm việc cho khoa hộ sinh tại bệnh viện công ở Manila. Trước ngày Giáng Sinh, đáng lẽ ra cô phải được về ăn Noel với gia đình, nhưng rốt cuộc Sarah lại không được về nhà mà còn phải làm việc gấp bội tại bệnh viện. Thay vì than phiền, cô y tá lại sắn tay áo lên để đảm đang công việc, vì khi nhìn kỹ lại, hoàn ảnh của Sarah còn may mắn hơn người khác rất nhiều. Một số gia đình không đủ tiền chạy thuốc men, bệnh nhân nghèo thì nằm trong hành lang chờ đến phiên mình được chăm sóc, bệnh viện công thì lại quá tải, nên các bà mẹ mới sinh con buộc phải nằm cùng giường. Bộ phim Baby Factory vạch trần thực tế xã hội Philippines, nơi mà giàu nghèo cách biệt một trời một vực. Giúp đỡ người khác là một cách để vơi đi phiền muộn của chính mình.

Đạo diễn Thái Lan Tongpong Chantarangkul (33 tuổi) dự thi với bộ phim đầu tay mang tựa đề I carried you home (Đưa mẹ về nhà). Câu chuyện của hai chị em ruột, người chị sống ở Singapore, còn cô em gái thì sống ở Bangkok. Đã lâu lắm rồi, cô chị đã không về thăm người thân, kể từ cái ngày cô thoát ly gia đình, lấy chồng rồi sang nước ngoài để sinh sống.

Xa mặt cách lòng, quan hệ giữa người đàn bà này với mẹ và em gái tuy chưa đoạn tuyệt nhưng ngày càng thờ ơ lạnh nhạt. Cho đến một hôm, cô nhận được một cú điện thoại nhắn cô về gấp, vì người mẹ bị tai nạn giao thông rất nặng, khi đưa đến bệnh viện cấp cứu, bà đã hoàn toàn hôn mê, khó có hy vọng tỉnh lại. Từ Singapore về đến Thái Lan, cô chị gặp lại người em gái. Trong giây phút hội ngộ, hai chị em ruột ngại ngùng bỡ ngỡ như người lạ lần đầu nhìn mặt nhau. Tánh tình dị biệt, hoàn cảnh đời sống lại khác nhau, hai chị em buộc phải hàn gắn quan hệ xa cách, tìm sự đồng cảm gần gủi để có thể đưa mẹ về nhà.

Cũng là một câu chuyện gia đình nhưng lại là tác phẩm đầu tay của đạo diễn Iran Morteza Farshbaf , bộ phim Mourning có nghĩa là Than khóc. Câu chuyện của một đứa bé được bà mẹ giao cho một người dì ruột chăm sóc trông nom trong vài hôm. Sắp hết ngày nghỉ, bà mẹ chuẩn bị lên đường đón thằng con trai về nhà, đồng thời lên thăm cô em gái sống ở phía Bắc thủ đô Teheran. Nhưng khi lên xe cùng với chồng, hai người lại bắt đầu cải vã nhau.

Chuyến đi của cặp vợ chồng này sẽ chẳng bao giờ có điểm đến, vì cả hai đều thiệt mạng trong tai nạn xe hơi. Đến sáng hôm sau người dì ruột mới biết được hung tin. Cùng với chồng, cô cấp tốc lên đường để làm đám tang cho người chị. Còn thằng bé thì tuy còn quá nhỏ để hiểu hết mọi chuyện, nhưng vẫn linh cảm là người lớn muốn che giấu nó một điều gì đó. Ông cậu và bà dì ruột thì lâm vào thế khó xử : nói như thế nào đây để cho thằng bé hiểu được song thân của nó đã bị tai nạn, không còn sống trên đời này.

Một sự kiện hơi phi thường đột ngột xẩy ra trong cuộc sống hằng ngày của những con người rất bình thường. Tình huống khó khăn làm nổi bật lối hành xử cũng như cách đối thoại giữa con người với nhau. Cả hai bộ phim Thái Lan và Iran giống nhau ở điểm này, cũng như trong cách dùng gợi ý. Trong bộ phim Mourning của Iran, nhân vật thằng bé giúp người xem hiểu thêm về cặp vợ chồng ông cậu và dì ruột. Còn trong bộ phim Thái - I carried you home - khác biệt giữa hai chị em, làm lộ rõ những uẩn khúc có từ trước trong quan hệ giữa bà mẹ và đứa con gái lớn.

