Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

12 Pages«<9101112>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#201 Posted : Wednesday, June 26, 2013 5:40:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - Thứ ba 25 Tháng Sáu 2013
Làn sóng ca sĩ nhạc kịch châu Á tràn sang châu Âu

UserPostedImage
Nữ ca sĩ nhạc kịch Hàn Quốc Sumi Jo. (DR).

Minh Anh
Từ ba bốn năm gần đây, trong làng nhạc kịch Opéra Paris, nhiều gương mặt mới đến từ châu Á như Hàn Quốc hay Trung Quốc bắt đầu nổi danh. Nhất là kể từ sau sự thành công rực rỡ của giọng ca nữ soprano Hàn Quốc Sumi Jo, một làn sóng ca sĩ dòng nhạc kịch châu Á đã tràn sang Paris đến mức báo Le Figaro, trong chuyên mục Văn hóa và Độc giả cũng phải thốt lên rằng « Làn sóng châu Á đang tràn đến ».

Theo tờ báo, hiện tượng mới này bắt đầu từ Vòng thi chung kết nhạc kịch Opéra Paris lần thứ nhất vào năm 2010. Năm đó, giọng trầm nữ Kihwan Sim, 28 tuổi, người Hàn Quốc đã giật giải Á quân. Từ đó đến năm 2012, trong mỗi cuộc thi nhạc kịch đều có ít nhất một gương mặt châu Á được xướng tên trong bảng vàng.

Năm 2011, trong cuộc thi Nữ hoàng Elisabeth, lại thêm một giọng ca nữ soprano Hàn Quốc, cô Haeran Hong đã làm cho cả khán phòng phải ngạt thở bởi chất giọng thanh cao và tính chất kỹ thuật ngoại hạng của cô.

Năm 2012, tại cuộc thi hát Quốc tế Capitole của Toulouse, phía nam nước Pháp, ba giọng ca nam đến từ châu Á đã vét hết các giải thưởng cao nhất trong hạng mục « giọng ca nam », bao gồm hai ca sĩ Hàn Quốc Jootaek Kim (26 tuổi), Donghwan Lee (31 tuổi) và nam ca sĩ Trung Quốc Zhengzhong Zhou (28 tuổi).

Các chuyên gia của Hội Tranh tài nhạc kịch Opéra Paris nhận thấy là từ bốn năm nay, sự hiện diện của các ca sĩ Hàn Quốc ngày càng tăng. Theo ước tính, trong số gần 350 thí sinh đăng ký dự thi mỗi năm, lượng thí sinh đến từ châu Á chiếm tỷ lệ khá lớn.

Các nhà tổ chức giải thích rằng chính sự thành công của nữ ca sĩ Sumi Jo, diva nhạc kịch gốc châu Á đầu tiên thành công trên các sàn diễn tại Paris đã thúc đẩy nhiều ca sĩ trẻ Hàn Quốc tìm đến các trường đào tạo có uy tín nhất tại Ý hay Đức để phát triển các kỹ thuật toàn cầu. Nhờ vậy, các thí sinh châu Á có thể tự tin tranh tài với các đối thủ Nga và châu Âu.

Bên cạnh đó, công nghệ thông tin tân tiến tại các nước châu Âu giúp cho các trang mạng xã hội và Internet vận hành hết công suất cũng là những công cụ quan trọng cung cấp các thông tin cần thiết để các thí sinh châu Á tìm kiếm cơ hội.

Theo bài viết, sự hiện diện của các ca sĩ nhạc kịch châu Á, đặc biệt là Hàn Quốc đông đến mức tại nhà hát kịch Opéra Châtelet, nằm ngay trung tâm thủ đô Paris, "không một xuất diễn quan trọng nào mà không có sự góp mặt của các tài năng châu Á".

Giám đốc nhà hát Châtelet cho rằng sự nổi trội của các ca sĩ nhạc kịch trẻ Hàn Quốc là một lẽ đương nhiên. Tố chất đó tiềm ẩn trong xương thịt. Nhận định này cũng được nữ hoàng nhạc kịch Hàn Quốc Sumi Jo đồng chia sẻ. Cô nói : « Triều Tiên là quốc gia có truyền thống ca hát lâu đời. Chỉ cần nhìn số lượng các phòng karaoké tại đất nước chúng tôi là đủ thấy rõ. Những gì đang thay đổi trong mấy năm gần đây chính là ngày càng có nhiều giáo sư châu Âu và nhiều ca sĩ Hàn Quốc đã thành danh tại châu Âu mở các lớp nhạc và khuyến khích các học trò của mình đến hoàn thiện kỹ thuật tại phương Tây ».
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 6/26/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#202 Posted : Friday, June 28, 2013 7:16:16 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - THỨ SÁU 28 THÁNG SÁU 2013
100 năm El Cóndor Pasa : Hoài hương tâm hồn Inca

UserPostedImage

Tuấn Thảo
Nhạc phẩm El Cóndor Pasa là điệu dân ca của Peru nổi tiếng nhất ở nước ngoài. Vào năm 2004, chính quyền Lima nâng ca khúc này lên hàng di sản văn hóa quốc gia. Nhưng ít ai để ý rằng phiên bản chính thức của bài El Cóndor Pasa ra đời tại Peru vào năm 1913, tức cách đây đúng một thế kỷ.

Nhân dịp này, mời quý thính giả và các bạn cùng khám phá một phiên bản hòa âm mới của bài El Cóndor Pasa do chúng tôi thực hiện vào năm 2013. Chương trình này nằm trong khuôn khổ loạt bài phát thanh mùa hè với chủ đề "Giai điệu muôn thuở" trên đài RFI.

Trước năm 1913, bản nhạc El Cóndor Pasa đã là một khúc hát dân gian quen thuộc có từ thế kỷ XVIII, nhưng lại khuyết danh tác giả. Nhạc sĩ Daniel Alomía Robles cùng với nhà biên đạo kịch Julio de La Paz (tên thật là Julio Baudouin y Paz) đã hoàn chỉnh ca khúc này từ giai điệu đến lời ca, để đưa nó vào trong một vở kịch zarzuela.

Theo truyền thống Tây Ban Nha, zarzuela (có từ giữa thế kỷ XVII) thuộc vào dạng ca vũ kịch, kết hợp đối thoại, ca khúc với hoạt cảnh múa. Kịch hát zarzuela không nghiêm túc bằng opera, thể loại gần giống nhất là kịch opérette của Pháp.

Vở kịch mang tựa đề "Soy la Paloma que el Nido Perdió", dùng hình tượng của cánh chim mất tổ ấm, con người không còn quê hương, được diễn lần đầu tiên cách đây đúng 100 năm tại Teatro Mazzi, nhà hát lớn thủ đô Lima. Đến năm 1933, toàn bộ tác phẩm được xuất bản, rồi sau đó chìm dần vào quên lãng, nhưng ca khúc El Condor Pasa lại nổi tiếng trên khắp thế giới.
http://www.youtube.com/w...bedded&v=TA9zs45MfaQ

Qua hình tượng của cánh chim Đại Bàng Lướt Bay hai tác giả Daniel Alomía Robles và Julio de La Paz nói lên tình hoài hương và xa hơn nữa là sự gắn bó của họ với nền văn hóa cổ truyền Inca, có từ thời xa xưa, trước khi đội quân viễn chinh Tây Ban Nha thống trị vùng đất Nam Mỹ.

Không phải ngẫu nhiên mà hai tác giả dựa vào thổ ngữ địa phương để đặt lời ca tiếng Tây Ban Nha cho bài hát. Tựa đề bản nhạc nguyên gốc được viết bằng tiếng quechua là Kuntur, Kuntur, trong khi El Cóndor Pasa là tựa đề tiếng Tây Ban Nha. Gọi là thổ ngữ địa phương, nhưng tiếng quechua lại có hơn 10 triệu người sử dụng ở các nước Nam Mỹ, từ Peru đến Bolivia, từ Ecuador đến vùng cao nguyên miền bắc Argentina. Tiếng quechua chỉ được Peru công nhận làm ngôn ngữ chính thức vào năm 1975.

Do nguồn gốc bài hát là một bản dân ca của Peru, cho nên ngôn ngữ địa phương thích hợp hơn so với tiếng Tây Ban Nha. Theo ghi nhận của chuyên gia ngôn ngữ Nam Mỹ Rodolfo Cerrón-Palomino, vào thời kỳ huy hoàng của đế chế Inca, ngôn ngữ chính thức là tiếng aymara chứ không phải là tiếng quechua. Tuy nhiên, aymara chủ yếu được dùng trong các văn bản hành chính, trong khi thổ ngữ quechua thì lại rất phổ biến thông dụng trong dân gian.
http://www.youtube.com/w...bedded&v=wnRq2FuKIrA

Nguyên gốc bản nhạc Kuntur, Kuntur (El Cóndor Pasa) thuộc vào thể điệu huayno, dành cho tiệc cưới, lễ hội. Hai tác giả Robles và La Paz khi hoàn chỉnh ca khúc không giữ lại nhịp điệu rộn ràng vui tươi trong đoạn cuối. Bài hát nói lên tâm trạng của những người sống tha hương, nhìn thấy đại bàng lướt bay trên bầu trời mát lạnh mà bỗng chạnh lòng nhung nhớ quê cha đất tổ.

Xếp cánh đại bàng, về bên dãy núi. Kẻ tha hương hứa hẹn một ngày về thăm quê hương xứ sở, tìm lại tâm hồn dân tộc Inca qua hình tượng của dãy núi Andes, của kinh thành Machu Picchu và của cố đô Cuzco. Trên xứ sở Peru, bản dân ca này đã được nhiều nghệ sĩ trình bày ghi âm lại.

Nhóm đầu tiên đưa ca khúc này ra nước ngoài kể từ đầu những năm 1960 là ban nhạc Urubamba, ghép lại hai từ uru và bamba thành một chữ. Chữ uru vì ban nhạc dân tộc này đến từ Uruguay, và bamba là một khúc dân ca truyền thống của người Mêhicô có từ năm 1683 (cuối thế kỷ XVII).
http://www.youtube.com/w...bedded&v=w4JnjFJ4UFw

Ban nhạc Urubamba được thành lập vào năm 1956, vài năm sau đó mới đổi tên thành Los Incas, họ chuyên sử dụng các nhạc cụ cổ truyền và biểu diễn các bài dân ca Nam Mỹ. Trong số các tiết mục biểu diễn của họ có bài Paso del Condor, hát bằng tiếng Tây Ban Nha (phóng tác từ Kuntur, Kuntur).

Đến Paris lưu diễn vào năm 1963, tức cách đây đúng nửa thế kỷ, thành viên sáng lập ban nhạc là Jorge Milchberg mới giúp chuyển dịch bài hát sang tiếng Pháp thành Sur le Chemin des Andes (Đường lên dãy núi), do Marie Laforêt ghi âm năm 1966.

Khúc dân ca này sau đó lọt vào tai của Paul Simon thuộc ban song ca Simon & Garfunkel. Tác giả người Mỹ mới viết lời tiếng Anh If I Could cho bản nhạc. Do không chuyên về các nhạc cụ truyền thống Nam Mỹ, nên ban song ca mới nhờ nhóm Los Incas ghi âm bài này cùng với họ vào năm 1970.

Ngoài tiếng sáo thần nhân dương (tức là sáo thần Pan - pan flute), giai điệu còn thuần chất Peru nhờ tiếng đàn đặc thù charango, một loại đàn giống như mandoline nhưng có đến mười dây. Nhạc cụ đặc trưng này của các cộng đồng thổ dân sinh sống tại các vùng cao nguyên, được sáng chế tại thành phố Ayacucho của Peru từ thế kỷ XVII, sau đó được phổ biến rộng rãi ở các nước Nam Mỹ.
http://www.youtube.com/w...bedded&v=1ZAFhvmVJIM

Phiên bản tiếng Anh của Simon & Garfunkel giúp bài hát chinh phục thêm nhiều tầng lớp khán giả. Hàng loạt phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau lần lượt ra đời kể cả tiếng Croatia, tiếng Ý, tiếng Nga, Hà Lan, Do Thái. Phiên bản tiếng Hoa gồm cả hai lời Quan Thoại và Quảng Đông. Còn trong tiếng Việt thì có phiên bản ghi âm song ngữ của nam ca sĩ Anh Khoa.

