Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

87 Pages«<84858687>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1701 Posted : Saturday, November 27, 2021 7:43:03 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Chỗ đứng của Joséphine Baker trong điện Panthéon

27/11/2021 - Thanh Hà / RFI
Ngày 30/11/2021 nghệ sĩ người Mỹ Joséphine Baker là phụ nữ da đen đầu tiên được đưa vào điện Panthéon - Paris, nơi những vĩ nhân viết nên những trang sử đẹp của nước Pháp yên nghỉ. Là một vũ nữ, một ngôi sao sáng trong làng giải trí ở nửa đầu thế kỷ 20, bà đã đóng góp những gì cho nước Pháp ?

Tên tuổi của Joséphine Baker gắn liền với lời ca “Tôi có hai tình yêu, đất nước tôi là Paris”. Đúng ngày kỷ niệm 84 năm trước đây Joséphine lên xe hoa lần thứ ba với một người đàn ông Pháp gốc Do Thái, trở thành công dân Pháp, tro cốt của Joséphine Baker được đưa về điện Panthéon. Bà sẽ là một trong sáu phụ nữ cùng với 75 ông được “tổ quốc ghi công”.

Thập niên 1930, đang ở trên đỉnh cao danh vọng, thu hút ánh sáng đèn màu sân khấu Paris, Joséphine Baker đã hy sinh tất cả khi nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng. Bà tham gia hàng ngũ kháng chiến, đứng về phía tướng Charles de Gaulle. Bà được phái sang Bắc Phi để thu thập thông tin quan trọng cho quân đội đồng minh. Joséphine đã giấu những bức thư mật trong những tập sách nhạc, giấu micro phim trong ngực áo. Bà cũng là người tổ chức những buổi nhạc hội để quyên tiền cho lực lượng quân đội La France Libre của tướng de Gaulle. Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Joséphine Baker được trao tặng Bắc Đầu Bội Tinh, huân chương vinh danh những vị anh hùng chiến tranh La Croix de Guerre nhờ rất nhiều những đóng góp “nguy hiểm và lớn lao” cho nước Pháp.

Joséphine Baker là người đi trước thời đại : bà không che giấu là một người lưỡng tính, là một tiếng nói bảo vệ nữ quyền, là người vùng lên chống lại mọi hình thức kỳ thị chủng tộc, mọi phân biệt đối xử. Ngoài đời, bà là một người mẹ chăm chút cho 12 đứa con nuôi của mình với đủ mầu da và chủng tộc (trong đó có hai người con gốc châu Á, một Đại Hàn và một là người Nhật). Sinh thời bà từng rất hãnh diện với gia đình “bảy sắc cầu vồng” như chính Joséphine Baker thường hay nói. Bà cũng là một người hiếm hoi có sức chinh phục từ lãnh tụ Cuba, Fidel Castro đến nhiều đời tổng thống Mỹ.

Tên thật là Freda Josephine McDonal sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó tại thành phố Saint Louis, bang Missouri, Hoa Kỳ, cô gái đã phải sớm tìm cho mình một chỗ đứng trong thế giới thuộc về những người da trắng. Cô lập gia đình năm 16 tuổi với Willie Baker để rồi cái tên ấy vĩnh viễn gắn liền với Joséphine.

Không chen chân được vào thế giới nghệ thuật ở Broadway- New York, thiếu phụ trẻ tuổi này vượt đại dương sang Pháp tìm đường kiếm sống. Paris trở thành “quê hương thứ hai” của bà, nơi Freda hóa thân thành huyền thoại Joséphine Baker, chung thủy với sân khấu trong vòng đúng 50 năm. Bà từ trần tại Paris này 10/04/1975, vài ngày sau “lễ kim hôn với sân khấu đèn mầu”.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1702 Posted : Sunday, November 28, 2021 8:23:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

“ĐỜI SỐNG THƯỢNG LƯU” : Cội rễ dưới ánh mặt trời

27/11/2021 - Lệ Thu / RFI
Một cái gì thật châm biếm, hài hước, đau hay vui nhưng vẫn đầy sự mỉa mai, biết tự cười Mình và cười Người, chỉ có thể rất Ý, là điều người ta sẽ tìm thấy trong “The great beauty”, tạm dịch là “Đời sống thượng lưu” của điện ảnh Ý.

Đạo diễn kiêm đồng biên kịch Paolo Sorrentino đã chinh phục tượng vàng Oscar lần thứ 86 bởi những câu chuyện nhỏ xen lẫn vào những cảm xúc của nhân vật chính là một sợi dây xuyên suốt phim, cho người ta thấy “cuộc đời chỉ là hành trình của sự tưởng tượng, tất cả đều đi từ Sống tới Chết … và tất cả vốn chỉ là một trò lừa đảo” mà thôi.

Truyện phim kể về Jep Gambardella, một nhà văn ở tuổi 65, người đã từng có tác phẩm văn học nổi tiếng ở Ý, mang tên “The Human Apparatus”. Kể từ sau cuốn tiểu thuyết ấy, 40 năm đã trôi qua, ông không thể viết thêm bất cứ tác phẩm nào, bởi trong thâm tâm, ông luôn muốn “tìm một vẻ đẹp cao quý nhưng chưa tìm được”. Jep trở thành một nhà báo, chuyên thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người nổi tiếng ở Roma. Từ đó, dường như những điều xấu, đẹp, hay, dở đều được bộc lộ, và qua con mắt của Jep, nó nửa đau thương nửa hài hước, nửa sang trọng nửa thô lậu, khiến cho người ta phải dở khóc dở cười. Ở đó, vẻ đẹp của Roma hiện lên mê hoặc, đầy sức sống nhưng thật ra là “đang chết dần” trong mắt ông.

Nhìn vào Jep, người ta thấy cuộc sống của một Gatsby với những cuộc vui, những tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, những giấc ngủ khi người khác thức dậy và bình minh lúc 3 giờ chiều. Thế nhưng, Jep là một người tỉnh táo, luôn biết mọi thứ biến động quanh mình, biết mình là ai, mình ở đâu, biết những người xung quanh đang hiện hữu theo cách nào và như một câu thoại ông đã nói, rằng “Mọi thứ quanh tôi đang chết, cả Roma, cả những người trẻ hơn tôi và tôi”.

Cuộc đời với những cái mũi dài

Hẳn ai cũng biết nhân vật Pinochio, chú bé người gỗ mỗi lần nói dối là một lần chiếc mũi lại dài ra. Trong “Đời sống thượng lưu” thì không hẳn vậy, dường như ai cũng dối trá nhưng chẳng có cái mũi nào dài ra cả. Do đó, những dối trá ấy trở thành bí mật và ai cũng cho mình cái quyền được nói dối, được sống dựa vào những “bí mật tưởng như không thể bật mí” ấy. Những sự lố lăng được Jep lần lượt bóc tách như bóc một củ hành nhiều lớp, không hẳn là một bài phỏng vấn nhưng giống như những thấu hiểu quá rõ ràng mà ông dành cho họ, dành cho cuộc đời đang diễn ra quanh mình. Đó là tảng băng chìm bên dưới sự hoa mỹ, mang danh của nghệ sỹ, của nhà văn, của giới thượng lưu, thậm chí, của cả một đức Hồng Y.

Một nghệ sĩ kịch câm tự lao đầu vào tường, luôn nói những điều đao to búa lớn về thấu cảm, về cảm xúc nhưng lại không thể lí giải cái cảm xúc ấy là gì. Có phải cô nghĩ “Tôi là nghệ sĩ và tôi không cần phải giải thích” - đó là điều mà Jep nói thẳng vào mặt cô ta khi sự lúng túng bộc lộ bên dưới cái vỏ khó hiểu kệch cỡm nửa mùa.

Một nhà văn có 11 cuốn sách, nhìn đời bằng nửa con mắt với sự khinh miệt, tự phụ, thì hóa ra cái kết quả ấy chẳng qua là nhờ vào “lưới tình” của cô ta với giới chính khách. Ngoài miệng rêu rao sự hi sinh vì gia đình, vì con cái nhưng kì thực, cô ta có tới 3 người giúp việc, có cả quản gia, người phục vụ… để dạy dỗ và gần gũi các con, vậy cô ta hi sinh cái gì?

Một cô bé họa sĩ nhỏ tuổi bị cha mẹ lôi ra khỏi sân chơi với các bạn cùng lứa, ép phải tham gia vào bữa tiệc sang trọng nơi có rất nhiều nhà sưu tầm tranh đang đợi và bắt cô phải vẽ trước mặt hàng chục con người “thượng lưu” đầy tò mò. Cô bé trút tất cả sự giận dữ lên tấm toan khổng lồ, vấy màu lên toàn thân mình, hét và khóc… Rõ ràng cô đang khóc, nhưng đổi lại, gia đình cô sẽ kiếm hàng triệu Euro chỉ sau một đêm.

Một đôi vợ chồng bá tước hết thời cho thuê chính mình với giá 250 euro một người để có mặt ở những bữa tiệc sang trọng của giới thượng lưu, thậm chí, giả danh những người có tước vị danh giá khác.

Một đức Hồng Y luyên thuyên về việc nấu các món thỏ hay hươu … mặc dù xung quanh chả ai bận tâm tới ông.

Một quả phụ yếu đuối giàu có chưa từng bỏ lỡ một bữa tiệc nào nhưng ngoài miệng luôn tỏ ra lo lắng cho cậu con trai có vấn đề về thần kinh của mình một cách vô cùng đáng thương.

Tất cả những câu chuyện ấy, những con người ấy là cuộc sống bao quanh Jep trong những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng không có điểm dừng. Bữa tiệc không dừng lại. Và họ dường như cũng không dừng lại. Họ bám vào nhau, đu lấy nhau, tạo thành điệu nhảy Đoàn tàu, hát hò, uống, nhảy múa quanh biệt thự. Cái điệu nhảy mà Jep cho rằng đó là điệu nhảy đẹp nhất Roma, đoàn tàu ấy là đoàn tàu tốt nhất Roma bởi vì suy cho cùng, nó chẳng đi đến đâu cả. Hình ảnh Jep nằm trên ghế ở tầng trên, bên dưới là đoàn người nhảy điệu đoàn tàu bám vai nhau chạy vòng quanh vô định chính là nhìn nhận của ông với cuộc sống của họ. Cuộc sống hoang dại, vô nghĩa kéo dài ngày này qua ngày khác mà chẳng bao giờ tìm thấy đích đến.

Thế nên, Jep đã nói “Thay vì vênh váo, hãy học cách cảm thông với nhau, hãy vui vẻ với nhau đi”. Thế nên, sau khi chỉ trích nhà văn có 11 tác phẩm kia, Jep lại nghĩ tới việc sẽ ăn nằm với cô ta. Thân xác chỉ để khỏa lấp những trống rỗng trong tâm hồn. Nhưng liệu Jep có thỏa mãn… khi mà ngoài kia, mọi thứ vẫn đang chết?

Tại sao Sơ Maria chỉ ăn rễ cây?

Gốc rễ mới là quan trọng. Đó là điều sơ Maria nói với Jep khi bà trả lời câu hỏi tại sao bao năm qua bà chỉ ăn rễ cây. Sự sống diễn ra quanh Jep như một vòng tròn lặp vô nghĩa, còn cái Chết thì lại đến quá đỗi bất ngờ. Mối tình đầu của ông ra đi khi bà vẫn chỉ yêu mình ông suốt bao năm và người chồng của bà chỉ là một người bạn, không hơn. Mối tình mới nhất của Jep cũng qua đời khi họ chỉ vừa gặp và gần gũi nhau, dù cô mới chạm tuổi 40. Và cậu con trai bị bệnh tâm thần của bà góa thượng lưu cũng tự tử lúc còn quá trẻ. Tất cả diễn ra quá nhanh. Đó là cách mà mọi thứ kết thúc, cái chết.

