Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

71 Pages«<6768697071>
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1361 Posted : Sunday, January 8, 2017 12:33:42 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
UserPostedImage


CÁ SUỐI NƯỚNG

Ai lên miền núi đất cao
Tắm tiên các cụ kháo nhau nhiều rồi
Thiên nhiên giữa cảnh mây trời
Các cô miền núi đẹp người tắm tiên

Già rồi tớ chẳng vô duyên
Đi rình nàng tắm tốn tiền làm chi
Nhưng mà tớ vẫn thích đi
Leo lên miền núi chỉ vì suối khe

Nước mưa trong vắt mọi bề
Núi rừng lại lắm cá trê mới kỳ
Vài loài cá chắm cá mè
Rong rêu sống tạm suối khe trong lành

Cá này đặc biệt không tanh
Người ta ướp nướng vang danh núi rừng
Sắt tơ thật nhỏ lát gừng
Rau răm húng quế tiêu rừng " Ma khen "

Xiên ngang hong chín trên than
Thơm ngon uống với rượu San tuyệt vời
Ngao du miền núi rong chơi
Đâu cần ngắm gái giữa trời tắm tiên

KyGan

Edited by user Saturday, January 21, 2017 10:30:58 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1362 Posted : Monday, January 9, 2017 2:54:02 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Công chúa Đông Đô,
Hoàng hậu Phú Xuân
Nàng là ai ?


Minh Vũ Hồ Văn Chầm


Trên dưới hai trăm năm nay, trong dân gian thường truyền tụng câu ca dao:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua

Con vua đây là con vua Hiển tông triều Hậu Lê. Nhà Hậu Lê đóng đô ở Hà nội ngày nay, thời bấy giờ gọi là Ðông đô. Nàng là công chúa Ðông đô. Hai đời chồng vua thì một đời chồng là vua nhà Nguyễn Tây Sơn, còn đời chồng kia là vua sáng lập nhà cựu Nguyễn. Cả hai triều vua Nguyễn Tây Sơn và cựu Nguyễn đều đóng đô ở thành phố Huế ngày nay, thời bấy giờ gọi là Phú Xuân. Nàng là Hoàng hậu Phú Xuân. Vậy nàng là công chúa Ðông đô, Hoàng hậu Phú Xuân. Nàng quả là một nhân vật phi thường. Nàng là ai vậy?

Trong lịch sử cận đại Việt Nam, hễ nói đến công chúa con vua mà lại lấy chồng vua, làm hoàng hậu, là người ta nghĩ ngay đến công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Lê Hiển tông, gả làm vợ vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn. dựa vào câu hát dân gian trên đây, người ta lại cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân được vua Gia Long lập làm Ðệ Tam cung, cho nên bà là công chúa mà lại lấy chồng hai lần, cả hai đời chồng đều là chồng vua cả. Lại cũng có truyền thuyết cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, chung cục của Lê Ngọc Hân vô cùng bi thảm. Bà đã cùng hai con trốn tránh được một thời gian rồi bị bắt và bị xử cực hình.

Sự thực như thế nào? Nàng công chúa Ðông đô, Hoàng hậu Phú Xuân đích thực là ai vậy?

Công chúa Lê Ngọc Hân sinh năm 1771, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32, là công chúa thứ 21 con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Bà mẹ công chúa Lê Ngọc Hân tên là Nguyễn Thị Huyền, người làng Phù Ninh, huyện Ðông ngàn, tỉnh Bắc ninh. Công chúa Lê Ngọc Hân là em Thái tử Lê Duy Vỹ và là cô Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ tức là người sau này lên nối ngôi vua Lê lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Khi Nguyễn Huệ làm tiết chế, thống lĩnh quân đội Tây Sơn ra đánh Bắc Hà với danh nghĩa "Phù Lê diệt Trịnh" vào năm 1786 thì công chúa Lê Ngọc Hân mới 16 tuổi. Vì Nguyễn Huệ một phần nào cũng có bụng tôn phù nhà Lê, mặt khác do sự mối mai thu xếp của Nguyễn Hữu Chỉnh muốn bắc cầu thân gia giữa vua Lê Hiển tông và Tiết chế Nguyễn Huệ, nên vua Lê Hiển tông đã đem công chúa Lê Ngọc Hân gả cho Nguyễn Huệ và phong Nguyễn Huệ làm Nguyên súy dực chính phù vận Uy Quốc công.

Từ cờ thắm trở vời đất bắc
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy

Hai vợ chồng Nguyễn Huệ lưu lại Ðông đô một thời gian ngắn. Sau khi vua Lê Hiển tông băng hà, công chúa Lê Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân. Ðến năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, phong cho công chúa Lê Ngọc Hân làm Bắc Cung Hoàng hậu. Thế là nàng công chúa Ðông đô đã trở thành Hoàng hậu Phú Xuân.

Ðiều cần lưu ý là vua Quang Trung có đến hai bà Hoàng hậu được tấn phong cùng một lúc. Ngoài Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, vua Quang Trung còn có Chính cung Hoàng hậu họ Phạm. Theo Tây Sơn Tiềm Long lục, bà Hoàng hậu họ Phạm này tên là Phạm Thị Liên, người Bình Định, là anh em ruột với Hộ giá Phạm Văn Ngạn, Giả vương Phạm Văn Trị, Thái úy Phạm Văn Tham và Thái úy Phạm Văn Hưng. Bà Phạm Thị Liên lại còn là anh em cùng mẹ khác cha với Thái sư Bùi Ðắc Tuyên và Hình bộ Thượng thư Bùi Văn Nhật.

Chính cung Hoàng hậu họ Phạm sinh hạ được 5 người con: 3 trai, 2 gái. Người con trai lớn là Quang Toản, còn có tên là Quang Bình, về sau nối ngôi nhà Tây Sơn, tức là vua Cảnh Thịnh. Hai người con trai kia thì một người tên là Quang Bàn, được phong Tuyên công Lãnh Ðốc Trấn Thanh hóa, một người tên là Quang Thiệu được cử làm Thái tể. Hai người con gái thì một người lấy Phò mã Nguyễn Văn Trị, còn một người thì gả cho Nguyễn Phước Tư là Tôn thất Hệ nhất nhà cựu Nguyễn. Vua quang Trung rất mực kính trọng bà Chính cung Hoàng hậu họ Phạm này. Theo các tài liệu của Phái bộ Truyền giáo Nam Hà, nhất là lá thư của giáo sĩ Girard đề ngày 25-11-1792 gởi giáo sĩ Boiret ở Macao, thì khi hoàng hậu lâm bệnh, vua Quang Trung đã cho mời thầy thuốc người Âu đến chữa bệnh và đến khi hoàng hậu mất thì nhà vua đau đớn vật vã đến phát điên phát cuồng. Bà mất ngày 29-3-1791 mà mãi đến ngày 25-6 năm đó mới đưa đi chôn cất. Bà được truy tặng là Nhân Cung Ðoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ Hoàng Chính Hậu.

Về phần Bắc cung Hoàng hậu họ Lê, bà là lá ngọc cành vàng, quê ngoại lại là xứ Kinh Bắc tài hoa văn vật, nên bà là một phụ nữ thông minh, đức hạnh và nhan sắc, thật là vẹn toàn mọi vẻ. Ngày mới thành hôn với Nguyễn Huệ, trên đường đi bái yết các tiên đế ở Thái miếu trở về, Nguyễn Huệ hỏi bà: "Các hoàng tử và công chúa, mấy ai được vinh hạnh như nàng, được thành thân với ta, nàng cảm thấy như thế nào?" Tuy mới 16 tuổi đầu, công chúa Lê Ngọc Hân đã tỏ rõ là người giỏi ứng đối: "Nhà vua quen sống đạm bạc, bổng lộc ít ỏi, các hoàng tử và công chúa đều thanh bạch, nay thiếp được nâng khăn sửa túi cho chúa công, cũng tỷ như giọt nước trên không trung rơi vào nơi lầu son gác tía, thân phận thiếp quả là may mắn hơn cả." Nguyễn Huệ rất đẹp lòng.

Bà có nhiều ảnh hưởng trong các quyết định quan trọng của Nguyễn Huệ. Khi vua Lê Hiển tông băng hà, Nguyễn Huệ đã nghe lời công chúa Lê Ngọc Hân, có ý muốn lập Sùng Nhượng công Duy Cận lên ngôi thiên tử. Nhưng hoàng tộc nhà Lê vì việc đó mà đòi tước bỏ sổ bộ của công chúa. Nguyễn Huệ lại theo lời bà mà chịu lập Hoàng tử tôn Duy Kỳ lên ngôi vua.

Vừa thông minh,vừa khôn khéo, trong thời gian làm Hoàng hậu ở Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân chẳng những chỉ làm đẹp lòng Ðức chí tôn mà còn khuynh loát cả triều đình như chúng ta sẽ thấy về sau này ảnh hưởng của bà lớn lao như thế nào trong việc tuyển chọn hoàng hậu cho vua Cảnh Thịnh. Thật vậy, bà đã quyết định đem em gái là công chúa Lê Ngọc Bình, cũng là công chúa con vua Lê Hiển tông như bà, vào làm chính cung cho Hoàng đế nối nghiệp nhà Tây Sơn là vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

Công chúa Lê Ngọc Hân lấy Nguyễn Huệ năm 1786, thụ phong Bắc cung Hoàng hậu năm 1789. Bà sinh hạ một trai là Nguyễn Văn Ðức và một gái là Nguyễn Thị Ngọc. Công chúa Lê Ngọc Hân mất năm 1799, đương triều vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm đó bà mới 29 tuổi. Bà được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bà là người vừa giỏi văn quốc âm, vừa thông sách Hán tự. Lúc vua Quang Trung còn sống, bà thường giảng giải kinh điển cho nhà vua nghe. Vua Quang Trung cử hành lễ Tứ tuần Vạn thọ Khánh tiết, bà dâng bài biểu mừng như sau:

"Tư ngộ thiên thọ khánh tiết, thanh thiên ứng luật, hôn chử tại thì. Ngọc thụ phiêu hương, bích đào hiến trường sinh chi quả; ngân thiềm thổ diễm, băng hồ khai phục đán chi hoa. Tử ái nùng nhi khuê các đằng phương, thụy khí sảng nhi vu huy tăng sắc. Cẩn phụng biểu xưng hạ giả. Phục dĩ thụy khí trinh tường, thông uất phụng lân chi thái; quang thiên xiển lãng, chiếu hồi Dực chẩn chi hư, Quế điện truyền hương; tiêu đình dật khánh. Khâm duy Hoàng đế Bệ hạ, tài cao thiên cổ, đức phối lưỡng nghi. Cung thiên phi chấn vũ công. Tây thổ bí hưng vương chi sự nghiệp; thì hạ tứ trần ý đức, đông giao hoàn định quốc chi qui mô. Xích nhật minh nhi ngung nhược hữu phu; thọ tinh diệu nhi chiêm y cọng ngưỡng. Thần Xu điện nhiễu quang phù Vạn Thọ chi bôi; xương hạp vân khai dinh triệt thiên thu chi kính. Tứ tự thường điều ngọc chúc, ức niên vĩnh điện kim âu.Thần đức thiểm Quan thư, nhân tàm Cưu mộc. Trung khổn cận bồi chẩn tọa, bái chiêm bát thiên xuân sơ kỷ chi tiên trù; nội đình mật nhĩ thiều âm, cẩn chúc thiên vạn tuế vô cương chi đỉnh tộ."

(Nay gặp khánh tiết mừng tuổi thọ của Hoàng đế, khúc nhạc Thanh thương ứng luật hợp tiết, cồn hoa đang độ. Cây ngọc đưa hương, cây bích đào dâng quả trường sinh; trăng bạc nhả ánh trăng trong, hồ băng lại nở hoa buổi sáng. Mây mù sắc tía nồng đượm mà khuê phòng hương nức; khí lành sáng tỏ mà áo xiêm thêm màu. Kính cẩn dâng bài biểu chúc mừng. Cúi lấy khí lành trình điềm tốt, tưng bừng màu sắc con phụng con lân; đầy khắp thiên hạ chiếu về cõi hư không sao Dực sao Chẩn. Ðiện quế truyền hương; sân tiêu tràn điều mừng.Kính nghĩ Hoàng đế Bệ hạ, tài cao thiên cổ, đức hợp với Trời và Ðất. Cung kính thi hành sự trừng phạt của Trời lớn lao chấn động vũ công, đất Tây Sơn đẹp đẽ hưng sự nghiệp đế vương; trần bày đức đẹp vào bản nhạc ca vĩ đại, ở cõi giao phía đông đã định xong qui mô của nước nhà. Mặt trời đỏ rạng mà nghiêm đáng tin (quẻ quan); sao thọ tinh chiếu sáng mà thiên hạ đều cùng ngưỡng lên trông mong nương tựa (thiên Tiểu biền, phần Tiểu nhã trong Kinh Thi). Sao xu của Bắc đẩu điện vây, ánh sáng nổi lên chen mừng Vạn thọ; cửa Trời mây mở, sắc trong thấu triệt mặt kính ngàn thu. bốn mùa thường điều hoà khiến cái đức của vua đẹp như ngọc sáng như đuốc; trong ức năm mãi vững chiếc lọ vàng.

Hạ thần đức thẹn với thơ Quan Thư, nhân ngượng với thơ Cưu mộc. Trong nội thất theo hầu kề cùng ngồi mặc đồ lộng lẫy, vái mong tính theo tuổi thiên niên kỷ khởi đầu của tuổi Bệ hạ một mùa xuân tám ngàn năm; chốn nội đình kề sát nghe nhạc thiều, ân cần chúc phước của quốc gia được ngàn muôn năm vô hạn)
(Nam Phong Tạp chí, số 103, năm 1926, phần Hán văn, bản dịch của Tạ Quang Phát)

Công chúa Lê Ngọc Hân vừa thông Hán tự, vừa giỏi quốc văn. Lúc hoàng đế Quang Trung băng hà vào ngày 15 tháng 9 năm 1792, bà mới có 22 tuổi. Bà chỉ mới chung sống với nhà vua vỏn vẹn có 6 năm trời, có được hai mặt con. Làm sao có thể tưởng tượng hết tâm trạng thống khổ của bà lúc bấy giờ. Rất may cho hậu thế là bà có soạn một bài văn tế bằng quốc âm để tế nhà vua. Trong nỗi bất hạnh lớn lao của công chúa Lê Ngọc Hân là cái may mắn tột cùng của nền văn học nước nhà. Bà đã để lại cho đời sau bài Ai Tư Vãn mà tất cả chúng ta đều đã biết. Tuy không thể so sánh ngang hàng với truyện Kim Vân Kiều hay Khúc Ngâm Chinh Phụ, nhưng bài Ai Tư Vãn cũng là một áng văn rất đáng trân trọng, cũng là một vật báu trong kho tàng văn học nước nhà. Trong bài điếu văn có nhiều câu nhiều chữ đọc lên như oán như than, khiến người thưởng lãm cũng thấy nao lòng. Phải là người trong cuộc, và tâm hồn hết sức tinh tế, tình cảm hết sức bén nhảy, mới có thể giải bày tâm trạng bi thương thành những lời thơ não nùng diễm tuyệt nhường ấy! Nỗi buồn nào lê thê bằng nỗi buồn của người góa phụ còn trẻ đau đớn than van về cái chết đột ngột của người chồng vương giả tài cao mà mện đoản:

Khi trận gió hoa bay thấp thoáng
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!

và niềm xót xa nào bi thiết hơn niềm xót xa của người mẹ trẻ vì thương con còn trứng nước mà chưa thể liều thân cjo vẹn chữ tòng:

Quyết liều mong vẹn chữ tòng
Trên rường nào ngại, giữa giòng nào e
Còn trứng nước thương vì đôi chút
Chữ thân tình chưa thoát được đi

Công chúa Lê Ngọc Hân là người tài sắc vẹn toàn. Bà sinh trưởng nơi chốn điện ngọc đền vàng, đã là công chúa con vua lại lấy chồng làm vua. Sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà, Hoàng thái tử Quang Toản lên kế vị, lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh. Tuy vua Cảnh Thịnh là con của bà Vũ hoàng Chính hậu họ Phạm, nhưng lúc bấy giờ bà này đã mất, nên công chúa Lê Ngọc Hân được tôn lên ngôi vị Hoàng Thái hậu. Hơn nữa, bà lại còn là chị ruột của công chúa Lê Ngọc Bình lúc bấy giờ là Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh. Trong chốn nội đình, địa vị của bà như vậy có thể nói là tột cùng tôn quí. Tuy nhiên, trong thời gian vua Cảnh thịnh mới lên ngôi, quyền lực trong triều bị thu tóm vào tay Thái sư Bùi Ðắc Tuyên và gia đình họ Bùi, gây nên tình trạng bè phái chia rẽ, và công chúa Lê Ngọc Hân đã rất đỗi đau lòng.

Thật vậy, nhóm quyền thần gốc Bình Định của Thái sư Bùi Ðắc Tuyên và Thái phó Trần Quang Diệu đã chèn ép các bề tôi cũ của vua Quang Trung gốc Thuận hóa và Bắc Hà, gây nên việc Trần Văn Kỷ bị đi đày. Ngô Văn Nhậm, Phan Huy Ích bị thất sủng, khiến Ngô Văn Sở bỏ chạy theo Nguyễn vương, tất cả những điều đó đã làm cho cuộc sống công chúa Lê Ngọc Hân phải trải qua một giai đoạn giao động. Nhưng sau cuộc chỉnh lý của Tư đồ Võ Văn Dũng, cha con Bùi Ðắc Tuyên, Bùi Ðắc Trụ bị trầm hà, phe phái lộng thần bị dẹp tan, triều đình trở lại ổn định, bên trong Tư đồ với Thái phó giảng hòa, bên ngoài dân chúng liên tiếp mấy năm được mùa, thì nỗi lòng công chúa Lê Ngọc Hân cũng vơi bớt chút ưu tư về thế cuộc, chỉ còn chĩu nặng niềm thương nhớ người chồng tài cao mà mệnh đoản:

Theo buổi trước ngự đèo Bồng Ðảo
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân
Theo xa xôi lại theo gần
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.

và nỗi xót xa hai đứa con còn trứng nước sớm lâm cảnh côi cút mà thôi:

Gót lân chỉ mấy hàng lẩm chẩm
Ðầu mũ mao mình tấm áo gai
U ơ ra trước hương đài
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào.

Năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, hưởng dương 29 tuổi. Lễ bộ Thượng thư Ðoan Nham hầu Phan Huy Ích phụng chỉ soạn bài văn tế cho Hoàng đế Cảnh Thịnh đích thân đọc trước linh sàng Hoàng thái hậu họ Lê.

Bà được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Bài văn tế này đã được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm tìm thấy và công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội.

Vậy rõ ràng công chúa Lê Ngọc Hân đã mất tại Phú Xuân, đương triều vua Cảnh Thịnh. Tuy vậy, chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân vẫn là một đề tài cho nhiều câu chuyện thành văn hoặc truyền khẩu khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau là đằng khác.

Nguyên do là sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, con cháu nhà Tây Sơn bị tuyệt diệt, các tài liệu về nhà Tây Sơn bị cấm tàng trữ, nên chẳng còn ai có cơ hội và phương tiện nghiên cứu thân thế và sự nghiệp các nhân vật thời Tây Sơn một cách chính xác và rõ ràng. Các tài liệu về nhà Tây Sơn được lưu hành chỉ thuần một loại là các sử liệu của Quốc Sử Quán triều Nguyễn mà thôi. Hơn nữa, những người đặt chuyện dã sử lại có thói quen dệt gấm thì thường thêm hoa, để cho câu chuyện đượm phần ly kỳ hấp dẫn. Bởi những lẽ đó mà chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân được kể lại trong các câu chuyện thành văn hay truyền khẩu đã không đúng với sự thật. Không có câu chuyện nào kể rằng công chúa Lê Ngọc Hân đã chết khi nhà Tây Sơn đang còn trị vì ở Phú Xuân.

Ngay cả việc ông Hoa Bằng trên tạp chí Tri Tân năm 1943 xuất bản tại Hà nội đã công bố bài Văn tế Vũ Hoàng hậu do Phan Huy Ích phụng chỉ vua Cảnh Thịnh viết để nhà vua đích thân đọc trước linh sàng công chúa Lê Ngọc Hân, cũng chẳng thay đổi được tình trạng ngộ nhận nói trên. Từ 1943 đến nay, các huyền thoại về công chúa Lê Ngọc Hân truyền tụng trong dân gian cũng như các truyện dã sử viết về chung cục công chúa Lê Ngọc Hân xuất hiện trên sách báo vẫn cứ một chiều đi theo con đường cũ sai lạc bấy lâu nay. Những truyền thuyết và chuyện dã sử về công chúa Lê Ngọc Hân từ trước đến nay có thể xếp vào hai loại. Loại thứ nhất nói rằng sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa Lê Ngọc Hân đã đưa hai con đi trốn, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rốt cục cũng bị phát hiện và bị giải về Huế xử cực hình. Loại thứ hai nói rằng sau khi diệt nhà Tây Sơn, vua Gia Long đã sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Ðệ Tam cung, và bà đã có hai con với nhà vua là các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương mà từ đường đến nay vẫn còn ở ngoại ô thành phố Huế.

Những truyền thuyết và chuyện dã sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ nhất thì đại thể về nội dung đều giống nhau, có khác biệt là chỉ khác biệt về địa điểm đi lánh nạn mà thôi. Sau khi nhà Tây Sơn mất, công chúa Lê Ngọc Hân đem hai con chạy trốn vào Quảng nam, sống trà trộn trong dân chúng được một thời gian, cuối cùng bị phát hiện, bị bắt đưa về Phú Xuân và bị xử án tam ban triều điển.

Nhiều truyền thuyết khác thì nói rằng công chúa Lê Ngọc Hân đem các con chạy trốn vào quê chồng ở Bình Định, rồi cũng bị bắt và cũng bị xử cực hình như đã nói ở trên. Trong những thập niên 60, 70 lại có những câu chuyện ly kỳ hơn về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, cả thành văn lẫn truyền khẩu, theo đó thì công chúa Lê Ngọc Hân đã mang các con chạy trốn vào tận Ðồng nai Gia định, nhờ đó mà tránh được tai mắt và nanh vuốt kẻ thù. Nhiều câu chuyện truyền miệng lại còn đi xa hơn, kể rằng sau khi nuôi dạy các con khôn lớn nên người, công chúa đã thí phát, tu hành đắc đạo và trở thành Giáo chủ của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhiều người trong Nam mang họ Nguyễn lại tự nhận là hậu duệ của Hoàng tử Nguyễn Văn Ðức - con Ðại đế Quang Trung và Vũ Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Gần đây, ở hải ngoại lại có một vài tác giả viết dã sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân, viết rằng sau khi Ðông đô thất thủ, nhà Tây Sơn mất ngôi, công chúa đã đem hai con chạy trốn về một vùng quê hẻo lánh ở Hải dương, sống lén lút trà trộn trong dân chúng được một thời gian rồi rút cục cũng bị phát hiện, bị bắt và bị giải về Phú Xuân lãnh án tử hình.

Tất cả những câu chuyện về chung cục bi thương huyền hoặc của công chúa Lê Ngọc Hân là hoàn toàn không phù hợp với sự thật lịch sử bởi một lẽ giản đơn và rõ ràng là công chúa Lê Ngọc Hân đã chết khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. Công chúa Lê Ngọc Hân mất vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh Thịnh, nghĩa là trước khi kinh thành Phú Xuân thất thủ. Công chúa Lê Ngọc Hân đã được truy tặng là Như Ý Trang Thuận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Công chúa Lê Ngọc Hân đã được ma chay tống táng tại kinh thành theo đúng nghi thức vương giả dành cho một bậc mẫu nghi thiên hạ. Bằng chứng hùng hồn là bài văn tế Vũ Hoàng Hậu tìm thấy trong Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích mà Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm đã công bố trên tạp chí Tri Tân vào năm 1943 tại Hà nội. Công chúa Lê Ngọc Hân đã chết đương thời vua Cảnh Thịnh trị vì thì làm gì có câu chuyện công chúa Lê Ngọc Hân phải lâm cảnh bôn ba lưu lạc sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi.

Về phần hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân thì một nhà truyền giáo Tây phương thời bấy giờ tên là L. Barizy đã cho biết là cả hai đều bị Nguyễn vương bắt lúc thành Phú Xuân thất thủ, không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh ra Bắc hà. Giáo sĩ L. Brarizy đã nhận diện và không tiếc lời ca ngợi khuôn mặt tuấn tú và thái độ cứng cỏi của hai đứa trẻ khi bị xử tử hình vào năm 1802, cùng một lần với vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Như vậy, hai người con của công chúa Lê Ngọc Hân đều đã bị yểu vong thì làm gì có câu chuyện hậu duệ của công chúa còn nối dõi tới bây giờ.

Các truyền thuyết và truyện dã sử về chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân thuộc loại thứ hai so với những câu chuyện trên đây thì ly kỳ hơn và chứa đựng nhiều tình tiết hư cấu xoay quanh các sự kiện lịch sử có thật. Thí dụ có chuyện kể rằng đầu năm Tân Dậu 1801, Nguyễn vương theo kế sách "Tượng kỳ khí xa" của Nguyễn Văn Thành, đã bỏ rơi Võ Tánh bị vây trong thành Bình Định để đem toàn lực ra đánh úp Phú Xuân. Ngày mồng 1 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương vào cửa Tư Dung, đến tối vượt phá Hà trung tiến chiếm bến đò Trừng Hà, ngày hôm sau đánh tan quân của vua Cảnh Thịnh ở cửa Eo và sáng ngày mồng 3 tháng 5 đem đại binh vào thành Phú Xuân dụng quân thần tốc đến độ vua Cảnh Thịnh thua chạy không kịp mang theo gia quyến. Tối hôm mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương đi tuần tra trong thành và đã gặp người thiếu phụ vương giả để rồi nên duyên vợ chồng.

Lại có chuyện kể rằng khi vua Gia Long quyết định sách lập công chúa Lê Ngọc Hân làm Ðệ Tam cung, triều thần có người can gián, cho rằng công chúa chỉ là vật dư thừa của Tây Sơn, và nhà vua đã trả lời rằng chúng ta tiêu diệt Ngụy Tây thì giang san này, thành quách này, nhất nhất há chẳng phải lấy lại từ tay Ngụy Tây hay sao, như thế cũng là vật dư thừa của Tây Sơn vậy. Lại có chuyện kể rằng sau khi vua Gia Long băng hà, Quảng Oai công yểu tử, Thường Tín Quận vương đã lập phủ đệ riêng, thì Ðệ Tam cung Lê Ngọc Hân lui về dưỡng già tại quê mẹ ở Bắc ninh cho đến lúc lâm chung. Tình cảnh công chúa "vinh diệu một đời có thể nói là cùng tột, thế mà trong những ngày xế bóng lưu lạc nơi quê ngoại, tưởng tới chuyện xưa cảnh cũ, há chẳng nao lòng mà than thở cho Tạo vật đã khéo trêu ngươi, không có việc gì lại không xảy ra được khiến phát sinh nỗi cảm khái vô cùng cho cuộc sống phù du!"

(Hậu hứa Bắc quy tùng mẫu thị hương quán trú ư Bắc ninh nhi chung yên. Khảo chúa tiểu tắc vi hoàng nữ, trưởng tắc vi hoàng hậu, kế vị hoàng thái hậu. Kỳ nhất sinh chi vinh diệu khả vị cực hỉ. Cập kỳ vãn niên bất miễn ư lưu lạc, tưởng Chúa ư thử thì phủ kim tư tích, xúc cảnh hưng hoài, ninh bất trướng nhiên thán Tạo vật chi lộng nhân, mỹ sở bất chí, nhi sinh vô cùng chi cảm khái tai!)

(Ngọc Hân công Chúa dật sự, Nam Phong Tạp chí, số 103, 1926)

Nhưng độc đáo hơn hết, phải kể đến bản gia phả của họ Nguyễn hoàng tộc. Ðó là cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả, bản quốc ngữ, do Tôn Nhân Phủ biên soạn và ấn hành dưới triều vua Thành Thái. Trong cuốn sách này, ở các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con vua Gia Long, rõ ràng mẹ đẻ của ngài được ghi là Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Thật là rõ ràng và chính xác như một cộng một là hai, như hai cộng hai là bốn, không còn bàn cãi gì nữa cả. Người viết đã chính mắt được đọc những dòng chữ đó vào năm 1988 tại nhà nhạc phụ, sách do ông Tôn Thất Yên đưa cho mượn. Ông Tôn Thất Yên lúc bấy giờ là người được hội đồng Nguyễn Phước tộc ủy thác điều hành công việc thường ngày của Hội đồng Nguyễn Phước tộc ở Sài gòn, và được hội Trung Việt Ái hữu ủy thác trông nom quản lý nghĩa trang Gò Dưa, Thủ đức.

Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương là những nhân vật có thật, tuy rằng Quảng Oai công yểu tử và Thường Tín Quận vương ngày nay không có con cháu nối dòng, nhưng từ đường các ngài hiện nay ở vùng ven đô Huế vẫn còn hương khói, các bài phiên hệ thi về phần các ngài vẫn còn được truyền tụng, vì vậy việc gia phả hoàng tộc do Tôn Nhân Phủ ấn hành ghi rằng mẹ đẻ các ngài đích thị là công chúa Lê Ngọc Hân là một sự kiện không thể không lấy làm trọng yếu hàng đầu trong việc nghiên cứu chung cục của công chúa Lê Ngọc Hân.

