Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

197 Pages«<194195196197>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Nam  
#3901 Posted : Friday, September 14, 2012 5:06:06 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 5,089

Thanks: 773 times
Was thanked: 316 time(s) in 251 post(s)

Thiên Đường Đỏ


Tác Giả: Cựu Thiêu-Úy CSQG Lê Thị Xuân
Thứ Tư, 12 Tháng 9 Năm 2012 21:07

Tối ngày 28.6.1975 tôi bị di chuyển cùng chung với chồng từ Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng tại Sài Gòn đến Trại Suối máu được khoảng 1 tuần lại bị chuyển đến trại Thành Ông Năm, Hóc Môn do đoàn 500 cộng sản quản lý. Trại chia làm hai khu: Nữ Sĩ Quan (SQ) Quân đội, và Nữ SQ/ CSQG. Chúng tôi bị chia thành từng B và phải chen lấn lẫn nhau trong một diện tích chỉ đủ để nằm nghiêng . Lúc nầy tôi mang thai cháu đầu lòng gần 7 tháng. Đây là thời gian thai nhi phát triển, nên thai phụ cần được nghĩ ngơi, thoãi mái, tránh bị những áp lực và thai phụ cần phải được thực phẫm dinh duỡng vừa tinh khiết vừa đầy đủ. Nhưng với tôi thì hoàn toàn trái ngược. Ngoài môi truờng sống quá thiếu vệ sinh, lại phải ngồi nghe học tập, thảo luận. đấu tố. Thể chất mệt mõi, tâm trí lúc nào cũng lo sợ cho bản thân, cho gia đình, và cho chồng . Thai nhi càng lúc càng phát triển nên tôi thèm ăn lắm, nhưng bụng thì lúc nào cũng đói, dinh dưỡng chẳng có, áp lực càng lúc càng nặng và rồi hai chân tôi bị qụy, chỗ kín bị ra máu, không đuợc chữa trị hoặc thuốc men . Tôi đuối sức! Trước tình trạng sức khỏe tồi tệ và mạng sống của tôi bị đe dọa, ngày 12.8.75 Cộng sản (CS) thả tôi về với lý do :”tạm hoãn quản huấn vì sắp đẻ”(nguyên văn).

Về đến nhà thì ba mẹ và các em nhỏ của tôi đã bị lùa ra khỏi Sài gòn theo chương trình gọi là hồi hương lập nghiệp tại Sa-Đéc. Sức khỏe quá yếu, không đi được tôi đành ở lại căn nhà củ (bấy giờ thì gia đình thím tôi đang ở). Đến đầu tháng 9.75 đau chuyển bụng, tôi đến bảo sanh viện Từ Dũ . Sau khi sinh cháu bé, tôi mệt lắm, nhưng gắng gượng xem mặt cháu, biết cháu là gái, thấy khuôn mặt con hao hao giống bố, lòng mình dâng nỗi nhớ chồng và dào dạt thương con, tôi ôm con vào lòng và ngất đi vì bị băng huyết. Tĩnh dậy tôi trở về tâm trạng củ, May mắn cho tôi là CS chưa kịp đưa người của chúng vào nên nhân viên và bác sĩ vẫn còn tấm lòng nhân ái và phong cách Miền Nam và nhờ đó tôi thoát khỏi luỡi hái tử thần. Vì lý lịch, nên tôi bị tống ra khỏi bịnh viện sau 4 ngày mặc dầu tôi còn yếu và cháu bé gầy guộc chỉ được 2kg. Tôi lại phải bé cháu tìm đường về Sa Đéc.

Khi chiếc tàu đò đậu trước cửa nhà, lòng tôi càng thêm não nề. Đây là khu hoang địa, xưa kia là khu oanh kích tự do và không có dân cư, vì thế vùng nầy có rất nhiều hố bom. Thấy gia đình lam lũ, tôi vô cùng xót sa, vì vậy tôi ráng sức phụ giúp gia đình và tôi lại thêm lần nữa ngã qụy. Đúng vào thời gian nầy, khi cháu được hơn một tháng thì mẹ con tôi bị bắt trở lại trại giam.

Sáng hôm ấy ,đang cho con bú, tôi nghe tiếng ghe máy và tiếng người, rồi tiếng chân dồn dập nhảy lên bờ. chạy phía nhà tôi. Sống trong vùng cộng sản kiễm soát tâm trạng tôi luôn luôn hồi hộp lo sợ. Đang còn hoang mang thì tôi đã thấy họ bao quanh nhà tôi, những mũi súng chĩa thẳng vào mẹ con tôi. Tôi nghe đạn lên nòng và tiếng ra lịnh của tên chỉ huy:

- Các đồng chí vào vị trí sẳn sàng tác chiến.

Sau đó tiếng quát ra lịnh:

- Chị Lê Thị Xuân, tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh, không được chống đối, chấp hành lệnh quản chế, thì sẽ đuợc cách mạng khoan hồng !

Tiếp theo là hai tên có võ trang tiến sát vào giường mẹ con tôi. Tôi biết là tôi đã bị bắt. Tôi không sợ, nhưng tôi thương con quá, phần không muốn phải xa con, phần sợ con phải chịu cảnh lao tù. Tôi thật sự lúng túng vì cả nhà tôi đang làm ngoài ruộng. Tôi ngỏ ý chờ người nhà tôi về.. Nhưng chúng nhất định không cho. Bị thúc hối quá cấp bách; tôi chỉ viết vội là đã bị bắt lại cho gia đình biết, rồi gom nhanh ít tả lót, ít quần áo, vật dụng cho hai mẹ con và theo chúng xuống xuồng máy giữa hai hàng súng “ dàn chào bảo vệ”của chúng. Sau nầy tôi biết tên hung tợn chỉ huy cuộc vây bắt hai mẹ con tôi tên là Hiếu. Tôi đã có lần gặp hắn tại sài gòn trong nhà người cùng quê với mẹ tôi. Người nầy là SQ Quân Lực VNCH che chở cho hắn trốn quân dịch, lúc ấy hắn làm phụ thợ hồ.Trước ngày tôi định cư tại Mỹ thì hắn là Phó chủ tịch Nông nghiệp huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng tháp và dĩ nhiên là rất hống hách, ngang tàng và giàu có.

Bọn chúng chở hai mẹ con tôi về trại giam Đám Lát thuộc huyện Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp. Trại giam nằm trên gò đất, chung quanh có nhiều hàng rào giây kẽm gai bao bọc, chúng cẩn thận gài mìn và chất nổ đề phòng sự trốn trại của tù. Trại nầy giam đủ thứ thành phần từ SQ chế độ củ, tôn giáo, đảng phái chính trị… đến thường phạm. Vì có con nhỏ nên chúng cho mẹ con tôi ở riêng một góc xó nhà bếp. vách nhà làm bằng đất sình trộn với trấu, nên hôi hám và nhiều bụi dơ; gió mang theo hơi nóng làm rát da. Tôi mượn nhà bếp hai tấm bao bố gạo làm chiếu và mền đắp cho con, còn mình thì nằm hẳn trên đất. Mỗi buổi chiều mẹ con tôi đuợc nữ quản giáo dẫn xuống một cái đìa nhỏ để tắm giặt. Vì cái đìa nhỏ nầy khi nuớc triều cường mới có chút ít nuớc từ sông cái tràn vào, do vậy mà những chất dơ bẩn không kịp thóat ra, vì thế nuớc có màu đen của dơ, màu váng của phèn; mùi hôi thối luôn luôn phản phất, đó cũng là mần mống bịnh hoạn.

Thức ăn không đủ nuôi cơ thể thì làm sao có sữa để nuôi con! Vì thế, các bạn tù đồng ý cho tôi mỗi ngày đuợc lưng chén nuớc cơm có lẫn dăm hạt gạo đang sôi để phụ cùng với giòng sữa hiếm hoi nuôi con. Phải sống trong hoàn cảnh tù đày dưới chế độ cộng sản mới hiểu thế nào là đói, mới hiểu giá trị miếng ăn và mới hiểu đó là sự hy sinh, là tấm lòng nhân ái mà Xã hội Quốc Gia đã giáo dục cho họ.Tôi biết ơn các bạn tù, cơn đói không lúc ngưng dày vò, trí óc chỉ ước mơ đến chưyện ăn, như mơ được một chén cơm lưng, thẻ đường, hột muối, giọt mỡ. Ôi miếng ăn sao “vĩ đại” đến thế!

Ngoài cái đói triền miên hành hạ, tôi lại phải đối phó với muỗi. Khi bóng đen tràn tới cũng là lúc từng đàn muỗi xuất hiện. Chiếc mùng củ lúc mang theo, bây giờ cũng rách mục như số phận làm người trong xã hội “thiên đường”cộng sản.

Tôi ngậm ngùi thương con, tôi lo cho sự an nguy của chồng, tôi lo cuộc sống lao đao vất vả của gia đình, thấy nhớ ba mẹ và các em thơ dại của tôi, tôi tội nghiệp cho bà mẹ chồng hiền lành và nỗi bất hạnh triền miên đè lên số phận bà. Dường như giọt lệ lúc nào cũng lưng lưng trong khóe mắt, thế nhưng miệng tôi thì lúc nào cũng phải nói những điều trái ngược. Tôi cảm thấy danh dự xúc phạm.

Do thiếu thốn vật chất, tinh thần hoang mang lo sợ cho tương lai mờ mịt tối tăm, và thương nhớ người thân – tôi mõi mòn và dần dần kiệt sức, con tôi thì còm cõi, yếu ốm và những bệnh do thiếu dinh dưỡng, do môi trường dơ bẩn cùng một lúc “hiệp đồng” tấn công trên cơ thể èo uột của tôi và của cháu. Lúc nầy thì con tôi tóc bết dính và lầy lụa mũ máu vì bị sài lở, toàn thân cháu nổi lên những mụn nhọt nhỏ li ti như muỗi đốt, móng tay như bị long và sứt rớt ra. Tôi lo qúa, có lần tôi đành gạt nước mắt chịu nhục, hạ mình xin thuốc cho cháu; nhưng bọn người lòng thú ấy dững dưng, lạnh lùng và dường như trong ánh mắt chúng có đôi chút hả hê của lòng thù hận. Ôi đồng bào tôi đấy, ôi phẫm cách và lòng khoan hồng “cách mạng!”. Sự tàn nhẫn kinh khiếp ấy của giống “người” cộng sản làm ý chí tôi bỗng dưng phát triển mãnh liệt. Tôi hối hận về sự cầu cứu ấy và tự nhủ lòng sẽ không bao giờ cầu xin chúng, tôi dấu nỗi uất hận, không để lộ niềm đau. Dù chưa biết phải làm gì, nhưng tôi thấy tinh thần của lý sinh tồn và lòng tự trọng trong tôi vững vàng lắm!

Sắp đến ngày 2 tháng 9, ngày “quốc khánh” của chúng, một phái đoàn không biết từ đâu và cấp nào đến thanh tra. Một người trong bọn họ thoáng dừng lại trước mẹ con tôi, chúng phải bịt mũi vì mùi hôi từ chúng tôi. Có lẻ nhờ thế mà hôm sau, ngày 30.8.76 mẹ con tôi được chúng thả ra về với ba năm quản chế.
Về đến nhà, toàn cả gia đình tôi sống héo hắc, cùng cực vất vả, thiếu thốn, tôi đã hiểu tại sao gần năm qua tôi không có thư từ tin tức gia đình và tôi lại khóc, lòng tự trọng thúc đẩy tôi lao hết sức mình cho gia đình, cho đứa con muôn ngàn yêu dấu. Cậu em trai kế tôi, có gia đình, còn ở Sài gòn cho tôi hay rằng người mẹ chồng hiền lành của tôi đã chết! Tôi thương và mừng cho bà đã thóat được cái thiên đường man rợ của lũ “vượn người cộng sản”Tôi nguyện cầu cho bà sớm đuợc về cõi Phật như lòng bà hằng mong ước. Tôi xót sa cho chồng và mẹ chồng trong cuộc chia tay vĩnh viễn không được gặp nhau, không đuợc có mảnh khăn trắng ghi nhớ công ơn của mẹ hiền, không được cầm tay đứa con trai út mà bà nuôi nhiều kỳ vọng. Bỗng dưng tôi thở dài ngao ngán cho kiếp nhân sinh trong chế độ cộng sản.

Gần sáu năm sau kể từ ngày tôi đuợc thả ra lần thứ hai thì chồng tôi mới đuợc thả về. Giây phút đầu tiên gặp lại nhau, tôi quá đỗi bất ngờ và cũng quá xúc động. Toàn thân tôi điếng lặng. Tôi không nhúc nhích, cử động gì được, nhưng giọt lệ cứ trào ra, lăn dài xuống đôi gò má thanh xuân nhưng đã sớm tàn phai vì thống thiết đau buồn, thương nhớ.

Nhìn cảnh nhà sa sút nghèo khổ và cũng vì có lần quá cơ cực tôi có ý định cùng với chồng con quyên sinh, nên ngay hôm sau ngày sum vầy chồng tôi bắt tay ngay vào cuộc sinh tồn. Dù cường quyền địa phuơng ngăn cản, luôn tìm cách tạo bất an, gây phiền nhiễu, khó khăn, anh vẫn quyết chí phấn đấu từ làm thuê, vác mướn, bán dạo… gia đình tôi lần hồi bước dần ra cảnh bần hàn. Nhưng tai họa lại ập đến! Bởi lao nhọc, thiếu thốn và di hại trong lao tù, chồng tôi ngã bịnh nặng. Bác sĩ cho biết một lá phổi anh bị khô nước, màng phổi bị dày dính nên kéo và làm trái tim bị lệch và thòng xuống, có dấu hiệu bị sạn thận, xơ gan. Bao nhiêu tiền bạc do công lao và tiện tặn dành dụm được đành phải bỏ hết ra để giành mạng sống của anh. Khi đồng bạc cuối cùng ra đi thì may thay, tôi gặp đuợc người chị cả của chồng tôi, hai chị em thất lạc từ thửơ anh chưa chào đời. Nhờ chị, chúng tôi thoát nạn. Cũng kể từ đó, đời sống tinh thần và vật chất của chúng tôi được an ủi, khuyến khích và nâng đở. Chị trở thành người mẹ thứ hai của chồng tôi,

Bây giờ nhớ lại và kinh rợn chuỗi ngày sống dưới ách bạn tàn khắc nghiệt cộng sản , lòng bùi ngùi thương cảm cho những người còn trong nanh vuốt man rợ cộng sản. Xin thành kính nghiêng mình trước những bậc anh hùng đã ngã xuống vì muốn cứu nỗi bất hạnh của quê huơng, xin được khóc những giòng lệ cho những oan khuất tội tình của đồng bào tôi bị bàn tay máu của cộng sản áp bức khống chế.

Xin cúi đầu tưởng niệm hằng triệu chiến sĩ Quốc Gia, Con yêu của Tổ Quốc Việt Nam đã không tiếc máu xương vì sự an tòan và phát triển cho quê hương. Xin tưởng niệm 58 ngàn con yêu của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ vĩnh viễn nằm xuống trong cuộc chiến đấu cho công lý và tự do trên quê huơng tôi.

Xin cám ơn lòng hào hiệp của nhân dân và chính phủ Hoa kỳ đã cứu vớt và đưa chúng từ nơi tối tăm bi thãm, nơi tầng cuối cùng của địa ngục trần gian đến vùng đất hứa, nơi tuyệt đối tôn trọng nhân phẫm con người.

Xin cám ơn những ân nhân, vì tình nhân ái, vì nghĩa Đồng Bào mà điển hình là bà Khúc Minh Thơ và hội Gia Đình Cựu Tù nhân Chính Trị đã không bỏ rơi chúng tôi, đã không quản ngại gian khó tốn kém cả tiền của lẫn thời gian và sức lực, đã ra sức đánh động cho Thế giới và nhất là Hoa kỳ biết nỗi thống hận ngút ngàn mà cộng sản trả thù bằng cách làm khô máu lên cuộc đời những chiến sĩ Quốc gia từng một thời dũng lược, nay đành thúc thủ.

Học theo Quý vị, chúng tôi nhất định không bỏ quên những người đang cần đến chúng tôi,. Chúng tôi giữ gìn đạo lý và văn hóa Việt, chúng tôi nuôi dưỡng giáo dục các thế hệ tiếp nối về lòng nhân bản để trở thành công dân hữu dụng cho xã hội và cho sự tồn vong của Dân tộc. Thiết nghĩ dó là lời cảm ơn chân thành và thiết thực nhất.

Việt Nam là Dân tộc biết mang ơn và biết cách đền ơn . Đó là lời cuối cùng của giòng tâm sự hôm nay của chúng tôi.

Little Sài Gòn, ngày Truyền thống CSQG/VNCH -
Cựu Thiêu-Úy CSQG LÊ THỊ XUÂN

Mắt Buồn  
#3902 Posted : Friday, September 14, 2012 8:32:52 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,850

Thanks: 663 times
Was thanked: 566 time(s) in 406 post(s)

Mẹ Mất Rồi, Còn Đâu Mà Hẹn Hứa

Mường Giang


Thơ nhà đến, như muôn ngàn nhát kiếm
Khiến cho ta thêm tan nát cuộc đời
Niềm nhớ mẹ theo thời gian tắc lịm
Nay tuôn về như sóng cuộn mưa rơi

Ta muốn cào cho trái tim vở nát
Muốn gào to cho sụp đổ tinh cầu
Muốn tự hủy cho xong đời đọa lạc
Sống một đời, mang trọn kiếp thương đau

Còn chi nữa hỡi niềm vui nhân thế?
Khóc cũng không dẹp nổi vạn thành sầu
Mẹ đã mất, nay còn ai kể lễ
Mẹ không còn, hết hẹn hứa xuân sau

Ta ở đây ăn năn ngàn hối tiếc
Cùng men cay, chia sớt những tủi hờn
Nuôi ảo vọng, ngày đoàn viên sẽ tới
Quỳ bên mồ, cho mẹ bớt cô đơn.
dedde  
#3903 Posted : Friday, September 14, 2012 11:11:30 PM(UTC)
dedde

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/17/2011(UTC)
Posts: 13,512
Location: Phố Biển Đồi Tây

Thanks: 134 times
Was thanked: 322 time(s) in 237 post(s)
Tỷ LanNhi uiii, ghé thăm tỷ rồi đi tìm bài dedde đã đọc ở đây, để ý kiến ý cò mà Quán Hẹn cao quá, dedde đi mỏi cả chân tìm vưỡn chưa ra. Bài viết về Big Island - Hawaii đó tỷ. dedde nhớ tác giả viết tả cảnh tả tình tả dân chi mà hổng giống những cảnh, những điều dedde thấy chi hết.
Tỷ xây quán mới cho bà con dễ tìm bài cũ để đọc đi tỷ, nha, nha, nhaa...a...a. Smile


www.fbi.gov (Ask for Điệp Dziên 00Thấy)
Mắt Buồn  
#3904 Posted : Saturday, September 15, 2012 11:57:33 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,850

Thanks: 663 times
Was thanked: 566 time(s) in 406 post(s)

Người ăn mày và con chó.


Chuyện kể rằng trên cây cầu trong ngôi thành nọ có một người hành khất.

Ông ta không biết kéo đàn, cũng không biết hát, thậm chí còn chẳng biết viết ra cảnh ngộ bi thảm của mình lên giấy, rải xuống đất để mong nhận sự thương xót của khách qua lại.



Mỗi ngày, ông chỉ biết ngồi chồm hỗm dựa vào thành cầu, co ro rúc mặt vào trong đầu gối, bên cạnh đôi chân gày gò để một cái bát mẻ cũ kỹ.



May mà người qua lại chiếc cầu rất đông, thi thoảng cũng có người đem vài đồng bạc lẻ vứt vào trong bát.

Khi đêm đến, người hành khất sẽ trở về chỗ trú ngụ của ông – một cái vườn rau ở ngoại ô, bị bỏ hoang đã lâu.

Một hàng rào xiêu vẹo bao lấy vườn rau bỏ hoang, bên trong có một túp lều nát, người hành khất già đã lánh rét ở đó được mấy mùa đông lạnh giá.

Trong vườn rau còn có một miệng giếng khô, bên giếng có một gốc cây già.

Gió mùa đông bắc ùa về, thành phố đón trận tuyết đầu tiên của mùa đông.

Người trên cầu thưa thớt hẳn đi, lão hành khất đang định sẽ về nghỉ, bỗng từ đâu chạy tới một con chó nhỏ.

Con chó bị lạnh tới nỗi run lên từng chập, trõ mõm hít hít cái bát sứt của người ăn mày, thì ra là vì đêm hôm trước ông đã dùng cái bát này để thức ăn.

Lão hành khất trong lòng thương xót, liền lấy trong người ra một chiếc bánh bao, khẽ khàng bỏ vào trong bát.

Con chó nhỏ ngước lên nhìn ông hồi lâu, như thể cảm động lắm, rồi gục mặt vào bát ăn lấy ăn để.

Người ăn mày mang con chó về "nhà" của mình, từ đó người chó quấn quít không rời.

Con chó rất thông minh, hễ đói là biết ngoạm cái bát chạy nhắng quanh chủ đòi ăn.

Những người đi qua nhìn thấy thế rất ngạc nhiên thích thú, liền thi nhau ném tiền vào trong bát.

Người ăn mày phát hiện ra đây là cơ hội lớn, liền huấn luyện cho con chó.

Qua một thời gian, nó đã biết đứng bằng hai chân sau, ngoạm bát xin ăn nhảy tới nhảy lui trước mặt những người qua đường. Vậy là người ăn mày lại càng thu được

nhiều tiền thêm.

Người ăn mày bỗng dưng " phát tài", liền lấy tiền đi đánh xổ số.

Thật là nằm mơ cũng không tưởng được vận số ông lại tốt đến vậy, không lâu sau ông trúng giải độc đắc.

Cứ như là số mệnh vậy. Người ăn mày mua lại vườn rau bỏ hoang, rồi từ mảnh đất đó xây lên một ngôi nhà lộng lẫy, nhưng ông vẫn giữ lại túp lều nát, miệng giếng khô cùng gốc cây già và nếp hàng rào lưa thưa ngày nào ở vườn sau khu nhà mình.

Trong phòng của người ăn mày bày biện đầy những đồ xa xỉ, ông bỗng chốc mê mẩn việc sưu tầm đồ cổ, thích cung phụng những mỹ nhân chân dài, lại càng thích ánh mắt kinh ngạc, ngưỡng mộ của mọi người khi ông rút trong túi ra cả xập tiền lớn.

" Quý ngài ăn mày" bắt đầu đi gặp gỡ giới thượng lưu, dĩ nhiên lúc nào ông cũng mang theo con chó nhỏ của mình.

Các bà mệnh phụ ra sức ủng hộ nhiệt liệt quí ông ăn chơi mạnh tay này, và dĩ nhiên chẳng ai biết xuất thân ông ra sao.

Điều duy nhất làm cho " quý ngài ăn mày" cảm thấy khó xử chính là chú chó nhỏ, bởi những người thượng lưu khác đều nuôi những con chó giống quý, thuần chủng kia!

Cho tới một hôm, con chó con bướng bỉnh của ông cắn rách tai một con chó cái giống quí, ngay giữa bữa tiệc.

Chủ nhân con chó nổi trận lôi đình, làm cho ngài ăn mày cảm thấy lòng tự tôn của mình bị tổn thương nghiêm trọng.

Về tới nhà, ông lạnh lùng mang con chó ra vườn sau, cạnh cái giếng cũ.

Sau đó cho nó vào một chiếc lồng gỗ, buộc vào một sợi dây thừng dài và thả xuống cái giếng khô.

Người ăn mày quyết tâm giết chết con chó, giống như tiêu diệt hoàn toàn cái quá khứ khốn khổ vẫn ám ảnh ông ta.

Từ đó, bên cạnh người hành khất thiếu đi con chó nhỏ trung thành, ông ta có thể thoải mái một mình đi gặp các cô em phục vụ dễ thương ở quán rượu, hoặc đi dự những bữa tiệc thượng lưu xa hoa.

May mà dù thế nào ông cũng không quên mỗi ngày thả xuống giếng vài miếng thịt, vì tiếng sủa của con chó cho ông biết rằng người bạn ngày khốn khó xưa kia vẫn còn sống.

Chớp mắt hơn một tháng trôi qua, người hành khất ngược lại cảm thấy không hề vui vẻ, chó nhỏ đi rồi, bạn bè quý tộc của ông ta cũng không hề nhiều hơn, vả lại có một hôm, nhằm lúc ông uống rượu say lướt khướt, đã buột miệng để lộ ra cái thân phận thấp hèn ngày xưa.

Lũ người kia bỗng chốc chế nhạo và quay mặt lạnh nhạt với ông ta.

Người ăn mày cuối cùng hiểu ra rằng, trên đời này chỉ có chú chó nhỏ đã từng trải qua hoạn nạn với mình mới là người bạn chân chính nhất.

Thế mà ông nỡ vứt nó xuống dưới giếng khô.

Người ăn mày chạy thật mau đến bên giếng, thả cái cũi gỗ xuống.

Nhưng chó con chỉ đi quanh cái lồng gỗ mà không dám nhảy vào trong.

Người ăn mày chạy đi tìm một cái dây to, một đầu cột vào gốc cây, tự mình trèo xuống đáy giếng cứu chó con.

Giếng rất sâu, nhưng ông không sợ hãi chút nào.

Đáy giếng tối om om, lại bốc lên mùi thum thủm, ông vội cắp con chó rồi trèo lên. Chó con chẳng hề oán trách chủ mình, vui mừng liếm mặt người chủ lâu ngày mới gặp lại.

Bác sỹ giỏi nhất trong thành cũng không thể trị nổi bệnh của chó nhỏ.

Người hành khất vì muốn bù đắp lỗi lầm của mình, mỗi ngày đều cho nó đồ ăn ngon nhất, đi đâu cũng dắt theo.

Con chó nhỏ vui lắm, lúc lắc cái đuôi nhỏ, nhưng đầu nó chỉ có thể quay nhìn đằng sau, đôi mắt lúc nào cũng ngước nhìn trời cao.

Người ăn mày mang chó nhỏ đi khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, ông cầm tiền bỏ vào tận tay những người hành khất khác.

Thấy những người ấy cảm kích cầm tiền của mình, ông cảm thấy thật là mãn nguyện.

Rồi ông bắt đầu có dự định mới, ông báo cho những người ăn mày trong cả thành tới nhà ông lĩnh tiền.

Tin tức truyền đi rất nhanh, đội ngũ ăn mày tới lĩnh tiền càng lúc càng đông. Những người được tiền rồi dùng mọi lời lẽ hoa mỹ nhất trên đời để tán tụng ông,khiến ông hưng phấn khôn tả.

Đài truyền hình tới, bản tin buổi tối cũng có phóng sự nói về ông.

Ngày thứ hai, mọi người như nước thủy triều xông tới nhà ông, có những người chẳng phải ăn mày cũng gia nhập vào đội quân lĩnh tiền.

Người hành khất cứ chìm đắm trong cảm giác vinh dự vui sướng, ngày nào cũng bận rộn chạy qua chạy lại giữa ngân hàng và nhà mình.

Cho đến một hôm, ngân hàng báo cho ông biết tiền trong tài khoản đã hết, ông đành phải nói với hàng dài những người xếp hàng rằng : Hết tiền để phát mất rồi!

Đám người xếp hàng lập tức biến thành một đoàn hỗn loạn.

Chúng bắt đầu mắng chửi : " Đồ ti tiện!" "Sao đến lượt tao lại

không phát nữa!"-" Dạy cho nó một bài học!".

Bọn chúng xông vào nhà ông, ném gạch tới tấp làm vỡ hết cửa sổ.

Ông chốt cửa nhà lại, nhưng cũng sắp bị đám người xô đổ đến nơi rồi.

