Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages12>
Options
View
Go to last post Go to first unread
phamanhdung  
#1 Posted : Wednesday, April 7, 2010 4:00:00 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
HO,NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG

(BÍCH HUYỀN viết 3 bài đăng trên báo Người Việt tại Nam Cali, April 2010)

=========================================
Kỳ 1: CHỜ ĐỢI
Bích Huyền



Hai mươi năm nhìn lại chặng đường HO đã đi qua, lòng tôi không khỏi bồi hồi...
Mới đó mà đã hai mươi năm gia đình tôi sang định cư tại Mỹ theo “diện HO.” Hai mươi năm, chỉ thiếu một năm là bằng thời gian tôi theo cha mẹ trốn chạy Cộng Sản, cùng anh chị em từ miền Bắc di cư sống ở miền Nam năm từ 1954 cho đến 1975, cộng sản cưỡng chiếm miền Nam.

Hai mươi năm nhìn lại chặng đường HO đã đi qua, lòng tôi không khỏi bồi hồi...

Tôi không nhớ ngày tháng nào đã nộp đơn xin đoàn tụ gia đình với Phạm Anh Dũng, người em út trong nhà, là người duy nhất thoát được khỏi Sài Gòn trong ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Tôi chỉ nhớ cái cảm giác vô vọng khi ngồi chờ ở Sở Công An thành phố. Gương mặt ai nấy đều buồn rầu, có lẽ họ cũng như tôi, nộp đơn thì vẫn nộp nhưng hy vọng được xuất cảnh thật mong manh.

Rồi chồng tôi bị tai nạn chết trong tù, rồi tôi tìm đường vượt biên hai lần đều bị bắt giam, tôi đành an phận với cuộc sống lao đao và miệt mài vào công việc mưu sinh, và gần như tôi quên đi cái đơn xin xuất cảnh.

Cho đến một hôm, tôi được một ông anh họ khơi lại chuyện ra đi. Anh là giám đốc bệnh viện Grall Hà Nội. Anh có người em rể là kỹ sư được đi tu nghiệp Hoa Kỳ. Anh đến nhà tôi khuyên nên làm đơn thẳng sang Mỹ. Người kỹ sư ấy cũng là phụ huynh học sinh trường tôi đang dạy cho nên tỏ ý sẵn sàng giúp tôi. Tôi làm đơn cho Tổng Thống Mỹ (TT Reagan) kể về hoàn cảnh khó khăn của mình (Chồng tôi bị chết trong tù, con tôi sẽ chẳng có tương lai vì lý lịch ghi là “gia đình ngụy quân.”)

Ðơn được mang đến tận tay cho Hồng Thủy, bạn thân của tôi ở vùng DC. Thủy đã chuyển ngay cho anh chị Lê Ðình Ðiểu ở quận Cam, Nam Cali, vận động dân biểu, nghị sĩ giúp đỡ. Kèm theo lá đơn còn có bằng tốt nghiệp khóa Tham Mưu Cao Cấp năm 1970-1971 của chồng tại trường Leaven Worth, Kansas do cô bạn thân khác là hương Kiều loan xin giúp, cùng giấy báo tin của trại Vĩnh Phú là nhà tôi đã bị chết trong tù.

Không bao lâu tôi nhận được lá thư hồi đáp của văn phòng Tổng Thống. Ðại khái lá thư viết rằng, “rất xúc động trước hoàn cảnh của bà và sẵn sàng đón tiếp gia đình bà vào đất Mỹ. Tuy nhiên hiện nay chính phủ Việt Nam ngưng không cho ai xuất cảnh sang Mỹ. Nếu bà và con gái đến được một nước thứ ba, chúng tôi sẵn sàng đón nhập cảnh Hoa Kỳ.”

Vàng đã hết, lại thêm các tin tức thảm khốc về những chuyến vượt biên, vượt biển, làm các nào tôi có thể đến được một nước thứ hai? Thôi đành cất giữ lá thư làm... kỷ niệm.

Hàng ngày tôi vẫn đến trường dạy học, môn Văn ở trường “chuyên” cho các em học sinh giỏi thành phố. Mỗi cuối năm học, kỳ thi toàn quốc, tôi đã mang về cho thành phố những giải xuất sắc. Sở Giáo Dục có ý chuyển tôi về sở làm việc, trường Trung Học Sư Phạm cũng muốn tôi về dạy cho giáo sinh. Vì sợ mất tôi, quận đã “đề bạt” tôi vào chức vụ Hiệu Phó Chuyên Môn trường điểm hạng Một của thành phố.

Ðược hai năm, tôi đã mang bao nhiêu thành tích giáo viên giỏi, học sinh giỏi về cho Quận Nhất. Khám phá chuyện tôi đăng ký xin xuất cảnh, Ủy viên Giáo Dục Quận Nhất thuyết phục tôi rút đơn, đổi lại sẽ cho tôi đi “nghiên cứu sinh” (tu nghiệp) ở nước ngoài, cho con gái tôi du học Liên Xô... Tôi từ chối. Sau ba tháng nghỉ ở nhà mà vẫn được hưởng lương (có lẽ họ muốn chờ đợi tôi thay đổi ý kiến), tôi chính thức nhận được giấy cho thôi việc vào đầu năm học 1985-1986. Cuối năm học đó, đội tuyển học sinh giỏi Văn không có giải nào. Phòng Giáp Dục cho người đến tận nhà mời tôi trở lại dạy, và những năm kế tiếp vẫn kiên nhẫn mời gọi, nhưng tôi vẫn từ chối...

Trở lại thời gian bị nghỉ việc, tôi lo lắng không biết mình sẽ làm gì để sinh sống. Sợ nhất là công an phường khóm làm khó dễ. Tôi chợt nghĩ đến chị Hoàng Oanh (vợ nhà văn Dương Hùng Cường). Hàng năm, gần ngày khai trường, chị thường nhờ tôi giới thiệu với các trường tôi quen trong thành phố để bỏ thầu bán căn-tin. Chị Hoàng Oanh vui lòng hướng dẫn giúp tôi vào nghề.

Mỗi ngày tôi dậy từ 4 giờ sáng. Từ đường Tự Ðức quận Nhất, ghé chợ mua củ sắn, trái thơm, chở trên xe đạp lỉnh kỉnh hàng trăm thứ, đến trường Ngô Sĩ Liên gần Tân Sơn Nhất. Miệt mài làm việc để kịp bán giờ ra chơi. Lột vỏ củ sắn thì dễ dàng, nhưng gọt trái dứa rất khổ cực. Bàn tay bị acid từ dứa ngấm vào da sưng đỏ, nhức nhối. Phụ huynh làm trong bịnh viện thương quá, cho găng tay cao su bao bọc. Chiều về đến nhà, mệt quá, không ăn uống gì, chỉ biết nằm vật ra thở. Tối đến còn phải thức thật khuya nấu cho xong nồi chè đậu đen to tướng, ngủ vài tiếng là lại bắt đầu một ngày mới, lại rời nhà từ lúc trời còn mờ tối. Thấy con vất vả quá, mẹ tôi nói, “Thôi đừng bán buôn nữa, từ từ tìm nghề nào nhẹ nhàng hơn. Lúc này mợ vẫn có thể nuôi con và cháu Uyển Diễm được mà!” Nghe mẹ nói mà nước mắt tôi chảy ràn rụa. Mẹ tôi bao giờ cũng là bóng mát, là chỗ dựa cho các con và thúc giục các con nên làm như thế nào trong mọi tình huống.

Tôi cố gắng bán một hai tháng xem sao. Và rồi như quen việc, tôi không còn cảm thấy mệt nhọc nữa. Nhất là hàng tháng tiền bán, sau khi lấy vốn về, trả lương mấy người phụ giúp, số tiền còn lại nhiều gấp mấy chục lần lương dạy học. Không khí trong căn-tin cũng rất vui vì có cả các bạn cũ chung bán. Các chị đều còn đang dạy học nhưng có các anh đi tù về giúp đỡ.

Cũng từ nơi này chúng tôi bắt đầu nghe đến chuyện HO...

Từ khi tin Mỹ có chương trình nhận tù nhân chính trị được lan truyền, cứ đến những ngày chẵn trong tuần là các ông rủ nhau ra công viên trước Dinh Ðộc Lập để nghe tin tức. Các bà có phàn nàn thì các ông nói rằng, “Mấy bà cứ ở đó mà lo nhặt bạc cắc. Người ta đi hết rồi mới ôm mặt khóc.” Thế là các bà nhao nhao phản đối, “Chúng tôi không sợ đâu nhé. Ở đây có vài ba bước là vào Tân Sơn Nhất. Chỉ sợ các ông kẹt lại mà thôi.” Ấy thế mà khi các ông về, ai cũng hỏi, “Có tin gì mới không?” Trong căn phòng căn-tin, mái tôn thấp nóng hừng hực, chúng tôi vừa làm vừa nói chuyện “ra đi.” Dù biết là tin vịt nhưng hình như ai nấy vẫn có một chút gì hy vọng...

Rồi tất cả lại... êm ru. Các ông không thấy ra ngồi công viên nữa, và chúng tôi thì vẫn quần quật sắp xếp hàng bán, đợi giờ học trò ra chơi. Hy vọng tan như mây khói.

Một năm, hai năm sau,... bỗng có một ngày Sài Gòn lại xôn xao với tin tù nhân chính trị sắp được “bốc” đi. Các ông lại bỏ bán căn-tin, đạp xe xuống phố Thái Văn Lung, nơi có Sở Ngoại Vụ. Có hôm mang về mấy tờ giấy màu đen, lợn cợn, in ấn bôi bác, bán với giá rất đắt. Nào mẫu đơn, nào giấy kê khai lý lịch... Có tin gì mới không? Có chứ, sắp được đi đến nơi rồi! Ngoài đó đông lắm. Một người quen chen lấn rớt cả kính mới vào tới nơi để đọc thông báo. “Rơi mất cả kính thì làm sao mà đọc được nhỉ?” Thế là tiếng cười vang rộn khắp căn phòng. Tuy nhiên vẫn cứ hy vọng đợi chờ cho đời bớt sầu, bớt khổ. Chúng tôi cứ như thế sống trong hy vọng rồi thất vọng với câu chuyện ra đi, vừa bùng lên rồi lại xẹp xuống như chiếc bong bóng...

Cho đến một hôm, tin tức “ra đi” lại xôn xao. Có cả danh sách những người được ra đi đợt đầu. Những ai ra đi? Ra đi như thế nào, tàu bay hay hạm đội? Thế là sắp hàng mua đơn ở Ủy Ban Phường. Các quán photocopy người ra kẻ vào tấp nập, tha hồ thu tiền. Bưu Ðiện Thành Phố chật cứng người gửi hồ sơ sang Bangkok. Người người truyền tai nhau tin Hội Gia Ðình Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ đang lo chuẩn bị đón tiếp. Vừa bước xuống máy bay, người tù chính trị được trao một chùm chìa khóa nhà, xe hơi, một phong bì trong đựng 500 đô của Ðức Giáo Hoàng và vô số quà cáp của các hội thiện nguyện...

Ôi, những ngày khốn khổ sắp qua! Giấc mơ không bao giờ dám ao ước lại sắp thành sự thật!

Ngoài công viên lúc nào cũng đông vui, nhộn nhịp. Trong gia đình bàn tán sôi nổi, ồn ào. Có người bán đồ đạc, may quần áo. Có người bán cả nhà đi ở nhờ, chờ đợi ngày “Mỹ bốc.” Con cái nghỉ học, tìm thầy dạy Anh văn. Có bà đi sửa sắc đẹp, có cô đi học nhảy đầm. Có ông bị vợ bỏ từ ngày đi tù. Ngày trở về lủi thủi cô đơn, gặp được người bạn gái năm xưa an ủi, tính làm giấy hôn thú để cùng “ra đi” thì bà vợ cũ xuất hiện. Bà không chịu ký giấy ly dị, bắt ông chồng phải ghi tên bà vào danh sách. Mỗi ngày bà đến ăn vạ chồng và đến đánh ghen tại sở làm việc của người đàn bà “đã cướp chồng mình.” Người chồng không chịu nổi, phải giơ hai tay kêu lên, “Thôi, thôi! Bà về với ông chồng của bà đi! Tôi sẽ không nộp đơn, không đi đâu cả!”

Mỗi ngày một tin. Mỗi ngày một chuyện. Cười ra nước mắt.

Ngày lại ngày qua đi, chẳng thấy gì.

Lại thỉnh thoảng lang thang ở công viên trước dinh Ðộc Lập vắng hoe. Lại lếch thếch đạp xe tới nhà nhau hỏi “Có tin gì mới?” Lại lắc đầu và nhìn nhau thở dài, thất vọng. Nhưng tại công viên đường Thái Văn Lung, trước cửa Sở Ngoại Vụ, loáng thoáng người ta vẫn cứ đến, cứ đợi cứ chờ...

Cho đến một hôm, nhà nước loan tin chính thức về chương trình ra đi của tù nhân chính trị. Có người mách tôi ra Hà Nội xin xuất cảnh dễ dàng hơn là ở trong Nam. Tôi mang hồ sơ xin xuất cảnh và lá thư của văn phòng Tổng Thống Mỹ đến Bộ Nội Vụ, số 40A Hàng Bài. Ngồi đợi một hồi lâu mới thấy mấy người công an trẻ, dáng điệu quan trọng bước vào. Họ xem xét hồ sơ và dừng lại rất lâu trước lá thư của văn phòng Tổng Thống Mỹ. Có lẽ vì thế mà họ lịch sự, không hống hách, lạnh lùng như công an trong Nam chăng? Hỏi cung như nói chuyện và ghi giấy hẹn tôi trở lại vào hôm sau. Sáng hôm sau, chỉ trong vòng chưa đầy mười phút, họ đưa cho tôi mảnh giấy nhỏ hứa cho xuất cảnh. Hộ chiếu sẽ được gửi vào Sài Gòn sau.

Tiếng lành đồn xa... Người trong Nam kéo ra Hà Nội rất đông.

Nhưng sau này phải qua một nơi gọi là “Dịch Vụ,” và phải tốn tiền làm giấy tờ mới được tới 40A Hàng Bài. Trong Nam cũng có một văn phòng Dịch Vụ, toàn là những gương mặt công an của Sở Quản Lý Người Nước Ngoài và Xuất Nhập Cảnh. Nhưng thái độ tiếp chuyện niềm nở chứ không lạnh lùng như trước.

Hồ sơ xin giấy xuất cảnh phải tốn ít nhất cho dịch vụ là một triệu đồng (năm chỉ vàng). Hồ sơ mới nộp thì gấp mười lần, chưa kể đến nếu “chạy chọt” thì được xét trước. Nếu không, chẳng biết hồ sơ của mình nằm ở cái xó nào!

Tháng Giêng 1990, gia đình tôi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Ðáng lẽ đi chuyến bay đầu nhưng tôi đã xin được cho gia đình người em gái có chung hộ khẩu đi theo nên phải bổ túc hồ sơ.

Ngày 10 tháng 4, 1990 tôi rời Sài Gòn. Có đến hàng trăm người đưa tiễn. Họ hàng thân quyến hai bên nội ngoại, đồng nghiệp dạy học hay cùng làm ở Sở Giáo Dục trước 75, bạn cũ Trưng Vương, học trò của tôi, bạn học của Uyển Diễm, cùng các anh chị em từng sinh hoạt thanh niên sinh viên Sài Gòn như anh chị Ngô Mạnh Thu, anh chị Hà Tường Cát, anh chị Nghiêm Phú Phát...

Cuộc chia ly đẫm nước mắt vì tôi phải bỏ lại mẹ tôi già yếu bệnh tật không đi. Mẹ tôi ốm đau mất trí hàng năm trời nhưng kỳ lạ thay, những ngày sau cùng cụ lại tỉnh táo để biết là đám con cháu được ra đi... Và mẹ tôi đã đi vào miên viễn sau một tháng khi chúng tôi được đặt chân lên đất nước Hoa Kỳ trong nước mắt tiếc thương của các con cháu. Chắc chắn nơi chín suối, mẹ tôi đã mỉm cười yên lòng với tương lai của bầy con cháu nơi vùng đất tự do... (Còn tiếp)
phamanhdung  
#2 Posted : Thursday, April 8, 2010 7:52:32 AM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
Kỳ 2: LÊN ĐƯỜNG VÀ HỘI NHẬP
Bích Huyền



Những giây phút bịn rịn tiễn đưa còn vương vấn mãi trong tôi khi tôi đã ngồi yên vị trong lòng ghế máy bay. Sài Gòn xa dần và mất hút... Chưa đầy một tiếng, máy bay đáp xuống một phi trường cũ của Thái Lan. Xe bus đổ người xuống trước bãi đất trống có một gian nhà trống vách, mái lợp tôn, nóng cháy da. Nhìn chung quanh đìu hiu, vắng vẻ. Mọi người lần lượt chụp ảnh, lăn tay làm giấy tờ nhập cảnh. Sau đó nằm, ngồi chờ đợi trên những băng ghế gỗ thô sơ. Cả ngày phi trường không có một chiếc máy bay nào lên xuống, không một bóng người. Buồn hiu hắt...

Mãi đến tám giờ tối mới có hai xe bus tới đón. Ai cũng vui mừng cho dù phải nhồi nhét vào xe như cá hộp. Xe chạy ngoài xa lộ, nhìn bên trong là thành phố Bangkok với những con đường choáng ngợp ánh đèn. Ôi, mới ngày nào so với miền Nam, Thái Lan sao bằng. Vậy mà sau 15 năm, bây giờ văn minh quá. Nhà cửa tráng lệ, đường sá xe cộ lao vun vút. Lòng chứa chan hy vọng. Nhưng không lâu, nỗi thất vọng ào tới khi xe bus đậu ở trại tiếp nhận. Tất cả lục tục xuống xe và phải ngồi ngay dưới đất để nghe nội quy nhập trại. Sau đó mỗi gia đình ôm màn chiếu, đi qua cánh cửa hé mở với những tấm song sắt kiên cố. Bên trong người lố nhố, ăn mặc lô thôi, đàn ông tóc để dài buộc túm lại... giống như tù nhân. Họ là những người đến trước, bị giam lỏng nhiều ngày tại nơi đây chờ đợi hoàn tất hồ sơ. Mỗi gia đình trải chiếu vào nơi đã quy định. Chiếu nọ san sát chiếu kia. Cả một căn phòng rộng ngột ngạt hơi nóng của thời tiết, của người và người. Lại thêm áo quần, túi xách ngổn ngang, dây nhợ giăng mắc chằng chịt.

Càng thêm buồn rầu, mệt mỏi và chán nản khi nghe nhân viên Việt Nam trong phái đoàn ICM, IOM đến sinh hoạt, lạnh lùng dằn mặt những khó khăn của chặng đường sắp tới. Sẽ phải ở đây bốn, năm ngày và nhiều hơn nữa, có khi hàng tháng tùy giấy tờ thân nhân bảo lãnh.

