Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

31 Pages«<28293031>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Ngọc Anh  
#581 Posted : Tuesday, February 12, 2013 10:43:01 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,732

Thanks: 5069 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)

Mãi tới hôm nay NA mới thấy và đọc bài nầy ngoài trang Chào nhau thân ái ,
NA gánh dìa nhà mình để dành, để học và ráng hành trong năm Quý tỵ . Cám ơn anh NNT và tg.



Cuối năm con Rồng, NNT tui xin trình diện quí ACE nơi đây với nhiều lời chào thân ái.
Sáng nay dạo trên Net lượm được 1 bài viết (tôi thấy) hay nên mạo muội mang về dán lên đây mời quí ACE đọc, hy
vọng bài viết nầy giúp chúng ta chế ngự được 3 cái tham, sân, si ẩn núp trong con người chúng ta để không ai gây phiền muộn, đau khổ cho ai, mọi người sống an bình với nhau trong tình thân ái.


UserPostedImage


"TAM BÀNH LỤC TẶC" là gì?

UYÊN HẠNH
14.01.2013

Tam bành là ba vị hung thần Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự chia nhau ở trong óc, trán và bụng để giục người nóng tánh làm bậy. Nổi tam bành theo Tự Điển Việt Việt của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là cơn hung dữ phần nhiều thường dùng cho người đàn bà. Theo nghiên cứu và dẫn giải chúng ta có được suy luận rằng Tam Bành đúng thật là ”con cưng” của Tam Độc. Tam Độc là ”ba độc chất” tiên khởi có tác dụng ngấm ngầm và Tam Bành có tác động nổ tung. Lục Tặc là sáu tên cướp. Gọi là cướp vì có những hành động phá phách gây nguy hại.
Lục Tặc có thể cướp đi tính chất ôn nhu của một người đàn bà khiến họ trở thành hung dữ cực độ. Người phụ nữ dịu dàng một thuở biến mất. Khi Lục Tặc hiện nguyên hình, cái nhẹ nhàng trong bước chân đi, cái thơ mộng trong ánh mắt và cái nồng ấm trong nụ cười của người phụ nữ sẽ ”biến dạng” bằng đôi mắt trợn trừng long lên, lời nói chua cay ác nghiệt và hành động dữ tợn không tự chủ. Lục Tặc phá và cướp đi của con người trạng thái vui vẻ trầm tỉnh khả ái, để biến thành một người thành hung dữ. Khi Tam Bành nổi lên thì Lục Tặc đương nhiên đã xuất hiện. Hoặc có thể nói rằng, do LỤC TẶC châm ngòi mà TAM BÀNH có cơ hội nổ lớn.

Theo giảng giải của Nhà Phật thì những họat động thường nhật của chúng ta bị chi phối bởi Tam Độc và Lục Tặc. Tam Độc là ba thứ độc hại là ba món phiền não lớn: Tham, Sân, Si. Tham là tham lam, Sân là sân hận và Si là ngu si. Ba thứ độc hại nầy là ”cha đẻ” của Tam Bành và Lục Tặc.
Vì muốn tốt cho mình, đẹp cho mình, và lợi cho mình mà nổi lòng THAM. Với lòng tham có người bất chấp lợi hại để đạt được mục tiêu của họ. Không đạt được những mục tiêu đó họ trở nên thù hận và giận dữ là SÂN, cũng gọi là sân hận. Thường thì vì cố chấp (Sân) ta không thấy được cái sai của mình, hoặc nếu có thấy vẫn cố gắng ngụy biện để cho rằng lỗi ở người chứ không phải lỗi ở ta. Không được thỏa mãn những đòi hỏi mình đặt ra, không đạt được điều mình mong muốn, ta nỗi giận và dữ. Nếu mục tiêu phải đạt đặt căn bản trên lòng tham, trên sân hận sẽ gây hại hoặc tổn thương cho bản thân mình, cho người thân của mình cũng như cho người khác nên gọi là SI. Si là ngu si, có nghĩa là không thấy được những điều đáng thấy để làm những điều đáng làm. Chính vì thế, thay vì đem lại lợi ích cho mình và cho người, gần nhất là người thân của mình, người sân si dễ tạo những tác động ngược lại. Gọi ngu si là ở điểm nầy.
”Tham, Sân, Si” phá hủy các thiện căn, phá hại đời sống của chúng sanh nên Nhà Phật gọi là Tam Độc. Lục tặc là sáu sự khuấy phá tạo tác động sai trái qua sáu cơ năng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Từ những cảm quan đưa đến những tư tưởng hành động sai lầm do chi phối của Tam Độc mà gây nguy hại cho chính bản thân của chúng ta, Lục Tặc được ”sinh ra và trưởng thành” từ các phối kết, nghĩa là theo tuần tự của các diễn tiến như sau: Lục Căn – Lục Trần – Lục Thức.

LỤC CĂN là sáu cơ quan: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tư tưởng. Sáu cơ quan nầy tiếp nhận những xúc tác từ bên ngòai vào để tạo tác động. Sáu sự kiện gây xúc tác vào sáu cơ quan gọi là sáu cảnh hay sáu trần (Lục Trần). LỤC TRẦN gồm có: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Lục Trần tác động vào 6 cơ quan, là Lục Căn, tạo nên sáu sự hay biết gọi là Lục Thức. LỤC THỨC là sáu tri thức, tức là sáu sự nhận thức gồm có: Nhãn thức – tri thức của mắt, Nhĩ thức – tri thức của tai, Tỹ thức – tri thức của mũi, Thiệt thức – tri thức của lưỡi, Thân thức – tri thức của thân và Ý thức – tri thức của tư tưởng. Khi Lục Thức được ”đắp bồi vun xới” bởi ”Cái Tôi” vị kỷ ngã mạn (tham lam, mê đắm cố chấp và ngu si) sẽ sinh ra ra LỤC TẶC.

LỤC TẶC: Chúng ta phải hiểu rằng, ”nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, nhận diện” sự kiện và sự vật bằng ”Cái Tôi” vĩ đại, nghĩa là bằng quan niệm Cá nhân Chũ nghĩa: ”Hợp với ta thì sống chống ta thì chết” là chúng ta đã cho sinh ra và nuôi lớn LỤC TẶC, đến khi gặp một trong những chất xúc tác mạnh của Tam Độc, Tam Bành sẽ bật ra và nổ bùng!
Ví dụ khi mắt (nhãn căn) của người nam nhìn thấy hình dáng yêu kiều (sắc trần) của người nữ tác động vào cái thấy của anh (nhãn thức) và tạo lòng yêu mến (thức + sở thích: có sự phân biệt, thích hay không thích). Nếu chỉ nhìn thấy và cảm mến như một sự thưởng thức là chuyện bình thường. Nhưng nếu thấy mà nỗi lòng tham muốn chiếm hữu bất kể luân lý đạo đức là đã có sự hiện diện của Tam Độc: tham, sân, si, sẽ có sự xuất hiện của Lục Tặc. Ở trường hợp nầy tên tặc tử là nhãn tặc. Nhưng bình thường Lục Tặc không thể tách rời nhau. Sáu tên cướp nầy phải dính chùm với nhau. Như thí dụ đề cập đến ở đây, khi anh nầy thấy cô nọ đẹp anh sẽ thích thú làm quen, thì nhìn hình dáng (sắc) mà ham muốn, nghe tiếng nói (thanh) mà ham muốn, ngửi mùi thơm (hương) từ người cô ta mà ham muốn, và tưởng tượng ra (vị) vị ngọt của ”mùi tình” mà ham muốn, thì tư tưởng như thế sẽ đưa đến cái ham muốn ôm ấp (xúc) và lòng chiếm đọat (ý): Lục Tặc xuất hiện! Trong trường hợp nầy anh ta dùng tiền bạc cung phụng người đẹp, bỏ bê vợ con thì bà vợ sẽ nổi giận nổi dữ: Tam Bành ”xuất quân” vì đã được Lục Tặc… khiêu chiến!

Nói tóm lại, qua sáu cơ quan của cơ thể ta tiếp xúc với sáu sự kiện tác động từ bên ngòai vào sẽ sinh tác dụng phân biệt vào tất cả cái thấy, hiểu, ngửi, nếm, nghe và biết (kiến, văn, khứu, vị, giác, tri). Sáu sự hay biết ấy gọi là Lục Thức và khi Tam Độc chi phối Lục Thức sẽ sinh ra Lục Tặc và Tam Bành. Ta có được mệnh đề sau đây: Tam Độc + Lục Thức = Lục Tặc & Tam Bành.
Từ một cơ quan đơn giản như lỗ tai của chúng ta (nhĩ căn), ta có khả năng nghe tiếng nói âm thanh từ bên ngòai đi vào (nhĩ trần/âm thanh), và thâu nhận (nhĩ thức), rồi đặt cái Tôi vào đó để có phản ứng: khi nghe lời ca tụng làm ta thích thú, ta sẽ vui mừng. Trái lại nghe lời chê bai khiêu khích ta sẽ đùng đùng nổi giận và lời khiêu khích đôi khi có chất xúc tác quá ”đậm đà”, vì Lục Tặc quấy nhiễu châm ngòi thì Bành Kiêu, Bành Chất và Bành Sự được ”cấp tóc trương triệu tập”: cơn giận nổ bùng!
Một ví dụ nhỏ: Một nhóm bạn tham dự trong một bữa tiệc, bỗng một người bạn/quen đi ngang qua ”thả” một câu nói: ”Khiếp thế! Chung Vô Diệm mà tưởng mình là Tây Thi. Vừa mới đi căng da mặt về tưởng đẹp lắm trẻ lắm nên ỏng ẹo thấy ghê!”. – ”Silicon đó bà con ơi, không phải hàng thiệt đâu mà ham!” v.v… Trong nhóm người đang nói chuyện với nhau kể trên, đều cùng nghe câu nói đó, nhưng chỉ có một người phản ứng: Chị A! Vì biết rằng câu nói ”ác độc chua ngoa khiêu khích” đó ám chỉ mình, nên Chị A phản ứng lập tức. Nếu là người hung hăng sẽ có ”chiến tranh ngôn ngữ” là lời qua tiếng lại. Gặp người bản tính hung dữ, nếu đang ở ngoài chợ có thể họ sẽ vày đầu nhau mà đấm mà thoi. Là người bản tính trầm tỉnh, ”nạn nhân” sẽ nhẫn nhục bỏ qua câu nói hôm đó (nhưng vẫn ghi ”sổ đen” trong lòng!). Đó là kết qủa sự xuất hiện của Bành và Tặc sau khi Trần tác động vào Căn cho ra Thức bị động, nghĩa là đã bị chi phối bởi Tam Độc. Tại sao năm người kia nghe cùng câu nói mà không có phản ứng, chỉ Chị A mới có phản ứng? Đó là vì cái Thức có Cái Tôi vị kỹ. Nghe câu nói và hiểu rằng câu nói nhắm thẳng vào mình, tức là đã chạm vào ”Cái Tôi”, thì ”Tôi” sẽ phản ứng, và với tự ái bình thường của con người muốn được khen không ai muốn bị chê, vì bảo vệ Mình, nên Chị A giận dữ.

Nhìn vào tình hình thế giới, chúng ta khiếp hãi những tên khủng bố làm hại lòai người, nhưng đôi khi chúng ta không thấy được những tên khủng bố đang có trong ta, vẫn để cho nó tung hòanh và tự do tác yêu tác quái: Nó là Tam Bành và nó chính là Lục Tặc, là ”Osama bin Laden” của thế giới hôm nay! Nó không ở đâu xa xôi tận Trung Đông, mà chính tụi nó đang ở trong tim trong não trong tư tưởng lời nói và hành động của chúng ta (Thân, Khẩu, Ý).

Người bị chúng ta cho Tam Bành nổ lớn khi Lục Tặc chiếm hữu, là nạn nhân, họ cũng có cái cảm giác hãi sợ khi nhìn vào chúng ta cũng như khi ta nhìn vào tụi khủng bố. Đặt vào vị thế của những ”nạn nhân” nầy mà nhìn trở lại vào chính ta, ta sẽ thấy ta lúc đó không phải là hình ảnh đẹp. Ta không nên nuôi lớn Tam Bành và Lục Tặc, ta không nên nuôi dưỡng Tam Độc và Lục Tặc quá kỹ lưỡng chu đáo bằng cái tâm hẹp hòi và lòng thù hận sâu đậm, không biết buông thả chỉ bằng cố chấp, ta sẽ cho Lục Tặc lớn nhanh và Tam Bành có cơ hội xuất hiện đều đều, kết quả sẽ là: chỉ có sự cô đơn cô độc ”sống chung” với ta thôi, không còn ai muốn sống chung với ta nữa cả. Bạn bè người thân không kham nỗi một người với tính khí dữ dội, họ sẽ tìm cách xa lánh. Nhiều người vì sự uất giận hoặc quá cô độc mà mang bệnh vào người. Theo ngày tháng dần dần với sự buồn bả cô đơn ta dễ dàng mang vào người chứng bệnh oan nghiệt nhất: Bệnh Trầm Cảm! Theo nghiên cứu hiện thời sự căng thẳng tinh thần là cũng một trong những nguyên nhân tạo chứng bệnh ung thư.
Bệnh trầm cảm biến cuộc sống thành thế giới của những ảo giác lọan động. Sống trong một thế giới mơ hồ không thực, cuộc đời của ta sẽ tẻ nhạt và thê thảm, đời sẽ tuột dốc dữ dội. Đến một giai đọan nào đó có muốn trở lại đọan đường mình đã đi qua (sau khi ”qua sông đốt cầu” bằng Lửa Tham Lửa Sân và Lửa Si), có muốn trở về lại ”lối cũ năm xưa nơi có sự ấm áp và hình ảnh đẹp” cũng khó có đủ khả năng và sức lực để gầy dựng lại. Tình cảm giữa con người với con người, điển hình là tình cảm vợ chồng, một thời thương yêu nhau thắm thiết, một khi ta vụng về đánh mất, sẽ như một cây kiểng không săn sóc nuôi dưỡng, cây sẽ héo dần và chết đi. Bạn không thể bón phân, tưới nước cho nhiều vào và ngồi đợi cây sống lại! Tình cảm giữa hai con người không thể chỉ nuôi dưỡng một chiều, mà phải có sự hòa ái dịu dàng biết tôn trọng và lòng qúy mến trao cho nhau.
Những suy diễn giải bày về Tam Độc hay Tam Bành Lục Tặc chỉ với mục đích cho ta thấy ngọn nguồn gốc rễ của những khúc mắc, những dây mơ rễ mái của phức tạp trong đời sống giữa mình và người về lâu về dài, để phòng để tránh. Ngay từ khi chớm thấy có sự phức tạp của một vấn đề giữa ta và người, hãy tỉnh tâm suy xét để thấy lỗi mình trước khi thấy lỗi người. Đừng bao giờ nhìn một chiều, và đặt cá nhân mình lên trên hết, ta sẽ chỉ thấy lỗi người khác mà không thấy lỗi mình. Một vấn đề tự nó không thể xuất hiện nếu giữa hai người không có những bất đồng ý kiến hay những xích mích nào đó. Có nghĩa là tối thiểu phải có hai người mới tạo được một vấn đề. Hay nói rõ hơn, nhiều hay ít, vô tình hay cố ý bạn đã dự phần trong sự kiện tạo ra vấn đề giữa bạn và người khác. Vấn đề không tự chính nó sinh ra được nếu không có sự liên hệ giữa hai hay nhiều người.
Cách giải quyết vấn đề hay nhất là mình thấy được lỗi mình, và đừng cố gắng dùng thời giờ để tìm lỗi của người khác. Bởi vì khi thấy được lỗi của mình,chúng ta sẽ tu sửa thay đổi bản thân mình. Nếu chỉ thấy lỗi người, bạn sẽ đặt điều kiện là người kia phải thấy được lỗi của họ, và phải tự họ sửa đổi lỗi lầm. Đây là một ”tham vọng” quá lớn, bởi vì chính bạn không thể đòi hỏi người khác nghe theo lời mình được, nhất là nghe lời bạn để sửa đổi chính họ, là điều khó ai thực hiện được.
Không thể thay đổi người khác ngọai trừ thay đổi chính mình. Khi ta tự thay đổi chính mình, là khi ta ”cho” người thời gian suy nghĩ và cơ hội lắng lòng để dần dần thấy được sai lầm của họ. Thấy được lỗi của mình, họ sẽ tự động sửa đổi. Nếu ta chỉ trích phê phán, ta sẽ gây sự giận dữ ở họ, vì ta không cho ”đối tượng” thời gian suy nghĩ, và chính ta đặt họ vào thế liên thủ, chống đỡ sự công kích tới tấp của ta. Họ phải liên tục bảo vệ chính mình, đầu óc họ chỉ nghe và thấy sự hung dữ của ta mà không có thời giờ thấy được hành động sai lầm nếu có của họ.
Sau nhiều năm sống với nhau, bình thường người chồng không còn những cử chỉ tình tứ với người vợ, đối lại nhiều người vợ hết dịu dàng và trở thành… ”máy nói”, chỉ trích trách móc chồng. Thử hỏi, người chồng nếu phải luôn nghe những lời trách móc của vợ, có còn thấy người vợ hiền dịu khả ái như ”ngày nào ta yêu nhau” không? Chồng hay vợ đều là người bằng xương bằng thịt, họ cần được thương yêu âu yếm được nghe nói lời ngọt ngào êm ái. Ngược lại nếu người chồng mãi nghe lời trách móc cằn nhằn, anh sẽ không còn tìm thấy ở người vợ mình những cái đẹp mà anh đã một thời thương mến. Khỏang cách giữa hai người sẽ dần dần theo ngày tháng lớn rộng ra, cho đến một ngày đẹp trời.. người chồng tìm an ủi ở một người đàn bà khác! Và người vợ ghen tương nỗi Tam Bành Lục Tặc lên để.. giữ ông chồng của mình lại! Có giữ được không, nếu người vợ không nuôi dưỡng sự dịu dàng của mình mà chồng mình cần đến. Có giữ được không, nếu người vợ không có thái độ thương mến nể phục chồng mình, thay vào đó chỉ biết ”dội” vào người của chồng mình những lời hỗn láo chua chát hoặc cằn nhằn than vãn! Hãy đứng vào vị trí của người chồng để thấy ta có thực sự ”đáng yêu” hay không.
Ngược lại một người chồng không biết thương yêu vợ đúng nghĩa, coi vợ là ”của mình” rồi còn ”lọt đi đâu” được nữa mà lo, nên bỏ bê không săn sóc không đối xử với vợ như những ngày mới sống bên nhau. Người vợ sẽ chỉ thấy đời mình gói trọn trong 2 chữ: ”việc nhà và bổn phận”. Việc nhà là công việc ”không tên” mà lại bận bịu ”ngập đầu”. Người vợ có còn thấy đời đáng yêu đáng vui như thời gian hai người vừa lấy nhau hay không. Nếu việc làm vất vã quá, lại không được sự chia sẻ săn sóc đúng mực của người chồng, người vợ chắc chắn sẽ đổi tánh, sẽ càu nhàu than phiền suốt ngày đêm, vì thấy đời ”bất công” quá đỗi! Cho đến một ngày… đẹp trời, một ”người hào hoa” xuất hiện vì biết nói lời ngọt ngào và cho người vợ thấy được giá trị người đàn bà của họ, họ sẽ dễ dàng thay lòng!