Thành công của El Condor Pasa gợi hứng sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác. Vào năm 1975, tác giả người Peru Walter León Aguilar, thành viên sáng lập nhóm Los Illusionistas viết ca khúc La Colegiala. Từ đầu những năm 1980 trở đi, bản nhạc trở nên rất quen thuộc vì giai điệu được chọn làm nhạc quảng cáo cho một thương hiệu cà phê. Nhưng đây là một ca khúc nhạc nhẹ, sáng tác theo thể điệu cumbia colombiana, chứ không phải là một bản dân ca truyền thống như điệu huyano của người Inca.

Dù được nhiều lần phóng tác chuyển ngữ, nhưng không có phiên bản nào của El Cóndor Pasa lột tả được trọn vẹn tâm hồn của dân tộc Inca, với nguyên tác viết bằng thổ ngữ quechua. Lời ca mộc mạc đơn giản nhưng man mác nỗi buồn, mênh mông lưu luyến. Tiếng sáo nhân dương dào dạt dập dìu, tiếng đàn charango rung động tha thiết nhưng không lâm ly ai oán, mà lại thổn thức dìu dịu. Do có thân hình rất nặng, cho nên đại bàng (kuntur) không bao giờ cất cánh tung bay mà chỉ dựa vào sức gió để xoải cánh lượn bay, tùy theo luồng gió mà bay lên, bay xuống.

Chính cũng vì thế mà trong nguyên tác, giai điệu bài hát mô phỏng theo nhịp điệu xoải cánh chầm chậm khoan thai của loài chim đại bàng, đối chiếu một bên là tâm hồn nặng trĩu của những kẻ tha hương, và một bên là sự gửi gấm những tình cảm hoài niệm chan chứa trong tim, nhẹ nhàng lướt gió theo đại bàng cánh chim. Nguyên tác của bản nhạc El Cóndor Pasa vì vậy không những rất tình, mà còn rất người. Bởi vì ở bất cứ nơi đâu, kỷ niệm nhè nhẹ ban đầu, nặng dần năm tháng qua mau, rồi không biết từ thuở nào, khiến linh hồn thêm nhức nhối đớn đau.
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 8/22/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#203 Posted : Sunday, June 30, 2013 4:55:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - THỨ BẢY 29 THÁNG SÁU 2013
Daft Punk, cánh chim đầu đàn dòng nhạc French Touch

UserPostedImage

Tuấn Thảo
Trong làng nhạc quốc tế, ít có trường hợp nào lạ lùng như nhóm Daft Punk. Trong vòng 20 năm sự nghiệp, ban nhạc chỉ cho ra mắt bốn album. Tập nhạc thứ tư và cũng là album mới của nhóm phá kỷ lục số bán khi được phát hành vào tháng 5/2013. Mang tựa đề Random Access Memory, album này đánh dấu ngày Daft Punk trở lại trên tột đỉnh, sau 8 năm vắng bóng.

Nhóm Daft Punk là cánh chim đầu đàn của dòng nhạc điện tử theo kiểu Pháp, gọi là French Touch. Ban nhạc gồm hai thành viên là Thomas Bangalter và Guy Manuel de Homem-Christo. Họ chuyên kết hợp các âm thanh điện tử house và electro với các nhịp điệu kích động của rock, groove và disco.

Nét độc đáo của nhóm này là không bao giờ lộ diện trước công chúng. Daft Punk tự định nghĩa họ là những nghệ sĩ độc lập vô danh, do vậy công chúng không bao giờ thấy được diện mạo của họ. Khi xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, nhóm này tựa như người máy robot, trên đầu lúc nào cũng đội mũ bảo hiểm, che kín khuôn mặt của mình.

Trong giai đoạn khởi đầu, nhóm này thật ra gồm ba thành viên. Họ quen nhau từ năm 1987, khi còn là học sinh trường trung học Carnot ở Paris. Thomas Bangalter và Guy Manuel de Homem-Christo cùng thành lập với Lawrence Brancowitz một ban nhạc rock tên là Darlin'. Bản nhạc ghi âm đầu tiên của nhóm phát hành vào năm 1991 hoàn toàn gặp thất bại. Lawrence sau đó tách ra riêng và gia nhập ban nhạc rock Phoenix, rất ăn khách vào những năm 2000. Còn Thomas và Guy Manuel thì tiếp tục thử nghiệm với âm thanh điện tử.


Vào tháng Năm năm 1993, tức cách đây vừa đúng 20 năm, một nhà phê bình âm nhạc của tạp chí chuyên ngành Melody Maker khi khám phá dòng nhạc thử nghiệm của ban nhạc người Pháp tỏ ý chê bai và gọi đó là ‘‘daft punky trash’’, hiểu theo nghĩa một mớ tạp âm ngớ ngẩn điên khùng. Đôi bạn Thomas và Guy Manuel mới chọn câu nói này làm nghệ danh. Ban nhạc Daft Punk chính thức ra đời vào giữa năm 1993.

Trong vòng 4 năm liền, Daft Punk chọn hình thức tự sản xuất, hợp tác với các hãng đĩa độc lập thay vì dựa vào mô hình công nghiệp lăng xê của các hăng đĩa lớn để phát hành âm nhạc của họ. Nhóm này tham gia vào nhiều liên hoan nhạc điện tử, hòa âm trong các hộp đêm, biểu diễn mở màn cho nhóm Chemical Brothers tại Luân Đôn. Sau 4 năm hoạt động, Daft Punk lọt vào mắt của hãng đĩa Source, một chi nhánh của tập đoàn Virgin để trình làng album đầu tay với tựa đề Homework.

Được phát hành đầu năm 1997, tập nhạc đầu tiên của nhóm Daft Punk mang đậm sắc thái của dòng nhạc house, theo trường phái Detroit và Chicago. Âm thanh khá mới lạ của nhóm nhạn được sự hưởng ứng của giới phê bình lẫn công chúng. Bài Around the World nhờ vào sự hợp tác của đạo diễn Michel Gondry và nhà biên đạo múa Blanca Li, trở thành một trong những video clip thịnh hành nhất trên các kênh truyền hình ca nhạc.


Sau thành công bước đầu này, Daft Punk không vội cho ra mắt album kế tiếp. Ngược lại, họ không ngừng làm viiệc trong phòng ghi âm, thử nghiệm đủ loại âm thanh để tìm ra những sắc thái khác biệt với các dòng nhạc điện tử ăn khách trên thị trường thời bấy giờ.

Mãi đến năm 2001, Daft Punk mới cho ra amwst album thứ hai mang tựa đề Discovery, hiểu theo nghĩa thám hiểm, du hành vũ trụ. Trích từ album này, bản nhạc One More Time lập kỷ lục số bán. Đà thành công của Daft Punk đánh đấu sự trỗi dậy của phong trào French Touch, mở đường cho các nhóm nhạc điện tử của Pháp chinh phục thế giới.

Vào năm 2005, Daft Punk trình làng tập nhạc thứ ba mang tựa đề ‘‘Human After All’’ khẳng định rằng đằng sau những âm thanh máy móc, vẫn có bàn tay của con người. Tuy nhiên, tham vọng của Daft Punk muốn biến những máy móc điện tử vô tri thành những nhạc cụ biểu cảm, chỉ đạt có một nửa. Tập nhạc thứ ba không thành công rực rỡ như mong đợi.

Vài năm sau đó, khi nhóm này tập hợp và hòa âm lại các ca khúc tiêu biểu nhất của cả ba album trước cho đợt trình diễn Alive, thì lúc đó nhóm Daft Punk mới chính thức được công nhận. Nhóm này đoạt hai giải Grammy dành cho Ghi âm và Album nhạc điện tử xuất sắc nhất năm 2009, sau 12 lần nhận đề cử. Nhờ vậy mà tập đoàn Disney mới đặt hàng cho Daft Punk sáng tác phần nhạc nền cho bộ phim Tron : Legacy.


Vào tháng Giêng năm 2013, nhóm Daft Punk rời hãng đĩa EMI để ký hợp đồng với Columbia Records. Tập nhạc studio thứ tư mang tựa đề Random Access Memories được phát hành vào ngày 20 tháng Năm. Ca khúc trích đoạn đầu tiên Get Lucky chiếm hạng đầu thị trường trên hơn 50 quốc gia, phá luôn kỷ lục số bán do ca sĩ Adele nắm giữ với nhạc phẩm Skyfall.

Lần này, Daft Punk mở rộng sự hợp tác với rất nhiều nghệ sĩ, trong đó có nhà sản xuất Giorgio Moroder, người đã làm nên tên tuổi của Donna Summer và nhất là ca sĩ Pharell Williams cũng như tay đàn ghi ta điện Nile Rodgers. Nổi tiếng trên khắp thế giới nhờ sáng lập ban nhạc Chic, tay đàn Nile Rodgers trước đó đã hợp tác với David Bowie trên album Let’s Dance(1983) và sau đó là Madonna trên abum Like a Virgin (1984).

Khi hợp tác với nhóm Daft Punk, tay đàn Nile Rodgers chẳng những tham gia sáng tác mà còn triệu tập hay tay trống cừ khôi nhất thế giới. Đầu tiên hết là John Junior Thompson, người đã chơi hầu hết các ca khúc của Michael Jackson trên hai album Of the Wall và Thriller, dưới sự điều khiển của Quincy Jones. Tay trống xuất sắc thứ nhì là Omar Hakim, hợp tác với Stevie Wonder từ năm 16 tuổi.


Kết quả là lần đầu tiên từ 20 năm qua, tức là từ khi được thành lập cho tới bây giờ, ban nhạc Daft Punk không còn sử dụng máy móc điện tử để tạo ra nhịp điệu cho các ca khúc. Thay vào đó là một bộ trống thật cũng như các nhạc khí truyền thống như ghi ta và đàn phím, để tạo ra một âm thanh ấm áp gần gũi hơn. Toàn bộ album mang đậm sắc thái của dòng nhạc funky soul của những năm 1970, phối hợp với lối hòa âm điện tử.

Tập nhạc thứ tư đạt đến chủ đích mà Daft Punk đã không thực hiện được trên album trước là Human After All, hiểu theo nghĩa rốt cuộc vẫn là con người. Âm thanh của Daft Punk trước kia lạnh lùng nay lại trở nên hoài cảm, lưu luyến. Một cách để ngầm cho hiểu rằng : Máy móc điện tử chỉ có bộ nhớ, chỉ có con người mới thật sự tràn đầy kỷ niệm.

Daft Punk - Within [Random Access Memories]
http://www.youtube.com/w...bedded&v=OTYIzQgERH0
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 8/22/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#204 Posted : Sunday, July 14, 2013 7:02:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - THỨ BẢY 13 THÁNG BẨY 2013
La Playa, ghi ta thời gian tình chưa quên lãng

UserPostedImage

Tuấn Thảo
Năm 2013 cũng là thời điểm sinh nhật năm chẳn của khá nhiều ca khúc lừng danh quốc tế. Trong số những bài xưa nhất, có bài El Cóndor Pasa và bản tango El Choclo ra đời cách đây một thế kỷ. Nhạc phẩm Quién Será được ghi âm tại Mêhicô sáu thập niên về trước (1953). Một thập niên sau, đến lượt bài La Playa (Bãi biển) đi vòng quanh thế giới nhờ phiên bản dạo đàn ghi ta sáng tác vào năm 1963.

Khúc đàn La Playa mang đậm ảnh hưởng của dòng nhạc La Tinh nhưng thật ra bản nhạc này lại do một nhà soạn nhạc người Bỉ tên là Jo Van Wetter viết vào năm 1963, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ. Tác giả bài hát tên thật là Georges Joseph Van Wetter, sinh trưởng trong một gia đình gốc flamand, nhưng cha mẹ ông đến lập nghiệp tại vùng Wallonie chủ yếu nói tiếng Pháp ở Bỉ.

Tuy không xuất thân từ một gia đình có dòng máu nghệ sĩ, những từ thuở nhỏ ông đã có năng khiếu âm nhạc. Thời niên thiếu, dù chưa được đào tạo bài bản, nhưng Jo Van Wetter chịu khó tự học đàn. Ông tham gia vào khá nhiều ban nhạc trẻ chuyên đi diễn tại các liên hoan địa phương và chủ yếu chơi lại các ca khúc thịnh hành từ những năm 1940 đến thập niên 1950.