Sợ quá, ông chạy ra vườn sau. Trông thấy sợi dây thừng còn buộc bên miệng giếng, ông vội vã leo xuống. Lúc sắp xuống tới đáy giếng, bất ngờ đầu dây thừng buộc ở miệng giếng bị rơi ra, người hành khất cùng sợi dây vẫn nắm chắc trong tay rơi xuống đáy giếng tối om.

Cảnh sát mất rất nhiều công sức mới giải tán được đám người hung hãn, nhưng ngôi nhà gần như đã biến thành một bãi hoang tàn, những thứ có thể lấy được, người ta đều cướp đi hết.

Thời gian mỗi ngày một qua đi, người ăn mày chỉ đành trú lại ở đáy giếng vừa tối vừa lạnh, ông ta ngóc mặt lên gào với trời, với trăng, chẳng ai nghe thấy.

Chó con mỗi ngày chạy đi khắp nơi kiếm thức ăn ném xuống giếng, lúc thì là chiếc bánh bao đã mốc meo, khi thì miếng xương đã biến mùi.

Chó con kiếm thức ăn rất khó khăn, vì đầu nó chỉ có thể nhìn ngược đằng sau.

Không làm thế nào được, nó chỉ biết nằm dài ra mà hít hà dưới đất, vớ được miếng thịt hỏng hay gì đó là ngóc dậy chạy về miệng giếng khô ngay. Có một lần, chó con còn vứt xuống cả xác một con mèo chết.

Chớp mắt hơn một tháng trôi qua, chó con thậm chí còn không để dành thức ăn cho bản thân, người nó gầy chỉ còn da bọc xương, thế rồi nó yếu đến mức sức lực để đi cũng không còn.

Người ăn mày ngày nào cũng gào thét khản cả cổ, chẳng có ai tới cứu ông ta.

Vài ngày liên tiếp chó con không thả đồ ăn xuống nữa, người ăn mày không biết con chó đã xảy chuyện gì.

Ông đau đáu nhìn lên mảnh trời hình tròn nhỏ bé trên miệng giếng, biết rằng mình sắp chết.

Một buổi sớm, những tiếng người nói chuyện rầm rì trên miệng giếng đánh thức người hành khất khỏi cơn mê sảng, ông thu hết chút sức tàn hô lên một tiếng.

Ông được mọi người dùng dây thừng đưa lên, ánh sáng mặt trời chói lọi làm ông không mở nổi mắt.

Mọi người săm soi người đàn ông lem luốc hôi thối trước mặt :

" Nếu không phải thấy có xác con chó con chết ở miệng giếng này, thì chẳng có ai nghe được tiếng kêu của ông."

Người ăn mày nhìn cái xác gầy guộc của chó nhỏ, nước mắt rơi ướt cả bộ lông dính đầy đất bẩn của nó.
hongvulannhi  
#3905 Posted : Saturday, September 15, 2012 8:42:51 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)

Originally Posted by: dedde Go to Quoted Post
Tỷ LanNhi uiii, ghé thăm tỷ rồi đi tìm bài dedde đã đọc ở đây, để ý kiến ý cò mà Quán Hẹn cao quá, dedde đi mỏi cả chân tìm vưỡn chưa ra. Bài viết về Big Island - Hawaii đó tỷ. dedde nhớ tác giả viết tả cảnh tả tình tả dân chi mà hổng giống những cảnh, những điều dedde thấy chi hết.
Tỷ xây quán mới cho bà con dễ tìm bài cũ để đọc đi tỷ, nha, nha, nhaa...a...a. Smile




Muội uiiii, tỷ nè ... mới đi xa về há. Chắc là sẽ có ảnh đẹp để bà con ngắm. Mặc dù quán đã nhiều tầng, nhưng tỷ thấy không gặp trở ngại khi vào quán, nên chưa định xây quán mới. Giờ có ý kiến của chủ đất, tỷ sẽ xây nhà bên suối cho thơ mộng nha ...

Chúc chủ đất khỏe và vui nha.

HONG VU LAN NHI

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3906 Posted : Saturday, September 15, 2012 9:06:28 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)

Con chó chung tình


Con chó sống bên mộ chủ suốt 6 năm

Một con chó ở Argentina bỏ nhà và đến nằm cạnh mộ của chủ nhân suốt từ khi ông qua đời tới nay.

UserPostedImage

Con chó Capitán luôn ở cạnh ngôi mộ chủ suốt 6 năm qua. Ảnh: La Voz.


Con chó Capitán được ông Miguel Guzmán, sống ở thị trấn nhỏ Villa Carlos Paz, Argentina, mua làm quà tặng cậu con trai Damian vào năm 2005.

Một năm sau, ông Miguel Guzmán đột ngột mất. Sau đám tang, gia đình ông không tìm thấy Capitán nữa. Họ nghĩ nó đã chết hoặc sống ở gia đình khác. Cho đến một ngày, gia đình tới nghĩa trang để thăm Miguel và nhìn thấy con chó đang ngồi bên cạnh ngôi mộ của Miguel.

"Con trai tôi đã hét lên đó là Capitán. Con chó tiến lại gần chúng tôi, sủa và rên lên như thể đang khóc", bà quả phụ Verónica Moreno nói với tờ La Voz del Interior của Argentinian.

Điều làm gia đình bà ngạc nhiên là tại sao Capitán lại biết nơi an nghỉ của ông chủ.

"Chủ nhật tuần tiếp theo, chúng tôi tới nghĩa trang và con chó vẫn ở đó. Lần này, nó theo chúng tôi về nhà và ở lại một lúc, sau đó quay về nghĩa trang", bà Verónica cho biết.

UserPostedImage

Con chó có thể ở cạnh ngôi mộ cho tới khi chết. Ảnh: La Voz.


Giám đốc nghĩa trang, ông Héctor Baccega cho biết, lần đầu tiên thấy con chó, nó đi một mình và lòng vòng xung quanh nghĩa trang cho đến khi tìm thấy mộ của chủ nhân.

"Đúng 6h tối mỗi ngày nó lại nằm bên mộ và ở đó suốt đêm", giám đốc nghĩa trang nói.

Con trai Miguel Guzmán cho biết, cậu bé nhiều lần đưa con chó về nhà để nó có cuộc sống mới, nhưng lần nào Capitán cũng quay về nghĩa trang. "Cháu nghĩ con chó sẽ ở đây cho đến khi chết. Nó đang chăm sóc bố cháu", cậu bé nói.

Hương Thu



Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3907 Posted : Sunday, September 16, 2012 11:37:45 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)

Việt Nam bao giờ mới có: Độc lập-Tự do-Hạnh phúc?


Đại Nghĩa (Danlambao) - Nhân ngày lễ 2 tháng 9 năm nay mấy ông “công an nhân dân” viết bài trên báo Hà Nội Mới có nhắc lại lời của ông Hồ Chí Minh kể từ khi cướp chính quyền và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi theo chủ nghĩa Mác Lênin đưa cả nước vào thiên đường “mù” với khẩu hiệu: “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”; nhưng rồi từ đó cho đến nay đã 67 năm qua nhìn lại thử hỏi chính quyền CSVN đã làm được những gì? Xin trả lời ngay, chỉ có: Ba Không.

1- Không độc lập

Ngay trong khi ông Hồ Chí Minh tổ chức kháng chiến giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ một trăm năm của giặc Tây thì lại mang tròng vào cái ách nô lệ một ngàn năm của giặc Tàu. Một sai lầm tội lỗi là tự rước lấy sự nô lệ tái diễn, đi ngửa tay van xin nhận sự thi ân viện trợ của tên bá quyền Đại Hán tham lam có truyền thống xâm lăng, bành trướng và đô hộ đất nước mình để gọi là: đồng chí!

Ông Hồ Chí Minh đã nhẫn tâm dâng nạp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho giặc Tàu để đổi lấy súng đạn gây máu lửa trên quê hương với ngụy danh: Chống Mỹ, nhưng rồi ai cũng thấy: Mỹ vẫn còn đây mà đảo có còn không?

Theo Hoàng Tùng, nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân kể chuyện “Bí mật Hồ Chí Minh” cho chúng ta thấy được sự lệ thuộc của CSVN vào các đồng chí CS đàn anh như thế nào.

“Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Staline gọi bác sang nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ, sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…

“Mùa hè năm 1952, sau khi đi Trung quốc và Liên xô về, bác cho chuẩn bị hội nghị cán bộ đầu năm 1953, quyết định CCRĐ. Đoàn cố vấn CCRĐ do Kiều Hiếu Quang làm trưởng đoàn. Kiều là Phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây. Họ muốn qua CCRĐ để chỉnh đốn lại đảng ta”. (Đàn Chim Việt online ngày 4-7-2010)

Qua bài phát biểu của cố TBT CSVN Lê Duẫn năm 1979 cho chúng ta thấy được cái gông cùm cộng sản nó nặng như thế nào, dù biết được mưu mô thâm độc của chúng gây hậu quả tác hại nghiêm trọng cho đất nước nhưng với áp lực của chúng, CSVN không còn con đường nào khác hơn là phải cúi đầu làm theo “lệnh” của Mao Trạch Đông như ông Hồ đã từng làm vậy thôi. Lê Duẫn nói:

“Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội (Trung quốc) đến giúp chúng ta xây dựng đường sá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác. Chúng tôi biết ý đồ này, nhưng phải cho phép (sự xâm nhập của quân đội Trung quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gởi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này”. (Đàn Chim Việt online ngày 14-6-2011)

Ách người ta đưa đến áp lực bắt mình mang thì cũng đã nhục, đàng này chính mình lại sang nhà người ta xin được mang ách thế là càng nhục hơn. Năm 1990, đứng trước sự giãy chết của những nước thuộc khối Xã hội Chủ nghĩa Liên xô và Đông Âu nhà cầm quyền CSVN lo sợ bị mất ngôi, mất quyền lãnh đạo muôn năm nên bè lũ con cháu của Lê Chiêu Thống lục tục kéo sang Thành Đô cầu viện thiên triều. Phái đoàn gồm có TBT đảng CSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CSVN Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng, đặc biệt là không có sự hiện diện của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vì ông này “chỏi” với quan thầy. Cuộc họp mặt lịch sử này được ông Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ CSVN tại Thái Lan kể lại như sau:

“Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-4-1975 cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt-Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay. Một lần nữa Trung quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm đối với độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta”. (Bauxite Việt Nam online ngày 13-8-2012)

Mục đích chính của cuộc hợp ở Thành Đô theo tài liệu Wikileaks xì ra do công điện của tòa Đại sứ Hoa kỳ tại Hà Nội báo cáo về Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có nội dung “Việt Nam xin làm khu tự trị trực thuộc Bắc kinh”.

“Việt Nam bày tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt Nam được hưởng quy chế khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”. (Đất Việt online ngày 12-1-2010)

Sau 67 năm nhìn lại, ngoài thì giặc mỗi ngày đang lấn lướt, trong thì theo lời của chủ tịch nước Trương Tấn Sang qua bài “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân”, ông Sang viết: “xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để chọc gậy bánh xe, thậm chí để cõng rắn cắn gà nhà” (Tuổi Trẻ online ngày 23-8-2012).

Cứ mỗi lần gặp nhau giữa viên thái thú Nguyễn Phú Trọng và đồng chí Thiên triều thì cứ ôm nhau thắm thiết với vũ điệu “sol mì sol, mì sol đố mì” trong khi biển đảo của Tổ quốc bị gậm nhấm dần. Sự “độc lập” của nước CHXHCN Hà Nội được nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng (người đã chua chát làm đơn xin ly khai sau 40 năm tuổi đảng) viết trong bài “Thông điệp tháng Tám” như sau:

“Nguy cơ chính trị đưa đất nước trở về thời ngàn năm Bắc thuộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào thân phận nô lệ tủi nhục. Chính trị đồng hóa dân tộc Việt Nam về ý thức hệ với Đại Hán, mở đường cho Đại Hán thực hiện tham vọng thôn tính Việt Nam. Nguy cơ mất nước từ bên ngoài, nạn ngoại xâm…

“Đặt giai cấp lên trên dân tộc, coi lợi ích của đảng Cộng sản, đảng của giai cấp vô sản lớn hơn lợi ích dân tộc, coi sự sống còn của đảng Cộng sản cần thiết hơn sự sống còn của dân tộc Việt Nam, dịp này 20 năm trước, lãnh đạo đảng CSVN đã bẽ bàng sang Thành Đô, Đại Hán cầu xin sự nhìn nhận của Đại Hán, xin được làm thân phận chư hầu để được liên kết thực chất là núp bóng cộng sản Đại Hán…

“Từ cuộc gặp ô nhục ở Thành Đô, những người cộng sản khư khư ôm giữ lý thuyết sai lầm và tội lỗi đã thực sự đặt cái gông Bắc thuộc lên đầu, lên cổ dân tộc Việt Nam”. (Đàn Chim Việt online ngày 6-9-2012)

Qua những sự kiện nêu trên chúng ta thấy được rằng Việt Nam chưa có độc lập, dưới cái nhìn của luật sư trẻ Lê Trần Luật đã mạnh dạn nói lên nhận định của mình như sau:

“Nhà nước Việt Nam lệ thuộc quá nhiều vào Trung quốc, chính quyền Việt Nam tỏ ra sợ hãi trước áp lực của nước lớn như Trung quốc, cơ bản là lệ thuộc về mặt chính trị, bởi vì khối XHCN còn lại thì đa số phụ thuộc vào Trung quốc và chế độ CSVN muốn tồn tại, thì không cách nào không lệ thuộc vào Trung quốc”. (RFA online ngày 29-5-2011)

2- Không Tự do

Tự do - Dân chủ, là khát vọng của mọi người công dân Việt Nam nhất là dưới thời thực dân Pháp đô hộ nước ta, vì thế cho nên toàn dân đã hăng hái đi theo tiếng gọi hy sinh xương máu đấu tranh giành Độc lập của CSVN. Nhưng chính quyền CSVN ngày nay đã không đáp ứng được niềm mơ ước đó qua nhận định của cố giáo sư Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết học Mác lê, người cộng sản bị cộng sản trù dập đến khi chết.

“Nhà nước Cộng sản luôn tuyên bố rằng CNXH dân chủ gắp một triệu lần CNTB nhưng thực tế cho thấy, chế độ hiện nay (dân chủ) không bằng một phần của chế độ phát xít Hitler thời xưa…

“Hiện nay Tự do-Dân chủ, Tự do Tôn giáo, Tự do Sắc tộc đang bị đàn áp rất nghiêm trọng. Tôi thấy chính quyền hiện nay đang tỏ ra cho thế giới thấy rằng, họ đang vi phạm trắng trợn quyền Tự do của người dân”. (Việt Tide số 119 ngày 24-10-2003)

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một vị lão thành cách mạng đã trọn đời hy sinh vì dân vì nước nhưng đến ngày hôm nay cụ vẫn còn phải trăn trở vì cái đảng CSVN nó không đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân cũng như kỳ vọng của cụ đã hết lòng phục vụ nhưng cho đến ngày nay vẫn chưa có được:

“Giờ đây vẫn là đảng của tôi lãnh đạo nhưng không có tự do, không được tự do tư tưởng, không được phát biểu quan điểm, ý tưởng khác với ý kiến chính thống, báo chí không dám thông tin đầy đủ, đi biểu tình yêu nước cũng ngại. Không có dân chủ, hoặc dân chủ hình thức, giả tạo, có vấn đề hàng trăm hàng ngàn người góp ý kiến cũng bỏ ngoài tai, kế hay, ý tốt không được tiếp thu, cấm nhiều hơn lắng nghe”. (Bauxite Việt Nam online ngày 30-7-2011)

Nỗi khao khát Tự do Dân chủ mãi đến ngày hôm nay vẫn còn xa vời, một ước mơ thống thiết nhất vẫn chưa đến với người dân Việt Nam. Nhà văn Quân đội Phạm Đình Trọng đã xả thân chiến đấu giành độc lập, giành tự do nhưng ông đã phải cất tiếng than:

“Nhân dân Việt Nam khốn khổ đã phải chịu nhiều hy sinh mất mát đấu tranh giành những giá trị làm người mà đến nay vẫn chưa được sống một xã hội Dân chủ, xã hội thực thi đầy đủ quyền con người, xã hội bảo đảm nghiêm chỉnh những giá trị làm người. Loài người đã bước vào kỷ nguyên Dân chủ từ thế kỷ XIX. Nay đã là thế kỷ XXI mà nhân dân Việt Nam vẫn chưa có Dân chủ thực sự! Là người Việt Nam chân chính, ai cũng phải đau xót. Dân chủ đã là khát vọng cháy bỏng…” (Bauxite Việt Nam online ngày 19-4-2012)

Người công dân ở một nước gọi là Độc lập-Tự do ấy thế mà người dân muốn đi biểu tình chống quân xâm lược thì phải xin phép, nếu cho thì đi, còn không cho thì thôi. Như vậy người dân nước đó có Độc lập-Tự do hay không? Không có gì bất hạnh cho bằng một dân tộc không có được tự do biểu tình chống giặc ngoại xâm, vì ở đó “ra ngỏ gặp công an và côn đồ”.

Ông Lê Minh Trí, chủ tịch UBND TP HCM trả lời đơn xin biểu tình chống Trung cộng xâm lược của ông Lê Hiếu Đằng như sau:

“Về việc yêu nước có nhiều cách yêu nước, UBND và Thành ủy chưa chủ trương biểu tình lúc này, biểu tình không giải quyết được tình hình chống Trung quốc. Hiến pháp có xác định quyền biểu tình của công dân nhưng chưa có luật biểu tình. Nghị định 38 có quy định tụ tập đông người phải xin phép và chính quyền sẽ cân nhắc lợi hại để cho phép hay không”. (Bauxite Việt Nam online ngày 12-8-2012)

Ở nước Việt Nam XHCN của “ta” chỉ có một thứ tự do thoải mái duy nhất là “tự do ca ngợi đảng CSVN”. Điều chua chát này là lời của người đảng viên 30 năm, PV Quốc Doanh kể lại trong bài “Đảng CSVN nguy cơ tan rã” như sau:

“Văn nghệ sỹ mấy chục năm qua chỉ có được một cái quyền tự do là ca ngợi đảng CSVN…Văn nghệ không có tự do sáng tác thì không còn văn nghệ, văn nghệ sỹ chửi nhau mà thực ra trong bụng chửi đảng CSVN đấy”. (Bauxite Việt Nam online ngày 8-9-2012)

3- Không Hạnh phúc

Độc lập đã không có, Tự do Dân chủ cũng không thì làm sao có được hạnh phúc? Nhìn vào thực tế xã hội Việt Nam ngày nay xem cuộc sống của người dân sau 67 năm cai trị đất nước của chính quyền cộng sản đã làm được những gì?

Đất nước Việt Nam đa số người dân sống về nông nghiệp và đồng bằng sông Cữu Long được coi là vựa lúa của Việt Nam thì nông dân ở đấy có cuộc sống ra sao khi mức thu nhập của họ phải mất trên ba tháng trời nhịn ăn nhịn mặc mới đổi được một tô phở bò Kobe!

“Báo chí đưa tin phát triển kinh tế-xã hội Đồng bằng sông Cữu Long tứ bề khốn khó vào thời điểm khu vực này đánh dấu 5 năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

“Khu vực ĐBSCL dân số gần 18 triệu nơi cung cấp 90% lượng gạo và 60% lượng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam… Theo phân tích của Việt Nam Net đưa lên mạng ngày 13-7-2011 thì nhiều nông dân ĐBSCL thu nhập chỉ khoảng 0,3 USD/ngày tức chưa tới 7.000đ/ngày”. (RFA online ngày 27-7-2012)

Cái bánh vẽ thiên đàng XHCN là đời sống mọi người đều bình quyền, bình đẳng, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, cuộc sống của mọi người đều ngang nhau, không có cảnh người bóc lột người, tuy nhiên, xã hội Việt Nam hôm nay với cái nhìn ray rức của nhà cách mạng lão thành, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vẽ lên bức tranh đầy ảm đạm và chua chát.

“Giàu nghèo phân hóa càng xa, bất công đầy dẫy. Một tầng lớp người chỉ độ 1,2% dân số giàu nứt đố đổ vách do tham nhũng, do buôn bán đất và chiếm đất, do đầu cơ, buôn lậu, do nhận hối lộ từ trong nước và nước ngoài, do ăn từ các dự án. Có những người 5-7 biệt thự. Họ ăn chơi phè phỡn, sống như đế vương. Trong khi đó thì đa số nhân dân còn quá nghèo, đa số công nhân lương thấp, không có nhà ở, đời sống chật vật; có những người nghèo phải bới từng đống rác, túi rác để kiếm sống…

“Trong xã hội còn nhiều bất công nữa, ví như nông dân bị thu hồi đất thì được đền bù với giá rẻ mạt, nhà đầu tư địa ốc (thuộc các “nhóm lợi ích”) giành được đất ngon, xây nhà thì bán giá cao gấp hàng nghìn lần, thu lãi kếch xù; người vô tội thì có tội, kẻ có tội lại được thưởng; thiếu nữ bị dỗ bán dâm thì bị tù, nhiều kẻ mua dâm các em thì vô tội v.v…

“Từ khoảng 10 năm lại đây chưa bao giờ đời sống khó khăn bức xúc như hiện nay. Thêm vào đó, tham nhũng vẫn diễn biến, tội phạm, tệ nạn xã hội tăng, bất công xã hội tràn ngập khắp nơi… gây nên khủng hoảng lòng tin, tâm lý bất mãn, rất dễ dẫn đến mất ổn định”. (Bauxite Việt Nam online ngày 23-4-2011)

Tôi còn nhớ rất rõ những năm đầu mới chiếm được miền Nam các “đồng chí” cán bộ thường hay lên lớp lếu láo rằng ở chế độ XHCN thì: “trẻ con khôn trước tuổi…” Lúc đầu thật sự mới nghe tôi chẳng hiểu mô tê, nhưng nhờ sau này đi “cải tạo” nên mới biết ra rằng: trẻ con mới tuổi măng non là phải tung ra xã hội lăn lóc vật vã với đời để tự kiếm từng miếng ăn cho chính mình thì không khôn cũng phải khôn, nhưng mà khôn vặt, gian ngoan, xảo quyệt, quỉ quái… để mà sống chớ cha mẹ nó nuôi thân còn không nổi làm sao nuôi nó. Ở cái thiên đường XHCN này ta thấy được rất nhiều câu chuyện thương tâm:

“Những bàn tay chai sần, đầy sẹo bới móc đống rác. Những đôi vai gầy guộc, đen đúa khoác túi ve chai. Suốt ngày “ngập mặt” trong rác nhưng ước mơ tới trường luôn rực sáng trong đôi mắt đám trẻ lam lũ…

“8 đứa trẻ nhanh chóng tụ lại trước cổng. Bé Thanh An, người nhỏ xíu cũng khoác bị lên vai. 8 cái dáng gầy còm tiến ra đường lộ. Một ngày cực nhọc bắt đầu. Dẫu nắng chói chang hay mưa tầm tã, bọn trẻ vẫn lầm lũi trên các nẻo đường. Những bàn tay, bàn chân nhỏ xíu chai sần, đầy những vết thương ngang dọc bởi các vật sắc nhọn”. (Dân Trí online ngày 11-1-2010)

Người cộng sản thường khoác lác rằng ở XHCN: “người già như trẻ lại”, vâng đúng như thế, trẻ lại như cụ Đặng Văn Huyền, ở Huế gần 100 tuổi còn phải còng lưng đi đạp xích lô nuôi cụ bà như phóng sự “Cụ ông gần 100 tuổi đạp xích lô” của VNExpress online ngày 17-1-2011.

Ngày xưa, mục đồng là những đứa trẻ chăn trâu tối ngày ca hát nghêu ngao ngao ngoài đồng “Chăn trâu sướng lắm chớ…”, ngược lại ngày nay ở cái thiên đường XHCN Hà Nội này “mục đồng” lại là một lão bà, câu chuyện “Cụ bà 87 tuổi ‘chỉ huy’ mấy chục con trâu” đã đánh động lương tâm của con người (trừ loại người vô cảm), nghe ra mà đứt ruột, Ôi! bà lão mục đồng “chăn trâu sướng muốn khóc”.

“Dọc theo triền đê Bộc Nguyên thuộc xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên (Hà tỉnh) hàng ngày bất kể trời nắng hay mưa đều có một cụ bà gầy gò tay cầm gậy, theo sau một đàn mấy chục con trâu.

“Đó là cụ Nguyễn Thị Chương, 87 tuổi, trú tại thôn Xuân Lâu, xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên (Hà Tỉnh).

“Ở cái tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng hàng ngày cụ bà vẫn “chỉ huy” đàn trâu trên 30 con, thời điểm nhiều nhất có khi gần 50 con. Ai không biết tưởng rằng cụ là chủ một trang trại nuôi trâu. Thực ra đó đều là của người làng, nhà cụ chỉ có hai con”. (Dân Trí online ngày 29-6-2010)

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mọi người dân đều đã trải qua thời kỳ “10 thời bao cấp” đói nghèo, ấy thế mà khi con người làm ăn có chút đỉnh lại quên đi thời khố rách áo ôm đối xử với người giúp việc một cách man rợ hơn bọn cường hào ác bá ngày xưa. Dã man hơn thời rừng rú, mất nhân tính của cặp vợ chồng chủ nhân một quán phở qua bản tin “Một cô gái bị hành hạ như nô lệ suốt 13 năm” mà những giới chức địa phương, những láng giềng vô cảm, những thực khách vô tâm, đã không thấy được sự bạc bẽo của một con người.

“Từ 8 tuổi, cô bé đã phải làm thuê cho một quán phở. Vợ chồng chủ quán gian ác, dùng kìm kẹp da thịt, dùng dây điện đánh vào người cô bé suốt 13 năm qua, dù cô đã cố gắng làm việc quần quật từ 4 giờ 30 sáng tới khuya, bất kể ốm đau…

“Rụt rè, Bình (tên cô bé) khẽ quay người lại rồi vén áo lên cho mọi người xem những vết thương trên lưng mình. Một cảm giác lẫn lộn xót thương, ghê sợ, phẫn nộ trào lên đối với những người có mặt. Lưng Bình giống như mặt đường nhựa bị vết xe xích băm nát, vết sẹo sau đè lên vết sẹo trước, chi chít những vết hằn của roi, của kìm kẹp. Mặc dù đã qua hơn nửa tháng dưỡng thương nhưng nhiều vết thương trên người cô vẫn chưa hoàn toàn lành lặn: hai cánh tay cũng đầy vết thâm tím; hai đầu ngón chân cái tím đen vì bị chọc bằng gậy…

“Xen trong nước mắt và tiếng nấc nghẹn ngào, Bình kể, hầu như không ngày nào không bị đánh, bất cứ lý do gì cũng có thể khiến cô bị ăn đòn. Chỉ cần chậm trễ không mang kịp nước dùng, hoặc bát đũa bày ra quán phở là Bình bị chủ quán hắt ngay nước trần phở đang sôi vào người, vào mặt. Bị bỏng hết cả tay, một vùng mặt nhưng cô vẫn làm việc quần quật từ sáng sớm đến khuya. Cách ông, bà chủ thường dùng trong “dạy bảo” Bình là dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp vào mạng sườn; bắt cô quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều giờ liền. Thậm chí có lần không may làm nước bắn vào người bà chủ, lập tức bà ta dùng dao chọc tiết lợn đâm thẳng vào đùi rồi dùng gót guốc nhọn nện tiếp vào “vùng kín” gây thương tích khiến em nhiều ngày không đi tiểu được”. (Người Lao Động online ngày 7-11-2007)

Hạnh phúc nào của người công nhân lao động trên đất nước mình, nơi mà cái đảng mệnh danh là của giai cấp công- nông lãnh đạo, ấy thế mà ngày nay người công nhân dưới cái chế độ đảng trị ấy đã bị đảng quay mặt đi một cách lạnh lùng. Người công nhân không có được một công đoàn độc lập để bênh vực cho quyền lợi của mình mà chỉ có công đoàn của đảng CS bênh vực quyền lợi của giới chủ nhân bóc lột. Sinh mạng của người công nhân không được bảo đảm, sức tàn, lực kiệt thêm những bữa ăn trưa tại hảng đạm bạc, thực phẩm thiếu vệ sinh, nên công nhân thường hay bị ngộ độc.

