Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

415 Pages«<367368369370371>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Nam  
#7361 Posted : Monday, April 17, 2017 11:50:04 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,681

Thanks: 747 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)

42 tháng Tư và cuộc chiến không bom đạn


UserPostedImage


Vũ Đông Hà (Danlambao)
- Những ngày này năm xưa, chỉ trong 55 ngày đêm, với tốc độ “một ngày bằng 20 năm”, toàn bộ miền Nam bị “giải phóng”. Cuộc chiến bom đạn chấm dứt. Xác người thôi còn phơi khô trên những đại lộ kinh hoàng. Việt Nam “thống nhất”. Những người lính Việt Nam Cộng Hòa gãy súng giữa trời, nhìn nhau bằng đôi mắt uất hận. Những bộ đội cộng sản Bắc Việt ngồi dọc vỉa hè, ngơ ngác ngước nhìn Sài Gòn tráng lệ, và có người ôm mặt khóc.

Bao năm trôi qua. Trong từng năm tháng ấy, xác người dọc theo Đại Lộ Kinh Hoàng đã được thay thế bằng hàng vạn thây người trên những hải trình xuyên biển Đông. Các cuộc tổng tấn công quân sự được đổi lại bằng những đại chiến dịch tập trung cải tạo, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp. “Ý thức đoàn kết dân tộc lại một lần nữa bị phần nào xao lãng bởi bệnh chủ quan và say sưa vì chiến thắng, bởi những cách nhìn hẹp hòi, biệt phái, bởi chuyện phân biệt thắng-thua, bởi những kỳ thị ta-ngụy...” (cố Thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt). Trong im lặng hòa bình, trong thống nhất đất nước nhưng phân ly lòng người, một cuộc chiến không bom đạn đã khởi đầu. “Ngụy quân, ngụy quyền” được thay thế bằng “bè lũ phản động”. Chiến tranh xâm lược được thay trang đổi phục thành diễn tiến hòa bình. Những khẩu AK-47 được thế chỗ bởi điều 79, 88, 258... Những quả bom trải thảm B52 của đế quốc Mỹ đã nhường chỗ cho những ngọn hải đăng, tàu chiến, khoan dầu hiện đại và công trình xả thải của đế quốc Trung Hoa. Và những người bộ đội từ rừng về phố ngày xưa, bây giờ già nua, lặng nhìn cơ đồ và vận mạng của tổ quốc đang đắm chìm trong tăm tối.

*

Khi nói đến chiến tranh, người ta đo lường mức độ tàn phá khốc liệt và sự đau khổ bằng điêu linh đổ nát, bằng quan tài phủ bọc quốc kỳ, hay hố chôn người tập thể, hoặc hình ảnh bé gái trần truồng chạy khóc dọc đường khói lửa. Che đậy bởi mảnh vải đỏ hòa bình, bịt mắt bằng tấm khăn đen thống nhất, cuộc chiến không tên không tuổi của những năm tháng dưới lá cờ búa và liềm đã kéo dài trong im lặng nhưng tàn khốc.

Nó đã bắt đầu:

Khi chiếc xe bít bùng chở cả gia đình đến rừng U Minh Thượng. Người mẹ cùng đàn con ngơ ngác giữa hoang vu với đời sống kinh tế mới và người chồng “ngụy quân” vẫn còn đang bị lưu đày ở trại cải tạo Cổng Trời.

Khi người cha thắt cổ tự tử trong căn nhà ở Chợ Lớn sau khi bị cướp trắng tay bởi chiến dịch cải tạo công thương nghiệp; đàn con 9 đứa lăn lóc ở công trường Quách Thị Trang sau ngày căn hộ đã bị niêm phong và người mẹ quấn tròn chiếc chiếu quanh người để làm vệ sinh buổi sáng giữa phố thị đông người.

Khi mỗi người phải đứng trước chọn lựa đi hay ở, vào cái thời mà cột đèn có chân cũng muốn vượt biên; khi người cha bất lực nhìn đứa con gái 15 tuổi gào thét dưới man rợ của tên hải tặc người Thái; khi người anh rửa những hạt bắp trong nhúm phân người khô rốc cho đứa em trai 9 tuổi ăn để sống trên con đường vượt biên giới Việt-Miên.

Cuộc chiến đã bắt đầu với Câu Lạc Bộ Kháng Chiến Cũ, với “Nửa Đời Nhìn Lại”, “Đêm Giữa Ban ngày”, với “Mặt Thật” và “Hoa Xuyên Tuyết”, với “Chia tay ý thức hệ”, “Nhật Ký Rồng Rắn” và “Những Thiên Đường Mù”... Một cuộc chiến giữa bám víu vinh quang quá khứ và đối diện thực tại phũ phàng, giữa lương tâm và lẽ phải với biện minh, tiếc nuối cho những cống hiến của tuổi thanh xuân. Một cuộc chiến dù bắt đầu nhen nhúm từ buổi sáng ngồi rơi nước mắt ở vỉa hè Sài Gòn, hoặc muộn màng vào lúc cuối đời, vẫn là cuộc chiến âm ĩ bạc đầu của nhiều người đã từng cống hiến cuộc đời của mình cho quỷ đỏ từ “thuở ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim” (Từ Ấy - Tố Hữu).

Cuộc chiến đã khởi đi từ vụ án Vinh Sơn, đàn áp văn nghệ sĩ, tiếp nối với bản án tử hình dành cho người sinh viên bất khuất Trần Văn Bá, sang đến Lời Kêu Gọi Cuối Năm và khẩu hiệu Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết được dựng lên tại giáo xứ nhỏ bé Nguyệt Biều... Và cứ như thế cho đến nay, những công dân Việt Nam đầy lòng ái quốc, từ thế hệ 4x, 5x cho đến 8x, 9x, đã lần lượt vào tù.

Ẩn dưới mặt hồ gợn đỏ của đất nước được dán nhãn cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc lập tự do hạnh phúc là những tàn phá kinh hoàng hơn cả 21 năm xâm lược VNCH 54-75:

Một thiểu số thống trị giàu có ngoài sức tưởng tượng độc quyền kiểm soát sinh hoạt, tư tưởng của người dân.

Những giá trị đạo đức văn hóa bị xuống cấp chưa từng thấy. Cán bộ hủ hóa, tham nhũng, mua dâm, cờ bạc, rượu chè nhưng vẫn tiếp tục đọc bài diễn văn ca tụng điều nhân nghĩa lẫn chính nghĩa.

Ti tiện từ cá nhân đến ti tiện cả hệ thống được tiếp nối tung hô bởi những bút nô có chiếc lưng cong.

Mức độ chênh lệch giàu nghèo leo thang tới mức kỷ lục. Những "đầy tớ của nhân dân" trở thành tỉ phú và nhiều "nhân dân làm chủ" của đất nước chỉ mong một ngày có được 2, 3 chục ngàn để sống.

Con cháu của Mẹ Âu Cơ, của Trưng Triệu, của Cô Giang, của giòng giống với hơn 4000 năm văn hiến đã phải gác nhân phẩm qua một bên, chui háng chủ nhân Hàn, lấy chồng Đài, cam phận kiếp sống Ô sin, gửi con gái sang Campuchia làm đĩ, xếp hàng làm đơn mong trở thành món hàng xuất khẩu lao động.

Đêm nay. Con của Mẹ 18.
Ngồi bán mực nướng ở quán bia Xiêm Rệp.
Lẻo đẽo trước tiệm uốn tóc làng Việt Nam - Svay Pak
mời khách mua dâm.
Mặc váy ngắn đứng bán trầu
trong những lồng kính đèn màu đêm Taoyuan.
Co mình nằm dưới người đàn ông không răng ở con hẻm Chung Li.

*

Những chiến trường Bình Trị Thiên, Khe Sanh, Bình Giả, An Lộc... đã được thay thế bằng mặt trận Dân Oan, Dân Báo, Đình Công, Tôn Giáo... bằng những địa danh Nguyệt Biều, Thái Hà, Đồng Chiêm, Tiên Lãng, Văn Giang... Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền là khẩu hiệu xung phong. Cho đến một hôm, thức dậy từ đêm đen bưng bít của đảng cầm quyền chợt thấy: lãnh hải, lãnh thổ, đất đai, rừng đầu nguồn đã bị treo cờ đỏ 5 sao - đôi lúc 6 sao. Trận chiến trong hòa bình (và vẫn chưa thấy bóng thanh bình) đã bước vào một khúc quanh, một mặt trận mới: Bảo Vệ Chủ Quyền. Trong mặt trận này những công dân yêu nước phải đối đầu với bá quyền bành trướng phương Bắc bên ngoài và chống trả với độc tài mang não trạng tay sai bên trong.

Ở mặt trận mới này, phải nhìn hình ảnh cả nghìn thanh niên sinh viên xuống đường biểu tình chống Tàu cộng, bảo vệ Trường Sa, Hoàng Sa mới cảm được lòng ái quốc vẫn luôn mãnh liệt. Phải đọc trăn trở, tâm huyết của nhiều người, từ những bloggers thế hệ 7x, 8x sinh ra và lớn lên dưới bóng mây đen xã hội chủ nghĩa, qua đến những con người đã từng phục vụ trong chính thể VNCH, của những cựu đảng viên cộng sản đã bỏ đảng... mới thấy được hiểm họa xâm lăng đã kết hợp lòng người về một mối: Tổ Quốc Trên Hết.

Trận chiến trong hòa bình cũng đã bước vào một bước ngoặc mới với sự phá sản toàn diện về tư thế đại diện dân tộc và chính nghĩa của đảng cầm quyền. Nếu trước đây có nhiều người vẫn còn tin vào thiện chí và vai trò phục vụ dân tộc của đảng CSVN thì ngày nay bộ mặt thật của đảng cầm quyền đã lộ nguyên hình. Cho dù huyền thoại Cách mạng Mùa thu vẫn còn vấn vương đâu đó trong lòng một số người, nhưng dù thế đi nữa thì cũng phải học được bài học lịch sử là không thể bám vào hào quang của đức Lê Thái Tổ mà biện minh cho sự tồn tại của Lê Chiêu Thống.

Cuộc chiến không bom đạn cũng đang bước vào một giai đoạn phức tạp.

Ai là bạn? Ai là thù trong nội bộ đảng CSVN trước họa xâm lăng? Thái độ khách quan không cho phép vơ đũa và chụp lên đầu tất cả hơn 4 triệu đảng viên CSVN đều là những người vô tâm làm mất đất tổ tiên. Phải có những con người đang biết mình là công dân Việt Nam trước khi là đảng viên cộng sản. Phải có những người lính, sĩ quan, tướng lãnh đảng viên đang ngậm ngùi nhớ đến những đồng đội đã hy sinh ở mặt trận Việt-Trung. Phải có những chuyên viên, trí thức đang phục vụ trong guồng máy thấy rõ hơn ai hết những hiểm họa lâu dài. Nhưng biết ai là bạn ai là thù khi không lên tiếng nói? Đây cũng là một mặt trận của cuộc chiến giữa lương tâm, trách nhiệm, lòng can đảm và quyền lợi cá nhân, vị kỷ, sự hèn nhác.

*

Năm tháng trôi qua. Đất nước đi trọn một vòng với nhiều oan khiên để trở lại bài toán ban đầu: Độc lập, Tự do. Điều rõ ràng nhất của bài học xương máu là Tự do của toàn dân tộc không thể giải quyết bằng con đường di tản hay thủ tục xin cho; Dân chủ chỉ là bánh vẽ và tuyên truyền hão với điều Bốn của Hiến pháp và chúng ta phải tìm cách chấm dứt tình trạng “tư thế hóa” vai trò lãnh đạo đất nước bằng lá phiếu dù là miễn cưởng của mỗi người. Bởi vì hệ quả của nó là vận mạng của dân tộc, trong đó có chủ quyền của đất nước, đã được chính danh giao trọn vào tay của những kẻ độc quyền cai trị, lấy tư cách đại diện dân tộc để ký kết với ngoại bang.

42 tháng Tư trôi qua. Đất nước chỉ còn một chữ để diễn tả trạng thái: Chết. Ở dưới biển, những con cá dật dờ bơi chờ ngày hội ngộ với những con cá đã phơi bụng trên bờ. Ở trên đất, những con người còn thở, vẫn vô tư quay cuồng sống và tung tăng bơi lội như những con cá ở biển Đông. Những thái thú Ba Đình cùng với quan thầy Bắc Kinh đã xây dựng hàng trăm căn cứ với những pháo đài, vũ khí sinh học để tàn sát môi trường Việt Nam. Người Việt không những chỉ tranh đấu cho những mảnh đất, những hòn đảo, những vùng biển đã mất, mà còn phải vào tù để bảo vệ những phần đất, sông ngòi, núi rừng, biển cả đang còn giữ được nhưng bị giặc trong thù ngoài tàn phá, hủy diệt.

Vì thế, tới ngày hôm nay, cuộc chiến không bom đạn vẫn phải tiếp diễn. Không phải với thực dân, với đế quốc từ phương nào mà với độc tài đảng trị và bầy đàn tham ô, tay sai bán nước, hèn với giặc ác với dân - chính xác hơn là một lũ trung với giặc và thù với dân. Cuộc chiến phải tiếp diễn bằng đôi bàn tay trắng, bằng lòng yêu nước và khát vọng cho thế hệ mai sau. Phải tiếp diễn bởi vì ai trong chúng ta cũng biết rằng Việt Nam chẳng bao giờ có ngày hội Đống Đa, đã chẳng oai hùng đối đầu với triều đình nhà Thanh bằng tự hào dân tộc của Quang Trung nếu Lê Chiêu Thống vẫn tiếp tục ngồi ở Thăng Long vái lạy thiên triều phương bắc. Vì thế nên người này vào tù thì có kẻ khác tiếp tục đứng lên cho đến khi người dân Việt thực sự làm chủ vận mạng của đất nước này.

Những ngày này, nhìn lại những năm tháng đã qua, tôi ghi ơn những gian truân quá khứ, những cuộc đời đã nằm xuống để gìn giữ quê hương. Ghi ơn những người lính hải quân VNCH đã bỏ mình trong trận hải chiến Hoàng Sa, những chiến sĩ QĐND đã nằm xuống trên núi rừng Việt Bắc. Ghi ơn những con người dũng cảm đã đánh đổi tự do của mình cho tự do của dân tộc. Nhìn về tương lai, tôi ước mơ và tin chắc rằng cuộc chiến không bom đạn này sẽ phải chấm dứt, con người Việt Nam sẽ cùng nhau xây dựng một cuộc sống bình an, không cần vĩ đại, không cần đỉnh cao, chỉ cần là một nước bình thường, tự chủ, có tự do, công bằng và sống nhân ái với nhau.

Tháng Tư, 2017

Vũ Đông Hà
danlambaovn.blogspot.com
hongvulannhi  
#7362 Posted : Monday, April 17, 2017 5:52:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)

Đức Thánh Cha công bố Sứ Điệp Phục Sinh
và ban Phép Lành Urbi et Orbi


4/17/2017 9:08:01 AM

VATICAN. 16.04.2017.

Sau Thánh Lễ Phục Sinh, vào đúng 12 giờ trưa, Đức Thánh Cha đứng ở bao lơn chính giữa Đền Thờ Thánh Phêrô để công bố Sứ Điệp Phục Sinh và ban Phép lành Toàn Xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới.

UserPostedImage


Sứ điệp Phục Sinh

Sau đây là toàn văn Sứ điệp Phục Sinh của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến,

Chúc Mừng Phục Sinh!

Hôm nay trên toàn thế giới, Giáo Hội làm mới lại lời công bố đầy kinh ngạc của các môn đệ đầu tiên. Lời ấy là: “Chúa Giêsu đã phục sinh!” - “Người sống lại thật rồi, đúng như Người đã nói!”.

Lễ Vượt Qua xưa kia là để kỷ niệm ngày dân Do Thái được giải phóng khỏi ách nô lệ, và ở đây, ngày lễ Vượt Qua ấy được trở nên viên mãn nhờ sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Nhờ sự sống lại của Chúa, Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi, khỏi ách của cái chết, và mở ra cho chúng ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Tất cả chúng ta, khi chúng ta để cho mình bị tội lỗi vây hãm, chúng ta bị rơi vào con đường sai lầm như con chiên lạc. Nhưng Thiên Chúa là Đấng Chăn Chiên đến với chúng ta, tìm chúng ta và cứu chúng ta. Người đã làm tất cả những điều ấy bằng con đường tự hạ, đến độ chịu sỉ nhục và chết trên cây thập tự. Hôm nay chúng ta có thể công bố: “Đấng Mục Tử nhân lành đã phục sinh, Người đã hiến mạng sống mình vì đoàn chiên, Người đã đoái thương chết thay cho đoàn chiên, mừng vui lên, Alleluia!” (Sách Lễ Roma, Chúa Nhật IV Phục Sinh, Ca hiệp lễ).

Trong suốt chiều dài lịch sử, Đấng Phục Sinh, Đấng là Mục Tử không biết mệt mỏi đi tìm chúng ta, tìm các anh chị em nơi những sa mạc của thế giới. Và cùng với những dấu thương tích của cuộc Khổ Nạn, dấu tích của tình yêu thương xót, Người đã dẫn dắt chúng ta về con đường của Người, đó là con đường sự sống. Hôm nay cũng thế, Người vác chúng ta trên vai, Người vác trên vai những anh chị em của chúng ta đang chịu biết bao áp bức dưới mọi hình thức.

Đấng Phục Sinh, Đấng Mục Tử lên đường kiếm tìm những ai bị lạc mất trong mê cung của sự cô đơn và cách ly. Người đến gặp họ qua những anh chị em của chúng ta, qua cách đối xử với họ trong tôn trọng và đầy lòng tử tế, bằng cách giúp họ nghe được tiếng của Người, cung giọng của Người là tiếng nói không thể quên được, đó là lời gọi mời trở lại làm bạn với Thiên Chúa.

Người vác lên vai, tất cả những ai là nạn nhân của các hình thức nô lệ cũ và mới, của những lối lao động vô nhân đạo, của những buôn bán bất hợp pháp, của những hình thức bóc lột và bị phân biệt đối xử, của những hình thức nghiện ngập trầm trọng. Người vác lên vai, những đứa trẻ và thanh thiếu niên vô tội bị khai thác bóc lột. Người vác lên vai, những con người chịu tổn thương nặng nề bởi những bạo hành xảy ra trong những bức tường của chính căn nhà họ.

Đấng Phục Sinh, Đấng Mục Tử luôn là bạn đồng hành với những ai buộc phải rời bỏ quê hương xứ sở vì các xung đột vũ trang, vì những cuộc tấn công khủng bố, vì đói kém, vì những chế độ áp bức. Khắp mọi nơi, đối với những người buộc lòng phải trở thành dân nhập cư, Đấng Mục Tử giúp họ gặp được các anh chị em, để họ có thể chia sẻ cho nhau cơm bánh và niềm hy vọng trên hành trình của mình.

Trong những tình huống phức tạp và thường xuyên bất ổn của thế giới ngày nay, nguyện xin Chúa Phục Sinh từng bước hướng dẫn tất cả những ai đang lao tác vì công lý và hòa bình. Xin Người ban lòng can đảm cần thiết cho các nhà lãnh đạo quốc gia, để họ có thể ngăn chặn sự lan tràn của các xung đột, để họ có thể ngăn chặn việc buôn bán vũ khí.

Đặc biệt trong những ngày này, xin Người gìn giữ và chở che tất cả nỗ lực của những ai đang tích cực tham gia vào việc đem lại sự yên ổn và cứu giúp người dân Syria, vì những người dân nơi đây đang là nạn nhân của những cuộc chiến kinh hoàng và chết chóc. Từ hôm qua, tin tức mới nhất là lại có thêm cuộc tấn công hèn nhát vào những người tị nạn, làm cho nhiều người bị chết và bị thương. Nguyện xin Người ban hòa bình cho vùng toàn vùng Trung Đông, nơi Đất Thánh cũng như ở Iraq và Yemen.

Nguyện xin Đấng là Mục Tử Nhân Lành luôn gần gũi với người dân Nam Sudan, Sudan, Somalia và Cộng hòa Dân chủ Congo. Họ luôn phải chịu đựng những hậu quả của các hành động thù địch kéo dài, và những nạn đói nghiêm trọng ảnh hưởng trên nhiều vùng châu Phi.

Nguyện xin Chúa Giêsu Phục Sinh nâng đỡ nỗ lực của tất cả những ai, đặc biệt ở Châu Mỹ Latinh, đang cam kết bảo đảm lợi ích chung cho cộng đồng, giữa xã hội đang có nhiều căng thẳng chính trị và nhiều khi dẫn đến bạo lực. Nguyện xin những chiếc cầu đối thoại có thể được xây dựng, bằng cách tiếp tục chống lại nạn tham nhũng và đi tìm giải pháp hòa bình, tìm các biện pháp khả thi để giải quyết các tranh chấp, và thúc đẩy thể chế dân chủ trong sự tôn trọng pháp quyền.

Nguyện xin Đấng Mục Tử Nhân Lành đến nâng đỡ người dân Ucraina, vì họ vẫn lầm than trong cuộc xung đột đẫm máu. Xin cho họ tìm được sự hòa hợp và tìm thấy những sáng kiến, để có thể làm giảm bớt những bi kịch đau thương cho mọi người.

Nguyện xin Chúa Phục Sinh tiếp tục ban phúc lành cho lục địa Châu Âu. Xin Người ban niềm hy vọng cho những ai đang trải qua thời khắc khủng hoảng và khó khăn, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp cao, nhất là nơi người trẻ.

Anh chị em thân mến, năm nay các tín hữu thuộc mọi Giáo Hội Kitô cùng mừng lễ Phục Sinh với nhau. Với cùng một tiếng nói, từ khắp nơi trên thế giới, chúng ta đồng thanh công bố sứ điệp lớn lao. Đó là: “Chúa sống lại thật rồi, đúng như Người đã nói!” Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã đánh bại bóng tối của tội lỗi và cái chết, xin Người ban cho chúng ta ơn bình an, xin Người ban bình an cho thời đại này.

http://conggiao.info/duc...anh-urbi-et-orbi-d-41173

Chúc Mừng Phục Sinh!

Phép Lành Urbi et Orbi

Đức Hồng Y trưởng đẳng phó tế công bố rằng: Đức Thánh Cha sẽ ban Phép Lành Toàn Xá cho những ai đang hiện diện tại Quảng trường thánh Phêrô, cũng như cho những người đang theo dõi trên các phương tiện truyền thông như truyền thanh truyền hình, hay các phương tiện truyền thông hiện đại khác, với các điều kiện thường lệ, đó là xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.

Sau đó, Đức Thánh Cha đã ban Phép Lành Toàn Xá cho thành Roma và toàn thế giới.

Chúc Mừng Phục Sinh

Sau khi ban phép lành, Đức Thánh Cha ngỏ lời chào thăm và chúc mừng đến mọi người:

Anh chị em thân mến,

Cha muốn gởi lời chúc mừng Phục Sinh đến tất cả anh chị em đang hiện diện nơi đây, đến từ Italia và các quốc gia khác, cũng như tất cả những ai đang hiệp thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau. Cha ước mong rằng lời loan báo về Đức Kitô Phục Sinh có thể làm sống lại niềm hy vọng nơi gia đình và nơi cộng đoàn của anh chị em, đặc biệt là làm sống lại niềm hy vọng của các thế hệ trẻ, là tương lai của Giáo hội và của nhân loại.

Nguyện chúc anh chị em mỗi ngày đều cảm nghiệm được niềm hy vọng của Chúa Phục Sinh, và sẵn sàng chia sẻ với tha nhân niềm vui và hy vọng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta. Cũng xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho cha. Cha mừng lễ với anh chị em.

(Tứ Quyết SJ, RadioVaticana 16.04.2017)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#7363 Posted : Monday, April 17, 2017 6:09:52 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)
Tâm tình tuần thánh : Simon Kyrênê


Linh Xuân Thôn
4/14/2017

UserPostedImage


SIMON KYRÊNÊ

Trên đường từ Jerusalem trở về quê nhà Galilê, bước đi trên con đường mòn ngang qua làng quê xứ Kyrênê, tôi tình cờ gặp lại Simon khi anh đi ra đồng làm việc.

Tôi thán phục lòng can đảm của Simon, anh không biết Giêsu, chưa một lần gặp gỡ Giêsu, vậy mà anh không một chút sợ hãi, anh chạy lại vác đỡ thập giá cho thầy Giêsu của tôi, anh đi bên Giêsu, giúp Giêsu vác thập giá bước đi đến đỉnh đồi Golgotha (Ga.23:26).

Tôi chạy lại hỏi thăm anh, cầm tay anh tôi nói:

- Simon, anh có khoẻ không? Cám ơn anh đã vác đỡ thập giá cho thầy Giêsu của tôi. Sao anh can đảm thế? Anh không sợ hãi tí nào sao?

- Tôi sợ hãi nhiều lắm chứ. Hôm ấy tôi tình cờ đi làm về ngang qua đó, lính nhìn thấy tôi, chúng bắt tôi vác đỡ thập giá cho Giêsu thì tôi vác, can đảm gì đâu anh! Không nghe lời chúng, chúng đánh chết chứ giỡn chơi sao! Nhưng có 1 điều tôi phải nói với anh:

“Khi vác đỡ thập gía cho Giêsu, tôi đi bên cạnh Ngài, Ngài ở bên cạnh tôi, Ngài nhìn tôi, tôi nhìn Ngài, bốn mắt nhìn nhau, ánh mắt ấy đã cảm hoá lòng tôi, cái nhìn ấy đã biến đổi đời tôi… Tôi không còn sợ hãi như trước nữa. Tôi nhận ra rằng “vác đỡ thập gía cho Giêsu là niềm vui, là vinh dự và là hãnh diện cho cuộc đời mình… vì tôi được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa”.

Simon Kyrênê ơi! Cám ơn anh về cuộc gặp gỡ thân thương hôm nay. Cám ơn tâm tình chia sẻ của anh đã nói với tôi, đã làm tôi phải suy đi nghĩ lại về mối liên hệ của tôi với Giêsu, về mối tình của tôi với Ngài.

* * *

Bạn thân mến! Tâm tình chia sẻ của Simon Kyrênê đã đánh động lòng tôi. Lời nói của Simon cứ vang vọng trong tôi luôn mãi:

1)- “Ở bên cạnh Giêsu, Ngài đã cảm hóa lòng tôi, Ngài đã biến đổi đời tôi”. Đó là tâm tình của Simon với Giêsu. Còn tâm tình của tôi với Ngài thì ra sao ?

Giêsu ơi! Phải chăng được cảm hoá và biến đổi là dấu chỉ Ngài hiện diện bên con ? Vậy mỗi khi con không được biến đổi để yêu thương nhiều hơn, con không được cảm hoá để tha thứ nhiều hơn… thì đó cũng là dấu chỉ con không có Ngài ở ngay bên, con không có Ngài hiện diện trong lòng con.

Nếu con không được Ngài cảm hoá và biến đổi, thì cho dù con có tham dự thánh lễ hằng ngày, con có rước lễ thường xuyên, Giêsu và con vẫn nghìn trùng xa cách. Con và Giêsu vẫn là hai thế giới cách xa và riêng biệt.

Thật nguy hiểm biết bao nếu con không nhận biết mình đang sống xa Ngài. Thật buồn biết mấy nếu con không nhận ra con người thật, khuôn mặt thật của chính mình. Những đẩy đưa cám dỗ và khen tặng, những tự cao và tự mãn nổi lên trong lòng, những hình thức rộn ràng bề ngoài… Tất cả đã làm con lầm tưởng rằng con đang có Giêsu, con đang có Ngài ngay bên, nhưng thật sự là con đang xa Ngài. Lòng con không có chỗ trống để Ngài đến cư ngụ. Tim con khép lại, không chấp nhận, không để cho Ngài cảm hoá và biến đổi.

2)- “Vác đỡ thập gía cho Giêsu là niềm vui, là vinh dự và hãnh diện”. Simon tâm sự như vậy đó. Vác thập gía của chính mình đã khó khăn vất vả. Vác thập giá cho người không quen không biết, như Simon vác đỡ cho Giêsu, thì lại càng vất vả khó khăn hơn. Làm sao lại coi đó là niềm vui, nìềm vinh dự được? Phải chăng chỉ có tình yêu mới giúp tôi coi đó là niềm vui: Tình Yêu càng lớn thì niềm vui càng nhiều….Và phải chăng chỉ có lòng tôn kính đặt để nơi người quyền cao chức trọng, mới giúp tôi coi đó là niềm vinh dự hãnh diện: Niềm tôn kính càng cao thì niềm vinh dự hãnh diện càng lớn.

Giêsu ơi! Tình yêu nào con dành cho Ngài hôm nay? Lòng tôn kính nào con đặt vào Giêsu trong lúc này? Vì Giêsu, thập giá nào đang đè nặng trên vai con hôm nay?

Phải chăng những chê trách hiểu lầm, những ghen ghét đố kỵ con gặp phải trong đời sống phục vu…chính là thập gía mà Ngài mời gọi con ôm lấy và vác đi?

Phải chăng những khó khăn vất vả trong cuộc sống, những bệnh tật yếu đau, những đam mê yếu đuối con người mà con đang chiến đấu để vượt qua …cũng chính là thập giá mà Ngài mời gọi con vác đi trên đường đời?

`3)- “Vác đỡ thập gía cho Giêsu là được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa”. Đó là lời tâm tình chia sẻ của Simon Kyrêné. Giêsu đến trong thế gian để thực thi “công trình cứu chuộc” của Thiên Chúa. Ngài đến để mang tình yêu thương tha thứ cho muôn người. Ngài đến để cứu vớt nhân trần, để chết thay cho người mình yêu, để mang người mình yêu trở về với Nguồn Cội, trở về với Đấng Yêu Thương Ngàn Đời.

Giêsu ơi ! Mỗi khi con sống yêu thương tha thứ hôm nay, cũng là lúc con làm vơi bớt những đau thương tủi nhục của Ngài trên đường thánh gía năm xưa? Phải chằng đó cũng là lúc con được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa ?

Mỗi khi con mang được người thân quen bạn bè về với Giêsu, mỗi khi con giúp họ đi vào trong tình thân mật với Ngài, cũng là lúc con lau khô những giọt máu đào Ngài đã đổ ra trên thập gía năm xưa? Phải chăng đó cũng chính là lúc con được tham dự vào công trình cứu chuộc của Thiên Chúa?

Giêsu ơi, giống như Simon Kyrenê năm xưa….Xin cảm hoá và biến đổi lòng con, để con luôn có Ngài ngay bên, vì Ngài là hạnh phúc và là cùng đích của đời con. Amen.

San Jose, Mùa Chay 2017

Linh Xuân Thôn

Edited by user Monday, April 17, 2017 6:11:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#7364 Posted : Monday, April 17, 2017 8:17:41 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,510
Woman

Thanks: 451 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)

Quân đội Triều Tiên đang trong “tình trạng báo động cao nhất”


Triều Tiên đã đặt quân đội trong tình trạng báo động cao nhất sau khi Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence thăm khu vục biên giới Triều Tiên-Hàn Quốc và tái khẳng định quan điểm của Washington là nước nà
April 17, 2017

UserPostedImage

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-ul (ảnh trên, góc phải) đã thị sát và chỉ đạo một cuộc tập trận pháo binh.
(Nguồn: Yonhap/TTXVN)


Triều Tiên đã đặt quân đội trong tình trạng báo động cao nhất sau khi Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence thăm khu vục biên giới Triều Tiên-Hàn Quốc và tái khẳng định quan điểm của Washington là nước này “cân nhắc mọi lựa chọn” trong việc đối phó với Bình Nhưỡng.

Trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với hãng tin Al-Jazeera ngày 17/4, Thứ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Sin Hong-chol nói rằng Chính quyền Mỹ nên “mở rộng tầm mắt quan sát thế giới”.

Ông Sin nói: ” Nếu những doanh nhân cầm quyền tại Mỹ nghĩ rằng có thể hăm dọa chúng tôi bằng bất kỳ lời đe dọa trừng phạt hay biện pháp quân sự nào – như Chính quyền Obama đã từng làm và thất bại – thì họ sẽ sớm nhận ra rằng những lời đe dọa như vậy đều không có tác dụng. Nếu Triều Tiên thấy có bất cứ dấu hiệu nào về một cuộc tấn công vào lãnh thổ của chúng tôi, quân đội Triều Tiên sẽ tiến hành các vụ tấn công quân sự tàn khốc nhằm vào những kẻ xâm lược Mỹ bất kể họ ở đâu, từ nước Mỹ xa xôi tới những căn cứ quân sự Mỹ trên bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản hay bất cứ đâu.”

Ngoài ra, ông Sin Hong-chol cũng cho rằng các cuộc đàm phán 6 bên nhằm giải trừ vũ khí hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên đã “bị bóp nghẹt ngay từ khi ra đời.”

Ông nhấn mạnh rằng việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân không phải là ảo tưởng và đây không phải là một món hàng có thể bị đem ra mua bán. Chính vì vậy, không thể đưa vấn đề này ra bàn đàm phán với mục tiêu chấm dứt nó.

Theo phóng viên TTXVN tại Liên hợp quốc, ngày 17/4, Phó Đại sứ Triều Tiên tại Liên hợp quốc Kim In-Ryong tuyên bố Bình Nhưỡng sẵn sàng phản ứng trước “bất kỳ hình thức chiến tranh nào” do những hành động quân sự của Mỹ gây ra.

Phó Đại sứ Triều Tiên đưa ra tuyên bố trên tại một cuộc họp báo, sau khi Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence vừa cảnh báo Bình Nhưỡng không nên thử thách quyết tâm của Washington.

Ông Kim In Ryong khẳng định nếu Washington dám lựa chọn hành động quân sự, Bình Nhưỡng sẵn sàng ứng phó trước bất kỳ hình thái chiến tranh nào mà Mỹ mong muốn.

Phó Đại sứ Triều Tiên cũng cáo buộc Mỹ đang biến Bán đảo Triều Tiên thành “điểm nóng lớn nhất thế giới” và tạo ra những tình huống nguy hiểm khiến chiến tranh hạt nhân có thể nổ ra vào bất cứ lúc nào.

Theo ông Kim In-Ryong, các cuộc diễn tập quân sự mà Mỹ và Hàn Quốc đang tiến hành là “những cuộc tập trận hiếu chiến” lớn nhất từ trước đến nay. Do đó, việc Triều Tiên củng cố các lực lượng hạt nhân là hành vi tự vệ nhằm đối phó với “những trò tống tiền và đe dọa hạt nhân lặp đi lặp lại của Mỹ.”

Trong khi đó, Liên hợp quốc cùng ngày đã kêu gọi Triều Tiên có những bước đi cần thiết nhằm giảm căng thẳng, ngồi vào bàn đàm phán và giải trừ vũ khí hạt nhân.

Người phát ngôn Liên hợp quốc Stephane Dujarric cho biết Liên hợp quốc vô cùng quan ngại trước tình hình căng thẳng tại Bán đảo Triều Tiên, đồng thời kêu gọi các bên liên quan tăng cường nỗ lực ngoại giao.

Ông Dujarric gọi vụ phóng tên lửa mới đây của Triều Tiên là hành động vô cùng đáng lo ngại./.

( Tin Tức )
MM chuyển

Mắt Buồn  
#7365 Posted : Monday, April 17, 2017 10:44:42 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,761

Thanks: 637 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)

Beauty and the Beast


By Song Chi -

April 15, 2017
Share on Facebook
Tweet on Twitter

UserPostedImage

Đối với những đứa trẻ mê đọc sách và những người lớn từng có một thời là trẻ con từ khắp nơi trên thế giới, những câu chuyện thần thoại, cổ tích phổ biến kiểu như “Cinderella”, “Alice ở xứ sở thần tiên” (Alice in Wonderland), “Maleficent”, “Cuốn sách rừng xanh” (The Jungle Book), “Người đẹp ngủ trong rừng” (The Beauty Sleeping in the Wood), “Bạch Tuyết và 7 chú lùn” (Snow White and the Seven Dwarfs), “Người Đẹp và Quái vật” (Beauty and the Beast)… được yêu thích rộng rãi. Những câu chuyện cổ tích này cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho các hãng phim lớn, nhất là tại Hollywood, và được làm đi làm lại nhiều lần.

Beauty and the Beast chẳng hạn, cũng được khai thác rất nhiều lần. Phiên bản mới nhất được sản xuất năm 2015-2016 và chiếu lần đầu vào ngày 23 tháng Hai, 2017 tại Spencer House, London, sau đó phát hành tại Bắc Mỹ vào ngày 17 tháng Ba 2017.

Bộ phim là sản phẩm hợp tác giữa Walt Disney Pictures và Mandeville Films, kết hợp giữa diễn xuất của các diễn viên và kỹ xảo hoạt hình trên máy vi tính, làm lại từ bộ phim hoạt hình cùng tên được sản xuất năm 1991. Cả hai phim đều chuyển thể từ câu chuyện cổ tích được viết vào thế kỷ XVIII của nữ văn sĩ người Pháp Jeanne-Marie Leprince de Beaumont. Ngay câu chuyện này cũng có nhiều phiên bản khác nhau, trong đó có một phiên bản La Belle et la Bete được viết bởi nhà văn Gabrielle-Suzanne Barbot de Villeneuve, xuất bản năm 1740, rất khác so với câu chuyện của Jeanne-Marie Leprince de Beaumont.

UserPostedImage

Poster phim.


Như mọi câu chuyện cổ tích, thần thoại khác, ngày xửa ngày xưa ở một vùng nào đó của nước Pháp, có một Hoàng tử đẹp trai và có trong tay tất cả mọi thứ trên đời, sống sung sướng trong một tòa lâu đài sang trọng, nhưng vì lòng ích kỷ, thiếu vắng tình yêu, chàng bị một bà phù thủy giả dạng làm một người ăn mày già rách rưới để thử lòng biến chàng thành một con quái vật xấu xí. Lời nguyền sẽ chỉ được xóa bỏ khi nào chàng biết yêu và được một người con gái đáp lại tình yêu đó, nếu không chàng sẽ mãi mãi ở trong lốt quái vật cho tới ngày bông hồng ma thuật mà bà phù thủy đưa cho chàng rụng hết những cánh hoa.

Không những thế, toàn bộ mọi người sống trong lâu đài cũng bị biến thành đồ vật, tòa lâu đài thì bị phủ trong băng giá mùa đông, trong hoang vắng và bị xóa khỏi ký ức của người dân làng. Năm tháng trôi qua, chàng Hoàng tử ngày càng trở nên tuyệt vọng, bởi vì ai có thể yêu được một con quái vật và những cánh hồng thì cứ dần dần rơi rụng…

UserPostedImage

Emma Watson (Belle) và Kevin Kline (Maurice, người cha)


Cho tới một ngày, người con gái ấy xuất hiện. Ðó là Belle, cái tên có nghĩa là đẹp, người đẹp, một cô gái không chỉ xinh đẹp nhất làng mà còn khác với tất cả những cô gái, phụ nữ khác là cô rất mê đọc sách và nhờ đọc sách, cô có một kiến thức rộng, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế hơn. Chính vì thế cô đã không thể yêu và chấp nhận lời cầu hôn của Gaston, một cựu chiến binh và là một thợ săn cường tráng, đẹp trai, niềm mơ ước của bao nhiêu cô gái trong làng, nhưng cũng là một con người thô lỗ, kiêu ngạo, quá chú ý đến cái đẹp của bản thân và quan trọng hơn nữa, Gaston hoàn toàn không mê sách, không biết đọc sách.

Belle đã nhìn thấy bên trong Quái vật xấu xí đến ghê sợ, sự giận dữ, nóng nảy, cộc cằn kia là một tâm hồn cô đơn, nhạy cảm, sự tử tế, nhân ái, và cũng yêu thích văn chương như nàng. Dần dần giữa họ nảy sinh tình cảm, nhưng mối quan hệ đó còn bị thử thách nhiều khi Gaston, giận dữ, uất ức vì bị cả Belle và cha nàng từ chối chấp thuận lời cầu hôn, đã xúi giục dân làng giam cầm hai cha con và kéo cả làng tới lâu đài thách đấu với Quái vật. Cuối cùng, như hầu hết những câu chuyện cổ tích khác, Belle đã thú nhận tình yêu của mình với Quái vật, lời nguyền được xóa bỏ, tất cả mọi người sống bên trong lâu đài được trở lại làm người, Belle và Hoàng tử sống hạnh phúc (như người ta thường nói, hạnh phúc đời đời bên nhau).

Sau khi phát hành, bộ phim Beauty and the Beast (2017) nhận được rất nhiều lời khen tích cực từ các nhà phê bình và là bộ phim có doanh thu cao nhất trong năm 2017 tính tới thời điểm này. Và phải nói rằng về nhiều mặt bộ phim còn trội hơn cả bản phim hoạt hình Beauty and the Beast (1991, rất thành công của hãng phim Walt Disney trước kia; từng đoạt Golden Globe Award dành cho Best Motion Picture thể loại Musical or Comedy; là bộ phim hoạt hình đầu tiên được đề cử Oscars cho Best Picture, và giành được Oscars cho Best Original Score (nhạc phim gốc hay nhất) và Best Original Song (Ca khúc hay nhất cho ca khúc chủ đề của bộ phim).

UserPostedImage

Luke Evans (Gaston) và Josh Gad (LeFou)


Thời đại kỹ thuật kỹ xảo trên máy vi tính tiến bộ vượt bực đã giúp cho các nhà làm phim có thể làm được tất cả những trò biến hóa mà trước đây chỉ có thể thực hiện bằng phim hoạt hình. Từ đám gia nhân trong lốt những đồ vật khác nhau tha hồ đi đứng, nói, khiêu vũ, chiến đấu chống lại những kẻ xâm nhập, những màn tấn công người của đàn sói và cảnh Quái vật chiến đấu với lũ sói để cứu Belle, cảnh đánh nhau giữa Gaston và Quái vật, tòa lâu đài bị phủ trong băng giá và sự lãng quên bừng “sống” dậy cùng với đám gia nhân được trở lại làm người cho tới bữa tiệc lộng lẫy dành cho Belle trong tòa lâu đài…

Tất cả đều có thể thực hiện được, thậm chí bữa tiệc mà đám gia nhân thết đãi Belle trong lâu đài còn “hoành tráng” hơn, lộng lẫy biến hóa hơn. Tất cả tạo thành một bữa tiệc về hình ảnh, âm thanh, thỏa niềm mơ ước của những đứa trẻ mê truyện cổ tích, muốn được thấy những câu chuyện cổ tích nổi tiếng trở thành hình ảnh sống động trước mắt ra sao. Và cả những người lớn nhưng tâm hồn vẫn còn chút gì đó trẻ con, đi xem phim chỉ để giải trí hay muốn sống lại tuổi thơ của chính mình.

UserPostedImage

Emma Watson (Belle) và Dan Stevens (Hoàng tử/ Quái vật)


So với bộ phim hoạt hình Beauty and the Beast (1991), kịch bản của bộ phim Beauty and the Beast (2017) có một số thay đổi về chi tiết và hầu hết sự thay đổi đó là hay hơn. Ðơn cử sơ sơ vài ví dụ: trong bộ phim hoạt hình, không thấy rõ tòa lâu đài bị phủ trong băng giá mùa đông dù đang giữa mùa hè, điều này khiến cho câu chuyện do người cha kể lại với dân làng có vẻ khó tin và khiến dân làng dễ tin rằng ông, vốn bị coi là một kẻ lập dị, đã bị mất trí và khiến cho sự đối lập của tòa lâu đài sau khi lời nguyền được xóa bỏ, trở nên rõ ràng hơn.

Trong phim hoạt hình, người cha bị Quái vật cầm tù vì đã dám xâm nhập vào lâu đài, còn trong phim, người cha bị giam cầm vì đã dám hái một bông hồng cho Belle, chứng tỏ tình thương yêu của người cha dành cho cô con gái, và chi tiết hoa hồng tạo sự liên tưởng, gắn kết với bông hồng ma thuật của bà phù thủy. Trong phim, Belle tự nguyện nhốt mình vào buồng giam, cho thấy rõ hơn tình cảm của cô với người cha và sự dũng cảm, hy sinh của cô để cứu cha còn trong phim hoạt hình, Quái vật nhốt Belle vào. Tạo hình của quái vật trong phim gần với người hơn và cho thấy tâm hồn, sự duyên dáng bên trong qua diễn xuất, ánh mắt, khóe môi…đó là những cái mà phim hoạt hình không làm được.

Nhiều chi tiết, lời thoại trong phim hài hước hơn. Trong phim hoạt hình, ngay từ đầu cả đám gia nhân và quái vật đã muốn lấy cảm tình cô gái vì lời nguyền, trong khi trong phim Quái vật không quan tâm đến điều đó mà để mọi sự tiến triển một cách tự nhiên. Và quan trọng nhất, là những chi tiết trong mối quan hệ giữa Belle và Quái vật. Trong phim hoạt hình, Belle đã hướng dẫn, cảm hóa, làm thay đổi Quái vật từ việc kiềm chế sự nóng nảy, vui vẻ chơi đùa cho tới cả chuyện thích đọc sách. Nhưng trong phim, Hoàng tử dưới lốt Quái vật vốn dĩ cũng là một người thích đọc sách, có kiến thức, nên cả hai tâm hồn đồng cảm với nhau. Mối quan hệ giữa hai bên vì vậy có chiều sâu và thuyết phục hơn.

Nếu không có chi tiết này, mối quan hệ giữa Belle-Người Ðẹp và Quái vật-Hoàng tử dễ bị những nhà phê bình, nhà báo xét nét cho đó thật ra chẳng phải là tình yêu, mà là một mối quan hệ kiểu Hội chứng Stockholm (Stockholm syndrome), có nghĩa là một con tin sau một thời gian bị giam cầm, gần gũi lâu ngày, đã phát sinh tình cảm với kẻ đã bắt cóc, cầm tù mình.

UserPostedImage

Đạo diễn hướng dẫn Emma Watson trong một phân cảnh


Nhưng thật ra thì những câu chuyện cổ tích, nhất là những câu chuyện càng được viết từ lâu thì càng có những sơ hở, lấn cấn về mặt tư tưởng, triết lý. Cứ nhìn lại hàng loạt truyện cổ tích của VN chẳng hạn, từ Tấm Cám, Trầu Câu, Thiếu phụ Nam Xương, Nàng Tô Thị… dưới cái nhìn của xã hội ngày hôm nay chúng ta sẽ thấy có rất nhiều điểm không chỉ vô lý mà còn khó chấp nhận về mặt tư tưởng hay giá trị đạo đức, giá trị nhân văn. Những câu chuyện cổ tích được viết bởi các nhà văn nổi tiếng từ các thế kỷ XVI trở về sau thì đỡ hơn. Nhưng dù sao, việc liên tục cải tiến những câu chuyện khi chuyển thành kịch, phim… là điều các nhà viết kịch, làm phim đã và đang làm, nó giúp những câu chuyện cổ tích xa xưa trở nên mới mẻ, khác hơn, hiện đại hơn.

Những bài hát trong phim phần lớn là lấy lại từ bộ phim hoạt hình Beauty and the Beast (1991).

Có thể có những người cho rằng Emma Watson xinh xắn, thanh mảnh, duyên dáng nhưng chưa đủ đẹp như tưởng tượng của người đọc bao thế hệ về nhân vật Belle-Người Ðẹp hay cảm thấy lấn cấn với chi tiết về mối quan hệ có tính chất đồng tính một chiều từ phía LeFou, người bạn đồng hành tận tụy của Gaston đối với Gaston, chẳng hạn.

Dù sao đi nữa, những bộ phim thần thoại lãng mạn kết hợp với âm nhạc, khiêu vũ được chuyển thể từ những câu chuyện cổ tích nổi tiếng sẽ còn tiếp tục là nguồn cảm hứng của những người làm phim và niềm say mê của các khán giả, nhất là khán giả “nhí”.

SC
linhphuong  
#7366 Posted : Tuesday, April 18, 2017 12:10:59 AM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,910

Thanks: 317 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Tin tổng hợp

Bí Tích Thánh Tẩy và Mầu Nhiệm Chết và Phục Sinh
của Chúa Kitô


Chúa Nhật, 16-04-2017 | 00:17:58

UserPostedImage

Bí tích Thánh Tẩy là bí tích làm cho chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, nên một với Ngài. Nên một với Đức Kitô nghĩa là chúng ta cùng chết với Đức Kitô, và được phục sinh với Ngài. Nước Thánh Tẩy vừa biểu thị cho sự chết, vừa biểu trưng cho sự sống. Chính khi chúng ta được dìm trong sự chết là chính lúc sự sống mới bừng lên trong ta, và cũng là lúc ta chết đi đối với tội lỗi để sống cho cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Kitô. Vì thế, theo Theodore: “Khi tôi được thánh tẩy và đầu tôi được dìm vào trong nước, tôi lãnh nhận sự chết của Chúa và tôi ước ao được mai táng với Ngài; nên chính lúc ấy cũng là lúc tôi tuyên xưng lòng tin vào sự phục sinh của Chúa chúng ta, vì tôi nghĩ rằng khi bước ra khỏi nước, tôi đã được sống lại rồi” (Theodore, Các Bài Giảng Lễ,14,5).

Cùng chết với Đức Kitô

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được thông phần vào tình trạng đóng đinh, chết, mai táng và sống lại của Đức Kitô: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào Thập giá” (Gl 2, 19 ; Rm 6, 3-5), và ta cũng được tháp nhập vào Chúa Kitô, trở nên “đồng hình đồng dạng” với Chúa Kitô (x. Rm 8, 29). Đó là lý do tại sao sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thụ nhân được cha mẹ đỡ đầu mặc cho chiếc áo trắng, tượng trưng cho việc người ấy chết đi đối với con người cũ của mình và giờ đây mặc lấy Chúa Kitô, trở nên con người mới. Thánh Phaolô viết: “Bất cứ ai trong anh em được thánh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3, 27). Quả đúng như vậy, chúng ta đã được Máu Thánh Đức Kitô, hy lễ cứu độ, đổ ra trên thập giá làm cho ta nên công chính, nên sự sống và sự chết của ta được nên giống như sự sống và sự chết của Đức Kitô.

Thánh Phaolô quả quyết: “Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại… Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6, 5-8). Theo đó, cái chết của chúng ta không còn là một biến cố cô độc, tang thương nữa, nhưng được biến đổi nhờ nên đồng hình đồng dạng trong cái chết của Đức Kitô. Nghĩa là cái chết của chúng ta, giống như Chúa Giêsu, là chiều kích của việc tôn vinh, và tháp nhập vào “thế giới làm con” của Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô (x. F.X Durrwell, Đức Giêsu Phục Sinh, tập II, 748).

Trở nên đồng hình đồng dạng một cách viên mãn với Đức Kitô trong việc chết với Người được hoàn tất với cái chết thể lý của mình. Hay nói cách khác, cái chết phần xác hoàn tất cái chết mầu nhiệm xảy ra trong Bí tích Thánh Tẩy (x. F.X. Durrwell, Đức Giêsu Phục Sinh, tập II, 750). Trong cuộc sống thường nhật, chúng ta cùng chết với Đức Kitô, nghĩa là chết đi cho thế gian bằng đủ thứ hy sinh, bằng đức tin, đức mến và đức cậy, bằng đức trong sạch và khó nghèo, bằng tất cả mọi sự nhiệt thành và vâng lời Thiên Chúa. Cho đến giờ chết cuối cùng, lúc đó mới thật sự hoàn tất sự chết trong bí tích Thánh Tẩy. Lúc đó, chúng ta mới hoàn tất việc chết với Đức Kitô để ra khỏi thế gian về cùng Chúa Cha (x. Rm 2, 2) (x. F.X. Durrwell, Trong Đức Kitô Cứu Thế, 23).

Cùng sống lại với Đức Kitô

Người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được dìm trong biến cố tiên khởi là sự Vượt Qua của Chúa Giêsu. Bí tích Thánh Tẩy của Kitô giáo hiện tại hóa vào biến cố cứu độ này: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa, thì cũng được chỗi dậy với Người” (Cl 2,12). Khi được dìm vào trong nước, chúng ta liên kết với Đức Kitô trong việc chết đi đối với tội lỗi, và khi được đưa ra khỏi nước, họ trỗi dậy để bước vào trong một cuộc sống được biến đổi và cứu độ. Quyền lực của tội lỗi và sự chết đã bị phá vỡ, thế nên các Kitô hữu không chỉ cảm nghiệm được quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc đời hiện tại này thôi mà họ còn mong sẽ được trỗi dậy với Đức Kitô trong vinh quang nữa (x. Rm 6, 1-11). Thánh Phaolô đã khẳng định: “Anh em không biết rằng tất cả chúng ta đã được dìm vào trong Đức Kitô Giêsu, nên cũng được dìm vào trong cái chết của Người sao?…để như Đức Kitô nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, đã được trỗi dậy thế nào, thì chúng ta cũng được trỗi dậy để sống một đời sống mới sao?” (Rm 6, 3-4). Và “chúng ta sẽ được kể là công chính, vì tin vào Đấng đã làm cho Đức Giêsu, Chúa chúng ta, sống lại từ cõi chết; Đức Giêsu chính là Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4, 24-25). “Thật vậy, tất cả những điều ấy xảy ra là vì anh em” (2Cr 4, 14-15).