Đến khi trưởng thành, ông Jo Van Wetter dời nhà về thủ đô nước Bỉ, và bắt đầu học đàn ghi ta cổ điển tại Nhạc viện thành phố Bruxelles. Ông học cùng một lớp với tay đàn ghi ta Charles Danielli. Cả hai về sau này đều mở lớp dạy nhạc, trong số những học trò của họ có Philip Catherine, một trong những tay đàn ghi ta nhạc jazz lừng danh nhất nước Bỉ.

Công việc dạy đàn không đủ sống, cho nên Jo Van Wetter sau khi tốt nghiệp nhạc viện thủ đô, tham gia vào rất nhiều nhóm nhạc lớn nhỏ để kiếm tiền qua các vòng lưu diễn tại các quán nhạc hay vũ trường. Trong nhiều năm liền, ông chủ yếu đi biểu diễn với các dàn nhạc hoà tấu dưới sự điều khiển của Jean Omer và nhất là của nhạc trưởng Henri Segers. Bên cạnh đó, ông cũng thường xuyên xuất hiện trong khá nhiều dự án ghi âm của giới nghệ sĩ trẻ thời bấy giờ như Frédéric Rottier hay ban nhạc The Cousins.


Đầu những năm 1960, vào lúc mà phong trào nhạc trẻ rộ lên ở châu Âu, giới ca sĩ ‘‘nhí’’ hưởng ứng dòng nhạc rock đến từ Hoa Kỳ bằng cách chuyển dịch rồi ghi âm lại các ca khúc Anh Mỹ, thì Jo Van Wetter lại khám phá các làn điệu ghi ta đến từ đảo Hawai. Cùng với nhiều tác giả khác như Willy Albimoor, Hans Blum và Michael Thomas (Martin Böttcher), nhạc sĩ Jo Van Wetter soạn một số khúc đàn theo thể điệu này.

Cả nhóm lấy tên là ban nhạc The Waikikis, và tập nhạc mang tựa đề là Hawai Tattoo trở thành một trong những album ăn khách nhất vào năm 1961. Trong vòng nhiều tháng liên tục, album này thống lĩnh thị trường các nước Bỉ, Đức, Hà Lan và Luxembourg, để rồi sau đó chinh phục các thị trường Anh Quốc, Canada, Hoa Kỳ và Nam Mỹ.

Sự thành công này đáng lẽ ra sẽ còn vang dội hơn nữa, nếu như ban nhạc The Waikikis lên đường lưu diễn để quảng bá cho album của họ, cũng như cho những bước kế tiếp trong sự nghiệp. Thế nhưng, những bất đồng với nhà sản xuất (Horst Fuchs) buộc một số tác giả phải rút lui.

Tuy sau đó, có cho ra mắt nhiều album khác, nhưng The Waikikis chủ yếu ghi âm ở phòng thu thanh, thành viên hay tác giả có thể luân phiên thay đổi, nhưng thực chất không phải là một nhóm có đủ tầm vóc, cũng như tầm nhìn như ban nhạc người Anh The Shadows với khúc đàn kinh điển Apache đầu thập niên 1960.


Năm 1963, một trong những album ăn khách nhất thị trường quốc tế là tập nhạc cover của nữ danh ca người Mỹ Julie London, qua đó cô ghi âm lại hầu hết các bản nhạc tình La Tinh kinh điển phối theo điệu cool jazz. Khi được nghe album này, Jo Van Wetter mới ngẫu hứng sáng tác khúc đàn mà ông đặt tên là La Playa. Khúc nhạc này trở nên thịnh hành nhờ các bản hòa tấu, song tấu hay độc tấu Tây Ban Cầm (chẳng hạn như phiên bản của Claude Ciari).

Lúc đầu, ông định soạn khúc đàn này theo thể điệu bossa nova (ra đời vào năm 1958), vào lúc mà phong trào này đang trở nên cực thịnh tại các nước Âu Mỹ, sau thành công ngoạn mục của bài Manha de Carnaval, ca khúc chủ đề của bộ phim Orfeu Negro. Rốt cuộc, ông lại phối theo nhịp điệu rumba, nhưng với lối chơi đàn ghi ta thùng rất mộc, chứ không phối với một dàn nhạc theo kiểu nhạc khiêu vũ hay theo phong cách easy listening.


Tác giả người Pháp Pierre Barouh, nghe được khúc đàn La Playa khi anh vừa từ Brazil trở về Paris. Pierre Barouh là người sáng tác sau này nhạc phẩm Samba Sarava (1966) và hát ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et Une Femme (Câu chuyện một người đàn ông và một người đàn bà) của đạo diễn Claude Lelouch, mà hầu hết mọi người chỉ nhớ mang máng câu hát mở đầu. Cảm thấy hứng thú, Pierre Barouh mới đặt lời ca tiếng Pháp cho giai điệu. Khúc đàn trở thành một bài hát và được ca sĩ Marie Laforêt ghi âm vào năm 1964.

Sau thành công của ca khúc tiếng Pháp, nhiều phiên bản chuyển dịch khác lần lượt ra đời, kể cả tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Còn trong tiếng Việt, bài La Playa có ít nhất hai lời. Bài này từng được tác giả Phạm Duy phóng tác thành nhạc phẩm Dòng sông quê hương do nhiều nghệ sĩ như Ngọc Lan, Kiều Nga hay Thanh Lan ghi âm lại. Lời Việt thứ nhì không ghi rõ tác giả, có tựa đề là Biển vắng Thiên đàng.

Bài hát La Playa ăn khách đến nỗi người Brazil nghĩ rằng ca khúc A Praia bằng tiếng Bồ Đào Nha là một giai điệu của xứ họ. Còn tại Puerto Rico hay Nam Mỹ, không ai tin rằng La Playa trong nguyên tác là một khúc đàn của một tác giả người Bỉ gốc Hà Lan. Theo dòng đời năm tháng, tay đàn Jo Van Wetter đã chìm dần vào quên lãng nhưng khúc nhạc dịu dàng mà ông đã soạn lại trở nên bất hủ, vượt thời gian.

La Playa - Romantic Guitar
http://www.youtube.com/w...bedded&v=0tUKPbRqxhU


Agnaldo Rayol canta A Praia (La Playa)
http://www.youtube.com/w...bedded&v=k0M0s8-mYkg
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 8/22/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#205 Posted : Saturday, July 20, 2013 11:51:57 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

UserPostedImage
Ban nhạc điện tử Kraftwerk người Đức trình diễn với màn hình 3 Chiều ở phía sau, trong đại hội nhạc Jazz lần thứ 47 tại Montreux, Thụy sĩ.
VOA-18.7.2013

thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 8/22/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#206 Posted : Tuesday, August 13, 2013 8:03:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - CHỦ NHẬT 11 THÁNG TÁM 2013
Đàn tango sầu mộng Tình cho không biếu không

UserPostedImage

Tuấn Thảo
Dòng nhạc tango của Argentina một khi du nhập vào châu Âu đã cho ra đời phong trào sáng tác nhạc khiêu vũ. Nhiều ca khúc tiếng Ý, tiếng Pháp hay Tây Ban Nha trở nên ăn khách qua điệu tango. Trường hợp của hai bài Chitarra Romana (Khúc đàn buồn) và L’amour c’est pour Rien (Tình cho không biếu không).

Nhạc phẩm Chitarra Romana (tựa tiếng Anh là Roman Guitar) ra đời vào năm 1934 dưới ngòi bút của tác giả Eldo di Lazzaro (1902-1968). Sinh trưởng tại Trivento, một thị trấn nằm cách thủ đô Roma khoảng 200 cây số về phía Đông, ông thành danh vào cuối những năm 1920 nhờ vào nghề soạn nhạc.

Nổi tiếng cùng thời với tác giả Giovanni D'Anzi (19063-1974), ông Eldo di Lazzaro đã góp phần làm giàu dòng nhạc tiếng Ý, một mặt duy trì truyền thống viết ca khúc Napoli, mặt khác hấp thụ ảnh hưởng văn hóa nước ngoài để làm mới các bài hát.

Khi sáng tác ca khúc, cả hai tác giả Eldo di Lazzaro và Giovanni D'Anzi thường viết theo kiểu stornello, một dạng ca dao bình dân, lời thơ rất ngắn nhưng phải có vần điệu. Lối sáng tác đoản khúc buộc tác giả phải viết lời cô đọng, biết tiết kiệm câu chữ nhưng vẫn khéo léo trong ẩn dụ, tài tình trong ý tứ.


Theo nhà văn Gianni Borgna, tác giả quyển sách mang tựa đề "Lịch sử của các ca khúc tiếng Ý" (Storia della Canzone Italiana), nhạc sĩ Eldo di Lazzaro đã viết nhạc phẩm Chitarra Romana với tham vọng là bản tango tiếng Ý này sẽ nổi tiếng không thua gì bài La Cumparsita của Uruguay và Argentina. Nếu như nhịp điệu bài hát thuần chất tango, thì trong ca từ, tác giả này đã cài rất nhiều hình tượng tiêu biểu của kinh thành La Mã cổ kính.

Trong ca khúc, nhạc sĩ Eldo di Lazzaro gợi lên khung cảnh thủ đô Roma lộng lẫy dưới bầu trời đêm lợp đầy sao sáng. Kỷ niệm tình yêu chốn cũ vẫn còn, tuy rằng hình bóng tình nhân năm nào đã vội tan, cho nên người nghệ sĩ mới ôm đàn thở than, chỉ còn sâu trong tiếng nhạc nỗi cô đơn về làm bạn.

Người đầu tiên ghi âm ca khúc này là ca sĩ Carlo Buti (1902-1963). Sinh trưởng tại Firenze (thành phố Florence), ông nổi tiếng vào đầu những năm 1930 và được mệnh danh là Giọng ca vàng nước Ý, nhờ vào lối vuốt chữ rất mượt như Bing Crosby hay Frank Sinatra của Mỹ. Nhưng đặc điểm của Carlo Buti là ông có chất giọng tenorino, tức là một giọng nam cao (tenor) chuyên hát chẻ giọng óc.


Trong gần 30 năm sự nghiệp, ông Carlo Buti đã lập kỷ lục với gần 1600 ca khúc ghi âm, thể hiện hầu hết các ca khúc nổi tiếng của Ý và mở đường sau đó cho hàng loạt ca sĩ như Lou Monte hay Al Martino, chuyên hát tiếng Ý nhưng lập nghiệp ở Hoa Kỳ. Trong các bản nhạc tủ của họ, dĩ nhiên là phải có Khúc đàn buồn.

Đúng ba thập niên sau ngày phát hành bản nhạc Khúc đàn buồn, một bài tango nổi tiếng khác, viết bằng tiếng Pháp, ra đời vào năm 1964. Đó là nhạc phẩm L’amour c’est pour Rien, rất quen thuộc với người Việt vì bài hát từng được tác giả Phạm Duy dịch thành Tình cho không biếu không.

Bài tango này ra đời dưới ngòi bút của hai tác giả : Enrico Macias soạn nhạc, Pascal René Blanc đặt lời. Thế nhưng điều gì đã thúc đẩy Enrico Macias viết một bản tango trong khi thể điệu này không phải là sở trường của ông ? Enrico Macias thành danh tại Pháp vào năm 1963 với nhạc phẩm Adieu Mon Pays có nghĩa là Vĩnh biệt quê hương nói lên tâm trạng của nhiều gia đình phải rời bỏ Algêri trở về Pháp khi Algêri tuyên bố độc lập.

Bài này cũng như nhiều sáng tác khác cho thấy là Enrico có sở trường viết nhạc bolero, tiêu biểu qua các bài như Beyrouth, Le Voyage, La Nuit Mexicaine hay Solenzara (tựa tiếng Việt là Nắng Xuân), một ca khúc đảo corse mà Enrico đã chuyển thể theo điệu nhạc này.


Vào năm 1964, Enrico Macias là giọng ca tuy chỉ vừa xuất hiện, nhưng lại rất thành công. Cùng với ca sĩ Richard Anthony, ông nắm giữ kỷ lục số bán nhờ sáng tác nhiều ca khúc ăn khách. Sự thành công đó giúp cho Enrico Macias đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc trong năm 1964, trong đó có giải sáng tác Vincent Scotto.

Tại Pháp, tác giả người gốc Ý Vincent Scotto (1874-1952) nổi tiếng nhờ viết ca khúc J’ai deux Amours cho Joséphine Baker, bản Prosper (Youp la boum) cho Maurice Chevalier, bài Marinella cho Tino Rossi. Ngoài ra, ông còn có sở trường viết nhạc khiêu vũ, trong đó có nhiều bài tango.

