Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

70 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1 Posted : Sunday, October 18, 2009 5:32:36 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,671

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4388 time(s) in 2732 post(s)
LỜI MỞ ĐẦU
Lan Nhi mở thêm mục Tục Ngữ Ca Dao Và Quê Hương, mục đích chính là để chúng ta, những người con của Mẹ Việt Nam, hãy cùng nhau cố gắng gìn giữ những lời nói mộc mạc, chân tình phát xuất từ những người dân quê qua kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày, về tình người, tình quê hương, Dân Tộc .

Qua câu chuyện của hai anh Hà Phương Hoài và Lang Thang,
Anh LT thân mến,

Mặc dù không thường xuyên viết trong UNT, nhưng hph vẫn là đọc giả trung thành của UNT . Cho nên, với anh LT, hph đã cảm thấy có sự đồng cảm khi anh LT và hph cùng góp ý sau khi đọc bài Vũng Nhớ của LN . Ngoài ra, khi đọc những bài chính trị do anh post, hph cũng đồng chí hướng với anh . Nhưng hph hoài còn một hoài bão làm sao cho con cháu đừng quên những câu tục ngữ ca dao của ông cha chúng ta, đã lưu truyền từ đời nọ đến đời kia, mà chúng ta, đã hấp thụ những dòng thơ lục bát thuần tuý của nền văn chương VN . Cứ nghĩ đến những tục ngữ ca dao mai này sẽ mai một đi, tụi trẻ không thuộc những câu tục ngữ ca dao, dùng để khuyên răn, dạy dỗ, hoặc nói về những kinh nghiệm trong cuộc sống, lòng hph cũng thấy đau xót làm sao !

Thực ra, hph bận rộn vì chẳng hiểu sao, chỉ là website về ca dao tục ngữ, mà web. của hph cứ bị phá, khiến hph lại lóp cóp sửa chữa . Bận là thế, chứ ngoài ra, vẫn là kẻ không còn gì phải lo toan .

Ít lời tâm tình cùng người bạn mà như anh LT đã viết: " Thông cảm lẫn nhau chính là một trong những điểm cần thiết và thực quý giup cho tình cảm bạn bè được đep...phải không anh ?"

Thưa anh LT, đúng như lời anh nói, và mong sự chân tình sẽ là keo sơn gắn bó tình bạn được lâu dài .

Trân trọng,
hph

Mến gửi anh HPH,

Cám ơn anh đã có thiện cảm và ý tốt dành cho LT .

Nghe anh nói :”...Nhưng hph hoài còn một hoài bão làm sao cho con cháu đừng quên những câu tục ngữ ca dao của ông cha chúng ta, đã lưu truyền từ đời nọ đến đời kia, mà chúng ta, đã hấp thụ những dòng thơ lục bát thuần tuý của nền văn chương VN . Cứ nghĩ đến những tục ngữ ca dao mai này sẽ mai một đi, tụi trẻ không thuộc những câu tục ngữ ca dao, dùng để khuyên răn, dạy dỗ, hoặc nói về những kinh nghiệm trong cuộc sống, lòng hph cũng thấy đau xót làm sao !” LT cảm phục và ngưỡng mộ hoài bão cùng ưu tư của anh
Ca dao tục ngữ là một trong những đặc điểm chính trong nền va(n hóa đẹp và sáng ngời của dân tộc …nên vấn đề bảo tồn và lưu truyền những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình rất cần thiết .Vậy anh ngoài chuyện chăm sóc web site ca dao tục ngữ nếu không bận quá nhiều thì anh mở một quán nơi nhóm Trung Vương này hay bàn thảo đề nghị với LN để thường xuyên hay thỉnh thoảng anh post một vài câu ca dao tục ngữ nơi UNT với logo mục riêng chủ đề CA DAO VÀ DÂN TỘC hay CA DAO VÀ QUÊ HƯƠNG... LT nghĩ như vậy cũng giup được it nhiều trong việc quảng bá sâu rộng ca dao tuc ngữ của VietNam mình ? Nếu anh thấy được và đề nghị với LN- nữ chủ nhân UNT – chắc chắn ý kiến của anh là LN chấp thuận mà ?

Trên đây chỉ là ý kiến nhỏ đóng gop cùng anh

Gửi đến anh lời chúc thành công với hoài bão rất đẹp.

Thân mến, LT


LN đã đúc kết hai ý tưởng đã bổ xung cho nhau để thành một mục, như anh Lang Thang đã đề nghị
Tục Ngữ Ca Dao Và Quê Hương,

LN cũng xin mời các bạn, mỗi người góp một tay, chỉ cần mỗi ngày một câu ca dao, hay là câu chuyện đồng quê có dính dáng đến ca dao, để mọi người chúng ta cùng thưởng thức.

LN cũng xin khẳng định, đây là tiếng nói chân thực của tục ngữ ca dao, không là những ca dao tục ngữ đã bị biến chế theo thời đại.

Tình thân,
HONG VU LAN NHI

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#2 Posted : Sunday, October 18, 2009 6:23:14 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,671

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4388 time(s) in 2732 post(s)
Những món ăn dân dã trong ca dao, dân ca Nam bộ

Trên tổng thể, ca dao Nam bộ thể hiện tất cả những đặc điểm chung của ca dao Việt Nam, nhưng đồng thời ca dao Nam bộ còn là tiếng nói tâm tình của người dân miền sông nước nơi đây. Có những câu ca dao mà nội dung chỉ là kể về những món ăn tuy rất dân dã, rất bình dị nhưng chứa chan một niềm tự hào của người dân miền sông nước, đồng thời thể hiện nét văn hoá rất đặc trưng mang đậm chất Nam bộ.

Chúng ta thử thưởng thức món “cá trê rau đắng” có từ thời Nam kỳ lục tỉnh:

Rau đắng nấu với cá trê
Ai đến lục tỉnh thì mê không về.

Cùng với các loại rau dại khác như: rau má, rau trai, rau ngót… thì rau đắng là một trong các loại rau có rất nhiều ở vùng quê Nam bộ. Người dân Nam bộ chẳng cần tìm cho nó một cái tên hoa mỹ nào mà nhằm ngay vào bản chất của nó mà gọi: rau đắng (vì đây là loại rau có vị rất đắng người không quen sẽ không ăn được). Còn cá trê là một trong những loại cá đồng có rất nhiều ở Nam Bộ đặc biệt là miền Tây sông nước Cửu Long. Về món canh “hỗn hợp” “rau đắng – cá trê” phải công nhận rằng không chê vào đâu được.

Một món ăn khác cũng được tìm thấy trong ca dao Nam bộ mà có lẽ chỉ những người dân có thâm niên sống ở miền Tây mới biết. Đó là:

Canh chua điên điển cá linh
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon

Bông điên điển là loại bông giống như bông so đũa nhưng nhỏ hơn và có màu vàng thường mọc dọc theo những kênh rạch. Theo như người xưa kể lại đây là món ăn rất dân dã nhưng không thua bất kỳ một món “cao lương mỹ vị nào”. Cá linh và bông điên điển tuy một là động vật, một là thực vật nhưng có lẽ do “hữu duyên” nên chỉ đến mùa nước nổi miền Tây chúng mới xuất hiện cùng nhau. Chiều quê miền Tây mưa rả rích trên mâm cơm có được tô “canh chua điên điển cá linh” bốc khói có lẽ ăn hoài cũng chẳng biết… no!

Ca dao Nam bộ cũng kể lại có một bà mẹ nào đó chỉ vì một món ăn rất dân dã mà mong được gả con gái mình về xứ sở miệt vườn, sông nước? Hay có khi đây chỉ là cách nói chọc ghẹo xa gần của cô gái nào đó với chàng trai “miệt vườn” cũng không chừng:

“Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hườn nấu canh”

Kể về những món ăn dân dã ở Nam bộ mà quên đi món “bông súng – cá kho” thì thật là thiếu sót vô cùng. Bông súng là loại thực vật sống ở vùng đầm lầy có nhiều nhất là ở vùng Đồng Tháp Mười. Bông súng có hai loại, một loại hoa màu trắng, một loại hoa màu tím. Người dân thôn quê miền Tây ăn uống rất giản dị, bông súng có sẵn ngoài đầm cứ thế mà hái vào; cá có sẵn trong ao cứ thế mà bắt lên. Giản dị nhưng mà cũng rất đậm đà, người dân Đồng Tháp Mười rất tự hào về xứ sở mình:

Muốn ăn bông súng cá kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm.

Và nếu như thật “đã thèm”với món “bông súng cá kho” thì hãy thưởng thức tiếp một món ăn cũng bình dị và đậm đà không kém:

Kèo nèo mà lại làm chua
Ăn với cá rán chẳng thua món nào.

Kèo nèo (hay còn gọi là “cù nèo” theo cách phát âm của một số người dân miền Tây) đó là một loại rau cọng xộp có rất nhiều ở miệt vườn sông nước Nam bộ. Thường thì không cần phải làm chua, kèo nèo ăn cũng rất ngon vì có thể dùng nấu canh chua hoặc ăn sống chấm với nước cá kho. Tuy nhiên theo cách nói của người xưa trong câu ca dao trên thì có lẽ kèo nèo làm chua ăn với cá rán (cá chiên) thì là ngon nhất.

Tới miền Tây mà không nhậu cá lóc nướng trui thì coi như chưa tới, người dân miệt vườn sông nước vốn rất hiếu khách, sẵn sàng:

Bắt con cá lóc nướng trui
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa

Cá lóc nướng trui ở miền Tây là một món ăn có cách chế biến rất giản dị nhưng cũng rất độc đáo. Người miền Tây có khi nướng trui cá lóc ngay lúc làm đồng, lúc vừa mới bắt được. Từ họng con cá lóc người ta xỏ vào một thanh tre sau đó cấm đầu còn lại của thanh tre ấy xuống đất. Tiếp theo là dùng rơm khô có sẵn ngoài đồng ruộng chất lên và đốt. Cá lóc nướng như thế này chín rất đều, thịt cá vừa tươi vừa ngọt lại thơm mùi rơm khô, nếu có thêm xị rượu trắng (rượu đế), tí hạt muối ngồi nhâm nhi với vài ba chiến hữu thì có lẽ đến Thượng đế cũng phải… thèm.

Người dân Nam bộ từ lâu đã rất tự hào về sự giàu có bởi những sản vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho xứ sở mình. Vì thế “dân nhậu” miệt vườn miền Tây nhiều khi cũng rất “kén chọn”:

Cần chi cá lóc, cá trê
Thịt chuột, thịt rắn nhậu mê hơn nhiều.

Quả thật, đến miền Tây ăn nhậu ngoài món cá lóc nướng trui ra phải công nhận còn món nào ngon bằng chuột nướng, rắn hầm sả hay rắn xào lá cách…

Cuối cùng, một món ăn có thể nói đối với người Nam bộ xưa là dân dã nhưng với chúng ta ngày nay đã trở thành đặc sản vì không phải ai cũng dễ dàng thưởng thức được:

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông bí, nấu chè hạt sen

Rõ ràng, với chúng ta ngày nay, canh bông bí, chè hạt sen thì có thể còn tìm được nhưng cháo le le thì không đơn giản chút nào.
***

Qua việc tìm hiểu những món ăn dân dã được người dân Nam bộ xưa hát lên bằng những lời ca, câu hò, điệu lý cho chúng ta thấy được nét đẹp văn hoá trong suy nghĩ và ứng xử của những con người ở vùng quê sông nước nơi đây. Đó là nét đẹp rất đời thường nhưng cũng chính là cái hồn của dân tộc, của quê hương.

Người dân thôn quê hát lên những câu ca ấy cũng chính là cất lên tiếng nói tâm tình nhằm bày tỏ niềm tự hào về sự phong phú của những sản vật mà thiên nhiên đã ban tặng cũng như nói lên sự gắn bó của họ đối với quê hương xứ sở.