Trong Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc, con người tìm lại được phẩm giá và giá trị cao cả của nhân tính, đó là được siêu tôn, được trở nên con cái Thiên Chúa. Như thế, con người được tái tạo trong sự sống mới của Chúa Phục Sinh. Từ tình trạng tội lỗi trước đó (x. Rm 5,12 ; St 2,17 ; 3,17), con người đã được làm cho nên công chính, được trở thành con Thiên Chúa. Đây chính là một cuộc tạo thành mới trong Đức Kitô (x. Ep 4,21 ; Cl 3,10). “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hoà giải với Người” (2 Cr 5, 17-18 ; x. Gl 6,15). Chính lúc chấp nhận cái chết và để Chúa Cha phục sinh Ngài, Chúa Giêsu đã đưa thẳng nhân tính của Ngài vào tận trong cung lòng Cha. Nói như cha F. X. Durrwell: “Cái chết là sự sinh ra của sự thành toàn; nó chính là giây phút đỉnh cao của tạo thành, giây phút đưa tất cả chúng ta ra khỏi thế giới này mà vào trong Thiên Chúa” (x. F.X. Durrwell, Hiểu Và Sống Mầu Nhiệm Thánh Thần, 255).

Sống trong Thần Khí

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy Kitô hữu sinh ra trong sự sống của Thần Khí, một cuộc sống được dìm trong Thần Khí. Chính Thần Khí biến đổi các Kitô hữu thành con cái của Chúa Cha và những người em của Đức Kitô (x. Gl 4, 6 ; Rm 8, 29) (x. Nguyễn Văn Khanh, Thánh Phaolô Cuộc Đời Và Tư Tưởng, 201). Do đó, Thánh Tẩy lột bỏ những lối sống theo xác thịt và đưa con người vào trong lối sống mới theo Thần Khí (x. Cl 2,11-13 ; Ep 12, 1-6). Ai được thánh tẩy thì đều được lãnh nhận Thần Khí của Đức Kitô, và được Thần Khí duy nhất làm cho sống, họ được gia nhập một thân mình duy nhất của Đức Kitô là Hội Thánh (x. Ep 4,4-6).

Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta có thể khẳng định như cha Durrwell khi nói về vai trò Thần Khí trong cái chết của Đức Kitô và của chúng ta:

Với cái chết của Đức Kitô và các tín hữu Ngài, Thần Khí vẫn giữ vai trò không thay đổi trong mầu nhiệm Ba Ngôi. Ngài là tình yêu, qua đó, Con sinh ra từ Cha và trở về lại Cha. Đối với Đức Kitô và người tín hữu, sự chết là một cuộc sinh nở viên mãn, một mũi tên phóng đi biền biệt đưa họ từ thế giới này đi về Thiên Chúa. Trong Ba Ngôi, Thần Khí là “một” ngôi vị ở trong “hai” vị, Ngài liên kết hai Ngôi vị kia lại. Đức Kitô chia sẻ với tín hữu chính cái chết của mình: hai người trong duy một cái chết, cả hai kết hiệp với nhau, trong sự duy nhất khôn tả. Có dây ràng buộc nào sánh ví được một cái chết độc nhất cho hai người cùng “sống” cái chết ấy chăng? Lời hứa của Đức Giêsu đã ứng nghiệm: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14, 20). Chết trong hiệp thông là lời thổ lộ tình yêu triệt để và nguyên căn hạnh phúc vĩnh hằng. “Cái chết ấy là hình thức hiện diện trọn vẹn của Thần Khí trong Đức Giêsu và trong người tín hữu (.X. Durrwell, Hiểu Và Sống Mầu Nhiệm Thánh Thần, 259).

Tóm lại, trong ngày chịu Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được xức dầu Thánh Thần (x. Ep 1,13), được Thần Khí sinh ra, giải thoát và nuôi sống (x. 1Cr 12,13), được trở nên đền thờ của Người (x. 1Cr 6, 9). Do đó, “Hội Thánh thường coi giếng Rửa tội là ‘dạ mẹ’: vì ở đó người ta “sinh bởi Thần Khí và nước” như từ dạ mẹ, bởi ‘nước’ vốn biểu tượng về Thánh Thần” (F.X. Durrwell, Đức Giêsu Phục Sinh, tập I, 257). Bí tích Thánh Tẩy ghi trên chúng ta một dấu ấn thiêng liêng không thể tẩy xóa để chỉ cho biết chúng ta thuộc về Chúa Kitô, về Hội Thánh. Thật vậy, ấn tín này là dấu ấn Chúa Thánh Thần ghi trên chúng ta “chờ ngày cứu chuộc” (Ep 4,30), là “ấn tín của sự sống muôn đời” (Thánh Irênê, Trình Bày Đức Tin 3, trích trong Nguyễn Đức Thông, Kết Duyên, 92).

Benedict Nhật Nguyễn

Nghiên cứu cho thấy bức hại tôn giáo trên đà lan rộng,
Việt Nam là một trường hợp nhẩy vọt.


Trần Mạnh Trác
4/15/2017

UserPostedImage


(CNA / EWTN News ngày 15 tháng 4, năm 2017 ). Theo một báo cáo được công bố trong tuần này cuả Trung tâm Nghiên cứu Pew thì sự bức hại tôn giáo toàn cầu đã tăng vọt từ năm 2014 qua năm 2015.

"Sau ba năm bình lặng, nhiề̀u chính quyền đã đặt thêm hạn chế đối với tôn giáo và trên mặt xã hội, có sự gia tăng hành động thù địch tôn giáo ", là báo cáo mới nhất của trung tâm Pew Research Center về "Hạn chế Tôn giáo Toàn cầu".

Bản báo cáo ghi nhận, vào năm 2015, thì ở 40 phần trăm các quốc gia, mức độ thù hận được ghi nhận là "cao" hay " rất cao". Sự đo lường được dựa trên các luật lệ hạn chế mới của chính phủ nhắm vào các nhóm tôn giáo và những quấy rối và bạo lực gây ra bởi những nhóm hoạt động xã hội và chính trị.

Trong số 34 phần trăm cuả các nước được báo cáo thì tỷ lệ tăng lên tới sáu phần trăm.

Báo cáo của Pew dựa vào nhiều nguồn khác nhau, trong đó có báo cáo tự do tôn giáo hàng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và cuả Uỷ ban Tự do Tín ngưỡng Quốc tế, cũng như các bá cáo cuả Liên minh châu Âu và Liên hợp quốc, và của các tổ chức phi chính phủ khác.

Những nước Nga, Ai Cập, Ấn Độ, Pakistan và Nigeria là những quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có sự thù địch cao đối với các nhóm tôn giáo. Ớ những nước trên, sự thù địch được biểu hiệu qua những quấy rối của chính phủ và đồng thời qua những hành động xã hội chống lại các nhóm tôn giáo nhất định.

Trường hợp thù nghịch phổ biến nhất là bạo lực cuả đám đông chống lại một tín ngưỡng tôn giáo, những bạo lực đó có thể thể hiện ra bới các nhóm tôn giáo (cực đoan) và cũng có thể là "những sách nhiễu và sử dụng vũ lực của chính phủ chống lại một nhóm tôn giáo" Pew giải thích.

Một số khu vực đã trở nên tồi tệ hơn so với những vùng khác. Pew cho biết các nước Trung Đông và Bắc Phi có mức cao nhất về cả hai lãnh vực "hạn chế của chính phủ " và "các hành động thù địch xã hội."

Các nước ở 'châu Phi cận Sahara' thì việc hạn chế của chính phủ là tăng gia lớn nhất.

Châu Âu và châu Phi cận Sahara cũng cho thấy có sự gia tăng rõ rệt về "các hành động thù địch xã hội".

Ở Châu Âu, có nhiều báo cáo về sách nhiễu hoặc bạo lực đối với người Hồi giáo và người Do Thái. Chủ nghĩa chống Do Thái trên lục địa vẫn tiếp tục và thêm vào là những sách nhiễu pháp lý chống người Hồi giáo khi Liên minh Châu Âu phải đối phó với một dòng người tị nạn từ các nước có số đông Hồi giáo như Syria và Irac.

Ví dụ có sự gia tăng các vụ việc chống Do Thái và chống Hồi giáo ở Thụy Sĩ , như phá phách các nghĩa trang Hồi giáo và tấn công người Do Thái Chính Thống, vừa tấn công vừa la hò khẩu hiệu "Heil Hitler!"

Sau vụ tấn công khủng bố vào toà soạn báo Charlie Hebdo và một cửa hàng thực phẩm bán đồ chay cuả Do Thái Giáo (kosher market) ở Paris, thì nhiều đền thờ Hồi giáo và người Hồi giáo đã bị phá hoại và là mục tiêu cuả bạo lực.

"Bộ Nội vụ Pháp báo cáo rằng các vụ tấn công chống Hồi giáo đã tăng lên gấp ba lần vào năm 2015, bao gồm các trường hợp chửi bới, phá hoại và hành hung".

Trong năm 2015, ba mươi hai quốc gia ở lục địa Âu Châu có bá cáo về "các hành động thù địch xã hội đối với người Hồi giáo", một con số gia tăng so với năm 2014 chỉ có 26 quốc gia. Trong khi đó, số quốc gia châu Âu có sự thù nghịch xã hội chống lại người Do Thái vẫn duy trì một mức độ cao.

"Việc sách nhiễu lan rộng chống người Do Thái như thế là rất đáng lưu tâm, bởi vì hầu hết ( 8 trong số 10) người Do Thái trên thế giới qui tụ ở hai nước Hoa Kỳ và Israel, vậy mà con số người Do Thái bị sách nhiễu là tương đối lớn (74 vụ trong năm 2015) "Pew nói.

Sự thù địch cuả chính quyền đối với các nhóm tôn giáo thường lộ ra trên các luật lệ hạn chế hoặc qua những lời phát biểu cuả các quan chức.

Pháp và Nga cho thấy có một sự tăng vọt đặc biệt, với hơn 200 "trường hợp chống lại các nhóm tôn giáo của chính phủ ". Chủ yếu là ở các đạo luật hạn chế sự thể hiện tôn giáo, như lệnh cấm burqa của Pháp hoặc việc Nga đối xử với một số người Hồi giáo và Tin Lành ( nhân chứng Jehovah) như là các phần tử cực đoan, bỏ tù họ mà không cần thủ tục.

Một số chính phủ đã hạn chế tự do tôn giáo từ rất lâu, như Trung Quốc, Ả-rập Xê-út, Iran, Ai Cập và Uzbekistan. Nhưng một số quốc gia khác gần đây đã cho thấy sự thù địch có nhẩy vọt, như Iraq, Eritrea, Việt Nam, và Singapore.

Một số hạn chế của chính phủ đối với tôn giáo được cho là phản ứng với khủng bố. Ví dụ, phụ nữ Hồi giáo ở Cameroon và Niger không được đeo mạng che mặt sau khi các chiến binh dùng những tấm màn này để che giấu bom.

Cả Kitô giáo và Hồi giáo đều thấy có sự gia tăng đáng kể về số quốc gia mà họ bị sách nhiễu. "Ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì số gia tăng là lớn nhất đối với người Kitô hữu, nơi mà có đến 33 quốc gia bị liệt vào danh sách này".

Một cuộc đối đầu có thể trở thành cuộc chiến
tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức


UserPostedImage


Hải Âu (Danlambao)
- Mỹ Đức là một huyện nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Tây Nam, hiện có khoảng 2.572 hộ dân với dân số hơn 8.600 người.

Những diễn biến xung quanh vụ việc người dân xã Đổng Tâm, huyện Mỹ Đức cố thủ chống lại lực lượng cưỡng chế của nhà cầm quyền Hà Nội đang là đề tài nóng trên các diễn đàn, mạng xã hội trong những ngày qua. Điểm mấu chốt của vụ việc cho đến lúc này là người dân đang giam giữ 32 người gồm công an, cảnh sát cơ động, an ninh giả dạng côn đồ.

Sự việc đang diễn ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức được dư luận biết đến khi một số trang mạng lề Dân đăng tải, chia sẻ đoạn clip cho thấy hàng chục công an bỏ chạy khi bị người dân rượt đuổi. Liền sau đó, những thông tin, hình ảnh một nhóm cảnh sát cơ động bị người dân “giam lỏng” tại nhà văn hóa của huyện được lan tỏa nhanh chóng. Nguyên nhân dẫn đến vụ việc trên bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong việc nhà cầm quyền dùng vũ lực cưỡng chiếm đất đai của người dân xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức. Đây không phải là lần đầu cộng sản Hà Nội hành xử thô bạo và trái pháp luật khi thực hiện những quyết định thu hồi đất.

Hồi đầu tháng 1/2010, cộng sản Hà Nội đã đập phá biểu tượng Thánh Giá của giáo xứ Đồng Chiêm thuộc huyện Mỹ Đức ngay trong lúc linh mục đoàn đang tĩnh tâm định kỳ tại tòa giám mục Hà Nội. Đây được xem là một vụ vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng của nhà cầm quyền khi ra lệnh triệt hạ biểu tượng của người Công Giáo với lý do an ninh quốc phòng, dù rằng Thánh Giá được dựng trên phần đất thuộc quyền quản lý của giáo xứ.

Khoảng giữa năm 2013, cộng sản Hà Nội tiếp tục “giải phóng mặt bằng” sau khi ban hành quyết định thu hồi 168.456m2 của người dân xã Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức. Người dân trong xã đã nhiều lần phản đối dự án xây dựng khu du lịch Hương Sơn vì cho rằng nhà cầm quyền vi phạm những qui định về việc thu hồi đất. Một số người còn mang quan tài đến khu đất nhằm ngăn cản chủ đầu tư cố tình xây dựng khi chưa giải quyết xong vấn đề tranh chấp giữa nhà cầm quyền và người dân.

Sự việc trở nên căng thẳng khi cộng sản Hà Nội tổ chức cưỡng chế khu đất. Hàng trăm công an, cảnh sát và an ninh mật vụ đã được điều động để trấn áp người dân tại đây. Không chỉ dừng lại ở việc cưỡng chiếm đất đai, một mặt nhà cầm quyền cưỡng chế, mặt khác cho an ninh giả dạng côn đồ gây hấn để lấy cớ tạo ra bạo loạn, sau đó bắt giam một số người dân bị “côn đồ” đánh đập. Công an cộng sản Hà Nội tiếp tục thể hiện thủ đoạn khốn nạn của nhà cầm quyền khi khởi tố 10 người bị bắt giam trong đợt cưỡng chế tại Hương Sơn với tội danh “chống người thi hành công vụ”.

Năm 2014, qua hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, 10 người dân xã Hương Sơn đều bị tuyên án tù giam với những bản án bỏ túi. Đây là một màn kịch bỉ ổi được dựng nên bởi bàn tay tà quyền cộng sản thường sử dụng sau khi cưỡng chiếm đất của người dân.

Quay trở lại vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức hiện nay.

Tin từ người dân xã Đồng Tâm cho biết nguyên nhân vụ việc đã bắt đầu xảy ra từ năm 2012 khi nhà cầm quyền cố tình sai phạm trong quá trình đo đạc và xác định ranh giới đất nông nghiệp và đất thuộc diện quốc phòng. Hơn 47ha đất nông nghiệp được nhà cầm quyền giao cho tập đoàn Viettel làm dự án. Nhiều hộ gia đình tại đây đã bất bình trước việc làm sai trái của nhà cầm quyền nên đã nhiều lần khởi kiện. Tuy nhiên việc khởi kiện một tập đoàn được bảo kê bởi hệ thống công an dưới sự thống trị của cộng sản đảng thì thiệt thòi chắc chắn thuộc về phía người dân.

Sự việc ngày càng trở nên phức tạp khi nhà cầm quyền cố tình bác bỏ đơn kiện của các hộ dân và tiếp tục cho Viettel đầu tư xây dựng trong khi vụ việc vẫn chưa được giải quyết. Đã có những xô xát xảy ra trong quá trình tranh chấp, và dĩ nhiên những người bị đánh đập luôn là nông dân. Ngày 30/3/2017, công an cộng sản Hà Nội lại tiếp tục ra quyết định khởi tố những người thưa kiện với tội danh “gây rối trật tự công cộng”. Đến lúc này có lẽ sức chịu đựng của người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức đã vượt quá khả năng chịu đựng.

Những gì phải đến đã đến trong ngày 15/4 vừa qua khi nhà cầm quyền mời một số đại diện phía người dân khiếu kiện lên làm việc sau đó cố tình bắt giữ họ một cách trái phép. Đáp trả hành động xem thường pháp luật của nhà cầm quyền Hà Nội, hàng ngàn người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức đã thực hiện một cuộc phản kháng được xem là mạnh mẽ nhất trong nhiều năm trở lại đây. Một cuộc phản kháng bằng sự căm phẫn cùng tinh thần đoàn kết cửa người dân khiến những tên tay sai thuộc ngành công an cộng sản Hà Nội đã phải tan hàng ngũ, bỏ mặc đồng đội, đồng chí để tháo chạy.

Người dân bắt giữ 32 kẻ trực tiếp tham gia trấn áp trong đó có cảnh sát cơ động và an ninh giả dạng côn đồ. Điều này cho thấy người dân Mỹ Đức đã thật sự vượt qua sợ hãi trước bạo quyền của cộng sản. Hơn nữa họ tạo ra những thế trận nhiều vòng khiến nhà cầm quyền Hà Nội mất phương hướng trong cách giải quyết vấn đề nhạy cảm này. Nếu cộng sản Hà Nội quyết tâm “cứu” 32 tên tay sai của mình bằng bạo lực, chắc chắn sẽ có bạo loạn xảy ra không chỉ tại Mỹ Đức. Đây được xem là một nước cờ khó cho nhà cầm quyền.

Hình ảnh những tên cảnh sát bị vây bắt trong nhà văn hóa huyện đã tỏ ra rất “thuần phục” trước nỗi căm phẫn và lòng nhân hậu của người dân. Những kẻ dùng bạo lực để trấn áp người dân lại được người dân đối xử tử tế vì họ biết rằng những kẻ này chỉ vì nghe theo sự chỉ đạo của những tên quan chức cấp cao trong bộ máy của cộng sản đảng. Hình ảnh đó ít nhiều sẽ tác động lên những cảnh sát cơ động, công an chìm nổi nhìn vào để thấy rõ người dân không hề muốn gây thù oán với lực lượng công quyền. Nhưng nếu bị dồn vào bước đường cùng thì sự phản kháng của người dân sẽ trở thành sức mạnh không gì có thể ngăn cản nổi.

Chưa thể nói diễn biến tiếp theo của vụ việc sẽ xảy ra theo kịch bản nào, nhưng người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức cần hết sức tỉnh táo trước những thủ đoạn của cộng sản. Có thể nhà cầm quyền sẽ có những nhượng bộ ban đầu nhằm giảm nhiệt sự căm phẫn của người dân. Tuy nhiên đây là một trong những thủ đoạn mà cộng sản thường sử dụng trong các vụ việc căng thẳng giữa người dân và giới chức cộng sản. Sau những bước nhượng bộ sẽ là những đòn gây chia rẽ sự đoàn kết nhằm tìm ra những hạ sách trả thù những người đại diện khiếu kiện.

“Cuộc chiến” của người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức chắc chắn còn diễn ra với những tình tiết khó đoán. Hơn lúc nào hết, những người nông dân can đảm này rất cần sự hỗ trợ của nhân dân cả nước trên nhiều phương diện để đạt được kết quả có lợi trong “cuộc chiến”. Một “cuộc chiến” không hẳn chỉ đòi quyền lợi đất đai mà trên hết là cuộc chiến dành lại quyền làm người đã và đang bị cộng sản đảng tước đoạt.

18.04.2017
Hải Âu
danlambaovn.blogspot.com

Thổ Nhĩ Kỳ: Phe ủng hộ Tổng thống Erdogan sẽ thắng


17 tháng 4 2017

UserPostedImage

Cuộc trưng cầu dân ý chia rẽ nước Thổ Nhĩ Kỳ - đất nước gặp nhiều vấn đề khác


Người dân Thổ Nhĩ Kỳ đã bỏ phiếu đồng ý trao thêm nhiều quyền lực mới cho Tổng thống Recep Tayyip Erdogan trong cuộc trưng cầu dân ý hôm 16/4, theo kết quả chính thức khi chưa kiểm tra đầy đủ phiếu bầu.

Với 96% lượng phiếu bầu được kiểm, phe ủng hộ [ông Erdogan] dành 51.5% trong khi phe phản đối dành khoảng 48.5%.

Những người ủng hộ ông Erdogan nói việc thay thế chế độ nghị viện với chế độ do tổng thống quyết định sẽ làm hiện đại hóa đất nước.

Đối thủ của ông thì phản đối việc chính quyền quyết định chấp nhận những phiếu bầu không được đóng dấu.

Kết quả "thuận" còn cho phép ông Erdogan có thể tại vị cho đến năm 2029.

Ba người bị bắn chết gần một điểm bỏ phiếu ở tỉnh Diyarbakir phía Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, được cho là vì tranh cãi họ sẽ bỏ phiếu cho bên nào.

Khoảng 55 triệu người được phép tham gia bỏ phiếu trên 167.000 điểm bỏ phiếu, và số người đi bầu được cho là rất đông.

Phó Thủ tướng Veysi Kaynak nói tỷ lệ phiếu "thuận" là thấp hơn dự tính. "Nhưng họ vẫn dẫn trước," ông nói thêm.
Thay đổi này lớn mức nào?

Chúng đại diện cho chương trình thay đổi về hiến pháp lớn nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ kể từ khi nước này trở thành một nước cộng hòa cách đây một thế kỷ.

Ông Erdogan sẽ được trao nhiều đặc quyền để bổ nhiệm các bộ trưởng nooik các, phát hành các sắc lệnh, chọn lựa các thẩm phán cấp cao và giải thể quốc hội.

Chế độ mới sẽ bỏ vị trí của thủ tướng và tập trung quyền lực vào tay vị tổng thống, đặt toàn bộ hệ thống chính quyền dưới sự kiểm soát của ông.

CS Biến VN Thành Bãi Rác


17/04/201700:00:00(Xem: 1195)
Vi Anh

Tin RFA từ Mỹ, “Việt Nam tìm cách nâng cao ý thức du khách Việt khi đi tham quan nước ngoài bằng những biện pháp đang được xem xét, trong đó không loại trừ khả năng người phạm tội ăn cắp hay chửi bậy có thể bị cấm xuất cảnh.”

Tin báo chí trong nước, “Theo Ban quản lý cửa khẩu quốc tế Móng Cái, lượng khách Trung Quốc vào Quảng Ninh tăng cao từ sau Tết Nguyên đán, khoảng 5.000 người/ngày.”

CSVN là chế độ thống trị đất nước và nhân dân VN nhưng lệ thuộc sâu nặng kinh tế, chánh trị, văn hoá của TC. Nên không những Đảng Nhà Nước và nhân dân TC mà Đảng Nhà Nước CSVN đã, đang biến VNCS thành bãi rác độc hại về văn hoá lẫn môi sinh.

Một, về phía TC, du khách TC có cái tật khạt nhổ bất cứ lúc nào, tè nước tiểu ở góc đường, ăn mặc bừa bãi vào nơi thờ phượng, hành động nghênh ngang coi đất nước VN là chư hầu của TC, coi dân tộc Việt là “ô nàm nán” (người an nam xấu) như thời Tướng Tàu Mã Viện đô hộ VN. Họ qua VN nói xí xô xí xào, ăn uống húp nghe rồn rột, ợ nghe òn ọt, liệng xương dưới bàn, phành bụng mỡ ra quạt “thoải mái” theo thói quen biến thành bản chất thứ hai của đa số người Tàu khi xưa. Bây giờ TC đã “tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” thành Trung Quốc cộng sản hay Trung Cộng, dân số lên một ngàn ba trăm triệu người hay 1 tỷ 300 triệu được làm kinh tế toàn cầu. Nên theo luật cơ học, những thói xấu do Tổ Tiên người Tàu xấu xí truyền tử lưu tôn nhân lên về số người và sự bành trướng địa lý, làm khổ, làm dơ, làm hại không ít những quốc gia dân tộc mở cửa cho đầu tư và người của TC vào. Biến du khách TC thành những người Hoa thêm xấu xí đến đỗi có lần một phó Thủ Tướng TC phải kêu trời, kêu gọi sửa chữa. Tây Âu, Bắc Mỹ e ngại du khách TC, lo ngại nạn “hoàng hoạ” tái diễn.

Về địa lý chánh trị TC biến những cơ sở, khu vực họ đầu tư sản xuất kinh doanh ở VN thành nhượng địa của Thiên Triều, thành phố, xóm làng của TC ngay trong lòng quốc gia dân tộc VN. Họ tự tiện đưa công nhân TQ, vật dụng nhỏ nhặt như cái bàn cầu tiêu cũng made in China qua, rào rấp bên ngoài, không cho người Việt vào. Đảng Nhà Nước CSVN không biết hiện thời có bao nhiêu người TQ đang ở trong nước VNCS.

Còn về môi sinh người TQ biến VN thành bãi rác kỹ nghệ, tàn phá môi sinh VN. Khi sản xuất, họ thải khí thải, nước thải, cặn bã độc hại người dân Việt hết chịu nổi. Dân chúng VN phải biểu tình cả năm, hàng chục ngàn người. Tiêu biểu như vụ Formosa ở bốn tỉnh Miền Trung, cá chết trắng bờ, biển chết, ngư dân đói khổ.

Còn ở Miền Nam Đảng Nhà Nước CS trung ương và địa phương tỉnh Hậu Giang và Thành phố Cần thơ nhận tiền hối lộ của người Tàu lập Nhà máy Lee & Man làm giấy, mỗi năm xả xuống sông Hậu giang 28.000 tấn soude ăn da. Coi như giết dòng sông Hậu và độc chất lan toả khắp hệ thống kinh rạch và sông ngòi Miền Tây. Cá nước ngọt, đen trắng dưới sông, trong đồng đều lâm nguy. Cá vùng nước lợ và cận duyên cũng chết tiêu luôn. Dân Miền Tây ở nông thôn múc nước sông, lên lóng phèn uống. Nước sông có chất soude ăn da thì miệng lưỡi, bao tử, ruột gan con người nào chịu nổi.

Trên vùng Cao Nguyên, tỉnh Bình Phước, Công ty Đài Loan vứt hàng trăm xác heo chết ra sông Sài Gòn.. Xác heo đang phân hủy, bốc mùi hôi thối, ruồi nhặng bâu đầy. Dân chúng trong vùng cho biết đầu tháng 7, họ phát hiện rất nhiều cá, cỡ từ 2 ngón tay đến 3 ký, chết nổi dày đặc ở gần khu vực trang trại heo. Trong đó nhiều nhất là cá trắng, mè, rô phi, trê.

Hai, về phía CSVN, CS sau khi cưỡng chiếm được Miền Bắc, Miền Nam, họ đều cào bằng văn hóa của người Việt Quốc gia, thay vào đó lối sống của người CS nặng tính đấu tranh giai cấp và ảnh hưởng của đồng chí TC. Người Bắc, Trung, Nam gì trong thời CSVN đều bị lây nhiễm tật xấu này, giọng the thé khó nghe, nói rất nhanh như cướp lời người khác. Chữ dùng của người CS nhiều chữ giống chữ Tàu như “hồ hởi, phấn khởi, nhứt trí, đồng tình, bức xúc” và nhiều chữ giống nhưng nghĩa hoàn toàn khác như “vô tư CS có nghĩa là không cần suy nghĩ, “vô tư vượt đèn đỏ” trong khi nghĩa truyền thống của người Việt Quốc gia vô tư là “ở giữa không nghiêng về phía nào.” Còn thái độ tác phong cộng sản thích bon chen, tỏ ra hơn người ngay trong vụ xếp hàng.

Về ăn uống, một phạm trù của văn hoá Việt, thì phải kêu trời ngó xuống mà coi thời CS. Trong nước VN thời CS hàng gian, hàng giả, hàng hư, thúi, độc của TC tràn ngập khắp chợ, cùng quê. Thức ăn là nguyên nhân của 30% bịnh ung thư. Chất độc hại đến sức khỏe con người chiếm từ 30 đến 60%, theo mẫu đi lấy “đột xuất” ở các chợ về kiểm nghiệm. 25% rau quả của Trung Cộng bán tràn ngập ở VN, chứa hoá chất bảo quản vượt mức cho phép. Cục Thú Y báo cáo chỉ có thể kiểm soát được khoảng dưới 50% số thịt phân phối trên thị trường. Thịt heo gạo, thịt bị nhiễm trùng bịnh than, bịnh tụ huyết, thịt bị lở miệng sứt móng bán đầy chợ. Chính người tiêu thụ, dân chúng giới tiêu thụ là lãnh đủ.

Đảng Nhà Nước thả ga cho dân nhậu nhẹt. Tin quốc tế cho biết người dân Việt Nam tiêu thụ khoảng ba tỷ lít bia mỗi năm, đứng thứ ba châu Á và thứ nhất Đông Nam Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc dân số đông hơn VN. Trong 10 năm qua, tỷ lệ người uống bia ở Việt Nam tăng 200%. Tết rồi thủ đô của CHXHCN VN nhậu bia rượu ước độ 200 triệu lít, chưa nói rượu. Saigon khoảng 40 triệu lít bia và 45 triệu lít nước giải khát/tháng Tết, tăng 30 – 50% so với tháng thường. Ô. Phuong Nam Nguyen viên chức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ở VN cho biết một phần tư nam giới đang tiêu thụ bia ở mức "gây nguy hiểm", tức là trên 6 ly một lần, theo nghiên cứu của WHO. Theo một nghiên cứu của chính phủ VNCS, 60% các vụ bạo hành gia đình ở Việt Nam có liên quan đến bia rượu. Bên cạnh đó, việc tiêu thụ bia rượu quá mức còn dẫn tới sự gia tăng của các loại bệnh nguy hiểm như ung thư, xơ gan, tiểu đường, cao áp huyết và các bịnh về tim mạch nữa.

Hàng quán thì một số ỷ đắc sanh tật “bún mắng cháo chửi”.

Về môi sinh, xây cất bừa bãi đường sá thành phố lớn, như Saigon, Hà Nội mưa lớn một chút là thành sông. Còn ngoài biển, trên sông, đất địa của VN thì Đảng Nhà Nước CSVN và CS Trung Quốc đã biến VN thành bãi rác độc.

Ba và sau cùng, đến đây có người thích tiếu lâm nói người dân Việt phải “noi gương Tổng Trọng, Tổng bí thư Đảng CSVN cứ ngậm miệng ăn tiền. Chớ đừng đòi đất, đòi biển Anh Ba Tàu khổng lồ đã xâm chiếm và đòi thoát Trung, là chọc giận Anh Ba Tàu, Ảnh nổi khùng lên, Ảnh phun nước miếng qua VN, thì VN sẽ bị ngập lụt, chỉ còn có cách lên núi mà ở thôi.

Đã quá đủ hành động của hai chế độ CSTQ và CSVN biến giang sơn gấm vóc của quốc gia dân tộc VN thành bãi rác chứa thói hư tật xấu, chất thải độc hại của họ./.

(VA)

Kế hoạch của TT Nga Putin ở Biển Đông


By admin April 17, 2017 16:37

Cali Today News – Từ trước Bộ Ngoại Giao Nga đã ra tuyên bố nêu rõ ràng là “vì nước Nga có vị trí xa Biển Đông, Moscow không bao giờ tham gia vào chuyện tranh chấp chủ quyền biển đảo tại vùng biển này và theo nguyên tắc bất di bất dịch là không ngã theo phe nào”

Nhưng các quan sát viên cho trên thực tế là câu chuyện khác. Nga đang ráo riết xây dựng ảnh hưởng của mình ở Biển Đông, bằng cách thương lượng bán nhiều tỉ đô la vũ khí cho một số quốc gia dính vào cuộc tranh chấp chủ quyền ở vùng này.

UserPostedImage


Có đến ¼ tài trợ của chương trình tối tân hóa các lực lượng quốc phòng Nga cho đến năm 2020 là nhắm vào hạm đội Thái Bình Dương, vốn có bộ não đóng ở thành phố Vladivostok và Nga nhắm đến chuyện trang bị cho các tàu chiến đi khá xa trong khu vực.

Nga hợp tác với Trung Quốc, qua các lần tập trận chung, như cuộc tập trận mang tên “Joing Sea 2016” diễn ra ngay trong Biển Đông, nhưng đồng thời Moscow còn tăng cường hợp tác với Hà Nội, nhộn nhịp không kém gì với Bắc Kinh.

Ngoài chương trình hợp tác tìm dầu khí chung ở Biển Đông, Nga cũng nổ lực quay lại quân cảng Cam Ranh và bán cho Việt Nam nhiều vũ khí tối tân, nhằm nâng cao khả năng phòng thủ của Việt Nam, trước gọng kềm của Trung Quốc.

Cái kiểu “ múa dao hai lưỡi” của Nga khiến người ta rất khó đoán được ý định thật sự của Moscow tại Biển Đông. Khi kết thân với hai lực lượng không ưa gì nhau, Nga còn nhắm đến thế “lưỡng long tranh châu” của Hoa Kỳ và Trung Quốc nữa.

Nga chưa bao giờ từ bỏ mộng bá đồ vương dưới thời TT Vladimir Putin như là cường quốc thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Tàu.

Đào Nguyên (ISN Security Watch)

Từ vụ ‘bom mẹ’ MOAB, nhớ trận Long Khánh


Hà Tường Cát
/Người Việt
April 17, 2017

UserPostedImage


Bom GBU-43/B. (Hình: USAF/Wikipedia)


Tuần trước, quân lực Mỹ làn đầu tiên sử dụng một trái bom mạnh nhất “chỉ kém bom nguyên tử” để chống IS ở Afghanistan. Tên chính thức của bom này là “vũ khí nổ mạnh,” Massive Ordnance Air Blast, viết tắt MOAB, từ đó còn được gọi với tên lóng là “Mother Of All Bombs” nghĩa là “Mẹ của Mọi Loại Bom.”

Chỉ kém bom nguyên tử

Trái bom mang danh số quân sự là GBU-43/B được thả xuống một khu vực hầm hố, hang động, địa đạo, căn cứ của nhóm khủng bố trong tỉnh Nangahar, IS gọi là Khorasan, ở miền Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan.

Theo CBS, Bộ Quốc Phòng Mỹ lập kế hoạch này từ thời chính quyền Obama theo đề nghị của Tướng Tư Lệnh John Nicholson để chống nhóm khủng bố IS đã bành trướng tại khu vực hiểm trở khó kiểm soát. Tổng Thống Donald Trump không nói rõ rằng đã chấp thuận ban lệnh cuối cùng thế nào, mà chỉ cho biết là ông dành cho tư lệnh chiến trường toàn quyền hành động, và ca ngợi quân đội về sự sử dụng thành công vũ khí này.

Theo Bộ Quốc Phòng Afghanistan, 36 chiến binh IS trong đó có chỉ huy trưởng Siddiq Yar chết trong vụ oanh tạc. Sức nổ khủng khiếp của trái bom có hiệu quả tiêu diệt tất cả sinh vật trong một vùng bán kính 1 dặm trên mặt đất hay dưới hầm hố. Dân làng Shodal gần đó cho biết nhà cửa ở cách xa 1.5 dặm cũng bị hư hại.

Tuy nhiên nhiều giới mạnh mẽ chống đối việc dùng MOAB, trong số có Taliban và cả đại sứ Afghanistan tại Pakistan. Bản thông cáo do văn phòng cựu Tổng Thống Hamid Karzai đưa ra gọi việc sử dụng một vũ khí hủy diệt mạnh chỉ kém bom nguyên tử là một hành động chống nhân loại, và đừng nên lấy lãnh thổ Afghanistan làm nơi thử nghiệm. Những ý kiến chỉ trích cho rằng không một vũ khí nào có thể có hiệu lực làm thay đổi cục diện chiến tranh.

Nhớ trận Long Khánh

Sự kiện ấy khiến người ta nhớ lại đúng vào thời gian này 42 năm trước, trong trận chiến đấu quan trọng cuối cùng giữa quân đội Việt Nam Cộng Hòa và bộ đội Cộng Sản Bắc Việt tại Long Khánh (9/4/1975 – 21/4/1975) một loại vũ khí tương tự cũng đã được dùng có hiệu quả chiến thuật.

Sử liệu không thống nhất về hai trái bom do Không Quân Việt Nam Cộng Hòa ném xuống chiến trường Long Khánh, theo đó hầu hết tin tức nói rằng đó là bom CBU-55, nhưng cũng có tài liệu khác nói đó là bom BLU-82.

Sự không nhất quán là do những danh số phức tạp mà quân đội Mỹ đặt tên cho những vũ khí được nghiên cứu phát triển bí mật. Mặt khác vào thời gian ấy loại vũ khí này hãy còn trong giai đoạn thử nghiệm của Không Quân Hoa Kỳ, và các quân nhân Mỹ hay Việt có thể cũng không hiểu rõ khi thi hành nhiệm vụ sử dụng.

BLU-82 áp dụng kiểu nổ thường với chất nổ đặc, loại cực mạnh, trong khi CBU-55 là kiểu nổ nhiệt áp dùng hỗn hợp chất nổ và nhiên liệu. Một trái bom BLU-82 nặng tới 15,000 pounds (6,800 kg) phải chở bằng máy bay vận tải quân sự C-130 trong khi CBU-55 nhỏ hơn, chỉ nặng 750 pounds có thể mang bằng máy bay chiến thuật A-1 Skyraider hay A-37 Dragonfly. Có lẽ hai trái bom thả bằng C-130 xuống chiến trường Long Khánh năm 1975 là một phiên bản hỗn hợp của CBU-55 và BLU-82.

Hầu hết truyền thông nói rằng trái bom này được đưa từ Thái Lan tới Biên Hòa vào những ngày cuối của cuộc chiến và một sĩ quan Mỹ cao cấp lúc đó, Tướng Homer Smith, đã chấp thuận cho Việt Nam Cộng Hòa trực tiếp dùng trên chiến trường. Tuy vậy cũng có tài liệu khác cho biết tại căn cứ phi trường Biên Hòa hãy còn loại bom này do Không Quân Mỹ để lại từ trước chưa dùng đến.

Quân đội Mỹ dùng BLU-82 ở Việt Nam để dọn một bãi đáp khẩn cấp cho trực thăng trong vùng rừng cây rậm rạp. Sức nổ quét sạch hết cây cối trong khu vực bán kính 5,000 feet (1,500 mét), do đó bom còn có tên lóng là Daisy Cutter (Cắt Hoa Cúc). Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, Không Quân Mỹ yểm trợ quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã thả 25 trái bom này xuống Hạ Lào để dọn bãi đáp trực thăng, phá bãi mìn hoặc để đánh vào những điểm tập trung bộ đội Bắc Việt.

BLU-82 dùng ngòi nổ là một cây dài nhằm mục đích cho bom nổ ngay trên mặt đất, khác với loại bom phá hầm, không đi sâu xuống lòng đất và đào một hố sâu. Ðịch quân nếu không bị sát thương thì cũng chịu tác dụng tâm lý nặng nề vì chấn động dữ dội và ánh sáng chói khủng khiếp khi bom nổ.

Còn CBU-55 FAE (Fuel Air Explosive) thuộc loại vũ khí nhiệt áp (thermobaric) dùng oxygen tại chỗ để tạo ra một vụ nổ mạnh, với nhiệt độ cao và nhiều đợt sóng chấn động kéo dài. Bom gồm hai thành phần riêng biệt; thuốc nổ thông thường và nhiên liệu lỏng, thường là propane. Chất nổ làm vung nhiên liệu lỏng ra thành một vầng mây và vùng mây này sẽ tự động phát nổ do tác động với các phân tử nhỏ trong không khí. Ngọn lửa do nhiên liệu bùng cháy tạo nên sức sát thương rất lớn vì nó rút tất cả dưỡng khí (oxygen) trong một vùng lân cận làm cho mọi sinh vật bị ngạt thở. Với những tác động nhiều mặt như thế, vũ khí nhiệt áp gây hiệu quả khủng khiếp trên mặt đất cũng như các hang động, địa đạo quanh khu vực.

Vài nét về ‘bom mẹ’ MOAB

Cả hai loại vũ khí vừa nói thật ra chỉ được dùng rất giới hạn trong chiến tranh Việt Nam cũng như sau này ở Iraq và Afghanistan. Bom MOAB được Bộ Quốc Phòng Mỹ phát triển dưới thời chính quyền Tổng Thống George W. Bush, thay thế cho loại BLU-82 “Daisy Cutter,” và mới chỉ được dùng một lần ở Afghanistan, không kể những lần thử nghiệm tại xạ trường căn cứ Không Quân Eglin AFB tại Florida. Chi phí phát triển MOAB ước lượng khoảng $300 triệu và chi phí sản xuất mỗi trái $16 triệu.

Bom GBU-43/B (MOAB) nặng 22,600 pounds (10.3 tấn), chứa 18,700 pounds (8,500 kg) thuốc nổ với sức nổ tương đương 11 tấn TNT. Bom có hình trụ chiều dài 9.18 mét, đường kính 105 cm. Với trọng lượng và cỡ lớn như thế, bom không thể chở và thả bằng máy bay oanh tạc B-52, B-1 hay B-2, mà dùng máy bay vận tải bay chậm C-130. Trái bom đặt trên giá có bánh xe sẽ được thả ra qua cửa sau đã mở ra trên độ cao tối thiểu 6,000 feet để bảo đảm an toàn cho máy bay không bị tác động của sức bom nổ. Bom được hạ xuống đất từ từ bằng dù và hướng dẫn đến mục tiêu nhờ GPS.

Như đã nói MOAB không phải là bom thuộc loại nhiệt áp, và tuy chỉ mạnh kém bom nguyên tử nhưng chưa phải là vũ khí quy ước mạnh nhất trên thế giới hiện nay. Không Quân Nga có loại bom nhiệt áp ATBIP, được gọi là “Bố của Mọi Loại Bom” (FOAB), phát triển và thử nghiệm thành công từ cuối năm 2007. Theo Bộ Quốc Phòng Nga, FOAB chỉ nặng 7.1 tấn nghĩa là nhỏ hơn MOAB, nên có thể thả từ oanh tạc cơ chiến lược siêu thanh Tupolev Tu-160. nhưng khả năng công phá tương đương 44 tấn TNT, bằng 4 lần MOAB, vì dùng kỹ thuật nhiệt áp.

Khác với MOAB được hướng dẫn bằng GPS, FOAB không có dụng cụ hướng dẫn vì với sức mạnh ấy không cần phải trúng mục tiêu hết sức chính xác. Những loại bom quy ước lớn kinh khủng này được xem là sự thay thế và tránh cho việc dùng vũ khí nguyên tử có nguy cơ của hậu quả phóng xạ.

—————-
Liên lạc tác giả: ha.cat@nguoi-viet.com

Trông mong vào ai?


Lưu Trọng Văn


Cả thế giới đang ầm ĩ chuyện Trump ra lệnh bắn 59 tên lửa Tomahawk vào căn cứ quân sự Sirya để trừng phạt chính phủ Sirya về việc sử dụng vũ khí hóa học thảm sát dân thường trong đó có trẻ em ở Sirya.
April 17, 2017

UserPostedImage

UserPostedImage



Tân Hoa Xã nêu 3 lý do khiến Trump ra lệnh tấn công tên lửa Syria

Cả thế giới đang ầm ĩ chuyện Trump ra lệnh bắn 59 tên lửa Tomahawk vào căn cứ quân sự Sirya để trừng phạt chính phủ Sirya về việc sử dụng vũ khí hóa học thảm sát dân thường trong đó có trẻ em ở Sirya.

Cả thế giới trong đó có VN đều lên tiếng chống lại vũ khí hóa học- vũ khí hủy diệt.

Không ít người VN đón nhận sự trừng phạt của Mỹ với chính quyền Sirya với sự hồ hởi.

Họ có lí của họ.

Nhưng, chuyện vũ khí hóa học ở một đất nước xa xôi với VN được dư luận chính thống cũng như công chúng quan tâm lại làm cho gã chạnh lòng.

Việc tổng thống Mỹ ra lệnh bắn 59 tên lửa vào đất nước Syrya để trừng phạt tội diệt chủng bằng vũ khí hóa học lại càng làm cho gã chạnh lòng gấp bội.

Gã được biết sắp tới tại Paris sẽ có phiên tòa xét xử các công ty hóa học của Mỹ về tội rải chất độc hóa học đioxin xuống VN gây ra thảm cảnh cho hàng triệu người dân mắc chứng chất độc da cam.

Người phát đơn kiện là bà Trần Tố Nga. nhưng đến nay số tiền để thuê ba luật sư cho vụ kiện chưa đủ, trong khi đó có hơn 20 luật sư hàng đầu của Mỹ được các công ty sản xuất chất độc hóa học rải ở VN đã sẵn sàng bảo vệ cho các công ty trên chống lại những nạn nhân chiến tranh hóa học.

Chiến tranh hóa học chứ không phải chỉ vài cú bắn vũ khí hóa học.

Trump! Ngài nghĩ sao về điều này?

Các quốc gia đang lên tiếng chống lại vũ khí hóa học hủy diệt ở Sirya nghĩ sao về điều này?

Gã lại càng đau xót hơn nữa khi chiến tranh hóa học tưởng như là câu chuyện của hơn 40 năm trước ở một nửa đất nước của gã mà di hại còn đến tận bây giờ lại là hơn thế nữa lại đang diễn ra một cuộc chiến tranh hóa học thực sự hủy diệt toàn diện thực sự ở cả đất nước của gã trước sự bất lực của luật pháp và công luận,

Đau đớn thay lần này thủ phạm gián tiếp hoặc trực tiếp gây cuộc chiến tranh hóa học này, hàng ngày bắn, xả vũ khí hóa học trên toàn đất nước gã lại chính là hàng triệu người nông dân một nắng hai sương của đất nước gã cùng sự tiếp tay của hàng triệu người bán buôn, hàng triệu người bán hàng ăn uống nhân danh cái gọi là cuộc sống.

Thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng, thuốc tăng trưởng, phân hóa học hàng triệu tấn thấm vào đất, cây trồng, vật nuôi đến từng miếng ăn gia đình, hòa trong nước uống, hòa trong khí thở của cả một dân tộc trong đó có hàng chục triệu trẻ em hồn nhiên vô tội, thì phải gọi là gì nếu không gọi là thảm họa diệt chủng?

Và không chỉ có thế mà còn biết bao nhà máy, công xưởng trên đất nước gã hàng giây, hàng phút xả thải hàng triệu tấn chất độc hóa học vào biển, sông, hồ, không khí giết chết môi trường sống mà điển hình là Formosa thì phải gọi là gì nếu không gọi là thảm họa diệt chủng?

Ai? Ai sẽ đứng ra để lên án chúng trước toàn thế giới về nạn diệt chủng bởi chiến tranh hóa học vừa mang tính tổng lực vừa mang tính du kích này?

Ai? Ai sẽ đứng lên bảo vệ hàng chục triệu con người đang ngập chìm trong cái chết từ từ này với hàng năm hơn 200.000 người bị ung thư ?

Ai? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về thảm cảnh này?

Và ai? Ai sẽ bị trừng phạt vì là tội đồ tạo nên thảm cảnh ấy?

Chả ai cả.

Và gã thú thật, gã chả trông mong gì ở ngài tổng thống Hoa Kì dù chỉ một chút động lòng thương.

Gã chả trông mong gì ngài Putin sẽ yêu cầu Hội đồng Bảo an LHQ có phiên họp khẩn cấp bàn về họa diệt chủng này ở đất nước gã như ngài vừa yêu cầu có cuộc họp như thế về việc Hoa Kì bắn 59 tên lửa vào Sirya.

Vậy thì gã trông mong vào ai?

Lưu Trọng Văn
(FB Lưu Trọng Văn)

Edited by user Tuesday, April 18, 2017 12:50:50 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#7367 Posted : Tuesday, April 18, 2017 10:53:03 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,681

Thanks: 747 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)

Putin Thò Tay Biển Đông?


18/04/201700:00:00(Xem: 1359)
Trần Khải


Có vẻ như họp chợ... đông hơn. Có phải đây là điềm bất tường ở Biển Đông? Hay phải chăng, chỉ là màn sương khói cho các móc nối bí ẩn giữa các siêu cường quốc? Trong đó, diễn biến hôm cuôi tuần cho thấy tàu gián điệp Nga và Trung Quốc chạy bám sát hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng nguyên tử ở một vùng biển gần Bán Đảo Đại Hàn... Chưa hết, Tổng Thống Putin của Nga có một kế hoạch đặc biệt về Biển Đông.

Có phải Donald Trump, Putin, Tập Cận Bình suy tính chia chác gì nơi các vùng biển Châu Á?

Báo Nhật Bản The Yomiuri Shimbun ghi nhận rằng Nga và TQ đã đưa các tàu gián điệp ra rượt theo hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ USS Carl Vinson khi mẫu hạm này trên đường biển gần Bán Đảo Đại Hàn.

Nhiều nguồn tin trong chính phủ Nhật Bản tiết lộ như thế cho báo The Yomiuri Shimbun.

Đó là lý do Phòng Vệ Quân Nhật Bản tăng mức độ cảnh báo và do thám các khu vực biển và không phận trong vùng.

Báo The Yomiuri Shimbun ghi rằng việc Nga và TQ đưa các tàu do thám bám sát hàng không mẫu hạm Mỹ là gửi dấu hiệu cảnh cáo tới Hoa Kỳ... Cũng lạ, cảnh cáo gì đây?

Trong khi đó, bản tin ISN Security Watch ngày 17/4/2017 có bản tin cũng rất lạ, tựa đề “Putins Plan In The South China Sea”... Nghĩa là, Kế Hoạch Của Putin ở Biển Đông... Biển Đông nào, của Việt Nam chăng? Phải chăng Putin muôn giúp đàn em Hà Nội?

Bản tin này ghi rằng trước giờ Nga tự xem là “ngoại kiều” của ngôi làng Biển Đông. Bộ Ngoaị Giao Nga từng minh xác rằng Nga chưa bao giờ là một thành phần trong tranh chấp biển đông và giữ nguyên tắc là không bênh vực phía nào ở Biển Đông.

Tuy nhiên, bản tin ISN Security Watch tiết lộ rằng quân lực Nga đang tăng cường trong vùng biển Đông, và Nga hưởng lợi nhờ các thương vụ bán vũ khí và bán năng lượng cho các quốc gia tranh chấp ở Biển Đông. Bản tin nói, các yếu tố trên cho thấy Nga không thể không quan tâm tới vùng biển Đông.

Bản tin nói, 1/4 chương trình hiện đaị hóa quân sự Nga suôt cho tới năm 2020 là nhắm vào Hạm Đội Thái Bình Dương, bản doanh ở Vladivostok, nhằm trang bị các chiến dịch quân sự ở các vùng biển xa.

Bản tin ISN nói, việc Nga hợp tác quân sự với TQ đã tới mức Putin gọi Trung Quốc là “quốc gia đối tác tự nhiên và quốc gia đồng minh tự nhiên” của Nga.

Hai nước Nga-TQ vừa tập trận hải quân ở Biển đông trong chiến dịch có tên là “Joint Sea 2016” (Liên Hải 2016).

Bản tin cũng nói, nhưng quan hệ giữa Nga và Việt Nam cũng thân thiết hơn: quan hệ Việt-Nga nâng cấp tới mức “đối tác chiến lược toàn diện” (“comprehensive strategic partnership”) nghĩa là tương đương quan hệ giữa Nga-TQ.

Chưa hết, Nga và VN đang liên kết khai thác chung các dự án khí đốt ở Biển Đông.

Và Nga đang tìm cách trở lại Vịnh Cam Ranh, và sẽ bán vũ khí tối tân cho VN.

Bản tin nói rằng nhiều chuyên gia thú nhận không đoán nôi ý định của Putin tại Biển Đông... vì có vẻ không thuần túy thương mại.

Bởi vì, Nga đã lộ ý định thách thức quyền lực Mỹ ở nhiều nơi -- trong đó có Georgia, Ukraine, và Syria.

Phải chăng chính sách “Hướng trục về Châu Á” của Obama cũng làm Putin quan tâm, chứ không phải riêng Bắc Kinh thấy là bị đe dọa?

Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng Nga muốn hưởng lợi bán vũ khí và bán năng lượng cho tất cả các nước trong vùng Biên Đông, và đó là lý do đầu tiên đê kết thân, nghĩa là “tiên đâu”...

Tuy nhiên bài phân tích của ISN nói rằng Nga muốn vào Vịnh Cam Ranh thì chưa thấy chứng cớ, và nếu muôn thì hiển nhiên lại bất lợi cho việc thương mại hai, ba chiều...

