Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

85 Pages«<8182838485>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1641 Posted : Friday, December 7, 2018 9:40:59 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,935

Thanks: 6571 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

trong hình này, HTMT lại thích nhất cái lu sành chứa nước - rất Việt Nam thời xưa..
chứ mà nước máy bể xi măng .. mất Vẻ Đẹp quê VN ?
cô/chú mèo tam thể cũng quá dễ thương, khát nước biết đu lên cái lu để tớp nước uống ... giỏi quá !!

(ảnh trong FB - trang MSCĐ / 06.12.2018)

Edited by user Friday, December 7, 2018 9:42:37 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
ngocthe on 12/7/2018(UTC)
ngocthe  
#1642 Posted : Friday, December 7, 2018 9:56:03 AM(UTC)
ngocthe

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 294

Thanks: 63 times
Was thanked: 315 time(s) in 260 post(s)
Mèo tam thể dễ thương ... nhưng sao NT vẫn thích nuôi chó hơn , MT ạ !!
thanks 1 user thanked ngocthe for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 12/8/2018(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1643 Posted : Saturday, December 8, 2018 3:01:16 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,935

Thanks: 6571 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

UserPostedImage

Đà Lạt... Điền sơn gia trang

FB - Kim Loan Nguyen

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1644 Posted : Monday, December 10, 2018 3:29:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,935

Thanks: 6571 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)


UserPostedImage
Cột gạch Tháp Bà Nha trang

(posted 10/12/2018 by Phuong Tran Nguyen Phuong‎ / FB - MÀU SẮC CUỘC ĐỜI - THE COLOURS OF LIFE)

hongvulannhi  
#1645 Posted : Wednesday, December 12, 2018 12:47:14 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)
Chè củ năng đường phèn


December 11, 2018

UserPostedImage

Chè củ năng (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Người hướng dẫn: Nhân Tâm

Nguyên liệu:

-1 lon củ năng 450 g (có thể dùng củ năng tươi)

-200 g đường phèn

-1 chén bột năng

-1 lon nước cốt dừa

UserPostedImage

Cách làm:

-Củ năng rửa sạch, cắt nhỏ như hạt lựu

-Chia củ năng thành 3 phần đều nhau: 1 phần không pha màu, 1 phần pha màu hồng đỏ, 1 phần pha màu xanh lá dứa

UserPostedImage

-Cho vào mỗi tô củ năng khoảng 3 muỗng canh bột năng. Trộn đều để bột áo hết những miếng củ năng.

UserPostedImage

-Bắt nồi nước nấu sôi. Khi nước sôi, lần lượt cho từng tô củ năng vào luộc (nên luộc màu trắng trước, rồi xanh, màu đỏ luộc sau cùng)

UserPostedImage

-Khi củ năng chín sẽ nổi lên trên, khi đó vớt ra thả vào thau nước đá lạnh.

UserPostedImage

*Nước đường:

-Cho một lít nước vào nồi + 200g đường phèn. Nấu cho tan đường.

UserPostedImage

-Cho 1 muỗng canh bột năng vào chén hòa cùng ít nước lạnh. Cho vào nồi nước đường đang sôi, quậy đều.

-Cho tiếp củ năng đã luộc chín vào nồi nước đường. Trộn đều. Tắt bếp.

UserPostedImage

*Nước dừa:

-Cho 1 lon nước cốt dừa 400 ml vào nồi + 2 muỗng cà phê đường + ½ muỗng cà phê muối + 1 muỗng cà phê bột năng. Quậy đều đến khi sôi. Tắt bếp.

UserPostedImage

Chè củ năng ăn cùng nước cốt dừa và có chút mè rang rắc lên trên. Chè củ năng ăn giòn, ngọt, thanh, và có nhiều màu sắc bắt mắt. Có thể dùng cách luộc củ năng này để làm món chè Thái hay sương sa hạt lựu.

Edited by user Wednesday, December 12, 2018 12:52:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1646 Posted : Wednesday, December 12, 2018 11:45:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

CẢI THÌA XÀO CHAY

( nay rằm đãi các bạn món chay nhé )

Cải thìa rửa sạch đợi khô
Nấm rơm cắt bỏ chân vừa chẻ đôi...
Đông cô ngâm nước xong rồi
Sắc dao thái nhỏ cho tơi miếng vừa

Bắp non tước vỏ bỏ sơ
Bông rau cải trắng tách cho nhỏ mình
Rồi ngâm nước muối cho xinh
Cà rốt gọt vỏ xong mình tỉa bông

Nước sôi cải nấm luộc chung
Vớt ra chờ ráo mình dùng chảo thôi
Dầu hào đường muối đủ rồi
Bột nêm chay nhé kẻo thời không xong

Nước đậu nành , Hành boa - rô băm
Khuấy đều sủi bọt lăn tăn xong thì
Cho thêm bột bắp vào đi
Để cho nước sốt một khi sánh vào

Cải thìa cà rốt nấm hao
Mang bày ra đĩa rưới vào sốt kia
Nấm rơm xào với cải thìa
Lòng chay tâm tịnh hồn chia đất trời

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1647 Posted : Monday, December 17, 2018 11:38:34 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)
ĐẤT HÀ TIÊN VỚI HỌ MẠC VÀ HỌ LÂM


NGUYỄN HIẾN LÊ


ĐẤT HÀ TIÊN

Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu Long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu Long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không nhớ rõ là năm một ngàn chín trăm ba mươi mấy, người ta đào được những đồng tiền vàng La Mã ở Óc Eo (gần chân núi Ba Thê), vậy thì khoảng đầu công nguyên, biển vô tới Óc Eo hoặc cách Óc Eo không bao xa, chỉ vài ba cây số. Hồi đó các núi ở Hà Tiên, Ba Hòn, Hòn Trẹm chắc còn nằm ở ngoài biển, không biết từ thế kỷ thứ mấy, miền ấy mới được bồi xong. Ngày nay ai đi ngang qua Ba Hòn, còn thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch Giá – Hà Tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt đất khoảng một thước. Vậy thì vùng bờ biển ở đó chắc cũng đã dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù sa bồi.

UserPostedImage

Dãy núi từ Hà Tiên tới Hòn Trẹm ấy hiện nay nằm sát hoặc gần bờ biển, nhìn ra các hòn ngoài khơi: hòn Phụ tử, hòn Heo, hòn Phú Quốc...và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát (xưa là rừng, nay vẫn là còn đất phèn), xa xa vài chục cây số mới có dãy núi Thất Sơn. Như vậy Hà Tiên là một miền hẻo lánh ở nơi chân trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con đường trải đá Rạch Giá Hà Tiên thì thị trấn ấy gần như cô lập với các miền chung quanh: muốn xuống Rạch Giá phải dùng đường biển, mất nửa ngày, mà muốn vô Châu Đốc thì phải đi vòng lên biên giới, mượn một con đường trên phần đất Cao Miên.

Nó đã cô lập mà lại kỳ đặc, không giống một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn Văn Học Hà Tiên(1) đã tả nó như sau:

“Ở đó (Hà Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi ở Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha Trang, Long Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.”

Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng, muốn nghênh ngang một cõi.

