Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

502 Pages«<500501502
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Nam  
#10021 Posted : Saturday, December 16, 2017 5:47:34 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,729

Thanks: 747 times
Was thanked: 263 time(s) in 198 post(s)


Quân Đội Đảo Chánh Kinh Tế Đảng


16/12/201700:00:00(Xem: 1113)
Vi Anh

Một, thời sự và sự kiện: Tại TP HCM, thủ đô kinh tế của VNCS, sáng 23-6-2017 trước Thủ tướng Chính phủ với lãnh đạo TP HCM, Thượng tướng Thứ trưởng Quốc phòng VNCS Lê Chiêm thuộc phe bảo thủ ủng hộ Đảng CSVN phát biểu: “Hiện nay đã có một chủ trương của Bộ Quốc phòng là quân đội sẽ không làm kinh tế nữa, mà tập trung cho xây dựng quân đội chính quy hiện đại, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân. Tất cả doanh nghiệp quân đội sẽ cổ phần hóa, thoái vốn chuyển ra bên ngoài.”

Nhưng không đầy ba tuần sau, vào ngày 12-7, Quân đội VNCS đã nã trọng pháo vào thành trì Đảng, đảo chánh Đảng CS cấm quân đội làm kinh tế. Từ đặc khu kinh tế quốc phòng Tân Cảng ở Saigòn, trong Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch phất cờ, ban nhật lịnh đảo chánh kinh tế của Đảng CS từ lâu không cho Quân đội làm kinh tế, rằng: “Quân đội làm kinh tế là chủ trương đúng đắn!” Ngay sau đó hàng tướng lãnh hùng hậu trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng chủ trương đảo chánh chính sách Đảng cấm quân đội làm kinh tế gồm Đại tướng/Bộ trưởng Quốc phòng, hai Thượng tướng/Thứ trưởng Quốc phòng, một Chuẩn đô đốc/Tư lệnh Hải quân, một Trung tướng/Tư lệnh Quân khu cùng Chủ tịch UBND TP HCM, Chuẩn Đô đốc/TGĐ Tân Cảng Sài Gòn Nguyễn Đăng Nghiêm long trọng tuyên bố thi hành quân lịnh: “Đến nay có thể khẳng định một điều, chúng tôi từ khu vực quân sự chuyển sang kinh doanh đã trở thành những người lính trên mặt trận kinh tế.”

Và sáng ngày 24-11, khối tướng lãnh đại biểu tấn công vào trong Quốc Hội VNCS, đứng lên đòi “thể chế hoá” vấn đề quân đội làm kinh tế. Thiếu tướng Nguyễn Minh Hoàng, Phó Chính ủy Quân khu 7, cho rằng việc quân đội làm kinh tế sẽ làm “gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng, từ đó gia tăng sức mạnh quốc gia”. Còn Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch thì khẳng định: “Quy định Quân đội nhân dân thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và cụ thể hóa Điều 68 của Hiến pháp năm 2013.”

Thế là nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 khóa X của Đảng CSVN hồi hạ tuần tháng 1 năm 2007 đã bị huỷ bỏ như tờ giấy lộn. Bỏ cái quyết nghị của Đảng chuyển các doanh nghiệp làm kinh tế đơn thuần thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ trang, m trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội sang các cơ quan nhà nước quản lý từ năm 2007.

Và từ nay quân đội, các doanh nghiệp quân đội không những không chuyển sang cho các cơ quan dân sự quản lý nữa, mà còn tăng số lượng nhiều lên và mở rộng qui mô lên theo chính sách kinh tế quốc phòng mới của Quân đội.

Hai, đi vào phân tích: CS có câu, sức ép càng nhiều, sức bật càng cao. Đảng CS sợ Quân đội thống nhứt được đất nước, uy tín cao với nhân dân nên chèn ép quân đội liên tục. Trong thời chiến, Đảng giao cho Quân uỷ kềm kẹp, làm thầy quân đội. Không có một chỉ huy quân sự nào trong ‘bộ đội’ CS ưa chánh trị viên của quân uỷ của Đảng điều xuống lãnh đạo quân đội. Chánh trị viên của Đảng vốn không có một ngày lính lại có quyền sai bảo, chỉ vẻ đơn vị là quân nhân đánh hay không đánh.

Không có anh ‘bộ đội’ nào ưa công an khi chiến tranh thì trốn chui trốn nhủi, khi hoà bình ra thành, Đảng CS dùng làm tay mặt của Đảng, đàn áp, bóc lột dân, trong đó có thân nhân, gia đình, bè bạn của quân nhân.

Tức nước sẽ bể bờ, Quân đội chống Đảng. Các tướng lãnh quân đội chọn chiến trường rất tốt để đảo chánh kinh tế Đảng. Đó là Saigon hay TP HCM. Đây là thủ đô kinh tế hiện thời của VNCS, đầu mối vựa lúa, cá của cả nước. Đây là thủ phủ của VN Cộng hoà nơi Tây Âu Bắc Mỹ đầu tư nhiều nhứt nước. Dân chúng ở đây từng sống trực tiếp vơí Pháp, Mỹ quen với tác phong giao tế, lao động của Tây Phương. Và đối với đồng bào Miền Bắc, dân Bắc Nam Trung đã hoà nhập với nhau nhờ 1 triệu đồng bào Miên Bắc di cư vào Nam, dân Nam đã chia cơm, xẻ đất cho đồng bào mình vào Nam ty nạn CS. Quân đội VNCH đã giúp Nam, Bắc, Trung hoà nhập trong công cuộc vì dân chiến đấu, vi nước hy sinh chống với CS.

Miền Nam cũng là căn cứ địa của thành phần CS gốc Miền Nam từng chủ động đổi mới kinh tế, có lập trường xích lại gần Mỹ, chống quân Tàu xâm lược biển đảo VN.

Và quan trọng nhứt là Saigon, thủ phủ của Miền Nam là nơi làm ra tiền nhiều nhứt, đóng cho ngân sách quốc gia nhièu nhứt so với hai miền kia. Nguyên tắc kinh tế chánh trị là ai, ở đâu làm ra tiền nhiều thì nắm quyền. Tân Cảng Saigon là nơi các tướng lãnh CS họp tuyên bố đảo chánh chánh sách của Đảng CS cấm quân đôi làm kinh tế, là cảng sông, cảng biển do Mỹ thành lập để lại, có giá trị dân sự lẫn quân sự đối với Saigon.

Ba và sau cùng, Quân đội đảo chánh kinh tế của Đảng vì kinh tế và chánh trị là môi với răng. Quyền lợi kinh tế chánh trị chung mà không có riêng thì chúng vô hồn, riêng mà không có chung là cá nhân, ích kỷ. Phân tích vụ quân đội của VNCS đang mạnh dạn đứng lên đảo chánh kinh tế của Đảng, đòi quyền làm kinh tế cho quân đội, lật đổ chế độ của Đảng CS cấm quân đội làm kinh tế lâu nay -- không phải giản dị chỉ là đòi quyền lợi kinh tế cho quân đội mà còn hạ đám công an, cảnh sát được Đảng sử dụng bảo vệ Đảng và chế độ, ưu đãi họ, biến chế độ thành cảnh sát trị, đàn áp, bóc lột dân tận xương tuỷ.

Quân đội đảo chánh kinh tế của Đảng là một cuộc thử nghiệm của tài thao lược, thế và lực của quân đội trong một cuộc chiến đấu quan trọng hơn mà quân đội nhân dân các nước CS Đông Âu đã làm và thành công với tư cách là ‘quân đội nhân dân’ trở về với dân, cùng vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, trong các cuộc cách mạng nhân dân giải trừ Đảng CS.