Phải chăng, Hà Nội có Plan B -- một kế hoạch dự phòng -- để sẽ kết thân hơn với Nga để làm TQ giảm áp lực?

Trong khi đó, bản tin RTI của Đài Loan cho biết Bộ quốc phòng Đài Loan xin: Kiến nghị tăng thêm lực lượng quốc phòng ở đảo Ba Bình...

Nghĩa là, một đảo của VN hiện nay đang do Đài Loan chiếm giữ.

Bản tin này nói, để đối phó với lực lượng quân sự ngày một mở rộng của các nước xung quanh Biển Đông, ngày 17/4, Bộ quốc phòng Đài Loan chứng thực, Bộ quốc phòng đã đề xuất với Nha tuần duyên phải tăng cường lực lượng quốc phòng.

Ngày 17/4, ủy viên lập pháp của Đảng Dân Tiến La Chí Chính cho biết, việc mua sắm vũ khí là có liên quan đến nhu cầu thực tế và phân bổ ngân sách, Nha tuần duyên cũng sẽ có kế hoạch cụ thể.

So với sự im lặng của Nha tuần duyên, thứ trưởng phòng tham mưu kế hoạch và tác chiến của Bộ quốc phòng Khương Chấn Trung thẳng thắn thừa nhận, Bộ quốc phòng xác thật có đề xuất 17 kiến nghị cụ thể về vũ khí phòng vệ với Nha tuần duyên, nhưng hiện nay vẫn đang còn trong giai đoạn tác nghiệp.

Khương Chấn Trung cho biết: Bây giờ là tận dụng buổi hội đàm cấp cao để bàn thảo việc này, nhân viên của Nha tuần duyên đều biết việc này rồi, những kiến nghị mà chúng tôi đưa ra đều là để tăng cường hỏa lực, không tăng cường nhân lực, đa phần là mang tính phòng thủ, không mang tính công kích.

Cũng là một nỗi lo cho Việt Nam...

Thực tế, Đaì Loan sẽ không ra quân để chiếm thêm đảo này làm chi, nhưng chạy đua quân sự ở Biển Đông sẽ là nan đề cho VN vì lại tốn tiền... và lại có cớ cho Bắc Kinh kiếm chuyện.

Putin có âm mưu gì chăng... và có lợi cho VN hay không... đành phải chờ vậy.
Hoàng Nam  
#7368 Posted : Tuesday, April 18, 2017 3:59:52 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,681

Thanks: 747 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)
Filibuster: Mặt Trái Chính Trị Mỹ


18/04/201700:00:00(Xem: 1593)
Vũ Linh

Filibuster: Mặt Trái Chính Trị Mỹ
...đã phân hoá đến chỗ khó có thể có được một đồng thuận nào như trước đây...

Tuần qua đánh dấu tuần đầu tiên thẩm phán Neil Gorsuch vào Tối Cao Pháp Viện như thẩm phán thứ 113 của TCPV. Sự kiện này là kết quả thành công của một canh bạc khổng lồ của thượng nghị sĩ CH Mitch McConnell, chủ tịch Thượng Viện (TV).

Tháng Hai năm 2016, thẩm phán Antonin Scalia bất ngờ qua đời, rồi vài tháng sau, TT Obama đề cử thẩm phán Merrick Garland thay thế. Nhưng TNS McConnell với tư cách lãnh đạo khối đa số tại TV, không triệu tập cuộc họp để biểu quyết phê chuẩn ông Garland, ngâm tôm cho tới bây giờ.

Ông Scalia là một thẩm phán có khuynh hướng bảo thủ và khi ông còn tại thế, đã giữ TCPV trong thế cân bằng với 4 thẩm phán bảo thủ, 4 cấp tiến, và 1 trung lập. Khi ông qua đời thì TT Obama tính thay thế bằng ông Garland có khuynh hướng cấp tiến, khiến cán cân nghiêng qua phe cấp tiến.

TNS McConnell từ chối phê chuẩn ông Garland vì không chịu trao TCPV vào tay phe cấp tiến đến cả thế hệ tới.

Đây là canh bạc vĩ đại của ông McConnell. Theo kế hoạch của ông, nếu bà Hillary đắc cử như tất cả mọi người đều nghĩ thì bà có thể sẽ bổ nhiệm một thẩm phán còn cấp tiến hơn xa ông Garland và khối bảo thủ sẽ gặp đại họa. Nếu ngược lại, nếu ông Trump thắng cử, thì sẽ có triển vọng một thẩm phán bảo thủ được bổ nhiệm. Trường hợp này coi như 10 phần thì chỉ có 1 phần… trúng số. Ấy vậy mà lại thành sự thật, ông Trump đắc cử và bổ nhiệm một thẩm phán bảo thủ, tái tạo thế quân bình bị mất đi trong một năm qua. Ông McConnell đại thắng.

Nhưng chiến thắng của ông McConnell không phải đã dễ dàng gì, trái lại, đã đạt được qua một cuộc “cách mạng” có hậu quả cực kỳ lớn lao và lâu dài, bằng cách thay đổi hẳn thủ tục phê chuẩn các thẩm phán TCPV. Ta thử nhìn qua thủ tục này.

Trên nguyên tắc, một số quan chức cao cấp của chính quyền như nhân viên nội các, đại sứ, thẩm phán cao cấp liên bang và thẩm phán TCPV, đều do Hành Pháp bổ nhiệm, nhưng phải được phê chuẩn bởi TV.

Trong tinh thần dân chủ Mỹ, đa số dĩ nhiên thắng thiểu số, nhưng tiếng nói của thiểu số vẫn phải được tôn trọng tối đa. Có nghiã là khối thiểu số có quyền có tiếng nói và mọi người đều phải nghe trước khi quyết định. Trong thủ tục biểu quyết của TV, các nghị sĩ trong khối thiểu số bất đồng ý có quyền lên tiếng bày tỏ quan điểm chống đối của mình một cách không giới hạn, và họ đã lợi dụng cái quyền có tiếng nói này để nói không ngừng ngày này qua tháng nọ, tháng này qua năm nọ luôn. Hậu quả thực tế là sẽ không bao giờ chấm dứt để biểu quyết được, tức là đề nghị đó coi như bất thành. Đây là thủ tục Mỹ gọi là “filibuster” mà ta có thể dịch đại khái là “thủ tục câu giờ”.

Để tránh tình trạng khối thiểu số cản đường kiểu này, thì cũng có luật là nếu có 60 nghị sĩ đồng ý, thì cuộc thảo luận câu giờ này sẽ được chấm dứt để đi đến biểu quyết cuối cùng có tính quyết định. Một cách thực tế, có nghiã là tất cả quyết định của TV phải đạt được số phiếu tối thiểu 60 thì mới được thông qua.

Nguyên tắc 60 phiếu đa số này được áp dụng cho mọi phê chuẩn nhân sự cao cấp, và quan trọng hơn nữa, cho bất cứ luật nào cần được TV phê chuẩn. Và được áp dụng một cách thuần nhất từ ngày lập quốc. Cho đến nay!

Trước đây, thủ tục filibuster này ít khi được khối thiểu số mang ra xử dụng, và bình thường thì TV có thể biểu quyết với đa số 51 phiếu là đủ. Nhưng chính trị Mỹ càng ngày càng phân hoá nặng nề, và thủ tục filibuster đã bị lạm dụng tối đa bởi khối thiểu số, để rồi khối đa số cũng phải tìm đủ cách để lách, thông qua chuyện mình muốn. Một cách nôm na, filibuster đã thành một thứ vũ khí chính trị để hai phe đánh nhau.

Dưới thời TT Obama, thủ tục filibuster đã bị phe CH xử dụng liên tục, đưa đến việc phe DC tìm cách lách. DC “bắn” hai phát đạn khiến filibuster trọng thương, rồi bây giờ thì coi như bị khối CH bồi thêm một phát, đang hấp hối, tuy chưa chết hẳn.

Viên đạn đầu tiên do phe DC bắn vào thủ tục filibuster năm 2010, để giúp thông qua luật Obamacare.

Tháng 11/2009, Hạ Viện do DC nắm đa số, thông qua Obamacare, và tháng 12/2009, TV cũng thông qua với đúng 58 phiếu DC, và 2 phiếu gọi là độc lập nhưng thực sự là DC trá hình, tức là đủ 60 phiếu thoát qua cửa ải filibuster của phe CH, nhưng với nhiều khác biệt so với luật Hạ Viện đã biểu quyết. Hai bộ luật phải được kết hợp với nhau và biểu quyết lại một lần nữa. Hạ Viện sửa lại và thông qua Obamacare mới tháng 2/2010. Trên nguyên tắc, TV cũng phải thông qua lần nữa.

Nhưng ngay trước đó có biến cố đặc biệt thay đổi hoàn cảnh. TNS Ted Kennedy bất ngờ qua đời. Tháng Giêng 2010, tiểu bang Massachusetts bầu ông Scott Brown lên thay thế. Ông này thuộc đảng CH, ứng cử dựa trên có đúng một lời hứa: bỏ phiếu ngăn không cho DC có đủ 60 phiếu để thông qua Obamacare. Một cách thực tế, điều này có nghĩa là ngay cả dân Massachusetts, là tiểu bang cấp tiến nhất Mỹ, cũng bác bỏ Obamacare, bầu ông Brown lên để cản Obamacare.

Vì chỉ còn 59 ghế tại TV, phe DC biết là sẽ không thể nào vượt qua được bức tường filibuster do CH dựng lên và Obamacare sẽ chết, nên cho Hạ Viện biểu quyết Obamacare như là một phần của luật về Ngân Sách mới, Budget Reconciliation Act, tạm dịch là luật điều chỉnh ngân sách, mà theo Hiến Pháp, luật về ngân sách chỉ cần đa số 51 phiếu của TV là có thể thông qua được. Thế là Obamacare được TV phê chuẩn như một luật phụ đính của ngân sách với 59 phiếu DC, không có một phiếu CH nào.

Obamacare, gia tài lớn nhất của TT Obama, đi vào lịch sử như bộ luật lớn đầu tiên được thông qua bằng cách lách filibuster, báo Mỹ gọi là “qua cửa sau” –thru the back door.

Viên đạn thứ nhì, nặng hơn nhiều, cũng được phe DC bắn vào đầu năm 2013. TT Obama tái đắc cử cuối năm 2012, nhưng gặp chống đối mạnh của CH trong khi chỉ chiếm được có 53 ghế tại TV, chưa đủ túc số vượt qua filibuster của CH. Một số bổ nhiệm của TT Obama bị ngâm tôm, không thông qua được. Phe DC lấy quyết định, biểu quyết hủy bỏ thủ tục filibuster cho việc phê chuẩn nhân viên nội các và thẩm phán liên bang, ngoại trừ thẩm phán TCPV. Việc bỏ filibuster lạ lùng thay, chỉ cần đa số 51 phiếu là được thông qua, trong khi DC có tới 53 ghế. Từ đó về sau, tất cả nhân viên nội các cao cấp và các thẩm phán liên bang đều có thể được phê duyệt với 51 phiếu, tuy mọi phê chuẩn luật đều vẫn bị thủ tục filibuster chi phối.

DC viện dẫn lý do filibuster đã trở thành công cụ phá rối, làm tê liệt guồng máy chính quyền trong khi tổng thống cần có quyền bổ nhiệm người của ông để làm việc. Phe CH tố cáo ầm ĩ đây là hình thức độc tài của khối đa số, bóp nghẹt tiếng nói của thiểu số đã được Hiến Pháp bảo đảm. Phe DC bất chấp, vẫn tiến hành với sự cổ võ nhiệt tình của TT Obama dĩ nhiên.

Phe DC một phần có ý giúp TT Obama, một phần tự tin sảng, nghĩ rằng sau hai chiến thắng vĩ đại của TT Obama, sẽ nắm quyền vài thập niên tới, không thắc mắc gì về chuyện... gậy ông đập lưng ông, nếu như DC bị lọt vào thế thiểu số.

Thiên bất dung... DC! Năm 2016, đảng CH đại thắng, chiếm Tòa Bạch Ốc, rồi cả Hạ Viện lẫn TV, tuy CH chưa đủ túc số 60 ghế để vượt tường filibuster nếu phe DC dựng lên. Bây giờ thì hậu quả hai vụ DC bắn filibuster trở ngược lại đập phe DC.

Obamacare được thông qua với dưới 60 phiếu thì bây giờ cũng có thể bị thu hồi dễ dàng với dưới 60 phiếu, và phe CH mau mắn biểu quyết cho thu hồi Obamacare [nhưng sau đó, vì không có đồng thuận về giải pháp thay thế nên đành phải lưu giữ Obamacare]. Quan trọng hơn nữa, TT Trump dễ dàng thông qua toàn thể nội các, không có một người nào bị bác hết vì CH chiếm đa số 52 ghế tại TV và chẳng ai cần 60 phiếu nữa.

Câu chuyện đến đây chưa chấm dứt. Thủ tục filibuster vẫn còn bị áp dụng trong trường hợp phê chuẩn thẩm phán TCPV và thông qua mọi luật.

Đưa đến câu chuyện thẩm phán Neil Gorsuch. Phe DC nhất định chống việc bổ nhiệm ông này đến cùng vì hai lý do, thứ nhất là vì quan điểm mà phe DC tố là bảo thủ cực đoan của ông, và thứ nhì để trả thù việc mà phe DC tố là ông McConnell đã mang tính phe đảng vào TCPV khi không chịu phê chuẩn thẩm phán Garland do TT Obama bổ nhiệm.

Cả hai lý do đều không chính đáng vì tính giả dối. Ông Gorsuch năm 2006, dưới thời TT Bush con, được TV phê chuẩn làm thẩm phán Tòa Phá Án khi cả hội trường đứng lên vỗ tay hoan nghênh –voice acclamation- không biểu quyết vì không có tới một người chống. Bây giờ thì tất cả nghị sĩ phe DC đã từng đứng lên vỗ tay lại đổi giọng, cho rằng ông Gorsuch quá bảo thủ, không đủ công tâm làm quan toà tại TCPV.

Để nhắc lại, khi 9 tháng trước bầu cử tổng thống tháng 11/2016, thẩm phán Scalia qua đời, TT Obama mau mắn bổ nhiệm ông Garland thay thế, thì phe CH trì hoãn với lập luận gần ngày bầu cử, cần đợi tân tổng thống quyết định dù là TT Hillary hay TT Trump, chứ TT Obama gần ngày mãn nhiệm không bổ nhiệm được. Phe DC phản đối cho là vi phạm Hiến Pháp vì ngày nào còn làm tổng thống thì ngày đó TT Obama vẫn có quyền bổ nhiệm. Ông McConnell kiểm soát biểu quyết tại TV, không cho mang vấn đề bổ nhiệm này vào lịch trình TV.

Ở đây, ta thấy lập luận của phe DC nghe có vẻ có lý, nhưng sự thật chỉ phản ánh tính giả dối của họ nói riêng và của tất cả chính khách Mỹ nói chung.

Năm 1987, thượng nghị sĩ Joe Biden, chủ tịch Ủy Ban Pháp Chế TV, khẳng định TT Reagan hay bất cứ tổng thống nào khác, không có quyền bổ nhiệm thẩm phán TCPV trong vòng một năm trước bầu cử. Lập luận của ông được toàn thể khối DC ủng hộ kịch liệt. Khi đó, TV cần phê chuẩn thẩm phán bảo thủ Rober Bork do TT Reagan bổ nhiệm. Toàn thể khối CH chống lại lập luận đó dĩ nhiên, cho là tổng thống có quyền bổ nhiệm bất cứ ai bất cứ lúc nào.

Bây giờ thì đồng hồ chạy ngược chiều lại. TT Obama đề cử ông Garland, nhưng bị CH chống với lý do TT Obama gần ngày mãn nhiệm không thể bổ nhiệm thẩm phán TCPV nữa, nhưng phe DC thì lại hô hoán ngày nào TT Obama còn làm tổng thống thì vẫn có quyền bổ nhiệm.

Trở lại vấn đề ông Gorsuch. Phe CH hiện nay chỉ có 52 ghế trong khi phe DC quyết định chống tới cùng, bằng cách sử dụng thủ tục câu giờ, đưa một nghị sĩ ra khai chiến bằng một bài diễn văn tràng giang đại hải kéo dài 15 tiếng đồng hồ, và hàng loạt nghị sĩ khác ghi tên lên đài tiếp ứng.

Phe CH chỉ có một cách chống đỡ: mang chiêu võ của DC đã xử dụng trước đây đáp lễ lại: biểu quyết hủy bỏ thủ tục câu giờ filibuster trong việc phê chuẩn thẩm phán TCPV, tức là chỉ cần đa số 51 phiếu là đủ, giống như DC đã biểu quyết cho việc phê duyệt nội các và các thẩm phán các tòa dưới. Để rồi ông Gorsuch được phê chuẩn với hết cả phiếu CH cộng với 3 phiếu DC, tổng cộng là 54 phiếu (1 nghị sĩ CH bị đau không đến họp).

Việc CH xử dụng biện pháp quyết liệt gọi là giải pháp hạt nhân –nuclear option- không có gì đáng ngạc nhiên khi ông McConnell đã nhiều lần cảnh cáo ông sẽ xử dụng nếu phe DC không hợp tác để phê chuẩn ông Gorsuch.

Câu hỏi đặt ra là phe DC biết là trước sau gì ông Gorsuch cũng sẽ được phê chuẩn bằng cách này hay cách khác, vậy tại sao họ lại không chịu hậu thuẫn ông Gorsuch khi trước đây họ đã không phản đối ông này, để duy trì filibuster, bảo đảm mình còn có tiếng nói sau này, khi mà ai cũng biết TT Trump sẽ có dịp bổ nhiệm thêm ít ra là 1 hay 2 thẩm phán nữa, mà lại ép phe CH phải hủy thủ tục filibuster. Tại sao không có tới 8 nghị sĩ DC ủng hộ ông Gorsuch để đủ túc số 60 và tại sao DC lại nhất định xử dụng filibuster để cản? Trước đây các thẩm phán bảo thủ Clarence Thomas và Samuel Alito đều được phê chuẩn với dưới 60 phiếu vì phe DC không xử dụng thủ tục filibuster để chống.

Câu trả lời là tất cả mọi bên đều hiểu cái thủ tục filibuster này rất phiền toái và còn có hại trong tình trạng phân hóa hiện nay, và sẽ khiến mọi chính quyền bị tê liệt hết, và không sớm thì muộn sẽ phải hủy bỏ. DC cũng muốn hủy bỏ thủ tục lằng nhằng này, nhưng muốn ép CH phải là đảng lấy quyết định này. Trước đây họ đã bắn hai phát đạn rồi, bây giờ không muốn bắn thêm mà muốn ép CH phải bắn theo. Làm thủ phạm cho có bạn.

Ngay cả việc giữ hay bỏ thủ tục filibuster cũng phải trải qua cảnh... cuốn theo chiều gió. Khi phe DC hủy thủ tục này cho việc bổ nhiệm nội các và thẩm phán toà dưới, phe CH nhao nhao đả kích. Bây giờ phe CH đáp lễ, hủy bỏ thủ tục trong việc phê chuẩn thẩm phán TCPV thì đến phiên DC rầm rộ la ó.

Tức là khi gió đổi chiều, cả hai phe đều đảo ngược quan điểm cũng như cách quyết định. Chỉ phơi bày ra mặt trái của chính trị Mỹ: tất cả quan điểm mà cả hai phe hô hào hay chống đối, đều có thể hoán chuyển dễ dàng, và cả hai phe đều dư thừa lập luận để bảo vệ sự thay đổi quan điểm. Và dân Mỹ, kể cả quý độc giả, chỉ là nạn nhân của những trò ảo thuật “nay có mai biến” này thôi. Nhắc nhở chúng ta trước khi gân cổ hò hét làm loa cho các chính khách, nên cẩn trọng hơn, kẻo bị kẹt làm con rối cho chính khách.

Nhìn vào những diễn tiến trên, ta thấy rõ ràng chính trường Mỹ đã phân hoá đến chỗ khó có thể có được một đồng thuận nào như trước đây. Chẳng hạn năm 1986, thẩm phán bảo thủ Scalia được phê chuẩn với 98 phiếu và 0 phiếu chống. Bây giờ, ngay cả kiếm được đa số 60 phiếu cũng đã thành hầu như vô vọng. Chỉ có kiếm được 51 là may, mà cũng là cách duy nhất có thể bớt tắc nghẽn.

Việc thay đổi thủ tục này đương nhiên làm giảm tư thế của khối đối lập thiểu số, khiến khối đa số có tiếng nói mạnh hơn. Về lâu về dài, khối đa số sẽ có cơ hội thống trị khối thiểu số mạnh hơn.

Những quyết định của cả hai chính đảng cho thấy cả hai bên đều có cái nhìn có thể nói là thiển cận, cần có thành quả ngay trong ngắn hạn mà không để ý đến hậu quả lâu dài. Ngày trước DC thống trị, loại CH ra, bây giờ CH thống trị, quét DC ra ngoài. Mai này, ai biết được đảng nào nắm đa số lúc nào?

Dưới khiá cạnh này, ta có thể thấy bây giờ là lúc thượng nghị sĩ Chuck Schumer đánh bạc. Ông tính toán nếu DC thắng TV trong cuộc bầu giữa muà 2018 thì sẽ có dịp khoá tay TT Trump dễ dàng với đa số 51 phiếu mà không cần tới 60 phiếu. Đi xa hơn, nếu TT Trump quá tệ như ông nghĩ, sẽ có tân tổng thống DC vào năm 2020, cùng với da số DC tại TV, thì sau đó, DC sẽ có dịp thống trị hoàn toàn cả ba ngành Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp dễ dàng, trong một thời gian rất lâu dài. Cái nguy của giải pháp này là nếu CH tiếp tục nắm đa số tại TV sau năm 2018 và TT Trump thắng năm 2020 thì phe DC sẽ bị chôn vùi vài thế hệ nữa chứ không ít.

Ai cũng nghĩ trong nhiệm kỳ đầu của TT Trump, sẽ có ít nhất là một thẩm phán cấp tiến nghỉ hưu vì sức khoẻ yếu kém hay qua đời bất ngờ. Nếu TT Trump tái đắc cử, làm tổng thống tới năm 2024 thì hai vị thẩm phán nữa có thể sẽ được thay thế, tức là TT Trump có thể sẽ bổ nhiệm thêm hai hay ba thẩm phán bảo thủ ngoài ông Gorsuch, tức là đại đại hoạ cho khối cấp tiến kéo dài ít ra hai ba chục năm nữa. Trong khi phe thiểu số DC sẽ không có cách nào cản nữa. Canh bạc của ông Schumer coi bộ phiêu lưu hơn canh bạc của ông McConnell rất nhiều.

Bước kế tiếp mà nhiều chuyên gia chính trị lo sợ là việc bỏ thủ tục câu giờ này sẽ được áp dụng luôn cho việc phê chuẩn các luật mới. Đi đến chỗ các luật, cho dù quá khích, cũng có thể được phê chuẩn dễ dàng hơn, đồng thời cũng có thể bị thu hồi dễ dàng luôn, trong khi ai cũng đồng ý luật mới nào cũng cần hậu thuẫn mạnh của cả hai đảng mà cũng cần phải có giá trị lâu dài, khó thay đổi, thì mới có ý nghã.

Đáng tiếc thay, cách suy nghĩ này có vẻ hết hợp thời trang rồi, mà bây giờ các chính khách của cả hai đảng đều lo nghĩ đến ngày hôm nay, không ai lo lắng gì cho ngày mai hết, khác xa với những tư tưởng lớn, nhìn rất xa của những vị lập quốc. Vì thực tế chính trị hiện đại của Mỹ là tất cả các chính khách đều phải trực diện với cử tri trong vài ba năm chứ không phải trong vài ba chục năm, không ai rảnh nghĩ chuyện tương lai lâu dài. (16-04-17)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba.

Edited by user Tuesday, April 18, 2017 4:00:29 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#7369 Posted : Tuesday, April 18, 2017 5:39:12 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,510
Woman

Thanks: 451 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)
Chuyến công du thất bại


By Vũ Hiến -

April 17, 2017
Share on Facebook
Tweet on Twitter

Tuần vừa qua hẳn là một tuần bận rộn trong lịch trình làm việc của Tổng thống Donald Trump. Ông đã phải tiếp lãnh đạo của ba quốc gia có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Hai cuộc họp đầu giữa Trump và Tổng thống Ai Cập Abdel Fattah al-Sisi hôm Thứ Hai 3/4 và Vua Abdullah II của Jordan hôm Thứ Tư 5/4 đều diễn ra tại Toà Bạch Ốc. Riêng cuộc họp thứ ba với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong hai ngày Thứ Năm 6/4 và Thứ Sáu 7/4 – là cuộc họp quan trọng và được chú ý nhiều nhất – thì diễn ra tại khu nghỉ mát Mar-a-Lago ở Florida của ông Trump.

UserPostedImage


TT Trump và Tập Cận Bình (ảnh www.talkingpointsmemo.com)


Có người thắc mắc vì sao hai cuộc họp trên diễn ra ở Washington mà cuộc họp thứ ba thì lại ở mãi tận Florida, trong khi họ Tập được xem là nhân vật lãnh đạo quan trọng hơn trong mối quan hệ với Washington? Thật ra thì vấn đề này cũng dễ hiểu vì hai cuộc họp trên xảy ra trong hai ngày làm việc trong tuần nên được đón tiếp tại Toà Bạch Ốc – nơi không chỉ là tư gia mà còn là văn phòng làm việc chính thức của Tổng thống – là chuyện đương nhiên. Riêng cuộc họp thứ ba rơi vào hai ngày Thứ Năm và Thứ Sáu được coi như cuối tuần và Mar-a-Lago là nơi ông Trump thường lui tới nghỉ ngơi vào những dịp cuối tuần kể từ khi nhậm chức.

Trên nguyên tắc về ngoại giao, không có điều lệ nào bắt buộc hai nhà lãnh đạo phải gặp nhau ở một nơi nhất định nào cả, kể cả phủ tổng thống. Ngoài đời thường, khi người ta muốn gặp gỡ để bàn chuyện công việc thì người ta cũng có thể hẹn nhau ở một tiệm cà phê, một quán ăn, hay thậm chí một quán bar, chứ không nhất thiết phải ở văn phòng. Mà khu nghỉ mát Mar-a-Lago có thể tạo điều kiện dễ dàng hơn để hai nhà lãnh đạo nói chuyện trong bầu không khí thân mật thay vì ở Washington thường là nghiêm trang và quá nhiều nghi lễ. Hơn nữa, đây không phải là cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên giữa Tổng thống Trump và một vài lãnh đạo thế giới tại Mar-a-Lago. Nhớ vào đầu Tháng 2 vừa qua, một cuộc họp thượng đỉnh khác cũng diễn ra tại đây với Thủ tướng Nhật Bản Shizo Abe và còn được bắt đầu bằng một màn đánh golf ngoại giao khá cởi mở.

UserPostedImage


Cuộc họp thượng đỉnh Trump-Tập – nguồn The New York Times


Cuộc họp thượng đỉnh này cũng được so sánh tương tự như cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cựu Tổng thống Barack Obama và ông Tập tại khu nghỉ mát Sunnylands ở miền nam California năm 2013, mặc dù ngắn hơn và bớt rình rang hơn.

Cuộc họp thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo đã được truyền thông Hoa Kỳ nói tới từ mấy tuần trước đó cùng với những chủ đề chính mà người ta nghĩ rằng hai bên sẽ bàn tới như vấn đề Bắc Hàn, thương mại song phương giữa hai nước và có thể kể luôn tình hình ở Biển Ðông.

Chuyến công du này của Tập Cận Bình cũng đã được phía Trung Quốc chuẩn bị rất kỹ để tô điểm cho hình ảnh của một Chủ tịch Tập Cận Bình ra với thế giới cũng như người dân Trung Quốc ở nội địa như một nhà lãnh đạo toàn cầu với vai trò ngang hàng với Tổng thống Trump của Hoa Kỳ. Trong phái đoàn ngoại giao của Bắc Kinh còn có sự hiện diện của bốn ủy viên bộ chính trị của đảng Cộng sản Trung Quốc – một sự kiện khá hiếm hoi tại một cuộc họp thượng đỉnh ở Mỹ. Ðiều này cho thấy Bắc Kinh đặt nặng tầm quan trọng của chuyến viếng thăm này.

Tuy nhiên, cuộc họp được đánh giá từ trước là rất quan trọng này đã bị lu mờ trước sự kiện Hoa Kỳ tấn công Syria bằng việc cho phóng đi 59 hỏa tiễn Tomahawk từ các khu trục hạm đậu ngoài khơi Ðịa Trung Hải nhắm vào mục tiêu là một phi trường quân sự của Syria, bị cáo buộc là nơi cất cánh của những máy bay quân sự trong vụ đánh bom vũ khí hoá học tại thành phố Idlib nằm ở phía tây bắc Syria chỉ mấy ngày trước đó làm ít nhất 86 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em.

UserPostedImage


Hỏa tiễn Tomahawk phóng đi từ khu trục hạm – nguồn longroom.com


Cuộc tấn công Syria đã làm đảo lộn mọi kế hoạch của Bắc Kinh và đặt họ Tập vào một tình thế khó xử vì Trung Quốc vẫn thường đứng về phía Nga để bênh vực cho Bashar al Assad, Tổng thống Syria, và nó còn cho Trump có tiếng nói mạnh hơn trong việc áp lực Trung Quốc phải quyết tâm hơn nữa trong việc giải quyết vấn đề Bắc Hàn. Chính phủ Trump đã từng cảnh cáo rằng Hoa Kỳ có thể sẽ tấn công Bắc Hàn trước nếu như Bắc Kinh không chịu làm gì cả. Chắc hẳn phía Trung Quốc đã coi lời cảnh cáo này không chỉ là những lời nói suông sau vụ tấn công Syria vừa qua.

Theo các nhà phân tích thì Bắc Kinh từ lâu vẫn tin tưởng là Hoa Kỳ sẽ không dám liều mạng tấn công Bắc Hàn, được cho là mục tiêu nguy hiểm hơn Syria vì Bắc Hàn có thể có vũ khí nguyên tử và có khả năng bắn tới Nhật Bản và Nam Hàn, hai đồng minh quan trọng của Mỹ. Tuy nhiên, lãnh đạo của Trung Quốc đến nay có lẽ vẫn còn đang cố tìm hiểu về con người của Donald Trump, và với một quyết định chớp nhoáng của Trump để tấn công Syria có thể buộc phía Trung Quốc phải xem xét lại giả thiết trên.

Nhưng cùng lúc, chắc hẳn Trung Quốc cũng sẽ không thể bỏ rơi Bắc Hàn như một đồng minh và là món hàng chiến lược vì Bắc Kinh không muốn thấy một bán đảo Triều Tiên thống nhất với lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trấn giữ ngay sát nách họ.

Một điều rõ ràng là vụ tấn công Syria chắc chắn đã được Tổng thống Trump quyết định từ trước khi máy bay của Tập đáp xuống Florida và kế hoạch tấn công được cho là đã có sẵn từ năm 2013 sau một vụ tấn công sử dụng hơi độc khác của chính quyền al Assad đã làm khoảng 1,500 thường dân thiệt mạng, nhưng đã bị Barack Obama ra lệnh bỏ mặc dù hành động của al Assad đã vượt qua “làn ranh đỏ” mà ông Obama đã cảnh cáo trước đó và quyết định tìm một giải pháp ngoại giao an toàn hơn.

UserPostedImage


Tomahawk phá hủy phi trường quân sự al-Shayrat của Syria – nguồn dailymail.co.uk


Trong vụ Syria, chính phủ Trump có thể chờ phái đoàn của Tập đi về rồi mới tấn công cũng được nhưng đã chọn đúng vào ngày đầu tiên khi Tập vừa mới đến Mỹ. Phải chăng vụ tấn công Syria cũng nằm trong một phần kế hoạch của cuộc họp thượng đỉnh của phía Mỹ?

Trong buổi tối đầu tiên gặp gỡ giữa Tập và Trump đã được truyền hình nhà nước Trung Quốc nhận định là thân mật và cởi mở, cho phát đi những hình ảnh hào nhoáng của hai nhà lãnh đạo trong buổi trò chuyện không chính thức trong căn phòng khách tráng lệ tại Mar-a-Lago.

Chương trình tin tức Trung Quốc cũng cho phát đi hình ảnh của hai nhà lãnh đạo ngồi cạnh nhau tại một bàn ăn lớn trong buổi yến tiệc, và cô cháu ngoại 5 tuổi của ông Trump là Arabella đã hát bằng tiếng Quan Thoại cho Tập và phu nhân Bành Lệ Viện nghe trước khi buổi tiệc bắt đầu.

Bản tin còn nói rõ là cô cháu ngoại này trình diễn bao gồm ba phần: hát một bài dân ca Trung Hoa có tựa đề “Mạt lài hoa” (hoa lài), và đọc một bài tập đọc trong Tam tự kinh và mấy câu thơ Ðường.

Trong khi đó cơ quan thông tấn Tân hoa xã đưa một bản tin cho biết ông Trump đã nhận lời mời của ông Tập để thăm viếng Trung Quốc trong “một ngày rất gần” – một dấu hiệu cho thấy nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn phô bày ra cho người dân trong nước chứng kiến được thành quả về mối quan hệ mà Chủ tịch Tập đã thiết lập được với chính phủ Hoa Kỳ và qua đó tạo thêm quyền lực để Tập chuẩn bị cho đại hội đảng diễn ra vào cuối năm nay.

Ngay sau buổi yến tiệc, khi Tập Cận Bình đã trở về một khách sạn gần đó để nghỉ ngơi, ông Trump đã bước lên bục và tuyên bố cuộc tấn công, cùng với những lời lẽ đầy cảm xúc khi mô tả về những hình ảnh trẻ em vô tội bị giết hại bởi vũ khí hoá học của chính quyền Syria.

Trong cuộc họp báo vào trưa hôm sau, Ngoại trưởng Rex Tillerson cho biết ông Trump đã thông báo cho Tập biết về cuộc tấn công trong khi hai người đang ăn tối.

Sự kiện về vụ tấn công Syria của Hoa Kỳ đã làm phái đoàn Trung Quốc lúng túng không ít. Thế nên qua ngày Thứ Sáu, khi các buổi thảo luận quan trọng về những vấn đề chính giữa hai nước đã bị các cơ quan truyền thông nhà nước hầu như làm ngơ không nhắc đến. Không một bức hình nào của Tập tại buổi thảo luận được cho đăng tải. Những thảo luận về cuộc họp thượng đỉnh trên các trang mạng xã hội ở trong nước đã bị ngăn chặn và kiểm duyệt.

Một vài suy đoán cho rằng lý do mà các giới chức thẩm quyền của Trung Quốc có trách nhiệm giám sát các cơ quan truyền thông trong nước đã phải dè dặt hơn trong việc loan tin trong ngày thứ nhì của cuộc họp thượng đỉnh vì họ lo ngại Tập Cận Bình có thể bị bẽ mặt nếu như Trump nói mạnh với ông ta về vấn đề Bắc Hàn. Họ sợ Tập không tỏ ra cương quyết và cứng rắn về vấn đề trên như ông ta vẫn thường được bộ máy tuyên truyền của nhà nước tô vẽ từ bấy lâu nay và chắc chắn là không muốn người dân Trung Quốc nhìn thấy những hình ảnh yếu thế đó.

Do đó, chuyến công du đáng lẽ ra là rất quan trọng của Tập Cận Bình, có thể nói là thất bại – truyền thông nhà nước nói tới rất sơ sài và truyền thông quốc tế thì chỉ thích nói về một sự kiện nóng hổi hơn: cuộc tấn công Syria.

VH

Edited by user Tuesday, April 18, 2017 8:22:19 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#7370 Posted : Wednesday, April 19, 2017 12:29:09 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)

Linh Mục Cao Văn Luận Và Lý Tưởng “Lương Sư Hưng Quốc”
Trong Đạo Kẻ Sĩ


Nguyễn Đức Cung
4/17/2017

UserPostedImage

Linh Mục Cao Văn Luận (1908-1986) Và Lý Tưởng “Lương Sư Hưng Quốc” Trong Đạo Kẻ Sĩ


Nhìn vào lịch sử Việt Nam, Nghệ Tĩnh (cũng có khi gọi là An-Tĩnh, theo các tư liệu của Tạp chí Bulletin Des Amis Du Vieux Hué viết tắt BAVH) là một kết hợp của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nói chung là đất của văn hóa và lò lửa của cách mạng, nhất là trong thế kỷ XX. Những con người xuất thân từ vùng đất này sở dĩ nổi tiếng là vì một nguyên tắc phong thủy bất di bất dịch đó là “địa linh” tất phải sinh “nhân kiệt”. Ngày nay vấn đề đô thị hóa tại Việt Nam có thể đã ảnh hưởng phần nào về địa mạch, long mạch, thế đất nên nguyên tắc phong thủy này có thể đã biến dạng hay suy giảm phần nào, tuy nhiên khi đề cập tới một nhân vật khá nổi tiếng của Hà Tĩnh, Linh Mục Cao Văn Luận (1908-1986), Viện Trưởng Viện Đại Học Huế (1957-1964), thiết tưởng không thể không đề cập đến quê hương Hà Tĩnh của Ngài, một vùng đất mà cụ Tôn Thất Đàn khi làm Thượng Thư Bộ Hình, năm 1930, trong quyết tâm tiêu diệt cái gọi là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh của đảng Cộng Sản Đông Dương, đã nói: “Hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” 有 乂 静 不 富 , 無 乂 静 不 貧. Dĩ nhiên ngày nay quan điểm nặng phần tiêu cực đó không thể được chấp nhận và sự nghiệp của một con người không thể tách ra khỏi phần lịch sử chung của một địa phương.

1.- Từ bối cảnh không gian văn hóa của một vùng đất địa linh…

Trong bài diễn văn Bergson (1859-1941), triết gia người Pháp, được giải Nobel 1927, đọc tại Đại học đường Birmingham ở Anh ngày 29 tháng 5 năm 1911, và về sau đã xuất bản với mấy bài khác trong quyển Năng lực tinh thần, đã được Linh-mục CAO VĂN LUẬN dịch ra Việt ngữ, bài Ý thức và sự sống, có nêu lên câu hỏi và tự trả lời: “Chúng ta thường căn-cứ vào dấu hiệu nào để nhận biết một người hoạt-động, người đã để lại dấu vết mình trên những biến-cố mà hoàn-cảnh đã làm cho nó xen vào?Há chẳng phải là căn-cứ vào sự người ấy đã bao quát được một khoảng thời gian kế tiếp khá dài trong một cái nhìn chớp nhoáng? Quãng quá-khứ bao hàm trong hiện-tại của người ấy càng lớn, thì cái trọng-khối người ấy đẩy vào tương-lai để thúc-bách các biến-cố lâm-thời đang được chuẩn-bị, lại càng mạnh: hành-động của người ấy giống như một cái tên, quan-niệm về hành-động ấy càng được kéo căng ra về phía sau, thì nó càng được bắn mạnh về phía trước.” (Tạp chí ĐẠI HỌC số 1, năm thứ IV. Tháng 2-1961, trang 169). Tư tưởng triết lý này xem ra khá thích hợp khi được sử dụng làm tiêu chuẩn để khám phá lại phần nào của cuộc đời một nhân vật đã cống hiến những gì là phần tinh hoa nhất của mình cho đất nước.

Thêm nữa, Hippolite Taine (1828-1893), một triết gia, sử gia và là một nhà phê bình Pháp nổi tiếng đã từng nghĩ rằng có thể cắt nghĩa con người bằng những phương pháp khoa học. Theo ông thì những con người thần tài, bất cứ thi sĩ hay chính khách đều được cấu tạo nên bởi những yếu tố như dòng giống, thời thế và hoàn cảnh xã hội (la race, le temps, le milieu). Mà bởi vì những người thần tài đó tạo nên lịch sử, nên lịch sử phải được giải thích theo những yếu tố đó. (Nguyễn Phương, Phương pháp sử học, Phòng Nghiên cứu sử Viện Đại Học Huế xuất bản, 1964, trang 158).

Ý kiến của Henri Bergson được trích dẫn vắn gọn trong bài diễn văn nêu trên cùng với quan điểm của H.Taine xuất phát từ cảm giác say sưa với bầu khí khoa học của hạ bán thế kỷ 19 ở Âu châu cũng có thể trùm phủ lên quan điểm Đông phương vừa nêu ra ở phần dẫn nhập của bài viết này, có thể cung ứng cho chúng ta một số tiêu chuẩn để tìm hiểu con người và phong cách xử trí công việc của Linh mục Cao Văn Luận, người thầy kính yêu của chúng ta.

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn, ở mục Đạo Hà Tĩnh, có viết đại cương về cảnh quan địa lý và nhân sinh phong thổ của Hà Tĩnh, vốn là quê hương của Linh Mục Cao Văn Luận, như sau: “Ruộng đất phần nhiều rắn xấu, ít bằng phẳng; ruộng núi thì cao khô mà nước khe không tưới được mấy; ruộng gần biển thì thường bị nước mặn, có đắp đập ngăn cũng khó thành công, vì thế nhân dân yên phận nghèo nàn mà chuộng cần kiệm. Đồng nội phần nhiều trồng khoai củ làm lương ăn, dầu gặp năm mất mùa đói kém mà dân không đến nỗi phải phiêu lưu.” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 2, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997, trang 88). Câu chuyện “cá gỗ” được truyền miệng trong dân gian theo lời kể của các cụ ngày trước kể lại nói lên tinh thần chịu khó học hành, khắc phục gian khổ, thiếu thốn của người trí thức Nghệ Tĩnh Bình. Các cụ kể rằng: “Khi thi Hội, phải vào Kinh, tức là Huế, mang theo lều chõng lỉnh kỉnh, đi bộ hết mấy tháng trời, các anh học trò nghèo mỗi lần vào quán nghỉ chân, chỉ dùng độc vị cơm muối vừng (mè). Nhiều khi vì đi đường xa, quá mệt mõi không sao nuốt cơm xuống, nên lấy trong bị ra một con cá óng ánh màu vàng như đã rán (chiên) chín, đặt vào cái đĩa vừa ngắm nghía, vừa ăn ngon lành. Dù vậy có khi vì mệt quá, nuốt cơm không được, bèn đổi món ăn bằng cách kiếm chút nước mắm ruới lên con cá ấy và thêm vài lát ớt, món ăn càng trở nên hấp dẫn, cơm lại thiếu mất! Con cá ấy chính là con “Cá Gỗ” đã được khắc chạm tỉ mỉ, lại còn cẩn thận bôi nghệ vàng chói, xem rất đẹp. Sau khi ăn cơm xong, lấy cá rửa sạch cất vào bị, để khi khác dùng. Nhiều bạn đồng liêu ở các nơi tò mò nhìn thấy cảnh tình ấy cũng nực cười và cho là hữu lý, muốn học đòi, nhưng không được, vì thiếu ý chí, thiếu cần cù và kiên nhẫn. Thành ra anh học trò xứ Nghệ độc quyền món ăn ấy! Mãi về sau hễ gặp dân Nghệ Tĩnh, thì cứ bảo là “Dân Cá Gỗ”. (Hồ Đức Hân, Lược sử Giáo Phận Vinh, Nhóm thân hữu Nghệ Tĩnh Bình phát hành, 1989, trang 31).

Linh mục Phaolô Cao Văn Luận sinh năm 1908, quê quán xã Đông Tràng thuộc Thọ Ninh, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1908 là thời điểm quan trọng trong lịch sử Việt Nam vì đó là năm xảy ra một biến cố quan trọng mà các nhà sử học gọi là “Trung Kỳ Dân Biến” hay Loạn đồng bào hay đầu bào tức là việc nông dân cùng rất nhiều thành phần khác xuống đường xin giảm sưu thuế khởi đi từ huyện Đại Lộc (Quảng Nam) rồi lan ra ngoài tới Nghệ An và trong tới Bình Thuận. Tinh thần đấu tranh của những vùng đất Miền Trung trong đó có Hà Tĩnh không thể nào không ảnh hưởng đến một nhân vật mà sau này có những hoạt động trong lãnh vực văn hóa, chính trị, tôn giáo ghi những dấu ấn cụ thể để lại cho nhiều người biết tới.

Xét về phương diện địa lý, quê quán Đông Tràng của Linh mục Cao Văn Luận chịu ảnh hưởng “của sông La Giang ở Hà Tĩnh, quen gọi là sông Cái, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn nước chảy yếu hơn, chỉ tạo được các bãi nhỏ ở Voi Bổ hoặc ở Ngàn Trươi và bồi đắp cho một số làng ở ven sông, nhưng có nơi đất đai lại bị nước xói lở cuốn trôi mất. Những cánh đồng ở sát bờ sông rất lợi hại là như thế. Những vùng có ảnh hưởng bởi giòng sông này: Đông Tràng, Thọ Ninh, Nghĩa Yên, Kẻ Tùng, Láng Ngạn… Các vùng Nam Đàn, Đức Thọ vì nằm sát bờ sông Lam và sông La rất thích hợp cho nghề trồng mía.” (Hồ Đức Hân, Sách đã dẫn, trang 28).

Về thổ ngữ, theo nhận xét chung của nhiều người trong đó có tác giả Hồ Đức Hân, “Hoan Châu (tức Nghệ Tĩnh) lại có vẻ độc đáo về danh từ ngôn ngữ qua văn chương thi phú. Nhất là ở nông thôn càng được truyền tụng nhiều hơn thành thị. Thường họ dùng những danh từ hóm hĩnh, sâu sắc, châm biếm, linh động và đặc biệt nhà quê. Nhưng khi nào cũng nhằm mục đích uốn nắn rèn đúc con người sống theo nề nếp cha ông và giữ phong cách đạo lý cổ truyền. Nhiều bà ở nông thôn hễ mở miệng nói là dùng ca dao tục ngữ. Điều đó chứng tỏ Nghệ Tĩnh Bình có một nền văn hóa cổ kính đã ăn sâu vào tiềm thức con người. Thật là một điểm độc đáo đáng quý.” (Hồ Đức Hân, Sđd, trang 25).

Trước đây, những ai từng là học trò của Linh mục Cao Văn Luận, những cộng sự viên của Ngài ở các cơ sở văn hóa giáo dục, chắc không thể nào quên giọng nói của Ngài trong các bài diễn văn, diễn từ, lời chỉ thị dặn dò, các buổi trò chuyện riêng tư. Cái cung giọng đó được một tác giả xuất thân từ Nghệ Tĩnh ghi lại tổng quát như sau: “Ngôn ngữ gồm cung giọng và tiếng nói. Vì là ở miền Trung, cung giọng Nghệ Tĩnh Bình tương tự như Quảng Trị, Huế: Không nhẹ nhàng, không lên bổng xuống trầm, nhưng cũng không nặng chịch như một đôi người nghĩ, và khi muốn nhại tiếng Nghệ Tĩnh Bình thì toàn bỏ dấu nặng. Ở Bắc, cung giọng miền biển nặng hơn cung giọng miền trung châu nhiều. Nhưng ở Nghệ Tĩnh Bình, cung giọng miền biển xem như không khác nhiều lắm đối với cung giọng trung châu, nhưng họ thường nói rất lớn. Có lẽ vì quen nói lớn để làm lấn át tiếng sóng gió từ ngoài khơi vỗ vào bờ, nên mới có câu: Ăn sóng nói gió! Ở Nghệ Tĩnh Bình có mấy loại giọng nói khác nhau, nhưng theo phong tục, họ không thích kẻ khác nhại tiếng nói của mình.” (Hồ Đức Hân, Sđd, trang 20).

2.- Đến bầu khí đạo hạnh của một dòng tộc Công Giáo trí thức nở rộ hoa viên mãn nơi xứ lạ.

Trong cuốn Từ điển Nhân vật Xứ Nghệ của Ninh Viết Giao có ghi Linh mục Cao Văn Luận quê xã Sơn Mỹ, huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ An, rõ ràng là có sự sai lầm vì huyện Hương Sơn vốn thuộc đất Hà Tĩnh. Còn cái tên Sơn Mỹ không biết ngày nay có phải là tên hành chánh của giáo xứ Đông Tràng ngày trước hay không? (Ninh Viết Giao & Hội Văn nghệ Dân gian Nghệ An, Từ điển Nhân vật Xứ Nghệ, Nhà xb Tổng Hợp TPHCM, 2006, trang 114).

Như đã nói ở trên, linh mục Cao Văn Luận sinh năm 1908, quê quán xã Đông Tràng, thuộc Thọ Ninh, tỉnh Hà Tĩnh. Trong tài liệu của Hồ Đức Hân, xã Đông Tràng thuộc Hạt Nghĩa Yên gồm các xứ: Nghĩa Yên, Thọ Ninh, Đông Tràng, Kẻ Mui, Kẻ Đọng, Đông Cường, Cam Lâm, Tràng Đình. (Hồ Đức Hân, Sđd, trang 64). Xứ là xứ đạo hay giáo xứ; Hạt gồm nhiều giáo xứ hay cũng gọi Giáo hạt. Vị linh mục đứng đầu Giáo hạt thì gọi là Hạt trưởng. Tác giả kê đầy đủ các xứ đạo trong Giáo phận Vinh gồm 14 Hạt và cho biết vì viết bằng trí nhớ nên có thể sai một vài chi tiết.

Trong cuốn Lịch sử Giáo phận Vinh, Linh mục Cao Hữu Phan đã cung cấp một bài thơ lục bát gồm 135 tên xứ trong đó có kể đến xứ Đông Tràng như sau:

Đông Tràng, Nhượng Bạn, Làng Truông
Kẻ Mui, Kẻ Đọng, Đồng Cường, Tam Đa

(L.M. JBT. Cao Hữu Phan, Lịch sử Giáo phận Vinh, 1996, trang 466)

Giáo xứ Đông Tràng được thành lập năm 1888, dưới thời Đức Cha Pineau Trị với con số giáo dân ghi nhận trước ngày 30-4-1975 là 1404 người. Đây là thời mà Giáo phận Vinh được hoàn toàn yên ổn, cảnh lương giáo không còn tương tàn nữa.

Theo Linh mục Cao Hữu Phan thì nguyên gốc đời ông nội, bà nội ở giáo xứ Thọ Ninh, hạt Nghĩa-Yên, tỉnh Hà-Tĩnh. Đến đời cha thì di cư lên lập nghiệp ở giáo xứ Đông Tràng. Ông nội của Ngài là anh ruột của linh mục Phêrô Cao Văn Phong (1838-1904). Thân sinh là cụ Cao Văn Trí, em ruột linh mục Phêrô Cao Thiên Đạt (1850-1931) du học Pénang, nổi tiếng thông minh.

Cũng theo Linh mục Cao Hữu Phan, lúc thiếu thời cậu Luận ở với cha già Lê Văn Minh tại xứ Đông Tràng, sau một năm được gửi ra ở với cha Cao Thiên Đạt bị mù, hưu dưỡng ở Xã Đoài (về sau chết tại Hà Tĩnh).

Năm 1922, cậu Cao Văn Luận nhập Tiểu chủng viện Xã Đoài (giáo phận Vinh) dưới thời Thừa-sai Le Gouriérec làm Giám-Đốc. Năm 1928, qua sáu năm học hành xuất sắc, đến hạn đi giúp xứ. Nhưng may mắn ngài không phải đi, vì theo chương trình cải tổ Chủng Viện, Thừa-Sai Văn can thiệp được với Đức Cha Bắc (Eloy) cho hai người tên là Cao Văn Luận và Trương Cao Khẩn đi học ở Pellerin Huế. Về sau có thêm một số thầy cùng đi và sau trở thành linh mục, đó là các cha Trần Văn Sáng, Vũ Minh Khiêm và Bùi Đình Đề. Qua năm 1933, cả hai tốt nghiệp ban Thành chung, rồi tiếp nhập vào Đại Chủng Viện Xuân-Bích Hà Nội. Trong thời gian học tại đây, ngài dọn hai chương trình đạo đời cùng một lúc và đến cuối năm 1935, ngài đậu Tú Tài II. Theo phong tục thời đó, đáng lẽ ngài phải làm lễ vinh qui bái tổ, nhưng ngài không chịu cho ai tổ chức gì. Đến ngày 8.6.1939, ngài và thầy Trương Cao Khẩn cùng thụ phong linh mục.

Cũng năm 1939, theo LM Cao Hữu Phan, nhờ nhà nước Bảo hộ thay đổi chính sách kỳ thị giáo sĩ nên Giáo phận Vinh được ưu tiên một học bổng du học Pháp. Bề trên Giáo phận đã dành cho Linh mục Cao Văn Luận học bổng này và ngài ghi danh vào học ở Sorbonne, theo khoa Triết và Văn chương, trọ ở Institut Catholique. Năm 1942 ngài đậu Cử nhân Triết học và Văn chương. Từ năm 1942-1943, ngài chuẩn bị gia nhập Hội dòng Xuân Bích, nhưng rồi bất thành.

