Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

84 Pages«<828384
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1661 Posted : Tuesday, February 5, 2019 2:35:07 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,299

Thanks: 6344 times
Was thanked: 2696 time(s) in 1897 post(s)

Thu Hằng - RFI - Thứ Ba, ngày 05 tháng 2 năm 2019

Chùa Việt qua ống kính nhiếp ảnh gia Pháp

UserPostedImage
Đường lên chùa Thiên Mụ, Huế, trích trong cuốn Pagodes Vietnam Pagoda.
photo by Nicolas Cornet

Ba tầng gác chuông chùa Keo (tỉnh Thái Bình) rêu phong và mềm mại với những đầu đao uốn cong ở mỗi góc mái, nét mờ sương ảo trong buổi sớm mai nhìn từ chùa Thiên Mụ (Huế) ra dòng sông Hương đến vẻ tĩnh lặng, linh thiêng trong chùa Ngọc Hoàng (Đa Kao), với ba ngôi chùa đặc trưng của mỗi miền, nhiếp ảnh gia người Pháp Nicolas Cornet mở đầu cuốn sách ảnh song ngữ Anh-Pháp, dầy 250 trang, giới thiệu về Chùa Việt Nam (Pagodes/Vietnam/Pagodas) (*).

« Đi dọc Việt Nam từ ba thập niên qua, tôi đã có thể nhìn thấy những thay đổi về cảnh quan, thành phố và nông thôn do kinh tế phát triển mạnh mẽ ». Giải thích trong lời giới thiệu, nhiếp ảnh gia Nicolas Cornet cho biết « rất quan tâm đến số phận của những ngôi chùa », dường như cũng bị cuốn theo dòng xoáy đổi mới. Chính điều này đã thôi thúc ông làm tập sách ảnh Chùa Việt Nam, theo giải thích của ông khi trả lời RFI tiếng Việt :

«Tôi muốn làm một cuốn sách mới về Việt Nam nói chung, từ Bắc xuống Nam. Tôi hình dung ra đó sẽ là một chuyến chu du thú vị. Rồi tôi nhớ lại một lần đi vãn cảnh chùa, khi tôi đến đó, ngôi chùa bị thay đổi hoàn toàn. Cột kèo cũ bị gác sang một bên và tôi thấy người ta đang thay vào đó là một ngôi chùa mới. Chính điều này đã thôi thúc tôi làm một dạng thống kê, một chuyến du ngoạn qua những ngôi chùa Việt để thấy được thực trạng của những ngôi chùa từ Bắc đến Nam ».

Đặc trưng của chùa ba miền

Đối tượng chính của cuốn sách là độc giả nước ngoài, vì thế bố cục cũng được chia thành năm chương, bắt đầu từ những ngôi chùa cổ (chùa Dâu, Bút Tháp, Tây Phương, Yên Tử...) đến những ngôi chùa có liên quan đến những thiền sư, nhà vua nổi tiếng của Việt Nam và những ngôi chùa ở miền Trung (chùa Từ Hiếu, Diệu Đế…) và miền Nam (chùa Giác Lâm, đền Thiên Hậu, chùa Bà Đen…). Kèm với hình ảnh về mỗi ngôi chùa là những nét chính giới thiệu lịch sử và chú thích về đồ thờ hoặc hoạt động trong chùa.

« Miền Bắc, miền Trung và miền Nam rất khác nhau. Với tôi, ở miền Bắc có rất nhiều chùa cổ. Không chỉ có mỗi đức Phật hiện diện, mà còn có nhiều thánhthần khác, những anh hùng... cũng được mời ngự trong chùa. Chùa ở miền Nam thì lại không như vậy, như trường hợp những ngôi chùa Khmer, và cũng khác với những ngôi đền của người Hoa, ở đó họ thờ thần là chính và thường thì đức Phật cũng có một vị trí nào đó.

Vì vậy, tôi muốn chỉ ra các nét đặc trưng của mỗi miền. Ví dụ như ở miền Trung, phong thủy và cân nhắc về sự hài hòa của ngôi chùa với phong cảnh là điều rất quan trọng.Với 250 trang sách ảnh nói về chùa, điều này giúp tôi giải thích chi tiết về những đặc trưng, một mặt về Phật Giáo, và mặt khác về truyền thống tôn thờ của người Việt, cũng như những nghi lễ thờ phượng trong chùa ».