Sự châm biếm tiếp tục được thể hiện rõ nét ở phân đoạn Jep cùng người yêu chọn lựa trang phục dự đám tang của cậu thanh niên. Cái cách ông nói về việc tham dự lễ tang của giới thượng lưu nó thật bài bản. Nó không còn là việc chia buồn đơn thuần nữa mà giống như một sự phô trương đúng mực nhất, chân thành nhất cần có ở một bậc thượng lưu. Nhất định phải làm cho đúng từng cử chỉ, điệu bộ, không được khóc “chen” phần của khổ chủ bi thương hay phải ghé tai khổ chủ mà nói rằng mình luôn ở cạnh họ để xẻ chia nỗi buồn nếu họ cần. Một sự giả tạo trong một đau thương có thật. Bởi đây là giây phút duy nhất trong chuỗi sự kiện mai mỉa nực cười xuyên suốt phim, ta thấy Jep khóc. Sau tất cả những hành động chuẩn mực của một người thượng lưu, Jep đã đứng lên khiêng quan tài cho cậu thanh niên đáng thương và bật khóc. Giọt nước mắt ấy chắc chắn là giọt nước mắt từ “gốc rễ”, từ tận thẳm sâu con người Jep, từ lòng thương và sự cảm thông có thật.

Hình ảnh chú hươu cao cổ trong khu vườn và màn ảo thuật của vị ảo thuật gia làm cho chú biến mất khiến Jep chú ý hơn cả. Không phải bởi sự vi diệu mà bởi chính Jep cũng đang muốn biến mất. Cuộc sống vẻ như chả còn ý nghĩa gì nếu cứ ngày đêm lẫn lộn giữa rượu, tình dục và những đoàn tàu nhảy múa. “Vậy hãy làm tôi biến mất luôn đi”. Vị ảo thuật gia đã phì cười khi Jep ngỏ ý, tất cả chỉ là trò lừa bịp thôi mà.

Ở đoạn đầu phim, Jep đã nói “hành trình của chúng ta là tưởng tượng, là đi từ sống tới chết”. Người ta thấy những cảnh quay hiển hiện một Roma thật đẹp, trong sáng, những con người bình dị, những khúc hát vang vọng nơi Thánh đường … Rồi xen vào đó, là cái chết bất ngờ của một du khách khi đang thăm thú cảnh quan của thành phố. Cứ thế, ông ta ngã xuống … vậy là hết một đời … không trăng trối, không có sự chuẩn bị … đi từ sống tới chết …

Rồi cuối phim, khi đàn Hồng hạc bất ngờ xuất hiện trên sân thượng ngôi biệt thự và sơ Maria nói bà có thể gọi tên Thánh của từng con Hạc … khi bà nói bà ăn rễ cây vì rễ là quan trọng nhất … thì đó cũng là lúc Jep nhận ra điều quan trọng hơn cả. Đó cũng là lúc bà Bá tước Colonnas, người vẫn cùng chồng bán tước hiệu với giá 250 euro mỗi lần dự tiệc, tìm tới ngắm chiếc nôi bà từng được cha là Hoàng tử đặt nằm trong đó ở một phòng trưng bày cổ vật. Gốc rễ của mỗi con người là nguồn cội, là những cảm xúc từ tận thẳm sâu.

Jep rảo những bước chân thật chậm quanh Roma, giống như một cuộc dao chơi trong đời, nhìn ngắm tất cả để rồi đúc kết ra những gì thuộc về bản chất. Đó là cái cách mọi thứ kết thúc, cái chết. Nhưng trước đó, nó là Sự Sống. Vạn vật bao bọc lẫn nhau, không có cái vỏ nào ở bên ngoài và cũng không có lớp nào ở trong cùng. Chỉ cần một gốc rễ khỏe mạnh được nuôi dưỡng dưới ánh mặt trời.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1703 Posted : Monday, November 29, 2021 5:02:46 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Besame Mucho tiếng Pháp và các phiên bản La Tinh mới

27/11/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong số các tuyển tập nhạc Pháp phát hành vào mùa đông năm nay, có khá nhiều bài hát được phối theo thể điệu La Tinh. Đây là dịp để cho Góc vườn âm nhạc của RFI giới thiệu phiên bản mới của những tình khúc La Tinh trứ danh kể cả « Chuyện Tình Yêu », « Portofino », « Besame Mucho » và nhất là phiên bản tiếng Pháp của bài song ca « Señorita » từng ăn khách trước đó qua hai tiếng hát Camila Cabello và Shawn Mendes.

Cuối năm nay đánh dấu ngày ra mắt album mới « Quel temps fait-il » và tuyển tập chọn lọc « All Time Best » của nữ ca sĩ người Pháp Clémentine Mitz. Tại Pháp, công chúng hầu như không biết gì về tiếng hát này, trong khi Clémentine lại là một trong những nghệ sĩ Pháp thành công nhất ở Nhật Bản. Sinh trưởng tại Paris trong một gia đình nghệ sĩ, thân phụ của cô (ông Victor Mitz) từng điều hành hãng đĩa Orange Blue chuyên phát hành các tuyển tập nhạc jazz.

Giọng ca Pháp ăn khách xứ Phù Tang

Clémentine ghi âm đĩa hát đầu tay « Absolument Jazz » vào năm 1988, rồi sau đó ký hợp đồng với hãng đĩa Sony của Nhật Bản. Giọng ca này được đông đảo thính giả xứ Phù Tang hưởng ứng. Bằng chứng là trong vòng ba thập niên sự nghiệp, Clémentine đã ghi âm hơn 30 album và bán hơn 4 triệu đĩa nhạc. Sở trường của nữ ca sĩ người Pháp vẫn là bossa nova và jazz, nhưng đôi khi Clémentine chuyển qua nhạc pop với lối hòa âm điện tử hay nhịp điệu cha cha đậm nét La Tinh hơn.

Bản nhạc « Itsy Bitsy Petit Bikini » (qua phần trình bày của Clémentine), ban đầu là một nhạc phẩm ăn khách của Brian Hyland vào đầu những năm 1960. Bài hát sau đó được André Salvet và Lucien Morisse phóng tác sang tiếng Pháp và do Lucien Morisse thời bấy giờ là bạn đời của Dalida, cho nên người đầu tiên hát bài này trong tiếng Pháp vẫn là nữ danh ca người Ý sinh trưởng ở Ai Cập.

Chỉ một thời gian ngắn sau Dalida, đến phiên Richard Anthony, Johnny Hallyday và nhất là Dario Moreno (với điệu phối thuần La Tinh nhất) đều ghi âm mỗi người một phiên bản. Giọng ca ngự trị trên đỉnh cao (hầu như không có đối thủ) thời bấy giờ chuyên hát những bản nhạc La Tinh (tiếng Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha .....) chuyển sang tiếng Pháp vẫn là thần tượng Dalida. Trong giai đoạn khởi nghiệp Dalida đã thành danh nhờ « Bambino » cũng như « Love In Portofino ».

Ảnh hưởng của Dalida đến lớp nghệ sĩ hát điệu La Tinh

Những bài hát ăn khách của Dalida đã ảnh hưởng nhiều đến các nghệ sĩ đàn em, trong đó có ca sĩ Hélène Ségara (thành danh vào năm 1998 nhờ vở nhạc kịch « Notre Dame de Paris ») và gần đây hơn nữa là cô Julie Huard người gốc Hà Lan. Sinh trưởng trong một gia đình nhạc sĩ (thân phụ là tác giả Fernand Huard), Julie đã thấm nhuần môi trường văn hóa song ngữ, để rồi chọn tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính để diễn đạt và ghi âm. Cách đây hai năm Julie từng đoạt giải nhất nhân cuộc thi sáng tác tiếng Pháp Liesbeth List (nhờ vào ca khúc « La Petite Femme »).

Tuy còn non tuổi đời, nhưng Julie Huard có một lối diễn đạt chững chạc với chất giọng trầm ấm, không dùng nhiều vibrato mà luyến láy vẫn mượt. Cô đã cho phát hành trực tuyến một số bản nhạc La Tinh kinh điển mà cô từng ghi âm trong thời gian qua, kể cả « Histoire d'un Amour » (Chuyện tình yêu) và « Besame Mucho ». Ca từ tiếng Pháp ở đây khác hẳn với phiên bản của thần tượng quá cố Dalida, trong khi bài hát lại được phối theo thể điệu bachata.

Phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm « Señorita »

Sau hiện tượng toàn cầu « Despacito », bài hát La Tinh phá mọi kỷ lục trong thời gian gần đây, có lẽ là nhạc phẩm « Señorita » qua phần song ca của Camila Cabello và Shawn Mendes. Cặp bài trùng này chẳng những đạt kỷ lục về mặt doanh thu số bán vào mùa hè năm 2019, giành lấy ngôi vị quán quân tại cùng lúc 22 quốc gia trên thế giới, bài hát « Señorita » còn lập thành tích nhờ thu hút hơn 1,3 tỷ lượt người xem trong gần một năm. Hiện tượng « Señorita » dĩ nhiên đã cho ra đời nhiều phiên bản phóng tác sau đó.

Riêng trong tiếng Pháp, bản song ca của Camila Cabello và Shawn Mendes có tới ba phiên bản khác nhau, kể cả hát đơn và hát đôi. Đáng chú ý hơn cả có lẽ là phiên bản phóng tác của nữ ca sĩ người Pháp Sara'h chuyên hát nhạc RnB, nhưng lần này cô đã ghi âm một bản cover có lối sắp chữ, nghe rất lọt tai. Năm nay, nhiều phiên bản nhạc Pháp được phát hành lại thiên về thể điệu La Tinh du dương nóng bỏng cho tình thêm đậm, nhẹ nhàng sôi động cho hương thêm nồng ngay giữa lòng mùa đông.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1704 Posted : Thursday, December 2, 2021 11:55:05 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Alec Baldwin nói không bóp cò súng tại phim trường ‘Rust’

03/12/2021 - Voa / Reuters
Los Angeles - Cuộc trò chuyện công khai đầu tiên của Alec Baldwin về vụ nổ súng gây chết người trên phim trường “Rust” sẽ được phát sóng vào thứ 5 này, khoảng 6 tuần sau khi một khẩu súng mà diễn viên này sử dụng trong một buổi diễn tập đã bắn ra đạn thật và giết chết một nhà quay phim.

Baldwin đã trả lời một cuộc phỏng vấn mà George Stephanopoulos của đài truyền hình ABC mô tả là chân thực và chi tiết. ABC sẽ phát sóng cuộc phỏng vấn vào tối thứ 5 về thảm kịch mà hiện vẫn

đang được các nhà chức trách ở New Mexico điều tra.

Trong một trích đoạn giới thiệu, Baldwin cho biết ông đã không bóp cò súng tại phim trường, đưa tới khả năng khẩu súng Colt 45 đã cướp cò.

Baldwin cho biết: “Tôi sẽ không bao giờ chĩa súng vào bất cứ ai và bóp cò” Baldwin nói.

Sở Cảnh sát Santa Fe đã thẩm vấn Baldwin ngày sau vụ việc nhưng không tiết lộ những gì ông nói với họ, và cho biết họ không có bình luận gì về tuyên bố trên của Baldwin vào hôm thứ 4.

Nhà quay phim Halyna Hutchins thiệt mạng và đạo diễn Joel Souza bị thương khi một khẩu súng mà Baldwin được các thành viên trong đoàn nói là an toàn, lại bắn ra đạn thật.

Không có cáo buộc hình sự nào được đưa ra. Các nhà sản xuất của bộ phim cho biết họ cũng đang tiến hành một cuộc điều tra nội bộ.

Các nhà chức trách ở Santa Fe đang tập trung vào việc làm thế nào một viênđạn thật lại được nắp vào súng thay vì những viên đạn rỗng tại trường quay.Các tài liệu của toà án hôm thứ 4 cho thấy giới chức trách đã thu hồi được một số đạn thật bị nghi ngờ có nguồn gốc từ một nhà cung cấp vũ khí và đạo cụ phim ở địa phương.

Baldwin được chụp ảnh cho thấy bị trầm cảm sau vụ tai nạn và nói trong mộttuyên bố rằng anh rất sốc và đau lòng cho chồng và con trai của Hutchins.