Quân đội đảo chánh kinh tế của Đảng để đòi Đảng phải trả lại công bằng, danh dự cho quân đội đã đem xương máu giành chánh quyền, chủ quyền đất nước mà Đảng CS đã cướp công biến VN thành chư hầu, thuộc địa kiểu mới cho TC, để TC thôn tính biển đảo của VN. Để CS lên đồ lớn, đi xe sang trọng, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con đông. Còn dân thì, nam làm lao động xuất khẩu, làm mọi cho công ty ngoại bang trong nước; nữ nô lệ tình dục cho Miên, Thái, Đài, Hàn. Tổng bí thư Nguyễn phú Trọng làm ‘gia nô’ cho TC bị dân quân VN gọi là là “Trọng Tội. Trọng Lú”. Y sợ Quân đội nên làm Chủ Tịch Quân uỷ trung ương chưa đủ, lại qua gá nghĩa với công an, tự cơ cấu thành viên thường của Đảng ủy Công an Trung ương.

Quân đội không bao giờ quên tánh đoản hậu, thói làm nhục quân đội của Đảng CSVN. Tổng bí Thư Lê Duẫn, Trưởng Ban Tổ chức không một ngày lính khi được thời làm nhục Đại Tướng Võ nguyên Giáp, đày Tướng Giáp phụ trách chương trình sanh đẻ có kế hoạch và loan truyền câu ca dao nhục mạ “Ngày xưa Đại tướng cầm quân. Ngày nay Đại Tương cầm quần chị em”./.

(VA)
Hoàng Nam  
#10022 Posted : Saturday, December 16, 2017 6:00:50 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,729

Thanks: 747 times
Was thanked: 263 time(s) in 198 post(s)
“Côn đồ” tấn công giáo xứ Đông Kiều,
bắn bị thương một thầy giáo


By TNT on December 16, 2017  0 Comments
Tiến Thiện

UserPostedImage


Thánh lễ tại giáo xứ Đông Kiều ngày 14/12/2017
Courtesy FB Thanh Niên Công Giáo


Từ Nghệ An, người dân giáo xứ Đông Kiều lên tiếng tố cáo bị một số “côn đồ” hành hung vì trang trí hang đá Noel. Một thầy giáo đã bị bắn vào đầu gây thương tích đang phải điều trị.

Sự việc xảy ra tại giáo xứ Đông Kiều, thuộc xã Diễn Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vào khoảng 8 giờ tối ngày 13/12/2017.

Chị Trần Thị Oanh, người tại địa phương, chứng kiến sự việc cho biết có mấy nhóm người lạ mặt xông vào khu vực gần nhà thờ giáo xứ Đông Kiều chặt phá các dàn bóng đèn trang trí Noel và tấn công người dân nơi đây.

Nạn nhân bị họ chém là anh Thuận.

Chị Oanh kể lại: “Anh ấy vừa đến ngõ nhà em thì phát hiện hai người đang chặt chém các dàn bóng nháy. Anh ấy dừng xe lại và nói họ thì bị chúng dùng dao chém vào tay anh bị thương, bị chảy máu. Côn đồ còn dùng dao chém vào xe máy của anh ấy. Xe bị bể đèn và bể đàng trước xe. Anh liền chạy vào nhà em khi đó con nít đang tập múa nơi sân gây nên cảnh náo loạn. Anh ấy nói với bố em, khi em chạy ra thì chúng bỏ chạy rồi.”

Không chỉ đập phá, những người này còn sử dụng vũ khí gây sát thương và cả súng để hành sự.

Thầy giáo Liên là nạn nhân tiếp theo khi bị bắn vào đầu.

Chị Oanh tường thuật: “Thầy Liên chỗ làng em, vừa nghe tin chúng chặt đèn liền chạy ra. Thầy bị chúng cầm súng hơi tự chế, bắn vào đầu chảy máu. Hiện tại thì đang ở trạm y tế để băng bó vết thương.”

Những diễn biến này xảy ra khi người dân đang đọc kinh liên gia. Khi trở về thì họ phát hiện ra sự việc. Người dân đã hô hoán lên khi chứng kiến sự việc và gây chấn động xứ đạo trong đêm.

Người dân cũng cho biết những thanh niên này vào khoảng 7:30 đã đến khu vực gần nhà thờ, đòi vào một nhà có đạo để uống rượu. Nhưng vì nhà chỉ có trẻ con nên chủ không cho vào.

Vụ tấn công này được giáo dân Đông Kiều cho là có liên quan việc sáng cùng ngày công an xã Diễn Mỹ và huyện Diễn Châu đã đến ngăn cản các giáo dân ngưng không được dựng hang đá đón Giáng Sinh nơi khuôn viên nhà thờ xứ.

Chị Trần Thị Oanh nói có khoảng 20 công an mặc sắc phục và thường phục đến đọc biên bản và yêu cầu trong vòng 24 giờ nếu không tháo dỡ thì họ sẽ cưỡng chế thi hành.

Chị nói: “Khoảng 20 người cả trai lẫn gái đến. Họ đọc cái giấy nói trong 24 giờ nếu giáo xứ Đông Kiều không gỡ hang đá ra thì sẽ lập biên bản. Và cho rằng giáo xứ Đông Kiều xây dựng trái phép. Người đọc là anh Nguyễn Công Tứ, trưởng đoàn ở xã Diễn Mỹ hay huyện gì đó.”

Người dân đã phản ứng lại việc làm này của nhà cầm quyền vì đây là đất đã được người dân hiến cho giáo xứ và việc làm hang đá Noel thì không vi phạm điều nào cả.

Người dân cho biết công an đã to tiếng quát nạt và giơ súng lên dọa người dân.

Một cư dân địa phương khác giấu tên kể lại: “Khi chúng em đang tập múa, thấy họ lên tiếp thì chúng em hét lên: vơ làng nước ơi. Chúng em tính chạy đi lên để kêu người dân thì hắn (công an) giơ súng lên để dọa.”

Chúng tôi đã liên hệ điện thoại với anh Thuận và thầy giáo Liên, cũng như công an xã Diễn Mỹ nhưng không có ai trả lời máy.

Cư dân địa phương cũng cho biết liên tiếp thời gian gần đây giáo xứ Đông Kiều và cả linh mục quản xứ bị một nhóm người được cho là thuộc Hội Cờ Đỏ sách nhiễu, đe dọa.

Từ ngày 1 đến 20 tháng 9 vừa qua, tư gia và cơ sở kinh doanh của nhiều gia đình bị côn đồ ném đá, phá hoại tài sản, dùng súng tấn công.

Ngày 20 tháng 9, Linh mục quản xứ Nguyễn Ngọc Ngữ và linh mục Ngô Xuân Kế đã bị hàng trăm người lạ mặt vây lại và xông vào đòi đánh ngay trước cổng ủy ban nhân dân huyện.

Vào ngày 20 tháng 9, những đoàn thể tại xã Diễn Mỹ còn mang cờ đỏ sao vàng, băng rôn, khẩu hiệu đi vào khu vực quanh nhà thờ Đông Kiều gây rối và đòi trục xuất linh mục quản xứ Nguyễn Ngọc Ngữ ra khỏi xã Diễn Mỹ. Những người này còn có nhiều hành vi báng bổ tôn giáo. Họ dùng gạch đá, gậy gộc đạp phá ảnh tượng thánh, đập tượng Đức Mẹ Maria và dùng súng bắn vào bàn thờ của người dân.