Những món ăn dân dã cũng nói lên một điều người dân thôn quê có một cuộc sống vô cùng giản dị. Họ biết tận dụng những thứ có sẵn ở xứ sở mình chứ không xa hoa phung phí. Những món ăn của họ là những loại rau, củ, cây, trái… có sẵn quanh nhà và rất rẻ tiền. Chân thật và đầy tự hào họ nói về điều đó một cách rất tự nhiên:

Má ơi, đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau má nhờ.

Hay:

Má ơi, đừng đánh con hoài Để con kho cá bằm xoài má ăn
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#3 Posted : Sunday, October 18, 2009 2:28:33 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
Dù ai nói đông nói tây
Thì ta cũng vững như cây giữa rừng
Dù ai nói ngả nói nghiêng Thì ta cũng vững như kiềng ba chân

hongvulannhi  
#4 Posted : Monday, October 19, 2009 12:28:48 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,671

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4388 time(s) in 2732 post(s)
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn.

Thương nhau cau bẩy bổ ba Ghét nhau cau bẩy bổ ra làm mười


Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hà Phương Hoài  
#5 Posted : Monday, October 19, 2009 3:28:44 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,214
Location: USA

Thanks: 74 times
Was thanked: 62 time(s) in 41 post(s)
Cám ơn anh Lang Thang và Lan Nhi đã kéo Hoài tôi vào vòng cương tỏa để được vui và sống thực với bằng hữu qua triết lý ca dao, qua tiếng hò ơi của Mẹ Viêt. Hiện tại thì Hoài tôi cũng khá bận rộn đi sưu tầm ca dao của các tỉnh, mỗi ngày ngồi mổ cò không dưới tám tiếng đồng hồ. Trong 4 tháng qua Hoài tôi đã thực hiện đưa ca dao của 12 tỉnh miền Tây vào thư khố http://e-cadao.com/cadaocactinh.asp và Tỉnh Phú Yên. Hiện đang trên đà hoàn tất tỉnh Khánh Hòa. Thật ra có 13 tỉnh Miền Tây nhưng tỉnh Hậu Giang Hoài tôi tìm mãi chưa được, có lẽ tỉnh nầy mới thành lập cho nên chưa có người truy tầm. Vị nào có xin cung cấp, Hoài tôi hết lòng đa tạ.
Qua kinh nghiệm trên các Diễn đàn Ca Dao Tục Ngữ tôi thiết nghĩ chúng ta nên chọn một chủ đề cho một thời điểm nào đó Thí dụ như tháng 10 thì ta chọn Chủ đề "Thu trong Ca Dao" Hoặc quý vị tìm thấy một lễ gì trong văn hóa lễ hội quan trọng của ta mà đề nghị chủ đề để tìm và đưa lên trang: "Tục Ngữ Ca Dao Và Quê Hương" những câu ca dao liên quan đến ngày lễ đó. Xem lịch Lễ Hội Bắc: http://e-cadao.com/lehoi/bac/fb_lichlehoixubac.htm . Việc đưa một câu ca dao liên tưởng cũng nên nhờ độc giả phê bình hay dẫn giải thì mới có không khí hào hứng.

Thí dụ: câu cadao đưa lên như:
"Em tưởng nước giếng sâu
Em nối sợi gầu dài
Ai ngờ nước giếng cạn
Em tiếc hoài sợi dây..."


Qua câu trên có bạn sẽ thắc mắc rằng: Sợi giây sao lại gọi là sợi gầu.
Vậy thì chúng ta có thể tìm thêm dị bản nữa để cho thấy câu trên đúng hay sai

Sau đây làn những dị bản khác:
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo, tôi không dám phụ ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Ai dè giếng cạn, tiếc hoài sợi dây

Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây.
Có bản khác: Hay đâu giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây

Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai
Tưởng giếng sâu tôi mới nối sợi dây dài
Nào ngờ giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây.

Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Không ngờ giếng cạn, anh tiếc hoài sợi dây

Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn tiếc hoài sợi dây

Tưởng giếng sâu nên nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi

Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn tiếc hoài sợi dây


Để làm sáng tỏ câu ca dao, ta có thể tìm những những bài tiểu luận hay giải thích cho câu ca dao đó

Kính mong quý vị góp thêm ý kiến

hph

hongvulannhi  
#6 Posted : Monday, October 19, 2009 4:02:54 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,671

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4388 time(s) in 2732 post(s)
Hoa Quả Trong Ca Dao


UserPostedImage

Có hoa có quả mới hay,
Một trăm thứ quả em nay đã từng.
Cứng thì quả ổi còn ương,
Mềm thì quả thị chín vàng đã lâu.
Ðỏ lòng thì đúng quả nâu,
Nhuộm khăn, đan áo, đẹp mầu đời ta.
Thơm thơm, mát mát quả na,
Biếu cha, biếu mẹ hơn là chén son.
Ðắng thì bồ kết bồ hòn,
Ðể ta tắm gội cho trơn mái đầu.
Ngọt thì long nhãn, táo tàu,
Bưởi đường, cam, quít, lựu đào nâng niu.
Chua thì quả hạnh, quả mai,
Quả sấu, quả rọc, quả gai trái mùa.
Ðôi ta còn ngọt chửa chua,
Ðừng tham táo rụng, đừng chê khế rừng.
Thanh yên, phật thủ thơm lừng,
Quả thơm mặc quả, xin đừng quên nhau.
Bé thì quả vối, quả dâu,
Nhớn thì quả mít chia nhau mới đành.
Ðể ta chọn cá nấu canh,
Cà chua chín đỏ rấp ranh đi tìm.
Tình cờ ta gặp nhau đây,
Quả cau ta bổ, chia tay mời chào.
Ðôi ta kết nghĩa tương giao,
Nào là quả mận quả đào đong đưa.
Bùi ngùi quả ấu quả dừa,
Xanh xanh quả mướp, quả dưa, quả bầu.
Hạt tiêu cay đắng đã dầu,
Ớt kia cay đắng ra mầu xót xa.
Mặt kia mà tưới nước hoa,
Ai đem mướp đắng mà hoà mạt cưa ?
Thủy chung cho bác mẹ ưa,
Ðừng như đu đủ nắng mưa dãi dầu.
Yêu nhau đá bắc nên cầu,
Bồ quân lúc chín ra màu tốt tươi.
Hẹn chàng cho đủ mười mươi,
Thì chàng kết tóc ở đời với em.

UserPostedImage


Ca Dao
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hà Phương Hoài  
#7 Posted : Monday, October 19, 2009 4:22:25 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,214
Location: USA

Thanks: 74 times
Was thanked: 62 time(s) in 41 post(s)
Cám ơn Lan Nhi đã giới thiệu bài Hoa Quả trong Ca DaoHoài tôi xin tiếp bài Hoa Sen:

Hoa sen là hoa quân tử mà dân Việt rất yêu chuộng . Hoa sen thơm dịu dàng dùng để ướp trà . Trà mạn sen là trà quý, đắt tiền được giới thượng lưu ưa chuộng. Trong ba ngày Tết, nhiều nơi, dù nhà nghèo cũng ráng có để tiếp khách.
Hoa sen là hoa trang trọng trên bàn thờ Phật.
Hoa Sen, Hồn Việt

Sen thanh cao, trắng trong và tinh khiết; bùn đen đúa, nhớp nhúa và dơ bẩn. Sen và bùn, dù là hai thái cực, hai hình ảnh tương phản, đối chọi nhau, nhưng lại rất gần nhau. Nói đến sen người ta nghĩ ngay đến bùn, nghĩ đến sự cao quý vươn lên sống ngạo nghễ từ giữa những vùng đất tội lỗi .
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhụy vàng.
Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(CD)

Về ý nghĩa của câu ca dao, ai cũng hiểu, nhưng nếu ai đã có từng trầm mình trong những đầm sen, từng thọc tay vào bùn để kéo lên những ngó sen trắng nỏn thì sẽ thấm thía với câu ca dao ở trên hơn. Vì không chỉ ngó sen màu trắng nỏn tương phản với màu bùn đen mà hương vị của hoa sen cũng chẳng vướng víu hay bị nhiễm mùi bùn. Ngược lại còn phảng phất một mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết và dễ chịu. Sen sống giữa bùn sình nhưng không bị lấm lem, sen tặng cho cuộc đời những bông hoa tinh khiết, thanh cao. Ban ngày hoa sen nở, nhưng sẽ khép kín lại lúc về đêm như để tránh sự xâm nhập của bóng đêm u tối, giữ vẹn toàn hương sắc trinh bạch, thanh cao của một loài hoa cao quý.
Hoa sen tượng trưng cho sự uy dũng bất khuất của người quân tử, giữ chặt lòng mình trước cám dỗ của lợi danh, giữ cho mình sự trong sạch dù ở giữa chốn bùn nhơ. Với Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của sự giác ngộ, cũng như sen mọc giữa chốn bùn lầy, người giác ngộ sống giữa hồng trần, cuộc sống thế nhân với muôn vàn ô trọc vẫn bình thản giữ gìn đạo hạnh và sự trong sạch của bản thân không để bị vướng bụi trần thế, bả lợi danh.

Sen không chỉ là một loài hoa đẹp, một biểu tượng của người quân tử, của sự giác ngộ, mà tất cả các phần của sen, theo đông y, đều là thuốc chữa bệnh. Hạt sen (liên nhục) chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ. Nhụy của hạt sen (liên tâm) có vị đắng có tác dụng an thần. Gương sen (liên phòng) phơi khô sắc uống có tác dụng cầm máu trong đại tiểu tiện. Tua nhị của hoa sen (liên tu) phơi khô sắc uống chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Lá sen (hà diệp) dùng tươi sắc uống chữa nôn ra máu, chảy máu cam. Ngó sen (liên ngẫu), dùng làm thức ăn giải nhiệt, làm thuốc cầm máu, nấu nước tắm sẽ làm cho da thịt mịn màng, cơ thể sảng khoái. Ngoài ra sen còn được biến chế thành những món ăn quốc túy, hương vị đặc biệt VN như gỏi ngó sen, mứt sen. Trà sen, một loại trà được ướp với hạt gạo trong hoa sen là một loại trà ngon, quý, và được người uống trà ưa chuộng.
Ngày xưa, lúc đọc 2 câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa :
"Vẫn biết lòng mình là hương cốm, Chả biết tay ai làm lá sen."

Sinh trưởng ở trong Nam, dù sen cũng là một hình ảnh rất quen thuộc, nhưng tôi không thấm và hiểu được hai câu thơ diễn tả mối tình "cốm, sen" của Nguyên Sa. Mãi sau này, tôi mới biết là ở ngoài Bắc, người ta dùng lá sen để gói cốm. Có một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đã viết. " Ăn cốm làng Vòng chấm với hồng chín đỏ, thưởng thức hương thơm và ngọt nhẹ của cốm, với mùi thơm và vị ngọt gắt của hồng. Ăn một nhúm cốm như vậy, giống như đang nếm tất cả hương vị của đất trời, đồng nội, hương hoa ...". Thì ra là như vậy, tôi đã có thể tưởng tượng. Những lá sen rộng bản, vươn cao khỏi mặt nước. Buổi sáng, với những hạt sương, long lanh, trong vắt, còn đọng lại trên mặt lá như những hạt trân châu trời đất ban tặng cho sen. Dù nắng hay mưa, ngày qua ngày, những lá sen vẫn vươn cao, mở rộng che chắn cho những bông sen đang nở. Một ngày nào đó, một bàn tay ngà của một cô gái ngắt lấy tấm lá sen đem về gói những hạt cốm dẻo thơm, màu xanh ngọc thạch. Hương đồng, cỏ nội quấn quyện với hương đồng cỏ nội. Lá sen giữ cho cốm dẻo và thơm lâu, những hạt cốm xanh màu ngọc thạch nằm yên ổn trong lòng lá. Mùi sen trong hương cốm. Một sự kết hợp hài hòa và tuyệt vời. Và cuối cùng tôi đã hiểu nhà thơ Nguyên Sa đã ví lòng ông như hương cốm, hương của những hạt ngọc quí của đất trời, của hương đồng cỏ nội, của quê hương Việt Nam, và tìm đâu người tri âm, tri kỷ. Khám phá, hiểu, giữ gìn, hòa hợp, bổ sung ... cho nhau như lá sen và hạt cốm.