HỌ MẠC

Kế đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ 17. Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận chủ quyền Mãn Thanh, bỏ quê hương mà dắt bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng Trần và Dương ghé vào Quảng Nam (1679) qui phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm đất Đồng Nai và Mỹ Tho để tự kinh lý lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh vượng là Cù Lao Phố(Biên Hòa); còn Mạc thì tiến xa hơn, tới địa phận Chân Lạp (cũng gọi là Giản Phố trại) – tức Cao Miên, tức Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Hòa trong Hà Tiên Mạc Thị Thế Hệ Khảo – Hoa Cương học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan lớn Chân Lạp năm 1700 xin vua Chân Lạp ra khai khẩn miền Banteay Meas, tức Mang Khảm, mới đầu mở sòng bạc, sau qui tụ các người Hoa, Việt, Miên lập ấp, mở hải khẩu, thành lập một tiểu quốc nhưng thường bị giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mang Khảm từ đó đổi tên là Hà Tiên, thành một cửa ngõ Chân Lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng hầu hết các sản phẩm Chân Lạp.

Nếu chỉ là một hải khẩu thì dù tàu ghe tấp nập, cũng chưa có gì đặc biệt. Điều đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu quốc đó chỉ trong nửa thế kỷ đã thành “một văn hiến quốc” ở giữa một miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải ngạc nhiên.

Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà Tiên năm 1735, thì ngay năm sau, 1736, thành lập Chiêu Anh các, một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ Khổng Tử. Ông cha Trung Hoa, mẹ Việt (3), rất đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân, đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là người Việt còn thì là người Trung Hoa, người Minh Hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc từ Gia Định tới, hoặc từ Quảng Đông, Phúc Kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái.

Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ. Ba tập truyện này đã lạc con ba tập thơ thì có lẽ là:

_Tập Hà Tiên Thập Vịnh gồm 320 bài (4), toàn bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích chủ xướng, còn các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các họa.

_Tập Hà Tiên Thập Cảnh Khúc Vịnh bằng thơ Nôm của Mạc Thiên Tích.

_Tập Minh Bột Di Ngư Thi Thảo gồm những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.

Hai tập truyện trên còn truyền được trọn vẹn, tập cuối nay chỉ còn sót được vài bài.

Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay từ thời đó, và Lê Quí Đôn trong tập Phủ Biên Tạp Lục (1776) đoạn chép về họ Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”, rồi trong Kiến Văn Tiểu Lục lại khen: “Văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất là những bài thơ cả Hán lẫn Nôm của Mạc Thiên Tích. Ngay những người ngoại quốc cũng nhận Hà Tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ dòng Franciscan bảo: “Trong xứ (Hà Tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học được. Những người Trung Hoa sang đây mà có khả năng văn học thời mới được mời đến đó dạy học” (5).

Còn sách Văn Hiến Thông Khảo đời Thanh vào năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà Tiên) trong văn học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện nhỏ”(6).

Trong khi đó thì đừng nói chi Gia Định, ngay ở Thuận Hóa cũng chẳng có một thi đàn nào cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử tưởng tượng một nhóm người di cư qua một nước tuy là đồng văn nhưng vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi hẻo lánh nhất, mà chỉ nửa thế kỷ sau, làm cho nơi đó trở thành một đất văn bậc nhất trong cõi góp công vào văn học xứ đó bằng chữ của mình và bằng cả thổ ngữ, thì có lạ không chứ?

Tiếc thay nền văn học Hà Tiên bừng lên rực rỡ được 31 năm; đến năm 1771, Hà Tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy về Gia Định. Chiêu Anh các tan rã, sách vở bị thiêu hủy, năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn, qua Xiêm, và hai năm sau, 1780 ông tuẫn tiết ở kinh đô Xiêm; từ đó Hà Tiên cũng cùng với họ Mạc mà suy tàn.

HỌ LÂM

Trong một trăm rưỡi năm, Hà Tiên thiêm thiếp ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ còn là một thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhớ tới. Tới khoảng 1926-1928 nó mới được nhắc nhở, vì là quê hương của Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới cầm bút mà đã nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh Phượng (tức Trác Chi lệ ký tập – Trác Chi là tên tự của ông, Đông Hồ là tên hiệu), và bài phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học xá, trường đầu tiên trong nước chuyên dạy tiếng Việt.

Ngày nay tên Đông Hồ đã quá quen thuộc, phải lùi lại thời đó, trên bốn chục năm trước, mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn được coi là trí thức cũng phải đọc Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại ở Hà Tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi, chẳng có bằng cấp thành tích gì cả mà chen chân được vào cái “hội” đó thì quả là phi thường. Chẳng những chen chân lại còn được sắp vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du ký. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như của một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam thời đó.

Sở trường ấy của ông, khoảng mười năm nay một số người chê là sở đoản. Trong văn chương cũng như trong mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa rồi, nghĩa là trào lưu văn học bình dân, giữ màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng hạn như văn Hồ Biểu Chánh.

Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới rồi trong cuốn Văn Học Hà Tiên, ông gián tiếp trả lời như sau:

“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc(...) Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong tráo sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổi: Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934), rồi đến báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940), báo Tiếng Dân ở Huế (1927) (...) Và từ năm 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn già từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở Sài Gòn, như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn v.v... Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỷ này (...) Từ đó văn học miền Nam dần dần khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính cách đặc thù địa phương mà hòa đồng, thống nhất với văn học dân tộc hai miền Trung, Bắc.”

Vậy chủ trương của ông thật rõ rệt: phụng sự văn hóa dân tộc chứ không phải văn học địa phương, để thống nhất ba miền. Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ hồi nào tôi không rõ, nhưng chắc là sớm lắm – là nhờ ông sinh ở Hà Tiên trong một gia đình nho học.

Hà Tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu ảnh hưởng đậm của lưu dân Trung Hoa. Sách Văn Hiến Thông Khảo (do Hãng Nguyên trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà Tiên thời Mạc Thiên đến Hà Tiên, để độc giả thấy rõ hai ông bà đã đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rốn được những gì. Phần đó là phần hai ông bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai để ý tới.

Ở trên tôi đã dẫn một đoạn Đông Hồ tả Hà Tiên, và độc giả đã thấy lòng yêu quê hương của ông ra sao, ông cho Hà Tiên gồm đủ các thắng cảnh trong nước, không khác gì một Việt Nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà dễ thưởng ngoạn.

Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông Hồ đã giới thiệu quê hương với độc giả Nam Phong. Năm 1926 ông viết thêm Hà Tiên Mạc Thị Sử (Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần Đình Quang hồi đầu thế kỷ. Ba năm sau ông can đảm nhận rằng “vì sở học còn kém mà không tìm được bản chánh gia phả họ Mạc” nên thiên đó “còn khiếm khuyết, sai suyển rất nhiều, không thể để lầm cho người đời sau được”, và ông viết lại, Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng lại. Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thế Dinh, tự là Thân Vi, viết năm 1818. Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có nhiều chỗ cần phải xét lại, nhất là về địa danh, niên đại.

Đông Hồ không dịch nguyên văn, chỉ dùng để viết lại, chưa ra chương tiết, sau khi đã “tham khảo thêm ở các sách Nam sử và ngoại truyện” tăng bổ những chỗ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm. Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh Nhân Nước Nhà của Đào Văn Hội. Sau khi lên Sài Gòn rồi, ông kiếm thêm được nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt, như bộ Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, cuốn Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà Tiên, Journal asiatique 1952 của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kỹ lưỡng cuốn Mạc Thị Gia Phả đã kể trên, của Trần Kinh Hòa, Văn Hóa Á Châu số 7 tháng 10 năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa tập Hà Tiên Mạc Thị Sử nhưng chưa kịp làm thì đã qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và thận trọng. Mặc dầu chưa sửa lại, tập đó hiện nay vẫn còn tạm dùng được.

Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú Quốc, ông được thăm gần hết cảnh đẹp và di tích trên đảo, về viết một thiên du ký rất đầy đủ, đăng trong Nam Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm Đảo Phú Quốc. Ông nhận xét, ghi chép tỉ mỉ, mà văn du ký của ông tươi đẹp, nên ngày nay đọc lại còn thấy thú.

Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà Tiên như Bơi Thuyền chơi Đông Hồ, Đông Hồ cảnh sớm, Lên chơi núi Đại Tô Châu, Chơi Tô Châu, Cảnh trăng trên Đông Hồ... đáng để ý hơn cả là bài ký Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi Châu Nham tức núi Đá Dựng cách chợ Hà Tiên sáu bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn Thạch động. Và bài Phú Đông Hồ rất nổi tiếng. Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập nhan đề là Hà Tiên Thập Cảnh và Đường vào Hà Tiên (Bốn Phương 1969). Tập này mỏng, nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả biết rõ về mười thắng cảnh Hà Tiên. Về mỗi cảnh, Đông Hồ dẫn một bài thơ Nôm, thất ngôn đường luật của Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh, kể tích xưa cho ta hiểu rõ thêm. Cuối tập có mươi trang tả bốn năm con đường đưa vào Hà Tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.

Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà Tiên, thu thập tất cả những sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà Tiên được trên mười tập... Tôi đã thấy ông ghi chú kỹ lưỡng từng tài liệu một, gom lại thành một bó lớn, một phần được dùng trong cuốn Văn Học Hà Tiên (Quỳnh Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ lớn, có nhiều hình ảnh, gồm những bài giảng của ông ở Đại học Văn Khoa Saigon. Ta nhận thấy công trình khảo cứu công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc Trĩ Thôn Cư nguyên tác là thất ngôn Đường luật, dùng các vần tinh, thinh, thanh, linh, đình thì ông cũng dịch ra thất ngôn Đường luật và dùng những vần mình, tranh, xanh, thanh, thinh.

Ông đã trình bày cặn kẽ chẳng riêng mười bài thơ Nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh Hà Tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các, tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.

Đó là công Đông Hồ đối với Hà Tiên. Tích:

“Nhà cửa không khác Trung Quốc, từ nhà Vương (Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng gạch lợp nhói. Trong cách ăn mặc, họ bắt chước triều đại trước (nhà Minh). Vương bới tóc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiều, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sưng, mang hia. Ngày thường họ dùng đủ màu (...) Gặp thì họ chắp tay chào nhau”.

Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kỷ, Hà Tiên còn giữ được ít nhiều màu sắc Trung Hòa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ, giao tế; còn miền Đông, từ Vĩnh Long trở ra Biên Hòa, Bà Rịa, chịu ảnh hưởng của những lớp nam tiến cuồn cuộn từ miền Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát, phóng khoáng, tự tạo một nếp sống mới, có tinh thần bình dân, tự nhiên, nên ưa thích văn học bình dân hơn.

Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc Kiến (Hoa Nam) có lẽ cùng qua Việt Nam với họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan ký lục họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ Hữu Lân, bá phụ của Đông Hồ là một nhà nho nổi tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời, Đông Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà Tiên, không được đọc gì khác ngoài văn Hán và Nôm. Vì vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các nhà nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng thời với ông ở miền đông, chẳng hạn Hồ Biểu Chánh. Vì vậy mà hai mươi hai tuổi ông làm được bài phú Đông Hồ, khiến các nhà Nho phải phục. Vì vậy mà ông được nhận ngay và phái Nam Phong và suốt đời có nếp sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi thay đổi, mới hơn nhiều nhà Nho trong nhóm Nam Phong, mà ráng hòa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút pháp thì hồi ba mươi tuổi đã định rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắc cầu Nam Bắc, mở đường cho sự “thống nhất văn hóa dân tộc” như ông nói.

Đó là mục đích thứ nhất trong đời sống. Mục đích thứ nhì là nối lại sự nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đã bị gián đoạn trong một thế kỷ rưỡi. Một thanh niên sanh trong một gia đình có truyền thống văn học, tại một nơi danh thắng đã có thời nổi tiếng là “Văn hiến quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đã được thấy làn nước Đông Hồ, ngọn núi Tô Châu, chân được dạo những chốn còn lưu lại di tích tiên nhân như Kim Dự, Bình San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích cùng những nhà văn Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các, một thanh niên được gặp những hoàn cảnh may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười bốn mười lăm tuổi đã được khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi tuổi danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có giọng lãng mạn như từ Trẩm Á (bài Linh Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mỹ như văn Lục Triều (bài phú Đông Hồ); một thanh niên như vậy nhất định là yêu quê hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài bão cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối nghiệp được tiền nhân thì ít nhất cũng làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi hải ngoại xa xôi này không phải không có văn chương” (lời Đông Hồ).

Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự, chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc động mạnh, viết thư cho tôi đã thú rằng “làm con, tôi đã để cho bác tôi nỗi khổ tâm vì tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Như vậy ông đã tự tin lắm, nhận được giá trị của mình ngay từ thiếu thời và tôi đoán trúng ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó chắc không xa sự thực.

Thời đại ông không phải là thời Mạc Thiên Tích, Hà Tiên không còn là một tiểu quốc mà chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp thuộc lại càng không thể so sánh được với địa vị một vị hầu dưới triều chúa Nguyễn(Thiên Tích được phong là Tông Đức hầu); cho nên sự nghiệp của ông khác hẳn Thiên Tích. Không thể lập được một Chiêu Anh các nữa thì ông ráng dựng Trí Đức học xá, cũng là một nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các, chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong nước để thành lập một tao đàn thì ông đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi Việt ngữ, hiểu được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuếch trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn chương ở Hà Tiên, Biên Hòa, Tây Ninh...nghe tiếng gọi “hồn Đại Việt” của ông mà cùng với ông trau dồi “giọng Hàn Thuyên”.

Không có Đại Thành Điện, Khuê Văn Lâu... như Tông Đức Hầu, thì ông có Vạn Quyển thư lâu, Vương Giả hương đình, Quỳnh Lâm thư thất... tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh quí và nét bút của cố nhân và của chính ông thì chất, treo đầy tường; mà hương lan, hương huệ thường tỏa ra ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai cũng phải nhận rằng về phương diện đó ông đúng là bậc “vương giả” trong giới tao nhân Việt Nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Saigon để tìm những kỷ niệm về thi hào Tagore thì nhà Văn Hóa bối rối, không biết tiếp vị khách quí ấy ở đâu cho trang nhã, có vẻ “văn hóa” một chút, phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.

Những hoạt động cùng phong cách đó của họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với những hoạt động cùng phong cách họ Mạc, nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức, nhưng dù vậy chăng nữa, tôi nghĩ cũng cần ghi lại cho văn học sử.

Tôi không rõ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau được bao nhiêu người; một số có khiếu văn chương, nhưng rồi chẳng viết lách gì cả và ruốt cuộc chỉ còn một mình nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và nhiều khi miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con ong, một cành hoa... nhận xét có phần sắc bén hơn ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của ông rất đậm, mà văn thơ của hai ông bà có một địa vị riêng, phái Hà Tiên.

Phái này chỉ còn vài ba nhà nữa ( như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng Toàn), nhưng sự nghiệp không kém gì phái Chiêu Anh các.

Không kể rất nhiều bài dài ngắn đăng rải rác trên các tạp chí, hiện nay chưa in thành sách, Đông Hồ đã lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm, trong số đó có sáu bảy tập thơ.

Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đã đăng lác đác ít bài thơ, hồi ký, đã xuất bản một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp, một tập tùy bút Dưới Mái Trăng Non và một tập văn cảo Hà Tiên Tạp Thuyết. Bà vẫn còn sáng tác và chắc còn cống hiến cho quốc dân được vài tập nữa.