Ngay sau những diễn biến này, trên một số trang báo điện tử và mạng xã hội có bài cho rằng những hành động này là phản ứng tự phát của người dân chứ không phải là do nhà cầm quyền chủ ý gây ra.

Trang Thông Tin Chống Phản Động viết “Linh mục Nguyễn Ngọc Ngữ, chánh xứ Đông Kiều thường xuyên có những hành động kích động giáo dân dựng biểu ngữ, lấn chiếm đất công xây dựng trái phép, phát ngôn tục tĩu… đã bị người dân nơi đây dạy cho một bài học.”

Linh mục đoàn giáo hạt Đông Tháp nơi có giáo xứ Đông Kiều đã ra thông cáo phản đối những hành vi vi phạm pháp luật và quyền tự do tôn giáo của người dân và linh mục nơi đây.

(RFA)
thao ly  
#10023 Posted : Saturday, December 16, 2017 8:48:07 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,549
Woman

Thanks: 456 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)

SÁU LOẠI CÔ ĐƠN


PEMA CHONDRON
THIỆN Ý
- CHUYỂN NGỮ

UserPostedImage

Không một chỗ để trụ là sự đơn độc tột cùng. Đó còn gọi là sự giác ngộ - Hans Thoma

Không có một chỗ nào để trụ trong giáo pháp trung đạo. Tâm không có chỗ trụ thì không tự giải quyết được gì vì không có nơi để tập trung, nắm níu. Làm sao mình có thể đạt được chỗ không trụ? Để đạt được chỗ không trụ mình phải thay đổi thói quen thâm căn, cố đế mà mình hay phản ứng khi có chuyện gì xảy ra: Muốn tìm cho ra cách giải quyết vấn đề đó bằng bất cứ giá nào. Tôi sẽ chết mất nếu tôi không thể tìm ra một lối thoát, một giải pháp! Khi chúng ta không tìm ra được câu trả lời, mình cảm thấy như đang bị kẹt trong một tình huống khó xử. Chúng ta cảm thấy cô đơn, như gà nuốt nhằm giây thung với những cảm giác bồn chồn, nóng nảy, khó chịu mà mình luôn cố tránh né bằng cách tìm cho ra một lối giải quyết. Cái cảm giác đó thật là nặng nề!

Tuy nhiên, năm này tháng nọ tìm ra được lối thoát này, giải pháp nọ, có khi phải, có khi trái, có khi đúng, có khi sai, nhưng chưa bao giờ thực sự thay đổi được gì. Lục lọi tìm kiếm một sự bảo đảm an ổn chỉ mang lại niềm vui tạm bợ. Giống như thay đổi vị trí của hai chân trong lúc ngồi thiền. Chân mình bị đau vì ngồi xếp bằng lâu nên mình phải thay đổi vị thế của chúng. Và rồi mình cảm thấy, 'Phào! Thật là nhẹ nhỏm!' Nhưng 2 phút rưỡi sau, mình lại muốn thay đổi vị thế của chúng nữa. Chúng ta cứ xoay trở bên này, xoay trở bên kia để tìm một vị thế thoải mái, yêu thích, và sự vừa lòng mà mình có được thì rất ngắn ngủi.

Chúng ta nghe nhiều về nỗi thống khổ của luân hồi, và luôn cả sự giải thoát. Nhưng chúng ta chưa nghe nhiều về nỗi đau khổ từ việc hoàn toàn bị kẹt cứng đến việc hết bị mắc kẹt, được tự do. Tiến trình của việc hết bị mắc kẹt đòi hỏi một sự can đảm ghê gớm, vì chúng ta đang thay đổi, tận gốc rễ, cách chúng ta tiếp nhận thực tại, như đang thay đổi toàn diện cấu tử cơ bản của tế bào di truyền (DNA). Chúng ta đang mở trói cho một kiểu mẫu mà không phải bản chất của con người. Kiểu mẫu của con người là: chúng ta phát họa hàng ngàn, hàng tỷ cách khả thể để đạt được lối thoát, giải tỏa những khó khăn, bế tắc trong đời sống. Chúng ta có thể có những hàm răng trắng bóng hơn, một mảnh vườn cỏ dại không mọc được, một đời sống không bao giờ có xung đột, bất hòa, một thế giới không có hổ thẹn. Chúng ta có thể sống hạnh phúc mãi mãi. Kiểu sống này khiến chúng ta thêm nhiều chuyện bất như ý và gây nhiều đau khổ.

Làm người, chúng ta không chỉ tìm kiếm những giải pháp, lối thoát cho đời sống, mà còn cảm thấy mình xứng đáng với những giải pháp đó. Tuy nhiên, không chỉ mình không xứng đáng với những giải pháp, lối thoát như vậy, mà còn bị đau khổ từ những thứ đó. Chúng ta không xứng như vậy; thực ra, chúng ta xứng đáng những thứ tốt hơn. Chúng ta xứng được có quyền thừa kế, mà đây chính là trung đạo, một trạng thái tâm phóng khoáng mà mình có thể thư giãn với những mâu thuẩn và bất trắc trong đời sống. Đến một chừng mực nào đó, mình luôn tìm cách tránh né sự nhập nhằng, mơ hồ (uncertainty). Chúng ta tự nhiên đang kinh qua những triệu chứng tâm lý trốn tránh, trốn tránh từ những suy nghĩ cho rằng có một khó khăn, bế tắc, và một người nào, ở một nơi nào đó, cần phải giải quyết vấn nạn này.

Con đường trung đạo luôn rộng mở. Nhưng khó mà thành tựu được vì bản chất tâm tính cố hữu mà loài người ai cũng có. Khi ta cảm thấy cô đơn, khi ta cảm thấy tuyệt vọng, điều mình thích làm là tìm cho ra cách trốn thoát, hay tìm cách tránh né. Chúng ta không muốn ngồi yên và cảm nhận những gì mình đang cảm thấy. Chúng ta không chịu để yên để được chữa trị. Nhưng đó chính là cách mà con đường trung đạo khuyến khích mình làm. Nó khuyến khích chúng ta đánh thức lòng can đảm mà ai cũng có, không có ngoại lệ, bao gồm luôn cả bạn và tôi.

Thiền quán chỉ cho chúng ta một phương cách để tu pháp trung đạo - ở ngay chỗ này. Chúng ta được dạy là đừng phê phán những gì đang xảy ra trong tâm mình. Đúng ra là không nên nắm níu những gì khởi lên trong tâm. Những thứ mình cho là xấu hay tốt, mình đơn giản chỉ nhìn nhận chúng như là những ý nghĩ, mà không để cho những kịch tính xảy ra khi mình cho nó là đúng hay sai. Chúng ta được hướng dẫn là để cho những ý nghĩ này đi qua, giống như mình đụng nhẹ những bong bóng nước bằng một cọng lông chim. Cách nghiêm ngặt thẳng thắng này chuẩn bị cho chúng ta thôi đừng vọng tưởng, vùng vẫy nữa, và để khám phá một trạng thái sống tươi mát, không thành kiến, và không thiên vị.

Trải nghiệm của những cảm giác rõ rệt, như là sự cô đơn, chán chường, lo sợ, có thể mang đến sự thai nghén đặc thù với sự khát khao tìm một lối thoát. Trừ phi, mình có thể thoải mái với những cảm giác này. Khi mình đang trải nghiệm chúng thì thật là khó mà để yên, không làm gì hết.