Hai thành viên thuộc đoàn làm phim đã đệ đơn kiện dân sự cáo buộc Baldwin, nhà sản xuất và những người khác về việc sơ suất và lỏng lẻo trong các

quy trình an toàn tại phim trường.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1705 Posted : Friday, December 3, 2021 9:54:51 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Hạnh ngộ Thơ-Nhạc : Dana Ciocarlie cùng những tâm hồn đồng điệu

03/12/2021 - Tưởng An / RFI
Nhân dịp ra mắt đĩa nhạc « Bubbles » của hãng băng dĩa La Dolce Volta vừa rồi, Dana Ciocarlie - nghệ sĩ dương cầm người Pháp gốc Rumani - cùng những người bạn nghệ sĩ thân thiết nhất biểu diễn tại Salle Gaveau, Paris quận 8, ngày 5 tháng 12.

Dường như hàng năm, bà đều trở lại thính phòng này. Năm 2018, bà từng trình diễn cùng nghệ sĩ dương cầm người Gruzia, Irakly Avaliani. Năm 2019 bà độc tấu tại đây một chương trình hoàn toàn dành cho Schumann. Năm 2020, Paris bị phong tỏa suốt nhiều tháng, giới nghệ sĩ phải đợi mãi đến sau tháng Giêng năm 2021 mới được trở lại sân khấu.

Chương trình vào tháng 12 hứa hẹn nhiều thú vị : độc tấu, song tấu piano-violon với nghệ sĩ Gilles App, piano-cello với Astrig Siranossian, piano-accordeon với Pascal Contet, thơ được thể hiện qua giọng đọc truyền cảm của Julie Depardieu, piano cùng sánh theo tiếng hát ngọt ngào của 2 ca sĩ Isabelle Georges, Julliettte Armanet và giọng ca đặc biệt của nhạc sĩ Philippe Katerine.

Với một chương trình biểu diễn đa dạng: ngoài những tác giả cổ điển quen thuộc như Schubert, Chopin, Mozart, người nghe sẽ được thưởng thức tác phẩm của các tác giả đương đại như Satie, Philip Glass và đồng thời sẽ không bị nhàm chán nhờ các giai điệu múa như Tango của Piazzola, hay vũ điệu dân gian của Artemi Ayvazian.

Tiếng đàn đi vào lòng người

Cách diễn đạt tự nhiên và đầy cảm xúc của Dana Ciocarlie được so sánh với tiếng đàn của nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng Clara Haskil; yếu tố này khiến bà luôn gặt hái thành công ở mọi buổi diễn đồng thời nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả khắp nơi.

Tài năng bà được biết đến qua các giải thưởng lớn : Giải Quốc Tế Robert Schumann tại thành phố Zwickau, nơi Schumann được sinh ra và lớn lên, giải đặc biệt Sandor Vegh tại Zurich, giải quốc tế Pro Musicis, giải nghệ sĩ trẻ Châu Âu tại Leipzig, giải Ferrucio Busoni tại Ý.

Sinh ra tại Bucharest trong một gia đình không có truyền thống âm nhạc, Dana Ciocarlie đến với dương cầm như một khám phá bất ngờ của riêng bà, nó như « một vật thể đầyma thuật có khả năng cuốn hút kỳ lạ ». Bà kể lại cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa bà và cây đàn nhân một dịp đến chơi nhà một người cô lúc bà5 tuổi rưỡi. Âm thanh của nó ngay lập tức mê hoặc bà. Sau đó, tuy không thể thuyết phục được ba mẹ cho ghi danh học piano và mua đàn, bà đã phải tự chế tác một cây piano bằng giấy trong những năm đầu. Mãi đến 9-10 tuổi bà mới thực sự được học nhạc và sau đó được tuyển vào trường trung học đặc biệt dành cho các các học sinh tài năng.

Đến Pháp năm 1991, Dana Ciocarlie được học với Victoria Melki tại Ecole Normale Superieure de Musique Alfred Cortot, với Dominique Merlet ở Nhạc Viện Cao Học Quốc Gia tại Paris (Conservatoire National Supérieur de Musique de Paris).

Năm 2018, CD nhạc tuyển chủ đề Schumann của bà được chọn giải CD hay nhất trong giải Những Thành Công Của Âm Nhạc Cổ Điển tại Pháp (Les Victoires de la Musique Classique). Bộ CD bao gồm 13 dĩa nhạc được thu trực tiếp từ 15 buổi trình diễn trong suốt 4 năm tại Dinh Béhague của Đại Sứ Quán Rumani tại Paris. Với lối diễn đạt như hòa mình vào tâm trạng và cuộc đời của tác giả, trong suốt 14 giờ, toàn bộ các tác phẩm của Schumann được hồi sinh qua nhiều sắc thái vô cùng sâu lắng.

Một số các nhạc sĩ thời nay như Edith Carnat de Chizy (cho loạt sáng tác « Dong buồm » - « Sailing »), Jean Pierre Armanet (« Nước Mỹ là đây » - « This is America »), Jacques Lenot (« Thư gửi khách lãng du » - « La lettre au voyageur ») tìm đến Dana Ciocarlie để riêng tặng bà tác phẩm của họ với ước mong chúng được truyền đạt đến công chúng qua ngón đàn giàu cảm xúc của bà.

Người viết bài này đã được nghe bà trình diễn « Sailing » tại điện Invalides cạnh lăng mộ Hoàng đế Napoleon ở Paris ngày 19 tháng 9 vừa qua. Edith Carnat de Chizy đã đưa vào tác phẩm của mình tất cả âm thanh của đại dương: rì rào sóng vỗ, vi vu gió, ì ầm bão biển. « Sailing » được đề tặng riêng cho Dana Ciocarlie. Chỉ với 10 ngón tay, 7 nốt nhạc và 88 phím đàn, bà đã cuốn người nghe đến cõi mênh mông của biển khơi.

Qua trao đổi với RFI Tiếng Việt, bà giải thích : « Tôi cố gắng thể hiện tác phẩm sao cho đạt đến mức âm nhạc trở nên thống khoái tự do. Khi ta tìm hiểu điều gì đó được sáng tác bởi người khác, nếu nắm bắt được ý tưởng và cảm xúc sâu xa của tác giả, ta sẽ có thể thâm nhập vào đúng cái điều đã làm thăng hoa trí tưởng tượng của người nghệ sĩ. »

Bubbles, cuộc đoàn viên của những kẻ tha hương

Bubbles gợi hình ảnh những ly sâm-banh sủi bọt. Hãy cùng nâng ly để mừng cuộc hạnh ngộ, để chia sẻ hi vọng và ước mơ sau thời gian dài bị phong tỏa vì Covid. Đĩa nhạc đã được ghi âm vào tháng 9 năm 2020 – thời gian mà mọi sinh hoạt trình diễn đều đóng băng, sân khấu nguội lạnh và các nghệ sĩ, không riêng gì ở Pháp, đều khắc khoải chờ đợi.

Đó cũng là cuốn phim tua lại cuộc đời của Dana Ciocarlie, với những khoảnh khắc khó quên, « như một bức hình gia đình hay một tập ảnh kỷ niệm với những bức ảnh cũ của quá khứ, cũng có những bức mới của hiện tại, qua đó ta thấy lại tuổi thanh xuân, buổi đầu tập tễnh với dương cầm, với các thầy cô, âm nhạc thuở ấu thơ, và ta có những người bạn. Ta xem lại các bức ảnh và rồi, bạn ta bỗng hiện diện. Những bài độc tấu là quá khứ, những bài song tấu cùng bạn bè là hiện tại. »

Dana Ciocarlie hiện là giáo viên giảng dạy nhạc thính phòng ở Nhạc Viện Cao học Quốc Gia Lyon. Trong cuộc phỏng vấn trên Kênh nhạc France Musique năm 2017 nhân dịp ra mắt bộ đĩa Schumann, bà tâm sự: « Là một nghệ sĩ dương cầm, tôi thật may mắn có cơ hội phiêu lưu vào các thế giới đa dạng của âm nhạc. » Bà cho rằng sự phối hợp của các giọng khác nhau trong nhạc thính phòng làm cho âm thanh nên phong phú.

Phần lớn các CD trước đây của bà độc tấu hoặc chỉ song tấu với một nhạc cụ khác (CD với nghệ sĩ kèn Saxophone Guy Touvron, CD piano 4 tay với Christiane Baume-Sanglard, CD với nghệ sĩ vĩ cầm Marianne Piketty, v.v.). Đĩa này đặc biệt chỉ có 4 bài độc tấu. 17 bài còn lại là song tấu với nhiều nhạc cụ khác. Đươc hỏi về sự chọn lựa các nghệ sĩ trong chương trình này nhân dịp phỏng vấn bà cho RFI ngày 21 tháng 11 vừa qua, bà giải thích thêm về sự ra đời của "Bubbles" : « Tôi thường tìm người đồng hành, một nhạc cụ khác hay một giọng ca. Điều quan trọng và đẹp đẽ đối với tôi là các âm hưởng khác nhau từ sự phối hợp khác nhau của các nhạc cụ, cây đàn dương cầm không phải là một công cụ vật chất, mà là cánh cửa mở rộng cho trí tưởng tượng. »

Được tự do chọn bài, mỗi nghệ sĩ cùng Dana Ciocarlie thể hiện một hoặc hai bài đặc trưng cho thể loại sở trường của họ. « Ca sĩ Isabelle Georges chọn nhạc của Gilbert Bécaud để tưởng nhớ 20 năm kể từ ngày ông mất. Bài Nghệ sĩ dương cầm Varsovie cô hát kể lại kỷ niệm đầu với Chopin, cũng để tưởng nhớ những người thầy dạy dương cầm. »Pascal Contet nghệ sĩ accordeon, khi đàn nhạc Tango của Piazzola hay nhạc do ông sáng tác mang lại cho khán phòng không khí nhộn nhịp đúng tinh thần của một cuộc găp gỡ. Julie Depardieu đọc 3 bài thơ của 2 thi sĩ người Rumani (Nichita Stanescu và Lucian Blaga) đan xen vào các bản nhạc như là quãng lặng để chấm câu ngắt đoạn hoặc để thay cho « lời giới thiệu trước khi bắt đầu một chương mới. »

Cùng nhau chinh phục khán thính giả qua các thể loại âm nhạc đa dạng

Thật khó nhắc về Đặng Thái Sơn mà không liên tưởng đến các tác phẩm của Chopin hoặc Glen Gould các Preludes hay Fuges của Bach. Dana Ciocarlie ngược lại, bà hoàn toàn không muốn bị khép vào một khuôn khổ hay một loại nhạc cố định.

Người ta biết đến bà phần lớn là qua nhạc cổ điển, qua các tác phẩm Schumann, Schubert và Mozart. Khá ngạc nhiên trước câu hỏi vì sao bà chuyển hướng sang loại nhạc Cabaret, Dana Ciocarlie cho biết :« Nhạc Cabaret gắn liền với tư chất của những người được mời góp phần vào Bubbles ». Ngoài việc tôn trọng chất giọng lẫn thể loại nhạc họ thường hát, bà cũng cố tình muốn vượt xa hơn khả năng của mình. « Nếu tận dụng hết khả năng của mình, tôi hi vọng công chúng cũng sẽ có sự đồng cảm tương tác. Tôi nhận thấy nhạc cổ điển ngày càng giới hạn ở một đối tượng văn hóa riêng biệt, một số người nhất định, thường chững lại ở một lứa tuổi nào đó. Nếu có điều kiện hay cơ hội lôi cuốn các tầng lớp khán giả khác nhau, đồng thời chứng minh cho họ thấy rằng nhạc cổ điển không chỉ dành riêng cho những kẻ thông thái, rằng nó không phải là cái chi đáng sợ; nếu làm được như vậy thì ta nên làm thôi ! ».

Việc phối hợp các loại nhạc trong buổi trình diễn, thậm chí đưa thơ vào lời ca hay đọc thơ, có lẽ làm cho chương trình càng thêm phong phú. Trong khi người Việt Nam quá quen thuộc với việc ngâm thơ có đệm đàn tranh hoặc sáo trúc, thì điều này khá mới lạ đối với người Pháp. Dana Ciocarlie cũng cho biết dự kiến năm tới bà sẽ ra mắt một dĩa nhạc trong đó bà trình bày các tác phẩm lấy cảm hứng từ các bài thơ Haiku Nhật Bản, của Philippe Hersant.