Gia đình tôi chỉ ở đó có hai ngày là được đi Mỹ. Các anh chị em tôi muốn gia đình tôi tạm định cư tại những thành phố nhỏ như Santa Maria, Visalia êm đềm cho con gái tôi yên tâm học vì cháu đang tuổi mới lớn dễ bị sa ngã. Tôi chọn Visalia, nơi gia đình Phạm Sĩ Trung sinh sống. Cháu Uyển đến trường học Hè ngay. Có một trở ngại là tôi không thể thuê được nhà vì không có thu nhập. Khi đó gia đình Trung còn đang hưởng trợ cấp chính phủ nên không thể nào cho tôi mượn địa chỉ để khai. Nhờ một vài người quen ở đó cho mượn địa chỉ, đều bị từ chối.

Tôi chợt nhớ đến anh Nam Lộc, người đã bảo trợ tôi theo diện HO. Anh nói “Chị cứ về quận Cam, tôi sẽ lo cho chị và cháu. Ngày xưa tôi cũng có thời gian trong quân đội, được làm việc với anh. Xin chị yên tâm”. Hồng Thủy từ miền Ðông thì nói “Nếu Nga muốn, hai mẹ con sang đây ở với Thủy. Thủy sẽ lo cho Nga đến khi nào Nga có một nghề. Nếu Nga chọn quận Cam, Thủy sẽ tìm việc cho Nga”.

Tôi quyết định chọn quận Cam. Khi tôi học lái xe ở thành phố Santa Maria với Dũng, Hà, con gái tôi vẫn ở nhà Trung để học Hè. Thời gian này còn rảnh rỗi, anh Lê Ðình Ðiểu khuyên tôi nên ghi lại quãng đời vừa qua, sau này bận rộn công việc khó mà viết được. Thế là Ðường Ra Vĩnh Phú xuất hiện trên báo Người Việt, tôi được nhuận bút $20. Món tiền đầu tiên kiếm được ở hải ngoại. Rồi tiếp theo là Cầu Bao Nhiêu Nhịp, rồi Lối Cũ Chẳng Sao Quên... Anh Ðiểu khuyến khích viết tiếp vì độc giả cũng như ban biên tập chú ý đến loạt bài của Bích Huyền và thắc mắc không biết Bích Huyền là ai, ở đâu? Chỉ anh Ðỗ Ngọc Yến là biết rõ. Anh Ðiểu có tiết lộ “Ðó là cô em vợ tôi, vừa mới sang đây theo diện HO.”

Tất cả những bài tôi viết trên nhật báo Người Việt được in thành sách với tựa đề Lối Cũ Chẳng Sao Quên năm 1994, tái bản năm 2000 có thêm phần Anh ngữ của Luật Sư Quỳnh Diễm ở Úc.

Trở về quận Cam, tôi đến Sở Xã Hội xin trợ cấp. Tôi nhớ mãi bà cán sự xã hội đã vặn vẹo đủ chuyện vì chiếc xe Toyota Tercel còn rất tốt, tôi mua được của một bà Mỹ già với giá $3,000. Tôi trả lời rất thành thật là tôi không biết tiêu chuẩn chỉ được mua xe dưới $2,000. Tôi lại vừa mới từ Việt Nam sang được anh chị em, bạn hữu giúp cho tiền và cho mượn tiền. Bà lạnh lùng “Tôi không tin là có những người tốt như vậy.” Tôi ngạc nhiên buồn rầu nhìn bà “Nếu trên đời này toàn là những người ích kỷ, không giúp đỡ nhau thì làm sao mà sống được, thưa bà!” “Thôi được, bà mượn tiền ai thì ngày mai mang giấy nợ đến đây.” Anh Chu Tất Tiến cùng HO1 với tôi cũng bị làm khó dễ như thế. Cô cán sự không tin chiếc xe đó hai ngàn. Xe này phải từ 5 đến 8 ngàn. Giải thích mãi không xong, anh Chu Tất Tiến phải nói “Nếu cô không tin thì tôi bán cho cô với giá 5 ngàn đấy.” Hình như mọi người nhìn HO chúng tôi bằng con mắt khinh rẻ. Họ không có chút cảm thông nào đối với những người vừa thoát ra từ địa ngục.

Tôi hỏi thăm bạn bè trường trung học nào tốt để tìm nhà ở gần. Ðọc báo Người Việt, tôi “share” được một cái “master bedroom.” Từ nhà đi bộ đến trường khoảng 30 phút. Chủ nhà rất tốt, giúp đỡ tôi đủ mọi thứ. Nhờ gia đình hàng xóm cho con tôi quá giang xe đi học ở Valley High School. Con gái tôi đã học xong lớp 9 Võ Trường Toản, sức học của cháu có thể tiếp tục lớp 10, chỉ trở ngại Anh văn. Tôi nghĩ Anh văn thì dù có học lớp nào thì cũng thế thôi, phải trau giồi thêm cho nên xin cho cháu được học lớp 10. Nhân viên phụ trách tiếp nhận học sinh tị nạn là một bà người Việt. Bà nhìn tôi và con gái tôi với cặp mắt coi thường và lạnh lùng ghi giấy nhập học lớp 9 mặc dù tôi có năn nỉ giải thích. Học được một tháng, thấy dễ dàng quá cháu muốn được học lớp trên. Tôi nhờ chị tôi đến trình bày thẳng với ban giám hiệu. Ông hiệu trưởng đồng ý ngay và cho giáo sư Toán trưởng khối cho bài để thử sức. Cháu được chuyển lên lớp 10.

Học được một năm, vị giáo sư Toán ấy lại dạy cả ở trường đại học cộng đồng. Thấy cháu học hết chương trình Toán nên hỏi ý tôi có tiền đóng học phí trên đại học cộng đồng Golden West, ông ghi danh cho học thêm buổi tối. Tôi bắt đầu đi làm ở một Pharmacy, cộng tác với Người Việt mục tin tức Sinh hoạt Cộng đồng. Tôi không nề hà một công việc gì và chăm chỉ nhẫn nại làm việc để có tiền cho con học thêm. Do đó, cháu chỉ học đại học cộng đồng có một năm rưỡi là được UCI nhận.

Ở Ðại Học Cộng Ðồng Golden West, con tôi gặp một chuyện rắc rối lớn. Một hôm tôi đi làm về, cháu không ăn cơm và khóc nức nở vì điểm thi bị số không. Cháu nói rằng giáo sư đã khám phá ra là cháu nộp hai lần để tráo bài. Tôi vội vàng gọi phone cho một giáo sư quen biết trong cộng đồng để cầu cứu giúp đỡ vì cháu bị oan. Bà từ chối “Không oan ức gì cả, phải có vấn đề mới bị như thế. Ðiểm 0 là phải rồi!” Tôi gõ cửa thêm và cuối cùng được một em cựu sinh viên đến văn phòng trình bày. Trong khi đó có một em nữ sinh viên khác gương mặt đầy nước mắt theo mẹ đến khiếu nại bài thi làm được mà bị điểm 0. Hai bài thi được lấy ra. Vị giáo sư nhận ngay ra là có sự lầm lẫn. Ông không ngờ có hai nữ sinh viên cùng họ Nguyễn, cùng có ngày tháng năm sinh giống nhau, cùng có mái tóc dài. Hai cô sinh viên ấy sau này kết bạn và cho đến bây giờ, mỗi người đều có một gia đình riêng mà vẫn giữ liên lạc với nhau.

Ngày đó, chung quanh tôi, những gia đình HO đến rất nhiều. Gặp mọi khó khăn. Với ngòi bút trong tay, tôi đã đến tận nơi để viết bài tường thuật. Có nhiều gia đình không có phương tiện di chuyển, khi tôi mang thùng mì gói tới, các cháu bé mừng rỡ xúm nhau xì xụp ăn. Tôi mang chăn trải trên thảm để họ nằm vì gia đình chỉ có một cái chăn thôi. Cùng Ðặng Trần Hoa, nhờ có xe phát hành báo, dù buổi tối Mùa Ðông giá lạnh hai chị em vẫn mang bàn ghế, tủ lạnh xin được, chở đến nhà người HO cần.

Cho đến ngày nay, tôi vẫn nhìn thấy ở Ðặng Trần Hoa một tấm lòng nhân ái. Nếu không có Hoa, nếu nhật báo Người Việt không cho mượn xe làm sao tôi có thể chuyển những đồ đạc nặng đến cho những người mới tới?

Chiếc xe hơi nhỏ bé của tôi như một cái kho chứa đồ cũ. Ai có đồ dư dùng đều gọi cho tôi. Nơi nào cần người giúp việc, họ tin cẩn nhờ tôi giới thiệu.

Tôi nhớ một buổi sáng trên đường đi làm, tôi chở mấy bịch quần áo, chăn mền và khăn trải giường đến nhà thờ Tin Lành trên đường Bolsa. Cổng nhà thờ đóng kín vì còn sớm quá. Dãy tường ngăn với bên ngoài không cao lắm cho nên tôi định thả bịch đồ vào bên trong rồi sẽ phone sau. Ðang loay hoay thì có một em Việt Nam đi ngang qua, tôi ngỏ ý nhờ em giúp. Em vui lòng và ngập ngừng “Cô có thể cho cháu xin một cái quần Jeans được không ạ? Em cùng gia đình cũng vừa mới sang đây”. Tôi thương quá, vội vàng mở những chiếc bao ra “em cứ việc chọn không chỉ quần Jean mà bất cứ những gì gia đình em đang cần”. Chỉ có những người cùng hoàn cảnh mới hiểu nhau, và biết chia sẻ ngay những những vật dụng cần dùng. Có nhiều người đi trước nói rằng “nếu bà Huyền không viết, không quyên góp chúng tôi đâu có dám cho đồ cũ”...

Ngay chính tôi và con gái, vừa bước chân vào nhà em tôi cũng có ngay những chiếc áo lạnh và chăn len ấm áp nhà đang dùng mà chị tôi, em tôi chia sẻ.

Ngòi bút của tôi len lỏi vào cuộc sống nơi đây. Tôi biết cả căn nhà số 5101 W. 5th Street, Santa Anna, của Hiệp Hội Việt Nam, do Phạm Ngọc Lân điều hành, nơi giúp cho những người khó khăn ngủ qua đêm. Tôi ngỏ ý xin cho những gia đình HO đến tạm trú. Có nhiều gia đình đông con có thể để dành được tháng tiền trợ cấp, đủ mua được chiếc xe cũ. Tôi gọi nơi đây là “ngôi nhà tình nghĩa.”

Thư độc giả gửi về cám ơn tôi đã có những bài viết mang một khí hậu ấm áp và gần gũi đến cho cộng đồng người Việt. Cũng có lá thư làm tôi buồn phiền không ít, chẳng hạn “Chồng bà bị Cộng Sản giết trong tù. Bà có biết bà đang cộng tác với tờ báo của Việt Cộng không?” Có hôm ở giữa chợ một số người biết tôi là Bích Huyền đã vây quanh tôi, nói lên những lời lẽ đại khái như thế. May mà tôi gặp Linh Linh Ngọc, bạn học của tôi là một nhà văn có tên tuổi, khi đó đang hoạt động cho một vài sinh hoạt chính trị trong cộng đồng đã giải thích, bênh vực tôi...

Trong dịp này tôi gặp anh Chu Tất Tiến. Anh Chu Tất Tiến là một người HO năng động và có nhiều sáng kiến. Chúng tôi thành lập ra nhóm HO gồm các anh Nguyễn Tiến Ðức, Phạm Thành Tâm, Nguyễn Tiến Chỉnh, Trịnh Phúc, Phạm Thành Tâm và Nguyễn Tiến Dũng (đã qua đời), thay phiên nhau ngồi trực tại một căn phòng mà báo Người Việt cho mượn, để nhận đồ đạc cũ và tiền đóng góp cho Cây Mùa Xuân HO. Báo Người Việt cũng cho mượn một nơi chứa đồ đạc ở trong phòng phát hành báo. Bài vở tin tức HO, ban biên tập cho phổ biến trên báo mỗi ngày. Cây Mùa Xuân HO của nhóm HO tổ chức gây được tiếng vang rộng khắp vì quy tụ gần một ngàn người tham dự. Trong lịch sử hội họp của cộng đồng có thể nói đây là một cuộc hội tụ đông đảo đầu tiên.

Không có nhật báo Người Việt, chúng tôi không thể có được những sinh hoạt tốt đẹp gây nhiều tiếng vang trong cộng đồng quận Cam.

(Còn tiếp)
phamanhdung  
#3 Posted : Thursday, April 8, 2010 7:54:02 AM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
Kỳ 3: NHỮNG NGÀY THÁNG HẠNH PHÚC
Bích Huyền



Bên cạnh sinh hoạt của Nhóm HO, ngòi bút của tôi lại phải ghi tai nạn thảm khốc xảy ra cho gia đình HO, Ðại Úy Mai Viết Ðống, trong một ngày cuối năm. Con gái nấu bánh chưng ở ngoài vườn, bình ga nổ. Mai Tấn Lộc là anh từ trong nhà nghe tiếng em kêu cứu chạy ra, vội dập tắt ngọn lửa nhưng lửa lại đang cháy bùng to, lan nhanh thiêu đốt cả người anh lẫn người em. Ông Mai Viết Ðống lao vào cứu các con cũng bị chết cháy.

Mặc dù rất bận cùng anh Chu Tất Tiến tổ chức Cây Mùa Xuân HO, Xuân Nhâm Thân (8 tháng 2, 1992), doanh gia Trần Dũ và doanh gia Lý Kim Vân cho hai chiếc quan tài. Hàng trăm độc giả Người Việt đã giúp tiền lo chuyện ma chay.

Sau Cây Mùa Xuân, anh chị em tù nhân chính trị đề nghị anh Chu Tất Tiến và tôi nên duy trì Nhóm HO để thành lập một Hội HO. Nhưng tôi và anh Chu Tất Tiến đều từ chối. Tôi quan niệm nên chỉ có một Hội Tù Nhân Chính Trị. Tuy nhiên chúng tôi vẫn thường gặp nhau để tổ chức những buổi sinh hoạt khác như chương trình Tù Ca, Cây Giáng Sinh cho con em HO. Và tôi vẫn thường đến Hội Tù Nhân Chính Trị, khi đó chủ tịch là ông Nguyễn Hậu để góp một bàn tay. Ở đây tôi được quen với chị cựu Trung Tá Hạnh Nhơn. Với chức vụ phó chủ tịch Hội TNCT, chị Hạnh Nhơn đã làm được nhiều chương trình giúp đỡ thiết thực cho gia đình HO. Sau này chị Hạnh Nhơn chỉ chuyên về chương trình giúp đỡ cho Thương Phế Binh VNCH và Cô Nhi Quả Phụ còn ở lại quê nhà. Chương trình phát thanh của tôi luôn luôn phổ biến tin tức và kêu gọi sự tiếp sức của cộng đồng và được thính giả hưởng ứng nồng nhiệt.

Ðời sống HO vẫn mỗi ngày diễn ra trong nhiều khó khăn. Chuyện hòa nhập đòi hỏi nhiều nghị lực. Tôi được nhiều doanh gia tin cẩn cho nên khi cần có người làm việc, họ lại nhờ tôi tìm người HO để giới thiệu.

Rồi sau đó lại có một HO đạp xe đi lạc vào đường exit xa lộ bị xe cán chết, một HO khác cô đơn quá tự tử chết... Tôi kêu gọi lạc quyên mà lòng buồn rười rượi.

Tôi bắt đầu xuống tinh thần. Bỗng dưng cảm thấy mệt mỏi, chán nản quá! Nhất là đời sống riêng tư của tôi cũng gặp nhiều chuyện không vui. Thư rơi mạt sát tôi gửi khắp nơi như bươm bướm. Tôi cứ thắc mắc không hiểu vì sao, mình đã làm điều gì sai quấy? Anh Lê Ðình Ðiểu nói, “Ở đây người không làm nhiều mà bị mạt sát mới là chuyện lạ, còn làm nhiều mà vẫn bị nói xấu chỉ là chuyện thường.” Các hội đoàn trong cộng đồng cũng nhận được thư rơi, ai cũng an ủi và nhận định rằng chỉ là sự ghen tức.

Những tin đồn loan truyền trong cộng đồng, rằng tôi là HO giả, nào tôi được trọng dụng trong chế độ mới, chồng chết trong tù vì Việt Cộng muốn làm khổ nhục kế để cho sang đây dễ dàng hoạt động cho cộng sản. Thư rơi mạt sát tôi, “Chồng vừa chết đã lấy chồng khác, sang đây bầy đặt viết văn làm ra vẻ ‘thương phụ khóc chồng’... Tôi buồn lắm nhưng cố bình tĩnh khi thấy con gái tôi khóc, “Mẹ làm báo, mẹ có cây bút trong tay, sao mẹ lại để người ta nói xấu mẹ như thế mà mẹ vẫn im lặng không trả lời?” “Mẹ có trả lời đấy chứ!” tôi nói với con. “Bên cạnh công việc mưu sinh, mẹ vẫn làm những công việc giúp đỡ người thiếu thốn, bất hạnh. Còn con, hãy trả lời giùm mẹ bằng cách ngoan ngoãn, chăm học... Ðừng lo, Trời có mắt con ạ!” Nói thì nói vậy nhưng lòng tôi đau đớn lắm. Tôi khóc thầm trong đêm. Không muốn cho con nhìn thấy để cháu xuống tinh thần, không học được. Có những lúc tôi muốn buông xuôi tất cả. Nhưng rồi tôi bỗng nhớ khi tôi làm đơn xin xuất cảnh, ông anh ruột tôi ở Houston viết thư về chỉ khuyên có một điều, “Muốn tồn tại là phải lao động” cho nên tôi sẽ gắng vượt qua nỗi buồn, tiếp tục làm những công việc mà tôi đang theo đuổi để vươn lên.

Khi đài phát thanh phát triển mạnh trong cộng đồng, tôi được một đài mời tôi cộng tác chương trình phụ nữ. Một tuần một lần và mỗi lần được $50 gọi là đổ xăng. Làm được hai tháng họ cho nghỉ việc và không trả cho tôi một đồng nào. Nhắc nhở thì họ nói người cộng tác phải trả tiền airtime! Với tôi, một người mới sang, lại chỉ có một mình, con mới 15 tuổi, chưa được đi làm thêm. Nếu có được $200 một tháng, lúc đó rất quý. Lên tiếng trên đài, ông tổng giám đốc kêu gọi, “Chúng ta đi trước, cần giúp đỡ người sang sau.” Vậy mà...!? Làm tiếp đài khác, khá hơn một chút, tháng trả, tháng không. Chỉ có một đài ở bên Úc Châu và Radio Bolsa, nhật báo Người Việt và tuần báo Sài Gòn Nhỏ trả rất đều đặn.