Trong chương trình tranh giải tại liên hoan phim châu Á Deauville năm nay, bộ phim mang tựa đề 11 Flowers của đạo diễn Trung Quốc Vương Tiểu Soái được nhiều người chờ đón hơn cả. Trước hết là vì Vương Tiểu Soái (45 tuổi), cũng như Vương Toàn An khá tiêu biểu cho thế hệ thứ sáu, tức là lớp đi sau Trương Nghệ Mưu và Trần Khải Ca. Thứ nhì là sau khi thành danh với bộ phim Xe đạp Bắc Kinh Beijing Bicycle, đoạt giải Gấu bạc liên hoan Berlin 2001, đạo diễn Vương Tiểu Soái đã mở ra một chu kỳ làm phim để thử bắt mạch xã hội Trung Quốc. Sau hai bộ phim Giấc mơ Thượng Hải (Shanghai Dreams) và Nhật chiếu Trùng Khánh (Chonqing Blues), Vương Tiểu Soái lần này đưa khán giả đến vùng Quý Châu vào giai đoạn cuối của cuộc Cách mạng văn hóa.

Tựa đề 11 Flowers có nghĩa là 11 đoá hoa, nhưng nên được dịch thành 11 xuân xanh mới đúng, vì đó là lứa tuổi của nhân vật chính. Theo lời đạo diễn Vương Tiểu Soái, ông đã gợi hứng rất nhiều từ những kỷ niệm tuổi thơ để thực hiện bộ phim này. Câu chuyện diễn ra vào năm 1974, Vương Hán là một cậu bé 11 tuổi, sống một cuộc sống êm ả với bố mẹ và một người chị trong một ngôi làng ở tỉnh Quý Châu. Chính sách một con chỉ được áp dụng 5 năm sau. Một ngày kia, cậu bé gặp một kẻ lạ mặt, không biết từ đâu đến, nhưng hẳn chắc không phải là một cư dân sống ở các ngôi làng lân cận. Người đàn ông này trên mình có thương tích, bị quy tội giết người, đang trên đường chạy trốn sự truy lùng của công an. Người đàn ông tìm đường tẩu thoát, ẩn náu trong rừng sâu. Còn cậu bé bị kẻ lạ dọa nạt, đâm ra khiếp sợ mà vẫn tò mò, cho dù biết nơi ẩn trốn nhưng vẫn giữ im lặng, để rồi phải nói dối khi được hỏi có thấy kẻ lạ hay chăng.

Các cuộc truy lùng kẻ bị gọi là tội phạm, làm xáo trộn hẳn cuộc sống của dân làng, làm nẩy sinh lòng nghi kỵ ngờ vực giữa những gia đình mà trước kia có vẻ như đang sống hòa thuận với nhau. Cùng với đám bạn học, thằng bé trước kia sống vô tư, nhưng kể từ khi gặp ‘‘kẻ lạ’’ hung thần rồi thì lúc nào cũng thấp thỏm trong lòng, không dám tiết lộ điều bí mật với ai, và lúc nào cũng sợ bị người khác phát hiện.

Toàn bộ cuộn phim của Vương Tiểu Soái được quay từ góc nhìn của thằng bé 11 tuổi, tức là phản ánh thế giới bên ngoài qua ánh mắt của một cậu học trò, tâm lý và tuổi đời còn non nớt nên dễ bị ảnh hưởng, mọi chuyện dù nhỏ như thể được thổi phồng, phóng đại. Thằng bé vốn đã nhát gan lại càng khiếp đảm hơn. Tuy ban đầu không hiểu gì nhiều về thế giới của người lớn, nhưng dần dần nó phát hiện ra rằng : những gì người lớn nói - kể cả bố mẹ - chưa chắc gì là sự thật. Coi vậy mà không phải vậy. Kẻ bị cho là phạm tội có thật sự đã giết người hay chăng. Một khi đi tìm cách trả lời cho những câu hỏi như thế : coi như là cậu học trò đã giã từ lứa tuổi thơ ngây. Đó mới chính là ý nghĩa của bộ phim gần đây nhất của đạo diễn Vương Tiểu Soái.