Nổi tiếng nhất vẫn là bản Le plus beau des tangos du monde (Bài tango đẹp nhất thế giới), mà tác giả Vincent Scotto đã viết cho con rể của ông là ca sĩ Henri Alibert. Luis Mariano và Tino Rossi sau đó đều có ghi âm bài này. Trong tiếng Ý bài hát này do Carlo Buti ghi âm với tựa đề Il Piu Bel Tango.


Khi được trao giải sáng tác Vincent Scotto, Enrico Macias do không hề chờ đợi, nên rất ngạc nhiên bất ngờ. Xúc động trước những tình cảm ưu ái mà khán thính giả dành cho ông trong bước đầu sự nghiệp, ông mới ngẫu hứng ôm đàn soạn ra một giai điệu trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ, thể điệu được chọn là tango để đánh dấu giải thưởng Vincent Scotto.

Người đặt lời cho ca khúc này là Pascal René Blanc, chứ không phải là tác giả Jacques Demarny, theo một số nguồn ghi chú, cho dù Jacques Demarny đã viết lời cho gần 150 ca khúc của Enrico Macias. Nhờ vào bài tango này và bản nhạc Solenzara, mà Enrico trở nên rất nổi tiếng ở Nhật Bản.

Năm 2013 đánh dấu 50 thành công sự nghiệp của ca sĩ Enrico Macias. Còn điệu tango truyền thống tiếp tục thành công cho tới năm 1974, thời kỳ trỗi dậy của tango đương đại, còn được gọi là tango mới, làm khựng lại phong trào sáng tác nhạc khiêu vũ không lời. Chỉ có những bản tango kinh điển, mới không trở nên lỗi thời.
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 8/22/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#207 Posted : Monday, October 7, 2013 10:54:59 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Portofino, tượng thanh thắng cảnh mộng lành địa danh


UserPostedImage
Thị trấn Portofino trở nên nổi tiếng nhờ bài hát cùng tên (DR)

Tuấn Thảo - RFI - 04.10.2013
Vào đầu năm 2013, danh ca tenor người Ý Andrea Bocelli cho phát hành tập nhạc mang tựa đề Đam Mê (Pasione). Ngoài các bản bolero tiêu biểu cho dòng nhạc La Tinh, Andrea Bocelli còn đưa người nghe vào thế giới âm nhạc đầy nắng ấm, đi thăm các địa danh nên thơ, hữu tình của Brazil và của miền Địa Trung Hải.

Nếu như bờ biển Ipanema và đỉnh đồi Corcovado là những danh lam tiêu biểu cho thành phố Rio de Janeiro, thì bản nhạc Love in Portofino lồng câu chuyện tình vào một thắng cảnh nổi tiếng của nước Ý. Bài hát được ghi âm lần đầu tiên vào tháng Năm năm 1958, do tác giả Ferdinando (Fred) Buscaglione (1921-1960) sáng tác và trình bày.

Sinh trưởng tại Torino, miền bắc nước Ý, Ferdinando có năng khiếu âm nhạc từ thuở thiếu thời nên được cha mẹ cho theo học đàn tại nhạc viện thành phố Torino. Sau khi tốt nghiệp, ông kiếm sống nhờ nghề chơi nhạc jazz tại các quán nhạc, phòng trà.


Nhạc cụ sở trường của ông là đàn contrebasse và violon. Thời nhập ngũ đi lính, ông chủ yếu tham gia vào ban nghệ quân đội, nhưng chỉ được hát và sáng tác ca khúc tiếng Ý, bởi vì trong giai đoạn toàn trị của nhà độc tài Mussolini, phim ảnh cũng như các ca khúc nhạc ngoại đều hoàn toàn bị cấm.

Sau khi nước Ý bại trận, chiến tranh thế giới thứ nhì chấm dứt, Ferdinando bị quân đội đồng minh giam cầm trong gần một năm, nhưng nhờ có tài nghệ đàn hát, nên ông được quyền tham gia biểu diễn cho các đài phát thanh địa phương. Một khi được giải ngũ, ông trở về nguyên quán và chính thức chọn con đường sân khấu từ năm 1949 trở đi.

Vào đầu những năm 1950, làn sóng điện ảnh Hollywood đổ ập vào châu Âu trong giai đoạn tái thiết. Nhạc phim, nhạc jazz cũng như phong cách của các ngôi sao màn bạc Mỹ ảnh hưởng sâu đậm đến lối sáng tác của Ferdinando. Ông chọn nghệ danh là Fred Buscaglione, và vay mượn cung cách ăn mặc của thần tượng điện ảnh Clark Gable, từ mép râu dày cho đến cách chải tóc mượt. Để hát nhạc tình, có lẽ không có gì lý tưởng bằng việc hóa thân thành một trong những người đàn ông đẹp trai nhất hành tinh.


Thành danh nhờ nghề ca hát và đóng phim, Fred Buscaglione trong cách diễn đạt thiên về lối hát đầy ngẫu hứng, dùng ca từ rất ngắn mà tượng thanh (scat) của dòng nhạc jazz nhiều hơn là nhạc nhẹ. Có thể nói Fred Buscaglione là một trong những scatman đầu tiên, chứ không phải là crooner của nước Ý.

Phong cách này ảnh hưởng sau đó đến ca sĩ Paolo Conto trong bài hát Via Con Me ăn khách vào năm 1981. Nhưng khi hát nhạc tình, Fred Buscaglione cũng biết nhã chữ thì thầm. Ông sáng tác bài Love in Portofino (Tình yêu tại Portofino) vào năm 1958, sau một chuyến ghé thăm thị trấn ven biển này, nằm cách thành phố Torino 140 cây số về phía nam.

Bản nhạc nhanh chóng trở thành sáng tác ăn khách nhất của ông, cho dù chỉ có câu mở đầu là bằng tiếng Anh, toàn bộ phần còn lại được viết bằng tiếng Ý. Đây cũng là ca khúc duy nhất ông viết theo thể điệu rumba vào thời mà dòng nhạc khiêu vũ đang trở nên cực thịnh tại châu Âu. Đang trên tột đỉnh danh vọng, ông đột ngột qua đời vào năm 38 tuổi do tai nạn giao thông.


Với hơn hai triệu đĩa đơn bán chạy trong mùa hè năm 1958, bài Portofino tiếp tục ăn khách một năm sau đó với các phiên bản chuyển dịch sang tiếng Tây Ban Nha, Hà Lan, Hy Lạp … Riêng trong tiếng Pháp, bài hát có đến hai lời khác nhau. Lời đầu tiên được tác giả Jacques Larue chuyển dịch khá gần sát, giúp cho phiên bản ghi âm của Dalida phá kỷ lục số bán vào năm 1959.

Lời tiếng Pháp thứ nhì do hai tác giả G. Coulonges & R. Denoncin dịch rất thoát ý, hoàn toàn là một bản phóng tác được ca sĩ Nathalie Degand (nghệ danh là Zóe) ghi âm vào năm 1966 dưới tựa đề La Mélodie Mélancolique (Khúc nhạc buồn). Trong vòng nửa thế kỷ, hàng trăm nghệ sĩ đều cùng ghi âm một bản nhạc tình.

Trái với nhạc phẩm Portofino, từng được nhiều người thu đi thu lại, bài hát đề tựa Monaco 28° à l’ombre (có nghĩa là 28 độ dưới bóng râm) thuộc vào hàng ‘‘one hit wonder’’, tức là bản nhạc ăn khách duy nhất của một nghệ sĩ.

Bản nhạc này có giai điệu ngọt ngào khá quen thuộc, nhờ tiếng đệm đàn du dương, tiếng sóng vỗ dạt dào. Nhưng khi nhắc đến cái tên Jean François Maurice, thì chẳng có người nào biết tác giả là ai. Đằng sau cái nghệ danh này là nhà sản xuất kiêm nhạc sĩ người Pháp Jean Albertini (1947-1996).


Lúc còn trẻ, ông vào nghề sáng tác một cách tình cờ ngẫu nhiên, vì bố mẹ ông là bạn thân của gia đình nam ca sĩ Claude Nougaro. Khi phong trào nhạc trẻ những năm 1960 bắt đầu rộ lên ở Pháp, ông bắt đầu viết ca khúc cho lớp ca sĩ mới.

Chính ông là người đã viết lời ca cho hai ca khúc cực kỳ nổi tiếng của danh ca Christophe là Aline và Les Marionnettes. Ông cũng viết bài La Plage aux Romantiques cho ca sĩ Pascal Danel cũng như nhiều ca khúc khác cho Hervé Vilard hay Michèle Torr.

Sau hơn một thập niên viết nhạc cho người khác, ông ghi âm nhạc phẩm 28° à l’Ombre (tiểu tựa là Monaco) vào năm 1978, xen kẻ giọng đọc với giọng hát, kết hợp hình ảnh sang trọng của thành phố Moncaco với bờ biển cát ngà của hải đảo Maurice (Mauritius Island). Bởi vì ở Monaco, chẳng hề có rặng dừa xanh bên bờ cát trắng.

Được sáng tác ban đầu như một điệu nhạc quảng cáo du lịch, điều mà sau này sẽ nhiều lần được khai thác qua phim ảnh, bản nhạc này phá kỷ lục số bán vào mùa hè năm 1978, ăn khách hơn cả nhạc phẩm L’Été Indien của Joe Dassin phát hành ba năm trước đó. Bản nhạc của Jean Albertini cũng tiếp tục thành công trong hai lần tái bản vào những năm 1980.


Vô hình chung, cả hai bài hát Portofino và Monaco (28° à l’Ombre) đều góp phần là giàu bộ vựng tập bao gồm các bản nhạc chọn địa danh làm tựa đề. Đó là trường hợp của Syracuse, Ipanema, Corcovado, Granada, Venise, Solenzara hay Porto Vecchio.

Khác biệt hay chăng là tầm vóc và uy tín sẵn có của các địa danh, xinh như mộng, đẹp như tranh. Nói cách khác, các thành phố như Capri hay Monaco đã nổi tiếng từ lâu rồi chứ không cần có bài hát của Hervé Vilard hay của Jean Albertini.

Đổi lại, nhờ vào tác giả Fred Buscaglione, mà thị trấn hiền hoà Portofino trở nên một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của nước Ý, với tháp chuông của nhà thờ San Martino lơ lững trên đỉnh đồi, gióng lên tiếng gọi mời cho bao đôi bạn đời, lúc tình yêu vừa tới.

28° A L'OMBRE Jean-François MAURICE
http://www.youtube.com/watch?v=uUf5mdcVNj4
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 11/14/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#208 Posted : Friday, October 11, 2013 12:10:34 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - Thứ năm 10 Tháng Mười 2013
Nước Pháp kỷ niệm rầm rộ 50 năm ngày giỗ Edith Piaf

UserPostedImage
Edith Piaf biểu diễn tại Rotterdam, Hà Lan, 13/12/1962
Wikipédia

Thanh Hà
50 năm sau ngày qua đời, nghệ sĩ Edith Piaf vẫn là một trong những biểu tượng của nước Pháp. Bản tình ca « La Vie En Rose » là một trong 10 bài hát của Pháp được hưởng bản quyền tác giả nhiều nhất trên sân khấu nghệ thuật quốc tế. Đối với giới trẻ, Piaf là biểu tượng của sự vùng lên.

Quận 19 và 20 Paris dành hẳn một chương trình trong 3 ngày để tưởng niệm nữ danh ca này. Chiều nay, nhà thờ Saint Jean tại khu Bellville, quận 20 Paris, tổ chức một buổi cầu nguyện cho Piaf. Đây là nơi bà từng làm lễ rửa tội. Tiếp theo đó là hàng loạt các buổi trình diễn văn nghệ để ôn lại những tác phẩm để đời của Piaf cho đến hết ngày 12/10/2013. Thành phố Paris kể lại huyền thoại « La Môme » trong khuôn khổ cuộc triển lãm mang chủ đề « Theo chân Edith Piaf » .