Chúng ta phải biết ”giữ mình”, nghĩa là điều phục Thân, Khẩu, Ý để Tam Độc không thể chi phối ta, để Tam Bành Lục Tặc không xuất hiện được. Khi sự việc đã phát triển lâu dài và đến giai đọan căng thẳng quá sẽ không thể một sớm một chiều thay đổi cục diện của một tình trạng tệ hại cùng cực. Ta phải biết và ghi nhớ sự điều phục trong hành xử hằng ngày khi tình trạng đang còn tốt đẹp. Khi lập gia đình hay từ khi bước vào xã hội ta nên có được trong tư tưởng và ngay trong tay chiếc roi điều phục thân tâm (dẫn dắt và khắc phục) để ba anh chàng Tam Độc không có cơ hội lộng hành! Khi Tham Sân Si không tác động được vào Lục Thức để sinh ra Lục Tặc thì cũng không sinh ra được Tam Bành.

TAM BÀNH là sự giận dữ cực độ quy vào ba trọng điểm: tư tưởng (đầu óc/ý), lời nói (miệng/khẩu) và hành động(thân). Khi cơn nóng giận không còn kiểm sóat được nữa, con người sẽ có hành động nóng nảy dữ tợn, lời nói đanh đá hung dữ, và tư tưởng giận dữ kích động. Khi THÂN, KHẨU, Ý ở trạng thái bị động nghĩa là trong trạng thái CỰC GIẬN, lửa giận bốc lên ngùn ngụt, là trạng thái có thể nổ bùng.
Vậy muốn chận đứng TAM BÀNH phải biết điều phục tánh khí và tư tưởng (điều phục sáu cơ quan) của chúng ta để LỤC TẶC không được nuôi dưỡng và lớn mạnh trong ta. Cách điều phục hữu hiệu nhất là gạn lọc tư tưởng, dùng lời nói ôn hòa và có hành động chính chắn. Tất cả những sự thâu tiếp ngọai cảnh nghĩa là từ bên ngòai vào qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nếu bị chi phối bởi Tam Độc, thì Tham Sân Si sẽ chiếm lĩnh tư tưởng, để từ đó phát ra và diễn đạt bằng hành động dữ tợn cùng lời nói sai lầm. Đó là mối liên hệ giữa Tam Bành và Lục Tặc.

UYÊN HẠNH
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
lly (Lynn Ly)  
#582 Posted : Tuesday, February 12, 2013 11:04:18 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,306

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
8T cũng xin lập lại lời cổ nhân mà 8T ghi khắc trong tâm ... về việc nêu rõ việc Thực Hành là quan trọng, không chỉ học và nói suông như sau :

"Nói một trượng, không bằng hành được một tấc"
hay " Nói 10 không bằng làm 1" .

Còn rõ hơn thì có lời khuyên này :

"Nói được một trượng, không bằng làm được một thước, nói được một thước không bằng đi được một tấc. Phải kiên trì rèn luyên để nói cái làm được, và làm cái nói được”

Thông thường phải thâu nhận những gì không ưa thích, không hài lòng thì chúng ta hờn giận, phiền não .... Những ngôn từ "êm tai , dịu ngọt" không thực sự là những lời nói chuyển tải ý tưởng tốt đẹp và lợi ích thật sự cho nguời nghe !!!

Các anh chị có đồng ý với 8T điểm này không ???

Edited by user Tuesday, February 12, 2013 11:06:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



NNT  
#583 Posted : Wednesday, February 13, 2013 9:22:44 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)

Phật Tính
Châu Đình An
13-2-2013

Là người theo đạo Thiên Chúa, nhưng tôi rất có cảm tình mỗi khi nhìn thấy hình tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khuôn mặt Ngài hết sức hiền từ, và đôi mắt ám ảnh tôi, dù rằng đôi mắt của Đức Phật ít khi nào ta thấy mở ra để nhìn chúng sinh. Từ đôi mắt nhắm nghiền của Ngài, tôi cảm thấy một sự bình an, che chở, và theo bài hát của tứ quái The Beattles, ca khúc “Lets it be”. Hãy để đó mọi chuyện, chớ lo lắng.

Đức Phật đã cho tôi cảm nhận sự bình an và rất gần gũi với Ngài. Dù biết Ngài là đấng tối cao của một tôn giáo, nhưng sao tôi vẫn cảm thấy một điều gì đó rất thân thiết và gần gũi, nhìn bức tượng của Ngài, tôi thấy như có một người thân yêu, một người bạn chí thiết luôn bên cạnh và một sự tin tưởng vào Ngài tuyệt đối.

Bên Ngoại tôi là Phật Giáo, các cậu, các dì đều là Phật tử. Khi mẹ tôi bồng bế tôi vào Nam sau năm 1954, đã cải đạo để theo Công Giáo của ba tôi. Cuộc chiến chia lìa hai miền đất nước khiến cho kẻ Nam người Bắc không thấy nhau hơn 20 năm trời. Ngày mẹ bế tôi xuống tàu di cư vào Nam năm 1954, lúc đó, tôi mới hai tháng tuổi, và nghe lời kể lại Dì Thuý tôi, dì út trong gia đình từng bồng bế khi tôi khi mới chào đời ở Lệ Thuỷ, Quảng Bình, và tôi xúc động khi nghe kể là bà Ngoại tôi đứng trên bờ sông Bến Hải, đã ngất xỉu khi nhìn con tàu xuôi Nam mang theo mẹ và tôi ra đi biền biệt!

Biệt ly buồn quá. Nhớ nhung từ đây. Và nỗi nhung nhớ kéo dài trên 20 năm trời cho đến khi hai miền đất nước thống nhất. Tháng 8 năm 1975, bà Ngoại đã gửi cậu Tánh vào Nam tìm kiếm tông tích của chúng tôi. Thời gian này, tôi đang bị tù cải tạo ở Trại Sông Cái, các em tôi, tứ tán trôi dạt trên các miền đất nước, kẻ ở Nam, kẻ ở Trung. Cậu Tánh đến Tam Toà, Đà Nẵng tìm manh mối anh em chúng tôi ở đâu, nhưng nào biết. Thế rồi cậu Tánh qua đời sau đó, biền biệt cắt đứt chia lìa ruột thịt chúng tôi vẫn tiếp tục. Cho đến khi em gái tôi tìm ra bà Ngoại ở Quảng Bình, lúc này bà đã trên 90 tuổi và khi tôi về Việt Nam chuyến đầu tiên 2007 sau 27 năm xa nước, thì bà Ngoại đã mất. Tôi đã đến Hà Nội và trùng phùng gặp lại Dì Thuý, người bế tôi lúc hai tháng tuổi. Dì cháu mừng tủi ôm nhau, thằng cháu lúc này đã 53 tuổi, mà Dì Thuý nào biết là có những ca khúc bị kết án “phản động” làm buồn lòng “đất nước xã hội chủ nghĩa”.

Dì Thuý bảo tôi lên lầu. Thắp nén nhang trước bàn thờ ông bà ngoại, tôi nhìn thấy tượng Đức Phật trên cao. Ngài toạ kiết và nét mặt luôn luôn hết sức bình an, hiền từ. Trong hương khói của nhang, tôi đã rơi lệ!
Đó là lần đầu tiên tôi khóc trước mặt Đức Phật.

Về lại Orlando, Florida, nơi tôi định cư từ năm 1992, tôi nhớ đến một người. Bác sĩ Châu Lam Sơn. Nhớ ngày đầu tiên về đây, tôi tìm trên danh bạ thương mại một bác sĩ để lo cho gia đình. Tôi đã dừng lại nơi họ Châu. Không lẽ bà con mình à? Họ Châu ít và hiếm có người mang họ này, vậy là tôi tìm đến và từ đây, anh chị Châu Lam Sơn không những là bác sĩ của chúng tôi mà còn là người bạn thân. Bạn thân ít gặp, vì ai cũng bận, nhưng trong tâm tưởng luôn nghĩ đến nhau.

Có lần anh chị Châu Lam Sơn mời tôi đến thăm tu viện Cát Trắng ở Florida, nơi đã được ghi lại qua ngòi bút của Mật Nghiêm:

Một chút tâm tình ghi lại
Tôi về cảnh giới nơi đây
Cảm được tình thương vô ngại
Chan hòa cây cỏ trời mây
Tâm linh chuyển dần tâm thức
An bình trong mỗi phút giây
Gió đời vào đây dừng lại
Nhạc trời nghe trổi trên cây
Mộng đời tan vào thực tại
Pháp thân Bồ Tát bủa vây
Quán Âm tay vàng cứu độ
Từ Bi- Trí tuệ đong đầy


Tu viện Cát Trắng lập ra bởi Thiền Sư Khải Thiên – Thầy Thích Tâm Thiện, một vị tu sĩ tuy còn trẻ nhưng rất thông thái đúng nghĩa của một vị chân tu. Nơi tu viện này thường có các khoá tu học dành cho quý đồng hương Việt Nam ở khắp nơi, và còn có cả người ngoại quốc tham dự đông đảo, và anh chị Châu Lam Sơn cùng bào đệ là anh chị Châu Minh Đức thường xuyên sinh hoạt trợ tá cho các khoá học này.

Nói qua một chút về anh chị Châu Lam Sơn. Khi tôi tìm đến họ Châu này, thì thực ra không có bà con gì cả, dù anh là người Huế. Nhưng chị Trúc, bà xã anh Sơn thì lại bà con với tôi, thế mới lạ! Bà Ngoại của chị Trúc là chị thúc bá với ông Nội tôi. Vây là chị Trúc cũng có chút máu “văn nghệ” của họ Châu đó nhen. Do vậy cả hai anh chị dù là bác sĩ y khoa bận bịu công việc, nhưng tinh thần văn nghệ rất cao, anh chị thích ca hát, sinh hoạt có ý nghĩa cho cuộc đời. Ngoài “lương y như từ mẫu” cứu người giúp đời, anh chị còn tham gia nhiều sinh hoạt có tính cách tu học, mà tu viện Cát Trắng vừa đề cập là điểm dừng chân trong mỗi cuối tuần sinh hoạt của bác sĩ Châu Lam Sơn.

Tôi đã tìm thấy Đức Phật qua hình ảnh của anh chị Châu Lam Sơn. Là một phật tử, anh chị đã sống cho tha nhân bằng tâm của mình, anh chị không tụng kinh siêu thoát cho chính cuộc đời mình, mà những kinh nguyện, những sinh hoạt dự phần đã đem giáo lý đạo Phật cho người khác và chia sẻ tính Phật vào cuộc sống đến người chung quanh mình. Tôi đã thấy và cảm nhận được điều đó. Khi ta có tâm từ bi, thương yêu chúng sinh thì ta có cuộc sống bình an và ý nghĩa. Khi ta có thứ tha, không nuôi thù hận thì ta có lượng giác ngộ dẫn tâm hồn đạt đến cuộc sống vĩnh cửu.

Tôi biết, và tôi hiểu được. Đó là “Phật tính”.

Trong lời mở đầu Truyện thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao, bà Diệu Phương ghi lại.

Cuộc đời Đức Phật, cuộc đời của một người đã được tôn xưng là bậc “đại hùng đại lực, đại từ đại bi, đại hỷ đại xả”:

-”Đại hùng đại lực” vì thắng người đã là một chuyện khó, nhưng Ngài thắng được chính mình, thắng được những dục vọng thấp hèn của chính bản thân mình, đây là điều khó hơn rất nhiều.

-”Đại từ đại bi” vì Ngài có lòng từ vô lượng mà đi tìm con đường giải thoát cho tất cả chúng sinh, chứ không vì quyền lợi hạn hẹp của riêng mình hay gia đình giòng họ hoặc quốc gia mình.

-”Đại hỷ đại xả” vì Ngài quyết tâm từ bỏ cuộc sống đầy sung sướng trong cung vàng điện ngọc, từ bỏ địa vị đầy quyền uy để mà dấn thân vào con đường cực kỳ gian khổ tìm ra chân lý giải thoát chúng sinh khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Châu Đình An

www.chaudinhan.net

Edited by user Wednesday, February 13, 2013 9:26:46 AM(UTC)  | Reason: Not specified

lly (Lynn Ly)  
#584 Posted : Wednesday, February 13, 2013 10:14:00 AM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,306

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Hôm nay 8T chia sẻ các anh chị 1 pháp môn thực hành rất đơn giản và rất dễ thực hiện ... Đó là pháp môn "Niêm Phật Tam Muội" .

Niệm Phật là pháp môn tu tập, một công phu rất đơn giản , rất dễ hành trì, rất dễ thực hành ... ngay cả trong Thiền môn , các đại lão Hòa Thượng cũng hướng dẫn và tán thán pháp môn tu tập này !!!

Muôn loài vạn vật đều có Phật Tánh / Phật Tính , nhưng để Phật Tánh "hiển lộ" không bị che lấp , chôn vùi bởi tạp niệm tà tâm tà kiến thì phải chuyên cần tu rèn thân khẩu ý theo Giới luật mà Đức Phật đề ra ... Cho nên điều kiện tiên quyết, việc thực hành đầu tiên là gìn giữ "Giới" luật !!! Từ Giới sẽ sinh Định, từ Định sẽ sinh Tuệ / Huệ ... Khi đầy đủ Giới-Đinh-Huệ thì lúc đó Phật Tánh / Phật Tính mới hiển lộ !!!

Để Phật Tánh / Phật Tính hiển lộ ... thì không phải là không bổ công phu ... mà phải bỏ rất nhiều công phu !!! 84 ngàn pháp môn tu cũng chỉ 1 mục đích là "quán tự tại" để "bổn lai diện mục" ... rồi thì "minh tâm kiến tánh" !!!

Phật Đạo quí ở chân thật hành trì chứ không phải để nói suông !!!




NIỆM PHẬT TAM MUỘI

Thông Bác
Nguồn : http://quangduc.com/tinhdo/10tammuoi.html



Yếu chỉ của TAM MUỘI trong pháp môn niệm Phật là sự "lắng nghe" chứ không cốt niệm cho nhiều mà tâm chẳng rõ. Lắng nghe càng rõ thì sức TAM MUỘI càng tự tập trung, tự thanh tịnh. Thanh tịnh càng rõ ràng thì càng tăng trưởng trí tuệ.

TAM MUỘI cũng gọi là nhất tâm, cũng có nghĩa là chánh định. Chánh định trong niệm Phật đã gồm chánh kiến, chánh niệm, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, chánh tinh tấn, kể cả chánh tư duy trong Bát chánh đạo. Đặc biệt, NIỆM PHẬT TAM MUỘI bao trùm các căn cơ, trình độ nào tu cũng được, hoàn cảnh nào áp dụng cũng được.

Bậc thượng trí xuyên suốt kinh giáo, càng nên NIỆM PHẬT TAM MUỘI để dễ bề bao quát và tiến sâu vào thể tánh. Bởi một câu Phật hiệu nếu áp dụng đúng cách vẫn thẩm thấu từ căn tướng đến thể tánh. Và pháp môn niệm Phật là chánh giáo, chánh lý, chánh hướng cho tâm chánh giác trong bất cứ pháp tu nào thuộc đề mục ngoài tâm.

Thời đại mạt pháp, người Phật tử tại gia nên gắn bó với một câu Phật hiệu, tùy theo tình cảm của mình về một Đức Phật, một vị Bồ tát, hoặc một vị A la hán nào mà mình cảm thấy gần gũi và kính thương nhất. Cứ một câu theo danh hiệu như Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, hay Nam mô A Di Đà Phật v.v ... Nếu là pháp môn thì chỉ nên áp dụng một câu gọi là "một niệm muôn đời, muôn đời một niệm". Cứ vậy, thọ niệm không ngừng nghỉ. Niệm đến thành Phật cũng cứ niệm. Bởi trong đó đã cụ túc Phật pháp.

Niệm Phật đi vào TAM MUỘI (nhất tâm) thì tâm tự niệm tự giác (rõ ràng) tự thanh tịnh.

Thanh tịnh trong TAM MUỘI thường tãng sanh phỉ lạc vấn đề nên lưu tâm; dù phỉ lạc tràn đầy cũng đừng nên tham đắm. Nếu tham đắm vào phỉ lạc sẽ làm cho tâm quên dần sự rõ ràng, sẽ làm cho câu niệm Phật chìm loãng, tan dứt lúc nào cũng chẳng hay. Hơn thế, trong TAM MUỘI thường xảy ra các loại ánh sáng, các thần giao, các cảnh giới rực rỡ tốt đẹp . Hành giả niệm Phật hãy để các thứ này xảy ra và tan mất tự nhiên; chúng chỉ là kết quả của TAM MUỘI, những ảo ảnh tốt chứ không phải chân giác ngộ giải thoát.

Mục đích của NIỆM PHẬT TAM MUỘI là minh tâm kiến tánh. Tâm tánh có cãn bản là bất sanh bất diệt, cũng gọi là Pháp thân, Bản lai diện mục, Niết bàn.

NIỆM PHẬT TAM MUỘI không chủ ý niệm cho nhiều trong một lúc một thời nào đó, nhưng lại chuyên, phải thường niệm để đánh bại tạp niệm, để không quên tâm chánh niệm trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, trong sinh hoạt, làm việc . Trong tất cả hành vi của đời sống lắng nghe rõ ràng từng niệm, từng câu.

Để thực hành NIỆM PHẬT TAM MUỘI, hành giả nên niệm từ một đến bảy câu thì xả. Một lần xả là coi như mới bắt đầu lại; chú tâm vào câu thứ nhất cho rõ ràng rành mạch, liên tục đến câu thứ bảy lại xả. Chỉ niệm trong bảy câu thì hành giả dễ lắng nghe và quán xuyến trọn vẹn từng tiếng, từng câu trong tâm. Từ một đến bảy câu là coi như một "quá trình thành tựu".