Chúng ta muốn có một lối thoát, một giải pháp, dù chiến thắng hay thất bại, khen tặng hay đổ lỗi. Ví dụ như, nếu có ai đó cho mình ra rìa, mình không thích phải ngồi chịu trận với cảm giác khó chịu đó! Thay vì vậy, mình làm rùm beng lên theo như thói thường, rằng mình là một nạn nhân bất hạnh. Hoặc là, mình tránh né cách hành xử non nớt này bằng cách hành động theo lẽ phải, nói cho họ biết rằng họ đã phạm một sai lầm lớn như thế nào. Chúng ta tự động muốn che dấu sự đau đớn bằng cách này, hay cách khác, như là đồng tình với sự việc là mình đang làm đúng, hay cho mình là nạn nhân.

Thường thường chúng ta xem sự cô đơn như là một kẻ thù. Chúng ta không muốn mời gọi những gì đau lòng đến với mình. Mình khao khát, nóng nảy, bồn chồn tìm cách trốn tránh và kiếm ai đó hay cái gì đó làm bạn. Khi chúng ta có thể chịu để yên, không làm gì trong lúc dầu sôi, lửa bỏng, mình bắt đầu có một mối tương giao không thù nghịch với sự cô đơn, một sự cô đơn tươi mát, nhẹ nhàng mà khiến đảo ngược hoàn toàn cái thói quen sợ hãi thông thường khi trước của chúng ta đối với nó.

Có 6 cách để mô tả loại cô đơn tươi mát này. Chúng là: ít ham muốn, biết đủ, tránh những hành động không cần thiết, luôn luôn giữ kỷ luật, không léo hánh vào thế giới của khát vọng hay tham dục, và không tìm kiếm sự bảo đảm an toàn từ những ảo tưởng.

Ít ham muốn là sự tự nguyện được cô đơn mà không trốn tránh, trong khi toàn thân mình đang khao khát có một cái gì đó làm mình vui lên và thay đổi tâm trạng này. Tu tập loại cô đơn này là một cách gieo trồng những hạt giống để làm giảm đi sự nôn nóng, bồn chồn. Ví dụ trong khi ngồi thiền, mỗi lần mình bị những ý nghĩ của mình kéo chạy lung tung, mình liền đặt tên cho chúng là 'ý tưởng,' là lúc chúng ta đang tập luyện sống trong hiện tại, bây giờ và ở đây, mà không bị phân tâm. Chừng nào mình đã không muốn làm như vậy hôm qua hay ngày hôm trước hay tuần trước hay năm ngoái thì chúng ta cũng không thể làm được điều đó bây giờ. Một cái gì đó xảy ra, sau khi chúng ta thực tập ít ham muốn hết lòng và đều đặn. Chúng ta cảm thấy ít ham muốn theo cái ý nghĩa là mình ít bị lôi kéo một cách mạnh mẽ từ những 'Tâm Sự Rất Quan Trọng' ở trong tâm mình. Như vậy, cho dù nếu sự cô đơn nóng hổi còn đó, và mình ngồi chịu trận với cái nôn nóng, bồn chồn dù chỉ có vài giây, trong khi mình chả ngồi yên được gì cả hôm qua, đó là hành trình của một hiệp sĩ. Đó là con đường của sự can đảm. Càng ít bị quay cuồng và phát hoảng, chúng ta càng nếm thấy sự mãn nguyện, hài lòng với sự cô đơn tươi mát. Như thiền sư Katagiri Roshi thường nói, 'mình có thể bị cô đơn, nhưng không để bị nó ném đi mất.'

Loại cô đơn thứ hai là biết đủ. Mình không mất gì hết khi mình không có gì để mất. Chúng ta không có cái gì để mất nhưng vì bị lên khuôn trong đầu là mình có nhiều thứ bị mất. Cảm giác mình có nhiều thứ bị mất có gốc rễ từ sự lo sợ - lo sợ sự cô đơn, thay đổi, mất còn, và về những cái gì mà không có lối thoát. Mình hy vọng có thể tránh được cảm giác này và sợ rằng mình không thể làm điểm tựa cho chính mình.

Khi chúng ta vạch một lằn ngay điểm giữa của một tờ giấy, chúng ta biết được mình đang là cái gì và ở bên phía phải, hay phía trái. Nhưng khi mình không biết đặt mình bên phía nào cả, mình không biết mình đang là cái gì. Do vậy, mình không biết phải làm gì. Mình hoàn toàn không biết! Chúng ta không có một điểm tựa, không có gì để nương nhờ. Vào thời điểm này, chúng ta hoặc là hoảng hốt, hay là nhịn chịu. Biết đủ là đồng nghĩa với nhịn chịu sự cô đơn tươi mát này. Chúng ta từ bỏ việc tin tưởng rằng nếu có thể trốn thoát được sự cô đơn này sẽ mang đến nào là hạnh phúc, sung sướng, thoải mái, can đảm, hay sức mạnh. Chúng ta phải thường xuyên từ bỏ ý nghĩ trên cả ngàn lần, và bằng sự ý thức, chánh niệm liên tục học làm quen với sự bồn chồn, nóng nảy trong tâm mình. Rồi thì, thay đổi sẽ xảy ra dù cho mình có để ý đến hay không. Chúng ta có thể sống cô đơn mà không có sự chọn lựa nào khác, sống an lạc ngay trong lúc đó với cái tâm trạng mà mình đang trải nghiệm.

Loại thứ ba của sự cô đơn là tránh những sinh hoạt không cần thiết. Khi chúng ta cô đơn cực độ, mình thường tìm kiếm một cách nào đó để cứu mình; mình đang tìm một lối thoát. Mình có một cảm giác buồn nôn mà mình gọi là sự cô đơn, và tâm trí mình muốn phát điên, tìm cách kiếm một cái gì đó để cứu mình khỏi tuyệt vọng. Cái đó gọi là hành động không cần thiết, một cách để làm mình bận rộn để không cảm thấy nỗi khổ, niềm đau của mình. Cách này có thể là: mình bị ám ảnh luôn tơ tưởng đến những chuyện lãng mạn, không thật, hoặc làm nhặng xị lên về một lời đồn đại vô bổ nào đó, hoặc biến mình thành một người điên rồ. Điểm chính là trong tất cả những sinh hoạt này, chúng ta đang tìm kiếm cách làm thân với ai đó theo thói quen thông thường của mình, lập đi lập lại cái cách củ rít mà mình thường xử dụng để tránh con ác quỷ cô đơn. Mình có thể nào cứ để mặc nhiên và tỏ lòng từ bi và tôn trọng đối với con người mình khi đó không? Bạn có thể nào thôi đừng trốn chạy cái cô đơn này? Vậy thì thử lo tu niệm, chứ đừng có nhảy nhót, tránh né khi mình bắt đầu cảm thấy lo sợ? Thư giãn với sự cô đơn là một phương pháp xứng đáng tốt nhất. Như nhà thơ người Nhật, Ryokan, thường nói, 'Nếu bạn muốn tìm ra ý nghĩa, đừng đuổi theo quá nhiều việc.'