Sinh ngày 19/12/1915, bị cha mẹ bỏ rơi, Edith Giovanna Gassion phải sớm bươn chải để tìm kế sinh nhai. Mãi đến năm 20 tuổi, cô gái hát rong có chất giọng đặc biệt này mới được một ông chủ quán cabaret, Louis Leplée chú ý. Sự nghiệp của « La Môme – Con nhóc » chỉ bắt đầu từ đó. Piaf nhanh chóng trở thành một ngôi sao trong thế giới ca nhạc, phòng trà của Paris thời đó. Bà hợp tác với các nhà soạn nhạc nổi tiếng Paris thời bấy giờ, để cho ra đời những ca khúc như « Mon Légionnaire », « L’Accordéoniste » …

Nhưng đến năm 1946, sự nghiệp của bà bước sang một khúc quanh mới với « La Vie En Rose ». Tới nay, ca khúc này vẫn là một trong những bản nhạc được biết đến nhiều nhất, dù là đối với khán giả trên nước Nga rộng lớn, hay đối với giới sành điệu trên xứ Hoa anh đào.

Trong đêm ngày 10/10/1963 nữ nghệ sĩ Edith Piaf đã trút hơi thở cuối cùng. Thọ 47 tuổi. Nửa thể kỷ sau, bà vẫn là « tiếng hát » tiêu biểu nhất của nước Pháp qua mọi thời đại. Những ca khúc nổi tiếng nhất của bà cũng như cuộc đời đầy sóng gió và bất hạnh của « La Môme » Piaf vẫn làm mê hoặc thế giới.

Thành phố New York đi tiên phong trong các hoạt động tưởng niệm thiên tài Edith Piaf với hai chương trình đặt biệt vào giữa tháng 9/2013. Sinh thời, Piaf là nữ nghệ sĩ Pháp đầu tiên chinh phục khán giả Mỹ. Năm 1947, Piaf đã chọn làm bệ phóng để khởi đầu sự nghiệp của bà trên đất Mỹ. New York là nơi tác giả của những ca khúc đã đi vào lòng người như « Milord », «L’Hymne à l’Amour » khởi đầu sự nghiệp trên đất Hoa Kỳ. Chính tại thành phố này, bà đã gặp, yêu và vĩnh viễn bị cướp đi mối tình lớn nhất trong cuộc đời là võ sĩ quyền anh, Marcel Cerdan.

Những thử thách dồn dập của cuộc đời, rượu và thuốc lá, ma túy giết dần giết mòn người đàn bà đầy nghị lực như Edith Piaf. Ngày 10/10/1963, bà qua đời ở Grasse, miền nam nước Pháp, thọ 47 tuổi. Edith Piaf để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ hơn 100 bài ca bất hủ, gần một chục bộ phim. Nửa thế kỷ sau, nhiều thế hệ nghệ sĩ trẻ trên thế giới vẫn thần tượng « La Môme Piaf ».

Lady Gaga từng cho biết ý định mua cho bằng được một vài kỷ vật của cố danh ca Pháp, chẳng hạn như một chiếc áo của bà, hay một chai nước hoa đã luôn gắn liền với Edith Piaf. Cũng Lady Gaga từng khẳng định rằng trong cô có chút gì của Piaf bởi sinh thời, Edith Piaf còn là biểu tượng của sự vùng lên, bà không chấp nhận đi theo những con đường đã được vạch sẵn. Chẳng thế mà ở vào đầu thập niên 60, Edith Piaf trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời đã từng cặp đôi với một người tình trẻ hơn bà đến 20 tuổi.
thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 11/14/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#209 Posted : Thursday, November 7, 2013 1:54:32 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Ban nhạc rock Việt vẫn biểu diễn tại Mỹ sau 40 năm


UserPostedImage
Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963.

VOA Tiếng Việt - 05.11.2013
CBC - một ban nhạc rock nổi tiếng ở miền nam Việt Nam từ những năm 60 và 70, vẫn tiếp tục biểu diễn ở Hoa Kỳ sau khi sang định cư tại đây.

Tên CBC là do thân mẫu của ban nhạc đặt cho, viết tắt của chữ 'Con Bà Cụ', và ban nhạc này đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963 khi còn là các thiếu niên.

Ban nhạc cho biết sự đam mê trong nghề nghiệp đã gắn bó họ lại với nhau trong suốt hàng chục năm qua.

Ông Tùng Linh, một thành viên ban nhạc, nói: “Tất cả các anh chị em đều rất đam mê nghệ thuật. Tụi này cũng rất là may mắn là có cái duyên anh chị em với nhau, vẫn thương yêu nhau và gắn bó với nhau trong bao nhiêu năm qua. Tụi này cũng rất yêu mến khán thính giả của mình. Tụi này lúc nào cũng cố gắng để đoàn kết với nhau”.

CBC đi lưu diễn tại khắp các tiểu bang ở Hoa Kỳ. Cũng có những tiểu bang có người Mỹ họ có vợ người Việt và họ biết là CBC có trình diễn tại tiểu bang của họ thì họ cũng đến xem CBC trình diễn và nói rằng tôi là một người lính Hoa Kỳ đã từng chiến đấu tại Việt Nam và xem ban nhạc của các anh chị trình diễn rồi. Họ tới họ gặp họ mừng lắm. (Bà Bích Loan nói)

Sinh ra trong một gia đình nghèo khó, ban nhạc gồm các thành viên phần lớn là anh chị em trong gia đình này nảy ra ý tưởng kiếm sống bằng cách hát nhạc rock cho các binh sĩ Mỹ đồn trú tại Việt Nam trong thời chiến.

Ban nhạc hiện đi biểu diễn tại khắp nơi ở Hoa Kỳ.

Bà Bích Loan, một thành viên khác của CBC, cho hay rằng qua những chuyến đi đó, ban nhạc cũng từng gặp nhiều cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam.

Bà Loan nói: “CBC đi lưu diễn tại khắp các tiểu bang ở Hoa Kỳ. Cũng có những tiểu bang có người Mỹ họ có vợ người Việt và họ biết là CBC có trình diễn tại tiểu bang của họ thì họ cũng đến xem CBC trình diễn và nói rằng tôi là một người lính Hoa Kỳ đã từng chiến đấu tại Việt Nam và xem ban nhạc của các anh chị trình diễn rồi. Họ tới họ gặp họ mừng lắm”.

Bà Bích Loan cho biết, thời trước năm 75, CBC là một trong những ban nhạc hard rock rất nổi tiếng ở miền nam Việt Nam.

Trong khi lưu diễn tại Ấn Độ vào mùa xuân năm 1974, ban nhạc đã xin tị nạn sang Australia.

Lúc này CBC chưa có duyên. Bất cứ cái gì mình làm thì đều có duyên. Khi mà có cái duyên thì CBC cũng sẽ có cái ngày về trình diễn. Còn trong lúc này thì ban nhạc chưa có ý định đó. (Bà Bích Loan nói thêm).

Sau khi bị từ chối, họ được các nhà sư Tây Tạng cũng là tị nạn cưu mang.

Sau năm 1975, các thành viên ban nhạc đã xin tị nạn ở Đại sứ quán Mỹ rồi sau đó định cư tại Houston, Texas.

Bà Loan cho biết hiện CBC chưa có kế hoạch trở về Việt Nam để ca hát.

Bà nói: “Lúc này CBC chưa có duyên. Bất cứ cái gì mình làm thì đều có duyên. Khi mà có cái duyên thì CBC cũng sẽ có cái ngày về trình diễn. Còn trong lúc này thì ban nhạc chưa có ý định đó”.

Năm 2014, CBC Band sẽ kỷ niệm tròn 50 năm ngày thành lập ban nhạc.
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 11/14/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#210 Posted : Tuesday, November 12, 2013 12:44:03 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage
Vũ công biểu diễn trên sân khấu trong một buổi tổng duyệt của vờ ‘La Sylphide’ tại Nhà hát lớn ở Sydney, Australia.
VOA-06.11.2013
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 11/14/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#211 Posted : Wednesday, November 13, 2013 11:49:54 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Ban nhạc huyền thoại ABBA sẽ tái hợp ?


UserPostedImage
(DR)

RFI - 11.11.2013
Ca sĩ Agnetha Faltskog của nhóm ABBA huyền thoại, ngày 10/11/2013, cho biết là ban nhạc này có thể tái hợp vào năm tới, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập.

Năm 2014, ABBA sẽ kỷ niệm 40 năm bài hát Waterlo, thành công âm nhạc đầu tiên của nhóm. Chính với bài hát này mà ABBA đã giành được giải Eurovision 1974, tại Brighton, Anh Quốc. Sau đó, ABBA đã trở thành một trong những ban nhạc huyền thoại của thế hệ disco với một loạt các bài hát được giới trẻ ưa thích, như Mamma Mia, Dancing Queen, Super Trouper.

Về khả năng tái hợp ABBA, khi trả lời phỏng vấn nhật báo Đức Welt am Sonntag, ngày 10/11/2013, ca sĩ Agnetha Faltskog, năm nay 63 tuổi, cho biết : « Đương nhiên, chúng tôi đang nghĩ tới điều này. Chúng tôi có ý tưởng làm một điều gì đó để đánh dấu dịp kỷ niệm này, nhưng ngay bây giờ, tôi không thể nói là ý tưởng này sẽ được thực hiện ».

Năm 1972, Agnetha Faltskog và nhạc sĩ chơi đàn ghi ta Bjorn Ulvaeus (sau này là chồng của cô) cùng với cặp vợ chồng Benny Andersson và Anni-Frid Lyngstad, lập nhóm ABBA. Ca khúc cuối cùng của nhóm là The Visitors, năm 1982.

Ban nhạc huyền thoại ABBA đã bán được 380 triệu đĩa trên toàn thế giới.
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 11/14/2013(UTC), TRA-MAI on 12/17/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#212 Posted : Wednesday, November 20, 2013 6:57:14 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage
Nghệ sĩ Bắc Triều Tiên từ Bình Nhưỡng diễn tập cho một màn dạ vũ được gọi là "Azalea"
tại Liên hoan nghệ thuật châu Á lần thứ 13 ở thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
VOA - 19.11.2013
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
TRA-MAI on 12/17/2013(UTC), Ngọc Anh on 12/18/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#213 Posted : Friday, November 22, 2013 10:16:50 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - THỨ SÁU 22 THÁNG MƯỜI MỘT 2013

30 năm ngày giỗ ca sĩ Karen Carpenter

UserPostedImage

Tuấn Thảo
5 giải Grammy, 10 album, 100 triệu đĩa hát bán chạy trong vòng 14 năm liền. Ít có ban nhạc nào ăn khách đều đặn và liên tục như ban song ca người Mỹ The Carpenters. Trên tột đỉnh danh vọng, đà thành công của nhóm này đột ngột bị gián đoạn với cái chết của Karen Carpenter vào năm 1983, cách đây vừa đúng 30 năm.

Có nhà phê bình cho rằng giọng ca của Karen không khỏe khoắn, không đầy kỹ thuật luyện thanh như các diva nhạc pop thời nay. Một giọng ca như vậy chưa chắc gì sẽ lọt qua các vòng tuyển của các cuộc thi hát truyền hình như "The Voice" hay là "American Idol - Thần tượng nước Mỹ". Nhưng thay vì đầy nội lực, giọng ca Karen Carpenter lại tràn sức sống nội tâm.

Một giọng ca nhung trầm, dung dị mà biểu cảm, như lời thoại tiếng thầm khe khẽ bên tai. Đối với giới hâm mộ, Karen không phải là hình tượng của người tình, mà lại là một người bạn, một người chị. Những bài hát của cô có tác dụng của những lời vỗ về an ủi, cho tâm hồn một chút hơi ấm, cho tim buồn bớt quạnh vắng đơn côi.

Ngày Karen Carpenter vĩnh viễn ra đi, đột qụy đứng tim do chứng bệnh biếng ăn, ban nhạc người Mỹ The Carpenters coi như không còn lý do để tồn tại. Tài hòa âm, chơi đàn của người anh trai Richard, trở nên vô hiệu với cái chết của cô em gái. Kẻ ở người đi, nhóm Carpenters đánh mất vầng hào quang sáng ngời khi tiếng hát của Karen vĩnh biệt cõi đời


Sinh trưởng ở New Haven, bang Connecticut, Karen vào nghề ca hát là nhờ vào sự dìu dắt của người anh trai Richard, lớn hơn cô 4 tuổi. Thời niên thiếu, hai anh em có tánh tình rất khác nhau. Richard trầm mặc ít nói, suốt ngày ở trong nhà nghe nhạc và chơi đàn piano, trong khi Karen thì lại ngỗ nghịch như con trai, mê thể thao và thích rong chơi ngoài đường. Có lẽ cũng vì thế mà sau này, khi bắt đầu chơi nhạc, Karen chọn bộ trống làm nhạc cụ sở trường, một điều tương đối hiếm trong các nghệ sĩ phái nữ thời bấy giờ.