Chùa trong ảnh của Nicolas Cornet hiện lên cổ kính và trầm mặc. Các chất liệu gỗ, gạch, ngói, đồng, đá làm nên ngôi chùa được nhấn chi tiết trong cuốn Chùa Việt Nam. Nicolas Cornet chụp từng họa tiết trong « Những kho báu dưới mái chùa », từ những tấm phù điêu gỗ được chạm trổ tinh vi thuật lại tích nhà Phật, đến hình ảnh trang trí trên những quả chuông đồng…

« Khi đi vãn cảnh chùa, người ta có cảm giác như đang tham quan một viện bảo tàng, ví dụ ở Pháp có bảo tàng Guimet (Bảo tàng Nghệ thuật châu Á, quận 16, Paris). Ở Việt Nam, trong một vài ngôi chùa có rất nhiều cổ vật, các cột trụ được chạm trổ tinh xảo, rất nhiều họa tiết nhỏ được khéo léo khắc trên tượng gỗ hoặc công trình bằng đá...

Tôi muốn cho thấy khía cạnh này vì khi nói về di sản của những ngôi chùa, người ta phải đề cập đến cả di sản nghệ thuật. Các ngôi chùa nơi mà dân làng coi là của mình, cũng lưu giữ một phần lớn nền văn hóa Việt Nam. Vì thế, điều quan trọng với tôi là cho thấy một cách chi tiết những đặc trưng của mỗi ngôi chùa ».

Ngoài mặt lịch sử nghệ thuật và di sản, chùa Việt dưới ống kính của nhiếp ảnh gia người Pháp sống động qua những hoạt động đời thường : một Phật tử thành tâm gõ mõ niệm kinh, đoàn người mang lễ vật lặng yên cầu nguyện, cảnh hóa vàng, rồi những chú tiểu học tập và chơi đùa trong sân chùa… Nicolas Cornet đã rất tinh ý nêu lên điểm khác biệt về mặt xã hội trong những ngôi chùa ở ba miền Việt Nam.

« Ở miền Bắc, dân làng có cảm giác là chùa thuộc về họ, vì thế họ tổ chức những cuộc họp, tập trung nhau lại để cùng cầu nguyện. Ở đây, có điều gì đó thiên về lễ lạt và cầu cúng. Ở miền Trung, có những ngôi chùa dành để giáo dục trẻ em. Trong chùa ở miền Nam có Phật chữa bệnh, có nghĩa là có nhiều bác sĩ khám bệnh với giá phải chăng ở chùa hoặc trong chùa có tủ thuốc y học truyền thống.

Vì thế, tôi muốn cho thấy mặt xã hội của những ngôi chùa, chứ không chỉ dừng ở khía cạnh di sản. Thường thì trong các cuốn sách trước đây của mình, tôi bị cuộc sống hàng ngày cuốn hút nên tôi muốn cho thấy người Việt sử dụng đền chùa như thế nào ».


Mong muốn bảo tồn chùa cổ

Nicolas Cornet coi mỗi chuyến đi của mình là một chuyến chu du, khám phá con người và đất nước mà ông đã gắn bó gần 30 năm. Với ông, chuyến xuyên Việt qua những ngôi chùa là chuyến đi đẹp nhất.

« Tôi bỏ rất nhiều thời gian và với tôi đó là một chuyến du ngoạn tuyệt vời mà ở cuối cuốn sách, tôi khuyến khích mọi người nên thử. Tôi lập danh sách những ngôi chùa mà tôi đã tham quan, có địa chỉ ghi rõ ràng, đánh dấu theo đúng tiếng Việt.

Với tôi, đây là một chuyến chu du lặng lẽ, đơn độc, nhưng điều đó không ngăn cản tôi gặp được rất nhiều người, có nhiều cuộc trao đổi khá thú vị. Đây cũng là cơ hội khá độc đáo để khám phá Việt Nam, được yên tĩnh một chút, tránh được ồn ào thành phố và là dịp để tôi tìm hiểu thêm về văn hóa, bản sắc Việt Nam ».