Nếu có điều kiện, môi trường thì nên tổ chức nhập thất, tối thiểu là bảy ngày, nhiều thì một tháng, ba tháng, một năm, ba nãm. Muốn nhập thất niệm Phật có kết quả thì phải chuẩn bị tinh thần, điều kiện thuận, có thầy hướng dẫn, có người hộ thất cho, có sự an ninh v.v Và phải làm lễ phát nguyện trước Tam bảo, trước vị Phật hoặc vị Bồ tát mà mình sẽ niệm danh Ngài. Cầu xin Phật, Bồ tát chứng minh, gia hộ suốt trong thời gian nhập thất. Hết thời gian, xả thất cũng phải làm lễ tạ ơn. Nếu có vị thầy có kinh nghiệm hướng dẫn, chứng minh cho trong suốt thời gian nhập thất thì quá qúy.

Muốn công phu niệm Phật được miên mật trong suốt thời gian nhập thất, thì nên áp dụng vào hai tư thế là tọa niệm và kinh hành. Với tư thế kinh hành thì nên áp dụng mỗi niệm một bước. Bước càng chậm rãi, niệm càng lắng sâu, nghe càng rõ ràng. Hết kinh hành lại tọa niệm, xong tọa niệm đến kinh hành. Hãy chia đều thời gian, kinh hành nửa giờ thì tọa niệm cũng nửa giờ. Không có đồng hồ thì nên thắp một cây hương cho một tư thế. Cháy hết một cây hương là biết giờ công phu của mình.

Điều quan trọng nhất trong NIỆM PHẬT TAM MUỘI là cái tâm tha thiết nhiệt thành, trân trọng pháp môn, chú tâm lắng nghe cho thật rõ, dù chỉ niệm thầm.

Nếu có được cái tâm tinh tấn, toàn tâm với câu niệm Phật, với sự chuyên cần trong điều kiện nhập thất v.v thì hành giả sơ tâm niệm Phật cũng chỉ sau một tháng sẽ vào được nhất tâm. Nhưng chớ nên khởi tâm cầu nhất tâm. bởi nhất tâm không thể do cầu mà được, mà do công phu tinh cần chuyên nhất vào pháp môn.



"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Lâm Viên  
#585 Posted : Wednesday, February 13, 2013 12:38:42 PM(UTC)
Lam Vien

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 2,647
Man
Location: Somewhere on earth

Thanks: 395 times
Was thanked: 1771 time(s) in 753 post(s)
Originally Posted by: lly Go to Quoted Post
8T cũng xin lập lại lời cổ nhân mà 8T ghi khắc trong tâm ... về việc nêu rõ việc Thực Hành là quan trọng, không chỉ học và nói suông như sau :

"Nói một trượng, không bằng hành được một tấc"
hay " Nói 10 không bằng làm 1" .

Còn rõ hơn thì có lời khuyên này :

"Nói được một trượng, không bằng làm được một thước, nói được một thước không bằng đi được một tấc. Phải kiên trì rèn luyên để nói cái làm được, và làm cái nói được”

Thông thường phải thâu nhận những gì không ưa thích, không hài lòng thì chúng ta hờn giận, phiền não .... Những ngôn từ "êm tai , dịu ngọt" không thực sự là những lời nói chuyển tải ý tưởng tốt đẹp và lợi ích thật sự cho nguời nghe !!!

Các anh chị có đồng ý với 8T điểm này không ???


TLĐ đồng ý vơí 8T những chữ trong ngoặc kép tuy nhiên những ngôn từ "êm tai , dịu ngọt" hay những gì không ưa thích, không hài lòng thì chúng ta hờn giận, phiền não .... TLĐ góp thêm ý như sau:

Trong những trao đổi hằng ngày sẽ có những bất đồng dễ mang đến sự xung khắc. Bởi không phải ai cũng có thể đọc nguồn tin để rồi gạn lọc, phân tích, tra cứu và sau cùng sẽ chọn lựa đó là điều bổ ích nên biết, nên học, để tin hay không tin, để nhận thức rằng người đó viết đúng, phân tích đúng hay người đó viết lung tung.

Nếu người đó làm việc tốt có lợi ích thì ta có “lời khen” là điều tốt điều hay phải không?
TLĐ khen 8T về trang “thông tin về y học” trong phố rùm mang nhiều ích lợi đến cho những người muốn tra cứu, đọc và hiểu về những căn bịnh. Lời khen của TLĐ chuyển đến 8T thực sự là lời nói chuyển tải ý tưởng tốt đẹp đến cho 8T để 8T biết việc làm của mình có người thích, có người lưu tâm đến công việc của mình.

Những lời không ưa thích mình có quyền chọn lựa là trả lời theo quan điểm của mình, không thích nữa thì ném vào xọt rác phải không? Nếu có người nói xấu TLĐ chẳng hạn thì TLĐ cũng có chọn lựa của mình để trả lời hay chậc lưỡi “thôi cho qua, mất thì giờ…” tội gì phải mang vào than để hờn giận. Trong phố rùm có nhiều trang TLĐ thích thì chạy vào “ti li, ta la” và có nhiều trang TLĐ không bén mảng đến thì TLĐ không vào đọc…

Chuyện hằng ngày thế nào không tránh khỏi điều mình viết không đúng, viết sai. Không có người lên tiếng mình đâu có biết mình sai? Bởi thế trao đổi “thông tin”luôn luôn có hai chiều chuyển tin, nhận tin và ngược lại.

Chuyện về lời bộc trực của TLĐ cách đây hai năm với admin cũng mang cho TLĐ, NNT kỷ niệm vui và thương đau đấy. Sau cùng thì lẽ phải của người thế cô cũng có người đứng ra binh vực cho việc làm đúng thôi.

TLĐ thêm câu này nữa “Mười voi không được bát nước xáo” Thành ngữ này ám chỉ cho những người khoác lác.

(Lượm trên Net) Chuyện kể rằng:” Một nhà nọ có 3 anh con rể. Hai rể lớn thì giàu có, còn rể thứ ba thì nghèo. Nhưng chàng này không biết thân biết phận mà rất hay sĩ diện nói khoác, một tấc đến trời.

Ông bố vợ mất. Hai rể lớn liền đem lợn gà... đến viếng. Chàng rể út thấy vậy, bảo vợ: To gì con lợn? Nhớn gì con vịt? Nhà cứ để ta đi mua hẳn chục con voi thật to về làm ma cho ra đình ra đám...
Nói rồi chàng bỏ đi. Cả nhà đợi hoài chẳng thấy về. Mãi đến khi đám tang đã xong, anh ta mới về, vừa làm bộ cáu giận, vừa tỏ vẻ xót xa trong lòng: Rõ thật tức mình. Tôi định mua cho đủ mười con voi về làm ma cho bố. Nhưng gặp một người chỉ có tám con đem bán. Tôi bảo kiếm đủ chục con mới mua. Vậy là họ bỏ đi mất, lỡ cả việc lớn...
Câu chuyện trở thành lời đàm tiếu rồi đi vào thành ngữ tiếng Việt.

lly (Lynn Ly)  
#586 Posted : Wednesday, February 13, 2013 1:25:26 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,306

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Quote:

Nếu người đó làm việc tốt có lợi ích thì ta có “lời khen” là điều tốt điều hay phải không?
TLĐ khen 8T về trang “thông tin về y học” trong phố rùm mang nhiều ích lợi đến cho những người muốn tra cứu, đọc và hiểu về những căn bịnh. Lời khen của TLĐ chuyển đến 8T thực sự là lời nói chuyển tải ý tưởng tốt đẹp đến cho 8T để 8T biết việc làm của mình có người thích, có người lưu tâm đến công việc của mình.

...


Chuyện hằng ngày thế nào không tránh khỏi điều mình viết không đúng, viết sai. Không có người lên tiếng mình đâu có biết mình sai? Bởi thế trao đổi “thông tin”luôn luôn có hai chiều chuyển tin, nhận tin và ngược lại.


Anh Lâm Viên

8T khẳng định 1 điều ... Mục đích của 8T nói và làm không phải mưu cầu lời "khen ngợi" và không hề ngán sợ "thị phi" ... Cho nên 8T không để "khen chê hay thị phi" ảnh hưởng mình ở mọi tình huống một khi 8T nhìn thấy rõ điều gì phải làm và nên làm !!!

Lời nói của 8T xưa giờ cũng bộc trực và luôn xuất phát từ nội tâm !!! Không nói khác điều mình nghĩ và không nghĩ khác điều mình nói !!!

Việc trao đổi thì 8T thấy rõ ràng là "đa chiều" do "đa diện" chứ không chỉ có "hai chiều" đúng sai mà thôi !!! Đúng , sai , không đúng cũng không sai ... không đơn thuần chỉ xét ở câu nói , ý tưởng chuyển tải trên giấy trắng mực đen ... Nói rõ ràng là khi nhìn và đánh giá thì 8T luôn khoanh tròn giới hạn lại (chứ không làm kiểu "gom đũa cả đống) ... Khoanh tròn lại, giới hạn lại ... để nhìn thật rõ ràng và thấu đáo vấn đề ... để thấy thật rõ ràng ... tình huống hoàn cảnh nào đúng , khi nào thì không đúng ... Vậy thì đúng sai , sai đúng , hày không đúng không sai đang được xác định ngay tại thời điểm nào, tình huống nào , hoàn cảnh nào, ai nói và tại sao họ nói vậy ???!!! Giá trị "thật giả" cũng được xác định ở những yếu tố này !!!

8T cũng nói rõ ràng ... 8T luôn chịu trách nhiệm lời nói của mình ... Anh Lâm Viên chắc cũng nhìn ra bản tính của 8T đã nói thì không ngại , đã ngại thì không nói ... Dù có được ủng hộ hay không ủng hộ 8T không quan trọng và không có bị ảnh hưởng !!! Điều 8T muốn trình bày là 8t trình bày ...

8T nói không bao giờ có "ác ý" hại ai ... Chỉ là nói điều 8T thấy và nghĩ mà nó bật bung trong đầu óc mình ngay lúc đó !!! 8T xưa giờ "phản ứng" rất nhanh và rất nhạy !!!

Còn 8T có "láo toét" hay "khoác lác" ... hay "chân thật" thì mọi người tự quan sát và tự đánh giá !!! 8T không cần biết và không quan tâm !!!

Bây giờ 8T phải chạy ... về đón mấy đứa con !!!

Edited by user Wednesday, February 13, 2013 1:29:34 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Lâm Viên  
#587 Posted : Wednesday, February 13, 2013 2:29:46 PM(UTC)
Lam Vien

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/16/2011(UTC)
Posts: 2,647
Man
Location: Somewhere on earth

Thanks: 395 times
Was thanked: 1771 time(s) in 753 post(s)
Originally Posted by: lly Go to Quoted Post
Anh Lâm Viên

8T khẳng định 1 điều ... Mục đích của 8T nói và làm không phải mưu cầu lời "khen ngợi" và không hề ngán sợ "thị phi" ... Cho nên 8T không để "khen chê hay thị phi" ảnh hưởng mình ở mọi tình huống một khi 8T nhìn thấy rõ điều gì phải làm và nên làm !!!

Lời nói của 8T xưa giờ cũng bộc trực và luôn xuất phát từ nội tâm !!! Không nói khác điều mình nghĩ và không nghĩ khác điều mình nói !!!

Việc trao đổi thì 8T thấy rõ ràng là "đa chiều" do "đa diện" chứ không chỉ có "hai chiều" đúng sai mà thôi !!! Đúng , sai , không đúng cũng không sai ... không đơn thuần chỉ xét ở câu nói , ý tưởng chuyển tải trên giấy trắng mực đen ... Nói rõ ràng là khi nhìn và đánh giá thì 8T luôn khoanh tròn giới hạn lại (chứ không làm kiểu "gom đũa cả đống) ... Khoanh tròn lại, giới hạn lại ... để nhìn thật rõ ràng và thấu đáo vấn đề ... để thấy thật rõ ràng ... tình huống hoàn cảnh nào đúng , khi nào thì không đúng ... Vậy thì đúng sai , sai đúng , hày không đúng không sai đang được xác định ngay tại thời điểm nào, tình huống nào , hoàn cảnh nào, ai nói và tại sao họ nói vậy ???!!! Giá trị "thật giả" cũng được xác định ở những yếu tố này !!!

8T cũng nói rõ ràng ... 8T luôn chịu trách nhiệm lời nói của mình ... Anh Lâm Viên chắc cũng nhìn ra bản tính của 8T đã nói thì không ngại , đã ngại thì không nói ... Dù có được ủng hộ hay không ủng hộ 8T không quan trọng và không có bị ảnh hưởng !!! Điều 8T muốn trình bày là 8t trình bày ...

8T nói không bao giờ có "ác ý" hại ai ... Chỉ là nói điều 8T thấy và nghĩ mà nó bật bung trong đầu óc mình ngay lúc đó !!! 8T xưa giờ "phản ứng" rất nhanh và rất nhạy !!!

Còn 8T có "láo toét" hay "khoác lác" ... hay "chân thật" thì mọi người tự quan sát và tự đánh giá !!! 8T không cần biết và không quan tâm !!!

Bây giờ 8T phải chạy ... về đón mấy đứa con !!!



Cám ơn 8T.

TLĐ viết"...Bởi thế trao đổi “thông tin”luôn luôn có hai chiều chuyển tin, nhận tin và ngược lại..." TLĐ viết 8T đọc, gạn lọc, trả lời...TLĐ cũng vậy đọc, gạn lọc, và trả lời...những gì 8 T viết.

Câu thành ngữ TLĐ đem vào cũng đồng nghĩa với những câu 8T viết trong ngoặc kép, tuy nhiên 8T lại buộc mình vào câu thành ngữ đó khi viết: "Còn 8T có "láo toét" hay "khoác lác" ... hay "chân thật" thì mọi người tự quan sát và tự đánh giá !!! 8T không cần biết và không quan tâm !!!" TLĐ không có ý đó.

TLĐ nhận thấy 8T không vui và TLĐ không muốn bỏ phí thì giờ của mình. TLĐ xin ngưng ở đây.
lly (Lynn Ly)  
#588 Posted : Wednesday, February 13, 2013 3:27:24 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,306

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2376 time(s) in 1223 post(s)
Originally Posted by: Lâ Go to Quoted Post
Cám ơn 8T.

TLĐ viết"...Bởi thế trao đổi “thông tin”luôn luôn có hai chiều chuyển tin, nhận tin và ngược lại..." TLĐ viết 8T đọc, gạn lọc, trả lời...TLĐ cũng vậy đọc, gạn lọc, và trả lời...những gì 8 T viết.

Câu thành ngữ TLĐ đem vào cũng đồng nghĩa với những câu 8T viết trong ngoặc kép, tuy nhiên 8T lại buộc mình vào câu thành ngữ đó khi viết: "Còn 8T có "láo toét" hay "khoác lác" ... hay "chân thật" thì mọi người tự quan sát và tự đánh giá !!! 8T không cần biết và không quan tâm !!!" TLĐ không có ý đó.

TLĐ nhận thấy 8T không vui và TLĐ không muốn bỏ phí thì giờ của mình. TLĐ xin ngưng ở đây.

Anh Lâm Viên từ đầu đến cuối là đang nói chuyện với 8T phải không ??? Hay đang nói chuyện với 8T rồi thì "bất chợt" chuyển hướng xoay sang nói chuyện với "ai đó" đó ???!!!

Anh Lâm Viên nhắc đến thành ngữ ... thì 8T cũng chỉ là "phản quan tự kỷ" nhìn lại mình xem liền mình có vậy không ... dù người nói có ý nói mình hay chỉ ... nói theo dòng tư tưởng khi nghĩ đến điều gì khác / người nào khác !!!

Đúng thật là khi phát hiện là "hoang phí , tốn thời gian" thì chẳng nên tiếp tục !!!

Edited by user Wednesday, February 13, 2013 3:28:37 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



Ngọc Anh  
#589 Posted : Thursday, February 21, 2013 9:06:54 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,732

Thanks: 5069 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)


NA nhận được những lời bàn và giải trong nhóm bạn Thiền, xin chia sẻ cùng nhau

Kính bạch Thầy,

gần đây những bài của Thầy thường nói về cầu nguyện, tức là đi chùa xin xỏ cho mình được những ước vọng.
Kính Thầy còn khi tụng kinh xong, các chùa thường hay phục ngưyện. theo con nghĩ không biết có đúng không. Nếu chùa phục nguyện cũng như thay phật tử xin được bình an, cho các phật tử được thân tâm an lạc v.v. và phục nguyện cho các hương linh.. như vậy có đúnh với chánh pháp
không ?
Nếu đúng thì sau thời tụng kinh : phục nguyện như thế nào cho hợp chánh pháp (cho kẻ còn người mất được lợi)
Còn không đúng thì cứ giở cuốn kinh ra theo chùa đã in sẵn, tụng cho hết phẩm, lễ rồi đứng dậy. vì con không hiểu nên viết thư này nhờ Thầy chỉ dạy:
(thị du sau thời kinh chùa phục nguyện như sau : nguyện đức a di đà, đức quán thế âm hay đức điạ tạng tiếp đô hương linh A B C v,v, vãng sanh cực lạc quốc - Kỳ an cho chư phật tử bách nạn băng tiêu, bò đề tâm kiên cố, xa biển khổ nguồn mê chóng quay về bờ giá^c v.v.)
chữ việt con hạn hẹp xin Thầy từ bi hỷ xả cho và chỉ dạy con tu thế nào để được vãng sanh về cõi phật - tham - sân - si - thân - khẩu – ý đã từ từ buông bỏ - giúp ai được thì giúp không có mong cầu lợi, không ích kỳ, tham cầu, tranh danh v.v.
A di đà phật
Trí Việt


***

GÓP Ý

Thưa Thầy con xin được nói lên cảm nghĩ của con về Phục Nguyện trong chùa hoặc trong kinh sách qua những gì con nhận thức
Phục Nguyện, Khai kinh kệ, tán Phật, sám Phổ Hiền, tứ hoằng thệ nguyện, Sám quán tưởng, hồi hướng v.v…..có trong kinh sách nhật tụng, chẳng qua là lời của Chư Tổ giúp cho hành giã tự tâm phát nguyện những lời ĐẠI TỪ, ĐAỊ BI, ĐẠI HỶ, ĐẠI XÃ bao la rộng lớn lúc nào cũng luôn nghĩ và làm thương tất cả chúng sanh, từ đó giúp ích cho hành giã một bước lớn trên con đường tu tập và từ cái duyên đó thì tâm nào cảnh ấy tương ưng thì nó sẻ có sự giao cảm tâm linh với tâm Chư Phật và thức tỉnh chính bản tâm Phật của mình trong mỗi con người.
Phục Nguyện là đúng chánh pháp dựa theo Bát Chánh Đạo.