Thời còn học trung học, Karen tham gia vào hai ban nhạc jazz của người anh trai là The Richard Carpenter Trio và Spectrum. Đến khi các nhóm này rã đám, hai anh em tiếp tục ca hát và chính thức chọn nghệ danh Carpenters, khi ký hợp đồng ghi âm vào tháng Tư năm 1969. Hai anh em thu hút sự chú ý ngay từ album đầu tiên đề tựa Offering, tập nhạc này sau đó được tái bản với tựa đề Ticket to Ride, trong đó nhóm Carpenters có ghi âm lại ca khúc nổi tiếng của nhóm Tứ Quái The Beatles.


Trong album thứ nhì phát hành vào năm 1970, Carpenters chọn ghi âm lại nhạc phẩm Close to you của hai tác giả Burt Baccharach và Hal David làm ca khúc chủ đề. Bài này ban đầu do nam diễn viên Richard Chamberlain thu thanh vào năm 1963, tức cách đây đúng nửa thế kỷ, nhưng phải chờ đến phiên bản do nhóm Carpenters ghi âm 7 năm sau, thì bài hát mới nổi tiếng trên khắp thế giới.

Từ album này trở đi, ban nhạc áp đặt tên tuổi của mình với 14 ca khúc đứng đầu bản xếp hạng trên thị trường Hoa Kỳ, xen kẽ các bản nguyên tác của nhóm như bài Yesterday Once More hay Top of The World với những sáng tác của nhiều tác giả khác như bản Superstar của Bonnie Bramlett & Eric Clapton & Leon Russel. Bản nhạc Desperado của nhóm The Eagles, Solitaire của Neil Sedaka hay bài Jambalaya của Hank Williams …


Nhờ vào tài nghệ chơi đàn và hòa âm của Richard, mà đa số các bản cover của Carpenters, tuy là phiên bản ghi âm sau lại vượt trội so với nguyên tác. Đó là trường hợp điển hình của bài The End of the World do ca sĩ nhạc country Skeeter Davis ghi âm lần đầu tiên vào năm 1963, để rồi phá kỷ lục số bán với phiên bản của Carpenters 10 năm sau đó. Bài hát Superstar từng được nhiều nghệ sĩ thu thanh trong đó có Bette Midler hay Joe Cocker, nhưng không xuất thần bằng phiên bản của nhóm Carpenters.

Nhờ vào chất giọng nhung trầm, mượt mà và mềm mại như nhung lụa, trầm tĩnh lung linh như mặt hồ chưa gợn sóng, Karen Carpenter thổi vào khung trời hoài niệm một luồng gió : Mát mà tĩnh mặc, nhẹ mà u uất. Chất giọng contralto của Karen ấm áp tràn đầy nhờ hát giọng ngực ít khi nào hát chẻ giọng óc, nhờ vậy mà cực trầm trong cách luyến láy, cực sang trong lối nhả chữ.


Lối hòa âm đa tầng của Richard Carpenter khai thác tối đa các cung bậc thấp để giúp Karen phát huy trọn vẹn độ dài thang âm trong mỗi lần ngân giọng. Độ ngân giọng càng dài, tình cảm càng bàng bạc man mác. Nhạc cụ yêu chuộng của Karen từ thuở thiếu thời là bộ trống. Vì thế cho nên giọng ca này rất vững trong cách nắm bắt từng nhịp điệu, hát chậm mà không lê thê, hát nhanh vẫn không dồn dập. Lối hát rất vững nhịp đó giúp cho Karen Carpenter có một lối phát âm nhả chữ độc đáo khác thường.

Có lúc giọng ca này hát đùa với nhịp điệu, chậm hơn một chút so với tiếng gõ nhịp. Sinh thời, Frank Sinatra tận dụng kỹ thuật này để hất câu, đá chữ. Karen Carpenter biến nó thành nghệ thuật để tăng thêm chiều sâu trong những nốt trầm, thăng hoa ca từ và cách diễn đạt ý tứ.

Những yếu tố đó có thể giải thích vì sao trong các bản nhạc của Carpenters, dù là nguyên tác hay phiên bản cover vẫn toát lên một sức cuốn hút kỳ lạ. 30 năm sau ngày qua đời, chất giọng của Karen Carpenter vẫn giữ nguyên ma lực quyến rũ đối với người hâm mộ : cốt cách thiên thần, hồn phách liêu trai.

CARPENTERS - yesterday once more
http://www.youtube.com/watch?v=liauypatCds
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
TRA-MAI on 12/17/2013(UTC), Ngọc Anh on 12/18/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#214 Posted : Tuesday, December 17, 2013 11:11:06 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
UserPostedImage
Diễn viên vũ đoàn "Momix Botanica" tạo dáng ở Duesseldorf, Đức.
VOA-16.12.2013
thanks 2 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
TRA-MAI on 12/17/2013(UTC), Ngọc Anh on 12/18/2013(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#215 Posted : Sunday, December 22, 2013 7:13:27 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Robbie Williams : Ngày trở lại của Mister Swing


UserPostedImage
Swing Botth Ways là tập nhạc studio thứ 10 của Robbie Williams (DR)

Tuấn Thảo - RFI
Mister Swing là biệt danh mà giới chuyên ngành đã tặng cho Robbie Williams. Swing (… when you’re winning) cũng là tựa đề album ăn khách mà ca sĩ người Anh đã cho ra mắt cách đây hơn 10 năm. Vào trung tuần tháng 11, Robbie Williams trình làng một tập nhạc mới, có thể được xem như là phần tiếp nối album trước với những ca khúc nhạc jazz để đời.

Mang tựa đề Swings Both Ways, tập nhạc này là album ghi âm trong phòng thu thứ mười của Robbie Williams. Dường như số chẳn là số hên của ca sĩ người Anh. Sau khi ăn mừng 20 năm sự nghiệp, tính luôn cả thời gian anh là thành viên ban nhạc Take That và thường đi hát chung với nhóm này, Robbie Williams cho ra mắt tập nhạc solo thứ mười.

Ngay trong tuần lễ đầu tiên được phát hành, album Swings Both Ways đã nhảy vọt lên hạng đầu thị trường Anh quốc, giành luôn vị trí quán quân tại 8 quốc gia châu Âu. Một cách ngẫu nhiên, tập nhạc mới của Robbie Williams trở thành album thứ 1000 chiếm hạng nhất thị trường số bán, kể từ khi công ty Official Charts Company được thành lập tại Anh.


Album mới của Robbie Williams bao gồm 13 ca khúc, phiên bản Deluxe là 16 bài, trong đó có một nửa là các bản cover, nửa còn lại là những bài hát mới do nhóm sáng tác Guy Chambers thực hiện, đánh dấu một thập niên hợp tác giữa tác giả Guy Chambers với ca sĩ Robbie Williams. Để tránh sự đơn điệu, Robbie trong tập nhạc trước đã triệu mời nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nicole Kidman, Rupert Everett, Jonathan Wilkes để ghi âm cùng với anh các bản song ca.

Trên tập nhạc vừa được phát hành, có sự góp giọng của các ca sĩ trẻ tuổi như Kelly Clarkson, Michael Buble, Olly Murs, Rufus Wainwright. Sau ca khúc trích đoạn đầu tiên là Shine My Shoes, đến lượt tình khúc Dream A Little Dream of Me mà Robbie đã ghi âm với nữ ca sĩ Lily Allen được phát hành vào cuối tuần này như một món quà Noel dành cho giới hâm mộ.


Cả hai tập nhạc mà trong tựa đề có chữ swing … cho thấy là Robbie Williams rất ngưỡng mộ các bậc đàn anh thuộc phong trào Rat Pack của những năm 1950 - 1960. Robbie Williams không có giọng ca mượt mà trầm ấm như Dean Martin, anh không lướt nhịp cừ khôi mà cũng chẳng hất câu cự phách như Giọng ca vàng Frank Sinatra. Đổi lại, Robbie lại có một lối diễn đạt ngẫu hứng tự nhiên, nhã chữ có duyên như Mister Bojangles, một trong những ca khúc ăn khách và cũng là biệt danh của Sammy Davis Junior lúc sinh tiền.

Giới nghệ sĩ hát tiếng Pháp cũng đã từng vinh danh nhóm Rat Pack khi thực hiện một dự án tương tự trên tập nhạc Forever Gentlemen, nhưng họ thiên về thể loại tình ca và các bản ballad trứ danh của các giọng ca crooner. Còn Robbie Williams với ánh mắt lém lỉnh phong cách hóm hỉnh thì nghiêng về phía các giai điệu yêu đời tiết tấu vui nhộn. Chưa đầy một phần ba album được dành cho các bản ballad.


Robbie Williams vẫn trung thành với cái biệt danh Mister Swing. Lối diễn đạt của anh chú trọng đến cách ‘’đùa câu, bắt nhịp’’ cho thấy anh là một swinger, nhiều hơn là crooner. Theo lời nam ca sĩ, sau khi ăn khách với tập nhạc swing phát hành cách đây hơn 10 năm thì thay vì tiếp tục khai thác cái đà thành công này, anh lại lao vào nhiều dự án âm nhạc khác nhau. Năm album mà anh cho ra mắt trong vòng một thập niên, từ năm 2002 đến năm 2012 cho thấy là Robbie liên tục chuyển hướng, chứ không nhất thiết phải chạy theo thị hiếu của người nghe hay xu hướng của thị trường để bảo đảm số bán.

Dự án thực hiện một album nhạc swing thứ nhì manh nha cách đây hơn một năm, sau khi Robbie Williams lập gia đình và có con. Lúc đầu, Robbie chỉ dự tính ghi âm toàn là các bản cover, nhưng dần dần anh thay đổi ý định. Niềm vui làm cha tạo cho anh nguồn cảm hứng dồi dào, từ niềm lạc quan yêu đời ấy anh viết nhiều ca khúc mới, trong đó có nhạc phẩm Go Gentle mà anh tặng cho đứa con gái đầu lòng.


Kết quả là tập nhạc Swings Both Ways của Robbie Williams có hai vế : kinh điển và tân thời, midtempo và nhịp nhanh, điệu swing và nhạc pop, chứ không còn thuần jazz standard như trên album trước, thời mà Robbie Williams bước vào sân chơi của làng nhạc jazz khi trình bày lại các nhạc phẩm bất hủ của hai tác giả Cole Porter và George Gershwin.

Nhóm sáng tác của Guy Chambers đã gợi hứng khá nhiều từ thế giới nhạc jazz cũng như từ thời kỳ huy hoàng của nhóm Rat Pack để soạn ra những ca khúc mới, vừa tầm cho giọng ca của Robbie Williams. Tuy nhiên, cho dù có tài cách mấy, nhóm sáng tác này vẫn chưa thể sánh bằng các bậc đàn anh như Irving Berlin, Bobby Russell, Cab Calloway, Harold Arlen, đều có ca khúc được ghi âm lại trên album này.


Các tác giả thời trước như Irving Berlin, Cole Porter, George Gershwin đều là những cây đại thụ của làng nhạc jazz. Nhờ vào tài nghệ sáng tác, họ nổi tiếng là những bậc phù thủy trong cách soạn giai điệu, tinh tế sắc sảo, cô đọng cốt lõi, trước khi giới chuyên ngành sáng chế ra thuật ngữ ‘’melody maker’’.

Sau khi thử nghiệm cọ xát với nhiều thể loại âm nhạc khác nhau, Robbie Williams vừa tìm lại dòng nhạc mà anh hằng yêu thích. Số chẳn dường như là số hên của ca sĩ này. Tháng Hai năm 2014, anh sẽ ăn mừng sinh nhật tròn 40 tuổi. Đó cũng là dịp để cho Robbie Williams lên đường lưu diễn để gặp gỡ giới hâm mộ.

Trên sân khấu, Robbie Williams sẽ hóa thân thành Mister Swing, trong bộ âu phục đắt tiền. Giới nghệ sĩ hát tiếng Pháp trên tập nhạc Forever Gentlemen thích cái phong cách chải chuốt đào hoa của các giọng ca crooner, Robbie thì lại thích nô đùa ra vẻ nghịch ngợm. Như thể gần 40 tuổi đời, anh vẫn muốn như một cậu bé, thả bộ rong chơi trong cái thế giới âm nhạc mà anh cho là lạ kỳ diệu vợi, mãnh liệt cuốn hút như niềm đam mê đầu đời.