Vào ngày 16-17/01/2022 sắp tới, bà sẽ trình diễn với nhóm Brumes du Nord một chương trình có lồng âm nhạc vào các trích đoạn truyện cổ tích của Anderson, tại L'Entrepôt quận 14 Paris. « Tôi nghĩ phối hợp nhiều loại hình nghệ thuật là góp phần gắn kết các thể loại âm thanh lại với nhau, dù là giọng đọc hay tiếng đàn – nó như một tấu khúc hòa âm. »

Cuộc trò chuyện do RFI thực hiện với nghệ sĩ dương cầm Dana Ciocarlie đã mở ra nhiều cánh cửa thú vị cho giới yêu nhạc. « Bubbles » không chỉ là những ly rượu sâm-banh sủi bọt mừng hạnh ngộ giữa Dana Ciocarlie và bạn bè, mà còn là một cuộc « giao duyên » thơ-nhạc thật đặc sắc, với nhiệt tình hợp tác từ những người nghệ sĩ có cùng đam mê và lý tưởng cống hiến vì nghệ thuật. Giữa không khí u ám toàn cầu vì dịch bệnh, « Bubbles » như tia nắng ấm trong một ngày mùa đông.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1706 Posted : Saturday, December 4, 2021 8:14:41 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Hoa hậu Việt Nam ‘làm tổn thương người Việt ở Mỹ’

03/12/2021 - VOA Tiếng Việt
Bài hát ‘Cô gát vót chông’ mà cô Đỗ Thị Hà, hoa hậu Việt Nam, chọn trình diễn tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới hiện đang diễn ra ở Mỹ đã khiến nhiều người Việt ở Mỹ cảm thấy tổn thương và phẫn nộ vì nội dung sắt máu của nó, theo tìm hiểu của VOA.

Màn trình diễn bài hát bằng tiếng đàn T’rưng của Hoa hậu Việt Nam tại hòn đảo Puerto Rico, một vùng lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ, đã giúp cô lọt vào danh sách 27 thí sinh tài năng nhất.

‘Cô gát vót chông’ là một ‘bài ca cách mạng’ thuộc dòng nhạc đỏ của cố nhạc sỹ Hoàng Hiệp nhằm cổ động tinh thần cho bộ đội miền bắc trong cuộc chiến với Mỹ và quân đội miền Nam trước đây. Bài hát có những lời kêu gọi ‘diệt giặc Mỹ cọp beo’ như ‘Mỗi mũi chông nhọn hoắt căm thù’; ‘Xiên thây quân cướp nào vô đây’…

Mặc dù màn trình diễn của cô Hà chỉ là giai điệu không có lời nhưng ngay lập tức nó đã khơi dậy phản ứng giận dữ của người Việt ở Mỹ.

‘Xoáy lại nỗi đau’

Từ Quận Cam, bang California, thủ phủ tinh thần của người Việt tị nạn, bà Nguyễn Minh Hà, một nhà tư vấn tâm lý, nói bà cảm thấy ‘vô cùng bất mãn, tức giận, nhục nhã và xấu hổ’ khi xem màn trình diễn của cô Đỗ Thị Hà.

Bà Hà nhận định bài hát ‘Cô gái vót chông’ có nội dung ‘thù Mỹ, diệt Mỹ rất là tàn bạo’ và khi trình diễn bài hát này, hoa hậu Việt Nam đã ‘xoáy lại nỗi đau’ của những người Việt Nam Cộng hòa.

“Đối với những con cháu Việt Nam Cộng hòa hiểu được ca từ của bài hát này thì nó giống như cái tát vào mặt những người Mỹ gốc Việt,” bà Hà nói với VOA.

“Ở Mỹ những người đã chết vì cây chông đó người ta nghĩ lại sẽ có cảm giác đau đớn như thế nào? Hay những người con cháu Việt Nam Cộng hòa như chúng tôi cũng có những cha ông bị chết vì cây chông đó mà cô ta lại đem ra xoáy lại nỗi đau,” bà Hà bức xúc.

Bà Hà cho biết khi còn ở Việt Nam bà đã có nghe bài hát này được phát trên truyền hình của Nhà nước và lúc đó bà ‘đã có cảm giác ghê rợn vì nó quá khát máu’ nhưng ‘cũng phải chịu đựng vì mình đang sống dưới chế độ cộng sản’.

Đặc biệt trong bối cảnh Mỹ đang hỗ trợ cho Việt Nam chống dịch COVID-19 với trên 20 triệu liều vaccine được tặng cho đến nay, đứng đầu trong số các nước giúp đỡ vaccine cho Việt Nam, bà Hà nói màn trình diễn của cô Đỗ Thị Hà trên đất Mỹ còn là ‘sự vô ơn, bạc nghĩa, ăn cháo đá bát’ với hành động của Mỹ ‘đã giúp cứu mạng cho bao nhiêu triệu người ở Việt Nam’.

“Chúng tôi cũng góp phần trong chuyện tặng vaccine cho Việt Nam. Chúng tôi đi làm, đóng thuế để rồi từ đó mới có những liều vaccine đem cho mà lại không biết ơn còn làm một việc vô ơn bạc nghĩa như vậy nữa,” bà Hà nói.

Nhà tư vấn tâm lý này cũng bác bỏ lập luận việc Mỹ tặng vaccine hiện nay và việc Việt Nam đánh Mỹ trước đây là hai việc khác nhau và không nên gắn kết.

“Nếu đã thù địch trong quá khứ rồi thì cứ thù địch luôn đi,” bà Hà lập luận. “Nếu cô ấy cảm thấy tự hào vì chuyện đó (giết giặc Mỹ) thì cổ nên đứng ra kêu gọi Việt Nam đừng có nhận bất cứ sự giúp đỡ gì của Chính phủ Mỹ hay của cộng đồng người Việt hải ngoại.”

Ngoài ra, bà Hà cảm thấy ‘nhục nhã, xấu hổ’ vì cô Đỗ Thị Hà cũng là người Việt giống như bà, bà giải thích.

Hồi tháng Tư năm nay, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết về ‘công tác đối với người Việt ở nước ngoài trong tình hình mới’ kêu gọi đổi mới, đa dạng, linh hoạt công tác vận động người Việt ở hải ngoại, trong đó khẳng định ‘dù ở bất cứ nơi đâu, đồng bào ta vẫn luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội nguồn dân tộc, là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam’.

‘Tổn hại quan hệ’

Trao đổi với VOA, ông Nguyễn Văn Hải, vốn từng là tù nhân chính trị ở Việt Nam được biết đến rộng rãi với tên Điếu Cày và hiện sống ở Quận Cam, đặt vấn đề về sự tổn hại đến bang giao Việt-Mỹ vốn đang phát triển rất tốt đẹp.

“Người Việt nếu có mong muốn hòa giải với nước Mỹ thì không ai chọn chủ đề bài hát như thế cả. Nó kích động hận thù và làm cho quan hệ Việt-Mỹ xấu đi,” ông Hải nói.

Ông mô tả lời bài hát ‘Cô gái vót chông’ là ‘quá sắt máu’ và sự lựa chọn bài hát này để trình diễn trên đất Mỹ cho thấy ‘sự cố chấp (của chính quyền Việt Nam) vẫn còn cổ súy cho hận thù’.

“Ở Việt Nam, việc tổ chức đưa người đi thi hoa hậu thì phải có những tổ chức do Nhà nước quản lý đưa họ đi và làm cái gì, chọn đề tài gì cũng là do họ hết,” ông Hải giải thích. “Họ đều có mục tiêu của họ cả.”

Theo lời ông thì từ trải nghiệm của ông lúc còn đi bộ đội trong thời đánh Mỹ ở miền Bắc thì ‘chiến tranh đem lại nhiều đau khổ, nhiều mất mát từ cả hai phía, người Việt, người Mỹ, người Bắc, người Nam’.

“Người miền Bắc hay người miền Nam mất con đều đau xót cả,” ông nói. “Làm sao có thể tự hào về điều đó được?”

Ông nói lúc ông đi chiến đấu ‘trên đầu luôn có máy bay của Việt Nam Cộng hòa hát những bài nhạc vàng mà lính miền Bắc nghe riết thuộc luôn, trong đó có bài ‘Xuân này con không về’.

Ông nhận định nhạc vận động của miền Nam ‘đánh vào cảm xúc, đi vào lòng người’ trong khi nhạc tuyên truyền của miền Bắc như ‘Cô gái vót chông’ ‘chỉ tăng cảm giác sắt máu thôi’.

Cựu tù nhân chính trị này cho rằng dù lịch sử cần phải ghi nhớ nhưng ‘khép lại quá khứ, nhìn về tương lai’ là ‘cần thiết’.

“Cô ấy cũng là nạn nhân của sự giáo dục thôi. Tuổi cô ấy còn trẻ và bị giáo dục như vậy,” ông Hải nhận định về Hoa hậu Đỗ Thị Hà.

Không chỉ hát chống Mỹ khi trình diễn ở Mỹ, mà ngay cả khi cô Hà có bài hát kích động sự thù hận Trung Quốc trên đất Trung Quốc trong bối cảnh nước này cũng viện trợ Việt Nam hàng triệu liều vaccine ‘cũng là việc làm sai’, cả ông Hải và bà Hà đều đồng ý.

Trong chia sẻ mới nhất của mình trên trang cá nhân, Hoa hậu Đỗ Thị Hà bày tỏ: “Miss World ở đây không phải là để chọn ra một cô gái nóng bỏng với body 90-60-90, khả năng nói lưu loát ‘như máy’ mà là tìm kiếm một cô gái biết yêu thương người khác và yêu thương bản thân mình.”

Cô Đỗ Thị Hà đến từ tỉnh Thanh Hóa và hiện là sinh viên năm thứ hai ngành Luật kinh doanh tại Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội. Cô còn tham gia các phần thi cho đến đêm chung kết sẽ diễn ra vào ngày 16/12.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1707 Posted : Monday, December 6, 2021 11:03:47 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Kenny G - Nghệ sỹ saxophone bình dân

04/12/2021 - Gia Trình / RFI
Kenny G là một trong nghệ sỹ saxophone thành công nhất trên nước Mỹ và toàn thế giới. Tiêu thụ hơn 75 triệu đĩa hát khắp toàn cầu, Kenny G chưa bao giờ ngừng cống hiến. Sự kết hợp gần nhất với Weeknd hay Kanye West khiến tên tuổi anh lại dậy sóng.

Tên tuổi nghệ sỹ hòa tấu độc lập

Kenny G đã biến giấc mơ nghệ sỹ chơi nhạc hòa tấu đứng ngang hàng với ca sỹ biểu diễn. Sinh ra tại bang Seattle (Mỹ), Kenny G tập chơi saxophone khi mới 10 tuổi. Anh từng theo đuổi học kế toán tại Đại học Washington ở bang Seattle, tuy nhiên con đường âm nhạc lại rộng mở chào đón. Khi nghệ sỹ sinh năm 1956 chơi thử bản Dancing Queen của ABBA, chủ tịch hãng đĩa Arista, Clive Davis đã sớm nhận thấy tố chất ngôi sao.

Sau đó, Kenny G ra mắt album đầu tay cùng tên vào năm 1981 khi anh mới 25 tuổi. Phải mất 5 năm sau, album thứ 4, Duotones mới là bệ phóng cho tên tuổi Kenny G khắp nước Mỹ. Album tiêu thụ đến 5 triệu bản chỉ tính riêng Hoa Kỳ và hai đĩa đơn thành công nhất là Songbird và Don’t Make Me Wait for Love (kết hợp Lenny Williams) tiến sâu vào bảng xếp hạng Billboard. Kenny G thay đổi cách nhìn của người Mỹ về nghệ sỹ chơi hòa tấu độc lập hơn là chỉ phụ thuộc vào ca sỹ biểu diễn.