Quặn lòng trước nhiều thay đổi mà ông chứng kiến ở một số ngôi chùa, Nicolas Cornet muốn lưu lại hình ảnh về truyền thống, về những ngôi chùa cổ ở Việt Nam trong tập sách ảnh, trước khi những công trình này bị tác động bởi thời gian và hoạt động của con người. Không nhận là chuyên gia, nhưng ông đề xuất một số biện pháp bảo tồn đã được một số chùa áp dụng.

« Trong những ví dụ rất thiết thực mà tôi nêu trong sách, có trường hợp chùa Giác Lâm ở Sài Gòn - trước là một trong những ngôi chùa lớn nhất thuộc tỉnh Gia Định. Thay vì trùng tu, họ bảo tồn toàn bộ khu vực cổ của chùa và ngay bên cạnh đó, họ xây một ngôi chùa mới để đón nhiều Phật tử hơn. Đây là nơi tổ chức thuyết pháp, cầu nguyện, ăn chung vì có rất nhiều Phật tử hành hương và ngủ ngay tại chùa.

Kinh nghiệm này có thể là một ví dụ nên theo. Tôi không phải là một chuyên gia trùng tu chùa, tôi chỉ nêu lên thực trạng bằng cách thống kê di sản. Sau này, những người muốn bảo vệ di sản của đất nước, chính họ là người sẽ tìm ra cách thực hiện. Ở châu Âu, chúng tôi cũng mất rất nhiều thời gian để cải thiện đội ngũ chuyên cập nhật danh sách những di tích và thủ tục để gia cố, sửa chữa, trùng tu.

Ở Việt Nam, trường Viễn Đông Bác Cổ đã thu thập rất nhiều tài liệu cho đến thế kỷ XIX. Trường có mặt ở Cam Bốt và giúp trùng tu nhiều ngôi đền Khmer. Ngoài ra, còn có rất nhiều nhóm nghiên cứu Nhật Bản, Hàn Quốc mà người ta có thể kết hợp để trao đổi quan điểm, cùng nghiên cứu xem làm thế nào để trùng tu tốt nhất.

Với tôi, điều quan trọng là phải bảo tồn địa điểm mà người ta có thể tham quan để hiểu được văn hóa. Có nhiều việc phải làm và mỗi người có thể tìm ra được một giải pháp và chính người Việt phải tự đứng ra tìm các giải pháp bền vững cho tương lai ».

Đền chùa Việt Nam được làm chủ yếu bằng gỗ, nhưng vật liệu này lại dễ bị xuống cấp do tác động của mối mọt và khí hậu nóng ẩm. Từ hơn một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu Việt Nam và Pháp, trong đó có trường Viễn Đông Bác Cổ, đã tiến hành tu bổ và gia cố nhiều công trình. Kỹ thuật này dù tốn kém, nhưng giúp các công trình giữ lại được vẻ đẹp nguyên thủy và giá trị văn hóa. Nhiếp ảnh gia người Pháp hy vọng, người Việt và người nước ngoài yêu Việt Nam cùng chung tay để truyền lại cho con cháu di sản văn hóa được bảo quản trong điều kiện tốt nhất.

***

(*) Nicolas Cornet, Pagodes/Vietnam/Pagodas, Vietnam News Agency - Publishing House, 2018, 250 trang.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1662 Posted : Wednesday, February 13, 2019 2:28:17 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,299

Thanks: 6344 times
Was thanked: 2696 time(s) in 1897 post(s)
UserPostedImage

Dòng sông Phú Xuân Q7 SG nhìn từ tầng 31 Era Town.