Vậy thì vấn đề được đặt ra là công chúa Lê Ngọc Hân có lấy vua Gia Long hay không. Nếu công chúa Lê Ngọc Hân không lấy vua Gia Long thì không còn có vấn đề công chúa Lê Ngọc Hân được sách lập làm Ðệ Tam cung, cũng như không còn có sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương. Mà chúng ta đã biết địch xác là công chúa Lê Ngọc Hân chết vào năm 1799, dưới triều vua Cảnh thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi, vậy thì khi vua Gia Long tiến quân vào thành Phú Xuân tháng 5 năm Tân Dậu, dương lịch 1801, thì công chúa Lê Ngọc Hân đã mất trước đó hai năm, hình hài đã nằm sâu dưới lòng đất lạnh, thì làm sao sống lại kết duyên vợ chồng với vì vua chiến thắng. Bởi lẽ đó, những câu chuyện thêu dệt chung quanh việc công chúa Lê Ngọc Hân lại một lần nữa lấy chồng vua là hoàn toàn không có căn cứ, là hoàn toàn sai sự thật.

Nhưng còn cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của Tôn Nhân Phủ đã khẳng định công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương? Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản hán văn, lại không phải do Quốc sử quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra, mà bản hán văn này thì trong các chương nói về Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đã viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự thì có khi nào nêu rõ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, thì đã chắc đâu muốn khẳng định rằng đó là công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến một nàng công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển tông nhà Hậu Lê? Mà điều này thì những người phiên dịch ra quốc ngữ đã không hề hay biết, lại thêm nặng tình tân học, viết lách trình bày việc gì cũng muốn tách bạch rõ ràng nên đã phiên dịch nhóm chữ "Công chúa Lê Ngọc, con vua Hiển tông" thành "Công chúa Lê Ngọc Hân, con vua Hiển Tông" theo sở kiến chủ quan của mình.

Như vậy rõ ràng hai hoàng tử Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương, con vua Gia Long, đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Chỉ vì bản quốc ngữ do sở kiến chủ quan của người phiên dịch đã khẳng định mẹ đẻ hai ngài là công chúa Lê Ngọc Hân thay vì cứ để là công chúa Lê Ngọc như nguyên bản hán tự, nên mới nảy sinh ra điểm phi lý là người đã chết mấy năm trước đó bây giờ còn đâu mà lại lần nữa đi lấy chồng để rồi sinh đậng hai con trai. Lại nữa cuốn Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ là gia phả thành văn của Nguyễn Phước tộc, là tài liệu chính thức về phả hệ hoàng phái, không thể nào được trước tác tùy tiện và thiếu chính xác được. Bởi vậy, Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương đích thực là cháu ngoại vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, mẹ là công chúa Lê Ngọc, nên trong gia phả mới ghi chép rõ ràng như vậy. cũng không thể có trường hợp thấy sang bắt quàng làm họ, thấy công chúa con vua lá ngọc cành vàng bèn nhận càng là bên ngoại cho thêm phần vẻ vang, bởi một lẽ giản đơn họ Nguyễn cũng là đại quý tộc, đã ở ngôi chúa Nam Hà ba trăm năm rồi, và hiện tại đang giữ ngôi vua thống nhất thiên hạ.cho nên một khi mà Hoàng Triều Ngọc Phả của Tôn Nhân Phủ đã ghi chép như vậy thì Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương con của vua Gia Long đích thực là cháu ngoại vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Nhưng nếu đã khẳng định rằng mẹ đẻ của Quảng Oai công và Thường Tín Quận vương không phải là công chúa Lê Ngọc Hân thì đương nhiên phải nêu vấn đề mẹ đẻ các ngài là công chúa con vua, cũng đã có một đời chồng trước là chồng vua, bây giờ lấy đời chồng hai là vua Gia Long sinh hạ được hai hoàng tử. Mẹ đẻ của các ngài quả là một nhân vật dị thường đúng như lời truyền tụng của nhân gian trong gần hai trăm năm nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

Con vua là con vua Lê Hiển tông nhà Hậu Lê. Hai đời chồng vua thì đời chồng vua trước là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, còn đời chồng vua thứ hai là vua Gia Long, vua sáng nghiệp nhà cựu Nguyễn. Bà là công chúa Lê Ngọc Bình, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân, là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, Ðệ Tam cung vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, mẹ đẻ các hoàng tử Quảng Oai công "sinh năm 1809" và Thường Tín Quận vương "sinh năm 1810".

Thân thế và sự nghiệp hai bà Lê Ngọc Hân và Lê Ngọc Bình có nhiều điểm tương đồng, mà những điểm tương đồng đó lại là những điểm rất căn bản. Hai bà đều là công chúa con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, hai bà đều sinh trưởng ở ngoài Bắc, nghĩa là cả hai đều là công chúa Ðông đô. Lớn lên hai bà đều lấy chồng trong Trung, chồng của hai bà đều là hoàng đế nhà Nguyễn Tây Sơn, nghĩa là cả hai bà đều là Hoàng hậu Phú Xuân. Do những điểm tương đồng căn bản đó mà những câu chuyện truyền tụng về cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, theo với không gian và thời gian mà dần dà thay đổi, để rồi lẫn lộn với nhau, cuối cùng thì chuyện có thật về người này trở thành chuyện huyền thoại của người kia. Nói rõ hơn, công chúa Lê Ngọc Hân chỉ lấy chồng một lần, còn công chúa Lê Ngọc Bình, sau khi nhà Tây Sơn mất ngôi, mới được vua Gia Long sách lập làm Ðệ Tam cung, mới là người phụ nữ lạ thường "con vua lại lấy hai đời chồng vua".

Ðiều đáng lưu ý là chính sử nhà Cựu Nguyễn không nói gì về công chúa Lê Ngọc Bình, còn các sử liệu liên quan đến nhà Nguyễn Tây Sơn thì tất nhiên dưới triều nhà cựu Nguyễn đã không được lưu hành, tàng trữ. Lại nữa, sự nghiệp của hai hoàng đế Quang Trung và Cảnh Thịnh khác biệt nhau một vực một trời, cho nên sử Tàu, sử ta trong Nam, ngoài Bắc, đâu đâu cũng nói nhiều về vua cha mà ít khi đề cập đến vua con, do đó mà có hệ luận tất yếu là những gì liên quan đến vua cha thì người đời đều biết nhiều hơn những gì liên quan đến vua con. Bản thân công chúa Lê Ngọc Hân cũng có nhiều điểm sắc sảo lanh lợi hơn công chúa Lê Ngọc Bình, nhất là công chúa Lê Ngọc Hân đã thông Hán tự lại còn giỏi quốc âm, nổi tiếng vì bài Ai Tư Vãn. Bởi các lẽ đó mà từ trước đến nay chúng ta chỉ nghe nói đến công chúa Lê Ngọc Hân mà không nghe ai đề cập đến công chúa Lê Ngọc Bình. Chỉ từ sau năm 1975, ty thông tin Văn hoá Nghĩa Bình ấn hành và phổ biến một số tài liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp các nhân vật đời Tây Sơn, chúng ta mới bắt đầu chú ý các nhân vật như Lê Ngọc Bình, là công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê và là Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản.

Theo các tài liệu do ty Văn hóa Nghĩa Bình công bố, vua Cảnh Thịnh và công chúa Lê Ngọc Bình đồng trang lứa với nhau. Vua Cản Thịnh sinh năm 1783, đúng như Ðại Nam Chính Biên Liệt truyện và các phúc trình của các giáo sĩ Longer và Le Labousse gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đã ghi chép. Như vậy, ngày công chúa Lê Ngọc Hân vầy duyên cá nước với Tiết chế Nguyễn Huệ (1786) thì công chúa Lê Ngọc Bình mới có 4 tuổi. Ðến năm Bính Ngọ (1792), vua Quang Trung mất, vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi, cả nhà vua lẫn công chúa mới được 10 tuổi. Thời gian này cả hai đang ở tuổi trúc mã thanh mai. Những năm tiếp theo là những năm Thái sư Bùi Ðắc Tuyên chuyên quyền nên chắc chắn là công chúa Lê Ngọc Hân dù đã có ý định vẫn chưa thể thực hiện việc kết hợp sắt cầm cho em gái với con chồng. Phải đợi đến sau chính biến năm Ất Mão (1795), phe cánh Thái sư Bùi Ðắc Tuyên bị dẹp tan, công chúa Lê Ngọc Hân mới có điều kiện thu xếp đưa em gái lên ngôi Chính cung Hoàng hậu.

Lúc này, các bề tôi thân tín lục tục trở về triều, công chúa Lê Ngọc Hân củng cố lại thế lực trong chốn nội đình và có ảnh hưởng quyết định đến công việc triều đình, thì cũng là lúc công chúa Lê Ngọc Bình vừa được 13 tuổi. Như vậy, công chúa Lê Ngọc Hân đối với công chúa Lê Ngọc Bình thì vừa là chị ruột, vừa là mẹ chồng. Cả hai đều là công chúa Ðông đô con vua Hiển tông nhà Hậu Lê. Cả hai đều trở thành Hoàng hậu Phú Xuân, công chúa Lê Ngọc Hân là Bắc cung Hoàng hậu của Thái tổ Vũ Hoàng đế, công chúa Lê Ngọc Bình là Chính cung Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản. Ðến năm Kỷ Mùi (1799), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 7, công chúa Lê Ngọc Hân mất, công chúa Lê Ngọc Bình vừa được 17 tuổi. Ðến năm Tân Dậu (1801), niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9, kinh thành Phú Xuân thất thủ, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc hà không kịp mang theo gia quyến, thì công chúa Lê Ngọc Bình chỉ có 19 tuổi, nếu tính tuổi theo lối ngày nay thì công chúa Lê Ngọc Bình chỉ mới 18 tuổi mà thôi. Chính vào thời điểm này Ðại Nguyên súy Tổng Quốc chính Nguyễn Phúc Ánh gặp công chúa Lê Ngọc Bình và năm sau, tức là năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn vương lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, và sắc phong công chúa Lê Ngọc Bình là Ðệ Tam cung, năm ấy công chúa Lê Ngọc Bình vừa tròn 20 tuổi.

Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề cần nêu lên là một sự kiện trọng yếu, rõ ràng và chính xác nhường ấy mà tại sao chính sử nhà Nguyễn lại không đề cập đến? Xin thưa ngay rằng các sử thần nhà Nguyễn trước nay vẫn lược qua không ghi chép những sự kiện lịch sử không phù hợp với quan điểm chính thống của ý thức hệ phong kiến phương Ðông. Thí dụ rõ ràng nhất là trường hợp Công nữ Ngọc Vạn con chúa Hy Tông, gả làm Hoàng hậu cho vua Chân lạp Chey Chetta II vào năm 1620, mở đầu việc chính quyền chúa Nguyễn kinh dinh đất Prey Kôr, tức là Sài gòn Chợ lớn sau này. Sự nghiệp của Công nữ Ngọc Vạn ở Cao Mên cũng như công trạng của Công nữ Ngọc Vạn đối với dân tộc Việt Nam đem so sánh với sự nghiệp và công trạng của Công chúa Huyền Trân đời Trần thì to lớn hơn nhiều lần, thế mà chính sử nhà Nguyễn, vì tinh thần tự tôn dân tộc nghĩ rằng việc gả con gái cho người nước ngoài là việc không đẹp, nên về thân thế thì ghi là "khuyết truyện", còn về sự nghiệp thì đã không chép được một câu.

Trong những trường hợp khác thì sử thần nhà Nguyễn giấu nhẹm những sự kiện lịch sử mà luân lý phong kiến phương Ðông cho là đi ngược với đạo lý. Thí dụ như trường hợp chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần là con chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát với một bà công nữ em con chú con bác với chúa Võ vương. Việc hợp hôn như vậy theo quan điểm Á đông là loạn luân, bởi thế chính sử nhà Nguyễn đã không đả động đến chuyện đó, mặc dù sự kiện này vô cùng trọng đại đối với tương lai vương nghiệp nhà cựu Nguyễn, vì đã mở đầu cho việc chúa Võ vương bỏ trưởng lập thứ đưa đến việc Trương Phúc Loan chuyên quyền và anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, khiến cơ nghiệp họ Nguyễn chút nữa thì tiêu vong, dòng dõi họ Nguyễn chút nữa thì tuyệt diệt.

Vậy thì đã lại tái diễn việc chính sử nhà Nguyễn lược qua không đả động đến dữ kiện Hoàng đế Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc Bình con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, nguyên Chính cung Hoàng hậu vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Ðệ Tam cung. Lý do cũng vẫn là ý thức hệ phong kiến nho giáo ràng buộc người phụ nữ vào tứ đức tam tòng, chồng chết thì chết theo chồng hoặc ở vậy chứ không được lấy chồng khác. Lý do cũng vẫn là ý thức hệ phong kiến nho giáo ràng buộc người nam nhi khi xuất khi xử luôn luôn phải tuân thủ đạo nghĩa tam cương ngũ thường, phân biệt minh bạch chính thống và tà ngụy. Bởi vậy, sử thần nhà Nguyễn đã cho rằng chuyện công chúa Lê Ngọc Bình vốn là người cũ của Ngụy Tây mà được sách lập làm Ðệ Tam cung là chuyện không đẹp, nên lược qua không đề cập đến, thái độ này phản ánh dư luận đa số các giới phong kiến nho sĩ đương thời mà rõ nét nhất là những câu chuyện truyền tụng về những lời lẽ của triều thần can gián nhà vua.

Tuy nhiên, những lý lẽ phản bác rất chính đáng của vua Gia Long cũng lại đã cho thấy ý chí không thể lay chuyển trong quyết định sách lập công chúa Lê Ngọc Bình làm Ðệ Tam cung. Hành động của vua Gia Long không phải là hành động của con người bình thường tiếc ngọc thương hoa, cho dù công chúa Lê Ngọc Bình có là công chúa con vua, trẻ đẹp, tuổi tác chưa được hai mươi. Hành động của vua Gia Long là hành động đã suy tính kỹ lưỡng, không vì tình nhi nữ nhỏ mọn ở chốn phòng khuê mà vì quyền lợi tối thượng của phe nhóm, của dòng họ, của triều đình, của chính nghĩa, của quốc gia đại sự. Thật thế, vua Gia Long tuy đã thống nhất đất nước, thu Nam Bắc về một mối nhưng lòng người Bắc hà vẫn còn tưởng nhớ nhà Lê. Song song với việc thiết lập cơ chế Bắc thành Tổng trấn, cho địa phương được tự trị rộng rãi, cũng như song song với việc lục dụng con cháu nhà Lê vào các cơ quan nhà nước, tùy tài khiển dụng không phân biệt Nam Bắc, mới cũ, việc sách lập một công chúa Bắc hà con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê vào một địa vị tôn qúy ở chốn nội đình là một hành động tâm lý chiến sâu sắc của một chính trị gia bậc thầy, một hành động có tính toán kỹ lưỡng và khôn ngoan tuyệt cùng.

Tóm lại việc nhà vua Gia Long sách lập công chúa Lê Ngọc Bình, công chúa con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, Hoàng hậu vợ vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn, làm Ðệ Tam cung là một sự kiện lịch sử có thật rõ ràng và chính xác, mặc dù chính sử nhà Nguyễn không đề cập đến. Công chúa Lê Ngọc Bình là em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Cả hai đều là công chúa Ðông đô, đều được sắc phong Hoàng hậu Phú Xuân. Nhiều câu chuyện truyền tụng trong dân gian đều thêu dệt chung quanh cuộc đời hai bà đan kết vào nhau, lẫn lộn vào nhau, thay đổi dần dà với thời gian và không gian, và đặc biệt là không mấy ai biết đến công chúa Lê Ngọc Bình mà chỉ biết có công chúa Lê Ngọc Hân thôi, nên cuối cùng, có nhiều chuyện đời thực của bà này lại trở thành huyền thoại về bà kia.

Vậy từ nay chúng ta hãy dứt khoát khẳng định sự kiện công chúa Lê Ngọc Hân chỉ có một đời chồng, và chung cục của bà vẫn là giàu sang tôn quý. Bà là Bắc cung Hoàng hậu của vua Quang Trung, và bà đã chết dưới triều vua Cảnh Thịnh, khi nhà Tây Sơn chưa mất ngôi. Còn người phụ nữ lạ thường đã là công chúa con vua lại lấy hai đời chồng vua là công chúa Lê Ngọc Bình, em ruột công chúa Lê Ngọc Hân. Công chúa Lê Ngọc Bình là con vua Hiển tông nhà Hậu Lê, có đời chồng thứ nhất là vua Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn và đời chồng thứ hai là vua Gia Long nhà cựu Nguyễn, đúng như câu ca dao trong dân gian vẫn còn truyền tụng đến ngày nay:

Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai đời chồng vua.

Minh Vũ HỒ VĂN CHÂM
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1363 Posted : Monday, January 16, 2017 3:08:58 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage

Chúc các bạn, độc giả thầm lặng và gia đình
Năm Mới Đinh Dậu tràn đầy Hồng ân, Phúc lộc, và An Khang

HONG VU LAN NHI & Team LN
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
thầm lặng on 1/18/2017(UTC)
thầm lặng  
#1364 Posted : Wednesday, January 18, 2017 5:32:33 AM(UTC)
thầm lặng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/28/2013(UTC)
Posts: 434

Thanks: 1349 times
Was thanked: 533 time(s) in 296 post(s)


Kính chúc chị Hồng
Thân chúc Lan Nhi cùng gia đình và các bạn năm Đinh Dậu
An Vui - Hạnh Phúc - Thịnh Vượng

Thầm Lặng


thanks 1 user thanked thầm lặng for this useful post.
hongvulannhi on 1/19/2017(UTC)
hongvulannhi  
#1365 Posted : Thursday, January 19, 2017 1:50:41 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage


Ô MAI

Tròn trăng nhớ nhỡ xuân thì
Ngọt thì chưa ngọt chua thì bớt chua
Mận đào đông đến trái mùa
Lá thu đang úa gió lùa rụng rơi

Gom về chớ để nằm phơi
Ngào đường ta có Ô Mai Tết này
Nước vôi pha ấm cho đầy
Trước tiên rạch sẻ, héo gầy bỏ đi

Xong ngâm mười tiếng lâu gì
Rửa lại nước ấm lau kỳ sạch trơn
Đường sáu lạng , mận một cân
Hòa chung ngâm kỹ cho thâm mận đào

Gừng gìa gĩa nát thêm vào
Muốn mặn thêm muối rồi xào lửa hong
Khi đường sệt lại là xong
Ta chờ cho nguội đem hong khô mày

Xuân thì còn mãi thơ ngây
Em chưa đủ ngọt vơi đầy cay chua
Mận đào lắm lúc trái mùa
Ô Mai ta có se sua với đời

Peter Lý
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1366 Posted : Saturday, January 21, 2017 10:32:33 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage


ĐẶC SẢN TIỀN GIANG

Ai ngang cửa Đại Tiền Giang
Trái cây ngon ngọt mênh mang bốn mùa
Ven sông rợp mát bóng dừa
Xanh xanh từng thửa đong đưa mận hồng

Quê hương của hủ mắm còng
Bánh bèo sam biển hương nồng khó quên
Ghé qua thành Phố Sông Tiền
Mỹ Tho hủ tiếu có duyên hơn người

Bún gạo chan nước dùng tươi
Xương hầm mực nướng tạo mùi đặc trưng
Con tôm đỏ gạch cong lưng
Sườn non gan luộc nằm chung miếng phèo

Thịt bằm cho béo nước lèo
Bún không dai bở như nhiều thức ăn
Ngoài ra hủ tiếu bò viên
Cũng rất lạ miệng niềm riêng nhớ đời

Gỏi già xứ Mỹ truyền đời
Hao hao bún mắm ăn rồi khó quên
Cũng là mắm cá mà nên
Me chua cho nước ngọt mềm canh chua

Thường ăn với tép dễ ưa
Còn thêm rau ghém cho vừa lòng nhau
Ai qua Chợ Gạo bờ sâu
Mùa còng còng lột đượm màu mắm chua

Quê hương hoa quả bốn mùa
Sầu riêng vú sữa rừng dừa vang danh
Bưởi long xoài cát cam sành
Câu hò trên nước mong manh lụa là

Ký Gàn
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1367 Posted : Saturday, January 21, 2017 2:47:17 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
UserPostedImage


NĂM DẬU NÓI CHUYỆN GÀ


PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.


Năm 2017 là năm Đinh Dậu tức là năm con Gà. Theo Hán- Việt, Gà là Kê. Người Anh gọi Gà trống là Cock hay Rooster; Gà mái: Hen và Gà ăn thịt được là Chicken. Theo thứ tự trên người Pháp có Coq, Poule va Poulet. Trong bài viết này chúng ta tìm hiểu sơ lược về Kê tộc trong cộng đồng loài người.

NGUỒN GỐC VÀ THÂN THẾ KÊ TỘC

Gà là loại cầm vũ có lông cánh như chim, đẻ trứng và ấp cho trứng nở ra Gà con. Gà có thể bay nhưng không thể bay cao và xa như Chim vì thân hình nặng nề. Quê quán của Kê tộc là vùng Nam Á và Đông Nam Á. Tổ tiên của Kê tộc là Gà Rừng lông đỏ, vàng, xanh, trắng; mỏ vàng và nhọn. Tên khoa học của tổ tiên Kê tộc là Gallus gallus. Tên Gà được thuần hóa là Gallus gallus domesticus thuộc gia đình Phasianidae.

UserPostedImage


Gà trống có lông đẹp hơn Gà mái. Gà thường có các màu lông sau đây: lông đen (Gà Quạ); lông trắng (Gà Ác, Gà Ri); lông màu hỗn hợp đỏ, vàng, đen, xanh, trắng trông đẹp mắt; lông màu đỏ (Gà Điều), lông màu vàng (Gà Phèn); lông có đốm trắng đen, vàng (Gà Nổ).

Tổ tiên Kê tộc trên thế giới có 05 chi tộc lớn:

1. Gallus gallus murghi ở miền bắc và đông bắc Ấn Độ
2. Gallus gallus spadiceus ở Yunnan (Vân Nam), Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia.
3. Gallus gallus jabouillei ở Bắc Bộ Việt Nam, Yunnan, Hainan (đảo Hải Nam)
4. Gallus gallus gallus ở Bắc Bộ Việt Nam, Thái Lan, Lào, Cambodia
5. Gallus gallus bankiva trên đảo Sumatra, Java, Bali (Indonesia).

Thị giác và thính giác của Kê tộc rất bén nhạy. Nhưng vào buổi tối thị giác của Kê tộc giảm đi rất nhiều. Vì vậy có chứng bịnh quáng gà (night blindness- nyctalopia) do thiếu sinh tố A mà ra.

Kê tộc kiếm ăn vất vả bằng cách bươi móc trùn, dế dưới đất. Thức ăn của Kê tộc rất đa dạng: thóc lúa, các loại hột, cỏ, trùn, dế, kiến, mối, các loại bò sát nhỏ. Gà nuôi ở nhà ăn thóc lúa, bắp xay nhuyễn, cám v.v.

Gà vào 05, 06 tháng tuổi bắt đầu bắt cặp để sinh sản. Trung bình mỗi con Gà mái đẻ từ 08 đến 12 trứng. Trứng ấp trong 21 ngày (03 tuần lễ) thì nở con. Việc ấp trứng có thể không cần đến sự hiện diện của Gà mẹ. Người ta có thể ấp trứng bằng trấu . Ngày nay người ta ấp trứng bằng máy ấp. Gà con được Gà mẹ chăm sóc trong vòng 12 tuần. Sau đó Gà con phải tự túc kiếm ăn và tự vệ lấy mình chống lại các kẻ thù của Kê tộc như Diều, Quạ, Chồn, Chuột v.v.

Xã hội Kê tộc là xã hội đa thê. Một Gà trống có thể làm công tác truyền giống cho 05 đến 10 con Gà mái.

KÊ TỘC TRONG XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Kê tộc là loại cầm vũ sớm tiếp xúc với loài người từ 5000 năm trước Tây Lịch ở Trung Hoa và 2000 năm trước Tây Lịch ở Ấn Độ. Trên mộ của Pharaoh Tutukhamen (1350 trước Tây Lịch) có hình con Gà. Gà được thuần hóa ở Hy Lạp vào thế kỷ V hay IV trước Tây Lịch.

Kê tộc cung cấp cho loài người một nguồn thịt to lớn. Loài người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc đều ăn thịt Gà. Người theo Ấn Giáo không ăn thịt bò. Người theo Hồi Giáo, Do Thái Giáo không ăn thịt heo. Nhưng toàn thể nhân loại đều ăn thịt Gà. Gà dễ nuôi, chóng lớn. Thịt và trứng là thức ăn bổ dưỡng. Lông dùng để làm chổi lông Gà. Phân Gà dùng để bón vào ớt. Hiện nay thế giới có 50 tỷ con Gà. Trung Hoa là quốc gia sản xuất nhiều Gà nhất thế giới với 4 tỷ con. Kế đó là Hoa Kỳ: 02 tỷ ; Indonesia: 1.8 tỷ; Brazil: 1.8 tỷ; Ấn Độ: 0.680 tỷ; Mexico: 0.540 tỷ v.v.

Người Trung Hoa ăn Gà quay, Gà hấp muối, Gà xối mỡ, Gà hấp cải bẹ xanh; chân Gà hấp, cánh Gà chiên bơ. Người Âu- Mỹ ăn Gà rô- ti, Gà nấu ra gu, trứng Gà chiên nửa sống nửa chín. Ở Hoa Kỳ người ta ăn món Fried Chicken Kentucky. Người Âu- Mỹ làm thịt Gà hộp, súp thịt Gà và nấu xương Gà để có Chicken Broth. Người Ấn Độ ăn cà-ri Gà. Người Việt Nam ăn tất cả các món kể trên của người Trung Hoa, Pháp và Ấn Độ. Người Việt Nam thích ăn Gà luộc xé phay trộn với rau răm hay rau quế, bắp chuối, hành Tây. Họ cũng thích món Gà kho gừng; Gà xào lăn, Gà xào sã ớt, thịt gà nấu canh chua lá dang Agnonerion polymorphum. Người Việt Nam cho rằng thịt Gà nhiệt và thịt Vịt hàn dựa trên quan sát Vịt lội nước, trái lại Gà sợ nước và chỉ tắm cát mà thôi. Trong các tiệc cưới ở Việt Nam người ta thường đãi món Gà rút xương hay Phượng Hoàng Ấp Trứng nấu nướng công phu và trình bày rất nghệ thuật.

Loài người dùng Gà Tre, Gà Nòi để đấu đá nhau đẫm máu để cá độ. Gà Nòi được xem là võ sĩ hạng nặng trong khi Gà Tre là võ sĩ hạng lông, hạng ruồi. Đá Gà là một thú vui và cũng là thứ cờ bạc của các dân tộc Á Châu, Tây Ban Nha, Trung và Nam Mỹ. Đến thế kỷ XIX thú vui nầy tràn sang Anh.

Người Trung Hoa tẩm bổ cho người bịnh bằng thịt Gà Ác hầm với các vị thuốc Bắc. Gà Ác (White Silkies) là Gà nhỏ con, lông trắng như tuyết nhưng thịt đen như than. Nhưng tại sao phải là Gà Ác? Sự suy luận dựa trên lý Âm- Dương Ngũ Hành như sau: Gà Ác lông trắng (Kim) tương ứng với Phế (Phổi); thịt màu đen (Thủy) tương ứng với Thận. Gà được hầm trong cái nồi đất (Thổ) có nước (Thủy), hầm bằng than củi cháy đỏ (Hỏa) với các vị dược thảo (Mộc). Như vậy Gã Ác hầm thuốc Bắc hội đủ Âm- Dương Ngũ Hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) bồi bổ cho Ngũ Tạng (Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận) của người bịnh trong thời kỳ bình phục. Để tăng cường hành Kim trong thức ăn này, sau khi hầm Gà với các Bắc dược người ta để một con dao trên miệng cái nồi đất.

UserPostedImage


Tiếng Gà trống gáy được xem như tiếng đồng hồ báo thức, tượng trưng cho vầng Thái Dương lúc rạng đông. Nghệ nhân Trung Hoa thường vẽ hình con Gà trống với mặt trời đỏ chói. Các đạo sĩ trù yểm tà ma bằng cách đặt tượng con Gà trên mái nhà. Người Trung Hoa quí Gà Ác vì cho rằng Gà Ác xua đuổi tà ma. Trong nhà họ thường đặt bức tranh Gà Ác trống và Gà Ác mái với 05 Gà Ác con tiêu biểu cho Âm Dương Ngũ Hành (Gà trống < + >, Gà mái < - >, 05 Gà con: Ngũ Hành): Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ với hy vọng gia đạo được quân bình, êm ấm và hạnh phúc.

Theo huyền thoại Nhật Bản, tiếng Gà trống gáy làm cho Thái Dương Thần Nữ Amaterasu ra khỏi hang động. Gà trống là biểu tượng của sự can đảm đối với người Nhật.

Trong huyền thoại Hy Lạp có Kê Mã Hippalektryon, một quái vật mình Ngựa, đuôi, cánh và chân Gà. Trong huyền thoại Hy Lạp có những mối tình lăn nhăn giữa các vị Thần. Thần Aphrodite, nữ Thần tình yêu và hôn nhân, ăn ở với Thần Hephaestus trên núi Olympia. Thần Hephaestus có tướng mạo kỳ dị nên nữ Thần Aphrodite có quan hệ tình cảm với Thần chiến tranh Ares. Thái Dương Thần Helios báo cho Thần Hephaestus biết mối tình thầm kín giữa nữ Thần Aphrodite va Ares. Thần Hephaestus cảnh cáo cả hai Thần Aphrodite và Ares nhưng họ vẫn tiếp tục yêu nhau đắm đuối. Họ nhờ một cậu bé canh chừng khi nào Thần Thái Dương đến gần thì cho họ hay. Cậu bé buồn ngủ nên ngủ quên. Thần Helios đến mà cậu không hề hay biết để báo cho Thần Aphrodite và Ares. Tức giận về sự tắc trách của cậu bé, Thần Ares biến cậu thành một con Gà trống để thông báo Thái Dương Thần Helios đến đúng giờ.