Hoa sen đã đi vào lòng người, đi vào cuộc sống của người Việt tự ngàn xưa . Có thể nói nhìn sen, ta có thể liên tưởng và nhận ra con người Việt Nam, nhưng nhìn người Việt Nam có nhận ra được HOA SEN không? Ngày nay, nhìn vào xã hội của người Việt Nam (cả hải ngoại và trong nước), một người Việt có đủ tự hào và khả năng để giải thích một cách tường tận ý nghĩa của câu ca dao trên cho một người ngoại quốc nghe không? Câu hỏi làm trăn trở nhiều người Việt có tấm lòng tha thiết với quê hương và dân tộc.

Nửa thế kỷ, dưới "ánh sáng" nhân tạo, quá cường độ và gay gắt của một chủ nghĩa ngoại lai, đã trở thành ngọn lửa thiêu đốt và hủy hoại những giá trị căn bản tạo thành dân tộc Việt . Việt Nam trở thành một xã hội, nơi mà tình người, lương tâm và đạo đức... khan hiếm như bóng cây, như nguồn nước giữa sa mạc. Đầm nước Việt cạn khô, hoa sen Việt úa tàn, chết rũ. Bóng đêm bao phủ, cơn ác mộng của những bông sen đỏ ngoi lên từ vũng máu thịt, nhầy nhụa, lạnh ngắt, tanh tưởi, nồng nặc mùi tử khí. Cố gắng vượt qua vùng bóng tối lại mơ thấy những bông sen tạp chủng ngoi lên từ những vũng nước ao tù. Tìm ở đâu đây, hương vị dịu dàng và bóng dáng thanh cao của Hoa Sen Hồn Việt?

Buổi chiều cuối tuần, tịch mịch, yên vắng đến lạnh lùng. Vạt nắng cuối ngày hờ hững rớt qua song, những dãi mây xám trôi lững lờ, lang thang, vài bóng chim bay điểm thành những chấm đen di động không định hướng trên nền trời tĩnh mịch. Không biết những đám mây kia sẽ trôi theo gió về đâu? Và những cánh chim có phải đang vội vã bay về tổ ấm? Còn ta sẽ đi về đâu cuối đoạn đường lưu lạc?

Nửa thế kỷ đã qua, một dấu chấm nhỏ của thời gian, một đoạn đường ngắn của lịch sử, một đời người. Như những giọt sương đọng trong lòng chiếc lá sen, đẹp lóng lánh như kim cương dưới ánh sáng mặt trời buổi bình minh bốc hơi mất dạng dưới cơn nắng gắt buổi trưa, những giấc mơ hồng thời niên thiếu cũng tan dần với thời gian và cuộc sống bương chải, tất bật nơi quê người. Mặt trời đã lặn, giọt nắng cuối cùng đã tan, bóng đêm bao phủ vạn vật, một ngày nữa đã qua. Giấc mơ hoa sen hồn Việt nở rộ ở quê hương, nơi xứ người có về chăng, đêm nay? Có lẽ lại thêm một đêm trăn trở nối tiếp một ngày buồn thiu ....
Vẫn biết hồn ta là sen Việt. Tìm ở đâu những hạt cốm thơm?
Lý Lạc Long
(TTL/TCT/MAI/5/4/2006)
langthang09  
#8 Posted : Monday, October 19, 2009 6:27:13 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
Mến gửi anh Hà Phương Hoài,

Từ website Ca Dao Tục Ngữ http://e-cadao.com/lehoi/bac/fb_lichlehoixubac.htm do anh chủ trương , LT rất ngưỡng mộ anh cùng ban biên tập đã công phu thiết kế, sưu tập có thể nói hầu như đầy đủ bài vở, tiết mục giúp độc giả tham khảo thêm được nhiều về tình tự dân tộc qua Ca Dao Tục Ngữ .

Thân tình,
LT
langthang09  
#9 Posted : Monday, October 19, 2009 6:39:50 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
Trích đoạn trong bài "Nhân Ngày Giáng Sinh Nghĩ Về Đạo Thiên Chúa và Các Lễ Hội Truyền Thống Việt Nam"
của tác giả Nguyễn Trí Cảm

LT

Các lễ hội của đạo Thiên chúa có tính cách thuần túy tôn giáo

Riêng các lễ hội của đạo Thiên chúa chỉ xoay quanh các hoạt động thuần túy tôn giáo như các lễ khấn dòng, lễ truyền chức, lễ mừng kỷ niệm khấn dòng hay thụ phong linh mục .. Nếu việc hành hương về “thánh địa” La Vang Quảng Trị của người theo đạo là một lễ hội thì đây cũng chỉ thuần túy là lễ hội tôn giáo, dành riêng cho thiểu số người có đạo Công giáo La mã trong cộng đồng dân tộc mà thôi. Lễ hội La vang không mang tính truyền thống dân tộc, trái lại nó gợi lại hình ảnh lịch sử không lương thiện của người Công giáo khi dựa vào thế lực của thực dân Pháp để chiếm đoạt đất chùa Lá Vằng để xây dựng nhà thờ La Vang, và nhiều ngôi chùa khác trên cả nước, lại còn tổ chức khấn nguyện “dâng” nước Việt Nam cho bà Maria dưới thời Ngô đình Diệm năm 1959, làm như đất nước này là của riêng của Giáo hội Công giáo!

Lễ hội của người Công giáo thường giới hạn trong phạm vi nhà thờ, các giáo xứ, giáo họ “toàn tòng”, và “linh địa”, là nơi được cho là có sự xuất hiện của bà Maria Hơn 90% dân số Việt Nam là người không theo đạo Thiên chúa vì vậy, tuyệt đại đa số nhân dân không biết và không quan tâm đến các ngày lễ hôi có dính dáng đến việc đồng áng gì đó của người Công giáo. Vì sự giới hạn này nên các lễ hội của người Công giáo không mang tính phổ biến, chưa kể đến các yếu tố phi truyền thống dân tộc khác. Còn các lễ hội dân gian truyền thống của dân tộc Việt Nam thì người Công giáo lại là người “ngoại đạo” vì do các nghi lễ truyền thống thường có nghi thức dâng hương, khấn vái để tri ân tiền nhân, người là chủ thể của buổi lễ, những điều mà người có đạo không được phép làm.

Bản chất của người theo đạo Công giáo kể từ khi đạo Thiên chúa du nhập vào Việt Nam cho đến ngày hôm nay hầu như vẫn không thay đổi. Ta có thể nhận biết sự “đồng hành” cùng dân tộc như thế nào qua sự kiện tang lễ của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Thông cáo chiều 12/6/2008 của Chính phủ Việt Nam về việc tổ chức tang lễ, nghĩa là toàn thể nhân dân được thông báo về lễ tang sắp được tiến hành thế nhưng, ngay ngày hôm sau ở La vang:

- Vietcatholic : LA VANG - Hôm nay, ngày thứ sáu, 13 tháng 6 năm 2008, Phái đoàn Toà Thánh gồm Đức ông Pietro Parolin, Thứ trưởng Ngoại giao của Toà Thánh, Đức ông Barnaba Nguyễn Văn Phương, Vụ trưởng Bộ Truyền giảng Phúc Âm cho các dân tộc, Đức ông Luis Mariano Montamayor, Tham biện Toà Sứ thần tại Phủ Quốc Vụ Khanh đến Thánh Địa La Vang. Đức Giám Mục Phụ Tá TGP Huế, Đức Cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, cùng đi theo Phái đoàn. Đúng 08g30, đội kèn của Nhà Thờ Chính Toà Phủ Cam cử hành bài Hành Khúc Giáo Hoàng trong khi được tin Phái đoàn sắp đến Thánh Địa La Vang. Cọng đoàn hành hương hân hoan vui mừng đón tiếp Phái Đoàn đến. ...
Nỗ Lực Việt Nam hóa đạo hiên Chúa

Sự thiếu tế nhị và không tôn trọng một sự kiện ở cấp quốc gia sắp diễn ra [quốc tang] là một hành vi ngoại giao kém cỏi của Vatican lẫn Giáo hội Công giáo Việt Nam, nó thể hiện những sự kiện quốc gia như chẳng liên quan gì đến họ. Dưới mắt cộng đồng dân tộc, những giáo dân người Việt như những người lạ trên chính quê hương của mình. Nhận thức rõ rằng đạo Thiên chúa du nhập vào Việt Nam đã gần 500 năm, nhưng vẫn không thể hòa nhập được vào nền văn hóa bản địa như các tôn giáo ngoại sinh khác nên Vativan cho phép Giáo hội Công giáo Việt Nam “Việt Nam hóa” hình ảnh của mình để tạo cảm giác” đạo” và dân tộc không có sự xung đột văn hóa, như xây dựng nhà thờ có kiến trúc giống như cổng làng, đình chùa Việt Nam, tiêu biểu là Nhà thờ đá Phát Diệm, Ninh Bình, sử dung các pháp khí (lư hương, chân nến v.v..), thắp hương như tập tục của người Việt hay cố lạc dẫn quan niệm “ông Trời” của người Việt là cách nói đến “Chúa Trời”, xây dựng hình tượng bà Maria bồng Chúa hài đồng, mặc áo dài, khăn đóng. Hiện trong “thánh gia” chỉ còn thiếu hình ảnh ông Giu-se, ba của Chúa Giê-su, mặc áo the thâm, khăn đóng cho phù hợp với trang phục truyền thống của người Việt mà thôi!


UserPostedImage
Nhà thờ Phát Diệm

UserPostedImage
Bà Maria và Jesus trong trang phục truyền thống của Việt Nam
Ý thức được những tác hại của Thiên chúa giáo và Tin Lành đối với dân tộc mà quá trình lịch sử đã chứng minh, một số nhà trí thức Việt có đạo “giác ngộ” bản chất thật của tôn giáo độc thần này, đã lên tiếng cảnh báo và vạch mặt như ông cựu Thẩm phán Bùi Văn Chấn, BS Nguyễn Văn Thọ v.v.. Một số nhà trí thức dân tộc khác cũng đi tiên phong trên mặt trận giãi hoặc Ki tô. Các vị này đã nghiên cứu và phổ biến các tài liệu lịch sử nói lên tội ác của các tôn giáo độc thần, của Vatican đối với dân tộc Việt Nam cũng như nhân loại như Sử gia Nguyễn Mạnh Quang, Giáo sư Trần Chung Ngọc, Cao Huy Thuần v.v.. và tất nhiên, khi các nhà viết sử hay các học giả viết về lịch sử cận đại của Việt Nam thường không thể tránh đề cập đến mối quan hệ “gắn bó” giữa người Công giáo với thực dân Pháp và chế độ do người Mỹ dựng lên . Người ta hay dùng cụm từ “hãy để lịch sử phán xét” nhưng thật ra lịch sử chỉ ghi nhận các sự kiện diễn ra một cách trung thực, khách quan do những người viết sử trung thực và khách quan viết. Lịch sử không phê phán hay thiên vị “lương hay giáo”, “quốc hay cộng”, việc phán xét là cả của dân tộc, dựa trên sự thật lịch sử và không ai có thể xuyên tạc, nhưng những con chiên quá ngoan đạo (cuồng tín) thường phản ứng vô trí với những sự thật lịch sử, một phần vì mặc cảm với những hành vi mà người Công giáo đã gây ra cho dân tộc, một phần là do tính chất của não trạng nên thường thóa mạ, vu khống, chụp mũ “linh tinh” những người trình bày sự thật lịch sử để bênh vực, chạy tội. Ngoài ra, những thiện tri thức khác góp phần nâng cao dân trí, đặt biệt là cho các thế hệ trẻ, hướng nhận thức người dân nhận biết sự thật lịch sử cũng đã góp phần hạn chế tích cực sự tác hại của văn hóa thánh kinh đối với dân tộc Việt nam. Giãi hoặc Ki tô là giãi phóng sự nô lệ tinh thần của con người vào cái gọi là “thánh kinh”, làm cho người dân biết yêu dân tộc và tổ quốc của mình, nâng cao dân trí, dựa trên sự thật lịch sử để trình bày chứ không phải là do ác cảm hoặc kỳ thị một tôn giáo.