Song song với chương trình chiếu phim đi tranh giải chính thức, mang đậm tính hiện thực xã hội, còn có chương trình Action Asia gồm toàn những bộ phim hành động châu Á. Năm nay, người ta chú ý đến bộ phim The Raid Đột kích của đạo diễn người Indonesia Gareth Huw Evans, một trong những tác phẩm ăn khách nhất thị trường Indonesia trong năm qua. Câu chuyện của một nhóm quân biệt kích mở chiến dịch tấn công vào sào huyệt của một băng đảng mafia. Nhưng phía cảnh sát điều tra không ngờ là trong phe ta, lại có kẻ chỉ điểm nằm vùng. Cuộc tấn công dự trù chớp nhoáng nhằm bắt sống nhân vật đầu não là một trùm buôn ma túy lại biến thành một trận chiến sa lầy. Đội biệt kich như thể bị lọt lưới, cài bẫy, một khi đã vào bên trong tòa nhà cao tầng rồi thì khó mà thoát khỏi. Trận đánh quyết tử giữa hai phe không đội trời chung, phe tà muốn diệt trừ các đối thủ, còn phe chính thì phải chịu thí mạng để ra khỏi vòng vây.

Ngoại trừ tác phẩm này mang đậm tính hình sự trinh thám, các bộ phim khác đi tranh giải trong chương trình Action Asia, đều là phim võ thuật : lúc thì là phim kiếm hiệp cổ trang, khi thì là anh hùng ca, sử thi hoành tráng. Bộ phim mang tựa đề Võ Hiệp (Wu Xia) của đạo diễn Hồng Kông Trần Khả Tân (Peter Chan Ho-Sun) quy tụ một dàn diễn viên gạo cội như Chân Tử Đan (Donnie Yen), Kim Thành Vũ (Takeshi Kaneshiro) và Thang Duy (Tang Wei) trong các vai chính. Đây là phiên bản gần đây nhất phóng tác từ một bộ phim do đạo diễn Trương Triệt (Chang Cheh) quay vào năm 1967. Phiên bản gốc là một bộ phim kiếm hiệp, ấn bản mới lại là một bộ phim võ thuật thuần túy hơn, chọn bối cảnh lịch sử đời nhà Thanh.

Cũng là một phiên bản mới làm lại từ một bộ phim không biết đã quay bao nhiêu lần, đạo diễn Hồng Kông Trình Tiểu Đông (Tony Ching Siu-Tung) dựa vào điển tích Thanh Xà Bạch Xà để làm ra cuộn phim The Sorcerer & The White Snake với ngôi sao Lý Liên Kiệt trong vai chính. Do là ấn bản phim ba chiều (3D), bộ phim đặc biệt ngoạn mục ở các màn đấu phép. Tuy nhiên, cũng như các bộ phim Hồng Môn Yến (White Vengeance) dựa theo điển tích Hạng Võ biệt Ngu Cơ, Hoạ Bì (Painted Skin I và II) phỏng theo Liêu Trai chí dị, phiên bản mới của Thanh Xà Bạch Xà không đạt cho lắm khi nhấn mạnh trên mối tình giữa các nhân vật chính.

Bộ phim dã sử cổ trang của đạo diễn Hàn Quốc Kim Han -Min với tựa đề War of the Arrows (tạm dịch là Chiến tranh xạ tiễn), nói về cuộc Đông Tiến của đội quân Mãn Châu, xâm chiếm bán đảo Triều Tiên. Hàng trăm ngàn thường dân bị bắt làm tù nhân nô lệ. Một tay bắn cung thiện xạ lao vào chiến tranh du kích, tấm gương này sau đó sẽ khiến cho dân Triều Tiên khởi nghĩa vùng lên.