Trong Tân Ước Kinh sách Matthew 26: 31, Mark 14:27, Luke 22:31-34, John 13: 36- 38 có đề cập đến sự tiên đoán của Chúa Jesus về người đệ tử luôn luôn gắn bó với Chúa là Peter sau bữa tiệc tiễn ly như sau: “ta nói với người rằng, trước khi Gà gáy sáng ngươi sẽ chối ta ba lần.”

Vào thời Trung Cổ người Pháp chọn con Gà trống làm quốc huy gọi là Coq Gaulois (Gallic Rooster). Biểu tượng này được gợi lại trong thời gian 1899- 1914. Hình ảnh con Gà trống được tìm thấy trên đồng tiền vàng 20 Francs (Phật Lăng) và trên tem thơ của Pháp.

Trong ngôn từ của loài người chỉ thấy châm biếm, chế nhạo Kê tộc nhiều hơn là khen ngợi. Người Anh gọi Gà là chicken nhưng chicken cũng có nghĩa là người hèn nhát, người đồng tính luyến ái. Trong tiếng lóng Cock (Gà trống) có nghĩa là bộ phận sinh dục của nam giới. Thực tế Gà trống đâu có bộ phận sinh dục! Người Anh có câu:

As proud as a cock on its own dunghill

tương đương với câu:
Chó cậy nhà, Gà cậy chuồng.

của người Việt Nam. Trong ngôn ngữ của loài người có nhiều cụm từ ngữ dùng hình ảnh của Kê tộc. Người Anh dùng chicken pox để chỉ bịnh trái rạ. Người Việt Nam tin rằng người bị bịnh trái rạ đạp phân Gà thị bịnh trở nên trầm trọng hơn. Người Việt Nam dùng từ kê manh hay quáng Gà (nyctalopia- cécité crépusculaire) để chỉ thị giác yếu thấy lơ mơ khi trời tối vì thiếu sinh tố A.

- Tuổi cập Kê: tuổi lập gia đình.
- Kê bì: da Gà chỉ da nhăn đùn của người già.
- Kê bì Hạc phất: già nua, da nhăn như da Gà; tóc bạc như loài Hạc trắng.
- Kê đầu nhục: núm vú của phụ nữ
- Kê Khuyển bất minh: thời tao loạn Chó không sủa, Gà không gáy.
- Kê lạc công danh: công danh như sườn Gà. Ăn không ngon nhưng không nỡ bỏ.
- Kê minh Khuyển phệ: cảnh thái bình có tiếng Chó sủa và tiếng Gà gáy.
- Kê tranh Nga đấu: sự rầy rà, đấu tranh ầm ĩ giữa Gà và Vịt (hay Ngỗng).
- Kê quần Hạc lập: con Hạc giữa bầy Gà (Hạc tượng trưng cho người cao khiết. Đàn Gà tượng trưng cho người tầm thường)
- Kê gian: hình thức giao hợp không hợp với tự nhiên.
- Kê hồn hương: mùi thơm của một loại nhang thơm làm cho người ngửi mê hồn đến khi Gà gáy sáng mới tỉnh dậy.
- Gà đẻ Gà cục tác: vô tình nói ra điều mình đã làm mặc dù không ai biết.
- Gà trống nuôi con: cảnh người đàn ông góa vợ phải thay vợ nuôi con.
- Mặt Gà mái: người có mặt Gà mái hay thù dai và hiểm độc.
- Gà mái gáy: là điểm bất lành. Nơi có Gà mái gáy có chuyện bất lành như hỏa tai hay trộm đạo.
- Gà mái đá Gà Cồ: cảnh vợ ăn hiếp chồng
- Gà mở cửa mả: ám chỉ người khờ khạo, chậm chạp, vụng về. Gà mở cửa mả luôn luôn là Gà mái. Người Việt Nam tin rằng Gà mở cửa mả là Gà đẻ nhiều trứng. Trong ca dao Việt Nam về Gà có câu:

Máu Gà thì tẩm xương Gà.
Máu Gà đem tẩm xương ta sao đành.

Theo cách chữa trị cổ truyền, khi gãy xương, người ta dùng Gà con bó vào nơi xương gãy. Do đó có câu:

Chó liền da,
Gà liền xương.

Trong truyện kể về Cống Quỳnh đem Gà trống thiến (capon) đá với Gà chọi của các họan quan thời vua Lê Chúa Trịnh. Đó là hình thức châm chọc các hoạn quan lộng quyền ở Đàng Ngoài thời bây giờ.

Dưới thời Pháp thuộc có chuyện Ăn- Co On (Encore Un: Thêm Một Cái Nữa) liên quan đến món Gà rô- ti ở các cao lâu Trung Hoa ở Việt Nam. Câu chuyện khôi hài nầy phản ảnh phần nào tính kiêu ngạo của những thị dân Việt Nam hấp thụ Tây học chế nhạo sự dốt nát tiếng Pháp của người nông thôn nên muốn ăn Gà rồ-ti lại gọi mắm hầm vì hai lần!

Trong thực vật học có Kê quan hoa (Hoa Mồng Gà) Celosia cristata; Kê thiết hương tức cây đinh hương Syzygium aromaticum; cỏ Chân Gà Dactylis glomerata; Chickweed (Kê Thảo) Stellaria media; Chicken pea (Đậu Ấn Độ) Cicer arietinum; Chicken of the wood (Nấm Kê Mộc) Laetiporus sulphurus v.v.

Trong Thiên Văn Học có chòm sao Gallus (Kê Tinh) do tu sĩ Giáo Hội Cải Cách Hoà Lan Petrus Plancius khám phá năm 1613. Petrus Plancius là một nhà tinh tú học nghiên cứu hàng hải và vẽ bản đồ. Từ năm 1596 ông đã vẽ bản đồ Đông Nam Á trong đó có Nam Kỳ, Cambodia, Champa (Chiêm Thành) v.v. Sao Gallus được thay thế bằng tên mới: chòm sao Puppis (Puppis: Sân sau của chiếc tàu).

Trong Đề 40 số, con Gà mang số 28 sau con Rùa (27) và trước con Lươn (29).

Con Gà là một trong 12 biểu tượng trong Tử Vi Trung Hoa. Năm Dậu (con Gà) đi sau năm Thân (con Khỉ) và đi trước năm Tuất (con Chó).
Tuổi Dậu hợp với Tỵ (Rắn), Dậu (Gà), Sửu (Trâu), Thìn (Rồng)
Tuổi Dậu kỵ với: Tí (Chuột), Ngọ (Ngựa), Mão (Mèo), Tuất (Chó).

Năm Dậu là năm Âm (-).

Ta có:

Năm Hành Màu Sắc

Ất Dậu:1885, 1945, 2005, 2065 Thủy Đen
Đinh Dậu: 1897, 1957, 2017, 2077 Hỏa Đỏ
Kỷ Dậu: 1909, 1969, 2029, 2089 Thổ Vàng
Tân Dậu: 1921, 1981, 2041, 2101 Mộc Xanh
Quí Dậu: 1933, 1993, 2053, 2113 Kim Trắng
Ất Dậu: 1885, 1945, 2005, 2065 Thủy Đen


BIỂN CỐ LỊCH SỬ VÀO NĂM DẬU VÀO THẾ KỶ XX

* 1909: Colombia công nhận độc lập của Panama; quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Cuba sau chiến tranh với Tây Ban Nha; đô đốc Peary đến Bắc Cực; hiệp ước Pháp- Đức về vấn đề Morocco; Wright thử nghiệm chiếc phi cơ quân sự đầu tiên của Hoa Kỳ; Ito Hirofumi bị một người Triều Tiên ám sát chết ở Mãn Châu; hiệp ước Anh- Xiêm La theo đó Xiêm nhượng các tiểu bang Kelantan, Trenggaru, Perlis và Kedah cho Anh.

* 1921: hội nghị Washington; đảng Cộng Sản thành lập ở Ý, Trung Hoa, Tiệp Khắc, Tây Ban Nha; Cộng Sản Nga xâm lăng Georgia; Ái Nhĩ Lan độc lập; Noite Sargrento (Đêm Đẫm Máu) ở Lisbon (Bồ Đào Nha); 05 triệu người Nga chết đói.

* 1933: Adolf Hitler nắm chánh quyền; tổ chức mật vụ Gestapo (Geheime Staat- spolizei); Francis Perkins, nữ bộ trưởng đầu tiên của Hoa Kỳ (bộ Lao Động); Chương Trình T.V.A (Tennessee Valley Authority); Toà Án Quốc Tế La Hague tuyên bố Greenland thuộc chủ quyền của Đan Mạch; nhà bác học Albert Einstein đến tỵ nạn ở Hoa Kỳ; Chánh Phủ Nhân Dân Fujian (Phúc Kiến).

* 1945: nạn đói ở Bắc Bộ; Nhật đảo chánh Pháp trên bán đảo Đông Dương; chánh phủ Trần Trọng Kim; hội nghị Yalta; tổng thống Roosevelt mất; hội nghị Potsdam; Hiroshima và Nagasaki bị dội bom nguyên tử; Đức và Nhật đầu hàng quân Đồng Minh; Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

* 1957: Do Thái rút quân ra khỏi bán đảo Sinai mà họ chiếm năm 1956; tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay chết trong tai nạn phi cơ; Mã Lai độc lập; Liên Sô phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik I & II; tổng thống Sukarno của Indonesia quốc hữu hoá 246 cơ sở kinh doanh của Hòa Lan và trục xuất 326,000 người Hòa Lan ra khỏi Indonesia; Mao Zedong (Mao Trạch Đông) xác nhận thanh toán 800,000 kẻ thù giai cấp < vô sản > từ năm 1949 đến 1954; hiệp ước Rome về việc thành lập Cộng Đồng Kinh Tế Âu Châu (European Economic Community- EEC); cải cách điền địa ở Nam Việt Nam.

* 1969: Hồ Chí Minh chết; Việt Nam hoá chiến tranh; chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Liên Sô trên đảo Damansky; Hoa Kỳ đưa người lên cung trăng; biểu tình chống Chiến Tranh Việt Nam ở Washington D.C; chánh phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (Mặt Trận).

* 1981: Iran thả 52 con tin Hoa Kỳ; Jiang Qing (Giang Thanh), vợ Mao Zedong, bị tuyên án tử hình (không có hành quyết); Giáo hoàng John Paul II bị ám sát (bị thương); tổng thống Reagan bị ám sát (bị thương); tổng thống Sadat (Ai Cập) bị ám sát chết; hôn lễ giữa thái tử Charles (Anh) và Diana Spencer; Sandra Day O’connor là nữ thẩm phán Tối Cao Pháp Viện đầu tiên của Hoa Kỳ; Mitterand của đảng Xã Hội Pháp đắc cử tổng thống Pháp lần đầu tiên.

* 1993: Tiệp Khắc chia ra làm hai nước: Cộng Hoà Tiệp Khắc (Bohemia) và Slovakia; Jiang Zemin (Giang Trạch Dân) được đề cử làm chủ tịch CHNDTQ; đảo chánh ở Guatemala; PLO (Tổ Chức Giải Phóng Palestine) nhìn nhận nước Do Thái; hiệp ước hòa bình Do Thái- PLO; Sihanouk trở lại ngai vàng Cambodia; hiệp ước Maastricht về Liên Âu; Vatican nhìn nhận Do Thái.

* 2005: Condoleezza Rice là nữ bộ trưởng Ngoại Giao gốc Phi Châu đầu tiên ở Hoa Kỳ; cựu thủ tướng Lebanon, Hariri bị ám sát chết; Hồng Y Joseph Ratzinger được bầu làm Giáo Hoàng niên hiệu Benedict XVI; Tây Ban Nha hợp thức hóa hôn nhân đồng tính; Michaelle Jean là toàn quyền Da Đen đầu tiên ở Canada; Ellen Johnson Sirleaf là nữ tổng thống đầu tiên ở Liberia và trên lục địa Phi Châu; Nguyễn Văn Tường bị hành quyết ở Singapore về tội buôn bán ma túy.

YẾU NHÂN THẾ GIỚI SINH VÀO NĂM DẬU

Barry Goldwater (1909- 1998)

Ông Goldwater là người Hoa Kỳ gốc Do Thái đầu tiên được đảng Cộng Hoà đưa ra tranh cử tổng thống năm 1964. Ông tốt nghiệp trường Võ Bị Stauton tư ở Virginia và đại học Arizona. Ông là một nhà kinh doanh, sĩ quan Không Quân và một nhà chánh trị thuộc đảng Cộng Hoà. Ông là nghị sĩ của tiểu bang sinh quán Arizona 05 nhiệm kỳ: hai nhiệm kỳ từ năm 1953 đến 1965 và 03 nhiệm kỳ từ năm 1969 đến 1987.

Năm 1964 ông được đảng Cộng Hoà đưa ra tranh chức tổng thống đương đầu với ứng cử viên đảng Dân Chủ Lyndon B. Johnson. Ông Johnson hành sử chức vụ tổng thống từ năm 1963 đến 1964 sau khi tổng thống Kennedy bị ám sát chết. Ông Goldwater thất cử trước Johnson vì có chủ trương cứng rắn về biện pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam và có đường lối không thuận lợi cho người Da Đen nên bị người Da Đen biểu tình phản đổi dữ dội. Ông là người có uy tín trong đảng Cộng Hoà. Chính ông là người đầu tiên khuyên tổng thống Nixon từ chức vì vụ Watergate.

U Thant (1909- 1974)

U Thant là người Miến Điện, tổng thơ ký thứ ba của Liên Hiệp Quốc và là người Á Châu đầu tiên giữ chức vụ này. Ông là nhà giáo dục tốt nghiệp đại học Rangoon và là bạn thân của thủ tướng U Nu. Khi U Nu làm thủ tướng ông là giám đốc đài phát thanh (1948) rồi tổng trưởng bộ Thông Tin. Từ năm 1951 đến 1957 ông viết diễn văn cho thủ tướng U Nu.

Từ năm 1961 đến 1971 ông giữ chức tổng thơ ký Liên Hiệp Quốc thay thế ông Daj Hammarskjold chết trong một tai nạn phi cơ. Trong thời gian đứng đầu tổ chức quốc tế này ông đối đầu với vấn đề Congo, khủng hoảng Cuba giữa Hoa Kỳ và Liên Sô, chiến tranh Việt Nam, vấn đề Berlin. Ông chỉ trích Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết lý Phật Giáo, U Thant là người hiền hòa, ưa chuộng hòa bình. Ông ngưỡng mộ Sir Stafford Cripps, Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) và Mahatma Gandhi. Tướng Ne Win không ưa thích ông vì ông là bạn thân của U Nu mà Ne Win lật đổ. Ông có nhiều danh dự trên thế giới nhưng không có danh dự gì với chế độ quân nhân ở Miến Điện. Ngày ông mất quan tài của ông được chở từ trụ sở LHQ về Miến Điện. Không một viên chức nào của chánh phủ quân nhân được cử ra phi trường chào đón linh cửu của ông. Một thứ trưởng bộ Giáo Dục ra phi trường nghiêng mình trước quan tài của ông bị mất chức sau đó. Sinh viên biểu tình chống chế độ độc tài quân nhân đối xử tệ bạc đối với một nhân vật Miến Điện được cả thế giới vinh danh. Người Miến Điện gọi ông là Pantanaw U Thant tức ông U Thant Pantanaw (Pantanaw: sinh quán của ông).

Aung San Suu Kyi (1945- )

Aung San Suu Kyi là nữ chánh trị gia, ngoại giao, tác giả của nhiều quyển sách chánh trị ở Miến Điện. Bà là con gái của nhà cách mạng và tướng lãnh có công thành lập quân đội Miến Điện trong đệ nhị thế chiến: Aung San. Trong đệ nhị thế chiến ông Aung San được Nhật huấn luyện quân sự trên đảo Hainan (Hải Nam). Ông được huy chương cao quí của Nhật hoàng Hirohito.

Năm 1947 ông đại diện Miến Điện sang London thương thuyết với chánh phủ Anh về việc trao trả độc lập cho Miến Điện. Cũng năm này ông bị ám sát chết. Lúc ấy Aung San Suu Kyi mới hai tuổi. Được sự hướng dẫn của mẹ, Aung San Suu Ky học ở Miến Điện, New Delhi rồi Anh Quốc. Bà tốt nghiệp đại học ở Oxford rồi đại học London. Bà nói thông Anh, Pháp và Nhật ngữ.

Chồng bà Ang San Suu Kyi là người Anh. Bà từng làm việc cho Liên Hiệp Quốc khi ông U Thant là tổng thơ ký của tổ chức này. Năm 1988 bà về nước thăm mẹ bị bịnh nặng và ở lại Miến Điện bắt đầu đấu tranh chống chế độ độc tài quân đội. Bà thành lập Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ (NLD: National League for Democracy). Liên Minh của bà chiếm 81% phiếu bầu trong cuộc bầu cứ năm 1990. Các tướng lãnh phủ nhận kết quả cuộc bầu cử và quản thúc bà tại gia ngót 20 năm trường. Năm 2010, do áp lực của LHQ, Anh, Hoa Kỳ và vì tình trạng kinh tế quốc gia bệ rạc cộng thêm tình trạng Miến Điện trên đà bị Hán hoá về chánh trị và kinh tế nặng nề, phe quân nhân có vài nhân nhượng chánh trị. Bà Aung San Suu Kyi được tự do. Trong kỳ bầu cử bổ túc năm 2012 Liên Minh của bà chiếm 43/ 45 ghế trong Quốc Hội. Trong kỳ bầu cử năm 2015 Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ chiếm 86% tổng số ghế trong Quốc Hội. Nhưng bà không được làm tổng thống theo hiến định vì bà có chồng và con ngoại quốc. Ông Htin Kyaw làm tổng thống, bà là tổng trưởng bộ Ngoại Giao và tổng trưởng bộ Phủ Tổng Thống.

Bà Aung San Suu Kyi được giải Sakharov, Nobel Hòa Bình, huân chương Nehru v.v. Chồng bà lãnh giải thưởng Nobel thay cho bà vì bà không được rời khỏi Miến Điện và, nếu bà rời Miến Điện, bà không được trở về Miến Điện! Bà Aung San Suu Kyi là một nữ chánh trị gia Á Châu có tầm vóc quốc tế, Bà có can đảm và quyết tâm chống lại chế độ độc tài quân sự thống trị trên quê hương bà. Hai cuộc bầu cử trong sạch năm 2012 và 2015 đánh dấu một bước tiến khá dài của Miến Điện trong việc xây dựng một nền dân chủ ấu trĩ sau trên nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài quân sự đưa đất nước vào tình trạng tự cô lập và lạc hậu.

Andrei Sakharov (1921- 1989)

Andrei Sakharov là một nhà vật lý trong chương trình sản xuất bom nguyên tử và khinh khí của Liên Sô. Ông học đại học Moscow và lấy bằng tiến sĩ về vật lý năm 24 tuổi. Năm 27 tuổi ông là thành viên trong chương trình khảo cứu và sản xuất bom nguyên tử. Nhưng Sakharov có linh cảm rằng định mệnh của ông sẽ giống như nhà bác học Oppenheimer ở Hoa Kỳ.

Sống trong một nước Cộng Sản nhưng ông can đảm vận động tài giảm binh bị và đấu tranh cho hòa bình và nhân quyền. Năm 1975 ông được giải thưởng Nobel Hòa Bình nhưng ông bị cấm không cho rời khỏi Liên Sô. Vợ ông, Yelena Bonner, lãnh giải thưởng thay ông. Sakharov được mệnh danh là phát ngôn viên của lương tri nhân loại. Năm 1980 ông chống lại sự xâm lăng của Liên Sô vào Afghanistan. Ông bị KGB xem là kẻ nội thù nguy hiểm nên quản thúc ông ở thành phố Gorky bây giờ là Nizhny Novgorod. Năm 1984 ông bị xử 05 năm tù sau vụ tuyệt thực đòi trả tự do cho vợ ông và cho bà sang Hoa Kỳ giải phẫu tim. Một mặt chánh quyền tỏ ra cứng rắn, mặt khác lại cho vợ ông sang Hoa Kỳ giải phẫu tim. Năm 1986 vợ ông trở lại Gorky. Khi Gorbachov cầm quyền ở Liên Sô Sakharov và vợ được phép trở về Moscow. Ông mất năm 1989 như một người anh hùng được dân chúng tôn sùng và cảm mến. Chính Gorbachov cũng tỏ ra quí trọng ông.

Nhật Hoàng Akihito (1933- )
Nhật hoàng Akihito là Nhật hoàng thứ 125 của Nhật Bản. Ông lên ngôi năm 1989 sau khi thân phụ của ông là Nhật hoàng Hirohito băng hà năm 1989.

Thái tử Akihito được giáo dục trong hoàng cung. Trong thời chiến tranh ông tạm thời rời khỏi Tokyo. Sau khi chiến tranh chấm dứt thái tử được bà Elizabeth Gray Vining, một nữ quản thủ thư viện Hoa Kỳ, phụ đạo tiếng Anh. Ông say mê nghiên cứu về hải dương học. Năm 1953 thái tử Akihito thay mặt hoàng gia Nhật tham dự lễ đăng quang của nữ hoàng Elizabeth II ở London. Năm 1959 thái tử kết hôn với một thứ dân, con gái của một chủ tịch Công Ty Bột Mì Nisshin, Michiko Shoda, mà ông quen trên sân quần vợt. Michiko Shoda là một mỹ nữ, thông minh, hấp thụ văn hóa Tây Phương. Năm 1957 bà tốt nghiệp đại học Thiên Chúa Giáo ở Tokyo về văn chương với hàng Summa Cum laude và cử nhân Anh Văn. Cuộc hôn nhân giữa thái tử Akihito va Michiko Shoda là cuộc hôn nhân cách mạng đầu tiên trong hoàng triều Nhật Bản giữa một người hoàng tộc và một thứ dân.

Thái tử Akihito và công nương Michiko Shoda công du 37 quốc gia. Sau khi lên ngôi, Nhật hoàng và hoàng hậu công du 18 quốc gia.

Nhật hoàng Akihito và hoàng hậu Michiko Shoda có hai hoàng tử và một công chúa. Công chúa Sayako tức Nori có chồng là Yoshiki Kuroda, một thứ dân (2005). Vì vậy bà trở thành thứ dân dưới tên Sayako Kuroda. Bà nhận của hồi môn 1.29 triệu Mỹ kim, rời hoàng cung sống trong một căn nhà bình thường, ngừng nghiên cứu điểu cầm học (ornithology) và bắt đầu tập lái xe và đi mua sắm như mọi phụ nữ Nhật khác.

Nhật hoàng Akihito được mô tả như một nhà lãnh đạo hiền hòa, gần dân và yêu chuộng hòa bình. Năm 2011 Nhật Bản bị động đất và sóng thần. Nhật hoàng vội vã đến nơi bị động đất và sóng thần tàn phá để an ủi thần dân. Năm ấy Nhật hoàng bị viêm phổi phải nhập bịnh viện. Trước đó Nhật hoàng trải qua một cuộc giải phẫu ung thư tuyến tiền liệt. Năm 2012 ông trải qua một cuộc giải phẫu để thông tim. Vì lý do sức khỏe Nhật hoàng Akihito như có ý muốn thoái vị. Đó là điều hiếm có trong lịch sử hoàng triều Nhật Bản.

Nhật hoàng Akihito được dân chúng Nhật yêu mến như họ từng yêu mến các Nhật hoàng tiền triều. Năm 1995 Nhật hoàng và hoàng hậu thăm viếng các đài kỷ niệm chiến tranh ở Tokyo, Hiroshima, Nagasaki, Okinawa. Năm 2005 Nhật hoàng thăm viếng đảo Saipan nơi xảy ra trận đánh đẫm máu giữa quân Nhật và Hoa Kỳ năm 1944. Đảo Saipan bây giờ là lãnh thổ của Hoa Kỳ.

****

Đệ nhất phu nhân Nancy Reagan (1909- 2016), nữ thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Ruth Badis Ginsburg (1933-), nữ tổng thống Phi Luật Tân Corazon Aquino (1933- 2009), thủ tướng Do Thái Ehud Olmert (1945-), tổng thống Brazil Luiz Ignacio Lulada Silva (1945-), Caroline Kennedy (1957-), ái nữ cố tổng thống Kennedy và đại sứ Hoa Kỳ ở Nhật, trùm khủng bố Osama Bin Laden (1957- 2011) đều sinh vào năm Dậu.

Tân Niên Đinh Dậu
Vạn Phúc Đáo Lâm Môn.

Edited by user Saturday, January 21, 2017 2:48:15 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1368 Posted : Saturday, January 21, 2017 6:36:55 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
UserPostedImage


TỤC KHAI BÚT VÀ XIN CHỮ ĐẦU NĂM ĐẦU XUÂN


Tục “Khai bút đầu xuân” không phải là một nghi lễ bắt buộc trong ngày Tết. Nhưng từ lâu, nó đã được duy trì như một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt. Trước đây thường chỉ có những ông đồ, thầy đồ, học sĩ… mới thực hiện nghi thức khai bút. Sau lễ cúng giao thừa, họ sẽ đốt lư trầm bên bàn viết và cầm cây bút thảo những câu đối hay, những chữ có ý nghĩa lên giấy đỏ hoặc giấy hoa tiên.

Ngày nay, tục “khai bút đầu xuân” đã có nhiều thay đổi. Nó không còn phổ biến mà mang đậm ý nghĩa như xưa nữa. Tuy nhiên, với nhiều gia đình, đặc biệt là các học sinh, giới văn sĩ, thi sĩ, người làm nghề viết lách… phong tục này vẫn rất được coi trọng. Bởi ngoài những giá trị chân thiện mỹ, việc “khai bút đầu xuân” còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nó không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một sự nghiệp, sự học mà còn gửi gắm rất nhiều tâm tư, nguyện vọng về một năm mới suôn sẻ, hạnh phúc và thành công.

* Ý nghĩa tục khai bút đầu xuân

Với những thời kỳ khác nhau, đối tượng khác nhau, tục khai bút cũng có phần khác biệt. Với những gia đình có con em đang đi học, chữ viết khai xuân thường đơn giản hơn, nhưng đối vói các thi nhân, văn nhân, khai bút có thể là sáng tác cả một tác phẩm; Người họa sĩ sẽ vẽ một bức tranh, các ông đồ thường viết câu đối Xuân rồi tặng cho người thân, bạn bè lấy lộc... Người học thì viết lên những mong muốn cho một năm mới nhiều thuận lộc, học hành tiến bộ và tương lai nghề nghiệp tốt. Người đi làm thì mong cho công việc thuận buồm, xuôi gió và ngày càng phát đạt.

Tục khai bút đầu xuân không chỉ thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của dân tộc ta mà còn thể hiện tính chân - thiện - mỹ và được thổi vào đó một ý nghĩa tâm linh chính là ước nguyện trong năm mới của người thực hiện nghi thức này. Chính vì vậy, nếu viết chữ đẹp thì người viết tin rằng cả năm sẽ hanh thông, suôn sẻ.

Khai bút đầu xuân là một phong tục truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt trong những ngày đầu năm. Mặc dù đã trải qua thời gian dài có những biến đổi của thời cuộc song tục khai bút đầu xuân vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Đây là một phong tục nhằm tôn vinh truyền thống hiếu học và tôn sự trọng đạo của dân tộc.

A/. Khai bút đầu năm đầu xuân là gì?

* Khai bút đầu năm đầu xuân là một phong tục thể hiện nét đẹp của văn hóa người Việt Nam. Khai bút đầu xuân là bạn cầm bút viết hoặc vẽ lần đầu tiên vào dịp đầu năm. Tục khai bút không phải là một nghi lễ bắt buộc trong ngày Tết, nhưng từ bao lâu nay, nó vẫn được mọi người đề cập đến nhiều trong cuộc sống, nhất là những ngày đầu năm.

* Trong văn hóa và thói quen của người Việt, mọi người quan niệm rằng, ngày đầu tiên của năm là ngày quan trọng cho một khởi đầu mới. Những ngày đầu tiêu của năm, nếu mọi việc suôn sẻ, ai nấy vui vẻ thì cả năm sẽ luôn được may mắn. Tục khai bút đầu năm luôn luôn được mọi người hưởng ứng nhằm nhắc nhở nhau thực hiện, mong cho một năm mới phát tài.

* Tục khai bút ngày xưa có ông đồ, thầy đồ, học sĩ, ngày nay có học sinh, giới văn sĩ, thi sĩ, người làm nghề viết. Thường thì sau giao thừa, mọi người sẽ chọn một giờ tốt để làm lễ khai bút. Đây cũng chỉ là một lễ tương trưng, gọi là để bắt đầu sự nghiệp, sự học, sự viết cho một năm mới. Ngoài ra không nhất thiết phải khai bút vào ngay sau giao thừa, mà có thể chọn một ngày hay một giờ thích hợp nào đó để khai bút, từ ngày mồng một Tết cho đến những ngày sau đó.

B/. Khai bút đầu năm đầu xuân nên viết gì?

* Có người chỉ viết lên ngày, tháng đánh dấu việc khai bút, nhưng cũng có người sáng tác cả một tác phẩm đầu năm cho lúc khởi đầu này. Cũng có người viết lên những mong muốn cho một năm mới nhiều thuận lợi, học hành được tiến bộ và tương lai nghề nghiệp rộng mở. Những ông đồ hay Nho sĩ khai bút thường viết câu đối hoặc một chữ đẹp để treo trong nhà.