Kenny G áp dụng chiến lược “bình dân hóa” rất hiệu quả trong các album sau đó. Một nửa album do anh sáng tác và chơi saxophone solo, không có ca sỹ hát. Hầu hết các ca khúc do anh sáng tác, biểu diễn tập trung vào dòng smooth jazz (jazz nhẹ nhàng), R&B với cây saxophone cao độ soprano. Mặt khác, anh cũng kết hợp với các nghệ sỹ khác để tránh sự nhàm chán cho tuyển tập nhạc của mình. Số lượng các nghệ sỹ tên tuổi anh từng kết hợp không đếm xuể như Andrea Bocelli, BabyFace, Toni Braxton, Micheal Bolton, Frank Sinatra, Natalie Cole.

Trong số đó, giọng nữ trầm (contralto) Toni Braxton và nam danh ca tenor Micheal Bolton là hai cái tên đáng nhớ nhất. Với Micheal Bolton, Kenny G không chỉ là người bạn thân thiết mà còn là cặp bài trùng trong âm nhạc. Hai bản hit đình đám của Micheal Bolton, Missing you now và How am I supposed to live without you chứng tỏ sức hút nhờ vào tiếng kèn saxophone tài tình của Kenny G. Không quá ngạc nhiên vì âm vực soprano của cây saxophone của Kenny rất “ăn rơ” giọng nam tenor của Micheal. Tuy nhiên, khi kết hợp với giọng nữ trầm R&B, Kenny G tạo được màu sắc rất riêng. Trong hai bản nhạc That somebody was you hay How could an angle break my heart, Kenny G tìm được những điểm nhấn để xen kẽ giai điệu saxophone rất hợp lý. Giọng ca tối, đượm buồn của Toni tìm được điểm tựa vào âm thanh du dương, vút bay của saxophone Kenny G.

Nhạc phim và nhạc Giáng sinh

Không chỉ kết hợp với các nghệ sỹ đương đại, Kenny G tham gia vào khá nhiều dự án phim ảnh, sáng tác nhạc phim như phim Dying Young (Chết trẻ) với sự góp mặt của Julia Roberts hay The Bodyguard (Vệ sỹ) của Whitney Houston và Kevin Costner. Ca khúc nhạc nền của bộ phim Dying Young giúp anh có được đề cử Grammy cho Hòa tấu Pop xuất sắc nhất.

Xuất phát từ quan điểm nhạc hòa tấu giúp thư giãn, nghỉ ngơi, Kenny G sáng suốt trình làng hai album Giáng sinh đều thành công như mong đợi. Album Miracles (Phép màu, 1994) tiêu thụ hơn 13 triệu bản và trở thành một trong các album nhạc Noel thành công nhất. Năm năm sau, anh ra mắt album Faith (Niềm tin, 1999) theo đuổi chủ đề Giáng Sinh. Ca khúc kinh điển Auld Lang Syne trở nên ưa thích đặc biệt nhờ tiếng saxophone của Kenny G. Anh làm mới ca khúc cũ theo hơi hướng khá jazz. Giai điệu nam châm có độ lôi cuốn nhất định với các fan trung thành, thậm chí cả khán giả khó tính. Cách chơi của Kenny G luôn điềm đạm, từ tốn khi mở đầu và ngẫu hứng cao trào ở cuối bài theo cấu trúc ba hồi.

Thập niên 1990 cũng là thời điểm anh gặt hái nhiều thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp. Album Breathless (1992) tiêu thụ tới 15 triệu bản khắp toàn cầu. Đây là album sản sinh nhiều bản hit thành công nhất như Forever in Love, Sentimental, Don’t Make me wait for love. Đồng thời, anh giữ kỷ lục Guiness năm 1997 về chơi những nốt cao trong thời gian dài nhất. Nhờ kỹ thuật lấy hơi luân chuyển, anh chơi được E-flat (cung Mi giáng trưởng) trong suốt thời gian 45 phút 47 giây tại thành phố New York. Tương tự như Breathless, album The Moment (Khoảng khắc) đạt hạng 1 bảng xếp hạng Jazz trên Billboard. Ca khúc đinh của album lọt thẳng vị trí 2 trong số 100 ca khúc ưa thích nhất cùng năm. Thành tích nổi trội như vậy đủ chứng tỏ sức hút của Kenny G với khán giả Mỹ. Năm 2000, Kenny G được mời biểu diễn tại Nhà Trắng cho các quan khách và nội các của tổng thống Bill Clinton.

Nghệ sỹ phổ thông tại Trung Quốc Đại lục

Không chỉ riêng nước Mỹ, tên tuổi Kenny G đặc biệt ưa thích tại Trung Quốc. Bản nhạc Going Home (Đi về nhà) trở thành một bản nhạc “quốc ca” không chính thống trên quốc gia hơn một tỷ dân này. Going Home được phát trên các quán ăn, siêu thị, trung tâm mua sắm, bến tàu trước giờ đóng cửa. Thậm chí, kênh truyền hình nước này còn phát ca khúc trước khi kết thúc chương trình. Hầu hết khán giả Trung Quốc đều yêu thích ca khúc này kể từ khi ra mắt vào năm 1989 mặc dù không hề hay biết về tên nghệ sỹ saxophone trình diễn nó. Hơn thế, Kenny G cũng từng thể hiện thành công hai nhạc phẩm tiếng Hoa là Jasmine Flower (Hoa Nhài) và The Moon represent my hearts (Ánh trăng nói hộ lòng tôi). Nhạc cảm của Kenny G có khả năng bắt được giai điệu và chuyển hóa thành bản nhạc sang cây kèn saxophone.

Tuy gây dựng tên tuổi với đa số công chúng, âm nhạc Kenny G lại không được lòng giới phê bình và các nghệ sỹ chơi jazz chính thống. Họ cho rằng anh pop hóa quá nhiều cây kèn saxophone mà không có vốn liếng về nhịp điệu, ca từ hay giai điệu. Đối với khán giả Mỹ, họ ưa thích Kenny G có lẽ nhờ sự trẻ hóa và cách tân trong âm nhạc. Anh vốn dĩ mang dòng máu Do Thái nên thừa khôn ngoan để thương mại hóa sản phẩm theo nhiều cách khác nhau.

Bên cạnh những album kết hợp với các nghệ sỹ kỳ cựu nhu BabyFace, Richard Marx, Kenny G lại hâm nóng cảm xúc bằng In your eyes với Weeknd hay gospel của Kayne West trong Jesus is King. Trả lời báo chí rằng anh quá tính toán trong sự nghiệp không, anh chia sẻ : “Tôi nghĩ khán giả cảm nhận được tôi thực sự thích gì, đặt cả trái tim vào đó. Tôi không làm như vậy chỉ vì muốn giàu có và nổi tiếng”.

Thực tế chứng minh là cho dù bạn diễn chơi rock, heavy metal, bluegrass, jazz, Kenny G đủ nhạy bén để tìm miếng ghép tốt nhất cho phần trình diễn của anh.

(Theo Variety, Rollingstone, Wikipedia)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1708 Posted : Friday, December 10, 2021 11:48:26 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

“NGƯỜI TÌNH CỦA PHU NHÂN CHATTERLEY”: Cuộc phiêu lưu tình ái bất tận

10/12/2021 - Lệ Thu / RFI
Khởi nguồn từ cuốn thiểu thuyết đình đám của nhà văn người Anh, D.H.Lawrence, bộ phim của nữ đạo diễn, kiêm đồng biên kịch Pascale Ferran đã biến một câu chuyện được coi là có “tính khiêu dâm” kinh thiên động địa vào những năm 1920 của thế kỉ trước trở thành một bản tình ca diệu vợi, lãng mạn và lại vô cùng toàn vẹn.

Tiểu thuyết có tới ba bản khác nhau, trong đó, bản mà nữ đạo diễn người Pháp lựa chọn để chuyển thể là bản dịu dàng nhất, có tên là “John Thomas và Lady Jane” hay còn có tựa khác là “Tenderness”. Bộ phim “Người tình của phu nhân Chatterley” (L'Amant de lady Chatterley) với độ dài 2 tiếng 48 phút đã chiến thắng một cách thuyết phục 6 giải Cesar năm 2007 của Viện hàn lâm nghệ thuật và kỹ thuật điện ảnh Pháp và nhiều giải thưởng khác bởi sự “nhạy cảm cao cộng với sự biểu cảm trong sáng và một thủ pháp điện ảnh tài ba”, như một nhà phê bình phim đã nói.

Tác phẩm tuyệt vời này giống như một bức tranh tuyệt mỹ, vừa miêu tả thiên nhiên đất trời ở vùng Lincolnshire, vừa là âm hưởng một cuộc tình đơn giản tự nhiên như hơi thở. Không có những ghen tuông, cút bắt, giật gân hay những bí mật lớn lao, chuyện tình tay ba chỉ dừng lại ở những xúc cảm mãnh liệt, khao khát sẻ chia trong nỗi cô đơn. Đó là Connie, phu nhân của Ngài Chatterley, vô tư , trong sáng; là Ngài Clifford Chatterley bị liệt nửa thân dưới sau chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng luôn yêu thương vợ mình, luôn tìm mọi cách làm cho cô được hạnh phúc và là Parkin - gã gác vườn cục mịch đơn giản si mê. Họ đi qua đời nhau chỉ thế thôi, song cũng đủ để lại trong nhau những dấu ấn thật sâu đậm khó phai, không bao giờ có thể kết thúc.

Khát khao từ nỗi cô đơn

Người ta dễ dàng nhận ra ở những cảnh đầu phim là một Connie lạc lõng giữa những người khách của chồng. Để khỏa lấp nỗi buồn, lâu đài rộng lớn này thường xuyên đón khách và Clifford sẽ nói chuyện với họ cho tới khi mệt lả, thậm chí vài ngày sau đó, anh sẽ không thể gượng dậy nổi. Mọi sự chăm sóc đều đến từ bàn tay của Connie, tới mức, có lúc cô đã bị suy nhược. Cơ thể cô hoàn toàn khỏe mạnh nhưng tinh thần kiệt quệ bởi sự cô độc và đơn điệu lặp đi lặp lại hàng ngày. Người đàn bà còn trẻ, đẹp, gương mặt vuông mạnh mẽ với đôi mắt mở to thậm chí đã cảm thấy sợ sệt khi vô tình bắt gặp người gác vườn đang tắm ở ngôi lều của anh ta phía bên kia khu rừng. Cô đã bỏ chạy… liệu có phải vì cô sợ? Hay đơn giản, chỉ là đã lâu, Connie chưa được thấy một người đàn ông “thật”?

Còn Parkin, anh chàng gác vườn một mình lầm lũi trong rừng kia hóa ra cũng có một số phận trớ trêu. Sự cô độc tách biệt anh với gia đình, với mẹ và với cả người đang là vợ hợp pháp trên giấy tờ của anh. Từ thuở bé, mẹ Parkin đã luôn chê trách con trai “không có điều gì giống với đàn ông”, tỏ ra khinh thường và không hề gần gũi cảm thông với con. Đám cưới của Parkin cũng là một sự kết hợp thiếu vắng tình yêu, để rồi, không lâu sau đó, người vợ đã bỏ anh để đến ở với một người thợ mỏ. Tình thế ấy đẩy Connie và Parkin đến với nhau như là “một việc không thể tránh khỏi”, ban đầu chỉ là thể xác và sau đó là cả tâm hồn.

Khi thấy vợ đã quá rệu rã, dưới sự gợi ý của cô em gái vợ, Clifford chấp nhận thuê người về chăm sóc mình, lúc này, Connie mới có thời gian của riêng cô. Và cũng kể từ giây phút đó, bốn mùa ùa về với lâu đài, với Connie. Cô hòa vào với thiên nhiên, với khu rừng, dành thời gian tìm hiểu nó. Hầu như ngày nào Connie cũng đến chiếc lều của Parkin, chăm sóc cây cối, ngắm đàn chim di cư về cánh rừng. Người ta thấy được cái khao khát một gia đình và một cuộc sống đơn giản của Connie khi cô tự tay làm vườn và cùng Parkin chăm chút cho lũ chim nhỏ. Rồi từ ánh mắt cô nhìn ngắm Parkin, người ta đoán, Connie đang yêu cái cách một người đàn ông vận động, một người đàn ông “thật”.