Đã có người nhận định về phần mà người ta gọi là “văn chương thuần túy”, tức thơ, tùy bút... trong sự nghiệp của Đông Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những trứ tác của hai ông bà liên quan. Sự đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập truyện Nàng Ái Cơ Trong Chậu Up (Bốn phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi ký về Hà Tiên trong tập Dưới Mái Trăng Non (Mặc Lâm – 1969) nhưng nội cuốn Ái Cơ cũng đáng được chú ý rồi.

Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử của Hà Tiên, đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà Tiên, Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà Tiên, sống với các nhân vật Hà Tiên.

Truyện có thực còn lưu lại di tích, tức chùa Phù Dung ở Hà Tiên mà Đại Nam Nhất Thống Chí chắp đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu nghĩa đổi là Phù Dung. Nhân vật chính, Dì Tự, một ái cơ của Mạc Thiến Tích, đã đẹp lại hay chữ, khiến bà chính thất họ Nguyễn ghen tuông mà lập mưu hãm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên cứu sống, rồi chán chường thế sự bà xin phép chồng đi tu. Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù Cừ đó để bà lánh đời.

Truyện chỉ có như vậy, tác giả đã tưởng tượng thêm để viết thành một lịch sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống lại một thịnh thời ở Hà Tiên với những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh duyệt binh, cảnh Tết Đoan Ngọ... Tuy là tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử, theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên đại trong sử. Tác giả đã khảo cứu công phu, dựng truyện chặt chẽ mà văn thì đẽo gọt, đối với một tiểu thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm hiện thời. Từ đầu thế kỷ đến nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là chuyện tình mượn tên “lịch sử”, còn tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử ký sự tiểu thuyết, thì chỉ có Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người hoan nghênh có lẽ chỉ vì xuất hiện không đúng lúc.

Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc đề tựa và trình bày (có mấy bức tranh của ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng cốt truyện nữa.

Vậy ông đã trở ơn quê hương một cách xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được chút gì về Hà Tiên hầu hết là nhờ ông cả. Thật cũng lạ! Hai họ Mạc và họ Lâm đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quang Đông, Lâm ở Phúc Kiến, cùng qua Nam Việt một thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của mình, rồi coi quê hương đó là quê hương thứ nhất, cùng tận tâm phục vụ cho tiếng mẹ đẻ. Họ Mạc đến đời thứ bảy chỉ còn hai người con gái, còn họ Lâm đến đời thứ tám cũng chỉ có hai người con gái (Đông Hồ là người con trai duy nhất đời thứ bảy, sanh hai con trai, đều không nuôi được).

Hiện nay ngoài nữ sĩ Mộng Tuyết ra, còn có nhà văn, nhà thơ nào gốc gác Hà Tiên nữa không? Và bao giờ Hà Tiên mới lại có được một họ làm rạng danh Hà Tiên như họ Lâm? Nếu có thì thời đại đã thay đổi, Hà Tiên sẽ không con là nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đã thống nhất thì sự nghiệp của người sau tất khác của người trước. Và chúng ta có thể nói rằng lịch sử văn học Hà Tiên sẽ vĩnh viễn gắn liền với hai họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà Tiên thành một “văn hiến quốc”, họ Mạc mở đường, họ Lâm nối nghiệp; người sau sẽ chuyển qua một hướng khác chứ không tiếp tục nữa.

1. Quỳnh Lâm xuất bản – 1970.

2. Chính tên là Tông, tự là Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-1738) tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim, thành chữ tích cũng có nghĩa là cho.

3. Theo Đông Hồ (Văn học Hà Tiên – tr. 142), “căn cứ trên mộ bia dựng ở núi Bình San (Hà Tiên), hiện hãy còn, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ, đề thái phu nhân là họ Nguyễn, thì chúng ta có thể quyết được mẹ Thiên Tích là người Việt. Bởi người Tàu ít có người họ Nguyễn”.

Theo Gia Đinh Thành Thông Chí (quyển II), ông Hãn Nguyên dẫn trong bài “Hà Tiên, chìa khóa nam tiến của dân tộc Việt xuống đồng bằng sông Cửu Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970 tr. 165 thì mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên Bùi Thị Lẫm, gốc ở Đồng Môn, thuộc Biên Hòa. Cũng trong bài ấy, ông Hãn Nguyên còn dẫn lời của Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai. Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong Thông Chí. Dù theo thuyết nào thì mẹ Thiên Tích cũng là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi thơ Nôm được.

Lịch sử Hà Tiên còn nhiều nghi vấn: như năm sinh của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, mỗi thuyết một khác.

4. Có 320 bài thì ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm 32 thi sĩ thôi (mỗi nhà 1 làm 10 bài) kể cả Thiên Tích. Con số 36 cũng như con số 12, 72... không đáng tin.

5. Hãn Nguyên – Bài đã dẫn. Tập san Sử Địa 19-20 tr. 270.

6. Theo gaspardone – Hãn Nguyên trong bài kể trên. Hàn Lâm viện đó là Chiêu Anh các.

Edited by user Monday, December 17, 2018 11:39:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1648 Posted : Tuesday, December 18, 2018 2:55:32 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM


12 Photos · Updated 7 years ago

TỤC NGỮ CA DAO VIỆT NAM . MÃ GIANG LÂN Tuyển chọn và giới thiệu

LỜI GIỚI THIỆU Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc ta. Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ.

Chính vì vậy nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có thay đổi một vài từ khi đến "cư trú" ở các địa phương khác nhau.

Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích. Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con người. Nói như Gorki: "Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử của nhân dân lao động". (Gorki bàn về văn học, NXB Văn học, H. 1965, tập I, trang 229) Đồng thời tục ngữ cũng biểu hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống.

Tục ngữ thể hiện một phần quan trọng của tư liệu khoa học dân gian và triết lý dân gian. Gắn với lao động, với tự nhiên và những thăng trầm của lịch sử, xã hội, nhân dân đã bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức của mình.

Trong tục ngữ, qua những nhận xét tinh tế về thời tiết; về những kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, những phê phán sắc sảo:

"Nén bạc đâm tọac tờ giấy",

"Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ";

những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa:

"Người là hoa đất"; "Người sống đống vàng";

những đức tính quý báu của nhân dân:

"Có công mài sắt có ngày nên kim";

"Đói cho sạch, rách cho thơm";

những chân lý từ ngàn đời:

"Năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn";

"Nước chảy đá mòn";

"Tre già măng mọc"...

ý nghĩa của tục ngữ trước hết là ở nội dung. Tuy nhiên ý nghĩa của thể loại này còn ở chỗ biểu hiện được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ dân tộc, ở chỗ chứng minh được rằng ngôn ngữ văn học dân gian là mẫu mực về tính chính xác, tính sinh động và tính hình tượng.

Qua tục ngữ có thể thấy cách nhân dân phát huy những ưu điểm của tiếng Việt về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp để biểu hiện tư tưởng của mình. Thông qua việc sáng tác tục ngữ, nhân dân đã rèn đúc, mài giũa ngôn ngữ dân tộc và làm cho nó ngày càng tinh xảo, chính xác, trong sáng và phong phú hơn.

Mỗi câu tục ngữ đều dùng hình ảnh, sự việc, hiện tượng cụ thể để nói lên ý niệm trừu tượng, dùng cái cá biệt để nói lên cái phổ biến vì vậy ở mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen (nghĩa hẹp) và nghĩa bóng (nghĩa rộng). Cái cụ thể, cá biệt tạo nên nghĩa đen; cái trừu tượng, phổ biến tạo nên nghĩa bóng.

Đặc biệt là ở những câu tục ngữ nói về quan niệm, lối sống và đạo đức của nhân dân:

"Môi hở răng lạnh",

"Chó cắn áo rách",

"Đục nước béo cò",

"Năng nhặt chặt bị"...