Không lâu sau đó tôi được giới thiệu cộng tác phần tin tức sinh hoạt cộng đồng với Ðài VOA, không có cảnh... đợi chờ tiền lương hàng tháng. Biết hoàn cảnh khó khăn của tôi, các anh chị Ban Việt Ngữ muốn giúp, cho nên có ai nghỉ chương trình nào là đều giao cho tôi phụ trách. Ít có một cộng tác viên nào mà có được ba chương trình một tuần như trường hợp của tôi. Khi con gái tôi đủ 18, cháu xin đi làm ở một tiệm fastfood. Nhìn cháu mảnh khảnh trong bộ quần áo đồng phục của nhà hàng, mỗi tuần cầm check về nhà đưa cho mẹ, tôi muốn khóc. Sau này tôi cố gắng tìm nơi làm thêm để con gái tôi tập trung vào việc học. Cháu thương mẹ nên đã gắng học thành người.

Bao nhiêu tiền học bổng, tiền thưởng đều mang về cho mẹ. Tôi để dành mua cho cháu một chiếc xe tốt để yên tâm đi học. Cháu tốt nghiệp đại học UCI theo đúng tuổi các trẻ em sinh ra và lớn lên ở bên này.

Khi cuộc sống ổn định, tôi cố gắng giúp đỡ các sinh viên học sinh nghèo bên Việt Nam. Gửi quà cho một số thương phế binh và bảo trợ cho con em thuộc gia đình quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có diện xuất cảnh. Chỉ một chút chia sẻ đến những người kém may mắn hơn mình, tôi cảm thấy hạnh phúc.

Sau hai mươi năm với bao buồn vui cay đắng ngọt bùi, giờ đây tôi có một đời sống ổn định, con cháu quây quần thương yêu hạnh phúc trong cùng một mái nhà. Với tôi, như thế là mãn nguyện.

Tôi đã hưu trí, chỉ còn giữ lại một số chương trình văn học nghệ thuật cho các đài tôi đã công tác, vì đam mê và nhất là vì không muốn mãi mãi phải “lưu luyến chia tay” cùng quý thính giả...

Và tôi không bao giờ quên ơn những người gián tiếp cũng như trực tiếp đã mang đến cho tôi cuộc sống. Cảm ơn nước Mỹ đã cưu mang, cảm ơn cộng đồng người Việt quận Cam bao bọc, cảm ơn anh chị em trong đại gia đình tôi, cảm ơn bạn cũ Trưng Vương, nhất là Hồng Thủy đã săn sóc tôi từng chút. Cảm ơn đồng nghiệp trong ngành giáo dục trước 75, cám ơn đồng nghiệp ngành truyền thông báo chí ở hải ngoại. Trong dịp kỷ niệm 25 năm nhật báo Người Việt, trên làn sóng VOA tôi có phỏng vấn anh Ðỗ Ngọc Yến về sự lớn mạnh của Người Việt. Anh có đề cập tới hàng trăm các cộng tác viên ở khắp nơi. Nhân đó tôi cũng cảm ơn Người Việt vì chính cá nhân tôi cũng từng là cộng tác viên, từ nơi ấy bước ra. Cảm ơn Việt Dũng-Minh Phượng, các em đã thương yêu tôi, chia sẻ với tôi và Uyển Diễm như những người thân yêu trong cùng một gia đình (gia đình Radio Bolsa). Cảm ơn Quỳnh Lưu, Mai Phương đã sát cánh bên tôi thực hiện những chương trình Tâm Tình Với Nhau để phục vụ thính giả. Tôi đã học được ở Quỳnh Lưu, Mai Phương, Minh Phượng, Hiền Vy tinh thần làm việc năng động và đầy tình người. Cảm ơn các anh Ðỗ Ngọc Yến, Lê Ðình Ðiểu, Nguyễn Chí Thiện (phu quân của Minh Phượng) đã dạy tôi những bài học về cách tổ chức, quản lý khoa học và nhất là cách cư xử hòa nhã và đức tính khiêm tốn của các anh. Cảm ơn các bạn trẻ trong Ðoàn Thanh Niên Phan Bội Châu với tinh thần yêu nước trong sáng, bền bỉ, không hề xao lãng dù thời gian qua đi... Cảm ơn các cựu sinh viên trường Ðại học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, dù nhà tôi không còn nữa nhưng những ngày họp mặt không bao giờ quên tôi. Cảm ơn lòng thương yêu của độc giả, thính giả tại hải ngoại cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Cảm ơn những người âm thầm vẫn hằng theo dõi giúp đỡ tôi, cho tôi chỗ dựa tinh thần. Cảm ơn hai con Nguyễn Song Anh Tú và Nguyễn Quang Diễm Uyển cùng hai cháu ngoại Bi-Ben đã mang đến cho tôi niềm hạnh phúc. Và nhất là cảm ơn người chồng quá cố của tôi, hình như lúc nào anh cũng phù hộ cho vợ con. Nhờ có anh mà tôi và con gái có cuộc sống tốt đẹp trên quê hương thứ hai này..
Hoàng Thy Mai Thảo  
#4 Posted : Thursday, April 8, 2010 10:05:40 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

UserPostedImage anh PAD đã mở topic nầy,
HP_HTMT cũng được quyền đem bài vở và hình ảnh of chị BH về đây chứ ạ?
thân mến thăm và chúc anh PAD luôn an vui,
HP_HTMT


phamanhdung  
#5 Posted : Friday, April 9, 2010 8:47:41 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
HTMT cứ tự nhiên giúp dùm một tay
Thân mến
PAD
phamanhdung  
#6 Posted : Friday, April 9, 2010 9:54:35 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
MÙA XUÂN VỀ ANH SẼ HÁT BÂNG KHUÂNG
Bích Huyền




Thấm thoát tôi đã trải qua hơn mười mùa Xuân nơi xứ người. Hơn mười cái Tết Nguyên Đán.
Tết, thời gian trọng đại nhất trong năm.

Và hôm nay, bước vào năm thứ mười một. Mái tóc thêm nhiều sợi bạc, nếp nhăn thêm nhiều ở đuôi mắt, và cuộc đời thêm nhiều nỗi buồn vui. Đôi khi chợt giật mình: "Mình đã từng ấy tuổi ấy sao?"

Thời gian cuối năm thường thì người ta hay nhìn lại quá khứ để đặt lại một hướng đi cho tương lai. Cũng có những người thích dành những giây phút cuối của một năm để tìm về kỷ niệm. Tôi cũng muốn được là một trong những người ấy để có giây phút sống lại dĩ vãng. Vàng son hay cùng cực thì cũng vẫn là hành trang cho mình trên bước đường đời. Nhưng bao năm qua, hoàn cảnh và thời gian ngày Tết trên quê người không cho phép. Có muốn cũng đành chịu thôi.

Nhưng sao hôm nay, kỷ niệm xưa, kỷ niệm của một thời con gái lại rộn ràng trở về ?

Tôi đang biên soạn chương trình “Giờ Thơ Nhạc” mà tôi phụ trách trên Đài VOA và 974FM trên Đài Úc Châu, một chương trình nói về tình yêu cho Radio Bolsa. Tôi cần những bài thơ minh họa. Cuốn thơ cũ của thời đi học là một kỷ niệm tôi mang theo sang đây, vốn đã quí lại càng thêm quí. Tôi đã bỏ cả một buổi tối để đọc, để tìm những vần thơ phù hợp với chủ đề tôi biên soạn. Có một bài thơ của một người bạn học ngày xưa đã làm vương vấn tâm hồn tôi. Mặc dù tôi phải thú nhận rằng thời gian đã quá lâu, kỷ niệm khá mờ nhạt khiến ngày nay tôi quên cả tên thật của anh, và dáng anh trong trí tưởng tôi chỉ rất mơ hồ...

Cho đến lúc này tôi mới cảm thấy thấm thía với những vần thơ anh tặng cho tôi vào dịp làm báo Tất Niên của Trường Sư Phạm. Gần bốn mươi năm, một bài thơ
“Bây giờ hay mai sau ..…..”

“Nếu em thích tình yêu ngọt ngào như trái cây mùa hạ
Thì mai anh về tìm kiếm tuổi hoa niên
Với anh - tháng ngày chỉ là vị đắng
Uống khổ đau môi mềm đã thành quen
Nên không thể vuốt ve hạnh phúc đẹp tròn
Nên không thể làm thơ thành nhã ca ...
Mùa đông cô đơn mang nhiều rét mướt
Nếu tình anh không là áo em sưởi ấm
Thì anh về, hoa gạo nhặt từng bông
Không ấm tay em mà lạnh trong lòng
Và nếu tình anh không là vườn địa đàng
Cho em vào yên lành trú ẩn
Thì anh sẽ trở về quê hương
Như thuở còn thơ ấu ...
Mùa thu anh sẽ đi tìm loài dã thảo
Nhắc tên em trên những cánh hoa rừng
Mùa xuân về anh sẽ hát bâng khuâng
Anh đào rụng lung linh như ngấn lệ
Anh sẽ bảo rằng người yêu nhỏ bé
Vẫn đi về trên lối nhỏ hồn anh
Mắt bồ câu vẫn dấu mộng yên lành
Qua năm tháng...
Môi vẫn đỏ, má vẫn hồng và tóc vẫn xanh
Thiên đường đó gót mềm chưa lạc bước
Tình yêu đến - khổ đau chưa từ khước
Khung trời nào hoa bướm chẳng thương nhau
Chừng nào em về ...
Bây giờ hay mai sau?
Giấc hoàng hôn trên vai anh yên ngủ
Tháng năm và cuộc đời có gì trắc trở
Cho bước chân chim
Ngập ngừng vào khu vườn đó
Hạnh phúc nào lựa chọn đâu em ?
Rồi mùa đông… ... hoa rụng trắng bên thềm
Em sẽ khóc rất nhiều như một loài rêu câm nín
Nếu hôm nay em chẳng biết chăm nom
Bằng đôi tay búp măng
Vun quén cho loài hoa mới mọc
Bây giờ hay mai sau..?”

Dưới bài thơ ký tên là Thương Huyền. Cũng vì bút hiệu này của anh làm tôi ngần ngại, không muốn nói chuyện nhiều với anh như những người bạn trai đồng khóa khác ...

Ngày xưa ở Saigòn , thời gian này là mùa xuân, cái thời gian rộn ràng nhất vì ai cũng chuẩn bị đón Tết. Nắng như tươi hơn. Cây cỏ hoa lá như đẹp hơn. Không khí Tết bên ngoài là hoa xuân, là mứt, bánh kẹo, là hạt dưa, là những quầy bán thiệp Xuân la liệt...Không khí Tết trong mỗi ngôi trường là rộn ràng tiếng hát, tiếng đàn tập dượt văn nghệ, làm bích báo, đặc san Xuân ...Tôi và anh học cùng trường nhưng khác lớp, khác cả từng dãy hành lang và một khoảng sân rộng vì ngày ấy nam nữ không học chung. Anh làm quen tôi trong những ngày làm báo cho trường. Các bạn khác được quen, được nói chuyện với Trưởng ban báo chí toàn trường là anh thì có vẻ hân hạnh lắm. Riêng tôi mọi chuyện xảy ra tại ngôi trường mới này quá bình thường, nếu không nói là niềm vui gượng ép.

Lúc bấy giờ tôi vẫn còn nhớ tiếc quãng thời gian trung học, "đuổi bướm ép hoa vườn bách thảo".

Tôi vẫn còn nhớ nhiều những gương mặt học trò, bạn thân trong học vấn cũng như hoạt động văn nghệ trong trường như Hồng Thủy, Mộng Thúy, Ấu Oanh, Ngọc Trâm, Hương Kiều Loan, Hồng Hảo, Ánh Tuyết.... Nhớ những bước chân chạy rầm rập trên cầu thang gỗ, tiếng cười trong trẻo tan vỡ như pha lê, tiếng xuýt xoa vì ớt cay đỏ hồng trong muối, tiếng chí choé giành nhau cắn một miếng xoài tượng hơi ửng vàng.....nhớ cả những ánh mắt lườm yêu của cô Nguyệt Minh, Tổng Giám Thị, tiếng hầm hè, dọa nạt của những bà Giám Thị tuổi bằng mẹ của mình ...

Những âm thanh ấy còn vang vọng, mời gọi trở về. Thời gian ấy, thuở còn cắp sách vui thật là vui. Tuổi đẹp nhất của một đời người. Làm bích báo, tập văn nghệ để được thoát ra khỏi bốn bức tường lớp học, không phải hồi hộp khi thấy ngòi bút của vị giáo sư lướt trên sổ điểm gọi đọc bài. Không phải đứng như trời trồng trước một phương trình toán khó trên bảng đen, không phải len lén bàn tay dưới gầm bàn chia nhau món quà ăn vụng, không phải nhỏ to trên mảnh giấy con con...

Học làm thầy thì phải người lớn, phải mô phạm. Tôi đang phải tập làm quen một cách miễn cưỡng. Tôi bước vào ngôi trường Sư Phạm theo ý muốn của cha tôi. Ông là một nhà giáo rất yêu nghề. Có lẽ muốn có một người con nối nghiệp mình, nên chính ông đã nộp đơn cho tôi. Đến ngày thi, chính ông đã đưa tôi đến tận phòng thi rồi ra ngoài quán để ngồi đợi đón tôi về. Tôi đã không phụ lòng cha tôi. Càng ở trong nghề, tôi càng yêu nghề và tận tụy với nghề. Học hỏi thêm, thăng tiến kiến thức. Tôi được học sinh yêu quí, phụ huynh tin tưởng suốt gần ba mươi năm cho đến ngày bước chân ra khỏi quê hương ...
Trở lại người bạn có bút hiệu Thương Huyền, người đã tặng tôi những câu thơ mượt mà nhưng không kém phần già dặn, ý tình sâu xa mà ngày ấy tôi chưa hiểu hết, như một lời tâm tình, như một lời dặn dò, một lời khuyên. Rồi mùa đông hoa rụng trắng bên thềm, em sẽ khóc thật nhiều như một loài rêu câm nín. Nếu hôm nay em chẳng biết chăm nom bằng đôi tay búp măng vun quén cho loài hoa mới mọc, “Bây giờ hay mai sau...". Lẽ ra ngày ấy tôi phải coi anh như một người anh mới đúng.

Anh điềm đạm và rất ít nói. Ngay cả khi cả bọn làm bích báo. Nói chuyện vừa đủ không đùa giỡn. Thỉnh thoảng cũng buông một câu dí dỏm hòa theo không khí vui tươi của những người đang học làm thầy. Hình như anh hơn tôi khoảng vài ba tuổi. Nhưng anh có vẻ già dặn hơn nhiều. Anh cũng không tỏ vẻ khó chịu khi thấy một vài ông giáo sư trẻ độc thân lâu lâu lại tìm cách xuống phòng sinh hoạt để tìm cớ nói chuyện với tôi. Anh chỉ có một đề nghị bài thơ "Bây giờ hay mai sau..." của anh do chính tay tôi viết trong một góc khiêm nhường trên bích báo. Ngày ấy tập vở của tôi sạch sẽ lắm, viết bằng màu mực nâu, bút Pilot. Chữ của tôi mọi người bảo không đẹp nhưng rõ ràng, nắn nót. Các giáo sư phụ trách thường mượn lại để dạy những lớp sau. Nhưng khi viết trên bảng, vì phải chạy theo thời gian của một tiết học, nên tôi viết chữ "xấu như ma", thầy Tăng Xuân An dạy môn thực hành đã chê như thế! Nhất là ngày học tiểu học, thường thì làm luận văn, bên cạnh có cả khung điểm chữ viết nữa. Có lẽ chữ tôi được xếp vào loại xấu nhất. Được điểm trên trung bình một chút, chỉ vì cô giáo thương, nâng đỡ mà thôi. Chính cô giáo Hồng đã khuyến khích tôi nên tập viết bằng cách chép lại những bài đã học trong ngày vào một quyển vở khác. Mỗi tuần đưa cho cô xem để cô theo dõi và góp ý. Bằng cách đó mà chữ viết của tôi có tiến bộ. Sau này vì tôi chép thơ nhiều nên chữ càng đẹp hơn, nhưng nếu có ai khen, bao giờ tôi cũng nghĩ đến cô giáo cũ dạy tiểu học Trần Thị Hồng.

Tôi, đã nhận lời anh viết bài thơ trên bích báo. Biết sẽ có nhiều người xem nên nét chữ hơi run. Trong lúc làm báo, tôi hỏi anh hoa gạo màu gì ? Chắc là hoa giống như hạt gạo? Anh lắc đầu. Tôi cứ thắc mắc tại sao người ta lại đặt tên là hoa gạo. Anh mỉm cười bảo rằng anh cũng không biết gì về "lịch sử" tên loài hoa này. Nếu biết ngày nay có người hỏi, lại là một người bạn gái học cùng trường thì ngày ấy anh đã hỏi mẹ anh rồi. Anh chỉ nhớ tới một cách mơ hồ về làng quê miền Bắc của anh…Cây hoa gạo thường mọc ở ngoài cánh đồng. Mùa xuân hoa nở tung những bông hoa màu đỏ thắm. Thôn quê rực rỡ thêm trong những ngày lễ hội mùa xuân. Những cây gạo nở hoa màu đỏ, đẹp như những mâm xôi gấc.

Tôi bảo Tết này anh về thăm nhà ở thành phố nhỏ ven sông, hỏi mẹ về lịch sử tên loài hoa gạo dễ thương này, có muộn gì đâu? Khói sương như đọng trên đôi mắt cương nghị của anh…Vô tình tôi đã khơi dậy nỗi đau buồn trong anh. Khi di cư vào Nam, bố mẹ anh đã ở lại vì ông bà nội không muốn rời xa quê hương đất Tổ. Rồi sau đó, tất cả đã dần dần chết vì uất ức, vì bị đấu tố. Anh một thân một mình vào Nam vừa đi làm vừa đi học.
Thấy tôi buồn, anh chuyển qua kỷ niệm thời thơ ấu. Anh vẫn thường ra chơi ở cánh đồng cùng lũ bạn chạy nhảy, thả diều, la hét và cùng tranh nhau nhặt những bông hoa gạo để ném vào nhau. Tôi cười vui: lũ bạn của anh toàn là con trai hay còn có con gái nữa? Anh nói ở quê anh, bọn con gái chỉ chơi nhảy dây, chơi ô ăn quan, nhảy lò cò hay giả bộ bán hàng. Anh không thích chơi với mấy đứa con gái, vì mấy cô ấy bé mà chơi cứ thích đóng vai chị, vai mẹ mà thôi. Chúng tôi cười vui vẻ, tiếp tục hoàn thành tờ bích báo.

Rồi những ngày xuân rộn rã trôi đi. Chúng tôi lao vào học tập để chuẩn bị thi tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên mỗi khi nghỉ để chuyển tiết, tôi vẫn biết từ hành lang bên kia đang có một ánh mắt nhìn…

Tuổi trẻ thường thích bay bổng. Trong đơn chọn nhiệm sở, tôi đã ghi thành phố Đàlạt, Nha Trang trên thành phố Sàigon. Hơn nữa cũng chẳng có hy vọng đậu cao để được dạy ở Saigòn. Thầy Tổng Giám Thị xem xét lại hồ sơ lại là bạn thân thiết nhất của cha tôi “phát hiện” ra điều đó. Ông vội vàng điện thoại về trường nói chuyện với cha tôi. Thế là tôi phải làm đơn lại với hai chữ Sài Gòn vào bên cạnh con số 1. Tuy nhiên hai thành phố nghỉ mát của Miền Nam Việt Nam mà tôi yêu ...vẫn hiện diện trong tờ đơn chọn nhiệm sở của tôi, không Chợ Lớn mà cũng chẳng Biên Hoà .