Vị trí địa lý của Việt Nam thuận lợi cho việc giao thương và giao thoa giữa các nền văn hóa, tôn giáo từ Đông sang Tây như lịch sử đã ghi nhận. Nhờ tính cách hòa đồng, hòa hiếu của người Việt nên các nền văn hóa, các tôn giáo ngoại sinh dễ hội nhập và sống chung hòa hợp, đa thần, ai tin gì thờ nấy, kể cả Thiên Chúa giáo, như trong thời gian đầu truyền đạo tại VN vào khoảng thế kỷ 16. Nhưng chính người Công giáo lại tự đặt mình lên trên và ra khỏi cộng đồng dân tộc, tự cho mình độc quyền chân lý, nhân danh thượng đế để “khai sáng” và cấu kết với ngoại bang nhằm “thủ tiêu” nền văn hóa bản địa nên vấp phải ý chí bảo tồn bản sắc của dân tộc Việt Nam. Người Công giáo xem kinh thánh là “la bàn” nên không thể thay đổi được bản chất và vì vậy, không thể hội nhập được với nền văn hóa Việt Nam mà ta có thể nhận biết thông qua các lễ hội dân tộc truyền thống. Và nếu là người biết suy nghĩ thì phải nên tự đấm ngực mà trách mình “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi bề” chứ không phải đổi thừa cho dân tộc Việt Nam thiếu lòng khoan dung!
SG, 12-2008 Nguyễn Trí Cảm

langthang09  
#10 Posted : Monday, October 19, 2009 10:46:15 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
UserPostedImage
Ca Dao Tục Ngữ Phật Giáo Việt Nam
Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tập

UserPostedImage
LỜI NÓI ĐẦU

Trải suốt hơn 2000 năm từ khi du nhập, Phật giáo đã bắt rễ sâu rộng trên mảnh đất Việt Nam, cùng với dân tộc trải qua những thăng trầm lịch sử. Ảnh hưởng của Phật Giáo đối với dân tộc thật sâu đậm. Từ trong tư duy, tình cảm, thể hiện ra trong ngôn ngữ và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống.Ở đây chúng tôi muốn nói riêng đến ca dao, tục ngữ, một mảng văn học rất phong phú vô cùng quan trọng, định hình cho văn hóa Việt Nam.
Chúng tôi vào chùa từ thuở nhỏ nhưng dư âm câu hò câu hát của mẹ, của lời dẫn dụ của cha vẫn còn như văng vẳng. Được học kinh kệ ở chùa lại được Bổn sư chỉ cho cách ghi chép những câu ca dao tục ngữ liên quan đến Phật Giáo nên cũng tích lũy được khá nhiều. Sau này lại có duyên may gần gũi với văn học Việt Nam qua học tập, nghiên cứu, giảng dạy chúng tôi càng cảm nhận được sự gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và mọi hình thái sinh hoạt của người Việt Nam, đặc biệt là trong ca dao tục ngữ mà chúng tôi vẫn hằng mến yêu, trân trọng. “CA DAO TỤC NGỮ PHẬT GIÁO VIỆT NAM” là một nỗ lực sưu tập của chúng tôi từ hơn 30 năm qua.

Gần 2000 năm câu ca dao tục ngữ trong tập sách này được sưu tầm, chọc lọc qua các tài liệu văn học, qua các bậc Trưởng lão, các vị Thiện tri thức, đồng sự và quần chúng Phật tử và nhất là chị tôi, người đã giúp tôi nhiều trong khi sưu tập.Chị tôi cũng đã lấy đề tài về “Ảnh hưởng Phật giáo qua ca dao tục ngữ” khi làm luận văn ra trường ở Đại học Sư phạm vào thập niên 60. Chúng tôi thầm biết ơn tất cả. Chủ trương của chúng tôi là cố gắng sưu tập tối đa những câu ca dao tục ngữ liên hệ đến Phật giáo, dù sự liên hệ này là rõ rang hay chưa đậm nét, kể cả những câu phê bác về một số nhân cách Phật giáo riêng lẻ.
Lại nữa, cái sức sống của tư tưởng khiến tư tưởng chuyển biến theo hoàn cảnh xã hội; tư tưởng Phật giáo Ấn Độ trở thành tư tưởng Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự kết hợp với tư tưởng Phật, Nho, Lão của Trung Hoa và với tư duy của người Việt; cho nên cónhững câu ca dao tục ngữ đặc biệt mang hình thức Phật giáo, nhưng phù hợp với giáo lý của Đức Phật vẫn được người Phật tử xem là ca dao tục ngữ Phật giáo. Vì lý do đó, độc giả có thể tìm thấy trong tập sách này những câu ca dao tục ngữ nói đến Phật, đến Pháp, đến chư Tăng; nhiều câu có nhắc đến một số thuật ngữ Phật giáo như nhân duyên, quả báo, công đức, thiện ác, hiếu thảo, hào quang, chân lý … và nhiều câu xem ra chỉ phản ảnh cái quan niệm thiện ác thông thường thậm chí nhiều câu diễn dãi chưa đúng mức về Phật giáo cũng được xem là có liên hệ với Phật giáo. Đối với một số độc giả việc sưu tầm của chúng tôi có thể có phần tham lam, thậm chí có chỗ quá tham lam, nhưng chúng tôi tin rằng đối với đa số độc giả, nhất là các Phật tử hẳn cũng chấp nhận quan điểm của chúng tôi về việc sưu tập.

Để độc giả tiện việc tìm kiếm, các câu ca dao tục ngữ trong sách này một mặt được xếp theo thứ tự của bảng chữ cái, mặt khác, một cách tương đối, được xếp theo chủ đề. Ba chủ đề lớn là Phật, Pháp và Tăng. Những câu có nhắc đến Đức Phật, đến Chư Tăng không nhiều bằng những câu có liên hệ đến giáo lý của Đức Phật, tức Phật pháp. Lại nữa, từ Pháp ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng rãi, vừa có ý nghĩa là giáo lý, vừa có ý nghĩa là sự vật, sự kiện, đề tài … liên hệ đến Phật giáo như tu hành, chuông mõ, chùa chiền, tranh tượng

Sưu tập ca dao tục ngữ Phật giáo mới chỉ là những bước đầu tiên trong quá trình nghiên cứu văn học Phật giáo dân gian. Những bước đầu tiên này tưởng đơn giản nhưng thật ra cũng đòi hỏi lắm công sức. Tập sách nhỏ này chỉ là một trong những bước. Nó cần được bổ sung hoặc thay thế bởi những công trình sưu tập đầy đủ hơn, có hệ thống hơn của những nhà sưu tầm, nghiên cứu khác. Và công việc nghiên cứu ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam còn phải được nhiều khối óc uyên bác đóng góp vào để làm nổi bật các ý nghĩa Phật giáo Việt Nam ở trong tâm khảm và trong mọi hình thái sinh hoạt của người Việt Nam.

Thô thiển mấy lời, kính mong các Thiện tri thức, chư độc giả thông cảm.
Vạn Hạnh Thiền Viện,
Mạng hạ, PL 2545, Tân Tỵ 2001 Lệ Như Thích Trung Hậu

Lời giới thiệu
ĐỌC SÁCH CỦA THẦY TRUNG HẬU
Ca dao, tục ngữ là gia tài văn hóa của dân tộc. Chúng ta thừa hưởng gia tài đó từ quần chúng, vì quần chúng vừa là người sáng tạo vừa là người lưu giữ bằng cách truyền miệng từ đời này qua đời khác. Một lời thốt ra đây đấy, rồi đồng thanh tương ứng, như thử đó là sự thực của chính lòng mình, như chính mình thốt ra.
Nói sáng tạo tức là nói cảm hứng. Quần chúng rút cảm hứng tư đâu để sáng tạo? Từ trong sâu thẳm của vốn liếng văn hóa un đúc từ ngàn xưa. Cũng từ trong sâu thẳm đó, sáng tạo bắt gặp hưởng ứng của tập thể, được truy nhận, trút bỏ tính cánh riêng tư cá nhân và biến thành gia tài của tập thể.

Từ ngàn xưa, Phật giáo đã tô bồi văn hóa cho đất nước này, đã trở thành văn hóa của dân tộc. Như vậy, tất nhiên Phật giáo đã cung cấp cảm hứng, đã là nguồn cội chính của sáng tạo và truy nhận tập thể trong việc hình thành ca dao tục ngữ. Nhận định có tính cách hiển nhiên này tạo ra hai phản ứng đối nghịch nhau nơi người nghiên cứu về ca dao tục ngữ, vừa hứng khởi vừa nhụt bước. Hứng khởi vì mưa gió thuận hòa như thế giữa Phật giáo và nhân gian, mùa gặt ca dao tục ngữ chắc chắn phải đầy ắp Nhụt bước, vì chính mưa thuận gió hòa đó trong tâm hồn quần chúng khiến cho sự quan sát ảnh hưởng của Phật giáo trong tục ngữ ca dao thành ra phức tạp. Trái cây đang chín trên cành, làm sao phân biệt đâu là cống hiến của đất, đâu là góp phần của phân bón?

Tác giả cuốn sách này đã nhụt bước như vậy không phải một lần, ngay từ câu hỏi đầu tiên. Làm sao chọn lựa? Đứng trên tiêu chuẩn nào? Không tiêu chuẩn nào hoàn toàn khách quan cả. Lấy một ví dụ: nhân duyên. Tư tưởng rất bác học này của Phật giáo được dân gian tiếp nhận như một chuyện hiển nhiên trong đời sống thường ngày, như chim hót bướm bay. Trai gái gắn bó với nhau? Nhân duyên. Phụ bạc nhau? Cũng nhân duyên. Hàng trăm câu tục ngữ ca dao như vậy, biết lấy câu nào bỏ câu nào? Lấy ít thì bất công, lấy nhiều thì lạm phát, lấy nửa chừng thì vừa lạm phát vừa bất công.

Tình cha nghĩa mẹ là một ví dụ khác. Ở đây vừa có chữ hiếu của Nho giáo vừa có chữ hiếu của Vu Lan. Hai tình cảm trộn lẫn với nhau, tùy lúc phần này đậm hơn phần kia. Làm sao phán đoán khách quan để chọn lựa: đây đậm màu Phật giáo hơn đó? Đã trích câu này sao lại bỏ câu kia? Giống như một tiếng chuông ngân, ai dám quả quyết đâu là lúc ngân nga tan biến hẳn trong không trung?

Cũng vậy, những khái niệm ngôn ngữ như phước, đức, tội, nghiệp, phận, số, kiếp … hoặc những hình ảnh, âm thanh như chùa, tượng, hương đèn, hoa sen, chuông mõ … nằm trong rất nhiều thề thốt, ví von, hẹn hò, trách móc giữa trai gái, vợ chồng. Chẳng lẽ nghe tiếng chuông này mà bỏ tiếng chuông kia?

Chọn lựa của tác giả quả là ray rứt, bỏ thì thương vương thì tội. Tác giả đành mang tội, đành gánh tội nghiệp trên vai, gánh mọi phê bình chỉ trích mà tác giả biết trước. Bù lại, người đọc tha hồ thướng thức hoa thơm quả lạ mà tác giả đã hái trong nhiều chục năm qua với lòng thương trải rộng trên cả những trái đắng chát, độc.