Hình ảnh trong tục ngữ là những hình ảnh từ cuộc sống phong phú nhiều màu, nhiều vẻ được nhân cách hóa rất linh hoạt và sinh động:

"Đũa mốc chòi mâm son",

"Khố son bòn khố nâu"...

hầu hết các câu tục ngữ đều có vần, nhiều nhất là vần lưng nên nhịp điệu nhanh, mạnh, vững chắc :

"Được làm vua, thua làm giặc",

"Trăng mờ tốt lúa nỏ, trăng tỏ tốt lúa sâu",

"Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm",

"Gái một con trông mòn con mắt"...

còn những câu không vần thường giữ được tính chất nhịp nhàng theo cách cấu tạo cân đối của các vế:

"Già néo đứt dây",

"Vỏ quýt dầy có móng tay nhọn".

Cũng có những câu không vần, không đối nhưng vẫn giầu chất nhạc, chất hàm súc của thơ:

"Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết",

"Nằm trong chăn mới biết chăn có rận",

"Dao sắc không gọt được chuôi"...

Nghệ thuật tục ngữ biểu hiện đầy đủ lối suy nghĩ dân gian của dân tộc về giới tự nhiên và đời sống xã hội đồng thời cũng biểu hiện cách nói của dân tộc ta qua nhiều thế hệ, trong tiến trình lịch sử lâu dài. Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lại thiên về tình cảm (nội dung trữ tình) và ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian.

Cũng như tục ngữ hoặc bất cứ thể loại văn học nào khác, ý nghĩa chủ yếu có thể thấy ở ca dao vẫn là về mặt nội dung, có điều là nội dung ấy thường đượm chất thơ. Nếu cho rằng một đặc điểm của thơ là ở chỗ biểu hiện một cách cô đúc nhất tư tưởng và tình cảm thì cũng có thể coi tục ngữ như là một dạng của thơ.

Tuy nhiên chất thơ chỉ có thể thấy một cách đầy đủ và toàn diện trong ca dao. sở dĩ như thế một phần cũng chính là vì trong ca dao không những hiện thực được phản ánh một cách cô đúc hơn là trong ngôn ngữ hàng ngày, hơn cả trong văn xuôi mà còn là vì trong ca dao tư tưởng và tình cảm được chắp đôi cánh kỳ diệu của sự tưởng tượng, điều này ít thấy có ở trong tục ngữ. Có đôi cánh kỳ diệu ấy tâm hồn của nhân dân thể hiện được đầy đủ hơn tất cả sự phong phú và tầm rộng lớn, cao cả của nó.

Tất nhiên là tính lãng mạng mà đầu óc tưởng tượng phong phú của nhân dân đã đem lại cho ca dao không hề tách rời và đối lập với tính hiện thực.

Cũng như tục ngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân. Đó là cuộc sống cần cù, giản dị và chất phác, đậm đà phong vị dân tộc. Đó là cuộc đấu tranh anh hùng trong dựng nước và giữ nước. Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương ái giữa những con người lương thiện.

Đó là nhận thức sắc bén về bạn, về thù, về chính nghĩa và phi nghĩa. Tóm lại cũng như ở tục ngữ, qua ca dao có thể thấy rõ hiện thực, tức là "cái vốn có".

Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức "cái vốn có" thì ca dao lại thường tiến thêm một bước nữa rất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực. Ca dao không những chỉ phản ánh "cái đã có" mà còn đề xuất ra "cái nên có". Ca dao chẳng những muốn giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà còn muốn xây dựng lý tưởng về cuộc sống.

Thực ra giữa hai thể loại tục ngữ và ca dao, không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau. Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức là ca dao còn nội dung lại là tục ngữ! khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì lúc đó tục ngữ sẽ tiếp cận với ca dao:

"Ai ơi đừng chóng thì chày -
Có công mài sắt có ngày nên kim",

" Chim khôn chưa bắt đã bay -
Người khôn ít nói, ít hay trả lời",

"Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" v.v...

đó là những câu thường được nhân dân sử dụng như tục ngữ. Đồng thời do nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao chủ yếu là những câu ca dao nhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ:

"Hơn nhau tấm áo, manh quần -
Đến khi cởi trần ai cũng như ai",

"Đem cực mà đổ lên non -
Còng lưng mà chạy cực còn theo sau".

Thế nhưng về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình, xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động... thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên một cách rõ nét.

Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết phong tục, tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động nhưng trước hết là bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội. Từ cuộc sống lao động vất vả của nhân dân đã nảy sinh nhiều câu ca dao thể hiện các hình thức lao động và nghề nghiệp khác nhau.

Những câu ca dao về đất nước và lịch sử, ca ngợi những danh lam thắng cảnh, những đặc sản của các địa phương, truyền thống chống ngoại xâm, chống ách áp bức phong kiến của nhân dân.

Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ. Trai gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân. Họ có thể thổ lộ với nhau bằng câu "ví", bằng hình thức giao duyên trong các hình thức đối đáp nam nữ. Nội dung những câu ca dao này phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu: những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách.

Tình yêu bao giờ cũng gắn liền với lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày của nhân dân.

Ca dao miền Bắc:

"Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu"

Ca dao của Nam Trung Bộ:

"Đã mang lấy cái thân tằm
Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ
Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu, dậy sờ chiếu không"

Và ca dao của Nam Bộ:

"Buổi mai em xách cái thõng (*)
Em xuống dưới ao em bắt con cua
Em bỏ vô trong cái thõng
Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh.
Hắn kêu một tiếng chàng ôi!
Chàng đã yên phận tốt đôi
Em nay lẻ bạn, mồ côi một mình" (*).

Cái thõng: một loại chĩnh không lớn lắm, miệng hẹp.

Đó là quan niệm, đồng thời cũng là nếp tư duy nghệ thuật của nhân dân. Rõ ràng nếp tư duy ấy xuất phát từ cuộc sống lao động, nó chi phối toàn bộ tư tưởng, tình cảm của con người, dù là tình yêu.

Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên, lành mạnh ấy.

Vì vậy trong ca dao, bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhau hoặc còn ngập ngừng, e ngại... nhưng phần lớn là do những nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân do xã hội phong kiến gây ra:

- "Vắn tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em..."

- "Trách ai tham phú, phụ bần
Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa"

Và cũng dễ hiểu, trong ca dao có nhiều bài phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những "chàng trai" và những "cô gái".

Những câu ca dao về chủ đề hôn nhân và gia đình biểu hiện các mối quan hệ đẹp đẽ giữa tình cảm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em họ hàng, bà con làng xóm... ở đây hiện lên hình ảnh người phụ nữ lao động đầy rẫy những chịu đựng ngang trái mà vẫn cao thượng:

"Thân em mười sáu tuổi đầu
Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người.
Nói ra sợ chị em cười
Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay"

Và còn biết bao nhiêu chuyện sầu thảm như là cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh "có mới nới cũ", cảnh góa bụa... cho nên lời than thở của người phụ nữ về số phận mình dưới chế độ phong kiến là âm điệu chủ yếu của mảng ca dao này.

Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ phong kiến, chống đế quốc xâm lược đã vạch trần những cái xấu xa của bọn phong kiến đế quốc, những tội ác của chúng đối với nhân dân ta và lòng căm thù sâu sắc của nhân dân ta đối với chúng.

Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao tập trung mũi nhọn đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích, chế giễu tệ mê tín dị đoan, những hủ tục hôn nhân, những thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ... ở đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:

- "Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan"

- "Của bụt mất một đền mười
Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho"

Những bài ca dao nhận định về con người và việc đời như là tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, cách ứng xử của nhân dân càng thể hiện tính cô đọng hàm súc của tục ngữ.