Cũng là một bộ phim nói về chiến tranh, nhưng lần đầu tiên, Đài Loan đầu tư nhiều vốn để thực hiện một tác phẩm sử thi hoành tráng. Tác phẩm Seediq bale của đạo diễn Ngụy Đức Khánh (Wei Te Sheng) nói về cuộc khởi nghĩa chống Nhật trên đảo Đài Loan vào những năm 1930. Bộ phim này dựa trên một sự kiện có thật gọi là "Sự kiện Vụ Xã", một anh hùng tên là Mona Rudao đã lãnh đạo thổ dân Đài Loan (sắc tộc Seediq) để kháng cự lại cuộc xâm lăng của quân đội Thiên Hoàng, thời kỳ nước Nhật đang bành trướng muốn thôn tính các nước châu Á.

Tác phẩm Seediq Bale được xem như là cuộn phim đồ sộ nhất của Đài Loan, với kinh phí đầu tư gần 25 triệu đô la Mỹ, đã quy tụ hơn 15 ngàn diễn viên cho màn quay các trận đánh (thay vì dùng kỹ xảo điện toán CGI). Bộ phim còn tập hợp hon 400 kỹ thuật viên đến từ nhiều nước châu Á, trong đó có Nhật Bản và Hàn Quốc. So với khách tham dự liên hoan, do lịch sử Đài Loan ít được nhắc đến so với Trung Quốc và Hàn Quốc, cho nên bộ phim sử thi đầu tiên của Đài Loan với trang phục thời xưa, quay với cách dựng phim truyền thống đã tạo ra được sự tò mò nơi tầng lớp khán giả yêu chuộng các bộ phim hoành tráng.

Nhìn chung, thì liên hoan phim châu Á Deauville không mang nhiều tính tìm tòi, phát hiện tài năng mới bằng một số liên hoan phim châu Á khác. Khá nhiều phim chiếu tại Deauville năm nay từng được giới thiệu tại Cannes, Venise, Berlin, Toronto, rồi Locarno, Rotterdam, Vesoul. Tuy nhiên, Deauville là nơi duy nhất dành hẳn ra một chương trình để chiếu các phim với kinh phí cao (blockbuster) của châu Á. Tủ kính trưng bày này đủ hấp dẫn để cho thấy về phim hành động, lục địa châu Á có những ngón sở trường không thua gì Hollywood.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#19 Posted : Saturday, March 10, 2012 12:51:55 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
RFI - Thứ sáu 09 Tháng Ba 2012

Bộ phim Nga « Elena » : con đường dẫn đến một tội ác

UserPostedImage
Phim Elena - giải thưởng Ban giám khảo "Un certain regard/Một góc nhìn" (dành cho các phim thể nghiệm) - Liên hoan phim Cannes 2011
DR

Trọng Thành
Bộ phim Elena của đạo diễn Andrei Zviaguintsev – một trong những hình tượng tiêu biểu của điện ảnh Nga, từng đoạt giải Sư tử Vàng năm 2003 và giải diễn xuất cho diễn viên nam ở Cannes năm 2007, vừa ra mắt tại Pháp. Bộ phim kể lại sự chuyển biến nhanh chóng và không cảm nhận được, từ trạng thái tử tế sang hành động tội ác.

Tại Liên hoan phim Cannes 2011, Elena đã dành giải thưởng đặc biệt của Ban giám khảo trong chuyên mục « Un Certain Regard ». Tại Nga, Elena đã được trình chiếu tại 150 rạp và đã có 13 triệu lượt xem qua các kênh truyền hình. Báo chí Pháp có nhiều bài giới thiệu về bộ phim này : « Một thế giới không còn Marx và Chúa » là tựa đề bài viết trên Le Monde, Le Figarro có bài « ‘‘Elena’’, khảo nghiệm về bản chất con người » …

Elena nói về câu chuyện xảy ra giữa một người đàn bà và một người đàn ông. Elena – nữ nhân vật chính của bộ phim cùng tên tái giá với Vladimir, một người đàn ông giàu có. Đây chính là người mà trước đó nữ nhân vật chính đã từng phục vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà. Chung sống với nhau, Elena tiếp tục tận tình phục vụ chồng như đã từng phục vụ ông chủ, trong khi đó, Vladimir thì tiếp tục theo đuổi các mối quan tâm riêng.