“Báo Người Lao Động đưa tin nhiều doanh nghiệp tổ chức tăng ca liên tục hàng tháng trời nhưng lại nghĩ ra đủ cách để không phải trả tiền phụ trội…

“- Sau tết đến giờ, ngày nào vợ em cũng tăng ca. Bữa nào về sớm cũng hơn 8 giờ tối”… - “Cả tháng nay tăng ca liên tục tụi em oải lắm rồi”…

“Công ty xuất nhập khẩu Giày da Sài Gòn cũng buộc tăng ca liên tục khiến công nhân chịu không nổi, phải đình công”. (Người Lao Động online ngày 21-2-2006)

Lao động trong nước đã như thế còn lao động xuất khẩu càng tệ hại hơn, đây là một dịch vụ buôn người trá hình mà chắc chắn rằng phải có sự nhúng tay của cán bộ đảng viên cộng sản mới nên việc. Hàng trăm ngàn thanh niên nam, nữ đã cầm đồ bán đạt, vay mượn, cầm cố nhà cửa ruộng vườn để có tiền nộp cho các công ty môi giới lao động xuất khẩu, lớp ăn chận tiền lương, lớp thì lừa đảo, lớp thì đem con bỏ chợ. Người công nhân ra nước ngoài rồi có việc làm hay không, có bị bóc lột, bị áp bức hay không thì công ty đưa đi không còn chịu trách nhiệm vì tiền thầy đã bỏ túi, công nhân có ra sao thì “mackeno”.

Câu chuyện thương tâm của những nữ công nhân đi làm lao động ở American Samoa được một nạn nhân đại diện điều trần trước Ủy Ban Ngoại giao thuộc Hạ viện Hoa kỳ ngày 29-11-2001 kể như sau:

“Vừa đặt chân xuống sân bay, chúng tôi bị tịch thu hộ chiếu. Tại công ty Daewoosa tôi phải làm việc từ 7 giờ sáng, nhiều khi cho đến 2 giờ khuya và có khi đến 7 giờ sáng hôm sau và làm cả thứ bảy, chúa nhật mà không được trả lương…

“Có lần khách ký hợp đồng đến Samoa, ông ta bắt mấy phụ nữ ngủ với khách. Họ nhất định không chịu. Ngay tại chỗ làm ông Lee hay sờ mó, hôn má các nữ công nhân trước mặt mọi người. Trong nhóm mang thai thì ông Lee bắt phải phá thai. Họ không chịu thì bị đuổi khỏi công ty…

“Ông Lee dọa cho người bảo vệ dập điện cho đám người Việt Nam chết cháy hết. Mọi người đều sợ vì trước đó 2 người đứng đơn kiện ông Lee là cô Nga và cô Dung đều đã chết mất xác”. (Báo Người Việt ngày 6-12-2001)

Những công nhân Việt Nam ở Samoa sau được Ủy Ban Cứu người Vượt biển của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng can thiệp và đã cho tất cả họ được sang định cư ở Hoa Kỳ còn cái công ty Du lịch 12 và IMS đưa họ đi thì lại hùa với chủ lao động ép họ tiếp tục làm việc nếu ai không nghe thì bị đuổi về. Rồi cũng những trò làm ăn đem con bỏ chợ vô trách nhiệm ấy, công nhân Việt Nam lại bị một đám chủ man rợ khác hành hạ:

“Một trăm bảy mươi sáu công nhân người Việt Nam sang làm việc ở Jordan đã bị chủ nhân bỏ đói và thuê người hành hung vì tổ chức đình công đòi tăng lương cũng như cải thiện điều kiện làm việc…

“Theo những nguồn tin từ trong và ngoài nước, vì bị đối xử hành hạ dã man từ vụ đình công ngày 24 tháng 2 vừa qua, với nhiều người bị đánh đập và bắt nhốt, các nữ công nhân Việt ở Jordan đã kêu cứu…“Tụi em tất cả phải quỳ xuống chấp tay xin cứu cho tụi em về nước thôi ạ”…

“Liên quan đến đời sống và công ăn việc làm của người lao động xuất khẩu từ Việt Nam, tin tức báo chí cho hay, đã có hơn 300 trường hợp lao động Việt Nam chết tại Malysia kể từ tháng 4 năm 2002 cho đến nay. Đây là con số thống kê do cục Quản lý Lao động Ngoài nước thuộc bộ Lao động-Thương binh & Xã hội Việt Nam chính thức đưa ra gần đây”. (RFA online ngày 1-3-2008)

Đã 67 năm qua nhân dân Việt Nam sống dưới chế độ độc tài công an trị và luôn bị ám ảnh bởi những cái chết mà công an gieo vào đời sống của người dân vô tội. Có biết bao cảnh thương tâm với những cái chết khi người dân bị “mời vào đồn công an làm việc”, tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã thấy chạnh lòng.

“Vụ ông Trịnh Xuân Tùng bị công an giao thông đánh gãy cổ, vụ anh Nguyễn Công Nhật bị chết trong lúc làm việc với công an, nay đến vụ ông Nguyễn Mậu Thuận ngày 30-8-2012 bị chết trong tay công an xã Kim Nỗ - Đông Anh… chỉ là những giọt nước tràn ly trong cái “trào lưu” công an mặc sức hành hạ và đánh chết dân thường! Thử hỏi: Nước có luật pháp hay chỉ là một bộ tộc đang thời ăn lông ở lỗ?” (Dân Làm Báo online ngày 2-9-2012)

Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, vị tướng già tuổi ngoài 95 mà còn phải trăn trở với một chế độ độc tài toàn trị vì lực lượng công an chỉ biết “còn đảng còn mình”, luôn gieo rắc nỗi kinh hoàng cho người dân lương thiện chứ không mang lại hạnh phúc cho người dân như khẩu hiệu đã từng rêu rao.

“Ngày nay, nhìn đâu tôi cũng thấy nhiều điều ngược lại: công an tùy tiện bắt dân, muốn bắt ai thì bắt dù không có lệnh của Viện Kiểm sát, dù họ không phạm pháp quả tang; hàng nghìn công an viên đánh đập nhân dân một cách tàn bạo, cưỡng chế lấy đất của nông dân để làm giàu cho các nhà đầu tư và người có chức quyền, đàn áp những người biểu tình yêu nước…” (Bauxite Việt Nam online ngày 23-8-2012)

Trong khi tuyệt đại đa số người dân Việt Nam bị áp bức bóc lột thì lại nổi lên giai cấp mới: giai cấp đại gia, giai cấp cộng sản đỏ… Chế độ độc đảng, độc tài đã tạo điều kiện tốt cho một số cán bộ, đảng viên tham nhũng móc ngoặc với một số tư thương kết thành “nhóm lợi ích” lợi dụng quyền thế làm giàu bất chính sống một cuộc sống xa hoa phung phí. Đau lòng trước nghịch cảnh XHCN ngày nay, cụ bà Lê Hiền Đức đã phải hết lòng ra tay giúp đỡ những người thấp cổ bé miệng bị cường hào ác bá áp bức dù thân già cũng chịu lắm gian nan.

“Giàu nghèo ở Việt Nam chênh lệch quá mức, người ta khổ như thế, bên cạnh đó có nhiều người đủ tầng lớp, mà tôi được nhìn thấy, đặt những bữa tiệc hàng triệu, triệu đồng nhậu nhẹt với nhau, kể cả tiền bỏ túi ra thì tiền ấy do sự bóc lột tham nhũng của người dân nghèo mà có, ăn uống một cách vô tội vạ, trong khi ấy người dân nghèo thì càng nghèo, đã đói, khổ, lao động vất vả, hở một tí gì ra thì cũng phải đút lót tiền nong”. (RFA online ngày 15-7-2012)

Nhìn thấy được nguy cơ của sự phá sản trong xã hội, giáo sư Tương Lai lên tiếng cảnh báo với nhà cầm quyền CSVN rằng:

“Làm giàu bất chính là do họ (cán bộ, viên chức) tham nhũng và tham nhũng được ở trong bộ máy quyền lực, đẻ ra tiền, nhờ tiền họ thăng tiến thêm quyền lực, đó là một quy luật khủng khiếp, tôi thấy việc này hoàn toàn đúng. Nếu phân tầng xã hội là do chiếm công vô tư, lấy của, mồ hôi, nước mắt của dân đóng thuế, trở thành sở hữu riêng tư của mình, làm giàu một cách bất thường và bất chính, gây nên sự phẫn uất, một bất công xã hội lớn, là một nguy cơ đối với đất nước”. (RFA online ngày 12-1-2012)

Trong khi giữa lòng thủ đô Hà Nội có căn nhà được báo chí lề phải đưa tin “14 năm nay, hai vợ chồng cùng cậu con trai (học lớp 9) của gia đình anh Hoàng Văn Xuân, sống tại nhà số 44, Hàng Buồm, Hà Nội trong ngôi nhà cao vỏn vẹn 1,1m, rộng chưa đầy 6 m2”(Việt Nam Net online ngày 16-3-2012) thì lại có một bọn người lợi dụng thời cơ, đục nước béo cò làm giàu trên xương máu, mồ hôi và nước mắt của đồng loại với trái tim vô cảm lại sống ngất ngưởng trong những căn nhà dát vàng 24 K.

“Đại diện chủ đầu tư dự án dát vàng triệu đô ở Hà Nội cho biết, từ 1-3 đến 9-3, chủ đầu tư đã bán được gần 40 căn trong tổng số 242 căn hộ. Trong đó, các loại căn hộ rộng từ 120-260,8 m2 được nhiều khách lựa chọn. Không tiết lộ danh tính song nguồn tin này cho hay, khách mua chủ yếu là doanh nhân hai miền Bắc-Nam và Việt Kiều độ tuổi từ 38 đến 40”. (VietNam Express online ngày 10-3-2012)

Trong khi …

“Một bữa ăn nghèo nàn của 3 công nhân thời buổi giá leo thang chi hết 15.000 đồng, nghĩa là chi phí một bữa ăn cho một người chỉ 5.000 đồng. Bữa ăn công nhân chưa được cải thiện, nhưng bát phở thì đã được “cải thiện” về giá từ 750.000 đồng lên 850.000, vậy quán phở vẫn đông khách”. (Sai Gon Tiếp Thị online ngày 30-3-2011”

Thì…

“Giữa thời buổi kinh tế khó khăn, nhiều người đang lo thắt chặt hầu bao thì không ít “đại gia” Việt không ngần ngại chi hàng chục thậm chí cả trăm triệu cho một bữa hải sản.

“Một siêu thị ở Hà Nội vừa bán loại cua khổng lồ với giá khoảng 5 triệu đồng một con, ngang với giá của một tấn thóc hiện nay. Mức giá này đắt gấp 10 lần so với cua bể của Việt Nam. Song chỉ trong một ngày, siêu thị này bán hết vèo 3 con. 7 con nhập về đã bán hết, khách muốn mua thì phải chờ. Tất cả khách hàng đều là người Việt…

“Có “đại gia” đã vung tiền cho một bữa ăn lên tới 150 triệu đồng chỉ có 3 con rùa vàng mà theo người ta đồn nhau rằng nó là loài cực quý hiếm, sống trên đại ngàn, hấp thụ linh khí của trời đất nên máu thịt tinh khiết, đại bổ, ăn vào tăng cường sinh lực, đặc biệt ai có bệnh tim nếu uống rượu pha mật rùa sẽ hết ngay. Giá của loại rùa này lên tới 50 triệu đồng một con.

“Đại gia này còn cho biết, để bồi bổ, mỗi tháng, anh ta chén vài ba con rùa vàng là chuyện thường”. (VietNam Net online ngày 1-8-2012)

Những “đại gia”, những quý công tử đua đòi sống một cuộc đời vương giả trên quê hương bất hạnh thì thật là một đau lòng, một nỗi nhục cho dân tộc quá nhiều hy sinh và mất mát. Những nhà báo lề phải của Việt Nam cũng phải chua chát viết bài cho những cuộc sống sa đọa này như sau:

“Nhà giàu Việt ăn chơi, tỷ phú thế giới “khiếp vía”.

“Có trực thăng riêng, sở hữu những hòn đảo, đi ngoại giao trên chiếc Rolls & Royce, có gara siêu xe thể thao, thêm cả du thuyền và thu hút truyền thông không kém gì giới showbiz là chân dung của giới nhà giàu Việt Nam hiện nay…

“Năm 2008, Bầu Đức là người đầu tiên mua máy bay riêng với chiếc Beechcraft King Air 350… Chiếc máy bay này có giá khoảng 7 triệu USD…

“Hai năm sau, người nổ phát súng thứ hai trong việc mua máy bay phục vụ cho cá nhân và công việc kinh doanh là ông Trần Đình Long – Chủ tịch Tập đoàn Hòa Phát với chi phí khoảng 5 triệu USD…

“Trong năm 2009, diễn viên điện ảnh đã ngoài 50 tuổi Diễm My cũng lên báo “khoe” du thuyền trị giá 2 triệu USD của chồng”. (Dân Trí online ngày 11-8-2012)

Trong khi bọn đại gia trọc phú sống một cách vô cảm thì còn có những thân phận bọt bèo của những cô gái bất hạnh phải “lấy chồng xa”. Chưa từng bao giờ người con gái Việt Nam bị chà đạp nhân phẩm, bị rao bán như những món hàng ế ẩm, như những “con cháu bác hồ”. Hàng trăm cô gái trần truồng như nhộng, đi tới đi lui, chổng khu chổng gộng cho người xem đít xem mông. Ngược lại người con gái phải lấy những anh chồng già, khùng điên lựa vợ như lựa cá, câu chuyện thương tâm của cô Thạch Thị Hồng Ngọc ở Cần Thơ bị chồng giết sau khi về quê Hàn quốc được 7 hôm khiến người nghe cũng mủi lòng. Ngoài ra còn không biết bao chuyện thương tâm khác

“Hàng chục nghìn cô gái làm dâu xứ người đang bị hành hạ, ngược đãi ngày đêm. Không ít cô bị chồng trói dán miệng, khiêng bán cho tú bà; bị chồng dùng kim đâm vào 10 đầu ngón tay rồi nhúng vào nước muối, lấy ná thun bắn vào mi mắt và lấy dao cứa chằng chịt vào lưng.

“Trên báo chí Đài Loan thường xuyên có những bài phản ánh nhiều trường hợp nàng dâu Việt bị hành hạ thậm tệ. Điển hình như vụ việc xảy ra ngày 23-6. Cảnh sát Đài Loan đã phát hiện 2 thanh niên đang chở cô Vũ Thanh Thảo, 21 tuổi, hai chân bị trói chặt bằng dây, hai tay bị quấn băng keo trói quặt ra sau và miệng cũng bị dán kín băng keo đi bán cho ổ mại dâm”. (VN Express online ngày 12-7-2004)

Nhà cầm quyền CSVN cố tình dung dưỡng những tên làm ăn bất chính để móc ngoặc, ăn theo kiếm chác, đến khi nào thấy không còn lợi dụng “con mồi” được nữa hay sắp bị đổ bể thì vội ra tay hạ thủ như vụ Bầu Kiên mới đây hoặc vụ trùm ma túy Nguyễn Văn Thi ở Bắc Giang với “Cung điện trăm tỷ”.

“Biệt thự giống cung điện với tường rào kiên cố theo kiểu “vạn lý trường thành”, trên là lối đi, dưới là đường hầm. Trong khuôn viên 7.000 m2 có cả nhà sàn, nhà gỗ, biệt thự hiện đại, bể bơi, ao cá, hồ nước…

“Mỗi khi hứng chí, hắn và đám đệ tử lại nhảy lên xe ôtô hạng sang, đến nhà hàng sang trọng hưởng thụ món ăn ngon, gái đẹp. Ông trùm này sẵn sàng vung hàng xấp tiền bao các nữ tiếp viên”. (VietNam Express online ngày 16-8-2012)

Những khẩu hiệu công bằng xã hội ngày nay không còn được ai tin được nữa, ngay cả những nhà lão thành cách mạng ngày xưa đã bỏ cả tuổi thơ đi theo con đường cách mạng để đưa đất nước tiến lên một cái thiên đường mà mọi tuổi trẻ thời ấy đều mơ ước. Nhưng cái xã hội ấy ngày nay không như là mơ ước mà nó là một xã hội man rợ hơn cả cái xã hội mà người thanh niên ngày xưa đã “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, nhà địa chất giỏi nhất nước cũng đã phải lên tiếng oán than:

“Còn mức độ chênh lệch giàu nghèo ngày càng nhiều. Con ông cháu cha, con cháu thành phần tư sản đỏ đem xe hơi ra chạy đua trên đường phố làm quà cho nhau bằng xe hơi mới, trong khi đó nhiều người sống vất vưởng, trẻ em lang thang cơ nhỡ và nhiều gia đình nghèo đói xác xơ, thậm chí phải bán máu, phải sống cơ cực”. (Việt Tide số 130 ngày 9-1-2004)

Sau 67 năm “tiến lên” thiên đường XHCN như thế nào được giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và là cố vấn các vấn đề xã hội của cố thủ tướng Võ văn Kiệt, trong một cuộc phỏng vấn gần đây của BBC nói về số phận của những người ở từng lớp thấp cổ bé miệng bị thiệt thòi ra sao:

“Nông dân Việt Nam là người chịu trên vai mình gánh nặng nhất của đất nước. Nhưng về sau, bản thân người nông dân lại phải chịu đựng rất nhiều thiệt thòi…

“Cống hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất là thứ hai. Hưởng thụ ít nhất là thứ ba. Thứ tư là họ được giúp kém nhất. Thứ năm là họ bị đè nén thảm nhất. Nhưng thứ tám, họ là người tha thứ cao nhất”. (BBC online ngày 19-8-2008)

Người nông dân hiền hòa đã từng lấy máu để bảo vệ nguồn sống của gia đình trên những cánh đồng nên đã ủng hộ “cách mạng” nhưng nay chính “cách mạng” lại cướp nguồn sống ấy qua luật “đất đai là của toàn dân”, ấy thế là sau bao nhiêu năm mơ có được cuộc sống hạnh phúc trên mảnh đất thân yêu, nay trở thành mất trắng. Cụ tướng già Nguyễn Trọng Vĩnh thấy lòng nao nao.

“Huy động hàng nhìn công an mặc sắc phục và thường phục nổ súng uy hiếp, ném lựu đạn khói cay và đánh đập túi bụi tàn nhẫn những nông dân tay không để cưỡng chế, coi như kẻ thù… thì có thể gọi Nhà nước của dân, do dân, vì dân nữa không?... Rõ ràng chính quyền dùng công cụ bạo lực đàn áp nông dân vì lợi ích nhà tư bản và người thân. Dùng máy xúc máy ủi san lấp của cải mồ hôi nước mắt của nông dân, cày xới mồ mả người thân của họ. Nhìn những bức ảnh tiểu sành bật nắp, những khúc xương ống lộ ra, ai cũng phải xúc động và phẫn nộ”. (Bauxite Việt Nam online ngày 10-5-2012)

Than ơi, có phải chăng “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” là đây!

Đại Nghĩa
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

langthang09  
#3908 Posted : Sunday, September 16, 2012 4:41:36 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage

NHẶT NẮNG


Cô gái nhà ai ở xóm Đông
Sang đây một sớm nắng vàng trong
Cùng hai cô bạn bên bờ giếng
Nhặt nắng trong cây, kể chuyện lòng

Tôi về dưỡng bệnh ở nơi đây
Nhà trọthân đơn tối lại ngày
Từ buổi nhìn qua song cửa sổ
Bệnh dường như khoỉ, dạ như say

Tôi ởthôn Đoài, cô thôn Đông ?
Biết còn gặp gỡ được nhau không?
Cách hai bờ giếng như xa cách
Như kẻ đầu sông, kẻ cuối sông

Giếng cạn nên khôn thả lá vàng
Khôn nhờ gió sớm nhắn tin sang
Lá ơi! Và gió ơi! Tôi biết
Tình chửa chung đôi đã lỡ làng

Cô chẳng bao giờ biết đến tôi
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi
Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh, canh tàn, lệướt rơi .

Chòm hoa râm bụt bên bờ giếng
Nở đỏ như muôn mảnh lụa điều
Tôi dối lòng tôi nên chẳng dám
Nhận là mình đã bắt đầu yêu

Quán trọ từ nay thêm bóng cô
Nhưng tôi hồn mất tự bao giờ!
Tôi mong nhớ lắm, tôi mong mỏi
Một buổi nào đây chẳng hẹn hò

Cô lại sang đây, cô lại ngồi
Bên bờ giếng nhặt nắng vàng rơi
Nắng vàng rơi mãi bên bờ giếng
Sao nắng vàng không hẹn một lời ?

Tình có cho đi chẳng có về
Lòng kêu gọi mãi chẳng ai nghe
Cho nên từ đấy tôi ngơ ngẩn
Làm những bài thơ lạc cả đề!

Nguyễn Bính

hongvulannhi  
#3909 Posted : Monday, September 17, 2012 2:13:08 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)

Mời Dự Ra Mắt Sách Như Một Thoáng Mây Bay của Đỗ Dung


(09/15/2012) (Xem: 397)

Cầm tập truyện ngắn “Như một thoáng mây bay” trên tay, ai cũng trầm trồ: bià sách được trang trí rất nghệ thuật- hình vẽ thật trang nhã, màu sắc thật hài hoà. Được anh Doãn Quốc Vinh trau chuốt, quyển sách như một cô gái duyện dáng được khoác thêm một chiếc áo thật thanh lịch. Tuyệt đẹp!

Yêu văn chương từ khi còn đi học, Đỗ Dung đã từng là Trưởng Khối Báo Chí trường nữ trung học Trưng Vương. Ví bân biụ vơi cuộc sống hàng ngày, Đỗ Dung đã “rửa tay gác bút” một thời gian khá dài, cho đến khi bắt buộc phải về hươu non vì mắc phải chứng bệnh nan y: Pulmonary Hypertension, Đỗ Dung mới có cơ hội thật sự cầm bút. Sau một thời gian đau khổ, tuyệt vọng vì Bác Sĩ “phán” rằng chị chỉ còn sống được 2 năm, bằng nghị lực phi thường và niềm tin mãnh liệt nơi Đức Phật, chị đã trỗi dậy, lạc quan , yêu đời, và đã nhất định phải “sống cho đáng sống”. Chi đã về ở chung với con gái để đỡ đần việc nhà, chăm sóc, nuôi dây các cháu nội ngoại, chị bận rôn quần quật cả ngày. Tôi tối, Chi nghe kinh kệ, toạ thiền, niệm Phật, đọc sách, vẽ tranh, và… bắt đâu viết (Bên bờ tử sinh). Tác phẩm cuả chị xuất phát từ tình cảm gia đình, chị viết về bố mẹ, anh em, chồng con, bạn bè, nhưng trong những bài biết có tính cách rất riêng tư ấy, ngươì đọc lại tìm thấy rất nhiều điểm chung cuả cả một chuỗi dài lịch sử dân tộc Việt Nam ta. Vì thế, đọc truyện ngắn Đỗ Dung chúng ta như hoà mình vào từng câu chuyện, ai cũng có thể tìm thấy “chính mình” phảng phất đâu đó trong truyện cuả chị. Vơi văn phong giản dị , lơi lẽ có khi tha thiết, có lúc dí dỏm, cùng những ý tưởng phong phú và tình cảm dạt dào, Đỗ Dung đã đưa người đọc trở về những vùng trời kỷ niệm xa xưa.

Đọc Chiếc Lá Vàng, Theo Gió, Như Một Thoáng Mây Bay, chúng ta như được đi ngược dòng lịch sử để ôn lại những thăng trầm cuả hai cuộc đổi đời “một ngày 54 cha bỏ quê, và ngày 75 con bỏ nước”…. mà trong đó hình ảnh ngươì mẹ Việt Nam kiên cường bên cạnh người cha là chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã được tác giả vinh danh, hình ảnh những cô vợ trẻ cô đơn, một mình bương chải nuôi con, chờ chồng trong các trại cải tạo đã được trân trọng nhắc đến .

UserPostedImage

Bìa sách Như Một Thoáng Mây Bay.


Qua Một thuở Trưng Vương, Ngã rẽ, Một thời con gái, người đọc sẽ được sống lại cái thuở “nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò” với những cuộc tình thơ mộng cuả tuổi ô mai, khuôn viên trung học vui nhộn, và cả những khung cảnh lãng mạn, nên thơ cuả núi đồi Đà Lạt,. Ôi, những kỷ niệm thời thơ ấu mới đẹp làm sao! Và rồi cái tình bạn bất diệt đó đã được tiếp tục diễn tả qua Du Xuân, Một chuyến đi chơi, khi đám bạn ô mai năm xưa nay tóc đã bạc, răng bắt đầu long, nhưng vẫn còn có nhau, vẫn còn “chí chóe” .

Trên tình bạn là tình yêu đôi lứa, là nghĩa nặng vợ chồng. Hãy đọc Dây tơ hồng, Bố cuả các con tôi, Tạ tình, Tình già để cảm nhận được sơi dây nối kết thiêng liêng cuả những mái gia đình bền vững. Bên cạnh đó tác giả cũng không quên những cuôc tình dang dở, đắng cay. Nhưng với tư tưởng lạc quan, yêu đời và yêu người, truyện cuả Đỗ Dung luôn có kết thúc thật đẹp, như trong Nắng ngọt ngào và Dây tơ hồng.

Còn nữa, nếu muốn tìm lại không khí thiêng liêng cuả ngaỳ tết Nguyên Đán năm xưa ở quê nhà, nếu muôn biết cách gói bánh chưng, hãy tìm đọc Xuân xưa, và cũng đừng quên muì thơm ngây ngất cuả Hương Ngọc Lan nhé !

Sau khi tìm về quá khứ ở quê nhà xa xưa, Đỗ Dung lại đưa chúng ta trở về với thực tại qua những mảnh chuyện đời thường ngay trên đất Mỹ, từ những chuyện ông bà trông cháu, bà dậy cháu tiếng Việt, cháu dậy bà tiếng Anh, những cảnh đẹp cở Mỹ, những chuyến vacation, cho đến cảnh đau bệnh, nhà thương, kinh nghiệm của một người đã ở “bên bờ tử sinh” và tìm được niềm an lạc trong những thời điểm khó khăn nhất bằng Phật Pháp.

Tập truyện Như một thoáng mây bay là đứa con tinh thần đầu tiên cuả Đỗ Dung, gồm 20 truyện ngắn mà chị đã viết bằng tất cả tâm huyết từ khi bị bệnh. Để con cháu sau này hiểu được phần nào quá khứ, tập tục cuả cha ông, một số truyện đã được dịch sang Anh Ngữ và được in ở phần cuối.

Có người đã ví von rằng “đọc truyện Đỗ Dung nó cứ trôi tuồn tuột như ăn một bát bún thang ngon vậy”, riêng tôi, khi đọc truyện Đỗ Dung tôi có thể mắt nhìn thấy những bức tranh thật linh động, tai vừa nghe được những bản nhac thật trữ tình. Thật vây, văn Đỗ Dung vừa gợi cảnh, vưa gợi tình.

Hãy đến tham dư buổi ra mắt Như Một Thoáng Mây Bay cuả Đỗ Dung , lúc 3 giờ đến 5 giờ chiều Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012 tại Hội Trường Toà Soạn Việt Báo, để tìm cho mình một quyển truyện hay cho tủ sách gia đình, và cũng để giải trí cuối tuần với một chương trình văn nghệ nhẹ nhàng.