Nhiều bài ngắn, chỉ một cặp lục bát thôi mà vẫn sâu sắc về mặt cách sống và hành động:

"Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm"

Ở trên chúng ta mới đề cập đến nội dung ca dao trong một số chủ đề cơ bản. Thực ra nó còn phong phú hơn nhiều, nhất là khi quan sát những bình diện, những dạng thức biểu hiện ca dao sẽ thấy rõ hơn tính đa dạng, độc đáo của nó.

Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi khả năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấy.

Ở tục ngữ, tư tưởng thường được biểu hiện qua hình thức ngôn ngữ ngắn gọn. Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học.

Cho nên thông qua việc sáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, nhiều khi đạt đến tính trong sáng cổ điển. Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội, thể chất và tâm tình con người đã thể hiện qua ca dao với những hình tượng văn học, từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặt nghệ thuật. Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói đến nhịp điệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủ yếu của thơ. Maiacôpxki nói: "Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về từ lực hay điện. Từ lực hay điện - đó là những dạng của năng lượng (*)

Xem: Dẫn luận nghiên cứu văn học - Tuyển tập NXB Đại học Maxcơva 1979. Trang 245.

Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng. Nó luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ.

Ca dao ngắt nhịp hai là phổ biến, nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo. Như để làm bật lên cái quyết tâm vượt lên mọi khó khăn, trục trặc của những con người đi theo tiếng gọi của tình yêu, ca dao đã bỏ nhịp hai:

- "Yêu nhau/ tam tứ núi/ cũng trèo/
Thất bát sông/ cũng lội/ tam thập lục đèo/ cũng qua/"

- "Thương nhau chẳng quản gì hơn/
Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/"

Câu ca dao dưới đây nhịp điệu không biểu hiện lòng quyết tâm vượt khó của những người muốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau mà khẳng định một sự ly khai dứt khoát:

"Chồng gì anh/ vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây!"

Những câu ca dao trên, nhịp điệu biến hóa thích hợp với việc biểu hiện những tâm trạng khác nhau.

Điều này ta thấy rõ ở những bài ca dao biến thể - ca dao ở Trung Bộ và Nam Bộ, một số gắn chặt với dân ca hay nói cách khác, nó thoát thai từ những điệu hò, điệu lý... như: hò khoan, hò giã gạo, hò mái nhì, hò mái đẩy ở Bình - Trị - Thiên, hò Đồng Tháp ở Nam Bộ và lý hoài xuân, lý bơ thờ, lý trách ai, lý dệt vải, lý đan lờ, lý lên núi, lý cây chanh, lý cây cau, lý con ngựa, lý con tằm... (Nam Trung Bộ), lý xe tơ, lý kéo chài, lý con sáo, lý chuồn chuồn, lý con cua... (Nam Bộ). Vì vậy nhịp điệu rất phong phú và sinh động.

Ta hãy nghe một bài ca dao ở Bình - Trị - Thiên:

"Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc
Giọt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên
Em muốn làm lơ đi mà ngủ, ngủ cũng không yên
Sợ mưa già nước ngập, biết tựa con thuyền vào đâu?"

Ở đây nhịp điệu đã tạo nên cảm giác như gần, như xa... như khoan, như nhặt của một tâm trạng lo âu, thắc thỏm.

Ca dao Nam Trung Bộ:

"Hòn đá cheo leo
Con trâu trèo con trâu trượt
Con ngựa trèo con ngựa đổ
Anh thương em lao khổ
Tận cổ chí kim
Anh thương em khó kiếm, khôn tìm
Cây kim luồn qua sợi chỉ
Sự bất đắc dĩ phu phải lìa thê
Nên hay không nên, anh ở em về
Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương"

Đó là nhịp điệu của con đường tình duyên đi qua nhiều ngoắt ngoéo, vấp váp. Nhìn chung ca dao ở Trung Bộ và Nam Bộ có nhiều bài nhịp điệu khấp khểnh ít êm xuôi như ca dao Bắc Bộ. Với ca dao, chúng ta còn có thể nêu lên nhiều cái độc đáo khác nữa của thể loại này như: cách xưng hô, đối đáp, hình tượng, không gian, thời gian, tính ước lệ... cùng với tục ngữ, ca dao được quần chúng nhân dân sáng tạo qua nhiều thế hệ tác giả, qua nhiều thời đại đã có được vẻ đẹp nhiều mặt bền vững như ngày nay.

Mỗi câu tục ngữ, mỗi câu ca dao ra đời trong môi trường, hoàn cảnh nhất định và bao giờ cũng gắn liền với giới tự nhiên: cây cỏ, loài vật, dòng sông, con đò, bến nước, đường làng... cho nên nghiên cứu tục ngữ, ca dao cũng như nghiên cứu văn học dân gian nói chung, tốt nhất, lý tưởng nhất là trở về với dạng nguyên hợp của nó. Ở đây đã gọt bớt, đã gọn nhẹ đi nhiều.

Thế nhưng đối với người đọc chúng ta nhất là đối với các nhà thơ đến với tục ngữ, ca dao sẽ khám phá, học tập được rất nhiều ở cái kho báu đa dạng này. Có nhiều bài thơ hay là những tác phẩm mà các tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ và các phương pháp nghệ thuật của tục ngữ, ca dao.

Tuy gọi là Tục ngữ và ca dao Việt Nam nhưng tuyển tập này chỉ mới giới thiệu tục ngữ và ca dao của người kinh - là một dân tộc đông người nhất ở nước ta. Việc biên soạn thơ ca, dân gian của các dân tộc anh em ít người thì thuộc về một công trình nghiên cứu khác.

Tuyển tập này chỉ gồm tục ngữ, ca dao tức là những thể loại trong đó cùng với việc tìm hiểu về mặt ngôn ngữ văn học dân gian.

Tục ngữ và ca dao lưu hành qua các địa phương khác nhau đã từng có những sự biến đổi ở mặt này hay mặt khác nhưng chúng tôi chỉ chọn lọc những tác phẩm phổ biến nhất, có hình thức nghệ thuật và ngôn ngữ ổn định để giới thiệu.

Tuyển tập này chắc chắn là không thể nào tránh khỏi những thiếu sót. Do đó rất mong được các bạn đọc góp ý để chúng tôi rút kinh nghiệm, sửa chữa.

@ MÃ GIANG LÂN Bản điện tử: Vnthuquan.net
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1649 Posted : Monday, December 24, 2018 8:15:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

Chúc Các bạn, độc giả thầm lặng & Gia đình
Tràn đầy Hồng ân, nồng nàn Hạnh phúc trong xum vầy cùng GĐ
và không quên cám ơn tình bằng hữu đã dành cho nhau.