Vladimir có một con gái, nhưng người con riêng không bao giờ đến thăm cha mình. Còn Elena thì có một con trai, đã lập gia đình riêng và sống tại một khu phố công nhân ở ngoại ô Matxcơva. Tấn kịch bắt đầu khi Vladimir thông báo cho người vợ mới về quyết định của ông trao quyền thừa kế cho con gái riêng, trong khi trước đó ông khăng khăng từ chối cho Elena tiền để giúp đỡ người con trai đang lâm vào vào cảnh thất nghiệp, người bị ông đánh giá là một kẻ sống vô trách nhiệm.

Trả lời phỏng vấn Le Monde, đạo diễn Andrei Zviaguintsev kể lại ngọn nguồn đã dẫn ông tới ý tưởng làm bộ phim này. Sau khi nhận được đơn đặt hàng làm một cuốn phim về đề tài tận thế của một nhà làm phim Anh Quốc, trong quá trình soạn thảo kịch bản phim, Andrei Zviaguintsev nhớ đến một câu chuyện khiến ông sửng sốt. Đó là những hình ảnh mà ông đã từng xem trên truyền hình : Một người đàn ông trạc 50 tuổi kể lại việc đã dùng dao đâm chết mẹ đẻ, vì không chịu nổi việc phải chung sống với mẹ mình trong một căn hộ 17 mét vuông. Ông đã sửng sốt vì sự trái ngược giữa gương mặt của người đang kể chuyện và tội ác đã xảy ra.

Dự án làm phim với nhà sản xuất Anh không thành công, cuối cùng phim Elena đã được thực hiện tại Nga và bằng tiếng Nga. Đây cũng là điều khiến đạo diễn Andrei Zviaguintsev cảm thấy thoải mái hơn khi làm bộ phim này, như lời tâm sự của ông. Trả lời phỏng vấn Le Figaro, đạo diễn Elena nói : chủ đề của bộ phim không phải là sự đối lập giữa những người giàu và những người nghèo. Elena muốn nói về xã hội ngày nay, khi sự sùng bái vật chất là thước đo duy nhất. Không có một giá trị tinh thần nào khác. Để vượt lên, người ta sẵn sàng giết người. Điều này vượt xa cả sự trả thù của một giai cấp này đối với một giai cấp khác. Động cơ duy nhất ở đây là một lòng tham sâu xa, được nhập tâm và trở nên phổ biến.

Le Figaro kết luận, bộ phim Elena kể lại sự trượt đi nhanh chóng và không cảm nhận được, từ trạng thái tử tế sang tội ác. Một sự biến đổi gần như là tự nhiên, không trải qua một tâm trạng ngờ vực hay đắn đo nào. Trong khi đó, theo Le Monde, Elena cho thấy sự chia rẽ sâu sắc của một xã hội thành các tầng lớp, mà ở đó người ta hiểu lầm về nhau, người ta không còn có dịp gần gũi với nhau nữa, nếu như không phải là những khi buộc phải gần gũi, sau các tai biến, các thảm kịch.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#20 Posted : Sunday, March 11, 2012 7:24:36 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 12,808

Thanks: 6139 times
Was thanked: 2615 time(s) in 1831 post(s)
VOA - Thứ Sáu, 09 tháng 3 2012

Liên hoan phim Cinequest 22 - Niềm Đam Mê Bất Tận

Lưu Nam Anh


UserPostedImage
Đạo diễn Nguyễn Đức Minh trong buổi buổi gặp gỡ khán giả tại San Jose, Chủ nhật 04 tháng Ba, 2012. Ảnh Tường Linh/Việt Tribune