* Ngày xưa, nội dung bài khai bút thường là một câu đối, một bài thơ đường luật ứng tác, hoặc một câu danh ngôn.

* Đôi khi bài khai bút lại là một vài lời tâm nguyện dành cho năm mới.

* Sau này, nội dung bài khai bút được biến hóa phong phú hơn tùy theo hoàn cảnh, sở thích, và thông điệp mà mỗi cá nhân muốn truyền tải cho bạn bè, đồng nghiệp, hoặc hội đoàn của mình.

* Có khi là mở đầu một cuốn sổ nhật ký hoặc một án thư.

C/. Tục xin chữ đầu năm:

* Ngoài phong tục Khai bút vào dịp Tết, ngưòi Việt ta còn có một phong tục khác cũng đề cao tinh thần yêu quý chữ. Đó là phong tục Xin chữ đầu xuân. Vào giờ khắc giao thừa, người Việt ta tin rằng cầu xin khấn nguyện điều lành vào thời khắc này sẽ rất linh thiêng và ảnh hưỏng suốt trong năm. Xin chữ là một nét đẹp văn hóa cần phát huy. Chỉ một chữ mà có ý nghĩa về đạo đức và đời sống đốỉ với những con người cụ thể sẽ giá trị hơn nhiều những lời rao.

* Ngày xưa, dân ta ở mọi tầng lớp xin chữ đầu xuân và người cho chữ là các thầy đồ. Các thầy đồ Nho học, Hán học, và Quốc Ngữ học thả hồn theo nét bút mà tặng lại cho người xin chữ cái tâm tế của mình đã được gửi qua nét chữ và nội dung của chữ theo ước nguyện của người xin. Đó là cách tặng lộc qua nét chữ một cách rất tinh tế và khéo léo của người Việt trong những ngày đầu xuân.

* Gác thầy đồ Hán học và Quốc ngữ học tha hồ thả hồn theo nét bút mà tặng lại cho ngưòi xin cái tâm, cái tài của mình được gửi qua nét chữ và nội dung của chữ “theo ước nguyện của người xin.

* Trong số chữ xin thì chữ Đạt, chữ Đăng Khoa, chữ Tâm… là những chữ để làm người me cha mong muốn.

* Chữ Tâm là bậc nhất, gần gũi và thiết thực. Điều này lứa tuổi nào cũng cần, cũng phải có. Nhẫn là chữ được nhiều người ở nhiều lứa tuổi kháo nhau xin. Chữ Nhẫn treo trước mặt để luôn tỉnh táo trong công việc. Chữ Nhẫn là để dùng cho người mới bước vào đời, mới có công ăn việc làm. Nhẫn nghĩa là nhẫn nại, nhẫn chịu.

D/. Khai bút đầu xuân ngày nay:

* Ngày nay, tục khai bút đầu xuân đã có nhiều thay đổi. Nó không còn phổ biến và mang đậm ý nghĩa như xưa nữa. Một số ít gia đình, đặc biệt là các học sinh, giới văn sĩ, thi sĩ, người làm nghề viết lách… phong tục này vẫn rất được coi trọng. Bởi ngoài những giá trị chân thiện mỹ, việc khai bút đầu xuân còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Nó không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một sự nghiệp, sự học mà còn gửi gắm rất nhiều tâm tư, nguyện vọng về một năm mới suôn sẻ, hạnh phúc và thành công.

(Bài theo net)

Edited by user Saturday, January 21, 2017 7:01:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1369 Posted : Monday, January 23, 2017 8:46:29 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage


CƠM TẤM BÌ CHẢ SƯỜN NƯỚNG

Nấu cơm gạo tấm vừa khô
Những hạt gạo trong chớ hững hờ
Đủ dẽo đủ thơm đừng quá nhão
Đơm vào chén nhỏ úp cho vừa

Bì thì trong dẻo loại bì ngon
Thái sợi bay bay mới đủ thơm
Gạo thính nhuyễn nhừ như bột nhé
Trộn đều vàng óng mới tinh tươm

Sườn heo miếng mỏng cỡ bàn tay
Ướp ngũ vị hương để qua ngày
Hấp chín xong rồi mang nướng lại
Than hồng hai mặt bốc hương bay

Thịt xay vừa phải chớ tinh tơi
Miến sợi đảo chung bỏ đĩa khơi
Lòng đỏ trứng gà thoa mặt thịt
Nướng lò đến chín đã xong xuôi

Bày ra nước mắm với đồ chua
Xà lách xanh xanh mấy lát dưa
Cơm tấm chả bì sườn quá tuyệt
Điểm tâm lót dạ cả ăn trưa

Ký Gàn
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1370 Posted : Friday, January 27, 2017 2:11:18 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Những Tết Năm Xưa Ở Phan Thiết


27/01/201700:01:00(Xem: 107)
Mường Giang

Trước giao thừa mỗi năm suốt phần đời lưu lạc, tôi hay quẩn quanh dọc theo con phố nhỏ nơi xóm biển đìu hiu, mõi ngóng về bên kia bờ Thái Bình Dương, mà hồn rưng rưng thương nhớ Phan Thiết, một quê hương ngọt ngào sửa mẹ thế nhưng mãi vẫn muôn trùng. Ôi giấc mơ chưa chi đã dẫn ta về thôn xóm cũ, về những ngày xuân tết vẹn vầy, về lại với những trang lưu bút ngày xanh của một thời tuổi trẻ sao sớm phai tàn, chẳng biết bây giờ có ai còn nhớ ? Bao nhiêu năm qua rồi, mỗi lần tết đến lại buồn, nhất là lúc đứng nhìn những giọt mưa phùn nhỏ những giọt trắng trên từng cánh cúc đang hắt hiu nơi thềm gió.. Phan Thiết năm nao mùa đông trời thường se sắt không mưa nhưng nếu hờn dỗi bất chợt với một cơn mưa rào, thì đã thấy như xuân đang bắt đầu chúm chím trên giậu hoa, ngọn cỏ. Đường phố được mưa lau chùi sạch sẽ nhưng hữu tình nhất vẫn là nụ cười của người Phan Thiết không còn thấy héo hắt muộn phiền. Những hàng vông, gốc phượng, những chiếc lá me non cũng phe phẩy mừng rỡ. Tất cả đang cùng xuân trở về.

1- Chợ đêm ngày Tết:

Trước tháng 5-1975 năm nào cũng vậy, hể tới mồng mười tháng chạp là không khí tết đã thấy bắt đầu ở đường Gia Long nhưng vui nhộn từ sáng 23 đưa ông Táo chầu trời. Bắt đầu từ ngày này, xã Châu Thành sẽ có người tới vẽ lô, đánh số khắp vùng dành cho chợ tết, từ hai con đường Nguyễn văn Thành, Lê văn Duyệt dọc theo vườn hoa nhỏ trước nhà sách Vui Vui và suốt con đường Gia Long chạy ngang nhà lồng chợ lớn.

Ngoại trừ khu vực quanh vườn hoa chỉ bán hoa tết, khắp nơi không ấn định món hàng, lô của mình trúng thầu muốn bán gì cũng được, cho nên khắp chợ tết vừa thấy lù lù một núi dưa hấu, đã gặp ngay gian hàng bán bánh mứt, rồi lại chuối, dưa và cứ thế xen kẽ lẫn lộn. Thông thường món hàng bày bán sớm nhất trong chợ tết là mai, sách báo, lịch xuân và quần áo may sẵn dành cho các gia đình nghèo. Chợ đêm chính thức mở từ ngày đưa ông Táo về trời cho tới chiều ba mươi mới tan. Gọi là chợ đêm vì người bán hàng trụ tại chổ suốt thời gian tết, dù có khách hay không. Chợ bắt đầu đông từ sau ngày 25, các nhà vườn quanh thành phố tại Phú Lâm, Phú Hội, Đại Nẩm, Lại An kể cả Rạng, Thiện Nghiệp cũng bắt đầu mang các thổ sản địa phương như hoa, chuối, trái cây các loại, dưa hấu, cau trầu, gà vịt về bán tết. Đi chợ đêm Phan Thiết thật vui dù chỉ để xem người và được chen lấn, cho nên đêm qua đã đi, đêm nay cũng đi để mệt vì chen lấn người quen ke lạ cho tới xế chiều ba mươi tháng chạp tan chợ, mới hết đi chợ.

Những ngày giáp tết, hoa và trái cây từ muôn phương trút về vô số kể, như là người Phan Thiết chỉ biết ăn tết bằng hoa, mặc sức cho những kẻ có tiền lựa chọn. Thôi thì đủ thứ từ loài hoa bình dân như mồng gà, trường sanh, vạn thọ, cúc, thược dược.. mà ai cũng mua được cho tới những loài hoa vương giả khét tiếng của Bình Thuận, mà MAI là số một. Đủ thứ mai, từ loại vàng phớt năm cánh mỏng lúc nào cũng như đang chực cuời với gió xuân, cho tới nhiều loại mai quý khác, nhiều cánh, đủ màu. Theo lời các bậc cao niên, thì mai là người bạn lâu đời của Phan Thiết, vì vậy mỗi độ xuân về, nhà nào có nghèo túng cũng ráng kiếm một cành mai để vui xuân. Hoa bán nhiều, người mua cũng đông nhưng có năm thiếu người thưởng thức, nên vào phiên chợ cuối chiều 30, các chủ hoa đã lạnh lùng vứt bỏ bên vệ đường, mặc cho hoa tàn, cánh rũ. Ôi thảm thê biết bao cho kiếp hoa.

2- Nuôi Vịt Tết:

Hằng năm cứ sau vụ lúa chín thì các nông dân vùng Hàm Thuận, Thiện Giáo nghỉ một thời gian ngắn, mới tiếp tục cày bừa trở lại vào tiết lập đông, để lo vụ muà đông - xuân. Chính trong thời gian này, một số lớn nông dân đã bắt đầu lo chuyện nuôi vịt tết, ngay trên những đám ruộng còn bỏ trống chưa cày trở lại, khắp Phú Lâm, Phú Hội, Bình Mỹ Thuận, Tầm Hưng, Ma Lâm.. Vịt con nuôi bằng lúa rụng, lúa sót trên các cánh đồng. Nghề nuôi vịt thấy vậy chứ vất vả trăm chiều, nhất là việc tìm thức ăn cho đàn vịt đông đảo hằng trăm, hàng ngàn con do nhiều người gộp lại nuôi chung. Khó nhất là giai đoạn vổ béo vịt để chuẩn bị bán. Lúc này vịt ăn nhiều và hay ăn bậy nếu bị đói, nên người chăn vịt ngoài việc mua thêm thức ăn như cá, cua, tôm, cám.. còn phải canh giữ cẩn thận để vịt không chạy loạn ăn mạ lúa của người. Thông thường không thấy có lộn xộn trong việc dành giựt vịt giữa các chủ nuôi, đây là bí quyết trong nghề nuôi vịt, không giải thích được.

Sau hai tháng bôn ba cực nhọc trên đồng cạn, dưới đồng sâu, giờ thì đàn vịt cả ngàn con cũng kịp lớn, béo nọng.. chực chờ từng chuyến xe đủ loại ngày đêm từ Phan Thiết lên để bốc vịt và trứng về bán cho kịp các buổi chợ tết. Quang cảnh làng xóm tỉnh mịch ở miền quê bỗng vui lên bởi tiếng kêu cạp cạp của bầy vịt đó đây khắp làng. Từ ngày 20 tháng chạp, nhà nào hầu như cũng đã có một vài cặp vịt , chục quả trứng, để chuẩn bị mâm cớm cúng ông Táo và tất niên ngày 30 tháng chạp.

3- Cái ăn trong ba ngày Tết:

Tưởng như cái thị xả nhỏ nhoi này sẽ không bao giờ ngủ được. Điều này cũng dể hiểu vì người Phan Thiết quanh năm suốt tháng làm lụng vất vả từ dân bờ cho tới bạn biển nhưng gặp dịp là thẳng tay tiêu xài lo gì, bởi xưa nay Bình Thuận vốn nổi tiếng là chốn rừng tiền biển bạc, là xứ ăn chơi, nên 'cái nồi cũng bán, cái tơi cũng cầm' cũng là sự thường tình vì cầm bán rồại mua sắm lại mấy hồi vào năm tới nếu trúng biển, được mùa. Chính những nét đặc trưng này đã làm cho người Bình Thuận hãnh diện khi giang hồ khắp chốn. Tóm lại đây là cách sống của dân Bình Thuận khó lòng thay đổi được.

Đi chợ trong ba ngày tết là để lo cho gạo nước đầy lu, làm các món ngon vật lạ để ăn cho nhiều và ngon, nên ai cũng thích đi chợ để mua sắm. Trong thời gian này, các lò bánh tráng ở ngoại ô Phan Thiết như Lại An, Phú Long, Tân An.. phải làm suốt ngày đêm vì khách hàng đặt bánh Tết ngay từ tháng 11 âm lịch. Bánh tráng là món ăn ngày tết, dùng để cuốn thịt măng kho hay bánh tàt, nên nhà nào cũng cần tới. Vùng quê không ai mua bánh mà chỉ tới lò tráng một vài thúng gạo, rồi trả tiền công mà thôi.

Từ trung tuần tháng chạp, trong khi tại các phố Gia Long, Đồng Khánh, Đinh tiên Hoàng, Lý thường Kiệt , Lê văn Duyệt.. quanh chợ lớn mới có vẻ tết, thì hầu như khắp xóm làng, ngõ hẹp Phan Thiết, nhà nhà đều bận rộn đóng cốm hộp. Đối với phong tục cổ truyền Việt Nam, đây là món đặc biệt phải có để cúng trên bàn thờ ông bà trong ba ngày tết dù là lương hay giáo.

Theo sử liệu, thì cốm đã theo gót chân lữ hành của người dân Thuận Quảng trên bước đường nam tiến. Người dừng lại ở Thuận Trấn từ ba trăm năm trước thì cốm cũng nương theo và trở thành sản phẩm quen thuộc của người dân miền biển mặn. Từ xuất xứ cốm sà lam Quảng Nam mà Hải Thượng Lãn Ông, qua tác phẩm 'Nữ Công Thắng Lãm' gọi là CỐM (croquantos) , chỉ một một loại bánh cổ truyền làm bằng hạt nổ, và mỗi vùng lại có một cách làm riêng. Tại Bình Thuận, cốm được làm bằng loại nếp ba tháng. Đây là một đặc sản của địa phương có hương thơm ngào ngạt, chỉ riêng dùng để đóng cốm hộp. Nếp từ đồng dược mang về nhà ngay từ tháng 10 âm lịch, để kịp rang thành nổ mới kịp đóng cốm tết. Theo các nhà chuyên môn cũng như các bà nội trợ giỏi, thì muốn cho cốm ngon, ngoài nổ còn phải có bí quyết thắng đường, pha chế lượng gia vị hỗn hợp gừng, nho khô, me và thơm chín. Riêng cái khuôn dùng để đóng cốm gần như có kích thước nhất định, bằng gỗ hình khối chữ nhật, có thể tháo rời ra được để lấy cốm ra phơi nắng. Cốm được bọc bằng giấy màu đủ loại, các mặt đều có dán hoa hòe rất đẹp. Ngày tết, nhà nào dù theo đạo gì chăng nữa, cốm cũng đều có mặt trên bàn thờ. Tại Phan Thiết, trăm năm qua, gia đình ông Lê Chi chuyên nghề làm cốm tết bằng nếp trồng tại Phú Long. Ngày nay món cốm sấy qua nhản hiệu 'Hòa Hiệp' của Lê tộc tại Phan Thiết, đã là món hàng thời thượng có mặt khắp nơi, cũng như cái hương vị cay cay ngọt ngọt của cốm, làm chợt nhớ tới tết năm nao ở quê nhà.

Ăn Tết cũng không thể nào thiếu được món măng hầm với thịt heo hay vịt. Măng xuất xứ từ cây tre qua cái tên khoa học là bambusae thuộc giòng họ lúa (gramineae), có mặt mấy ngàn năm trên đất Việt, từ đồng bằng lên tới sơn khê. Tại Bình Thuận từ tháng 7 tới tháng 9 âm lịch là mùa xắn măng, vì thời gian này măng đã vương lên khỏi mặt đất bên các bụi tre khắp các địa phương trong tỉnh và những rừng tre kế cận dọc theo các bờ sông Quao, La Ngà, nhưng nhiều nhất là vùng Cà Tót, Đức Linh, Gia Bát.. Lấy măng từ gốc tre già cũng dể, chỉ cần một cái câu liêm cán dài có lưởi sắt là đủ. Mụn măng tươi màu trắng, đem về bốc vỏ và luộc chín với nước pha ít vôi loãng. Sau đó đem măng luộc chín, đã biến thành màu vàng nghệ, tước sợi và đem phơi khô chừng hai hôm là dùng được. Trung bình 10 ký măng tươi mới lấy được 1 ký măng khô.

Măng được mua từ chợ về trước khi đem hầm thịt, lại phải ngâm với nước lá xả và luộc thêm nhiều lần cho măng mềm hơn, đồng thời mất đi chất đắng của gốc tre. Trước đây khi cá mòi còn, món măng tươi nấu với cá mòi trủng, mòi dầu là thức ăn phổ thông nhất khắp miền biển mặn Bình Thuận.

Ăn tết xưa nay, người Bình Thuận dù túng thiếu thế nào cũng không dám quên BÁNH TÉT, trước cúng gia tiên, ông bà lại cũng là món quà đặc biệt để tặng thân bằng quyến thuộc ăn chơi trong mấy ngày đầu năm. Theo sử liệu, bánh chưng hình vuông và dẹp, gói bằng lá dong rất thông dụng ở miền Bắc. Còn bánh tét là những đòn tròn, gói bằng lá chuối rất được ưa chuộng tại miền Nam. Cả hai đều làm bằng một thứ nguyên liệu giống nhau gồm nếp, nhân thịt, đậu.. Riêng bánh chưng miền Bắc có thêm thảo quả và dầu cà cuống nên bánh rất thơm ngon. Cả hai loại bánh trên đều xuất xứ từ thời Vua Hùng dựng nước, ngoài ra bánh còn mang ý nghĩa rất thiêng liêng về tập tính của dân tộc Việt, trong đó bánh dầy (tét) có hình tròn tượng trưng cho trời, còn bánh chưng hình vuông là biểu hiệu của đất, nếp cùng nhân đậu, thịt mở là nhân sinh vạn vật. Sau cùng các lớp lá bọc bên ngoài mang ý nghĩa thâm sâu của người xưa, đó là sự đoàn kết đùm bọc của người trong một nước, cho dù ở hoàn cảnh nào, buồn vui, hoạn nạn hay hạnh phúc, đều phải sớt chia.

Phan Thiết năm nao tuy không là một nơi chốn phồn hoa đô hội nhưng vẫn là miền thị tứ sầm uất, giàu có, quy tụ người khắp mọi miền đất nước. Vì vậy chuyện ăn uống trong ba ngày tết tại đây cũng đa dạng và cầu kỳ, không những trong giới người Việt mà còn có nhiều khác biệt giữa năm bang hội người Hoa tại địa phương.

Nhưng dù là ai chăng nửa, đối với người Việt, nồi thịt kho măng khô là quan trọng hơn hết. Vơí người Phan Thiết gốc Nam phần, thì nồi thịt kho tàu phải có nước dừa để ăn với dưa giá sống có trộn thêm cà rốt, lá hẹ, ớt sắt sợi và cuống củ cải. Thịt được dùng để kho phải là thứ thịt heo ba rọi vừa nạc vừa mỡ. Kho nồi thịt ngon ăn ba ngày tết, đòi hỏi phải có kỷ thuật làm bếp giỏi, sao cho lúc chín, phần nạc thì có màu đỏ au đẹp đẽ, còn lớp mỡ thì da phải nở ra thật mềm mại, có như vậy ăn liên tiếp trong mấy ngày tết vẫn không thấy ngán, trái lại nhìn tới đã thèm. Còn phải có mấy hủ củ kiệu muối với tôm khô loại lạt muối, để các bợm nhậu đưa cay trong khi chờ cao lương mỹ vị ngày tết. Riêng củ cải được dùng với bánh tét gói với bánh tráng mỏng tại các lò Phước thiệu Xuân, Cây Chôm, Xóm Luạ.

Với các gia đình trung lưu, thì các bửa ăn tết luôn có món khổ qua dồn thịt bầm trộn với tôm quết nhuyễn, tuy vậy nhiều người cử vì sợ ăn rồi thì khổ quá suốt năm. Cũng do người Bình Thuận có gốc gác từ nhiều địa phương nên cái ăn cũng thật phong phú. Về món ngọt thì không làm sao tính hết, nào cốm, chè, xôi vị pha lá dứa hay lá cẩm. Còn mứt cũng đủ loại từ gừng cay, bí dòn, dừa thơm, cà chua cho tới hạt sen, chà là lạ miệng, món nào cũng ngon tuyệt cú mèo. Từ thập niên 70 về sau, người Phan Thiết gần như không gói bánh ít tại nhà, mà mua ở chợ. Hai bà Cửu Khói và Hai Nhan nổi tiếng nhiều năm về các loại bánh gói lá, kể cả bánh in Hải Dương, bánh bò bông, bánh bông lan và bánh sà lam gốc Duồng.

Nhưng ăn uống cầu kỳ phải nói là người Huế sống rất nhiều tại đây, nhà nào tết cũng có chả lụa, chả quế, giò thủ, thịt dông chân giò hay thịt gà nấu dông. Tuy nhiên hấp dẫn hơn hết là món giả cầy của Bắc Hà. Đây là đặc sản Việt Nam nấu bằng giò heo cạo sạch lông, đem thui, chặt khúc nhỏ rồi nấu với riềng, mè.. tưởng tượng như đang ăn món "sống trên đời" lạ miệng, ăn hoài không thấy ngán.

Riêng người Phan Thiết gốc Hoa cũng có nhiều khác biệt. Họ ăn uống theo phong tục cổ truyền của cha ông có từ bổn xứ. Do trên người Quảng Đông ngày tết thế nào cũng có lạc xưởng, thịt heo ướp ngũ vị hương loại hảo hạng có ướp rượu mai quế lộ, lạp xưởng gan heo, vịt khô lạp áp hay bắc thảo. Còn thêm lạp dục tức là món thịt heo ba chỉ cắt sọc từng dải phơi khô. Vịt khô, heo khô sẽ được hấp với gừng lát là nón ăn chính trong ba ngày đầu năm mới. Những nét đặc trưng của người Quảng Đông là cúng con gà mái vào lúc giao thừa, còn ngày mồng hai mở cửa hàng phải làm gà trống thiến. Với các nhà giàu, ngày tết còn thêm món bát bữu với bong bóng cá, tóc tiên, hạt sen, nấm đông cô, táo đỏ, củ năn và bún tàu. Để lai rai đưa cay dĩ nhiên chẳng bao giờ thiếu các món nhắm như tôm khô, hột vịt bắc thảo, củ cải muối và thịt đùi heo hun khói. Còn trên bàn thờ khắp mọi nhà thì luôn luôn có ổ bánh tổ, ngoài bọc giấy hồng điều có in bằng mực tàu mạ hoàng nhủ các chữ phúc hay là đại cát. Đặc biệt trong ba ngày tết, người Quảng Đông không giết vịt vì kiêng tiếng kêu cạp cạp mà họ cho là xui xẽo trong sự làm ăn. Đối vơí người Tiều, nhóm người Hoa đông thứ hai tại Phan Thiết, tuy cùng nằm trong tỉnh Quảng Đông nhưng ngôn ngữ của họ lại thuộc Hạ Môn, Phúc Kiến. Do trên giữa hai bang có nhiều khác biệt, nhất là phong tục, tập quán trong ba ngày tết. Trong khi ngưòi Quảng Đông không ăn vịt, thì ba ngày tết là dịp để người Tiều ăn vịt mà họ cho là lấy hên đầu năm. Món chính là vịt ram. Vịt sau khi làm xong, đem luộc vừa chín vớt ra, chặt thành miếng lớn rồi bỏ vào chảo mỡ đang sôi sùng sục. Riêng nước luộc vịt, được dùng để nấu xôi đậu phộng, ăn chung với thịt ram trên. Một số người Tiều lớn tuổi, ngày tết vẫn còn giữ phong tục dùng các món thịt ngỗng, vịt, đầu heo muối hun khói xác mía. Tóm lại món ăn của người Phan Thiết trong ba ngày tết năm xưa trước 1975 khi nhớ lại bánh tổ chiên, bánh tét giòn, cá thu kho ăn với dưa món. Rồi còn chả tôm, tré, nem, giò lụa.. bao nhiêu món ngon vật lạ của một thời quê hương hạnh phúc.

4- Hái lộc đầu xuân:

Ba trăm năm thành lập, ngoài việc duy trì và bảo quản nguyên vẹn các di tích cổ truyền của vương quốc Chiêm Thành, người Bình Thuận còn phát huy nền văn hoá Đại Việt mà tổ tiên đã mang tới từ Thuận Quảng. Đó là các công trình kiến trúc chùa, đình, dinh, vạn.. dù nay đã trải qua bao đổi đời thê thiết của thời cuộc, may mắn một số lớn vẫn còn nguyên vẹn trong sự bao che, bảo vệ của Việt Nam Cộng Hòa suốt thời kỳ bom đạn. Chung trong nền văn hoá đặc thù dân tộc, có tục hái lộc đầu năm rất được người Phan Thiết ưa thích và mến mộ. Tuỳ theo quan niệm và ý thích, mọi người có thể xuất hành ngay sau giao thừa, hoặc sáng mồng một tết nhưng dù có chọn giờ nào chăng nửa, thì cũng chung mục đích là mơ ước sang năm mới được an bình, hạnh phúc và thắng lợi.

Phan Thiết quê tôi, mãnh đất cuối cùng của miền Trung nước Việt, chói chang cát trắng và năm tháng chào đón gió biển lồng lộng. Thành phố của cá mực, nuớc mắm, dinh vạn, chùa chiền, của hát chèo, đua ghe, múa rồng, thỉnh ông đi chơi và ăn uống no say trong ba ngày tết. Tất cả bây giờ chỉ còn là một kỷ niệm. Năm nay cũng như bao mùa xuân qua, ta lại ăn tết xa nhà. Trong cái rét căm căm nới xứ người, chợt nhớ quay quắt những tết năm xưa cùng ai đi chùa hái lộc giữa cảnh vắng mù sương, chỉ còn có tiếng sóng biển từ xa vọng về.

Tuy khắp thành phố có nhiều chùa lớn và đẹp như các chùa Ông, Bà, Phật học, Bình Quang, Chùa Cát, Vạn Thiện, Thủy Tú, Nam Nghĩa.. nhưng vì số người đi lễ chùa và hái lộc quá đông, nên nơi nào cũng tấp nập nam thanh nữ tú, quang cảnh thật vui vẽ. Quanh năm suốt tháng làm việc vất vả, việc tết nhất cũng đã lo xong, nay có dịp nên ai cũng muốn đi vãng cảnh chùa, trước là để cúng Trời Phật, sau tìm một chút an bình cho tâm hồn, bởi vậy ai cũng thích chọn thời điểm giao thừa hay gần sắp sáng cho tinh khiết.. Ngày tết nên gì cũng mới hết kể cả sự giao tiếp. Trên mọi nẽo đường xe cộ tấp nập đông đảo. Hai vĩa hè cũng rộn rịp khách bộ hành, các cô các bà áo dài đủ màu tha thướt còn đàn ông con trai thì vận âu phục tươm tất, thỉnh thoảng có một vài cụ chít khăn đống, vận áo dài the. Nhưng lăng xăng nhất vẫn là lủ trẻ trong các bộ quần áo mới xúng xính, la hét vui cười, khiến kẻ bàng quang cũng cảm thấy hạnh phúc lây. Chùa chiền sáng rực ánh đèn, trong lúc người lớn kính cẩn làm lễ Phật, thì bên ngoài bọn trẻ nao nao chờ hái lộc. Cây không cao lắm, vừa vặn với tầm tay của người lớn, khắp nơi tô điểm bằng những bao lì xì đỏ thắm, treo trên các nhánh cây vừa trổ lộc xanh mơn. Nhiều người Hoa ở Phan Thiết năm xưa khi đi hái lộc đầu năm ở chùa Ông, thay vì hái lộc cây, họ lại mang về nhà hương lộc, tức là những cây nhang dài và lớn vừa cúng ở chùa xong, còn cháy dang dở vội mang về cắm ở bình nhang trên bàn thờ nhà mình.

Có còn hay không những đêm giao thừa mộng mơ trên quê hương yêu dấu? năm mới mặc áo mới đi bên nhau để được em khen là diện ghê. Còn em áo dài trắng ngoài khoác áo lạnh màu thiên thanh, đã đẹp lại càng thêm đẹp, làm sao ai có thể hững hờ.

5- Bài Chòi trong ba ngày tết:

Trước năm 1975, trong những dịp tết, người Phan Thiết hay tổ chức đánh bài chòi tại Xóm tỉnh (Phú Tài), Đức Nghĩa, Khu 1 Bình Hưng.. kéo dài suốt ba ngày đầu năm, có hát bội phụ hoạ. Địa điểm chơi bài thường là khu đất rộng, nằm trên đám ruộng khô hay con đường hẻm rộng như tại Bình Hưng, để tiện việc cất những chòi cao, có bậc thang lên xuống, bao quanh một sân khấu nhỏ trống trải. Bài chòi có hai bộ, một để tại sân khấu rút thăm hô thai, còn bộ kia thì chia đều cho các chòi con trong số 29 con bài.