Đến để hình dung rõ hơn cảnh một mái gia đình êm ấm trong “Theo gió” qua nhạc phẩm Kỷ Niệm cuả Pham Duy, hình ảnh vui tươi, lãng mạn cuả các cô Trưng Vương áo trắng qua Liên Khúc Trưng Vương, và còn nhiều, nhiều nữa…

(TH)
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3910 Posted : Monday, September 17, 2012 2:57:33 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)
Báo Việt Luận phỏng vấn MC Thùy Dương


Hư Vô

(Thực hiện)

UserPostedImage


Việt Luận:
Thân chào Thùy Dương (TD), xin hỏi TD có phải là một trong ba MC của trung tâm Asia sẽ đến Úc Châu vào các ngày 08 và 09 tháng 09 tại Melbourne, 14 và 15 tháng 09 tại Sydney và 16/ 09 tại Brisbane trong chương trình Lễ Hội Âm Nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh (NT-TTT) với chủ đề “ Anh không chết đâu Anh”?

Thùy Dương:
Vâng, thưa chú, TD rất hân hạnh được tiếp chuyện với chú.

Việt Luận:
Như vậy, xin hỏi TD, đây là lần thứ hai TD trở về Úc trình diễn do VietStars Entertainment (VSE) tổ chức, TD có thể cho biết cảm tưởng như thế nào khi về Úc lần này?

Thùy Dương:
Thưa chú, TD nghĩ là mỗi lần có cơ hội trở lại Úc thì rất là vui và tất cả nhà tổ chức show nào cũng biết nếu cần TD có mặt tại Úc thì TD sẽ cố gắng bằng mọi cách để nhận lời vì TD là người lớn lên và ở tại Sydney cho nên được về trình diễn cho khán giả ở Úc Châu, nhất là Sydney là một hãnh diện riêng cho DT, thứ hai là được về thăm gia đình. Riêng đối với VSE thì lần trước vào năm ngoái TD có được về trong chương trình âm nhạc rất là đặc biệt với chủ đề Dòng Nhạc Anh Bằng và là lần đầu tiên có 4 MCs sang Úc với tất cả các ca nhạc sĩ có tên tuổi lớn mà đã được khán giả khắp nơi trên thế giới nói chung và khán giả ở Úc nói riêng đều yêu mến. Và lần đó anh chị em nghệ sĩ cho rằng đó là một trong chuyến đi có rất nhiều kỷ niệm, vì vậy lần này được sang Úc ai ai cũng nôn nao chờ đợi, và hơn thế nữa với chương trình dòng nhạc NT-TTT kỳ này càng làm cho mọi người hăng hái hơn nữa, vì dòng nhạc NT-TTT đã gắn bó với trung tâm Asia rất sâu đậm qua những DVD mà trung tâm đã phát hành dòng nhạc này. Riêng đối với TD như có mối duyên rất lạ với người nhạc sĩ mà TD được lên sân khấu làm MC và lần đầu tiên được hát nhạc của ông và được khán giả đón nhận đã làm cho TD rất là vui. Khi nói đến nhạc của NT-TTT thì hầu như ai ai cũng biết đến và yêu thích, vì vậy trong chương trình lần này TD mong gặp tất cả khán giả đến xem đông đủ.

Việt Luận:
Chúng tôi được biết là lần này, một phái đoàn ca nhạc sĩ và MC gần 30 người hầu hết là của trung tâm Asia, qua Úc đế trình diễn dòng nhạc NT-TTT tại Melbourne Sydney và Brisbane, với một phái đoàn hùng hậu như vậy, cộng với một số lượng khán giả rất lớn, Thùy Dương có lo lắng về sân khấu, âm thanh và ánh sáng không?

Thùy Dương:
Trong bất cứ một chương trình ca nhạc nào, dù lớn hay nhỏ, khi bước lên sân khấu TD cũng rất run và lo lắng, dù đã làm MC cho Asia 5 năm , dù số khán giả có 10 người hay 10,000 người thì cũng đều làm cho TD hồi hợp cả, hơn nữa trong lần này được làm MC ngay trên xứ sở của mình càng làm cho TD lo lắng hơn, tuy nhiên được đứng chung với anh Nam Lộc và chị Ngọc Đan Thanh thì cũng được bình tỉnh và tự tin. Còn về phần âm thanh, ánh sáng thì TD không lo lắng gì cả, bởi vì với một chương trình lớn lao như vậy, với sự chuẩn bị ráo riết trong cả mấy tháng trời, cộng với uy tín của VSE qua dòng nhạc Anh Bằng năm ngoái mà khán giả đã hết sức khen ngợi, thì lần này TD tuyệt đối tin tưởng về sân khấu, âm thanh , ánh sáng phải tuyệt vời hơn sự mong đợi của khán giả.

Việt Luận:
Thuỳ Dương có thể tiết lộ sơ về chương trình tập dượt, các tiết mục của các ca sĩ, MCs, người mẫu của Trung Tâm Asia trong lần trình diễn này không?

Thùy Dương:
Thường thường khi các ca sĩ đi show mỗi tuần, các bài hát đã được thường xuyên trình diễn nên phần tập dượt cũng không mất nhiều công phu lắm, nhưngriêng với lần này, một chương trình lớn lao mà chỉ gói ghém trong 1 chủ đề nhất định, do đó ai ai cũng lo lắng cho bài hát mình làm sao trình diễn thật hay, thật có hồn, do đó họ đã tập trung về Cali cả mấy tuần trước để được tập dượt kỹ càng. Chính nhạc sĩ Trúc Hồ đã lựa chọn và sắp xếp từng bài hát cho mỗi ca sĩ, nên TD nghĩ đây là một chương trình rất hoàn chỉnh. TD cũng bật mí thêm, ngay cả y phục của ca sĩ cũng đã chuẩn bị xong, với những thiết kế vô cùng sáng tạo cho mỗi bộ quần áo, hy vọng mang đến khán giả những ngạc nhiên đầy thích thú

Việt Luận:
Dòng nhạc của Nhạc sĩ NT-TTT thường nghiêng về đời lính, như vậy lần này ngoài việc hát nhạc lính, liệu khán giả ở tuổi thanh thiếu niên có được nghe những bản tình ca hoặc các bản nhạc ở thể loại nhạc trẻ trung không?

Thùy Dương:
Như chú và quý khán giả cũng đã biết nhạc của NT-TTT thì rất phong phú và đa dạng, ngoài những bài ông viết về đời lính, ông cũng có viết rất nhiều cho tình yêu đôi lứa hoặc những thể loại rất trẻ trung dành cho tuổi mới lớn, vì vậy khi trung tâm Asia thực hiện DVD cho ông thì được khán giả khắp nơi trên thế giới, không phân biệt lứa tuổi hay giai cấp nào đều đón nhận một cách rất nồng nhiệt.

Ngay cả những ca sĩ thuộc thế hệ sau này lớn lên tại hải ngoại cũng rất thích thú để hát nhạc của ông và họ cũng đã rất thành công trong tất cả mọi thể loại.

TD kể chú nghe một chuyện rất vui, khi DVD của ông vừa do trung tâm Asia phát hành, có một gia đình nọ rất ái mộ dòng nhạc của ông, đi mua về xem nhưng tiếc tiền nên mua …băng giả, khi coi xong thấy hay quá nên vội vàng tìm mua 1 cái băng gốc để giữ lại làm của, để hãnh diện là trong gia đình cũng có những băng nhạc giá trị để đời.

Mà trong chương trình lần này, ban tổ chức cũng biết trước là có rất nhiều khán giả ở mọi lứa tuổi khác nhau đến tham dự, vì vậy nhạc sĩ Trúc Hồ rất cẩn thận khi ông chọn những bản nhạc trong số hơn 200 bài mà nhạc sĩ NT- TTT đã viết, mục đích là để mang đến cho mọi người một chương trình trọn vẹn và hoàn hảo nhất.

Nói tóm lại, sự thành công của NT- TTT như chúng ta đã thấy qua dòng nhạc của ông đã thể hiện rất phong phú trong tất cả mọi đề tài từ chiến tranh, tình yêu, quê hương, thân phận cho đến các loại dành cho tuổi mới lớn. Đó là chính là dòng nhạc nhân bản, không biên giới về thế hệ hay tuổi tác nào cả.

Việt Luận:
Lễ hội kỳ này được biết tổ chức hai ngày ở mỗi nơi là Melbourne và Sydney. Với một chương trình ca nhạc chuyên nghiệp tập dượt kỹ lưởng công phu cùng nhiều tiết mục đặc sắc như vậy, TD nghĩ các tiết mục trình diễn có trùng hợp nhau trong hai ngày không?

Thùy Dương:
Theo TD đã có hỏi ban tổ chức thì được biết chương trình trong 2 ngày thì được dàn dựng và trình diễn hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên có những bản nhạc chủ đề hay những bản nhạc “ ruột” của ông, có thể do sự yêu cầu của khán giả, ca sĩ có thể trình diễn lại lần thứ 2. Nhưng dù có hát lại lần thứ 2, ngay cả trang phục của ca sĩ cũng như ánh sáng cho 2 ngày cũng khác nhau, vì vậy TD rất an tâm để nói với khán giả 2 ngày lễ hội là 2 chương trình khác nhau hầu mang đến khán giả nhiều tiết mục đặc sắc, trọn vẹn và phong phú nhất.

Việt Luận:
TD đã từng tham gia các chương trình tổ chức theo tính cách Lễ Hội Âm Nhạc tại Hoa Kỳ hay những nơi khác, nhưng đây là lần đầu tiên tại Úc Châu. Theo kinh nghiệm của TD, thì Lễ Hội có những đặc biệt hay khác gì với một chương trình Đại Nhạc Hội bình thường?

Thùy Dương:

UserPostedImage


Theo TD, có rất nhiều hình thức trong việc trình diễn một chương trình văn nghệ, dù là một show nhỏ hay show lớn, như ca sĩ trình diễn trong Club hoặc Casino, hát để cho khán giả dancing hay vừa xem vừa uống rượu cũng là một chương trình, lớn hơn nữa, hát ngoài trời đễ gây quỹ, hoặc tổ chức trong một rạp hát thật lớn có một vài ngàn khán giả tham dự thì sự tổ chức cũng đơn giản hơn một lễ hội, vì những bài hát của ca sĩ đã quen, ca sĩ chỉ trình diễn nhưng bản nhạc “ ruột” của mình hoặc những bản nhạc cho phù hợp với chủ đề, nhưng dù sao sự chọn lựa bài hát vẫn rộng rãi hơn với một chủ đề như dòng nhạc NT-TTT chẳng hạn, họ không được chọn những bản nhạc ngoài chủ đề, do đó sự tập dượt sẽ tốn nhiều công phu, hơn thế nữa, đã là một lễ hội thì ngoài việc trình diễn ca nhạc, còn rất nhiều tiếc mục mà ban tổ chức phải bỏ công cũng như tốn kém để mang đến khán giả những sự giải trí và vui chơi khác trong một thời gian rất dài hơn một đại nhạc hội bình thường. Dĩ nhiên đó chỉ là suy nghĩ của cá nhân TD mà thôi, ngay cả TD đã có dịp hỏi anh Nam Lộc về sự khác biệt này, anh cũng chỉ trả lời là câu hỏi này nên dành cho sự trả lời chính xác nhất là từ VSE.

UserPostedImage


Việt Luận:
Cộng Đồng Người Việt tại Victoria phối hợp với VSE để tổ chức Lễ Hội Âm Nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh là để gây quỹ cho Cộng Đồng người Việt tự do tại đây để tu bổ và bảo trì Đền Thờ Quốc Tổ, TD suy nghĩ gì về mục đích này không?

Thùy Dương:
TD rất ủng hộ Cộng Đồng phối hợp với VSE về việc làm như thế này, nhất là việc lấy âm nhạc, nhất là dòng nhạc chính nghĩa của nhạc sĩ NT- TTT để làm được những điều có ý nghĩa cho hiện tại cũng như cho thế hệ mai sau, trong việc góp một chút gì đó, dù nhỏ nhoi nhưng mang một ý nghĩa rất to lớn trong việc tu bổ và bảo trì đền thờ Quốc Tổ.

Việt Luận:
Có một câu hỏi hơi cá nhân một chút, TD có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong việc làm MC không?

Thùy Dương:
TD đã đến với trung tâm Asia đã 5 năm, đó là khoảng thời không lâu lắm, nhưng cũng là khá dài với nhiều kỷ niệm lắm chú ơi! Nhớ nhất là lần đầu tiên TD đến Washington DC để làm việc, nhưng khi ghé qua Cali thì có cái duyên đến với TD là đúng vào thời gian đó, Trung tâm Asia đang có chương trình tìm kiếm tài năng trẻ và TD có cơ may vào được chung kết và thắng giải vào năm 2007, lúc đó TD không có cái áo đầm để mặc trong ngày dự lễ, bởi vì không có chuẩn bị trước. Thật là một điều đến với TD vô cùng bất ngờ ngoài mọi dự tính!

Và lần làm MC đầu tiên là cuốn DVD số 54, chủ đề Trầm Tử Thiêng, Trúc Hồ, là hai nhạc sĩ mà TD rất yêu mến. Cũng xin bật mí với chú, đó là lần mà anh Nam Lộc gọi báo cho TD được làm MC cho chương trình này. Nhưng vai trò một MC thì quá nặng cho 1 chương trình lớn lao như vậy, vì thế ban tổ chức có thể nghĩ là TD gánh không nổi nên đổi lại chỉ cho TD giới thiệu 1 tiết mục mà thôi, giống như vai trò Special Guest MC vậy. Khi bước lên sân khấu, TD không biết nói gì vì không có tập luyện kỹ lưỡng và dĩ nhiên còn rất lúng túng. Cũng may mắn ngày hôm đó TD chỉ nói được về công việc làm của mình bên Phi và chia sẻ với khán giả về chuyện trái táo cũng là một chuyện tình cờ. Thực ra đầu tiên TD không muốn nói về việc làm từ thiện của mình, nhưng tự nhiên nó trở thành đề tài để khán giả chú ý và thích nghe. TD nghĩ đó là một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất.

Việt Luận:
Xin cám ơn TD đã cho một buổi nói chuyện rất thú vị, trước khi chấm dứt, TD có muốn chia sẻ với khán giả Úc Châu điều gì không?

Thùy Dương:
Theo TD nghĩ, trung tâm Asia sản xuất ra những DVD âm nhạc để cống hiến khán giả, một việc làm còn lớn hơn âm nhạc, đó là cái tâm, họ luôn khai thác những đề tài rất nhân bản, nhằm duy trì tiếng Việt để lưu truyền cho những thế hệ mai sau, vì vậy có những đề tài có thể chúng ta cho là không “hot”, nhưng tất cả như một thông điệp nhằm nhắn đến mọi người trong công việc bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam.

Vì vậy, có 2 điều mà TD muốn chia sẻ với khán giả Úc Châu, thứ nhất như nhạc sĩ Trúc Hồ rất lo lắng một ngày nào sẽ không còn âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại nữa, bằng nhiều hình thức đã gây ảnh hưởng không ít đến nhà sản xuất, như Facebook, mạng internet và tệ hơn nữa là vấn đề băng giả. Như chú thấy từ từ những công ty nhỏ không còn sản xuất DVD nữa vì họ hết vốn. Và Asia nếu không được sự ủng hộ của khán giả để mua băng gốc thì số phận cũng vậy thôi.

Và điều thứ hai TD muốn nhắn đến khán giả Úc Châu, Dòng Nhạc NT-TTT là một dòng nhạc chính nghĩa, chân thật mà đã gắn bó với những người lính chiến đấu để giữ gìn quê hương khỏi ách thống trị của cộng sản, của những người ở hâu phương yểm trợ tiền tuyến. Lần đầu tiên VSE mang dòng nhạc này với hình thức lễ hội đến Úc Châu như một vinh danh cho người nghệ sĩ tài hoa này. Với uy tín của VSE qua dòng nhạc Anh Bằng đã để lại trong lòng khán giả rất nhiều cảm tình đặc biệt, vì vậy TD xin kêu gọi đồng bào đến tham dự thật đông đảo cho một chương trình vô cùng lớn lao và đầy ý nghĩa này…

TD xin chào chú, thân chào quý khán giả tại Úc Châu, hẹn gặp lại trong mùa Lễ Hội tháng 09 này…

Việt Luận

Edited by user Monday, September 17, 2012 7:23:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

ditanbuon  
#3911 Posted : Monday, September 17, 2012 6:01:23 AM(UTC)
ditanbuon

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/23/2011(UTC)
Posts: 3,086
Location: ThànhPhốThiênThần

Thanks: 29 times
Was thanked: 275 time(s) in 166 post(s)
Originally Posted by: dedde Go to Quoted Post
Tỷ LanNhi uiii, ghé thăm tỷ rồi đi tìm bài dedde đã đọc ở đây, để ý kiến ý cò mà Quán Hẹn cao quá, dedde đi mỏi cả chân tìm vưỡn chưa ra. Bài viết về Big Island - Hawaii đó tỷ. dedde nhớ tác giả viết tả cảnh tả tình tả dân chi mà hổng giống những cảnh, những điều dedde thấy chi hết.
Tỷ xây quán mới cho bà con dễ tìm bài cũ để đọc đi tỷ, nha, nha, nhaa...a...a. Smile




Vào đây mà nghiên cứu:

http://phorum.vietbao.co...ONG---14.aspx#post529012


dtb


Mai mốt em về qua phố biển
Vẽ giùm anh gợn sóng đùa gót chân em ....
langthang09  
#3912 Posted : Monday, September 17, 2012 6:43:09 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1048 time(s) in 470 post(s)

UserPostedImage

GIỌT MƯA

Giọt mưa nức nở khóc ngoài hiên
Giọt đọng trong tim- giọt ướt thềm
Có giọt nào đong tràn nỗi nhớ
Cho đời héo hắt gợi buồn thêm

Giọt mưa réo rắt vọng thương đau
Giọt gọi đời nhau - giọt đếm sầu
Có giọt nào rơi về dĩ vãng
Cho đời ngầy ngật bóng đêm sâu

Giọt mưa se sắt bóng chơi vơi
Giọt réo tình xa - giọt ướt đời
Có giọt nào làm tim rỉ máu
Cho tình vời vợi mãi xa xôi

Giọt mưa tí tách suốt canh dài
Giọt nhớ đêm hồng -giọt khóc vay
Có giọt nào chia đôi giấc mộng
Cho đời ngây dại chóng tàn phai

Nguyễn Khánh Chân

Hoàng Nam  
#3913 Posted : Tuesday, September 18, 2012 2:46:20 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 5,089

Thanks: 773 times
Was thanked: 316 time(s) in 251 post(s)
TNCV tường trình bằng hình ảnh buổi biểu tình
chống văn công csVN Đặng Hồng Vân tại Nam Cali


Hình ảnh biểu tình của Đồng hương Tị Nạn CS tại miền nam California chống văn hóa vận, nghị quyết 36 của csVN qua cán bộ cộng sản Ngô Ðặng Hồng Vân, “đại biểu” của cái gọi là “Hội Đồng Nhân Dân TP Hồ Chí Minh”, núp dưới vỏ bọc “Nghệ Sĩ Ưu Tú” để thủ vai chính trong vở kịch “Kỷ Nghệ Lấy Tây”
vào lúc 6:00 giờ tối ngày Chủ Nhật 16 tháng 9, 2012. (vì chương trình này có 2 xuất diễn) tại Saigon Performing Arts Center số 16149 Brookhurst St., Fountain Valley, CA 92708 (trên đường Brookhurst, góc Edinger, trong khu chợ Albertson, đối diện Miles Square Park).

Biểu tình chống văn công vẹm, với cán bộ cộng sản Hồng Vân, tại Fountain Valley, Nam California, 16 tháng 9, 2012. Video clip do Hải Ngoại Phiếm Đàm thực hiện....

http://www.youtube.com/w...index=1&feature=plcp

Coi thêm hình xin bấm vào link dưới đây


https://www.tncvonline.c...120916_BieuTinhCSHongVan

Edited by user Tuesday, September 18, 2012 2:50:13 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#3914 Posted : Tuesday, September 18, 2012 7:57:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)
Nguyễn Nhược Pháp nhà thơ tài hoa mệnh yểu


Monday, September 17, 2012 8:27 PM

Tác Giả: Khúc Hà Linh + Giang Hoàng.

Chúng ta thường biết đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua bài thơ: Đi chùa Hương, nhưng ít người biết đến đời sống và tình yêu của nhà thơ này. Bài này gồm 2 phần:

Phần 1:

Tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, chuyện ít người biết

- Hai tuổi mồ côi mẹ, hưởng dương tròn hai Giáp (24 năm), người con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh thật là điển hình của sự bất công tạo hóa.

Thế nhưng tạo hóa đã bù lại, ban cho con người những thiên bẩm, tài hoa đặc biệt. Đó là một trang nam nhi tuấn tú, đa tài, gắn trên bầu trời thi ca nước Việt những ánh sao lung linh - nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

UserPostedImage

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.


Nguyễn Nhược Pháp là kết quả mối tình sét đánh giữa học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một người đa tài, đa tình đất Hà thành và cô gái Lạng Sơn, Phan Thị Lựu.

Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm - Hà Nội… Cô Lựu thường qua lại trọ ở khách sạn, nên quen biết ông Vĩnh. Rồi do duyên số, họ nên vợ nên chồng.

Khách sạn Trung Bắc nằm trong khuôn viên rộng mấy nghìn mét vuông. Mặt trước quay chính phố Hàng Trống, mặt sau quay ra phố Lý Quốc Sư. Cả hai mặt đều có cổng lớn, bên trong xung quanh có vườn, cây cối xanh tươi và cổ thụ. Giữa khuôn viên này là một biệt thự ba tầng, trang bị hiện đại để làm nhà khách sạn.

Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai. Tại mảnh đất thơ mộng này, ngày 12-12-1914, Nguyễn Nhược Pháp ra đời, sau này tên tuổi in đậm trong “Thi nhân Việt Nam”.

Ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì nghỉ lại khách sạn với người vợ hai, tối mới về phố Mã Mây với vợ cả và các con. Tưởng thế cũng là yên ổn, nhưng số phận con người đa tài, đa tình lại vướng bận thêm nhiều và không thể dừng ở đó.

Vừa tuổi lên 2 (năm 1916), Nguyễn Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm một người đàn bà khác, mà là một cô đầm lai đẹp như thiên thần, thì Phan Thị Lựu không làm chủ được tình cảm của mình. Nỗi ghen tuông đã trào lên và bà đã tìm cái chết để giải thoát.

Chập chững những bước chân trên đường đời, Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh Thị Tính - vợ cả ông Vĩnh - mẹ cả đón về nuôi như con đẻ, với một câu thở than: Cái bà Lựu ghen ngược. Người ghen phải là tôi…
Từ đó cho đến lúc lìa đời, suốt 22 năm (1916- 1938), Nguyễn Nhược Pháp đều sống với những người anh em cùng cha khác mẹ, trong một đại gia đình, thật vui vẻ và nhiều kỷ niệm sâu sắc.

Đọc những trang hồi ức của những người thân trong gia đình phần nói về tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, mới thấy rằng đây là một con người có nhiều phẩm chất cao quý, khi còn ấu thơ.

Năm 1923, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê, trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần hồ Tây.

Đây là một trong những tài sản lớn của ông F.H Schneider- một người Pháp, vốn là đồng nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố quốc.
Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái.

Gia sản đất đai của Schneider là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp, nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…
Bấy giờ hai người con lớn của bà Vĩnh là Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đang đi học ở nước ngoài. Còn ba người con gái: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân đã lớn, được ở khu biệt thự với bà Vĩnh và một người cô ruột là bà Nguyễn Thị Tý, làm dược sỹ ở nhà thương Phủ Doãn… Nguyễn Nhược Pháp được ở chung với 7 anh chị em còn nhỏ tuổi ở khu nhà ngang.

Trong đó có Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Dực, Nguyễn Hồ còn quá nhỏ, không tự lực được trong sinh hoạt, nên có một u già trông nom… Họ sống rất thoải mái, tự do và khép kín, tự quản, dường như người lớn không ai để ý đến…

Buổi sáng hằng ngày, Nhược Pháp cùng anh chị em học chữ nho khoảng nửa giờ do ông tú tài Phùng Năng Tĩnh người Bát Tràng làm gia sư, dạy dỗ. Rồi họ đạp xe đi học trường tư. Mọi sinh hoạt khác như giặt quần áo, cơm nước đã có người lo hết.

Trong số 7 anh em, Nhược Pháp là con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương (con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh không hành xử theo lối ấy.

Theo kể lại, Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức, nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt động, sinh hoạt thể thao, vui chơi rất văn hóa.
Nhược Pháp có sáng kiến làm một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói… Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.

Nhược Pháp bày trò tập bơi. Khi thì hồ Tây, khi thì ra ao đình làng Thụy Khuê, lúc đến hồ Trúc Bạch. Bảy anh em đều biết bơi kể cả con gái. Nhược Pháp yêu môn bơi lội nhất. Cho tới những ngày mới bị bệnh, anh vẫn chưa chịu bỏ bơi.

Ngày chủ nhật, Nhược Pháp tổ chức đua xe quanh Hồ Tây, có giải thưởng, thu hút các bạn học cùng tham gia. Lại tổ chức trượt pa-tanh. Ban đầu chơi trên đường Hoàng Hoa Thám, sau đường đua dài đến Quần Ngựa, vòng trở về lối Thụy Khuê… Rồi tổ chức tham quan du lịch bằng xe đạp, quanh Hồ Tây, rồi quanh Hà Nội và đi xa hơn.

Mỗi tuần, cha thường cho các con tiền đi xem chiếu bóng, Nhược Pháp rủ rê mấy anh chị lớn hơn, để dành tiền ấy, làm vốn in báo Tuổi Cười. Nhược Pháp làm chủ nhiệm, Nguyễn Phổ làm chủ bút, Nguyễn Kỳ quản lý nhà in. Báo in thạch, hai màu đỏ và tím.

Mỗi tháng một số, có 16 trang, khổ 15x20 cm. Nội dung tờ báo là thông báo những tin tức gia đình, nêu tên ai học giỏi, phê phán những việc xấu. Lại có trang thể thao, biểu dương kỷ lục mới( trong gia đình ), có quảng cáo các buổi diễn kịch, diễn xiếc do anh chị em tổ chức trong nhà. Trang cuối có in thơ của Nhược Pháp sáng tác.

Mỗi số ra 10 tờ, bán 5 xu cho người lớn và các anh chị lớn. Báo phát hành được mấy năm. Sau này lớn lên, Nhược Pháp đã chọn những bài thơ trong báo Tuổi Cười, thành tập thơ Ngày Xanh.
Nhược Pháp còn tổ chức một đội kịch gia đình, mà chính anh viết kịch bản và đạo diễn… Các anh chị em làm diễn viên.

Nhà có xưởng in rộng, họ kê bàn ghế thành sân khấu, tạm dùng câu đối nhà thờ trang trí, lại làm phông màn, chăng điện… nghĩa là như sân khấu thật. Giá vé 5 xu một chỗ ngồi.

Những người lớn trong nhà cũng mua vé và ngồi xem cổ vũ con em mình… Có buổi ông Vĩnh cũng ngồi xem các con diễn, ông thấy lòng tràn ngập niềm vui… Nhược Pháp còn hướng dẫn thành lập đội xiếc, phân vai diễn: Người diễn xiếc xe đạp, người làm ảo thuật,, người dậy thú, người thổi kèn.
Nguyễn Nhược Pháp có những thú vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một truyện ngắn, vở kịch…khi có tiền nhuận bút thì rủ một hai em, hay vài bạn bè đi ăn phở xách Nghi Xuân bang thất ở phố Hàng Đàn, giá 5 xu một bát…

Nhược Pháp đã viết được một số vở kịch, và có một ước mơ, là cùng với Phạm Huy Thông, bạn học thời ở Trung học Albert Saraut, tri kỷ văn chương, cùng nhau tổ chức một Đoàn kịch không chuyên, đưa lên sân khấu vở kịch Người học vẽ của mình.