Tụng kinh trong chuà hay ở nhà không khác, ăn thua tâm người tụng có thành tâm vì người lợi tha không hay chỉ qua tụng cho xuông thôi thì đó là 2 con đường khác nhau …
Nếu thành tâm vì người tụng kinh thì làm cho kẻ dương được hiểu lời kinh quyết sống và làm theo hạnh Phật, Bồ Tát ……và người âm thì họ thức tỉnh vì sao có người vì mình hồi hướng công đức cho mình, họ cảm nhận được tình thương TỪ BI HỶ XÃ và tự họ thức tỉnh để được thoát cảnh đau khổ mà họ đang gánh chịu để có một cảnh giới tốt tương ưng để thọ nhận khi tâm họ cũng hành như người chí thành chí kính gởi lời phục nguyện v.v… tới họ, và bên cạnh đó sẻ có Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Thiên …v.v….gia hộ giúp đở để cho người dương lẫn người âm khi tất cả đã biết quay về Bờ Giác.
Còn ngược lại tụng xuông cho có lệ thì đó là một đề tài khác, nhưng dù tụng xuông nhưng nó cũng gieo trong tàng thức của người đọc tụng đó là gieo duyên sau này có thêm căn lành thì chủng tử này sẻ nảy nầm trong tương lai.
Cũng như người Phật tử này đã hỏi Thầy
“Chữ việt con hạn hẹp xin Thầy từ bi hỷ xả cho và chỉ dạy con tu thế nào để được vãng sanh về cõi phật - tham - sân - si - thân - khẩu – ý đã từ từ buông bỏ - giúp ai được thì giúp không có mong cầu lợi, không ích kỳ, tham cầu, tranh danh v.v.”
Vậy thì hành giã này cũng đang làm lành đi theo hướng thiện rồi….. thì chỉ cần ăn chay niệm Phật làm lành thân an là đủ điều kiện vãng sanh về cỏi Phật nắm chắc trong tay rồi
Muốn học hạnh Phật thì phải ăn chay, vì tâm muốn về cỏi Phật mà còn ăn thịt chúng sanh là không đúng với tâm Phật, niệm Phật (tín, hạnh, nguyện) là làm cho Phật tâm mình thức tỉnh và nhớ nghĩ, hành động, ngôn từ …v.v.. như Phật, làm lành thì hành giã đang chuyển hoá chính mình theo tâm Phật, hành theo Phật Pháp trao dồi thân tâm, đạo đức từ bi, trí tuệ …,thân an thì hành giã muốn ra đi lúc nào tự tại như tâm Phật.
Kết luận một hành giã tu hành chuyển hoá như vậy thì cảnh giới nào sẻ chấp nhận hành giã này đây J (Xin Thầy gởi cho Phật tử này bài cầu siêu, cầu an của Thầy Thạnh hay Hạnh gì đó Toronto giảng giải rất dể hiểu). Vậy thì vãng sanh hay không vãng sanh về cỏi Phật là do chính cái tâm hành giã quyết định mà thôi và quyết tâm thực hành theo lời Phật dạy… thì hành giã tu Phật sẻ biết mình có về gặp lại Cha Lành, Đức Từ Phụ A Di Đà hay không? Có về được cảnh Phật mà hằng ngày làm bạn với các Chư Phật, Đại Bồ Tát không?

Nam Mô A Di Đà Phật,
Nhuận Thuận
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
NNT  
#590 Posted : Thursday, February 28, 2013 6:58:04 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
Trí nhớ siêu đẳng của 1 bé gái 7 tuổi gốc Việt tại Cộng Hoà Liên Bang Đức :

http://www.tredeponline.com/post/archives/31727
NNT  
#591 Posted : Thursday, February 28, 2013 9:02:35 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
[b]Lina Mai viết bằng binary :

000011010000101001001100011010010110111001100001001000000100110101100001011010010000110100001010


Vị nào muốn viết phương danh của mình bằng binary, xin mời vô đây :
http://nickciske.com/tools/binary.php

Edited by user Friday, March 1, 2013 8:03:04 PM(UTC)  | Reason: Not specified

NNT  
#592 Posted : Tuesday, March 5, 2013 6:50:42 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
Diễn xuất của GenY, GenZ gốc Á Châu trên màn ảnh, trong đời thường tại Mỹ :

http://www.youtube.com/watch?v=JvxHPtEsmFc
NNT  
#593 Posted : Friday, March 8, 2013 5:47:52 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
Nhân ngày Mồng Tám Tháng Ba, ngày Phụ Nữ Quốc Tế , mời đọc :

http://www.phattu.com/f2...h-hu%E1%BB%87-10211.html

http://banmaihong.wordpr...-ve-phu-nu-ii-huynh-hue/

Edited by user Friday, March 8, 2013 5:53:51 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Ngọc Anh  
#594 Posted : Monday, March 18, 2013 7:12:44 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,732

Thanks: 5069 times
Was thanked: 4290 time(s) in 2076 post(s)

UserPostedImage

NGƯỜI TỚI NHƯ MỘNG
Phan Tấn Hải

Tôi đã gặp những người như thế. Những người như mộng, như thật. Những người đã tới để cho tôi thấy đời này như mộng, như thật. Họ tới để nói rằng cõi đời này là bất khả nghĩ bàn, nói mộng cũng hỏng, mà nói thật cũng sai.

Có những người đã bước vào trần gian này, mà tôi có cơ duyên gặp được nơi này hay nơi kia, và rồi biến dạng như những làn khói lẩn khuất, hư ảo. Để rồi chỉ còn thoảng trong trí nhớ của tôi những nụ cười như hoa nở, một giọng nói dịu dàng như gió sớm, hay như một tà áo phủ mát những giấc mộng đêm hè. Và rồi, người hiện ra như thật, và biến đi như sương khói, để những bàn tay nắm lấy chỉ còn là một cảm giác run rẩy mỗi khi nhớ tới, và rồi lại buông ra để đi thật xa.

Với những người bạn ở cõi này, Diệu My là một người như thế trong trí nhớ của tôi. Thực ra, nhóm bạn chúng tôi quen gọi một cô bé ở Thủ Dầu Một thế cho tiện, chứ tên đời và tên đạo đều không phải thế. Nhưng có sao đâu. Có ai bảo tên là thực, để rồi cân nhắc xem là phải gọi thế nào. Cũng đâu có ai bảo thân này là thật, để rồi cứ mãi tìm trong trí nhớ bóng người của nhiều thập niên trước.

*

Diệu My đẩy nhẹ tôi ra, lùi vài bước, đưa tay phải lên vẫy chào trong khi nở nụ cười trẻ thơ trông hệt như thời của nhiều thập niên trước, và quay lưng bước đi. Tôi còn đứng ngẩn ngơ với mùi hương tóc rất lạ còn phảng phất, nhìn Diệu My bước hẳn vào sương mù nơi chiếc cầu trên đường State Street, nơi vào phố chính của thị trấn Santa Barbara, rồi mới bước về ga xe lửa Amtrak, chờ về lại Quận Cam.

Ngồi trên xe lửa, tới gần trạm Anaheim, trước mắt tôi vẫn thấy vài sợi tóc của Diệu My bay trong gió biển Santa Barbara. Tôi đưa hai bàn tay mình lên, nhìn ngắm. Cảm giác nơi tay vẫn còn rung động như điện chạy, cảm giác khi nắm tay nàng và buông ra. Y hệt như nhiều thập niên trước đã tình cờ chạm tay nhau.

Và lần này, cảm giác nơi tay vẫn còn trong vòng ôm từ biệt, khi vòng qua bờ vai nàng, xiết nhẹ và bàn tay áp lên lằn ngấn áo nịt ngực sau lưng của nàng. Người tôi run rẩy. Khi nàng đẩy nhẹ ra, tôi thâý như mắt nàng có tia nhìn tinh nghịch.

Tinh nghịch như câu nói rộn tiếng cười của nàng qua điện thoại tuần trước: “Anh à, anh nói anh 60 tuổi sống đơn độc, chỉ biết sách vở, chưa biết gì tới bạn tình nào... chỉ có Diệu My này tin thôi. Chỉ vì, huyền thoại bao giờ cũng đáng tin, kể cả huyền thoại trong năm 2012 này, phải không?”

Tôi cũng không ngờ Diệu My đã sang Hoa Kỳ, sau nhiều thập niên xa cách. Luôn luôn, cô bé vẫn là nhỏ út của chúng tôi, một nhóm bạn tu học nơi sân Chùa Tây Tạng, Bình Dương, từ những năm của thập niên 1970s. Và rồi bây giờ gặp lại, thì mới biết cô nàng đang về tìm việc ở thị trấn miền trung California này, và là nơi rất vắng người Việt. Tôi tự nhủ, để rồi sẽ gửi email hỏi Sơn xem sao.

*

Tôi nhớ hồi đó, nhỏ út Diệu My cứ nói rằng bài Bát Nhã Tâm Kinh khó nhớ quá, học cả mấy tháng mà chưa thuộc, tuy hễ rãnh là tụng đọc hoài. Lúc đó, tôi nói đùa, tại vì giọng của nhỏ út hay quá, nên khi giọng cất lên, là chữ bay mất đâu rồi, không thấy bay vào trí nhớ. Mà giọng của nhỏ út hay lắm, nói chuyện bình thường cũng đã như nghe nhạc rồi, không thành ca sĩ mới lạ. Sinh ở Đà Nẵng, nhưng vào Bình Dương sống từ nhỏ, nên tiếng nói của nhỏ út pha giọng như hòa âm, như dường tiếng nhạc.

Rồi cũng tới lúc nhỏ út thuộc được bản kinh chỉ có một trang này. Tôi lại nói, thuộc mà không có hiểu hết đâu nhen. Lúc đó, nhỏ út lại cười, vuốt tóc che một bên mặt, và nép người vào một góc cột chùa, trong khi nhóm chúng tôi ngồi uống trà, nghe Thầy Thích Tịch Chiếu nói về giáo pháp.

Gọi Diệu My là nhỏ út là để cho tiện, riết thành quen. Cả nhóm đều gọi cô bé như thế, nhỏ nhất thì được gọi thế là phải. Lúc đó, nhỏ út chưa qua bậc trung học, trong khi nhóm bạn chúng tôi hoặc đã học xong đại học, hoặc đang ở năm cuối. Nhỏ út ưa lên ngôi chùa này, vì nhà ở khu chợ Thủ Dầu Một, đạp xe một chặp là tới. Còn nhóm chúng tôi là từ nhà ở Sài Gòn, nguyên nhóm đều là cựu sinh viên Đại Học Văn Khoa, hễ cuối tuần là đi xe đạp, hay xe gắn máy về Chùa Tây Tạng ở Bình Dương những ngày cuối tuần, và có khi cả những ngày trong tuần, khi được rãnh rang.

Nhỏ út cũng siêng lắm, khéo lắm... biết cách ủ tương, làm chao. Trong khi Sơn và tôi cũng có lúc về khu đất An Phú Đông ở hẳn cả tuần để làm ruộng giúp chùa. Tay chân đầy bùn đất, nhưng thời đó thật là vui. Nói vui, là vui khi ngồi ở rẫy, khi nghe Thầy nói về Thiền, hay khi ngồi thiền, tụng kinh... Chứ đất nước ngổn ngang, tâm sự chúng tôi đứa nào cũng bời bời. Mấy tên bạn trong Nhóm Triết, cũng là học trò của ngôi chùa này, còn đi tù cải tạo chưa về.

Vào những ngày chủ nhật, có những ông cụ, bà cụ cũng vào tụng kinh, niệm Phật, thăm hỏi Thầy. Tôi còn nhớ hình ảnh bác Diệu Quang thường ngồi nơi hàng thứ nhì. Bà cụ có lần giải thích với tôi rằng, ngồi hàng đầu thì kỳ quá, còn ở hàng thứ nhì thì gần Phật hơn là ngồi ở các hàng sau.

Lúc đó, tôi giả bộ quay qua nói với Sơn, tụi mình cứ ưa ngồi hàng chót, rủi tụng kinh Ông Phật không nghe thì sao. Bác Diệu Quang nghe được mới cười, rung rinh mái tóc trắng, nói thêm rằng bác đang lo vì có hai người con trai ở tù cải tạo xa, nên bác cần phải tụng kinh cho Đức Phật nghe không sót chữ nào, mới “hồi hướng công đức cho hai đứa nó về sớm,” theo bác giải thích. Lúc đó, Sơn khều tôi, ra dấu im lặng, đừng bàn nữa.

Bác Diệu Quang tụng kinh chậm, vì tuổi lớn rồi, có khi đọc vấp. Một lần tụng Phổ Môn của Kinh Pháp Hoa, chuyện Đức Bồ Tát Quan Thế Âm hóa hiện nhiều ứng thân để cứu chúng sinh, bác Diệu Quang nghẹn lời, cúi mái tóc trắng thấp hơn, nhưng tôi kịp nhận ra bác đưa tay áo lên chùi nước mắt.

Cũng chất phác như thế là bác Bảy Trụ, cô Diệu Tâm, và nhiều người khác. Một thời đầy những lo buồn, ai cũng thế. Chẳng hiểu sao nước mình nó như thế.

Tới chùa lúc đó, mỗi người là một thế giới đau thương, cứ những ngày sóc vọng, lễ kỵ, tới tụng kinh cũng chỉ mươi người, không đông bằng các chùa ở Sài Gòn. Còn ngày thường thì vắng bặt, có khi chẳng thấy bóng ai, chỉ còn Sơn với tôi ngồi thưa chuyện với Thầy. Không khí căng thẳng thời đó là như thế.

Thỉnh thoảng Thầy ra ngồi ở ghế đá trước sân. Nơi này hồi đó cũng có một vài kỷ niệm. Có những đàn chim sẻ thường sà xuống, bay quanh quẩn trong sân, bạo dạn tới mức có khi nhảy lóc cóc tới gần chân thầy. Một lần nhỏ út Diệu My thấy vậy mới lấy tay quơ quơ cho chim sẻ bay, làm sao lại vấp té, tôi kịp đưa tay đỡ dậy. Bàn tay tôi nắm lấy bàn tay Diệu My, kéo đứng dậy, cảm giác lạ thường nơi tay tôi kéo dài mấy ngày. Tay nhỏ út Diệu My tất nhiên mềm mại, con gái mới lớn thì thế, tôi nghĩ thế. Nhưng đó là lần đầu tiên tôi nắm tay một thiếu nữ, tuy rằng nhỏ út vẫn trông như con nít trân, có vẻ như không thấy khác thường khi tôi nắm tay cô bé. Lúc đó, trong đầu tôi chợt nghĩ ra vài câu thơ, bây giờ không nhớ hết, nhưng đại khái là hình ảnh một đàn chim sẻ bay lên, làm những nỗi buồn rơi lại và nhà thơ ngồi ôm mặt khóc vì nhớ những ngày qua đi... Đại khái là thế. Nhưng tôi không bao giờ viết xuống giấy các dòng như thế cho trọn một bài thơ. Sao mình lại nặng nghiệp như thế nhỉ.

Khoảng mươi phút sau, Thầy nói rằng chúng ta phải học như chim, cất cánh bay đi nhưng không để lại ảnh hình hay dấu chân chim nào trong không gian, cũng như trong tâm mình, những niệm khởi sinh và biến dạng đi. Tôi sực nghĩ, có vẻ như Thầy thấy được cảm giác của tôi khi chợt nắm tay cô bé.

Thầy nói, nếu còn để lại dấu vết, còn nắm giữ cảm thọ của những gì của hôm qua, những gì của quá khứ thì sẽ không giải thoát nổi. Tôi muốn hỏi rằng có phải Thầy nhận ra rằng tôi đang lưu giữ cảm giác nơi tay tôi, nơi vừa nắm tay Diệu My, nhưng rồi thôi. Mà như thế thì có phạm giới gì không, vì nguyên khởi cũng là tình cờ thôi. Ai biết. Nhưng mắt Thầy nhìn thẳng vào mắt tôi, khi nói về cánh chim bay không lưu lại dấu vết ở cõi này. Tôi phải thú nhận, cảm thọ nơi bàn tay tôi như có điện chạy, y hệt như cô bé làm ra điện giựt. Cảm giác đó nhiều thập niên sau vẫn còn nơi tay tôi, mỗi khi nhớ tới.

Một lần, sau khi mọi người tụng kinh xong hết và lui ra, nhỏ út Diệu My ngồi lại một mình trong chánh điện và tụng một mình bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bấy giờ tôi mới ngân ngơ, đúng là giọng nhỏ út như tiếng hát rất lạ. Một đàn chim sẻ sà xuống trước sân, nhảy múa theo giọng nhỏ út tụng kinh. Không phải hình ảnh bình thường hằng ngày. Đúng là một điệu vũ lạ. Đàn chim sẻ, lung linh trong nắng mặt trời. Sắc bất dị không, không bất dị sắc... Và khi nhỏ út ngưng tiếng, đàn chim sẻ cũng ngừng lại một chặp, và rồi bay lên. Tôi nhìn qua Sơn, thấy hẳn cũng nhìn mình, cùng ngạc nhiên vì điệu vũ lạ của chim.

Buổi tụng kinh tuần sau, tôi và Sơn ngồi hàng sau cùng. Và cùng thấy rằng, khi tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh, giọng của nhỏ út Diệu My nghe như tiếng nhạc trong âm vang hội chúng chỉ mươi người, và ngó ra sân thì thấy đàn chim sẻ sà xuống, nhảy múa hay tụng đọc gì theo kiểu riêng của loài chim. Tôi chợt nghĩ ra một câu thơ, kiểu như hẳn rằng kiếp trước em là chim, hát theo một câu kinh giữa sân chùa, nhưng rồi cũng không dám viết xuống cho thành trọn bài. Lúc nào tôi cũng sợ nghiệp. Nhất là cứ nhớ mãi lời Thầy dạy là hãy như chim bay, không để lại hình ảnh nào trên không.

*

Nhiều thập niên sau, tôi về sống lặng lẽ, bình thường ở khu phố Little Saigon, Quận Cam. Mãi nhớ câu thơ Nguyễn Du, “Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên,” lòng tôi lúc nào cũng nghĩ tới quê nhà nhưng chuyện mưu sinh cứ mãi làm mình loay hoay cả đời. Trong căn chung cư hẹp, rất hẹp, nơi giành cho người cao niên, sống đơn độc với những trang sách cổ, tôi chỉ có niềm vui là dò tìm và viết lại những ẩn nghĩa của cuộc đời.

Những khi bước dọc theo phố Bolsa buổi trưa, dưới nắng ấm mặt trời, lòng tôi lại nhớ tới những tia nắng lung linh với đàn chim sẻ ở sân Chùa Tây Tạng Bình Dương.