Và việc “không thể tránh khỏi” đã xảy đến, như là cách nói của Parkin sau cái lần đầu tiên họ tới với nhau. Một người không ân hận, còn một người thì hạnh phúc.

Mùa yêu đương

Sự thành công của bộ phim phải kể đến là những khuôn hình tuyệt mỹ, trong một chất dịu dàng lãng đãng tiêu biểu phong cách Pháp, màu sắc dệt nên cảm xúc cho người xem thật quá sức tưởng tượng. Người ta hình dung như đang lật từng trang tiểu thuyết bằng hình, ngắm những khung cảnh đang tác động vào tâm hồn nhân vật vô cùng từ tốn nhưng mạnh mẽ không tưởng.

Mùa Đông đến, khi băng còn phủ kín mặt hồ, trên những rặng cây, màu trắng lạnh lẽo khiến Connie phát bệnh. Nhưng đó cũng là lý do giúp cô được giải thoát khỏi cuộc sống nhạt nhẽo vô vị để tiến dần tới mùa Xuân mới.

Xuân sang, khi những gốc hoa thủy tiên vàng nở rực rỡ cả cánh rừng, ngập tràn xung quanh lều của Parkin, là lúc họ gặp nhau. Lần đầu tiên, có những ngỡ ngàng, bẽn lẽn của người đàn bà đã lâu không còn được cảm giác yêu đương ân ái trong Connie và cũng là những khao khát nóng bỏng mơn mởn bị lãng quên. Họ gần nhau như lửa gần rơm. Có lúc Connie đã muốn dừng lại, một vài sự giằng xé len lỏi trong cô, giữa một bên là người chồng tội nghiệp, một bên là Parkin. Nhưng rồi, cái hừng hực tuổi trẻ, cái mùa xuân tươi mới gợi trong Connie một mong ước khác, lớn lao hơn, ấy là khát vọng được làm mẹ. Cô lại tìm tới Parkin và một cách trong sáng thuần khiết nhất, cô hỏi “có cần phải cảm ơn anh vì đã làm chuyện đó với tôi không”. Dường như, lúc này, giữa họ vẫn chỉ là những sự đụng chạm thể xác đặt bên ngoài cảm xúc.

Rồi Hạ tới, nóng bỏng, ngọt ngào, thiêu rụi tất cả những rào cản giữa một phu nhân với một gã làm vườn. Mọi thứ biến thành tình yêu, rất nhanh. Connie rõ ràng không thể tách linh hồn ra khỏi thể xác, không thể ái ân mà không Yêu. Thế nhưng, với Connie, đó vẫn là thứ tình cảm trong sáng không tì vết, không một vẩn đục hay nhơ nhớp. Khi Clifford thắc mắc rằng đang có những lời đồn thổi về việc cô muốn có con thì Connie đã khẳng định đúng là cô đang tìm kiếm một đứa bé, đứa con của riêng mình. “Đứa con của em”.

Câu trả lời nghe có vẻ rất vô lí ấy đã được Connie thốt lên một cách vô tư nhất. Không những thế, lúc Clifford ý tứ cho rằng cần có sự hòa hợp giữa đàn ông và đàn bà thì mới có con được, Connie đã khẳng định “một thân thể này cũng tốt như một thân thể khác”. Trong tâm tưởng của người phụ nữ luôn hướng tới sự bình đẳng, không thích làm chủ người khác, thân thiện với tất cả người giúp việc này thì rõ ràng điều quan trọng nhất là đạt được hạnh phúc của mình.

Trường đoạn thể hiện rõ nét tư tưởng của phim có lẽ là đoạn Connie và Parkin hoàn toàn ở trần chạy đuổi nhau dưới mưa rồi đưa nhau vào lều ân ái và tặng cho nhau những bông hoa dại trên khắp cơ thể. Lần đầu tiên, họ sẵn sàng ngắm nhìn nhau không một chút ngại ngùng e dè, trái ngược hẳn với những lần họ đến với nhau trước đó. Cơ thể con người là quà tặng của tạo hóa và tình dục là một phần không thể thiếu, cũng giống như tình yêu. Nó là điều vô cùng tự nhiên, như thiên nhiên, như bốn mùa mưa nắng, như trời và đất, là sự giao hòa bất luận đúng sai.

Cuộc phiêu lưu bất tận

Có lẽ vì tư tưởng ấy nên những người đàn ông trong phim cũng hiện lên dịu dàng hơn, cảm thông hơn. Là một chủ mỏ than, một người giàu có và có quyền lực, Clifford thừa hiểu những chuyện đang xảy ra với vợ mình. Nhưng, ẩn sâu bên trọng, bản thân anh vốn đã mất hoàn toàn sự tự tin nên tình yêu anh dành cho Connie có lẽ là bù đắp cho hạnh phúc mà anh không thể mang lại cho cô.

Chi tiết này thể hiện mạnh và rõ nhất ở đoạn Clifford cho lắp động cơ vào ghế đẩy để tạo ra một chiếc xe tự động, có thể đưa anh đi dạo chơi cùng vợ. Khi hai người lên tới ngang đồi để trở về nhà, cái máy đã dừng lại. Việc anh cố làm cho cái máy hoạt động trở lại, hay bảo thủ không chịu gọi giúp đỡ, không cho ai đẩy xe cho mình chỉ là thể hiện nỗi chán chường tuyệt vọng vào hoàn cảnh của mình và sợ bị thương hại mà thôi. Hay ở cuối phim, sau khi Connie trở về từ chuyến nghỉ hè cùng gia đình cô, Clifford cũng cố gắng tự đi bằng nạng để cho vợ thấy mình vẫn là người đàn ông “thật”, có thể làm cho cô hạnh phúc. Thậm chí, anh sẵn sàng chấp nhận việc vợ có một đứa con ở bên ngoài và chuẩn bị tâm thế làm người cha hợp pháp của đứa trẻ.

Với Parkin cũng vậy. Sau cùng, anh lựa chọn ra đi dù biết Connie đang mang trong mình đứa con của anh và sẽ vẫn sẵn sàng trở về nếu một lúc nào đó cô còn cần tới anh. Connie tình nguyện dâng hiến cả tiền bạc để giúp Parkin có cuộc sống tốt hơn nhưng anh từ chối. Chuyến phiêu lưu của họ chưa có điểm dừng, chỉ là vào giây phút này, họ cần phải xa nhau.

Nếu để nói một câu về “Người tình của phu nhân Chatterley”, xin được trích lời từ cuốn tiểu thuyết “John Thomas và Lady Jane” của D.H.Lawrence… “Đôi chân chạm đất, các ngón tay sờ soạnh thân cây, bàn tay chạm vào một người… Đó là đời sống. Chừng nào chúng ta còn tồn tại thì bằng sự tiếp xúc, chúng ta cùng nhau sống”.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1709 Posted : Saturday, December 11, 2021 12:14:44 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Một thời hoàng kim của hội họa Pháp trong Bộ sưu tập Morozov của Nga

11/12/2021 - Thu Hằng / RFI
Công chúng tại Pháp là những người may mắn được lần lượt chiêm ngưỡng trong vòng 5 năm hai bộ sưu tập những kiệt tác của nhiều danh họa Pháp nhưng lại được bảo quản ở Nga. Sau triển lãm bộ sưu tập của Serguei Shchukin, Fondation Louis Vuitton (Paris) tổ chức triển lãm Bộ sưu tập Morozov (La Collection Morozov), quý tộc giầu có Matxcơva đầu thế kỷ XX, từ ngày 22/09/2021 đến 22/02/2022.

Mắt thẩm mỹ, nhà sưu tập tiên phong

Anh em nhà Morozov không phải là họa sĩ mà là nhà sưu tập có mắt nghệ thuật, có kiến thức phê bình hội họa và « chịu chi ». Trả lời RFI ngày 17/09/2021, bà Souria Sadekoda, bảo tàng Nghệ thuật Shchukin, đồng phụ trách Triển lãm La Collection Morozov tại Fondation Louis Vuitton, giải thích :

« Hai nhà sáng lập bộ sưu tập là những doanh nhân Nga, gốc Matxcơva. Phải nhấn mạnh đến điểm này vì Matxcơva và Saint-Petersburg là hai thế giới khác nhau. Hai anh em Morozov xuất thân từ gia đình quý tộc giầu có Nga kinh doanh trong ngành vải sợi. Cả hai được mẹ là Varvara dạy học, bà là doanh nhân và cũng là phụ nữ đấu tranh cho nữ từ rất sớm. Chính bà là người thuê hai gia sư là họa sĩ để dạy về hội họa cho Mikhail và Ivan. Nhờ đó mà bà tôi luyện được con mắt họa sĩ, kiến thức hội họa cho hai nhà sưu tập tương lai. Mikhail là người bắt đầu sưu tập trước tiên, rồi Ivan theo bước cho đến lúc Mikhail qua đời sớm và Ivan trở thành một trong những nhà sưu tập lớn nhất thời đó ».

Cả hai cùng quan tâm đầu tư vào nền hội họa đang hình thành ở Paris trong đầu thế kỷ XX. Tại sao lại là Paris ? Theo bà Anne Baldassari, phụ trách triển lãm, « vì mọi chuyện đều phải qua Paris. Paris là thủ đô nghệ thuật thời đó ».

« Họ có sự nhạy bén mà chỉ họ mới có vì cần nhớ rằng vào thời đó, những tác phẩm mà họ mua đều mới được hoàn thiện và xuất xưởng là đã được treo trong phòng khách nhà Morozov. Ví dụ, tác phẩm đầu tiên của Matisse mà họ mua đã được treo trong phòng khách ngay năm 1907 và còn đậm mùi nhựa thông. Cần phải nhấn mạnh đến điểm này, vì lúc đó một nền hội họa đang được hình thành với các trường phái, các nhánh khác nhau. Những vấn đề có vẻ là hàn lâm với chúng ta hiện nay, thậm chí là nhàm chán, thì vào giai đoạn đó lại là cả một cuộc chiến, với những cuộc tranh cãi nảy lửa ở Paris ».

Bộ sưu tập toàn kiệt tác

Người anh Mikhail Morozov (sinh năm 1870) bắt đầu sưu tập ngay từ rất trẻ, vào năm 1890. Mikhail xấu số qua đời năm 1903 để lại bộ sưu tập gồm 44 tác phẩm hội họa Nga và 39 tác phẩm đặt mua từ Pháp, của Manet, Corot, đến Monet, Toulouse-Lautrec hay Degas, Bonnard, Denis, Gauguin và Van Gogh. Họ sở hữu nhiều tác phẩm của một Renoir lúc đó đã nổi tiếng và cũng có một tác phẩm khởi nghiệp của Picasso, mua ở Paris chỉ với giá 300 franc.

Ivan (sinh năm 1871) tiếp bước anh trai để lập một bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại Pháp. Cuối năm 1903, Ivan bắt đầu quan tâm đến trường phái ấn tượng. Chính những tác phẩm của Cézanne mà ông khám phá năm 1907 đã khiến Ivan đầu như nhiều hơn vào bộ sưu tập. Bà Souria Sadekoda giải thích :

« Tôi nghĩ là cả hai đều có khiếu nghệ sĩ, như lẽ ra họ đã trở thành nghệ sĩ. Và tâm hồn nghệ sĩ của họ đã biến thành hiện thực khi họ sưu tập những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất thời đại họ. Tôi nghĩ là Mikhail mạo hiểm hơn, chính ông là người mang về Nga tác phẩm hội họa đầu tiên của Van Gogh vào năm 1903. Chính ông cũng là người mua tác phẩm của Munch và hiện giờ đây vẫn là tác phẩm duy nhất của Munch có ở Nga.