Những ngày cuối tháng Hai, San Jose bỗng trở lạnh một cách đột ngột, nhiệt độ xuống thật thấp; thế mà tại rạp California Theatre cổ kính và sang trọng nằm trên đường First Street hôm tối thứ Ba, 28 tháng Hai vừa qua, tôi cảm thấy ấm áp lạ thường trong không khí tưng bừng, rộn rã của đêm ra mắt của Liên Hoan Phim Cinequest lần thứ 22.
Trong tiền sảnh (lobby) của rạp không còn chỗ chen chân với đông đảo những người thuộc giới truyền thông, báo chí phỏng vấn các diễn viên, tài tử của các phim trình chiếu trong cuộc liên hoan này. Trên thảm đỏ, tôi thấy sự xuất hiện của cô Porter Lynn, nữ diễn viên chánh người Việt trong phim TOUCH của đạo diễn trẻ Nguyễn Đức Minh. Porter Lynn có dáng người nhỏ nhắn và khuôn mặt xinh, trong chiếc đầm ngắn trông thật quyến rủ.
Bên trong rạp, khán giả đã bắt đầu ngồi chật những hàng ghế. Trên sân khấu, một nhạc sĩ ngồi quay lưng về phía khán giả đánh những bài nhạc quen thuộc trên chiếc đàn “organ” khổng lồ. Nên nhớ rằng California Theatre, một “di tích lịch sử” của San Jose được trùng tu và hoạt động trở lại từ năm 2004 sau một thời gian dài bị bỏ hoang phế, đã được xây dựng trong thập niên 20 của thế kỷ trước để chiếu phim câm, thành thử có trang bị đàn “organ” để chơi nhạc phụ họa theo phim. Trong tiếng vỗ tay dồn dập của khán giả, đàn được từ từ hạ xuống bên dưới sân khấu và cuối cùng biến mất; và tiếp nối theo đó là bài phát biểu của Halfdan Hussey, người đồng sáng lập Cinequest, chính thức khai mạc Liên Hoan Phim Cinequest 22. Ông Hussey nhấn mạnh đến chủ đề Never Ending Passion tức Niềm Đam Mê Bất Tận của liên hoan phim năm nay và giới thiệu Picture The Possibilities, một chương trình xã hội và giáo dục nhằm động viên tuổi trẻ khắp nơi trên thế giới làm phim về một viễn ảnh tương lai xán lạn hơn.Lướt qua những phim trình chiếu tại Cinequest Film Festival 22, người ta không thể không nhắc đến THE LADY của đạo diễn Pháp Luc Besson. Đây là phim nói về cuộc đời của nhà đấu tranh dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi do nữ tài tử quốc tế Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) thủ diễn. Sau bài phát biểu của Halfdan Hussey và sự xuất hiện trên sân khấu của một phái đoàn phụ nữ Ai Cập trong chương trình The Women’s Initiative Fellowship Program từng tham gia trong cuộc cách mạng Mùa Xuân Á Rập vừa qua, tôi cũng như nhiều người khác tham dự trong đêm khai mạc này đều phải công nhận rằng THE LADY là sự lựa chọn thích hợp nhất, xứng đáng nhất để mở màn một liên hoan phim chú trọng nhiều đến những vấn đề xã hội và chính trị như Cinequest Film Festival. Trong tất cả những đạo diễn hiện thời, Luc Besson là người mà tôi nghĩ khó có thể nhất thực hiện một “biopic” về bà Aung San Suu Kyi một cách tế nhị và lôi cuốn như thế. Nói như thế không có nghĩa là tôi nghi ngờ khả năng của Luc Besson, một nhà sản xuất phim, viết truyện phim và đạo diễn kỳ cựu đã từng cộng tác trong hơn 50 phim với các vai trò khác nhau; tôi chỉ nghĩ loại phim như THE LADY không thích hợp với sở trường của ông mà thôi. Lý do là vì Luc Besson nổi tiếng với những cuốn phim hình sự cực kỳ bạo động như THE PROFESSIONAL và bộ phim THE TRANSPORTER, và những nhân vật nữ của ông trong các phim như LA FEMME NIKITA và COLOMBIANA không thật sự là “ladylike”, nhưng tôi đã lầm to.