Robbie Williams | 'Go Gentle' | Official Music Video
http://www.youtube.com/watch?v=o3OWZaIpEDk

Edited by user Sunday, December 22, 2013 7:15:24 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Hoàng Thy Mai Thảo  
#216 Posted : Monday, December 23, 2013 1:40:47 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Truyền thống cây đàn dương cầm Steinway


UserPostedImage
Phần lớn các phòng hòa nhạc và nhạc viện ở Hoa Kỳ đều có chiếc đàn dương cầm do Steinway & Son sản xuất (
Photo courtesy of Steinway & Sons)

VOA - 23.12.2013
Từ 160 năm, những cây đàn dương cầm của Steinway & Sons đã được coi là tinh tế nhất thế giới, vì nghệ thuật và phẩm chất siêu việt của chúng. Thông tín viên VOA Jeff Lunden tường thuật rằng mặc dầu công ty này vừa có một sở hữu chủ mới, truyền thống dầy công phu là làm ra các nhạc cụ bằng tay dự trù sẽ vẫn tiếp tục.

Các đại dương cầm thủ cần phải có những cây dương cầm tuyệt hảo. Vladimir Horowitz, nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng của Nga thường đem theo cây đàn Steinway của chính mình khi đi lưu diễn trong các buổi hòa nhạc khắp thế giới.

Phần lớn các phòng hòa nhạc và nhạc viện ở nước Mỹ đều có các cây đàn Steinway, và các dương cầm thủ từ Lang Lang cho đến Billy Joel đều là những nghệ sĩ chuyên sử dụng đàn Steinway. Mùa thu năm nay, nhạc sĩ dương cầm Nga Kirill Gerstein đến thành phố New York để trình diễn cùng ban đại hòa tấu của thành phố.

Nhạc sĩ Gerstein nói: “Tôi nghĩ hệ thống cân não và cơ bắp của nhiều thế hệ dương cầm thủ đã được hình thành qua thể cách cảm nghĩ hành động và thể cách hành động và âm thanh hoà nhập ra sao vào kinh nghiệm trình diễn này. Và đối với thính giả, chính kinh nghiệm thưởng thức âm thanh cây đàn Steinway này đã thực sự nuôi dưỡng những gì chúng ta nghĩ về tiếng đàn dương cầm.”

Các cây đàn Steinway đã được chế tạo từ năm 1871 tại một khu nhà máy ở thành phố New York. Công ty này do một di dân người Ðức tên là Henry Englehard Steiway thành lập năm 1853, khi New York có vài chục nhà sản xuất đàn dương cầm.

Nhưng giám đốc công ty Steinway đặc trách về sự hài lòng của khách hàng, ông Robert Berger nói:

“Ngay từ ban đầu, họ đã hết sức tìm cách sáng tạo ra cây đàn dương cầm tiêu chuẩn của thế giới. Không phải cây đàn dương cầm “trung bình,” mà là cây đàn “tiêu chuẩn,” cây đàn mà tất cả những cây đàn phải dựa vào để đánh giá.”

Và những cây đàn dương cầm đó được làm cho thật bền. Ngày nay, một lực lượng lao động khoảng 300 thợ thủ công nam nữ, đã sản xuất ra khoảng 1.500 cây đàn dương cầm mỗi năm tại nhà máy Astoria.

UserPostedImage
Một nghệ nhân làm việc cho công ty sản xuất đàn dương cầm Steinway & Son ở Astoria New York
(Photo courtesy of Steinway & Sons)

Phải mất 11 tháng để làm một cây đại dương cầm Steinway, với 12.000 bộ phận.

Nhà máy hoạt động như một tổ ong. Ở một khu, những tấm gỗ dán mỏng được gắn liền với nhau và đặt vào máy ép, để tạo ra hình dáng đặc biệt của cây đại dương cầm.

Ở một khu khác, những người được gọi là “belly men” tức là chuyên tạo các bộ phận trong lòng cây đàn” đặt các tấm bảng âm thanh vào khung. Một phiến sắt đúc được thêm vào, các sợi dây đàn được gắn, và hành động, tức là những cái búa nhỏ gõ vào các sợi dây, được gắn lên.

Các cây đàn dương cầm được lên dây tất cả là 5 lần. Hai lần, trong tiến trình này, các cây đàn được đưa vào một căn phòng, nơi một cái máy đập mạnh vào tất cả 88 dây đàn cùng một lúc, để giúp “khởi động” các khí cụ.

Nguyên cả một khu khác trong nhà máy được dành để phục hồi các cây đàn Steinway cổ. Ông Bill Youse, điều hành bộ phận này, cho biết

“Ðến ngày 2 tháng 7 năm nay là tôi làm tròn 40 năm với công ty. Tôi cũng là nhân viên Steinway thuộc thế hệ thứ ba. Và tôi thuộc thế hệ thứ ba trong 4 thế hệ, con trai tôi cũng đang làm việc ở đây.”

Ông Youse nói các cây đàn dương cầm tuyệt hảo là nhờ nhiều thế hệ công nhân tất cả đều xả thân cống hiến cho cùng một mục đích:

“Ngoài một số chất liệu, như keo dán và nhiều thứ đã được cải tiến qua nhiều năm, cây đàn dương cầm vẫn giữ gần như nguyên si giống với cây đàn ta đã có từ cuối thấp niên 1800.”

Một trong những đồng nghiệp của ông đã làm với Steinway hơn 50 năm nói:

“Tên tôi là Wally Boot. Tôi là người cuối cùng chạm vào cây đàn trước khi nó rời khỏi nhà máy. Tôi là người thanh tra âm thanh cuối cùng của cây đàn. Tôi đã làm việc ở đây 51 năm. Và công việc của tôi là lắng nghe cây đàn dương cầm và chắc chắn về âm thanh toàn hoả của nó và mọi thứ đều hoạt động tốt.”

Và có rất ít thứ hoạt động giống như một cây đàn Steinway. Ông Boot, người lớn lên cách nhà máy hai khu phố, nói rằng mỗi cây đàn dương cầm đều có cá tính riêng của nó:

“Nếu là một cây piano vui tươi, thì sẽ là cây piano để chơi nhạc jazz; nếu là một cây đàn piano êm dịu, thì thường là để trong nhà hay để chơi nhạc thính phòng. Còn đây là một cây kiểu B, thì là cây piano cho dàn nhạc hòa tấu.”

Mức độ chăm sóc và nghệ thuật thủ công giúp giải thích vì sao một cây đàn piano Steinway có thể bán với gì từ 55.000 đến 145.000 đôla. Ông Berger của hãng Steinway nói những cây đàn dương cầm này trở thành một của hồi môn quý báu của gia đình, lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Ông nói:

“Một người chủ đàn mới sẽ nói một câu đại loại như, ‘giấc mơ cả đời tôi vẫn là làm chủ một cây piano Steinway,’ hay ‘tôi đã để dành bao nhiêu năm để mua được cây đàn piano này và cuối cùng tôi đã thực hiện được giấc mơ của tôi.”

Và người chủ cây đàn Steinway mới nói rằng giấc mơ làm bằng tay đó sẽ còn tiếp tục nhiều năm nữa.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#217 Posted : Wednesday, January 1, 2014 3:24:21 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

ABBA - Happy New Year



Hoàng Thy Mai Thảo  
#218 Posted : Tuesday, January 7, 2014 8:25:06 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Tình Ca Cho Nguyễn Thị SàiGòn - Việt Dzũng

Hoàng Thy Mai Thảo  
#219 Posted : Sunday, January 12, 2014 10:14:28 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)
RFI - THỨ BẢY 11 THÁNG GIÊNG 2014

2014 : Các dự án âm nhạc quốc tế hoành tráng

UserPostedImage
Ca sĩ Adele và nhà hòa âm Paul Epworth nhân kỳ trao giải Oscar - Reuters /Blake

Tuấn Thảo
Vào lúc làng nhạc Anh Mỹ chuẩn bị trao giải thưởng âm nhạc hàng năm, mà đỉnh cao sẽ là giải Grammy lần thứ 56, vào ngày 26 tháng Giêng tới, thì năm 2014 mở ra với khá nhiều hứa hẹn. Trong số các dự án âm nhạc quốc tế với tầm cỡ hoành tráng có tập nhạc mới của ban nhạc người Ai Len U2, của ngôi sao nhạc rock Bruce Springsteen hay của ca sĩ người Úc Sia. Nhưng gương mặt được chờ đợi nhiều nhất vẫn là diva người Anh Adele.

Từ Twitter cho đến Facebook, cư dân mạng càng nôn nóng chờ đón album thứ ba của nữ ca sĩ Adele sau khi nhà hòa âm kiêm nhạc sĩ người Anh William Orbit nhắn tin ngắn gọn trên mạng : anh đang sáng tác và ghi âm với Adele.

Nhà sản xuất nổi tiếng William Orbit từng hợp tác với nhiều tên tuổi lớn, trong đó có phần thực hiện hai album trước đây là Ray of Light và MDNA của Madonna cũng như album mới của Britney Spears mang tựa đề Britney Jean. Mặc dù chưa được xác nhận bởi các nguồn tin chính thức, nhưng sự hiện diện của anh có thể đánh dấu một sự chuyển hướng ít ra là trong lối hoà âm mộc pha điện tử các bài hát trong tương lai của Adele.

Ngày trở lại của Adele hiện là một trong những thông tin được bình luận nhiều nhất trên các mạng xã hội, lượng tin nhắn không kém gì buổi biểu diễn của Beyonce nhân giải Super Bowl hồi tháng Hai năm 2013. Tập nhạc thứ ba của Adele dự trù phát hành trước mùa hè năm 2014 cũng là một thách thức lớn đối với nhóm sáng tác cũng như các nhà sản xuất : làm thế nào để lập lại thành tích của album trước mang tựa đề 21. Chỉ riêng với album này, Adele đã đọat 7 giải Grammy, chiếm hạng đầu 25 quốc gia và bán hơn 28 triệu bản trên toàn thế giới.


Năm 2014 phải chăng sẽ là năm của nhạc rock ? Ít ra các nhóm nhạc rock trẻ như Muse hay Archive đều đã lên kế họach phát hành album mới. Về phía các nghệ sĩ đàn anh, danh ca Bruce Springsteen và ban nhạc U2 đều có album phát hành trong năm nay. Vào trung tuần tháng Giêng, Bruce Springsteen trình làng album thứ 18 với tựa đề High Hopes. Trích đoạn đầu tiên và cũng là ca khúc chủ đề của album cho thấy là Bruce vẫn trung thành với phong cách dũng mãnh, nhịp điệu cứng cựa rắn chắc, đàn ghi ta điện tràn đầy sinh lực.

Được mệnh danh là The Boss (Ông Chủ), Bruce Springsteen đã không ngừng trình diễn trong hai năm vừa qua với ban nhạc của anh là nhóm The E Band. Album mới đã được ghi âm trong lúc cả nhóm đang lưu diễn tại các thành phố lớn ở Hoa Kỳ, Canada và Úc. Lần này, Bruce hợp tác với tay đàn ghi ta cừ khôi Tom Morello của nhóm Rage Against the Machine. Ngày phát hành album mới cũng là dịp để cho cả nhóm khởi đầu một vòng lưu diễn mới. Bruce cũng thường xuất hiện trên sân khấu, theo lời mời của các bạn đồng nghiệp như Bob Dylan và Sting, thành viên sáng lập ban nhạc rock Police.

Nếu như buổi biểu diễn đầu tiên của Bruce Springsteen sẽ diễn ra vào ngày 28 tháng Giêng tại Cape Town ở Nam Phi, thì hầu như vào cùng một thời điểm, ban nhạc Ai Len U2 trình làng phiên bản mới của bài No Ordinary Love. Bài hát này từng được chọn làm ca khúc chủ đề cho bộ phim biopic đề tựa Long Walk to Freedom (Đường dài đến tự do) của đạo diễn Justin Chadwick, kể lại cuộc đời và sự nghiệp của ông Nelson Mandela. Rất nhiều ca khúc đã được tái bản nhân tang lễ của ông Mandela, trong đó có bài Mandela Day của nhóm Simple Minds, Asimbonanga của Jonny Clegg &Savuka, Talkin’ About Revolution của Tracy Chapman.