Ivan thì cổ điển hơn một chút. Ông không đi trước thời đại mà theo đúng nhịp thời đại của mình. Ông tái hiện không khí Paris trong lâu đài riêng ở Matxcơva. Ông thường xuyên đến Paris và làm quen với các nhà sưu tập lớn, các nghệ sĩ thời đó. Ông cũng tính toán rất nhiều chứ không phải là người sẵn sàng mua chỉ vì chợt thích. Ông từng bước hình thành bộ sưu tập, tìm những tác phẩm cụ thể theo hướng bộ sưu tập mà ông muốn. Trong kho lưu trữ của chúng tôi có những cuốn sổ ghi chép của Ivan, ghi lại những tác phẩm ông đã xem, ông muốn mua gì với giá như nào. Đúng là ông trả giá đắt cho những tác phẩm, nhưng ông tính toán ».

Gu thẩm mỹ tinh tế, tinh thần tiên phong là những yếu tố giúp Bộ sưu tập Morozov phong phú và chỉ gồm những kiệt tác, tiêu biểu như tác phẩm Acrobate à la boule (tạm dịch : Người nhào lộn giữ thăng bằng trên quả bóng) của Picasso, với phong cách đặc trưng Maroc hoặc La Ronde de nuit (Tạm dịch : Tuần đêm) của Van Gogh… Có quá nhiều kiệt tác nổi tiếng thế giới, nhưng điều bất ngờ ít ai biết đến, đó là những tác phẩm này lại nằm trong bộ sưu tập của một người.

Cùng với bộ sưu tập của Serguei và Pavel Tretiakov, của Shchukin và anh em nhà Morozov, Nga sở hữu những kiệt tác hội họa Pháp kéo dài từ thời David đến Matisse. Bộ sưu tập Morozov có gần 300 tác phẩm, trong đó 165 tác phẩm được triển lãm tại Fondation Louis Vuitton, cùng với vài chục tác phẩm của các tác giả Nga. Đây là lần đầu tiên Bộ sưu tập Morozov được triển lãm riêng, sau triển lãm Bộ sưu tập Shchukin, cũng tại Fondation Louis Vuitton năm 2016. Bà Souria Sadekoda tỏ ra hài lòng vì « cuối cùng, sau suốt một thế kỷ, công chúng có thể hiểu được bộ sưu tập Morozov là như thế nào », vì cho đến giờ, « người ta vẫn nói gộp bộ sưu tập Shchukin-Morozov » :

« Sau cuộc Cách Mạng, hai bộ sưu tập nghệ thuật đương đại lớn nhất Shchukin và Morozov bị quốc hữu hóa. Đây là nền móng để người Xô Viết thành lập bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở Matxcơva và tồn tại đến năm 1948. Sau đó là thời kỳ lưu lạc của hai bộ sưu tập vì năm 1948, Stalin ra lệnh giải thể bảo tàng này. Tất các các tác phẩm được chuyển sang bảo tàng Shchukin. Bảo tàng của chúng tôi có rất nhiều bộ sưu tập nhưng diện tích lại quá nhỏ, không đủ chỗ để chứa hết cả hai bộ sưu tập lớn Shchukin và Morozov với tổng cộng gần 600 tác phẩm. Vì thế ban giám đốc bảo tàng Shchukin đã gọi điện cho giám đốc bảo tàng Hermitage thời đó để đề xuất chia bộ sưu tập.

Vì thế, bộ sưu tập bị xé lẻ. Nhưng phải nói đây là giải pháp tốt nhất vào thời đó bởi vì sau khi bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại bị Stalin giải thể, người ta đã lo là những kiệt tác đó sẽ bị hủy. Cuối cùng, Stalin, với tất cả những sai lầm mà chúng ta thấy, cũng hiểu ra nghệ thuật là gì. Dù ông không muốn thấy những tác phẩm đó nhưng ông cũng hiểu đó là những tác phẩm rất có giá trị. Vì thế chúng được giữ trong kho, dù không được trưng bày, và được bảo quản tốt cho đến ngày nay. Chỉ sau khi Stalin qua đời, những tác phẩm trong hai bộ sưu tập Shchukin và Morozov dần được giới thiệu đến công chúng ».

Fondation Louis Vuitton : Nhà tài trợ hào phóng

Bộ sưu tập Morozov lần đầu tiên được triển lãm ở Fondation Louis Vuitton, mà thực ra lần đầu tiên trên quy mô lớn như vậy ở bên ngoài nước Nga. Hai phòng triển lãm lớn nhất dành cho những tác phẩm của Gauguin và Cézanne. Khách tham quan còn được ngắm những tác phẩm khổ lớn của Pierre Bonnard.

Bà Anne Baldassari, người từng thu hút hơn 1,3 triệu khách tham quan đến triển lãm Bộ sưu tập Shchukin năm 2016, giải thích :

« Đúng thế, thậm chí là cả ở Nga, vì bộ sưu tập này chưa bao giờ được hội tụ ở Nga dù năm 2019 đã có một triển lãm ở Saint-Petersburg, nhưng quy mô nhỏ hơn nhiều. Chưa bao giờ bộ sưu tập Morozov được quy tụ các kiệt tác lớn như vậy ở cùng một địa điểm kể từ khi các tác phẩm bị phân tán vào cuối những năm 1930. Vì thế, đây là thời điểm rất được trông đợi ở Nga, cũng như ở Pháp và ở châu Âu.

Sự trở lại của những tác phẩm tuyệt vời như này luôn là khoảnh khắc rất thú vị bởi chúng giúp người xem cảm nhận được bộ sưu tập được đánh giá như thế nào vào thời kỳ đó với đúng nghĩa sức mạnh mới, một cú sốc vừa về thẩm mỹ lẫn cảm xúc do chính những tác phẩm vừa mới được hoàn thiện tạo nên, trong đó có những tác phẩm được đặt hàng vẽ tại chỗ ».

Hiếm khi nào tập giới thiệu một triển lãm lại được hai tổng thống Nga và Pháp viết chung lời nói đầu. Tối 21/09, đích thân tổng thống Emmanuel Macron khai mạc triển lãm, được đánh giá mang tính ngoại giao trong bối cảnh quan hệ giữa Matxcơva và phương Tây không ngừng xấu đi trong những năm gần đây. Còn đối với Nga, đây là một kiểu « quyền lực mềm ».

Thành công của triển lãm còn dựa vào mối quan hệ lâu năm, vào sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai người phụ nữ Suzanne Pagé, giám đốc nghệ thuật của Fondation Louis Vuitton và Anne Baldassari, phụ trách triển lãm Shchukin và tiếp theo là Morozov với những đồng nghiệp Nga. Bà Souria Sadekoda, bảo tàng Nghệ thuật Shchukin tại Nga, giải thích :

« Chúng tôi chuẩn bị cho triển lãm này trong khoảng bốn năm. Công việc khoa học được hai nhóm chuyên gia của Fondation Louis Vuitton và các bảo tàng Nga đảm nhiệm. Nhờ trợ giúp của Fondation Louis Vuitton, những chuyên gia, những nhà phục chế nổi tiếng, có tay nghề lão luyện đã đến bảo tàng của chúng tôi. Chúng tôi đã cùng nhau lập danh sách các tác phẩm. Anne Baldasari đã lập một danh mục thật tuyệt vời, bà tra cứu trong lưu trữ và có nhiều khám phá thú vị. Đúng là đằng sau triển lãm tuyệt vời này là cả một khối lượng lớn công việc của rất nhiều người ».

Tổng chi phí được Fondation Louis Vuitton đài thọ vẫn là một bí mật. Riêng những tác phẩm quá mong manh để vận chuyển thì ở lại Nga vì « trong Thế Chiến II, chúng được bảo quản ở Siberi trong cái lạnh -40°C nên một số tranh đã bị hư hỏng rất nhiều ». Theo bà Anne Baldassari, hiện vẫn chưa có những công cụ cần thiết để phục chế.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1710 Posted : Sunday, December 12, 2021 12:05:06 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Nhạc Pháp : Nolwenn và Benjamin Biolay ghi âm sáng tác mới

11/12/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Các đợt phong tỏa tại Pháp đã làm xáo trộn toàn bộ đời sống văn hóa, nhưng phải chăng trong cái rủi lại nảy sinh một ‘‘dịp may’’ đối với giới nghệ sĩ. Ít ra, vào mùa đông năm 2021, có rất nhiều album nhạc Pháp được trình làng. Trong số các dự án ghi âm quan trọng, có album hợp tác giữa hai nghệ sĩ Nolwenn Leroy và Benjamin Biolay.

Đây là lần đầu tiên hai ca sĩ Pháp thật sự làm việc chung, mặc dù trong vòng nhiều năm qua, họ vẫn có dịp gặp gỡ rồi trao đổi với nhau ở hậu trường, khi họ cùng thâu các tiết mục biểu diễn cho các chương trình truyền hình theo chuyên đề, hoặc là cùng tham gia trên các dự án ghi âm tập thể. Chẳng hạn như Nolwenn Leroy và Benjamin Biolay từng tham gia vào tuyển tập đề cao ngòi bút sáng tác của ca sĩ kiêm tác giả Renaud (''La Bande à Renaud'', 2014) cũng như album các ca khúc chọn lọc vinh danh thần tượng nhạc rock Pháp Johnny Hallyday (''On a tous quelque chose de Johnny'', phát hành vào năm 2017).

Nolwenn & Biolay : Cuộc song hành sáng tác trên bản đồ nội tâm

Thành danh cách đây hơn một thập niên nhờ đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình Pháp Star Academy (Chương trình này cũng vừa ăn mừng 20 năm ngày được khai sinh), Nolwenn tính đến nay đã cho ra mắt 7 album phòng thu và bán hơn 3 triệu tập nhạc. Sau khi thành công vượt bậc nhờ tuyển tập mang đậm ảnh hưởng của dòng nhạc celtic (''Bretonne'', 2010), Nolwenn đã tiếp tục khai thác trên album mang chủ đề nhạc ''Folk'', xen kẽ các giai điệu truyền thống với phong trào sáng tác tại Pháp từ đầu những năm 1970.

Khi hợp tác với ca sĩ kiêm tác giả Benjamin Biolay, Nolwenn tuy thay đổi hẳn màu sắc của album mới qua các nhịp điệu pop rock, nhưng về mặt ý tưởng, cô vẫn chọn cuộc hành trình trên bản đồ nội tâm làm chủ đề. Điển hình là ca khúc trích đoạn đầu tiên ''Brésil Finistère'', nối liền xứ sở của cây đậu gỗ đỏ Brazil với vùng đất hoang sơ Finistère mà trong thổ ngữ vùng Bretagne, có nghĩa là nơi tận cùng của thế giới. Hai tác giả cùng viết về hai phương trời cách biệt nhờ sức mạnh hồi tưởng trong tâm trí.

Trên bản đồ, chỉ cần vẽ một dấu gạch thẳng là ta có thể bay từ mũi cực tây của nước Pháp cho đến Bahia ở vùng đông bắc Brazil. Nội dung ca khúc mới của Nolwenn nói về ngày bạn bè sum họp, đoàn tụ gia đình, dù là ở bất cứ nơi nào niềm vui cũng sẽ như nhau. Tác giả Benjamin Biolay không cần nhắc đến những mất mát thiệt thòi, nhưng ta vẫn hiểu được những giai đoạn thương đau trong quá khứ rất gần, nếu không nói là chỉ mới hôm nào mà thôi. Nolwenn cho biết là cô đã từng đến những vùng đất hoang sơ tại Đan Mạch (đảo Féroé trong tiếng Pháp) để tìm cảm hứng sáng tác. Nhưng cũng như Étienne Daho từng thổ lộ : Đôi khi ta chỉ cần thả hồn vào thế giới tưởng tượng, sáng tác không cần chu du bốn bể mà có thể là một chuyến phiêu lưu trong mộng, một cuộc hành trình bất động (Les Voyages Immobiles).

Cánh chim dẫn đầu phong trào ''Các tác giả mới''

Trong làng nhạc Pháp, nếu như sở trường của Marc Lavoine là kết hợp giọng ca cực trầm của mình với các giọng ca nữ, thì một cách tương tự, Benjanmin Biolay bên cạnh các bản song ca còn thích sáng tác ca khúc và tạo dựng sắc màu âm nhạc cho các album của các nữ ca sĩ.