Nhược Pháp như một trang giấy trắng thơm, một bông hoa thanh khiết. Vào những năm cuối đời, trái tim chàng thi sỹ, tác giả bài thơ Chùa Hương đã xôn xang trước một cô gái áo đen, phố Hàng Đẫy, như một lời tỏ tình.

Đó là một tiểu thư, một trong tứ mỹ Hà thành bấy giờ. Hằng ngày đạp xe qua nhà, đứng bên này đường nhìn vào vườn nhà em, ngắm nhìn bóng em thấp thoáng. Rồi hình ảnh cô gái áo đen trong vườn của nhà họ Đỗ ở phố Hàng Đẫy, cứ sống mãi trong tim Nhược Pháp...

Nhược Pháp chưa tường mặt thân mẫu của mình, nhưng được mẹ cả hết lòng yêu thương, như con đẻ. Trước khi nhắm mắt ra đi về cõi vĩnh hằng, bà dặn lại Hãy đặt mộ của tôi nằm bên cạnh Nhược Pháp.
Nguyễn Nhược Pháp sinh ra là hoạt động, cả đến khi nhuốm bệnh vẫn không ngừng ý chí vươn lên vượt qua số mệnh.

Từ 2 tuổi Nhược pháp sống với mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. 6 năm tiếp theo học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung Bắc học hiệu- phố Lý Quốc Sư). 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần nhất, 1935 đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật. Nhược Pháp luôn học giỏi, xứng đáng cho các em noi theo.

Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia đình Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình cho mình…

Từ sau khi chị Nội đang đi học Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất( 1936), chị Vân mất( 1938), và tin anh Hải mất trong Nam… Nhược Pháp buồn đau, nhuốm bệnh lao hạch…
Ngày 19-11-1938 ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24 tuổi.
Ông để lại ba bức thư. Một bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và gia đình( khi ấy ông Vĩnh mất được
hai năm).
Một bức gửi cho người anh là nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện, hãy chăm sóc mẹ cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.
Ban đầu, thi hài Nhược Pháp được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha.

Phần 2:

Giai nhân áo đen của Nguyễn Nhược Pháp

Bà Đỗ Thị Bính, người đẹp phố Hàng Đẫy lâu nay vẫn được xem là bóng hồng mà thi sĩ tài hoa Nguyễn Nhược Pháp “thầm thương trộm nhớ”. Để rồi trong những bài thơ: Đi chùa Hương, Tay Ngà, Sơn Tinh – Thủy Tinh... thấp thoáng hình bóng của một “tuyệt sắc giai nhân”...

UserPostedImage

Người đẹp áo đen


Nếu như cuộc đời của người đẹp Vương Thị Phượng phố Hàng Ngang đúng là “hồng nhan bạc phận” thì cuộc đời của người đẹp thứ hai trong “Hà thành tứ mĩ” lại bình lặng hơn nhiều. Bây giờ, ngồi trong căn nhà biệt thự Pháp ở số 3A, phố Yên Thế bà Đỗ Thị Quyên, em gái bà Bính đã ngấp nghé tuổi 90 nhưng trên khuôn mặt lẫn nụ cười dáng vóc vẫn phần nào cho thấy vẻ đẹp của người chị gái từng được mệnh danh là “giai nhân Hà thành” khi xưa.

Nhấp chén nước, giọng sang mà ấm, bà Quyên nhớ lại: Đỗ Thị Bính sinh năm 1915, là kiều nữ của cụ Đỗ Lợi, nhà tư sản thầu khoán lớn nhất Hà Thành khi đó. Cụ Đỗ Lợi thuộc dòng họ Đỗ thôn Tiên Lữ (Lập Thạch, Vĩnh Phúc).

Vốn làm việc trong sở Lục lộ, vừa giàu có lại tài năng, lên Hà Nội, ông lấy bà Nguyễn Thị Quỹ, một người con gái xinh đẹp, sắc sảo làm nghề buôn bán tại Phà Đen làm lẽ. Đỗ Thị Bính là người con đầu trong ba người con của ông Lợi và bà Quỹ.

Những năm 1930, ông Đỗ Lợi là nhà tư sản có tiếng ở Hà thành. Những người già cả ở Ngõ Văn Hương bây giờ hẳn vẫn còn nhớ ngõ Đỗ Lợi, hồ Đỗ Lợi và trại sản xuất gạch hoa Vạn Cẩm, nơi ông sản xuất gạch hoa, đúc cống xi măng cung cấp cho các công trình xây dựng của người Pháp.

Công việc kinh doanh phát đạt, ông Đỗ Lợi chuyển sang lĩnh vực thầu khoán. Gần hai mươi công trình lớn ở Hà Nội khi đó đều do Đỗ Lợi làm chủ thầu. Giàu có, trại gạch hoa Vạn Cẩm khi đó còn là nơi nhà tư sản nuôi hàng chục con ngựa đua, một thú chơi công phu và thuộc vào hàng xa xỉ lúc bấy giờ.

Đang học lớp nhì tại trường Brieux, tên thông thường là trường Hàng Cót, một buổi chiều tan học, trong lúc mải ríu rít với bè bạn, Đỗ Thị Bính bị một chiếc xe hơi cán phải. Lo lắng cho cô con gái rượu, cụ Đỗ Lợi đã không cho người đẹp đến trường mà mời thầy về nhà để dạy riêng. Với tư chất thông minh và sự ham học, bà Bính vừa thông thạo tiếng Pháp lại có thể chơi được đàn thập lục hay dương cầm.

Trong số hơn chục nhà biệt thự ở rải rác ở khắp Hà Nội, gia đình bà Bính sinh sống ở căn nhà số 30 Nguyễn Thái Học, ngày xưa là phố Hàng Đẫy. “Chị tôi có thói quen mặc đồ đen nên người đương thời thường gọi là “người đẹp áo đen”.

Nếu được ông bà mua cho quần áo khác màu thì cất đi hoặc cho em chứ tuyệt nhiên không mặc màu gì khác ngoài màu đen. Màu đen đã làm cho vẻ đẹp của giai nhân thêm vẻ huyền bí, tôn thêm làn da trắng, sự sang trọng, nghiêm trang của người đẹp”, bà Đỗ Thị Quyên cho biết.

Mặc dù là người có vẻ đẹp nhất nhì Hà thành khi đó, thế nhưng, người đẹp không hề có tính kiêu sa của những tiểu thư khuê các. Trái lại, bà Bính nhất mực hoà đồng, giản dị và gần gũi với mọi người. Trong trí nhớ của người em gái thì bà Bính có một khuôn mặt trái xoan, đặc biệt là tính tình hiền hậu, nhân từ, dịu dàng. “Chị tôi ăn chay, không ăn thịt cá bao giờ. Xuân về gia đình lại đi chùa Hương cầu kinh niệm Phật. Mỗi khi đi nghỉ ở Sầm Sơn, thấy trẻ con xách lồng chim đi bán, chị tôi gọi lại mua hết rồi mở cửa lồng cho chim bay đi”.

“Bóng hồng” trong thơ

Trong bao nhiêu trái tim mê đắm người đẹp có chàng thi sĩ tài hoa Nguyễn Nhược Pháp – con trai của Nguyễn Văn Vĩnh, ông chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn lớn nhất Bắc Kỳ lúc bấy giờ. Ngang tàng hay bình dân chả biết, nhưng cụ Vĩnh sau lần đi Pháp đã đặt luôn cái tên ấy cho cậu con trai sinh cuối năm 1914. Sau khi đậu tú tài rồi vào trường Cao đẳng Luật Đông Dương, Nguyễn Nhược Pháp không sung vào bất kỳ ngạch quan lại lẫn công chức nào mà đi làm văn, làm báo...

So về tuổi tác, Nguyễn Nhược Pháp hơn người đẹp Bính một tuổi. Chàng thư sinh nhỏ bé, với sự yếu đuối thư sinh, với cái bẽn lẽn của một hồn thơ mộng mơ đã thầm thương nhớ trộm cô tiểu thư Đỗ Thị Bính tự bao giờ.

Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ. Cho nên, để biết cái vẻ “sắc nước hương trời” của một trong bốn “mỹ nhân Hà thành” xưa, chỉ cần đọc tập thơ Ngày xưa cũng đủ để hình dung chân dung Đỗ Thị Bính “Tóc xanh viền má hây hây đỏ/Miệng nàng bé thắm như san-hô/Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ”.

Đó là sự hồn nhiên của cô gái đi trây hội Chùa Hương: “Cùng thầy me em dậy/ em vấn đầu soi gương/ Khăn nhỏ đuôi gà cao/ Lưng đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh áo the mới/ Tay cầm nón quai thao …”. Là “Cúi đầu nàng tha thướt/Yêu kiều như mây qua/Mắt xanh nhìn man mác/ mỉm cười về cành hoa…”

Trước hiên nhà ở phố Nguyễn Thái Học có hai giò phong lan và đặc biệt ba rặng hoa hồng nở hương thơm ngát. Chiều chiều, người đẹp lại ngồi nhởn nha trên ghế đá đọc sách, ngắm hoa. Khi ấy, Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’ Annam nouveau.

Ngày nào chàng thi sĩ cũng kiếm cớ đi qua đi lại ngôi nhà có người đẹp ở, để được nhìn thấy nàng cho khuây nỗi nhớ. “Ta lặng nhìn hơi lâu/Nhưng thì giờ đi mau...Nàng chợt nghiêng thân ngà/Thoáng bóng người xa xa...Ta mơ chưa lại hồn/Nàng lẹ gót lầu son/Vừa toan nhìn nét phượng/Giấy thẹn bay thu tròn...”

Chuyện này kéo dài và cả hai gia đình đều biết. Gia đình cô Bính cho là chuyện phải lòng của anh chàng nhà thơ trẻ cũng như nhiều chàng trai khác si mê người đẹp mà thôi. Bằng cớ là mỗi dịp xuân tới, người đẹp Đỗ Thị Bính vẫn nhận được rất nhiều hoa từ những địa chỉ vô danh.

Mỗi bài thơ của chàng thi sĩ là một nét đẹp của người con gái khuê các áo đen, là chất chứa bao niềm thương nhớ. Nhưng năm 1938, căn bệnh lao đã cướp đi sinh mệnh của nhà thơ tài hoa ở tuổi hai tư. Để rồi, tình yêu của tài tử, giai nhân được lưu giữ trong tập thơ mang tên “Ngày xưa” tha thiết ấy…

Cuộc đời bình dị

Sau khi Nguyễn Nhược Pháp mất được một năm, gia đình thuyết phục cô Bính lấy một chàng trai du học bên Pháp về. Đó chính là Bùi Tường Viên, em trai út của Luật sư nổi tiếng Bùi Tường Chiểu. Mười sáu tuổi, Bùi Tường Viên sang Pháp học về ngành silicat và là một trong những kỹ sư đầu tiên của Việt Nam. Đám cưới giữa người đẹp phố hàng Đẫy và nhà trai ở phố Quán Thánh với hàng chục xe ô tô rước dâu hạng sang được xem là một trong những đám cưới lớn nhất ở Hà thành thời bấy giờ.

UserPostedImage

Ảnh cưới của người đẹp áo đen với ông Bùi Tường Viên.


Chiến tranh nổ ra, bà Bính hoạt động trong phong trào bình dân học vụ, rồi cả gia đi tản cư lên mãi huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Mặc dù sống giữa cảnh núi đồi heo hút nhưng hai ông bà đi đâu cũng vẫn khoác tay nhau theo phong cách châu Âu khiến cho không ít người ngưỡng mộ. Bằng những kiến thức cơ bản, bà đã cứu sống cho rất nhiều người thoát khỏi căn bệnh sốt rét hiểm nghèo, trong đó có cả những người con của chính mình.

Đất nước hòa bình. Trở về Hà Nội, bà Bính lại cùng chồng, con sống cuộc sống bình thường trong một ngôi nhà giản dị. Tất cả mười tám ngôi biệt thự khang trang của nhà tư sản Đỗ Lợi lúc bấy giờ đã hiến tặng cho Chính phủ. Bà tích cực tham gia phong trào bình dân học vụ, chống giặc dốt. Từ đó cho đến khi về hưu, bà công tác tại Phòng Giáo dục khu Hai Bà Trưng.

Trong ký ức của những người con, người đẹp Đỗ Thị Bính là một giai nhân tài sắc vẹn toàn. “Ngay đến bữa ăn cùng gia đình chồng, khi nào mẹ tôi cũng là người ăn sau cùng, phục vụ cho bố mẹ chồng, chồng con ăn trước…

Cho đến những ngày tháng cuối đời, bà vẫn giữ thói quen không bao giờ đến ăn ở các hàng quán, mà nhất mực trung thành với những món ăn do tự tay mình chế biến”, ông Bùi Tường Quân, con trai Bà Bính cho biết.

UserPostedImage

Ông Bùi Tường Quân, con trai út của người đẹp Đỗ Thị Bính và bức ảnh của người đẹp
được "truyền thần" sang chiếc đĩa sứ.


Người đẹp Đỗ Thị Bính đã cùng chồng đi qua cuộc chiến tranh, sống cuộc sống bình dị như biết bao người Hà Nội khác. Trở về với đất, gia đình, người thân khoác cho bà bộ quần áo nhiễu đen quen thuộc, như là một sự trân trọng với vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội một thời.

Bài thơ: Đi chùa Hương

Hôm nay đi Chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.

Me cười: «Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?»

Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai.)

Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần,
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?

Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
«Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, trời ôi, chen!»

Chàng thưa: «Vâng thuyền đông!»
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: «Hay! Hay quá!»
Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
«Nam Mô A Di Đà!»

Réo rắt suối đưa quanh.
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ.
Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày.)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ,
Trầm hương khói tỏa mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.

Chen vào thật lắm công.
Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo:
«Mai mới vào chùa trong.»

Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
«Mai ta vào chùa trong!»

Đêm hôm ấy em mừng.
Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời!
Mơ nhiều... Viết thế thôi!
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười!

Em chưa tỉnh giấc nồng,
Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.

Me bảo: «Đường còn lâu,
Cứ vừa đi ta cầu
Quán Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau!»

Em ư? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu.)

Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen: «Hay!
Chữ đẹp như rồng bay.»
(Bài thơ này em nhớ,
Nên chả chép vào đây.)

Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thắm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Me vui mừng hả hê:
«Tặc! Con đường mà ghê!»
Thầy kêu: «Mau lên nhé!
Chiều hôm nay ta về.»

Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời!
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi!

Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở.
Chàng ôi, chàng có hay?

Đường đây kia lên trời,
Ta bước tựa vai cười.
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!

Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời Phật
Sao cho em lấy chàng

Edited by user Tuesday, September 18, 2012 8:02:15 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#3915 Posted : Tuesday, September 18, 2012 11:54:55 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,850

Thanks: 663 times
Was thanked: 566 time(s) in 406 post(s)

HAI HÌNH ẢNH, MỘT CUỘC ĐỜI


THẬT ĐAU LÒNG!XIN CHUA XÓT THƯƠNG!
Th


Chi can nhin 2 buc hinh thay tham thia cho kiep con nguoi.
Hai hình ảnh thu hút hàng ngàn lượt bình luận trong thời gian ngắn.
Một bức chụp một đứa trẻ bị bỏ rơi, cuốn bao quanh thân hình bằng một tấm vải mỏng. Em được đặt trên trụ của lan can đường trong tình trạng côn trùng bò kín khắp người.

UserPostedImage


Cư dân mạng đang share hình ảnh đau lòng "một đứa trẻ bị bỏ rơi" khiến những người nhìn vào thật đau xót. (Nguồn: Facebook) Bức ảnh xuất hiện trên facebook vào 16h chiều ngày 11/8, ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của hàng ngàn người với những lời bình luận bày tỏ sự thương xót. Bạn trẻ có nickname Quỳnh Quắn Quít bày tỏ: “khổ thân đứa bé quá!”. Bạn Carolyn Le xúc động: "Nhìn xong muốn nổi da gà. Tội nghiệp bé!". Cũng nhiều ý kiến phẫn nộ. Nickname Tiểu Xà viết : “Mong em sớm được siêu thoát. Thay mặt bố mẹ những người vô trách nhiệm với em, chị xin lỗi vì cảm thấy quá nhục nhã … Ngoài những “like” những “comment” thì chị không biết làm gì hơn là lời hứa sẽ không bao giờ biến mình thành người mẹ vô trách nhiệm ... Rồi em sẽ là 1 thiên thần”. Nick name Lệ Hằng tỏ ra bất bình: “Niềm hạnh phúc của phụ nữ là đựợc làm mẹ, thế mà người mẹ này lại bỏ đi đứa con mà mình mang nặng đẻ đau ra nó. Người mẹ này là người thật nhẫn tâm và ác độc”… Bức ảnh thứ hai đăng tải ngày 14/8 trên mạng xã hội face book cũng gây xúc động đến rơi nước mắt.

UserPostedImage


Một bức ảnh cảm động rơi nước mắt. (Nguồn: Facebook) Bức ảnh được đăng lên chưa đầy 11 giờ mà đã nhận được hơn một ngàn lượt “like” và bình luận. Trong bức ảnh, theo nhiều người đó là một người đàn ông trung niên cõng người mẹ già của mình lên chùa thắp hương. Bức ảnh đã lay động tình mẫu tử của nhiều bạn trẻ. Nickname Rau Khoai viết: “Mẹ không có cánh, không vòng thánh. Nhưng trong mắt con mẹ vẫn là thiên thần.” Trong hàng ngàn lượt bình luận, câu nói được thốt lên nhiều nhất là: Con yêu mẹ! Con xin lỗi mẹ! Đây là cơ hội để nhiều bạn bầy tỏ tình cảm của mình với mẹ. Đôi khi chỉ là một câu nói mà chưa chắc ai cũng có thể nói ra. HaLy Phú tâm sự: “Thật tuyệt vời! Nhưng, rất ít người có thể nói được câu nói: “Con yêu mẹ”. Mình cũng chưa nói được.” Hai bức ảnh, hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau, nhưng nó đều là tình mẫu tử nói riêng, và là tình người nói chung. Khi xã hội càng phát triển thì những tình cảm tốt đẹp của con người ngày càng bị bụi bặm của cuộc sống che lấp. Nhìn lại hai bức ảnh và có những khoảng lặng cho riêng mình, ta sẽ ngỡ ra nhiều điều…

Nhật Linh





hongvulannhi  
#3916 Posted : Tuesday, September 18, 2012 12:55:35 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)
CÂY HOA SỨ VỚI CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ


Chuyển theo yêu cầu của anh Quang Lê

Hoa Sứ nở hình ảnh cờ VNCH. Ảnh do chính tôi (NTV) chụp lúc sau 11AM ngày 17-9-2012 tại nhà người bạn ở Houston, Texas bằng máy Canon 60D. Ảnh thật 100% không chỉnh sửa (Thân hữu nào biết về kỹ thuật ảnh Digital có thể kiểm chứng đúng 100%)

UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


TÌNH YÊU NƯỚC CŨNG THẤM SÂU TRONG LÕNG CÂY CỎ ...

Tình yêu nước cũng thấm sâu trong lòng Hoa Sứ
Cờ vàng ba sọc đỏ, năm cánh nở, hiên ngang
Cây mọc rễ, lá tươi xanh, đâm chồi nảy lộc
Tô điểm nước Việt Nam thêm hùng tráng, huy hoàng

HONG VU LAN NHI
9/18/12

Edited by user Tuesday, September 18, 2012 12:58:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#3917 Posted : Tuesday, September 18, 2012 4:01:11 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)
Tình Cô Giáo Mỹ


(09/18/2012)
Tác giả : Chu Tất Tiến

Tác giả là một nhà văn, nhà báo, đồng thời cũng từng là nhà giáo, nhà hoạt động xã hội quen thuộc với sinh hoạt văn hóa truyền thông tại quận Cam. Ông đã góp nhiều bài giá trị và từng nhận giải danh dự viết về nước Mỹ. Sau đây là bài viết mới nhất.

Năm 1967, 23 tuổi, sau nhiều lần thi tuyển, tôi được gửi đi học tại Defense Language Institute ở San Antonio, Texas.

Thành phố rất đẹp với con sông hờ hững nằm giữa phố thị. Những chiếc cầu bắc ngang sông cũng là đường đi dạo phố khiến cho du khách cứ mê mải đứng trên cầu nhìn xuống con đường nhỏ xinh xinh dọc hai bên bờ sông phía dưới, với các cửa hàng ăn nho nhỏ đầy mầu sắc Mễ. Còn bên trên đường chính, các “department stores” vĩ đại làm cho những người “nhà quê” như tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn, rồi chụp hình lia lịa. Góc phố nào cũng chụp, tưởng như là các cửa kính lóng lánh ấy, các đồ đạc bầy trong đó, và các tượng điêu khắc giữa đường như là cửa vào gặp ông Thánh Phê Rô râu bạc, tay cầm cuốn sổ ghi danh. Nhưng thích thú nhất vẫn là những buổi chiều lành lạnh, thọc tay vào túi áo choàng dầy, đi lang thang dưới các tàn cây, rồi tưởng đến một người yêu không có thực mà thấy hồn mình bay lên cao “Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây. Tiếng buồn vang trong mây..”

San Antonio hồi ấy, theo trí nhớ của tôi, quá đẹp! Những nữ sinh Mễ lai Mỹ đẹp như tiên với cặp mắt đen, mũi cao vừa phải, tóc đen và tầm vóc trung bình, mà trai Việt thấy thoải mái khi đứng cạnh, không mặc cảm. Nhưng trên hết các hình ảnh nõn nường đó là hình ảnh cô giáo của tôi, cô Miranda, một phụ nữ mang hai giòng máu Tây Ban Nha và Mỹ. Thật ra, cả hai cô giáo của tôi đều đẹp. Cô Solaris, da đen dòn, cũng tầm thước như tôi, mà khi ôm cô để khiêu vũ, thì thấy như mình ôm môt khối nhung thật mềm mại. Mỗi vòng xoay là mỗi lúc tôi bay bay như bướm. Tay cô mềm không tả được, và thân thể cô cứ áp sát vào người tên học trò “nhà quê” như tôi mà lôi tôi lướt đi, lướt đi.. mây với gió. Cô Solaris, phải nói, đẹp như một bức tượng Venus đồng, giọng nói lại thanh thoát, dễ mến vô cùng, nhưng cô Miranda lại quyến rũ với cặp mắt đen và sâu như mắt người Trung Đông, và cặp môi hồng gọn đẹp cạnh hai cặp má lúm đồng tiền, y như thiếu nữ Việt Nam, làm trái tim những người chiêm ngưỡng đều thấy rộn ràng như đập trống.

Chỉ có một điều đau khổ là cô Miranda có chồng rồi! Cô có một bé mới chưa đầy hai tuổi, rất đẹp trai. Nhìn tấm hình mà cô khoe tôi khi hết giờ học, tôi cứ tưởng như nhìn tranh vẽ mấy thiên thần nhỏ trong các cuộc triển lãm. Mẹ đẹp một thì con đẹp hai. Hai tuyệt phẩm mà Thượng Đế tạo dựng tại San Antonio hồi đó.

Ngày đầu tiên vào lớp học, nhìn thấy người đẹp đứng trên bục giảng, thần trí tôi đã bay đi đâu đâu, nên cô gọi tên tôi hai lần, tôi mới giơ tay trả lời, và lại buột miệng “Yes, Sir” làm cả lớp cười ầm. Sau đó, thấy tên học trò Việt ngơ ngáo, cô hỏi tôi vài điều về cá nhân, tôi lắp bắp nói không ra tiếng, khiến cô tưởng tôi không rành tiếng Anh, nên chậm rãi đặt lại câu hỏi rất nhẹ nhàng. Sự dịu dàng của cô lại làm tôi thêm lúng búng mất mấy phút. Mãi sau, tôi mới tỉnh táo mà trả lời một loạt các câu hỏi của cô. Cô “à” lên một tiếng và khen tôi nói tiếng Anh hay quá. Tôi đỏ bừng mặt, xấu hổ, nhưng cũng thấy khoái khoái trong lòng.

Sự học của tôi diễn ra bình thường, và có lẽ nếu không có tên học trò người Iran mất dậy kia thì cô cũng chỉ coi tôi như mọi học sinh khác. Hôm đó, khi điểm danh, cô Miranda gọi một tên Iran râu đầy mồm lên và hỏi:

- Sao hôm qua, anh không đi học?

Tên Iran cao lớn mà vô lễ này cứ ngồi gác đầu gối vào chiếc bàn phía trước, trả lời tỉnh bơ:

- Tôi không biết! (I dont know!)

Cô Miranda cố điềm tĩnh nói:

- Đúng ra anh phải xin phép tôi chứ?

Tên kia lại bung ra cùng một câu, “Tôi không biết!” Miranda hỏi tiếp:

- Thế hôm kia anh đi đâu mà không đi học?

Cũng vẫn thái độ nghênh ngang, tên Iran kia vẫn chỉ dùng có ba chữ “tôi không biết” và còn mỉm cười khinh thị. Có tới 4 câu “tôi không biết” như thế. Cả lớp im lặng như tờ, chờ xem phản ứng của cô giáo. Đột nhiên, tôi nhìn thấy đôi mắt đẹp của cô giáo, đôi mắt mà tôi mê mẩn, bắt đầu long lanh, ướt nước. Vừa nhìn thấy chút nước mắt lặng lẽ ứa ra, tim tôi tự dưng như ngừng đập. Tự dưng tôi đứng phắt dậy, tiến thẳng đến chỗ tên kia ngồi, hai tay cung lên trong một thế võ Thái Cực Đạo, tay phải chĩa thẳng vào mặt nó, các ngón tay chụm lại như mũi dao, tôi quát lớn:

- Thằng mất dậy! Mày dám trả lời với cô giáo như vậy hả? Nói “xin lỗi cô giáo” ngay lập tức, nếu không, tao cho mày một cú chặt Atemi này thì mày tắc thở!

Tên râu rìa kia bị quạt bất ngờ, ngơ ngác nhìn tôi! Có lẽ trong đời, chưa gặp ai dữ dằn như thế! Tôi gằn giọng, vừa lặp lại câu nói vừa vung tay:

- Nói “Xin lỗi cô” ngay! Nói! Mày là học trò mà ăn nói mất dậy với cô giáo như vậy hả?

Vì không chuẩn bị trước thái độ hung hãn của tôi, tên kia ú ớ:

- Tôi.. tôi.. xin lỗi cô giáo!

Nghe nó nói xong, tôi mới thở ra, và đi về chỗ của mình. Hú vía! Vì nếu tên này bình tĩnh một chút, cứ thách thức tôi, thì tôi sẽ phải chặt nguyên cạnh bàn tay vào mặt nó, nhất định nó sẽ gục xuống, và như thế, thì cảnh sát sẽ đến còng tay tôi liền một khi..

Cô giáo, cặp mắt đã như hai hột nhãn, nay như một hồ thu sâu thẳm, nhìn tôi, xúc động. Miranda nói khẽ:

- Cám ơn anh!

Tôi nhún vai như Alain Delon, cười và nói “Không có chi!”

Đúng ra tôi phải cám ơn tên vô giáo dục kia mới phải, vì từ đó, quan hệ của cô giáo và học trò đã hoàn toàn thay đổi. Sáng thứ Sáu, sau khi tiếng chuông báo hết giờ học, cô vẫy tôi lên bàn cô và hỏi:

- Sáng thứ Bẩy, anh có làm gì không, tôi đến đón anh đi chơi nhé!

Không biết nói sao, tôi chỉ lẳng lặng gật đầu. Thứ Bẩy, tôi như người mộng du, chân tay run rẩy, đi ra đi vào. Thiện, bạn cùng phòng với tôi, cười hí hí:

- Thôi, chết mày rồi! Phen này trốn đi đâu cho thoát!

Tôi chỉ cười ậm ừ vì lòng tôi rối beng lên.