Về phía ban nhạc Ai Len, bài No Ordinary Love đã được Paul Epworth phối khí lại với lối hoà âm lạc quan yêu đời hơn. Ngày phát hành ca khúc cũng là dịp để cho U2 tạo cơn sốt nơi giới hâm mộ. Nhóm này cho biết sau nhiều năm vắng bóng họ sẽ trở lại trong năm 2014 với một tập nhạc hoàn toàn mới tức là gồm những sáng tác chính gốc chứ không có cover.

Ngoại trừ có thay đổi vào giờ phút chót, thì album thứ mười ba của nhóm sẽ được phát hành vào tháng Tư năm 2014, đánh dấu sự hợp tác của nhóm với tay hoà âm Danger Mouse , tên thật là Brian Burton, chứ không phải là với nhà hai nhà sản xuất RedOne và David Guetta như theo một số nguồn tin trên mạng.

Năm 2014 dường như không phải là năm của các diva. Ngọai trừ trường hợp của Beyonce, thì hầu hết các thần tượng nhạc pop đều đã không thành công như mong đợi vào cuối năm ngoái, đầu năm nay. Sau một đợt quảng cáo rầm rộ, rốt cuộc Lady Gaga thất bại với tập nhạc ARTPOP, buộc phải sa thải nhân viên cộng tác, viết thư xin lỗi các fan do số bán quá thấp so với hang chục triệu đô la số tiền bỏ ra cho các đợt tiếp thị. Album tiếng Anh của Celine Dion cũng chỉ thành công nửa vời, dù có sự hỗ trợ của các tài năng mới như Sia hay Ne Yo.


Rihanna thì tuyên bố tạm nghỉ ngơi, ngưng ghi âm trong năm 2014, sau khi liên tục cho phát hành mỗi năm một album. Britney Spears thì trình làng cuối năm 2013 một album mới và ký hợp đồng biểu diễn tại Las Vegas, nhưng đợt biểu diễn này bị chỉ trích do Briney hát nhép quá nhiều, và kết quả là album Britney Jean không đứng đầu bản xếp hạng.

Rốt cuộc thì Beyonce là gương mặt thành công nhất, album mới phát hành trực hồi trung tuần tháng 12 phá kỷ lục số bán với hơn một triệu bản chỉ trong 7 ngày, xấp xỉ với số bán của Justin Timberlake về phía nam. Dựa trên khái niệm album hiển thị, 17 bài hát của album đều được minh họa bằng video clip, khi ghép lại thành một bộ phim dài, tập nhạc mới của Beyonce là một dự án khá táo bạo, thành công dù không hề có quảng cáo, gây ngạc nhiên, bất ngờ vì không hề được báo trước. Một dự án thầm lặng coi vậy mà hiệu quả hơn là khua chiêng gõ trống.


Năm 2014 như vậy dự báo đà thành công của cặp vợ chồng Beyonce, vì chồng cô là diễn viên nhạc hip hop Jay Z là một trong những gương mặt sáng giá nhất nhân kỳ trao giải Grammy vào cuối tháng Giêng. Với tổng cộng là 9 đề cử, trong đó có danh hiệu album nhạc rap xuất sắc nhất, Jay Z dẫn đầu danh sách các nghệ sĩ đi tranh giải và kế theo sau là Daft Punk, Lorde, Macklemore & Ryan Lewis, Rihanna và Katy Perry.

Tuy nhiên, Jay Z đã để vuột mất đề cử quan trọng nhất là Ghi âm hay nhất trong năm (Record of The Year). Ban nhạc Pháp Daft Punk thì hy vọng đọat giải này cũng như danh hịêu dành cho album điện từ hay nhất. Dù gì đi nữa trên khấu, Daft Punk sẽ diễn với Stevie Wonder nhạc phẩm Get Lucky, được xem là ca khúc phát sóng nhiều lần nhất trong năm vừa qua.


Về phần mình, Bruno Mars sẽ vinh dự biểu diễn tại giải Super Bowl, vốn là sự kiện thể thao lớn nhất Hoa Kỳ vì thu hút mỗi lần hơn 100 triệu khán giả. Bruno Mars đã thành công trong năm qua với một lọat ca khúc ăn khách như Locked Out of Heaven, When I Was Your Man và Treasure, đều được trích từ tập nhạc Unorthodox Jukebox. Phần biểu diễn của Bruno Mars hứa hẹn nhiều màn bát ngờ với bước nhảy ngọan mục nhuần nhuyễn, rất hợp với thể lọai âm nhạc mà anh cũng như nhóm Daft Punk đã chọn. Năm 2014 có thể đánh dấu ngày hồi sinh của dòng nhạc soul funky !!!
Hoàng Thy Mai Thảo  
#220 Posted : Saturday, January 25, 2014 1:29:04 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 11,906

Thanks: 4420 times
Was thanked: 2118 time(s) in 1490 post(s)

Rose Fostanes: Giọng ca thiên phú


UserPostedImage
Sự thành công của Rose Fostanes, thí sinh nước ngoài duy nhất tham gia và thắng cuộc thi tài ở Israel, đã khiến cho giấc mơ trở thành một nghệ sĩ trình diễn của Rose gần với thực tế hơn

VOA-24.01.2014
Thưa quý độc giả, trong những ngày đầu của tháng Giêng năm 2014, giới thưởng ngoạn âm nhạc đã được chứng kiến sự xuất hiện của một giọng ca độc đáo và vô cùng truyền cảm, khi theo dõi chương trình X Factor-Israel, một chương trình tuyển chọn tài năng mới của Israel. Chủ nhân giọng ca đặc biệt đó là một phụ nữ đã quá tuổi tứ tuần, một người lao động xuất khẩu đến từ Philippines, phục vụ và chăm sóc người cao niên để giúp đỡ gia đình trong hoàn cảnh túng thiếu ở bên nhà. Mục Đời sống Văn Hóa của VOA do Hoài Hương phụ trách tuần này xin được dành để kể lại câu chuyện về người phụ nữ Philippines sang Israel lao động, đang có nhiều triển vọng trở thành một nghệ sĩ trình diễn sáng giá, một người mà tên tuổi chắc chắn sẽ còn được nhiều người biết đến trong thời gian tới.

Trong một nhóm thí sinh tài hoa- phần lớn đều thuộc thành phần trẻ tuổi, ngoại hình dễ nhìn, ăn mặc thời trang, người phụ nữ lao động người Philippines trông thật lạc loài và thiếu tự tin trong chiếc áo phông và bộ quần jean, đi kèm với một đôi giầy bata, khép nép đứng ngoài lề đám nam thanh nữ tú đang chờ bước lên sân khấu.

Trả lời câu hỏi của một giám khảo, người phụ nữ tên Rose Fontanas thú thật rằng bà chưa từng trình diễn trên sân khấu trước đông đảo khán giả như thế này bao giờ.

Theo dõi trên You Tube, người xem không thể không trông thấy các cô cậu thanh niên trong cử tọa trao đổi với nhau những cái nhìn thật ý nghĩa.

Được hỏi, liệu bà có hy vọng sẽ trúng giải tại cuộc thi, Rose Fontanas thành thật trả lời rằng bà thực sự không biết nhưng sẽ cố gắng hết sức mình. Một số trong đám đông khán giả lịch sự lấy tay che miệng cười.

Thế nhưng như trong một truyện cổ tích, Lọ Lem bỗng chốc trở thành một nàng công chúa bởi vì ngay từ những nốt nhạc, ngay từ câu ca đầu tiên, Rose Fontanas gần như đã chinh phục được cử tọa và cả ban giám khảo khó tính gồm ba vị giám khảo nam và một vị giám khảo nữ.

Nhạc phẩm được chọn, vô cùng thích hợp với chất giọng và hoàn cảnh người hát, thực sự gây xúc động. Trong đám đông, một vài thanh niên nam nữ trước đó đã bụm miệng cười, nay có người sửng sốt đến há hốc miệng.

Nữ giám khảo duy nhất tên Shiri là một ca sĩ xinh đẹp, nổi tiếng của Israel. Shiri tin tưởng vào tài năng thiên phú của Rose đến mức nhận làm nghệ sĩ đỡ đầu cho Rose, thí sinh mà cô cho là nổi bật, và có triển vọng nhất trong cuộc thi.

Với sự nâng đỡ của Shiri, trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc thi đua tài năng, giọng ca thiên phú và phong cách trình diễn tự nhiên, đã không ngừng gây thích thú cho cử tọa và bất cứ ai nghe được giọng ca của bà.

Hoàn cảnh thực tế khó khăn của một công nhân ra nước ngoài lao động để gửi hết tiền về cho gia đình, cộng thêm bản tính thật thà và tính dễ mến của Rose, càng gây cảm tình nồng hậu hơn nơi các fan mới.

MC của chương trình X-Factor trên truyền hình Israel có lẽ tóm gọn được cảm nghĩ của nhiều người khi cô phát biểu: “Rose, bà là một phụ nữ tài hoa, và là một con người hết sức dễ mến. We love you (Chúng tôi yêu bà)!”

UserPostedImage
Bà Rose Fostanes,47 tuổi, một phụ nữ từ Philippines sang Israel làm công việc chăm sóc người bệnh và người già, đã chiến thắng cuộc thi X Factor phiên bản Israel

Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, những người theo dõi Rose từ ngày đầu, đã được chứng kiến trước mắt sự biến đổi nơi người phụ nữ này, từ một người lao động mặc quần jean áo thun, rụt rè bước lên sân khấu, trở thành một nghệ sĩ trình diễn đầy tự tin trên sân khấu của chương trình X Factor-Israel. Giờ đây, được giúp trang điểm và ăn diện trang nhã, hợp với khổ người, nét mặt của Rose ngời sáng trong niềm hạnh phúc được thực hiện giấc mơ hằng ấp ủ bấy lâu.
Và, như một phép lạ, cuối cùng, Rose đã đánh bại một rừng thí sinh người Israel trẻ trung lịch thiệp, không thiếu tài năng, mà chỉ không may mắn đã phải tranh tài với một tài năng không đối thủ.

Nếu từ câu ca đầu tiên, khán giả dù khó tính đã phải ngồi dậy chú ý, thì nhạc phẩm My Way do Rose Fostanes trình bày đã để lại cảm xúc mạnh. Cử tọa và toàn thể ban giám khảo lắng nghe trong nỗi bàng hoàng bất ngờ, giọng ca lúc ngọt ngào, trong trẻo, khi khàn đặc và mạnh như vũ bão... Cử tọa đong đưa theo điệu nhạc, và cuối cùng nhắm mắt để giọng ca tuyệt vời ấy đưa cảm xúc lên cao...

Với giọng ca ấy, a star is born- một ngôi sao mới đã xuất hiện trên bầu trời – ít nhất trong lĩnh vực giải trí. Sự thành công của Rose Fostanes, thí sinh nước ngoài duy nhất tham gia và thắng cuộc thi tài ở Israel, đã khiến cho giấc mơ trở thành một nghệ sĩ trình diễn của Rose gần với thực tế hơn. Tuy nhiên, các giới chức di trú Israel nói Rose chỉ được cấp giấy nhập cảnh để làm việc trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh và người già. Hôm thứ Hai 20 tháng Giêng, Bộ trưởng Nội vụ Israel Gideon Saar loan báo quyết định của ông cho phép Rose được hành nghề trong tư cách một nghệ sĩ trình diễn.

Chắc chắn giới yêu âm nhạc không những chỉ ở Israel, địa điểm tổ chức cuộc thi tuyển lựa tài năng mới X Factor, mà cả giới yêu nhạc tại nhiều nước khác, sẽ còn được nghe nhiều về Rose Fostanes, một ca sĩ tuy chưa từng được đào tạo một cách chính quy, nhưng chắc chắn đang trên đường trở thành một nghệ sĩ sáng giá, xứng tầm với giọng ca và khả năng thiên phú.

Đến đây cũng đã kết thúc chương trình ‘Đời sống văn hóa’của đài VOA phát thanh từ thủ đô Washington. Hoài Hương xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại quý vị trong chương trình tối thứ Bảy tuần tới, cũng trên làn sóng của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ.

Nguồn: Agence France-Presse, The Manila Bulletin, VOA, Inquirer.net


Nguồn video: Kênh YouTube của THE X FACTOR ISRAEL.
Users browsing this topic
Guest (2)
12 Pages«<9101112>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.