HONG VU LAN NHI & Team LN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 12/31/2018(UTC)
hongvulannhi  
#1650 Posted : Monday, December 24, 2018 7:03:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

BÁNH BÔNG LAN TRỨNG MUỐI

Bạn có thể mua ở cửa hàng
Nhưng làm cũng dễ bánh bông lan
Nhất là trứng muối thì hơi hiếm ...
Vậy nhé cùng nhau ta hãy làm

Tách lòng trứng muối để riêng ra
Lòng đỏ ta dùng rửa nước qua
Sau đó ngâm vào trong rượu trắng
Chừng mười phút với quế, hồi hoa

Lấy lòng đỏ ấy phết dầu ăn
Đem nướng, hấp sơ cho chín săn
Rồi để ra ngoài giờ đánh bột
Phần này khéo léo phải nên chăm

Tô sạch bỏ bơ với lại đường
Đánh cho hòa quyện tỏ yêu thương
Trứng gà sau đó cho vào tiếp
Đánh bông đều đặn đẹp vô thường

Bột mì bột nở bỏ vào chung
Thêm sữa vani trộn lẫn cùng
Hỗn hợp khi nào đặc sệt lại
Mịn mà tới lúc bỏ vào chưng

Phân ra hỗn hợp đổ vào khay
Chỉ cỡ phần ba chớ đổ đầy
Bánh chín bột này còn nở lớn
Bật lò nướng độ ba năm mươi (F)

Mươi phút mở lò vội vã thăm
Nhanh tay trứng muối đặt vào nằm
Xong rồi nướng tiếp thêm mươi phút
Lần cuối bây giờ hẳn bánh xong

Nhanh tay từng lát nhỏ phô mai
Rắc chậm chà bông kín mặt ngoài
Hơi nóng làm phô mai chảy lỏng
Tạo nên sắc thái dễ thương thay

Món bánh này đây ở Vũng Tàu
Đặc trưng phố biển để mời nhau
Ai qua không gặp tìm cô Tuyết
Cô Giáo ăn hàng nổi đã lâu

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1651 Posted : Monday, December 31, 2018 2:17:04 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,935

Thanks: 6571 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

Hòn Keng
(Khánh Tường, Ninh Hải, Ninh Thuận)

FB-Nguyen Van Mai, 29/12/2018

thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 12/31/2018(UTC)
hongvulannhi  
#1652 Posted : Monday, December 31, 2018 5:07:55 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Chúc nhau hạnh phúc mỗi ngày
Mừng nhau sống thọ, xum vầy, sẻ chia
Năm vui êm ấm, thuận hòa
Mới từ tư tưởng, mới ra vẻ ngoài ...

Chúc Năm Mới, chẳng chừa ai
Phúc lộc tràn ngập, tiền tài đầy rương.

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 1/1/2019(UTC)
hongvulannhi  
#1653 Posted : Wednesday, January 2, 2019 10:27:30 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

LẨU CÁ ĐUỐI

Du khách dừng chân viếng Vũng tàu
Món ngon phố biển biết tìm đâu
Mùa đông gió lạnh cần hơi ấm ...
Lẩu cá bún tươi nghĩ tới đầu

Cá đuối không xương có sụn nhiều
Quả me nhánh sả nghệ vàng yêu
Muối đường bột ngọt thêm hành tím
Bắp chuối rau thơm với ớt tiêu

Cá tươi cạo nhớt vẩy tinh tươm
Cắt khối dầy to cỡ “táng đường”
Ớt sả nghệ tươi bằm dập nhuyễn
Chuối hoa thái rối với rau thơm

Lửa vừa bắc chảo nấu dầu sôi
Khử tỏi nghệ hành ớt dậy mùi
Bỏ cá xào qua nêm mặn nhạt
Đổ ra trên đĩa khách mời ngồi

Lấy chảo vừa rồi đổ nước vô
Sả cây cắt khúc sẵn sàng chờ
Nêm đường nêm mắm sôi dăm phút
Bát mẻ lược rồi đủ đô chua

Khi ăn nhúng cá bún kèm rau
Rượu chát vài chung đỏ đẹp màu
Sóng biển dạt dào nghe tiếng hát
Ai qua nhớ nhé biển Vũng Tàu

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1654 Posted : Sunday, January 6, 2019 11:54:39 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

CÁ SUỐI NƯỚNG

Ai lên miền núi đất cao
Tắm tiên các cụ kháo nhau nhiều rồi
Thiên nhiên giữa cảnh mây trời...
Các cô miền núi đẹp người tắm tiên

Già rồi tớ chẳng vô duyên
Đi rình nàng tắm tốn tiền làm chi
Nhưng mà tớ vẫn thích đi
Leo lên miền núi chỉ vì suối khe

Nước mưa trong vắt mọi bề
Núi rừng lại lắm cá trê mới kỳ
Vài loài cá chắm cá mè
Rong rêu sống tạm suối khe trong lành

Cá này đặc biệt không tanh
Người ta ướp nướng vang danh núi rừng
Sắt tơ thật nhỏ lát gừng
Rau răm húng quế tiêu rừng " Ma khen "

Xiên ngang hong chín trên than
Thơm ngon uống với rượu San tuyệt vời
Ngao du miền núi rong chơi
Đâu cần ngắm gái giữa trời tắm tiên

KyGan

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1655 Posted : Wednesday, January 9, 2019 1:18:53 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

PHỞ ÁP CHẢO

Chọn mua bánh phở mỏng mềm
Mang về bác chảo bỏ chiên cho vàng
Nhớ dùng loại chảo bằng gang ...
Ít dầu không dính dễ dàng đảo xoay

Khéo tay bánh chín tròn quay
Vàng đều hai mặt đẹp thay lại giòn
Thịt bò tai nấm cải non
Rau thơm ớt tỏi lại còn ngâm chua

Thịt bò thái miếng cho vừa
Bột nêm hành tỏi ướp sơ đậm đà
Đôi khi gan lợn tim gà
Bỏ chung cũng lạ cho ra món xào

Cải non thái mỏng bỏ vào
Tim gan thịt nạc nháo nhào bỏ chung
Tái sơ thêm chút nước dùng
Lại pha sền sệt bột năng sẵn sàng

Đĩa bàn bánh phở bày sang
Đồ xào vừa chín rưới tràn lên trên
Ăn ngay khi nóng cho mềm
Muốn cay tương ớt chấm thêm đậm đà

Trẻ con với lại đàn bà
Món này lạ miệng hít hà khen ngon
Còn như cái cánh đàn ông
Phải có một chút rượu nồng mới ngon

KyGan
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thao ly  
#1656 Posted : Friday, January 11, 2019 7:32:03 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,465
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)
Bún bò Huế


UserPostedImage

June 15, 2016
Ngọc Quỳnh
(thực hiện)

Nguyên liệu:

Chân giò heo: 1 cái
Bắp bò: 300gr
Nạm bò: 500gr
Xương bò: 1kg
Chả huế: 100gr
Mắm ruốc huế: 50gr
Hạt điều màu: 1 muỗng canh
Sả: 6 cây
Ớt khô: 2 muỗng canh
Gừng, rau răm, hành tây…

UserPostedImage

Bún sợi to: 1 kg
Rau ăn kèm bao gồm rau muống chẻ, bắp chuối bào, giá và ít rau thơm các loại
Củ hành, tỏi, tiêu, đường, nắm, muối, rau răm, dầu ăn, ớt, chanh,…

Cách làm:

Chuẩn bị:

Hành tỏi băm nhuyễn

Xương bò rửa sạch rồi cho qua nước đang sôi khoảng 3 phút để loại bỏ nước dơ xong rửa lại bằng nước lạnh rồi để ráo.

Gừng đập dập + muối chà sát nạm bò bỏ nước dơ và khử mùi bò, sau đó rửa sạch lại bằng nước lạnh, để ráo trong rổ. Khi miếng thịt khô ướp chút muối + hành tỏi ta có thể bó lại bằng chỉ.

Chân giò rửa sạch cắt miếng vừa ăn rồi cũng rửa qua như trên. Phần trên chân giò ta dùng dao bén lóc xương lấy phần thịt ướp chút muối + hành tỏi và cũng có thể bó lại.

Nướng củ hành cho thơm.
Sả đập dập (1/2) và sả bằm nhuyễn (1/2).
Mắm ruốc huế pha với 1 chén nước lọc, khuấy tan rồi lọc sạch cặn cát trong mắm.
Hành tây cắt miếng mỏng.
Rau răm cắt nhuyễn.
Rau các loại rửa sạch ngâm chút muối rồi vớt ra để ráo để riêng từng loại.
Chả huế cắt miếng tùy thích.