FB - 13/2/2019 ? trang MSCĐ by Nguyen Tam

hongvulannhi  
#1663 Posted : Thursday, February 14, 2019 9:27:59 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5195 time(s) in 3451 post(s)

UserPostedImage

Chúc các bạn và độc giả thầm lặng, hưởng một ngày Tình Yêu trọn vẹn

HONG VU LAN NHI & Team LN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/14/2019(UTC)
hongvulannhi  
#1664 Posted : Wednesday, February 20, 2019 1:28:36 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,277

Thanks: 2411 times
Was thanked: 5195 time(s) in 3451 post(s)


Tản Mạn Về “Con Heo”
Trong Ca Dao Việt Nam Nhân Năm “Hợi”


Lê Ngọc Châu
01/22/2019

UserPostedImage

Lời phi lộ: Bài này đã được phổ biến năm 2007, nhân Tết Đinh Hợi. Thắm thoát 12 năm trôi qua, đúng một giáp. Năm 2019 là Tết Kỷ Hợi, để phù hợp với thời gian người viết hiệu đính đề bài và năm tháng, giới thiệu lại cùng độc giả. Mong hoan hỷ cho mọi sự. Đa tạ (LNC).

Trong khuôn khổ bài này người viết chỉ muốn giới thiệu đến quí độc giả một vài nét đặc thù của dân tộc Việt Nam chúng ta, đó là Ca Dao, đặc biệt những câu ca dao liên quan đến con giáp “Hợi” hay “Heo” nhân dịp Tết Kỷ Hợi 2019.
Nhưng Ca Dao là gì? Theo định nghĩa trong Tập “Tục Ngữ, Thành Ngữ Ca Dao và Dân Ca Việt Nam” của cụ Trần Ngọc Ngải, Chicago, Illinois, USA 1997 thì Ca Dao là những câu hát ngắn ghép thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian. Có thể nói Ca dao là văn chương dân gian, rất bình dân và trải qua nhiều thế hệ lịch sử, đã được sinh ra trong những giai đoạn xã hội từ ngàn xưa và lưu truyền cho đến ngày nay. Rất ít người biết rõ được ai là tác giả của ca dao, tuy nhiên ca dao ít nhiều cũng đã là vũ khí chống lại những xâm nhập văn hóa trải qua sự đô hộ của nhiều thời đại. Vì vậy cũng có thể nói rằng Ca Dao Việt Nam đã góp phần không ít trên phương diện bảo tồn nền văn hóa dân tộc Việt. Những câu ca dao tục ngữ, các lời hò, hát dặm hay những bài vè thường đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau như xã hội, gia đình, tín ngưỡng, tình yêu, thiên nhiên v.v… Do đó, ca dao Việt Nam là một kho tàng vô giá, là nền văn hóa căn bản của dân tộc, làm giàu thêm tiếng Việt, vì thế chúng ta nên cố gắng và trang trọng gìn giữ nó. Cho nên khi nói đến ca dao là chúng ta muốn nói đến niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mình.

Như đã nói ở trên, ca dao tục ngữ thường đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, đặc biệt là xã hội, gia đình và tình yêu. Và xã hội nào cũng vậy, có kẻ giàu người nghèo. Đáng buồn là dân nghèo thì chiếm đa số. Để diễn tả sự chênh lệch của hai giai cấp này, trong đó người ta lấy con “Heo” hay “Lợn” làm biểu tượng cho sự giàu có sung túc qua các lễ hội, đám đình vì thế dân gian Việt đã đặt ra bài ca dao sau đây:

“Anh là con trai nhà nghèo
Nàng mà thách thế anh liều anh lo
Cưới em anh nghĩ cũng lo
Con lợn chẳng có, con bò thì không
Tiền gạo chẳng có một đồng
Thiên hạ hàng xứ cũng không đỡ đần
Sớm mai sang hiệu cầm khăn
Cầm được đồng bạc để dành cưới em…”

Cũng có những câu ca dao khen tặng sự khéo léo, chăn nuôi quanh năm hay làm ăn thành công của những gia đình nông dân:

“Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn
Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm.”