Bài chòi xuất phát từ Bình Định nhưng vào tới Bình Thuận thì cách chơi cũng biến chất. Tại Phan Thiết, nhà con mua vé rút thăm lấy ba con bài, rồi leo lên chòi cao có để một cái mõ gỗ dùng báo hiệu. Trên sân khấu, người hô thai mặc quần áo hát bội, biểu diển theo con bài được rút từ trong ống, với các bài bản có sẵn nói về tên của các con bài như nhất trò, nhì nghèo, ba bụng, tứ giống, năm dây.. Chòi nào có con bài trùng thì gỏ ba lần mõ báo hiệu và ai trúng đủ ba cặp thì thắng cuộc.. cứ thế tiếp tục chơi cho hết ba ngày tết rất vui vẽ. Trước năm 1975, người thắng ngoài tiền, còn được thưởng trầu rượu và một tràng pháo chuột, nên ai cũng muốn tham dự nhất là người xóm biển.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Giêng 2017

MƯỜNG GIANG
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1371 Posted : Sunday, January 29, 2017 11:01:50 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
UserPostedImage


Bí mật chưa biết về gà


Gà là loại gia cầm thân thiết của con người từ hàng triệu năm qua, nhưng có những bí mật mà bạn có thể chưa biết.

* Không có “cục cưng” làm sao gà “đạp mái”?

Bí mật chuyện “đạp mái” không cần “cục cưng” là do cấu tạo cơ quan sinh dục của gà. Cơ quan giao cấu của gà trống không phát triển. Nó chỉ là chỗ phình hình bong bóng của ống dẫn tinh. Khi giao phối, cơ quan sinh dục ngoài của gà trống áp sát vào lỗ huyệt của con cái. Lúc này âm đạo mở ra, tinh trùng được phóng vào âm đạo và đi vào trong tử cung.

Nghiên cứu sâu hơn về tính năng sinh dục của gà, chúng ta nhận thấy khi gà hưng phấn, chúng chủ động tìm đến nhau, sau khi gạ gẫm xong một con gà mái thì tiến hành đạp mái, lúc này gà trống kích hoạt phản xạ phóng tinh gồm phóng từng ít tinh một nhờ sự co bóp ống dẫn tinh. Trung tâm thần kinh điều khiển sự giao phối và phóng tinh nằm ở tủy sống hông. Gà đạt được cảm giác cực khoái khi phóng tinh. Gà trống có thể đạp mái 25-41 lần/ngày. Nếu nhốt gà trống riêng, thả gà mái vào thì số lần đạp mái tăng lên nhiều, 13-29 lần/giờ. Đây là một kỷ lục mà không có bất kỳ giống loài nào vượt qua được loài gà!!! Khối lượng tinh dịch phóng ra ở gà là 0,6-0,2ml/lần giao phối, với mật độ 3,4 tỷ tinh trùng/ml tinh dịch.

Ở gia cầm, ngoài phản xạ không điều kiện trong giao phối, có thể tạo phản xạ có điều kiện. Lợi dụng khả năng này, ngày nay nhiều chuyên gia đã có cách làm cho con trống xuất tinh mà không cần có con mái: Nhốt gà trống tách gà mái, rồi ta dùng tay vuốt dọc xương khum của gà trống nhịp nhàng nhiều lần, con trống tự phóng tinh. Đây là phương pháp lấy tinh trùng của gà trống để thụ tinh nhân tạo cho gà mái. Người ta dùng dụng cụ hứng tinh dịch là cái chai miệng hình phễu khi vuốt lưng con gà trống, sau đó lấy ống tiêm kích thước 2ml hút tinh trùng và bơm vào âm đạo gà mái. Phương pháp thụ tinh nhân tạo này có hiệu quả kinh tế cao, vì giảm số lượng con trống phải nuôi. Một con trống có thể thụ tinh nhân tạo cho 35-40 con mái. Tỷ lệ thụ tinh cao hơn so với đạp mái trực tiếp.

Sau giao phối, tinh trùng tập trung ở tử cung và cuống phễu của gà mái. Khoảng 10-12 ngày sau khi giao phối, tinh trùng vẫn có khả năng thụ tinh cho trứng mới rụng hàng ngày của gà, trung bình mỗi ngày rụng một trứng. Như vậy sau khi đạp mái, gà có thể sử dụng tinh trùng có sẵn trong tử cung từ từ trong suốt hơn 10 ngày, sau đó nếu chúng ta mong muốn trứng gà có trống cao thì phải cho gài đạp mái lại.

*Thông minh như gà?

Theo nghiên cứu của nhà khoa học Christine Nicol, Ðại học Bristol, Anh, gà biểu lộ những khả năng nhận thức có trình độ tự chủ về thức ăn, sẵn sàng chấp nhận sự chờ đợi nếu chúng nghĩ sẽ có được phần ăn lớn hơn về sau. Những khám phá cũng cho thấy loài gà biểu lộ cách cư xử xã hội tinh vi, có thể nhận ra và nhớ được hơn 100 con gà khác và diễn tả hơn 30 cách phát âm khác nhau, như âm thanh gọi bầy, gọi con, gọi... gà mái tới! Âm thanh cảnh báo nguy hiểm, cảnh báo diều hâu, rắn...

Gà có thể cảm nhận sự đau đớn. Các cuộc khảo cứu cho thấy, những con gà bị đau hoặc đi khập khiễng sẽ chọn thức ăn có trộn chất morphin (thuốc giảm đau) khi có sự lựa chọn. Ngược lại, những con khỏe mạnh chọn thức ăn không có thuốc giảm đau.

Gà cũng biết vui, buồn, giận dữ và đau đớn, vì vậy dù gà là nguồn thức ăn cung cấp đạm cho con người, nhưng con người cũng nên coi trọng cảm xúc của gà để đối xử với gà nhân đạo hơn. Phương pháp cắt cổ gà còn sống trông thật dã man, phản cảm. Vì vậy, trong dây chuyền giết mổ gà công nghiệp ngày nay, người ta đưa gà vào khu vực gây mê bằng điện với dòng điện thấp vừa đủ để gây mê gà rồi sau đó cắt tiết.
Can trường như gà

Người xưa luôn coi gà trống là biểu tượng của sự can trường, liều mình để bảo vệ những con gà khác trong đàn, chiến đấu tới cùng không bao giờ bỏ cuộc. Hình ảnh gà trống cánh lông sặc sỡ, dáng dấp oai dũng còn tượng trưng 5 đức tính: mào đỏ giống mũ cánh chuồn là văn (chữ Hán mào gà gọi là quan, đồng âm với quan (mũ) và quan (chức); cựa sắc nhọn như gươm là vũ; đấu đá không sợ địch là dũng; chia mồi cho gà con là nhân; gáy đúng giờ là tín. Vì sao gà can trường như vậy?

Giữa thế kỷ 18, người ta đã phát hiện tác dụng của hormon sinh dục đực từ những thí nghiệm trên gà. Các nhà nghiên cứu nhận thấy, nếu cắt bỏ tinh hoàn của gà trống thì mào gà sẽ héo hon, gà không còn ham muốn đạp mái nữa. Nhưng nếu ghép một mảnh tinh hoàn mới cho gà thì mào gà tươi thắm trở lại và gà sẽ “hồi xuân”. Tuyến sinh dục, ngoài chức năng sinh sản còn thực hiện vai trò của cơ quan nội tiết, tiết ra các hormon sinh dục, ảnh hưởng lớn lên hình dáng bên ngoài của gà. Tất cả các hormon được tạo ra ở tuyến sinh dục con trống được gọi là androgen, còn ở con mái - oestrogen. Nhóm androgen có những hormon: testosteron, androsteron, dehidroandrosteron... Chất có hoạt tính mạnh nhất là testosteron. Dưới ảnh hưởng của androgen, ở con đực phát triển các dấu hiệu sinh dục thứ cấp: mào và tích, màu lông... Hormon sinh dục khiến cho gà trống trở nên can trường và dũng mãnh. Nếu gà trống bị thiến, mào và tích của gà từ từ nhỏ đi, tính tình thay đổi, mất sự quyến rũ giới tính. Chính nhờ thí nghiệm này mà đến khoảng cuối thế kỷ 18, người ta đã mạnh dạn cho một cụ già suy kiệt về tình dục dùng thử một loại thuốc làm từ tinh chất của tinh hoàn. Kết quả cụ đã tìm lại được phần nào sức mạnh tình dục thời thanh niên tưởng đã vĩnh viễn mất đi.

* Vì sao gà gáy sáng?

Tiếng gà gáy lúc bình minh báo hiệu về ánh sáng, về sức mạnh tâm linh, về sự xua đuổi mọi bóng tối, chết chóc. TS. Takashi Yoshimura, Trường đại học Nagoya, Nhật Bản cho biết: “Hành vi gáy sáng là nhờ đồng hồ sinh học tự nhiên bên trong cơ thể gà trống”. Gà trống thường gáy đều đặn 2-3 tiếng đồng hồ trước khi bình minh. Đó là một tập tính được di truyền qua nhiều thế hệ. Vốn có nguồn gốc từ gà rừng nên gà vẫn còn có tập tính bầy đàn, trong đó gà trống có vai trò của con đầu đàn và tiếng gáy được xem như một tín hiệu xác định chủ quyền về lãnh thổ cũng như thể hiện “bản lĩnh” nhằm chinh phục các cá thể còn lại, nhất là để thu hút gà mái.

BS. Nguyễn Thành Úc - Theo Sức khỏe và Đời sống

Edited by user Sunday, January 29, 2017 11:05:01 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1372 Posted : Tuesday, January 31, 2017 1:12:21 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
Con gà trong văn hoá và hội họa Đông, Tây


31/01/201700:02:00(Xem: 60)
Trịnh Thanh Thủy

Năm Đinh Dậu đến làm những người cầm tinh con gà xao xuyến vì đó là năm tuổi. Nó còn làm nhiều người hồi hộp trông chờ một sự đổi mới vì có vận hạn xấu trong năm cũ. Trong âm lịch, người Trung Hoa và người Việt gọi năm 2017 là năm con gà, nhưng tiếng Anh và tiếng Pháp lại gọi là năm con gà trống, “Year of the rooster” và “Année du coq”. Tôi cũng lấy làm lạ tại sao người Âu lại dùng từ “gà trống” là một từ khẳng định rõ giới tính của con gà thay vì “gà” là một từ nói chung chung không phân biệt trống mái? Không biết trong quá trình dịch thuật từ Á sang Âu thế nào mà con gà trong 12 con giáp khi sang bên Âu châu nó biến thành con “rooster” hay con “coq” mà không phải là con “chicken” hay con “poulet”. Thắc mắc, tôi đi tìm hiểu thêm, lại khám phá ra rằng từ “rooster” không phải là tiếng Anh (British English) nguyên thủy mà lại là tiếng Anh Mỹ(American English) mới được phát minh sau này, của những người Puritan từ Anh Cát Lợi di cư qua Bắc Mỹ trong công cuộc đi tìm một tôn giáo mới. Họ muốn tránh dùng chữ “cock” có nghĩa con gà trống, một từ tiếng lóng ám chỉ một vật có ngữ nghĩa thô tục. Đã vậy “cock” tiếng Anh phát âm giông giống “coq” của tiếng Pháp. Có một chi tiết là lạ, tiếng American English chỉ dùng “rooster” trong cách gọi của “Luna Year”, còn những từ khác liên hệ đến gà trống lại vẫn dùng chữ “cock”, như cock-fighting(cuộc chọi gà).

Khi xem những đồ hình đã hoạ các con vật trong 12 con giáp, tôi thấy rõ ràng hình vẽ con vật tượng trưng cho năm gà là hình con gà trống. Tôi chợt nghĩ, à có lẽ đây là lý do tại sao người Âu Châu, vì tính thích chính xác, nên khi dịch thuật, họ dịch thẳng “năm con gà” thành “năm con gà trống”(Rooster year) chăng?

Thắc mắc này, làm tôi liên tưởng đến thế giới hội hoạ vẽ gà của Âu và Á vì hai biểu tượng: Sự cao quý và cái đẹp của sắc màu. 1-Gà Trống trong quan niệm Phương Đông và Phong Thủy, nó là biểu tượng của sự cao quý. 2-Trong khoa bói toán có viết “Người tuổi Dậu là người ưa cái đẹp, đặc biệt là phái nữ, họ luôn chú ý đến cách ăn mặc trang điểm. Họ cực kỳ mẫn cảm với màu sắc hơn hẳn người khác trong lĩnh vực phối màu.”

Á Đông và tranh gà

Người Trung Hoa xem trọng Phong Thủy và họ cũng xem trọng gà trống nên gà trống trong hội hoạ được vẽ rất nhiều. Họ quan niệm, treo tranh gà trống đem tới vinh hoa phú quý, công danh, giải trừ “Đào hoa sát” cho gia chủ. Gà trống với hình ảnh tượng trưng cho ngũ đức: mào gà màu đỏ thể hiện văn đức; bước chân oai vệ, dáng đi đĩnh đạc thể hiện võ đức; khi gặp địch là chiến đấu bảo vệ đồng loại thể hiện dũng đức, khi tìm thức ăn gọi bạn đến ăn cùng thể hiện nhân đức; gà trống gáy báo buổi sáng thể hiện tín đức.

Trước hết tôi xin giới thiệu đến các bạn một bức tranh gà trống được vẽ bởi một hoạ sĩ Trung Hoa nổi tiếng là Xu Beihong(徐悲鴻, 1895-1953). Ông chuyên vẽ tranh chim và ngựa bằng mực tàu và là người đầu tiên thể hiện rõ sự cần thiết của các biểu hiện nghệ thuật, phản ánh một Trung Quốc hiện đại vào đầu thế kỷ 20. Ông cũng được coi là một trong những người đầu tiên tạo ra các bức tranh sơn dầu bất hủ với chủ đề sử thi Trung Quốc.

Pic 1. Gà trống trên mỏm đá của Xu Beihong (1951), mực và màu trên giấy.

Ngoài tranh gà, người Trung Hoa còn coi trọng đồ sứ có hình hoạ với chủ đề “gà”. Vào năm 2014, một “chén gà” đời Minh đã được bán với giá US$36.3 million, tức 281.200.000 đô la Hồng Kông qua cuộc đấu giá của nhà Sotheby tại Hồng Kông. “Chén gà” này đã lập một kỷ lục cao nhất đối với sứ Trung Quốc từng được bán đấu giá. Chủ nhân mới của nó là nhà sưu tập Liu Yiqian, người Thượng Hải.

Pic 2. Chén gà $36.3 triệu đô

Hàn Quốc cũng là một quốc gia trong khối Châu Á. Hoạ sĩ Jang Seung(1843-1897, thường được gọi theo tên bút danh của mình, Owon), là một họa sĩ của những năm cuối triều đại Joseon ở Hàn Quốc. Ông là một trong số ít các họa sĩ giữ một vị trí có cấp bậc trong triều đại Joseon. Được nhiều người gọi là "cha đẻ của hội họa hiện đại Hàn Quốc". Đây là bức “Gà Trống” của ông.

Pic 3. Gà Trống của Owon, 140.2x43.2

Thực ra trong bức tranh gà trống của thế kỷ thứ 19 này của Owon, chúng ta thấy bên dưới anh gà trống oai phong lẫm liệt đang nghiêng đầu được vẽ rõ nét, là một chị gà mái trắng với nét hoạ trông rất mờ nhạt. Đó là cách hoạ sĩ Owon tôn vinh anh gà trống lên trong chủ đề một cách rõ rệt.

Đối với nền mỹ thuật Nhật Bản, người Việt chúng ta ít được tiếp cận nhiều như của Trung Hoa. Tuy nhiên khi nhìn vào kỹ thuật vẽ tranh gà của họ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên với đường nét rất sắc sảo trong tranh gà của họa sĩ Ito Jakuchu. Itō Jakuchū (伊藤 若 冲, 1716-1800) . Ông là một họa sĩ Nhật Bản trong giai đoạn giữa Edo, khi Nhật Bản đã đóng cửa với thế giới bên ngoài. Phần lớn tranh ông có chủ đề xoay quanh văn hoá truyền thống Nhật Bản, đặc biệt là gà và các loài chim khác. Nhiều tác phẩm truyền thống khác của ông hiển thị việc ông đã thử nghiệm nhiều quan điểm, và phong cách rất hiện đại khác.

Pic 4. Trống và mái của Ito

Việt Nam ta ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, cũng vẽ tranh gà và thường là gà trống. Đặc biệt hơn, ngày xưa chúng ta có tranh gà, lợn Đông Hồ được vẽ và trang trí cho ngày Tết. Các nghệ nhân làng Đông Hồ hay vẽ gà, lợn vào tranh, nhưng không tả thực như nó vốn có mà đã cách điệu rất nhiều. Màu sắc, đường nét rất thô mộc, dân dã nhưng mang tính ước lệ cao. Những con gà được vẽ mang cả một bầu tâm tư, khát vọng của những người nông dân mong ước. Thời thịnh đạt của tranh Đông Hồ vào thế kỷ 17, 18.

Pic 5. Tranh Đông Hồ- Gà trống thư hùng

Tây Âu và tranh gà

Ngày xưa nghệ Thuật vẽ tranh động vật của phương Tây so với phương Đông xem ra rất khác biệt. Sự khác biệt từ, lối vẽ, dụng cụ vẽ, (bút lông, mực, giấy, lụa, cọ, sơn, vải bố), cho đến quan niệm và mối tương quan giữa con người, thần thánh và con vật. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này tôi không thể phân tích kỹ và tỉ mỉ về những sự khác biệt này. Mong bạn đọc xem tranh và nhận được sự khác biệt có sẵn trong tranh.

Hoạ sĩ Aelbert Jacobsz Cuyp (1620-1691) là một trong những họa sĩ phong cảnh Hà Lan hàng đầu trong thời Hoàng Kim của Hà Lan (Dutch Golden Age) vào thế kỷ 17. Đây là một bức vẽ gà trống rất nổi tiếng của ông, chúng ta thấy được chân dung những chú gà trống được miêu tả giống như thực, như đang đứng trước mặt bạn vậy.
blank

Pic 6. Gà Trống của Aelbert Cuyp

Cuối cùng, tôi xin giới thiệu đến bạn một bức tranh gà trống được vẽ bởi Marc Chagall vào thế kỷ 20.

Marc Chagall(1887-1985), là một nghệ sĩ Nga-Pháp gốc Do Thái. Ông nổi tiếng với óc sáng tạo và trí tưởng tượng siêu thực. Các sáng tác của Chagall mang đầy chất thơ và tràn ngập tính hài hước, thể hiện khả năng tưởng tượng Nhà phê bình nghệ thuật Robert Hughes gọi Chagall là "nghệ sĩ Do thái tinh túy của thế kỷ XX."
blank

Pic 7. Gà trống của Marc Chagall, 1929, sơn dầu trên bố.

Xuân về, xin chúc các bạn đọc một năm Đinh Dậu nhiều sức khoẻ, thành công và hạnh phúc.

Trịnh Thanh Thủy

Tài liệu tham khảo

The $36 Million Ming Dynasty-era Bowl

http://blogs.wsj.com/sce...n-ming-dynasty-era-bowl/

Edited by user Tuesday, January 31, 2017 1:14:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1373 Posted : Tuesday, January 31, 2017 8:29:30 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Tục Ngữ Ca Dao Về Ngày Tết NGUYÊN ĐÁN


ĐÀO ĐỨC NHUẬN


Chuyện xưa kể rằng: Vào một thời xa xưa lắm, người đang sống yên ổn thì một bầy quỷ dữ đến xâm lăng. Chúng dùng mưu mô quỷ quyệt chiếm hết đất đai, tài sản của người. Người thành kẻ làm công cho quỷ. Người trồng lúa, quỷ chia cho người phần gốc, quỷ lấy phần ngọn. Thấy người khổ quá, Phật hiện ra giúp kế. Theo điều kiện đã được giao ước đúng như lời Phật dặn, người trồng khoai lang. Đến mùa thu hoạch, quỷ lấy phần ngọn chỉ có dây và lá, người lấy phần gốc, củ chất đầy nhà. Quỷ lại đặt điều kiện: quỷ ăn phần gốc và ngọn, người ăn phần giữa. Lại theo lời Phật dặn, người trồng bắp. Đến mùa, người lấy hết trái, quỷ chẳng có gì để ăn. Quỷ thua bèn đòi lại đất. Phật khuyên người nên xin quỷ bán cho mình một mảnh đất bằng bóng của một chiếc áo cà sa. Quỷ bằng lòng. Phật bảo người trồng một cây tre rồi máng chiếc áo cà sa lên ngọn. Phật hóa phép làm cây tre cao mãi, cao mãi đến tận trời và bóng chiếc áo cà sa lan xa càng lúc càng rộng. Quỷ phải dắt dìu nhau chạy ra ngoài bóng râm của chiếc áo. Cuối cùng quỷ bị đuổi ra mãi ngoài tận biển Đông.

Người lại làm chủ vùng đất của mình. Từ đấy, quỷ xin với Phật hàng năm cho vào đất liền để thăm mồ mả tổ tiên. Phật bằng lòng cho quỷ vào đất liền nhân ngày Tết Nguyên đán của người. Phật dặn người nên trồng cây NÊU trước nhà vào những ngày này để cho quỷ không thể xâm phạm đến người.

Trên đây là sự tích cây nêu ngày Tết của ta. Thế nên ca dao ta có câu:Cu kêu ba tiếng cu kêu,Trông mau tới Tết dựng NÊU ăn chè.

Trong tâm thức của dân tộc Việt, cây nêu là biểu trưng của sức mạnh tinh thần Việt chống lại sức phản động của cái ác (quỷ). Cây nêu cũng biểu hiện quyền lực của mỗi gia đình trong làng xã ngày xưa:

Thứ nhất nêu cao,
Thứ nhì pháo kêu.

Nhà có cây nêu cao là nhà giàu sang quyền quí. Tràng pháo nổ giòn và đều là báo hiệu điềm tốt cho gia chủ.

“Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè” chỉ là tâm trạng trẻ con bởi lẽ chỉ có trẻ con mới mong chóng tới Tết để được “ăn ngon mặc đẹp” còn đối với người lớn, Tết đến là cả một nỗi lo :

Tết đến sau lưng
Ông vải thì mừng
Con cháu thì lo.

Quả vậy, vào những ngày năm cùng tháng tận, đa số dân ta lo lắng đủ điều. Nào là nợ nần chưa trang trải. Nào là công việc chưa hoàn thành. Nào lo sắm sửa cho 3 ngày Tết. Nào lo sửa sang nhà cửa để đón Xuân . .

Đời sống của người nông dân ta ngày trước không phải là dễ dàng vì phương pháp canh tác cổ truyền, mọi việc phần lớn như còn tùy thuộc vào sự định đoạt của Trời. Cuộc sống tuy có muôn vàn cơ cực, ăn buổi hôm lo buổi mai, thế nhưng việc tiêu tốn cho 3 ngày Tết lại không thể dè xẻn được. Thế nên có nhiều gia đình đã phải chịu cái cảnh:

Đi cày ba vụ
Không đủ ăn ba ngày Tết!

Tết đến, trăm vạn nỗi lo quấn quít trong đầu, thứ nhất là lo nợ nần chưa trang trải:

Bây giờ tư Tết đến nơi
Tiền thì không có sao nguôi tấm lòng
Nghĩ mình vất vả long đong
Xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi
Về nhà công nợ nó đòi
Mà lòng bối rối đứng ngồi không an.

Thật là trớ trêu. Tiền không có mà tiếng còi của gánh hát Quảng Đông lại quyến rũ, thúc dục. Về nhà thì nợ đòi. Mà nợ đòi thì nguy lắm. Các chủ nợ có lệ cuối năm giằng thúc con nợ, cố đòi cho được số tiền đã cho vay, dù rằng đòi được tiền về để đấy. Người ta cho rằng, nếu không đòi được tiền trước giao thừa, ngày hôm sau, món tiền nợ đã ra nợ cũ, và ngày Mồng một đầu năm và những ngày sau nữa, người ta không dám đòi nợ, vì con nợ kiêng sợ giông.

“Tục lệ như vậy nên cái ngày tất niên nầy, những người có nợ làm ăn kém may mắn, không có tiền trả mà phải khất chủ nợ không chịu, đành phải đi trốn nợ đến lúc giao thừa mới trở ve”.(1).

Tục ngữ lại có câu:

Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,
Giàu có Ba mươi Tết mới hay.

Hoặc là:

Có, không: mùa Đông mới biết
Giàu nghèo: Ba mươi Tết mới hay.

Trên đây là những quan sát thực tế của người bình dân ta ngày xưa. Kẻ khôn ngoan là kẻ khéo biện bạch trước cửa quan (tức cơ quan chính quyền hàng Xã, Tổng, Huyện...) để giành lẽ phải về mình. Mùa Đông là mùa giá rét. Nhiều công việc làm ăn hầu như đình trệ. Đây thường là khoảng thời gian đem lương thực dự trữ ra để ăn. Nhà giàu có của dự trữ nên không lo. Nhà nghèo phải đi vay từng đấu gạo. Đến ngày giáp Tết, nhà giàu sắm sửa ề hề, dân nhà nghèo đôi khi còn phải lo trốn nợ.

Thế nên dù ai có tài khoe mẽ đến đâu, đến ngày giáp Tết là người ta biết hết, không thể nào giấu giếm được.

Ngoài những ngày kỵ giỗ bình thường để con cháu tưởng nhớ đến ngày từ trần của người đã khuất, hàng năm người Việt ta còn có lệ Chạp mả, tất cả mồ mả của giòng họ đều được giẫy cỏ sạch sẽ vào tháng Chạp để sửa soạn mời gia tiên về ăn Tết với con cháu. Cũng có nơi để sang tháng Giêng mới giẫy mả.

Đi đâu mặc kệ đi đâu
Đến ngày giỗ chạp phải mau mà về.

Con cháu không thể bỏ được ngày giỗ chạp bời vì “con cháu muốn tròn đạo hiếu với tổ tiên thì những ngày kỵ Chạp, Tết nhứt phải cúng cấp tử tế. Những người bỏ giỗ bỏ Tết là bất hiếu chi cực”. (2)

Bỏ sêu Tết kỵ Chạp là một điều bất hiếu. Vì thế đã có cô gái trách cứ vị hôn phu của mình một cách nặng nề:

Chiều Ba mươi anh không đi Tết,
Rạng ngày Mồng Một anh không đi lạy bàn thờ,
Hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công.

Lạy bàn thờ gia tiên quả một điều hệ trọng. “Về Tết Nguyên đán, từ ngày 29 tháng Chạp, gia trưởng phải làm lễ Rước Ông Bà. Trong 3 ngày Tết, suốt đêm ngày lúc nào cũng có hương đèn và lễ vật để cúng tổ tiên. Đến chiều Mồng 3 hay sáng Mồng 4 thì làm lễ Đưa Ông Bà để đốt vàng mã cúng trong 3 ngày Tết”. (3).

Lạy bàn thờ gia tiên vào 3 ngày Tết là một nghi lễ không thể thiếu của con cháu đối với những người đã khuất. Thế nhưng, khi bị vị hôn thê trách cứ, người con trai đã khéo biện bạch cho sự vắng mặt của mình bằng một lễ nghi có vẻ còn quan trọng hơn: lo việc họ, việc làng.

Hôm Ba mươi anh mắc lo việc họ
Sáng mồng Một anh bận việc làng,
Ông bà bên anh cũng bỏ huống chi bên nàng, nàng ơi!

Đến ngày Tết, con cháu dù làm ăn ở đâu cũng cố tìm cách về nhà để ăn Tết, mừng tuổi ông bà cha mẹ. Con cái dù đã lập gia đình ra ở riêng cũng đem con cái về thăm và chúc Tết cha mẹ mình:

Mồng một Tết cha
Mồng ba Tết thầy.

Hay :

Mồng một thì ở nhà cha,
Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy.

Lệ tết thầy của ta ngày xưa thật đẹp. Đó là tinh thần “tôn sự trọng đạo”, là tinh thần “tiên học lễ, hậu học văn”. Học trò học nghề hay học chữ, ở với người dạy cho mình đều có nghĩa thầy trò. Học trò phải kính trọng thầy, quý mến thầy mà nhất là thầy dạy học chữ lại phải kính trọng hơn nữa.

“Lúc học, gặp khi mồng Năm ngày Tết như: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung thu, ... mùa nào thức nấy, hoặc cặp gà thúng gạo, đường mứt bánh trái hoặc năm ba quan tiền, tùy tình đa thiểu mà đem đến lễ thầy”.(4).

Trong các tục lệ về ngày Tết, ta có tục xông đất hay xông nhà đầu năm. Theo tục lệ nầy, có nhiều người tin rằng, có người vía xấu đến xông đất nhà nào (tức là người đến chúc Tết đầu tiên) nhà đó sẽ gặp điều xui xẻo quanh năm. Vì thế, “nếu không có người nhà dễ vía để xông nhà lấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sớm ngày mồng Một Tết đến xông nhà, trước khi có khách đến chúc Tết, để người này đem sự dễ dãi may mắn lại”. (5).

Do tục lệ nầy, vào sáng Mồng một Tết ít người dám ra khỏi nhà để đi thăm bà con láng giềng, sợ mình sẽ đem điều xui xẻo đến cho người khác. Cũng do tục lệ nầy, người ta rất sợ những kẻ “mang tiếng không tốt” đến xông nhà mình. Ơ đất Hà thành vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có hai nhân vật trào phúng nổi tiếng, một cặp bài trùng mà những tay có máu mặt thời bầy giờ đều ngán, đó là Ba Giai và Tú Xuất. Hai nhân vật này mang tiếng là hay chòng ghẹo và phá phách thiên hạ. Vì thế người ta đã hù dọa nhau:

Hễ ai mà nói dối ai
Thì mồng một Tết Ba Giai đến nhà.