Tiến hành nấu:

Hạt điều màu phi qua 2 muỗng canh dầu nóng, bỏ xác ta được dầu hạt điều màu.

Bỏ xương + bắp bò + nạm bò + giò heo vào nồi nấu sôi, xong bớt lửa vớt bọt đều cho nước trong, cho chút muối hạ lửa rồi cho sả cây + củ hành nướng vào hầm đến khi thịt chín (thịt heo thông thường sẽ chín trước) vớt ra rửa qua nước lạnh gỡ chỉ rồi cắt lát mỏng. Còn lại xương và giò vớt để riêng ra, dùng ray lược lại lấy phần nước lèo

Cho dầu ăn (1/2 chén) vào chảo, từ từ cho tỏi băm (1 muỗng canh) tới sả băm, rồi hành băm, ớt khô và chút dầu hạt điều màu theo thứ tự vào đảo đều cho hỗn hợp vàng và thơm ta được dầu satế.

Dùng chảo sạch cho dầu màu điều vào phi tỏi và chút sả băm thật thơm rồi cho vào nồi tạo màu trên mặt nước lèo.

Cho mắm ruốc huế đã lọc vào nồi nước lèo, nêm nếm lại lần cuối gia giảm muối và đường phèn. Khi nồi nước lèo sôi mắm ruốc dậy mùi rất thơm ta đã được nồi nước bún bò như ý.

Hoàn tất: Để hoàn tất ta làm các bước sau:

- Bún trần sơ qua nước sôi cho vào tô, cho thịt heo bò các loại, chả và giò trên mặt tô. Cuối cùng cho hành tây vài khoanh và rau răm cắt nhuyễn lên trên.

UserPostedImage

- Rau các loại được ăn kèm, thêm chút chanh ớt và satế. Ta được hương vị thơm ngon đậm đà của tô bún bò huế đúng chất.

Edited by user Friday, January 11, 2019 7:38:31 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#1657 Posted : Friday, January 18, 2019 12:39:20 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage


ĐẶC SẢN TIỀN GIANG

Ai ngang cửa Đại Tiền Giang
Trái cây ngon ngọt mênh mang bốn mùa
Ven sông rợp mát bóng dừa ...
Xanh xanh từng thửa đong đưa mận hồng

Quê hương của hủ mắm còng
Bánh bèo sam biển hương nồng khó quên
Ghé qua thành Phố Sông Tiền
Mỹ Tho hủ tiếu có duyên hơn người

Bún gạo chan nước dùng tươi
Xương hầm mực nướng tạo mùi đặc trưng
Con tôm đỏ gạch cong lưng
Sườn non gan luộc nằm chung miếng phèo

Thịt bằm cho béo nước lèo
Bún không dai bở như nhiều thức ăn
Ngoài ra hủ tiếu bò viên
Cũng rất lạ miệng niềm riêng nhớ đời

Gỏi già xứ Mỹ truyền đời
Hao hao bún mắm ăn rồi khó quên
Cũng là mắm cá mà nên
Me chua cho nước ngọt mềm canh chua

Thường ăn với tép dễ ưa
Còn thêm rau ghém cho vừa lòng nhau
Ai qua Chợ Gạo bờ sâu
Mùa còng còng lột đượm màu mắm chua

Quê hương hoa quả bốn mùa
Sầu riêng vú sữa rừng dừa vang danh
Bưởi long xoài cát cam sành
Câu hò trên nước mong manh lụa là

Ký Gàn

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1658 Posted : Thursday, January 24, 2019 3:07:43 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

ĐẶC SẢN ĐẮK LẮK

Ghé thăm rừng núi Tây Nguyên
Nhớ về Đắk Lắk một miền nhiều nai
Không ăn kể cũng uổng hoài ...
Thịt rừng ngon ngọt không nuôi không trồng

Một miền rừng núi mênh mông
Những đàn nai sống trong rừng nhởn nhơ
Món ngon nhiều lắm đang chờ
Xào lăn nhúng giấm thịt bò thua xa

Sườn nai đem rán đậm đà
Cháo bao tử cũng kể là món ngon
Nhưng mà đặc sắc trội hơn
Nai khô, lúc lắc bê non đâu bằng

Trái bơ thơm béo tiếng tăm
Nhiều người ưa chuộng gọi rằng sáp bơ
Dầy cùi mềm dẻo không sơ
Mang xay sinh tố ngon vừa tăng thêm

Hay là lấy trái bơ mềm
Xúc bánh đa nướng thử xem mê liền
Giòn giòn bùi béo dễ ghiền
Kẹp bánh mì pháp mơ tiên tới cùng

Cao nguyên rừng núi chập chùng
Rừng le xanh ngát cả vùng Tây Nguyên
Măng le đặc ruột tự nhiên
Tươi khô hấp dẫn vị riêng khó từ

Gỏi măng xáo vịt cho nhừ
Xào gan hầm với chân giò tuyết ngon
Khi nào vào viếng các buôn
Muối đâm lá bép măng nguồn nấu nai

Cơm lam nổi tiếng của người
Bản Đôn xanh ngát núi đồi nứa tre
Chắt lọc từ những suối khe
Suối trong xanh mát trưa hè đầu non

Đi rừng ngồi xếp bàn tròn
Cơm lam cắt khúc xé con gà rừng
Hay là chấm với muối vừng
Cơm lam nước suối chưa từng ngọt hơn

Trẻ già trai gái sồn sồn
Cùng ngồi chung một vòng tròn vây quanh
Rượu cần một món trứ danh
Lễ hội mà thiếu không thành mất vui

Thường thì không đãi người ngoài
Ngoại trừ thượng khách được mời quí thân
Chung nhau cùng hút một cần
Tỏ tình đoàn kết không phân giống nòi

Núi rừng Đắk Lắk là nơi
Vựa cà phê lớn đất trời ban cho
Cà phê đậm đặc thơm tho
Tiếng cô sơn nữ hát hò còn vang

Đến đây dù có muộn màn
Cố tìm cho được hương nàng cà phê
Chồn tinh ăn trái say mê
Trái to nuốt trọng không hề hóa tiêu

Thải phân còn đủ lại nhiều
Mang đi rửa sạch xong liều bóc phân
Dạ dầy ướp đậm hương trầm
Cà phê chồn ấy trăm phần thơm ngon

Còn nhiều các món ăn ngon
Như bò một nắng lại còn rượu cây
Ừ thì cứ thử lên đây
Ăn nai uống rượu không say không về

Peter Lý

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1659 Posted : Sunday, February 3, 2019 11:28:33 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,628

Thanks: 2438 times
Was thanked: 5233 time(s) in 3489 post(s)

UserPostedImage

CUNG CHÚC TÂN XUÂN

Chúc bà con trong họ ngoài làng
Tràn đầy Phúc Lộc- Sức Khỏe - An Khang
Thêm nhiều May Mắn và Như Ý...
Kỷ Hợi giao thừa, pháo nổ ran.

HONG VU LAN NHI

2/3/2019


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 2/5/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1660 Posted : Monday, February 4, 2019 1:03:50 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 13,935

Thanks: 6571 times
Was thanked: 2718 time(s) in 1917 post(s)
UserPostedImage

Cung Chúc Tân Xuân Kỷ Hợi 2019
nhà .. nhà Hạnh Phúc
người .. người Hạnh Phúc
Quê Hương Việt Nam sớm được Tự Do - Dân Chủ thật sự !

Users browsing this topic
Guest
85 Pages«<8182838485>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.