Hay: “Giàu lợn nái, lãi gà con”

Nuôi lợn để đem bán là một sinh kế của giới nông dân Việt. Lắm khi chẳng được gì nên từ đó cũng nẩy sinh ra những câu ca dao đùa cợt cảnh mấy bà gánh heo đi rồi lại gánh về:

“Ba bà đi bán lợn con
Bán đi chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn sề
Bán đi chẳng được chạy về lon ton”

Người đàn bà Á Châu bản tánh vốn đảm đương. Đàn bà Việt Nam xưa nay giỏi trên nhiều phương diện, nhất là lo cho gia đình chồng con. Để diễn tả sự khó nhọc, bổn phận làm vợ và khả năng đa diện của người đàn bà Việt, ca dao có câu:

“Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn đói, con khóc, chồng đòi tòm tem
Bây giờ lửa đã cháy rồi
Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm”

Hoặc để ám chỉ sự giàu có của ai đó:

“Cồng cộc bắt cá dưới bàu
Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo”

Cảnh mẹ chồng khắc nghiệt với nàng dâu thời phong kiến và cho đến bây giờ đã làm cho nhiều cuộc tình tan vỡ hay vợ chồng lục đục. Dân Việt chúng ta đã lồng hình ảnh này vào ca dao, tuy nhẹ nhàng nhưng rất phong phú qua lối diễn đạt:

“Bố chồng là lông con lợn
Mẹ chồng như tượng mới tô,
Nàng dâu mới về là bồ chịu chửi”

Dân quê Việt Nam hầu hết nhà nào cũng nuôi gia súc, trâu, bò, gà, vịt, heo… Heo, người ta cố nuôi cho mập, hy vọng chúng đẻ nhiều heo con đem bán lấy tiền nuôi dưỡng gia đình con cái. Con heo thường ăn xong nằm trong chuồng nên ca dao đã tả hình ảnh chú lợn như sau:

“Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ụt ịt (ủn ỉn) mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà (Mẹ) ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”

Ai có gia đình con cái đều biết rõ sự khó khăn khi nuôi dưỡng con cái. Cách dạy con trai hay gái thường khác nhau. Đề cập đến phương diện này, ca dao Việt cũng đã diễn tả cảnh nuôi đứa con trai mà không dạy thì cũng giống như nuôi một con lừa. Còn nuôi đứa con gái mà không dạy, thì cũng giống như nuôi một con lợn:

“Dưỡng nam bất giáo như dưỡng lư
Dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư”

Nói lên sự thiếu thật thà của con buôn, dân gian cũng có câu:

“Treo đầu heo, bán thịt chó.”

Lắm khi cha mẹ phải vắng nhà, giao cho con trẻ trông coi. Khi về nhà thì hỡi ơi, nhiều chuyện bất ngờ xảy ra và ca dao Việt đã ví von kể lại chuyện này, nhẹ nhàng nhưng phản ảnh rõ nét sự ngây thơ của trẻ con:

“Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà.
Bao nhiêu củ rím củ hà
Để cho con lợn con gà nó ăn.”

Nhằm trách khéo những người mẹ nghèo muốn con gái mình lấy chồng giàu nên (ngày xưa) đã ép duyên con và đưa đến những chuyện không may như sau:

“Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng. (tôi xin phép thêm Dollars, Mac Dang thêm cho vui))
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ lườm mẹ nguýt mẹ bưng ngay vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.”

Cảnh ép duyên đôi khi mang lại một cuộc sống buồn, không mấy hạnh phúc đối với người đàn bà Việt tại thôn quê nói riêng. Nhiều người đã mượn ca dao để than trách số phận hẩm hiu của mình:

“Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay
Tối về đã mấy năm nay
Buồn riêng thì có, vui rày thì không.
Ngày thời vất vả ngoài đồng
Tối về thời lại nằm không một mình.
Có đêm thức suốt năm canh
Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò.”

(Quê tôi, hồi tản cư, có người con trai 10 tuổi con ông Bá hộ, lấy cô gái đã khoảng 19, để về đi làm ruộng, lúc đó tôi 10 tuổi, học lớp Nhất tiểu học 1949, chưa biết gì, nhưng nay thấy thương cho cái tục tảo hôn này) Xin lỗi. MD thêm cho rõ nghiã.

Thay vì nói rõ ra mình muốn gì, ca dao Việt thâm thúy hơn mượn hình ảnh con lợn để diễn tả ý nghĩ thầm kín đó, nên có câu:

“Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon”

Cũng có câu ca dao trách khéo sự thiên vị như:

“Mèo theo thịt mỡ ồn ào
Cọp tha con lợn thì nào thấy chi!”