Vì kinh nghiệm giảng dạy của cha tôi truyền cho, vì tôi có điều kiện thực hành nhiều tại những lớp học trường cha tôi phụ trách nên điểm thực hành của tôi rất cao. Thế nhưng tôi chỉ đứng thứ hạng 21 trong kỳ thi tốt nghiệp. Tôi bị lọt ra khỏi danh sách 20 người được dạy ở Sài Gòn. Anh Nguyễn Ngọc Tú (hiện nay là chủ nhân hiệu Bolsa Fabric trên đường Bolsa thuộc Sài Gòn nhỏ) là Thủ Khoa đã nhường chỗ cho tôi.

Anh nói anh là con trai có đi xa một chút cũng không sao. Thế là tôi được dạy ngay một trường gần nhà với "ca" sớm nhất trong ngày. Sau đó có cả một buổi sáng và buổi chiều, tôi đi học tiếp, vừa học vừa chơi. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, đang bước vào những năm cuối của thời kỳ thái bình an lạc. Đồng tiền có giá. Hàng hóa rẻ. Một thời hoàng kim của chế độ Cộng Hòa.

Tác giả bài thơ được trở về một ngôi trường thuộc thành phố nhỏ ven sông, nơi mà cô chú anh, những người đã nuôi nấng anh, đã chọn làm quê hương thứ hai khi di cư vào Nam năm 1954. Một thành phố hiền hoà, bình dị, tươi mát. Trong khi mọi người tíu tít tụ họp nhau nơi sân trường để trao nhau lưu bút, hình ảnh, địa chỉ...thì anh vẫn điềm đạm nói lời từ biệt với tôi bằng bài thơ ghi trong tập thơ mà tôi đã chuyển đến mọi người chép và ghi cho tôi một vài kỷ niệm.

Tôi quên anh ngay sau buổi họp mặt cuối cùng ấy cho đến hơn mười năm sau, thời gian đó chiến tranh Việt Nam leo thang. Tôi đã có rất nhiều em học sinh cũ lên đường cầm súng "xếp bút nghiên theo việc đao cung " chiến đấu bảo vệ Miền Nam thân yêu. Trong đó có Nguyễn Đức Hạnh, một học sinh nghèo học rất giỏi, lại rất ngoan của tôi. Cho đến hôm nay hơn một phần tư thế kỷ, tôi vẫn không thể nào quên được gương mặt thông minh của cậu học trò ấy, cùng vẻ điềm đạm của em. Cuối năm học, ngoài phần thưởng của Sở Giáo Dục, tôi đã mua riêng cho Hạnh một cuốn tự điển Anh Việt với dòng chữ đề tặng của tôi. Cuốn tự điển ấy, Hạnh luôn luôn mang theo dùng, ngay cả khi vào lính. Tình cờ người chỉ huy đơn vị của Hạnh lại là người bạn có bài thơ ký tên Thương Huyền. Anh nhận ra nét chữ quen thuộc của tôi. Hạnh đã kể chuyện nhiều về cô giáo cũ và người đơn vị trưởng thì lại rất muốn nghe nên vẫn cho là ít ...

Lần về phép đầu tiên, Hạnh "bay" vội đến thăm tôi tại trường DTH. Bộ quân phục tác chiến còn vương mùi thuốc súng. Hạnh chuyển lời thăm của người đơn vị trưởng tới tôi. Tôi được biết người bạn học sư phạm cũ đã có gia đình. Vợ của anh cũng là cô giáo và hai người có hai con nhỏ. Vợ con anh vẫn ở thành phố ven sông.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Đức Hạnh. Người học trò cũ, người chiến sĩ trẻ. Cả đơn vị của anh đã hy sinh gần hết trong một trận giao tranh ác liệt với Việt Cộng vào mùa hè đỏ lửa. Sau này có dịp ghé qua thành phố ven sông ấy, tôi có tìm thăm vợ con người bạn cũ thì được biết anh cũng đã hy sinh. Tôi thẫn thờ nhìn từng kỷ vật của anh. Một mảnh gỗ khắc hai câu thơ được đặt trên mặt tủ:
"Mùa thu anh sẽ tìm loài dã thảo
Nhắc tên em trên những cánh hoa rừng"

Chị ngậm ngùi nói rằng đó là kỷ vật cuối cùng khi anh về phép. Lần cuối và không bao giờ trở lại. Vĩnh viễn đi xa... Lặng lẽ, tôi nhìn chị, những ánh mắt thương cảm gặp nhau, không hiểu chị có biết bài thơ ngày đó anh đã tặng cho tôi? Mảnh gỗ này có lẽ tự tay anh đã đẽo gọt rồi khắc lại những vần thơ xưa, sau khi nghe Hạnh kể chuyện về cô giáo cũ.

Tôi xoa đầu hai cháu bé, một trai, một gái Chúng nép vào tôi như muốn được che chở. Tôi ôm chặt hai bé thơ tội nghiệp như ôm cả nỗi đau thương vào lòng.

Nước mắt tôi ràn rụa, những giọt nước mắt khóc cho anh, người bạn học cũ, khóc cho chị, người vợ trẻ thời chinh chiến, khóc cho hai bé mồ côi mất cha, khóc cho Nguyễn Đức Hạnh, học trò ngoan và giỏi của tôi, khóc cho cả quê hương đất nước Việt Nam triền miên khói lửa, khóc cho một dân tộc đang bị thảm cảnh chiến tranh đầy đọa, trong đó có những người tôi quí mến.

Hôm nay một phần tư thế kỷ rồi, tôi vẫn còn nhớ hình ảnh người thiếu phụ trẻ ấy với hai đứa con nhỏ dại, ánh mắt ngây thơ vô tội ngơ ngác nhìn tôi, trong ngôi nhà nhỏ đơn chiếc ở ven sông ...

Đã nhiều năm nay, tôi thường cùng bạn hữu kêu gọi trên các làn sóng đài phát thanh (hay các báo chí mà tôi cộng tác) hãy giúp đỡ các thương phế binh, cô nhi quả phụ chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Công việc này được thính giả, độc giả hưởng ứng rất nhiệt tình. Có đến hàng trăm hồ sơ từ khắp các tỉnh miền Nam gởi cho chúng tôi.
Tôi vẫn thường hy vọng nhận được thư chị, được ghi tên chị vào danh sách cô nhi quả phụ, được ghi tên hai cháu vào danh sách cô nhi để được các hội đoàn ở đây quan tâm giúp đỡ.

Riêng tôi, hàng bao năm nay, tôi muốn gởi cho chị và hai cháu một chút quà. Thế nhưng tôi không có địa chỉ và chắc gì chị cùng hai cháu còn ở nơi cũ hay không ? Gần ba mươi năm rồi, cuộc đời biết bao nhiêu là dâu bể ...

Mùa xuân ở nơi đây hình như chưa vội đến, mà Tết lại đã trở về. Người dân Việt tị nạn đón Xuân, đón Tết trong hoàn cảnh xứ người. Có nơi trong tuyết rơi giá lạnh. Nơi tôi ở, trời Cali đã bước vào mùa mưa. Có những ngày mưa tầm tã, chạnh nhớ hàng ngàn, hàng vạn đồng bào các tỉnh miền Nam nạn nhân bão lụt, nhà cửa bị tàn phá. Giờ đây người còn sống chưa hết nỗi hãi hùng, chưa vơi được niềm đau người thân yêu vĩnh viễn ra đi. Giờ đây còn biết bao nhiêu người dân nghèo còn sống trong cảnh màn trời chiếu ...nước. Mọi giúp đỡ trong khả năng, ở hải ngoại ai cũng rất nhiệt tình chia sẻ, chỉ mong sự cứu trợ được đưa tận tay đến các nạn nhân.

Nơi tôi ở, vẫn còn đang ở vào những ngày lạnh cuối đông, những ngày cuối cùng của một năm âm lịch, hờ hững đón Tết nơi xứ người. Trong lòng tôi vẫn mang một niềm mơ ước được trở về quê hương. Nhưng không phải để vui Tết với xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa mà chỉ muốn có một số tiền để được giúp người nghèo khổ, người hoạn nạn, để được thắp lên những nén hương thơm trên mỗi mộ phần người thân yêu cũng như mộ phần những người nằm xuống vì cuộc chiến. Và tôi cũng muốn thăm lại người thiếu phụ với hai đứa bé mồ côi cha ấy. Tôi nghĩ họ là một trong số nhiều gia đình bất hạnh thiệt thòi nhất sau cuộc chiến tranh triền miên và thảm khốc trên đất nước ta.

Tôi thầm hy vọng ngày trở về của tôi, không xa, chị và hai con vẫn còn sống nơi thành phố nhỏ ven sông ấy ….
Hoàng Thy Mai Thảo  
#7 Posted : Saturday, April 10, 2010 4:08:19 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage
HP tặng chị BH - bông trước cửa nhà em hồi sáng nay đó ạ


UserPostedImage BH và Khánh Ly - trước cửa Quán Vân Văn Khoa



UserPostedImage
cụm Tulip vườn trước nhà HP

phamanhdung  
#8 Posted : Monday, April 19, 2010 11:48:55 AM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
ĐƯỜNG RA VĨNH PHÚ
Bích Huyền


Ngồi trong toa của con tàu Thống Nhất, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Tay khư khư ôm chặt chiếc túi xách trong lòng, tôi nhìn theo Diễm đang cố len lỏi tìm lối ra giữa những người đang đứng lố nhố tranh giành nhau xếp đồ đạc. Gần ra tới cửa, Diễm còn ngoảnh lại nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe. Tôi cũng khóc. Nước mắt tôi làm nhòa đi hình ảnh Diễm trong giây phút ngắn hai chị em chia tay nhau. Diễm như bị xô xuống khỏi con tàu...

Xa xa, sân ga Bình Triệu dưới những ngọn đèn vàng vọt không đủ sáng, cảnh tượng vô cùng hỗn độn. Người đi, kẻ lại, người mang, kẻ vác... xô đẩy, chen lấn nhau. Tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới trên một khoảnh đất gồ ghề, tăm tối. Tôi cũng vừa từ đám đông đó lên đây. Bọn cán bộ nhà nước được lên tàu trước từ ga Phạm Ngũ Lão, trên những toa riêng hoặc những toa có giường nằm...

”Thật may, nếu không có Diễm đi tin thì làm sao mình còn đủ hành lý!” Lần đầu tiên tôi thấy Diễm khỏe quá! Hai tay hai túi xách nặng, cồng kềnh, chen đám đông phăng phăng mở lối cho tôi lên tàu. Bọn cướp giật trà trộn giựt xách tay, rạch ví, móc túi. Tiếng la thất thanh. tiếng chửi thề. Tiếng khóc, tiếng gọi nhau... tất cả tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Thần kinh tôi như muốn đứt ra. Hai chị em chỉ kịp bám lấy song sắt của toa tàu là đã như có người đẩy lên rồi. “Kìa! Nó giựt đồng hồ của tôi!” “Trời ơi! Ví của tôi đâu mất rồi!” Mặc kệ. mạnh ai nấy chen. Chân tôi bị dẫm lên đau điếng. Áo quần tôi tả tơi, xốc xếch, đầu tóc rối bời.

Giờ đây, tôi ngồi trên tàu, dưới kia cảnh tượng vẫn đang tiếp diễn...

Tiếng còi hú vang báo hiệu sắp đến giờ khởi hành. Tiếng còi dài văng vẳng trong đêm tối. Ngày xưa còn bé, tôi đã từng được học những bài văn tả cảnh sân ga. Niềm vui sum họp, nỗi buồn chia ly. Tiếng còi tàu lanh lảnh âm vang trong lòng tùy theo tâm trạng của mỗi người. Lòng tôi hôm nay, tiếng còn nghe ghê rợn quá! Như tiếng rú, tiếng thét đe dọa những con người thất thế - như tôi - một thân một mình đi thăm nuôi chồng “học tập cải tạo” tại một nơi rừng sâu, nước độc tận cùng miền Bắc.

Không có một bóng người đứng trên thềm ga đưa tiễn. Không có một ngọn đèn vàng lẻ bóng hắt hiu, như tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Thúy u buồn ngày nào trong một ca khúc tễin đưa nào đó... Xa rồi, chỉ có hàng ngàn con người lam lũ, hối hả, vội vàng trên sân ga giành giựt tranh nhau từng miếng cơm sạn mốc, từng manh áo rách.

”Giấy tờ đâu? Mở túi này ra!” Giọng hách dịch của tên kiểm soát. Rồi những khuôn mặt lạnh lùng của toán công an kinh tế phía sau. Một tên nghênh ngang cầm đèn pin, bất kể rọi vào cả mắt hành khách. Một tên cầm chiếc gậy ngắn, xấc xược thọc thọc vào hành lý của khách... Đến lượt tôi: “Giáo viên. Về Bắc nghỉ hè à? A, đi thăm nuôi chồng học tập cải tạo. Thăm nuôi tù thì nói mẹ nó ra đi. Học tập học tiếc cái nỗi gì với cái bọn ngụy ác ôn đó. Thôi, khỏi xét.” Lẽ dĩ nhiên, xét làm gì ba cái đồ lương thực. Họ muốn bắt những con buôn. Tôi cố nén tức giận, tủi hờn, mừng rỡ nhận lại tờ giấy phép, không có tờ giấy này tôi không thể vượt qua mọi cửa ải từ Nam ra Bắc. Chạy chọt hàng bao nhiêu nơi, chờ đợi hàng bao nhiêu ngày, tôi mới có được mảnh giấy đen thui này đây.

Họ di chuyển xuống hàng ghế dưới, tiếp tục hạch sách, lục lọi. Và hành khách tiếp tục năn nỉ, van xin. Hàng hóa nào có nhiều nhặn gì cho cam! Chục mét vải. Dăm gói bột ngọt. Rổ rá nhựa, xô xách nước, bình nước mắm... Vậy mà có người vẫn khóc ngất khi bị tịch thu. Nồi cơm độn mì, độn khoai tay chỉ mong vào tiền lời nhỏ nhoi đã mất cả rồi.

Tiếng máy xình xịch. tiếng còi tàu rú lên từng hồi như thúc giục, như đồng lõa với những việc làm sai trái trên con tàu mang tên Thống Nhất Bắc Nam.

Bên ngoài trời tối, không một ánh sao. Sương khuya lạnh buốt. Vài con đom đóm lập lòe. Chung quanh tôi, mọi người đều đã nằm ngủ la liệt. Người trải miếng ni-lông dưới chân ghế chật hẹp, người nằm ngả nghiêng trên đồ đạc, ngổn ngang chật cả lối đi. Võng mắc chi chít. Tiếng ngáy, tiếng thở mệt nhọc vang lên. Tôi mệt mỏi tựa đầu vào thành ghế gỗ. Có lẽ chỉ còn có một mình tôi thao thức nên thấy đường dài. Nhớ mẹ, nhớ con, nhớ nhà.

Thế là tôi đã phải xa nhà, xa những người thân yêu, vượt mấy ngàn cây số, đi đến một nơi xa lạ. Làm sao tránh khỏi lo âu? “Thân gái dặm trường”, lời nói người xưa thật đúng tâm trạng của tôi bây giờ.

Cũng trên quãng đường này, trong toa xe lửa của một thời xa lắc - thuở còn đi học - ánh mắt long lanh, giọng cười ròn rã reo vui suốt cuộc hành trình. Trại hè Nha Trang. trại hè Thống Nhất Huế. Trại hè sinh viên Huế-Saigon Đà Lạt. Mỗi mùa hè là một mùa tưng bừng hứa hẹn. Còn đâu nữa những tiếng cười khúc khích, tinh nghịch của các bạn tôi trong những đêm không ngủ? Các bạn học cũ của tôi, giờ phiêu bạt nơi đâu? Phạm Hữu Lộc, Bùi Thức Phước, Nguyễn Long Hải, Duy Trác... trong những trại tập trung cải tạo của Cộng Sản. Ấu Oanh, Hoàng Oanh, Ngọc Diệp, Kim Oanh... bán đứng buôn chạy quần áo cũ, thuốc tây. Hồng Thủy, Hồng Hảo, Ngọc Tâm, Hương Kiều Loan... ngàn trùng cách biệt.

Tôi cố quên đi những gương mặt đang say men chiến thắng Nguyễn Đắc Xuân, Cao Thị Quế Hương, Kim Tuyến. Tôi ngậm ngùi thương tiếc Lê Hữu Bôi, bị thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Bốn năm “giải phóng miền Nam” rồi, bốn năm quay cuồng, vật lộn với cuốc sống mới, có bao giờ được một vài phút suy tư?

Qua mỗi lần tàu ghé một sân ga, bất kể ngày đêm, hàng hóa rỡ xuống, chất lên nhanh chóng gọn nhẹ. Bọn chỉ huy đoàn tàu kết hợp cùng bọn công an kinh tế buôn bán thì còn sợ gì ai xét. Trong khi những người dân, hàng chỉ có một chút xíu thôi mà vẫn bị dòm ngó, hoạch họe đủ điều.

Những giỏ soài Nha Trang của vợ chồng chú bộ đội ngồi trước mặt tôi đã biến mất. Những giỏ soài treo toòng teng trên đầu, những giỏ soài la liệt dưới sàn tàu đều trống trơn. Càng đi xa hơn thì hành lý trên tàu càng vơi nên hành khách còn có lối đi. Hành khách buôn dọc đường. Xã hội chủ nghĩa cấm buôn bán cá thể mà hầu như cả nước đều buôn. Cán bộ công nhân viên mua được nửa ký đường, lon sữa, mươi gam bột ngọt mỗi tháng đều mang ra chợ bán cho người buôn, kiếm chút tiền bù đắp vào đồng lương ít ỏi. Cũng nhờ đó mà tôi mới mua được những thực phẩm thăm nuôi chồng. Tôi thở dài ngao ngán cho kiếp sống đói nghèo.

Tàu càng rời xa miền Nam, làng mạc càng hiu hắt. Bốn năm tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội là đây? Đồng ruộng khô cằn, xóm làng xơ xác. Con tàu đưa tôi vượt qua vĩ tuyến 17, tới miền Trung “ôi, quê hương xứ dân gầy” của nhạc sĩ Phạm Duy. Dân không chân lấm tay bùn - vì đồng ruộng bỏ hoang - mà sao đen đủi. Gương mặt ngơ ngơ ngẩn ngẩn, đứng trước những thau nước chờ khách trên tàu xuống mua rửa mặt, rửa chân.

Một bà cụ lưng còng xuống, manh áo vá không đủ che thân, xách ấm nước đi bán rong. Đường tàu mỗi lúc một xấu, nhất là Thanh Hóa. Con tàu tròng tranh nghiêng ngả. Đồ đạc rơi đổ cả vào người.