Đa số dân ta sống bằng nghề nông. Hàng năm, nhiều nhà dâng lễ cúng đất, còn gọi là lễ “tạ thổ kỳ yên” vào những ngày đầu năm. Ơ vùng đồng bằng sông Cửu Long, lệ cúng đất được thực hiện vào ngày ngày 10 tháng Giêng:

Mổng chín vía Trời
Mồng mười via Đất

Ngày vía đất có lệ cúng đất. “Ơ nhà quê miền Nam, đến ngày 10 tháng Giêng người nhà nông làm lễ cúng đất. Nghi lễ rất giản dị. Nhà khá giả thì dọn mâm cơm có gà vịt đem ra ruộng cúng rồi cùng nhau ăn uống tại chỗ. Ơ nhà thì dọn lễ vật ra cúng tại bàn thờ Thổ Địa đặt trong nhà. Lễ vật cũng đơn giản: con gà, miếng thịt hoặc rút gọn chỉ còn bộ tam sên với dĩa gạo, muoi”. (6).

Trong 3 ngày Tết ta có lệ chúc Tết. Con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ, ông bà cha mẹ chúc Tết lại con cháu; bà con quên đi mọi ghen ghét, giận hờn; hề gặp nhau là gửi lời cầu chúc tốt đẹp cho nhau:

Nay mừng tứ hải đồng xuân
Tam dương khai thái, muôn dân hòa bình.

Sĩ thời chăm việc học hành,
Một mai khoa bảng để dành công danh.

Công thì phượng các long đình
Đủ nghề sư khoáng, rứt nghề công thâu.

Nông thời cuốc bẫm cày sâu,
Thu hòa hạ mạch, phong thâu có ngày.

Thương thời buôn bán liền tay
Rứt tài Tử Cống ai tày cho đang!

Ơ miền Bắc có tục hát “xúc xắc xúc xẻ” để mừng Tết ngay vào đêm giao thừa. Một đoàn trẻ con gồm chừng 10, 15 em tay cầm ống bương đựng đồng tiền kẽm. Ngay từ lúc chạng vạng, bọn trẻ lũ lượt kéo đến từng nhà để mừng gia chủ sang năm mới gặp nhiều điều may mắn với lời hát mừng đầy ắp những điều tốt đẹp:

Xúc xắc xúc xẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào
Bước lên giường cao: Có đôi rồng ấp
Bước xuống giường thấp: Có đôi rồng chầu
Bước ra đằng sau: Có nhà ngói lợp
Ngựa ông còn buộc
Voi ông còn cầm
Ong sống một trăm linh năm tuổi lẻ
Vợ ông sinh đẻ
Những con tốt lành
Những con như tranh
Những con như đối...

Ở một số địa phương lại có tục “hát sắc bùa” vào ngày Tết. Thông thường hát sắc bùa do phường sắc bùa hát theo điệu dân ca sắc bùa của từng dịa phương. Có một số địa phương lại kết hợp múa sắc bùa với hát sắc bùa thành một vũ điệu dân-gian đầy quyến-rũ như ở một số xã miền biển quận Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Phường sắc bùa còn có những bài hát riêng cho từng nghề nghiệp: buôn bán, nông tang, canh cửi . . . :
Thánh chúa vạn niên.
Thánh chúa vạn niên!
Chúng tôi nay dâng cách đội đèn
Thái hòa gặp tiết xuân thiên
Gió đưa chồi ngọc, hoa chen cành vàng
Trong nhà ta đèn thắp sáng trưng
Song le còn muốn chơi trăng ngoài thềm
Để cho ấm ngoài êm...

Vào sáng Mồng một Tết, một số chức sắc trong làng từ Tiên chỉ, Thứ chỉ, Lý trưởng, Trương tuần cùng các bô lão đều tề tựu về đình làng để tế cáo thần linh bản thổ và thần Thành hoàng. Trong ngày gặp mặt đầu năm ở nơi linh-thiêng này, quý chức sắc của làng đều dâng lời cầu nguyện xin Thành hoàng và thần-linh bản-thổ phù trợ cho dân làng sang năm mới được vạn sự như ý:

Chúc mừng thượng đẳng tối linh
Phù trì dân xã hiền-vinh sang giàu
Trước đình lại có rồng chầu
Có đôi qui phụng tựa màu non tiên
Giữa đình có đấng bát tiên...

Trong những hội Xuân đầu năm, làng thường tổ chức các hội hát nam nữ như: hát đúm, hát dặm, hát trống quân, hát quan họ... Thường vào cuộc hát, người khởi xướng thường hát những lời chúc tụng tốt đẹp:

Tới đây viếng cảnh, thăm hoa
Trước mừng các cố, sau là mừng dân.
Sau nữa tôi mừng cả làng tuần
Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!

Vào 3 ngày Tết, các làng thường tổ chức các trò chơi tại sân đình, sân chùa hay một khoảng đất trống nào đó để dân làng tụ tập vui Xuân. Các trò chơi thông thường gồm có: cờ người, tổ tôm điếm, đánh đu, ném cầu, chọi gà, đô vật, ... Ngoài dịp Tết Nguyên đán, các làng còn tổ chức hội Xuân vào các ngày Thần kỵ tức ngày húy kỵ của vị Thành hoàng của làng. Các lễ hội này thường được tổ chức vào mùa Xuân hay mùa Thu vời nhiều trò chơi đặc biệt hơn.

Ngoài địa điểm chính nêu trên, dọc theo đường làng dưới bóng các lũy tre hay cây đa, cây bàng, người ta thấy tụ tập từng 5, 7 người, có nơi 10, 15 người để chơi các trò cờ bạc như xóc dĩa, đánh đáo...

Mồng một chơi cửa chơi nhà,
Mồng hai chơi xóm, mùng ba chơi đình.

Thực ra, các nơi vui Xuân không phận biệt ra từng ngày rạch ròi như trên mà còn tùy thuộc vào từng hạng người, từng lứa tuổi. Phần lớn các người đứng tuổi thích tụ tập về sân đình, sân chùa để thưởng thức các trò vui Xuân, lớp con cháu lại thích tụ tập ở các nơi xóc dĩa, bầu cua, đánh đáo...

Một số tỉnh thuộc miền Trung Trung phần, ngoài các trò chơi như xóc dĩa, bầu cua, đánh đáo, ... còn có thú chơi bài chòi:

Rủ nhau đi đánh bài chòi
Ơ nhà con khóc nó lòi rún ra.

Đây là một hội bài chòi được nhà văn Võ Phiến thuật lại theo tài liệu của nhà thơ Quách Tấn:

“Trên một khoảnh đất, dựng lên 9 cái chòi. Các chân bài, mỗi chân chiếm một chòi.

Người ta dùng bộ bài Tam Cúc 27 cặp, đem mỗi lá bài dán vào một thẻ tre. Bộ bài chia ra làm đôi: một nửa bỏ vào ống do người hô hiệu giữ, một nửa đem phân phối cho 9 chòi, mỗi chòi 3 lá. Lúc vào cuộc, anh hiệu rút bài trong ống ra, hô lên, chòi nào trúng lá ấy thì gọi hiệu đem lại. Khi có một chòi trúng đến lá thứ 3 là xong một ván. Người hô hiệu thu hết bài, trộn nhau, rồi lại phát ra mỗi chòi 3 lá để bắt đầu lại ván khác. Cứ thế cho đến 8 ván là mãn hội” (7).

Phần lớn những người thích chơi bài chòi là thích cái điệu hô đặc biệt gọi là hô bài chòi của các tay hô hiệu.

Nói đến Tết mà không nhắc đến các phiên chợ Tết là cả một điều thiếu sót. Chợ Tết có thể là những phiên chợ cuối năm bày bán các hàng Tết từ đồ cúng tế, hoa quả đến quần áo và đồ chơi trẻ con. Chợ Tết cũng có thể là những phiên chợ đầu năm họp lấy hên và thường được tổ chức các trò vui Xuân cùng với việc bày bán hàng Tết. Có những phiên chợ Tết mỗi năm chỉ họp một lần:

Bỏ con bỏ cháu,
Không ai bỏ hai mươi sáu chợ Yên
Bỏ tổ bỏ tiên
Không ai bỏ chợ Viềng mồng tám.

Đây là hai phiên chợ Tết đặc biệt của Nam Định xưa: chợ Yên mỗi năm chỉ họp một phiên vào ngày 26 tháng Chạp. Đây là một phiên chợ Tết thật sầm uất với đầy đủ mặt hàng Tết cho người lớn và trẻ con, quy tụ khá đông đảo người quanh vùng về mua sắm.

Chợ Viềng lại họp vào ngày 8 tháng Giêng. Tương truyền ngày xưa ở Nam định có đến 3, 4 chợ cùng mang tên chợ Viềng. Chợ Viềng chính nằm ở xã Kim thái, huyện Vụ bản; họp phiên đầu năm vào mùng 8 tháng Giêng, quy tụ dân quanh vùng. Dân vùng này tin rằng buôn bán vào ngày nầy sẽ gặp may mắn quanh năm. Do đó, nếu gặp những ngày có mưa gió, lại gặp đò ngang cách trở, dân buôn tự động họp chợ ở một nơi nào đó để buôn bán gọi là “lấy ngày”, cầu may cho cả năm. Thế là một phiên chợ Viềng mới được thành hình. Sau phiên chợ họp lấy may đầu năm đó chợ không còn để lại một dấu vết nào. Năm sau hoặc những năm sau nữa, nếu lại gặp trở ngại như trên, dân buôn quanh vùng lại hình thành một chợ Viềng khác, có thể là ở vùng đất năm trước hay một nơi nào khác. Những phiên chợ Viềng này mỗi năm chỉ họp một lần thôi.

Ơ kinh đô Huế có chợ Gia Lạc, mỗi năm cũng chỉ họp có một phiên:

Gia Lạc chỉ mở ngày Xuân
Quanh năm, suốt tháng khó lần tìm ra.

Gia Lạc là một phiên chợ đặc biệt gần thôn Vĩ Dạ, hằng năm chỉ họp vào mấy ngày Tết: từ 29 tháng Chạp đến mồng 3 Tết. Tương truyền đây là phiên chợ đặc biệt do vị hoàng tử thứ 4 của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Bính cho lập vào 3 ngày Xuân trên một khoảnh đất rộng gần phủ đệ của ông để cho các người trong hoàng phái đến sắm hàng Tết và vui Xuân như đánh bài chòi, đổ xăm hường, đánh đáo lỗ... Chợ tập trung được nhiều mặt hàng Tết nhất là đồ chơi cho trẻ con do dân các phủ huyện lân cận sản xuất và mang về bán. Dần dần về sau dân quanh vùng cũng được tham dự trong các sinh hoạt của phiên chợ Tết này và mỗi năm chợ cũng chỉ họp vào 3 ngày Tết mà thôi.

Ở tỉnh Vĩnh Yên có phiên chợ Dưng cũng rất nổi tiếng:

Bỏ con, bỏ cháu
Không ai bỏ hội mùng 6 chợ Dưng.

Dưng là tên nôm na của làng Văn Trưng thuộc phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên. Hàng năm làng Văn Trưng mở hội Xuân vào ngàymùng 6 tháng Giêng. Chợ Dưng tọa lạc gần đình làng Dưng và mở phiên chợ đầu năm cũng vào mùng 6 tháng Giêng. Vừa gặp ngày hội Xuân, vừa gặp phiên chợ đầu năm nên chợ Dưng vào ngày này thật đông đúc. Ngoài việc buôn bán lấy may, dân chúng còn được thưởng thức các trò vui Xuân, đặc biệt là trò chơi trai gái bắt chạch trong chum.

Ở huyện Nông Cống thuộc tỉnh Thanh Hóa có phiên chợ Cầu Quan cũng thật hấp dẫn. Chợ Cầu Quan, dân quanh vùng quen gọi là chợ Thượng, họp chợ ngay bên bờ một con sông đào từ thời nhà Lê vào dịp đầu Xuân. Dân chúng vừa đi chợ Tết vừa xem đua thuyền rồng:

Cầu Quan vui lắm ai ơi,
Trên thì họp chợ, dưới bơi thuyền rồng!

Vùng quan họ đất Bắc cũng có những phiên chợ Tết nổi tiếng một thời còn được dân chúng nhắc nhở qua câu ca dao:

Xứ Nam: nhất chợ Bằng Gồi
Xứ Bắc: Vân Khám, xứ Đoài: Hướng Canh.

Xứ Nam, xứ Bắc, xứ Đoài là tên gọi nôm na của các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc và Sơn Tây ngày xưa.

Riêng đất Nam Định còn có những câu ca dao giới thiệu những phiên chợ của họ một cách thú vị:

Mồng một chơi cửa, chơi nhà
Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình.
Mông bốn chơi chợ Quả linh
Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi.
Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng
Chợ Viềng một năm mới có một phiên
Cái nón em đội cũng tiền anh mua.

Tết Nguyên đán là ngày lễ cổ truyền trọng đại của dân tộc Việt Nam.
Trên đây chúng tôi đã nêu lên một số tục ngữ ca dao phản ảnh một số tập tục và hình ảnh quen thuộc của ngày lễ trọng đại đó.

Ngày nay, vì hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, một phần con dân Việt phải sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới. Thế nhưng, dù sống trong hoàn cảnh nào, châu lục nào, quốc gia nào người Việt ta cũng vẫn nhớ đến ngày Tết cổ truyền của dân tộc và vẫn tổ chức những hội vui Xuân một cách trọng thể. Tổ chức vui Xuân để giử gìn truyền thống Việt và quảng bá phần nào văn hóa Việt với các sắc dân khác đang cùng sống trên một địa bàn với chúng ta. Đó là ý nghĩa quan trọng của ngày Tết Nguyên đán mà chúng ta vẫn thường tổ chức hằng năm.

ĐÀO ĐỨC NHUẬN

Ghi chú :


(1) Toan Ánh Tín Ngưỡng Việt Nam, quyển hạ tr. 327
(2) Đào Duy Anh Việt Nam Văn Hóa Sử Cương tr. 204
(3) Lương Đức Thiệp Xã Hội Việt Nam tr. 311
(4) Phan Kế Bính Việt Nam Phong Tục tr. 154
(5) Toan Ánh Tín Ngưỡng Việt Nam, quyển hạ tr. 316
(6) Đinh Tiểu Nguyên Tháng Giêng . . . Thời Luận Xuân Đinh Sửu, 1997
(7) Võ Phiến Bài Chòi – Đặc San Tây Sơn, Xuân Nhâm Thân, 1992
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1374 Posted : Thursday, February 2, 2017 8:21:42 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage


BÚN HẾN MAI XÁ

Ai qua Quảng Trị Gio Linh
Về thăm Mai Xá kết tình quê xưa
Quê hương sớm nắng chiều mưa
Mùa khô bão cát gió đùa Hiền Lương

Cửa sông nước lợ về nguồn
Những con chắt chắt tầm thường lất lây
Một loài hến nhỏ móng tay
Nhưng mà ngọt thịt ngất ngây tính hàn

Bỏ ngâm nước gạo hết bùn
Rồi chà sạch vỏ cho mùn trôi ra
Bỏ vào luộc chín nhẩn nha
Nhớ dùng đũa khuấy đều và nhanh tay

Rổ thưa đãi ruột nước đầy
Chờ cho khô ráo xong đây mới bày
Nước dùng chắt chắt ngất ngây
Nấu canh rau muống ớt cay mát lòng

Phi hành xào thịt trắng trong
Nếm nêm gia vị cho nồng hương thơm
Ăn ngay bánh tráng nướng giòn
Thơm thơm chắt chắt mùi hương đậm đà

Nước dùng đập củ gừng già
Khử mùi bùn đất cũng là khử tanh
Giã thêm chén muối ớt xanh
Lại pha mắm tỏi phi hành thật cay

Rau thơm bún trắng xum vầy
Nước dùng thật nóng chan đầy mời anh
Quê hương khói lửa chiến tranh
Món ăn dân dã vang danh để đời

Ký Gàn
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1375 Posted : Monday, February 6, 2017 4:01:54 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

UserPostedImage


NEM NƯỚNG CÁI RĂNG

Ai qua sông Cửu đồng bằng
Ghé ăn nem nướng Cái Răng nhớ đời
Nem nướng có khắp mọi nơi
Cái Răng đặc biệt ăn rồi khó quên

Cũng là thịt lợn quết nên
Thêm bì hạt lựu tăng thêm mỡ màng
Khéo tay siên sỏ nướng than
Trở đều nem nướng hanh vàng thật ngon

Rau thơm chuối, khế, dưa, thơm
Bánh tráng mỏng dính cuốn tròn dễ thương
Chấm vào bát nước đầy tương
Xay tinh mềm mại ớt đường ngọt ngay

Hay là lại có một khay
Thanh Điền bánh hỏi tương xay chan vào
Ôi thôi nếm thử ngọt ngào
Ai qua đã thử lẽ nào quên đâu

Ký Gàn
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1376 Posted : Tuesday, February 7, 2017 11:06:09 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)


THẢO MỘC TRONG VĂN CHƯƠNG, THI CA
VÀ NGÔN TỪ THÔNG DỤNG VIỆT NAM


PHẠM ĐÌNH LÂN, F.A.B.I.


Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có vũ lượng trung bình hàng năm cao nên có nhiều loại thảo mộc khác nhau. Trong văn chương, thi ca và ngôn từ thông dụng người ta đề cập nhiều đến những loại cây lương thực mang sự sống hàng ngày, các loại hoa, một ít loại cây biểu tượng, cây ăn trái, cây thuốc hay cây cung cấp gỗ dùng trong việc xây cất, đóng thuyền hay đóng bàn, ghế, tủ sẵn có trong nước. Người ta dùng hình ảnh của thảo mộc để nhắc nhở công dụng, dược tính trị liệu của chúng hay để đưa ra những nhận xét mang tính kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm sống, triết lý nhân sinh và tâm lý-xã hội.

Cây lương thực

UserPostedImage


Cây lúa Oryza sativa là một loại cây lương thực quan trọng trong đời sống của người Việt Nam. Từ cây lúa ta có gạo và nếp. Gạo dùng để nấu cơm. Nếp dùng để làm bánh ú, bánh tét, bánh chưng, xôi, xôi vò, cơm rượu v.v… Khi Tết đến người ta luôn nhắc đến:

Thịt mỡ dưa, hành câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo bánh chưng xanh.

Trong hai câu thơ ấy có ba loại thảo mộc: dưa hành (củ hành: Allium cepa), cây nêu (tre: Bambusa vulgaris), bánh chưng xanh (nếp: Oryza glutinoza).

Người ta mạnh vì ăn uống no đủ và bạo vì trong túi có nhiều tiền nên có câu:

Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Người nghèo lâm vào cảnh:

Thiếu lúa thiên trơ mặt địa.

Nơi nào có lợi lộc nhiều, nơi ấy thu hút được nhiều người đến như cảnh:

Lúa thóc đâu thì bồ câu đến đó.

Nông dân vỗ về con trâu ra sức cày bừa vì:

Ngày nào cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Lúa ngoài ruộng là một đảm bảo để vay mượn tiền hay mượn gạo ăn trong khi chờ lúa chín nên có câu:

Có lúa mới cho mượn gạo.

Trên châu thổ sông Hồng có hai vụ lúa: vụ Chiêm (sau Tết và gặt vào tháng 5 âm lịch) và vụ Mùa. Nông dân làm lụng cực nhọc suốt năm vì:

Lúa chiêm bóc vỏ,
Lúa mùa xỏ tay.

Về kinh nghiệm trồng lúa có:

Lúa nhổ ngã mạ,
Vàng rạ thì mạ xuống được.

Lúa bông vàng thì vàng con mắt.
(Lá lúa cháy đỏ vì thiếu mưa)

Đói thì ăn ráy ăn khoai
Chớ thấy lúa trổ tháng hai (Â.L) mà mừng.
(Củ ráy: Alocasia longiloba)

Ngày xưa triều đình bắt các tráng đinh đi tòng quân. Nhà nào có thanh niên phải sắm gạo bị cho thân nhân mang gạo ăn khi lên đường.

Bởi vua bắt lính đàn ông
Tiền nong gạo bị sắm trong nhà nầy.

Ca dao đề cập về lúa và thời gian kết hột và lúa chín qua câu:

Anh đi lúa chửa chia vè
Anh về lúa đã chín hoe cả đồng.

Huyền Trân công chúa gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân tức Jaya Sinbavarman III, ngự trị từ năm 1288 đến 1307. Lúc ấy trong nước có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

Chế Mân chết. Theo tục lệ Chiêm Thành hoàng hậu phải bị hỏa thiêu theo chồng. Vua Trần Anh Tôn, anh của công chúa Huyền Trân, sai Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành dự đám tang Chế Mân đồng thời tìm cách cứu công chúa Huyền Trân đem về nước. Trần Khắc Chung thành công trong công tác khó khăn nầy. Trong thời gian Huyền Trân gần gũi với Trần Khắc Chung, trong nước lưu truyền câu:

Tiếc thay hột gạo trắng ngần,
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

Để diển tả cuộc sống thăng trầm, "lên voi xuống chó", người ta dùng câu:

Đã từng ăn bát cơm đầy
Đã từng nhịn đói cả ngày không cơm.

Gạo cội là gạo ngon, đắt tiền. Học sinh gạo cội là học sinh tuyển xuất sắc.

Học gạo là học siêng năng, chăm chỉ nhưng thâu hoạch không nhiều.

Củi quế gạo châu phản ảnh đời sống khó khăn, nhu cầu thiết yếu hàng ngày đắt đỏ khiến cho người sống trong cảnh cơ hàn.

Tiền phát gạo đong là lời than van của những người làm dâu trong gia đình có mẹ chồng khắt khe về tiền bạc.

Chữ LÚA và GẠO không phải lúc nào cũng có nghĩa tốt trong ngôn ngữ Việt Nam.

Đánh bài chạy gạo: đánh bài kiếm tiền mua gạo ăn hàng ngày. Sau khi thắng thì lấy tiền đi mua gạo và ngưng chơi.

Heo gạo là thịt heo có trứng sên trắng. Muốn biết heo có gạo hay không, người mua heo căng miệng heo để xem lưỡi của nó. Có một thời ở Nam Bộ chữ heo gạo ám chỉ đồng bạc giả.

Xoài gạo là xoài có những đốm trắng như hột gạo làm cho cơm trái xoài bị sượng ít nhiều.

Đồ gạo là đồ giả.

Những cụm từ lúa vàng hay lúa rồi! có nghĩa tiêu cực của nó ở Nam Bộ. Những từ nầy ra đời vào thập niên 1940 với tên của một vị giáo sư Pháp Văn ở Sài Gòn. Hầu hết thí sinh vào vấn đáp mà gặp giáo sư V.V.L. đều bị đánh rớt. Lúa rồi có nghĩa là không ổn rồi!, không xong rồi!.

Khoai lang Ipomoea batatas và Khoai mì Manihot dulcis là những loại củ được dùng để ăn độn với cơm hầu tiết kiệm gạo. Có khi người ta ăn khoai lang hay khoai mì (sắn) nấu ăn với muối đậu hay dưa mắm thay cơm vào những năm thất mùa vì lụt lội, bão tố hay hoàng trùng.

Nói về khoai lang và khoai mì trong Sấm Ký Phật Giáo Hòa Hảo có câu:

Khoai lang rồi lại khoai mì,
Đến khi Tần khởi độ thì khẩu ta.
(Tần ở đây ám chỉ nước Cambodia).

Kinh nghiệm về việc trồng khoai và trồng lúa được ghi nhận như sau:

Khoai ruộng lạ,
Mạ ruộng quen.

Khoai môn Colosia esculenta là một loại khoai đắt tiền. Người Việt Nam dùng khoai môn để nấu chè, nấu cháo lươn ăn với nước mắm me, làm chao, vịt hấp chao và khoai môn, bánh khoai môn. Ca dao nói về khoai môn lại không dính dấp gì đến các thức ăn:

Gió đưa bụi chuối sau hè,
Bụi môn trước cửa ai dè em hư.

Bắp hay Ngô Zea mays là một loại cây thực phẩm gốc ở Mỹ Châu. Đó là căn bản lương thực của người Da Đỏ và nhiều dân tộc Phi Châu. Ở Việt Nam người ta ăn bắp luộc, bắp nấu hay bắp chiên ăn với dừa nạo, muối đậu và đường như thức ăn sáng cho người bình dân. Ca dao Việt Nam nói về bắp chỉ có hai câu:

Tháng sáu em đi buôn bè,
Tháng bảy, tháng tám trở về dòng ngô.

Về rau cải dòng Brassica ta có:

Ai làm cây cải lên ngòng
Cho dưa tôi khú cho chồng tôi chê.

Rau nào sâu nấy.

Rau chọn lá, cá chọn vảy.

Rau già, cá ươn
(Sự ế ẩm không đắt khách, đắt hàng)

Gió đưa cây cải về Trời,
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay.
(Rau răm: Polygonatum odoratum)

UserPostedImage


Gia vị

Người ta mượn sự cay nồng của Gừng Zingiber officinale để nói lên sự gay gắt của người già khó tính với:

Tính gừng quế.

Già gừng già quế.

Gừng già, gừng rụi, gừng cay,
Anh hùng càng cực càng đầy nghĩa nhân.

Trong một khúc hát ru con có câu:

Tay mang dĩa muối chấm gừng
Gừng cay, muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Riềng Alpinia galanga cay và nồng như gừng, được dùng làm gia vị cho mắm hay tré.

Chim quyên nó đậu bụi riềng,
Dẫu bà con ruột không tiền cũng xa.

Vị cay của Ớt Capsicum annuum gắn liền với tính ghen tuông của phụ nữ:

Ớt nào là ớt chẳng cay
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Hồ tiêu Piper nigrum là một hương liệu hiếm và đắt giá ở Âu Châu vào thời Trung cổ. Ngày xưa phòng ngủ của hoàng hậu ở Trung Hoa được trét hồ tiêu cho ấm. Đó là tiêu phòng. Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu:

Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.

Người ta dùng tiêu cà để ướp thịt heo, thịt gà, thịt vịt trước khi kho hay xào, nướng như câu ca dao sau đây diễn đạt:

Khoan khoan mổ ruột con gà,
Bí đao xắc nhỏ, tiêu cà bỏ vô.

UserPostedImage


Trầu cau, Trà, Thuốc lá

Trầu Piper betie và Cau Areca catechu là hai loại thảo mộc không ăn được nhưng có một vị trí rất quan trọng trong xã hội Việt Nam. Trầu cau không thể thiếu trong giao tế giữa người và người ngày xưa và trong hôn lễ Việt Nam từ xưa đến nay.

Miếng trầu là đầu câu chuyện.

Lễ hỏi ở Việt Nam được gọi là lễ bỏ trầu cau. Ca dao Việt Nam nói về trầu khá nhiều:

Trầu nầy trầu quế trầu hầu,
Trầu loan trầu phượng trầu tôi lấy mình.
Trầu nầy trầu tính trầu tình ,
Trầu nhân trầu nghĩa trầu mình lấy ta.
Trầu nầy têm tối hôm qua,
Giấu cha, giấu mẹ đem ra cho chàng.
Trầu nầy không phải trầu hàng,
Không bùa không thuốc sao chàng không ăn.
Hay là chê khó chê khăn,
Xin chàng dừng lại mà ăn miếng trầu.

Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.

Cho anh một lá trầu vàng,
Sang năm trả lại cho nàng nguyên mâm.

Trồng trầu mà lộn dây tiêu (Piper nigrum),
Con mê hát bội mẹ liều con hư.

Trầu luôn luôn gắn liền với cau và thuốc lá Nicotiana tabacum.

Trầu là nghĩa,
Thuốc xỉa là tình.

Têm trầu là một nghệ thuật đánh giá sự khéo léo và thanh nhã của người phụ nữ. Đàn ông ăn trầu và hút thuốc lá. Đàn bà ăn trầu và xỉa thuốc. Thuốc lá ngon phải cay khi xỉa và có nhiều nhựa thơm khi hút.

Nhất gái một con,
Nhì thuốc ngon nửa điếu.

Nhớ gì bằng nhớ thuốc lào (Nicotiana rustica)
Mới chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Cau non khéo bửa cũng dầy,
Têm trầu cánh phượng để thầy ăn đêm.

Thân em như miếng cau khô,
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dầy.

Ai về cho gởi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Trầu vàng ăn với cau sâu,
Lấy chồng thua bạn thảm sầu mà hư.

Trà Camelia sinensis có một vị trí quan trọng trong đời sống của người Việt Nam với những câu:

Trà dư tửu hậu

Trà Tiên rượu Thánh.

Ở Nhật có Trà Đạo (Chanoyu) với bốn nguyên tắc căn bản: Wa (Hòa), Kei (Kính), Sei (Thanh), Jaku (Tịnh).

Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu liên quan đến đóa trà mi (Hoa trà hay đổ mi):

Cái đêm hôm ấy đêm gì?
Bóng dương lồng bóng trà mi chập chùng.

Thi hào Nguyễn Du đề cập đến trà trong câu:

Khi hương sớm lúc trà trưa.

Ca dao nói về trà:

Chẳng chè chẳng chén chẳng say,
Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm.

Chè thang chảo dậu bưng ra,
Chàng sơi một chén kẻo mà công lênh.

Sáng trăng sáng cả vườn chè (trà),
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ.

Bà Chúa Chè là biệt danh của Đặng Thị Huệ, thứ phi của chúa Trịnh Sâm cầm quyền ở Bắc Hà từ năm 1767 đến 1782. Được sự sủng ái của chúa Trịnh Sâm, bà trở thành đệ nhất phu nhân lộng quyền. Trịnh Khải là con trưởng nhưng bị phế để, con của bà là Trịnh Cán nối ngôi Chúa. Lính tam phủ (Thiệu Hóa, Hà Trung, Tỉnh Gia) nổi dậy giết bà để tôn Trịnh Khải lên ngôi Chúa (1782).