Ở đâu, trong bất kỳ văn hóa nào, quần chúng cũng thích hóm hỉnh, trào lộng, tiếu lâm. Đặc tính đó phát biểu tràn đầy trong tục ngữ. Ở Pháp, hồi thế kỷ XVII, César Oudin, trong Les Curiosités Francaises (1640), đã phân loại tục ngữ theo thứ lớp như sau: familières, vulgaires, basses, triviales (trêu chọc, tầm phào, hạ tiện, thô bỉ). Trong sách này, bốn loại đó không thiếu. Cùng với những chấp tay cung kính, những tiến cười bốn loại này vẽ ra hình ảnh của Phật giáo trong dân gian sung kính từ bi, nhân quả, nghiệp báo, nhân duyên, hiếu hạnh trong đạo Phật. Và nhân gian đòi tôn trọng chữ giới. Không đặt chữ giới lên hàng đầu, hãy cúi đầu gánh chịu tiếng cười, kể cả tiếng cười độc, của nhân gian. Hãy quán tiếng cười đó, biết ơn những người đã cười độc, và trải lòng từ bi đến với họ.

Tôi rất hân hạnh được Thượng Tọa Trung Hậu cho cái phước viết mấy dòng này ở đầu sách. Sự kính trọng và tình cảm thân mật lâu đời của tôi đối với Thượng Tọa cho phép tôi cũng cười một tiếng với tác giả qua hai câu chuyện thiền.
Câu chuyện thứ nhất, tôi nghĩ là chuyện thiền nhưng quá phổ thông trong quần chúng đến nỗi đã thành ra chuyện ngụ ngôn mà thế hệ của tôi đã học từ lớp ba trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một chú bé thọc tay vào hũ kẹo, bốc cả một nắm kẹo, rút tay không ra. Nhưng nếu Thượng Tọa cho một chiếc kẹo để có thể rút tay ra dễ dàng thì lại thương mấy chiếc kẹp kia quá trong nắm tay.
Chuyện thứ hai là chuyện gió thổi. Mùa hè nóng bức, sư phụ ngồi quạt phe phẩy.
Chú tiểu lại gần, thưa: “Bach Thầy, bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, còn gió thì chỗ nào cũng thổi cả. Bach Thầy, tại sao Thầy phải dùng quạt? Tại sao Thầy phải tạo ra gió?
Chú tiểu thông thái quá, như những bậc thông thái.

Sư phụ đáp: “Chú chỉ biết rằng bản chất của không khí là hiện diện cùng khắp, nhưng chú không biết tại sao chỗ nào cũng có gió thổi.”
Chú tiểu hỏi lại: “Bach Thầy, Thầy nói “không có chỗ nào mà không có gió thổi”, như vậy là nghĩa làm sao?”

Sư phụ không nói gì nữa, im lặng tiếp tục phe phẩy. Chú tiểu cúi đầu, chấp tai vái rồi bước ra.

Thượng Tọa Trung Hậu ngồi phạt phe phẩy. Chỗ nào mà không có làn gió Phật giáo?
Phật lịch 2545
Tân Tỵ 2001
Gs. Cao Huy Thuần. (Paris)

Hà Phương Hoài  
#11 Posted : Monday, October 19, 2009 1:20:55 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,214
Location: USA

Thanks: 74 times
Was thanked: 62 time(s) in 41 post(s)
quote:
Originally posted by langthang09

Mến gửi anh Hà Phương Hoài,

Từ website Ca Dao Tục Ngữ http://e-cadao.com/lehoi/bac/fb_lichlehoixubac.htm do anh chủ trương , LT rất ngưỡng mộ anh cùng ban biên tập đã công phu thiết kế, sưu tầm có thể nói hầu như đầy đủ bài vở, tiết mục giúp độc giả tham khảo thêm được nhiều về tình tự dân tộc qua Ca Dao Tục Ngữ .

Thân tình,
LT



Kính anh LT
Chân thành cám ơn lời khen của anh
Trang e-cadao.com được thai nghén cũng khá lâu nhưng mãi đến 2003 mới thực sự đăng đàn. Vì Thư khố (databases) đòi hỏi chút kỹ thuật và kinh nghiệm cho nên chưa có người tiếp tay. Nếu được thêm trợ thủ đi tìm ca dao và đưa vào thư khố, thanh lọc cho khỏi trùng và phân loại theo chủ đề thì trang sẽ sớm hoàn tất; để bước sang giai đoạn kế tiếp là viết bài dẫn giải, phân tích Ca Dao. Mong anh nhín chút thì giờ tiếp tay cho
Kính
hph
langthang09  
#12 Posted : Monday, October 19, 2009 1:21:08 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)

- Sắc thân hiếu dưỡng ân cần,
Đâu quên gió đạo tinh thần mẹ cha.


- Song thân đâu phải một đời,
Vậy nên thương cả muôn loài mới hay.


• Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

• Muốn sang thi bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phai yêu lấy thầy

Hà Phương Hoài  
#13 Posted : Monday, October 19, 2009 5:55:50 PM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,214
Location: USA

Thanks: 74 times
Was thanked: 62 time(s) in 41 post(s)
quote:
Originally posted by langthang09

- Sắc thân hiếu dưỡng ân cần,
Đâu quên gió đạo tinh thần mẹ cha.


- Song thân đâu phải một đời,
Vậy nên thương cả muôn loài mới hay.


• Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

• Muốn sang thi bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phai yêu lấy thầy




Hai câu trên là hai câu về đạo hiếu tuy nhiên thiếu chất ca dao, mang một chút hơi hưởng bác học nếu tôi đoán không sai thì được trích ra từ Ca Dao Tuc Ngữ Phật Giáo Việt Nam.

Hai Câu chót đúng là ca dao đại chúng:

Câu ba Nực cười châu chấu đá xe Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng
thì nói đến thời đại huy hoàng của lịch sử: Lý Thường Kiệt, phá Tống Bình Chiêm. Câu ca dao ví quân dân ta yếu lực chỉ bằng lực con châu chấu mà dám đá xe Đại Tống và Quân ta dưới tài lãnh đạo của Lý Thường Kiệt đã đánh thắng tới Ung Châu, trong nội địa trung Hoa v.v.

Câu bốn: Muốn sang thi bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy


Câu này đã gây nhiều tranh luận vì Cầu là chữ nôm mà Kiều là chữ Hán hai chữ đều có nghĩa là cầu .

Theo tiếng Việt cổ thì kiều là cái yên ngựa thí dụ:
Ngựa ô anh thắng kiều vàng
Anh tra khớp bạc anh đón nàng về dinh

Hoặc:

Sông sâu ngựa lội ngập kiều
Dẫu anh có phụ còn nhiều nơi thương

vậy cầu kiều ở đây không viết hoa và (nếu không phải vì lỗi đả tự) thì chữ "thi" phải đổi ra thành chữ "thì" và cầu kiều là cái cầu cong có mái như các cầu đi qua những cái hào xung quanh nhà các quý tộc:

UserPostedImage
cầu kiều ở Trung Hoa
Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

Ý của câu ca dao này chỉ chú trọng đến ý nghĩa của vế 2 còn vế đâu có sai lạc chút ít cũng khôn làm giảm gía trị ý nghĩa của câu ca dao có tính cách khuyến học
Y toàn câu là: Muốn ở nhà cao cửa rộng có cầu mái cong thì phải lo học

Thêm vài câu ca dao khuyến học:
Ăn vóc học hay

Dốt đế đâu học lâu cũng biết

Học thày không tày học bạn

Người không học như ngọc không mài

Ngọc bất trác bất thành khí
Nhân bất học bất tri lý

Một kho tàng (vàng) không bằng một nang chữ

Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học

Ông bảy mươi học ông bảy mốt

Không thày đố mày làm nên
v.v.

hph
hongvulannhi  
#14 Posted : Monday, October 19, 2009 11:49:53 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,671

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4388 time(s) in 2732 post(s)
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.


* Cám ơn anh hph đã cho LN được đọc một bài phân tích ca dao sâu sắc.
HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Linh Phuong  
#15 Posted : Tuesday, October 20, 2009 5:49:26 AM(UTC)
Linh Phuong

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 2,357

Làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.

Tu đâu cho bằng tu nhà Thờ cha, kính mẹ cũng là đi tu.
langthang09  
#16 Posted : Tuesday, October 20, 2009 7:33:59 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
Anh HPH nói rất đúng hai câu đầu bắt nguồn từ giáo lý nhà Phật nhắc nhở chúng sinh trong đời .hiếu đạo luôn luôn phải ghi nhớ giữ gìn .

Riêng câu thứ hai;

“Song thân đâu phải một đời,
Vậy nên thương cả muôn loài mới hay.”
đi sâu vào chữ hiếu với ý nghĩa rông rãi ..đó là 1 trong 10 điều giảng dạy của Phổ Hiền Bồ Tát: “Vậy nên thương cả muôn loài mới hay” điểm này xuất xứ từ Phật học nói đến nghiêp quả với sự luân hồi tái sanh .
Câu chót LT đồng ý với anh cầu kiều :” cầu kiều là cái cầu cong có mái như các cầu đi qua những cái hào xung quanh nhà các quý tộc

LT rất thich được đọc những phân tích bình giảng từng câu ca dao của anh HPH đã đi sâu vào xuất xứ của từ ngữ dùng trong ca dao ,từ đó đưa đến được ý nghĩa chính xác và LT cũng học hỏi sâu thêm về tục ngữ ca dao .

Cám ơn anh HPH nhiều nha Smile

Thân mến,
LT
langthang09  
#17 Posted : Tuesday, October 20, 2009 7:35:38 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)

Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

Ớt nào mà ớt chẳng cay
Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng

Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
langthang09  
#18 Posted : Tuesday, October 20, 2009 7:47:20 AM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)
Nói Về Miền Nam
NHẬN XÉT VỀ CA DAO HẬU GIANG

Trong số những Ca dao xuất xứ từ miền Hậu Giang, có lẽ lọai “sấm vãn” là xưa nhất. Không đi sâu vào nội dung, chúng ta chỉ ghi nhận vài điểm: Vãn là bài thơ, văn vần. Sách xưa nêu rõ thí dụ: Nhị độ Mai, Văn (Les pruniers refleuris, poeme tonkinois). Bản in địa phận Sài Gòn 1894, hoặc hựu việt, Văn viết trong tuồng hát bội. Vì lối phát âm không rõ rệt của người miền Nam nên Vãn bị lầm là Giảng và Sấm Giảng nghĩa là một bổn băn vần truyền tiên đóan thiên cơ, giảng giải đạo lý.

Vài đọan thơ gọn gàng dưới đây đủ chứng tỏ mức diễn đạt của vài tu sĩ hồi đầu thế kỷ thứ XX:

Hai Võ phân nói thiệt thà:
“Kinh kệ áo dà, để lại chốn đây
E khi đi có gặp Tây,
Nó coi thấy đặng, sắp bây không còn”.
Tính thôi đã một buổi tròn,
Xuống thuyền ra biển, hởi còn canh hai!
(Vãn núi Tà Lơn của ông Cử Đa)

Hư nên các việc tỏ bày
Tôi không có ép có nài chi ai.
Thương thay ông lão Bán Khoai.
Lên non xuống núi hôm mai dạy đời.
Thân sao nay đổi mai dời.
Xóm kia làng nọ, khổ thay thân già!
Nam mô đức Phật Di Đà
Khiến người trở lại thảo gia của người .
Bạc bảy đâu sánh vàng mười.
Hiền lương đâu xứng với người hung hăng.
(Vãn ông Sư Vãi Bán Khoai)

Nhưng vì các lọai thơ truyền khẩu kể trên vì quá mang nặng tâm lý địa phương nên thiếu tánh chất phẩ biến. Vùng Hà Tiên, Châu Đốc vốn là một biên trấn với nền kinh tế nông nghiệp tự túc. Từ xưa, kiều bào Việt Nam đã khai thác tận vùng biên giới Kampot, núi Tà Lơn (chaine de l’Eléphant). Lúc ban sơ, Mạc Cửu đến miền duyên hải vịnh Xiêm La với hòai bão bài Mãn phục Minh.