Bạn thân ở quê nhà thì nhiều, nhưng thường liên lạc qua email vẫn là Sơn, người bây giờ chỉ còn niềm vui duy nhất là tu học và dịch kinh sách Tây Tạng. Thỉnh thoảng, Sơn gặp chữ khó, không dò được qua tự điển, lại email sang hỏi tôi. Hóa ra, hai thằng bạn năm xưa bây giờ lại là hai cư sĩ ưa dịch kinh sách.

*

Mới tuần trước, tôi nhận được một cú điện thoại lạ. Giọng nhỏ út Diệu My tôi nghe là nhận ra mang máng. Tôi bất ngờ, vì nhiều thập niên qua rồi, vẫn nghĩ là Diệu My còn ở Việt Nam, vẫn đang ngồi ở một góc núi nào đó. Tôi vẫn nhớ cách nhỏ út hất nghiêng mái tóc, cách ngồi thẳng lưng, với hai bờ vai nhỏ của một đứa con gái chưa lớn trộng.

Tôi đã từng nói với Sơn rằng giọng nhỏ út nói là pha giọng Đà Nẵng với Bình Dương, nhưng thực ra phảỉ nói là giọng pha tiếng nhạc trời, tụng bài Tâm Kinh là không có bản nhạc nào hay hơn. Những lần như thế, Sơn lại bảo rằng tôi nghiệp còn nặng. Vì, Sơn bảo, còn thấy có người nghe tụng kinh say mê giọng tụng kinh của người tụng, thì vẫn còn ở cõi này hoài thôi; lẽ ra, phải thấy ngay tất cả đều là vô ngã, thoắt hiện và thoắt mất, thì mới nhận ra ý kinh.

Diệu My nói rằng, nàng bay từ New York tới thăm Quận Cam một buổi, rồi hôm sau sẽ đi xe lửa về Santa Barbara nhận việc làm mới. Tôi nói, cho tôi mua vé đi theo, để tiễn nàng út vào nơi ở mới.

Tôi nói để sẽ đón ở phi trường John Wayne, cô nàng bảo thôi, vì nàng sẽ xách hành lý tới trước cửa căn chung cư của tôi vào buổi sáng Thứ Bảy. Không gì khó, giọng cười qua điện thoại của nàng già dặn, so với giọng tụng kinh thời thơ dại, nhưng vẫn là một thứ giọng pha cả Miền Trung và Miền Nam. Cũng vẫn như một tiếng nhạc năm xưa.

*

Diệu My tới bất ngờ, gõ cửa. Tôi nhìn kỹ. Cô nàng bây giờ tuổi lớn rồi, có một chút má hồng, môi son, nhưng vẫn là mái tóc nép bên cột chùa, mắt nhìn vẫn thơ trẻ. Và dĩ nhiên, không phải chiếc áo tràng màu lam, mà là một áo khoác xám.

Tôi bảo nàng để hành lý trong phòng, rồi đưa nàng ra phố Bolsa ăn trưa. Khu chung cư tôi ở là nơi chính phủ tài trợ. Tôi nhìn quanh mấy hành lang, ngó xuống phố, tự hào vì đi bên cạnh một người phụ nữ dễ thương như thế.

Ngay vừa suy nghĩ thế, tôi chợt nhớ tới câu Sơn nói năm xưa rằng nếu tôi thấy thật là có thì sẽ hỏng, mà nói thật là không thì sẽ đi lạc, lúc tôi nói rằng giọng tụng kinh của Diệu My thật tuyệt vời, nghe một lần là cả ngàn triệu kiếp không quên.

Tôi mơ hồ có ý nghĩ muốn giữ nàng ở lại Little Saigon luôn, nhưng để rồi xem sao. Tôi nghĩ, Santa Barbara thì gọi là khá gần, lái xe ba giờ rưỡi, lên thăm nàng là chuyện dễ mà. Tuy nhiên, tôi không dám hỏi về hoàn cảnh gia đình của nàng, như sợ nghe những chuyện buồn, vì đời người đâu dễ có được bao nhiêu niềm vui.

Khi đưa Diệu My tới trước thương xá Phước Lộc Thọ, một đàn chim bay sà xuống trước mặt nàng. Tôi thấy như dường cảnh này đã thấy lâu lắm rồi. Thời nào đó, mơ hồ, nhưng đã thấy rồi, kể cả khi khu phố Little Saigon chỉ là những vườn cam và rau.

Tôi đưa nàng đi trên các phố ngợp nắng Bolsa, vào một tiệm cơm chay trong góc Phước Lộc Thọ, lấy xe chở nàng ra Huntington Beach nhìn biển mươi phút, rồi lại quay về. Tôi chỉ cho nàng thấy chiếc bàn tôi ngồi làm việc hàng ngày, chiếc máy điện toán cổ lỗ và chậm rì nhưng cũng còn nối mạng được. Tôi chỉ cho nàng thấy chiếc giưỡng tôi nằm, nói mỗi đêm và rạng sáng tôi vẫn ngồi thiền trên giường, vì phòng này chật quá, không dư chỗ để làm thiền phòng hay gì hết, kể cả một bàn thờ. Kiến trúc căn chung cư này gọi là studio, nghĩa là hẹp lắm. Hẹp tới nỗi anh Vũ Huy Quang mỗi lần từ San Jose ghé thăm Quận Cam, nằm ngủ nơi sàn là tôi đi phảỉ nhón chân, vì sợ giẫm nhằm nhà văn khó tính này.

Tôi nói, tôi muốn thời gian ngừng hẳn lại, muốn điạ cầu đừng xoay nữa, muốn nắng chiều đừng tàn thêm.

Nàng cười và hỏi, sao vậy.

Trời ạ, tôi muốn ngất đi khi nhìn thấy nụ cười của nàng, y hệt như thời trẻ dại.

Tôi nói, vì tôi không muốn nàng bước ra khỏi căn phòng nãy nữa.

Nàng lại cười và nói, anh nói chuyện kiểu như thế, mà bảo là vẫn độc thân tới bây giờ là lạ đó.

Tôi nói, đời người ngắn quá, cứ ngồi dúi đầu vào đọc sách, viết sách, ngẩng đầu lên là thấy tóc trắng rồi, lòng chẳng còn nghĩ ngợi gì nữa.

Nàng bảo tôi, “Sư huynh ơi, bước ra hành lang giùm,” để chờ trong khi nàng tắm và thay trang phục để mời tôi đi ăn tối. Oh man, tôi lại nhớ rằng, nhóm bạn chúng tôi đôi khi gọi nhau là sư huynh và tiểu muội, chỉ vì có lúc gọi là anh hay em không tiện. Mà tại sao không tiện thì chẳng ai hiểu. Hay tại cái sân chùa Bình Dương này như thế.

Tôi mới nhớ, căn chung cư này hẹp quá, mà tấm bạt che phòng tắm lại là tấm nylon trắng, chẳng thơ mộng gì.

Tôi nói, thôi thì anh bước ra chờ. Tôi nghĩ, nếu ngồi trong nhà, chỉ nghe tiếng nước xối tắm, thế nào lòng mình cũng sẽ suy nghĩ tầm bậy, tầm bạ. Bước ra chờ là phảỉ rồi.

Thực ra thì không ăn tối. Nàng bảo là không ưa ăn chiều, ăn tối. Chúng tôi đêm đó, tới tiệm cà phê Starbucks trên đường Brookhurst, góc Edinger. Nàng mang theo một iPad, ngồi gõ và xem. Tôi nhà quê lắm, những thứ máy móc phức tạp là chịu thua.

Khi tôi nói thế, nàng ngẩng đầu lên cười, Trời ạ, đây là nụ cười thỉnh thoảng hiện về trong giấc mơ của tôi, mà tôi không bao giờ nhận ra là ai và từ đâu.

*

Về nhà, việc đầu tiên là tôi mở máy, vào mạng Amtrak để mua vé xe lửa cùng chuyến với nàng.

Lòng tôi vui như mở hội. Tôi biết rằng, đời mình sẽ không còn như cũ nữa. Những ngaỳ mai sẽ khác, khác hẳn với những ngày hôm qua. Tại sao, tôi cũng không rõ. Nhưng hiển nhiên là, có những niềm vui lớn tới mức khắp đất trời như rực sáng, và mọi chuyện không còn như cũ nữa.

Tôi bảo nàng nằm ngủ trên giường, để tôi nằm dưới đất.

Nàng bảo không được, huynh phải nằm giường.

Tôi không cãi. Tôi đưa một lô mền cho nàng đắp, bảo coi chừng cảm cúm, mệt dễ bệnh lắm.

Tôi ngủ không được. Trằn trọc mãi. Có đất trời làm chứng cho tôi rằng, cả đời tôi chưa bao giờ nằm ngủ chung một phòng với phụ nữ cả. Không hiểu tại sao, cái nghiệp mình nó thế. Có ai gọi thế là có căn tu, nhưng tôi không nghĩ thế.

Tôi nói, ngọn đèn nhỏ cắm dưới chân bàn có làm Diệu My ngủ được không.

Nàng nói, không hề gì, có 500 chiếc xe ngựa phóng trước mặt cũng không hề gì.

Tôi ngồi thiền như thường ngày, hít thở đều đặn. Nhưng quả nhiên là mọi chuyện không như cũ nữa. Mùi hương của tóc nàng như dường bay ngợp cả phòng. Mắt tôi mở nửa chừng, nhìn thấy chiếc mền nàng đắp phập phồng, nhìn thấy chiếc mền phủ lên hai chân nàng duỗi song song.

Trời ạ, tôi nhắm mắt. Chịu thôi, tôi lại nằm, tập hít thở, giả như đang chết, quán toàn thân mình nằm như xác chết. Nhưng giả chết thế nào được. Hình ảnh cô bé đuổi theo đàn chim bay ở sân chùa năm xưa. Rồi hình ảnh đàn chim sà xuống trước mặt nàng ở sân thương xá Phước Lộc Thọ. Rồi hình ảnh hai chân nàng duỗi song song.

Tôi ngồi dậy, mở đèn, hỏi nàng có ngủ được không.

Nàng bảo sắp ngủ.

Tôi bảo, rằng sư huynh muốn nghe nhỏ út tụng giùm một biến Tâm Kinh Bát Nhã. Tụng nhỏ thôi, không cần chuông mõ, vì khuya rồi, hàng xóm khu chưng cư này đa sự lắm.

Nàng hỏi, sao hai anh em mình không tụng kinh chung nhau.

Tôi tự nhủ, anh tụng thế nào được nữa. Nhưng tôi nói, rằng anh nhớ hồi xưa anh dò xem nhỏ út thuộc bài kinh này chưa. Bây giờ chỉ muốn nghe thôi.

Nàng ngồi dậy, bảo hễ tụng là ngồi, không dám nằm. Và nàng đọc nho nhỏ, rằng sắc bất dị không... Nàng ngưng laị một chút, hỏi tôi nhớ gì không.

Tôi nói là nhớ. Nhớ chứ, hồi đó, tên Sơn có một lần chận lại chỗ này, nói sắc đây không phảỉ nhan sắc, mà sắc chính là hình tướng. Thôi đọc tiếp đi, nhỏ ơi.

Nàng đọc lại, đọc trọn bài kinh, giọng như ca hát, giọng như mang theo sóng biển Đà Nẵng và gió rừng Bình Dương.

Tôi nằm xuống ngủ. Đêm đó, tôi nằm mơ thấy một đàn chim bay nương theo gió biển Huntington Beach.

Tỉnh dậy, tôi thấy nàng đã tỉnh dậy từ khi nào, hành lý đã sẵn sàng.

*

Trên xe lửa, tôi nói là tôi sẽ cần liên lạc với nàng.

Cô bé cười, bảo là nàng sẽ liên lạc. Tôi vẫn nhầm hoài, bé thế nào nữa nhỉ, vì tóc nàng có vài sợi bạc rồi.

Nàng nói thêm, như chim bay trên trời, không để lại dấu tích, giữa không gian vô định nhưng vẫn biết nơi cần đến.

Hiển nhiên, ngôn ngữ của nàng không còn là của cô bé ở sân chùa năm xưa nữa.

Tiếng xe lửa chạy âm vang, dĩ nhiên không ồn như xe lửa ở quê nhà. Tôi ngồi bên cạnh nàng, cùng nhìn ra cửa sổ về hướng biển xa.

Tôi không dám hỏi những chuyện đời, kiểu như nàng làm việc gì, lương bao nhiêu, và bà bạn đón về sở mới là ai, quen ra sao. Có vẻ như, tôi sợ những chuyện như thế làm rạn vỡ đi bầu không gian đầy sương khói giữa chúng tôi.

Tôi muốn nói một câu, nhưng rồi ghìm lại, rằng sẽ có lúc anh bật khóc vì nhớ em.

*

Xuống xe lửa, nàng bảo muốn đưa tôi ra nhìn biển Santa Barbara một chút, để rồi sẽ từ biệt. Nhà ga chỉ cách trăm bước là tới biển.

Đứng nhìn biển một chặp, nàng ho khúc khắc. Tôi bảo gió lạnh đó, coi chừng bệnh.

Nàng để mặc cho tóc bay theo chiều gió, mìm cười nhìn thẳng vào mắt tôi. Một chặp.

Và rồi nàng bảo tôi, hãy ôm em từ biệt đi.

Tôi ôm nàng, choàng tay vòng qua vai, bàn tay tôi kinh ngạc và run rẩy khi cảm nhận lằn dây nịt ngực qua lớp vải áo nơi lưng nàng. Một chặp. Và nàng đẩy nhẹ tôi ra, bước đi.

Tôi vẫn còn ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mình không hôn nàng. Nhưng mùi hương tóc nàng vẫn còn theo tôi, về tới Little Saigon. Vào cả giấc ngủ đêm hôm đó. Bàn tay tôi run rẩy, cảm xúc khi ôm nàng nơi bờ biển Santa Barbara vẫn còn mãi, còn nơi hai bàn tay tôi kể cả khi tôi gõ email hỏi Sơn về chuyện các bạn ở quê nhà.


*

Sáng hôm sau, tôi đọc email trả lời từ Sơn, trong đó kể nhiều chuyện đổi dời dâu biển. Từ chuyện ngôi chùa Tây Tạng Bình Dương, tới chuyện đất ruộng An Phú Đông bây giờ đã giao cho Sư Đăng cất chùa. Sơn kể rằng bác Diệu Quang và bác Bảy Trụ đã từ trần cả rồi.

Còn nhỏ út Diệu My thì đã xuất gia từ lâu, bây giờ là một ni sư, trong hơn hai thập niên không hề bước xuống phố chợ.

Tôi kinh ngạc khi đọc như thế. Nhìn lại trên bàn, tôi thấy hai vé xe lửa, một của tôi, và một của nàng. Tôi còn nhớ, trên xe lửa, tôi đã nói với nàng là tôi sẽ giữ tờ vé đó để làm kỷ niệm.

Trong phòng vẫn còn thoảng hương tóc nàng, lẫn trong hương gió biển từ xa bay về.

Tôi vẫn nhớ như in rằng, nàng nói dịu dàng, “Sư huynh ơi, bước ra hành lang giùm,” khi nàng sửa soạn tắm.

Tôi nhìn hai tay mình, cảm giác như điện chạy vẫn còn, kể cả cảm xúc rất lạ khi ôm nàng và cảm nhận lằn dây nịt ngực dưới lưng áo nàng. Làm sao quên được, đó là lần đầu tiên trong đời, tôi được ôm một phụ nữ.

Bên tai tôi, vẫn còn âm vang bài Bát Nhã Tâm Kinh nàng tụng đêm qua...

Nguồn:http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-112_4-17780/nguoi-toi-nhu-mong-phan-tan-hai.html

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Mén  
#595 Posted : Saturday, April 13, 2013 10:14:45 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Tu chi nữa !

Hoà thượng trụ trì chùa X trên ngọn Cấm Sơn chiều nay tiếp một trung niên xin được quy y cửa Phật :

- Thầy ơi, con đến xin được nép bóng thiền môn, xa lánh sự đời, mong thầy chấp thuận.

Hoà thượng khuyên can :

- Nhà chùa nào phải là nơi giải sầu, tam bảo đâu là chốn lánh trần. Tu hành cũng lắm gian nan, thí chủ phải suy nghĩ thật kỹ, lỡ sau này không chịu được mà hoàn tục thì tội lỗi lắm !

- Thưa thầy, ý con đã quyết, xin thầy thí phát và cho con được kêu bằng Sư Phụ !

- Con à, nghĩ lại đi, cuộc đời hãy còn lắm niềm vui với thất tình lục dục. Đang tuổi xuân, sao thí chủ không tìm vui trong tình ái ?

- Thầy ôi, bây giờ ngoài đó yêu nhau hôm trước bóp cổ nhau hôm sau ! Với lại lấy vợ thì phải sanh con, lỡ vô sinh đã khổ mà sinh được còn khổ hơn, tình là dây oan !

- Thiện tai ! Thế sao con không giải khuây bằng những thú vui trần thế khác như ẩm thực, như du lịch ?

- Thầy xa lánh thế gian quá lâu nên không biết cõi tục bây giờ nó… tục lắm ! Ăn một món ngon cũng có nghĩa ăn mầm bệnh. Ra đường thì đầy dẫy hiểm nguy, vừa sợ cướp, sợ hung thần đường phố, sợ cả công an ! Thầy chưa biết đó thôi, đường không đủ mà đi nhưng sơ hở lấn làn xe là ăn biên bản, xử theo nghị định 71 đi đứt cả tuần lương, vui chưa thấy đã lo nhãn tiền !

-Thế, chẳng lẽ ngoài đó không còn gì vui ?

- Con chẳng biết nữa. Với con bây giờ tất cả đều là không !


Hoà thượng ngẩn người :

– Mô Phật ! Nói thế thì thí chủ đắc đạo rồi, tu chi nữa !

(sưu tầm)
Lê Hải  
#596 Posted : Wednesday, May 1, 2013 9:11:21 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 750 time(s) in 380 post(s)


Mượn đất cội cây, cắm một cành khô từ tâm thiền sư Tuệ Sĩ .




Thiền Sư Thích Tuệ Sĩ.