Làng quê miền Bắc kia sao? Tôi ngỡ mình đang nằm mơ. Bởi hiện thực quá phũ phàng.
“Việt Nam đất nước ta ơi,
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn...”
Miền Bắc hai mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể. Đồng ruộng xóa mờ ranh giới, bao la bát ngát thẳng cánh cò bay... Chỉ là hình ảnh tưởng tượng của cán bộ vẽ ra, khi tuyên truyền, khoác lác với dân miền Nam. Trước mắt tôi... đồng khô, nắng cháy. Xa xa xóm làng hoang vắng. Quán nước bên đường che bằng một mái tranh cũ nát, chiếc chõng tre lỏng chỏng một vài món quà lặt vặt: viên kẹo bột vàng, trái chuối thâm đen. Điếu cầy tre, ấm nước, ly trà cũ bẩn... Mỗi lần tàu ngừng, hành khách tranh nhau mua từng bát cơm khô cứng, lèo tèo một ít rau xào...

Tôi đến Ga Hàng Cỏ - Hà Nội sau ba ngày, ba đêm trên tàu như một người bị tra tấn. Rã rời, mệt mỏi. Hà Nội hiện ra trong mắt tôi với tất cả sự nghèo nàn, lạc hậu. Đèn đường vàng vọt. Trong nhà, ánh điện lù mù nhưng tôi vẫn nhìn thấy nhà nhà ngồi quanh mâm cơm để dưới đất. Đó là hình ảnh đầu tiên về Hà Nội.

Nhà anh chị tôi ở tầng thứ tư của một khu nhà tập thể vùng Kim Liên. Chỉ là một phòng nhỏ hai mươi mét vuông. Độc nhất một cái giường cũ mọt dành cho bố mẹ và đứa con út còn bé. Hai đứa con lớn học đại học nằm dưới đất. Kệ sách vở đụng trần nhà. Dưới gầm giường lỉnh kỉnh bát chén, nồi niêu, xô nước. Gia đình anh chị tôi điển hình cho giới trí thức Hà Nội: chồng, cán bộ nghiên cứu khoa học, vợ bác sĩ. Tôi rùng mình lo sợ tương lai.

Hà Nội với những con đường nhỏ hẹp, đầy ổ gà, bụi bậm. Hà Nội với nhà cửa cũ nát, xiêu vẹo. Hà Nội với con người nhâng nhâng, nháo nháo, chửi thề nói tục. Không phải một thủ đô văn minh lịch sự như theo lời những cái máy nói đã mạt sát Sàigon, ca tụng Hà Nội - mà trong những buổi học tập chính trị ròng rã qua năm tháng, chúng tôi đã phải nghe. Hà Nội trong ký ức tôi, trong thơ, trong nhạc... chỉ là hư ảo.

Lên ga Bình Triệu, xuống ga Hàng Cỏ: kinh hoàng. Tiếp tục cuộc hành trình, tôi đáp tàu đi Vĩnh Phú. Ga nhỏ, người đông. Mùi hôi thối dưới đất, mùi mồ hôi nồng nặc trong ánh nắng hè gay gắt. Tôi muốn nôn oẹ. Lại bị hạch sách, nạt nộ khi làm thủ tục để được lên tàu. Lại chen lấn, xô đẩy. Tôi chạy mãi tìm cửa lên tàu. Toa nào cũng chật cứng người. Cuối cùng chỉ còn giành được một chỗ đứng ở cuối nơi toa tàu nối nhau. Khi con tàu ra khỏi thành phố, một số thanh niên leo lên nóc, tôi mới có một chỗ để ngồi bó gối.

”Ban nãy tao leo lên toa chở lợn, gà. Bị đuổi xuống.”

”Xã hội này là súc vật sướng hơn!”

Tôi nghe tuổi trẻ miền Bắc nói chuyện như thế.

Gió thổi mát lạnh. Trời vần vũ cơn mưa. Cứ ngồi như thế này cho đến tối hay sao? Thế rồi sức chịu đựng của tôi vẫn vượt qua những trận mưa trời làm ướt sũng toàn thân, những trận mưa than từ ống khói tàu nhả xuống. Cũng may là than đá, nếu không biết bao nhiêu hành khách kém may mắn không được ngồi trong toa như tôi sẽ bị nhuộm đen như thế nào?

Con tàu nặng nề đi qua những cánh rừng cọ xác xơ, những đồi chè cằn cỗi thưa thớt dưới cơn nắng cháy.
“Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi,
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca...”
Tôi không hiểu sao Tố Hữu lại có thể làm được những câu thơ với những hình ảnh tươi đẹp như thế?

Ga Ấm Thượng là trạm cuối cùng tôi xuống. Nơi đây chỉ là một túp lều tranh vách nát giữa vùng đất đìu hiu của miền thượng du Bắc Việt. Bốn bề hiu hắt, vắng vẻ. Trời chập choạng tối. Ánh đèn dầu leo lắt run rẩy như muốn tắtlàm tăng thêm vẻ hoang vu.

Tôi sẽ ở lại đây một đêm.

Sau một ngày dài ngồi bó gối trên tàu, tôi muốn ngả lưng trên chiếc giường tre ọp ẹp có trải manh chiếu nát. Những con rệp lâu ngày bị đói rủ nhau ra tung hoành làm tôi phải bật dậy suốt đêm. Sáng sớm đã có tiếng xì xầm ở bên ngoài. Dân quanh vùng lén mang chuối, gạo, gà... bán cho những người thăm nuôi tù. Họ giành nhau để được tên cán bộ nhà ga phân phối khuân vác từng thùng lương thực xuống thuyền để lấy tiền công.

Sang đò ngang, lại chuyển đò dọc. Tiền khuân vác, tiền chuyên chở, bao nhiêu cũng phải trả.

Con thuyền cũ chòng chành vì nặng hành lý. Khách trên thuyền chỉ có khoảng năm người. Từ Saigon hay từ các tỉnh miền Nam đi thăm nuôi. Thuyền không có mái. Hơi nóng từ trên trời giội xuống, từ dưới nước bốc lên. Tôi như muốn ngất lịm đi vì say sóng. Đây là con sông Lô trong nhạc Văn Cao. Không có tiếng hò, tiếng hát trên sông. Chỉ có tiếng mái chèo đập nước, tiếng sóng vỗ ì oạp vào mạn thuyền. Hai bên bờ sông, chỉ toàn là cây dại. Hoàn toàn im lặng.

Khi mặt trời đứng bóng, thuyền cập bến đò Ngọc. Trái với tên bến Ngọc, bến đò này toàn sỏi đá lởm chởm. Từ bờ sông lên tới đường đi, chúng tôi phải trèo lên từng phiến đá sắc cạnh. Phụ nhau kéo đồ đạc lên rồi ngồi chờ xe trâu tới thuê chở chuyển đồ vào trại.

Tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây khô. Bên kia sông, không một mái nhà. Cỏ cây chằng chịt. Phía sau lưng, hoang vắng. Một lối đi nhỏ mất hút sau rặng cây rậm rạp. Đứa bé trai khoảng trên mười tuổi, không biết từ đâu xuất hiện. Chiếc quần ngắn cũ chắp vá đủ màu bọc ngoài đôi chân gầy guộc. Lấm lét nhìn chung quanh, nó đến gần chúng tôi, khẽ nói:

”Cho nhà cháu vác vào trại nhá! Tiền công rẻ hơn xe trâu.”

”Trại có gần đây không hả cháu? Đi chừng bao lâu? ...”

Chợt thằng bé chạy vụt vào lùm cây.

”Này, chị kia, nói chuyện gì với nó thế?”

Tên công an, mặt non choẹt, vác súng đi tới: “Gia đình nhà đó “nà” bọn “nười” lao động. Không chịu sản xuất, chỉ định “nàm” thuê.”

Đưa đôi mắt nhìn khắp lượt có vẻ đe dọa, hắn hất hàm nói tiếp: “Đợi đấy. Sẽ có xe của Hợp tác xã phục vụ. Ai không tuân lệnh, cúp thăm nuôi.”

”Việt Nam tham dự Thế Vận Hội mang về ba cúp: Cúp điện, cúp nước, cúp lương thực. Giờ đây lại sắp lãnh thêm một cái cúp nữa.” Tiếng thì thầm, rúc rích của hai thanh niên đi cùng chuyến.

Tiếng lọc cọc từ xa mỗi lúc một gần. Xe trâu đến. Những mảnh cây ngang dọc sơ sài đóng vào nhau. Bốn bánh xe đẽo bằng gỗ. Sợi dây thừng lớn nối từ cổ xe vào mình một con trâu già. Cán bộ hợp tác xã nhảy xuống khỏi xe. Chúng mời nhau điếu thuốc lá Thủ Đô. Lương thực được chúng tôi khuân chất lên xe. Bao nhiêu thùng là bấy nhiêu tiền. Thùng to, nhỏ giá chở khác nhau. Tên cán bộ ngồi trên một thùng đồ vững vàng nhất. Chiếc roi mây quất nhẹ vào mình trâu để con trâu bước đi. Ngươì thăm nuôi lẽo đẽo đi bộ theo sau. Trời nắng. Đường gồ ghề những đá. Người và vật lê bước nặng nhọc. Đi, đi mãi... Sâu tít vào rừng. Đường vòng vèo tưởng như không có lối ra. Qua những con suối cạn, ì ạch mãi chúng tôi mới đẩy được xe qua. Tên cán bộ ngừng lại cho con trâu nghỉ mệt. Dãi nhớt đầy miệng, trâu thở phì phò. Tội nghiệp cho cả trâu. Tội nghiệp cho cả người thăm nuôi. Cổ tôi khô. Đầu nhức như búa bổ. Tôi ngồi vật xuống cỏ...

Trời đã xế chiều, ánh nắng nhạt dần. Người và vật vẫn tiếp tục cuộc hành trình trong yên lặng. Có tiếng lá khô vỡ vụn. Không phải tiếng xào xạc của lá cây rơi rụng. Không phải tiếng chân chạy của thú rừng.

Cặp mắt tôi như sáng lên. Một toán người bẻ lá đi ra. Có người thân quen không nhỉ? Bộ quân phục của binh chủng thủy quân lục chiến dù phai màu theo năm tháng, dù bị rách vá bởi kiếp đọa đầy, vẫn không làm mất đi vẻ thông minh sáng sủa của những người tù. Vai vác cuốc, tay cầm xẻng, bi đông nước lủng lẳng thắt lưng, các anh nhìn chúng tôi với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.

Tên công an thấp bé ôm súng chạy xộc lên phía trước. Tôi đi sát bờ cỏ, len lén rắc kẹo lên lối đi. Những mảnh giấy cuộn tròn thật nhỏ vội vàng chuyền tay. Lời nhắn gửi của các anh gửi về Saigon.

Quãng đường rộng hơn, bằng phẳng. Đó đây, thấp thoáng mái nhà. Tôi gặp Ngô Kim Thái, bạn học cũ Trưng Vương đi trở ra. Chúng tôi chỉ kịp chào hỏi nhau vài ba câu. Sắp tới K5. “K1 hả? Còn đi lâu lắm...”

Xe trâu mỗi lúc một nhẹ hơn khi ghé qua một K. Tôi là người cuối cùng, đi vào K có con số nhỏ nhất. Lố nhố vài người đến trước đứng trên thềm. Mọi người nhanh nhẹn phụ giúp chuyển đồ trong khi tôi trả tiền xe.

Xếp đồ vào phòng qui định, tôi chỉ kịp nhận giường chiếu là buông mình nằm mê mệt.

”Chị! Dậy đi chị! Không trình giấy, ngày mai làm sao được gặp?”

Nghe đến giấy tờ, tôi bật người lên. Quên cả nhức đầu. Tú, người lay gọi tôi, có gương mặt trái soan, còn rất trẻ. Tú đi chuyến tàu đêm, đến đây từ sáng.

”Phòng tắm ở đâu?”

”Phòng tắm hả?” Tú cười chỉ về hướng sau nhà.

”Mấy tấm phên che không kín. Có còn hơn không. Nhưng nước bẩn lắm. Phải xuống tít dưới kia lấy nước ở suối. Em có mua được một cái xô. Cho chị mượn đó.” Tôi cảm ơn người bạn mới.

”Trước anh làm gì?”

”Chiến tranh chính trị.”

”Cấp bậc?”

”Trung tá. Chức vụ luôn nhé! Tham Mưu Trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.”

”Chết, chức to quá! Chồng em cũng chiến tranh chính trị. Cấp úy nhỏ nhất thôi. Mà chị ơi, đúng rồi! Chính trị tội nặng nhất. Họ gọi là thành phần ác ôn, tập trung tại K1. Không biết họ nhốt mấy ổng có gần đây không nhỉ?” Tú thì thầm. “Họ cấm không cho người thăm nuôi ra khỏi khu này, cho nên... em chẳng biết gì hơn.”

Tôi nhìn quanh, Vẫn cỏ cây chằng chịt. Chỉ có hàng rào chung quanh khu tiếp tân này là được cắt xén cẩn thận, ngay ngắn. Ngôi nhà ba gian. Tường cây, mái bằng lá cỏ khô, nền đất. Hai gian dành cho thân nhân. Khoảng sân nhỏ với những bồn hoa, luống cây cảnh xếp bằng sỏi đá đơn sơ. Khung cảnh nơi đây chắc chắn phải có bàn tay của những người tù. Lòng tôi chùng xuống. Ngậm ngùi. Phía xa là nhà bếp. Trong ánh lửa bập bùng, thấp thoáng bóng người mẹ già, người vợ trẻ lui cui đun nấu thức ăn tươi cho ngày mai. Thịt gà kho gừng, thịt bằm ớt rang khô. Bát canh rau, thịt kho trứng... Những món ăn quen thuộc như chìm vào quên lãng - vì bên ngoài cũng thiếu thốn, có được ăn đâu?

”Chị có nhìn thấy những cây nhang cắm trên cành cây phía đằng kia không? Của một bà phòng bên cạnh. Ổng chết lâu rồi.”

Tôi lạnh người. Sáng nay mới biết. Dã man. Để người ta lặn lội ra đây?

Đêm xuống. Bao trùm núi rừng. Tôi thao thức không ngủ. Lo lắng. Chỉ mong trời sáng. Cuối cùng tôi cũng thiếp đi được một chút để rồi được đánh thức bởi tiếng khua động của mọi người chung quanh.

Giây phút chờ đợi như kéo dài. Hơn tám giờ, hai tên công an ôm giấy tờ đến, lững thững trong khi mọi người nôn nóng. Gọi tên ai, người đó mới được vào phòng đợi.

”Con chị tên gì?”

Kỳ quá! Hôm qua đã ghi rồi mà. Người đàn bà ấy đã đứng tuổi, đi cùng chuyến đò với tôi. Tên công an thì chưa đến hai mươi tuổi. Bà đáng tuổi bà, tuổi mẹ hắn.

”Thưa ông...”

”Này, chị phải bỏ ngay cái giọng quan niêu phong kiến ấy đi nhá!”

Giọng rụt rè: “Thưa anh...”

”Ai anh em gì với cái nhà chị?”

Tiếng nói cất lên như một tiếng thở dài:

”Thế bây giờ tôi phải gọi như thế nào đây?”

”Gọi nà cán bộ. Báo cáo cán bộ. Biết chưa?”

Lần lượt mỗi người vào như bị hỏi cung. Mỗi người bị tên công an vặn vẹo, nạt nộ. Gian phòng nhỏ hẹp, chỉ đủ kê một cái bàn nhỏ ở góc cửa ra vào, tên công an ngồi làm cái việc hỏi cung. Một cái bàn dài, rộng kê ở giữa. Thân nhân ngồi một dãy. Phía bàn đối diện dành cho tù nhân. Vị trí của mỗi người tùy theo sự sắp xếp của công an.

Và giây phút chờ mong đã đến. Người thân của chúng tôi đã được giải tới. Mọi người trong phòng nhốn nháo. Người ngồi bên trong đứng lên để được nhìn rõ hơn. Những người tù thong dong bước tới mỗi lúc một gần. Quần áo mang trên người còn nguyên nếp gấp. Quần áo mang theo, nhưng lần này sao rộng thùng thình như đi mượn. Cặp mắt ai cũng sáng lên khi nhận ra người thân yêu.

Tên công an áp giải bắt xếp hàng ở dưới sân. Hắn hất hàm cho từng người vào. Hơn bốn năm xa cách, chúng tôi nhận ra ngay những nét thay đổi của nhau. Thời gian và khổ cực. Cuộc sống bên ngoài cũng chẳng mấy tự do. Khóc thì sẽ bị đuổi ra. Nhưng những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi.

Năm phút. Mười phút. Thời gian trôi nhanh. Gần hết giờ thăm. Những câu hỏi, câu trả lời lạc lõng. Toàn những chuyện đã viết trong thư. Đôi mắt tên công an gườm gườm. Mấy cái gai nhọn lúc nào cũng muốn đâm vào da thịt.

Đi suốt cả chiều dài đất nước để có được mười lăm phút gặp nhau. Quà sắp lên xe trâu. Tôi nhìn theo chồng đứng vào hàng để giải về. Chúng tôi theo ra cổng, nhưng chỉ được đứng bên hàng giậu nhìn theo cho đến khi toán người đã khuất vào lùm cây.
“Cùng trông lại mà cũng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
Thuở còn đi học, nghe cô Tỉnh giảng Kiều say mê. Nhưng chỉ thích Chinh Phụ Ngâm, để rồi ngày nay phải mang nỗi buồn cô phụ. Tôi nuốt nước mắt nghẹn ngào. Bỗng dưng vạn vật mờ tất cả...


Trích từ tập hồi ký Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
tác giả: Bích Huyền
phamanhdung  
#9 Posted : Thursday, April 29, 2010 8:25:59 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN
Bích Huyền




Ðường trần quên lối cũ
Người đời xa cách mãi
Tình trần khôn hàn gắn thương lòng...
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay -
Ðoàn Chuẩn-Từ Linh)


Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời . K1, K2, K3, K4...những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi...mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. Cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi...

Những khẩu hiệu:"Chào mừng thành công Ðại Hội Ðảng 5" ,"Ðảng Cộng sản Việt Nam - Người lãnh đạo tài tình", "Ðảng Cộng sản Việt Nam muôn năm..." lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính "pháp lệnh" bằng những lời thô tục "Cấm ỉa đái" . Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.

Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ...Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Ðảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa.
Ðạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang qua những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh "quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì..."của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. "Vườn không nhà trống tàn hoang" còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi, mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Ðảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Ðảng, bấy nhiêu năm Ðảng phá nát tan? Ðể những người dân quê hiền hoà cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?

Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu..tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.

Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước . Ðể rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.

Trong không gian, hồi chuông ngân nga trong chiều thu lộng gió, ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ:"Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh Niên Cứu Quốc thì nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!" Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Ðánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước . Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ độ với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội như đã bừng lên một sức sống mới.

Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Ðảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ cường hào ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động. Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ...Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Ðến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.

Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.

Các anh tôi, vài năm đầu "Sài Gòn giải phóng", vì đường lối của Ðảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm "giác ngộ" để hoà nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. "Ðảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng”. Ðó là một lần anh nói với tôi:"Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối...". Một anh khác:"Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!"

Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.

Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng. Vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.

Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường…
Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban Chỉ Huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. Cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Ðang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại:"Các bác tìm nhà ai thế?" Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.

Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.

Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê "Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung..." chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.

Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Ðêm yên lặng. Ðêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.

Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: “Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người ). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Ða số vào Nam.”

Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: "Ðược biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây."

Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tốn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.

Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Ðể khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.

Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Ðức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước , cả nhà xúm nhau cày cấy mới có gạo ăn.

Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy...Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.

Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.

Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Ðĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau "tập tàng"- đủ mọi loại rau hái ngoài vườn - mát ngọt. Tôi không ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.

Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Huy Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. Cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.

Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc là "555" anh tôi mang đến làm quà. "Ba con năm vừa nằm vừa ký", cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.

Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.

Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ "ngụy quân ngụy quyền". Nhưng tiếc tay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.

Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần... Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Ðây là nơi làm việc của toán công an canh gác.

Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?

Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.

Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.

Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Ðêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.

Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua dùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng...khói nhang thơm toả ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.

Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an:"Ðất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!"

Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan...

Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bàn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta...tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện "học tập cải tạo".

Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng:"Ðã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào." Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Ðồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi...

Lâu lắm, khi tôi tỉnh dậy, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái sanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông ...

Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng...


(Chuyến bốc mộ vào năm 1985)

Trích tập truyện Lối Cũ Chẳng Sao Quên
(The Trail I Never Forget)
tác giả: Bích Huyền
phamanhdung  
#10 Posted : Friday, February 4, 2011 6:33:42 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
Xuân và Tết
Bích Huyền




Thế là những ngày chuẩn bị Tết đã xong. Sáng nay đi chợ Đại Hàn mua trái cây cúng. Hoa đã có người tặng hai chậu cúc, một giỏ lan tím và một chậu đào Nhật. Tất cả đều tươi đẹp. Ngoài vườn ba cây đào đều nở hoa , tuy không nhiều bằng những năm trước nhưng tôi lại yêu vẻ đẹp của hoa lác đác trên cành hơn là chen nhau nở rộ. Cây bích đào thì bao giờ cũng nở sau một tháng.

Không có buổi sáng nào mà tôi không đứng bên cửa sổ ngắm….tác phẩm của mình.

Nhìn hoa lạ nhớ Mẹ . Nhiều hôm nhớ thiết tha.

Mẹ yêu hoa đào, nếu được nhìn thấy vườn nhà tôi mỗi mùa xuân, chắc Mẹ vui lắm.

Ăn ngon lại nhớ Cha. Cụ chỉ cần một chút thịt, một ly rượu nhỏ là đủ ngon miệng bữa cơm chiều. Ngày ấy, mỗi lần mang về biếu cụ một chai rượu lễ, cụ vui lắm. Bây giờ tôi có thể mua hàng chục chai thì cụ chẳng còn trên cõi đời này.

Riêng Mẹ, tôi không thể nào quên được lần nhà cần tiền sửa chữa gì đó, Mẹ phải bán đi chuỗi ngọc. Mẹ tiếc mãi vì màu ngọc xanh biếc và nước lên bóng láng. Mỗi lần mẹ đeo, các bác bạn mẹ trầm trồ. Phải chi mẹ còn tôi sẽ mua biếu mẹ. Sau này các con có tiền nhưng không sao tìm được chuỗi ngọc đẹp như thế nên Mẹ chỉ đeo chuỗi hạt trai anh Thế đi Nhật mua về.

Chẳng bao giờ còn được dịp làm vui lòng cha mẹ nữa rồi…


Những ngày chuẩn bị Tết trong gia đình tôi ngày xưa sao rộn ràng quá.

Nhớ nhất là món cá lóc kho, vại dưa hành. Mẹ tôi kho cá từ một tháng trước Tết. Thật công phu.

Cá lóc tươi, mỗi con to bằng cùi tay, rửa sạch, cắt khúc. Sườn heo, chặt từng miếng nhỏ. Củ riềng xắt miếng theo chiều rộng. Sau đó xắp một lớp riềng kín đáy nồi, một lớp sườn và từng lớp cá. Nêm nước mắm ngon, đường, nước màu (đường cho vào nồi với một chút nước, đun cho vàng đậm, bốc hương thơm). Cho nước sôi ngập cá. Ngày đầu đun khoảng 20 phút. Sau đó mỗi ngày lại đặt lên bếp đun sôi rồi lại nhắc xuống để ngày kế tiếp lại làm như thế cho đến khi nước thấm vào cá. Khi nước trong nồi còn ít thì phải nghiêng nồi, dùng chiếc muỗng múc nước đổ đều lên lớp cá trên và đun tiếp. Khoảng một tháng thì nước đã thấm hết vào cá. Khi đó, mỗi khúc cá khô lại có màu vàng đậm óng ả, thơm ngon. Sườn giúp cho cá thêm ngọt béo, riềng giúp cho cá thơm và có độ cứng bên ngoài.

Ăn cá kho với dưa hành nén. Tuyệt vời!

Dưa hành thì làm trước một tuần. Tôi thường theo mẹ đi chợ Cầu Ông Lãnh mua dưa hành. Hành không non mà cũng không già. Bán từng bó, lựa những bó củ to đều và lá hơi héo. Khổ nhất là nhặt hành, mùi cay xông lên chảy cả nước mắt. Bỏ những chiếc lá héo và cắt sơ rễ. Nếu cắt sâu quá vào củ, hành sẽ thấm nước, mất độ ròn vì ngấm nhiều nước quá. Sau khi rửa sạch, xếp từng lớp vào vại. Một lớp dưa, một lớp hành, rắc một lớp muối rất mỏng. Cứ như thế cho đến hết. Mẹ tôi lấy một cái rế mới mua rửa sạch, đè nén lên dưa. Để một vại nhỏ khác làm vật chống đỡ cái cối đá. Đậy lại bằng cái rổ. Chỉ vài ngày là nước từ dưa, hành chảy ra, thơm lừng. Miếng dưa, miếng hành mới còn mùi hăng nhưng đã ròn tan trong miệng.

Ngày 30 đãi đậu, ngâm gạo để buổi chiều thổi xôi. Chị em xúm nhau làm. Thái dưa leo, cà rốt để trộn gỏi. Không bán sẵn như ngoài chợ ngày nay.

Các con cháu tề tựu ngày mùng 1, bao giờ cũng xin mang về hai món ăn độc đáo mẹ làm.

Món ăn chia đều cho 3 ngày Tết gồm có vịt tần, súp măng cua, nộm sứa (gỏi), bát bửu, xôi gà luộc, giò lụa, giò thủ, giò bì, canh gà nấu bóng, canh măng khô hầm chân giò…

Con cháu đông nên làm bao nhiêu cũng hết.


Lại còn món mắm tép ăn với thịt luộc, chuối chát, khế thái mỏng vắt sơ cho bớt nước chua, cùng với rau xà lách, rau thơm đủ loại.

Tép mua ở chợ loại tép riu còn nhảy xoi xoi. Để vào rổ, đặt trong chậu nước, nhặt vẩn rác rửa sạch sẽ. Khi ráo nước , cho tép vào cái thố. Trộn muối, gừng riềng giã nhỏ, thính và rượu đế. Đậy kín lại vài hôm màu tép bắt đầu ửng hồng . Khoảng 10 ngày là đỏ au và có mùi thơm quyến rũ.

Khi ăn, pha thêm nước mắm ngon, chanh đường, tỏi, ớt. Đôi khi mẹ tôi còn chưng tép với dầu phi tỏi cho thơm, cho một chút đường , chút nước mắm, vỏ quýt khô, và ăn với cơm nóng cũng ngon.

Các con vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon. Chị Dung lấy giấy ra ghi cách làm mắm tép. Anh Điểu cười “hình như mỗi năm Dung đều hỏi mợ và ghi chép đàng hoàng nhưng…chưa bao giờ thực hành!”



Sống trong Nam nhưng cha mẹ tôi vẫn giữ nguyên món ăn của người Bắc. Mãi đến khi tôi đi dạy, hay tiếp xúc với đồng nghiệp người Nam, được ăn những món mắm miền Nam như mắm nêm, mắm lóc, mắm cá linh…Không những thích mà tôi còn mê nữa. Chén mắm nêm tôi pha chế ai ăn cũng tấm tắc khen. Ngon hơn tiệm.

Sau mấy ngày Tết, nhìn thấy thịt là ngán nên tôi thường đề nghị Mẹ cho ăn món mắm. Màu xanh tươi của rau , màu vàng của khế, của dứa, màu trắng của bún, của thịt luộc, màu đỏ au của con tôm, ớt…rồi chuối chát, gừng riềng thái sợi thật mỏng...Mỗi thứ một chút bỏ vào bát cho vừa miệng ăn. Ai thích bánh tráng thì gói tất cả những thứ kể trên cuốn lại chấm với nước mắm chanh ớt chua cay ngọt. Món này ai ăn tự làm nên không khí bàn ăn rất vui vì hai bàn tay ai cũng phải …hoạt động.



Mẹ tôi kể Tết ngày xưa nơi quê nhà kéo dài tới mùng 5 .

Mùng 5 là ăn bún thang và cuốn. Vật liệu là tất cả những thực phẩm còn thừa của mấy ngày Tết. Gà luộc xé nhỏ, giò lụa thái chỉ, trứng gà chiên mỏng cũng thái chỉ, tôm khô luộc giã nhỏ và chấy khô… Nước dùng gà nấu thêm xương heo, rau răm rắc lên trên, chan nước dùng nóng vào. Ăn tô bún thang với giọt cà cuống nhỏ vào, tỉnh cả người. Ai đói thêm vài cái cuốn. Chỉ cuốn tôm thịt trứng bằng lá rau xà lách, lấy cây hành lá chụm sơ nước sôi buộc chặt, chấm với nước mắm pha chanh đường ớt.

Hai món này đi đôi với nhau, ăn rất thanh.



Mẹ tôi kể mâm cỗ Tết ngày xưa bày biện món ăn làm sao cho màu sắc hài hòa, kết tinh tài hoa , nghệ thuật, văn hóa, thẩm mỹ dân tộc. Ngồi ăn là để gần gũi với nhau hơn, rộng lượng hơn, dễ tha thứ cho nhau và gắn bó với nhau…



Ngày cuối năm với những hình ảnh quá khứ lưu giữ trong ký ức mỗi năm chìm sâu thêm vào quên nhớ. Đôi khi quên điều này, nhớ điều khác. Nhưng dù quên hay nhớ, cả hai đều là nguyên cớ của một nỗi buồn tiếc khó phai.

Nó đánh thức kỷ niệm, thắp lại ước mơ…

Kỷ niệm giống như một cuộc tình, giống như một người tình, nếu không yêu, làm sao ta biết được người ta thương nhớ ra sao?



30 Tết



Tôi đã làm xong mâm cúng 12g trưa nay. Đêm Giao Thừa chỉ cúng trái cây và bánh chưng.

Chỉ có mấy mẹ con nên tất cả đều giản dị gọi là nhớ ơn Tổ Tiên. Với tôi, tất cả là hình thức, chỉ có tấm lòng thành mới đáng kể. Đang chuẩn bị thì có phone của Hiền Vy. Hai vợ chồng đang đến thăm anh Thế trong Nursing Home. Thật cảm động nghe tiếng anh trên đầu giây điện thoại. Anh hỏi N đang làm gì đấy. Em đang làm cỗ cúng . Hôm nay 30 Tết rồi. Anh nói anh không biết Tết là gì nếu Hiền Vy không vào thăm và mang chậu cúc biếu anh. Em nhờ HV thay em thăm anh đấy. Anh cảm động nói rằng N có những người bạn thật tốt. HV vừa đẹp, vừa dễ thương quá.

Nghe anh nói mà nước mắt tôi cứ rưng rưng. Thương anh tôi quá. Tôi hứa sẽ thu xếp đi Houston mỗi năm thăm anh.

Rồi phone từ Pháp chúc Tết vì bên ấy đang Giao thừa.

Thật cảm động được nhiều nguời nhớ đến. Từ bạn hữu cho đến các em văn nghệ của tôi, ai cũng tuyệt vời.





Nhiều năm tôi thường theo mẹ đi lễ Giao thừa ở đền Đức Thánh Trần hái lộc mang về tự xông nhà. Dưới trời đêm, cây cỏ ướt hơi sương. Mẹ dừng lại bên gốc cây ngâu, hái một nhánh rất nhỏ nhưng có đầy đủ hoa và vài ba chiếc lá nõn nà. Mùi hương hoa ngâu thơm ngát. Trong không gian bao la của đêm trừ tịch, tôi cảm thấy mình như nhỏ bé hẳn lại. Tôi đứng sát bên mẹ tìm hơi ấm. Nghe cả tiếng thầm thì của mẹ khấn cầu Trời Đất bình an. Khí thiêng như đọng vào cành lộc mẹ xin.

Cử chỉ khi mẹ hái rất kính cẩn nhẹ nhàng. Chỉ bằng mấy ngón tay, mẹ khẽ hái một cành con như sợ cây đau. Cành lộc đó là sẽ mang đến cho gia đình mọi sự tốt lành. Mẹ nói “Người ta có thể tặng cho người mình yêu quý nhất”. Riêng mẹ tôi, bao giờ cũng cắm vào bình hoa tươi trên bàn thờ kính dâng lên ông bà Tổ tiên đã về sum họp cùng gia đình trong ba ngày Tết.



Những mùa Xuân và Tết sau năm 1975 gia đình tôi không đến nỗi nghèo khó như đời sống người dân chung quanh nhưng vẫn cảm thấy vô cùng thiếu thốn. Làm sao có được cái không khí rộn ràng ngày Tết, tiếng nói cười vang khắp các phòng khi mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Đêm 30 một mình tôi ngồi trong phòng khách không hoa mai, hoa cúc, nhìn lên bàn thờ sơ sài hoa trái, nến đèn mà cảm thấy xót xa.

Nhớ thương những người thân yêu, thương cả miền Nam. Nỗi đau lúc nào cũng vò xé tâm can, nhất là vào dịp lễ thiêng liêng của dân tộc.

Người mới tới muốn xóa bỏ tất cả .Nhưng càng làm cho người ta hơn bao giờ hết âm thầm giữ gìn tinh hoa đất nước.

Dưới những mái nhà là một sức sống cố vươn lên…
phamanhdung  
#11 Posted : Saturday, February 5, 2011 11:33:47 PM(UTC)
phamanhdung

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 5/7/2011(UTC)
Posts: 852

Was thanked: 11 time(s) in 6 post(s)
Mùa Xuân, Niềm Nhớ Khôn Nguôi
Bích Huyền




Không khí Tết đã rộn ràng ở Little Sài Gòn từ tuần trước. Chợ hoa đã có ở khắp các góc phố thương mại, đặc biệt là ở khu đậu xe trước Phúc Lộc Thọ. Đa số là những chậu hoa lan, hoa cúc. Tôi vẫn thích những cành hoa đào. Nó gợi lại trong tôi nhiều kỷ niệm thuở còn thơ khi còn ở ngoài Bắc.

Nhớ nhất là chợ hoa đường Nguyễn Huệ, hấp dẫn tôi thời thiếu nữ đầy thơ mộng…

“Khi tóc mùa xuân buông dài trước cửa

Khi nắng chiêm bao khẽ chớp hàng mi

Khi những con thuyền chở mộng ra đi…”(Đinh Hùng)

Xôn xao lắm mỗi lần Tết đến. Rất náo nức được đi chợ hoa.Nếu được đi dạo Tết cùng anh chị em, hoặc cùng các bạn là cả một niềm vui rộn rã. So với hoa ở xứ Mỹ này thì hoa Sàigon ngày ấy làm sao bằng, nhưng trong tôi vẫn thiết tha hoa ngày cũ. Nó tự nhiên, tươi mát. Nhất là hoa cúc. Những chậu cúc bao giờ cũng chiếm nhiều vị trí và hình như ai cũng mua vì giá phải chăng.

Ngày xưa cố nhân của tôi yêu hoa cúc trắng, nhất là những bông cúc tự mọc sau vườn nhà, tươi tắn vươn lên trong khí hậu mát rượi của Đà Lạt vào thu.

Những ngày hạnh phúc sao ngắn ngủi. Cố nhân đã xa rồi, mãi mãi… kể từ tháng 4-1975 khi di tản về Saigon. Trên bàn thờ anh suốt bao nhiêu năm nay, tôi vẫn trưng hoa cúc trắng. Chỉ còn một mình tôi và con. Khi anh ra đi, con mới một tháng tuổi. Khi anh qua đời trong trại tù, con chưa đầy năm tuổi.

Ai sẽ thay anh chăm sóc tôi trong suốt thu đông còn lại của cuộc đời? Đôi khi tôi chạnh lòng nghĩ rồi lại ngậm ngùi…

Hoa cúc là loài hoa hình như được các thi nhân nhắc nhở đến nhiều nhất.

“Một thời áo trắng yêu hoa cúc

Câu thơ em viết chỉ riêng mình

Mà riêng …ai đó thôi, được đọc

Tiếng chim trời tròn như giọt mực xanh”

Cúc không nhiều cành hoa chen lá, mơn mởn như mai như đào. Cúc không mảnh mai quý phái như lan, như quỳnh. Nhưng cúc là hoa của tình bạn, là tượng trưng cho sự tương kính như tân. Cúc cũng là hoa của tình yêu thủy chung duy nhất.

“Hoàng cúc… hoàng cúc

Có phải vì em mang tên một loài hoa chung thủy

Nên đã chờ đợi anh hết tuổi thanh xuân”

Cúc tàn, người yêu hoa giữ lại hoa để ấp ủ trong hương trà tinh khiết.

“Chiêu như thanh ty mộ như tuyết”, mái tóc buổi sáng như tơ xanh, chiều đã thành tuyết trắng. Hai câu thơ như gói trọn cả một kiếp người. Cuộc đời ngắn ngủi như một giấc chiêm bao và cả rừng hoa muôn màu sắc kia cũng ở ngoài lẽ sống vô thường, sớm nở tối tàn.

Những đêm Giao Thừa xưa cùng anh chị em đến Lăng Ông đi hái lộc. Gặp gỡ nhiều người quen ở những nơi hội hè ấy, là niềm vui ngày Tết. Tôi vẫn còn rất trẻ con khi được mặc chiếc áo dài mới dù thời gian đó đã là nữ sinh Đệ nhị cấp.

Cái điệp khúc chợ hoa, năm nào cũng trở lại nhưng không nhàm chán. Có phải chăng vì xuân mới nên lòng người cũng mới. Ngắm nhìn hoa bao giờ cũng cảm nhận được nét tươi tắn của mùa xuân, cái quyến rũ của màu sắc, cái ngất ngây của hương. Tất cả làm nên cái đẹp của mùa xuân mới.