Năm 1878, sử chép việc Hà Hỉ Văn thuộc Thiên Địa Hội đem đòan Tàu Ô đến qui phục chúa Nguyễn Ánh ở đảo Cổ Cốt. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều đạo sĩ Việt Nam cố gắng biến chuyển khẩu hiệu “bài Mãn phục Minh” trở thành lý luận chống thực dân Pháp. Họ phát triển và áp dụng các quan điểm về phong thủy vào vùng Thất Sơn, Cửu Long, dùng những danh từ: Hớn Chúa, Minh Chúa v.v. . .
* *
*
Bên cạnh những ẩn sĩ, còn nhiều khách tục, những kiều bào tha phương cầu thực. Vào khỏang 1916, họ nhắn vọng về cố quốc:

Tà Lơn xứ rày con tạm ở
Nghiệp lưới chài nhiều tháng náu nương
Gởi thơ cho cha mẹ tỏ tường.
Cùng huynh đệ cho hãn ý
Kể từ con đăng trình vạn lý
Đến bây giờ có bảy tháng dư
Nghiêng mình nằm nhớ tới mẫu từ
Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt.
. .
Vận bất tề nay trẻ nổi trôi
Thời bất đạt nên con xa xứ
Con cũng biết mười ơn vẹn giữ
Dạ lâm bền ba thảo ghi lòng
Câu tam niên nhủ bộ bất vong
Nghĩa thập ngoại lòng con lo trả
Khó vì nỗi anh thì một ngả
Cực lòng thay em ở một nơi
Bảy ngày Xuân con chịu tả tơi
Ba bữ Tết khoanh tay ngồi ngó
. . .
Việc ở ăn nhiều nỗi đắng cay
Vái Trời phật xin về quê cũ
Xứ hiểm địa, chim kêu vượn hú
Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan
Ngó dưới sông: cá mập lội dư ngàn . .
Nay con tới nơi nguồn cao nước đục
Lọai thú cầm nhiều thứ chỉnh ghê!
Giống chằng tinh lai vãng dựa bên hè
Con gấu ngựa tới lui gần xó vách
. . Bầy chồn cáo đua nhau lúc ngúc
Lũ heo rừng chạy giỡn bát lọan thiên . .
. . .Trên chót vót, nai đi nối gót
đôi vượn bạch nựng con thảnh thót
Cặp dã nhơn kếu tiếng rảnh rang
Ngó sau lưng: con kỳ lân mặt tợ như vàng
Nhìn trứơc mặt: ông voi đen huyền tợ thổ.
Hướng đông Bắc, con công kêu tố hộ.
Cỏi Tây Nam, gà rừng gáy ó o . .

Còn nhiều câu khác vừa tả chân vừa hài hước; đọc bài văn Tà Lơn, hẳn thân nhân của thi sĩ vô danh nọ cũng mỉm cười, được an ủi phần nào. Ác thú ở Ta Lơn tuy nhiều thứ những thi sĩ vẫn sống nhăn như người đi du ngọan ở Thảo Cầm viên, ngày xuân.
**
*
Ngòai miền đồi núi An Giang, ở Hậu Giang còn một miền địa lý thứ nhì ăn suốt bờ biển Kiên Giang, phần lớn Ba Xuyên và tòan tỉnh An Xuyên. Nơi đây, đất quá thấp vì mới bồi, các rạch nhỏ bắt nguồn từ biền để theo thủy triều đổ vào đồng sình lầy. Dưới sự đốc suất của Thọai Ngọc Hầu, kinh Vĩnh Tế và kinh Núi Sập (Thọai Hà) đã hoàn thành từ đầu thế kỷ XIX, dẫn nước ngọt từ Hậu Giang đem tưới các ruộng vườn xa lánh, vừa rửa cho đất sạch phèn, vừa giúp việc lưu thông vận tải. Bài vè kinh Vĩnh Tế nói lên công trình khó nhọc của tiền nhân đã phục dịch giữa nơi khí hậu bất lợi. từ làng quê đến chỗ đào kinh, họ phải qua nhiều vùng nguy hiểm để làm mồi cho sấu cọp. Rất tiếc là bài vè ấy mới sáng tác lúc sau nên giá trị về sử liệu còn quá kém cỏi.

Đáng chú ý hơn hết là việc đào kinh bằng phương tiện cơ giới :phối hợp kỹ thuật cơ giới Tây Phương và đức kiên nhẫn, siêng năng của người Việt” hồi đầu thế kỷ thứ XX

Kinh Xà No (Phong Dinh) khởi công đào năm 1901, hòan tất năm 1903.
Hệ thống kinh Xáng Ngã Năm, Ngã Bảy (Phong Dinh) thành hình từ 1906-1908.

Nhờ vậy tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh ) đứng hạng nhứt ở toàn Nam Kỳ về sản xuất lúa gạo. Lúa gạo bán tăng giá. Mức sống của mọi từng lớp lên cao. Những người dân hai Huyện (trai Nhơn Ái, gái Long Xuyên) bấy lâu nổi tiếng là người dinh (dân sang trọng, chánh gốc, ở vùng dinh quan chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh) gặp cơ hội thuận lợi để di cư khắp vùng mới đào kinh Xáng để làm thầy dạy hò hát.

- Đời phải đời thạnh trị
Cuộc phải cuộc văn minh
Kìa là gió mát trăng thanh
Nầy bớ em ơi! Biết đâu nhân đạo bày tình cho vui . .
- Nước bích non xanh
Người bạn lành khó kiếm
Đây em cũng có hiếm, chẳng lựa đặng chỗ nào
Mãn lo mua bán ra vào Cần thơ . .

Đa số các thầy vốn là đào kép hát bội, giải nghệ - được học trò rước đem về nhà để dạy hò – dạy ăn tiền.
Trong ngôn ngữ bình dân, không nghe nói đến danh từ ca dao. Căn cứ vào nạhc điệu, trường hợp xử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê tình, hát đối, hò chèo ghe, hò xay lúa, hò cấy.
Câu hát đưa em:

- Chờ em cho mãn kiếp chờ
Chờ cho rau muống vượt lên bờ trổ bông.
Có thể đưa ra đồng lúa, trên sông rạch để trở thành câu đối hát. Và khi gặp người đáp lại khéo léo:
- Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ
Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn.
Thì cả hai vế được gìn giữ đem về nhà trở thành câu hát đưa em.
Xu hướng “kéo dài, bổ túc các câu sẵn có” đã tạo thêm được nhiều câu hát đưa em đáng lưu ý:
- Bớ chiếc ghe sau, chèo mau anh đợi
Kẻo giông khói đèn bờ bụi tối tăm
- Bờ bụi tối tăm, anh quơ nhằm cái tộ bể
Cưới vợ có chử về thổi lửa queo râu.
Hoặc:
Khế với chanh một lòng chua xót
Mật với gừng một ngọt một cay
- Ra về bỏ áo lại đây
Để khuya em đắp gió tây lạnh lùng
- Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp
Trả áo cho anh về đi học kẻo trưa.

Người thọ giáo không cần học vỡ lòng về luật bằng trắc, yêu vận, cước vận vì ai nấy đã từng thở không khí lục bát và các biến thể của lọai thơ ấy từ khi nằm trên võng.
Theo quan niệm các thầy thì câu hát đối đối chia ra ba loai, từ sở trường, sở đoản từng người mà áp dụng.
1. HÒ VĂN dùng cách ngôn Khổng Mạnh (trích trong Minh Tâm Bửu giám, để gợi hứng, gieo vần:

Vật bạc tình bất thủ
Nhơn phi nghĩa bất giao
Anh nguyền thưởng bậu một dao
Răn phường lòng dạ mận đào lố lăng . .
Hoặc:
Tay cầm quyển sách Minh Tâm anh đọc:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo.
Cao phi viễn tấu khả nan tàng
Từ khi anh xa cách con bạn vàng
Cơm ăn chẳng được như con chim phụng hòang bị tên.
2. HÒ TRUYỆN dùng điển tích trong truyện Tàu để gợi hứng gieo vần hoặc nêu câu hỏi:

Văng vẳng bên tai
Tiếng ai như tiếng con Điêu Thuyền?
Anh đây Lữ Bố kết nguyền thuở xưa
- Từ trên trời xuống mặt nước mấy trăm ngàn thước
Từ mặt nước xuống âm phủ đi mấy ngày đường?
Một bộ Tây Du mấy cuốn?
Mộ cuốn mấy trang
Một trang mấy hàng chữ?
Nói cho có ngăn có ngũ, gái má đào mới chịu thua!
- Đó ở dưới thuyền buôn,
Thả luông tuồng theo nhịp?
Có phải là: Ngũ Hồ ký tính Đào Công vi nghiệp
Tứ hải ngoa du Yến Tử phòng
Linh đinh nay lớn mai ròng
Vậy đà có chốn loan phòng hay chưa?
3. HÒ MÉP : dùng lời lẽ nôm na, không điển tích, không cách ngôn:

Đèn tọa đăng để tước bàn thờ
Vặn lên nó tỏ, vặn xuống nó lờ
Xuống sông hỏi cá, lên bờ hỏi chim
Trách ai làm cho thế nọ xa tiềm Em xa người nghĩa mà nằm điềm chiêm bao.

Lúc đầu, lọai hò văn và hò truyện được ưa chuộng. Truyện Tây Du, Phong Thần, Tiền Đừng, Hậu Tống, sách Minh Tâm Bửu Giám lần lần xây dựng cho mọi người một vốn liếng về cổ học, nhân bản của Á Đông. Việc phổ biến ấy ngày càng thêm sâu rộng nhờ mức sống của nông dân và tiểu thương lên cao, nhờ phương tiện chữ quốc ngữ. Bắtđầu ấn hành từ đầu thế kỷ XX tại Sài Gòn; các bản dịch ấy phải đợi non 30 năm sau mới thấm vào giới trung lưu và bình dân ở thôn quê Hậu Giang – như thể kể cũng nhanh chóng.
Sơn Nam
Hà Phương Hoài  
#19 Posted : Tuesday, October 20, 2009 9:20:48 AM(UTC)
Hà Phương Hoài

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/14/2011(UTC)
Posts: 1,214
Location: USA

Thanks: 74 times
Was thanked: 62 time(s) in 41 post(s)
quote:
Originally posted by langthang09
Nói Về Miền Nam
NHẬN XÉT VỀ CA DAO HẬU GIANG

Trong số những Ca dao xuất xứ từ miền Hậu Giang, có lẽ lọai “sấm vãn” là xưa nhất. Không đi sâu vào nội dung, chúng ta chỉ ghi nhận vài điểm: Vãn là bài thơ, văn vần. Sách xưa nêu rõ thí dụ: Nhị độ Mai, Văn (Les pruniers refleuris, poeme tonkinois). Bản in địa phận Sài Gòn 1894, hoặc hựu việt, Văn viết trong tuồng hát bội. Vì lối phát âm không rõ rệt của người miền Nam nên Vãn bị lầm là Giảng và Sấm Giảng nghĩa là một bổn băn vần truyền tiên đóan thiên cơ, giảng giải đạo lý.