Đúng 9 giờ sáng, cô giáo đến. Tôi ấp úng rủ luôn Thiện đi, cô cười, gật đầu, nói “tốt lắm!” và ra xe trước. Dáng đi uyển chuyển, bộ mông mềm mại lắc lư như hai chiếc gối bông tròn đầy làm hồn tôi xôn xao. Hai đứa tôi ra xe, vừa đi vừa nói chuyện linh tinh, lang tang. Miranda đưa chúng tôi đi ăn, rồi đưa ra biển.

Biển hôm ấy mát rượi. Từng cụm mây trắng nhỏ lững lờ trên cao. Bãi biển vắng người, chỉ có vài cặp nhân tình dắt nhau đi tản bộ. Tay họ ôm vòng lấy nhau, âu yếm. Thiện thọc tay vào túi quần jean, đi nhặt mấy vỏ ốc mầu trên cát, còn cô giáo và tôi ngồi lại trên một đụn cát. Cô Miranda nhìn tôi cười, hỏi tôi ở Việt Nam có gần biển không. Tôi tả cho cô nghe về biển Vũng Tầu, về các ruộng muối và về khoảng rừng sát, ngập mặn có những loại cá bò lên cây, và về những đồi cát trắng mênh mông cũng như biển Texas này… Không hiểu sao, tôi ngẫu hứng lại nói về chuyện bà Hồ Xuân Hương với những bài thơ trữ tình, tiếu lâm làm cô giáo cười như nắc nẻ. Và điều bất ngờ đến. Mới đầu thì hai chúng ngồi cách nhau, nhưng dần dần, ngó qua ngó lại, thì một lúc sau, đã ngồi sát nhau tự bao giờ. Cô giáo dựa lưng vào lưng tôi, ngả đầu về phía sau, nghe tôi dịch thơ Hồ Xuân Hương kể chuyện “trái mít”, và “đu giây”, về phụ nữ Việt Nam với cái yếm đỏ… Miranda thích thú lắm và nói:

- Quê hương anh có nhiều điều lạ lắm, mà tôi chưa hề nghe nói đến bao giờ. Lạ nhất là ai cũng biết làm thơ! Cả người dân quê, thuyền chài đều làm được thơ. Hay quá!

Tôi cười:

- Đó là nét đẹp hiếm có của dân tôi. Ai cũng nói thành thơ được.

Chúng tôi thủ thỉ với nhau như thế đến chiều thì ra về. Trên đường về, không ai nói với ai câu nào, hình như tâm tình có nhiều chuyển biến.

Từ đó, thỉnh thoảng, khi đến giờ “break”, tôi lên bàn cô giáo trò chuyện trước cặp mắt ghen tị của đám học trò, nhất là mấy tên Iran, Iraq râu rìa. Chúng sợ tôi nổi cục nên chẳng dám xía vô. Có lần, tôi hỏi cô về tiếng Spanish, và nhờ cô dịch giùm các câu: “Tôi yêu cô lắm!”, “Cô có yêu tôi không?”… Cô ngước cặp mắt long lanh, hồ thu của cô, nhìn tôi và dịch. Tôi lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi thuộc, rồi thỉnh thoảng buột miệng nói với Miranda câu đó để nhìn thấy cặp mắt kia soi thẳng vào trái tim tôi, nóng bỏng.

Và cứ như thường lệ, cứ sáng thứ Bẩy, nàng đến đón chúng tôi đi chơi đến chiều mới thả hai đứa tôi về lại phòng ngủ. Việc đi chơi này kéo dài nhiều tuần lễ liên tiếp. Tôi kể chuyện tiếu lâm Việt Nam cho cô nghe để cô cười nắc nẻ. Tôi kể chuyện bậy lắm. Chuyện một bà mẹ uống thuốc ngừa thai, nhưng vẫn đẻ. Khi đẻ, bà cằn nhằn với bác sĩ đã cho bà uống thuốc dỏm. Bác sĩ chẳng nói gì, chỉ tiến đến nôi thằng bé, cầm tay nó lên và cố vạch tay nó ra, nhưng thằng bé nắm chặt quá, đến nỗi phải nhờ cô ý tá phụ tay mới vạch được ngón tay nó ra. Khi bàn tay mở ra, bác sĩ gọi bà mẹ, “Nhìn đây! Đâu có phải tôi cho bà uống thuốc dỏm đâu!” Bà mẹ cúi đầu nhìn xuống và thấy viên trong lòng bàn tay nắm chặt của đứa bé là viên thuốc ngừa thai!

Miranda cười không ngớt. Mỗi tiếng cười của nàng như trái phá nổ tung trong tim tôi nhất là khi nàng nghoẹo đầu, mái tóc nàng cũng xổ ra, lượn bay như những cánh chim, cánh bướm, đẹp vô cùng.

Một hôm, bất ngờ, Miranda rủ tôi đến nhà chơi vào thứ Bẩy, rồi ở lại ăn cơm tối với cô. Dĩ nhiên, tôi rủ Thiện cùng đi, vì tôi không có gan lại nhà nàng tiên đó một mình, nhất là ngại phải gặp chồng cô! Ba chúng tôi lên đường, đến nhà cô là một gian nhà xinh xắn giữa một khu vườn tịch mịch. Điều bất ngờ hơn là khi vừa đến cửa, thì chồng cô xuất hiện. Ông chào chúng tôi, bắt tay và xách cặp tay nhỏ đi luôn, sau khi chúc chúng tôi ở lại vui vẻ!

Hai đứa tôi lập cập bước vào nhà, không hiểu sao chồng cô lại bỏ đi, không tiếp chúng tôi. Kỳ thị chăng? Không phải! Thấy chúng tôi hơi chưng hửng, Miranda giải thích là chồng cô muốn chúng tôi tự do vui chơi, vì ông là một chuyên gia khoa học, suốt ngày ngồi tính toán, không quen chuyện trò với người lạ. Thôi, kệ, chúng tôi cứ vui với nhau, ăn nhậu, uống cà phê, nghe nhạc, thỉnh thoảng ngưng lại để cho con nàng ăn, đi tiểu tiện và chơi. Thằng bé ngoan quá, chẳng đòi mẹ gì cả, cứ ngồi trong cái nôi rộng mà chơi một mình. Lâu lâu mẹ nó mới bế lên, cho ăn, chơi chừng mươi mười lăm phút lại bỏ cháu bé xuống nôi, rồi quay qua nói chuyện với tôi. Đến khi thằng bé ngủ, thì hai đứa khiêu vũ. Thiện không quen nhẩy đầm, nên chỉ có hai đứa tôi ôm nhau nhẩy hết bài này đến bài khác. Và vì chính tôi cũng nhẩy không giỏi, nên nàng phải chỉ cho tôi những điệu mới. Tay học trò này cứ mê đi trong vòng tay cô giáo cho đến tối, cũng không thấy chồng nàng về. Kệ, tôi cũng chẳng hỏi. Lại ăn, và xem album của nàng. Ba đứa chụm đầu vào nhau, mở từng trang giấy… Đến khuya, Thiện mệt quá, lăn ra sa-lông ngủ thẳng cẳng. Còn tôi và nàng.. ngồi đối diện nhau trước cái bàn ăn nhỏ, nói chuyện rù rì. Bốn mắt nhìn nhau say đắm. Đến một lúc, không thể kìm hãm được sự sôi nổi trong lòng, tôi với tay qua, nắm lấy tay nàng. Miranda không những để yên tay nàng trong tay tôi mà còn nghiêng người qua, hé mở nụ môi đẹp như hai cánh hồng nhung, mời mọc. Bộ ngực nàng hình như trắng thêm, nở căng hơn, khiến tôi nhìn thấy cả nhịp đập của tim nàng phập phồng dưới làn da trắng nõn và vì cùng một tần số yêu nhau, tim tôi cũng cùng chung nhịp với tim nàng, và đập rất mạnh, đến nỗi tôi có thể nghe được cả tiếng hai trái tim cùng rung lên một nhịp. Trong một thoáng mất tự chủ, tôi cũng chồm người tới trước, để thấy hơi thở nàng dồn dập ngay trên môi…

Bất ngờ, ngay giây phút khởi đầu cho một mối tình say đắm ấy, tôi chợt nhìn thấy sau lưng nàng, trên tường, hình tượng Chúa đóng đinh! Hình như mắt Chúa đang nheo lại, u buồn lắm… Con ạ! Ngừng tay ngay! Nguy hiểm!

Và chỉ trong sát na ấy, tôi khựng lại như bị ai đóng đinh vào chân tay mình. Người tôi rũ xuống, bàn tay cầm tay nàng bỗng lỏng ra. Tôi thở một hơi dài, và ngồi lại vị trí cũ.

Nàng… có lẽ đang say mê với một nụ hôn ác liệt, chưa hiểu ý tôi, còn nhìn tôi, chưng hửng. Tôi nhè nhẹ lắc đầu, quay đi…

Đêm hôm ấy là đêm dài nhất trong cuộc đời trai trẻ của tôi với những chiến đấu, lúc thắng lúc thua, khi vì bản năng, muốn chồm lên cho một cuộc ái tình tuyệt đẹp, khi lại tự trách móc mình tội lỗi, xấu hổ, yêu một người có chồng, thiệt bậy bạ… Đôi khi tôi phải cấu tôi thật mạnh cho tỉnh người, khỏi mê đi mà bước vào phòng nàng, mở hé cửa! Sáng ra, tôi mệt phờ phạc như sắp chết, nói không ra hơi. Nàng hiểu hết, lẳng lặng pha cà phê cho cả hai chúng tôi, rồi đưa chúng tôi ra về.

Thứ hai, đi học như thường lệ, nhưng không còn líu lo như hai con chim nhỏ khi tới giờ “break” nữa. Và một tuần trôi qua quá dài, tưởng như môt thế kỷ. Đến thứ Sáu, thì nàng mới mở lời là sáng mai, sẽ đón chúng tôi ra lên núi chơi. Tôi gật đầu và suy nghĩ liên miên. Liệu có nên tiếp tục gặp nàng nữa không? Gặp để làm gì? Nếu sơ sẩy chân tay, thì một tội nặng sẽ xẩy ra. Tôi sẽ thành tên ăn trộm, ăn trộm mất trinh tiết của một người phụ nữ từ một người đàn ông đáng kính. Thôi, thì thôi nhé, có ngần ấy thôi…

Sáng thứ Bẩy, thay vì ở nhà chờ nàng tới, tôi gọi điện thoại hẹn đi chơi với bà Price, một nhà báo da trắng khoảng trên 40 tuổi, đã ly dị, nhưng rất dễ thương, có hai đứa con gái 17, 19 cũng phổng phao, đẹp tiên sa, cá lặn. Bà Price vui vẻ nhận lời, phóng xe đến đón tôi và Thiện ra biển chơi!

Tụi tôi chơi rất vui. Vì muốn quên đi hình ảnh nàng đang bị tôi cho “leo cây”, tôi đùa với hai cô con gái tối đa. Chúng tôi chơi tuột dốc từ trên đỉnh đồi cát xuống, để lăn lộn, ôm chầm lấy nhau. Rồi chạy đuổi như con nít… có lúc tay tôi chộp vào bộ ngực mềm bốc lửa của hai cô con gái làm các cô cười hinh hích. Rồi ăn cà-lem chung với nhau. Bà mẹ cứ ngồi cười nhẹ nhàng, mặc cho chúng tôi dỡn hớt mà không nói gì. Đến tối, bà chở chúng tôi về nhà, ăn và ngủ chèo queo trong phòng khách. Cô con gái 17 tuổi cũng nằm chung với chúng tôi trên thảm, nói chuyện tiếu lâm như giặc. Mấy cô bé nghe tôi kể chuyện cười lăn lộn một lúc rồi lăn ra ngủ khò trên thảm. Còn tôi, suốt đêm nằm ngửa mặt nhìn trần nhà mà thở dài, mặc dù tôi chỉ cần với tay ra là đụng phải môt tấm thân mềm mại….

Thứ Hai, một buổi sáng nặng nề như đeo cối đá. Tôi vào lớp, không nhìn nàng, lẳng lặng ngồi vào ghế. Nàng cũng không nhìn tôi, mà cúi xuống tập sách mà nàng định giảng hôm đó. Bất chợt, tôi thấy có giọt nước mắt rơi xuống… Rồi một giọt nữa… Hoảng hốt, tôi phóng lên bàn cô giáo. Nàng nói mà không nhìn tôi:

- Em biết cách xử sự của anh rồi!

Nàng dùng chữ “policy” trong câu (I know your policy now!) có nghĩa là nàng đã đoán ra được lý do tại sao tôi cho nàng “leo cây”, nhận lời đi chơi với nàng rồi lại đi chơi với người khác. Tôi ú ớ không biết nói sao, chỉ khe khẽ nói, “Anh xin lỗi, xin lỗi trăm lần!” Nhưng nàng vẫn khóc tỉnh bơ, trước mặt cả lớp đang nhìn nàng thắc mắc. Chắc chúng tưởng tôi đã “làm gì” nàng rồi! Tôi phải xuống giọng hai, ba lần:

- Đừng khóc! Đừng khóc! Anh xin em mà!

Nàng vẫn khóc. Thấy không thể thuyết phục bằng cách thông thường, tôi dọa:

- Nếu em buồn quá như vậy, thì anh xin về Việt Nam ngay hôm nay, không học nữa!

Nghe tôi dọa, nàng giật mình, nhìn lên, níu lấy tay tôi:

- Đừng! Đừng về Việt Nam nhé! Học cho xong khóa đã!

Tôi bám lấy cơ hội, nói luôn:

- Thế thì em cười đi! Anh hứa sẽ không về, nếu em cười!

Nàng cười liền. Nụ cười của nàng làm tôi muốn đứt ruột! Không muốn cho bạn bè xầm xì thêm nữa, tôi về chỗ ngồi để hồn tôi bay ra ngoài cửa sổ! Sao gió hôm nay lại lạnh kinh hồn? Sao mây hôm nay lại ủ rũ như có đám tang?

Kể từ hôm ấy, chúng tôi không đi chơi với nhau nữa. Tôi đi tìm vui một mình bằng những bước chân âm thầm trên đường phố vào cuối tuần cho đến ngày mãn khóa, tôi đưa nàng tấm bằng tốt nghiệp để nàng ký tên vào phía sau, cùng với các ông thầy, bà giáo khác. Nàng viết một câu mà sau mấy thập niên rồi, tôi vẫn nhớ:

“Anh là người đàn ông lạ lùng nhất trong đời tôi. Tôi yêu anh vô cùng và mong có ngày anh trở lại với tôi.” (Youre the most wonderful man in my life. I love you very much and hope that someday, you will come back to me.) Ký tên: Miranda!

Miranda! Miranda! Đã nhiều thập niên rồi, tôi vẫn còn nhớ đến nụ cười của nàng, dịu dàng như cỏ mùa Xuân và nóng bỏng như mặt trời xích đạo. Còn em, có lần nào nhớ đến tôi không?

Chu Tất Tiến

Edited by user Tuesday, September 18, 2012 4:05:39 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Nam  
#3918 Posted : Tuesday, September 18, 2012 11:13:07 PM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 5,089

Thanks: 773 times
Was thanked: 316 time(s) in 251 post(s)
Người Mỹ tại Texas đã bị Việt Cọng xỏ mủi dẫn dắt như con trâu cày.


Trương Minh Sơn


Nhân đọc bài “Tường Trình Buổi Họp với Ủy Ban Texas Capitol Vietnam Veterans Monument tại Austin Texas” của tác giả Tôn Nữ Hoàng Hoa trên Ba Cây Trúc, chúng tôi nhận thấy nổ lực của Bà và các đồng sự thật rất hữu ích trong việc phân tích các sai lầm của Ủy Ban xây dựng tượng đài các Cựu Chiến Binh của Texas tại công viên của Texas Capitol vì Ủy Ban này đã không am tường ý nghĩa của tượng đài do chính họ dựng lên mà lại còn bị Việt Cọng xỏ mủi để biến nó thành công cụ tuyên truyền bôi lọ sự tham chiến của Mỹ tại Việt Nam.

Sau đây là những ý kiến đóng góp của tôi về tượng đài này:

1- Tượng Đài đang tượng trưng cho sự xâm lăng của Mỹ tại Việt Nam.

UserPostedImage


Khi nước Mỹ tham chiến để giúp miền Nam Việt Nam (VNCH) chống lại sự xâm lăng của Cọng Sản Hà Nội thì nước Mỹ cần phải được VN mời gọi góp sức để cùng đánh đuổi kẻ thù chung. Vì thế hình ảnh cần phải nhìn thấy là sự chung vai cùng chiến đấu của người lính hai quốc gia này. Ấy thế mà Tượng Đài Cựu Chiến Binh tại Texas đã loại hình ảnh của người lính VNCH ra khỏi sự cùng chung chiến đấu này và để những người lính Mỹ gốc Texas đứng đơn độc, nó sẽ biểu hiện rõ rệt cho công chúng thấy rằng “quân Mỹ tự mình xua quân vào VN để chiến đấu mà không được mời gọi”, họ không được dẫn đường bởi người lính địa phương VNCH. Đây sẽ là một biểu tượng của sự xâm lăng của Mỹ Quốc lên đất nước VN, vì khi đã không được mời và không được dẫn dắt vào mà tự đưa quân vào chiến đấu thì chính là hành động xâm lăng. Sự hiện diện của người lính VNCH trong tượng đài sẽ hóa giải được ý nghĩa xâm lăng bằng vũ lực này.

Mô hình tiên khởi của tượng đài có sự hiện diện của người lính VNCH, nhưng về sau, ông Wayne Smith, Dân Biểu của Hạt 128 tiểu bang Texas, người chủ trương xây dựng tượng đài đã yêu cầu gở bỏ hình của người lính VNCH ra khỏi tượng đài. Ông này cho biết sau khi ông đi thăm Việt Nam về thì cảm nhận của ông về VN đã khác xa với cảm nhận trong thời điểm chiến tranh trước đây. Do đó khi ông trở lại Mỹ ông đã chấp thuận cho việc thay đổi mô hình tượng đài.

Cái gì đã làm cho ông thay đổi quan điểm ? Chắc rằng ai cũng biết ông đã được Việt Cọng tuyên truyền và mua chuộc đến nổi ông mất đi sự bén nhạy trong việc bảo tồn danh dự cho những người chiến sĩ Texas cũng như của nước Mỹ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa xâm lăng và bành trướng của Cọng Sản quốc tế. Ông đã vô tri cáo giác rằng những người lính Texas và chính quyền Mỹ là những kẻ đi xâm lăng nước Việt Nam và đã tháo chạy trước đối phương khi ông cố tình gạt bỏ sự hiện diện và vai trò làm chủ của người lính VNCH trên chiến trường chống Cọng tại VN để bảo vệ quê hương của mình,

2- Tượng đài này tượng trưng cho sự phá hoại của quân đội Mỹ và các chiến binh Texas lên cuộc sống an bình của người dân Việt. Đi phá hoại sự an bình của một quốc gia khác là một điều vô chính nghĩa.

UserPostedImage


Trong những bức hình tạc trên đồng cho thấy dân Việt đang sống trong an bình hạnh phúc qua hình ảnh của hai người đàn bà đội nón đang gánh hàng và đi sinh hoạt thoải mái trên đường làng, trong khi dưới ruộng thì một chú bé đang cởi trâu một cách an nhàn. Nhưng sự an bình của họ đang bị một chiếc máy bay B-52 của Mỹ trên nền trời đe dọa dội bom lên đầu họ. Đây chính là một hình ảnh phản chiến cho thấy người Mỹ đến VN không phải là để giải phóng dân Việt mà là phá hoại sự an bình của họ. Quân dội Mỹ và những ngươi lính Texas đã được mô tả như những kẻ xâm lược không có chính nghĩa.

3- Tượng đài này tượng trưng cho sự bại trận của người Mỹ và của những chiến sĩ gốc Texas.

Hình ảnh hai người lính Mỹ đang xốc nách một người lính khác đang bị thương khập khiểng cho thấy sự bại trận của người Mỹ hiếu chiến tại Việt Nam trước sự hiếu hòa của dân Việt. Đây là một sự sỉ nhục cho chính nghĩa duy trì tự do trên thế giới mà dân tộc Mỹ đã và đang hy sinh tài nguyên và sinh mạng cho mục đích này. Trưng bày một sự sỉ nhục cố ý này cho thấy những người xây dựng tượng đài có dã tâm phản bội uy danh của dất nước mình. Phải chăng đây là một thái độ phản quốc ?

4- Tượng đài được chính quyền Việt Cọng hổ trợ xây dựng

UserPostedImage


Ở phần bệ của tượng đài, tức là phần “nâng đỡ” cho phần trên là những người lính Mỹ gốc Texas có bức hình điêu khắc 2 con rồng chầu hai bên một ngôi sao có hai nhánh lúa. Người nghệ sĩ điêu khắc hình này diển tả rằng hai con rồng tượng trưng cho dân tộc Việt Nam, và ngôi sao tượng trưng cho tiểu bang Texas, như vậy cũng có nghĩa là dân Việt chầu quanh người dân Texas. Họ nghĩ vậy nhưng sự thật không phải vậy. Họ không biết rằng ngôi sao bọc bởi hai nhánh lúa là biểu hiệu của nước CHXHCNCN tức là biểu hiệu của chính quyền Việt Cọng.

UserPostedImage


Như vậy khi gắn hình này vào cái bệ của tượng đái thì có ý nghĩa rằng, chính quyền và nhân dân Việt Nam ủng hộ cho những tuyên truyền phản quốc của những người chủ trương xây dựng tượng đài. Đây là một sự tỏ bày rõ rệt sự khuynh loát của chủ nghĩa Cọng Sản lên chủ nghĩa Tư Bản ngu ngơ, thấy tiền thì sáng mắt mà quên đi lý tưởng bảo vệ uy tín quốc gia của mình.

Qua sự trình bày ở trên tôi thấy rằng, tượng đài này tuy nói rằng là để đề cao sự hy sinh của người lính Texas cho tự do của thế giới và cho sự hưng thịnh của quê hương họ, nhưng thực tế chỉ là một âm mưu do Việt Cọng bày ra để bôi lọ lên sự hy sinh của họ mà thôi. Tượng đài này cần phải chỉnh sửa lại những sai lầm nểu trên để xứng đáng với lòng mong đợi của bao nhiêu người dân Texas đã đóng tiền xây dựng tượng đài này. Nếu không, nó chỉ là một sự phản bội đối với mọi người và nước Mỹ.

Một Video sẽ được đưa lên mạng Youtube, dẫn giải bằng tiếng Mỹ để cho người Mỹ gốc Texas biết rằng họ đã bị Ủy Ban xây dựng tượng đài lừa đảo và bị Việt Cọng xỏ mủi.

Trương Minh Sơn

Edited by user Tuesday, September 18, 2012 11:20:58 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Nam  
#3919 Posted : Wednesday, September 19, 2012 12:16:14 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 5,089

Thanks: 773 times
Was thanked: 316 time(s) in 251 post(s)

Bà Aung San Suu Kyi gặp Ngoại Trưởng Clinton


Tuesday, September 18, 2012 6:47:35 PM

WASHINGTON (Reuters) -Nhà lãnh đạo đối lập tại Myanmar, bà Aung San Suu Kyi, hôm Thứ Ba lên tiếng cho hay tiến trình cải cách ở quốc gia bà chỉ mới “vượt qua chướng ngại đầu tiên” và nói rằng bà ủng hộ việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ nhằm dễ dàng tạo mối quan hệ giữa hai nước.

UserPostedImage

Nhà lãnh đạo đối lập tại Myanmar, bà Aung San Suu Kyi (trái), và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton
chuyện trò tại Bộ Ngoại Giao, Hoa Thịnh Ðốn hôm Thứ Ba, 18 Tháng Chín. (Hình: AP)


Bà Suu Kyi cũng cho hay các biện pháp trừng phạt kinh tế là khí cụ tốt để áp lực chính quyền quân sự Myanmar trước đây, nhưng nay người dân cần có cơ hội củng cố nền dân chủ mà không có sự giúp đỡ từ bên ngoài.

“Tôi không nghĩ chúng tôi nên trông cậy vào các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ để duy trì cái trớn tiến tới dân chủ. Chúng tôi phải tự mình làm điều này và có rất nhiều cách chính phủ Mỹ có thể giúp chúng tôi,” bà Suu Kyi cho hay.

Bà Suu Kyi, từng ở Mỹ trong thập niên 70 khi làm việc cho Liên Hiệp Quốc, sẽ viếng thăm cộng đồng người Myanmar tại Fort Wayne, tiểu bang Indiana, và sẽ viếng thăm tiểu bang California.

(V.Giang)



hongvulannhi  
#3920 Posted : Wednesday, September 19, 2012 1:43:29 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,890

Thanks: 2452 times
Was thanked: 5257 time(s) in 3513 post(s)
THÍCH NHẤT HẠNH – TÊN VIỆT GIAN CỘNG SẢN ĐỘI LỐT PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG VỆT MÁU TỘI ÁC CỦA „GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT“
- KHỐI ẤN QUANG HAY ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ VÀ ĐANG KHIỂN DỤNG
VỎ BỌC PHẬT GIÁO LÀM PHƯƠNG TIỆN BÔI XÓA TỘI ÁC,
CỦNG CỐ QUYỀN LỰC NHƯ THẾ NÀO.


(Phần 1.)


Seattle, September 17, 2012
Thái A

Bản tựa dịch tiếng Việt của Anh Đào với sự đồng ý của nguyên tác giả Thái A.

www.nhabaovietthuongblogspot.com

DẪN NHẬP ĐỀ:

1. Theo Hiệp định Geneve về việc tạm thời chia cắt lãnh thổ Việt Nam vào ngày 20.07.1954 thì trong một thời gian ngắn, dân chúng hai miền Nam Bắc được tự do quyết định di cư đến hai miền Nam Bắc của đất nước. Ranh giới tạm thời chia cắt đất nước là vĩ tuyến 16, biên giới thiên nhiên là sông Bến Hải. Nguyên do của hiệp định này, một bên là âm mưu chiến lược thâm độc của Hồ Chí Minh tự nguyện làm khuyển mã theo chỉ thị của quốc tế cộng sản, được giật dây trực tiếp bởi Moskau và Bắc Kinh, và một bên là nước Pháp, sau khi thất thế tại chiến trường Điện Biên Phủ đang cố gắng để đạt được hiệp định này để rút lui khỏi Việt Nam trong một tư thế khả thi nhất. Các đảng phái quốc gia khác tại Viêt Nam đương thời đều phản đối sự chia cắt đất nước một cách ngang trái này. Vào thời điểm đó dòng người dân miền Bắc tìm mọi cách chạy trốn chế độ „cộng sản“ của Hồ để di tản về phương Nam đã đột ngột dâng lên một cách chưa từng có. Trong một thời gian ngắn, với sự cố gắng nỗ lực cao cả và sự giúp đỡ của Mỹ, Pháp cùng các tổ chức từ thiện quốc tế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã tổ chức di cư thành công cho hơn một triệu đồng bào miền Bắc vào miền Nam, và ổn định cuộc sống cho đồng bào những năm sau đó. Mặc cho sự tuyên truyền một chiều, tìm cách ngăn cản và xuyên tạc tẩy não của Hồ và cái gọi là „đảng cộng sản“ của hắn lúc đó đang còn tìm cách che giấu dã tâm khát máu, đại đa số đồng bào miền Bắc đồng bào đã quyết tâm từ bỏ chế độ cộng sản tại miền Bắc. Trong dòng sử Việt, đây là cuộc di cư lịch sử lớn nhất vào thời điểm đó. Nếu không bị những thủ đoạn gian manh tàn ác của Hồ để hòng ngăn cản đồng bào di cư, qua mặt các tổ chức giám sát quốc tế thì dòng người di cư đã vượt xa nhiều lần con số 1 triệu nói trên. Đại đa số đồng bào Việt Nam đã tỏ rõ thái độ phản kháng chế độ cộng sản tại miền Bắc.