Qua năm 1944 ngài ghi danh làm luận án Tiến sĩ và theo học trường Sinh ngữ Á châu ở Paris, tốt nghiệp năm 1945. Cách mạng tháng 8 năm 1945 bùng nổ và ngài bỏ luôn việc làm luận án Tiến sĩ. (LM Cao Hữu Phan, Lịch sử Giáo phận Vinh, từ trang 420-421 và Lê Ngọc Bích, Nhân vật Giáo phận Huế, từ trang 389-390).

3.- Những sinh hoạt và tiếp xúc với các chính trị gia, lãnh đạo tôn giáo ở hải ngoại.

Năm 1971, Linh mục Cao Văn Luận cho xuất bản cuốn hồi ký được quảng cáo mà theo ý ngài là hơi khoe khoang “Hồi ký lột mặt nạ lịch sử” trên báo chí lúc bấy giờ, nên sau đó đổi là “Bên Giòng Lịch Sử, hồi ký 1940-1965”, phát hành tại Miền Nam Việt Nam và được đánh giá là một tập hồi ký giá trị.

Qua hồi ký đó trước hết phải ghi nhận rằng Linh mục Cao Văn Luận là người có lập trường quốc gia chân chính. Tại Pháp, ngài sống liên hệ mật thiết với các tổ chức sinh viên VN và Việt kiều, thành lập Hội Liên hiệp những người Đông Dương (Fédération Des Indochinois de France) với chủ tịch đầu tiên là Trần Hữu Phương và các hội viên sáng lập như Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông, hai anh em Hoàng Xuân Mãn, Hoàng Xuân Nhị (em Hoàng Xuân Hãn). Ngài tiếp xúc với Đại Tá Paul Arnoux từng làm chánh mật thám tại Đông Dương. Sau khi hội này tan rã, ngài lập Hội Những Người Công Giáo Việt Nam tại Pháp (Association des catholiques Vietnamiens de France). Các lãnh tụ của hội mới này cũng bị bắt trong đó có Nguyễn Hy Hiền (em Linh mục Nguyễn Văn Thích ở Huế). Theo linh mục Cao Văn Luận, người Công Giáo VN có thể không chấp nhận chủ nghĩa CS nhưng lại ở cái thế bắt buộc phải ủng hộ việc đòi hỏi độc lập cho đất nước. Ngài cũng hy vọng chút ít ở bài diễn văn của De Gaulle đọc tại Brazzaville ngày 30-1-1944 trong đó có những đoạn hứa hẹn để các dân tộc tại các lãnh thổ thuộc địa tiến bộ dần đến có thể tự quản trị.

Ở Paris cũng có Linh mục Trần Thanh Giản, gốc làng Phú Ninh, Đồng Hới, trở lại Công Giáo và đi tu làm linh mục, qua Pháp rất sớm và lo cho sinh viên VN du học ở đây. Ngài là người thành lập Giáo xứ Việt Nam và mới chết cách đây vài năm.

a) Cuộc hội kiến hi hữu giữa Linh mục Cao Văn Luận với Cựu Hoàng Duy Tân.

Khi nói về cuộc gặp gỡ này thiết tưởng cũng nên nhắc lại đôi điều về Cựu Hoàng Duy Tân. Vua Duy Tân sinh ngày 19.9.1900, con vua Thành Thái. Là người có khí tiết từ nhỏ lúc mới lên ngôi, vua Duy Tân không ưa người Pháp. Nhiều giai thoại về vị vua này phổ biến bên ngoài khiến ông được sự cảm mến, kính trọng của nhân dân. Thí dụ có hôm ngồi câu cá ở Cửa Tùng, Quảng Trị, vua Duy Tân có đọc một câu: “Ngồi trên nước không ngăn được nước, Chót buông cần phải lỡ vì câu.” Một lần khác, thấy tay vua nhơ, một vị quan múc nước cho ngài rửa tay. Vua hỏi: “Tay nhớp lấy nước mà rửa. Nước nhớp lấy chi mà rửa?”. Do sự liên hệ mật thiết với các nhà chí sĩ yêu nước, vua bí mật tán thành cuộc khởi nghĩa năm 1916 của Thái Phiên và Trần Cao Vân. Cuộc khởi nghĩa bất thành, vua bị bắt và ngày 3-11-1916 bị đày sang đảo Réunion. Trong thế chiến 2, ông gia nhập kháng chiến quân Pháp chống lại phe quốc xã Đức. Ông là hội viên của Hội Tam Điểm và có chút ít giao thiệp với Tướng De Gaulle. Từ năm 1936 đến 1940 nhiều lần ông gửi thư xin phục vụ trong Quân đội Pháp nhưng đều bị Bộ Thuộc Địa Pháp bác đơn vì tờ khai lý lịch bị phê là “…parait difficile à acheter, extrêmement indépendant…, intrigue pour quitter la Réunion et rétablissement trône d’Annam.” (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam). (Lâm Lễ Trinh,Việt Nam trong thế bí: De Gaulle và vua Duy Tân qua những tiết lộ của Hoàng tử Vĩnh San, Tạp chí Định Hướng, số 43- Mùa Hè 2005, trang 54 ). Trong tập Hồi ký Chiến tranh, chính Tướng De Gaulle nhận xét vắn gọn về vua Duy Tân: “… Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam.” (Lâm Lễ Trinh, bài đã dẫn, trang 46).

Lần thứ nhất vào mùa đông 1944, Cựu Hoàng Duy Tân, trong bộ quân phục của Pháp với cấp bậc chuẩn úy đã tìm tới gặp Linh mục Cao Văn Luận tại nhà riêng, cho biết ông muốn trở lại hoạt động chính trị nhưng chưa bộc lộ hẳn theo chiều hướng nào. Cựu hoàng cho biết ông gia nhập lực lượng kháng chiến chống quốc xã Đức và Pháp đưa ông đến Madagascar. Ông nói: “Tôi được mang cấp bậc chuẩn úy, như ngài thấy. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta giúp nước Pháp trong hoạn nạn, hay ít ra tỏ lòng hào hiệp với nước Pháp trong lúc đó, thì có thể gây cho họ sự kính nể đối với ta về sau họ phải nghĩ lại nhiều hơn khi tái chiếm Đông Pháp.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 34). Cựu hoàng nhờ linh mục thu xếp để được gặp sinh viên và Việt kiều trong một cuộc tiếp tân tổ chức sau đó chừng một tuần.

Trong lần gặp thứ hai này, Cựu hoàng Duy Tân tới thăm với vẻ mặt trầm ngâm xen vẻ băn khoăn. Qua câu chuyện, khi có người đặt vấn đề hợp tác với Pháp cũng được nhưng hợp tác như thế nào? theo cương vị nào? Cựu hoàng Duy Tân trả lời: “Người Pháp đang cần sự hợp tác của chúng ta để tái chiếm Đông Pháp. Họ có thể chấp nhận cho ta thành một quốc gia tự trị trong Liên hiệp Pháp. Thiết tưởng điều đó cũng không trái với quyền lợi quốc gia. Dần dà chúng ta đòi thêm quyền hành về cho chúng ta. Trước binh lực hùng hậu của Pháp, và hậu thuẫn của đồng minh Tây phương, chúng ta biết làm gì hơn? Chống Pháp. Chúng ta đã thấy những tấm gương chống Pháp, và tôi đây là nạn nhân của một lối chống Pháp nóng nảy vụng về. Rồi đất nước chúng ta sẽ phải chịu một cảnh chiến tranh tàn khốc mà kết quả chưa biết là thắng hay bại.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 41-42).

Khoảng hơn hai tuần sau, có lẽ vào cuối năm 1944, vua Duy Tân trở lại gặp Linh mục Cao Văn Luận và các anh em Việt kiều, sinh viên. Cuốn hồi ký cho biết: “Lần này tôi thấy ông thay đổi nhiều. Trước hết là y phục. Ông mặc quân phục sang trọng đúng một loại áo thẳng nếp và lại là loại quân phục dạo phố. Ở cầu vai ông mang cấp hiệu Đại-Tá bộ binh Pháp. Tôi linh cảm như có một sự thay đổi quan trọng hơn ở vua Duy Tân, trọng đại gấp mấy lần sự thay đổi hình thức y phục.”

Tác giả “Bên Giòng Lịch Sử” viết tiếp: “ Vua Duy Tân cho biết rằng, ông được người Pháp giúp đỡ thành lập một đạo quân toàn người Việt Nam, với mục đích sẽ đi tiền phong trong cuộc hành quân tái chiếm Đông Pháp. Hiện nay đạo quân này do ông cầm đầu, và tuyển mộ được một tiểu đoàn. Tiểu đoàn này được đem sang đóng ở Constance, bên Đức. Phần lớn quân số tiểu đoàn này là những lính thợ, lính khố đỏ, và một ít người Việt gia nhập kháng chiến ở Madagascar và các thuộc địa khác.”

Linh mục Cao Văn Luận nói rõ suy nghĩ của mình: “Tôi bắt đầu thấy rõ mưu mô của người Pháp. Họ muốn dùng vua Duy Tân như một lá bài. Chính vua Duy Tân biết điều đó, nhưng lại chấp thuận hợp tác với người Pháp.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 43)

Vua Duy Tân đề xướng ra phong trào Cờ Tự Trị, dự định tổ chức các Việt kiều ở Pháp thiện cảm với ông thành môt đảng. Linh mục Cao Văn Luận từ đó không tiếp xúc với vua Duy Tân nữa. Ít lâu sau nghe nói vua Duy Tân tử nạn máy bay khi sang Algérie thăm vua Hàm Nghi. Vua Duy Tân hưởng dương 45 tuổi và ngày 2-4-1987, hài cốt ông được đưa từ đảo Réunion về Huế, cải táng tại An-lăng, Huế bên cạnh vua cha là Thành Thái.

Lúc này khuôn mặt một minh chủ rất cần thiết, đó là điều dĩ nhiên nhưng ai sẽ là minh chủ xứng đáng để qui tụ quần thần, tả hữu, toàn dân. Đó là vấn nạn bắt đầu xuất hiện trong đầu Linh mục Cao Văn Luận. Cũng lúc này, qua hồi ký (trang 47) linh mục cho biết “Tôi chưa có một dự tính nào về một vai trò cho mình trong lịch sử Việt Nam, hay cạnh những người có hy vọng làm lịch sử Việt Nam”.

Tháng giêng năm 1946, De Gaulle rút lui và Bidault thuộc Mouvement Républicain Populaire (MRP – Phong Trào Cộng Hòa Bình Dân) lên làm Thủ tướng Pháp chủ trương chiếm lại xứ Đông Pháp bằng mọi giá. Trước những khó khăn sắp xảy tới, Linh mục Cao Văn Luận tỏ ra sáng suốt là khuyên các sinh viên VN và Việt kiều nên tập họp nhau lại trong một đoàn thể có tổ chức, có sinh hoạt và sau đó Hội Fédération Des Indochinois De France được thành lập với Bửu Hội làm chủ tịch, Trần Hữu Phương tổng thư ký.

b) Các cuộc gặp gỡ với Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc đời đã đưa đẩy linh mục Cao Văn Luận gặp nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử và đây là ba lần Linh mục Cao Văn Luận đã trực tiếp gặp Hồ Chí Minh.

Lần thứ nhất tại Pháp, khi Hồ Chí Minh từ Biarritz đến phi trường Bourget vào sáng 22-6-1946 thì Nguyễn Mạnh Hà trước đó đã cho linh mục biết Việt Minh đang có chủ trương đòi tách rời Giáo Hội Việt Nam ra khỏi Tòa thánh Vatican. Trong buổi gặp lần thứ nhất tại Hôtel Royal, Hồ Chí Minh gợi ý cho Linh mục Cao Văn Luận là các linh mục trẻ như linh mục phải cùng với chính phủ ta, tranh đấu đòi lại quyền tự trị cho các địa phận đạo ở Việt Nam. Linh mục Cao Văn Luận, minh nhiên đứng về lập trường chân chính của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, đã trả lời điềm này như sau:

-Thưa cụ chủ tịch, đây là điều tôi muốn thưa với cụ Chủ tịch hôm nay, tôi có nghe ở bên nước nhà có phong trào đòi lập Giáo Hội tự trị. Thưa cụ, những người Công Giáo Việt Nam chúng tôi cũng muốn tự lập theo một nghĩa nào đó. Chúng tôi đều mong cho các địa phận Việt Nam có đầy đủ những giám mục đều là người Việt Nam. Đó cũng là đường lối mà Vatican luôn luôn chủ trương là theo đuổi. Thưa cụ chúng tôi không thấy có gì phải phản đối, nếu những người Công Giáo Việt Nam muốn tự đảm nhiệm lấy sự cai quản việc đạo trong nước mình. Nhưng thưa cụ, tôi thiết nghĩ cách tiến đến sự tự lập cho Giáo Hội Việt Nam phải được suy xét và thực hiện đúng cách.

Rồi ngài gợi ý Hồ Chí Minh nên đến Rôma xin yết kiến Đức Giáo Hoàng đề nghị Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm thêm các Giám mục VN để cai quản các địa phận VN. Hồ Chí Minh có vẻ không bằng lòng và trả lời “Đó không phải là việc chính phủ”.

Cũng lần này Hồ Chí Minh lại đưa ra ý kiến làm sao cho các giáo dân Việt Nam đừng đi cầu kinh với các cố đạo Pháp vì làm như vậy thì có vẻ còn nô lệ Pháp.

Linh mục Cao Văn Luận trả lời: “Thưa cụ Chủ tịch, người Công Giáo đi cầu nguyện ở đâu, có ai xướng kinh thì cũng chỉ cầu nguyện với Chúa chớ không hề có chuyện cầu nguyện với người Pháp. Vả lại theo tinh thần Công Giáo, thì chúng tôi coi mọi người giống nhau, các linh mục ngoại quốc, hay linh mục Việt Nam về phần đạo không có gì đặc biệt cả. Nếu chúng tôi còn phân biệt người Pháp với người Việt trong việc đạo, thì Tòa thánh sẽ cho rằng người Công Giáo Việt Nam còn ấu trĩ, thiếu kỷ luật đạo, và sẽ không thể xúc tiến việc trao quyền cai quản các địa phận và các họ đạo cho các giám mục và các linh mục Việt-Nam được” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 81)

Khi Hồ Chí Minh hỏi như vậy không phải ông ta không biết rõ là người Công Giáo phải đọc kinh cầu nguyện với Chúa và trung thành với Tòa Thánh Vatican, nhưng ý ông ta là muốn lung lạc tinh thần Linh mục Cao Văn Luận, và nếu Cha Luận không cứng rắn thì sẵn đà Hồ sẽ tiến tới luôn, nhưng khi Hồ nhận thấy đề tài này có thể gây rắc rối nên vội lánh sang chuyện khác. Chính sách tự trị tôn giáo trong câu hỏi thứ nhất của họ Hồ cũng là sự rập khuôn chính sách quốc tế của người Cộng Sản từ Liên Xô qua Trung Quốc đối với tôn giáo, thấy rõ nhất sau khi Mao Trạch Đông chiếm Hoa Lục năm 1949.

Lần thứ hai Linh mục Cao Văn Luận gặp Hồ Chí Minh là trong một buổi tiếp tân tại khách sạn Hôtel Royal có lúc còn được gọi là Hôtel Royal-Monceau, khách mời có khoảng 30 người trong đó có cha Nguyễn Văn Lập (sau này là Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt), cha Hoàng Trọng Tiến. Giữa câu chuyện có lúc Hồ Chí Minh nói:

-Chính phủ bên nước nhà đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ độc lập, đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Nhưng muốn đem hạnh phúc cho toàn dân, thì phải thực hiện xã hội chủ nghĩa. Giả sử mà chúa Giêsu sinh ra đời vào thời đại này, trước sự đau khổ của người đời như lúc này, mà Chúa muốn cứu vớt, thì chắc là cũng phải theo xã hội chủ nghĩa. (Bên Giòng Lịch Sử, trang 89)

Linh mục Cao Văn Luận viết tiếp:

“Tôi và các cha mỉm cười vì cái lối so sánh kỳ cục của cụ Hồ, tôi trả lời cụ:

-Thưa cụ Chủ tịch, về việc tranh thủ độc lập, thì mọi người Việt-Nam Công Giáo hay không Công Giáo đều sẵn sàng tham gia. Nhưng về việc thực hiện xã hội chủ nghĩa, thì chúng tôi thiết nghĩ có nhiều người không đồng ý rằng đó là giải pháp duy nhất để đem hạnh phúc lại cho con người.

Cụ Hồ vỗ vai tôi, cười:

-Cha lại tuyên truyền rồi.

Có lẽ lúc đó tôi còn trẻ, nên tôi có hơi long trọng trong câu chuyện một cách quá đáng. Tôi không cười, thưa lại:

-Thưa cụ Chủ tịch, tôi đâu có ý tuyên truyền. Tôi nói ra ai nghe thì nghe, ai không thì thôi, tôi chẳng bao giờ chủ trương bắt những người không nghe theo lời nói của mình vào trại tập trung cả. (Bên Giòng Lịch Sử, trang 90).

Trong lần gặp thứ hai này câu chuyện giữa Hồ Chí Minh với linh mục Cao Văn Luận cũng là sự tương khắc trong vấn đề tôn giáo. Hồ Chí Minh nửa đùa nửa thật khuyên các linh mục có mặt trong buổi tiếp tân: “Các chú còn trẻ và đẹp trai cả sao không chịu lấy vợ đi? Các chú không lấy vợ, xã hội, đất nước thiệt thòi biết bao nhiêu?” Lời khuyến cáo này của họ Hồ không còn nhuốm màu sắc chính trị mà chuyển sang sắc thái xã hội và chút ít nhân bản nhưng linh mục Cao Văn Luận đã cũng dùng giọng bông đùa để trả lời: “Xin lỗi cụ Chủ tịch, thế tại sao cụ không lấy vợ để làm lợi cho xã hội?”.

Ông Hồ đáp: “Tôi độc thân được, nhưng các chú còn trẻ, độc thân sao nổi. Trông thấy hoa, sao khỏi muốn hái được.

-Thưa cụ, bây giờ cụ đã già, nhưng trước kia cụ cũng trẻ như chúng tôi, mà cụ vẫn độc thân được, thì chúng tôi cũng có thể độc thân được: chúng tôi cũng có thể trông thấy hoa mà không muốn hái vì bận theo một lý tưởng khác.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 92).

Trong hai lần gặp gỡ này, rõ ràng Linh mục Cao Văn Luận đã lưu ý Hồ Chí Minh về những điều tinh tế của vấn đề tôn giáo, nhất là của Công Giáo với những lời lẽ bộc trực, đúng đắn mà rất thẳng thắn về cái mà người Cộng Sản coi là thuốc phiện của nhân dân. Cũng may cho Linh mục Cao Văn Luận là lúc bấy giờ Hồ Chí Minh đến nước Pháp trong tư thế hạ phong (1946) chứ nếu như là năm 1954, nghĩa là khi Hồ mới từ chiến khu trở về Hà Nội trong tư thế của kẻ chiến thắng thì chắc chắn linh mục thân yêu của chúng ta cũng đã gặp khó khăn không ít.

Cuốn hồi ký của Linh mục Cao Văn Luận có nói đến cuộc tiếp tân của Hồ Chí Minh vào ngày 25 tháng 6 với người tham dự rất đông gồm các chính khách, trí thức, nhân sĩ, báo giới Pháp bên trong khách sạn. Bên ngoài có khoảng trên ba trăm Việt kiều xen lẫn cán bộ Việt Minh kéo tới hoan hô, ủng hộ. Linh mục Cao Văn Luận mô tả: “Trong buổi tiếp tân này một đảng viên cộng sản Pháp, thuộc hệ phái Trostsky, tức là Đệ tứ Quốc tế, có hỏi trường hợp cái chết của Tạ Thu Thâu. Cụ Hồ làm mặt buồn rầu, thiểu não, đã trả lời rằng: Ông Thâu là một nhà ái quốc lớn, và chúng tôi rất buồn lòng khi hay tin ông mất. Bị hỏi dồn, ai là thủ phạm thủ tiêu ông Thâu, cụ Hồ trả lời gắng gượng: Tất cả những ai đi sai con đường tôi đã vạch, đều phải bị tiêu diệt. Con người cộng sản giáo điều ở cụ Hồ hiện rõ trong câu nói đó, và câu nói tàn bạo đó giải thích được những hành động sau này của chính phủ Việt Minh ở vùng gọi là giải phóng.”

Đây là một phát giác khá quan trọng về thực trạng sắt máu trong chính sách của ông Hồ Chí Minh, hình như cũng được sử gia Pháp Daniel Hémery có mặt trong buổi tiếp kiến đó ghi lại về sau.

Lần gặp gỡ thứ ba với Hồ Chí Minh là tại nhà ông Raymond Aubrac cùng với khá đông Việt kiều. Hồ Chí Minh cho biết một khi thương thuyết không có kết quả thì không còn có cách nào khác là phải đánh. Ông Hồ có nhờ Linh mục Cao Văn Luận viết một lá thư cho các Giám mục VN nhưng ngài tìm cách thoái thác.

Phương cách ứng xử của Linh mục Cao Văn Luận đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh bộc lộ sự thông minh, mẫn tiệp của một nhà trí thức, mẫu hình của một bậc lương sư, ưu tư đối với vận nước và tiền đồ của Giáo Hội Công Giáo Việt nam, không quá khắt khe trong khuôn mẫu tôn giáo, nhưng cũng thẳng thắn trình bày quan điểm của mình trước một vị nguyên thủ quốc gia.

c) Cuộc triều yết Đức Giáo Hoàng PIÔ XII của Linh mục Cao Văn Luận.

Khoảng đầu năm 1947, Linh mục Cao Văn Luận thu xếp cùng một số các linh mục khác như cha Mai, cha Khiết, cha Bồng sang Ý bằng xe lửa xin yết kiến Đức Giáo Hoàng lúc bấy giờ là Đức Giáo Hoàng Piô XII. Lý do là ngài muốn hiểu thêm trách nhiệm cũng như vai trò của một người Công Giáo, của một linh mục Công Giáo đối với số phận đất nước mình. Hồi ký “Bên Giòng Lịch Sử” cho biết các linh mục đồng hành đã giao hết cho cha Luận trách nhiệm và vinh dự hầu chuyện với Đức Thánh Cha… Trước đó các ngài đã gửi thư xin yết kiến Đức Thánh Cha lên Bộ Truyền Giáo của Tòa thánh Vatican , nên trong ngày đó, các linh mục đã đến gặp Đức Hồng Y và lấy giấy giới thiệu… Được biết Đức Thánh Cha đang nghỉ mát tại biệt điện Castel Gondolpho, hôm sau, các ngài đi xe buýt đến nơi đó, vào lúc 8 giờ…Tất cả ngồi trong phòng Đức Hồng Y phụ trách nghi lễ và tiếp khách một lúc, được dặn dò những cách thức quỳ lạy hôn tay Đức Thánh Cha. Một lát sau, tất cả được dẫn đến cửa văn phòng, và từ trong văn phòng, Đức Thánh Cha bước ra nhìn thẳng vào các ngài, mỉm cười hiền từ và nói chuyện với các vị nầy bằng tiếng Pháp: “Cha yêu mến dân tộc Việt Nam của chúng con nhiều lắm và cha rất sung sướng được gặp các con. Cha còn nhớ một người Việt Nam hiền đức mà cha thương mến, là Đức Nam Phương Hoàng Hậu… Tôi trình Đức Thánh Cha những thắc mắc của tôi, của những người Công Giáo, và nhất là của những linh mục Công Giáo trong tình thế mới:

Kính tâu Đức Thánh Cha, chúng con muốn xin Đức Thánh Cha soi sáng cho chúng con một vài niềm băn khoăn. Hiện nay bên nước Việt Nam của chúng con có một phong trào đang nổi lên dành độc lập, đánh Pháp. Phong trào Việt Minh như một làn gió mạnh thổi từ Nam chí Bắc, nung nấu tâm chí mọi người Việt Nam, nhưng chúng con biết rằng phong trào đó đã bị cộng sản chi phối, mặc dầu mục tiêu đấu tranh của nó là mục tiêu chung của dân tộc Việt Nam chúng con. Chúng con là người Công Giáo lại là linh mục Công Giáo, chúng con không biết nên có thái độ như thế nào trước phong trào này.

Đức Thánh Cha có vẻ trầm ngâm, nghĩ ngợi một phút, giọng ngài chậm rãi, từ tốn, dè dặt:

-Cha biết rằng những người Công Giáo Việt Nam đang làm bổn phận người yêu nước của họ.

Tôi nhớ rõ nguyên văn câu nói bằng tiếng Pháp của Đức Thánh Cha: (Nous savons que les Catholiques Annamites font leur devoir de patriotes). Sau câu nói đó, Đức Thánh Cha im lặng nhìn chúng tôi, ánh mắt có vẻ nhiều buồn phiền, đau thương, xót xa. Ngài ban phép lành cho chúng tôi, và theo lệ thường, gửi phép lành về cho những người thân, cho đất nước chúng tôi. Câu nói của Đức Thánh Cha làm tôi suy nghĩ mãi từ đó không dứt. Câu nói có thể hiểu nhiều cách, không chê trách, không bắt buộc, không dạy bảo phải hành động như thế này hay thế kia, mà để toàn quyền lựa chọn và quyết định cho người trong cuộc. “Những người Công Giáo Việt Nam chỉ làm bổn phận người yêu nước”. Khi họ theo Việt Minh, dù biết Việt Minh là cộng sản, khi họ chiến đấu chống Pháp, họ cũng làm bổn phận người yêu nước.”

Sau cuộc triều yết này với Đức Thánh Cha Piô XII, Linh mục Cao Văn Luận cho biết: “Tôi cảm thấy như trút được gánh nặng. Giáo Hội không lên án người Công Giáo Việt Nam làm bổn phận người yêu nước. Quyền lựa chọn và quyết định là ở mọi người. Và riêng tôi đã có sự lựa chọn, quyết định. Tôi không thể dửng dưng, đứng ngoài, trốn tránh cuộc chiến tranh máu lửa trên đất nước tôi. Tôi phải về nước, mặc dù chưa biết sẽ làm gì, sẽ làm được gì. (Bên Giòng Lịch Sử, trang155-156).

4.- Con đường xây dựng và phục vụ chính nghĩa quốc gia thời Đệ I Cộng Hoà.

Tháng tám năm 1947, Linh mục Cao Văn Luận cùng 15 cha Việt Nam khác lên chiếc tàu Felix Roussel về nước. Tàu ghé Vũng Tàu rồi ngược giòng sông lên Sài Gòn. Từ đây ngài lấy vé tàu thủy ra Hải Phòng rồi từ đó lên Hà Nội, gặp Hoàng Bá Vinh cầm đầu một nhóm cán bộ của ông Ngô Đình Diệm đang hoạt động cho một giải pháp quốc gia thuần túy, nghĩa là không theo Việt Minh mà cũng không hợp tác với Pháp. Ít lâu sau, một số nhà trí thức không hợp tác với người Pháp, từ vùng Việt Minh trốn về đã đến gặp linh mục như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Dương Đôn v.v… Ngài cũng có gặp Nguyễn Thế Truyền là người từng viết tựa cuốn sách của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh), cuốn Le procès de la colonization francaise, nhưng không thấy gì xuất sắc ở nhân vật này.

Khoảng cuối năm 1947, ông Trần Văn Lý cầm đầu Hội Đồng Chấp Chính Trung Việt từ Huế ra Hà Nội, có đến gặp Linh mục và mời ngài về Huế, ngài nhận lời. Ngài cũng nhắc chuyện có một người tên là Nguyễn Khuê được Hoàng Bá Vinh đưa đến giới thiệu với ngài và trong lần gặp thứ hai Khuê ca tụng ông Ngô Đình Diệm và trao cho Linh mục một tập giấy viết tay, chữ ông Diệm trình bày cái giải pháp và chủ nghĩa của ông. Nguyễn Khuê này có lẽ là Hồ Sĩ Khuê sau này có viết quyển Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Hồi ký “Bên Giòng Lịch Sử” ghi lại như sau: “Khuê trao cho tôi một tập giấy viết tay, chữ của ông Diệm, đoạn thì viết bằng tiếng Pháp, đoạn thì bằng tiếng Việt trong đó ông Diệm trình bày các giải pháp và cái chủ nghĩa của ông. Trên phương diện một người khảo sát văn chương hay triết lý thì tôi không thể nào phục cái gọi là chủ nghĩa Xã hội quốc gia gì đó của ông Diệm được. Lập luận đôi khi lúng túng vấp váp chẳng có gì khúc chiết vững chắc. Đại để thì tôi hiểu là ông Diệm chủ trương xây dựng một lực lượng quốc gia thuần túy, không phải cộng sản, mà cũng không theo Pháp, nhưng cũng lại không chủ trương đánh Pháp, mà hình như là chủ trương một sự thương thuyết nào đó với Pháp, trên căn bản Pháp phải công nhận đương nhiên và trước hết nền độc lập, thống nhất, chủ quyền của Việt Nam từ Cà Mâu đến Nam Quan. Lý thuyết thì không làm cho tôi phục được, nhưng cái tâm huyết của một người muốn tìm một đường đi cho quốc gia Việt Nam trong hoàn cảnh đặc biệt này thì làm cho tôi thấy thương mến, kính trọng ông.” (trang 167). Đối với một bậc “lương sư” như linh mục Cao Văn Luận, vốn được đào luyện kỹ càng trong môi trường chữ nghĩa và lý luận (triết học), dĩ nhiên ngài có thừa nhận thức và hiểu biết để đánh giá một lý thuyết, một chủ nghĩa, nhưng cái tâm của ngài vẫn là cái tâm bao dung, khoáng đạt trong cách nhìn người và nhìn sự việc.

Cuối năm 1947, Cha Luận vào Huế gặp Ngô Đình Cẩn, Trần Điền (khuynh hướng Đại Việt), được Trần Văn Lý đề nghị làm Giám đốc Nha Văn hóa Miền Trung, rồi từ Huế đi ra Đồng Hới (ngụ tại Giáo xứ Tam Tòa) rồi từ đây đi ca-nô ra Quảng Khê lên Ba Đồn và về xứ Đan Sa trông coi giáo xứ này. Lúc bấy giờ một số giáo xứ đã liên lạc với người Pháp xin súng để rào làng chống Việt Minh. Từ tháng tư 1948 nghe nói Bảo Đại về nước. Linh mục Cao Văn Luận từ Quảng Khê vào Đồng Hới và mua vé máy bay vào Huế. Bửu Lộc đánh điện mời Linh mục Cao Văn Luận lên Đà Lạt ý chừng nhờ ngài thuyết phục ông Ngô Đình Diệm lúc đó đang ở Đà Lạt ra thành lập một chính phủ nhưng khi gặp, ông Diệm lắc đầu.

Trong lần gặp đầu tiên, ông Ngô Đình Diệm đã tỏ ra có những nhận định chính trị rất chính xác và sắc bén:

-Vùng Cao nguyên này có một tầm quan trọng lớn về chiến lược và kinh tế. Về chiến lược, nó nằm ở giữa ba quốc gia Việt Miên Lào. Ai chiếm giữ được cao nguyên này có thề gây áp lực được đối với cả ba quốc gia đó. Người Pháp gọi vùng Cao nguyên là Hoàng Triều Cương Thổ chỉ là một lối trá hình trên thực thể, chủ tâm của họ là biến vùng này thành thuộc địa Pháp. Về mặt kinh tế, thì vùng Cao nguyên hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong tương lai. Ở đó chắc chắn có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhiều khoáng sản chưa được khám phá và khai thác, nhưng chúng ta cần phải bảo vệ cho Việt Nam. Rồi còn vấn đề thể diện quốc gia, chủ quyền nữa. Không thể bỗng dưng nhường cho Pháp một vùng đất quan trọng như thế, nằm ngay giữa lãnh thổ quốc gia, người Việt Nam nào muốn lên lại phải xin thông hành!

Linh mục Cao Văn Luận tiếp lời:

-Cụ nói đúng. Tôi có đọc một cuốn sách đại ý rằng Pháp muốn ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam về phía Tây, muốn để dân tộc Việt Nam dừng lại ở các miền duyên hải, còn Pháp thì phải giữ vững vùng Cao Nguyên Trường Sơn, vừa để ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam, vừa canh phòng phía Lào. Như vậy khi lập Hoàng Triều Cương Thổ, đặt trực thuộc Pháp, thì Pháp đã bắt đầu thi hành đúng cái chính sách đó rồi.

Lần đó ông Ngô Đình Diệm cho biết đường lối chính trị của ông qua lời tâm sự với cha Luận như sau: -Trong một vài trường hợp, mình có thể tính chuyện hợp tác với người Pháp trên căn bản thỏa hiệp vịnh Hạ Long, với một điều kiện: Bảo Đại không phải là Bảo Đại. (Bên Giòng Lịch Sử, trang 179-180).

Trong dịp này, Linh mục Cao Văn Luận cũng được mời hội kiến với Cựu Hoàng Bảo Đại tại biệt điện sang trọng của ông nằm trên một đồi thông. Cựu Hoàng cho biết sở dĩ ông về nước làm việc cho quốc gia vì thấy nước Pháp chịu nhượng bộ khá nhiều theo thỏa ước vịnh Hạ Long. Bảo Đại cũng cho biết các nhân vật quốc gia chân chính phần nhiều đều từ chối hợp tác hoặc có vị đòi hỏi những điều kiện quá lý tưởng. Linh mục Luận cho biết Bảo Đại trông có vẻ chán chường và mệt nhọc khi có lúc nằm chuồi dài trên ghế bành mà nói chuyện.

Sau đó Linh mục Cao Văn Luận về Huế rồi trở lại Hướng Phương là một xứ đạo lớn của tỉnh Quảng Bình. Năm 1949, ngài rời Hướng Phương và vào Huế mở lớp Triết đầu tiên tại trường Quốc Học Huế mà theo ngài cho biết người học trò chăm nhất là Âu Ngọc Hồ. Các tác phẩm ngài biên soạn lúc đó gồm: Triết học đại cương, Tâm lý học, Luận lý học, Đạo đức học tất cả đều thuộc loại giáo khoa triết học biên soạn bằng tiếng Việt dùng để đi thi Tú Tài II. Ngoài ra ngài cũng phiên dịch các bộ sách khác như : Phương pháp luận (Discours de la méthode) của Descartes, Vật chất và Ký ức (Matière et Mémoire) của Bergson, Năng lực tinh thần (Énergie spirituelle) của Bergson, Hai nguồn mạch của đạo đức và tôn giáo (Les deux sources de la morale et de la religion) của Bergson.

Cũng từ đó, Linh mục Cao Văn Luận bắt đầu liên lạc với linh mục Emmanuel Jacques Houssa, người Bỉ, từng sống ở Phát Diệm từ 1939 đến 1945 là người đã tổ chức cho nhiều sinh viên du học nước ngoài và nhất là giới thiệu ông Ngô Đình Diệm để được tiếp đón tại dòng tu Maryknoll thuộc tiểu bang Maryland (có lẽ linh mục Luận nhớ lầm, dòng tu này thuộc tiểu bang New Jersey). Cũng cần nói thêm ở đây một chút. Theo Linh mục AntônTrần Văn Kiệm, trong cuốn hồi ký có tên Sự Thực Có Sức Giải Phóng , Đức Giám Mục Ngô Đình Thục, bào huynh của ông Ngô Đình Diệm là bạn học cùng lớp với Đức Hồng Y Francis Spellman khi ở Rô ma nên Đức Hồng Y New York đã bảo lãnh cho ông Ngô Đình Diệm khi sang Mỹ và giới thiệu nên ông Ngô Đình Diệm được các Giám Mục và Linh Mục thuộc dòng Maryknoll đón rước vào các tu viện của họ. Các vị này có hai cơ sở, một sở Ossining tiểu bang Nữu Ước, một ở Lakewood tiểu bang New Jersey. Trong thời kỳ làm tân khách, ông Diệm lui tới cả hai cơ sở: lúc thì ở Ossining, lúc khác ở Lakewood. (Hồi ký, 2013, trang 26). Các thanh niên ưu tú lúc bấy giờ như Âu Ngọc Hồ, Nguyễn Văn Mừng, Nguyễn Thị Quýt, Võ Thị Hồng Phúc, Phạm Đăng Tải, Phùng Viết Xuân được gửi sang Mỹ gặp cha Houssa. Về việc gửi các sinh viên trẻ đi du học nầy, Giáo sư Nguyễn Văn Trường, Giáo sư khoa học Đại Học Sư Phạm trong bài viết có tên “Huế, Viện Đại Học, Cha Luận và chúng tôi…” (trên mạng Namkyluctinh.org) đã viết: “Cha Viện Trưởng, vài năm trước khi thành lập Viện Đại Học Huế, đã có kế hoạch trồng người. Cha gởi nhiều học trò giỏi đi du học. Muốn là giáo chủ, khai đạo, phải có tông đồ. Nhưng tông đồ của cha, người đi thì có, người về không mấy ai. Cha tự an ủi: “Ở Sài Gòn, tức là thủ đô thời bấy giờ, quí vị ấy giúp Cha nhiều hơn.”Cũng vì thế, cha phải tuyển các hộ pháp, thời quân, sứ giả của cha ở nhiều nguồn khác nhau: tại chỗ, Sài gòn, Pháp, Anh, Đức, Bĩ… và đa số thì rất trẻ. Bên những bậc cha anh – như cụ Nhu, Cha Thích - bọn trẻ học hỏi và trưởng thành. Tôi bỗng dưng trở thành thời quân của Cha. Cũng tội cho tôi. Nhưng tôi đã được đền bù. Cuộc đời tôi nhờ đó mà đi lên”

Thời gian này ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh lên án tử hình và cơ quan Mật thám Pháp tỏ ý không đủ sức bảo vệ an ninh cho ông Diệm nên ông phải tìm cách lánh ra nước ngoài bằng cách xin đi dự Năm Thánh (1950) ở Rôma.

Tháng sáu 1953, Linh mục Cao Văn Luận, do sự thúc đẩy của ông Ngô Đình Cẩn, sang Pháp gặp ông Ngô Đình Diệm ở đây, và giữa những khó khăn do ông Diệm nêu ra, đã gợi ý ông Diệm nên nắm công an cảnh sát trước, quân đội sẽ tính sau. Cha Luận cũng gặp Nguyễn Đệ là Ngự tiền Văn phòng của Bảo Đại, vận động cho ông Ngô Đình Diệm bằng cách lưu ý Nguyễn Đệ rằng “Quốc dân lúc này không còn tin được vào ai nữa ngoài ông Diệm”. Trong dịp này, cha Luận cũng có cuộc hội kiến với một lãnh tụ Cộng Sản là Nguyễn Khắc Viện, con cụ Nguyễn Khắc Niêm từng là Thượng Thư Bộ Hình triều Nguyễn, sang Pháp học Y khoa từ năm 1936. Gặp cha Luận, Viện cố thuyết phục cha đừng ủng hộ ông Diệm vì đằng sau ông Diệm có Mỹ, và nếu có Mỹ nhúng tay vào thì cuộc nội chiến ở Việt Nam sẽ khốc liệt hơn. Cha Luận phản bác ý kiến của Viện, cho rằng với Mỹ, chế độ thực dân cũ đã cáo chung điển hình là Mỹ thắng Nhật rồi lại giúp Nhật phục hưng kinh tế mạnh mẽ. Mỹ vào Âu châu rồi cũng lại giúp Âu châu. Áp lực của Mỹ, nếu có theo chân ông Diệm dồn vào Việt Nam, cũng chỉ là một thứ áp lực kinh tế. Còn bên Viện, con đường nguy hiểm hơn nhiều vì sau lưng Cộng Sản Việt Nam là Trung Cộng. Năm 1953, cụ Nguyễn Khắc Niêm bị Việt Minh bắt đấu tố trong một đợt Cải Cách Ruộng Đất, chịu muôn phần sỉ nhục vì bị qui là địa chủ gian ác. Chịu không nổi nhục hình, cụ Niêm treo cổ tự tử chết trong chuồng trâu. Em ruột của Nguyễn Khắc Viện là Giáo sư Nguyễn Khắc Dương dạy ở Đại Học Đà Lạt cho người qua Pháp thông báo với Viện về cái chết của cha. Viện nói: “Về một phương diện nào đó thì cha cũng có tội với nhân dân.” Vì quyền lợi của Tầu, Mao Trạch Đông sẽ phải thôn tính Đông Nam Á. Cha Luận lưu ý Viện là dân chúng ủng hộ ông Ngô Đình Diệm, mong muốn ông về chấp chánh.

Những lần tiếp xúc sau đó với ông Ngô Đình Diệm, cha Luận khuyên ông nên gặp gỡ nhiều với các chính khách Pháp.

( còn tiếp )
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#7371 Posted : Wednesday, April 19, 2017 12:32:19 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)

Linh Mục Cao Văn Luận Và Lý Tưởng “Lương Sư Hưng Quốc”
Trong Đạo Kẻ Sĩ
( tt)


Nguyễn Đức Cung
4/17/2017

Từ Pháp, linh mục Cao Văn Luận sang Mỹ gặp cha Houssa, từ New York về New Jersey trú lại ở một nhà dòng các nữ tu, dịp này cha Luận làm quen với Linh mục Trần Văn Kiệm sang Mỹ từ nhiều năm trước. Cha Luận cũng gặp Phan Quang Đán lúc bấy giờ là một chính khách đang lên. Ông Đán tỏ ý muốn hợp tác với ông Diệm nếu được mời. Theo cha Luận, lúc này, “ông Diệm đang được lòng dân, ít ra là trong thành phần trí thức, tức là thành phần có ảnh hưởng lớn nhất trong một xã hội” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 236).

Trong một đại hội các du học sinh VN ở Chicago, Linh mục Cao Văn Luận tới đây để thăm viếng cha Houssa và các sinh viên được ngài gửi đi học, ngài cũng phân tích tình hình chính trị trong nước. Khi có nhiều người vẫn tin tưởng rằng “cụ Hồ là một người yêu nước chỉ mượn sức mạnh cộng sản quốc tế để giải phóng quốc gia khỏi ách đô hộ của Pháp”, Linh mục nói: “Tôi giải bày với các anh em đó rằng cộng sản là một tổ chức quốc tế chặt chẽ, cũng như lý thuyết cộng sản có một sức quyến rũ lớn, làm cho ai đã gia nhập khó mà thoát khỏi. Tôi vẫn thán phục cụ Hồ, nhưng không tin rằng cụ có thể coi cộng sản như một cơ hội, một sức mạnh vay mượn, và về sau xong việc có thể mang trả được.” Việc tìm hiểu lập trường của ông Hồ không chỉ có những người thanh niên, sinh viên của Linh mục Cao Văn Luận lúc bấy giờ nêu ra (khoảng 1949-1950) mà sau này từ 1962, khi Bernard Fall vốn là một sử gia luôn đi sát Hồ Chí Minh khi gắng gượng hỏi Hồ Chí Minh về một đôi điều xem ra bí mật, đã được Hồ yêu cầu là cho ông ta giữ một ít bí mật về ông ta. Gần đây một sử gia Nhật Bản, Yoshiharu Tsuboi (Bình Tỉnh Thiện Minh, chữ của Giáo sư Trần Văn Toàn trong cuốn Đạo Trung Tùy Bút, Nhà xb. Tôn Giáo, 2008, trang 15)) tác giả cuốn sách nổi tiếng, “Nước Đại Nam đối diện với Pháp & Trung Hoa” (L’Empire Vietnamien face à là France et à la Chine, 1847-1885) cũng đã nêu quan điểm riêng, đọc thấy trên mạng một vài năm trước đây, khi cho rằng ông Hồ là cộng hòa hơn là cộng sản (sic). Tựu trung, có lẽ chỉ nhận định của Linh mục Cao Văn Luận nêu trên là chính xác hơn cả.

Từ Hoa Kỳ, Linh mục Cao Văn Luận sang Paris gặp thăm ông Ngô Đình Diệm. Bảo Đại lúc này đã đưa Bửu Lộc ra làm thủ tướng thay cho Nguyễn Văn Tâm. Ông Diệm vẫn tiếp tục đưa ra những điều kiện cũng giản dị: được toàn quyền điều hành chính phủ VN, đối phó trực tiếp với người Pháp dĩ nhiên vẫn nhân danh Bảo Đại trong khi ở bên nhà ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn tiếp tục củng cố tổ chức đảng, thu phục thêm đảng viên, lôi cuốn nhân tài. Ông Diệm nói tuy lúc này không thể về trong những điều kiện chưa thuận tiện nhưng nếu bên nước nhà có một phong trào nhân dân mạnh mẽ đòi hỏi ông Diệm về chấp chánh thì Bảo Đại và Pháp phải chấp nhận những điều kiện của ông Diệm.

Ngày 7-7-1954, ông Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ tướng. Ngày 20-7, đất nước VN bị chia đôi theo hiệp định Genève, và hàng vạn người Miền Bắc lũ lượt di cư. Nhiều khó khăn xảy đến cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về phía Pháp, Bình Xuyên, quân đội do Nguyễn Văn Hinh cầm đầu khiến cho vị Thủ Tướng mới này chán nản, thất vọng có ý định bỏ nước ra đi. Giữa cảnh khó khăn đó, Linh mục Cao Văn Luận sau khi được ông Ngô Đình Cẩn mời gặp, đã vào Sài Gòn, tìm ngay đến Thủ Tướng Ngô Đình Diệm trấn tỉnh ông, khuyên ông nên ở lại chấp nhận cuộc đấu tranh. Trong quan hệ được coi như “lương tể” đối với “minh quân”, Linh mục nhấn mạnh trách nhiệm của cụ Diệm đối với quốc gia Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nhất là trách nhiệm đối với hàng trăm ngàn dân di cư đã tin tưởng nơi cụ mà kéo vào đây. Linh mục Cao Văn Luận cũng lưu ý cụ Ngô Đình Diệm rằng : “Đồng bào di cư Bắc và Nghệ Tĩnh Bình là một gánh nặng, nhưng cũng có thể là một sức mạnh, cụ đã nghĩ đến chuyện nhờ đến sức mạnh đó chưa? Những đồng bào di cư hiện đang sống khốn khổ, bấp bênh trong các trại tạm cư chen chúc nhau hàng chục người trong một căn phòng vài thước vuông vức, cụ có thể nỡ lòng bỏ họ trong tình trạng đó sao?... Cụ nên tập trung mọi phương tiện, mọi nỗ lực giải quyết vấn đề đồng bào di cư trước. Một khi cụ định cư họ được thì chính họ sẽ là lực lượng hậu thuẫn nồng cốt cho cụ.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 271). Linh mục Cao Văn Luận cũng giải bày cho cụ Diệm về thực chất yếu ớt của nhóm nhỏ người theo Tây, theo Bình Xuyên, việc bỏ đi lúc này là mắc mưu Pháp, Bảo Đại và bọn Tâm, Hinh nhờ đó cụ Diệm thay đổi lập trường, trở nên sáng suốt và cứng rắn hơn. Trong câu chuyện, cụ Diệm nói ông đã có cách để đối phó với bọn Bình Xuyên, Tâm Hinh. Ngày hôm sau ,linh mục trở về Huế và vài hôm tiếp ngài đã thấy cái cách cụ Diệm giải quyết nạn Bình Xuyên và Tâm Hinh đó là dùng mọi cách chuyển các tiểu đoàn Bảo Chính Đoàn, Bảo An Đoàn, các lực lượng quân sự Việt Nam từ Bắc và Trung vào Sài Gòn bằng những phương tiện nhanh nhất. Cụ Diệm cũng cho thành lập hệ thống công an cảnh sát riêng và giao cho Mai Hữu Xuân trông coi. Cái sắc sảo của linh mục Cao Văn Luận là đã gợi ý cho cụ Diệm nhớ đến một sức mạnh chưa sử dụng, hàng chục vạn dân di cư và gia đình họ. Số người đông đảo này đang ở trong một thế kẹt, đang bị dồn vào đường cùng, và sẵn sàng liều mạng để chiếm một đất sống. Chính Linh mục Cao Văn Luận từng viết: “Tôi nghĩ rằng chính số người di cư lúc bấy giờ đã làm sống bừng dậy tinh thần dân tộc, lòng thương yêu rộng lớn, tình đoàn kết chân thật, và tạo được một khối quần chúng thuần nhất ủng hộ ông Diệm.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 275).

Về sau, khi đã ổn định được tình hình, TT Ngô Đình Diệm nói chuyện với Linh mục Cao Văn Luận để nhờ nói với Đức Cha Phạm Ngọc Chi giải tán phong trào Tập Đoàn Công Dân của ngài, chỉ để có Phong trào Cách mạng Quốc gia và đảng Cần Lao hoạt động thôi. Theo linh mục Cao Văn Luận, Phong trào Cách mạng Quốc gia và đảng Cần Lao không có cơ hội thử thách để trưởng thành và trở thành một đảng chính trị đúng nghĩa của nó. Lý thuyết Nhân vị được dùng làm nền móng tinh thần cho Đảng và Phong trào cũng vấp vào nhiều khuyết điểm không có sức sinh động mạnh để thu hút quần chúng, những căn bản triết lý của nó cũng quá mập mờ, vá víu, và không bắt nguồn từ những truyền thống sâu xa của dân tộc Việt Nam. Ông Ngô Đình Nhu cũng có lần đề cập thuyết nhân vị với Linh mục Cao Văn Luận nhưng ngài cố tránh để khỏi có ý kiến. Dù thuyết Nhân vị có nhiều điều bất cập nhưng theo ngài ít ra nó cũng giúp cho người hành động một vài tiêu chuẩn hướng dẫn và một vài cách biện hộ.

Thời gian sau năm 1954, nhóm Lê Trọng Quát ở Huế có xin thành lập một chính đảng lấy tên đảng Cộng Hòa Xã Hội và có nhờ linh mục Luận nói chuyện với ông Ngô Đình Cẩn và cụ Diệm. Ông Cẩn giải thích rằng quan niệm đối lập của người Việt Nam mình thật thô sơ và sai lạc khi nói đến đối lập là chỉ nghĩ đến việc cướp chính quyền bằng mọi cách, bất chấp hiến pháp luật lệ và những thủ tục dân chủ hợp pháp. Theo nhận định của cha Luận, cái chủ trương độc đảng của ông Diệm trong giai đoạn đầu có thể chấp nhận được, nhưng về sau khi đã củng cố được chính quyền mong ông Diệm mềm dẻo hơn đối với các tổ chức chính trị, cho phép hoạt động đối lập chính trị công khai và hợp pháp.

Linh mục Cao Văn Luận cũng phát biểu ý kiến bất đồng về Luật gia đình của bà Ngô Đình Nhu trong đó có khoản cấm đa thê và cấm ly dị. Trước khi dự luật được đưa ra biểu quyết, cha Luận đã gặp TT Ngô Đình Diệm và nói lên sự phản bác đứng đắn của mình. Cha Luận nói lời ngài trình với TT Ngô Đình Diệm:

-Thưa cụ tôi thiết nghĩ là cụ không nên để bà Nhu đưa ra Quốc Hội cái dự luật gia đình đó, vì nước mình không cần phải làm luật cấm đa thê và cấm ly dị. Những biến chuyển kinh tế, văn hóa dần dà sẽ dẫn xã hội đến tình trạng một vợ một chồng, chớ mình không cần làm luật cấm đoán người ta làm gì, vả chăng luật lệ chỉ hợp pháp hóa phong tục trong xã hội, mà không tạo ra phong tục. Còn về cái điều cấm ly dị thì tôi cũng cho rằng không ích lợi gì mà có thể tạo nên nhiều phản ứng chống đối bất lợi cho chính phủ.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 295).

TT Ngô Đình Diệm đã không nghe lời trần tình này.

Thật ra không phải ai cũng có ý kiến phản bác như cha Luận đối với Luật Gia đình của bà Ngô Đình Nhu, chẳng hạn nhà văn Thế Uyên đã khen ngợi và viết trong cuốn sách có tên Sài Gòn sau mười hai năm, như vầy:

“Nhưng cũng như miền Bắc, miền Nam cũng phải đợi đến sau 1954, có độc lập có chủ quyền rồi, việc thực hiện bình đẳng nam nữ mới trở thành dứt khoát trên thực tế. Bộ luật gia đình, do một phụ nữ, lúc đó làm dân biểu, là bà Trần Lệ Xuân đưa ra, đã được nhanh chóng chấp nhận ở những điểm căn bản nhất: chấm dứt chế độ đa thê, trả quyền tự do kết hôn cho trai gái từ hai mươi mốt tuổi trở lên, xác nhận phụ nữ bình đẳng với nam giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội…Bộ luật này tuy vậy lại có nhược điểm là bà Trần Lệ Xuân, vốn là tín đồ Công Giáo, muốn đưa quan niệm thanh giáo của Tây phương thế kỷ 18 và 19 vào xã hội Việt Nam, thí dụ như cấm ly dị, cấm những trò vui chơi hội hè truyền thống của dân miền Nam. Nhưng dù có những nhược điểm đó, bộ Luật Gia đình này cũng đã chính thức chấm dứt tình trạng nam tôn nữ ty thời trước.” (Thế Uyên, Nhà xuất bản Xuân Thu, Cali, 1989, trang 178).