Kính thưa quí vị,


Hân hạnh gửi đến quý vị một vài ý nghĩa phiến diện về những điều đè nặng tâm trí tôi trong suốt thời gian ở tù. Nhưng điều trước tiên tôi muốn bày tỏ ở đây là sự tri ân của tôi đối với đồng bào hải ngoại, với sự cộng tác của quốc tế, đã can thiệp một cách có hiệu quả khiến cho bản án tử hình dành cho tôi trở thành bản cáo trạng dành cho những người tự cho có quyền xét xử tôi và phán xét những người đã hành động theo lương tâm. Tiếp theo, sự can thiệp đã khiến cho Nhà Nước Cộng Sản Việt nam phải tuyên bố trả tự do cho tôi, nhưng nhiều người bạn tù của tôi vẫn còn bị khổ trong các trại tù. Trong số đó có nhiều người bị giam cầm gần 25 năm, vượt quá thời hạn mà luật Hình sự của Nhà nướcViệt Nam quy định đối với việc thi hành các bản án giam giữ có thời hạn.


Ở đây, tôi cũng xin bầy tỏ sự cảm kích sâu xa đối với các cộng đồng Việt Nam hải ngoại đang đấu tranh cho một nước Việt Nam trong sáng và tự do. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các nhân sĩ Hòa Lan, trong tình cảm nhân loại đã trực tiếp can thiệp với chính phủ Việt Nam cho tôi được sang thăm viếng đất nước Hòa Lan, để có thể có điều kiện tự do hơn nói lên tiếng nói thầm lặng mà đã một phần tư thế kỷ bị bóp nghẹt.


Trong những năm gần đây, trước cả khi tôi được lịnh phải rời khỏi nhà tù để trở về chùa, có rất nhiều đồng bào ta từ nước ngoài về thăm và càng ngày càng chứng kiến những đổi thay được nói là đáng khích lệ. Khích lệ theo chiều hướng nào, còn tùy theo cách nhìn mỗi người. Riêng tôi, tôi không có được may mắn là chứng nhân trực tiếp trước những thay đổi của đất nước, mặc dù tôi đang sống trong lòng quê Cha đất Tổ. Đó là điều tốt hay xấu, cũng còn tùy cách nhìn của mỗi người.


Mặc dù không có cái may như nhiều đồng bào sau khi sống tự do 15, 20 năm ở nước ngoài về thăm quê, thấy được những đổi thay từ trên thượng tầng, thấy được sự giầu sang của đất nước qua những tiện nghi vật chất từ các khách sạn năm sao dành cho cán bộ cao cấp và khách nước ngoài, từ những tiếp đón niềm nở và linh đình của những nhân vật thuộc thượng tầng xã hội, với những đặc quyền xã hội mà điều kiện chính trị dành cho, nhưng tôi có cái "may mắn" khác - nếu cho đó là may mắn - được sống chung trong một thời gian rất dài với thành phần được xem là "cặn bã" của xã hội. Chính từ xã hội gọi là cặn bã ấy tôi đã chứng kiến những đổi thay trong nhà tù như là ảnh chiếu của những "đổi thay to lớn" của đất nước. Sự chứng kiến đơn giản và dễ hiểu thôi


Cũng như người ta chỉ cần nhìn vào rác rưởi phế thải được dồn ra sân sau mà có thể biết những thứ đã được tiêu thụ ở sân trước. Chúng tôi, một số người từ lâu đã được học tập để thành thói quen suy nghĩ số phận dân tộc từ những đống rác, đã tự mình đặt thành nhiều câu hỏi cho lương tâm nhân loại, cho ý nghĩa tiến bộ của xã hội loài người, và trên tất cả là một câu hỏi lịch sử: "Đất nước đã thấm bao nhiêu xương máu của bao nhiêu thế hệ ông cha và bè bạn để dồn lại thành những đống rác như thế, những đống rác càng ngày càng to phình lên một cách khủng khiếp".


Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây không phải là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: văn hóa, chính trị, và cả tôn giáo. Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn nghìn năm văn hiến, bỗng nhiên để cho đất nước mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhất của nhân loại văn minh? Nguyên nhân từ đâu và do ai?


Trong gần mười lăm năm trong tù, điệp khúc tôi phải thường xuyên học tập để ca ngợi tính can đảm của đảng Cộng Sản Việt Nam: "Cán bộ làm sai, đảng tri... Đảng làm sai, đảng sửa." Tôi cũng thường xuyên trả lời: Đó không phải là sự can đảm, mà là thái độ cai trị khinh dân; xem dân như là vật thí nghiệm cho những tư duy không tưởng, học thuyết viễn vông của mình.


Tôi cũng thường xuyên bị học tập rằng, chính sách đoàn kết dân tộc của đảng là làm cho "dân tin đảng và đảng tin dân." Tôi cũng thường xuyên trả lời: làm cho dân tin đảng; đó là điều tất nhiên và dễ hiểu thôi vì có đáng tin thì người ta mới tin được; vì đảng cần được dân tin tưởng để tồn tại, dù chỉ là tin tưởng giả tạo. Nhưng "dân tin đảng" có nghĩa là thế nào? Nếu đảng không tin dân thì đảng xử lý dân như thế nào? Câu trả lời thực tế: Cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại.


Ngày nay, khi không còn ở trong nhà tù nhỏ như mười lăm năm trước nữa, tôi không còn có điều kiện để được lên lớp chính tri. Tôi hy vọng đảng Cộng Sản Việt Nam không còn có cái can đảm như xưa, để thử nghiệm học thuyết của mình thêm nhiều lần nữa; và cũng không thi hành chính sách "đại đoàn kết" như xưa, để dân có thể sống tự tại mà không bị đảng nghi ngờ.


Mặc dù có những thay đổi lớn nhìn từ góc độ nào đó, nhưng thực tế tôi biết chắc rằng có một điều không thay đổi. Đó là: "đảng Cộng Sản vẫn tự coi mình là ân nhân của dân tộc và do đó có độc quyền quyết định số phận của dân tộc"(mà là ân nhân hay tội đồ gì thì quần chúng và lịch sử trước mặt sẽ phán xét). Đó là điểm khác biệt với các chế độ chuyên chính lừng danh trong lịch sử.


Đây cũng chính là nguyên nhân của một trong những điều mà các đảng viên bảo thủ cho là "rác rưới tư bản". Điều đó là nạn tham nhũng. Bởi vì, quan liêu, hách dịch, thái độ kẻ cả ban ơn, vừa là bản chất và vừa là dưỡng chất của tệ nạn tham nhũng của Việt Nam hiện nay.


Mọi tội phạm xảy ra đều do một bên gây hại và một bên bị hại. Trong tham nhũng, mới nhìn thì không có ai bị hại một cách rõ ràng. Trước mắt, người đưa hối lộ và người nhận hối lộ đều nhận được những điều lợi nhất định.



Như vậy người bị hại chính là quần chúng, không đủ đặc quyền để tham gia nhằm hưởng lợi trực tiếp từ nạn tham nhũng. Nghĩa là những thành phần cùng khốn của xã hội chẳng có gì để cho, nên chẳng nhận được gì, vì vậy họ trở thành nạn nhân. Tính cá biệt của nạn nhân tham nhũng ở Việt Nam hiện tại là do thái độ ban ơn của những kẻ có chức quyền đối với "thần dân" dưới sự cai trị của mình.


Tham nhũng ở Việt Nam không chỉ là thỏa thuận song phương để dành những hợp đồng kinh tế béo bở. Nó bòn rút xương tủy của nhân dân; những người cùng khốn phải còng lưng lao động để có tiền đóng thuế.


Tham nhũng là gốc rễ của các tệ nạn xã hội khác. Vì nó tổ chức bao che và nuôi dưỡng chung. Nó xói mòn mọi giá trị đạo đức truyền thống. Bảo vệ hay phát huy văn hóa dân tộc trên cơ sở đó chỉ là lá chắn cho tệ nạn tràn lan mà thôi.


Tôi nói, tham nhũng là sân sau của quyền lực. Bởi vì chính những người dân cùng khốn, là tiếng nói luôn luôn bị áp chế bằng sự dọa nạt, là những người bị trấn áp bởi bạo quyền chuyên chính khốc liệt nhất, nhưng cũng lặng lẽ chịu đựng nhất. Đó là những chứng nhân cho mặt trái của tham nhũng và quyền lực; nạn nhân trực tiếp của tất cả sự áp chế của nó đối với giá trị nhân phẩm.


Có lẽ tôi muốn kể lại đây một câu chuyện thương tâm, để chúng ta hiểu phần nào bản chất tham nhũng trong một chế độ thường tự hào là không có người bóc lột người. Chuyện xảy ra trong trận lụt vào cuối năm vừa qua.


Tại xã Hương Thọ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên có một gia đình nghèo khổ sống lênh đênh trên một chiếc đò. Khi cơn lụt ập đến, gia đình này là duy nhất có ghe ở địa phương miền núi này, do đó đã vớt được trên 80 người khỏi cảnh chết chìm. Sau nước rút, thỉnh thoảng có vài phái đoàn đến cứu trợ.



Các gia đình khác đều nhận được cứu trợ. Chỉ trừ gia đình anh. Lý do:không có hộ khẩu, vì lâu nay gia đình này nghèo quá, phải sống "vô gia cư" phiêu bạt trên các sông suối nên không có hộ khẩu thường trú. Dân làng biết ơn anh, xin chính quyền địa phương cấp hộ khẩu cho. Nhưng thiếu điều kiện nhập hộ: gia đình anh không có đủ 400,000 đồng VN để hối lộ. Khi các thầy của tôi lên cứu trợ, dân làng tự động đến tường thuật sự việc để các thầy giúp đỡ. Các thầy giúp đủ số tiền, nhưng với điều kiện phải giấu kín nguồn gốc. Vì sẽ còn nhiều vấn đề rắc rối khác.


Điều tôi muốn nói ở đây không phải nhắm đến tệ nạn tham nhũng. Mà là nhân cách của gia đình nghèo khốn ấy; và thái độ chịu đựng sự bất công một cách thầm lặng đáng kính phục. Dù sống dưới mức tận cùng khốn khổ, anh vẫn giữ vẹn giá trị nhân phẩm của mình. Làm ơn cho nhiều người, nhưng không kể ơn để được đền bù. Chỉ có dân làng biết ơn và tự động đền đáp. Nhưng dân ai cũng nghèo khổ và lại gặp hoạn nạn như nhau, lấy gì chu cấp cho nhau?


Khắp cả đất nước này, có bao nhiêu trường hợp như vậy. Đó là những cuộc sống ở sân sau của quyền lực, sống trong bóng tối của xã hội. Nếu họ không lên tiếng, ai biết họ ở đây. Nhưng họ lại không lên tiếng. Vì không thể, hay vì không muốn? Do cả hai. Điều mà quý vị biết rõ là tôi đang nói chuyện ở đây cũng chỉ là cách nói "lén lút qua mặt chính quyền." Tôi chưa biết ngày mai của tôi ra sao, khi những điều tôi nói không làm hài lòng Đảng và Nhà nước.
Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục. Đối với giới trí thức nói riêng, mà xã hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu.



Bởi vì, tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói thì ngòi bút đã bị cong; những người muốn nói thì ngòi bút đã bị bẻ gẫy.


Nhưng tôi biết rõ một điều, và điều đó đã được ghi chép trong lịch sử: Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.


Trân trọng kính chào quí vị.
Tu Viện Quảng Hương, Sài Gòn, VN


Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Ngọc Anh on 5/1/2013(UTC)
NNT  
#597 Posted : Thursday, May 2, 2013 6:02:38 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
Xin giới thiệu
Asia Golden 3- Hùng Ca Sử Việt 2
cho mùa Quốc Hận 30 Tháng Tư

http://www.youtube.com/w...ture=em-share_video_user
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 5/2/2013(UTC)
Lê Hải  
#598 Posted : Thursday, May 2, 2013 7:43:33 PM(UTC)
Lê Hải

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 1,108
Location: California

Thanks: 1053 times
Was thanked: 750 time(s) in 380 post(s)



Tri-Thức Và Hành-Động Trong Thơ Tĩnh Thức Của Thiền-Sư Tuệ-Sỹ
[05/04/2006 - Tác giả: admin1 -]
Lê Mộng Nguyên *
Paris, Saint Hippolyte, 01.04.2006
Nguồn : Vietnam Review



Cho tôi một hạt muối tiêu
Bờ môi em nhạt nắng chiều lân la
Tôi đi chấn chỉnh sơn hà
Hồng rơi vách đá mù sa thị thành

Donne-moi un grain de sel et de poivre
Car la lumière du soir
A fané les commissures de tes lèvres
Je vais réparer les erreurs de ma patrie
Alors que tombe le démon rouge sur la falaise
Et que la brume enveloppe la ville entière…

Cuộc đời của Thượng Tọa Tuệ Sỹ, thật tương tự cuộc đời vua Trần Nhân Tông (1258-1308) thấm nhuần Phật Giáo ngay từ thuở thiếu thời, tham hiểu Thiền định dưới sự dạy bảo của Tuệ Trung Thượng Sĩ (bút hiệu Tuệ Sỹ Thầy tự đặt lấy để kính ngưỡng Ngài là Thiền Sư nhà Trần). Năm 36 tuổi, Điều Ngự Giác Hoàng nhường ngôi cho Trần Anh Tông ; xuất gia năm 41 tuổi và viên tịch tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử năm 1308, hưởng thọ 51 tuổi…

Nghìn năm trước lên núi
Nghìn năm sau xuống lầu
Hạt cải tròn con mắt
Dấu chân người ở đâu

Mille ans avant j’escaladai la montagne
Mille ans après j’en descends pour secourir les gens
Je t’ai attendue en vain néanmoins
La pupille de mes yeux te cherchant
Et les empreintes de tes pieds
Où sont-elles maintenant ?

Người hay em trong Tĩnh Thất là mệnh danh đất nước thương yêu, người tình của Thiền Sư Tuệ Sỹ : Cũng như vua Trần Nhân Tông, Thượng Tọa không những là một nhà biên khảo thông minh, một nhà văn uyên bác, một tư tưởng triết gia lỗi lạc, một thi nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà ái quốc chân chính (đã nhiều lần - với tinh thần bất khuất trước bạo tàn - chống cự cộng sản đang gieo rắc tang tóc trên miền Nam tự do nên bị kết án tử hình năm 1984…). Tương tự vua Trần Nhân Tông… đã tổ chức Hội Nghị tại Điện Diên Hồng (Thần Dân nghe chăng ? Sơn hà nguy biến ! …), thực hiện đại đoàn kết nhân dân và triều đình, viết một trang sử nước Nam huy hoàng, Thượng Tọa Tuệ Sỹ ôm mộng Trường Sơn với ý chí kháng chiến của đồng bào hải ngoại cùng quốc nội và sự chống đỡ của nhân quyền quốc tế, đặng giải thoát dân mình. Là môn đệ tinh thần của Tuệ Trung Thượng Sĩ và cũng như Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông, Thiền sư đã tâm thức (theo bài của Tỷ Kheo Thích Chơn Thiện nói về Trần Nhân Tông, tháng 03-2003) : « một thể cách giải thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực, rất nhân bản và rất trí tuệ… » : Tình yêu đồng bào và đất nước đối với Thầy, có thể đưa đến hy sinh cả cuộc đời :

Lặng lẽ nằm im dưới đáy mồ ;
Không trăng không sao mộng vẩn vơ.
Tại sao người chết, tình không chết ?
Quay mấy vòng đời, môi vẫn khô

Một hai ba
những ngày quên lãng ;
Tôi vùi đầu trong lớp khói mù.
Khói và bụi
chen nhau thành tư tưởng ;
Nhưng bụi đường lêu lỏng bến thâm u…

Silencieusement mon corps repose au fond de la tombe
Pas de lune, ni d’étoiles mais un rêve vagabond
Pourquoi l’homme meurt-il, mais non l’amour ?
De plusieurs vies j’ai beau faire le tour,
Mes lèvres sont aussi sèches.

Un deux trois
Tant de jours dans l’oubli ;
Je plonge ma tête dans la couche épaisse de fumée,
Fumée et poussière
S’entremêlent en idées ;
Mais la poussière de rue en vagabondage
S’envole vers l’autre monde sans rivage.

Đúng như Paul Mus đã viết trong sách « Vietnam, sociologie d’une guerre » (Việt Nam, xã hội học của một chiến tranh, 1952) : Mỗi khi nói đến Việt Nam, cái câu để giải nghĩa vấn đề lịch sử, nằm đúng trong cái tinh thần kháng cự, liên kết một cách nghịch thường với những năng lực lạ lùng đồng hóa, một ý chí quốc dân không sờn trong thử thách của thất bại, những cắt xẻ đất đai và những chinh phục lẫy lừng. Trong sứ mệnh hòa hợp Đạo học và Thế học, Thiền Sư Tuệ Sỹ là gương mẫu trung thành của cái tinh thần nước Việt (la vietnamité), có nghĩa là : Một phương pháp tư tưởng, một cách viết, nói và hành động theo truyền thống tổ tiên, đã làm cho nước ta hùng tráng với quyết chí vững bền bất khuất phục trước một quyền lực độc tài trải qua những khúc quanh co của một lịch sử đầy thống khổ. Cái tinh thần nước Việt này là di sản của ông cha trong sự bất dịch của toàn dân :

Người đi đâu bóng hình mòn mỏi
Nẽo tới lui còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ

Où allez-vous, voyageur usé par le temps ?
Un aller et retour sur le même chemin
Tout en laissant vos empreintes
De plus en plus floues…
La voie de l’histoire
De quatre mille ans dans la tourmente
Vous laisse partir dans votre errance
Sans esprit de retour.