2. Cái gọi là „chính phủ“ của Hồ được giàn dựng bởi đảng cộng sản, trá hình Việt Minh, thành hình bởi lừa đảo, cướp, gìết, khủng bố và mọi thủ đoạn khuynh đảo tiến đến cướp trọn chính quyền của Chính Phủ Liên Hiệp năm 1946 đã không được nhân dân miền Bắc chấp nhận. Hồ và đảng CS đã thi thố mọi thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc và bạo lực nhằm ngăn cản dòng người đang phải dứt lòng bỏ lại xóm làng thân thương để quyết tâm vượt thoát chế độ cộng sản tím đến bến bờ tự do nơi đất trời phương Nam. Cũng theo hiệp định Genève thì sau 2 năm, tức năm 1956 sẽ có một cuộc tổng bầu cử toàn dân để dân chúng hai miền được tự do quyết định bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử dân chủ hợp hiến với mục đích là tái thống nhất đất nước. Cuộc bầu cử sẽ được sự kiểm tra và giám sát của Liên hiệp quốc. Nhưng cả sau khi thời hạn di cư, được gia hạn thêm một thời gian ngắn, ngoài thời hạn (300 ngày) đã hết và nhiều năm sau đó, người dân bị trị miền Bắc vẫn còn tìm cách vượt thoát về phương Nam. Tất cả những lần vượt thoát từ miền Bắc của đồng bào qua sông Bến Hải vào Nam, khi bị quân đội miền Bắc phát hiện đều bị truy đuổi, chặn bắt, dùng tên tẩm chất độc và cả vũ khí sát thương hạ sát (mặc dù theo quy định của hiệp định là không được dùng vũ khí sát thương). Tình trạng thê thảm tại biên giới Nam-Bắc Việt Nam lúc đó cũng tương tự như hiện trạng nơi biên giới Đông-Tây của một nước Đức từng bị chia cắt, hoặc tại khu vực biên giới Nam-Bắc Triều Tiên hiện tại, nhưng về mức độ thì vượt mọi ranh giới của sự tàn ác và thê lương. Hiệp định Genève đã bị Hồ xé tan và giẫm nát bằng chân từ lúc nó chưa thành hình.

3. Để có một tầm nhìn khái quát nhưng đầy đủ về về tình hình Việt Nam sau hiệp định Genève 1954 thì văn bản „Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26. Tháng Tư. 1958 về những vướng mắc trong vấn đề Tái thống nhất đất nước“ là một tài liệu đặc biệt hữu ích. Văn kiện ngoại giao này được công bố ngày 26.04.1956 bởi văn phòng Sứ thần Việt Nam Cộng Hoà tại Bonn, CHLB Đức. Nguyên bản hiện đang lưu trữ tại trung tâm lưu trữ Văn khố thành phố Stuttgart, tiểu bang Baden Württemberg, CHLB Đức, có thể tìm thấy dưới mã hiệu: „ J 152 D Vietnam Nr.1“.
http://www.landesarchiv-bw.de/plink/?f=1-1103049
https://www2.landesarchi...amp;opener=signatursuche

4. Cũng trong làn sóng người di cư này đã có khoảng 3000 cán bộ cộng sản trà trộn theo vào Nam, cũng như khoảng 6000 cán bộ cộng sản khác, đều theo lệnh của Hồ cài cắm ở lại miền Nam, nằm vùng tạo dựng cơ sở cho cuộc chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà của Hồ sau này. Số cán binh nằm vùng này tăng lên không ngừng vào những năm sau đó.

5. Miền Nam Việt Nam trong trong giấc mộng xâm lăng của Hồ Chí Minh theo lệnh từ Moskau và Bắc Kinh chỉ là cái bàn đạp đầu tiên. Cái đích của sự toan tính của Hồ nằm trong giấc mộng xâm lăng của đế quốc đỏ, là chiếm cả Đông Dương, gồm cả Lào và Campuchia.

6. Nói về sự phát triển trong nhiều lĩnh vực như văn hoá, kinh tế, và đặc biệt là tôn giáo trong chế độ ngụy quyền của Hồ lúc đó có thể so sánh là đã bị tụt lùi xuống ngang hàng với thời hậu trung cổ tại châu Âu. Thực trạng Bắc Việt Nam đương thời đã bị biến dạng thành một thứ ngục tù không tường vách, không khác gì với Bắc Triều Tiên hiện tại, nhưng thực trạng này vẫn còn đúng với cả nước Việt Nam cộng sản tới tận ngày hôm nay! Cụm từ „Kommun + ismus“ có nguồn gốc từ Âu châu ( nguyên ngữ tiếng Đức: „Kommunismus“ ) đã bị Hồ và tay sai ma mãnh và xuẩn động dịch sang tiếng Việt là „Cộng sản-chủ nghĩa“, với nghĩa chữ nước đôi của cụm từ „cộng sản“ là „tài sản chung/ tài sản cộng đồng“ („gemeinsames Vermögen“), và đi kèm theo nó nào là những „không giai cấp“, „vô sản“ và „bất sở hữu“(riêng tư)…, sau khi đã qua tay một tập thể trí nô vong bản, lưu manh, nhưng hùng hậu tô vẽ và tuyên truyền quảng bá cho nhân dân miền Bắc về một „thiên đường cộng sản“ sáng lạn, trong đó „không còn ai được quyền sở hữu một thứ gì riêng tư“. Sự tuyên truyền này về thực chất là một sự cưỡng bức tẩy não tập thể toàn dân. Sự cưỡng bức tuyên truyền có tích chất „cách mạng“ của Hồ và đảng cộng sản nhìn cách nào cũng chỉ là sự thừa hành lặp lại nguyên si lối hành xử tàn bạo của Stalin, và sự thừa hành, sao chép bằng máu cái gọi là „cách mạng văn hoá“ của Mao Trạch Đông, mà mổi mỗi đều dùng để chống lại chính nhân dân trong nước, triệt phá sức đề kháng của quần chúng để dễ bề cai trị. Cái gọi là „Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà“ tại miền Bắc, được giật dây, hà hơi tiếp sức trực tiếp của nước Nga Xô-viết và Tầu cộng đang gồng mình chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lăng tiến về phía Nam. Sự tàn bạo của của chế độ ngụy quyền cộng sản tại Bắc Việt Nam được che đậy bằng những cụm từ tanh mùi máu như „chuyên chính vô sản“, cách mạng xã hội chủ nghiã v.v. và v.v. đã được các tác giả tên tuổi của Việt Nam và thế giới tự do lật tẩy qua vô số các tác phẩm đã được công bố ngay từ những ngày đầu chế độ này manh nha hình thành.

VÀO ĐỀ:

7. Vào thời điểm này tại miền Bắc thì tất cả hoạt động tôn giáo của nhân dân đều bị bộ máy tuyên truyền CS tùy tiện kết án là „thuốc phiện của nhân dân“, „lạc hậu“, „mê tín dị đoan“, „phản động“ cho đến „phản cách mạng“ hoặc „gián điệp của các thế lực phương tây thù địch“ , tùy theo nhu cầu đàn áp của đảng, và nhất định phải bị „bạo lực chuyên chính vô sản“ tiêu diệt bài trừ. Bức tranh vẽ bôi của Hồ về một „nhà nước cộng sản“ tại miền Bắc Việt Nam trên thực tế còn đang ở thời kỳ hậu quân chủ, với nền sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu thô sơ và đa phần dân chúng là nông dân. Nhưng vì phải rập khuôn theo mô thức từ nước Nga và Tầu cộng sản nên đặc biệt từ những năm, khi đảng CS đã đặt được ách cai trị toàn phần đối với dân chúng miền Bắc qua bộ máy quốc hội bù nhìn, thì đảng CS cũng cho dựng lên các giáo hôi giả hiệu như „Giáo hội Phật giáo“, „Giáo hội Thiên Chúa giáo“, nhưng chỉ là những hội như „hội phụ nữ“, „hội nông dân“… cùng vô số các hội tương tự, dưới sự lãnh đạo của đảng, thừa hành bởi „Mặt trận Tổ quốc“. Đảng cộng sản có một rừng biển hiệu chỉ để treo cho có như thế. Cùng chung một số phận như thế, các đảng như „đảng dân chủ“, „đảng xã hội“ đều bị các bộ tay sai của Hồ thâm nhập, đục khoét từ bên trong, tiến tới chỉ còn là những biển hiệu, những công cụ tay sai của đảng cộng sản. Một thực tại lịch sử là phần đông dân số Việt Nam theo đạo Phật, hoặc có những nền tảng tâm linh và thế giới quan khoan dung đủ tầm quảng đại để đồng hành với giáo lý Phật giáo. Thực tại này cũng chính là một yếu tố mà đối với chế độ độc tài ngụy quyền cộng sản không thể nào coi nhẹ, hơn thế nữa các đạo giáo có măt tại Việt Nam đặc biệt là đạo Phật nói chung thực sự là một cơ hội béo bở, và nhất thiết phải chịu sự khiển dụng của đảng như một trong những công cụ đa năng khác cho các mục tiêu của đảng cộng sản. Mưu mô hoạch định cho sự thành hình của cái gọi là „Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất“ cùng những „Gia đình Phật tử Việt Nam“ tại miền Nam đầu những năm 1960 đã được toan tính từ lâu trước đó bởi „Bộ Chính trị“ CS tại…miền Bắc. Cũng vào thời gian này thì kế hoạch và guồng máy xâm lăng miền Nam của Hồ từ Hà nội đang hoạt động hết tốc độ. Để chuẩn bị cho cuộc thâm nhập trên „mặt trận tôn giáo“, có một số rất đông các cán bộ đảng cộng sản được tuyển chọn huấn luyện và đào tạo ngắn hạn về Phật giáo tại miền Bắc, chưa kể những số cán bộ nằm vùng trong Nam và số cơ hội bị lừa vào tròng. Tất cả những cán bộ đã được cộng sản tẩy não này đều có chung một định hướng là dùng vỏ bọc tôn giáo này để phá hoại và làm sao qua đó gây tạo cho được sư phản loạn, bất ổn định với sức ảnh hưởng chính trị càng lớn càng tốt trong quần chúng và các đô thị miền Nam. Để cuối cùng thì cái gọi là „GHPGVNTN“ đã được giật dây để thành hình, cùng vô số các tổ chức tay chân trực thuộc của nó như „Gia đình Phật tử Việt Nam“. Nhưng như mục tiêu thâm độc của đảng CS, là những kẻ giật dây khuynh đảo và điều khiển tổ chức này muốn đạt đến vào thời điểm đó là tạo vỏ bọc để tuyên truyền ngụy trang và nhân danh nhân dân miền Nam, hậu thuẫn cho quân đội cộng sản cùng một lúc xâm lăng miền Nam. Và đến tận ngày hôm nay GHPGVNTN vẫn còn được dùng để làm cò mồi tuyên truyền cho các mục tiêu chính trị của đảng csvn.

8. Để thực hiện mục tiêu này tên đảng viên CS đội lốt Phật giáoThích Trí Quang đã hoạt động phá hoại một cách điên cuồng, khích động, khuynh đảo, giật giây một bộ phận lớn quần chúng và Phật tử miền Nam, tổ chức các cuộc biểu tình phản loạn, xuống đường và „tự thiêu“ v.v. nhằm phá hoại tạo bất ổn định cho chính quyền miền Nam. Hậu quả là dẫn đến cuộc đảo chính phản tặc chống lại chính phủ VNCH, Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đương nhiệm Ngô Đình Diệm cùng bào đệ của ông đã bị sát hại trong cuộc đảo chính phản tặc này. Phần chi tiết sẽ được đề cập ở các phần sau trong bài.

9. Thích Trí Quang, tức Phạm Văn Bồng, sinh tại làng Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam. Theo tài liệu tình báo của Pháp (sau này là „Phòng Nhì“) thì hắn đã gia nhập và là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1949. Lễ gia nhập đảng được tổ chức tại mật khu Lương Miêu, Dương Hoà. kết nạp bởi Tố Hữu, tức Tôn Thất Lành, một trong những tên cán bộ cao cấp của đảng CS Vìệt Nam. Cả CIA cũng như tình báo VNCH đều nắm rõ về vụ việc này.

Để có một tầm nhìn bao quát và cụ thể hơn về những cán bộ Việt gian cộng sản giả danh Phật giáo núp áo nhà sư như Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh cùng đồng bọn và cái gọi là „GHPGVNTN“ thì tài liệu sau đây của CIA đặc biệt hữu ích:
Nguyên văn tiếng Anh:
Situation Appraisal of Buddhism as a Political Force During Current Election Period Extending through September 1967 - May 4, 1967.

- http://www.virtualarchiv...hqpdNGdA/04109128007.pdf
Language: English; Document Pages: 13; Date: 04 May 1967; Collection: Central Intelligence Agency Collection; Media Type: Document (.pdf); Full Text: Full Text is available for this item. Return to the Virtual Vietnam Archive and search for Item Number: 04109128007. Go to the More Information section and change to the Full Text view.; View Item: Situation Appraisal of Buddhism as a Political Force During Current Election Period Extending through September 1967, 04 May 1967, Folder 128, Box 09, Central Intelligence Agency Collection, The Vietnam Center and Archive, Texas Tech University. Accessed 21 Aug. 2012.

- http://www.vietnam.ttu.e...ems.php?item=04109128007

Và bản dịch tiếng Việt hiện đang được đăng tải tại đây:…
10. Giật dây hậu trường cuộc đảo chính này lại chính là đồng minh Hoa kỳ qua bàn tay của CIA, muốn lợi dụng cuộc đảo chính cho mục đích của Mỹ lúc đó. Vào thời điểm này phiá Mỹ muốn trực tiếp can thiệp vào chiến tranh Việt Nam chứ không phải chỉ là gián tiếp cung cấp vũ khí và cố vấn quân sự. Một cuộc đảo chính triệt hạ quyền lực của chính phủ và tổng thống Ngô Đình Diệm thay thế bằng một chính quyền khác dễ bảo hơn, hợp với sự „quan tâm“ của chính quyền Hoa Kỳ lúc đó. Sau khi cuộc đảo chính lật đổ chính phủ đệ nhất Cộng Hoà có sự tiếp tay của CIA đã thành toại, tên cộng sản Thích Trí Quang vẫn tiếp tục sách lược của đảng CS giao phó. Hắn vẫn tiếp tục khích động đồng bào và phật tử miền Nam xuống đường phản đối gây phản loạn tiếp tục chống chính quyền mới và cực lực chống luôn cả người Mỹ. Lần này chính quyền đệ nhị VNCH và CIA đã cô lập bắt gọn Thích Trí Quang, nhưng do „ảnh hưởng“ của hắn với lũ nằm vùng trong chính quyền VNCH hắn lại được tại ngoại và tiếp tục hoạt động có lợi cho cộng sản. Xin nói thêm là loại trừ một trường hợp ngoại lệ duy nhất là Thích Trí Quang đã bị đại tá Nguyễn Ngọc Loan bắt nhốt và cô lập sau khi không còn một tướng lĩnh VNCH nào trước đó giám đối đầu với tên việt gian CS này. Đại tá Nguyễn Ngọc Loan sau này đã được phong tướng. (Phần chi tiết xin xem „Biến Động Miền Trung“ của tác giả Liên Thành, Thiếu tá cựu Trưởng ty Cảnh sát đặc biệt Thừa Thiên - Huế, xuất bản năm 2010 - USA).

Vụ hỏa thiêu hành quyết Thích Quảng Đức
http://www.youtube.com/w...;feature=player_embedded

11. Một trong những đỉnh điểm tội ác cuộc phản loạn này là vụ hành quyết thiêu sống Thích Quảng Đức, đã được giàn dựng để tuyên truyền là „ Thích Quảng Đức tự thiêu chống lại đàn áp Phật giáo“. Sự thực là vụ này cũng như đa phần các vụ hỏa thiêu bức tử khác đã được các tên cộng sản trá hình Phật giáo chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Ban đầu Thích Quảng Đức được tẩy não là hắn sắp thực thi một „sứ mạng quan trọng“, nhiều trợ lý đệ tử có chuyên môn y khoa đã thường xuyên dùng các loại thuốc mê chuyên dụng biến cơ thể Thích Quảng Đức trở nên đờ đẫn, thần kinh bị ức chế vô cảm. Để đến khi liều thuốc mê đặc dụng cuối cùng tiêm vào cơ thể Thích Quảng Đức một cách lành nghề trước khi bị tên nguyễn Công Hoan và đồng bọn chở và dìu vực ra nơi hành hình, thì Thích Quảng Đức bấy giờ chỉ còn là một thân xác vô cảm với hệ thần kinh đã tê liệt. Rồi chính Nguyễn Công Hoan đã dùng ít nhất là 10 Lit xăng đỗ ngập lên đầu và người Thích Quảng Đức, xăng chẩy thành vũng đọng quanh chỗ ngồi của kẻ bị hành quyết, và cũng chính Thích Công Hoan dùng một bật lửa Zippo châm lửa từ xa, cái xác vô cảm đẫm đầy xăng bắt lửa cháy ngay lập tức… Và tất nhiên, một số đông các cán bộ cộng sản trá hình „tăng ni“ và cả „cảnh sát“ đã được chuẩn bị trước để dàn hàng quây vòng xung quanh nơi hành hình, để quyết thiêu cho bằng được Quảng Đức mà không bị cản trở. Quan trọng hơn cả là một vài „nhà báo quốc tế“ đã đựợc chuẩn bị trước cho cuộc hành hình này cũng được giàn xếp ngay nơi hiện trường, tức là có thể chụp hình kẻ bị thiêu và „được phép“ ghi lại hình ảnh cảnh hành quyết một cách rõ nét nhất. Với mục đích là ngay sau đó những hình ảnh sắc nét nhất thế giới này sẽ qua tay giới truyền thông tới Mỹ và phương Tây, phục vụ cho mục đích tuyên truyền của đảng cộng sản hòng lừa đảo dư luận cả thế giới. Kẻ bị hành quyết hỏa thiêu chết cháy như than tại chỗ. Nguyễn Công Hoan hiện nay (năm 2012) đang ẩn náu trong một cơ sở của Thích Nhất Hạnh tại Mỹ.

12. Đảng cộng sản Việt nam, „Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất - Ấn Quang“ và tất nhiên là cả Thích Nhất Hạnh cho đến tận ngày hôm nay vẫn đang tìm mọi cách bôi xóa và chối bỏ tội ác là: chính chúng đã giàn dựng và thực thi vụ hành quyết hỏa thiêu đặc biệt giã man này. Hơn thế nữa, ngay từ đầu chúng đã giàn dựng ra hàng loạt những chuyện ly kỳ nhất để loan đồn những chuyện hoang tưởng đạo đức giả nhân danh đạo Phật và giáo lý Phật giáo, hòng che mắt và đánh lừa dư luận cả thế giới. Nào là „Bồ Tát tự thiêu“, lửa từ bi „Thánh Tử Đạo“.v.v.

13. Các vụ „Phật giáo tranh đấu“, biểu tình phản loạn triền miên, rồi vụ hành quyết hỏa thiêu Thích Quảng Đức ngày 11.06.1963, chỉ là những thủ thuật dùng để gây rối đổ thêm dầu vào lửa, nhằm tạo thêm chất nổ cho đỉnh điểm của nó là vụ các tướng lĩnh phản tặc được sự giật dây mua chuộc trực tiếp của CIA, được thực thi bởi „đội quân thứ ba“ của đảng tức „Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam“ trong đó có giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất“, lật đổ Chính thể Đệ nhất VNCH và sát hại tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 02.11.1963. Tất cả chỉ là diễn tiến một phần của một âm mưu đã được hoạch định trước. Hoa Kỳ đã tìm mọi cách để lật đổ chính thể Đệ Nhất Cộng Hòa để có thể qua đó có toàn quyền quyết định thao túng trực tiếp vào „công cuộc chống cộng sản“ tại miền Nam.

14. Tất cả nhũng vụ phật giáo phản loạn cũng như tin tức chiến sự tại miền Nam vào thời điểm này và cũng gần như xuốt thời gian cuộc chiến Việt Nam, đều được giới báo chí, truyền thông bình luận chiến sự và dân sự VNCH, đồng minh phương Tây và cả khối cộng sản loan tải. Tuyên truyền theo kiểu tẩy não một chiều của khối cộng sản đông Âu và Bắc-Việt thì đã là lẽ hiển nhiên dễ hiểu. Nhưng rõ ràng là đã có một sự che chắn, thông tin một chiều có chủ ý, được định hướng bởi Hoa Kỳ. Hậu quả là tại phương Tây, đặc biệt là tại Mỹ, những bản tin về tình hình chiến sự tại Việt Nam đã bị bóp méo một cách nghiêm trọng. Thật mỉa mai vô cùng là nội dung các bản tin chiến sự đã được loan tải này lại hoàn toàn có chiều hướng làm lợi cho quân đội lê dương cộng sản của Hồ, một tập đoàn đánh thuê của Bắc Kinh và Moskau.

15. Một trường hợp cụ thể là, vì cái chiêu bài giả danh đội lốt Phật giáo do „GHPGVNTN khối Ấn Quang“, Nhất Hạnh, Võ Văn Ái và khối thiên tả làm rùm beng, giật dây khích động phản loạn rồi tung tin tuyên truyền, bôi nhọ xuyên tạc rằng „chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo“, do vậy Chính phủ VNCH đã chủ động trực tiếp mời một phái đoàn quan sát của Hội đồng liên hiệp quốc tới Việt Nam Cộng Hòa để điều tra làm rõ vụ việc. Mặc dù với sự giúp đỡ tận tình của Chính Phủ VNCH trong điểu kiện thực tế, phái đoàn điều tra đã chỉ có thể đưa ra một kết luận trung thực là dưới chính quyền của thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyệt nhiên không hề có sự đàn áp tôn giáo. Những luận điệu cáo buộc bôi nhọ chính quyền VNCH đã được loan đi bởi các phương tiện truyền thông và báo chí đa phần là thân cộng sản tại phương Tây đã bị phái đoàn điều tra vạch mặt là những luận điệu tuyên truyền vu khống thâm độc ác ý. Một bản điều trần về những gì mắt thấy tai nghe tại Việt Nam CH nói lên sự thật trên đã được phái đoàn chuẩn bị hoàn tất để điều trần trước dư luận thế giới trong phiên họp ấn định của hội đồng LHQ. Nhưng cũng vào giờ phút trót bản điều trần đã bị chính những nhân vật cấp cao của Nhà Trắng „điều đình“ và cản trở một cách bí mật, để hậu quả là bản điều trần đó đã bị giấu nhẹm đi và đã không được chính thức công bố.

16. Cho đến tận ngày hôm nay năm 2012, trên các phương tiện truyền thông chính thức, và cả trong các sách giáo khoa của các trường đại học tại Mỹ vẫn còn đầy rẫy những tin một chiều hoàn toàn sai lệch dường như có chủ ý về sự thật chiến tranh Việt Nam, tung hô có lợi cho đảng CS…Tầu, và Việt Nam. Mặc dù hàng loạt những tài liệu của Lầu Năm Góc về các sự thật trong bí ẩn chiến tranh Việt Nam đã được giải mật và công bố. Mặc cho sự ra đời của bộ „Sách hồ sơ đen về chủ nghĩa Cộng sản“ đã trở nên nổi tiếng. Mặc cho sự ra đời của hàng loạt các phẩm, tác giả đã công bố, đã bạch hóa sự thật về thực chất của cuộc chiến tranh Việt Nam của chính các tác giả phương Tây đã trở nên nổi tiếng. Cụ thể nhất là trong năm 2006, chính Đại Hội đồng Quốc Hội Châu Âu (PACE) đã ra quyết nghị số 1486 về việc đặc biệt cần thiết phải truy tố tội ác các đảng cộng sản và chủ nghĩa cộng sản ra trước tòa án quốc tế về tội ác dã man chống nhân loại của chúng.

17. Vụ sát hại tổng thống Ngô Đình Diệm có sự bật đèn xanh từ Pentagon (Lầu Năm Góc) của Mỹ xét về thực chất cũng là một thứ lệnh bức tử Chính thể nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam. Mặc dù trong hoàn cảnh thời chiến nhưng dưới Chính thể Ngô Đình Diệm, Việt Nam Cộng Hòa đã đạt được một sự phát triển đáng nể phục. Với một nền kinh tế thị trường tự do, được bảo đảm bằng một nền hiến pháp nhân bản và tôn trọng dân chủ thực sự. Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng là vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được nhân dân bầu cử một cách hợp hiến pháp. Nhưng không còn gì mỉa mai và ngang trái hơn là chính H. Kissinger và tên „trưởng đoàn ngoại giao“ của Hồ là Lê ĐứcThọ sau hiệp định Paris 1973 về Việt Nam đã được xưng tụng để cùng nhận giải Nobel „hòa bình“. Với hiệp định Paris, về thực chất đã hợp thức hóa và che đậy sự rút lui của đội Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam một cách „danh dự“. Nhưng trên thực tế trần trụi là những tay điều hành guồng máy chiến tranh tại Nhà Trắng đã phản bội, bán rẻ VNCH và 17 triệu nhân dân miền Nam cho bàn tay đẫm máu của đội quân xâm lăng miền Bắc, tay sai của đế quốc thực dân đỏ. Thọ đã „từ chối“ nhận lãnh giải thưởng dành cho hắn, vì guồng máy bắn giết của của hắn, một bộ phận tay sai của đế quốc đỏ vẫn không hề ngừng chuyển động cho tới ngày 30. 04.1975, khi xích xe tăng Nga được quân đội của Hồ mang tới giày xéo khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Hàng triệu triệu người miền Nam được biết thế nào là tắm máu kiểu đế quốc đỏ, đều tìm cách trốn chạy thoát khỏi thần chết đỏ bằng tất cả mọi cách, mọi con đường có thể có, kể cả là phải bỏ mình trên muôn trùng sóng gió đại dương mong tìm đường vượt thoát tới bến bờ tự do. Người Mỹ cũng chạy thoát thân như thế. Sự kinh hoàng khủng khiếp không bút nào tả xiết, đã vượt mọi ranh giới có thể tưởng tượng. Và cả thế giới đã ngậm ngùi nhưng câm lặng chứng kiến cảnh tượng thê lương hãi hùng kia. Chỉ 3 năm sau, cũng những vệt xích xích xe tăng Nga này lại tràn ngập đất nước Campuchia.

18. Trở lại năm 1964, GHPGVNTN được thành lập và tự nó đã là một thứ vỏ bọc lý tưởng, đủ rộng để đảng CS có thể tùy khiển dụng giật dây nó theo nhu cầu từng giai đoạn. Các miền, hệ phái và truyền thống Phật giáo khác cũng đã từng được quy tụ quanh GHPGVNTN vào thời điểm thành lập. Nhưng đã sớm nhận ra sự giàn dựng, thâm nhập của các cán bộ cộng sản và cả lũ nằm vùng (trá hình „khối Phật giáo Ấn Quang“) để hoạt động cho cộng sản, nên đều tỏ ra thất vọng và xa lánh. Thượng tọa Thích Tâm Châu là một điển hình, vì đã tỏ thái độ không muốn bị mãi lôi kéo mãi vào vòng „tranh đấu“, phản loạn, nên đã bị các tên CS núp áo nhà sư, trâng tráo dùng bạo lực đe dọa sát hại, cưỡng bức phải rời khỏi trọng trách lãnh đạo tâm linh của mình. Lãnh đạo tinh thần của các hệ phái khác cũng dần xa lánh cái „tinh thần Phật giáo tranh đấu“ giả hiệu này. GHPGVNTN do vậy đã bị đảng CS „rút hết ruột“, còn lại cái xác, dùng làm biển treo, như môt công cụ tay sai trá hình để tiếp tục nhân danh đại đa số quần chúng Phật giáo xuống đường đấu tranh cho các mục tiêu của đảng CS.