Năm 1956, khi đã ổn định tình hình, có lúc nhân dịp Linh mục Cao Văn Luận đi Mỹ, TT Ngô Đình Diệm nhờ ngài theo dõi quan sát một số tòa đại sứ nước ngoài xem họ làm việc ra sao để tùy nghi chấn chỉnh. Lúc này Linh mục và cả TT Ngô Đình Diệm đã có những lưu tâm đến các công cuộc phát triển văn hóa giáo dục ở Miền Nam, coi như một cuộc thi đua với Miền Bắc của Hồ Chí Minh.

5.- Viện Đại Học Huế, niềm ước mơ trăm năm và những nỗi thăng trầm của một con người sống chết vì văn hóa.

Trong đời vua Tự Đức (1829-1883), có lẽ một trong những ước mơ ông muốn thực hiện ở chốn kinh sư đó là xây dựng một trường đại học kiểu Âu châu, vào năm 1867 ở Huế, nhưng ước mơ đó đã không thể thực hiện được.

Tháng 3-1867, vua Tự Đức đã cử một phái đoàn sang Pháp gồm Giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu), linh mục Nguyễn Điều, linh mục Nguyễn Hoằng và Joannes Vị, với hai vị quan của Triều đình là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Hiếu Đạo đáp tàu L’orne đi Pháp. Trong số các công việc phải xúc tiến ở Pháp, phái đoàn này còn có nhiệm vụ tìm phương tiện để thành lập ở Huế một trường Đại Học. Công việc nầy được tạp chí Missions Catholiques kể lại chi tiết như sau: “Đức Cha Gauthier Giám-mục Giáo-phận Vinh được Vua Tự-Đức giao trọng trách thành lập tại Thủ-đô Huế một viện đại-học để hướng dẫn người dân Việt-Nam đi vào các ngành khoa-học kỹ-thuật, Người đã về Pháp với đoàn tùy tùng gồm hai vị quan lại công-giáo để tìm nhân sự và tài chánh, vật liệu cần thiết. Người đã được chính quyền nước Pháp yểm trợ rộng rãi mọi mặt. Người từ giã nước Pháp ngày 25.11.1867 để trở về Giáo-phận của Người. Nhưng kết quả như thế nào thì chính bức thư Người viết đề ngày 31/3/1868 dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn:

Mấy hôm sau, ngày tôi đến kinh đô Huế, 29/2/1868, Vua Tự Đức có hỏi chương trình của chúng tôi và bản chiết tính tỉ mỉ vật liệu, máy móc cần thiết cho viện đại học. Đức Vua có vẻ ưng ý những gì được mang từ Pháp-quốc qua để giúp đỡ Ngài và muốn thấy tận mắt những gì ông bộ-trưởng hàng-hải gởi cho chúng tôi. Đức Vua cũng đề cập đến vấn đề thù lao các giảng-sư. Thù lao tuy không bao nhiêu nhưng cũng tạm vừa việc. Chúng tôi cũng biết Vua Tự-Đức đang chuẩn bị ban phép cho Đức Cha Sohier Bình (Giáo-phận Huế) xây đại-học nầy trên phần đất Người chọn nằm khoảng giữa nhà thờ chánh-tòa và tòa Giám-mục.

Kể ra lúc đầu hứng khởi lắm. Tôi chỉ cần chờ phản ứng mạnh về phía Triều-đình để xem họ nghĩ như thế nào nữa mà thôi. Công việc đã được tiến hành một tháng, Kết quả như vậy là khả quan lắm, nếu người ta biết nghĩ đến những bận rộn của Triều-đình Huế lúc bấy giờ đang lo gởi một phái bộ qua Pháp và thói quen chậm chạp cố hữu của một quốc gia không biết coi trọng thời giờ.

Như vậy mới biết nhà Vua đêm ngày hằng ước mong cho đại-học thành hình và sinh hoạt như dự liệu…”

Về địa điểm xây dựng Viện Đại Học nầy, triều đình dự tính lấy sứ quán làm cơ sở của trường học, nhưng Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier cho rằng sứ quán quá ẩm thấp, không bảo quản được dụng cụ máy móc và cũng không tiện cho việc học tập nên đề nghị xây dựng cơ sở mới trên một khu đất rộng chừng hai mẫu ở xã Vạn Xuân, nằm giữa nhà thờ Kim-Long và Tòa Giám mục Huế (Xem tờ trình của Giám mục Gauthier và Sohier, Phụ lục VI 9.- Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1988, trang 50).

Tuy nhiên dự án thành lập Viện Đại Học Huế này đã không thành. Theo các thư của Giám mục Gauthier viết về Pháp, sở dĩ việc thực hiện dự án mở trường tại Huế đã không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong Triều đình. Trong một bức thư gửi cho Hội Truyền Giáo Paris (MEP) đề ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier viết: “Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử sứ bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ này… Trong các quan thượng thư, có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua.”. Cũng trong thư đó, Giám mục Gauthier lại viết: “Chính phủ đã nói với một trong những linh mục của tôi là tôi sẽ góp ích cho xứ sở này, nếu tôi tìm được người có khả năng khai thác mỏ than và thiết lập các lò luyện thép như ở châu Âu. Điều mà tôi đã làm năm 1867, nhưng những người tôi đem từ Pháp về theo yêu cầu của nhà vua đã bị Võ Trọng Bình lúc đó đuổi về…” (Annales de la Propagation de la Foi, tập 43, trang 242-243, trích dẫn lại theo Trương Bá Cẩn, Sđd, trang 52).

Theo sử gia Trương Bá Cẩn, có lẽ không phải chỉ có Nguyễn Tri Phương hay Võ Trọng Bình, mà có cả một luồng dư luận khá rộng rãi, trong Triều đình cũng như ở các tỉnh, tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ người Pháp: Một trường đào tạo nhân tài đầu tiên hoàn toàn do giáo sư người Pháp, đặt ngay bên cạnh Tòa Giám mục, dưới sự giám sát của Giám mục.

Theo giáo sư Yoshiharu Tsuboi, ở Nhật Bản, Triều Tiên, hay Trung Hoa lúc bấy giờ có những khẩu hiệu tương tự nhau. Hòa hồn Dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu) ở Nhật, Đông đạo Tây khí (Đạo lý phương Đông vả thực hành phương Tây) ở Triều Tiên, Trung thể Tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương Tây). Những khẩu hiệu chứng tỏ nhu cầu có tính thực tế nhất định và do đó, có sự cố gắng thích nghi với những thay đổi của môi trường và với công cuộc hiện đại hóa của đất nước. Ngoài ra, theo vị giáo sư Nhật Bản này, người Việt Nam không phát triển một luận thuyết độc đáo nào khả dĩ chống lại được luận thuyết của Âu Tây; họ không đề ra khẩu hiệu nào khả dĩ vạch ra một đường lối riêng cho dân tộc, một khẩu hiệu có thể làm bật dậy sự thức tỉnh chung vì công việc đề kháng dân tộc,và về mặt này, có thể nói nước Việt Nam của Tự Đức tỏ ra bảo thủ hơn các nước theo Nho giáo khác. Chính sự thiếu mềm dẻo về hệ tư tưởng, hay, nói cách khác, tính chính thống quá cứng nhắc của các nho sĩ đã ngăn cản triều Nguyễn thích nghi với điều kiện mới. (Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine 1847-1885) Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh, bản dịch Nguyễn Đình Đầu, in lần thứ ba, 1998, trang 208-209).

Nếu dự án xây dựng Viện Đại học Huế năm 1867 do nhiệt tâm của Giám Mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) và một số nhân vật trong đó có những người thuộc đất Nghệ Tĩnh như linh mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điều v.v… thì chín mươi năm sau, năm 1957 Viện Đại Học Huế lại được trao vào tay một người con dân đất Nghệ Tĩnh đó là Linh mục Cao Văn Luận, và niềm ước mơ trong thế kỷ XIX lần này đã trở thành hiện thực trong hạ bán thế kỷ XX với một vị lãnh đạo quốc gia có quyết tâm và có viễn kiến hơn vua Tự Đức đó là Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Cuối tháng giêng năm 1957, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ra Huế dự lễ giỗ cụ Ngô Đình Khả nhân đó gặp Linh mục Cao Văn Luận và đưa ra ý kiến thành lập một Đại học tại Huế với lý do Huế từ trước đã là một trung tâm văn hóa của đất nước, có truyền thống văn hóa sâu đậm, giúp cho dân Miền Trung vốn hiếu học có môi trường tiến thân. Về phương diện chính trị, TT Diệm muốn chứng tỏ quyết tâm bảo vệ Huế để thách đố với bọn Cộng Sản. Nhân đó TT Diệm mời Linh mục Cao Văn Luận giúp ông thực hiện dự án quan trọng này. Cha Luận rất vui mừng trước đề nghị đó và một tháng sau một phái đoàn từ Sài Gòn ra gồm ông cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Dương Đôn, Viện trưởng Đại học Sài Gòn Nguyễn Quang Trình và một số giáo sư, chuyên viên khác. Một cuộc họp ở tòa Tỉnh trưởng có thêm một số trí thức và thân hào nhân sĩ Huế tham dự . Hội nghị thảo luận và đi tới quyết định là vì những hoàn cản đặc biệt, những khó khăn trong ngành giáo dục, chưa nên làm việc vội vàng hấp tấp và nói rằng Huế chỉ nên lập một chi nhánh của Viện đại học Sài gòn tùy thuộc hoàn cảnh vào Viện Đại học Sài Gòn và Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Như vậy Đại Học Huế sẽ không thành một đơn vị độc lập mà chỉ là một số các phân khoa đặt dưới quyền Viện Đại học Sài Gòn mà thôi. Linh mục Cao Văn Luận được cử làm đại diện cho ông Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn Nguyễn Quang Trình để tổ chức. Dĩ nhiên Linh mục Cao Văn Luận không đồng ý nhưng đành khuất phục trước quyết định của đa số.

Về việc sáng lập Viện Đại Học Huế, giáo sư Nguyễn Văn Hai có viết:

“Số là sau khi mới về Việt Nam nhậm chức, ông Ngô Đình Diệm ra Huế. Lẽ tất nhiên ông ấy cần một sự tiếp đón nồng hậu của dân Huế nói chung và của học sinh Huế nói riêng. Linh Mục Cao Văn Luận lúc bấy giờ là giáo sư Triết học tại Trường Quốc học. Ngài năn nỉ tôi tổ chức diễn hành đón tiếp. Tôi bàn với một số giáo sư, trưởng lớp và trưởng ban sinh hoạt của trường. Tất cả đồng ý đặt điều kiện là Ông Diệm phải hứa sau này có quyền hành thời phải mở một Đại Học tại Huế để con em miền Trung nghèo có cơ hội cầu tiến. Lời yêu cầu cũng vừa hợp ý ông Diệm. Sau khi được đoan chắc như vậy, chúng tôi mới mặc đồng phục quần trắng có thắt cà vạt xanh lơ mang biểu ngữ đòi mở Đại Học Huế đi hang lối chỉnh tề diễn hành chào đón. Sau đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm giữ lời hứa cho mở Đại Học Huế mặc dầu có sự phản đối dữ dội của các vị khoa bảng ở Sài gòn. Đại học Huế được thành lập, con em miềnTrung có chỗ trau dồi chuyên môn, và nhiều lớp sinh viên tốt nghiệp đã góp công xây dựng nước Việt Nam.” (Nguyễn Văn Hai, Giai phẩm kỷ niệm 100 năm Trường Quốc Học, 1997, Hồi tưởng Trường Quốc Học, trích dẫn theo Nguyễn Văn Trường, bài viết “Huế, Viện Đại Học, Cha Luận và chúng tôi” trên mạng Namkyluctinh.org).

Giáo sư Nguyễn Văn Trường cũng cho biết “giáo sư Nguyễn Quang Trình là ông Viện trưởng đầu tiên, có công hóa giải sự chống đối việc thành lập Viện Đại Học Huế…”

Trước những khó khăn vì xa xôi, cái gì cũng phải phúc trình về Viện, về Bộ khiến cho công việc chậm trễ nên Linh mục Cao Văn Luận vào thẳng Sài gòn gặp TT Diệm trình bày những khó khăn và xin TT Diệm dành cho Đại Học Huế quy chế riêng biệt và ý kiến này được chấp thuận. TT Diệm đồng ý ra nghị định thành lập Viện Đại Học Huế và cử cha Luận làm Viện Trưởng đầu tiên Viện Đại Học Huế.

Viện Đại Học Huế thành lập do sắc lệnh ngày 1 tháng 3-1957 (SL 45/GD, do Bộ Trưởng Nguyễn Dương Đôn ký) và khai giảng vào tháng 9, 1957.

Lúc bấy giờ Linh mục Cao Văn Luận xúc tiến nhanh việc tìm trụ sở, lớp học, địa điểm, đồng thời mời các giáo sư ở Huế, Sài Gòn và ngoại quốc về hợp tác. Trong giai đoạn đầu ban giáo sư gồm có mấy người như Lê Văn, Lê Tuyên, Lê Khắc Phò, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Trường. Vài tháng sau thêm Lê Thanh Minh Châu và vợ là Tăng Thị Thành Trai. Ngay niên khóa 1957, Đại học Huế mở các chứng chỉ dự bị như Năng lực Luật-khoa, Văn-Khoa, Khoa-Học. Ngoài ra nhận thấy việc đào tạo giáo sư Trung-học và giáo viên Tiểu học rất cần thiết cho tình trạng phát triển giáo dục mạnh mẽ hiện nay và tương lai, Linh mục Cao Văn Luận chú trọng đặc biệt vào Đại-Học Sư-Phạm nhằm đào tạo các giáo sinh hệ ba năm thuộc các bộ môn Anh văn, Pháp văn, Sử Địa, Việt Hán, Toán, Lý Hóa, Vạn Vật.

Theo Giáo Sư Nguyễn Văn Trường “Triều đình của Cha lúc bấy giờ có: Lê Khắc Phò, “Tổng Bí Thơ” và một “Ban Bí Thơ Trung Ương” gồm toàn những hiền tài, quí ông, bà: Đỗ Ngọc Châu, Trần Đinh, Mệ Viễn Dung, Đinh Văn Kinh, Trần Thị Như Chương, Bùi Trí, Nguyễn Văn Thùy, Tôn Thất Quỳnh Thọ, Paul Vogle, Lương Hoàng Phiệt, Nguyễn Bính.”

Trực thuộc Viện có Viện Hán Học, Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và các Khoa: Văn Khoa, Khoa Học, Sư Phạm, Luật Khoa, Y Khoa.

Sau đây là danh sách của quý vị Khoa Trưởng và Giám Đốc đầu tiên của Viện Đại Học Huế:

Văn Khoa: Ông Lê Văn Diệm
Khoa Học: Bs. Vũ Đình Chính, Ông Trần Văn Bé.
Sư Phạm: Ông Lê Văn.
Luật Khoa: Bà Tăng Thị Thành Trai, Ông Phan Văn Thiết.
Y Khoa: Ông Lê Tấn Vĩnh, Ông Lê Khắc Quyến.
Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật: Ông Tôn Thất Đào.
Viện Hán Học: LM Nguyễn Văn Thích, (Võ Như Nguyện làm Giám Đốc).

Ban Giảng Huấn của những năm đầu của các khoa, trường, viện: Trần Văn Bé, Nguyễn Thị Bảo Xuyến, LM Urbain, Lê Thanh Minh Châu, Tôn Thất Đào, Lê Văn Diệm, Sư Huynh Ferdinand, Nguyễn Văn Hai, , Trần Kinh Hòa, Tôn Thất Hanh, Hồ Thị Hường, Lê Hữu Mục, Bùi Nam, Trần Quang Ngọc, LM Nguyễn Phương, Cụ Nguyễn huy Nhu, Lê Đình Phòng, Lê Khắc Quyến, Phan Xuân Sanh, Krainick, Trần Nhật Tân, Trần Văn Tấn, LM Nguyễn Văn Thích, Bùi Hòe Thực, Nguyễn Toại, Tăng Thị Thành Trai, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Trường, Lê Tuyên, Lê Văn, Lê Bá Vận, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Trọng Vinh, Trương Đình Ý, Lê Yên…

Ban Thỉnh Giảng của những năm đầu: Đặng Đình Áng, Nguyễn Chánh, Trương Văn Chình, LM Trần Thái Đỉnh, Âu Ngọc Hồ, Phạm Hoàng Hộ, trương Bửu Lâm, LM Lê Văn Lý, Lê Tôn Nghiêm, Từ Ngọc Tỉnh, Nguyễn Quảng Tuân, Thái Công Tụng, Bùi Quang Tung, Phạm Việt Tuyền, LM Thanh Lãng, Lê Tài Triển. (Theo tư liệu của GS Nguyễn Văn Trường).

Về sau có các vị sau đây: Cô Martin Piat, Pierre Đỗ Đình, LM Nguyễn Hòa Nhã, GS Nguyễn Thế Anh, LM Lefas, LM Oxarango, Đại Đức Thích Thiện Ân…

Cuối năm 1957, Linh mục Cao Văn Luận cùng Tổng Thư Ký là Giáo sư Lê Thanh Minh Châu đi ngoại quốc nghiên cứu cách thức tổ chức đại học đồng thời vận động sự giúp đỡ của các quốc gia Đồng Minh đó là tới Âu châu, sang Mỹ và Gia Nã Đại. Tại Mỹ có tổ chức IRC là cơ quan tài trợ đầu tiên và nhiều nhất rồi cơ quan thứ hai là Asia Foundation kế đến là tổ chức New Land Foundation. Một số Đại học Hoa Kỳ khuyến khích và đón tiếp rất nồng hậu. Trở về Sài Gòn, Linh mục Cao Văn Luận trình bày kết quả chuyến đi với TT Ngô Đình Diệm khiến ông rất mừng rỡ. Công việc tìm kiếm thêm đất đai để xây dựng trường sở, cư xá giáo sư, cư xá sinh viên với các họa đồ thiết kế của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đều được trình lên TT Diệm phê duyệt. Mỗi lần ra Huế TT Diệm đều có đến thăm Viện Đại Học Huế và chứng kiếnkết quả việc làm của Linh mục Cao Văn Luận.

Linh mục Nguyễn Phương tốt nghiệp ở Đại Học San Francisco, California được mời từ Đà Nẵng ra Huế để dạy môn Lịch sử, đã cho chúng tôi biết, khi ra thăm Viện Đại Học Huế năm 1962, TT Ngô Đình Diệm đã tới Trường Đại Học Văn Khoa Huế, thăm Phòng Nghiên Cứu Sử và dừng lại rất lâu ở khu vực trình bày các luận văn nghiên cứu sử học của các giáo sinh Đại Học Sư Phạm để đọc xem các công trình nghiên cứu, nhất là những tập văn của Giáo sư Nguyễn Hữu Châu Phan lúc bấy giờ là Giáo sinh ĐHSP.

Tháng 10 năm 1959, sau hai năm điều hành thành công Viện Đại Học Huế, Linh mục Cao Văn Luận lại đượcTổng Thống Ngô Đình Diệm giao nhiệm vụ thành lập Viện Hán Học trực thuộc Viện Đại Học Huế với sắc lệnh 389-GD ngày 18/10/1959. Đây là mỹ ý của TT Diệm muốn bảo vệ nền cổ học và văn hóa đạo đức của nước nhà do tổ tiên để lại. Nghị định tổ chức mang số 1505 – GD ngày 9-12-1959 do Bộ Quốc Gia Giáo Dục ban hành quy định thể chế sinh hoạt của Viện Hán Học trao cho Linh mục Cao Văn Luận nhiệm vụ Giám Đốc và một chủ sự để điều hành công việc của Viện. Giáo sư Nguyễn Tuấn Cường thuộc Viện Đại Học Harvard, cho rằng với sự thành lập Viện Hán Học tại Huế, Miền Nam Việt Nam đã đi trước Miền Bắc trong lãnh vực bảo tồn nền cổ học trên ba mươi năm.

Trong sách Trung Dung, Khổng Tử đã từng viết về cốt lõi của Đại học rằng : “Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.” 大 學 之 道 在 明 明 德 , 在 新 民 , 在 止 於 至 善 . Linh mục Séraphin Couvreur, S.J. một nhà Trung Hoa Học nổi tiếng, đã dịch ra tiếng Pháp là “La voie de la Grande Étude, (c-à-d. ce que l’homme dès l’adolescence doit apprendre et pratiquer) consiste en trois choses, qui sont de faire briller en soi-même les vertues brillantes que la nature met dans l’âme de chacun, de renouveler (c-à-d. de reformer) les autres hommes, et de se fixer pour terme la plus haute perfection. (Séraphin Couvreur, Lea quatre Livres de Confucius, De l’école Francaise en Extrême-Orient, A PARIS, au 7 du faubourg St-Honoré, 1981, page 2. Sách Nho Giáo của cụ Trần Trọng Kim trích lại câu trên, dùng chữ thân dân thay cho tân dân và dịch là: “Cái đạo của bậc đại học là ở sự làm sáng cái đức sáng, ở sự thân-yêu người, ở sự đến chí thiện mới thôi.” (Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Bộ Giáo Dục & Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1971, quyển thượng, trang 177). Theo một số nhà nghiên cứu, chữ thân dân 親 民 có lúc được dùng thay cho chữ tân dân 新 民 (có lẽ vì tự dạng hơi giống nhau và ý nghĩa cũng san qua sẻ lại với nhau được). Cái ý niệm làm mới (renouveler) hay đổi mới (réformer) con người chính là cốt lõi của hai chữ Đại Học đã được Linh mục Cao Văn Luận và hàng ngũ giáo sư cộng sự viên tích cực phát huy tại Viện Đại Học Huế, một cơ sở văn hóa trọng yếu của Việt Nam Cộng Hòa ở một đất văn vật của Miền Trung. Tinh thần đổi mới và tự trị Đại Học chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của Viện Đại Học Huế trong những năm dưới quyền Viện Trưởng Cao Văn Luận. Viện Đại Học Huế bắt đầu áp dụng chế độ chuyển ngữ bằng quốc ngữ thay cho tiếng Pháp mà theo nhiều vị giáo sư đó là cách giúp cho giáo dục Đại học làm trọn vẹn chức năng của mình.

Một vị giáo sư có mặt với Viện Đại Học Huế từ những ngày đầu, Giáo sư Nguyễn Văn Trường đã viết như sau:

“Sáu niên học ở Viện Đại Học Huế (1957-1963), bể dâu lắm chuyện. Nhưng đặc thù cho giai đoạn “lập quốc” này, thiết nghĩ các việc sau đây là nổi bật nhất: Trong một chừng mực nào đó, Viện Đại Học độc lập đối với các đảng phái chính trị, tôn giáo và tự trị đối với chính quyền. Tự trị và độc lập là hai từ lớn. Nếu không nói rõ nghĩa thì hoặc chúng trống nghĩa hoặc có nhiều nghĩa nên dễ ngộ nhận.

Theo văn bản, thì Viện Đại Học tùy thuộc Bộ Giáo Dục. Cụ thể như sau đây:

“Về học vụ, sự thành lập các khoa, trường, ngành học, văn bằng, chứng chỉ phải do Bộ Giáo Dục chấp thuận.

Về nhân viên, việc tuyển dụng, lương bổng, thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo và Tổng Nha Công Vụ chấp thuận.

Về ngân sách: Quyền chuẩn chi được ủy nhiệm cho Viện Trưởng.

Như vậy, về hành chánh, Viện Đại Học trực thuộc Bộ Giáo Dục, và có thể bị chi phối bởi Bộ Giáo Dục và Tổng Nha Công Vụ.

Tuy nhiên, trong thực tế, chúng tôi không cảm thấy một sức ép nào từ những cơ quan nêu trên. Sự duyệt y các kết quả thi cử, các văn bản thành lập phòng ban v.v… có khi là cần thiết. Tự trị không có nghĩa là không luật pháp. Nhà nước cung cấp ngân sách cho Viện, sự biện minh các chi tiêu, sự kiểm soát đương nhiên là cần thiết. Có điều là khi mình thấy thong dong trong luật pháp, mình không cảm nhận bị ràng buộc, gọi như thế là tự trị, một sự tự trị thực tế, chủ quan và tương đối.

Viện đứng ngoài mọi đảng phái chính trị kể cả đảng chính quyền, các tổ chức tôn giáo. Gọi như thế là độc lập. Nhưng trên hết, tự trị và độc lập của nền giáo dục đại học nằm ở chỗ tự do truyền bá, phát huy, và thu nhận của giáo chức và sinh viên. Lẽ dĩ nhiên là trong một giới hạn khả chấp. Điều này là một giá trị hiễn nhiên của nền giáo dục Miền Nam, và là một điểm son của chế độ.

Sứ mạng, nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối của Viện Đại Học được minh định rõ trong những văn bản mà đôi bên, Chính quyền và Viện Đại Học đều nghiêm túc tôn trọng.”

Những điều giáo sư Nguyễn Văn Trường nêu trên có lẽ xuất phát từ ý niệm đại học của Karl Jaspers, một triết gia hiện sinh nổi tiếng của Đức khi ông cho rằng ý niệm đại học gồm ba nhân tố đó là sự thống nhất luôn mới mẻ của các ngành khoa học, định chế đại học và mối quan hệ giữa đại học và nhà nước trong đó Jaspers nhận ra sự hỗ tương căng bức : đại học vừa thuộc nhà nước, vừa tự trị không mang tính nhà nước. Thành hay bại là ở chỗ xây dựng được cơ chế hợp tác bền vững, ổn định và tôn trọng lẫn nhau. (Bùi Văn Nam Sơn, Ý niệm đại học: Linh hồn của giáo dục cấp cao. Tư liệu đăng tải trên mạng, Sept. 14, 2015).

Cuối năm 1958, Viện Đại Học Huế đã trưởng thành với các phân khoa hoạt động đều đặn, linh mục Cao Văn Luận nghĩ đến việc mở thêm Đại Học Y Khoa vì số bác sĩ ở Việt Nam quá ít. Cha Luận vào Sài Gòn đưa ý kiến đó ra thuyết phục TT Diệm và được TT có vẻ lưu tâm, nhưng khi TT đưa ra nội các thì các ông bộ trưởng đều bác bỏ. Chờ lâu không thấy quyết định của TT Diệm, cha Luận lại vào Sài Gòn và cuối cùng cũng xin được sắc lệnh thành lập Đại Học Y Khoa Huế. Có được sắc lệnh ấy, Linh mục Cao Văn Luận đi gặp các tòa đại sứ mà người thứ nhất là ông Costler, Phó Giám Đốc Cơ quan Viện trợ Hoa Kỳ, toà đại sứ Pháp rồi tới Tòa đại sứ Đứ gặp ông Von Wenland. Ông Jacob, cố vấn văn hóa Tòa đại sứ Đức rất thiện cảm với chương trình của cha Luận đã ra Huế gặp cha và hai tháng sau bác sĩ Krainick, giáo sư thạc sĩ từng giảng dạy Đại học đường Y khoa Freiburg được phái đến Huế. Cha Luận vào Sài Gòn xin TT Diệm tài trợ bằng cách cho lấy tiền lời xổ số kiến thiết trong 8 kỳ rồi ngài cùng bác sĩ Lê Khắc Quyến đi Đức, gặp Thủ tướng tiểu bang Baden Baden là ông Keisinger. Ngài cũng gặp Tổng giám mục Freiburg là người có ảnh hưởng trong giới đại học. Lúc bấy giờ đại học Y khoa Freiburd đồng ý bảo trợ cho đại học Y khoa Huế. Ngài cũng ghé Thụy Sĩ nhưng không có sự giúp đỡ nào đáng kể. Cha Luận đi Ba Lê tìm Bác sĩ Lê Tấn Vĩnh là một người rất nổi tiếng đang làm việc với giáo sư Lelong. Bác sĩ Vĩnh về Huế làm Khoa trưởng Y khoa được vài tháng nhưng gặp sự đố kỵ của giới Y khoa Sài Gòn nên ông từ bỏ đất Huế vĩnh viễn.

Niên khóa 1959, lớp dự bị y khoa đầu tiên của Đại học Y khoa Huế khai giảng với dàn giáo sư tạm đủ nhưng trường sở còn quá thiếu. Linh mục Luận tìm đến ông Seabern, đại sứ trưởng phái bộ Gia-Nã-Đại trong Ủy hội Kiểm soát Đình chiến, và được cấp 25 triệu cho Đại học Y khoa, 6 triệu cho Đại học Khoa học. Về phía Hoa Kỳ mãi đến khoảng năm 1961 họ mới giúp trang bị các phòng thí nghiệm và cấp 60 triệu xây cất thêm trường Đại học Sư phạm và trường Trung học Kiểu mẫu. Trong những năm từ 1957-1962, Viện Đại Học Huế tuần tự phát triển làm cho các nước Đồng Minh tin tưởng vào tương lai Việt Nam và sẵn sàng giúp VN mà không sợ phí.

So sánh ngành giáo dục của Miền Nam trong đó có sự đóng góp của Viện Đại Học Huế cùng với toàn bộ các địa phương khác ở Miền Nam so với Miền Bắc, Joseph Buttinger, một sử gia Hoa Kỳ đã phải viết rằng:

Progress in the field of education, primary as well as higher, was equally remarkable. The number of students enrolled in universities rose from 2,451 in 1954-55 to 7,496 four years later. During the same period, community “pilot schools”increased from 577 to 5,123 and the number of students in primary schools from 400,865 to 1,110,556. About 2,000 young students studied abroad. The National Institute of Administration which in 1954 had at most 25 students, in 1957 trained about 300 officials in its day progam and 3,540 in evening courses.

In conclusion, the historian made a comparison, saying, “Education was one field in which the Diem regime was a match for its Northen rival.”12

Tạm dịch: “Sự tiến bộ trong lãnh vực giáo dục cơ bản là cao hơn thật đáng lưu ý. Con số sinh viên ghi danh vào các trường đại học đã tăng từ 2,451 trong các năm 1954-55 đã lên con số 7,496 trong bốn năm sau. Cũng trong thời kỳ đó cộng đồng những trường công đã tăng từ 577 lên 5,123 và con số học sinh trong các trường tiểu học từ 400,865 lên 1,110, 556. Có khoảng 2,000 sinh viên du học ngoại quốc. Trường Quốc Gia Hành Chánh trong năm 1954 có chừng 25 sinh viên, năm 1957 đã huấn luyện được khoảng 300 viên chức theo chương trình học lớp ngày và 3,540 theo học các lớp đêm.” Trong phần kết, sử gia này làm một cuộc đối chiếu khi nói rằng “Giáo dục là một lãnh vực mà chế độ ông Diệm đã thi đua với đối thủ miền Bắc.” (Nguyễn Phương, A parade of the American puppets, A story of South Vietnam from 1954 to 1975, bản thảo 1978, trang 61).

Ngoài ra một cơ quan rất cần nhắc lại ở đây đó là Tạp chí Đại Học vốn là cơ quan ngôn luận và nghiên cứu do Linh mục Cao Văn Luận thành lập cùng với nhà in Đại Học (GS Nguyễn Văn Trường cho biết là do ông Đại sứ Ngô Đình Luyện tặng) đã để lại nhiều bài viết rất giá trị cho đến ngày nay. Tạp chí Đại Học xuất bản từ năm 1957, do giáo sư Nguyễn Văn Trung làm chủ bút, bài vở do các giáo sư thuộc viện Đại Học Huế hay Sài Gòn hoặc nhiều nơi khác trong nước viết. Năm 1961, Giáo sư Nguyễn Văn Trung chuyển vào Sài Gòn và công việc điều hành Tạp chí Đại Học được giao lại cho Giáo sư Trần Văn Toàn. Giáo sư Trần Văn Toàn, ngoài việc viết bài dẫn nhập từng kỳ báo, còn đóng góp nhiều bài vở và nhất là mời các nhóm cộng tác như nhóm của Linh mục Nguyễn Phương, Giáo sư Trần Kinh Hòa (Chen Ching-Ho thuộc Đại học hương Cảng) và lien lạc với một số người viết qua ông Nguyễn Anh (trước đây được linh mục Cao Văn Luận biệt phái ra lo việc hành chánh cho tờ Tạp chí này) là người liên lạc thẳng với Linh mục Cao Văn Luận để lo trả tiền nhuận bút cho các tác giả có bài đăng báo. Sau đó ít lâu khi Gioá sư Bùi Xuân Bào ở Pháp về, nhóm học trò cũ của ông Bào (cũng là học trò cũ của cha Luận; vì thế trước khi cha Luận đi khỏi Huế, họ có tặng cha 4 chữ Nho đầy ý nghĩa: Sư sinh đại nghĩa) là Lê Tuyên, Lê Văn, Lê Khắc Phò v.v… bàn với nhau và với cha Luận là để Giáo sư Bùi Xuân Bào làm chủ trương biên tập thay Giáo sư Toàn, nhưng sau không thấy gì vì Giáo sư Bào ở lại Sài Gòn. Sau khi Linh mục Cao Văn Luận đi khỏi Viện Đại Học Huế (1964) không còn tiền nhuận bút nữa và Tòa Viện trưởng lại đưa ông Nguyễn Anh về làm ở Tòa Viện trưởng, Tạp chí Đại Học phải đình bản. Sau đó là nhóm Lập Trường (chủ yếu là Lê Tuyên, Hoàng Văn Giàu dựa thế Phật Giáo ở Huế) nắm lấy nhà in Đại Học coi như là của riêng của họ. (Trao đổi với Giáo sư Trần Văn Toàn, tháng 10-2005, lúc đó sống ở Lambersant, Pháp).

Về phương diện củng cố và phát triển Đại Học Huế, Linh mục Cao Văn Luận nhận xét về TT Ngô Đình Diệm rằng: “Trong phạm vi phương tiện và khả năng của ông, tôi nhận thấy ông Diệm đã không ngần ngại một việc gì để giúp cho Đại Học Huế lớn mạnh. Ông có thể sai lầm về chính trị, nhưng những nỗ lực phát triển văn hóa điển hình là việc thành lập và mở mang Đại Học Huế, thì tôi thấy cần phải công tâm và nhận định rằng ông Diệm đã có công đáng kể. Biết bao nhiêu người quyền hành trong tay đã không làm được như ông Diệm.”(Bên Giòng Lịch Sử, trang 322).

Sau khi ở Huế xảy ra vụ treo cờ Phật Giáo, rồi vụ nổ ở Đài phát thanh Huế khiến có người chết và bị thương, cuộc đấu tranh của Phật giáo chính thức bùng nổ. Linh mục Cao Văn Luận cho biết : “Ở cương vị một Viện Trưởng Đại Học, với truyền thống tự trị của Đại Học mà tôi đã thâm nhiễm từ Pháp, tôi không thể nào đi ngược lại các phong trào sinh viên mà tôi biết chắc trước sau cũng bùng lên.” (Bên Giòng Lịch Sử, trang 337). Trung tuần tháng 5-1963, cha Luận cùng GS Âu Ngọc Hồ đi Mỹ, có tiếp xúc rất nhiều giới chính trị như TNS Mike Mansfield thuộc đảng Dân Chủ, TNS Dirksen thuộc đảng Cộng Hòa, cả hai đều tỏ ra thất vọng về chế độ của TT Diệm. Ngài cũng có gặp Robert Kennedy là người chỉ trích rất mạnh chế độ VNCH cùng với báo chí Hoa Kỳ. Một nhân vật tình báo, ông Fishell gặp cha Luận và cho biết nếu cụ Diệm không thay đổi đường lối thì nội trong năm 1963 Mỹ phải tìm cách loại bỏ cụ khỏi sân khấu chính trị VN. Khoảng đầu tháng 6-1963, linh mục Luận từ Nữu Ước được lệnh triệu hồi về Sài Gòn gặp TT Diệm. TT Diệm định cách chức một số khoa trưởng, giáo sư, vì họ không kiểm soát được sinh viên. Linh mục Luận vội ngăn lại và hứa cố gắng dàn xếp đã, sau đó được chăng hãy tính. Cha Luận về Huế rồi sau đó không lâu vào Sài Gòn gặp riêng TT Diệm cho biết nếu cụ có những thay đổi chính trị thì Mỹ có thể tiếp tục ủng hộ VN để chiến thắng Cộng sản, nếu không nội cuối năm 1963 Mỹ sẽ dùng Phật giáo làm cái cớ để lật đổ chế độ của cụ.

Lúc bấy giờ người Mỹ xâm phạm quá đáng vào chủ quyền dân tộc của Miền Nam Việt Nam, muốn đem quân vào nhưng việc đó sẽ làm mất chính nghĩa của chúng ta. Cabot Lodge đã hành xử y hệt một tên thái thú Trung Hoa ngày trước vì họ nghĩ nhiều đến câu châm ngôn “ai chi tiền thì người đó cai trị” (qui paye, gouverne).

Khoảng giữa tháng 8 năm 1963, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục vào Sài Gòn đề nghị với TT Diệm bãi chức Viện trưởng Đại Học Huế của Linh mục Cao Văn Luận vì ngài đã không tích cực trong việc vận động sinh viên phật tử, hoặc ít ra im lặng để cho sinh viên phật tử tham gia các cuộc đấu tranh Phật giáo. Đức Cha Thục đề nghị đưa ông Trần Hữu Thế lên thay cha Luận và chiều ngày 14-8 Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Nguyễn Quang Trình ra Huế thông báo quyết định bãi chức với cha. Sáng hôm sau ngài được lệnh bàn giao chức vụ Viện Trưởng, có mặt ông Nguyễn Quang Trình, Trần Hữu Thế và một ít khoa trưởng và giáo sư tham dự. Trong diễn văn ứng khẩu ngắn, Linh mục Cao Văn Luận xin chuyển lời cám ơn TT Ngô Đình Diệm đã cất cho ngài khỏi gánh nặng làm Viện Trưởng Viện Đại Học Huế trong giai đoạn khó khăn và đầy trách nhiệm này. Ngài cũng mừng được trở lại đời sống tu hành và nhất là mừng vì ngọn đuốc văn hóa mà ngài và các cộng sự viên đã cố gắng nhóm lên ở Huế nay được trao cho một bàn tay khác hy vọng đủ khả năng làm bừng sáng lên…

Tin linh mục Cao Văn Luận bị bãi chức loan truyền tại Huế rất nhanh vào buổi trưa và hàng ngàn sinh viên kéo đến tư thất của Ngài để yêu cầu ngài trở lại chức vụ cũ nhưng ngài vào Đà Nẵng rồi sau đó vào Sài gòn, không nhận chức đại diện VNCH tại cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO).

Sau ngày lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, những xáo trộn và hỗn loạn chính trị xảy ra đúng như sự lo sợ của linh mục Cao Văn Luận. Đối với TT Diệm, dù sao Linh mục Cao Văn Luận cũng có mối tình tri ngộ, tình bằng hữu, và ngài không khỏi bùi ngùi cho số phận một dân tộc nhược tiểu, mang tiếng độc lập, nhưng mối dây cai trị đều trong tay một thế lực ngoại quốc. Ngài không mong cho ông Diệm và chế độ của ông sụp đổ mà chỉ mong sao cho ông và chế độ của ông tránh được những lỗi lầm để tồn tại.

Thời gian không lâu sau, một Ủy ban đại diện sinh viên và Giáo sư Viện Đại Học Huế vào Sài Gòn mời Linh mục Cao văn Luận ra Huế giữ chức Viện Trưởng lại, ngài từ chối, nhưng sau đó khi ông Nguyễn Ngọc Thơ, rồi Dương Văn Minh mời ngài vào gặp và khẩn khoản xin ngài nhận lại chức vụ cũ, cha Luận đồng ý sau khi cân nhắc kỹ càng khi có quyết định của Dương Văn Minh.

Linh mục Cao Văn Luận nghĩ rằng nếu trở lại chức vụ Viện trưởng Đại Học Huế, ngài có thể chứng minh được rằng trước cũng như bây giờ đạo Công Giáo không hề có chủ trương kỳ thị tôn giáo. Trong những câu chuyện ông Nguyễn Ngọc Thơ cũng tỏ lo lắng rằng nếu sinh viên Huế không có một vị Viện trưởng có uy tín hướng dẫn thì có thể tham gia vào những phong trào kỳ thị tôn giáo gây ra không biết bao nhiêu tang thương cho đất nước và khó khăn cho chính phủ. Tướng Dương Văn Minh cũng có những lo lắng tương tự. Hơn nữa vì tinh thần trách nhiệm và một số công việc còn dở dang và đó là những yếu tố ảnh hưởng trên quyết định trở lại chức vụ Viện trưởng của cha Luận.

Cái chết của TT Diệm, theo linh mục Cao Văn Luận, làm cho tương lai Việt Nam trở nên đen tối hơn. Đại sứ Đức, Ông Von Wenland rất phàn nàn về cái chết của hai anh em TT Diệm và ông Nhu, đã từ chức và trở về Đức. Cái chết của TT Diệm và ông Nhu đã làm cho một số người Mỹ xúc động và quay lại có cảm tình với TT Diệm hơn trước. Bộ mặt của những người thay thế TT Diệm cũng dần dần hiện rõ và người Mỹ thấy bộ mặt thật đó chẳng đẹp đẽ gì hơn.

Cha Luận cũng nêu ra những việc làm quá lố của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.

Trung tuần tháng 8-1964, nhóm Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên, Hoàng Văn Giàu, Mai Văn Lễ, Cao Huy Thuần, Tôn Thất Hanh thành lập Phong Trào Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế, gán cho Công Giáo là Cần Lao, tiến hành các hoạt động kỳ thị tôn giáo, dùng Viện Đại Học Huế làm cơ sở đấu tranh, tổ chức đốt hai làng Công Giáo Thanh Bồ Đức Lợi ở Đà Nẵng, đập phá Trường Nguyễn Bá Tòng, đốt tòa báo Xây Dựng của Lm Nguyễn Quang Lãm…Là con người “uy vũ bất năng khuất” Linh mục Cao Văn Luận đã cương quyết chống đối lại chủ trương chính trị này. Ngài hằng duy trì chủ trương Đại học chỉ duy nhất có một thiên chức là phát huy văn hóa thuần túy. Chính trị không thể tự do vào tung hoành hoặc lũng đoạn trong lãnh vực Đại học dưới quyền ngài điều khiển. Ngay thời đấu tranh chống chế độ Ngô-Đình ngài cũng không bao giờ chấp nhận cho các giáo sư và sinh viên chọn Đại học làm địa điểm tập trung sách động.

Chính Linh mục Cao Văn Luận đã từng thẳng thắn nói với Lê Khắc Quyến: “Anh dư biết mơ ước của tôi là phát huy văn hóa dân tộc. Trước đây tôi đã nhiều lần nói với các anh rằng chính trị là nhất thời văn hóa mới trường cửu. Nếu Đại học muốn trường cửu, Đại học không nên làm những chuyện nhất thời…Tôi không muốn cho Đại học có Đảng phái chính trị. Chẳng phải lúc này tôi mới có chủ trương lập trường nầy mà ngay từ khi Đại học mới khai sinh, tôi cũng đã nhấn mạnh đến lập trường của tôi. Khi nào tôi còn giữ chức coi sóc Đại-học Huế. Tôi còn tranh đấu đến cùng, để Đại-học chỉ là khu vực thuần túy văn hóa thôi, Không ngờ lúc này các anh đặt văn phòng của phong-trào ở Đại học mà không cho tôi hay. Lại khám xét sinh viên trước khi họ vào trường nữa. Đó là chuyện trái ngược với không khí của Viện Đại học nầy. Nếu các anh tiếp tục hoạt động, các anh gắng tìm chỗ khắc đặt văn phòng, xin trả Đại học lại cho tôi ngay.”

Giáo sư Lê Khắc Quyến lớn giọng:

-Cha đuổi chúng tôi hả?

Tôi lắc đầu:

-Không phải đuổi. Anh nói quá. Tôi chỉ yêu cầu các anh trả lại không khí trầm mặc cho Đại-học. Tôi chưa hiểu rõ lắm về phong trào của các anh, nhưng có đi phố và nhìn thấy nhiều khẩu hiệu đả đảo tướng lãnh, đồng hóa người Công Giáo với Cần-lao. Tôi là Công Giáo, nhưng không phải bất cứ người công-giáo nào cũng là đảng viên Đảng Cần-lao của chế độ cũ. Tập thể Cần-lao không xấu, chỉ có cá nhân xấu mà thôi. Cho nên các anh đừng lẫn lộn…”(Bên Giòng Lịch Sử, trang 446).

Ngày 18-9-1964, một số giáo sư, trong đó chủ chốt là Lê Tuyên - học trò của Linh mục Cao Văn Luận và cũng là tay chân thân tín của TT Thích Trí Quang - người mới đây vài ngày đã tặng Linh mục Luận bức hoành phi ghi bốn chữ Hán sơn son thiếp vàng “Sư sinh đại nghĩa” (Thầy trò nghĩa lớn) thì nay cùng với sinh viên họp tại Viện Đại học Huế yêu cầu Linh mục Cao Văn Luận từ chức để khỏi trở ngại cho chiến dịch bài trừ Cần Lao của Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc. Lúc này họ ra một tờ báo có tên Lập Trường vạch mặt chỉ tên những người mà họ cho là Cần Lao ác ôn, tay sai hoặc công an mật vụ của chế độ cũ. Dĩ nhiên lúc này Linh mục Cao Văn Luận là cái gai trước mắt cần phải nhổ, vì ngài là một linh mục Công Giáo giữa khối đông Phật Giáo ở Huế.

Ở Sài Gòn giáo sư Lý Chánh Trung là một tay thân Cộng thấy rõ, đã ủng hộ Phật Giáo trong cuộc tranh đấu chống chính phủ Ngô Đình Diệm, nhưng nay thấy cảnh học trò phản bội thầy rất đỗi chướng tai gai mắt nói trên, đã viết bài “Loạn để trị” trong tạp chí Tìm Hiểu số 2 tháng 10 năm 1964 như sau: “Một nhóm Giáo chức Đại Học họp lại, đánh điện tín là ông Viện Trưởng phải từ chức, vì sự hiện diện của ông “không cần thiết nữa”. Rồi người ta thấy Bộ Giáo Dục chấp nhận ngay sự từ chức đó, rồi ông Thủ Tướng bổ dụng ngay chính ông Tổng Trưởng Giáo Dục kiêm nhiệm chức Viện Trưởng Viện Đại Học Huế. Ôi, con rùa hành chánh sao bỗng dưng lại đi nhanh thế!” Cũng hay là lúc bấy giờ có nhiều sinh viên Đại Học Huế không đồng ý quan điểm của một số giáo sư nói trên, đã làm kiến nghị phản đối nhưng họ bị các phần tử quá khích đe dọa. Một giáo sư đại diện cho phe Phật Giáo đấu tranh đã trả lời rằng Cha Luận giống như một “ung thư” phải cắt đi để khỏi làm tê liệt thân thể. Giáo sư Lý Chánh Trung đã vạch trần thủ đoạn của nhóm kia về cái “ung thư” đó như sau:

“Cái ‘ung thư’ Cao Văn Luận đã mọc từ trong bào thai của Viện Đại Học Huế. Nó đã khai sinh và làm cho trưởng thành cái bào thai đó. Cái “ung thư” đó đã lê cái thân già đi khắp cùng trái đất, xin tiền, kiếm người, khẩn khoản mời mọc từng người về giúp Viện Đại Học Huế, không phân biệt chính kiến, địa phương, tôn giáo. Và kết quả sau 7 năm trời xem cũng “được” lắm chứ. Cái trường Y Khoa của Bác Sĩ Quyến, nếu không có niềm tin, cái gan lì và công cuộc vận động của Cha Luận, thì làm sao thành hình?”

Sau khi nói về những bất mãn của nhiều giới, giáo sư Lý Chánh Trung viết tiếp: “Thật ra các anh đã “cách chức” Cha Luận vì Cha không đồng ý với các anh về mặt chính trị. Như vậy Viện Đại Học Huế đã biến thành một đảng chính trị rồi đó. Và ai không đồng ý với các anh đều là “ung thư” phải mổ phăng đi cho…”dễ làm việc” có phải vậy không?”

“Các anh đòi hỏi dân chủ. Đòi hỏi dân chủ bằng cách bắt đầu độc tài, độc đoán; bắt đầu khệnh khạng, huênh hoang; bắt đầu làm chủ nhân chân lý, “xếp sòng cách mạng.” (Lý Chánh Trung, Ba năm xáo trộn, Nam Sơn xb. 1966, trang 108-112).

Sau đó Linh mục Cao Văn Luận vĩnh biệt Huế và ở mãi tại số 32 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn là trụ sở của Giáo Phận Vinh. Ngài dạy các Trường Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn về môn Pháp văn. Năm 1971, Ngài làm Cha Chính giáo phận (Vicarius Generalis) thay thế cha Trương Cao Khẩn. Ngài là thành phần nồng cốt và chủ tịch của một trong những ban quan trọng thuộc Hội đồng nghiên cứu thành lập Hàn Lâm Viện Quốc Gia Việt Nam.

Trước ngày 30-4-1975, Linh mục Cao Văn Luận di tản ra nước ngoài, sống ở Vương quốc Bỉ, làm cha xứ Saint-Martin tại Acoz (Charlerois) một thời gian. Sau đó linh mục sang Hoa Kỳ, hưu dưỡng tại Dòng Đồng Công và qua đời tại Petaluma, California ngày 20-7-1986 trong chuyến viếng thăm thân nhân tại vùng này. Linh mục Cao Văn Luận thọ 78 tuổi, 47 năm làm linh mục.

Đôi điều “cái quan định luận”…

Nhận định về một nhân cách lớn như Linh mục Cao Văn Luận, Giáo sư Nguyễn Văn Trường viết rằng: “Tôi có cảm tưởng rằng Cha là cây dù lớn. Cha có quyền, có thế. Nhưng không lấy quyền thế ấy mà bao che cho những điều xằng bậy. Ông đã dùng quyền thế ấy để tạo một không khí thích hợp với cái nhìn chung của đông đảo anh em chúng tôi về giáo dục và riêng về giáo dục đại học. Ông đã biết sử dụng vị thế hết sức đặc biệt của mình để đối thoại với các thế lực chính trị, tôn giáo, đoàn thể. Chính quyền đương thời cũng hiểu sức khỏe mong manh của một tổ chức đại học mới đâm chồi, và biết trân trọng đối với những thành quả đầu tiên.”

Nói về việc trở lại Viện Đại Học Huế của Linh mục Cao Văn Luận sau biến cố lật đổ chế độ của TT Diệm, Giáo sư Nguyễn Văn Trường đã viết những lời thật thấu đáo tới căn để ruột gan: “Nhiều người trách cha sao không biết cái thế, cái thời, cái tiến, cái lui, ham chi chút đỉnh chung mà trở về tại Huế sau Cách Mạng 11-63. Sao Cha không làm một Bá Di, Thúc Tề, để tiếng cho người sau? Trách thì cứ trách, chê thì cứ chê. Vì người chê, kẻ trách ai cũng có lý. Nhưng nói đi thì cũng phải nghĩ lại. Nghĩ cho cùng, ơn mưa móc nhà Ngô, Cha đã hưởng được gì. Cũng những bữa cơm đạm bạc, cũng chiếc áo choàng nhà tu. Lụa là, nem công chả phượng gì cho cam.” Cái quyền, cái thế Cha có được, Cha cũng đã chỉ đem ra gầy dựng cho Viện Đại Học Huế.

Lại nói, khi Cha trở về sau tháng 11-63, không ai không thấy quyết định nông cạn của Cha. Nhưng cũng nên nghĩ lại mà thương Cha. Cha là cha triều mà không có họ đạo, có khác chi kẻ vô gia cư. Cả cuộc đời, Cha lo công việc giáo dục, lấy học trò làm con, lấy ngôi trường làm nhà ở. Nhà ở của Cha, cuộc đời của Cha là Viện-Đại-Học Huế. Hành động của Cha cũng nên được nhìn như là một lần trở về với gia đình, với mái nhà của Cha, để tìm ở đó một chút thân thương cuối cùng trong cuộc sống. Cha đã không tìm được điều đó, điều mong ước độc nhất trong cuộc đời Cha. Và người ta đã đuổi Cha đi, đuổi Cha ra khỏi mái ấm gia đình của Cha. Sao lại nở trách Cha, mà không hiểu cho Cha!”