Luôn giữ kỷ luật là một phương pháp khác để học sự cô đơn tươi mát. Luôn giữ kỷ luật nghĩa là khi nào có cơ hội bạn đều tự nguyện tìm cách trở về sống với phút giây hiện tại. Đây chính là luôn giữ kỷ luật để sống với sự cô đơn. Chúng ta tự nguyện ngồi yên, ngay nơi đó, một mình. Mình không cần phải làm gì với loại cô đơn này; bạn chỉ ngồi đủ lâu để quán chiếu mọi chuyện đang thực sự xảy ra như thế nào. Mình thật sự một mình và không có bất cứ cái gì khác để mình tựa nương. Thực ra, cách này cho phép chúng ta khám phá một trạng thái sống hoàn toàn như thực, không bị ảo giác, tưởng tượng của tâm vẽ vời ra. Thói quen áp đặt tất cả những quan niệm của mình về mọi sự việc phải như thế này, hay phải như thế kia, khiến mình không thấy chúng một cách thông thoáng và cởi mở. Mình nói mình biết, nhưng thực sự thì không biết. Mình tuyệt đối không biết gì hết! Không có một sự chắc chắn nào cả. Cái sự thật rõ ràng này khiến mình đau lòng và mình muốn trốn chạy khỏi nó. Nhưng quay về sống an lạc với cái cô đơn quen thuộc là một kỷ luật tốt vì biết nhận thức sâu sắc cái giây phút bế tắc trong đời mình. Chúng ta tự đánh lừa mình khi lo chạy trốn từ những cái tối tăm của sự cô đơn.

Không lang thang trong thế giới khát vọng hay tham dục là một cách khác để sống với sự cô đơn tươi mát. Lang thang trong thế giới khát vọng hay tham dục nghĩa là tìm kiếm những chọn lựa khác, lục lọi xem có cái gì để an ủi mình, như là thức ăn, bia rượu, hay một người nào đó. Thế giới khát vọng hay tham dục bao gồm luôn cả đặc tính nghiện ngập, cách chúng ta nắm níu vào một cái gì đó vì nó làm cho mình cảm thấy an tâm, bớt lo sợ. Đặc tính đó phát nguồn từ việc mình không bao giờ muốn được trưởng thành. Mình vẫn còn muốn, khi về nhà sẽ vẫn tìm thấy trong tủ lạnh những thứ mà mình thích nhất; khi chuyện trở nên khó khăn hơn, mình vẫn muốn la lên cầu cứu 'Mẹ ơi!' Nhưng điều mình đang làm để tiến bước trên con đường 'thành nhân' là rời khỏi nhà và trở thành người vô gia cư, không nhà. Không léo hánh vào thế giới khát vọng hay tham dục liên quan tới việc được tiếp xúc với mọi chuyện như thật, không bị ảo tưởng. Cô đơn không phải là một vấn đề. Nó không có gì cần phải giải quyết. Sự thật này cũng áp dụng cho những kinh nghiệm khác của mình trong đời.

Một hướng khác để sống với sự cô đơn tươi mát là không tìm kiếm sự bảo đảm an toàn nào từ những ảo tưởng. Sự thật đã được phơi bày; đã đến lượt mình phải lộ diện; không có cách nào thoát khỏi được! Mình cũng không tìm kiếm sự an ủi từ những suy tư, nghĩ ngợi của chính mình, như là cái này thì sao, như vậy có được không, hay mình nên làm vậy, hay không thể làm vậy, v.v. Sống với sự cô đơn tươi mát mình không mong mõi sự bảo đảm an toàn nào từ những ảo tưởng. Vì vậy mà mình được dạy khi tiếp xúc chúng trong lúc ngồi thiền thì hãy đặt tên cho chúng là 'ý tưởng.' Nó không phải là một thực thể. Nó trong suốt và không thể nắm bắt được. Mình được khuyên là chỉ nhận biết chúng và rồi để nó đi qua, đừng làm nhặng xị với cái không thật đó!

Sự cô đơn tươi mát cho phép chúng ta nhìn chân thật mà không có sự can thiệp, và xâm lược của những thứ khác trong tâm trí mình. Mình có thể từ từ buông bỏ cái lý tưởng mà mình nghĩ mình phải là ai, hay mình muốn mình là như vậy, hay mình nghĩ người khác muốn mình là như vậy, hay phải là như vậy. Chúng ta từ bỏ nó và chỉ nhìn trực diện con người mình với lòng từ bi và một chút khôi hài. Rồi thì, sự cô đơn không còn là một sự đe dọa, một sự đau lòng, hay là một sự trừng phạt.

Sự cô đơn tươi mát không cung cấp cho chúng ta một lối thoát nào, hay cho chúng ta một chỗ nương tựa. Nó thách thức chúng ta bước vào một thế giới không có chỗ trụ, không có bên này hay bên kia, và thậm chí không có chỗ đứng. Đây gọi là con đường trung đạo, hay là con đường đạo của những hiệp sĩ.

Một buổi bình minh bạn thức giấc, và bất thần, cảm nhận cái cảm giác đau xót của sự xa lạ và cô đơn, bạn có thấy đó là cơ hội bằng vàng của mình không? Thay vì là làm khổ mình hay cảm thấy có cái gì đó sai lầm đáng sợ đang xảy ra, ngay trong lúc đau buồn và khát vọng đó, bạn có thể nào giảm bớt căng thẳng và tiếp xúc với cái khoảng không vô tận của tâm mình? Lần sau, khi nào có cơ hội thì bạn hãy thử nghiệm cái này đi!

Về tác giả:

Bằng những bài giảng pháp hùng hồn, những quyển sách bán chạy nhất, và những ngày tu học hàng ngàn người tham dự, PEMA CHODRON là một vị giáo thọ Phật giáo người Mỹ nổi danh nhất hiện nay. Trong quyển 'Tuệ giác của Vô Trụ, Nơi Làm bạn Hoảng Sợ,' và những quyển sách quan trọng khác, bà đã giúp chúng ta khám phá ra rằng trong những lúc nguy nan và bất trắc là những cơ hội để mình giác ngộ. Pema Chodron là một vị Tỳ Kheo Ni, muốn thiết lập một truyền thống Phật giáo chuyên tu ở phương Tây.

Nguồn Anh Ngữ:

*Six Kinds of Loneliness by Pema Chodron, Shambhala Sun Magazine, July 1st, 2000.

Thiện Ý chuyển ngữ. (tháng Tư, 2015)
thao ly  
#10024 Posted : Sunday, December 17, 2017 9:17:55 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,549
Woman

Thanks: 456 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)

HẾT BỊNH UNG THƯ NHỜ TU THIỀN


THÍCH NGUYÊN TẠNG


UserPostedImage

Cô Sue Dixon, một Phật tử người Úc, vướng phải căn bệnh hiểm nghèo, ung thư ngực, trong lúc dường như phải bó tay và hoàn toàn tuyệt vọng thì các Tăng sĩ Tây Tạng đã hướng dẫn phương pháp Thiền quán. Tuyệt vời thay, không lâu sau đó, cô bình phục và khỏe mạnh như xưa. Bài viết dưới đây, cô sẽ kể cho đọc giả biết quá trình loại bỏ bệnh ung thư như thế nào:

Tôi quyết định viết về chuyện ung thư ngực (breast cancer) của tôi với hy vọng rằng nó có thể là lợi ích cho quý đọc giả là tôi hạnh phúc lắm rồi. Đó là một kinh nghiệm thâm thúy của bản thân vì nó giúp tôi chính thức chuyển đổi hướng đi của tôi trong cuộc sống và Phật pháp đã đóng một vai trò quan trọng dẫn dắt tôi trong hướng đi mới này.