Trong năm câu thơ trên, Thiền Sư có ý trách móc những người tuy căm hận trước cảnh sông núi điêu tàn, đã từ bỏ ý chí đấu tranh với mục đích tái lập dân chủ tự do cho đất nước và một đời ấm no cho đồng bào. Như nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật đã viết (Nước Mắt Việt Nam 1999, Lời Ngỏ) : Tự thấy cá nhân mình quá bé nhỏ giữa một giai đoạn lịch sử đen tối và vô cùng đau thương của dân tộc Việt Nam, nhưng tôi không cảm thấy con người mình hoàn toàn bất lực trước những trái ngang lịch sử đó. Với tinh thần vươn lên của dân tộc, tôi nghĩ rằng chúng ta vẫn còn nhiều hy vọng cho thế hệ mai sau. Nỗi đau của Việt Nam là bài học lịch sử cho cả dân tộc mình, nhà thơ Tuệ Sỹ không ngần ngại, nói lên từ nơi ẩn dật cưỡng bách, nỗi lòng mình muốn hành động cho dân tộc thoát khỏi bọn quỉ đỏ vô thần :

Giữa Thiên đường rong chơi lêu lổng
Cõi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu

Au sein du Paradis je me promène en vagabondage
L’éternité semblant légèrement assombrie
Par la mousse et les algues sauvages
Je decends sur terre
En remuant le monde de poussière
Pour le transformer en tsunami
Et brûler le soleil rouge solitaire, à l’infini…

Sau ngày 30 Tháng Tư Năm 1975, Thiền Sư bị đày đi làm rẫy tại rừng núi Vạn Giả : Đó cũng là cơ hội cho Thầy suy ngẫm (tự đáy lòng) về phương cách giải thoát giang sơn tổ quốc đang quằn quại dưới chế độ áp bức của độc tài đảng trị (Tôi đi chấn chỉnh sơn hà / Hồng rơi vách đá mù sa thị thành)… « Tĩnh Thất » là một trường ca bút pháp tinh về vận mệnh tổ quốc Việt Nam của một thiền sư sống ẩn dật trong tâm tư (Voyage dans mon univers tranquille) : Ngoại cảnh (thời gian đi làm rẫy, thời gian khổ sai, thời gian quản thúc từ 1998… ) không nao núng tinh thần yêu nước thương nòi của một môn đệ tinh thần tu chứng của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thế kỷ thứ 13 (lý thuyết Đạo và Đời) :

Ơ kìa nắng đỏ hiên chùa
Trăng non rỏ máu qua mùa mãn tang
Áo thầy bạc thếch bụi đường
Khói rêu ố nhạt vách tường dựng kinh

Voilà du soleil sur la véranda de la pagode
La lune à peine apparue s’égoutte de sang,
la saison de deuil étant révolue
Votre toge, Maître, blanchit
en raison de tant de poussières de vie,
la fumée de mousse décolorant le mur des Prières

Đất nước lầm than, Thiền Sư sau những năm tù tội, nhìn thảm cảnh quê hương trở thành một nhà tù vĩ đại, gông cùm cả một dân tộc bất khuất trước một chế độ man rợ, lỗi thời…

Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
(Những Năm Anh Đi, trong « Giấc Mơ Trường Sơn »)

Cũng như trong « Tĩnh Thất », nhà chí sĩ đã diễn tả tinh thần chiến đấu của mình bằng thơ, nhẹ nhàng, tuyệt vời :

Nghe luyến tiếc như sao trời mơ ngủ
Đêm mênh mông để lạc lối phù sinh
Ánh điện đường vẫn nhìn trơ cửa sổ
Ngày mai đi ta vẽ lại bình minh

Je m’attarde aux vains regrets du passé
comme les étoiles rêvent de dormir
dans la nuit immense en se trompant de chemin
pour une vie éphémère
Les lampadaires des rues éclairant
impassiblemnt les fenêtres fermées
Passé le lendemain,
je redessinerai l’aube de l’humanité…

Ngày mai đi ta vẽ lại bình minh : Thiền Sư Tuệ Sỹ đã tư tưởng và hành động theo lời giảng dạy của Hòa Thượng Sa Môn Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo… : Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và trong cương vị Tăng Sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị.

Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi nạn ách, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ. Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo Hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền con người cơ bản… Và nghe tiếng kêu gọi của sơn hà nguy biến :

Ta không buồn,
Có ai buồn hơn nữa ?
Người không đi,
Sông núi có buồn đi ?
Tia nắng mỏng soi mòn khung cửa ;
Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi.
Ta lên bờ, nắng vỗ bờ róc rách,
Gió ở đâu mà sông núi thì thầm ?
Kìa bóng cỏ nghiêng mình che hạt cát
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ?

Je ne suis pas triste,
qui peut être plus triste que moi ?
Tu ne pars pas,
ton pays n’ayant jamais l’intention de te quitter !
Les fragiles rayons de lumière
éclairent en élimant l’encadrement de ta porte
pour laisser les chagrins blanchir mes sourcils.
Je monte sur la rive,
le soleil illuminant les eaux qui clapotent doucement.
Où est le vent qui accompagne mon pays
dans son chuchotement ?
Voilà l’ombre inclinée de l’herbe
qui cache les grains de sable
et les nuages rouge pâle du soir arrivés,
qui peut voir la tombe couverte de rosée ?

Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ? Lẽ dĩ nhiên là hồng quân hay xã hội chủ nghĩa đã làm điêu đứng cả một dân tộc, phần đông nay rời cõi đời vì ác nghiệt của quỉ đỏ xâm lăng… Khác hẳn với thi hào VICTOR HUGO đã hận thù bạo tàn Nã Phá Luân Đệ Tam (trong phần hai thế kỷ 19) bằng cách không trở lại cố hương ngày nào tự do chưa được hồi phục, nhà thơ Tuệ Sỹ bị quản thúc tại quốc nội, chỉ diễn tả nỗi sầu vương, một cách nhẹ nhàng, thấm thía, của mình, nhưng qua mấy vần thơ… gián tiếp huy động đồng bào hãy tỉnh thức :

Cho xin chút hạt buồn thôi ;
Để cho ngọn gió lên đồi rắc mưa.
Gió qua ngõ phố mập mờ ;
Mưa rơi đâu đó mấy bờ cỏ lau.
Nắng trưa phố cổ úa màu,
Tôi đi qua mộng đồi cao giật mình…

Donnez-moi un peu de tristesse seulement
Pour que le vent se lève sur la colline environnante
en répandant la pluie.
Le vent souffle à travers l’impasse diffuse ;
La pluie tombe çà et là sur les touffes d’herbe et de roseau.
Le soleil de midi brillant sur la cité ancienne de couleur fanée,
Je marche à travers mon rêve
tout en haut de la colline en tressautant…

Xem dưới góc cạnh này, Thiền Sư Tuệ Sỹ là một nhà thơ « lãng mạn » mà theo Victor Hugo (Tựa kịch bản Hernani) là một « chủ nghĩa tự do trong văn chương », vừa thuộc vào hạng biểu hiện (expressionnisme) nghĩa là một hình thức nghệ thuật mà giá trị của miêu tả nằm toàn trong sự biểu lộ tâm tình cực điểm, và hạng ấn tượng (impressionnisme) với đôi nét chấm phá, nhưng lời thơ đượm tình cảm, thấm thía, làm độc giả rung động, bâng khuâng :

Chờ dứt cơn mưa ta vô rừng
Bồi hồi nghe khói lạnh rưng rưng
Ngàn lau quét nắng lùa trên tóc
Ảo ảnh vô thường, một thoáng chưng ?

J’attends que la pluie ait cessé pour entrer dans la forêt
Afin d’écouter avec émotion la fumée froide se réchauffer
Et les touffes de roseaux balayer le soleil qui pénètre dans tes cheveux ;
Illusion extraordinaire,
Qui nous apparaît en l’espace d’un instant ?

Hoặc đầy nhung nhớ, dịu êm :

Anh đi để trống cụm rừng
Có con suối nhỏ canh chừng sao Mai
Bóng anh dẫm nát điện đài

Ôi nỗi buồn
Thần tiên vĩnh cửu
Nhớ luân hồi
Cát bụi đỏ mắt ai

Vous partez en laissant vide une partie de la forêt
Où le ruisseau veille en permanence
Sur l’Étoile du Matin
Et votre ombre écraser palais et châteaux

Ô ma tristesse
Dans le monde légendaire de l’immortalité
Ô ma nostalgie de la métempsycose
Dans laquelle sable et poussière rendent tes yeux rouges ?

Trường ca « Tĩnh Thất » có thể dịch Pháp ngữ là « Méditations d’un Ermite » mà trong đó Thiền Sư ẩn sĩ đã gom góp nỗi lòng mình đối với tổ quốc mà Thầy xem như một người tình yêu dấu. Tương tự LAMARTINE trong thi tập « Méditations Poétiques » (1820) và qua bài LE LAC (Hồ Kỷ Niệm) đã thốt tự đáy lòng nỗi đau khổ của mình khi nhắc nhớ lại người xưa (vừa mất) với những giờ hạnh phúc đã trải qua trên cái hồ lãng mạn bây giờ vắng bóng :

Ôi thời gian, xin đừng bay, đứng lại !
Và những giờ thuận tiện không vận hành
Cho chúng ta thưởng thức không ngần ngại
Ngày hạnh phúc mau chóng thuở xuân xanh !

Đất nước thương yêu của ta bây giờ ở đâu ? Chịu đựng một cuộc đời nô lệ đã từ lâu mà sao em chưa nỗi dậy chống bạo tàn ? Thời gian qua… Thời gian không trở lại :

Khói ơi bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa

Ô fumée, vole encore plus bas
Pour que je puisse retenir par la main
Un peu de ma jeunesse
Je marche dans le monde supraterrestre
En pensant à mon petit arbre flétri
Qui perd ses fleurs maintes fois depuis.

________________________________________

* Nhạc sĩ, Giáo sư- Tiến sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính trị, Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp, nguyên Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris

Tri-Thức Và Hành-Động Trong Thơ Tĩnh Thức Của Thiền-Sư Tuệ-Sỹ
[05/04/2006 - Tác giả: admin1 -]
Lê Mộng Nguyên *
Paris, Saint Hippolyte, 01.04.2006
Nguồn : Vietnam Review



Hình: Thiền Sư Thích Tuệ Sĩ.

Cho tôi một hạt muối tiêu
Bờ môi em nhạt nắng chiều lân la
Tôi đi chấn chỉnh sơn hà
Hồng rơi vách đá mù sa thị thành

Donne-moi un grain de sel et de poivre
Car la lumière du soir
A fané les commissures de tes lèvres
Je vais réparer les erreurs de ma patrie
Alors que tombe le démon rouge sur la falaise
Et que la brume enveloppe la ville entière…

Cuộc đời của Thượng Tọa Tuệ Sỹ, thật tương tự cuộc đời vua Trần Nhân Tông (1258-1308) thấm nhuần Phật Giáo ngay từ thuở thiếu thời, tham hiểu Thiền định dưới sự dạy bảo của Tuệ Trung Thượng Sĩ (bút hiệu Tuệ Sỹ Thầy tự đặt lấy để kính ngưỡng Ngài là Thiền Sư nhà Trần). Năm 36 tuổi, Điều Ngự Giác Hoàng nhường ngôi cho Trần Anh Tông ; xuất gia năm 41 tuổi và viên tịch tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử năm 1308, hưởng thọ 51 tuổi…

Nghìn năm trước lên núi
Nghìn năm sau xuống lầu
Hạt cải tròn con mắt
Dấu chân người ở đâu

Mille ans avant j’escaladai la montagne
Mille ans après j’en descends pour secourir les gens
Je t’ai attendue en vain néanmoins
La pupille de mes yeux te cherchant
Et les empreintes de tes pieds
Où sont-elles maintenant ?

Người hay em trong Tĩnh Thất là mệnh danh đất nước thương yêu, người tình của Thiền Sư Tuệ Sỹ : Cũng như vua Trần Nhân Tông, Thượng Tọa không những là một nhà biên khảo thông minh, một nhà văn uyên bác, một tư tưởng triết gia lỗi lạc, một thi nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà ái quốc chân chính (đã nhiều lần - với tinh thần bất khuất trước bạo tàn - chống cự cộng sản đang gieo rắc tang tóc trên miền Nam tự do nên bị kết án tử hình năm 1984…). Tương tự vua Trần Nhân Tông… đã tổ chức Hội Nghị tại Điện Diên Hồng (Thần Dân nghe chăng ? Sơn hà nguy biến ! …), thực hiện đại đoàn kết nhân dân và triều đình, viết một trang sử nước Nam huy hoàng, Thượng Tọa Tuệ Sỹ ôm mộng Trường Sơn với ý chí kháng chiến của đồng bào hải ngoại cùng quốc nội và sự chống đỡ của nhân quyền quốc tế, đặng giải thoát dân mình. Là môn đệ tinh thần của Tuệ Trung Thượng Sĩ và cũng như Điều Ngự Giác Hoàng Nhân Tông, Thiền sư đã tâm thức (theo bài của Tỷ Kheo Thích Chơn Thiện nói về Trần Nhân Tông, tháng 03-2003) : « một thể cách giải thoát thực hiện trong đời sống chính trị, xã hội rất thiết thực, rất nhân bản và rất trí tuệ… » : Tình yêu đồng bào và đất nước đối với Thầy, có thể đưa đến hy sinh cả cuộc đời :

Lặng lẽ nằm im dưới đáy mồ ;
Không trăng không sao mộng vẩn vơ.
Tại sao người chết, tình không chết ?
Quay mấy vòng đời, môi vẫn khô

Một hai ba
những ngày quên lãng ;
Tôi vùi đầu trong lớp khói mù.
Khói và bụi
chen nhau thành tư tưởng ;
Nhưng bụi đường lêu lỏng bến thâm u…

Silencieusement mon corps repose au fond de la tombe
Pas de lune, ni d’étoiles mais un rêve vagabond
Pourquoi l’homme meurt-il, mais non l’amour ?
De plusieurs vies j’ai beau faire le tour,
Mes lèvres sont aussi sèches.

Un deux trois
Tant de jours dans l’oubli ;
Je plonge ma tête dans la couche épaisse de fumée,
Fumée et poussière
S’entremêlent en idées ;
Mais la poussière de rue en vagabondage
S’envole vers l’autre monde sans rivage.

Đúng như Paul Mus đã viết trong sách « Vietnam, sociologie d’une guerre » (Việt Nam, xã hội học của một chiến tranh, 1952) : Mỗi khi nói đến Việt Nam, cái câu để giải nghĩa vấn đề lịch sử, nằm đúng trong cái tinh thần kháng cự, liên kết một cách nghịch thường với những năng lực lạ lùng đồng hóa, một ý chí quốc dân không sờn trong thử thách của thất bại, những cắt xẻ đất đai và những chinh phục lẫy lừng. Trong sứ mệnh hòa hợp Đạo học và Thế học, Thiền Sư Tuệ Sỹ là gương mẫu trung thành của cái tinh thần nước Việt (la vietnamité), có nghĩa là : Một phương pháp tư tưởng, một cách viết, nói và hành động theo truyền thống tổ tiên, đã làm cho nước ta hùng tráng với quyết chí vững bền bất khuất phục trước một quyền lực độc tài trải qua những khúc quanh co của một lịch sử đầy thống khổ. Cái tinh thần nước Việt này là di sản của ông cha trong sự bất dịch của toàn dân :

Người đi đâu bóng hình mòn mỏi
Nẽo tới lui còn dấu nhạt mờ
Đường lịch sử
Bốn nghìn năm dợn sóng
Để người đi không hẹn bến bờ

Où allez-vous, voyageur usé par le temps ?
Un aller et retour sur le même chemin
Tout en laissant vos empreintes
De plus en plus floues…
La voie de l’histoire
De quatre mille ans dans la tourmente
Vous laisse partir dans votre errance
Sans esprit de retour.

Trong năm câu thơ trên, Thiền Sư có ý trách móc những người tuy căm hận trước cảnh sông núi điêu tàn, đã từ bỏ ý chí đấu tranh với mục đích tái lập dân chủ tự do cho đất nước và một đời ấm no cho đồng bào. Như nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật đã viết (Nước Mắt Việt Nam 1999, Lời Ngỏ) : Tự thấy cá nhân mình quá bé nhỏ giữa một giai đoạn lịch sử đen tối và vô cùng đau thương của dân tộc Việt Nam, nhưng tôi không cảm thấy con người mình hoàn toàn bất lực trước những trái ngang lịch sử đó. Với tinh thần vươn lên của dân tộc, tôi nghĩ rằng chúng ta vẫn còn nhiều hy vọng cho thế hệ mai sau. Nỗi đau của Việt Nam là bài học lịch sử cho cả dân tộc mình, nhà thơ Tuệ Sỹ không ngần ngại, nói lên từ nơi ẩn dật cưỡng bách, nỗi lòng mình muốn hành động cho dân tộc thoát khỏi bọn quỉ đỏ vô thần :

Giữa Thiên đường rong chơi lêu lổng
Cõi vĩnh hằng mờ nhạt rong rêu
Ta đi xuống quậy trần hoàn nổi sóng
Đốt mặt trời vô hạn cô liêu

Au sein du Paradis je me promène en vagabondage
L’éternité semblant légèrement assombrie
Par la mousse et les algues sauvages
Je decends sur terre
En remuant le monde de poussière
Pour le transformer en tsunami
Et brûler le soleil rouge solitaire, à l’infini…

Sau ngày 30 Tháng Tư Năm 1975, Thiền Sư bị đày đi làm rẫy tại rừng núi Vạn Giả : Đó cũng là cơ hội cho Thầy suy ngẫm (tự đáy lòng) về phương cách giải thoát giang sơn tổ quốc đang quằn quại dưới chế độ áp bức của độc tài đảng trị (Tôi đi chấn chỉnh sơn hà / Hồng rơi vách đá mù sa thị thành)… « Tĩnh Thất » là một trường ca bút pháp tinh về vận mệnh tổ quốc Việt Nam của một thiền sư sống ẩn dật trong tâm tư (Voyage dans mon univers tranquille) : Ngoại cảnh (thời gian đi làm rẫy, thời gian khổ sai, thời gian quản thúc từ 1998… ) không nao núng tinh thần yêu nước thương nòi của một môn đệ tinh thần tu chứng của Tuệ Trung Thượng Sỹ, thế kỷ thứ 13 (lý thuyết Đạo và Đời) :

Ơ kìa nắng đỏ hiên chùa
Trăng non rỏ máu qua mùa mãn tang
Áo thầy bạc thếch bụi đường
Khói rêu ố nhạt vách tường dựng kinh

Voilà du soleil sur la véranda de la pagode
La lune à peine apparue s’égoutte de sang,
la saison de deuil étant révolue
Votre toge, Maître, blanchit
en raison de tant de poussières de vie,
la fumée de mousse décolorant le mur des Prières

Đất nước lầm than, Thiền Sư sau những năm tù tội, nhìn thảm cảnh quê hương trở thành một nhà tù vĩ đại, gông cùm cả một dân tộc bất khuất trước một chế độ man rợ, lỗi thời…

Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn…
(Những Năm Anh Đi, trong « Giấc Mơ Trường Sơn »)

Cũng như trong « Tĩnh Thất », nhà chí sĩ đã diễn tả tinh thần chiến đấu của mình bằng thơ, nhẹ nhàng, tuyệt vời :

Nghe luyến tiếc như sao trời mơ ngủ
Đêm mênh mông để lạc lối phù sinh
Ánh điện đường vẫn nhìn trơ cửa sổ
Ngày mai đi ta vẽ lại bình minh

Je m’attarde aux vains regrets du passé
comme les étoiles rêvent de dormir
dans la nuit immense en se trompant de chemin
pour une vie éphémère
Les lampadaires des rues éclairant
impassiblemnt les fenêtres fermées
Passé le lendemain,
je redessinerai l’aube de l’humanité…

Ngày mai đi ta vẽ lại bình minh : Thiền Sư Tuệ Sỹ đã tư tưởng và hành động theo lời giảng dạy của Hòa Thượng Sa Môn Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo… : Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và trong cương vị Tăng Sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị.

Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị. Thái độ này thể hiện giáo lý nền tảng của đạo Phật, là cứu chúng sinh ra khỏi mọi nạn ách, khổ đau để tạo điều kiện giác ngộ. Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo Hội ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền con người cơ bản… Và nghe tiếng kêu gọi của sơn hà nguy biến :

Ta không buồn,
Có ai buồn hơn nữa ?
Người không đi,
Sông núi có buồn đi ?
Tia nắng mỏng soi mòn khung cửa ;
Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi.
Ta lên bờ, nắng vỗ bờ róc rách,
Gió ở đâu mà sông núi thì thầm ?
Kìa bóng cỏ nghiêng mình che hạt cát
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ?

Je ne suis pas triste,
qui peut être plus triste que moi ?
Tu ne pars pas,
ton pays n’ayant jamais l’intention de te quitter !
Les fragiles rayons de lumière
éclairent en élimant l’encadrement de ta porte
pour laisser les chagrins blanchir mes sourcils.
Je monte sur la rive,
le soleil illuminant les eaux qui clapotent doucement.
Où est le vent qui accompagne mon pays
dans son chuchotement ?
Voilà l’ombre inclinée de l’herbe
qui cache les grains de sable
et les nuages rouge pâle du soir arrivés,
qui peut voir la tombe couverte de rosée ?

Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm ? Lẽ dĩ nhiên là hồng quân hay xã hội chủ nghĩa đã làm điêu đứng cả một dân tộc, phần đông nay rời cõi đời vì ác nghiệt của quỉ đỏ xâm lăng… Khác hẳn với thi hào VICTOR HUGO đã hận thù bạo tàn Nã Phá Luân Đệ Tam (trong phần hai thế kỷ 19) bằng cách không trở lại cố hương ngày nào tự do chưa được hồi phục, nhà thơ Tuệ Sỹ bị quản thúc tại quốc nội, chỉ diễn tả nỗi sầu vương, một cách nhẹ nhàng, thấm thía, của mình, nhưng qua mấy vần thơ… gián tiếp huy động đồng bào hãy tỉnh thức :

Cho xin chút hạt buồn thôi ;
Để cho ngọn gió lên đồi rắc mưa.
Gió qua ngõ phố mập mờ ;
Mưa rơi đâu đó mấy bờ cỏ lau.
Nắng trưa phố cổ úa màu,
Tôi đi qua mộng đồi cao giật mình…

Donnez-moi un peu de tristesse seulement
Pour que le vent se lève sur la colline environnante
en répandant la pluie.
Le vent souffle à travers l’impasse diffuse ;
La pluie tombe çà et là sur les touffes d’herbe et de roseau.
Le soleil de midi brillant sur la cité ancienne de couleur fanée,
Je marche à travers mon rêve
tout en haut de la colline en tressautant…

Xem dưới góc cạnh này, Thiền Sư Tuệ Sỹ là một nhà thơ « lãng mạn » mà theo Victor Hugo (Tựa kịch bản Hernani) là một « chủ nghĩa tự do trong văn chương », vừa thuộc vào hạng biểu hiện (expressionnisme) nghĩa là một hình thức nghệ thuật mà giá trị của miêu tả nằm toàn trong sự biểu lộ tâm tình cực điểm, và hạng ấn tượng (impressionnisme) với đôi nét chấm phá, nhưng lời thơ đượm tình cảm, thấm thía, làm độc giả rung động, bâng khuâng :

Chờ dứt cơn mưa ta vô rừng
Bồi hồi nghe khói lạnh rưng rưng
Ngàn lau quét nắng lùa trên tóc
Ảo ảnh vô thường, một thoáng chưng ?

J’attends que la pluie ait cessé pour entrer dans la forêt
Afin d’écouter avec émotion la fumée froide se réchauffer
Et les touffes de roseaux balayer le soleil qui pénètre dans tes cheveux ;
Illusion extraordinaire,
Qui nous apparaît en l’espace d’un instant ?

Hoặc đầy nhung nhớ, dịu êm :

Anh đi để trống cụm rừng
Có con suối nhỏ canh chừng sao Mai
Bóng anh dẫm nát điện đài

Ôi nỗi buồn
Thần tiên vĩnh cửu
Nhớ luân hồi
Cát bụi đỏ mắt ai

Vous partez en laissant vide une partie de la forêt
Où le ruisseau veille en permanence
Sur l’Étoile du Matin
Et votre ombre écraser palais et châteaux

Ô ma tristesse
Dans le monde légendaire de l’immortalité
Ô ma nostalgie de la métempsycose
Dans laquelle sable et poussière rendent tes yeux rouges ?

Trường ca « Tĩnh Thất » có thể dịch Pháp ngữ là « Méditations d’un Ermite » mà trong đó Thiền Sư ẩn sĩ đã gom góp nỗi lòng mình đối với tổ quốc mà Thầy xem như một người tình yêu dấu. Tương tự LAMARTINE trong thi tập « Méditations Poétiques » (1820) và qua bài LE LAC (Hồ Kỷ Niệm) đã thốt tự đáy lòng nỗi đau khổ của mình khi nhắc nhớ lại người xưa (vừa mất) với những giờ hạnh phúc đã trải qua trên cái hồ lãng mạn bây giờ vắng bóng :

Ôi thời gian, xin đừng bay, đứng lại !
Và những giờ thuận tiện không vận hành
Cho chúng ta thưởng thức không ngần ngại
Ngày hạnh phúc mau chóng thuở xuân xanh !

Đất nước thương yêu của ta bây giờ ở đâu ? Chịu đựng một cuộc đời nô lệ đã từ lâu mà sao em chưa nỗi dậy chống bạo tàn ? Thời gian qua… Thời gian không trở lại :

Khói ơi bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa

Ô fumée, vole encore plus bas
Pour que je puisse retenir par la main
Un peu de ma jeunesse
Je marche dans le monde supraterrestre
En pensant à mon petit arbre flétri
Qui perd ses fleurs maintes fois depuis.

________________________________________

* Nhạc sĩ, Giáo sư- Tiến sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính trị, Viện sĩ Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp, nguyên Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris


--
Mời thăm trang Ca Dao: http://e-cadao.comhttp://cadao.orghttp://cadaotucngu.com/Phorum/ và trang cá nhân http://cadaotucngu.com/hph











Show details
Ads – Why these ads?
ReverseMortgagereversemortgageguides.org
Financial Solution?
If you are a Homeowner Aged 62+ see how a Reverse Mortgage could be your financial solution.

17408
More Promotions (9)

Financial Solution?30% fullUsing 3.1 GB of your 10.1 GB ©2013 Google - Terms & Privacy Last account activity: 1.5 hours agoDetailsYou have one new message.
Trăm năm lạc gót thăm cõi tạm
Mỗi bước trần gian Nhẫn, Nhịn, Nhường

Hải Tôi
thanks 1 user thanked Lê Hải for this useful post.
Ngọc Anh on 5/2/2013(UTC)
NNT  
#599 Posted : Sunday, May 26, 2013 10:12:37 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
Một ngày không thể quên
Tác giả : Phương Lan

Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía. Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.

Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:

- Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy.

Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:

- Má ra vườn chi sớm thế?
- Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…

Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:

- Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy?
- Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.

Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:

- Sao má để lửa lớn thế?
- Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.

Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục:
- Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi.

Phượng đau xót nhìn mẹ:
- Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà?
- Thiệt à? ba đi xa thiệt à?

Bà mẹ lập lại một cách ngớ ngẩn, nét mặt chùng xuống, rất buồn. Một cơn gió lạnh lọt qua song cửa, làm lay nhẹ mấy tấm rèm, bà rùng mình, ngẩng nhìn ra bên ngoài, hàng cây maple bên kia đường đã rụng hết lá, vậy là mùa đông sắp tới rồi. Tim bà se lại, ông ra đi vào một ngày chớm đông, ông đi không bao giờ về nữa… Từ đó, bà sợ mùa đông, tuyết rơi chỉ gợi đến sự chia ly, màu tuyết trắng quá, trắng lạnh như màu áo tang, tuyết rơi phủ ngập khắp nơi, giá băng cũng phủ ngập đời bà. Xa nhau đã mấy đông rồi, bà chẳng còn nhớ, nhưng bà vẫn đợi, những đêm không ngủ, nằm nghe tiếng gió gọi, bà tưởng như tiếng thì thầm của người xưa. Ông đang ở đâu? đêm dài lạnh lẽo, ông có thấy cô đơn không ông? ở nơi xa xăm nào đó, chắc ông cũng đang nhớ đến tôi, sao ông không về? ông ơi…

Bà cố nhớ lại, trong ký ức đã phai mờ của bà, những hình ảnh cũ vẫn hiện ra, nhưng lộn xộn, không theo một thứ tự nào hết. Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba. A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa… Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ…

Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò:
- Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…

Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền. Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh… Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài.

Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm. Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:
- Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.

Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói:
- Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa.

Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được?
- Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.

Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con… Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ… Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt:
- Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.

Thiệt tình bà không trông thấy lúc ông đi, và ông cũng chẳng bao giờ thơ từ về nhà. Nhưng bà biết ở một nơi xa xăm nào đó, ông vẫn hướng về bà, vẫn nhớ đến bà, vợ chồng đầu gối, tay ấp mấy chục năm trường, đi xa sao khỏi vấn vương? Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này.

Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái:
- Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…

Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối:
- Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã.
Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói:
- Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.

Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía:
- Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới, ba cần có áo ấm, mà mấy cái kia đã cũ cả rồi.
Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.

Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ vẫn thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu…

Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ... Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà, thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng, bao giờ cũng là một chặng đường buồn thảm. Phượng rơi nước mắt, nghĩ đến phút chia tay lát nữa.

Con về mẹ ở lại đây
Chia tay là đứt lìa dây mẫu từ
Ngàn năm biết có bao giờ
Có dòng ước mắt ngược bờ chảy lên?

Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa. Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn đi đón ông ngoại. Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ…

Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên...

Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nữa. Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay.

Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi:
- Nãy giờ em ở dưới nhà à?

Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn, và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng, mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách:
- Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!

Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:

- Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được.
- Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu…
- Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao.
Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt. Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con:
- Sao con làm nhiều đồ ăn thế?

Phượng nhìn đi chỗ khác, nói:
- Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể.
- Con cũng cùng ăn với má chứ?

Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi, mới mở miệng nói dối:
- Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi.
- Đi chơi thiệt sao? thích quá.

Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi:
- Đi du lịch à?

Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà, như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng:
- Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng:
- Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?

Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm… Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng. Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng:
- Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa.
Phượng dỗ:
- Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.

Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu:
- Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là…

Phượng vội đỡ lời:
- Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh…
- Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu.
- Được vậy tôi rất mừng.

Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói:
- Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng.
Nói xong, cô Ingrid bấm chuông, và một người y tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi:
- Tôi đi theo được chứ?
- Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.

Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng:
- Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam.
Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm:
- Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại

Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng - chắc dùng làm chỗ tiếp khách - những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Nghe có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó:
- Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu…

Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái:
- Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…

Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với mẹ, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng.
Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cương quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường… Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run:
- Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má…
- Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con…

Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt:
- Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho má, cũng như tất cả mọi người.

Bà mẹ vừa khóc vừa nói:
- Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về…

Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng:
- Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà…

Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở... Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi:
- Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả.

Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng:
- Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.

Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng:
- Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho.
- Vâng cháu xin nhờ cụ.

Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành:
- Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má.
- Thế con có trở lại không?
- Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má.

Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra:
- Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại.
- Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ?
- Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà. Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu.
Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng:
- Cô đi ngay đi, lẹ lên!
Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa:
- Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!

Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ đang chờ chết ở bên trong, với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn:
- Con ơi! con ơi…

Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “con ơi” ai oán của mẹ.

Phương Lan

Edited by user Sunday, May 26, 2013 10:13:21 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Lê Hải on 5/26/2013(UTC), Ngọc Anh on 6/27/2013(UTC)
NNT  
#600 Posted : Friday, June 7, 2013 8:22:46 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,400
Man
Location: USA

Thanks: 1393 times
Was thanked: 2788 time(s) in 1520 post(s)
NGUYỄN THÁI HỌC và CÁC ĐỒNG CHÍ TRƯỚC GIỜ BỊ PHÁP HÀNH QUYẾT.

Trong đề lao Yên Báy các tù nhân bị nhốt chung một gian nhà. Cai Công đao phủ, dáng lùn tịt, mặt lúc nào cũng tây tấy, mò đến bên các tù nhân. Trước Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính thì Công dừng lại. Cử chỉ rất lạ, đã từng giật máy chém, chém bao nhiêu người, cai Công chưa làm thế bao giờ. Hắn cảm thấ...y như có gì cào cấu trong ruột, mồ hôi rịn ướt trên da mặt sẫm từng vệt tàn nhang, tay chân nhức nhối như dòi bò. Hắn đã nốc bao nhiêu rượu để có quên cảm giác ghê rợn. Tự dưng hắn quỳ phục xuống trước mặt Nguyễn Thái Học, khóc rưng rức. Hắn nói:

- Mong các ông xá tội cho. Các ông chết trẻ sẽ thiêng lắm. Tôi biết tôi trọng tội, nhưng vì miếng cơm manh áo, tôi phải làm theo phận sự. Xin các ông mở lượng hải hà khoan lượng.

Nguyễn Thái Học khuyên:

- Ông Cai Công ạ! Nghề này thất đức lắm. Ông nên giải nghệ đi. Nếu có thiêng liêng thật, chúng tôi cũng không thèm chấp với ông đâu. Ông cũng chỉ là cái máy bên cái máy chém. Giải nghệ đi kẻo tội lỗi chất chồng tội lỗi, xuống âm phủ Diêm Vương cũng không chấp nhận ông đâu!

Cai Công ấp úng nói: “vâng”, và cứ thế quỳ trước Nguyễn Thái Học đến tận lúc bọn cai nhà lao lục tục thúc giục tù nhân ra pháp trường.

5 giờ 5 phút ngày 17 tháng 6 năm 1930, bốn trăm cảnh binh, cảnh sát, mật thám và Lê Dương đã giăng ra bảo vệ khu hành quyết tù nhân. Không cho bất cứ ai lọt vào trừ những người làm phận sự. Pháp trường dựng ở bãi lính tập, trước khu nhà thờ, có hàng cây bàng và cây báng súng bao quanh. Đối diện với mấy ngôi nhà gạch mới xây.

Chiếc máy chém đen sì được đặt trên bãi cỏ. Nó vừa có chức năng chém người lại có chức năng dọa người. Lưỡi máy chém xám xịt được kéo lên theo rãnh trượt. Tử tù phải nằm trên một tấm ván, cổ bị gông lại. Chỉ cần giật nút hãm là lưỡi dao rơi tự do phập xuống. Ai yếu bóng vía chỉ trông hoặc nghe tiếng phập nhanh như thái chuối là đủ chết ngất hoặc vãi nước đái ra quần. Trong mọi cách hành hình thì đây là cách hành hình “văn minh man rợ” nhất. Nó lạnh lùng khủng bố tinh thần. Nó trấn áp, nó tra tấn thần kinh con người.

Trên đoạn đường trải đá bên cạnh pháp trường là dăm bảy chiếc xe bò chờ sẵn để chở xác người đi chôn.

Bãi bên, xếp 15 chiếc quan tài. Thấy lạ, nhà báo Louis Roubaud hỏi viên chánh cẩm:

- Sao xử chém 13 người mà lại có những 15 quan tài?

Hắn trả lời:

- Để đề phòng có người sợ quá vỡ tim mà chết tại chỗ! Tình huống này rất dễ xảy ra.

Lần lượt 13 nghĩa sĩ lên đoạn đầu đài. Tất cả đều bình thản bước tới theo danh sách được gọi tên. Tất cả đều khước từ cố đạo rửa tội. Trước khi lưỡi dao máy chém phập xuống, ai cũng hô to:”Việt Nam vạn tuế!”. Tiếng hô khản đặc đủ vang tới tường nhà thờ dội ra đường phố Yên Báy. Dòng máu phun trào từ cổ mỗi người đã đứt lìa, tia máu bắn xa hàng chục mét.

Nguyễn Thái Học phải đứng đó để chứng kiến lần lượt từng người văng đầu trên máy chém. Phó Đức Chính là người thứ 12 lên đoạn đầu đài. Cố đạo Méchet hỏi anh: “Cậu chết trẻ vậy có ân hận không?”. Phó Đức Chính trả lời thản nhiên: “Ở đời, mong làm lấy một việc lớn mà việc ấy không thành thì chết có gì ân hận”! Anh nói lớn: “Cho ta nằm ngửa để ta nhìn lưỡi dao tội ác của người Pháp”. Nhiều người ngoảnh mặt đi không dám ngó. Nhiều người lấy khăn lén lau nước mắt.

Đến lượt Nguyễn Thái Học. Anh ngậm điếu xì gà thật to. Gọi đến tên, anh phì điếu thuốc ra khỏi miệng, thong thả bước tới máy chém. Anh đọc câu thơ bằng tiếng Pháp:

Mourir pour sa patrie

C’est le sort le plus beau

La plus digne d’envie

(Chết cho đất nước của mình

Là cái chết đẹp nhất

Thanh thản tuyệt vời nhất)

Anh hô lớn: “Việt Nam vạn tuế! Việt Nam vạn tuế!”

Chiếc gông đã khớp vào cổ anh. Tiếng hô: “Việt Nam…” bị đứt đoạn. Đầu anh văng ra, cơ miệng anh theo quán tính còn mấp máy một thoáng.

Phía dân chúng đứng xem bỗng vang lên tiếng hô: “Đả đảo thực dân Pháp dã man!”. Những tiếng phụ họa “đả đảo, đả đảo” ầm ầm, buộc đám cảnh binh phải dùng tới dùi cui.

Viên công sứ De Bottini giơ tay xem đồng hồ. Đầu Nguyễn Thái Học rơi khỏi cổ lúc 5 giờ 35 phút, ngày 17 tháng 6 năm 1930 tức 21 tháng 5 Canh Ngọ.

Các anh hùng của Việt Nam thân xác và máu họ đã thấm vào lòng đất mẹ, đễ tên tuổi đi vào lịch sử và trường với thời gian. 83 năm đã qua, lòng người dân Việt luôn ghi nhớ đến công ơn của những đoá hoa máu của đầu thế thế kỷ 20 đã vị quốc vong thân vì chữ Độc lập, Tự Do và Hạnh Phúc.

Một nén hương lòng tưởng nhớ những anh hùng đã chết để quê hương và dân tộc trường tồn.

UserPostedImage
NHỮNG ĐOÁ HOA MÁU ĐẦU THẾ KỶ XX!




Users browsing this topic
Guest
31 Pages«<28293031>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.