19. Một trong những tội ác tiêu biểu đẫm máu nhất của GHPGVNTN là vụ thảm sát dân thường Huế vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Cộng sản gọi là „tổng tiến công nổi dậy“. Trong 26 ngày quân đội cộng sản Bắc-Việt đã tạm thời cưỡng chiếm thành phố Huế. Trong thời gian này có ít nhất 5327 người đã bị sát hại dã man, 1200 người bị bắt đi mất tích. Những cán bộ cộng sản trá hình Phật giáo nằm vùng, biệt danh là „đội quân thứ 3“ của đảng cộng sản Việt Nam, là những thủ phạm chính thực thi tội ác trong vụ thảm sát dân thường đặc biệt man rợ này. (Phần chi tiết xin xem „Biến Động Miền Trung“ của tác giả Liên Thành, Thiếu tá cựu Trưởng ty Cảnh sát đặc biệt Thừa Thiên - Huế, xuất bản năm 2010 - USA).

Khai màn cho cuộc tắm máu này là tiếng súng khai hỏa bởi quân đội CS Bắc-Việt nổ đúng vào đêm giao thừa tấn công thành nội Huế, lật lọng bất ngờ phá tan quy ước đình chiến ba ngày Tết giữa hai miền Nam-Bắc. Lính cộng sản quần đùi áo đen đột ngột xuất hiện, cùng hàng loạt các cán bộ cộng sản nằm vùng xuất đầu lộ diện, đồng loạt ra mặt công khai, đi từng nhà từng nhà lùng bắt, thẳng tay bắn giết dân thường Huế một cách dã man vô tội vạ. Lá cờ ba mảnh, xanh-đỏ-xanh, 1 sao vàng ( không phải xanh, đỏ, 1 sao vàng) của lũ CS nằm vùng, trá hình „Lực lượng Liên minh dân tộc dân chủ hòa bình“ do những tên Thích Đôn Hậu, Lê Văn Hảo làm chủ tịch được cắm trên kỳ đài Thành Nội Huế trong xuốt thời gian quân cộng sản tạm cưỡng chiếm thành phố. 10 ngàn quân cộng sản trong cuộc „tổng tiến công nổi dậy“ đã núp bóng dưới lá cờ giả hiệu của Thích Đôn Hậu để bắn giết. Hàng loạt các „ủy ban quân quản, tự vệ khu phố“, các „toàn án nhân dân“, „chính quyền cách mạng“…, do những tên giáo sư, sinh viên và đủ loại tầng lớp nằm vùng cho CS được đồng loạt dựng lên chớp nhoáng trên đường phố. Và các màn xử tử hình bắn giết trả thù vô cùng dã man oan nghiệt diễn ra ngay tại chỗ, khắp nơi trong thành phố Huế. Các tên như Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, Thích Chánh Trực, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân và Lê Thị Đoan Trinh…, là một trong những tên tội phạm, sát thủ khét tiếng của cộng sản trong vụ thảm sát này. Dân chúng Huế đã phải bỏ chạy trong kinh hoàng, tuyệt vọng đau thương. Hàng ngàn dân thường trong đó có cả trẻ em, người già và phụ nữ bị bắt trói từng đoàn từng nhóm bằng giây điện thoại và bị cưỡng bức giải đi ra các miền ven đô hoang vắng của Huế. Nơi đó họ đã bị các toán cán bộ cộng sản hành quyết tập thể một cách đặc biệt dã man mọi rợ.

Để „tiết kiệm đạn“, phần đông trong số họ đã bị giết chết bằng các vật dụng thô sơ như cuốc xẻng, mà trước đó họ đã phải dùng để đào huyệt cho chính mình. Hàng loạt đạn bắn vào những loạt người đứng trước, họ đã ngã xuống trong tiếng gào rú rùng rợn cùng cực thê thảm của hàng loạt những người khác cùng bị trói phải ngã theo xuống huyệt, để cùng bị vùi lấp, bị chôn sống và chết thảm. Cảnh tượng thật rùng rợn thê lương, ngẹn nghào không bút mực nào tả xiết. Theo thống kê của cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa năm 1968 tại Huế thì đã có ít nhất 5365 thường dân Huế bị sát hại dã man bằng những hình thức thảm sát tập thể này. Trong đó có 3 giáo sư bác sỹ y khoa người Đức được chính phủ Tây Đức gửi đến trường đại học Y khoa Huế giảng dậy trong khuôn khổ giao tế dân sự và nhân đạo. Các giáo sư trên cũng đã bị sát hại bằng những phát súng bắn trực tiếp vào đầu sau khi họ bị cưỡng bức phải đào huyệt cho chính mình. Nơi họ bị cộng sản hành quyết chính là sân sau của chùa Tường Vân, một trong những trụ sở dã chiến của những cán bộ CS trá hình Phật giáo. Sau đây là tên các giáo sư bác sỹ bị sát hại: Prof. Dr. Reimund Discher, Prof. Dr. Slois Alterkoster, Prof. Dr. Hort Günther Kranick và người vợ của ông.

20. Sau 26 ngày chiếm đóng Huế, quân đội cộng sản bị thủy quân lục chiến Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng Hòa đẩy lui, Huế còn lại là một thành phố hoang tàn xơ xác, rùng rợn thê lương. Huế hoang tàn đổ nát, và khắp nơi tràn đầy tử khí ghê rợn. Trong các nhà thờ, chùa… máu còn lênh láng, người ta dìu kéo nhau đi tìm các hố chôn tập thể, Bãi Dâu, Khe Đá Mài…, mỗi lần một hố chôn tập thể được tìm thấy là mổi lần lại có thêm hàng trăm hàng, ngàn người người dân Huế khác phải nghẹn ngào xé nát con tim, vĩnh viễn quấn lên đầu vòng tang trắng oan nghiệt, Huế giờ đã tràn ngập mầu tang.

21. Đằng sau mưu đồ hiếu chiến của cuộc tấn công chiếm đóng và thảm sát dân Huế man rợ của cộng sản Hà nội là chúng toan tính muốn một lần chớp nhoáng chiếm gọn Huế. Những tính toán của những kẻ hoạch đinh chủ mưu cho rằng „dân chúng Huế sẽ ủng hộ và đứng về phía bộ đội cộng sản“, đã vỡ tan tành, mổi mỗi mảnh vỡ lộ rõ những tham vọng sặc mùi…Việt-gian cộng- sản. Vì trên thực tế người dân Huế đã chạy trốn quân cộng sản để thoát thân, kinh hoàng còn hơn chạy trốn thần chết. Những tên cộng sản gỉa danh trá hình Phật giáo núp áo tu hành cùng lũ tay sai bội phản nằm vùng hoạt động cho cộng sản đã bị lộ tẩy. Để giữ cho bộ mặt những tên CS trá hình Phật giáo cùng đồng bọn và lũ tay sai sát thủ này không bao giờ bị lôi ra ánh sáng, và để trả thù cho việc dân Huế phản kháng cs, những kẻ chủ mưu là bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam qua tay lũ cán bộ CS trá hình Phật giáo đã ra lệnh thảm sát đồng bào Huế. Kế hoạch dùng sự nội ứng của „đội quân thứ ba“ đánh và chiếm Huế một cách chớp nhoáng đã không thành hiện thực. Quân đội CS và các tên CS trá hình đã bị lật tẩy, lần lượt tìm cách tẩu thoát lên các căn cứ địa mật khu của cộng sản.

22. Huế không phải là nơi duy nhất chịu thảm nạn trong cuộc „tổng tiến công nổi dậy“ vào dịp Tết Mậu Thân 1968 bởi tay của lũ CS trá hình Phật giáo này. Nhưng cuộc đánh lấn để chiếm Huế của CS là một trận khởi điểm có tầm mức đặc biệt quan trọng trong mưu mô của CS, vì Huế nằm sát với biên giới Bắc Việt cộng sản. Kinh thành Huế có vị trí đặc biệt quan trọng, đặc biệt là Huế đã nằm trong kế hoạch của CS, là sau khi chiếm được, Huế sẽ được dùng làm „thủ đô“ của cái gọi là „Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam“, hợp thức hóa con bài công cụ tay sai cò mồi của cộng sản miền Bắc trong công cuộc xâm lấn từng bước toàn bộ lãnh thổ VNCH. Cái „mặt trận“ trá hình này đã được cộng sản Bắc Việt dùng như một bình phong, công cụ trá hình để đánh lạc hướng dư luận thế giới, che giấu sự tham chiến phi pháp của quân đội cộng sản Bắc Việt trong cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. Nên trong dịp Tết Mậu Thân, đồng bào Huế đã bị cộng sản thảm sát oan nghiệt nặng nền nhất so với các thành phố đô thị miền Nam khác cũng bị tấn công trong dịp này.

23. Tại California USA, trong năm 2010, một „Ủy ban truy tố tội ác đảng cộng sản Việt nam“ http://ubtttadcsvn.blogspot.com đã được thành lập do các cựu quân nhân sỹ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa và các cựu tù nhân chính trị tỵ nạn chế độ Việt gian cộng sản khởi xướng. Thu thập dữ liệu khởi tố liên quan tới vụ cộng sản thảm sát đồng bào Huế vào dịp Tết Mậu Thân1968.
Địa chỉ hộp thư của Ủy ban: P.O.BOX 6147. FULLERTON, CA. 92843, USA; Tel.: 001. 626 257 1057; E-Mail: huemauthan1968@gmail.com
Địa chỉ tổ hợp luật sư thụ lý hồ sơ khởi tố: Tổ hợp luật sư quốc tế: OKT – OLTHUIS KLEER TOWSHED. LLP; 229 College Street, 3 Floor; Toronto, Ontario M5t 1r4; Nữ luật sư: N. Kate Kempton. Tel.: 001. (416) 981-937. E-Mail: kkempton@ktlaw.com
Chủ tịch Ủy ban là ông Nguyễn Phúc Liên Thành, thiếu tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cựu trưởng ty cảnh sát đặc biệt tỉnh Thừa Thiên-Huế. Mục tiêu tiên khởi của ủy ban nhằm thu thập các lời khai nhân chứng, số và tư liệu nạn nhân, tất cả những dữ liệu về những kẻ chủ mưu ra lệnh, chủ phạm, tòng phạm, sát thủ trực tiếp và liên đới v.v., khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là đảng cộng sản Việt Nam và các tên cán bộ cộng sản và tay sai trá hình Phật giáo, nhằm truy tố tội ác của chúng ra tòa án quốc tế tại Den Haag. Uỷ ban này mong có được sự hợp tác giúp đỡ, cung cấp các tư liệu, lời kể, hồi ký ức của các nhân chứng còn sống xót, những người thân của nạn nhân có liên quan. Ví dụ như những thân nhân của các bác sỹ người Đức đã bị sát hại, nên viết lại những hồi ức, hoặc kỷ niệm, hoặc đã từng chứng kiến v.v.
Đến nay ông Liên Thành đã hoàn thành và cho xuất bản hai tác phẩm và ít nhất là một trang blog liên quan đến đến vụ Thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968. Quyển thứ nhất là: Biến động miền Trung”, xuất bản năm 2010, quyển thứ hai, xuất bản năm 2012, có tựa đề: ” Huế - Thảm sát Mậu Thân 1968 – Tội ác đảng cộng sản Việt Nam”. Trong 2 cuốn sách kể trên, vì là một chứng nhân đương thời, hơn nữa, trong một cương vị đặc biệt của ngành cảnh sát đặc biệt có liên quan trực tiếp tới biến cố trên, nên tác giả đã mô tả sống động, chân thực và đưa ra các chứng cớ có giá trị lịch sử đặc biệt khả tín. Tác giả đã mô tả và chứng minh mạch lạc, chi tiết diễn tiến của vụ việc, gần như từng ngày, về các cán bộ cộng sản và tay sai núp trong các vỏ bọc ngụy trang trá hình Phật giáo như “GHPGVNTN”, hoặc “Lực lượng liên minh dân tộc dân chủ hòa bình”…đã trực tiếp nhúng tay vào tội ác thảm sát dân Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968 như thế nào.

24. Những tên cộng sản trá hình Phật giáo như Thích Nhất Hạnh, Thích Quảng Độ…và GHPGVNTN trên khắp thế giới, trong đó có GHPGVNTN của Thích Như Điển tại Đức đang cuống cuồng lo sợ trước sự hiện diện của hai quyển sách trên và công việc của UBTTTADCSVN. GHPGVNTN khắp nơi trên thế giới đặc biệt là tại Mỹ, các tay chân của Giáo hội như “gia đình Phật tử Việt Nam”, các loại “lực lượng” như cái gọi là “lực lượng cư sỹ chấn hưng Phật giáo”… được lệnh của GHPGVNTN tung ra dùng mọi cách để xuyên tạc, cản trở công việc của ủy ban TTTADCSVN và những cá nhân hội đoàn nói lên sự thật. Các thủ đoạn đã được tập đoàn cs trá hình “giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” này dùng đến để bôi xóa tội ác thật bẩn thỉu. Từ vu khống đến đe dọa sát hại tính mạng. Mới đây nhất, chính ông chủ tịch ủy ban đã thoát hiểm trong muôn một bởi những phát súng ám sát hụt của những kẻ thuộc hạ trên. Nội vụ đang được giới chức an ninh Mỹ điều tra.

25. Cái gọi là “GHPGVNTN” như trên đã dẫn, đã được đảng cs giật dây lèo lái từ những năm 1964, nhưng những mưu đồ thủ đoạn ma mãnh khiển dụng các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo để trá hình và làm vỏ bọc ngụy trang cho đảng cs đã được tên Hồ Chí Minh khởi xướng rồi hoạch định thành đường lối của đảng cs Việt Nam từ những năm 1940. Thực chất của những thủ đoạn này là tìm mọi cách để từng bước một, cướp hoặc lợi dụng các tổ chức, hội đoàn rồi trá hình tổ chức đó dùng cho những mục đích riêng càng ngày càng thâm độc hơn. Để thực thi mưu đồ đó, các cán bộ cs và các cư sỹ tay sai ban đầu phải trá hình thụ động để „thâm nhập thực tế“, sau này khi đã „say mùi hương khói“ và được đảng cs đào tạo nhiều hơn về Phật giáo, chúng có thể tùy tiện xuyên tạc Giáo lý và Kinh điển Phật giáo một cách xuẩn động tinh vi cho những mục tiêu định trước. Hàng loạt các „hội“, các „đoàn thể Phật giáo“ được các cán bộ cs đoàn ngũ hóa rồi phù phép cho thành hình để rồi lại biến mất một cách nhanh chóng, tùy ẩn hiện như những „nghị quyết“ của đảng cs. Tiền thân là những hội thanh thiếu nhi sinh viên và các loại tầng lớp „Phật giáo cứu quốc“, „Gia đình Phật tử Việt Nam“, sau này là những „Lực lượng Phật giáo tranh thủ cách mạng“, rồi „chiến đoàn Phật tử Trần Đại Thức“ có trang bị vũ khí v.v. Các thanh thiếu niên được đoàn ngũ hóa, tẩy não và huấn luyện để trở thành những „Thanh niên Phật tử„ có thể „sẵn sàng tranh đấu“, làm hậu thuẫn cho những mục đích quân sự. Để có thể đoàn ngũ hóa khối quần chúng Phật giáo rồi giật dây theo ý của đảng cs, các cán bộ cs nằm vùng đã tìm mọi cách chia rẽ ly gián, không chừa bạo lực, khủng bố để cô lập các vị chân tu với khối quần chúng, và cuối cùng là triệt hạ những vị này gần như phải xa lìa hẳn môi trường thực hành tôn giáo tâm linh truyền thống. Để cuối cùng, các chùa tự chỉ còn lại là nơi ẩn náu của các cán bộ cs trá hình Phật giáo. Bây giờ là thời điểm để một số nhất định các cán bộ được đảng cs khoác cho những bình phong trá hình thảm thương như „Phật giáo bị đàn áp“ để đánh lừa dư luận. Đồng thời để tạo ra một màn kịch trá hình là „tại Việt Nam tôn giáo bị đàn áp“, để qua đó các cán bộ trá hình Phật giáo của đảng cs tại nước ngoài như Thích Nhất Hạnh, Võ Văn Ái, trong nước như Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thich Huyền Quang, Thích Quảng Độ có thể che giấu kỹ hơn bộ mặt đểu gỉa của chúng trong chiêu bài „Pháp nạn“, „đấu tranh cho hòa bình tự do, chống đàn áp tôn giáo“… Cùng lúc này, theo như hệ thống tuyên truyền của đảng cs thì tại Bắc-Việt Nam cũng như tất cả các nước cộng sản xhcn khác „tự do tôn giáo“ tràn trề, cũng như tất cả mọi thứ khác đều „không thể tốt đẹp hơn được nữa“. Đảng cs tin rằng thế giới bên ngoài, đặc biệt là phương Tây hết còn có thể nhìn thấu các ngón nghề thủ đoạn ma mãnh của chúng. Cái gọi là „GHPGVNTN“ đã bị rút hết ruột này, mặc dù đã nhất cử nhất động đều theo nhịp gậy chỉ huy của đảng, mà đối với đảng csvn, „giáo hội“ vẫn chẳng đáng để tin tưởng hoàn toàn, nên „GHPGVNTN“ phải là một hội viên của „Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam“ và chịu sự „chỉ đạo“ trực tiếp của „bộ chính trị„ đảng csvn.

26. Trong mưu đồ xâm lăng của cs Bắc-Việt vào miền nam, GHPGVNTN đã là một công cụ đắc lực để thừa hành thực thi tội ác của đảng csvn. Một trong những tội ác tầy trời như trên đã dẫn, là vụ thảm sát đồng bào Huế vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Sau khi quân cs nhận định tình hình chiến sự tại chỗ cho thấy đã chúng đã vỡ mộng chiếm Huế một cách chớp nhoáng, nên ngày 22.02.1968, tên Thích Đôn Hậu (tức “Diệp Trương Thuần“) trá hình trong cương vị „tăng thống Phật giáo“ đã nhận mật lệnh của đảng csvn qua tay tên điệp báo viên nằm vùng Hoàng Kim Loan ra lệnh cho hơn 200 cán bộ cs bắt đầu thực thi cuộc thảm sát hàng loạt dân chúng Huế để trả thù, thủ tiêu các nhân chứng. Như trên đã dẫn tổng số người bị giết hại đã lên đến trên 5000 nghìn người và trên 1200 người khác bị bắt đi mất tích. Các nạn nhân đa phần là dân thường, cả phụ nữ và trẻ em, đã bị chúng bắt trói, cưỡng bức giải đi ra các vùng ven đô Huế và bị sát hại ở đó. Khoảng 300 thanh thiếu niên cũng bị các toán cán bộ sát thủ hành quyết của cs bắt đi theo để đào các huyệt mộ cho cuộc hành hình thảm sát này, để cuối cùng, cũng bị chúng sát hại hòng thủ tiêu xoá hết mọi tang chứng. Một tên cán binh cs đã lừng chừng thực thi lệnh hành quyết tập thể trên, vì hắn vốn quen giết người trên mặt trận chứ chưa quen giết người như thế này. Nhưng lúc đó „giết“ là tất cả những gì chúng học thuộc nhất và còn lại trong đầu, nên lệnh hành quyết của đảng csvn đã được chúng thực thi trọn vẹn.

27. Những nhân chứng, nạn nhân trực tiếp còn sống xót của vụ thảm sát này mỗi lần hồi tưởng quá khứ là mỗi lần phải ngẹn ngào trong nỗi đau xé thắt tâm can. Một nam nhân chứng hy hữu còn sống sót hồi tưởng lại cơn ác mộng kinh hoàng nhức nhối đã hành hạ anh hơn bốn mươi mùa xuân qua, khi anh còn là một thiếu niên bị toán sát thủ của cộng sản cưỡng ép bắt đi đào huyệt cho vụ thảm sát vào một ngày Tết năm xưa. Dưới sức ép của họng súng đe dọa bởi toán cán binh cs, cậu bé thiếu niên đã phải xúc đất đổ xuống huyệt, đổ lấp lên những người còn sống, bị trói và xô ngã xuống huyệt. Máu và nước mắt đã nhòa trộn cùng mỗi xẻng đất mà cậu bé phải xúc đổ xuống huyệt, dần lấp đi những ánh mắt thân thể của những con người đang vùng vẫy, gào rú dần tắt ngấm đi vì kiệt sức, van lơn đòi sự sống. Giọng người kể lại rung lên và nghẹn đi trong nỗi oan nghiệt đến vô cùng của sức chịu đựng: „Ôi trời cao đất dầy ôi! Ôi Việt cộng dã man! Sao Việt cộng mi dã man như vầy? Sao bắt tui phải chôn sống đồng bào tui…? Ôi nghiệp quả báo nào…, ôi, tui đã chôn sống đồng bào tui…, ôi Việt cộng, sao mi man rợ như rứa…?“. Lời người kể lại hôm nay thường tắt đi trong nghẹn nghào oan ức, tràn nghập nước mắt như thế. Và hết huyệt này đến huyệt khác cậu bé phải làm công việc đó cho đến khi cùng một thiếu niên khác liều mình lợi dụng bóng tối tháo chạy được vào rừng, bỏ lại sau lưng là một trời mưa đạn bắn theo bởi lũ sát nhân chuyên nghiệp cộng sản. Hai đứa đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nhưng không một ai trong số 5327 người khác sống sót trong cuộc tắm máu trả thù man rợ có một không hai trong lịch sử của lũ sát nhân tay sai đảng csvn.

28.
29. Ngày 30. 04.1975 gần 500 tên tay sai cộng sản trá hình „Tăng, Ni“ Phật giáo của cái gọi là „Đại học Phật giáo Vạn Hạnh“ kéo nhau ra ngã tư Bẩy Hiền, cửa ngõ Sài Gòn hân hoan chào đón và hướng dẫn cho xe tăng cộng sản vào chiếm giữ các vị trí quan trọng trong thành phố. Cũng theo một kế hoạch trù bị khác của cộng sản, nếu tình hình bi đát hơn dự tính thì khoảng 7000 sinh viên trực thuộc của đại học Vạn Hạnh đã cất giấu vũ khí, sẽ bắn vào sau lưng quân lực Việt Nam Cộng Hòa khi quân đội cộng sản tiến đánh thành phố. Khi quân cộng sản đã tràn ngập thành phố thì những tên cộng sản trá hình “tăng ni” này, một số có trang bị vũ khí đã trực tiếp dẫn đường chỉ lối, đưa các tên cán binh cộng sản đi lùng sục từng nhà để tìm bắt các nhân vật quan trọng của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa mà chúng coi là nguy hiểm hoặc „người của CIA“, bắt mang đi giết và thủ tiêu ngay trong đêm, một số đông bị chúng thủ tiêu xác bằng cách thả trôi sông, số người bị giết lên đến hàng nghìn người. Cảnh bắn giết thủ tiêu này diễn ra trên khắp các đô thị miền nam. Sau đó, cũng những tên cs núp áo tu hành này đã tự xuất đầu lộ diện, nhiều tên xuất hiện trong quân phục cộng sản, có cả quân hàm, tay đeo băng đỏ, mặt mũi đằng đằng khí thế “cách mạng” công khai xuất hiện khắp nơi trong thành phố, chúng là một trong những “cán bộ” đầu tiên của chế độ ngụy quyền cộng sản tại miền nam Việt Nam. ”Đại học viện Phật giáo Vạn Hạnh” là một trong những địa điểm đầu tiên được quân cs biến thành “trụ sở trình diện” dành cho các sỹ quan quân lực nhân viên chính quyền, chính phủ VNCH ra “trình diện, khai báo”. Trực sẵn tại đây có mặt những tên cs đầu trọc nham nhở, trong những bộ đồ cà sa “tăng sỹ Phật giáo”, thâm hiểm hơn cả những tên trong quân phục “bộ đội”, súng ống đầy hăm dọa. Vì là lũ chỉ điểm nằm vùng chuyên nghiệp của đcs trong thành phố nên chúng có đầy đủ danh sách của những người chúng cần phải tìm giệt. Bổn cũ xoạn lại: những quân dân cán chính của chính quyền VNCH bị truy bắt ra trình diện phải chuẩn bị hành trang cá nhân đi “tập trung học tập cải tạo 10 ngày”. Về thực chất, những cái gọi là “trại tập trung học tập cải tạo” này là những mồ huyệt sống, nơi cs cầm tù, tra tấn hành hình, sát hại bức tử nạn nhân dã man vô hạn định. Nếu có, hạn định này sẽ do đcsvn định đoạt.

30. Tên “tăng thống” tự phong Thích Huyền Quang (tục danh Lê Đình Nhàn), nhân dịp đại hội GHPGVNTN năm 1981 đã “lỡ mồm” tự xác nhận những tội ác bất khả bôi xóa của chính hắn, đcsvn và GHPGVNTN như sau: “…Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ba lần có công với cách mạng (của đcsvn)…”, và “…chúng tôi (GHPGVNTN) lập ra chính phủ Phật giáo của Tổng thống Dương Văn Minh để giao cho chính quyền cách mạng (của đcsvn)”.

31. Trở lại dòng sự kiện: Vào ngày 17.10.1970, một “phái đoàn Phật giáo” gồm Thích Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh và những tên cộng sản trá hình khác lên đường sang Tokyo dự hội nghị quốc tế “Tôn giáo và Hòa bình”. Tại đây chúng trơ trẽn đưa ra cái gọi là “đề nghị 5 điểm”. Cả về hình thức lẫn nội dung, nó chính là “đề nghị 5 điểm” của “Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam”, cũng tức là của đcsvn. Luận điệu xảo trá của những đòi hỏi này là “đòi quân đội Mỹ và đồng minh phải rút khỏi Việt Nam”, “để dân tộc Việt Nam tự quyết”….Những tên cs trá hình này bị các thành viên của hội nghị quốc tế chất vấn bằng những câu hỏi trực diện, là chúng đang đại diện cho ai để đưa ra những đòi hỏi đó? Tại sao chúng chỉ đòi hỏi quân đội Mỹ và đồng minh rút lui, mà không đòi hỏi quân đội Bắc-Việt ngừng ngay lập tức cuộc chiến xâm lăng của chúng chống Việt Nam Cộng Hòa? Thích Nhất Hạnh và đồng bọn đã đồng loạt trở nên câm ngọng một cách lạ thường vì không thể trả lời những câu hỏi.

32. Trong thời gian này Thích Đôn Hậu cùng vợ là Tuần Chi, tức Đào Thị Xuân Yến, cả hai y thị được các chi bộ đảng cs nằm vùng tổ chức cho bí mật vượt tuyến ra Bắc gặp Hồ Chí Minh. Hồ cử Thích Đôn Hậu và tên cs Tôn Thất Dương Tiềm và phái đoàn đi tháp tùng sang các nước khối Đông-Âu hoặc cs như Đông-Đức, Hungary, Mông Cổ để tuyên truyền, quảng bá các khẩu hiệu xảo ngữ cho đảng cộng sản của Hồ.
33. Qua những lần công vụ tuyên truyền cho đảng cs này, Thích Đôn Hậu và các đồng chí cs đã cố tình xuyên tạc bôi vẽ ra một bức tranh hoàn toàn sai lệch về chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Một mặt thì chúng xuyên tạc bôi bẩn rằng chính phủ VNCH tham nhũng, yếu kém, mặt khác chúng tán tụng Hồ Chí Minh và miền Bắc cộng sản XHCN lên tận mây xanh. Cùng một chí hướng này, cặp Thích Nhất Hạnh cùng người tình đồng chí Florett Cao Ngọc Phượng và hai tên cộng sản tay sai Võ Văn Ái, Pelelope Faulkner tổ chức các cuộc biểu tình tại Tây Âu, Đức, Pháp và Mỹ với những khẩu hiệu trá hình “ Chống chiến tranh Việt Nam” để đánh lạc hướng, lừa đảo dư luận thế giới trên tinh thần hậu thuẫn có lợi cho chế độ ngụy quyền đảng cộng sản.

Edited by user Wednesday, September 19, 2012 1:48:08 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (5)
197 Pages«<194195196197>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.