Lần đầu tiên tôi phát hiện mình có một khối u ở bên ngực trái vào đầu tháng 7 năm 1990. Cuộc khám nghiệm cho thấy đó là loại ác tính. Tôi đau khổ vô cùng vì tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bị ung thư, vả lại gia đình tôi không có tiền sử về căn bệnh nan y này và tôi chỉ ở cái tuổi bốn mươi hai. Lúc đó, tôi chợt nhớ đến một bài báo đã đọc trên tờ MANDALA (báo của hội Phật Giáo Tây Tạng, ấn hành ở Hoa Kỳ bằng tiếng Anh từ năm 1975) nói về một phụ nữ mang bệnh ung thư, được Lạt Ma Zopa dạy rằng đó là dịp tốt để làm lợi ích cho người khác vì căn bệnh của mình. Nhờ đó mà tôi được an ủi và cảm thấy rằng mình cũng như một người có ích cho kẻ khác. Tôi có một cảm giác tràn ngập với những tội lỗi và tin rằng bằng một lý do một nào đó mà có lẽ tôi đã phải chịu một hình phạt ở ngày hôm nay vì những hành vi bất thiện vốn từng gây trong quá khứ.

Tôi có một cuộc phẫu thuật vào ngày 4 tháng 7. Năm tuần sau tôi trở về nhà và đi làm bốn ngày trong một tuần, đó là một công việc căng thẳng của một chuyên viên liệu pháp gia đình tại một Trung tâm sức khỏe tâm thần cộng đồng. Một tháng sau chồng tôi lại mổ ruột thừa và sau một tháng thì anh ta bị liệt. Tất cả những căng thẳng ấy đã vây lấy tôi. Đó là không kể đến làm một bà mẹ và ba đứa con ở tuổi thiếu niên. Năm kế đó, tôi vừa đi làm một tuần năm ngày và vừa đi học để lấy bằng Cao học.

Ngày 25 tháng 5 năm 1992, lần đi khám thường lệ ở bệnh viện. Bác sĩ phẫu thuật cho hay lá gan có nguy cơ lớn hơn trước và rồi chiếu X-quang lại khám phá ra ngực thứ hai cũng bị ung thư. Tôi rất giận dữ và gần như tuyệt vọng. Tất cả những đau đớn đã ập đến và tôi lại bệnh nặng thêm. Tôi bị căng thẳng ở nơi làm việc, không có hạnh phúc trong gia đình, tôi đã đầu hàng và cứ để bệnh ung thư này nghiền nát tôi.

Rồi vào một buổi chiều, tôi viết cho Thượng tọa Zopa (ngài đang ở Hoa Kỳ) một lá thư với nội dung đầy tuyệt vọng. Sau ngày đó tôi có một nội tâm rất mãnh liệt và biết là việc làm đó đúng như mong đợi của tôi, một tuần sau tôi nhận được thư hồi âm từ ông ta. Ngài Zopa có lời an ủi tôi, chỉ dạy tôi những phương pháp tập Thiền cần thiết và ngài cũng nhắc lại rằng tôi đang có cơ hội tốt để có lợi ích cho người khác.

Thầy của tôi là Thượng tọa Khensur Rinpoche ở Adelaide (Úc), cũng dạy cho tôi một số phương pháp đặc biệt trong việc sử dụng y học Phật Giáo. Ngài cũng nhắc nhở tôi phải cẩn thận trong việc ăn uống, tập Thiền, niệm hơi thở hàng ngày. Ngài cũng khuyên tôi đừng quá bi quan và buồn rầu mà hãy nghĩ rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp và tôi sẽ sớm bình phục.

Tôi nghỉ làm việc ở Trung tâm liệu pháp và nhận ra rằng điều đó làm cho tôi khó chịu vì cá tính nghề nghiệp đã buộc chặt tôi trong nhiều năm qua. Vào tháng 12 năm 1992 tôi nhận thấy rằng nếu tôi hết bệnh ung thư và khỏe mạnh bình thường thì có lẽ tôi đã chấm dứt cuộc hôn nhân hai mươi bốn năm của mình rồi. Đây là một vấn đề bế tắc, một quyết định đau khổ và cũng là nguyên nhân làm cho cha mẹ tôi phải đau buồn.

Cũng trong thời gian đó, tôi theo học một chương trình nội trú ở trung tâm Gawler gần bang Melbourne. Anh Ian Gawler là sáng lập viên của trung tâm, một người tự khôi phục lại từ bên lề của cái chết vì bệnh ung thư xương (bone cancer) trong mười bảy năm trước khi nhờ phương pháp Thiền và ăn chay theo Đạo Phật. Trung tâm đã cống hiến một cơ hội ngàn vàng cho những người bệnh ung thư đến để chỉnh đốn cuộc sống của mình và bắt đầu thay đổi thói quen của lối sống theo "động cơ" trong quá khứ, học và hành Thiền niệm hơi thở, dùng những thức ăn bổ, khỏe và cố nhiên là thức ăn dành cho người bệnh.

Ở nơi đó, tôi nhận ra rằng tôi có được thuận lợi và tiến bộ đáng kể trong công việc chữa lành bệnh. Tôi thấy mình trở nên trầm lặng hơn, dễ chịu hơn, và chấm dứt những thói quen theo động cơ và tạo ra những khả năng thực sự để tự chữa bệnh cho mình.

Tôi trở về nhà và vẫn tiếp tục hành Thiền nhiều hơn nữa, từ một cho đến hai giờ mỗi ngày theo phương pháp thở, uống vitamin và nhiều loại thuốc bổ tổng hợp khác. Chồng tôi và tôi đã có sự giúp đỡ lẫn nhau thay vì sống ly thân. Tôi cũng có đi châm cứu và đến phòng tập thể dục ba lần trong mỗi tuần.

Đến đầu tháng 7 năm 1993, tôi đi siêu âm và kết quả cho thấy không có sự bất thường trong gan của tôi nữa, các khối u cũng đều biến mất. Tôi sung sướng như đã vứt bỏ một gánh nặng. Tôi liền tổ chức một bữa tiệc ăn mừng để cám ơn quý Thầy, quý bạn bè và gia đình đã an ủi và giúp đỡ tôi trong lúc bệnh. Thượng tọa Khensue Rinpoche đã nói với tôi thật là một điều kỳ diệu rằng tôi đã khỏi bệnh, một căn bệnh trầm trọng nhưng chỉ đối trị với những phương pháp đơn giản. Tôi cảm ơn ngài về sự chỉ dạy của ngài cũng như những người bạn đạo khác. Sau đó chúng tôi đi bách bộ ra ngoài, tôi nhìn thấy một cầu vòng sáng choang ở phía trước chúng tôi. Tôi đã nhận ra rằng cuộc hành trình của tôi chỉ nới bắt đầu.

Đạo Phật đã giúp tôi chữa bệnh bằng cách nào?

Tôi hoàn toàn tin tưởng vào các vị Thầy đạo hạnh của tôi, cũng như các phương pháp Thiền của Phật pháp một cách tuyệt đối. Tôi tin rằng căn bệnh này là sự chín muồi của nghiệp có liên quan từ đời sống quá khứ và tôi chỉ nhìn nó như một sự thanh lọc hoàn toàn. Tôi cũng cho rằng đây cũng là một dịp may để loại bỏ chu kỳ của nghiệp vì nếu không thì nó sẽ được lập đi lập lại bằng chính nó. Một cách kỳ lạ, tôi cảm thấy bệnh ung thư của tôi lại làm cho tôi khỏe hơn lên.