Tỏ tình là cả một nghệ thuật, thông thường mấy chàng văn hoa bóng bẩy nhưng cũng có người mượn con lợn làm phương tiện hầu đạt được cứu cánh. Hãy nghe anh chàng ngố tìm cách làm quen, bày tỏ:

“Cô kia đi chợ Hà Đông
Để anh kết nghĩa vợ chồng cùng đi
Anh đi chưa biết mua gì
Hay mua con lợn phòng khi cheo làng”

Đặc biệt ca dao cũng là phương tiện để những chàng trai tìm cách tán tỉnh đàn bà, thiếu nữ. Nhiều anh chàng tỏ tình kín đáo, khéo nói:

“Tình cờ bắt gặp nàng đây
Mượn cắt cái áo, mượn may cái quần
May xong anh trả tiền công
Bao giờ lấy chồng anh đỡ vốn cho
Anh giúp một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm…
Anh giúp đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đáp đôi tằm em đeo
Anh giúp quan tám tiền cheo…”

Hoặc than thân trách phận vì không cưới được người yêu giống như cảnh con heo bị chủ bỏ đói để rồi mừng rỡ khi ước mơ thành sự thật:

“Yêu nhau chả lấy được nhau
Con lợn bỏ đói buồng cau bỏ già
Bao giờ sum họp một nhà
Con lợn lại béo cau già lại non.”

Không những chỉ nhẫn nại thôi mà người đàn bà Việt hy sinh cho chồng con. Lắm khi vì thương chồng phải gánh chịu nhiều cay đắng cho nên ca dao đã để lại những câu:

“Bởi vì con heo nên phải đèo khúc chuối,
Bởi vì con muỗi nên phải thả màn loan,
Bởi vì chàng nên thiếp phải chịu đòn oan
Phụ mẫu nhà đay nghiến, thế gian chê cười.”

Người Việt mình, nhất là nữ giới thường mê tín dị đoan. Tết về hay đi xem bói xin quẻ. Để mỉa mai mấy ông thầy bói dỏm, ca dao Việt không nhân nhượng:

“Bói cho một quẻ trong nhà
Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên”

Và để kết thúc bài này, người viết xin nhắc lại vài dữ kiện lịch sử liên quan đến năm Hợi, biểu tượng cho con heo ủn ỉn.

Vào Năm Tân Hợi 1611, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã lấy phần đất của Chiêm Thành lập ra phủ Phú Yên, rồi chia ra làm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hòa.

Năm Tân Hợi 1851, nhà Nguyễn mở khoa thi hương ở An Nhơn thuộc tỉnh Bình Định, nên về sau mới có câu:

“An Nhơn có tháp Mò O
Có chùa Thập Tháp có đò Trường Thi”

Riêng năm Đinh Hợi (1645) quân nhà Trịnh Tráng đem đại binh sang đánh Quảng Đông thu hồi đất cũ, mấy vùng quân ta từng làm chủ.

Tết năm 2007 là Tết Đinh Hợi, 12 năm trôi qua thật nhanh. Năm 2019 là Tết Kỷ Hợi, không biết việc gì sẽ xảy ra cho quê hương Việt Nam?. Mặc dầu đồng hương chúng ta (đôi khi vì hoàn cảnh) tuy vẫn hằng mang tâm trạng:

“Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về”

nhưng khi biết rằng tại quê nhà hiện nay người dân vẫn còn sống dưới ách độc tài kềm kẹp của chế độ CSVN nên có rất nhiều người Việt tị nạn cộng sản tuy luôn trăn trở về quê hương, đất nước nhưng cũng đã dằn lòng, vượt qua tình cảm riêng tư chấp nhận kiếp sống lưu vong, ăn Tết tha hương:

“Dân ta khổ sở trăm bề
Cộng sản còn đó có về được chăng!”

Ca dao hay tục ngữ truyền khẩu về con “Heo” thì còn rất nhiều nhưng người viết chỉ trích một số ít ca dao trên đây, rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ gói ghém ý nghĩa sâu sắc của ca dao, có thể nói là căn bản của nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

Lê Ngọc Châu

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (3)
84 Pages«<828384
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.