Trở về những mùa xuân xa hơn nữa ở miền Bắc, những mùa xuân quê nhà thời thanh bình, còn bé tý xíu mà vẫn còn nhớ cây mơ, cây mận, gốc mai, gốc đào trong vườn nhà. Cùng anh chị em theo mẹ đi chúc Tết bà ngoại. Bà ngoại tôi là một người đàn bà Việt Nam tài giỏi tuyệt vời. Ông ngoại mất sớm, khi bà còn rất trẻ. Một mình bà quán xuyến tài sản gia đình nhà chồng với ruộng đất thẳng cánh cò bay tại làng Duyên Phúc, tỉnh Thái Bình. Dân làng rất kính nể bà ngoại vì bà thường hay đóng góp xây dựng chùa chiền, giúp đỡ dân nghèo. Nghe kể rằng mỗi lần lễ lạc trong làng, bà được mời đến đình làng tham dự. Bà tôi rất sang trọng, ngồi trên chiếc kiệu của chức sắc làng đón tới dự. Bà còn được đúc tượng nữa.

Bà ngoại lèo lái gia đình, các con được đi học nên người. Cũng may bà ngoại mất trước khi có Việt Minh, nếu không chắc chắn bà ngoại sẽ bị Việt Cộng đấu tố trong phong trào Cải Cách Ruộng Đất.

Lớn hơn một chút, là tản cư -gọi là “vào thành”. Thân phụ tôi làm Trưởng ty Giáo Dục Gia Lâm-Bắc Ninh. Ở Bắc Ninh, Hà Nội những ngày giáp Tết theo mẹ đi chợ hoa, thấy mẹ cứ tần ngần không muốn rời cành đào nhỏ bé lác đác vài bông hoa nhưng rất nhiều nụ hàm tiếu. Đắt quá, làm sao có tiền mua?

Miền Nam chỉ có hoa mai. Cho nên sau này ở Đà Lạt, bao giờ tôi cũng chọn một cành đào đẹp nhất gửi về nhà ở Sài Gòn . Mẹ tôi đã mua một lọ độc bình bằng gốm trang trọng đặt cành đào nơi phòng khách.

Mùa xuân, cả thành phố Đà Lạt như được khoác một chiếc áo hoa màu hồng của hoa đào bên cạnh màu hồng trên đôi gò má thiếu nữ đương thì.

Nhìn xuân đến trên những cây anh đào, lòng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ một câu chuyện cũ…

“Thôi Hộ đời Đường đi học thi. Trên đường về cố quận, gặp một nàng thiếu nữ tuyệt sắc dưới gốc hoa đào. Hỏi ra nàng mới mười lăm tuổi. Chàng hẹn mười năm sau sẽ trở lại cưới nàng. Mười xuân không thấy.Rồi mười lăm xuân, mười lăm lần hoa đào nở. Nàng vẫn chờ vẫn đợi dưới gốc cây xưa…

Năm nay đào lại nở

Đã hết tuổi xuân thì

Nàng rút trâm vạch vào gốc cây mấy dòng thơ lệ

Chàng hẹn mười năm chàng trở lại

Hoa đào nở rụng đã bao xuân

Gió xuân nhặt cánh đào tan tác

Lòng thiếp như hoa nở mấy lần

Tôi muốn ngừng ở đoạn tình buồn này.



Sang Mỹ, khi các con tôi có nhà riêng, điều trước tiên tôi trồng mấy cây đào để tìm lại những kỷ niệm thời xa xưa tại quê nhà. Gần mười năm nay, vườn nhà tôi mùa xuân rực rỡ màu hoa. Đẹp đến nỗi các bạn đến chơi phải nói đùa: không phải đi Washington DC ngắm hoa anh đào nữa.

Những năm chợ hoa trên phố không có hoa đẹp, mọi người lại đến xin cắt một cành. Ai cũng ngạc nhiên tại sao tôi lại có thể trồng được một hàng cây đào như thế. Có khó gì đâu, khi tôi xin, cây mới cao chừng hai gang tay. Chỉ việc lấy cái xẻng nhỏ đào một lỗ đất không sâu vùi xuống.

Vì là đất mới còn nhiều màu mỡ nên cây lớn rất nhanh. Khoảng hai năm, những cây đào nở những bông hoa màu hồng, màu xác pháo đỏ. Cứ đúng hẹn vào dịp Tết hoa đào phơi phới đón Xuân sang. Tôi vui với …tác phẩm của mình.

Mỗi cây hoa trong vườn nhà là của một người cho. Đặng Trần Hoa báo Người Việt, anh Ngô Mạnh Thu đài VNCR, Tưởng Kim Xuyến, thính giả có lòng nhân ái của tôi và Quỳnh Lưu, sau này bà là mẹ vợ của Exetera báo Việt Weekly, …Và cây lựu, chậu quỳnh, cành dao, chậu lan cánh bướm…của chị Dung Lê Đình Điểu, chị Hồng Vũ Lan Nhi, người cùng sinh họat với tôi trong Diễn Đàn Trưng Vương và Thân Hữu do tôi phụ trách trên Việt Báo Online. Mỗi khi ra vườn lại nhớ từng người thương quý. Có người đã đi xa thật là xa như anh Lê Đình Điểu, anh Ngô Mạnh Thu…

Những ngày mưa lất phất, nhìn qua cửa kính, một cánh hoa lay động trong mưa, gợi cho tôi bao ý nghĩ thanh tao, thơ mộng. Khu vườn nhà tôi đẹp từ cảnh lẫn tình.

Quanh tôi lúc nào cũng là kỷ niệm.



Tôi nhớ cách đây gần mười năm, tôi có thực hiện một chương trình thơ nhạc trên d ài VOA, với chủ đề Hoa Trong Nhạc và Thơ.

Nh ư thế này:

“Đã có một thời, không xa lắm đâu, hoa chỉ là vật phù phiếm. Cả nước chìm trong nghèo khó, lui về lạc hậu, ý nghĩa phù phiếm của hoa càng trở nên rõ rệt.

Chỉ cần suy nghĩ như thế không thôi cũng đủ buồn rồi.

Đất nước chúng ta, trải bao cuộc tang thương, cay đắng đã có những lúc, người ta cảm thấy không có thì giờ, không còn cái quyền được nghĩ đến hoa nữa.

Chỉ khi thoát khỏi những khoảnh khắc khốn cùng đó, chúng ta mới thấm thía cái nỗi bất hạnh cuả một đời sống không dám nghĩ đến hoa. Phải dành cái khoản tiền nhỏ nhoi mua một bông hoa để mua một chút thực phẩm như củ khoai khúc sắn ăn cho đỡ đói lòng.

Ngay giờ phút này đây, còn nhiều người dân Việt Nam ở trong nước vẫn còn sống trong hoàn cảnh ấy.

( Thư người bạn viết từ Saigon cho biết anh rất buồn khi chung quanh anh người dân còn nghèo khổ nhếch nhác.

Hơn ba mươi năm rồi, đến bao giờ quê hương mới thoát khỏi hoàn cảnh khố khổ ấy?)

Hoa, tự nó, không có ý nghĩa gì. Ý nghĩa là do con người gán cho hoa.

Không phải vì người thấy đẹp mà hoa nở.

Hoa nở rồi người ta mới thấy đẹp mà yêu hoa.

Những người vợ tù đi thăm nuôi chồng trong trại tù cải tạo của người Cộng Sản nơi chốn rừng thẳm, có ai nhìn đâu mà hoa vẫn nở và tàn một mình thầm lặng. Tâm hồn trĩu nặng âu lo, làm sao nhìn thấy vẻ đẹp của những bông hoa dại mọc ven đường.

Nói như thế có nghĩa trong cuộc sống, đã có lúc người ta không dám nhìn nhìn đến cái đẹp nữa.

Đó là cách người ta chia xẻ đau thương. Âm thầm chia xẻ.

Hoa ơi, sao hoa buồn?

Má hồng hoen ố lệ hồng tuôn

Mờ đôi mắt sáng sầu che kín

Nhạt má đào tơ phiếm rũ mòn

Đời tạt gió sương tung tóc rối

Tình phai xuân cảm ủ tim non

Hồn tươi trăng sáng, đường muôn lối

Tội gì hoa héo hon?

Đọc bài thơ ấy của Tchya, một nhà thơ thời tiền chiến, chúng ta cũng không biết rõ ông đang nói với người hay nói với hoa? Đó là những lời an ủi hay than vãn? Nhưng điều chúng ta có thể cảm nhận được ngay là toàn thể bài thơ toát ra một nỗi buồn. Buồn nhưng đẹp.

Có phải chăng trong cái đẹp luôn ẩn chứa cái buồn hay ngược lại?

Vâng, trong đời sống, chẳng phải chỉ trong những thời kỳ bất hạnh, chúng ta mới không nghĩ đến hoa, nhớ đến hoa. Trong những ngày bình thường nhất, chúng ta cũng đôi lúc quên hẳn điều ấy.

May mắn thay, hoa vẫn còn đó, như một ân sủng của Thượng đế, như lời nhắc nhở dịu dàng: coi chừng chúng ta có thể đánh mất những nỗi vui nhỏ bé tràn đầy trong cõi trần gian mà con người thường coi là bể khổ này.

Hãy nhìn đời bằng ánh mắt thiện cảm, hãy học ở hoa cái đẹp để cư xử với nhau trong lặng lẽ, tử tế.

“Người từ quê cũ tới

Chắc biết nhiều chuyện cố hương?

Chỉ xin hỏi một điều thôi

-Hôm qua, ngoài song cửa

Bông mai lạnh lẽo đã nở chưa?”

Một bài thơ cổ đã viết như thế. Có bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu nỗi nhớ thương, khắc khoải gói ghém trong câu hỏi đó, trong cái bông mai nhỏ bé nở hay chưa nở đó?

Thơ văn và âm nhạc của chúng ta cũng tràn ngập hoa. Điều ấy chứng tỏ, dù cuộc sống của chúng ta có bị dập vùi nhiều nỗi, nhưng nhiều khi ân sủng của Thượng đế, chúng ta vẫn nhận được.

“Hoa trên muôn cây là môi tiếc thương đời

Trở lại trần gian nghe ngóng tin người”

Một thi sĩ của chúng ta đã chép như thế.

“Hoa nở để mà tàn

Trăng ttòn để mà khuyết

Bèo hợp để mà tan

Người gần để ly biệt”

Xuân Diệu đã viết như thế.

“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay”

Ca dao của chúng ta đã hát như thế.

Hoa đẹp và càng có vẻ đẹp hơn vì hoa mong manh, chóng tàn.

Có lẽ vì muốn cưỡng lại định luật thiên nhiên ấy nên con người đã chế ra hoa giả, hoa giấy. Thứ hoa không tàn, không héo nhưng có thể phai màu.

Hoa trong thơ và nhạc của chúng ta thì lúc nào cũng thơ mộng và lãng mạn và đẹp vĩnh cửu.

Hoàng Giác có “Mơ Hoa”. Phạm Duy có “Cành Hoa Trắng”. Dương Thiệu Tước có “ Ngọc Lan”, có “Kiếp Hoa”. Đoàn Chuẩn Từ Linh có “Cánh Hoa Duyên Kiếp”, Phạm Anh Dũng có Dạ Quỳnh Hương.Và còn rất nhiều nữa những bài hát xưa và nay viết về hoa…

Có một điều đáng ghi nhận, là, dù là thơ hay nhạc, thi sĩ và nhạc sĩ của chúng ta, không phải chỉ coi hoa là một cái gì đó, gần gũi với đời người, mà hình như hoa đã hòa lẫn hoa với người.

Tiếp nhận ân sủng của Thượng đế như thế, chúng ta cho là hình thức tiếp nhận cao nhất vậy.”



Viết xong những dòng này thì nắng ban mai đã lên cao, tỏa sáng khu vườn ngoài cửa sổ. Những bông hoa đào thắm hơn lác đác, nở trên những cành cây trơ trụi lá.

Xuân đang trở về. Trong tôi bao ước mơ, mộng tưởng.

Và anh, sau một chuyến đi dài chắc cũng sắp về nhà…



Trong kho tàng ca dao của dân tộc Việt, có biết bao nhiêu câu thơ trữ tình đầy hoa và nhạc.

Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em đi lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay

Mấy câu ca dao ấy như dắt chúng ta trở lại cái thuở quê hương còn đẹp như thần thoại. Hoa tầm xuân nở ra xanh biếc khắp mọi nơi. Tình là một bài thơ dù có kết thúc ở chỗ không biết đâu mà gỡ nhưng cũng không làm ai lo sợ. Người ta còn ước ao được sống trong đời như thế một lần.

Những sợi dây tơ hồng vấn vương ấy có thể leo mọc từ ca dao, qua thơ qua nhạc rồi cứ vươn dài ra buộc lấy người ta.

Một dân tộc được sinh ra trong một cuộc tình dài như thế, đẹp như thế, sống với nhau bằng tình sâu nghĩa nặng như thế, mà sao cứ mãi lận đận?



Hoa tự ngàn xưa hoa đẹp. Hoa tô điểm cho đời những sắc màu tuyệt diệu. Hoa thay cho lời nói yêu thương.

Tôi chợt nhớ đến lời tỏ tình của anh dành cho tôi. Nước mắt tôi nhòa nhạt nhưng câu thơ vẫn rõ rệt vì tôi đã từng thuộc, từng yêu từ khi chưa …“gặp lại” anh.







Hồn anh như bông cỏ may

một chiều cả gió bám đầy áo em

(Bông Cỏ May, Nguyễn Bính)



Tâm hồn anh giống như tôi, giản dị, yêu những gì tự nhiên, trong sáng.

Tôi rất yêu loài hoa cỏ dại. Mỗi lần bắt gặp những bông hoa nhỏ xíu màu vàng, màu lam tím tôi cứ bâng khuâng mãi. Hoa cỏ may đẹp, mong manh , óng ánh dưới ánh nắng mặt trời.

Tôi có một người bạn, anh cũng yêu loài hoa này và từng muốn đổi chữ “cả” thành chữ “lộng” nghe thơ hơn, mênh mang hơn. Nhưng theo tôi, ông nhà thơ Nguyễn Bính đã được gọi là nhà thơ chân quê thì chữ “cả” bỏ đi, câu thơ ấy sẽ là thơ…của anh (dành cho một người nào đó...).

Cũng có nhiều người gần gũi với hoa cỏ may như nhà thơ Xuân Quỳnh, tôi đã có lần đọc trên đài :

Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ

Không gian xao xuyến chuyển sang mùa

Tên mình ai gọi sau vòm lá

Lối cũ em về nay đã thu



Màu trắng bay đi cùng với gió

Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ

Đắng cay gửi lại bao mùa cũ

Thơ viết đôi dòng theo gió xa



Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may

Áo em sơ ý cỏ găm đầy

Lời yêu mỏng mảnh như màu khói

Ai biết lòng anh có đổi thay?



Tôi còn nhớ mãi khi Quỳnh Lưu cùng cộng tác với tôi trong một chương trình phát thanh cách đây đã mười lăm năm. Thấy nguyên một bài soạn chỉ nói về hoa cỏ may, Quỳnh Lưu…nản quá và cô nàng bỏ cả một buổi tối soạn thêm nhiều loài hoa khác.



Hoa bày tỏ tình yêu. Hoa thầm kín hẹn hò. Hoa thay lời bằng hữu. Hoa rực tươi ngày cưới. Hoa nhỏ lệ ngày tang. Hoa úa màu tình phụ. Hoa e ấp đợi chờ…

Ôi, làm sao đời sống con người có thể thiếu những đóa hoa?


Cali, mùa xuân 2011
Hoàng Thy Mai Thảo  
#12 Posted : Tuesday, September 6, 2011 5:17:44 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage
chị BH ơi ời ơi...
Piano đã sẵn sàng rồi, chỉ còn chờ người về thả những nốt trầm bổng trên phím thời gian Shhh
chị vào nhà mới theo link em gửi không được thì nhớ vào đường cổng chính hay sao đó .. ??
khổ quá !!


Ngọc Anh  
#13 Posted : Tuesday, November 22, 2011 1:36:44 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,733

Thanks: 5073 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)
UserPostedImage

Thương mến chúc chị Bích Huyền và đại gia đình Trưng Vương
Mùa Lễ Tạ Ơn đầy hạnh phước


Ngọc Anh
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
ConMuaNho  
#14 Posted : Thursday, November 24, 2011 12:18:53 PM(UTC)
ConMuaNho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 3,379
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 291 times
Was thanked: 2883 time(s) in 1342 post(s)
UserPostedImage

Kính chúc chị Bích Huyền và gia đình một mùa Lễ Tạ Ơn đầm ấm và phước hạnh ...
UserPostedImage



ConMuaNho  
#15 Posted : Thursday, November 24, 2011 12:21:52 PM(UTC)
ConMuaNho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 3,379
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 291 times
Was thanked: 2883 time(s) in 1342 post(s)
UserPostedImage

Joyeuse Thanksgiving chú Dũng và gia đình ...

Vi là con gái của ba Tường cho nên hông gọi chú bằng anh đưọc ...
UserPostedImage



Ngọc Anh  
#16 Posted : Sunday, December 18, 2011 7:15:29 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,733

Thanks: 5073 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)
UserPostedImage

Thân mến chúc chị Bích Huyền và đại gia đình mùa Giáng Sinh hạnh phúc và năm 2012 bình an sức khỏe
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
ConMuaNho  
#17 Posted : Saturday, January 21, 2012 3:44:05 PM(UTC)
ConMuaNho

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/21/2011(UTC)
Posts: 3,379
Woman
Location: Bordeaux

Thanks: 291 times
Was thanked: 2883 time(s) in 1342 post(s)
UserPostedImage


MỪNG XUÂN NHÂM THÌN
An khang - Thịnh vượng.
Vạn Sự Như Ý
UserPostedImage



Ngọc Anh  
#18 Posted : Saturday, May 12, 2012 6:11:50 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,733

Thanks: 5073 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)

UserPostedImage

Happy Mothers’Day Chị Bích Huyền và quí chị em vãng lai
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#19 Posted : Monday, September 17, 2012 12:04:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage

Thềm Xưa ... cũng có thể được coi như một món quà sinh nhật của chị Bích Huyền (!)

mới đấy .. mùa thu đã lại trở về ...
từ khi biết SN chị BH vào đúng ngày đầu tiên of mùa thu, HP được nhớ nhiều hơn về thời khắc giao mùa Hạ-Thu

UserPostedImage
thương mến chúc chị BH - sinh nhật vui tươi

Edited by user Monday, September 17, 2012 12:09:43 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#20 Posted : Wednesday, September 19, 2012 2:25:38 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage

CÓ BÍCH HUYỀN, TA LUÔN CÓ MỘT "MÙA CŨ ÊM VUI"...

by Dai Duong Dao on Tuesday, September 18, 2012 at 11:01am
·
- Đào Đại Dương -

Ta luôn tìm kiếm điều gì đó có thể biến mỗi ngày bình thường thành những ngày thật đẹp…Trong đời sống, có đôi lúc một ánh mắt, một nụ cười cũng làm chúng ta xao xuyến, có đôi khi một giọng nói, một giọng đọc cũng làm chúng ta bâng khuâng, cũng gieo vào lòng người những tình cảm thương yêu trìu mến, gần gũi và tin cậy.