TOUCH là phim đầu tay của đạo diễn kiêm tác giả phim bản Minh Đức Nguyễn, một người rất trẻ vốn là cư dân của San Jose. Nhân vật chánh của TOUCH là một thiếu nữ trẻ tuổi tên Tâm do Porter Lynn thủ diễn. Tâm là mẫu người ít nói, sống nội tâm và hơi… “weird”. Sự thành công hay thất bại của TOUCH nằm ngay ở mấu chốt ấy. Nếu khán giả nào chấp nhận sự khác thường của Tâm trong cách đối xử với cha (Long Nguyễn, anh của đạo diễn Minh Đức Nguyễn) và Brendan (John Ruby), khách hàng của Tâm tại tiệm “nail salon”, và xem đó là hậu quả không thể tránh khỏi của sự ức chế trong mối quan hệ tình cảm giữa Tâm và mẹ (Hiệp Thị Lê) khi cô còn bé, TOUCH là một phim Việt thành công với kỷ thuật quay phim rất vững vàng, đối thoại tự nhiên chứ không như đọc trả bài như một số phim Việt trước đây, và sự diễn xuất không gượng ép của hai diễn viên chánh Porter Lynn và John Ruby. Ngược lại, khán giả nào nghĩ rằng những gì xảy ra cho Tâm trong quá khứ không đủ sức biện minh thái độ và hành động của Tâm đối với những người đàn ông mà nàng gặp trong hiện tại, TOUCH mắc phải một lổi lầm lớn là không tạo được sự khả tín cho nhân vật chánh.
OLD GOATS là một phim hài hước nhẹ nhàng về ba người đàn ông già nhưng còn… “gân” (đó chính là lý do tại sao đạo diễn kiêm tác giả phim bản Taylor Guterson chọn tựa phim như thế). Tuy khác nhau về phương diện tài chánh và kinh nghiệm sống, nhân vật Bob, Britt và Dave giống nhau ở một điểm là cả ba đều vào tuổi về hưu và không bằng lòng hoang phí những ngày tháng “còn gân” cuối cùng của cuộc đời. OLD GOATS có nét dễ thương và hồn nhiên của một người bạn… già mà lâu ngày ta không gặp gỡ để hàn huyên.
L!FE HAPPENS được tuyển chọn là một trong những phim mệnh danh Spotlight Screenings, tức là những phim “có tầm vóc” chiếu lúc 7 giờ tối mỗi đêm tại rạp California Theatre. L!FE HAPPENS nói về ba người bạn gái trẻ tuổi sống chung với nhau trong một nhà. Đời sống tươi vui của ba cô nàng này gặp trở ngại khi Kim (Krysten Ritten, cộng tác viết phim bản với đạo diễn Kat Coiro) mang thai sau một đêm vui chơi mà lại thiếu… bao cao su. Xem L!FE HAPPENS làm tôi nhớ đến show “Friends”, chỉ có điều “Friends” vui hơn và có những câu đối thoại dí dỏm hơn, chưa nói đến Jennifer Aniston và Courteney Cox nhìn bắt mắt hơn nhiều!
Một trong những điều hấp dẫn của các liên hoan phim là “parties” và dĩ nhiên Cinequest Film Festival cũng không thiếu phần này. Mỗi đêm trong suốt thời gian của liên hoan phim đều có một dạ hội được gọi là VIP SOIREES tại một địa điểm khác nhau. Tôi đã tham dự dạ hội tại Palm Bar at Il Fornaio, Azucar Latin Bistro và Gordon Biersch và nhận thấy đồ ăn chơi tại Gordon Biersch là ngon nhất.
Tôi mong rằng nếu bạn chưa từng xem một phim nào tại liên hoan phim Cinequest năm nay không nên bỏ qua THE DEEP BLUE SEA của đạo diễn Terence Davies (người được trao tặng giải Maverick Spirit Award năm nay) với nữ tài tử Rachel Weisz trong vai một người vợ ngoại tình. THE DEEP BLUE SEA sẽ được trình chiếu vào đêm thứ Bảy, 10 tháng 3 vào lúc 7 giờ tối tại California Theatre trong đêm bế mạc, sau đó là dạ hội tại The Tech Museum do phần ẩm thực do Restaurant O đảm trách. Chủ Nhật, 11 tháng 3 là ngày Encore Day, những phim đoạt giải thưởng tại liên hoan phim Cinequest 22 sẽ được chiếu lại tại hai rạp Camera 12 Cinemas và California Theatre từ 11 giờ sáng đến 9 giờ tối.
Cũng trong ngày Chủ Nhật, 13 trong những xe “food trucks” ngon nhất Vùng Vịnh sẽ tề tựu trước rạp California Theatre từ 11 giờ sáng đến 3 giờ trưa để phục vụ khách sành ăn.
Cinequest kéo dài từ ngày 28 tháng Hai đến ngày 11 tháng Ba. Để biết thêm chi tiết, xin vào www.cinequest.org hay gọi (408) 295-FEST.[LNA]
Users browsing this topic
Guest
3 Pages123>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.