Áp dụng y học Phật Giáo để chữa bệnh, trong đó vấn đề nhịn ăn, kiêng ăn và tập thở là những điều quan trọng hàng đầu đối với tôi. Tôi quán chiếu một tia sáng theo phương pháp thiền Kim cang để gột rửa đi những tế bào ung thư ở bên cửa miệng của tử thần, rồi tôi thấy mật hoa màu vàng phủ trùm cả cơ thể tôi, và như thế mà lá gan của tôi đã phục hồi trở lại. Tuy nhiên phải mất một vài tháng trước khi tôi có thể những khối u trong tôi bị tẩy sạch.

Một phép quán khác quan trọng nữa là nhìn thấy ai đó đang bị đau đớn, hít vào một hơi thật sâu để xua tan đi những u tối trong tâm hồn và làm rộ ra viên kim cương, cái chính thực của mình. Và rồi thở ra với một luồng ánh sáng trắng từ viên kim cương ấy để đem vào cái mát mẻ và an lạc từ những nỗi đau đớn. Tôi cũng nguyện cầu cho tất cả mọi người bị vướng phải căn bệnh này sớm biết được phương pháp thiền quán này để họ bớt khổ đau.

Tôi có một niềm vui nhất định khi tập thiền. Qua giáo lý và thiền, tôi nhìn thấy rõ cách tồn tại hoàn toàn của tôi được quyết định bởi sự tỉnh thức và sự tự giữ lấy mình. Tôi bắt đầu thấy rõ mình lúc thức, lúc ngủ, cũng như lúc thoải mái hay lúc bực mình. Tôi bắt đầu nắm bắt được sự thật là nếu tôi khỏe lên thì có lẽ tôi lại phóng túng, phá vỡ mọi trật tự những cái sẽ đưa đến sự hoàn thiện, sự hạnh phúc. Thật khó cho chúng ta đạt được như ý trong khi vẫn cứ chạy theo cái lề thói cũ của mình. Điều đó đã liên quan đến cả cuộc sống lẫn trong mọi sinh hoạt hàng ngày của tôi. Chẳng hạn như việc sử dụng đồ đạc, trong tiếp xúc, những cái mà tôi không thích thì nay được thay đổi, bước đi với những bước chân thanh thản, nhẹ nhàng thay vì chạy rầm rầm... cũng như những việc lớn giống như tình trạng hôn nhân thoải mái nhưng không hạnh phúc nơi mà tôi đã dần dần bị xói mòn bởi sự giận dữ và xung đột.

Thật là điên cuồng để chạy theo những cái mỏng manh và huyền ảo của lợi danh và vật chất, để rồi lúc đối đầu với cái chết, chúng ta mới nhận ra rằng mình cũng giống như bao người khác, chỉ là sự sợ hãi, thất vọng và "ra đi" với hai bàn tay trắng trong nỗi niềm luyến tiếc những người mình thương, với những gì mình sở hữu. Tại sao chúng ta không biết chuẩn bị cho mình một cái gì đó cho ngày ấy? là một người bằng xương bằng thịt, tôi đã tuyệt vọng khi đối đầu với cái chết để trở nên một người biết thức tỉnh và biết lo tu học. Tôi rất mong quý đọc giả không giống như tình trạng của tôi.

Thế thì tương lai của tôi sẽ ra sao? Tôi cho rằng đang chờ xem thử những gì sẽ xảy ra. Nhưng tôi dám chắc là căn bệnh ung thư kia đã bị loại bỏ hoàn toàn nhờ "phương thuốc" Thiền thần diệu của Đạo Phật.

Hiện nay tôi đang bận rộn viết cho xong cuốn sách về phương pháp Thiền trị bệnh của Phật Giáo, nhưng tôi muốn nghe ý kiến cũng như muốn đối thoại với bất cứ những ai thắc mắc và quan tâm đến vấn đề này. Hoặc gởi thư cho tôi qua địa chỉ : Sue Taylor, P.O.Box 578 , Kingscote, SA 5223, Australia. Tel: 08.8559 3260.

Theo MANDALA Journal, 10/ 09/1993

hongvulannhi  
#10025 Posted : Sunday, December 17, 2017 12:42:40 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,342

Thanks: 1992 times
Was thanked: 4426 time(s) in 2761 post(s)


Bài giảng của Đức Phanxicô dịp Lễ Đức Mẹ Guadalupe


Vũ Văn An

15/Dec/2017

Ngày 12 tháng 12 vừa qua tại Đền Thờ Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã long trọng cử hành Thánh Lễ mừng kính Đức Mẹ Guadalupe.

Theo Associated Press, nhân dịp này, ngài thúc giục người Công Giáo Châu Mỹ La Tinh và vùng Carribbean cử hành và bảo vệ tính đa dạng của họ: bản địa, hợp chủng (mestizo) và da đen, một bản sắc đã được chính Đức Mẹ, khi hiện ra ở Guadalupe thập niên 1500, mang lấy.

Ngài thúc giục họ chống lại điều ngài gọi là đồng thể hóa (homogenization) hay thứ thực dân hóa ý thức hệ “nhằm tiêu diệt những người phong phú nhất, bất kể họ là người bản địa, người Mỹ Châu gốc Phi Châu, người hợp chủng, nông dân hay dân phố xá”.

Hãng tin Associated Press cho rằng Đức Phanxicô thực ra chỉ tiếp nối truyền thống của Đức Bênêđíctô XVI trong việc cử hành Lễ Đức Bà Guadalupe vì nhìn nhận rằng Châu Mỹ La Tinh là quê hương của gần 40 phần trăm người Công Giáo thế giới và Mễ Tây Cơ là một trong những nước có đông người Công Giáo nhất.

Tuy nhiên, Thánh Lễ kính Đức Bà Guadalupe đáng nhớ nhất là Thánh Lễ năm 2014 do Đức Phanxicô cử hành, trong đó có những bài ca của nhà soạn nhạc Á Căn Đình Ariel Ramirez. Thánh Lễ năm nay được cử hành theo truyền thống hơn, nhưng điều đáng lưu ý là Đức Phanxicô, người rất ít khi hát, cuối cùng cũng đã hát theo ca khúc kết lễ "La Guadalupana".

Tạp chí Crux thuật lại: Đức Phanxicô, mặc lễ phục trắng, tượng trưng cho sự trong sạch, tiến vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Ngài tiến tới tấm tilma của Thánh Juan Diego trên đó có hình Đức Mẹ, Đấng đã hiện ra với thánh nhân người bản địa Mễ Tây Cơ vào năm 1531. Đức Giáo Hoàng im lặng đứng trước bức ảnh một lúc, rồi cúi đầu cung kính chào và xông hương ba lần.

Tuy nhiên, trong bài giảng lễ, Đức Phanxicô đã lồng các điều ngài nói trên đây vào hai nội dung chính yếu khi nói tới nhân vật phụ là bà Elisabét: người đàn bà như dấu chỉ hiếm muộn và cũng là dấu chỉ sinh sản.

Sau đây là toàn nội dung bài giảng của ngài:

Tin Mừng vừa được công bố là lời nói đầu của hai ca khúc: ca khúc của Đức Mẹ gọi là Magnificat và ca khúc của Ông Giacaria gọi là Benedictus nhưng tôi thích gọi nó là “ca khúc của bà Êlisabét hay ca khúc sinh sản”. Hàng ngàn Kitô hữu khắp thế giới bắt đầu ngày sống bằng cách hát bài “Ngợi khen Chúa” và họ kết thúc ngày sống bằng cách “công bố sự cao cả của Người vì Người đã đoái nhìn phận hèn tôi tớ”. Như thế, ngày lại ngày, tín hữu thuộc các quốc gia khác nhau tìm cách tưởng nhớ, nhớ lại rằng từ thế hệ này qua thế hệ nọ, lòng thương xót của Thiên Chúa trải dài tới mọi con người, như Người đã hứa với cha ông ta. Và trong bối cảnh tưởng nhớ biết ơn này, bài ca của bà Elisabét trổ thành câu hỏi: “tôi là ai mà được Mẹ Chúa tới thăm?” Ta thấy bà Elisabét, người đàn bà vốn có tiếng nhờ dấu chỉ không sinh sản, nhưng nay ca hát dưới dấu chỉ sinh sản và bỡ ngỡ.