........................ Sơn Nam



Theo Nhà Văn Sơn Nam thì Ca Dao Hậu Giang mang những nét đặc thù mà nơi khác không có. Bài Nhận xét này giúp cho chúng ta có một cái nhìn khác khi nghiên cứu ca dao tục ngữ của mỗi miền mỗi tỉnh. Từ trước tới nay ta thường cứ nghe một người địa phương đọc lên là ta cứ cho vào ca da tục ngữ của vùng đó. Điều nầy cũng đúng vì khi Nam tiến ta đã mang theo giá trị văn hóa theo tới miền đất mới thí dụ như bài: Tát Nước Đầu Đình

Tát nước đầu đình

Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà.
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp cho một thúng sôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Thêm Một Dị Bản Bài Ca Dao: “Tát Nước Đầu Đình”


Lê Nhật Ký (ĐHSP Qui Nhơn)
(Trích từ Kiến Thức Ngày Nay số 146 năm 1994)

Tát nước đầu đình là một bài Ca Dao nổi tiếng của nền văn học dân gian Việt Nam, đã được lưu truyền rộng rãi ở hầu khắp mọi làng quê. Quá trình lưu truyền đó đã làm xuất hiện một số dị bản. Mới đây trong chuyến đi thực tế ở Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên), chúng tôi đã sưu tầm được một bản Tát Nước Đầu Đình, xin được giới thiệu cùng độc giả:
“Áo anh rách lỗ bàn sàng
Cậy nàng mua vải vá quàng cho anh
Vá rồi anh trả tiền công
Đến lúc lấy chồng anh giúp của cho:
Giúp cho một quả xôi vò,
Một con heo béo, một vò rượu tǎm.
Giúp cho chiếc chiếu nàng nằm,
Đôi áo nàng bận đôi vòng nàng đeo.
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đèo bông tai
Giúp cho một rổ lá gai
Một cân nghệ bột với hai tô mè
Giúp cho năm bảy lạng chè
Cái ấm sắc thuốc cái bồ (ghè?) đựng than
Giúp cho đứa nữa nuôi nàng
Mai ngày trọn tháng cho chàng tới lui…”

Điều dễ dàng nhận thấy bài ca dao nói trên có những dấu hiệu gần gũi với bài Tát Nước Đầu Đình (Bản hiện hành do Vũ Ngọc Phan sưu tầm và giới thiệu). Biểu hiện rõ nhất là nội dung cảm hứng và kết cấu bài ca. Cả hai đều là ca dao tình yêu, xây dựng lời tỏ tình của chàng trai trên nền kết cấu “áo rách – nhờ khâu (vá) – trả công” Điểm giống nhau nầy rất căn bản cho ta xác lập mối liên hệ mật thiết giữa bài ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ với bài ca dao Đồng Xuân. Chắc chắn trong quá trình mở rộng địa bàn tồn tại bài ca dao Tát Nước Đầu Đình đã được người dân Đồng Xuân tiếp nhận trên tinh thần địa phương hóa . Và do vậy bên cạnh việc giữ lại nét căn bản của bài ca, người dân Đồng Xuân đã có những sang tạo nhất định khiến cho bài ca có những điểm tương đồng (như vừa nêu) vừa có những dị biệt. Theo chúng tôi, sự khác nhau giữa hai bài ca thể hiện ở ba điểm sau:

Thứ nhất, bài ca dao Đồng Xuân không dùng lối nói đưa đẩy, bóng gió như ta đã thấy ở bài Tát Nước Đầu Đình điều nầy có lý do của nó: người dân miền Trung vốn “ăn ngay nói thẳng”, không thích loanh quanh, vòng vèo. Lối đặt vấn đề trực tiếp là nguyên nhân dẫn tới việc lược bỏ 6 câu đầu. Do đó câu 1 của bài ca dao Đồng Xuân tương đương với câu 7 bài “ttđ”

Thứ hai, bài ca dao Đồng Xuân không chỉ đề cập tới nội dung “giúp của” phục vụ cho hôn lễ mà còn chú ý đến những việc làm sau hôn nhân. Sáu câu cuối bài mang một nội dung hoàn tòn mới so với bài Tát Nước Đầu Đình. Ở đây việc mở rộng kết cấu có tác dụng nâng giá trị bài ca lên một bước mới, giúp người đọc có một sự nhìn đầy đủ về tính cách chủ thể trữ tình: thẳng thắn và chu đáo.

Thứ ba, bài ca dao Đồng Xuân cũng có những điểm khác biệt so với bản Tát Nước Đầu Đình về mặt ngôn ngữ và chi tiết. Chẳng hạn, bản Đồng Xuân không nói “lợn” mà nói “heo” không nói “khâu” mà nói vá, không nói “giúp đôi chăn” mà nói “giúp đôi áo” … Điều nầy do sự quy định của phương ngữ và điều kiện tự nhiên – sinh hoạt của mỗi vùng đất

Những khác biệt nói trên giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường màu sắc địa phương cho bài ca. Ở đây có thể nói, quá trình hình thành dị bản Tát Nước Đầu Đình diễn ra theo con đường địa phương . Nhờ vậy, trên nền cảm hứng chung, những dị bản phản ảnh được nếp cảm, nếp nghĩ của con người từng vùng đất khác nhau

Cũng xin nói thêm, bài ca dao Đồng Xuân có sự gần gũi hơn so với bài ca dao phát hiện ở Bình Định năm 1986:

Tát Nước Đầu Đình (Bản Bình Định)

Áo anh đã rách hai tay
Cậy nàng so chỉ và may cho cùng
Vá rồi anh trả tiền công
Mai mốt lấy chồng anh giúp của cho
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đeo mâm chè
Giúp cho nửa dạ hột mè
Nửa ang tiêu sọ, nửa ghè muối khô
Giúp cho cái ấm cái ô
Cái niêu sắc thuốc cái bồ đựng than
Anh giúp cho một đứa nuôi nàng
Lâu ngày chẵn tháng rồi chàng tới thăm…”

Biểu hiện rõ nhất là ở cách tổ chức kết cấu bài ca. Điều nầy cũng dễ hiểu vì Bình Định và Phú Yên cùng chung một vùng văn hóa - địa lý, con người vì thế có những tương đồng. Rất có thể, bản Đồng Xuân chính đã được tạo ra trên cơ sở bản Bình Định

Bài viết chỉ nhằm mục đích giới thiệu một dị bản mới của Tát Nước Đầu Đình. Người viết không đặt nhiệm vụ phân tích kỹ và sâu . Ở đây chỉ xin được nhấn mạnh : Những tác phẩm dân gian có giá trị bao giờ cũng mở ra được những chân trời sáng tạo mới.


Nhưng có nhiều câu chỉ có giá trị cho miền gốc mà không phản ảnh chút nào cho địa phương mới thì không thể coi là của nơi mới này được. Bài Tát Nước Đầu Đình là một bài tuyệt tác nhưng khi đi theo người đến Bình Định cũng phải đổi rất nhiều để hợp với thổ sản cũng như phong tục để mặc lên một chiếc áo mới.
* Những tác phẩm dân gian có giá trị bao giờ cũng mở ra được những chân trời sáng tạo mới.
Những nét đặc thù như Ca Dao tục ngữ Hậu giang sẽ luôn luôn là của Hậu Giang

Hph
Yeu Ca Dao  
#20 Posted : Tuesday, October 20, 2009 10:09:18 AM(UTC)
Yeu Ca Dao

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/28/2011(UTC)
Posts: 25

quote:
Originally posted by hongvulannhi
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.


* Cám ơn anh hph đã cho LN được đọc một bài phân tích ca dao sâu sắc.
HONG VU LAN NHI


Thấy Chị Hồng Vũ Lan Nhi rủ nhau đi mò cua dưới biển để rồi đem nấu với mơ chua trên rừng. Phải chăng chị muốn gợi lại thông điệp Tiên và Rồng. Yêu Ca Dao (ycd) xin rủ nhau thêm ít chục câu nữa:

Con cò đi ăn mắc giò mà chết
Bìm bịp ở nhà mua nếp làm chay.
Cu cu gõ mõ ba ngày,
Chốc mào đội mũ, mang giày đọc văn.
Le le, vịt nước lăng xăng
Rủ nhau đi tới bịt khăn cho cò.
* Xuất xứ: - Miền Trung

Con cò bay lả bay la
Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng
Suốt mình trắng nõn như bông
Gió xuân thỉnh thỏang bợp lông trên đầu
Hỏi cò vội vã đi đâu
Xung quanh mặt nước một mầu bao la
Cò tôi bay lả bay la
Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng
Cha mẹ sinh đẻ tay không
Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi
Trước là nuôi cái thân tôi
Sau nuôi đàn trẻ nên đời cò con.
Một mai khôn lớn vuông tròn
Rủ nhau bay khắp nước non xa gần
Kiếm mồi tự lập lấy thân
Vẻ vang hãnh diện cho dân con cò
Mỗi ngày một lớn một to
Chớ đừng ỷ lại mà lo cậy người
Để cho nông vạc chê cười
Ấy tôi lấy thế làm vui tuổi già
Nên tôi bay lả bay la
Bay từ cửa tổ bay ra cánh đồng
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Dù ai bốc thuốc nơi đâu
Tháng giêng mười tám rủ nhau mà về.
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày lễ hội thì về quê hương
* Xuất xứ: - Hà Nội

Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Dù em mặt ủ dàu dàu
Họ hàng thân thích rủ nhau mà nhìn
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Kể chi trời rét đồng sâu
Có chồng có vợ rủ nhau cày bừa
Bây giờ trời đã hồ trưa
Chồng vác lấy bừa, vợ dắt lấy trâu
Một đoàn chồng trước vợ sau
Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng.
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Năm Quý Dậu, tàu vào vừa tới
Người Bắc Kỳ rằng mới biết Tây
Rủ nhau xem sóc thâu ngày
Đem quân về đóng ở rày Trường Thi
Tờ niêm yết Ngạc-nhe An-nghiệp
“Đường giao thông tiến tiếp lại qua
Xa nghe đồn tỉnh Bắc Hà
Giặc Tàu quấy rối vậy mà đến đây”
Các quan tỉnh nghi nghi hoặc hoặc
Những bàn riêng rằng “giặc bên chân”
Tháng mười, mồng một, giờ dần
Ầm ầm hạ tỉnh là lần ngày xưa
Khi ấy có Khâm thừa quan Nguyễn
Cha con đều ngộ biến thất cơ
Phò Lâm mắc cạn bây giờ
Cha già tuyệt thực còn chờ quyên sinh
Các quan sau quyết tình lên thứ
Ông thamTôn tức sự khởi hành
Đem quân về đóng Diễn, Canh
Nhơn nhơn thu phục tỉnh thành về ta.
Chốn Thăng Long thật là thượng đẳng
Xui tướng Tây quyết thắng tiến truy
Thất cơ phải chú Hắc Kỳ
Ngoài ô, một trận, Ngạc-nhe qua đời
Khách các hiệu rụng rời nhao nhác
Dọn vần tay đồ đạt xuống tàu
Giữa dòng chiếc trước, chiếc sau
Ra ngoài Ninh Hải để hầu về Nam
Quan thừa thắng, điên bàn tướng sĩ
Bất thình lình có chỉ Kinh ra
Chuộc thành mà lại giảng hòa
Định, An, Ninh Hải tới Hà Nội đây
Quan Hoàng thống nghe rày bứt rứt
Lưu Hắc Kỳ kéo phứt lên Ngâu.
Phá ngang việc ấy bởi đâu
Nhà công xế bóng, cửa chầu lỏng then.
Sai quan Nguyễn VănTường chánh sứ
Hoắc-đạo-sinh thủ thứ là đây
Quan Nam với lại quan Tây
Sửa sang khi ấy dân rày được yên
Việc thanh khoản chi truyền về bộ
Quan Nguyễn Tường thăng Hộ thượng thư
Qua năm Giáp Tuất, tháng tư
Thấy quan Nguyễn Chánh phụng từ kinh ra
Điều niêm yết mới hòa ước đó
Gẫm kỹ xem có khó nghe thay!
Non sông cao rộng thế này
Nào người trí dũng, nào tay anh hùng?
Quan Tăng Doãn rằng: - Vâng thánh chỉ
Tỉnh Hải Dương lĩnh ý phải ra”
Quan tư với lại quan ba
Tìm nơi Hà Nội lập tòa Tràng Tây
Thấy phố xá người đầy, đất hẹp
Nhà thứ dân rộn rịp chỉn khôn
Thênh thênh sẵn chốn Thủy Đồn
Làm tòa ở cạnh ô môn Trường Tiền
Khai Thương chánh, thu biên thuế thủy
Cùng quan ta quản lý thâu chung
Rồi sau mới lập ngoài sông
Nhà cao ngất ngưởng bên sông Nhị Hà…
* (Francis Garnier) Xuất xứ: - Hà Nội