UserPostedImage


Cây thông dụng

Tre Bambusa vulgaris, Trúc Dendrocalamus halmiltonii, Tầm Vong Dendrocalamus strictus, Nứa Schizostaegyum zollingeri là những loại thảo mộc có công dụng đa dạng ở Việt Nam. Làng mạc ở Việt Nam ngày xưa được bao bọc bởi những lũy tre xanh. Măng tre, trúc và tầm vong đều là thức ăn ngon nhưng dễ tìm. Cây trúc còn là biểu tượng cho người quân tử trong câu:

Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.

Một nhà sum họp trúc mai,
Càng sâu biển cả càng dài tình sông.
(Nguyễn Du)

Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
(Nguyễn Du)

Tiên rằng: Ông quán chớ cười
Đây là nhớ lại bảy người Trúc Lâm.

Ca dao về tre có câu:

Cóc nằm dưới vũng tre ngâm,
Cóc kêu mặc cóc, tre dầm mặc tre.

Trong bài Lính Thú Đời Xưa có câu:

Miệng ăn măng trúc măng mai,
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng.
(giang: một loại tre).

Tiếc công anh chẻ nứa đan lờ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi.

Trong ngôn ngữ thông dụng có những cụm từ Tre tàn măng mọc; Tre khóc măng non; Tre lại trói tre, đồng nghĩa với Củi đậu nấu đậu; Bức màn tre v.v…

Trúc tơ là tiếng sáo thổi:

Trúc tơ nổi trước, kiệu vàng kéo sau.

Cây da (đa) Fiscus indica là hình ảnh quen thuộc của dân nông thôn Việt Nam ngày xưa. Cây da thường được tìm thấy ở đầu làng, trên bến đò (Cây da bến cũ, con đò năm xưa), gần đình làng nơi trẻ em quây quần đùa giỡn. Những người buôn bán nhóm chợ dưới tàn cây da để tránh nắng nhiệt oi bức của miền nhiệt đới. Ca dao Việt Nam nói về cây da như sau:

Trăm năm dẫu có hẹn hò,
Cây da bến cũ con đò khác đưa.

Cây da cũ, con yến rũ, cây da tàn,
Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu.

Nói về cây da, Phạm Đình Hổ (Chiêu Hổ) viết:

Khi nào thong thả lên cung nguyệt
Cho cả cành đa với củ đa.

Về các loại cây to như Ô đước (Cinnamomum argenteum), Bời lời Psychotria rubra, Sao Hopea odorata, Sến Shorea talura, Dầu Dipterocarpus alatus, Bần (thủy liễu) Sonnerata alba, cây Thông dòng Pinus, Tùng bách dòng Cupressus, cây Quế Cinnamomum zeylanicum, cây Lim Erythrophleum fordii, ta có những câu hát bình dân sau đây:

Ngó lên chợ Thủ cây dầu,
Có thằng bắt diệc té nhào lộn xương.
(Thủ: Thủ Dầu Một tức tỉnh Bình Dương).

Cảm thương ô đước, bời lời,
Cha sao, mẹ sến ngồi nơi gốc bần.

Nguyễn công Trứ ước ao:

Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Thông Reo là bút hiệu của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh khi viết báo Việt ngữ.

Ông Tiên ngồi dựa gốc tùng,
Phất phơ râu bạc lạnh lùng ông Tiên

Có gió lung mới biết tùng bách cứng
Có ngọn lửa hồng mới rõ thực vàng cao.

Ở như cây quế giữa rừng
Cay không ai biết, ngọt đừng ai hay.

Xin đừng thấy quế phụ hương,
Quế già, quế rụi hương còn thơm xa.

Khi Huyền Trân công chúa gả cho Chế Mân vào đầu thế kỷ XIV, trong nước người ta nghe văng vẳng câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng...

Trước khi Trung Hoa chinh phục nước Văn Lang, họ gọi nước nầy là Quế Lâm. Xin đừng nhầm Quế Lâm nầy với Guilin hay Kweilin (Quế Lâm) ở Trung Hoa.

Gỗ lim là một loại gỗ quí được tìm thấy trong bài ca dao Thằng Bờm khi Phú Ông xin đổi một bè gỗ lim để lấy cái quạt làm bằng mo cau và trong hai câu ca dao khác:

Công anh chuốt chuốt bào bào
Tạp thì ra tạp lẽ nào ra lim.

UserPostedImage


Các loài hoa

Người Việt Nam thường dùng tên các loài hoa đẹp hay hoa quí để đặt tên cho con gái mình. Chịu ảnh hưởng của người Tây Phương, người Việt Nam cũng nói:

Không hoa hồng nào không có gai.
(Hoa hồng: Rosa officinalis)

Trồng hồng bẻ lá che hồng,
Đừng cho những miệng thế thường bán rao.

Hoa sen Nelumbo nucifera là loại hoa thiêng ở các quốc gia chịu ảnh hưởng Ấn Giáo, Phật Giáo, Hoàng Giáo Tây Tạng. Người Việt Nam có một bài ca dao ca tụng hương thơm, vẻ đẹp và sự thanh khiết của hoa sen:

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Hột sen bổ và trợ tim gây dễ ngủ. Ca dao có câu:

Thương chồng nấu cháo cao lương (Sorghum vulgare),
Nấu canh hoa bí, nấu chè hột sen.

Về hoa quỳ hay hướng dương Helianthus annuus ca dao có câu:

Hoa quỳ một dạ hướng dương,
Trung thành quỳ vốn một lòng hướng dương.

Gió đưa bụi chuối ngã quỳ,
Thương cha chịu lụy dì ơi là dì!

Chim quyên hút mật hoa quỳ,
Ba năm còn đợi sá gì một năm.

Hoa phù dung Hibiscus mutabilis và quỳnh hoa Selenicerieus grandiflorus là hai loại hoa có đời sống ngắn ngủi. Hoa phù dung thay đổi màu ba lần trong ngày và sớm nở tối tàn nên có câu:

Phù dung tam sắc túy

Phù dung sớm nở tối tàn,
Tiếng đồn rực rỡ, hỏi nàng có không?

Quỳnh hoa ra hoa từ kẽ lá và chỉ nở về đêm. Đến khoảng 5 giờ sáng thì hoa tàn.

Quỳnh hoa sớm nở chóng tàn.

Quỳnh hoa nhất hiện.

Hoa lan dòng Iris và hoa huệ dòng Lilium là hai loại hoa được tìm thấy nhiều nhất trong tên của các phụ nữ Việt Nam.

Lan huệ sầu ai, lan huệ héo?
Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi.

Lan mấy đóa lạc loài sơn dã.
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Xuân Lan thu Cúc mặn mà cả hai.
(Đoạn Trường Tân Thanh)

Trong một khúc hát vọng cổ về chuyện tình Lan và Điệp có câu:

Chính giữa một cái mả cao
Hai bên hai cái mả thấp,
Chú ấy đang chôn lấp
Xác bướm (Điệp) với cành Lan,
Bướm, hoa Lan nay đã tàn.

UserPostedImage


Ca dao Việt Nam cũng đề cập đến bông lau Saccharum spontaneum và bông lách Saccharum arundinaceum như sau:

Đường đi những lách cùng lau,
Cha mẹ ham giàu gả ép duyên con.

Đường đi lau, lách rậm rì,
Lòng thương con bạn sá gì tấm thân.

Cây mai Ochna harmandii ở Nam Bộ có hoa vàng năm cánh. Hoa mai nầy được chưng vào dịp Tết. Cây mai Ochna harmandii có trái nhỏ, đen láng không ăn được. Ở miền Bắc Việt Nam và vùng khí hậu bán nhiệt đới và ôn đới có cây mai Prunus mume. Đó là một loại cây ăn trái cao đến 15m. Cây gọi là MAI hay MƠ. Hoa gọi là mai hoa âm theo tiếng Trung Hoa Meihua nhưng hoa màu hồng hay màu trắng giống như hoa mai Ochna Harmandii ở Nam Bộ về hình dáng hơn là màu sắc. Trái cây mai Prunus mume ăn được. Đó là mai vũ (meiyu) (vì trái chín khi trời mưa) hay ô mai (oomei) tức mai đen. Người Việt Nam ở miền Bắc gọi hoa cây mai Prunus mume là hoa đào vì hoa màu hồng. Ở miền Bắc người ta chưng cành hoa đào của cây MAI Prunus mume nầy vào dịp Tết chớ không chưng cành hoàng mai Ochna Harmandii như ở miền Nam.

Vậy hai chữ TRÚC MAI có nghĩa là cây tre (trúc) và cây mai trong các câu

Một nhà xum họp trúc mai.
Gíó đưa liễu yếu mai oằn,

Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai.
(cây liễu: Salix matsudana)

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Ai đi đường ấy hỡi ai?
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm.

Đào hoa y cựu tiếu đông phong
(Hoa đào năm trước còn cười gió đông)

đều liên quan đến cây mai Prunus mume ở miền khí hậu bán nhiệt đới và ôn đới chớ không phải cây mai vàng (hoàng mai) Ochna harmandii ở vùng khí hậu nhiệt đới.

UserPostedImage


Cây ăn trái

Lê Pyrus pyrifolia, Lựu Punica nana, Bình Bát Annona reticulata, Mãng Cầu Annonas quamosa được liệt vào bốn cây tứ quí. Lựu, bình bát, mãng cầu đều có nhiều hột, dấu hiệu của sự vĩnh cửu dòng giống. Hột bình bát và mãng cầu có thể diệt chí nhưng rất độc. Tại sao bốn loại cây ấy là tứ quí? Có hoa, có trái bốn mùa? Không đúng hẳn như vậy. Câu:

Lê, lựu. bình bát, mãng cầu
Bốn cây tứ quí anh sầu một cây.

có lẽ là câu nói của người miền Nam vì ở miền Bắc mãng cầu được gọi là trái na.

Bậu không bẻ lựu hái đào,
Lựu đâu bậu bọc, đào nào cầm tay?

Trước khi Lê Long Đĩnh tức Lê Ngọa Triều mất, trong nước nghe câu sấm:

Lê rụng, Lý sinh.

như một báo hiệu họ Lý của Lý Công Uẩn sắp thay thế họ Lê. Trái lý Eugenia aquea hao hao giống trái mận ở miền Nam và cùng một tên khoa học.

Ở miền Nam người ta ăn xoài Mangifera indica chín, hay ăn xoài sống với mắm ruốc, nước mắm đường hay bầm nhuyễn cho vào nước mắm để ăn cá nướng hay cá chiên.

Má ơi! Ðừng đánh con hoài,
Để con câu cá, bầm xoài má ăn.

Trái cây dòng Citrus như bưởi, cam, quít, chanh rất đắc dụng trong đời sống nhân loại vì có nhiều sinh tố C. Vỏ cam, quít được gọi là trần bì và được xem là một vị thuốc trong Đông Y với:

Nam bất thiếu trần bì,
Nữ bất ly hương phụ.

Hương phụ là củ cỏ gấu Cyperus rotundus dùng làm thuốc điều kinh phụ nữ. Nhân trần (sung úy) Leonunus artemisia và ích mẫu (mao xạ hương) Adenosma glutinosum là hai loại thảo mộc trị hậu sản nên có câu:

Nhân trần ích mẫu ở đâu?
Để cho gái đẻ đớn đau thế nầy?

Ca dao hay những câu hát ru con của người Việt Nam dành cho trái cây dòng Citrus không dựa vào màu sắc, hương vị hay tính đa dụng của chúng mà dùng những ý tương phản những đặc tính tốt của chúng như:

Canh chua bậu chuộng,
Cam sành bậu chê.

Tới đây lạt miệng thèm chanh
Ở nhà sẵn có cam sành chín cây.

Anh đi em có dặn phòng,
Chua cam chớ phụ, ngọt hồng chớ ham.

Chính chuyên chết cũng tay không,
Lên xe xuống ngựa bưởi bòng sướng thân.

Cam ngọt, quít ngọt đã từng,
Chỉ còn khế rụng trên rừng chưa ăn.

Vỏ quít dày gặp móng tay nhọn.

Người đọc thường nghe nói đến bưởi qua câu Trèo lên cây bưởi hái hoa hay bưởi Biên Hòa, bưởi Đoài v.v... Nhưng ít người nói đến trái bòng. Trái bòng giống như trái bưởi và cùng chung tên khoa học Citrus paradisisi hay Citrus maxima với bưởi. Đó là trái Pomelo, Shaddock, Jabong. Có lẽ tên gọi Bòng xuất phát từ chữ Japong, tên một thành phố trên đảo Java của Indonesia và trên đảo Leytes của Phi Luật Tân. Bòng phát xuất từ Mã Lai và đảo Bornéo. Một thuyền trưởng người Anh tên Shaddock đem giống từ Mã Lai du nhập vào các hải đảo trong biển Caribbean thuộc Anh. Từ đó bòng pomelo cũng được gọi là shaddock. Đến đầu thế kỷ XIX bòng được trồng ở Florida. Tiểu bang nầy nổi tiếng về việc sản xuất trái bòng pomelo trong trào lưu phụ nữ uống nước bòng ngừa chứng béo phì. Người Việt Nam gọi là trái bòng mà theo người viết có lẽ là âm sau cùng của chữ Japong. Người Nhật gọi trái bòng là Zabon.

UserPostedImage


Cây chuối Musa paradisiaca là một loại cây ăn trái rất quen thuộc đối với người nông thôn Việt Nam. Trái chuối dùng để ăn, làm bánh chuối, mứt chuối, kẹo chuối, chuối sấy, bánh tét nhưn chuối, chuối xào dừa v.v... Chuối chát là trái chuối xanh của cây chuối hột dùng để ăn với thịt bò, thịt heo nướng cùng với khế chua và rau thơm với mắm nêm. Cây chuối con và bắp chuối dùng để trộn gỏi gà. Lá chuối dùng để gói thức ăn, gói bánh ú, bánh tét, bánh chưng v.v... Cây chuối xắt mỏng, bầm nhuyễn trộn với cám để nuôi heo. Trong thời kỳ đói kém người ta ăn luôn cả củ chuối hột hay chuối sứ tức chuối Xiêm. Trong một khúc hát ru con có câu nói về chuối như sau:

Gió đưa bụi chuối sau hè,
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

Cây chuối và cây tre đều giống nhau ở điểm không trồng bằng hột. Cây tre có măng tre (trúc thai) nhú lên từ bụi tre. Măng dần dần cao lớn và cứng cáp để trở thành cây tre. Cây chuối có chuối con mọc lên từ bụi chuối gốc. Về chuyện nầy ca dao có câu:

Chuối cây lòng chuối còn trinh,
Chuối ở một mình sao chuối có con?

Hương vị ngọt ngào của trái chuối được ca dao vay mượn để ví với mẹ già:

Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp ngọt như đường mía lau.

Chuối non, chuối ép chát ngầm,
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm.

Mồ côi cha ăn cơm với cá,
Mồ côi mẹ liếm lá ngoài đường.

Năm 1556 vua Lê Trung Tôn băng hà không có con. Trịnh Kiểm có ý định xưng vương nhưng ông còn dè dặt nên cho người đến vấn kế Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Hải Dương. Trạng Trình không nói thẳng với sứ giả của Trịnh Kiểm mà nói với người tôi tớ rằng: "Năm nay thất mùa, phải tìm thóc lúa cũ mà gieo mạ. Giữ chùa thì được ăn oản". Sứ giả về thuật lời Trạng Trình nói với người tôi tớ. Trịnh Kiểm hiểu ý nên đưa Lê Duy Bằng lên ngôi tức là vua Lê Anh Tôn. Từ đó ở Đàng Ngoài có chế độ chánh trị đặc biệt. Trong nước có vua lại có chúa. Chúa không phải là vua nhưng là người quyết định việc phế lập vua theo ý muốn của mình.

Cây dừa Cocos nucifera là một loại cây ăn trái mang nhiều lợi nhuận và lợi ích cho người trồng. Trái dừa dùng để uống nước. Cơm dừa dùng để ăn, làm nước cốt dừa hay nấu dầu dừa. Lá dừa dùng để lợp nhà. Tàu dừa và củi dừa dùng để làm củi chụm v.v… Cây dừa và cây cau là nét đặc biệt của phong cảnh đồng quê Việt Nam, nhất là ở miền Nam. Bài hát An Phú Đông mở đầu bằng câu "Bên hàng dừa cao dòng sông mờ soi bóng" Ca dao Việt Nam nói về cây dừa như sau:

Trả ơn ai có cây dừa,
Cho tôi nghỉ mát đợi chờ người thương.

Còn duyên nón cũ quai tơ,
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong.

***

Chúng tôi tạm ngừng bài viết tại đây và xin độc giả vui lòng bổ túc thêm với các loài thảo mộc và dược thảo khác hiện hữu ở Việt Nam. Không có công trình nào hoàn chỉnh nếu không có sự sửa chữa và bổ túc cho nhau.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

Edited by user Tuesday, February 7, 2017 11:33:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1377 Posted : Monday, February 13, 2017 9:18:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)
UserPostedImage


Chúc các bạn và độc giả thầm lặng hưởng trọn tình yêu
thật đằm thắm, thật nồng nàn, thật đầm ấm bên nhau trong ngày Hạnh Phúc Tình Yêu

HONG VU LAN NHI & Team LN

Edited by user Monday, February 13, 2017 10:32:49 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1378 Posted : Tuesday, February 21, 2017 12:53:30 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Tìm hiểu về tục gói bánh chưng ngày Tết ở Việt Nam


Thứ hai - 23/01/2017 07:21

Ở Việt Nam, việc thờ bánh chưng vào dịp Tết Nguyên đán phản ánh được nhiều bình diện cuộc sống. Cùng tìm hiểu về tục gói bánh chưng vào dịp Tết dưới đây.

UserPostedImage


Tìm hiểu về tục gói bánh chưng ngày Tết ở Việt Nam


Thờ bánh chưng ngày Tết trở thành nét văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam, được lưu truyền từ xa xưa (tục truyền từ đời Hùng vương thứ sáu) đến tận ngày nay. Tục gói bánh chưng thờ cúng tổ tiên nhằm tôn vinh khẳng định tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hóa lúa nước.

Tết Nguyên Đán sắp về. Trong bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu về tục gói bánh chưng ngày Tết Nguyên đán và những ý nghĩa biểu trưng (khuôn hình) của bánh chưng, bánh giầy (bánh tét, bánh tày).

1. Biểu trưng của vũ trụ – nhân sinh quan

Những ý nghĩa biểu trưng về vũ trụ – nhân sinh quan qua bánh chưng, bánh giầy được thể hiện từ tên gọi, hình thể cho đến nguyên liệu làm nên nó. Trước hết, tìm hiểu bánh chưng với tư cách như một thuật ngữ. Ngỡ tưởng loại bánh này trong quá trình nấu chín, người ta phải luộc lên, nhưng nếu là “luộc” thì có gì đáng bàn. Song gọi là bánh chưng có thể rơi vào trường hợp: trong quá trình nấu bánh, người ta không cho nước tiếp xúc với vật liệu được luộc (tức là bánh), thì ắt có lẽ là hình thức hấp hoặc chưng (nấu cách thuỷ). Bởi vậy, giải thích cho tên gọi bánh chưng theo cách này có vẻ rất hợp lí.

Tìm hiểu về tục gói bánh chưng ngày Tết

2. Nguồn gốc tục gói bánh chưng, bánh giầy

Theo truyền thuyết “Bánh chưng, bánh dầy”, tục gói bánh chưng bắt nguồn từ đời vua Hùng Vương thứ 6. Nhân dịp giỗ tổ vua Hùng đã triệp tập các người con đến và truyền rằng: người con nào tìm được lễ vật hợp ý nhà Hùng vương sẽ được vua cha nhường ngôi.

Hầu hết các hoàng tử lên rừng xuống biển tìm sản vật quý hiếm. Hoàng tử Lang Liêu là người con nghèo khó nhất, không có khả năng kiếm những đồ lễ quý hiếm, chàng đã dùng những nông sản hết sức thân thuộc như gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn và lá dong để tạo ra hai loại bánh Chưng và bánh giầy tượng trưng cho trời và đất làm lễ vật dâng vua. Lễ vật của Lang Liêu rất hợp ý vua Hùng, và vua đã truyền ngôi cho Lang Liêu.

Kể từ đó tục gói bánh chưng, bánh dày được lưu truyền trong nhân gian và là những lễ vật không thể thiếu khi dâng cúng tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn của hậu thế.

3. Tục gói bánh chưng – niềm tự hào ẩm thực Việt

Trong những ngày Tết đến, xuân về, những hương vị và những vật phẩm đã trở thành quen thuộc trong dịp tết như: thịt mỡ, dưa hành, bày trí trong nhà một cành đào hay một cành mai, một bức câu đối được cắt làm đôi treo cân xứng hai bên xà nhà. Trên bàn thờ tổ tiên bày trí đủ các loại: mâm ngũ quả, kẹo bánh, mứt, rượu,… đặc biệt là bánh chưng. Tất cả đã tạo nên một không khí, không gian rất “Tết”!

Bánh chưng sau khi đã thờ cúng tổ tiên xong, được dọn xuống để mọi người cùng thưởng thức. Hẳn chúng ta sẽ không ngớt lời tấm tắc rằng bánh chưng đúng là một trong những loại thức ăn vừa ngon, béo, thơm và trông thật mĩ quan! Nó đã tôn lên niềm tự hào về văn hóa ẩm thực của người Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Đó là loại thức ăn vừa độc đáo, vừa gần gũi. Độc đáo ở chỗ: là loại bánh do chính người Việt Nam (Hoàng tử Lang Liêu – đời Hùng Vương thứ 6) sáng tạo nên (theo cách giải thích huyền sử về nguồn gốc bánh chưng). Từ xưa tới nay, bánh chưng, bánh giầy Việt Nam không lẫn, không phỏng theo bất kỳ thứ bánh nào của các quốc gia khác. Nó là loại thức ăn rất gần gũi với người Việt Nam, được làm nên từ những nguyên liệu không đến nỗi hiếm hoi trong dân gian như: gạo nếp, thịt heo, hành, tiêu, đậu xanh, lá dong rừng (hoặc lá chuối, lá tre…), lạt giang…và có khi thêm những nguyên liệu phụ như: quả chùm phù (lúc chín có màu đỏ), quả gấc… để tăng phẩm màu cho nhân bánh thêm đẹp.

UserPostedImage


Tục gói bánh chung là một nét văn hóa độc đáo của người Việt


Ngẫm ra, phong tục truyền thống thờ cúng và thưởng thức bánh chưng ngày Tết của người Việt Nam thật lắm điều thú vị. Nó vừa mang nét văn hóa tín ngưỡng tâm linh, vừa mang nét văn hóa ẩm thực. Cả hai cùng quyện lẫn vào nhau trong một chỉnh thể cân xứng giữa một bên là vẻ hình thức bề ngoài, một bên là những nguyên liệu bên trong của bánh chưng. Chỉnh thể cân xứng, thống nhất đó được thể hiện bằng “quy trình”: gói, thờ cúng và thưởng thức bánh chưng như sự mặc định sở hữu về một trong những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Việt Nam.

Trong những ngày cuối cùng của tháng Chạp hàng năm, mọi người từ miền xuôi cho tới miền ngược, từ ven biển, đồng bằng cho tới vùng cao, từ nông thôn cho tới thành thị, thậm chí cả những kiều bào Việt Nam ở nước ngoài đều hòa chung bầu không khí an lành: đón Tết Nguyên đán. Mọi người lại hồ hởi bắt tay vào thực hiện phong tục gói bánh bánh chưng thờ Tết. Nếu những gia đình ở đô thị vì bận công việc, buôn bán, không có thì giờ để gói bánh thì họ lại đặt mua. Thế là “thịt mỡ”, “dưa hành”, “câu đối đỏ”, mai (đào), kẹo, mứt, rượu cùng bánh chưng xanh lại được bày biện lên bàn thờ của nhà nhà trên dải đất hình cong chữ S này trong một nét văn hóa, một nét phong tục truyền thống đặc trưng rất Việt Nam.

Sẽ không có một nơi nào trên Thế giới có được sự độc đáo với tục gói bánh chưng xanh cúng tổ tiên ngày Tết như dân tộc Việt Nam. Nét văn hóa ấy đã trở thành một giá trị truyền thống tồn tại mãi mãi với thời gian, ngấm vào máu và tâm trí của mỗi người con đất Việt khi Tết đến xuân về.

Theo Lam sao


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1379 Posted : Friday, February 24, 2017 2:33:22 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Sơ lược về cách xưng hô của người Việt


Lời Giới Thiệu:


Hiện nay, số người Việt sinh sống ở hải ngoại cũng khá đông -có đến 4 triệu người (?) - Có nhiều gia đình đã có 3-4 thế hệ sống bên ngoài Việt Nam. Vấn đề là các thế hệ trẻ ở hải ngoại rất lúng túng trong cách xưng hô khi phải cố gắng dùng tiếng Việt trong các giao tiếp gia đình và xã hội.

Nếu đã nói tiếng Việt trôi chảy, chúng ta thấy ngay trong cách xưng hô tiếng Việt, chẳng hạn qua sự đối thoại trò chuyện giữa hai người, chúng ta có thể biết qua mối quan hệ, sự tôn trọng, thái độ, giới tính và tình cảm giữa họ; trong khi trong Anh ngữ, sự hiêu biết về các tương quan như vậy rất khó mà biết ngay được!

Bài sưu tập nhỏ này có hai mục đích:

1- Nêu nên vài cách xưng hô cần thiết, đã được chấp nhận và dùng rộng rãi bởi số đông.

2- Người viết mạo muội đề nghị một vài phương cách đơn giản hóa và dân chủ hóa sự xưng hô với mục đích giảm thiểu sự lầm lẫn, khinh miệt vô cớ…

Người viết, ở tuổi 68, trông cậy vào sự chỉ giáo và sửa sai của các độc giả uyên bác về vấn đề “văn hóa” nặng ký này.

TVG


Gần đây, trong một buổi họp báo tại thành phố Westminster, Orange County, California của Ông Tạ Đức Trí, đương kim Thị trưởng Mỹ gốc Việt, 44 tuổi sinh năm 1973 (?) có một ông người Việt trung niên muốn nếu lên một câu hỏi và gọi Ông Tạ Đức Trí là “Anh Thị Trưởng (?)” Dù là vô tình hay cố ý, đây là một sự xưng hô cẩu thả rất đáng trách; nhất là khi chúng ta luôn miệng nói rằng Việt cộng (v-xi) là “vô văn hóa / kém văn hóa v..v..” Theo tôi, Ông Tạ Đức Trí là một người đáng kính, với chức vụ Thị Trương dân cử của một thành phố khá lớn (Thành phố Westminster có 92,000 dân, trong đó 47.5% là gốc Á châu), không thể “được” một công dân thành phố gọi là một cách hỗn hào là “Anh” - ngoại trừ em trai của Ông Trí có thể làm như vậy thôi…

Tương tự, chúng ta không thể đứng ngay giữa công đường (không phải bàn nhậu) mà gọi “Anh Tổng thống này” hay “Anh Thống đốc nọ…” nghe chẳng những rất kỳ cục mà còn chứng tỏ người nói có một tư cách thiếu hẳn giáo dục tối thiểu. Nên biết vi-xi thường gọi “Thằng Diệm,” “Thằng Thiệu,” “Thằng Kỳ,” “Thằng Ních-xơn,” “Thằng Dơn-sơn…” đồng thời vi-xi gọi “Bác Hồ,” “Bác Tôn,” “Bác Mao…” Nhưng bây giờ, vì gió đã đổi chiều, vi-xi lại quay đầu 180 độ khúm núm trơ trẽn gọi Ông Ted Osius dù chỉ là Đại sứ Hoa kỳ ở Việt Nam là “Ngài Đại sứ?!” (Người viết xin nhắc là “Ngài Đại sứ” còn bé / rất nhỏ bé so với “Thằng Tổng Thống” đấy các “bác vi-xi” à!)

Một vài thí dụ nho nhỏ được nêu ra ở trên để cho chúng ta thấy vấn đề xưng hô bằng tiếng Việt hôm nay cần phải được nhắc nhở sao cho đúng cách, không thể gọi tùy hứng bừa bãi; cũng có nghĩa là xưng hô vừa phải không cao quá đáng kịch cỡm; mà cũng không quá thấp đến mức độ thiếu giáo dục.

Đây là cả vấn đề văn hóa Việt chứ không riêng cho tiếng Việt. Đã đề cập đến văn hóa thì rất tinh tế. Xưng hô cho đúng không phải là chuyện dễ dàng, không cần học hỏi, bởi vì tiếng Việt dùng nhiều danh từ (nouns) khác nhau tùy theo quan hệ quen biết, tuổi tác, chức vụ, nghề nghiệp, tôn giáo, và tình trạng hôn nhân để gọi nhau thay vì chỉ dùng một số “đại danh từ” (pronouns) như trong tiếng Anh (You/me – Mày / Tao; Bạn / Tôi) và tương tự trong tiếng Pháp (Je/moi/tu/toi)… Ngoài ra, trong văn viết, đơn từ, thư tín v..v.. vấn đề xưng hô còn phức tạp hơn nhiều; không thể nói hết ra ở bài viết ngắn này.

Tôi đã đọc qua nhiều bài khảo cứu khá công phu của nhiều học giả khác nhau về vấn đề xưng hô. Tôi xin phép được trích ra từ một số tài liệu đã có sẵn rồi thu gọn lại cộng với một ít kinh nghiệm bản thân để đem đến cùng quý vị quan tâm suy gẫm, khuyên bảo nếu cần.

I- Danh xưng và cách xưng hô trong gia đình Việt nam

Khi nói chuyện với người lớn tuổi hơn mình, tốt hơn là phải luôn luôn dùng cách “thưa gửi” và “gọi dạ bảo vâng” chứ không bao giờ nói trống không với người trên, lớn tuổi, cao cấp hơn. Người Việt chúng ta thường dùng tiếng “thưa” trước khi xưng hô với người ở vai trên mình, chẳng hạn như: “Thưa mẹ con đi học…” Đồng thời khi trả lời hoặc thưa điều gì với người lớn hơn mình bắt đều với chữ “Dạ, Vâng, Ạ” ” để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép. Thí dụ: “Chào Cô ạ!” “Vâng ạ!”