Tôi muốn nhấn mạnh hai khía cạnh: Elisabét, người đàn bà dưới dấu chỉ không sinh sản và dưới dấu chỉ sinh sản.

Elisabét, người đàn bà hiếm con, với tất cả những gì hàm ý trong não trạng tôn giáo thời bà, một não trạng coi hiếm muộn như một hình phạt của Thiên Chúa, hậu quả tội lỗi của riêng bà hay của chồng bà. Một dấu chỉ nhuốc nhơ mang ngay trong xác thịt bà hay bị coi là phạm một tội mà chính bà không phạm hay tự cảm thấy mình không sống đủ theo mức đo mà người ta vốn mong đợi nơi bà. Ta hãy tưởng tượng, một lúc, cái nhìn của thân nhân bà, của người hàng xóm, của chính bà… hiếm muộn, vốn in rất sâu và kết thúc với việc làm trọn cuộc sống trở thành tê liệt. Sự hiếm muộn có rất nhiều tên và hình thức mỗi lần người nào đó cảm nhận trong da thịt mình nỗi tủi nhục thấy mình bị bêu xấu hoặc tự cảm thấy mình chỉ là một vật vô nghĩa.

Ta thoáng thấy điều trên nơi người thổ dân thấp bé Juan Diego, khi ông thưa với Đức Mẹ “Con, nói thật, con chẳng đáng gì, con chỉ là cái dây da đeo đồ (mecapal), con chỉ là cái bị đeo lưng (cacaxtle), con là cái đuôi, là cái cánh cảm thấy lệ thuộc và phụ thuộc ngoại nhân, đó không phải là nơi con ở mà con cũng không tới cái nơi mà bà hạ cố sai con đi”. Như các giám mục Châu Mỹ La Tinh đã cho thấy, tâm tình này cũng tìm thấy nơi “các cộng đồng bản địa và Mỹ gốc Phi Châu của chúng ta, những cộng đồng trong khá nhiều dịp đã không được đối xử xứng đáng và bình đẳng; hoặc nơi nhiều phụ nữ, những người bị loại bỏ vì giới tính, nòi giống hay hoàn cảnh kinh tế xã hội; nơi các người trẻ, những người chỉ nhận được một nền giáo dục có phẩm chất tồi và không có cơ hội tiến bộ trong việc học hành hay gia nhập thị trường lao động để tự phát triển và thành lập một gia đình; nơi nhiều người nghèo, người thất nghiệp, di dân, di tản, các nông dân không có đất đai, những người cố gắng sinh tồn trong nền kinh tế không chính thức; nơi các bé trai bé gái phải làm đĩ điếm con nít thường liên hệ tới ngành du lịch tình dục”.

Và, cùng với bà Elisabét, người đàn bà hiếm muộn, ta hãy chiêm ngắm bà Elisabét, người đàn bà sinh nở và bỡ ngỡ. Bà là người đầu tiên nhận ra và ca ngợi Đức Mẹ. Chính bà, trong tuổi già, đã cảm nghiệm sự nên trọn của lời Thiên Chúa hứa ngay trong đời mình, ngay trong xác thịt mình. Chính bà, người không thể có con đã mang trong dạ mình Đấng Tiền Hô Ơn Cứu Rỗi. Nơi bà, chúng ta hiểu rằng giấc mơ của Thiên Chúa không phải và sẽ không phải là hiếm muộn hay bêu xấu con cái Người hay làm họ tràn đầy nhục nhã, nhưng làm bừng lên trong họ và từ họ bài ca chúc phúc. Ta thấy điều này cùng một cách nơi Thánh Juan Diego. Thực vậy, chính ngài, chứ không ai khác, đã mang hình ảnh Trinh Nữ trong tấm tilma của mình: Trinh Nữ da ngăm ngăm đen, khuôn mặt hợp chủng, được một thiên thần nâng bằng đôi cánh chim đuôi seo (quetzal), bồ nông và vẹt đuôi dài (macaw); Bà Mẹ mang các đặc điểm của con cái mình để làm chúng cảm thấy là thành phần của ơn phúc ngài.

Xem ra rất nhiều lần, Thiên Chúa vốn quyết tâm cho chúng ta thấy viên đá các thợ xây loại bỏ đã trở nên viên đác góc tường (xem Tv 117:22).

Anh chị em thân mến, giữa biện chứng sinh sản và vô sinh sản này, ta hãy nhìn vào sự phong phú và đa dạng của các dân tộc Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribbean, đây là dấu chỉ sự phong phú lớn lao mà chúng ta được mời gọi không những vun xới mà, nhất là thời ta, còn phải bảo vệ một cách can đảm chống lại mọi mưu toan đồng thể hóa, kết thúc với việc áp đặt, dưới các khẩu hiệu hấp dẫn, một lối suy nghĩ, một lối hiện hữu, một lối sống duy nhất, mà kết cục là biến mọi điều ta thừa hưởng từ các bậc trưởng thượng trở thành vô giá trị hoặc cằn cỗi; kết cục làm chúng ta, nhất là giới trẻ, cảm thấy nhỏ nhoi vì thuộc nền văn hóa này hay nền văn hóa nọ. Tóm lại, khả năng sinh sản của chúng ta mời gọi ta bảo vệ các dân tộc của ta khỏi chính sách thực dân ý thức hệ vốn nhằm tiêu diệt những người phong phú nhất của họ bất kể là người bản địa, người Mỹ gốc phi châu, người hợp chủng, các nông dân hay người ở phố xá.

Mẹ Thiên Chúa là gương mặt của Giáo Hội và từ ngài, chúng ta học để trở thành Giáo Hội với gương mặt hợp chủng, với gương mặt Bản Địa, Mỹ gốc Phi Châu, gương mặt nông dân, gương mặt bé trai bé gái, gương mặt người già người trẻ, để không một ai còn cảm thấy hiếm muộn hay không sinh hoa trái, để không ai còn cảm thấy phải xấu hổ hay là đồ vô nghĩa nữa. Nhưng, trái lại, để mỗi người, giống như Thánh Elisabét và Thánh Juan Diego, tự cảm thấy mình là người mang hứa hẹn, mang hy vọng và từ thâm tâm có thể nói: “Thưa Bố, nghĩa là lạy Cha! (Thư Galát 4:6) nhờ mầu nhiệm nhận làm con, một mầu nhiệm tuy không hủy bỏ các đặc điểm của mỗi người, nhưng vẫn đã phổ quát hóa chúng ta để thiết lập ta thành một dân tộc. Anh chị em thân mến, trong bầu khí tưởng nhớ đầy biết ơn này về việc chúng ta được làm người Châu Mỹ La Tinh, ta hãy hát lên bài ca của Thánh Êlisabét trong tâm hồn mình, bài ca mầu mỡ sản sinh, và hãy cùng nhau nói với các dân tộc chúng ta đừng mệt mỏi nhắc đi nhắc lại rằng: Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ.
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (22)
502 Pages«<500501502
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.