Nửa đêm sao sáng mây cao
Điềm trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai!
Ruộng khô nước cạn ai ơi
Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu
Đêm âm u, trăng sao không tỏ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi,
Đêm nào sao sáng rực trời,
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày
Những ai chăm lo cấy cày
Điềm trời coi đó, liệu xoay việc làm.
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Nghe ve nghe vẻ nghe vè trái cây,
Dây ở trên mây là trái đậu rồng,
Có vợ có chồng là trái đu đủ,
Chặt ra nhiều mủ là trái mít ướt.
Hình tựa gà xước vốn thiệt trái thơm.
Cái đầu chôm bôm là trái bắp nấu,
Rủ nhau làm xấu trái cà dái dê ,
Ngứa mà gãi mê là trái mắt mèo,
Khoanh tay lo nghèo là trái bần ổi.
Sông sâu chàng lội là trái mảng cầu,
Chẳng thấy nàng dâu thật là trái cách.
Trong ruột ọc ạch vốn thiệt dừa xiêm,
Hễ chín thâm kim; chuối già, chuối sứ.
Tam tung tự tứ là trái dưa gan,
Vốn ở Miền Man là trái bí rợ,
Mẹ sai đi chợ vốn thiệt trái dâu
Ở những ao sâu là trái bông súng
Chằng nên lễ cúng vốn thiệt trái sung.
Nhỏ mà cay lung thiệt là ớt hiểm,
Đánh túc cầu liềm vốn thiệt trái me,
Nắng mà chẳng che là trái rau mát,
Rủ nhau chà xát vốn thiệt trái chanh,
Nhỏ mà làm anh, trái đào lộn hột,
Ăn mà chẳng lột vốn thiệt trái tiêu,
Thổi nghe ú liêu là trái cóc kèn,
Rủ nhau đi rèn là trái đậu rựa,
Đua nhau chọn lựa là trái dành dành,
Cam ngọt, cam sành, chuối già chuối sứ.
Nhưng chi lịch sự bằng táo với hồng
Những gái chưa chồng muốn ăn mua lấy.
* Xuất xứ: - Miền Nam

Ông đồng ông chổi
Trôi nổi mà lên
Ba về bốn bên
Nổi lên cho chóng
Nhược bằng cửa đóng
Phá ra mà vào
Cách chuôm cách ao
Cách ba bờ rào
Cũng vào cho được
Cách sông cách nước
Cũng bước mà sang
Cách đò cách giang
Cũng sang cho lọt
Cái roi von vót
Cũng vọt cho mau
Hàng trầu hàng cau
Là hàng cô ạ
Hàng rau hàng cá
Là hàng các bà
Hàng hương hàng hoa
Để mà cúng Phật
Hàng đường hàng mật
Hàng kẹo mạch nha
Nào bà hàng quế
Vừ đi vừ tế
Một lũ học trò
Người cầm quạt mo
Là vợ ông Chỗi
Trôi nổi mà lên
Ba bề bốn lên
Nổi lên cho chóng
Chuông kêu trống gióng
Cũng bước vào mà
Bước lên giường cao
Thấy gà mái ấp
Bước xuống giường thấp
Thấy con rồng chầu
Bước ra đàng sau
Thấy nhà mới lợp
Trâu ông còn buộc
Ngựa ông còn cầm
Ông sống một trăm
Mười lăm tuổi lẻ
Vợ ông sinh đẻ
Những con tốt lành
Như người trong tranh
Như người trong đối
Tôi ngồi tôi đối
Cho ông bà ngfhe
Vè vẻ vè ve
Bắt vè con ếch
Cổ ông xốc xếch
Như cổ ba ba
Mưa trận bằng hà
Rủ nhau đi cấy
Ông bà cấy trước
Chúng tôi cấy sau
Làm chóng cho mau
Đi về kẻo tối
Ông đồng ông chổi
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi bẻ dành dành
Dành dành không bẻ, bẻ cành mẫu đơn
Đôi ta như cá thờn bơn
Nằm trên bãi cát gặp cơn mưa rào
Đôi ta như ruộng năm sào
Cách bờ ở giữa làm sao cho liền.
Đôi ta như thể đồng tiền
Đồng sấp đồng ngửa đồng nghiêng đồng nằm.
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong.
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quýt con trong con ngoài
Đôi ta như thể con bài
Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu.
* Xuất xứ: - Miền Nam

Rủ nhau đi cấy xứ Đoài
Công lênh chẳng được, được vài mụn con
Đem về bế bế hôn hôn
Đánh tiếng ứ hự rằng con xứ Ðoài
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi cấy xứ Đông
Gọi là đi kiếm chút chồng mà thôi
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi cúng chùa Tiên
Cúng cam cúng quýt, cúng riêng ông thầy
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi dạo vườn cà,
Cà non chấm mắm, cà già làm dưa.
Làm dưa ba bữa thì chua,
Chị kia xách giỏ lại mua ba tiền.
* Xuất xứ: - Miền Nam

Rủ nhau đi học i o
Mỗi ngày một chữ, con bò cũng thông
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi tắm sông sau,
Áo đen che nắng quạt tàu che mưa.
* Xuất xứ: - Miền Nam

Rủ nhau đi tắm sông Sau, (sông Hậu)
Áo đen che nắng, quạt Tàu che mưa.
* Xuất xứ: - Miền Nam,

Rủ nhau bước xuống ruộng vàng
Nơi lộng tiếng hát nơi vang tiếng cười
Những trông lúa chín mà vui
Bông ngã bông cúi, bông thời gió lay
Lưỡi liềm bán nguyệt cầm tay
Lúa vàng nghìn gốc muôn cây thu về
Bõ khi mưa nắng dãi dề
Bõ công dậy sớm thức khuya bấy chầy
Trồng cây ăn quả có ngày
Đất kia đâu phụ công này mà lo
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Ðiếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Ðàn
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Giang, Hàng Ðồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Ðông
Hàng Hòm, Hàng Ðậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố, thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau làm phúc, chớ giục nhau đi kiện
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau lên hiệu cầm khăn
Cầm được đồng bạc, để dành cưới em.
Ba hào thì để mua tem
Tư giấy mời khắp anh em xa gần.
Trăm năm kết ngãi Châu Trần
Nhớ ngày kết ngãi giao loan với mình.
Hai họ ăn uống linh đình
Sơn Tây, Hà Nội đồn mình lấy tạ
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau lên miễu mà thề,
Bỏ quên hương khói lộn về tay không.
* Xuất xứ: - Miền Nam, Lục Tỉnh

Rủ nhau lên núi đốt than
Anh đi Tam Điệp em mang nón trình.
Củi than nhem nhuốc với tình (thân hình)
Ghi (Những) lời vàng đá xin mình chớ quên.
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau lên núi hái chè
Hái dăm ba lá, xuống khe ta ngồi
Ta ngồi thấy đám ốc nhồi
Thấy con ốc lội , ta lôi lên bờ
Lên ngàn hái nắm rau mơ
Ta trỏ lại bờ hái mớ rau răm
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau lên núi hái chè (2)
Hái năm ba ngọn xuống khe ta ngồi
Mặt trăng sánh với mặt trời
Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng (*)
Mình về có nhớ ta chăng
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời
* Sao Mai là sao mọc ở phương Đông khi gần sáng Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau lên núi hái chè (3)
Hái dăm ba mớ xuống khe ta ngồi
Ta ngồi cho ráo mồ hôi
Xuống sông tắm mát thảnh thơi ta về.
Ta về thăm quán thăm quê
Thăm chợ Bồ Đề, thăm giếng Ô Long
Bồ Đề họp chợ mồng mười
Trên đánh cờ người, dưới thổi cơm thi
Ba bốn năm nay anh dở việc gì
Để em bắt chạch, thổi cơm thi một mình.
* Xuất xứ: - Hà Nội

Rủ nhau lên núi Mũi Cày
Xem bàn cờ Thánh, xem cây ngô đồng.
* Xuất xứ: - Hà Nội

Rủ nhau lên núi mà thề
Gươm treo trước mặt, chữ đề sau lưng
* Xuất xứ: - Miền Trung

Rủ nhau mua nứa trên Trừm
Bơi qua bãi cát mới đem về nhà
Đem về mới đến bãi ta
Rỡ xong mới vác về nhà mới cưa
Mồ hôi lã chã như mưa
Cưa rồi mới thiến, thiến rồi mới pha
Ngồi rồi lại vót nan ra
Tính xem vốn lại được là bao nhiêu.
* Xuất xứ: - Hà Nội

Rủ nhau mua tép Trà Ô
Sẵn bờ cát trắng, phơi khô đem về .
* Đầm Trà Ô: Một trong ba đầm nước mặn lớn của Bình Định. Từ phía bắc vào có: Đầm Trà ô, đầm Đạm Thủy, đầm Thị Nại. Xuất xứ: - Miền Trung, Bình Định

Rủ nhau ra bẻ dành dành
Dành dành không bẻ, bẻ nhành mẫu đơn.
* Xuất xứ: - Miền Nam, Tiền Giang

Rủ nhau ra tắm hồ sen
Nước trong bóng mát hương chen cạnh mình.
Cứ chi vườn ngọc ao quỳnh
Thôn quê vẫn thú hữu tình xa nay
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên Tháp Bút chưa mòn
Hỡi ai xây dựng nên non nước này
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau xuống bể (biển) bắt cua (2)
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng.
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhaụ
* Xuất xứ: - Miền Nam, Bạc Liêu

Rủ nhau xuống bể mò cua (2)
Lên non bẻ củi, vào chùa nghe kinh
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về.
* Xuất xứ: - Hà Nội

Rủ nhau đánh cá Đồng Lầm
Cá kia chẳng được âm thầm lòng em
Rủ nhau đánh cá đồng Trèm
Cá kia chẳng được lòng em âm thầm.
* Xuất xứ: - Hà Nội

Rủ nhau đánh cá Đồng Lâm
Cá kia chẳng được, âm thầm lòng anh
Cây vàng lá rụng xung quanh
Lòng buồn chẳng biết ngọn cành vì đâu
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đánh cá Đồng Nai
Cá kia chẳng được một ngày đến trưa
Sầu em nước mắt như mưa
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Rủ nhau đi đánh bài chòi (Chín Rún)
Để cho con khóc đến lòi rún ra
* Bài Chòi Xuất xứ: - Miền Trung, Bình Định

Rủ nhau đi bắt le le
Nấu canh bông bí, nấu chè đỗ đen…
* Xuất xứ: - Miền Trung, Phú Yên,

Rủ nhau xuống biển bắt cua
Lên non hái trái (bắt nhạn), vô chùa nghe kinh
Thương chàng vô lượng, vô cân
Cầu không tay vịn cũng lần mà qua
* Xuất xứ: - Miền Trung

Rủ nhau xuống biển bắt cua,
Lên non bắt nhạn, lên chùa nghe kinh.
* Xuất xứ: - Miền Nam, Lục Tỉnh

Rủ nhau xuống biển bắt cua, (2)
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.
* Xuất xứ: - Miền Nam

Trời mưa cho ướt lá cau
Đôi ta be bé rủ nhau đi bừa.
Trời mưa cho ớt lá dừa
Đôi ta be bé đi bừa đồng trong.
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Trời mưa cho ướt lá cau (2)
Vợ chồng hí hửng rủ nhau đi bừa,
Bừa xong thì cũng là vừa
Gieo, mạ chuẩn bị cho mùa cấy chiêm
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Việc nhà nông tốn công tốn sức
Làm một mình biết lúc nào xong
Rủ nhau lập nhóm đổi công
Dẫu rằng lắm việc cũng không ngại gì!
Lúa con gái đang kỳ chăm bón
Bà con ta một xóm chung nhau
Đổi người làm cỏ cho mau
Để còn lấy đất trồng mầu nay mai
Một mình công việc kéo dài
Đổi công năng suất gấp hai người thường!
* Xuất xứ: - Đại Chúng

Trích từ http://e-cadao.com/cadaosearch.asp
Users browsing this topic
Guest (3)
70 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.