Vị giáo sư người Nam nầy đã viết tiếp: “Có một thời dân cư xứ Huế, thân hào nhân sĩ, học giả, công nhân viên chức, ở mọi giai từng xã hội, cùng với một bọn trẻ, động cơ khác nhau, từ những nguồn gốc khác nhau, có người ngoại quốc, cùng nhau sát cánh với Linh Mục Cao Văn Luận xây dựng một Viện Đại Học cho con em hiếu học. Viện Đại Học này, trong phạm vi khả thể, đã làm tròn trách vụ của mình. Bao nhiêu người trẻ hiếu học đã có cơ hội học hỏi thăng tiến…”

Linh mục Cao Văn Luận xuất thân từ môi trường giáo dục trí thức Công Giáo sống cuộc đời một bậc lương sư đúng vào thời điểm có thể đem kiến thức tài năng ra chấn hưng đất nước, phụng sự dân tộc trong trách nhiệm của mình, mặc dù thời gian ngắn ngủi qua lãnh vực giáo dục chỉ có bảy năm. Tuy nhiên thời gian những năm sống và du học ngoại quốc và nhất là những nỗ lực vận động cho Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi trở về trong nước, với tinh thần ái quốc dạt dào, Linh mục Cao Văn Luận cũng đã tỏ rõ hết trách nhiệm của mình trước thế nước lòng dân. Với tâm thức của một kẻ sĩ, Linh mục Cao Văn Luận là người luôn cố gắng “tận nhân lực tri thiên mệnh” nên trong những khó khăn vẫn cố làm hết sức mình dù phải vất vả ngược xuôi và chịu tiếng thị phi. Đức Cha Ngô Đình Thục đã có lần gán cho ngài tĩnh từ không mấy đẹp là “prétentieux” (người tự phụ) nhưng thật ra đó cũng là lời khen vì tự phụ là ngoại biên của tự tin, bởi lẽ trong những quyết định về văn hóa, giáo dục kể cả chính trị, không có tự tin (lẫn tự phụ) sẽ không làm được gì. Vả lại nơi con người xứ Nghệ Tĩnh đức tính tự tin là một trong những nét độc đáo của họ vốn là khả năng tạo nên lịch sử như đã từng được chứng minh.

Linh mục Cao Văn Luận là một mẫu người trí thức dấn thân vì trách nhiệm tự đặt ra cho mình hay vì thời cuộc sắp xếp, đúng với câu nói của Nguyễn Lộ Trạch, người Thừa Thiên một nhân sĩ yêu nước thế kỷ XIX, tác giả bản chính luận nổi tiếng “Thiên Hạ Đại Thế Luận”:

“Có trách nhiệm với đời một ngày thì cũng có việc làm của một ngày. Người quân tử rất ghét những kẻ lấy cớ thời vận để thoái thác trách nhiệm.”

Là một Viện Trưởng có nhiều công lao nhất của Viện Đại Học Huế nói riêng và là một nhà văn hóa nổi tiếng nói chung, linh mục Cao Văn Luận đã thật sự có một chỗ đứng đặc biệt trong lòng các môn sinh của ngài; chỉ tiếc rằng lý tưởng “lương sư hưng quốc” của một bậc sĩ phu yêu nước như ngài chưa thực hiện được dài lâu, tuy vậy sự nghiệp văn hóa giáo dục của ngài cũng đã để lại dấu ấn bất hủ trong lịch sử văn hóa dân tộc.

NGUYỄN ĐỨC CUNG
Philadelphia ngày 20-9-2015
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#7372 Posted : Wednesday, April 19, 2017 12:40:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)


ĐTC Phanxicô - con người truyền thông biết dung hòa
giữa tính cá nhân và tính chuyên nghiệp


Thứ Ba, 18-04-2017 | 22:23:25

Nhân Lễ Phục Sinh, suy nghĩ về sự trợ giúp chuyên nghiệp về truyền thông dành cho Đức Phanxicô, vị Giáo hoàng rất đặc biệt.

UserPostedImage


Đối với bất cứ ai làm việc trong lĩnh vực thông tin thương mại, ĐTC Phanxicô chính là một giấc mộng, và một cơn ác mộng, khi cùng cộng tác với Ngài. ĐTC Phanxicô là một người giao tiếp tự nhiên, có tính cách cởi mở và dễ bị công kích một cách nào đó có thể tình cờ thấy trên sóng vô tuyến. Tuy nhiên, những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong Triều đại Giáo Hoàng của Ngài, chẳng hạn như việc ĐTC Phanxicô ôm chầm lấy một người đàn ông với khuôn mặt bị biến dạng kinh khủng bởi một căn bệnh về da, hoàn toàn là một cử chỉ không hề được chuẩn bị trước. Và thường thì, ĐTC Phanxicô sẽ nói một điều gì đó có vẻ căng thẳng và phản đối bất kỳ những lời khuyên về quan hệ công chúng nào mà Ngài nhận được: chẳng hạn như khi Ngài phản ứng trước vụ thảm sát các nhà báo trên tờ tạp chí Charlie Hebdo bằng cách nhấn mạnh rằng mọi người nên tránh việc xúc phạm những điều mà người khác coi là thiêng liêng. Dù quý vị có suy nghĩ gì về nhận xét đặc biệt này, một nhà lãnh đạo tôn giáo thuyết phục sẽ luôn luôn thận trọng đối với quyền đưa ra những điều bất ngờ này.

Thế nhưng ĐTC Phanxicô, cũng giống như bất kỳ những nhân vật nào khác có hàng trăm triệu người theo dõi đối với mọi phát ngôn, rất cần đến sự trợ giúp chuyên nghiệp nhằm truyền bá những Giáo huấn của Ngài, với tốc độ lan truyền cũng như việc chuyển dịch nhanh chóng sang nhiều ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn như ngày nay, các tín hữu Công giáo ở nhiều quốc gia đang chờ đón để được lắng nghe Sứ điệp Phục Sinh ‘Urbi et Orbi’ (cho thành Rome và cả thế giới) hàng năm từ Đức Giáo Hoàng, vốn như thường lệ đã kết hợp yếu tố tâm linh với những sự kiện mang tính thời sự: ĐTC Phanxicô đã lên án một vụ đánh bom tự sát làm thiệt mạng hơn 100 người, chủ yếu là những người tị nạn tại Syria, cũng như nỗi ám ảnh kinh hoàng của nạn đói kém đang bùng nổ ở nhiều nơi tại Châu Phi.

Một số người đã phải sử dụng đến tài khoản Twitter ‘@Pontifex’ của Tòa Thánh, một tài khoản với 12,8 triệu người theo dõi bằng tiếng Tây Ban Nha và 10,6 triệu người theo dõi bằng tiếng Anh. Vào tháng 6 năm 2015, ĐTC Phanxicô đã khởi động một nỗ lực nhằm tổ chức lại một cách hiệu quả hơn đối với những thông tin được đưa ra của Tòa Thánh bằng cách thành lập Ban thư ký Truyền thông, chịu trách nhiệm về các phương tiện truyền thanh, truyền thông, các phương tiện truyền thông xã hội cũng như các tài liệu bằng văn bản. Đức ông Dario Vigano – Chủ tịch Quốc Vụ Viện Truyền Thông đầu tiên, tự nhận là một fan hâm mộ của truyền thông kỹ thuật số với một tình cảm nồng hậu dành cho Walt Disney.

Và chỉ trong vài ngày qua, ĐTC Phanxicô đã làm tò mò các tín hữu Công giáo Hoa Kỳ, bằng cách chỉ định hai cố vấn mới cho Ban Thư ký Truyền Thông – những người đại diện cho các hương vị tôn giáo rất khác nhau tại Hoa Kỳ. Người đầu tiên đó là Cha James Martin, một linh mục Dòng Tên có tư tưởng thoáng đạt và sáng suốt, Ngài cũng là một nhà văn có tư tưởng hết sức phong phú, một người tốt nghiệp từ một trường chuyên về lĩnh vực kinh doanh và đồng thời là một người sử dụng tinh thông mạng xã hội Twitter với hơn 100.000 lượt người theo dõi tài khoản cá nhân. Một người khác đã được ĐTC Phanxicô chỉ định đó là ông Michael Warsaw – một nhân vật bảo thủ hơn, từng là Giám đốc điều hành của Mạng lưới ‘Eternal Way Television Network’ (EWTN), một chương trình truyền hình Công giáo đã tuyên bố hiện diện tại hơn 200 triệu hộ gia đình ở 100 quốc gia. EWTN đã được sáng lập bởi Mẹ Angelica, một nữ tu dòng chiêm niệm thánh Clara, buổi phát sóng đầu tiên đã được thực hiện ngay trong nhà để xe đã được cải tạo lại của tu viện ở Birmingham, Alabama.

UserPostedImage


Các nhà bình luận Công giáo bảo thủ đã có những phàn nàn đối với Cha Martin mà những tác phẩm của ngài bao gồm một quyển sách nói về về việc Giáo hội có thể xây dựng những mối tương quan tốt đẹp hơn với những người đồng tính. Phản ứng trước hành động buộc một hành khách phải rời một chuyến bay của hãng United Airlines, Cha Martin đã viết trên trang blog của mình rằng những sự việc như thế đã phản ánh các bệnh lý của chủ nghĩa tư bản. Ngài cũng là một biên tập viên cộng tác với tờ tạp chí America – một tạp chí tự do của Hoa Kỳ. Cha Martin cũng đã viết một cuốn sách có tựa đề “Between Heaven and Mirth” nói về tầm quan trọng của sự hài hước trong tôn giáo.

Bất kể những sự khác biệt, Cha Martin và Giám đốc điều hành Warsaw đều có điểm chung: cả hai đều là những nhân tố làm cho việc ký kết hợp đồng thông tin thương mại với các cấu trúc mới, đầy linh hoạt và tương tác. Theo một cách nào đó, toàn bộ ý tưởng của việc thành lập Ban thư ký truyền thông độc nhất, nắm hết mọi quyền lực khá là lỗi thời, trừ phi ban thư ký đó có thể được thuyết phục để chia sẻ sứ mạng của nó với nhiều bộ phận độc lập. Hiện nay, ĐTC Phanxicô sẽ có thể nhận được những lời khuyên từ hai cố vấn người Mỹ – những người có thể giải thích một cách khéo léo về vấn đề đó.

Erasmus

Minh Tuệ chuyển ngữ
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#7373 Posted : Wednesday, April 19, 2017 1:51:16 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)
KHÔNG QUÂN NGOẠI TRUYỆN

Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.


UserPostedImage


I- Đừng Đợi Ngày Mai...


RẤT NHIỀU NGƯỜI có thể không biết nhạc sĩ Trần Duy Đức là một quân nhân từng phục vụ tại Sư Đoàn 6 Không Quân Pleiku trước 1975. Nhưng ngày nay, tại hải ngoại cũng như quốc nội, hầu như ai cũng biết lời ca “Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ, đừng đợi ngày mai đến lúc tôi qua đời”(1), mà tác giả là nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ thơ Ngô Tịnh Yên

Câu hát như một lời kinh, ai nghe cũng đồng tình. Mà đúng vậy, không lẽ đợi đến ngày mai, lúc nghĩa tận, mới rủ rê thăm viếng, nói lời yêu thuơng, đặt vòng hoa phúng điếu, thậm chí còn sưu tầm tướng mạo quân vụ, làm lễ phủ cờ, gác quan tài, đọc điếu văn nữa thì ích lợi gì ? Đến lúc đó thì đã muộn màng vì “cát bụi làm sao mà biết mỉm cười?”(1), cát bụi làm sao biết nói lời tạ ơn những biểu hiện của tình cảm trân quý đó?

Cho nên, nếu “có tốt với tôi thì tốt với tôi bây giờ”(1). “Tôi” trong lời ca là nói chung cho con người, cho dân tộc hay gia tộc, cho bằng hữu hoặc đồng bào đồng đội cùng màu cờ sắc áo...

Trong Không Quân, có Ban Quân Sử ghi chép những sự kiện liên quan đến hoạt động của Không Quân. Đặc San Lý Tưởng, các Đặc San KQ khác và các Trang nhà KQ có mục Không Quân Ngoại Truyện (KQNT) ghi lại những nhân vật đặc biệt của Quân chủng. Những bài viết về KQNT không hẳn là dã sử nhưng những tình tiết trong câu chuyện hoàn toàn dựa trên người thật việc thật, được viết với giọng văn kể chuyện đôi khi pha một chút hóm hỉnh, như là đặc tính của KQ mà người ngoài cuộc có khi không thấm để mà...cười!.

Trong hơn một triệu chiến sĩ phục vụ trong Quân Lực VNCH trước kia, rất ít người biết đến con số 6000 nữ quân nhân (NQN) hiện diện dưới cờ. Và trong 64 ngàn chiến hữu đệ huynh Không Quân (KQ) (2), rất ít người biết đến con số trên 300 NQN (?) phục vụ trong toàn Quân chủng mà người đứng đầu là Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.
Chúng tôi cũng nằm trong số “rất ít người” đó.

Trong cuộc chiến giữ nước khốc liệt trước kia, mỗi một quân nhân đều nhận một nhiệm vụ và ngày đêm lo hoàn thành nhiệm vụ do cấp trên giao phó, không ai rãnh rổi để đi tìm hiểu hoạt động của các đơn vị bạn, nhất là đơn vị bạn lại là...Nữ Quân Nhân! (trừ trường hợp cá nhân đặc biệt!).

Trải qua bao dâu bể, do cơ duyên, chúng tôi gom góp được ít điều chưa biết trước kia và muốn chia sẻ cùng quý vị, ngay bây giờ, vì chúng tôi e rằng nếu để đến ngày mai có khi muộn màng. Điều tôi muốn chia sẻ là, bóng dáng một Trưởng Phân Đoàn Nữ Quân Nhân Không Quân, Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.

II- Một Mảnh Nhung Y Điểm Má Hồng

UserPostedImage


CHÚNG TÔI THẬT SỰ ái ngại khi muốn tiếp cận với chị. Phải bay lòng vòng thám sát mục tiêu, dọ hỏi quân bạn (các NTKQ Bồ Đại Kỳ kỹ thuật, Nguyễn Cầu radar, Nguyễn Văn Ức trực thăng, Nguyễn Quí Chấn khu truc...), cho đến khi đã nắm chắc một số dữ kiện (là chị Hạnh Nhơn thật là hiền lành chứ không chằn ăn trăn quấn đâu), chúng tôi mới quyết định gởi điện thư để xin được tiếp chuyện với chị qua điện thoại.

Nhìn chị trên TV qua các lần Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh...thì tôi vẫn nghĩ trong đầu, cao lắm thì chị Hạnh Nhơn hơn tôi vài niên kỷ và vài năm thâm niên quân vụ là cùng, (tôi nhập ngủ 1960). Nhưng không phải thế, chị thuộc loại Đại Niên Trưởng của tôi rồi. Năm 1950, chị gia nhập Việt Binh Đoàn ở Huế thì tôi đang học tại Trường Nam Tiểu Học Đà Nẵng. Năm 1952, chị trúng tuyển ngành Nữ Phụ Tá (P.A.F.

=Personnel Auxiliaire Féminin), mang cấp Chuẩn Úy và năm 1957, thăng cấp Thiếu Úy đảm nhiệm chức vụ Sĩ Quan Tiếp Liệu Quân-Y-Viện Nguyễn Tri Phương - Huế, thì tôi vẫn còn vật lộn với sách đèn dưới mái trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẵng!
Ngày nay, không phải loại lão nhi như tôi mới có cái nhìn lệch lạc về dung nhan của chị Hạnh Nhơn, mà ngay cả lão trượng Vũ Văn Lộc, Đại Tá, tức nhà văn Giao Chỉ cũng mắc phải bé cái lầm một cách thật thà và dễ thuơng, như: “(…) Vâng, cả chị Hạnh Nhơn nữa, Giao Chỉ tôi lâu nay vẫn cậy mình ở tuổi cao niên nhưng bây giờ thì đã biết rằng vẫn còn thua các thuyền quyên xứ Huế về cả tuổi tác lẫn thâm niên quân vụ”. (Đặc San Cựu Nữ Quân Nhân QLVNCH, Hội Ngộ Kỳ IV, 08/2007. Niên Trưởng Hồ Thị Vẻ, Giao Chỉ, trang 9).

Quý Bô Lão Không Quân tại miền Trung Cali thường họp mặt vào đầu tháng 7 hằng năm. Ban Tổ Chức phát quà lưu niệm cho các Bô Lão đạt đến tuổi 70 trở lên, (cứ cọng thêm 5). Buổi họp mặt năm 2007, sau khi nhận quà lưu niệm có khắc tên và số 80 niên kỷ, KQ Nguyễn Cầu trong BTC bất ngờ phỏng vấn chị Hạnh Nhơn: “Xin Lão Trượng vui lòng cho biết, bằng bí kíp nào mà ở tuổi nầy trông Lão Trượng vẫn trẻ đẹp như Lão Nhi 70 vậy?”. Dù bất ngờ, nhưng chị đã ứng khẩu: “Bí kíp là tôi trường chay, xả bỏ mọi chuyện vô ích và làm việc thiện!”

Bi kíp mà chị công bố, mới nghe có vẻ dễ, khi nghĩ lại thì chỉ có thánh nhân mới thực hành nỗi, còn người phàm như chúng tôi thì...bù trất!

Người xưa bảo, coi mặt mà bắt hình dong, vào thời thanh niên, chị Hạnh Nhơn chắc hẳn là một Sĩ Quan đầy ắp sáng kiến và năng lực. Từ Việt Binh Đoàn, phụ trách kiểm soát lương bổng, chuyển qua Nữ Phụ Tá, vẫn làm việc tại Sở Hành Chánh Tài Chánh, sau đó chị được bổ nhiệm về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương - Huế. Tại đây, ông Y Sĩ Trưởng Quân Y Viện thấy chị còn “sữa” quá nên chưa dám giao việc. Mãi sau khi nhận nhiệm vụ mới, Thiếu Úy Hạnh Nhơn mới chứng tỏ khả năng và óc tháo vát của mình bằng cách nổ lực chỉnh trang lại Quân Y Viện (QYV) chỉ trong vòng 3 tháng, đã đưa sinh hoạt vào nề nếp quy củ và tô điểm QYV đẹp đẽ và khang trang từ bên trong đến bộ mặt bên ngoài. “Chị xin Quân Nhu kệ, bàn, tủ, máy đánh chữ..., xin Kho Y Dược thuốc, y cụ, giường nệm, chăn gối để thay thế những vật dụng củ, và cho sơn lại 300 giường bệnh lâu ngày đã rỉ sét. Chị còn xin Phái đoàn Viện trợ Hoa Kỳ cung cấp máy X Ray và dụng cụ Nha Khoa cho QYV nữa, làm cho vị Y Sĩ Trưởng phải ngạc nhiên về tài năng của Thiếu Úy Nguyễn Thị Hạnh Nhơn!” (Thư riêng. KQ Nguyễn Phúc Tiến, 10/28/2011)

Thời bấy giờ, KQ chưa bành trướng mà chị đã có sáng kiến đầy ắp tình đồng đội là, thực hiện một bãi đáp trực thăng trong QYV để đưa các thương binh từ mặt trận về hoặc chuyển các thương binh nặng vào Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng, “để rút ngắn sự đau đớn cho anh em nếu di chuyển bằng xe Hồng Thập Tự”.

Chị thân hành nghiên cứu sân bay Thành Nội rồi từ đó xin Công Binh cung cấp vỉ sắt để hoàn thành một bãi đáp đủ an toàn cho trực thăng tải thuơng.

Tôi nghe chị kể lại sự việc môt cách hào hứng bằng giọng Huế ngọt lịm mà lòng dâng trào một niềm cảm phục về sự năng nổ và tấm lòng từ ái của một bậc đàn chị đáng kính.

Năm 1964, Trung Úy Hạnh Nhơn thuyên chuyển về Sàigon, cùng các Nữ Sĩ Quan khác, thành lập Đoàn Nữ Quân Nhân & Trung Tâm Huấn Luyện NQN vào năm 1965 với chức vụ mới là Trưởng Phòng Hành Chánh Tiếp Vận. Thú thật, nếu không đọc Đặc San Nữ Quân Nhân số 08/2007 , thì chúng tôi không hề biết rằng, Quân Đội ta còn có một Trung Tâm Huấn Luyện NQN như thế !

Một lần nữa, cô gái đất Thần Kinh cao ráo (chị cao 1, 65m đấy!) lại có dịp thi thố tài năng và trách nhiệm của một Sĩ Quan Tham Mưu bằng cách ngày đêm theo dõi việc xây cất phòng ốc, các phòng học, kho quân trang, nhà ăn, nhà bếp...cho một Trung Tâm Huấn Luyện. Song song với việc xây dựng cơ sở, Trung Úy Hạnh Nhơn còn nghiên cứu soạn thảo các Chương Trình Huấn Luyện, thiết lập các Phiếu Huấn Luyện Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan NQN sao cho kịp thời gian khai giảng. Chị liên lạc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để xin tài liệu căn bản, bỏ đi những phần thuôc về nam quân nhân, thêm phần hướng dẫn tư cách cho Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan NQN. Với bao bề bộn như vậy, mà công trình cũng hoàn tất sau một tháng quyết tâm!

Sáng kiến tháo vát và sức làm việc bền bỉ của chị đã gây thán phục và ngạc nhiên cho các nữ Cố vấn Mỹ bấy giờ. Họ thán phục là phải, vì từ nước lã chị (và các vị Nữ Sĩ Quan khác) đã khuấy nên hồ. Từ một bãi đất trũng nước với nhiều cây cỏ rác rưới mà Trung Úy Hạnh Nhơn, qua giao tế đã làm chạnh lòng các đơn vị Công Binh bạn nên họ hăng hái đến giúp đở san bằng mặt nền cũng như cung cấp các vật dụng xây dựng khác để hình thành một Trung Tâm Huấn Luyện đẹp đẻ khang trang.

Công trình quy mô như rứa mà không thán phục sao được, có vậy thi nhân mới xưng tụng là...một mảnh nhung y điểm má hồng (3) chứ?!

Năm 1967, Đại Úy Hạnh Nhơn thuyên chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu, Văn phòng Đoàn Nữ Quân Nhân, chức vụ Trưởng Phòng Nghiên Cứu. Ở đây, chị hoàn tất một Bản Quy Chế của Nữ Quân Nhân QLVNCH.

Năm 1969, Thiếu Tá Hạnh Nhơn thuyên chuyển qua Bộ Tư Lệnh Không Quân, chức vụ Phân Đoàn Trưởng NQN, phụ trách tuyển mộ, lưu trữ hồ sơ, giám sát NQN thuộc Bộ Tư Lệnh KQ và các Sư Đoàn trực thuộc. Lúc bấy giờ các NQN rất cần nơi ăn chốn ở. Chị Hạnh Nhơn xin thượng cấp giúp lo cư xá cho họ. Chị tranh đấu về chuyện nầy quyết liệt đến nỗi “sau buổi họp, Đại Tá Phùng Văn Chiêu, Không Đoàn Trưởng Yểm Cứ Biên Hòa (sinh năm 1928, 84 tuổi, hiện ở El Monte, Cali) phải trốn luôn trong phòng (vì ông chưa giúp được cho vụ cư xá NQN) trong khi chị vẫn đứng chờ ông ngoài cửa phòng để nhắc ông giúp đỡ”. (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư Riêng, 10/28/2011).

Nghĩ cho cùng, các NQN nào phục vụ dưới quyền Thiếu Tá Hạnh Nhơn là vô cùng...lucky !

Năm 1972, chị thăng cấp Trung Tá cho đến tháng 4 năm 1975.

Tính ra, Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn đã cống hiến tuổi thanh xuân và năng lực của mình trong 25 năm (1950-1975) cho Tổ Quốc và Quân Đội. Để bù lại, chị đã được tưởng thưởng nhiều huy chương cao quý trong đó có Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẵng.

-Tôi, KQ võ ý, xin được trân trọng chào kính tấm huy chương mà chị xứng đáng đón nhận!

III- Nữ Quân Nhân & Nỗi Truân Chuyên

SAU 30 THÁNG TƯ, như hầu hết các chiến sĩ QLVNCH, chị Hạnh Nhơn phải chịu nhiều khổ nhục trong tù ngục cộng sản cho đến năm 1979, qua các trại giam Long Giao, Quang Trung, Hóc Môn, Hàm Tân (Z30D) và Long Thành.

Là một nữ tù, lại là một cấp chỉ huy, Trung Tá Hạnh Nhơn phải tỏ ra chịu đựng và can trường gấp bội so với nam tù nhân trước đòn lao động khổ sai và nhục mạ của cai tù, thì mới mong tồn tại.

“Làm lụng thì vất vả mà ăn thì bo bo với muối trường kỳ nên sức khỏe ngày càng kiệt quệ. Chị em thay nhau bệnh tật triền miên...(...) Những căn bệnh của tù cải tạo đa số là:

- “Bệnh bao tử (vì ăn những thức ăn mà chỉ bao tử của súc vật mới nghiền nát được).
- “Bệnh tê thấp (vì phải nằm đất năm này qua năm khác).
- “Các bệnh gan, phổi, thận (có thể đi đến lao và ung thư vì lao động quá sức).
- “Bệnh tim và bịnh tâm thần (do quá tuyệt vong và bị mất sạch)”.(4)
((4) Đặc San Nữ Quân Nhân Kỳ IV-2007. Nữ Tù Nhân. Nguyên Hạnh, trang 82)

Trại nào cũng có những trò hú tim như thỉnh thoảng vào lúc nửa đêm, khi tù nhân đang say giấc, bổng nhiều tiếng kẻng tiếng phèn la inh ỏi nổi lên, rồi vệ binh theo nữ cán bộ cai tù vào trại giam ra lệnh thức dậy, xếp hàng điểm danh, khám xét, xong lại cho về...ngủ tiếp (4). Chúng hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần. Trò hú tim nầy cũng là thủ phạm gây nên căn bịnh yếu tim mà cánh tù NQN thường phải lãnh đủ.

Đã là tù nhân, ai ai cũng phải nếm mùi chuyển trại. Chuyển trại là một cực hình. Mỗi một xáo trộn đương nhiên phải kèm theo biết bao lo lắng mà nếu tinh thần sa sút thì rất dễ bị ngã quỵ.

“(…) Tất cả ở Z30D nầy đều quá mới lạ một cách hãi hùng đối với chúng tôi. Trong trại không có nước, không có giếng, không có bể nước. Tắm giặt đều ở cái khu suối thật xa sau giờ lao động trên đường về. (…) Đặc biệt nhất với chúng tôi là phải tắm suối. (…) Lần đầu tiên chúng tôi tắm suối thật kinh hãi, không thể tưởng tượng nổi có ngày phải như thế! (…) Thẹn với cả trời đất cỏ cậy! “ (4). Câu chuyện tắm suối mới đọc qua thấy buồn cười, nhưng là cười ra nước mắt như tác giả nói. Theo chúng tôi, câu chuyện “kinh hãi” tự nó đã nói lên nhân cách, lòng tự trọng, khí tiết và giấy rách giữ lấy lề của người chiến binh miền Nam nói chung, với quý vị NQN nói riêng.

Truyện “Nữ Tù Nhân” của tác giả Nguyên Hạnh (tức Hạnh Nhơn) đã trúng giải ba trong kỳ thi viết về “Chuyện Người Tù Cải Tạo” do Nhật Báo Viễn Đông tổ chức. Câu chuyện là một khúc phim bi hài được chiếu lại và chúng tôi như thấy rõ “một đám phụ nữ xinh đẹp trước kia được “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” nay đầu bù tóc rối, áo quần rách rưới, hì hà hì hục xúc, đẩy bột than, bụi tung mù mịt, mặt người nào người nấy đen xì chỉ trừ cặp mắt và hàm răng trắng toát như những người da đen cùng khổ (4).

Khúc phim quét qua mọi góc cạnh của cuộc sống trong ngục tù, từ sáng tinh mơ xuất trại, lao động khổ sai ở ruộng ở rừng, đến chiều tối vào “chuồng”, từ cảnh bị khám xét, lên lớp, nhục mạ đến cảnh thăm nuôi trong dòm ngó dở khóc dở cười, cảnh biệt ly do chuyển trại hoặc được thả về nhà tù lớn hơn...

“Nơi đó là “trại cải tạo Long Thành”, mà chúng tôi lại phải tiếp tục những ngày lao khổ khốn nạn nhất với công việc chăm lo một vườn táo rộng lớn. Quanh năm suốt tháng lam lũ đi xúc phân người ở các hố lớn khiêng cáng về vườn táo để bón cây, dẩy cỏ, cấm không được mang khẩu trang vì làm như thế là “ngại khó ngại khổ”. Suốt ngày áo quần lem luốc hôi hám từ đầu đến chân, chiều mới được về tắm gội ở một bể nước lớn chung với một số nữ tù hình sự đông đảo giam riêng gần đó (…) (4)

Có một điều kỳ diệu là, dù trải qua bao nghiệt ngã như vậy, dù chủ trương thâm hiểm là tiêu diệt lòng tự trọng của người tù qua các thủ đoạn trong đó có thủ đoạn “khẩu phần ăn”, tình đồng đội vẫn nở hoa trong tủi nhục và cay đắng. “Thời gian nầy tôi bị bệnh tê thấp nặng gần liệt cả hai chân, đi đứng rất khó khăn đau nhức, phải vịn tường lần đi từng bước, ở trong nhà, không ra lao động được nữa. Các anh từng đi ngang qua để xuống thung lũng trồng trọt, thấy tôi trong tình trạng đó, thế là hằng ngày các anh thay nhau lén ném thuốc vào cửa sổ giúp tôi chữa bệnh.” (4)

Hoặc là “Những lần chị (Hạnh Nhơn) thăm hỏi, săn sóc tận tình đến các em nữ tù ốm đau trong trại như tình chị thuơng em ruột thịt của mình”(Đặc San NQN kỳ IV-2007. Giấc Mơ. Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy, trang 41)

Vì ai gây dựng cho nên nỗi nầy? (Chinh Phụ Ngâm Khúc). Không phải đợi lịch sử trả lời, đợi như vậy lâu lắm. Ngày nay, người dân trong và ngoài nước đều biết là “AI” đã gây nên thảm cảnh khốc liệt nầy rồi!.

IV- Cám Ơn Anh, Người Thương Binh...

SAU CƠN MƯA trời lại sáng. Sau những năm tù đày, cuối cùng, gia đình Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn đã đến bến bờ Tự Do và định cư tại miền Trung Cali, Hoa Kỳ năm 1990 theo diện HO2.

Đã mang lấy nghiệp vào thân, cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. (Kim Vân Kiều). Nghiệp ỡ đây là nghiệp...Nữ Quân Nhân, là hy sinh và phục vụ. Vừa đến Mỹ, chân còn chưa ráo, một năm sau, năm 1991, chị Hạnh Nhơn lăn xã vào công việc cộng đồng, vác cái ngà voi, đảm nhận chức vụ Phó Chủ Tịch Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị (TT/TNCT). Hội chủ trương chăm lo giúp đở bước đầu các anh chị em cựu tù đến Cali mà không có thân nhân bảo trợ. Chị cũng là Chủ Bút “Nguyệt San Hội Ngộ” của Hội Tương Trợ nầy.

“Ngày Quân Lực 1992, có 7 cựu tù HO ở nam Cali có quyết định thành lập Hội HO Cứu trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH. Trong lần họp nội bộ, họ đã nghĩ đến việc mời Trung Tá Hạnh Nhơn tham gia. Nhưng bà quá bận với Hội TT/TNCT và với tờ Đặc San Hội Ngộ, nên không có mặt từ khởi thủy. Cho đến khi Hôi TT/TNCT ngưng hoạt động, và đó là cơ duyên đã đưa chị về với Hội H.O Cứu Trợ TPB & QP/VNCH” (Trích “Đôi Điều Về Cựu Nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn”, Cựu Mủ Nâu Đại Úy Nguyễn Phán)
Năm 1996, chị Hạnh Nhơn giữ chức vụ Tổng Thư Ký Hôi H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH. (TPB & QP/VNCH)

Năm 2006, chị đảm nhận chức vụ Hội Trưởng do đa số tuyệt đối anh chị em trong Hội bầu lên từ đó cho đến nay và không biết cho đến bao giờ!

Để có ngân khoản hoạt động cứu trợ như tên gọi, Hội tổ chức gây quỹ tại các Nhà Hàng. Số tiền kiếm được chẳng thấm vào đâu so với nhu cầu ngày càng tăng, chị Hạnh Nhơn nẫy ra ý định mời MC nhạc sĩ Nam Lộc tiếp tay (5). Anh Nam Lộc vui vẻ nhận lời, dù gì anh từng có kinh nghiệm tổ chức Đại Hôi Nhạc Trẻ ngoài trời từ trước 1975. Và anh Nam Lộc mời thêm nhạc sĩ Trúc Hồ, Giám Đốc Đài Truyền hình SBTN và MC ca nhạc sĩ Việt Dzũng. Các nghệ sĩ có lòng nầy đã lôi kéo hầu hết các ca sĩ nỗi tiếng tại Hải Ngoại tham gia vào Chương Trình cứu trợ qua các Đại Nhạc Hôi Cám Ơn Anh, Người TB VNCH...

Mới biết, đàn bà như chị Hạnh Nhơn dễ có mấy tay! Công việc cứu trợ xem ra quá đơn giản phải không thưa quý vị? Thưa, không hẳn vậy mà nhiêu khê rắc rối vô cùng. Nếu không có tấm lòng nhân ái thực sự, không trầm tĩnh, thông cảm và chịu đựng thì rất dễ...phủi tay! Tôi đã ghé nhà trước là thăm chị sau là muốn tìm hiểu qua về việc điều hành của cái “Cơ Quan Trung Ương” (6) trong việc cứu trợ TPB và QP ra sao.

Điều tôi ngạc nhiên là cơ cấu tổ chức điều hành của Hội thật khoa học và thiết thực, phù hợp với luật pháp và nhu cầu cứu trợ. Ngoài những nhân sự và chức vụ thông thường của một Hội Đoàn, tôi thật bất ngờ và thán phục đến sự phân chia rành mạch các trách vụ để giúp việc cứu xét và gởi quà chính xác và hiệu quả. Đó là: Ủy viên Tài chánh. Thủ quỹ. Thư tín-Phân phối-Lưu trữ Hồ sơ. Phụ trách TPB Vùng 1 &2 CT. Phụ trách TPB Vùng 3 & 4 CT. Phụ trách Quả phụ. (Tài liệu do KQ Nguyễn Phúc Tiến, Data Entry của Hội cung cấp)

Chị Nguyễn Thị Hoàng, Phụ trách TPB Vùng 1 & 2 CT có cho chúng tôi xem một hồ sơ tại Quãng Ngải không được cứu xét, lý do, môt TPB có hai tấm hình, kiểu dáng và thương tật giống hệt nhau, cùng một quê quán mà có đến hai tên, hai số quân, hai địa chỉ hoặc ngược lại, v.v...

Do kinh nghiệm và cách làm việc chu đáo, Hội đã phát hiện ra một số hồ sơ như vậy và dĩ nhiên việc cứu trợ được xếp lại để chờ phối kiểm cho chính xác. Trước sự việc đáng tiếc, dù tôi nghĩ đến 4 chữ Từ Bi Hỉ Xã của Phật Giáo mà lòng vẫn cứ man mác buồn...

Vào Thứ Tư mỗi tuần, các thành viên trong Hội HO tập họp tại tư gia của chị Hạnh Nhơn ở Garden Grove, CA , để giải quyết các hồ sơ liên quan và nhận hồ sơ mới đem về nhà làm việc. Công việc thật bề bộn đòi hỏi nhiều công sức và thời giờ, nhưng trách nhiệm chính vẫn đè nặng hai vai chị Hội trưởng, nên ngày đêm, chị sống vì...uy tín và công tác của Hội!

(...) Được làm việc chung với Chị hơn mười mấy năm qua, nay tôi lại có nhận xét thêm về Chị: Chị Nguyễn Hạnh Nhơn trong thân xác người thường như chúng ta, mang một “trái tim Bồ Tát” (…) Làm việc không lương từ sáng sớm đến tận khuya (chúng tôi gọi đùa là Chị làm việc không chỉ “full time”, không chỉ làm “overtime”, mà còn làm “doubletime” quanh năm suốt tháng – với Chị, không có ngày nghỉ Chủ Nhật, không có “weekend”, không có “Holiday”, ngoài những lúc cần phải đi ra ngoài). Chị lúc nào cũng “trực ba phone” trong lúc làm việc, ngay cả khi ngủ, lúc đi vào rest room. Chị tâm sự: “để mất một cú phone, nếu họ gọi đến Hội cho tiền, mà mình không bắt phone, họ hiểu lầm, đổi ý, thì uổng quá” (Đôi Điều Về Cựu Nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Mủ Nâu Đại Úy Nguyễn Phán).

Từ 2006 đến nay, Hội đã tổ chức được 5 kỳ Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh với thành tựu thật đáng đồng tiền bát gạo. (Xin xem chi tiết phần chú thich 7)

Tổng kết trong “4 Kỳ Đại Nhạc Hội, gởi được 20,000 lượt giúp.(Kỳ 5 chưa tổng kết) . Chưa kể những số tiền ân nhân đã gởi đến Hội từ năm 1993 đến nay, Hôi đã gởi được 18,500 lượt giúp. Tổng cộng từ ngày thành lập Hội đến nay: 38,500 lượt giúp” (*) (Đây là tổng kết 4 kỳ ĐNH, kỳ V chưa tổng kết*)

(*) Theo Tâp giới thiệu “ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 5”, Sunday, 7 Tháng 8-2011)

Những con số đã nói lên được một phần nào lòng biết ơn chân thành của tất cả đồng hương, quân dân cán chính hải ngoại đối với TPB và QP đã hy sinh một phần thân thể của mình để bao người được sống còn đến ngày hôm nay.

Những con số cũng đã xoa dịu một phần nào những cơ cực, lầm than, những khổ đau tủi nhục trong uất hận, trống vắng, hiu quanh suốt 36 năm từ ngày nước mất nhà tan.

Những con số như tiếng phi cơ quan sát bao vùng, tiếng trực thăng tải thương, tiếng vận tải thả dù...Những con số như hỏa châu soi sáng niềm tin và dường như có tiếng quân xa hối hả mở đường tiếp tế chia xẻ hiểm nguy, bên thương phế binh và quả phụ cô nhi, vẫn còn chúng tôi quan hoài...

Trên 36 năm tan đàn xẩy nghé, tưởng mọi sự đã vùi vào quên lãng, bặt âm vô tín. Nhưng hôm nay, anh TPB húp một ngụm trà ấm lòng, trên bàn thờ di ảnh, chị quả phụ thắp sáng một nén hương tưởng niệm cho chồng, cháu cô nhi mơ màng suy nghĩ, đồng đội của bố vẫn còn thương tưởng đến bố thật sao?

Xin hãy lắng lòng mà nghe, tiếng nghĩa tình từ cõi bất hạnh vọng về:
“...Thưa quý vị, tôi đã nhận được $200 USD của quý vị thương gởi về giúp đở. Tôi là thương phế binh Nguyễn Văn Toàn, số quân 74/425.623 thuộc Sư Đoàn 5 BB. Ngày 22/08/1974 trong một trận đánh tại An Điền, Bến Cát, Bình Dương, tôi bị đạn xuyên qua cổ, nên bị tê liệt toàn thân, đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Biến cố 30/4 xảy ra, tôi bị đuổi khỏi Tổng y viện Cộng Hòa. Cuộc sống thật vất vả, nên khi nhận được tiền của quý vị, tôi biết ơn quý vị nhiều. (Nguyễn Văn Toàn – Ban Mê Thuột)
*
“...Ba con đã nhận được tiền là 100usd vào ngày 27/03/2011. Gia đình chúng con xin cám ơn các bác chú và cô có tấm lòng vàng trong Hội từ thiện đã giúp đỡ ba con trong cơn túng thiếu, ngặt nghèo. Ba con nay đã già mà nhận được tiền cứu trợ cho ba con, cũng là niềm an ủi, trong những ngày còn lại của cuộc đời bất hạnh, ba con mừng lắm vì trong cuộc đời ba con chưa từng có số tiền nhiều như vậy...” (Nguyễn Thị Lệ con của Nguyễn Văn Ngoan – Bến Tre)
*
“Vào ngày 06/01/2011 tôi có nhận được 50USD từ Hội Cứu Trợ TPB&QP/VNCH. Tôi rất mừng và hạnh phúc, không sao cầm được nước mắt. Vì quí Hội đã quan tâm đến các anh em tử sĩ, những TPB hy sinh vì đất nước và những quả phụ còn lại sau chiến tranh. Số tiền mà quí Hội đã gởi cho tôi, đã đủ cho tôi sinh hoạt và uống thuốc được 2 tháng so với căn bệnh cao huyết áp, tai biến mạch máu não trong 10 năm qua. Một lần nữa xin chân thành cám ơn quí Hội”. (Quả Phụ Nguyễn Thị Tuyết – Sài Gòn).

Những thành tựu nầy, Hội HO Cứu Trợ TPB & QP/VNCH xứng đáng nhận được lòng quý trọng và tin cậy của tất cả đồng đội đồng bào ở Hải ngoại cũng như trong nước.
Thượng Nghị Sĩ Lou Correa, Địa Hạt 34, Tiểu Bang California, đã tuyển chon để vinh danh các phụ nữ mà ông quý trọng vì họ đã đóng góp công sức khả năng của mình cho cộng đồng và cho đất nước Hoa kỳ, trong số 5 phụ nữ Việt, có chị Hạnh Nhơn.

(…) “Thật sự ra tôi muốn làm việc trong im lặng thôi, không có muốn đến những chỗ như thế này. Mình làm, mọi người vui là được rồi nhưng mà mấy anh bên Liên Hội Cựu Chiến Sĩ nói, ông Lou Correa nói với mấy anh đề nghị một phụ nữ, mấy anh thương quá, mấy anh đề nghị tôi, chứ thật sự ra đâu phải một mình tôi mà làm được. Bao nhiêu thiện nguyện viên, bao nhiêu các anh, rồi Asia, rồi SBTN, bao nhiêu người phụ với mình mới làm được, thật ra mình tới đây chỉ là đại diện thôi, chứ đâu phải cá nhân mình mà làm được. Tuy nhiên, dù sao đi nữa tôi cũng rất là vinh dự được đến đây hôm nay nhận cái phần thưởng nầy. Xin cám ơn tất cả” (Trích Viễn Đông, A9, TNS Lou Correa Vinh Danh 80 Phụ Nữ, 5 Người VN. Thanh Phong, Thứ Bảy 26 Tháng 3, 2011)
Thưa chị Hạnh Nhơn, chúng tôi rất cảm phục và trân quý tính nhân hậu và đức khiêm cung của chị qua phát biểu nêu trên. Chúng tôi cũng học được tinh thần tập thể (team work) là working together winning together, nhưng thưa chị, tập thể nào cũng vậy, muốn winning together đều phải cần một vị lãnh đạo tài đức vẹn toàn chị ạ.

Hội HO ngày nay không là một Đơn vị Quân Đội mà chị là Đơn Vị Trưởng. Hội cũng không là một Công Ty mà chị là Tổng Giám Đốc. Nếu là Đơn Vị Trưởng hay Tổng Giám Đốc thì...dễ thôi. Đằng nầy là một Hôi Thiện Nguyện vô vị lợi mà nếu người Hội trưởng thiếu hòa nhã nhỏ nhẹ, hăng hái kiên trì, phân minh, khiêm tốn và vị tha (8) thì Hội không dễ gì đạt những thành quả khích lệ và tồn tại đến ngày nay.

“Có những lúc Chị đã khóc khi nhận những cú phone “đay nghiến”, “kết tội” mà không có bằng chứng từ một vài đồng hương vì cố ý hay vô tình (!). Nhưng nghĩ lại tình cảnh của các TPB về cuối đời, tưởng tượng những giọt nước mắt mừng vui trên những khuôn mặt nhăn nheo, tiều tụy của các Quả Phụ khi nhận được tiền..., chị lại hăng say cùng anh chị em thành viên của Hội, cặm cuội bên những chồng hồ sơ mỗi ngày một dày hơn...”(9). Vâng, chị Hạnh Nhơn đã thực hành đức hỉ xã của nhà Phật, và “chúng tôi rất sung sướng, hãnh diện, đã biết và làm việc chung với chị” (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư riêng, 10/29/2011).

Trong một thư riêng cho chúng tôi, có đoạn chị viết: “Anh Ý ơi, Đôi khi tôi thật tức cười cho tôi. Với cái tuổi nầy mà chưa rút chân ra được Hội HO để...dưỡng lão, vì không ai chịu thay thế, cứ bắt làm việc hoài. Vậy thì có bất công không chứ!”
Chị Hạnh Nhơn ơi, không bất công đâu chị à, vì sinh hoạt của Hội bây giờ là không khí và là nguồn sống đó chị à, nếu thiếu chúng, e rằng chị sẽ trống vắng và...hụt hơi ngay thôi! Phương chi, “sau khi anh chị em trong Hội nói “nếu Chị thôi vai trò đó thì các anh chị em khác khó có thể có được uy tín như Chị để kiếm tiền cho các TPB/QP...”(9).

Đúng là chị bị triệt buộc rồi chị Hạnh Nhơn à! Mà cũng có thể hiểu đó là... ý dân, mà ý dân là ý...trời phải không thưa chị?

V- Tạm Kết, Nếu Có Yêu Tôi...

CHÚNG TÔI THẬT SỰ vinh hạnh được chị Hạnh Nhơn cho phép viết về chị như là...Không Quân Ngoại Truyện! Chị cứ dặn tới dặn lui là không nói chi nhiều về chị mà nên tập trung nói về Hội. Dĩ nhiên là chúng tôi phải...tuân lệnh ngoài mặt mà trong lòng vẫn cứ...hay quên! Chị Hạnh Nhơn sợ thiên hạ họ cười, họ bảo “mèo khen mèo dài đuôi” Chị sợ như vậy cũng phải, nhưng nếu mèo không có đuôi, hoặc cụt đuôi thì tôi lấy cái lý do gì mà khen đuôi dài cho được chứ? Phương chi, tâm huyết của chị, khả năng của chị ngày nay không còn giới hạn trong vòng đai Bộ Tư Lệnh Không Quân nữa mà chị là của Cộng đồng và của Tập thể Quân Cán Chính VNCH từ lâu rồi.

Chị đâu biết rằng, chính tôi mới là người đang ganh tỵ với những cống hiến cho tha nhân của chị và của các anh chị em trong Hôi vì không có cơ duyên phụ một tay cho quý Hôi. Ganh tỵ nhưng trân trọng. Vì trân trọng nên tôi nguyện phát tâm tùy hỉ những công tác từ thiện vô vị lợi của bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào.

Không phải chị đã biểu hiện cách sống “mình vì mọi người” qua các trách vụ mà chị đã thực hiện cho Quân Đội từ thuở gia nhập Việt Binh Đoàn, rồi Nữ Phụ Tá, Nữ Quân Nhân, trong ngục tù cho đến Hội HO ngày nay đó sao? Thôi thì, chuyện cũ bỏ qua, nhưng mới đây, khi nhận giải thưởng cuộc thi viết về Chuyện Người Tù Cải Tạo, chị Hạnh Nhơn đã phát biểu: “(...) Do đó, với phần thưởng hôm nay, tôi sẽ chia sẻ một phần vào “Quỹ Tình Thương Nữ Quân Nhân” mà chúng tôi đã lập ra mấy năm nay để Nữ Quân Nhân Hải Ngoại cùng nhau đóng góp gởi về giúp đở các chị em bất hạnh ở quê nhà” (Đặc San Cựu NQN Kỳ IV, 2007. Phát Biểu Của Tác Giả Nguyên Hạnh (Nguyễn Thị Hạnh Nhơn) trang 92).

Chị đã gieo nhân lành, đương nhiên sẽ nhận quả ngọt. Môt trong những hạnh phúc ấm áp khác là các con cháu trong gia đình đều hổ trợ công việc “bao đồng” của chị: “Trong những lần tổ chức “ĐNH Cám Ơn Anh”, có lẽ gia đình chị là một gia đình duy nhất mà người Mẹ là trưởng ban tổ chức, lo đôn đáo từ việc lớn đến việc nhỏ, ngày như đêm ròng rã mấy tháng trước cho ngày ĐNH, mà vào ngày ĐNH, tất cả các con cháu hơn một tá, đều phải mua vé để vào làm việc thiện nguyện”. (KQ Nguyễn Phúc Tiến. Thư Riêng, 10/29/2011).

Các cháu mua vé không những để làm việc từ thiện mà còn là dịp để các cháu cảm nhận niềm hãnh diện và tự hào về người Mẹ người Bà tuyệt vời của các cháu. Chắc chắn ở tận cõi vĩnh hằng, phu quân của chị, anh Lý Nhựt Hướng, một Trưởng Hướng Đạo Việt Nam, cũng mỉm cười mãn nguyện vì họ đã tiếp nối bước đi của anh. Được biết, trước lúc lâm chung (2002) anh đã căn dặn thân bằng quyến thuộc, “thay vì mua vòng hoa, gởi tiền phúng điếu, thì nên dùng số tiền đó để cứu giúp cho Thương Phế Binh và các trẻ mồ côi ở quê nhà. Ước mơ của anh đã được người thân thực hiện trọn vẹn”. (KQ Phạm Đình Khuông, Thư riêng, 10/21/2011 Bản Tin Hội HO Cứu Trợ TPB/QP. Một Bông Hồng Cho Người Nằm Xuống, Nguyễn Phán)

Xin nhắn các bạn trẻ thế hệ nối tiếp, nếu tình cờ đọc bài Không Quân Ngoại Truyện nầy, mong các bạn sẽ tự hỏi lòng mình, là tại sao các bạn và bà con thân thuộc của mình lại có mặt ở Mỹ, để rồi các bạn thử suy nghĩ là có nên góp môt bàn tay cho Việt Nam ngẩng mặt với đời, góp một nhịp tim cho quê hương và đồng bào của của mình thoát cảnh đọa đày? Thực tiễn hơn, nếu các bạn muốn tìm cho mình môt cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc thì cũng đơn giản thôi, đó là ta sống cho ta ta sống cả cho đời, cho đồng bào đồng đội bất hạnh của mình, như thế hệ chúng tôi đã từng, cách riêng qua bài viết. Thế hệ chúng tôi sắp tàn, chúng tôi kỳ vọng ở thế hệ các bạn đó.

Có bao giờ các bạn dám mơ ước sẽ là những Cánh Chim Tự Do của Việt Nam ngày mai không? Sao lại không được nhỉ?

Thưa chị Hạnh Nhơn,

Tôi rất tâm đắc với lời ca trong bài hát Nếu Có Yêu Tôi của nhạc sĩ Trần Duy Đức, cho nên tôi rất mong khi có dịp thì chị thử lắng lòng mà nghe khúc ca ngọt ngào như ca dao, thanh thoát như lời kinh và cần thiết như nước và không khí nầy.

Rât tiếc tôi không biết ca, nhưng không sao, tôi biết nói. Và lời tôi nói, sẽ là,
-Thưa chị Hạnh Nhơn, tôi thật sự quý mến chị qua nhân cách, tinh thần phục vụ và tính nhân bản thủy chung của một quân nhân QLVNCH. Tôi hãnh diện là đồng đội của chị, cùng chung với chị một bầu trời, một màu cờ trước kia và một ước vọng về một Việt Nam Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền hiện nay.

Chị là bậc đàn chị khả kính của tôi đó chị Hạnh Nhơn à.
Thân kính chúc chị sức khỏe thật an khang, Phúc như biển Thái Bình, Thọ như ông Bành Tổ, nghe chị!

Kính thư,
Bắc Đẩu võ ý
Corona, CA. Thu 2011

Chú thích
(1) Nếu Có Yêu Tôi, nhạc Trần Duy Đức & thơ Ngô Tinh Yên
(2) Chữ của nhà văn Trần Văn Minh, cố Trung Tướng Tư Lệnh Không Quân.
(3) Thơ của Đinh Hùng
(4) Đặc San Nữ Quân Nhân Kỳ IV-2007. Nữ Tù Nhân. Tác giả Nguyên Hạnh (Hạnh Nhơn, trang 82. Bài viết được trúng Giải Ba trong cuộc thi viết về Chuyện Người Tù Cải Tao do Nhật Báo Viễn Đông chủ trương. Chị Hạnh Nhơn đã chia một phần giải thưởng cho Quỹ Tương Trợ của Hội Nữ Quân Nhân VNCH
(5) Tiết lộ của KQ Phạm Đình Khuông. Thư riêng, October, 21, 2011.
(6) Tiếng của các Hội Tương Trợ khác tại Hải ngoại cũng như của các TPB & QP tại quê nhà gán cho Hội HO Cứu Trợ TPB/QP/VNCH, trong khi đó, Hội do chị Hạnh Nhơn điều hành trên pháp lý là một Hội vô vị lợi và bình đẳng với các Hội cùng chủ trương. Hội được cho là Trung Ương có lẽ Hội được đồng hương và đồng đội tin cậy nên ủng hộ dồi dào qua các kỳ Đại Nhạc Hôi...
(7) *Tập Quảng Cáo “DNH- Cam On Anh Ky V”, Nam Cali, 2011, có ghi:
- Kỳ 1, Ngày 25-06-2006 tại Nam Cali (*)
Thu được $426,000.00. Chi $47,391.00. Còn lại $379,085.00.
Giúp được 3,000 gia đình TPB &QP (tính tròn)
- Kỳ 2, Ngày 03-08-2008 tại Nam Cali (*)
Thu được $1,013.000.00. Chi $55,534.00. Còn lại $958,308.00
Giúp được 7000 gia đình TPB & QP (tính tròn)
- Kỳ 3, Ngày 17-05-2009 (Cùng với San Jose, Bắc Cali)(*)
Thu được $688,619.00. Chi $82,679.00. Còn lại $599,938.00
Nam Cali nhận: $378,812.00. giúp được 2383 gia đình.
Bắc Cali nhận: $208,700.00. giúp được 1568 gia đình.
Cộng 4000 gia đình (tính tròn)
- Kỳ 4, ngày 01-08-2010 tại Nam Cali (*).
Thu được $828,040.00. Chi $55,000.00. Còn lại $773,040.00
Giúp được 6000 gia đình TPB & QP.
- Kỳ 5, Ngày 01-08-2011 tại Nam Cali
Thu được $830,000.00 (chưa tổng kết chính xác)
Tiêu chuẩn giúp đỡ hiện nay:(*)
- TPB thương tích nặng (cụt 2 chân, cụt 2 tay, mù 2 mắt, liệt,: $200/người. (*)
- TPB thương tích nhẹ hơn: $100/người
- Qủa phụ tử sị: $50/người
(8) Chữ in đậm là nhận xét của KQ Phạm Đình Khuông trong Thư Riêng, 10/21/2011.
(9) Bài viết “Đôi Điều Về Cựu Nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn” của tác giả Mủ Nâu Nguyễn Phán.