Bích Huyền là một giọng nói, giọng đọc như thế. Giọng nói thật êm dịu, thật ấm áp và ngọt ngào qua các chương trình văn học nghệ thuật gửi đến thính giả trong và ngoài nước hàng tuần trên các làn sóng phát thanh trong suốt nhiều năm qua. “Câu chuyện thơ-nhạc” của đài tiếng nói Hoa Kỳ, hay “Một thoáng hương xưa” của đài Chân Trời Mới, những cái tên quen thuộc như tên người phụ trách các chương trình được trông đợi hàng đêm ấy. Bích Huyền lâu nay vẫn miệt mài gìn giữ cho “hương sắc Việt” không nhạt phai theo năm tháng, không chìm khuất trong lãng quên.

Hãy một lần tìm lên ngọn đồi cao, nhìn xuống thành phố bên dưới khi lên đèn – mỗi ngọn đèn là một căn nhà, một gia đình nho nhỏ! Ta tự hỏi họ đang làm gì trong căn nhà – Họ đang ăn cơm chiều? Hay là đang cùng nhau nghe một chương trình ra-đi-ô do Bích Huyền thực hiện… Tất cả những trạng thái, hình ảnh ấy đều đưa ta vào với cõi lòng bao dung hơn, độ lượng hơn…Ta đang có cái hạnh phúc của Người được trở về…Về quê xưa để ngồi lại dưới chân cầu sóng vỗ nhìn dòng sông đời mình êm đềm xuôi chảy. Về quê xưa để ngồi lại trên thềm nhà cũ, lắng nghe những cảm xúc, lắng nghe những thoáng hạnh phúc trong tiếng mưa rơi từng giọt, từng giọt trên những bậc thềm xưa. “Huế - Sài Gòn - Hà Nội”, những bài hát, bài thơ hoài niệm về một dĩ vãng xa xôi, một quê hương biền biệt, bao giờ cũng làm người ta bâng khuâng tiếc nhớ những ngày vui mơ hồ.

Kỷ niệm – với Bích Huyền – là một món quà bất ngờ…Qua Bích Huyền, qua “Thềm Xưa” và những “Thềm Xưa” – Ta như được lời nhắn nhủ ngọt ngào: Chỉ cần biết tiếp nhận tình Người, thì ở đâu, Ta cũng có thể sống sâu sắc, không lưu lạc nữa …

.oOOo.


Chúng tôi, từ Biển Media & Arts, trong một buổi chiều muộn, đã gặp gỡ và thực hiện cuộc phỏng vấn dưới đây với Bích Huyền. Xin trân trọng sẻ chia đến cùng quý vị:

Quay lại với hơn 15 năm gắn bó với VOA trong các chương trình "Một Thoáng Hương Xưa" và rồi "Câu Chuyện Thơ Nhạc" trên các đài Radio Bolsa 106.3 FM (tại Nam California) và Chân Trời Mới, hôm nay, một ngày tháng Chín, chớm Thu thôi, Bích Huyền thấy rằng những đóng góp văn hoá, phát thanh của mình đã đạt được những điều thuở ban đầu đưa ra chưa ạ? Lẽ yêu thương lớn nhất chắt lọc từ hơn 15 năm gắn bó với phát thanh của Bích Huyền là gì ạ?

Bích Huyền: Mong ước của Bích Huyền ở thuở ban đầu thật đơn giản, nhẹ nhàng: chỉ là đem niềm vui đến cho thính giả nguời Việt qua những bài nhạc, bài thơ va những câu chuyện văn học, nghệ thuật để phần nào quên đi gánh nặng cơm áo thường ngày, hoặc nỗi buồn tha hương của nguời Việt sống xa quê. Vâng, nhẹ nhàng như thế mà thôi nhưng không ngờ chương trình lại được đón nhận một cách nồng nhiệt ngay một vài tháng bắt đầu, Bích Huyền đã nhận được những lá thư từ Sài Gòn gửi về Đài. Khi đó thư từ Việt Nam gửi sang Mỹ giá cước phí đắt lắm. Nhưng nhiều thính giả đã góp tiền gửi chung một lá thư. Trong đó có những nhạc sĩ từng làm việc trong Đài Sàigon, đài Quân Đội ngày xưa (như nhạc sĩ Lê Đô). Còn ở quận Cam, thính giả chờ đợi đón nghe, thu vào tape. Khách phương xa về thăm nhờ người thân thu lại…Thật cảm động và cũng từ đó chăm chút nhiều hơn bằng cách nghiên cứu, tìm hiểu làm sao cho nội dung chương trình mỗi ngày một mới, một súc tích, nhất là một…quyến rũ.

Không gì quý hơn là tình cảm thuơng yêu của Bích Huyền đối với thính giả của mình, và tình cảm thương yêu mà Bích Huyền nhận được từ quý thính giả.

Sao chỉ là nhẹ nhàng thôi, 15 năm qua, nhiều chương trình thực hiện ở quá khứ, thính giả của Bích Huyền vẫn còn nhắc, hoặc "sống tìm"? Nhiều chi tiết, rất cặn kẽ, họ vẫn nhớ y nguyên... Vì sao vậy?

Bích Huyền: Những chủ đề Văn học nghệ thuật là những gì mà Bích Huyền yêu thích, phải nói là “say mê” từ thuở còn đi học, nắn nót chép từng câu thơ, câu văn hay và nâng niu gìn giữ đến tận bây giờ. Sau này lại dạy môn Văn nên càng yêu hơn và có nhiều giây phút sống trong dòng thơ dòng văn lãng mạn trữ tình. Có thể nói nhìn chung quanh đâu cũng thấy thơ văn…Và từ không gian đó khi ngồi trước micro “nói chuyện” cùng thính giả, Bích Huyền cảm thấy gần gũi, dễ dàng, có cảm tưởng như đang ngồi nói chuyện với nhau mà thôi. Rồi có lẽ vì nội dung của các chuơng trình này đáp ứng sự trông đợi và tâm tư tình cảm và nhất là kỷ niệm của quý thính giả, cũng như những mất mát to lớn kể từ cơn hồng thủy 1975, nay có người nhắc lại… Cho nên chương trình Thơ Nhạc mỗi đêm thứ sáu được thính giả Việt Nam -nhất là Sàigon trông đợi, đón nhận chăng?!


Điều gì trong cuộc sống, kích thích cảm xúc của Bích Huyền để vun xới tới những chủ đề của chương trình rồi thực hiện chúng? Có cần phải theo trào lưu khán giả, hoặc đặt hàng từ quý đài không ạ?

Bích Huyền: Song song với những giờ phụ trách về Văn Học Nghệ Thuật, Bích Huyền còn giữ phần Tin tức sinh hoạt Cộng đồng cũng như Phỏng vấn nhân vật cho nên hay đi ra ngoài nhiều. Qua đó có nhiều dịp tiếp xúc với nguời Việt ở quanh mình, cũng như đi Tiểu bang xa –theo lời mời của địa phương…cho nên Bích Huyền hiểu được phần nào những nhu cầu trong đời sống tinh thần của đồng hương mình, nhờ vậy Bích Huyền cố gắng… dọn ra các món ăn hợp khẩu vị để mong đáp ứng được phần nào các nhu cầu ấy. Nói "trào lưu" thì không hẳn đúng, nhưng là "tâm tư tình cảm" của nguời Việt mình. Về phỏng vấn nhân vật đôi khi theo yêu cầu của Đài (chẳng hạn những dịp bầu cử Tổng thống, dịp 911…) Riêng về Thơ Nhạc tuyệt đối không bao giờ có chuyện "đặt hàng" của bất cứ ai.

Văn - Nhạc - Thơ và đời sống - cứ quấn quýt với nhau trong các chương trình Bích Huyền thực hiện! Chúng là tất cả, là tất yếu đấy chứ! Này nhé, riêng với Nhạc thôi, xin hỏi, theo Bích Huyền: Âm nhạc có biên giới không? (Ý cháu muốn hỏi là giữa âm nhạc trước và sau 1975 hoặc âm nhạc hải ngoại và trong nước đấy ạ.)

Bích Huyền: Như chúng ta vẫn nghe nói: "Âm nhạc không biên giới". Âm nhạc nào đi vào lòng người, gọi là "chạm đến trái tim" người yêu nhạc; và hơn thế nữa, mang con nguời lại gần với nhau, thì âm nhạc đó là âm nhạc đích thực.

Thính giả "trong nước" đối thoại với các chương trình Bích Huyền thực hiện như thế nào ạ ? Hẳn, là người thực hiện và thâu nhận nhiều liên lạc, thư từ, emails - Bích Huyền chia sẻ vài nhận xét về tư duy họ, sự chấp nhận hay "chống đối" nếu có từ họ ạ ...Khán thính giả từ trong nước có bao giờ là lý do Bích Huyền cho ra đời thêm nhiều chủ đề chương trình nữa không?

Bích Huyền: Nhờ cái “không biên giới” đó mà trong quá khứ Bích Huyền nhận được nhiều những tape, CD nhạc ở khắp mọi nơi kể cả Hà Nội Sàigon và một số tỉnh nhỏ thuộc miền Nam (khi sự giao thiệp còn khó khăn hạn chế, thính giả vẫn cố gắng tìm cách gửi ra hải ngoại tới Bích Huyền, không như thời đại Internet bây giờ sự liên lạc dễ dàng nhanh chóng quá.)Và phải kể đến những món quà từ quê hương vượt đại dương, đặc sản mỗi miền khi nơi đây còn hiếm hoi. Điều thú vị nhất là Bích Huyền có quyền được phát trong chương trình của mình những bài tình ca rất hiếm, rất đẹp của các nhạc sĩ trong nước như Việt Anh, Lê Quang, Phú Quang, Trần Tiến…, phát thanh những tiếng hát ở trong nước mà không bị ngăn cấm hay chống đối như Lê Dung, Ánh Tuyết, Ngọc Tân…từ những năm đầu của thập niên 1990.

Nhờ cái “không biên giới” đó mà Bích Huyền được các bạn thính giả học sinh, sinh viên trong nước cảm nhận được lén lút chờ nghe trong ký túc xá sinh viên, có những em vẫn còn liên lạc cho đến bây giờ dù đã là Tiến sĩ, đi dạy, đi làm. Bích Huyền lại còn được các bậc thi sĩ, nhạc sĩ thời tiền chiến đón nghe và những lá thư “mang ơn” thơ văn của họ đã được sống lại khi Bích Huyền nhắc đến trong chương trình, những thơ văn bị chết một cách tức tưởi sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm mà cho đến sau 75 kéo dài đến đầu thập niên 1990 vẫn còn truyền miệng … Những câu hỏi phỏng vấn, câu trả lời phải viết tay, gửi qua bưu điện.
Ngày trước, khi chưa có internet, Bích Huyền nhận được không ít thư từ của thính giả gửi đến các chương trình mà Bích Huyền phụ trách. Về sau này, số thư ít đi, nhưng con số những e-mail gửi về Bích Huyền thì ngày càng nhiều hơn, có lẽ vì phương tiện liên lạc thuận tiện và dễ dàng hơn. Các chủ đề Bích Huyền thực hiện thường huớng về đối tượng thính giả ở cả trong và ngoài nước. Nói chung, thính giả đều bày tỏ lòng yêu quê hương, đất nước và yêu những nét đẹp văn hoá của dân tộc mình. Thật may là đến nay Bích Huyền chưa nhận được sự "chống đối" nào.

Bích Huyền yêu thương mùa (thời khắc) nào nhất trong năm? Vì sao thế nhỉ?

Bích Huyền: Mùa thu, vì là mùa gắn bó với nhiều kỷ niệm thuơng yêu của Bích Huyền. Và mùa thu, tự nó đã có nhiều nét đẹp mơ màng với màu sắc, đường nét của khung cảnh, bóng dáng thời gian và không gian, tất cả như toát ra một vẻ gì đó mơ hồ, lãng đãng …mơ mộng lắm. Đưa tâm hồn người trở về những giấc mộng và những kỷ niệm không phai. Mơ mộng đôi khi bị lên án là lãng mạn, là không thực tế. Nhưng thật ra đây cũng là một cách làm cho vơi đi những lo toan vất vả đời thường, những muộn phiền không thể không có, để rồi sau đó đứng lên tiếp tục cuộc hành trình, đời sống vui tươi và hy vọng đang chờ ta phía trước. Mùa thu là mùa có một vẻ gì đó rất xa vời, kín đáo; bình dị nhưng mênh mông, khiến cho ta có cảm tưởng mùa thu rất xưa, rất đẹp, mỗi năm lại trở về cho chúng ta cảm giác bình yên.

Lẽ ra, với tuổi êm đềm như lúc này, Bích Huyền như bao người khác sẽ thích thú làm những cuộc viễn du đó đây, sống với thiên nhiên và thưởng thức thắng cảnh. Rất hiếm thấy Bích Huyền du lịch, phải chăng, 15 năm hơn với những cuộc "viễn du" trên radio, trên các diễn đàn và độ reo rắc của những gì Bích Huyền góp nhặt, đã đủ và cần thiết cho nhu cầu chu du đó đây của mình rồi, thưa Bích Huyền?

Bích Huyền: Chuyện "du lịch" thì hầu hết ai cũng thích, và chắc là không bao giờ gọi là "đủ" được. Bích Huyền cũng thích được đi nhiều, thích có nhiều cơ hội tiếp xúc với đồng hương mình ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Mỗi nguời là một cuốn sách kỳ thú. Ngoài việc thuởng lãm những danh lam thắng cảnh, được tiếp xúc với nhiều nguời, tìm được nơi họ những nét hay, lạ… cũng là những chuyến du hành thú vị. Có lẽ vì khi thời gian còn làm việc, đi xa nhiều nên lúc sau này nghỉ hưu, tuổi không còn trẻ, ngại di chuyển, cho nên Bích Huyền không muốn đi du lịch nữa mà chỉ muốn ở nhà, đọc sách báo, nghe nhạc hay…lang thang trên internet, trên Facebook để mở mang kiến thức. Cách du lịch này cũng rất thú vị và hữu ích lắm, phải không?

Ngày quyết định chia tay, trong chương trình cuối trên VOA, góc trời phát thanh bình yên và đều đặn nhất của Bích Huyền, hẳn phải có rất nhiều "lưu luyến". Hãy cùng chúng tôi quay về và ôn lại thời gian đấy đi ạ! Chiều về hoặc khi đêm buông, Bích Huyền có thấy chạnh lòng không? Có nhớ không những "yêu thương hằng ngày" thuở ấy? Có khóc không ạ?

Bích Huyền: Với thính giả của các chương trinh Bích Huyền phụ trách, Bích Huyền xem như những người thân yêu. Có ai xa rời những người thân yêu của mình mà không lưu luyến, và không có những giây phút chạnh lòng nhớ về những nguời thân không còn ở gần bên mình. Nhớ quá thì cũng có khi khóc chứ, phải không? Vâng, không khóc sao được khi sau chương trình từ giã, hàng loạt email nhận được nói lên nỗi bàng hoàng, mất mát, có thính giả thật trẻ viết “Cả nhà cháu đã khóc khi bất ngờ nghe chương trình cuối “Lưu Luyến Chia Tay”. Không bao giờ Bích Huyền hết ngậm ngùi. Bây giờ ở trên các diễn đàn, trên Facebook… vẫn có nhiều người tiếc nuối, nhớ nhung. Và có nhiều người muốn giữ lại, tìm tòi hỏi thăm Bích Huyền về những nơi để lưu trữ lại những chương trình Thơ Nhạc ấy. Nghe nói có nơi họ còn …rao bán các chương trình Thơ Nhạc của Bích Huyền…

Vâng, rồi mọi người vẫn gìn giữ (ít nhất là trong ký ức họ) về những chương trình Bích Huyền thực hiện ở quá khứ, và hiện tại! Khi nhóm trẻ thuộc Biển Media & Arts bày tỏ ý định thực hiện chuỗi Audio albums "Thềm Xưa" - golden collections - của Bích Huyền, Cô có cảm thấy ấm lòng và bình yên không? Ít nhất là thế hệ sau mình, đã muốn lưu giữ lại những gìn giữ đã từng trong tay Cô...

Bích Huyền: Thật vui và thật cảm động. Vui vì những "câu chuyện thơ-nhạc" ấy và những "thoáng huơng xưa" ấy không mất đi; và hơn thế nữa, được những người trẻ của thế hệ tiếp nối yêu quý, trân trọng, và tìm mọi cách để gìn giữ. Đây có lẽ là một phần thưởng cao quý, một hạnh phúc lớn lao nhất mà Bích Huyền có được.

Được như thế, Bích Huyền không bao giờ quên những tinh hoa của văn học nghệ thuật mà Bích Huyền cảm nhận được, có được là từ các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, các giọng hát mà các Trung Tâm sản xuất đã ghi lại, phổ biến, các kỹ thuật viên của các đài đã thu thanh chương trình Thơ Nhạc, các đài phát thanh Bích Huyền được cộng tác phổ biến vang xa…Bích Huyền xin ghi khắc với tấm lòng biết ơn vô cùng. Sau hết là cảm ơn lòng yêu thương của thính giả bốn phương. Nếu không các văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, những Trung Tâm băng nhạc, những chuyên viên kỹ thuật, không có thính giả yêu thương đón nghe .v.v… thì “Câu chuyện Thơ Nhạc”chương trình “Một Thoáng Hương Xưa” sẽ không bao giờ có trong đời sống Bích Huyền. Việc làm của các bạn trẻ trong Biển Media & Arts rất đáng trân trọng. Cảm ơn các bạn. Rất ấm lòng và bình yên lắm!

Cho cô con gái yêu thương của Bích Huyền - Uyển Diễm và các cháu, các con trong/ngoài gia đình (hoặc xa hơn, cho thế hệ đi sau Cô) - Bích Huyền gửi gắm gì qua "Thềm Xưa" lần này? Làm sao để họ có thể có được những "lối cũ chẳng sao quên" đúng nghĩa như Bích Huyền đã đang có?

Bích Huyền: Mong rằng các con, các cháu của Bích Huyền, và giới trẻ hôm nay cố gắng gìn giữ những tài sản văn hóa của nước Việt, dân Việt, như các bạn trẻ của Bích Huyền đã dành ra bao nhiêu công sức và thì giờ, và nhất là tâm huyết để thực hiện các CD Thềm Xưa cũng trong mục đích và ý nghĩa tốt đẹp ấy. Kho tàng Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam giàu có và quý giá lắm! Hãy không ngừng tìm hiểu, tiếp thu và hấp thụ, rồi sẽ thấy cả một chân trời rộng mở vô cùng vô tận, nhất là chúng ta sẽ yêu người, yêu cuộc đời này hơn và muôn đời cảm ơn những người đã tạo ra cho chúng ta món ăn tinh thần ngọt ngào ấy.

Trân trọng cảm ơn Bích Huyền cho cuộc trò chuyện này ạ!

Tháng Chín, tháng của mùa thu bắt đầu, 2012
Đào Đại Dương

Edited by user Wednesday, September 19, 2012 2:38:28 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest
2 Pages12>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.