Trong cách xưng hô với người ở vai trên, chúng ta tránh không gọi tên tục (tên cha mẹ đặt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng, và chú bác. Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia đình mà thôi. Chẳng hạn, ta chỉ nói đơn giản là: “Mời Chú ăn cơm…” mà không gọi tên tục của Chú ra trong lời mời.

Trong cách xưng hô với anh chị em, chúng ta có thể dùng chữ Anh, Chị hay Em trước tên hay ngôi thứ. Thí dụ: “Anh Tuấn đi vắng… “ v..v.. Các em nhỏ không được phép gọi anh chị bằng tên trống không. Tuy nhiên, anh chị có thể gọi các em bằng tên trống không hoặc tên có thêm chữ ngôi thứ vào. Thí dụ “Em An đi lấy cho anh cây viết” hay “An lấy cho anh cây viết” đều được cả.

Những người con trong gia đình gọi nhau bằng “mày” và xưng “tao” là do lỗi của bố mẹ không dạy bảo các con ngay từ khi chúng còn nhỏ. Các con gọi nhau bằng mày xưng tao mãi rồi thành thói quen. Khi đã thành thói quen thì chúng không thể đổi cách xưng hô cho đúng phép được.

Cha mẹ nên dạy con cái về cách xưng hô ngay từ khi con trẻ còn nhỏ. Muốn chúng chào ai, cha mẹ phải nói cho chúng biết cách chào và bắt chúng lập lại nhiều lần khi bắt đầu.

A- Bậc Trên Cấp Cha Mẹ

Người sinh ra ta được gọi là Cha Mẹ. Cha mẹ của Cha mẹ, Cô, Dì, Chú, và Bác của chúng ta được gọi là Ông Bà. Cha mẹ của Ông bà được gọi là Cụ. Cha mẹ của Cụ được gọi là Kỵ. Các Ông cha đời trước nữa được gọi là Tổ Tiên. Cha Mẹ sinh ra Các Con.

- Bậc bề trên trên cha mẹ nói chung: Ông bà tổ tiên.
- Theo thứ tự thời gian: Ông-Bà-Cố-Tổ, Tằng tổ, Cao tổ.
- Cha mẹ của Cha hoặc của Mẹ: Ông, Bà (nội hoặc ngoại).

Xưng hô với các bậc trên cấp Cha Mẹ này thì dùng chữ Cháu.
Ở ngôi thứ ba, tương quan với bậc từ Cố trở lên thì gọi là Chắt.
Ở một vài tỉnh miền Trung Ông Bà còn được gọi là "Ông Mệ.”

B- Cha Mẹ, Con Cái, Anh Chị Em, Vợ Chồng

1) Cha Mẹ Ruột

Cha Mẹ ruột được gọi rộng rãi qua nhiều danh từ như:
Bố mẹ, Cha mẹ, Ba má, Tía Má, Thầy U, Song thân…
Trong trò chuyện thân mật ở ngôi thứ ba thì gọi là “Ông Bà già tôi,” Các Cụ chúng tôi, Ông Bà Nội các cháu (hoặc Ông Bà Ngoại các cháu) v..v..

- Cha: Cả 3 miền Bắc Trung Nam đều gọi là Cha, Ba. Ttrong văn chương và ngôi thứ ba còn gọi là Thân phụ, ông Cụ Thân sinh… trong trò chuyện thân mật ở ngôi thứ ba thì gọi là “Ông già”;
Bắc: Bố, Thầy, Cậu. Ngôi thứ ba thì gọi “Ông Cụ nhà tôi”;
Nam: Tía;
Trung: một vài nơi gọi Cha bằng Chú.

- Mẹ: Cả 3 miền gọi là Mẹ. Trong văn chương và ngôi thứ ba còn gọi là Thân mẫu, Bà Cụ Thân sinh, Bà Cụ chúng tôi... “Bà già”;
Bắc: Me, Mẹ, U, Bu, Đẻ, Cái, Mợ;
Nam: Má; Vú, Bầm.
Trung: Mạ, Mệ
Trước đây trong chế độ đa thê, người con ruột gọi mẹ mình bằng Chị (?) nhưng gọi bà vợ chính của cha mình bằng Mẹ.
- Cha mẹ gọi con ruột mình là Con. Nhưng người Bắc thường xưng hô với con trai và con gái đã lớn tuổi, hay có gia đình rồi, của mình bằng Anh và Chị.

2) Cha Kế / Mẹ Kế

- Chồng của Mẹ (mà không phải cha ruột mình) gọi là Dượng; người Trung còn gọi là Trượng.
- Vợ của Cha (mà không phải mẹ ruột mình) gọi là Dì (ghẻ); Nếu là vợ chính của cha, trong chế độ gia đình xưa thì gọi là Mẹ.

3) Cha Mẹ Vợ

Cha mẹ vợ gồm có: Ông Bà Nhạc, Ông Nhạc, Bà Nhạc, Cha Mẹ vợ, Cha vợ, và Mẹ vợ, v.v.

Tiếng gọi Cha Vợ khi nói chuyện với bạn bè thân gồm có: Nhạc Phụ, Nhạc Gia, Bố Vợ, Ông Nhạc, Ông Ngoại các cháu, v.v.

Tiếng gọi Mẹ Vợ khi nói chuyện với bạn bè gồm có: Bà Nhạc, Bà Ngoại các cháu, Nhạc mẫu, v.v

4) Anh Chị Em Ruột

- Anh: Cả 3 miền đều gọi Anh. Trong văn chương ở ngôi thứ ba là Bào huynh.
Trung: một vài nơi gọi là “Eng” (?)
Người anh đầu lòng người Bắc gọi là Anh Cả, người Nam gọi là Anh Hai.
- Chị: Cả 3 miền gọi là Chị.
Trung: một vài vùng gọi là Ả.

- Em trai, Em gái: Cả 3 miền gọi là Em. Trong văn chương gọi là bào đệ, bào muội.
Trung: Út. Nếu người Trung gọi em là Út, thì chữ Út nầy được người Nam và người Bắc hiểu là người em cuối trong gia đình. Người Trung dùng chữ “Tui” (là chữ Tôi nhưng âm hưởng là Em) để xưng hô với anh chị mình.

5) Anh Chị Con Cháu Qua Hôn Phối (in-laws)

- Chồng Chị và Chồng Em gái gọi là Anh Rể và Em Rể. Vợ anh và Vợ em trai gọi là Chị Dâu và Em Dâu.
- Vợ con trai mình gọi là Con Dâu, chồng con gái mình gọi là Con Rể.
- Cha, mẹ, anh, chị, em (của) chồng gọi là Cha chồng, Mẹ chồng, Chị chồng, Anh chồng, Em chồng. Cha, mẹ, anh, chị, em (của) vợ gọi là Cha Vợ, Mẹ Vợ, Anh Vợ, Chị Vợ, Em Vợ.

Nên biết thêm: Khi xưng hô với nhau giữa hai người thì các chữ Rể, Dâu, Chồng, Vợ sẽ mất đi (Ví dụ Con Dâu nói với Mẹ Chồng: " Con xin phép Mẹ"; hoặc Cha Vợ với con Rể: “Cha nhờ con việc nầy") - Khi nói với người thứ ba thì thêm “Rể... tôi”: Con Rể tôi, Con Dâu tôi, Cha Chồng (vợ) tôi, Mẹ Chồng (vợ) tôi.

6) Vợ Chồng

Tình vợ chồng người Việt rất đằm thắm, chân tình. Họ đối đãi với nhau rất lịch sự và tương kính.

Tiếng xưng hô của Chồng với Vợ trong gia đình gồm có: Em, Cưng, Mình, Bu nó, Má mày, Má nó, Má thằng cu, Mẹ nó, Bà, Bà nó, Mợ, Mợ nó, Mình, Bậu, v.v.

Tiếng Chồng gọi Vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: Nhà tôi, Bà nhà tôi, Má tụi nhỏ, Má sắp nhỏ, Má bày trẻ, Tiện nội, Nội tướng tôi, Bà xã, Bà xã tôi, Vợ tôi, v..v..

Tiếng xưng hô của Vợ với Chồng trong gia đình gồm có: Anh, Cưng, Anh nó, Ba, Ba nó, Bố, Bố nó, Bố mày, Bố thằng cu, Ông xã, Cậu, Cậu nó, Ông, Ông nó, Mình, v.v.

Tiếng Vợ gọi Chồng trong khi nói chuyện với người khác gồm: Nhà tôi, Ông nhà tôi, Ba tụi nhỏ, Ba sắp nhỏ, Phu quân tôi, Ông Xã, Ông Xã tôi, Ông Chồng tôi, Anh ấy, v.v.

Nên biết thêm: Tại một vài nơi ở miền Trung người ta gọi Cha hoặc Mạ và thêm tên đứa con đầu: chẳng hạn đứa con đầu tên Long thì vợ gọi chồng là “Cha thằng Long”; chồng gọi vợ là “Mạ thằng Long”; và người ngoài xung hô là “ông Long,” “Mụ Long” chứ không gọi tên thật (còn gọi là tên tục).

Những cặp vợ chồng đứng đắn, có giáo dục không bao giờ gọi nhau bằng “Mày,” “Thằng đó,” “Con đó” và xưng “Tao.” Họ tìm những lời lẽ dịu dàng đầy tình cảm yêu thương để gọi nhau. Chính vì thế mà tiếng xưng hô giữa vợ chồng người Việt có rất nhiều, hơn xa tiếng xưng hô của vợ chồng người Tây phương.

C- Anh Chị Em của Cha Mẹ, Anh Chị Em Họ

- Anh của cha: Cả 3 miền gọi là Bác.
- Vợ của anh cha: Cả 3 miền gọi là Bác.
- Em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Chú.
- Vợ em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Thím.
- Chị của cha: Bắc gọi là Bác; Trung, Nam gọi Cô (hoặc O)
- Chồng chị của cha: Bắc gọi là Bác; Trung, Nam: Dượng (hoặc Trượng)
- Em gái của cha: Bắc, Nam gọi Cô; Trung gọi O.
- Chồng em gái của cha: Bắc gọi Chú; Nam, Trung gọi Dượng (hay Trượng)
- Anh trai của mẹ: Bắc gọi Bác; Nam, Trung gọi Cậu - người Trung còn gọi “Cụ” (?)
- Vợ anh trai của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Mợ - người Trung còn gọi là Mự (?)
- Em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Cậu - người Trung còn gọi là Cụ.
- Vợ em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Mợ - người Trung còn gọi là “Mự.”
- Chị của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Dì.
- Chồng chị của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Dượng (Trượng).
- Em gái của mẹ: Cả 3 miền gọi là Dì.
- Chồng em gái của mẹ: Bắc gọi Chú; Trung, Nam gọi Dượng (Trượng)
- Anh chị em họ: Cả 3 miền vẫn gọi là Anh, Chị, Em như anh chị em ruột. Nhưng cấp bậc anh chị họ có nơi dựa trên tuổi tác cá nhân, có nơi, đặc biệt ở miền Trung, thì tùy vị thế trên dưới của các bậc cha mẹ. Chẳng hạn người con của chú mình dầu lớn hơn mình cả 20 tuổi nhưng vẫn gọi mình bằng Anh và mình gọi lại bằng Chú (tức là Chú em).
- Bác, chú cô dì... gọi các con anh em mình bằng Cháu.

Trong cách xưng hô với anh chị em của cha mẹ, người Bắc ưu tiên tuổi tác khi gọi anh, chị cha và mẹ là Bác, và cấp nhỏ là Chú Cậu Cô Mợ và chứ không dùng chữ “Dượng.”

Nên biết thêm: Người Nam và Trung ưu tiên về nội ngoại, thân sơ. Dì thì luôn bên ngoại dù tuổi cao hay thấp, Cô (hoặc O) thì luôn bên nội dù là chị hay em của cha. Chú thì chỉ dùng cho em cha, thuộc bên nội thôi. Người không thuộc dòng máu cha mẹ thi gọi là Dượng (hay Trượng), Mợ, Thím để phân biệt với Bác Trai, Chú, Cô, Cậu là anh em ruột thịt. Chỉ có cách gọi Bác Gái (vợ anh trai của cha) là một ngoại lệ.

II- Xưng Hô ngoài xã hội

Ngoài xã hội, cách xưng hô từ trường học, cơ quan chính phủ, sở làm cho đến chợ búa thực ra không có một quy tắc, nguyên tắc hay định luật nào nhất định viết trên giấy tờ. Cách tốt (và an toàn) nhất là dù ở hoàn cảnh nào, vị trí nào, mình luôn luôn khiêm tốn, lịch sự, lễ phép, tình cảm và tế nhị; tránh làm phật lòng, xúc phạm người khác. Kết quả của sự cẩu thả, tủy tiện có thể gây đổ vỡ thiệt hại cho bản thân mình và người khác. Nên nhớ là “Golden Rules” (“So in everything, do to others what you would have them do to you” - Matthew 7:12” - Đừng làm cho người khác những gì mình không muốn người khác làm cho mình”) sẽ là chân lý cần thiết muôn đời: Tôn trọng người thì người sẽ tôn trọng mình là vậy.

1) Xưng hô ở nơi công cộng, chợ búa

Đây là hoàn cảnh dễ gây lúng túng nhất cho chúng ta bởi vì đối tượng là người xa lạ. Trường hợp này chúng ta phải tùy thuộc vào sự quan sát và ước đoán về tuổi tác và giới tính mà xưng hô. Điều cần nhất vẫn là phải khiêm tốn lễ phép và tế nhị. Tôi đề nghị một điều “Nếu mình ở thế kẹt, không biết phải xưng hô như thế nào cho phải phép, cho thỏa đáng thì cứ mạnh dạn hỏi người mình đang phải nói chuyện là mình nên gọi họ như thế nào?” Người Mỹ họ hay làm như vậy (“What should I call you?”); rất an toàn.

2) Xưng hô ở Trường Học

Văn hóa Việt Nam đề cao việc học hành và sự giáo dục; đồng thời kính trọng người dạy dỗ; xếp hạng và nâng cao bậc “Thầy, Cô” lên trên cả cấp sinh thành (bậc cha mẹ). Thành ra, lễ phép trong việc xưng hô với Thầy Cô là chuyện phải làm. Kể ra, xưng hô với Thầy Cô cũng đơn giản: “Thưa Thầy,” “Thưa Cô…” không gọi Thầy Cô bằng tên tục. Chúng ta có thể xưng Em (hay Con) là đủ. Ngay cả trường hợp ở dưới quê, học trò đi học trễ tuổi nên tuổi tác gần như suýt soát với Thầy Cô nhưng vẫn phải xưng hô với Thầy Cô như các học trò nhỏ khác. Ở bậc Đại học thì có vẻ thông thoáng hơn. Sinh viên còn có thêm thông lệ xưng hô với Thầy Cô qua học hiệu như “Thưa Giáo Sư,” Thưa Tiến sĩ…” Sinh viên lớn tuổi có thể xưng “Tôi” thay vì “Em” hay “Con.”

3) Xưng hô ở sở làm, tại các cơ quan chính quyền

Sở làm, nhất là công sở, không phải là gia đình do đó các nhân viên nam hay nữ phải thẳng thắn dùng đại danh từ cho ngôi thứ nhất là “Tôi” - không có ngoại lệ. Ngôi thứ hai (đối tượng được gọi) có thể được gọi là Ông, Bà hay Ông, Bà cộng thêm chức vị (Thí dụ: Ông Giám đốc, Bà Chủ Tịch Ban Quản Trị…). Tuyệt đối không dùng các danh xưng có tính cách thân mật quen thuộc của gia đình như Chú, Bác, Cô, Dì, Cậu Mợ, Thím, Anh, Em, Con, Cháu v.v.. Chuyện đáng buồn là ngày nay cách gọi thiếu dân chủ, thiếu đứng đắn, thiếu chuyên nghiệp loại này đã lan tràn qua mọi ngõ ngách lớn nhỏ của công sở đến cả các cấp cao nhất của chính phủ cộng sản và cả ngoài xã hội dân sự.

Tôi xin trích một đoạn đối thoại trong một cuộc họp báo tầm quốc gia về vấn đề lớn (đó là “cá chết / môi trường”) có tính cách quốc tế giữa ông Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường của vi-xi và một phóng viên báo chí trong nước như sau:

Phóng viên:
- Không. Không. Em chỉ hỏi là mình nên đưa ra một cái mốc thời gian…
Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Võ Tuấn Nhân ngắt lời:
- Không. Không. Để cho anh nói hết. Nói riêng với em…

Trới đất! “Anh-Anh/Em-Em” cái nỗi gì ở chỗ đang nói chuyện đứng đắn và chuyên nghiệp này… Đây đâu có phải là lúc nói chuyện thường tình mà cứ phải dùng cái “văn hóa du kích” khi còn đắp mô đặt mìn chặn xe đò trong sự nghiệp “chống mĩ cứu nước,” hay lúc tình cờ gặp nhau khi đang khiêng tải đạn dược, chuyển quân dụng ở trên “đường mòn hồ chí minh” dưới “địa đạo củ chi?!” Tương tự, một vấn đề đã nêu ở trên của một ông người Việt tị nạn gọi Thị Trưởng Tạ Đức Trí là “Anh Thị trưởng” cũng sai trái y hệt như vậy thôi: Hoàn toàn thiếu đứng đắn và rất chướng… Nghe rất bịnh.

III- Vài đề nghị thay đổi cách xưng hô

Qua sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kỹ thuật, nhất là kỹ thuật tin học, chúng ta có cơ hội tiếp cận với các văn hóa lớn ngoài Việt Nam chỉ qua vài cái “bấm” trên “con chuột điện tử.” Có nhiều cái hay của họ mình nên học hỏi; đồng thời những cái gì tốt, những cái có tính cách cá biệt bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta cần phải duy trì và phổ biến đến họ. Chúng ta sẵn sàng hòa nhập và hội nhập nhưng nhất định không chịu (để) văn hóa 400 ngàn năm của mình hòa tan (melting) vào những văn hóa lớn rồi bị tiềm thực. Tuy vậy, không nên quá bảo thủ: Cái hay cần học hỏi; cái dỡ nên bỏ bớt đi. Chúng ta không cần một cuộc cách mạng văn hóa mà chỉ cần một sự thay đổi thận trọng để thích hợp; nhất là cần một sự dân chủ hóa các lối gọi, xưng hô ở cơ quan chính quyền và ngoài xã hội. Người dân đen yếu nhỏ bé thiếu quyền lực, cũng như giới trẻ thiếu kinh nghiệm không thể bị gọi người lớn, cấp trên một cách thấp cấp khinh miệt như “Mày, “Chúng mày,” “Em,” “Cháu…”

“.. còn trời còn đất còn non nước,
có lẽ ta đâu mãi thế này.”
(NCT)

“… lời nói không mất tiền mua,
lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
(Ca dao)

Trần Văn Giang
Orange County, ngày 24 thàng 2 năm 2017
_____________________________________________________

Tham khảo

-“Xưng Hô Trong Gia Đình Việt Nam” – Nguyễn Đăng Trác
-“Cách Xưng Hô Trong Gia Đình Việt Nam” – Cao Thu Cúc
-“Quan hệ Gia Đình Làng Xóm của Người Quảng Ngãi” - Địa Dư Chi Quảng Ngãi
-“Cách Xưng Hô và Quan Hệ Trong Gia Đình Dòng Họ” - Đinh Khắc Thiện
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#1380 Posted : Tuesday, March 28, 2017 11:23:33 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,970

Thanks: 1931 times
Was thanked: 4395 time(s) in 2739 post(s)

Bánh bột lọc Huế ơi


By Tạ Phong Tần -

March 28, 2017
Share on Facebook
Tweet on Twitter

Nước Việt Nam mình trải dài hơn 2,260 km từ Nam ra Bắc nếu đi theo đường quốc lộ 1A, có đủ các vùng thổ nhưỡng và các kiểu khí hậu. Nóng chảy mỡ tương đương châu Phi có vùng núi đá vôi miền Trung vào mùa hè (nghèo mà sang, xài gió “ngoại nhập” là gió Lào), tuyết phủ trắng xóa có Sa Pa vùng Tây Bắc, chỉ có mùa đông và mùa hè là Thanh Hóa, chỉ có hai mùa mưa nắng là miền Nam, có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông là Đà Lạt (thuộc Tây Nguyên) và từ Hà Nội trở lên Tây Bắc.

UserPostedImage

Nguồn Tiin


Chính vì vậy mà mỗi bước chân đi dọc con đường Nam Bắc là mỗi đổi thay về món ngon vật lạ, đều có “đặc sản” từ quái chiêu cho đến quý tộc. Dân An Giang, Tây Ninh có món bò cạp chiên giòn, kỳ đà xào lăn sả ớt. Dân Bạc Liêu có bún nước lèo, mắm sống, cá khoai chiên giòn, cá đường, cá đuối nhậu quắc cần câu. Dân Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang có mắm bù hóc. Dân Bến Tre có đuông dừa lăn bột chiên giòn. Dân Cần Thơ thì “gạo trắng nước trong”. Dân Vĩnh Long, Tiền Giang, Bình Dương là “Thiên hạ đệ nhất” trái cây nhiệt đới. Dân Hải Phòng có con sá sùng, dân Quảng Ninh, Hải Dương có con rươi, v.v…

Tôi may mắn có thời gian làm du lịch, có cơ hội “lê lết la liếm” các món đặc sản vùng miền dài dài từ Nam ra Bắc dọc theo đường quốc lộ. Ðặc sản không phải là sơn hào hải vị gì sang trọng, mắc tiền, mà có khi nó rất là đơn giản, rất là rẻ tiền, nhưng nó là linh hồn, là tiếng nói của người dân xứ đó, có thể nói nó là “đại diện” cho cư dân nơi ấy cũng được luôn, nhắc tới tên món ăn người nghe sẽ biết liền nó là của vùng nào, tỉnh nào.

Ở cố đô, tôi gặp những người dân xứ Huế hiền hòa (chính gốc, sinh ra và lớn lên tại Huế chớ không phải vùng phụ cận) với giọng nói trầm lắng nhưng rất nhẹ nhàng, dễ nghe, rời khỏi khu vực cố đô ra vùng ven bên ngoài thì giọng nặng khó nghe lắm. Một trong những món ăn đơn sơ, rẻ tiền nhưng làm cho người nào đã ăn qua rồi thì nhớ mãi là bánh bột lọc Huế. Nhớ cái bánh nhỏ nhỏ xinh xắn trong veo, điểm thêm nhưn tôm thịt màu gạch tôm bên trong, chấm với nước mắm chua ngọt dầm chút ớt cay cay, dai ngon béo bùi đủ vị.

Các hàng quán ở Huế bày bán bất cứ món ăn gì cũng đều dọn ra trong những cái dĩa, chén, tô nhỏ nhỏ, làm cái bánh, ly nước, chén chè cũng nhỏ nhỏ. Tôi ăn cơm hến Huế phải chất lên bàn đúng năm cái tô không mới tạm gọi là no no. Ăn bánh bột lọc (mỗi cái bánh nhỏ bằng ngón chưn cái) thì trên chục cái cũng chưa đã miệng. Phụ nữ mà ngồi hàng quán ăn tô, dĩa chất chồng trước mặt thấy cũng ngại lắm, nên tôi phải bỏ công vừa ăn vừa tranh thủ “nịnh bợ” các bà bán hàng để hỏi cách làm, về nhà tự mình làm nồi bung nồi ba ăn cho nó đã.

Bánh bột lọc kiểu Huế có hai phần, vỏ bánh và nhưn bánh. Vỏ bánh làm từ bột củ năng. Nhưn bánh chỉ cần đi chợ mua thịt heo ba rọi, tôm nhỏ, hột điều, hành lá, hẹ lá, lá chuối. Các thứ gia vị khác trong nhà ai cũng luôn có sẵn, không cần mua.

Lấy cái thau lớn vừa phải cho hai bịch bột củ năng vô thau, thêm nửa muỗng cà phê muối nghiền rồi trộn đều bột với muối. Xong thêm vô thau khoảng bốn chén nước lạnh, trộn đều. Chờ mười phút sau cho hạt tinh bột ngậm nước nở đều thì cho thêm vô bốn chén nước ấm, tiếp tục khuấy đều. Sau đó cho thêm vô bột hai muỗng canh dầu ăn, khuấy đều. Ðổ bột vừa khuấy xong vô một cái chảo lớn sâu lòng hoặc nồi lớn loại không dính, bắc chảo lên bếp lửa vừa phải, tiếp tục khuấy bột đều tay cho đến khi bột dày lên, quyện với nhau dẻo dẻo nhưng vẫn còn đục chớ chưa chuyển sang trong thì nhắc xuống.

Thịt heo ba rọi mua loại da mỏng vừa phải, từng lớp thịt, mỡ đều nhau, hoặc thịt dày hơn mỡ là thịt ngon. Tôm loại nhỏ bằng ngón tay út trở xuống, lấy kéo cắt bỏ đầu đuôi, để nguyên vỏ. Tỏi lột vỏ bằm nhỏ hai muỗng canh, lá hẹ xanh xắt nhỏ một muỗng canh. Thịt ba rọi rửa sạch để ráo nước rồi xắt thành miếng dày chừng hơn một phân, dài khoảng hai phân rưỡi, miếng nào cũng có đủ da, thịt, mỡ. Nấu một nồi nước sôi, cho chút muối vô nước, cho thịt và một muỗng tỏi bằm vô, luộc thịt chín rồi đổ thịt ra cái rổ cho thịt khô ráo nước.

Hột điều đem đi xào dầu lấy màu gạch tôm. Bắc một cái chảo lớn, sâu lòng lên bếp, cho vô chảo một ít dầu ăn, chờ chảo nóng sôi dầu lên thì cho thịt luộc vô xào sơ qua, rưới thêm màu hột điều vô chảo đảo cho đều, miếng thịt nào cũng thấm đều màu đỏ cam rồi cho hẹ lá xắt nhỏ vô, đảo thêm vài giây rồi tiếp tục cho tôm vô chảo xào thêm vài phút cho tôm chín. Sau đó thêm chút đường, muối, bột ngọt (hoặc hạt nêm), tiêu xay, hành lá vô trộn đều rồi tắt lửa, nhắc chảo xuống. Nếu con tôm cỡ ngón tay út thì phải dùng kéo cắt ra thành hai hoặc ba khúc, tôm nhỏ hơn để nguyên con.

Lá chuối rửa sạch, lau khô rồi dùng kéo cắt thành từng miếng chiều rộng khoảng mười hai, mười ba phân, chiều dài khoảng mười lăm phân làm lá lớn gói ngoài. Lá nhỏ lót bên trong chiều rộng khoảng mười phân, chiều dài khoảng mười hai phân. Ðây là chuẩn gói bánh để bán, ở nhà làm ăn muốn “mần” bự nhỏ tùy ý, làm biếng cứ “mần” cái bánh bự gấp đôi “bánh chuẩn” cũng chẳng ai dám ý kiến ý cò gì ráo.

Lót miếng lá nhỏ trên lá lớn, thoa một ít dầu ăn lên lá để chống dính. Múc một ít bột vừa phải để lên lá, dàn bột mỏng mỏng ra. Múc một muỗng nhưn bánh để lên chính giữa miếng bột, sao cho cục nhưn nào cũng có đủ tôm và thịt, gói lá cuốn tròn lại cho kín miếng bột, bẻ gập hai đầu lá lại cho kín luôn hai đầu. Gói tới đâu xếp bánh vô xửng tới đó, úp phần có hai đầu gập xuống phía dưới để lá không bị bung ra. Ðặt xửng bánh lên hấp chừng mười lăm phút (tính từ lúc nước dưới xửng sôi lên) là bánh chín. Lần lượt hấp cho đến khi nào hết số bánh đã gói.

Dùng nước mắm ngon pha một tô nước mắm chua ngọt cho vừa miệng rồi muốn dầm ớt nguyên trái vô, cho ớt bằm vô hay không ớt tùy ý.

Lấy bánh đã chín ra khỏi xửng, xếp vô cái mâm, cái rổ nào đó cho bánh nguội. Khi ăn lột bỏ vỏ lá gói, xếp bánh vô dĩa, chan nước mắm vô là thưởng thức được rồi. Hoặc là gắp nguyên cái bánh chấm đẫm vô chén nước mắm mà ăn cho nó đã miệng.

UserPostedImage


Nghe “giang hồ đồn đại” người xứ Huế nổi tiếng ăn cay, nấu bất cứ món ăn gì cũng cay nồng, cay xé, người nơi khác đến Huế không quen không thể ăn nổi món Huế. Chuyện đó thật hay không tôi không biết, nhưng vào thời điểm thập niên 20 thì cái “truyền thống” đó không còn nữa, chính xác là không tồn tại trong các hàng quán bán thức ăn. Tôi thấy tất cả các loại nước mắm, nước tương, thức ăn bán tại cố đô Huế đều không cho ớt. Thay vào đó, có một cái mâm nho nhỏ xếp hũ ớt bằm sẵn ngâm giấm, ớt bằm sẵn để khô, ớt xắt miếng và ớt hiểm chín đỏ nguyên trái, khách thích ăn cay thế nào “tùy lòng hảo tâm” của khách.

Tôi ăn xong mà vẫn cứ thèm thuồng, nhưng không thể cứ ở lì hoài được, đành lên đường thôi mà vẫn lưu luyến dĩa bánh bột lọc Huế dân dã, rẻ tiền.

TPT
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (8)
71 Pages«<6768697071>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.