Edited by user Wednesday, April 19, 2017 1:57:35 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#7374 Posted : Wednesday, April 19, 2017 10:42:36 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,761

Thanks: 637 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)
Thăm thắng cảnh nổi Venezia, Italy


Trần Nguyên Thắng/
ATNT Tours & Travel
April 14, 2017

UserPostedImage

Thắng cảnh Grand Canal. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Tôi biết đến thành phố Venice là nhờ Marco Polo một nhà du hành Venetian của thế kỷ 14. Ông là người Venezia đã đến Trung Hoa và từng làm quan dưới thời nhà Nguyên Mông bên Trung Quốc. Cuối đời ông được phép trở về lại quê hương Venice.

Ông viết hồi ký nói về các nơi chốn ông đã từng ở bên phương Đông, trong đó có các thành phố miền Giang Nam Trung Hoa. Marco Polo khen ngợi vẻ đẹp hai thành phố của Giang Nam là Tô Châu và Hàng Châu. Tuy nhiên ông lại không nói gì nhiều về Venezia của ông. Có phải chăng Venezia vào thời của ông không được đẹp như ngày nay!

Trước Ý có rất nhiều thành phố nổi tiếng trên thế giới về các di tích lịch sử văn hóa, các nghệ thuật điêu khắc, họa tranh thời phục hưng mà mọi người ai cũng ước ao được một lần đặt chân đến thưởng ngoạn. Chẳng hạn như các thành phố Rome, Florence, Milan, Pisa, Napoli… những thành phố này có một bề dày về văn hóa, kiến trúc và lịch sử hơn là các phong cảnh thiên nhiên sông nước biển hồ.

Riêng Venezia (hay còn gọi Venice) thì khác, thành phố này ngoài các điểm di tích văn hóa lịch sử mà Venice còn cho du khách có dịp thưởng ngoạn nét đẹp của thiên nhiên của nó. Các con kênh đào (canals) chằng chịt nối liền nhau tạo ra một không gian riêng biệt cho thành phố đảo. Các cung điện nhà thờ dường như được xây nổi trên mặt nước, phương tiện duy nhất để người ta di chuyển đến mọi nơi trong thành phố là bằng thuyền.

UserPostedImage

Rialto Bridge bắc ngang kênh đào lớn Grand Canal, biểu tượng của Venice. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Cuốn phim “Tourist” do hai tài tử Johnny Depp và Angelina Jolie đóng cũng được quay tại Venice. Người ta đã dùng các thắng cảnh nổi tiếng trên đảo chính của Venice lồng vào các đoạn phim. Nếu bạn đã có dịp đến Venice, chỉ cần một thoáng các hình ảnh trong phim “Tourist” lướt qua cặp mắt, nó sẽ giúp bạn nhớ lại được khá nhiều hình ảnh về thành phố kênh đào này.

Venezia còn gọi là Venice nằm về phía Đông Bắc Ý và bao gồm một phần bên trong đất liền và rất nhiều đảo nằm san sát nhau trên một hồ nước mặn Veneta rộng lớn gần 600 km2 và hồ tuôn chảy vào biển Adriatic.

Phố chính của Venice không nằm trong phần đất liền mà lại nằm trên đảo chính lớn nhất. Mestre và Marghera là hai quận lớn của Venice nằm trong lục địa. Còn các đảo thì được phân chia thành sáu quận khác nhau, trong đó San Marco là nơi sầm uất và phồn thịnh nhất. Có lẽ tất cả sinh hoạt chính, cũng như các di tích lịch sử và văn hóa của Venice đều tụ về đảo lớn, nơi mà con kênh đào lớn (Grand Canal) chảy xuyên qua tạo thành nguồn mạch nước chính của cư dân sinh sống trên đảo.

Tìm hiểu về lịch sử của Venice quả thực là một điều khó nhớ vì khu vực này ngày xưa không có vua mà chỉ có quan tổng trấn (doge) trấn giữ vùng này. Tuy không phải là vua, nhưng không vì thế mà các quan tổng trấn lại yếu thế về quyền lực. Cung điện của họ cũng rất uy nghi, giàu có, sang trọng không kém gì các vương triều vào thời đó. Quân binh của họ cũng rất là dũng cảm và thiện chiến.

Vào thăm cung điện Doges’ Palace và ngôi nhà thờ Basilica of St. Mark, du khách mới nhận thấy được sự giàu có và nét uy nghiêm của nó. Mặc dù 98% người dân Venetian theo Thiên Chúa Giáo nhưng kiến trúc ngôi nhà thờ St. Mark lại cho thấy được nét nghệ thuật theo phong cách Byzantine của đế chế Đông La Mã ngày xưa.

UserPostedImage

Nhà thờ Basilica of St. Mark. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Người ta dùng vàng để trang trí bên trong nhà thờ St. Mark, chẳng hạn như bức Gold Altarpiece là một bức khảm nghệ thuật tuyệt đẹp được khảm khắc bằng vàng và bạc. Ngoài ra, bức tranh mosaic miêu tả về sự phát hiện một phần xác thân của Thánh Mark cũng là một nghệ thuật mosaic rất công phu và trang trọng trong nhà thờ.

Trần nhà cung điện Doges Palace cũng được chạm trổ bằng vàng và được trang trí bằng những bức họa tranh của các họa sĩ Venetian nổi tiếng. Cung điện Doges’ Palace không chỉ là nơi cư trú cho các quan tổng trấn, đồng thời cũng là nơi chứng tỏ uy quyền của họ. Vì tất cả quyền lực đều được tập trung về đây, nên những phòng hội họp tối cao của các quan tổng trấn đều được trang trí nhằm biểu hiện ra sự uy nghiêm và quyền lực của họ.

Nhưng đến Venice thì hình như du khách không phải để lắng nghe về lịch sử của thành phố. Hầu như điểm mà du khách cần ở Venice là cái không gian thoáng rộng của đảo, của các con kênh đào, của biển, của hồ. Tất cả không gian này nối kết lại tạo thành sự thoải mái và thơ mộng cho người thưởng ngoạn.

Du ngoạn Venice, thông thường thì du khách có thể ở bên phía đất liền Mestre hay đi thuyền sang quận San Marco. Thuyền máy chạy chừng 20 phút là đưa du khách đến bến thuyền nằm dọc theo dãy phố Riva degli Schiavoni, nơi sầm uất nhộn nhịp suốt ngày. Chỉ khi nào mặt trời tắt nắng, sự nhộn nhịp mới tạm vắng vẻ trả lại sự yên tĩnh cho San Marco.

Gần đó là khu vực Basin of St. Mark, gồm có cung điện Doges’ Palace với cổng vào Piazzetta. Nơi dây có hai cột trụ cao, một dựng tượng một con sư tử có cánh và một dựng tượng thánh St.Theodore. Sau lưng cổng vào Piazzetta là ngôi thánh đường Basilica St. Mark, Tháp Chuông Bell Tower, quảng trường St. Mark, và Clock Tower. Đây có thể được xem như những điểm di tích lịch sử chính yếu của Venice mà du khách cần biết và nhớ để sau này còn có dịp nói với bạn bè về “ngôi nhà thờ Thánh Mark và cung điện các quan tổng trấn Venice” nằm ở chỗ nào ở trong thành phố Venice.

UserPostedImage

Khu vực Basin of St. Marks. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Nếu bạn muốn “khoe” với bạn bè bằng hình ảnh thì bạn phải đứng chụp hình chung với cây cầu Rialto Bridge nối liền hai bên bờ sông kênh đào Grand Canal, đây là một biểu tượng cho Venice mà không đâu có được. Hoặc là bạn đi vào các con phố nhỏ ngắm nhìn những chiếc thuyền nhỏ “gondolas” đang luồn lách giữa các con kênh đào tạo cho người thưởng ngoạn nhìn thấy được một nét độc đáo khác của Venice mà ngay cả Las vegas cũng không thể copy 100% được.

Dạo quanh trong khu quận San Marco, đâu đâu du khách cũng đều gặp các quán cà phê và các tiệm ăn khắp mọi nơi. Nếu bạn đã từng trả tiền để thưởng thức các ly cà phê ở London hay Paris rồi thì bạn nhận thấy giá cả ở Venice cũng không đắt lắm.

Nhưng bạn rất phải cẩn thận giá cả với các tiệm ăn. Bạn nên hỏi biết thật rõ giá cả các món ăn, giá đó bao gồm những món gì (cơm, bánh mì, rau, cà chua có tính tiền riêng không), giá có bao gồm phí phục vụ chưa? Nếu chưa bao gồm thì bạn nên nhớ sẽ cộng thêm 15% nữa. Nếu bạn không chú ý điều này, đôi khi bạn bị chặt chém và bực mình với các điều này không ít.

Các đồ kỷ niệm bán tại Venice tương đối là rẻ vì phần lớn đều “made in China.” Những chiếc mặt nạ hóa trang là một điểm văn hóa riêng biệt cho thành phố Venice. Giá cả những chiếc mặt nạ này cũng không quá đắt vì chúng đều được làm tại Trung Quốc.

Chỉ trừ những món hàng đặc sản của Venice như crystal rất đắt tiền nhưng bù lại rất đẹp, rất nghệ thuật và có phẩm chất (loại của Ý lúc nào cũng đắt tiền hơn, mua giá rẻ thì chắc là “made in RPC,” tức Trung Quốc). Nhưng bạn chớ nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của những người bán hàng mà mua crystal từ các cửa hàng ở Venice gửi về nhà bạn. Bạn có thể đặt mua một “con chó crystal,” nhưng bạn sẽ nhận được một “con mèo crystal” mà bạn không làm gì họ được!

UserPostedImage

Thuyền Gondola trên kênh đào Canal, một hình ảnh đặc thù của Venice. (Hình: ATNT Tours & Travel)


Ngày xưa, chắc hẳn bạn có dịp nghe đến phong cảnh hữu tình trên sông lạch Venice, bạn thích thơ mộng, mơ có ngày ngồi trên thuyền gondola với người yêu, mơ có anh chàng chèo đò Venetian vừa chèo vừa hát. Giấc mơ đó sẽ đến thật tốt lành nếu bạn chịu khó hỏi giá cả cho thật rõ ràng, còn không giấc mơ của bạn biến thành ác mộng trong suốt chuyến nghỉ mát của bạn.

Napoleon Bonapart cũng đã đến Venice và khen khu vực quảng trường St. Mark rất đẹp. Richar Wagner, vị nhạc trưởng nổi tiếng thế giới từng làm say mê nhà vua Ludwig II của Bavaria (chủ nhân của ngôi lâu đài thần tiên Neuschwanstein), cũng gọi Venice là một thành phố tuyệt diệu, ông đã có cảm hứng rất nhiều khi ngắm ánh trăng trên các đảo Venezia.

Nhận xét của các nhân vật nổi tiếng chắc hẳn không sai khi phán đoán như thế về Venice. Điều này khác hẳn ý nghĩ mà Macro Polo cho là Venice “tầm thường.” Những thắng cảnh kể trên của Venice phần lớn đều xuất hiện sau thời điểm của Marco Polo. Ông mất năm 1324 nên có lẽ Marco Polo cũng chưa có dịp nhìn thấy Venice vào thời điểm bây giờ nên không có cơ hội nói hết được cái đẹp của Venice ngày nay.

Tôi đã đến Tô Châu từ nhiều năm trước, Tô Châu không cho tôi cái nhìn thoáng rộng như Venice vì Tô Châu không có biển sông hồ. Tô Châu không thể so sánh với Venice cho dù có một số kênh đào chảy quanh thành phố, nhà cửa Tô Châu cổ thấp hẹp, một ít cảnh trí về vườn làm sao sánh bằng với cảnh thiên nhiên thoáng rộng.

Bây giờ các tòa nhà cao được xây cất hiện đại nên Tô Châu phố cổ còn là bao! Một ngọn Hổ Khâu Sơn với cái tháp nghiêng Vân Thạch của Tô Châu không phải là một nét đẹp thiên nhiên. Đó chỉ là một điểm văn hóa ngày xưa của nước Việt, điều này càng làm cho tôi nhớ về Việt Vương Câu Tiễn, nhớ đến câu chuyện rửa hận mối thù của nước Việt đối với nước Ngô, nhớ đến chữ “Nhẫn” mà người dân Việt ngày nay nên học từ Việt Vương Câu Tiễn họ hàng của Bách Việt ngày xưa.

“Nhẫn nhất thời phong bình lãng tịnh/Thoái nhất bộ hải khoát thiên không” (Nhẫn nhất thời gió yên sóng lặng/Lùi một bước trời đất bao la). Chữ “Nhẫn” của Việt Vương Câu Tiễn đã tiêu diệt nước Ngô. Chữ “Nhẫn” của Đại Việt sẽ làm chùn chân và tiêu diệt những tham vọng bá quyền của nước lớn.

Tô Châu tự nhận là thành phố chị em với Venice nhưng “khác mẹ khác cha” nên chẳng giống nhau chút nào.

Edited by user Wednesday, April 19, 2017 10:45:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#7375 Posted : Thursday, April 20, 2017 12:37:15 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,681

Thanks: 747 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)


Biến Cố Ðồng Tâm báo hiệu gì?


Ngô Nhân Dụng

April 18, 2017

Công an thành phố Hà Nội phải trả tự do cho bốn người dân xã Ðồng Tâm bị bắt, để đổi lại 15 cảnh sát cơ động được dân xã phóng thích. Ðây là lần đầu tiên nhà nước công nhận có 38 nhân viên công lực bị dân xã Ðồng Tâm bắt làm con tin, kể cả ba người “tự giải cứu” trốn thoát và 20 người còn bị giữ.

Người dân tay không, chỉ dùng gậy gộc đã bắt giam 38 “người nhà nước” mang vũ khí. Cuối cùng, nhà nước không dám tiếp tục đàn áp dân; phải trừng phạt một số cán bộ cấp thấp, rồi còn “cúi mình” xin “thảo luận” để dân thả nốt những người vẫn bị giam! Hiện tượng này rất khó xảy ra trong chế độ Cộng Sản!

Tại sao đồng bào xã Ðồng Tâm làm được chuyện khó tin này?

Có một cách giải thích: Chế độ Cộng Sản đang bất lực. Và khí thế người dân đứng lên tranh đấu đã chinh phục được cả lực lượng đàn áp họ!

Ai cũng công nhận đây là một cảnh “tức nước, vỡ bờ.” Dân xã Ðồng Tâm chắc không bao giờ tính trước sẽ đến lúc họ phải ra tay “bắt giam người nhà nước,” rồi đòi “trao đổi tù binh.” Nỗi uất ức đã chất chứa từ nửa thế kỷ cũng chỉ vì chuyện đất đai.

Người Việt vốn biết câu “hôn nhân, điền thổ, vạn cổ chi thù.” Mươi năm sau khi nhiều người bị cướp đất trong cuộc cải cách rộng đất, dân xã Ðồng Tâm còn bị “đảng và nhà nước” cướp mất 200 héc ta đất để cho Bộ Quốc Phòng dùng làm trường bắn. Không biết tại sao người ta lại làm sân tập bắn giữa vùng dân cư đông đúc? Cũng không biết tại sao phải cần đến 300 mẫu tây!

Hai chục năm sau, nhà nước lại chiếm thêm 54 héc ta nữa, nói rằng để làm phi trường quân sự. Khi kế hoạch xây phi trường chìm xuồng thì “ván đã đóng thuyền” rồi, không ai trả lại đất cho dân nữa. Bỗng dưng quân đội được đóng vai địa chủ phát canh, thu tô; người dân xã, trong đó có thể có những người từng là chủ nhân trong khu đất bị chiếm đó, bỗng thành tá điền, làm rẽ, đóng tô! Ðúng là một cuộc “cách mạng giật lùi!”

Trong những vùng đất bị chiếm đoạt, có bao nhiêu phần là công điền, công thổ, và bao nhiêu là ruộng đất tư? Ðền bù cho các chủ ruộng thế nào? Những ai theo dõi tin chính trị ở Mỹ thì biết rằng kế hoạch của ông Donald Trump xây tường ngăn biên giới Mexico sẽ gặp trở ngại lớn nhất khi bức tường đi qua nhiều khu đất tư. Chủ nhân các khu đất này sẽ đòi bồi thường, dù đất đang bỏ hoang, và chắc chắn nhiều người sẽ kiện chính phủ Mỹ ra tòa nếu họ không đồng ý giá cả đền bù! Kinh nghiệm cho biết việc kiện tụng có thể kéo dài hàng chục năm. Nhưng sống dưới chế độ độc tài chuyên chế, dân xã Ðồng Tâm đành phải chịu thiệt thòi. Và chịu nhục. Hai lần, trong những năm từ 1960 đến 1980.

Bản chất đảng Cộng Sản là một “đảng cướp đất.” Hiến Pháp xác định không ai được làm chủ; nhà nước là chủ nhân tất cả ruộng đất. Nhà nước là ai? Tức là các quan chức nắm quyền trong đảng. Sau khi đảng Cộng Sản “đổi mới kinh tế,” các quan chức bắt đầu nhìn thấy mối lợi đất đai. Nhờ đổi mới kinh tế, các quan chức sáng mắt ra, nhìn thấy cơ hội: Ðem xào xáo “quyền sử dụng đất đai” là một cách hái ra tiền. Nhất là đất thuộc Bộ Quốc Phòng. Cha con ông Bộ Trưởng Phùng Quang Thanh giầu nhất nước là nhờ biến đất công thành đất tư! Vì vậy, năm 2007, Bộ Quốc Phòng vẫn đóng vai địa chủ, đã đem “giao lại” gần bảy héc ta đất cho tư nhân, trong số 54 mẫu đất “phi trường hụt.” Tại sao suốt 20 năm khu đất đó vẫn không dùng vào việc quốc phòng nào cả, mà bây giờ mới đem trao lại? Tại sao chỉ giao lại chưa tới một phần tám diện tích cả khu đất? Không ai giải thích. Không ai hỏi ý kiến người dân. Các quan toàn quyền chia chác, chấm mút với nhau. Như thường lệ.

Nhưng các người trong cuộc thì biết tại sao. Khi xã Ðồng Tâm vào nằm trong thành phố Hà Nội thì giá trị đất chắc chắn sẽ tăng lên. Họ “giao lại” đất cho ai là quyền của họ! Những người từng là chủ nhân cũ, bây giờ không được giao đất, cho kẻ khác tới lãnh! Cả một “áp phe” đất đai diễn ra theo kịch bản của các quan cán bộ. Những người được lãnh đất đó cũng không phải loại người cày sâu cuốc bẫm, họ chờ thời cơ giá đất lên cao thì đem bán. Những người mua lại, ngay tình, lo đóng thuế, đóng các lệ phí, tưởng rằng từ nay mình nắm quyền sử dụng đất thật!

Không ai tính trước được các thủ đoạn tráo trở của quan chức Cộng Sản!

Chưa đầy 10 năm sau, đảng lại “tráo bài!” Ra lệnh “thu hồi” những mảnh đất đã được “giao lại!” Muốn giao đất cho ai thì giao, giờ muốn lấy lại thì ta thu hồi, tất cả quyền hành nằm trong tay Ðảng Ta! Quyền này được ghi trong Hiến Pháp!

Ðến đây thì đúng là “tức nước, vỡ bờ!” Người dân xã Ðồng Tâm uất ức quá, nhịn nhục mãi, chịu không nổi đã quyết liệt đứng lên! Họ “đồng tâm,” theo đúng tên gọi. Vì thế đảng phải thua.

Nhưng chúng ta phải thắc mắc: “Tại sao đảng chịu thua?” Thua hai lần liền trong sáu tháng, mà lần này thì thua dậm!

Lần trước, ngày 14 Tháng Mười năm 2016, công an, cảnh sát, có cả bộ đội, đã tới cưỡng chiếm đất. Nhưng 600 lính tráng, vũ trang sắt máu, đã chịu thua rút về khi dân Ðồng Tâm phản đối. Lần này, ngày 15 Tháng Tư năm 2017, đảng đụng phải đám dân Ðồng Tâm đang uất ức vì bị lừa; khi bốn đại diện của họ được mời tới thào luận rồi bị bắt giam ngay để dằn mặt người khác. Tình trạng “tức nước” tăng gấp đôi, càng dễ “vỡ bờ” mạnh hơn. Ðồng bào bắt người của nhà nước làm món hàng trao đổi!

Ðiều khó hiểu nằm ở chỗ này: Tại sao người dân tay không có thể bắt 38 mạng công an cảnh sát và cán bộ vũ trang một cách dễ dàng như vậy? Tại sao 38 nhân viên công lực chịu để người ta cầm tay dắt vào phòng giam mà không chống cự, cũng không bỏ chạy?

Chúng tôi ở xa, cách xã Ðồng Tâm gần nửa vòng trái đất, chỉ có thể phỏng đoán: Chính những người bị dân xã bắt, họ đứng về phía dân!

Chỉ cần một số trong bọn họ, những người trong tay có vũ khí, thấy việc người dân “bắt tù binh” để trao đổi là có lý! Họ đồng ý để cho dân bắt, thế là những người khác phải theo! Chắc nhiều người đã nhìn thấy việc đảng Cộng Sản cưỡng chiếm đất đai, ăn cướp đất đến hai lần, là vô lý. Hành động mời dân đến thảo luận rồi bắt người ta cũng là vô lý, nhất là khi dùng bạo lực với một cụ già 80 tuổi, mà cụ chỉ mắc tội “nói thật!”

Chắc vì hầu hết 38 người bị bắt đã chấp nhận làm con tin , cho nên dân xã Ðồng Tâm đã nuôi họ với suất cơm 30,000 đồng mỗi bữa, dù họ đang thiếu ăn! Họ cũng không “giận cá chém thớt” trừng phạt các con tin khi chính quyền Hà Nội chơi trò tiểu nhân, cắt toàn bộ điện, nước của xã.

Biến Cố Ðồng Tâm có hai ý nghĩa. Một là người dân dám phản ứng theo lối liều mạng, như con giun xéo lắm cũng quằn. Hai là các lực lượng đàn áp của đảng Cộng Sản để bị dân bắt chứ không nỡ nhúng tay vào máu đồng bào.

Phải chăng hai bên đã có thỏa thuận ngầm với nhau từ trước? Việc thỏa thuận khó xảy ra trong một chế độ kềm kẹp đêm ngày. Nếu không thỏa thuận trước, thì còn một cách giải thích khác, là người dân xã Ðồng Tâm, tất cả mọi người, đã biết một sự thật: Chính những tay “khuyển ưng” được lệnh đàn áp dân cũng chán làm việc ác đức, bất nhân đó rồi. Họ biết suy nghĩ, lương tâm họ đã thức dậy, họ không nhắm mắt nghe lệnh nữa! Cho nên họ chấp nhận thà bị bắt làm con tin còn hơn tàn ác với đồng bào mình! Mai mốt, khi chế độ sụp đổ, làm sao sống mà nhìn mặt bà con hàng xóm láng giềng? Cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Ðông Âu bắt đầu khi công an mật vụ thỏa thuận không đàn áp dân biểu tình ở thành phố Dresden, Ðông Ðức. Rồi công an, cảnh sát ở Praha, Tiệp Khắc, làm theo.

Trên đây chỉ là những giả thuyết để giải thích Biến Cố Ðồng Tâm, một hiện tượng khó hiểu. Nếu giả thuyết này đúng, dù chỉ đúng một phần ba hay một phần tư, thì Biến Cố Ðồng Tâm cũng báo hiệu đảng Cộng Sản Việt Nam đang trên đà tan rã, đang tan rã từng mảng một. Ðồng bào Nghệ An, Hà Tĩnh có thể theo kinh nghiệm Ðồng Tâm. Công an, cảnh sát ở các nơi khác cũng có thể rút ra một bài học: Không người nào bị bắt giam trong “đồn dân” bỗng dưng “tự tử” hay mắc bệnh chết đột ngột!
Hoàng Nam  
#7376 Posted : Thursday, April 20, 2017 1:20:53 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,681

Thanks: 747 times
Was thanked: 262 time(s) in 197 post(s)

Mấy đời bánh đúc có xương,
mấy đời cộng sản mà thương dân lành


UserPostedImage


Thạch Đạt Lang (Danlambao)
- Vụ tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm, Mỹ Đức xảy ra đã hơn một tuần vẫn chưa được chính quyền Hà Nội giải quyết êm thắm. Người dân vẫn tiếp tục giữ các con tin là những cảnh sát cơ động, tham gia vào cuộc đàn áp, khủng bố người dân. Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung cuối cùng không xuống Đồng Tâm để trao đổi, giải quyết nguyện vọng của người dân bị mất đất, trong khi công an vẫn đang chuẩn bị cuộc tấn công, giải cứu con tin.

Tứ trụ triều đình, Trọng, Quang, Ngân, Phúc hoàn toàn im lặng, không ai lên tiếng, bỏ mặc mọi chuyện cho đảng ủy, chính quyền Hà Nội giải quyết. Điều này cho thấy thái độ hèn hạ, thâm hiểm, gian ác tột cùng của lãnh đạo tối cao chế độ CSVN, lúc nào cũng ra rả vì dân, vì nước, chỉ có quyền lợi của dân là trên hết… nhưng luôn luôn trốn tránh trách nhiệm khi người dân cần họ. Từ thảm họa Formosa đến “xả lũ đúng quy trình” ở Hố Hô, từ vụ cướp đất ở Tiên Lãng, đến Văn Giang… giờ đến Đồng Tâm, Mỹ Đức.

Ông Nguyễn Đức Chung lúc đầu mạnh miệng, dù không hứa hẹn nhưng tuyên bố qua điện thoại: “...Cần thiết thì mai tôi sẽ về trực tiếp về tận nơi Đồng Tâm…!” Nhưng rồi xù, không xuống. Thái độ từ chối gặp trực tiếp dân ở Đồng Tâm của Nguyễn Đức Chung không phải là sự thất hứa mà là sự hèn nhát, đúng bản chất của người CSVN.

Có thể trong lòng, Nguyễn Đức Chung muốn giải quyết êm đẹp vụ Đồng Tâm nhưng vướng phải cơ chế độc tài, gian ác của đảng CSVN, Chung bó tay, không có quyền hạn để làm theo ý mình. Thỏa mãn nguyện vọng của người dân Đồng Tâm, Mỹ Đức, Chung sẽ tạo thành một tiền lệ đấu tranh bảo vệ đất đai cho người dân VN, điều đảng CSVN rất sợ hãi vì nó sẽ phá vỡ nền tảng căn bản của bộ luật đất đai dưới chế độ CS: “Đất đai là sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý”.

Chuyện tranh chấp đất đai, bắt giữ con tin kéo dài đã nhiều ngày. Nguyễn Đức Chung chắc chắn đã phải xin ý kiến của bộ chính trị ĐCSVN cũng như tứ trụ triều đình về phương hướng giải quyết. Tuy nhiên như đã nói, bản chất người CS không bao giờ dám nhận lãnh trách nhiệm nên sẽ không có một chỉ thị rõ rệt nào được đưa ra về vụ Đồng Tâm, Mỹ Đức.

Chung không được toàn quyền hành động, phải làm theo ý đảng, bộ chính trị, nhưng nếu thất bại, Chung phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Đó chính là cốt lõi của vấn đề. Sẽ không có con đường nào khác cho Nguyễn Đức Chung là dùng vũ lực để giải cứu con tin nếu người dân cương quyết không thả họ ra cho đến khi nguyện vọng được giải quyết thỏa đáng, được ký kết trên giấy trắng, mực đen.

Việc cù cưa, tìm cách kéo dài thời gian đàm phán chỉ là thủ đoạn của chế độ, làm người dân mệt mỏi, chán chường, không còn ý chí tiếp tục đấu tranh, đến một lúc nào đó sẽ phải buông tay đầu hàng. Lúc đó công an và có thể cả quân đội sẽ tấn công vào làng, nhiều người sẽ bị bắt, đưa đi mất tích, Đồng Tâm, Mỹ Đức sẽ bị xóa sổ, có chăng chỉ còn lại tiếng vang.

Cuộc nổi dậy của nông dân Quỳnh Lưu, Nghệ An năm 1956 là một bài học cho những ai còn tin vào chế độ cộng sản. So sánh với Quỳnh Lưu về tầm mức, số lượng người dân tham gia, sự việc Đồng Tâm tương đối nhỏ, chỉ có khoảng 6.000 người dân, trong khi ở Quỳnh Lưu, cao điểm lên tới 60.000 người. Chế độ CS đã phải điều động 2 sư đoàn lính chính qui để bao vây, đàn áp cuộc nổi dậy của người dân.

Tuy nhiên hiện trạng xã hội VN năm 1956 khác với hiện nay rất nhiều, nội bộ đảng cũng không hề bị phân tán, chia rẽ, đấu đá, tố cáo, hãm hại nhau kịch liệt như bây giờ. Lúc đó, Hồ Chí Minh vẫn còn là thần tượng của hầu hết dân miền Bắc. Thông tin, báo chí, truyền thông đại chúng thời gian đó… do đảng CSVN kiểm soát hoàn toàn nên tin tức dễ dàng bị ém nhẹm, che giấu, thế giới không ai biết được tình hình căng thẳng xảy ra tại Quỳnh Lưu năm 1956.

Giờ đây tình hình thay đổi, dù chỉ có 6.000 dân tham gia cuộc tranh đấu đòi quyền sống, nhưng phương tiện truyền thông, mạng xã hội đã đưa tin lan đi khắp nơi trên thế giới. Mọi cuộc đàn áp bằng vũ lực sẽ bị cả thế giới lên án ngay khi phát súng đầu tiên nổ ra. CSVN còn chần chừ một phần nào cũng vì lý do này. Bên cạnh đó, dù không coi trọng mạng người, dân cũng như lính, công an… nhưng nếu tấn công vào lúc này, chế độ CSVN sẽ phải hy sinh 20 cảnh sát cơ động. Sự thí mạng 20 người này sẽ gây phản ứng tâm lý dây chuyền, khiến cho lòng trung thành với chế độ của đám công an, quân đội giảm sút nặng nề, dễ khiến họ nổi loạn hoặc quay súng trở lại bắn vào cấp chỉ huy khi có biến.

Trở lại vấn đề con tin. Nếu ngây thơ, tin tưởng vào lời hứa của bất kỳ người nào trong các lãnh đạo chế độ CS, thả con tin ra trong lúc này thì tình hình sẽ trở nên bất lợi hơn cho người dân. Chế độ CSVN chưa dùng vũ lực tấn công vào Đồng Tâm chỉ vì sinh mạng của các con tin còn lại, bởi nếu vọng động, chắc chắn 20 con tin sẽ bị thiêu sống, thế giới sẽ biết đến biến cố long trời lở đất này, Nguyễn Đức Chung sẽ trở thành một con dê tế thần cho chế độ, Chung biết điều này nên không dại dột làm càn.

Là người hiểu biết, khôn ngoan nhưng không thể hành xử khác được, Chung phải tìm cách giải thoát 20 cảnh sát cơ động này trước khi tấn công vào làng. Những người hy vọng có một cuộc đối thoại có tình, có lý, giữa người dân với chế độ CS qua Nguyễn Đức Chung, chỉ là những người hy vọng hão huyền, hoang tưởng, thật sự chưa hiểu gì về bản chất của người cộng sản.

Từng là tướng công an, để lên tới cấp tướng, Chung hiểu rõ mọi cách vận hành của chế độ sắt máu này. Người cộng sản Việt Nam không bao giờ giữ lời hứa, ngay cả những văn bản đã ký kết với quốc tế, họ cũng chẳng coi trọng. Từ hiệp định Genève 1954, hiệp định Paris 1973, chữ ký chưa ráo mực, cộng sản VN đã xé toạc, vứt vào sọt rác, hiệp định hồi hương 60.000 khách thợ ở Đồng Đức ký với Cộng Hòa Liên Bang Đức năm 1990, sau khi nhận một nửa số tiền theo hiệp định, CS trở mặt, giở mọi thủ đoạn, tìm cách từ chối thi hành, đến những hiệp định sau này ký với Liên Hiệp Quốc về tôn trọng nhân quyền, tự do báo chí…, CSVN đã thi hành hiệp định nào? Hoàn toàn không! Thế thì dân Đồng Tâm “là cái thá gì” để Chung xuống tận nơi, đàm phán? Và cho dù có đàm phán, thỏa thuận được điều gì đi nữa, thì sau đó chế độ CS cũng sẽ tìm cách lật lọng, âm thầm xóa bỏ những điều họ đã cam kết với dân.

Người viết không kích động bạo lực, không muốn thấy máu người dân Đồng Tâm đổ ra, nhưng viễn ảnh có được một cuộc dàn xếp êm đẹp, thấu tình, đạt lý giữa người dân và chế độ CS Hà Nội thật quá xa vời, khó lòng thực hiện.

20/4/2017
Thạch Đạt Lang
danlambaovn.blogspot.com
linhphuong  
#7377 Posted : Thursday, April 20, 2017 2:30:44 AM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,910

Thanks: 317 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Tin tổng hợp

Lòng tin nảy sinh từ sự sống lại của Chúa Kitô


4/20/2017 7:56:05 AM

** Chúa Kitô phục sinh là niềm hy vọng của chúng ta. Lộ trình niềm tin của Kitô giáo nảy sinh từ biến cố Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta, được mai táng và ngày thứ ba đã sống lại, hiện ra với Phêrô và Đoàn Tông Đồ. Đức tin kitô nảy sinh sáng ngày lễ Phục Sinh. Là Kitô hữu có nghĩa là khởi hành từ tình yêu thương của Thiên Chúa Đấng đã chiến thắng cái chết.

UserPostedImage


ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi gặp gỡ chung hàng tuần sáng thứ tư 19-4-2017.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã giải thích ý nghĩa 5 câu đầu chương 15 thư thứ I thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô, viết rằng: “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.

Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai” (1 Cr 15,1-5).

ĐTC nói: dưới ánh sáng lễ Phục Sinh mà chúng ta đã cử hành trong phụng vụ, trong lộ trình giáo lý về niềm hy vọng kitô tôi muốn nói về Chúa Kitô Phục Sinh niềm hy vọng của chúng ta, như thánh Phaolô trình bầy trong chương 15 thư thứ I gửi tín hữu Côrintô.

Thánh tông đồ muốn giải quyết một vấn đề chắc chắn là trọng tâm các thảo luận trong cộng đoàn Côrintô. Sự sống lại là đề tài sau cùng nhưng theo trật tự quan trọng lại là đề tài đầu tiên, vì tất cả đều dựa trên giả thiết này.

Khi nói với các kitô hữu, thánh nhân khởi hành từ một dữ kiện không thể chối cãi được. Nó không phải là kết quả suy tư của một người khôn ngoan, nhưng là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào cuôc sống của vài người. ĐTC khẳng định như sau:

** Kitô giáo này sinh từ đó. Nó không phải là một ý thức hệ, nó không phải là một hệ thống triết lý, nhưng là một con đường lòng tin khởi hành từ một biến cố được các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu làm chứng. Thánh Phaolô tóm tắt nó như thế này: Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được mai táng và ngày thứ ba đã sống lại và hiện ra với Phêrô và Nhóm Mười Hai (1 Cr 15,1-5). Đây là sự kiện. Ngài đã chết, đã bị mai táng, đã sống lại, đã hiện ra. Nghĩa là Chúa Giêsu sống. Đây là hạt nhân của sứ điệp kitô.

Khi loan báo biến cố này là nhân tố chính của đức tin, Phaolô nhấn mạnh trên yếu tố cuối cùng của mầu nhiệm vuợt qua, nghĩa là của sự kiện Chúa Giêsu đã sống lại. Thật thế, nếu tất cả đã kết thúc với cái chết, nơi Ngài chúng ta sẽ có môt thí dụ của sự tận hiến tột cùng, nhưng điều này không thể sinh ra niềm tin của chúng ta. Ngài đã là một anh hùng. Không!. Ngài đã chết, nhưng đã sống lại. Bởi vì đức tin nảy sinh từ sự phục sinh. Chấp nhận rằng Chúa Kitô đã chết và chết trên thập giá, không phải là một hành động của lòng tin, nó là một sự kiện lịch sử. Trái lại tin rằng Ngài đã sống lại là hành động của lòng tin. Niềm tin của chúng ta nảy sinh sáng ngày lễ Phục Sinh. Thánh Phaolô đã liệt kê một danh sách các người đã đưọc Chúa Giêsu hiện ra (cc. 5-7). Ở đây chúng ta có một tổng kết của tất cả các trình thuật phục sinh và tất cả những người đã bước vào việc tiếp xúc với Đấng Phục Sinh. Đứng đầu danh sách là Kêpha, tức Phêrô và nhóm Mười Hai, rồi tới “500 anh em” mà nhiều người còn có thể làm chứng, rồi đến Giacôbê. Đứng chót trong danh sách như là kẻ bất xứng nhất – là chính Phaolô, ngài nói về mình như “một bào thai bị phá” (c.8).

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: thánh Phaolô dùng kiểu diễn tả này, bởi vì lịch sử cá nhân của ngài thật là thê thảm: ngài đã không phải là một chú bé giúp lễ nhé. Ngài đã là một người bách hại Giáo Hội, kiêu căng vì các xác tín riêng của mình; thánh nhân cảm thấy mình là một người thành đạt, với một tư tưởng rất trong sáng về cuộc sống với các bổn phận của ngài. Nhưng trong khung cảnh toàn vẹn đó – tất cả đã toàn vẹn nơi Phaolô, ngài biết tất cả - trong khung cảnh hoàn thiện đó của cuộc sống, một ngày kia xảy ra điều tuyệt đối không thể thấy trước được: đó là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Phục Sinh, trên đường đến thành Damasco. Ở đó đã không chỉ có một người ngã xuống đất: đã có một người bị túm lấy bởi một biến cố đảo lộn ý nghĩa của cuộc sống. Và kẻ bách hại trở thành tông đồ, tại sao? Bởi vì tôi đã trông thấy Chúa Giêsu sống! Tôi đã trông thấy Chúa Giêsu Kitô phục sinh! Đây là nền tảng đức tin của Phaolô, cũng như của các tông đồ khác, cũng như của giáo Hội, cũng như đức tin của chúng ta. Rồi ĐTC định nghĩa Kitô giáo như sau:

** Thật đẹp biết bao nhiêu nghĩ rằng Kitô giáo một cách nòng cốt là điều này! Nó không phải là việc chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa – một cuộc kiếm tìm không chắc chắn – cho bằng là việc Thiên Chúa tìm kiếm chúng ta. Chúa Giêsu đã cầm lấy chúng ta, đã tóm lấy chúng ta, đã chinh phục chúng ta để không bỏ chúng ta ra nữa. Kitô giáo là ơn thánh, là sự kinh ngạc và vì lý do đó nó giả thiết một con tim có khả năng kinh ngạc. Một con tim đóng kín, một con tim duy lý trí không có khả năng kinh ngạc, nó không thể hiểu được Kitô giáo là gì. Bởi vì Kitô giáo là ơn thánh, và ơn thánh chỉ có thể được nhận thức: còn hơn thế nữa nó gặp gỡ trong sự kinh ngạc của cuộc gặp gỡ.

Và khi đó cả khi chúng ta tội lỗi - tất cả chúng ta đều tội lỗi - nếu các ý hướng sự thiện của chúng ta đã chỉ ở trên giấy tờ, hay nếu khi nhìn vào cuộc sống chúng ta nhận ra đã có biết bao nhiêu thất bại… Vào sáng ngày Phục Sinh chúng ta có thể làm như những người Tin Mừng nói đến: đi ra mộ Chúa Kitô, trông thấy phiến đá bị lật đổ và nghĩ rằng Thiên Chúa đang thực hiện cho tôi, cho tất cả chúng ta, một tương lai không chờ đợi. Đi tới mộ của chúng ta, tất cả chúng ta đều có một cái mộ nhỏ bên trong. Đi đến đó và trông thấy Thiên Chúa có khả năng sống lại từ đó như thế nào. Ở đây có hạnh phúc, ở đây có niềm vui và sự sống, nơi tất cả chúng ta đã nghĩ chỉ có sự buồn sầu, thất bại, và bóng tối. Thiên Chúa làm cho các cây hoa của Ngài lớn lên giữa các hòn đá khô cằn nhất.

Là Kitô hữu có nghĩa là không khởi hành từ cái chết, nhưng từ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, là Đấng đã chiến thắng kẻ thù dữ dằn nhất của chúng ta. Thiên Chúa vĩ đại hơn hư vô, và chỉ cần một ngọn nến để chiến thắng đêm tối nhất của các đêm đen. Thánh Phaolô kêu lên, bằng cách làm vang vọng lời các ngôn sứ: “Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi ở đâu? Hỡi tử thần nọc độc của ngươi ở đâu?” Trong các ngày này của lễ Phục Sinh chúng ta hãy đem tiếng kêu này trong tim. Và nếu người ta có nói tại sao chúng ta trao ban nụ cười và sự chia sẻ kiên nhẫn, thì khi đó chúng ta sẽ có thể trả lời rằng Chúa Giêsu vẫn còn đây, Ngài tiếp tục sống giữa chúng ta, rằng Ngài ở đây, tại quảng trường này với chúng ta: Ngài sống và đã phục sinh.

** ĐTC đã chúc mừng lễ Phục Sinh và chào nhiều đoàn hành hương. Trong các nhóm nói tiếng Pháp ngài chào các học sinh sinh viên đến từ Pháp và Thụy Sĩ. Ngài cầu mong Chúa Phục Sinh gia tăng đức tin cho mọi người và tình yêu của Chúa giúp chiến thắng tội lỗi và cái chết nơi từng người, để có thể tươi vui làm chứng cho niềm hy vọng nảy sinh từ ngôi mộ mở ra sáng ngày lễ Phục Sinh.

Ngài cũng chào các đoàn hành hương đến từ Anh quốc, Thụy Điển, Thuỵ Sĩ, Hồng Kông, Indonesia, Canada và Hoa Kỳ, đặc biệt các tân Phó tế trường Ailen cùng với thân nhân và bạn bè.

Ngài cũng chào các nhóm hành hương của tổng giáo phận Muechen Freising do ĐHY Reinhard Max và các GM phụ tá hướng dẫn, cũng như các đại chủng sinh Áo do ĐC Anton Leichtfried hướng dẫn. Ngài cầu chúc họ đem niềm vui phục sinh tới với những người khác và làm chứng cho cuộc sống không tàn phai.

Chào các đoàn hành hương Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Brasil ĐTC xin họ để cho sức mạnh phục sinh của Chúa Kitô biến đổi soi sáng giúp họ làm chứng cho cuộc sống mạnh hơn tội lỗi và cái chết.

Chào các tín hữu Ba Lan ngài khích lệ họ đi đến với các anh chị em khác với niềm vui và hy vọng trong tim để loan báo Chúa Kitô đã phục sinh và hiện diện giữa chúng ta.

Trong các nhóm Ý ĐTC chào các tân linh mục giáo phận Mantova do ĐC Marco Busca hướng dẫn hành hương Roma cùng với các thân nhân và bạn bè, cũng như các tân Phó tế dòng Tên và thân nhân bạn bè trong đó có thầy Agostino Nguyễn Minh Triệu.

Ngài cũng chào các nữ tu thuộc nhiều dòng khác nhau đang tham dự cuộc hội của Liên hiệp các bề trên tổng quyền Italia; tín hữu Marigliano kỷ niệm 80 năm đội triều thiên cho ảnh Đức Mẹ Hy Vọng. ĐTC cầu mong đây là dịp giúp mọi người canh tân lòng gắn bó với Chúa và các giáo huấn của Chúa.

Chào các bạn trẻ, đặc biệt các bạn trẻ tuyên xưng đức tin thuộc giáo phận Milano và Cremona, ĐTC chúc họ sống tràn đầy sứ điệp phục sinh và làm chứng cho hoà bình của Chúa ở khắp mọi nơi. Ngài chúc các người đau yếu biết liên lỉ nhìn lên Chúa Kitô Phục Sinh. Ngài nhắn nhủ các đôi tân hôn biết ý thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc sống gia đình.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.

(Linh Tiến Khải, RadioVaticana 19.04.2017/ CNS 10/03/2017)

Các Giám mục có ủng hộ ĐTC Phanxicô
xây dựng một Giáo hội Công nghị?


Thứ Năm, 20-04-2017 | 00:22:23

UserPostedImage


“Ngày nay Giáo hội Công giáo vẫn còn chạy theo xu hướng nguy hiểm là chỉ tin cậy vào một nhân vật duy nhất – Đức Giáo Hoàng. Một năm rưỡi sau bài phát biểu của ĐTC Phanxicô, có bao nhiêu Giám mục và Hội đồng Giám mục đã đón nhận lời mời gọi của Ngài để xây dựng một Giáo hội công nghị?”

Đã có một sự chú ý đối với ‘Amoris Laetitia’ – Tông huấn năm 2016 của ĐTC Phanxicô bàn về những vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình, sau Thượng Hội đồng Giám mục diễn ra vào năm 2014 và năm 2015.

Thế nhưng, có một điều gì đó đã bị lãng quên. Đó chính là việc tiếp nhận điểm nhấn của ĐTC Phanxicô về thể thức công nghị cũng như tầm quan trọng của nó đối với Giáo hội trong thế giới hiện nay.

Thứ hai sau Lễ Phục Sinh vừa qua là tròn một năm rưỡi kể từ khi ĐTC Phanxicô đưa ra một trong những phát biểu quan trọng nhất giải thích sự cần thiết của việc xây dựng một Giáo hội Công giáo công nghị.

“Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó, và cũng là nơi chúng ta được mời gọi để yêu thương và phục vụ, mặc dù đầy mâu thuẫn chống đối, vẫn đang đòi hỏi Giáo hội tăng cường hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của sứ mạng của Giáo hội”, ĐTC Phanxicô tuyên bố hôm 17 tháng 10 năm 2015.

“Đó chính là thể thức công nghị mà Thiên Chúa mong muốn Giáo hội hướng tới trong thiên niên kỷ thứ ba”, ĐTC Phanxicô nhấn mạnh.

Sau đó, ĐTC Phanxicô mô tả ba cấp độ của thể thức công nghị. Cấp độ thứ nhất là cấp độ Giáo hội địa phương. Thứ hai là cấp độ các Giáo tỉnh, các hội đồng đặc biệt và đặc biệt là các Hội đồng Giám mục. Và thứ ba là cấp độ Giáo hội hoàn vũ.

ĐTC Phanxicô kết luận bài phát biểu bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của chiều kích công nghị của Giáo hội đối với thế giới hôm nay.

“Tầm nhìn của chúng ta cũng mở rộng đến toàn thể nhân loại”, ĐTC Phanxicô nói.

“Một Giáo hội Công nghị cũng giống như một cờ hiệu được giương cao giữa các dân tộc (xem Is 11, 12) trong một thế giới vốn – trong khi kêu gọi sự tham gia, tinh thần liên đới và tính minh bạch trong quản lý hành chính – thường giao phó số phận của cả dân tộc trong tay của những nhóm nhỏ nhưng lại nắm quyền lực”, ĐTC Phanxicô nhấn mạnh.

“Là một Giáo hội ‘cùng đồng hành’ với con người, chia sẻ những đau khổ trong lịch sử, chúng ta hãy trân trọng ước mơ rằng việc tái khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của các dân tộc cũng như trách nhiệm phục vụ của các nhà cầm quyền, sẽ có thể giúp cho xã hội dân sự được xây dựng trong công lý và tình huynh đệ, và do đó sẽ mang lại một thế giới tốt đẹp và nhân văn hơn cho các thế hệ mai sau”, ĐTC Phanxicô cho biết thêm.

Phát biểu quan trọng này cho thấy cách thế tiến triển của triều đại Giáo hoàng Phanxicô so với những triều đại Giáo hoàng tiền nhiệm.

Dưới thời Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI, Giáo hội đã bị xơ cứng trong thể chế. Tình trạng đó được đánh dấu bởi sự bất lực không chỉ trong việc thực thi công nghị tính, mà còn cả trong việc dám tin vào ý tưởng về một Giáo hội có thể thảo luận các vấn đề theo thể thức công nghị.

Một trong những điều mà Giáo hội hình như đang lãng quên là việc Đức Giáo hoàng Phanxicô gắn kết với công nghị tính và thông điệp của sự kiện này đối với thế giới: “một Giáo hội Công nghị giống như một cờ hiệu được giương cao giữa các dân tộc”.

Đây là sự hiện tại hóa hai biến cố quan trọng nhất của Giáo hội trong nửa cuối thế kỷ trước. Thứ nhất là việc tổ chức Công đồng Vatican II trong suốt thời kỳ cao điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh.

Việc khai mạc Công đồng vào tháng 10/1962 trùng hợp với cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, và từ cuộc khủng hoảng đó, Đức Gioan XXIII đã quyết định ban hành Thông điệp ‘Pacem in Terris’ (11 tháng 4 năm 1963). Thông điệp này đã trở thành tài liệu cơ bản cho Giáo huấn xã hội Công giáo trong thời kỳ hiện đại trên toàn cầu.

Sự kiện thứ hai là hội nghị của các Giám mục Mỹ Latin (CELAM) được tổ chức tại Medellin, Colombia từ tháng 8 đến tháng 9 năm 1968. Thật khó có thể hiểu sự kiện này ngoại trừ trong bối cảnh lời kêu gọi của Hội đồng Giám mục Mỹ Latin, kêu gọi Giáo hội Công giáo tại Mỹ Latin phục vụ lục địa vào thời kỳ khủng hoảng xã hội và chính trị.

(Nhân đây, ĐTC Phanxicô sẽ đến Colombia vào tháng 9 sắp tới và sẽ rất thú vị khi nghe những điều ngài phát biểu khi đến viếng thăm Medellin)

Cả Công đồng Vatican II (1962-1965) lẫn Hội nghị Medellin năm 1968 đều là những trường hợp cụ thể của việc Giáo hội lắng nghe Tin Mừng, và đó cũng là việc Giáo hội phục vụ nền hòa bình thế giới.

Hiện tại, vào năm 2017, với những căng thẳng đang leo thang giữa các cường quốc hạt nhân, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Giáo hội Công giáo là dấn thân cho hòa bình. Và một Giáo hội hướng tới tính công nghị sẽ là một dấu chống đối trong một thế giới mà ngôn ngữ của vũ lực dường như đang thay thế cho ngôn ngữ của sự đối thoại và sự tin tưởng.

Các Thượng Hội đồng cấp quốc tế vào năm 2014 và năm 2015 mà ĐTC Phanxicô quyết định triệu tập chỉ sáu tháng sau khi ngài bắt đầu sứ vụ Giáo hoàng, cho thấy sáng kiến mang tính “công đồng” nhất của Giáo Hoàng nhìn từ quan điểm thể chế.

Vấn đề là sự biến đổi thực sự để trở thành một Giáo Hội Công nghị lại phụ thuộc vào mức độ hàng giáo phẩm trên toàn thế giới sẵn sàng chấp nhận và ủng hộ sáng kiến của Đức Giáo hoàng.

Giáo Hội Công giáo ngày nay vẫn còn chạy theo xu hướng nguy hiểm là chỉ tin cậy vào một nhân vật duy nhất – Đức Giáo hoàng. Một năm rưỡi sau bài phát biểu của ĐTC Phanxicô, có bao nhiêu Giám mục và Hội đồng Giám mục đã đón nhận lời mời gọi của Ngài để xây dựng một Giáo hội Công nghị?

Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực hiện bước đi đầu tiên ở cấp độ cao nhất của công nghị tính, bằng cách đem lại sức sống mới cho Thượng Hội Đồng Giám Mục. Thế nhưng, cấp độ thứ nhất (Giáo hội địa phương) và cấp độ thứ hai (các Giáo tỉnh, các hội đồng đặc biệt và các Hội đồng Giám mục) thì không lệ thuộc vào ĐTC Phanxicô.

Có bao nhiêu Giám mụcđã triệu tập công nghị Giáo hội địa phương? Đức cha Robert McElroy đã thực hiện tại San Diego (California) vào mùa thu năm ngoái khi ngài triệu tập một công nghị giáo phận về Amoris Laetitia. Nhưng có bao nhiêu vị Giám mục khác làm như thế?

Và có bao nhiêu Hội đồng Giám mục đã bắt đầu chuẩn bị cho một công nghị cấp quốc gia? Năm ngoái, Đức Tổng Giám mục Mark Coleridge – TGM Địa phận Brisban,e đã tiết lộ kế hoạch cho một Hội nghị toàn thể các Giám Mục tại Úc, nhưng đây có thể sẽ chỉ là một trường hợp ngoại lệ.

Trong thời kì hậu Công đồng Vatican II, Giáo hội thể chế lo ngại rằng việc tiếp tục đường lối công đồng và công nghị sẽ mở tung chiếc hộp Pandora bằng cách nêu lên những vấn đề cũng như những tiếng nói mà Giáo hội không thể chặn lại được.

Nỗi sợ này không phải là điều mới mẻ trong lịch sử Giáo Hội.

Một trong những bí mật được giữ gìn cẩn thận nhất của Công đồng Trentô (1545-1563) là nó đã quy định việc tổ chức thường xuyên hơn các hội đồng và các công nghị địa phương. Tuy nhiên, thay vào đó, chủ nghĩa tập quyền về giáo hoàng ở trung ương đã chiếm ưu thế trong giai đoạn hậu công đồng vào thế kỉ thứ 17. Một điều tương tự cũng đã xảy ra sau Công đồng Vatican II.

Và ngày nay, chúng ta cần phải lo ngại hơn nữa nếu vẫn tiếp tục đi theo đường lối phủ nhận tương tự.

Trong một thời đại chủ nghĩa dân tộc đang nổi lên và một cuộc đối đầu vũ trang, cũng như sự phân cực trong chính Giáo hội Công giáo, một hội nghị cấp châu lục các Giám mục Công giáo – chẳng hạn như từ Hoa Kỳ, Canada, và Mexico, hoặc giữa các Giám mục từ khắp Châu Á – sẽ gửi đến it nhất là một thông điệp biểu tượng.

Hội đồng Giám mục Italia sẽ có một vị tân chủ tịch vào tháng tới, và ngài có thể sẽ xem xét ý tưởng về một hội nghị Công giáo thực sự toàn diện cho quốc gia Italia. Hội nghị lần cuối cùng và duy nhất đã diễn ra vào năm 1976.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã tìm kiếm sự cố vấn khắp nơi, giúp bổ nhiệm một vị Đại diện Tông tòa mới cho Giáo phận Rôma sắp tới.

Một trong những điều đầu tiên mà vị này phải thực hiện, là triệu tập công nghị giáo phận. Thành phố và Giáo hội địa phương tại Rôma rất cần đến công nghị này. Và việc triệu tập một công nghị như vậy sẽ khuyến khích các mục tử địa phương khác cũng sẽ làm như vậy.

Massimo Faggioli

Minh Tuệ chuyển ngữ

Mỹ đang phối hợp áp lực Bắc Triều Tiên


20/04/2017
Reuters

UserPostedImage


Phó Tổng thống Mike Pence nói chuyện với các binh sĩ Mỹ, Nhật trên chiếc USS Ronald Reagan,
tại căn cứ Yokosuka, ngày 19/4/2017


Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence ngày 19 tháng 4 tuyên bố Washington sẽ làm việc với các nước đồng minh và Trung Quốc để làm áp lực kinh tế và ngoại giao đối với Bắc Triều Tiên, nhưng nhấn mạnh Hoa Kỳ sẽ đánh bại bất cứ cuộc tấn công nào bằng một “sự giáng trả mạnh mẽ.”

Ông Pence từ Hàn quốc đến Tokyo và tái đảm bảo với Nhật về cam kết kìm chế tham vọng hạt nhân và phi đạn của Bắc Triều Tiên trong một loạt các cuộc hội kiến với giới lãnh đạo Nhật bao gồm Thủ tướng Shinzo Abe.

Phát biểu trên tàu sân bay USS Ronald Reagan đang được bảo trì tại cảng Yokosuka, ông Pence nói ý định của Hoa Kỳ vẫn không lay chuyển trước những đe dọa của Bắc Triều Tiên. Bình Nhưỡng đã tiến hành một loạt các cuộc thử nghiệm phi đạn và hạt nhân bất chấp những chế tài của Liên hiệp quốc, gần đây nhất là vụ phóng phi đạn thất bại vào ngày Chủ Nhật vừa qua.

Những tuyên bố của Phó Tổng thống Mỹ được đưa ra giữa lúc Tòa Bạch Ốc đang đối mặt với tranh cãi về vị trí của lực lượng tấn công do tàu sân bay USS Carl Vinson dẫn đường. Tổng thống Donald Trump tuần trước tuyên bố lực lượng này được phái tới gần bán đảo Triều Tiên như một lời cảnh cáo, nhưng thực chất, đoàn tàu lại tiến về Australia.

Ông Pence không đề cập gì đến tàu Carl Vinson hay cuộc tranh cãi liên quan.

Ông Pence cho biết ông đã nói chuyện với ông Trump và vào năm 2020, khoảng 60% hạm đội Mỹ sẽ có mặt trong khu vực này, vai trò của Nhật Bản sẽ càng ngày càng tăng.

Các giới chức quốc phòng Mỹ, Hàn quốc và Nhật Bản có mặt tại Tokyo để dự hội nghị an ninh 3 bên ra thông cáo yêu cầu Bắc Triều Tiên từ bỏ vĩnh viễn việc phát triển vũ khí của họ.

Ông Pence cũng nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải-hàng không trên Biển Đông, nơi Trung Quốc có tranh chấp chủ quyền chồng chéo với một vài nước Đông Nam Á.

Cuối ngày thứ Tư 19 tháng 4, ông Pence sẽ lên đường đi thăm Indonesia.

Văn Hóa Việt Còn, Nước Việt Còn


19/04/201700:01:00(Xem: 823)
Vi Anh

Học giả Phạm Quỳnh trong thời Pháp thuộc người Việt phải học, dùng tiếng Pháp như chuyển ngữ (vehicle language/ langue véhicule) như tiếng Anh tại Mỹ, vẫn nói một câu để đời: “Tiếng Việt còn, người Việt còn”. Bốn triệu rưỡi người Việt di tản khỏi nước nhà VN, đa số định cư tại nhiều nước cách nước nhà nửa vòng Trái Đất, trong lòng văn minh Tây Phương, năm nay đã hơn 41 năm mà còn giữ cội nguồn, chẳng những bảo tồn tiếng Việt mà còn bảo tồn văn hoá Việt gồm nhiều yếu tố hơn tiếng Việt nữa. Chắc học giả Phạm Quỳnh bên kia thế giới thấy thành công này sẽ tấm tắt khen ngợi người Việt hải ngoại là con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần.

Biểu tượng đầu tiên là chánh trị, văn hoá, xã hội người Việt hải ngoại cố gắng bảo tồn và đã thành công một cách khôn khéo, là giương cao quốc kỳ VN, nền vàng ba sọc đỏ ở hải ngoại. Nếu thời sơ khai, kinh tế săn băn, hái lượm, con người sống thành bộ lạc, chọn vật tổ (totem) là biểu tượng của bộ lạc, thì thời đại văn minh quốc gia đô thị, quốc gia dân tộc con người chọn quốc kỳ là biểu tượng của quốc gia. Quốc kỳ được tôn vinh trở thành thiêng liêng đến mức các nhà xã hội học xem gần như tôn giáo (quasi -religious). Và người Việt Hải ngoại đã khéo léo, tương kế tựu kế làm được điều đó đối với tập thể sống chung và đối với cư dân địa phương nơi định cư. Vì người Việt Hải ngoại, quốc gia cũ đã không còn pháp nhân công pháp, chưa có chánh quyền, chưa giành lại được lãnh thổ, mất thế công pháp quốc tế ngoại giao, nên vận động chánh quyền sở tại thừa nhận Cờ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng Tự do, Dân Chủ của người Việt Hải ngoại. Điểm xuất phát từ Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster và từ đó và từ ấy biến thành phong trào lan toả ra cả chục tiểu bang và hàng trăm thành phố, quân hạt Mỹ, và bắt đầu vượt đại dương sang Úc Châu, lên Canada. Người dân Mỹ ủng hộ đem treo lên đỉnh Everest cao nhứt của dãy núi thiêng Hymalaya, nóc nhà của thế giới. Quân nhân Mỹ gốc Việt đưọc đơn vị quân đội Mỹ ủng hộ cho treo ở Chiến trường Iraq, ngày Lễ Lao động Mỹ và 30 tháng tư 2005.

Biểu tượng căn bản, thiết yếu nhứt và quan trọng nhứt là ngôn ngữ, tiếng Việt. Ngôn ngữ giúp cho người cùng văn hoá thông cảm nhau và giúp cho thế hệ này truyền đạt văn hoá cho thế hệ sau. Sở dĩ phải dông dài phân tích ý nghĩa xã hội học về ngôn ngữ, là để làm nổi bật công trình khó khăn bảo tồn tiếng Việt. Khó vì người Việt tỵ nạn CS đang định cư ở trong lòng văn minh Tây Phương ngôn ngữ hoàn toàn khác lạ. Tây Phương đa âm, VN đơn âm. Khó vì tiếp nối, bảo tồn tiếng nói liên tục theo điệu người Việt Quốc gia đã xài từ khi Hà nội mất, Saigon mất vào tay CS. Nhưng với quyết tâm sắt đá, riêng tại Mỹ quốc gia người Việt định cư đông nhứt, tại các vùng người Việt quần cư như California, Texas tiếng Việt được thừa nhận như một sinh ngữ thứ hai, có lớp dạy từ ở đại học nổi tiếng như UC Berkley và trường nhỏ như Bolsa Grande.

Văn hoá phẩm viết bằng tiếng Việt số lượng đầu sách báo lớn và nhiều làm ngạc nhiên nhiều sắc tộc gốc Á Châu như Trung Hoa, Nhựt bổn, và Phi luật Tân ngạc nhiên. Truyền thông đại chúng tiếng Việt Hải ngoại sung mãn, cộng đồng người Việt nào cũng có. Truyền thanh, truyền hình, báo chí lên vệ tinh loan truyền khắp thế giới, đầy tràn xa lộ thông tin Internet. Chẳng những thế, người Việt hải ngoại còn nỗ lực dùng ngôn ngữ để truyền đạt văn hoá cho các thế hệ mai sau. Nhiều tờ báo, nhiều cơ sở tôn giáo, hội đoàn mở hết lớp dạy tiếng Việt này đến lớp khác.

Nhưng có một đặc điểm chung, một đồng thuận mặc thị, là không dùng những sách học vần, tập đọc, lịch sử do các Toà Đại sứ Việt Cộng len lỏi đưa vào, cho không. Còn trong ngôn ngữ viết và nói, tránh không dùng những chữ CS Hà nội du nhập vào Miền Nam. Những chữ thường dùng như chữ “đồng tình” của CS thay cho chữ đồng ý của Miền Nam, những chữ chánh trị như “sơ tán” (sétaner), “sô vanh” (chauvin) bắt chước của Pháp, hay “hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, xã hội chủ nghĩa”, bắt chước của Tàu Cộng, người Việt Hải ngoại dùng để chê cười CSVN, chớ không phải để nói chuyện bình thường.

Những biểu tượng kế tiếp là các phong tục, lễ hội truyền thống đều được gìn giữ và kỷ niệm long trọng. Gia đình VN như cây tre bứng gốc từ bên kia đông bán cầu sang tây bán cầu, từ miền nhiệt đới sang ôn đới, từ ở bển là đêm sang bên này là ngày, nhưng gia đình VN vẫn sống mạnh, sống hùng. Tinh thần gia đình VN, sự gắn bó của gia đình VN đã giúp cho lớp trẻ người Việt tốt nghiệp đại học tỷ lệ ngang người Mỹ Trắng, giúp cho người Việt là sắc dân mua nhà tỷ lệ cao dù mới chân ướt chân ráo, giúp cho tiểu thương do người Việt làm chủ phát triển nhanh và mạnh nhứt ở Mỹ. Món phở VN được Mỹ hoá thành “pho” của Mỹ; món chả giò VN là món ít khi thiếu trong các cuộc tiếp tân ngoại giao Mỹ. Tỷ lệ ly dị vợ chồng, và bạo hành gia đình, bạo hành đường phố của người Việt Hải ngoại tại Mỹ rất thấp trong các sắc dân thiểu số.

Trong môi trường hoàn toàn tự do, tất yếu các hội đoàn, đảng phái lịch sử, và các cộng đồng non trẻ người Việt hải ngoại có khi phân hoá, bất hoà. Nhưng mẫu số chung VN vẫn còn. Tết nhứt, lễ Bà Trưng, Bà Triệu, vua Quang Trung, Tổ Hùng Vương, Đức Thánh Trần phe này hay phái kia, dù không thuận nhau đều tổ chức, không ai nỡ lòng nào bỏ qua. Công cuộc chống Cộng tuy có khác nhau về cách làm, nhưng cùng cứu cánh là đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước, như các tôn giáo dù khác tín lý nhưng vẫn đấu tranh cho tự do tôn giáo.

Nói tóm trong hơn 41 năm đoạn đầu của cuộc hành trình tìm tự do, người Việt Hải ngoại đã tự tạo gần đủ điều kiện bằng việc làm tạo thành sự kiện – ngôn ngữ, biểu tượng, lối sống, kinh tế – những điều kiện cần và đủ để thành một Việt Nam hải ngoại, kiểu Đài Loan đối với Trung Cộng.

Nhưng hành trình chưa chấm dứt vì chưa đạt mục tiêu là giúp đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào trong nước, bằng cách quốc tế vận và đấu tranh giải trừ chế độ CS độc tài đang trị toàn diện trong nước. Nhiều dấu chỉ cho thấy lớp trẻ thế hệ một rưỡi, hai và ba đang kề vai vào gánh vác công cuộc đấu tranh chống CSVN. Hành động CSVN thần phục TC, thông đồng với TC để cho TC xâm chiến biển đảo VN, cấm dân chúng VN biểu tình bày tỏ lòng yêu nước chống quân Tàu Cộng xâm lăng, gây ô nhiễm môi sinh VN, biến cuộc đấu tranh của người dân Việt trong ngoài nước trở thành cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện chống CSVN và CS Trung Quốc. Cuộc đấu tranh chống CS toàn diện của toàn dân chúng VN nay đã từ điểm chuyển thành diện, từ phẩm sang lượng, đã trở thành một qui trình không thế đảo ngược được nữa. Đó là dấu ấn của tình hình VN trong đầu năm 42 của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu và của Quốc Hận thứ 42./.

(VA)

Mỹ cáo buộc Iran 'khiêu khích đáng báo động'


7 giờ trước

UserPostedImage

Ông Rex Tillerson nêu quan ngại Iran là "nhà nước tài trợ khủng bố"


Ngoại trưởng Hoa Kỳ Rex Tillerson cáo buộc Iran "tiếp diễn những hành động khiêu khích đáng báo động" gây bất ổn ở Trung Đông và làm tổn hại lợi ích của Mỹ tại khu vực này.

"Một Iran không bị kiềm hãm có thể đi vào vết xe đổ của Bắc Hàn", ông Tillerson nói.

Tổng thống Mỹ Donald Trump trước đó yêu cầu xem xét thỏa thuận hạt nhân với Iran.

Tuy nhiên, Mỹ thừa nhận rằng Tehran tuân thủ hiệp định năm 2015.

Đến nay, Iran không ​​công khai bình luận về những diễn biến mới nhất.

Iran nhiều lần bác cáo buộc của phương Tây rằng họ đang tìm cách phát triển vũ khí hạt nhân.

Hôm 18/4, Washington cáo buộc Bắc Hàn đang định "kích động gì đó", sau khi Bình Nhưỡng tiến hành vụ thử tên lửa không thành vào cuối tuần qua.

Đáp lại, Bắc Hàn tuyên bố họ có thể thử tên lửa hàng tuần và cảnh báo về "cuộc chiến tổng lực" nếu Mỹ có hành động quân sự.

Phát biểu hôm 19/4, ông Tillerson cho hay, việc xem xét thỏa thuận hạt nhân với Iran sẽ không chỉ xem xét việc tuân thủ của Tehran mà còn đánh giá về những hành động của họ ở Trung Đông.

Ông Tillerson cáo buộc Iran đang làm tổn hại lợi ích của Mỹ tại Lebanon, Irac, Syria và Yemen.

"Một chính sách toàn diện về Iran yêu cầu phải giải quyết tất cả mối đe dọa đến từ Iran, và rõ là có rất nhiều", ông nói.

Phóng viên BBC Barbara Plett Usher phân tích:

Trong khi công bố bản đánh giá về chính sách với Iran, chính quyền Trump không hủy bỏ hợp đồng hạt nhân.

Tuy nhiên, ông Tillerson gần như tuyên bố rằng thỏa thuận không đáng giữ lại, dù ông thừa nhận rằng nó hiệu quả.

Tuần này, Ngoại trưởng Hoa Kỳ thông báo với Quốc hội rằng Tehran đang tuân thủ thỏa thuận về việc hạn chế chương trình hạt nhân của họ để đổi lại việc gỡ bỏ lệnh cấm vận mà ông phải xác nhận lại sau mỗi 90 ngày.

nguồn BBC

"Đất quốc phòng" để bảo vệ tổ quốc
hay "Đất làm ăn" để bảo vệ sự nghiệp làm giàu
của quân đội và các quan chức?


UserPostedImage


Vũ Đông Hà (Danlambao)
- Trong vụ cướp đất của dân tại Đồng Tâm - Mỹ Đức, nhà cầm quyền Hà Nội cũng như tuyên giáo đảng vẫn một mực rêu rao rằng 46ha thuộc xã Đồng Tâm là "đất quốc phòng" được giao cho Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) sử dụng cho "công trình quốc phòng A1", dựa vào Quyết định số 551/QĐ-TM ban hành vào ngày 27/3/2015.

Thực sự nó có phải là "công trình quốc phòng A1"? (và cho đến bây giờ không ai biết chính xác nội dung của công trình A1 này!)

Nhìn lại những diễn tiến:

Vào ngày 4/6/2016, Nguyễn Đức Chung - Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã ký kết biên bản hợp tác giữa UBND Hà Nội với Viettel để đẩy mạnh phát triển viễn thông và ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2016-2020 (1).

UserPostedImage


Việc ký kết này là một phần của Hội nghị “Hà Nội 2016 - Hợp tác Đầu tư và Phát triển” với sự tham dự của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư Hà Nội Hoàng Trung Hải, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam. Trong số những "nhà đầu tư" là Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT), Viettel, Tổng Công ty Viễn thông MobiFone và Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVN Hà Nội).

UserPostedImage


Tổng mức đầu tư được ký kết là 3.500 tỷ đồng (hơn 153 triệu USD) để đầu tư vào việc xây dựng các công trình ngầm cho hệ thống đường dây viễn thông và đường dây điện lực cho địa bàn Hà Nội. Trong "phi vụ" làm ăn này, VNPT, MobiFone và EVN Hà Nội chỉ là những đối tác phụ. Viettel mới là chính.

Do đó, riêng với Viettel thì Nguyễn Đức Chung đã ký "Bản ghi nhớ hợp tác đầu tư" để phối hợp phát triển viễn thông, ứng dụng Công nghệ Thông tin và xây dựng "Thành phố thông minh". Số tiền đầu tư lên đến 22.000 tỷ đồng (gần 1 tỉ USD). Trong bản ghi nhớ này, Nguyễn Đức Chung đã cam kết "Tạo điều kiện, hỗ trợ các thủ tục hành chính để Tập đoàn Viettel đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông, sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội." (2)

Dựa vào những dữ kiện trên chúng ta có thể thấy ngay thông tin của các quan chức Hà Nội vào ngày 18/4 là một sự láo khoét: "Dự án A1 là dự án lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh của quân đội và đất nước." (3)

Nội dung bản ký kết trên là bằng chứng hùng hồn nhất cho cái gọi là "công trình quốc phòng A1", thực chất là một bình phong, một trò lừa đảo, mị dân để che giấu cho mưu đồ dùng quân đội và mục tiêu quốc phòng để các quan chức hợp tác làm ăn và làm giàu.

Trong biên bản ký kết đặc biệt có phần "Hỗ trợ trong công tác giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện về quỹ đất và các thủ tục hành chính để Tập đoàn Viettel triển khai các dự án đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố Hà Nội... Trước mắt, tháo gỡ khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng tại huyện Mỹ Đức để xây dựng nhà máy sản xuất" (2)

Do đó, chính Nguyễn Đức Chung và các quan chức Hà Nội đã tiếp tay với Viettel để lập "quỹ đất", lên phương án "giải phóng mặt bằng" Đồng Tâm để quân đội có đất mà bám cho chuyện làm giàu và các quan tham có phần ăn chia từ dự án 1 tỷ đô la.

Câu hỏi kế được đặt ra là bản chất của việc "giải phóng mặt bằng": đây là đất của quân đội bị người dân chiếm và bây giờ nhà cầm quyền phải giải phóng giành lại? hay đây là đất của dân và UBND Hà Nội muốn cướp để giao cho Viettel làm ăn?

Theo thông tin của báo lề đảng (4):

- Năm 1980, Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng xây dựng sân bay Miếu Môn trên địa bàn các xã: Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc (Chương Mỹ) và Đồng Tâm (Mỹ Đức).

- Tháng 10.2014, Bộ Quốc phòng giao cho Quân chủng Phòng không không quân tiếp tục sử dụng làm vị trí đóng quân cho Lữ đoàn 28 (đất quốc phòng) với các mốc giới không thay đổi. Bộ Quốc phòng đã thu hồi 50,03 ha đất do Quân chủng Phòng không không quân quản lý cho Viettel tiếp nhận quản lý, sử dụng vào công trình quốc phòng A1 (trong đó gồm 46 ha đất thuộc xã Đồng Tâm).

Dĩ nhiên, dưới cái loa của truyền thông lề đảng thì đương nhiên đó phải là đất của quân đội và người dân đã... chiếm đóng đất của Bộ Quốc phòng.

Nhưng chúng ta thử đọc 1 đoạn văn trên báo lề đảng:

"Đặc biệt, UBND huyện đã thành lập 5 tổ công tác liên ngành xuống tuyên truyền, vận động tới từng hộ dân theo phương châm “3 cùng”.

Tuy nhiên, khi các tổ công tác của huyện Mỹ Đức đến nhà từng người dân xã Đông Tâm để vận động, tuyên truyền, triển khai các chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương, số công dân khiếu kiện tại đây đã không tham gia ký và vận động người dân không ký vào văn bản cam kết không xâm lấn đất quốc phòng."

Nếu người dân là những kẻ chiếm cứ đất thì tại sao một hệ thống cai trị độc tài, một guồng máy công an trị hùng hậu phải xuống tận nơi để tuyên truyền, vận động những kẻ cướp đất trả lại đất? Và làm thế nào mà người dân có thể tùy tiện cắm sào, chiếm đất đang được Quân chủng Phòng không không quân quản lý?

Tại sao lại có cái gọi là "văn bản cam kết không xâm lấn đất quốc phòng"? Rõ ràng là đất của dân, các quan đến "giải phóng" và ôm chầm lấy mảnh đất muốn ăn cướp và đặt tên cho nó là "đất quốc phòng". Sau đó người dân tranh đấu giành lại hoặc nhất định bám giữ nên mới có chuyện bạo quyền đi thuyết phục kẻ thế cô. Thế mới có chuyện vận động, thuyết phục để ký "bản cam kết không xâm lấn đất". Trên đời này làm gì có chuyện một miếng đất đang nằm trơ ra đó, người dân không phải là chủ đất, mà nhà nước lại đi vòng vòng kêu gọi người dân ký cam kết rằng: "tôi sẽ không vào chiếm miếng đất đó"!

Do đó, kết luận không thể chối cãi: đất là đất của dân và đang bị đám cường hào ác bá đến cướp.

Nhưng hành vi cướp đất của dân không phải là điều tồi tệ duy nhất của tập đoàn cai trị. Điều xảo trá và dơ bẩn của tuyên giáo, UBND Hà Nội lẫn Viettel là đã vẽ ra hình ảnh: Đảng và nhà nước đang thực hiện "công trình quốc phòng A1" nhằm bảo vệ tổ quốc và người dân Đồng Tâm là những kẻ phản động đang chống đối, ngăn cản, chiếm đất... không cho đảng và nhà nước thực hiện "sứ mạng, mục tiêu cao cả" này. Đây là chiêu trò đã từng được sử dụng khi các quan chức muốn "giải phóng" đất của các giáo xứ, của dân cho mục tiêu "công viên", "xây dựng môi trường lành mạnh" hay "công ích chung cho xã hội"... Từ đó âm mưu trét bùn vào mặt những người dân bị cướp và đánh lừa dư luận.

Vì vậy, cho dù là đất của quân đội - theo tuyên truyền láo khoét của tuyên giáo đảng - thì từ sự láo khoét này chúng ta cũng có thể kết án rằng: Viettel và UBDN Hà Nội đã chiếm dụng đất quân đội, không sử dụng cho mục tiêu an ninh quốc gia, bảo vệ tổ quốc mà cho mưu đồ làm ăn và làm giàu.

Kết luận:

Bản chất của vấn đề nằm ở con số 1 tỉ đô la. Đây là phi vụ làm giàu giữa Viettel và Nguyễn Đức Chung, đứng đằng sau là Nguyễn Xuân Phúc, Hoàng Trung Hải cùng với các tướng lãnh cộng sản không còn cầm súng chỉ còn biết cầm tiền. Nhìn thấy được bản chất của vấn đề chúng ta sẽ không ngây thơ để tin vào "thiện chí" của tập đoàn quan tham lẫn quân tham. Tập đoàn cai trị và chuyên nghề cướp bóc bằng nghị định và côn an này chỉ buộc phải nhượng bộ khi người dân quyết tử trên mảnh đất của mình. Mọi ve vuốt, hứa hẹn của chúng chỉ là trò lừa đảo quen thuộc của đám con buôn bất chính.

19.04.2017

Vũ Đông Hà
danlambaovn.blogspot.com

Phi cơ ném bom Nga lại một lần nữa
bay ngoài khơi Alaska


By admin April 19, 2017 14:21

Cali Today News – Vào hôm thứ ba, hai chiếc TU-95H của Nga lại bay vào Khu vực Nhận dạng Phòng không Alaska. Như vậy, phi cơ ném bom Nga lại một lần nữa bay áp sát Hoa Kỳ trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Hai chiếc phi cơ ném bom của Nga bị phát giác bay ngoài khơi Alaska hướng Bắc quần đảo Aleutian vào 5h chiều thứ ba (giờ địa phương). Hiện chưa rõ đây có phải là hai chiếc bị tiêm kích F-22 Raptor của Hoa Kỳ chặn lại vào hôm thứ hai hay không. Lần này, Không lực Hoa Kỳ không điều chiến đấu cơ ra ngăn chặn, chỉ phái một chiếc phi cơ giám sát E-3 Sentry để bảo đảm không có bất cứ phi cơ nào bay dưới hai chiếc TU-95H lớn.

UserPostedImage

Hai chiếc phi cơ ném bom của Nga bay gần nhất 36 hải lý ngoài khơi Alaska, và chúng bay 745 hải lý về phía Tây Nam thủ phủ Anchorage.

Hiện chưa rõ đây chỉ là hoạt động diễn tập thông thường của Nga hay ẩn chứa bên trong là một thông điệp muốn gởi tới Mỹ, nhất là trong tình hình căng thẳng giữa hai quốc gia.

Vào hôm thứ hai, hai phi cơ ném bom TU-95 của Nga đã bị hai chiếc F-22 Raptor của Mỹ chặn sau khi Tư lệnh Phòng thủ Không gian Bắc Mỹ theo dõi hai phi cơ bay vào Bắc Mỹ. Cuộc ngăn chặn “an toàn và chuyên nghiệp” diễn ra cách đảo Kodiak 100 dặm sau khi phi cơ ném bom Nga bay vào vùng Nhận dạng Phòng không Alaksa. Tuy nhiên, giữa hai bên không liên lạc qua bộ đàm. Theo Fox News, chiến đấu cơ của Mỹ đã áp giải hai chiếc này 12 phút trước khi chúng bay trở về miền Tây nước Nga.

Hương Giang (Theo CNN)

Tổng Thống Hoa Kỳ và kế hoạch
xây dựng hạ tầng cơ sở ‘ngàn tỷ mỹ kim’


By H.Van -

April 19, 2017
Share on Facebook
Tweet on Twitter

NGUỒN TIN: REUTERS

UserPostedImage


Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump, và sắc lệnh mới ký. Ảnh: 15 Minute News


Hôm qua, khi đến Công Ty Snap-on tại Kenosha, Wisconsin, Tổng Thống Donald Trump đã trả lời phỏng vấn của đài WTMJ, một đài truyền hình có liên kết với đài NBC News. Tổng Thống cho biết về kế hoạch “ngàn tỷ mỹ kim,” dành cho việc xây dựng và tái thiết cầu cống, đường xá, phi trường, trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Ông cũng cho biết, sắc lệnh “Ưu tiên mua hàng hóa của Hoa Kỳ và thuê mướn công dân Mỹ,” cũng như việc thay đổi trong quy định thị thực chiếu khán H-1B, nhằm mục đích thúc đẩy mua sắm các sản phẩm của Hoa Kỳ, trong các hợp đồng liên bang.

UserPostedImage

Ảnh: CNN.com


Khi được hỏi về mối đe dọa của Bắc Hàn, về cuộc thử nghiệm hỏa tiễn mới nhất nhưng đã thất bại của chính phủ Bình Nhưỡng, Tổng Thống Donald Trump nói rằng, Trung Quốc có “quyền lực khá mạnh mẽ” có thể gây ảnh hưởng đối với Chủ Tịch Kim Jong Un, cũng như có thể kiềm chế những hành động khiêu khích của Bắc Hàn trong khu vực. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng không thể trấn áp Bắc Hàn, vì thế Nam Hàn và các quốc gia lân cận luôn phải lo ngại đề phòng mọi hành động của chính phủ Bình Nhưỡng.

UserPostedImage

Ảnh: Inman News


Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ngoài những vấn đề kinh tế và quân sự, Tổng Thống Donald Trump còn cho biết: Ông ủng hộ Đảng Cộng Hòa trong việc thúc đẩy hủy bỏ, và thay thế một phần Đạo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Giá Phải Chăng, thường được gọi là Obamacare. Ông tin rằng chính phủ sẽ gặt hái “thành công vang dội,” mặc dù tháng 3 vừa qua, kế hoạch thay thế của Đảng Cộng Hòa đã bị thảm bại, vì không có đủ phiếu để thay đổi theo yêu cầu.

UserPostedImage

Xe cộ đi lại trên đường xa lộ Brooklyn-Queens, nơi sẽ bắt đầu sửa chữa vào đầu năm 2020.
Ảnh: AP Photo/Mary Altaffer


Edited by user Thursday, April 20, 2017 3:26:18 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#7378 Posted : Thursday, April 20, 2017 8:37:19 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 3,510
Woman

Thanks: 451 times
Was thanked: 373 time(s) in 272 post(s)
Cựu Tổng Thống Park Geun- hye


By Hải Vân -

April 19, 2017
Share on Facebook
Tweet on Twitter

Hình như bất cứ ai sinh ra trên cõi đời này đều có một định mệnh. Ðịnh mệnh ấy thăng trầm, tang thương, biến động ra sao, thật không thể nào biết trước. Nhưng có lẽ rất ít người cuộc đời lại dư đầy bi kịch như Tổng Thống Park Geun-hye. Khi còn là thiếu nữ được mệnh danh là “Công Chúa Nhà Xanh” cho đến khi trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Nam Hàn, những biến động chính trị xảy ra cho gia đình, cho bản thân, đã làm đảo lộn vị thế và vai trò của bà Park Geun-hye trong đất nước. Là con gái của cựu Tổng Thống Park Chung-hee, bà Park Geun-hye sống trong Nhà Xanh cho tới khi cha mẹ bị ám sát. Sau nhiều năm, bà trở lại chính trường, đắc cử tổng thống, nắm trong tay quyền lực bậc nhất, trở thành vị tổng tư lệnh tối cao của quân đội Nam Hàn. Nhưng bà vấp ngã thật thê thảm và đau đớn.

UserPostedImage

Ngày 10 tháng 3 năm 2017, bà chính thức bị truất phế, không được hưởng quyền miễn truy tố dành cho tổng thống.


Trong đêm ngày 30 tháng 3, rạng sáng ngày 31 tháng 3, Tòa Án Quận Trung Tâm Seoul ra lệnh bắt giữ cựu Tổng Thống Park Geun-hye. Bà bị tạm giam trong một nhà tù gần thủ đô Seoul. Lệnh bắt giữ cựu tổng thống nêu rõ bà bị cáo buộc tội danh hối lộ, lợi dụng chức vụ và tiết lộ bí mật quốc gia.

UserPostedImage

Từ trái: Tổng Thống Park Chung-hee, Park Geun-hye (X), em trai, em gái và mẹ Yuk Young-soo –
nguồn HANDOUT / REUTERS FILE PHOTO


Thông tấn xã Reuters đưa tin: Bà Park Geun-hye có thể bị giam giữ 20 ngày, trong khi nhà chức trách tiến hành điều tra, về nghi vấn bà thông đồng với người bạn thân là Choi Soon-sil, gây áp lực buộc các công ty lớn phải góp tiền cho hai quỹ, được lập ra nhằm hỗ trợ các sáng kiến chính trị của tổng thống. Hai quỹ này đã bị loại bỏ.

Thẩm phán của tòa án quận trung tâm Seoul viết rằng: “Nguyên nhân và sự cần thiết của lệnh bắt giữ đã được công nhận, bởi những cáo buộc chính nhằm vào bà Park đã được kiểm chứng, và bởi vì chứng cớ có thể đã bị tiêu hủy.”

Bản tường trình của nhật báo New York Times ghi rằng: Với tư cách là Tổng Thống Nam Hàn, bà Park Geun-hye không bao giờ xuất hiện trước công chúng, khi chưa được các nhà tạo mẫu chuyên nghiệp làm cho kiểu tóc vốn là hình ảnh đặc trưng ở người mẹ quá cố của bà.

Ngày 31 tháng 3 vừa qua, bà Park Geun-hye phải tháo bỏ những chiếc cặp bà vẫn dùng để giữ dáng tóc, trước khi bước vào Trung tâm giam giữ Seoul. Mọi tù nhân ở đây đều bị cấm mang cặp tóc bằng kim loại, vì nhà chức trách lo ngại họ sử dụng chúng để làm tổn thương bản thân.

Trong chương trình phát thanh ngày 30 tháng 3, ông Lee Yong-ju, cựu công tố viên Nam Hàn, đã đưa ra lời bình luận như sau: “Thức dậy vào sáng hôm sau, bà Park Geun-hye biết rằng, bà không thể làm tóc, mà sẽ phải đối mặt với thực tế mới vô cùng khắc nghiệt.”

Cựu Tổng Thống Nam Hàn phải sống một mình trong nhà giam, ăn các khẩu phần với giá chỉ có $1.3 Mỹ kim/1 bữa, tự rửa khay cá nhân, ngủ trên tấm nệm trải dưới sàn nhà. Bà có thể phải bị ít nhất 10 năm tù, nếu bị kết án.

Là con gái của Cố Tổng Thống Nam Hàn Park Chung-hee, được dân chúng trong nước gọi là “công chúa,” bà Park Geun-hye nổi tiếng là người khó tánh. Một lần khi đến thăm thành phố cảng Incheon, trong lúc còn là Tổng Thống, nhà chức trách địa phương phải lắp đặt hẳn một nhà vệ sinh, chỉ để dành riêng cho bà sử dụng. Rất nhiều người dân Nam Hàn đã thức thâu đêm theo dõi bản tin thời sự, trực tiếp tường thuật quá trình công tố viên áp giải bà Park Geun-hye đến Trung tâm giam giữ Uiwang, ở ngoại ô phía nam thủ đô Seoul.

Hàng trăm người ủng hộ đã hô to câu khẩu hiệu “Park Geun-hye, Tổng thống của chúng tôi,” khi đoàn xe hộ tống bà khởi hành tới trại giam. Nhưng ở những góc đường khác, rất nhiều người hân hoan, mừng rỡ, la hét: “Ðã đến lúc bà phải trả giá, về những gì bà đã làm.”

Bước chân vào trung tâm giam giữ, bao quanh là những bức tường cao, xen kẽ là các tháp canh nghiêm ngặt, bà Park Geun-hye phải mặc đồng phục phạm nhân màu xanh, được đánh số, chụp ảnh. Bà nhanh chóng trải qua phần kiểm tra sức khỏe, sau đó được nhân viên đưa về phòng giam tại tòa nhà biệt lập, nơi chuyên giam giữ những phạm nhân là các chính trị gia nổi tiếng, hay các nhà tài phiệt kinh doanh. Cựu Tổng Thống Park Geun-hye giờ đây là tù nhân mang số 503. Bà không được gặp các nhà tạo mẫu, không có đầu bếp riêng, không có chuyên gia phẫu thuật thẩm mỹ, chăm sóc da, bác sĩ vật lý trị liệu, như lúc còn ở Nhà Xanh.
cuu-tong-thong-park-geun-hye1
Tổng Thống Park Geun-hye bị bắt vì liên quan đến hối lộ – nguồn LA Times

Theo lệ thường, phạm nhân bị giam trong những căn phòng rộng 12 m vuông, mỗi căn 6 người. Mỗi buồng giam đều có một chiếc tivi, bồn rửa, một chiếc tủ nhỏ cùng bàn đọc sách. Các chương trình chiếu trên tivi, đều do Bộ Tư Pháp phê duyệt.

Hàng ngày vào lúc 6 giờ sáng và 8 giờ tối, trại giam tiến hành điểm danh. Các phạm nhân có thể tập thể dục thể thao 45 phút mỗi ngày. Thời gian tiếp xúc với luật sư không hạn chế. Bà Park Geun-hye sẽ thường xuyên gặp gỡ các luật sư của bà.

Cựu Tổng Thống Nam Hàn cũng quen biết một số phạm nhân tại trại giam, bao gồm cựu chánh văn phòng của bà, cùng vài vị cố vấn cao cấp khác, những người bị truy tố vì liên quan đến vụ bê bối khiến bà bị mất chức tổng thống. Trong trại giam này, cũng có người bạn thân của bà là Choi Soon-sil, và cựu phó chủ tịch Samsung Electronics Lee Jae-yong. Ông Lee Jae-yong bị cáo buộc đã hối lộ cho bà Choi và bà Park $38 triệu Mỹ kim. Nhưng bà sẽ có ít cơ hội gặp họ, bởi vì nam và nữ bị giam trong các phòng riêng biệt.

Bà Park Geun-hye sinh ngày 2 tháng 2 năm 1952, là một chính trị gia nguyên tắc và đáng tin cậy. Bà đã có những hành động để chứng tỏ điều này, giành được sự ủng hộ của các cử tri. Với 15 năm làm việc trên cương vị nhà lập pháp tại Quốc Hội, bà Park Geun-hye có nhiều thành tựu trên chính trường; thí dụ như việc xây dựng thành phố miền trung Sejong, một công trình mà chính quyền của Tổng Thống Lee Myung-bak muốn trì hoãn. Thật đáng tiếc, cuộc đời của bà đã bước vào khúc quanh ngặt nghèo, với bản án như thanh gươm Damocles treo lơ lửng trên đầu.

HV

Edited by user Thursday, April 20, 2017 8:38:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#7379 Posted : Thursday, April 20, 2017 3:26:22 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 27,269

Thanks: 1968 times
Was thanked: 4412 time(s) in 2749 post(s)

ĐGH Bênêđíctô XVI – 12 năm sau ngày lên ngai Giáo hoàng


Thứ Sáu, 21-04-2017 | 00:34:23

UserPostedImage


Những khoảnh khắc quan trọng khi ĐHY Joseph Ratzinger được bầu lên ngai tòa Phêrô vào ngày này cách đây 12 năm, ngày 19/04/2005 cũng như lúc ngài can đảm thoái vị ngày 11/2/2013 là những thời khắc lịch sử trong đời sống Giáo hội Công giáo cũng như thế giới.

Ngay từ đầu, ĐGH Bênêđíctô đã bị coi như một vị giáo hoàng “bảo thủ”. Tuy nhiên, trong tám năm ở trên ngai tòa Phêrô, ngài nhắc đến Thánh Kinh nhiều hơn là nhắc đến giáo lý, ngài chỉ ra mối liên hệ giữa những Kitô hữu tiên khởi với con người thời đại hiện nay trong việc chiến đấu để sống đức tin của mình.

Ngài xử lý các vấn đề chính trị và xã hội đương thời bằng việc nhấn mạnh đến một số nguyên tắc: rằng các quyền con người có nền tảng trên phẩm giá con người, rằng con người có vị trí quan trọng hơn lợi nhuận, rằng quyền sống là một vấn đề lâu đời của nhân loại chứ không chỉ là một giáo huấn của Giáo hội Công giáo, rằng những cố gắng loại trừ Thiên Chúa ra khỏi các vấn đề dân sự đang làm mục ruỗng xã hội hiện đại. Đối với Đức Bênêđíctô, Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ với vẻ đẹp, là sống một đời sống thực sự và vui thú hơn. Chủ đề chính mà ngài đưa ra là tình bạn với Đức Giêsu và với Thiên Chúa.

Đức Bênêđíctô đã khởi đầu thời kỳ Tân Phúc âm hóa bằng việc nhấn mạnh đến ba vấn đề. Ba thông điệp đầu tiên của ngài trình bày về ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy và Mến. Ba cuốn sách đầu tiên của ngài tập trung vào trung tâm của niềm tin Công giáo: Đức Giêsu Kitô. Các bài giáo huấn thứ tư hàng tuần của ngài trình bày các vấn đề giáo lý, các giáo phụ, các thánh, các tiến sĩ giáo hội, các thánh vịnh và lời cầu nguyện. Vào tháng 10/2012, ngài tổ chức một thượng hội đồng về Tân Phúc âm hóa và trong diễn văn khai mạc, ngài tuyên bố rằng “Giáo hội tồn tại là để loan báo Phúc Âm”. ĐGH Bênêđíctô đã nhấn mạnh một cách tài tình vào nhu cầu về một đời sống thần học mạnh mẽ, sự cầu nguyện liên lỉ và sự chiêm niệm – cho rằng những điều đó tự nhiên sẽ dẫn đến một đời sống luân lý, một sự cam kết đối với người khác cũng như một đời sống trong bác ái và chân lý.

Nhìn lại tám năm ở trên tòa thánh Phêrô của ngài, tôi thấy biết ơn về những thời gian được hiện diện cạnh ngài. Tôi đã gặp ĐHY Joseph Ratzinger và sau đó là ĐGH Bênêđíctô XVI nhiều lần. Tôi đã cùng ngài ở Rôma, Đức, Áo, Mỹ và Tây Ban Nha trong những chuyến tông du khó quên. Tôi làm phiên dịch tiếng Anh tại hai thượng hội đồng giám mục 2008 và 2012 – nơi tôi có đặc ân được ở cùng Đức Bênêđíctô nhiều ngày cho đến ngày cuối cùng tại Sảnh Thượng Hội đồng ở Rôma.

Tôi đã đi cùng ĐGH Bênêđíctô đến Cologne khi ngài lần đầu tiên tham gia Ngày Giới trẻ Thế giới vào tháng 8/2005. Khi đó, ngài nói với đám đông giới trẻ Kitô giáo cũng như những người hiếu kỳ hiện diện tại đó rằng: “Giáo hội có thể bị chỉ trích, bởi vì Giáo hội có cả lúa mì và cỏ dại, nhưng đó lại là một niềm an ủi khi nhận ra rằng Giáo hội còn có cả cỏ dại. Theo cách nhìn đó, vượt lên trên mọi khiếm khuyết, chúng ta vẫn có thể hy vọng rằng mình sẽ được coi là những môn đệ của Đức Giêsu – Đấng đến để kêu gọi những người tội lỗi”.

UserPostedImage


Nếu có một vị ĐGH nào đối phó với những cỏ dại giữa những lúa mì trong suốt triều đại của mình, đó chính là Đức Bênêđíctô XVI. Ngài chỉ thẳng vào những tội lỗi và sự dữ, và mời gọi mọi người trở nên bạn hữu của Đức Giêsu Kitô. Ngài đối mặt trực tiếp với những sai phạm và không ngần ngại khi nói về chúng; ngài thừa nhận những sai lầm diễn ra dưới sự cai quản của mình; ngài đi đến công cuộc đại kết và hứng chịu sự thất bại; ngài mang nhành lá hòa bình đến với những tôn giáo lớn của thế giới và không ngần ngại nói thẳng về những vấn đề đã gây ra sự chia rẽ cũng như cho thấy rằng niềm trông cậy sẽ gắn kết tất cả. Ngài bước đi giữa những vị vương công nhưng không bao giờ đánh mất cảm thức chung về nhân loại.

Hôm nay, ngày 19/04 – kỉ niệm ngày ngài được bầu lên ngai thánh Phêrô – chúng ta hãy cảm tạ Chúa về “người thợ khiêm nhường trong vườn nho của Thiên Chúa” này. Rất nhiều người nghĩ rằng để làm nổi bật những khía cạnh tính cực của “thời đại Phanxicô” mà chúng ta đang sống, cần phải mô tả những khía cạnh tiêu cực của triều đại Bênêđíctô. Cách nghĩ đó không chỉ vô lý mà còn cho thấy một sự bịt mắt, bịt tai và lờ đi những điều mà con người vĩ đại này đã thực hiện. Không thể tránh khỏi sự so sánh giữa Đức Phanxicô và vị tiền niệm, và chắc chắc rằng ĐGH Phanxicô thu hút đám đông hơn … một đám đông rất lớn tiếp tục kéo đến Vatican để gặp gỡ vị giáo hoàng đầu tiên đến từ Tân Thế giới. Đúng là có một sự thay đổi trong cách nói của Đức Phanxicô mà người ta có thể gọi là một lối nói “nhỏ nhẹ” và “mang tính mục vụ” và một sự quan tâm đến những người ở bên lề xã hội và Giáo hội. Nhưng chúng ta đừng quên rằng rất nhiều cuộc cải cách đang diễn ra trong triều đại của Đức Phanxicô thực ra đã khởi sự từ thời Đức Bênêđíctô, đặc biệt trong hai vấn đề nổi cộm là tài chính và lạm dụng tình dục. Tôi tin chắc rằng nếu hôm nay chúng ta sống trong hào quang của ĐGH Phanxicô, chúng ta phải mãi mãi biết ơn ĐGH Bênêđíctô XVI, Joseph Ratzinger – người đã giúp cho Giáo hội và thế giới có thể có một Phanxicô. Chúng ta nợ Đức Bênêđíctô một lời cảm ơn rất lớn.

Cuộc chia tay

UserPostedImage


Được phục vụ trong tư cách người phát ngôn của Vatican trong thời gian chuyển tiếp triều đại giáo hoàng hồi năm 2013, tôi đã được chứng kiến nhiều thay đổi và có nhiều lúc cảm xúc dâng trào. Một trong những khoảnh khắc xúc động nhất khi ở Rôma là ngày 28/02 năm đó, ngày cuối cùng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Sự ra đi khỏi Dinh Tông đồ được điều phối một cách cẩn thận đã làm xúc động trái tim và tâm trí của thế giới. Những lời chia tay xúc động của những người đã từng làm việc với ngài trong buổi chiều Italia nóng nắng ấy, chuyến trực thăng nhỏ gọn đưa ngài tới Castel Gandolfo, những lời cuối cùng của ngài trên cương vị giáo hoàng, tất cả nhắc cho chúng ta nhớ rằng ngài sẽ trở thành “một người hành hương” trong chặng cuối của cuộc đời. Điều đó làm thế giới xúc động. Buổi tối hôm đó ở Rôma, mọi con mắt đều rớm lệ. Tôi đã đau buồn khi chứng kiến cuộc ra đi khó tin đó. Tôi đau buồn bởi vì trong thâm sâu, tôi biết rằng ngài là một nhà lãnh đạo vĩ đại của Giáo hội, một thầy dạy, một “tiến sĩ” đức tin thực thụ và ngài đã bị một số người cùng làm việc với ngài trong triều đại giáo hoàng đối xử tệ bạc.

Thánh Gioan Phaolô II đã dạy chúng ta bài học sâu sắc về sự đau khổ và cái chết cho nhân phẩm, còn Đức Joseph Ratzinger đã dạy cho chúng ta ý nghĩa của sự đầu hàng êm dịu – không bám víu vào quyền lực và ngai vàng, những thanh danh, truyền thống và đặc ân đi cùng nó. ĐGH Bênêđíctô đã dạy cho chúng ta biết thế nào là phục vụ Thiên Chúa với niềm vui và sự khiêm nhường. Đối với chúng ta, Joseph là một người anh – một người đã bị nhiều người chối bỏ ngay từ những ngày đầu, nhưng cuối cùng lại được đón nhận như một người anh em thương mến.

Khi nghiên cứu tiếng Đức tại quê hương Baverian của ĐGH Bênêđíctô, tôi học được một cách diễn tả rất tuyệt vời “Vergelt’s Gott!”. Nó không chỉ có nghĩa là “cảm ơn” nhưng có nghĩa là “xin Thiên Chúa trả công cho bạn”. Và khi tôi nhìn lại thời gian ngài phục vụ trên ngai tòa Phêrô cũng như chứng kiến hình ảnh yếu ớt nhưng tràn đầy niềm vui của ngài trong ngày sinh nhật 90 tuổi, tôi nói rằng “Vergelt’s Gott, Heiliger Vater!”.

Giáo hội và thế giới sẽ không thể trở nên như ngày hôm nay nếu không có những gì ngài đã làm cho chúng ta.

Fr. Thomas Rosica, CSB
P.B. chuyển ngữ
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#7380 Posted : Thursday, April 20, 2017 4:10:08 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,761

Thanks: 637 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)


California: Hàng trăm ngàn thẻ đậu xe cho người khuyết tật
bị lạm dụng


April 20, 2017

UserPostedImage

(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)


SACRAMENTO, California (NV) – Nha Lộ Vận (DMV) tiểu bang California đang gia tăng nỗ lực chống nạn gian lận và lạm dụng chương trình cấp thẻ đậu xe dành cho người khuyết tật, sau khi xảy ra tình trạng cấp mà thiếu tài liệu y khoa cần thiết, cấp quá nhiều bản sao, và không hủy bỏ sau khi người được cấp qua đời, và con số này có thể lên đến hàng trăm ngàn.

Báo Sacramento Bee trích thuật báo cáo của cơ quan Thanh Tra California cho thấy, tính đến Tháng Sáu, 2016, khoảng 3 triệu người ở California được cấp thẻ đậu xe dành cho người khuyết tật.

Thẻ này cho phép người lái xe được đậu ở chỗ đặc biệt, gần lối ra vào các tòa nhà, cơ quan, bãi biển, công viên… và được miễn trả lệ phí đậu xe, nếu nơi đó có thu tiền.

Theo hồ sơ của cơ quan, hàng trăm ngàn thẻ có thể được sử dụng một cách bất hợp pháp.

Điều tra nhận thấy gần 3/4 đơn xin cấp thẻ được DMV chấp thuận mặc dù thiếu giấy tờ chứng minh bị khuyết tật, cũng như DMV không tìm cách loại bỏ những trường hợp giấy chứng nhận là giả mạo.

Ngoài ra, DMV đã không hủy bỏ những thẻ cấp cho hàng ngàn người đã qua đời.

Điều tra nhận thấy 26,000 người được cấp thẻ, nếu vẫn còn sống thì nay hẳn đã trên 100 tuổi; trong khi tính đến năm 2014, toàn thể dân số có độ tuổi bách niên ở California chỉ khoảng 8,000.

Giới chức điều tra cũng nhận thấy nhân viên kiểm soát đậu xe không liên lạc để xác định xem thẻ có giá trị hay không vì ngại thủ tục quá rườm rà.

Các dân cử California vừa thông qua luật, đòi hỏi DMV mỗi tam cá nguyệt phải xem lại chương trình cấp thẻ, thường xuyên đối chiếu với hồ sơ người chết của cơ quan An Sinh Xã Hội, và đòi hỏi người xin cấp phải cung cấp đầy đủ tên họ và ngày tháng năm sinh.

(TP)
Users browsing this topic
Guest (16)
415 Pages«<367368369370371>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.