Sau khi hợp tác với Françoise Hardy (2004), Isabelle Boulay (2011) hay là Vanessa Paradis (2013), Benjanmin Biolay giờ đây sáng tác và hòa âm cho album thứ 8 của Nolwenn Leroy. Thành danh từ năm 2000 sau khi đồng sáng tác album phòng thu cho nam danh ca quá cố Henri Salvador, Benjamin Biolay đã nhanh chóng trở thành cánh chim đầu đàn của phong trào ''Les Nouveaux Auteurs'' (Thế hệ tác giả mới).

Nhờ vào tài hòa âm kết hợp cùng lúc nhiều nhạc cụ, Benjamin Biolay còn có năng khiếu sáng tác theo kiểu đo ni đóng giày cho nhiều nghệ sĩ có thế giới âm nhạc hoàn toàn khác với anh. Đầu năm 2021 đánh dấu đỉnh cao thành công của tác giả này vì nhờ vào tập nhạc ''Grand Prix'' với ca khúc chủ đề "Comment est ta peine", anh đã đoạt hai giải thưởng quan trọng dành cho Album xuất sắc và Giọng ca nam hay nhất nhân kỳ trao tặng giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique hồi đầu năm 2021.

Có khá nhiều tác giả cần có sự cô lập trong tâm hồn khi họ bước vào gia đoạn sáng tác, có lẽ cũng vì bản thân họ không muốn bị dòng xoáy của thế giới bên ngoài chi phối hoặc cuốn trôi, Benjamin Biolay với cách làm việc rất nhanh cho biết anh có thể tập trung vào công việc soạn nhạc cũng như viết ca từ bất kể môi trường hay tình huống. Ở anh, sáng tác đúng là một chuyến hành trình bất động hướng về nội tâm, dù rằng vũ trụ xung quanh đang chuyển động ầm ầm.



RFI - 12/12/2021

(AFP) – Hoa hậu Pháp 2022 : người đẹp Paris và vùng phụ cận, Diane Leyre đăng quang. Trong cuộc thi đêm 11/12/2021 tổ chức tại thành phố Caen miền bắc nước Pháp, hoa hậu vùng Paris Ile de France về đầu trong số 29 ứng viên. Diane Leyre 24 tuổi, đang làm việc cho một công ty môi giới địa ốc. Cô về trước á hậu thứ nhất là người đẹp của đảo Martinique. Về thứ ba là hoa hậu vùng Alsace. Các cuộc thi hoa hậu ở Pháp bị chỉ trích phân biệt đối xử vì các thí sinh phải là những người độc thân, dưới 25 tuổi và phải có chiều cao tối thiểu là 1,7 mét .

(RFI) – Kỷ niệm 200 năm ngày sinh văn hào Pháp, Gustave Flaubert. Sinh ngày 12/12/1821 tai thành phố Rouen miền tây bắc nước Pháp trong một gia đình khá giả, năm 14 tuổi, Gustave yêu say đắm Elisa, một phụ nữ đã có chồng. Đây là nguồn cảm hứng để hai năm sau ông viết nên cuốn Hồi Ký của một kẻ điên- Les Mémoires d'un fou và nhiều năm sau đó là tác phẩm L'Éducation sentimentale – Giáo dục về tình cảm. Nhưng tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Madame Bovary (năm 1857). Nhân vật chính Emma Bovary là nguồn cảm hứng của nhiều thế hệ nhà văn sau này. Flaubert là người mở đường đưa những câu chuyện hàng ngày đơn giản vào tiểu thuyết và ông được mệnh danh là cha đẻ của trường phái hiện thực.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1711 Posted : Saturday, December 18, 2021 6:54:11 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

“CẨM NANG XANH” : Sự dũng cảm thay đổi trái tim

18/12/2021 - Lệ Thu / RFI
Vượt lên trên khá nhiều tranh luận xung quanh việc có xứng đáng được danh hiệu cao quý nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 91 hay không, “Cẩm nang xanh” vẫn là một bộ phim chất chứa nhiều cảm xúc, mà trong đó người ta tìm thấy những nụ cười, những chân thành và cả những xót xa.

Truyện phim kể về câu chuyện có thật giữa một nghệ sĩ dương cầm da màu chơi nhạc Jazz - Don Shirley - và người vệ sĩ kiêm quản lí tour diễn của ông, Tony Lip Vallelonga, cùng tình bạn của họ trong suốt chuyến lưu diễn dài hai tháng xuôi theo miền Nam nước Mỹ đầu những năm 60 của thế kỉ trước. Ai cũng biết, thời điểm đó, đạo luật Jim Crow với đầy những quy tắc hà khắc nhắm vào người da màu vẫn đang rất thịnh hành ở nơi đây. Bởi vậy, nhắc tới “Cẩm nang xanh”, người ta nghĩ ngay tới một bộ phim với nội dung phân biệt chủng tộc, đặc biệt, phim lại lấy cảm hứng từ cuốn sách “The Megro Motorist Green Book”, cuốn sách được coi là Cẩm nang du lịch dành cho người da màu.

Nhưng, hơn thế nữa! Nếu bạn đang tìm một cái gì khá nhẹ nhàng, pha chút hài hước, chân thành, mộc mạc, với những bản nhạc Jazz tuyệt vời và một tình bạn kì lạ đầy sức mạnh thì đây chính là lúc bạn nên ngồi xuống, dành hơn 130 phút để thưởng thức tác phẩm gây tiếng vang với rất nhiều giải thưởng danh giá này.

Đời người là những chuyến đi…

Trái ngược với phần lớn những bộ phim cùng đề tài nổi tiếng khác, “Cẩm nang xanh” xây dựng hai nhân vật đối lập nhau. Đó là Tony Lip, một anh chàng da trắng Mỹ gốc Ý côn đồ, thô thiển, bỗ bã, thậm chí có vẻ ít học, làm bảo vệ tại một câu lạc bộ đêm vừa đóng cửa. Đó là Don Shirley, một nghệ sĩ dương cầm da màu đầy tri thức, hiểu biết, có phần kiêu ngạo tự phụ sống một mình trong một căn hộ được trang hoàng như cung điện dát vàng. Họ gặp nhau, đồng hành cùng nhau, từ những vô tâm, vô cảm rồi dần trở nên gắn kết và thấu hiểu.

Bộ phim thuộc thể loại phim Hành trình, các nhân vật chính sẽ trải qua một chuyến đi với nhau để rồi từ đó cùng thay đổi, cùng tìm ra những bài học đắt giá cho riêng mình.

Tony, anh chàng có vóc người to cao vạm vỡ, với triết lí sống vô cùng đơn giản. Sự phân biệt chủng tộc dường như ăn vào tiềm thức như một thói quen mà có lẽ chính anh cũng không nhận ra. Ví như anh vẫn vứt ly nước của một người da màu vừa uống vào thùng rác để không phải dùng lại nó, nhưng anh vẫn nghe nhạc của những nghệ sỹ da màu tài năng như là Aretha Franklin hay vẫn thưởng thức gà rán một cách ngon lành và coi đó là món ăn ngon nhất thế giới. Cũng vì thế, việc làm công cho một người da màu không phải mối bận tâm lớn nhất của Tony.

Không thể không ngạc nhiên trong lần đầu Tony gặp Don tại căn hộ sang trọng hoành tráng của anh ta. Phân đoạn này quá ấn tượng với người xem khi Tony, một người da trắng, ngồi bên dưới, còn Don, một người da màu, ngồi trên chiếc ghế như ngai vàng và nhìn xuống dưới như thể ông chủ nhìn một người giúp việc đúng nghĩa. Tuy nhiên, với Tony, khoản tiền lương kếch xù mới là điều đáng chú ý, nhất là khi anh vừa bị mất việc ở câu lạc bộ ban đêm.

Thế nhưng, chuyến đi này đúng nghĩa là cả một cuộc đời với Tony. Nó biến chuyển anh hoàn toàn, từ một kẻ vô tâm, làm vì tiền, cho tới một người am hiểu, trân trọng tài năng của Don và cuối cùng, là người cảm thông, chia sẻ, gần gũi Don hơn bất cứ ai. Đó là những lần Tony tựa cửa nghe Don chơi đàn, tận mắt chứng kiến những người da trắng ngồi ngây ngất trước những ngón đàn của Ông chủ. Là những lần tai nghe mắt thấy sự khinh miệt mà cũng chính những người ấy dành cho Don phía sau sân khấu. Không được ngồi chung bàn, không được dùng chung nhà vệ sinh, thậm chí không được ngồi chung phòng… là những thứ khiến Tony cảm thấy vô lí cùng cực. Don bỗng trở nên đáng kính trọng và xứng đáng được hưởng những sự cư xử công bằng.

Tony không còn là một người làm công nữa, cũng không còn nhìn Don với con mắt của một người da trắng nhìn một người da màu nữa. Anh đã đánh nhau, đấu tranh vì Don bằng lòng khâm phục và tình thương giữa con người với con người. Vụ ẩu đả trong quán bar để bảo vệ Don khỏi những kẻ da trắng kì thị. Gây gổ với người thu xếp nhạc cụ cho Don chỉ vì anh ta đã không chuẩn bị cây đàn như Don yêu cầu. Đánh cả cảnh sát vì họ đã khinh miệt và nhốt Don vô lí hay túm cổ áo người quản lí nhà hàng nơi Don diễn chỉ vì không cho Don ngồi ăn trong phòng… Những sự thay đổi cứ thế từ từ đến với Tony, tự nhiên và không hề có bất kì tính toán nào.

Người ta thấy ở Tony không chỉ là một người đầy nhiệt huyết với Don mà còn là một người sống rất tình cảm với vợ của mình. Anh liên tục viết thư cho vợ với những lời lẽ thô nhưng thật khiến Don đã phải mở lời giúp đỡ. Những câu văn dần trau chuốt hơn, mượt mà hơn, đẹp và nên thơ hơn… khi Tony thể hiện tình cảm của mình với vợ và miêu tả những nơi họ đã đi qua.

Núi trong lòng mới là Núi

Nhưng, có vẻ bộ phim không chỉ dừng lại ở đó. Cái thông điệp “Thay đổi trái tim người khác cần nhiều sự dũng cảm” không chỉ dành cho trái tim của những người da trắng như Tony, mà nó còn dành cho trái tim cũng đang cần được thay đổi của Don.

Càng đắm chìm trong “Cẩm nang xanh” người ta càng cảm thấy rõ ràng rằng sự bình đẳng mà bộ phim hướng tới là sự bình đẳng trong chính mỗi người, như Don là một ví dụ. Người xem nhận ra chuyến đi mà Don lấy cảm hứng từ cuốn “cẩm nang dành cho người da màu” là hành trình tìm lại bản thân của anh. “The Megro Motorist Green Book” của tác giả Victor Hugo Green là cẩm nang du lịch vào giữa thế kỉ 20 dành cho khách du lịch người Mỹ gốc Phi nhằm giúp họ tìm kiếm những nhà nghỉ và nhà hàng sẽ chấp nhận họ - cũng chính là cuốn sách mà Don luôn mang bên mình trong suốt chặng đường của hai người.

Có một câu thoại của Don Shirley đã nói lên tất cả : “Nếu tôi chưa đủ đen, nếu tôi chưa đủ trắng, hay nếu tôi chưa đủ đàn ông… thì tôi là gì?”. Loanh quanh trong thế giới của riêng mình, Don không thể hòa nhập với người da trắng và cũng tách biệt bản thân với những người da màu. Anh bị sự lạc lõng và cô độc bủa vây, mất phương hướng, mất sự định nghĩa về bản thân. Tự phụ nhưng dường như cũng quá tự ti, Don không chấp nhận sự thật rằng anh cũng là một người da màu hoặc chính anh đang muốn chối bỏ điều đó.

Bằng chứng là Don đặt mình lên trên màu da của mình, anh không nghe nhạc của những nghệ sỹ da màu khác, thậm chí chưa bao giờ ăn món gà rán. Khi chiếc xe bị hỏng dọc đường, hai bên là cánh đồng, Tony loay hoay sửa còn Don thì đứng tựa lưng vào nhìn ngắm trời mây. Ta bắt gặp cảnh những người nông dân da màu đang làm ruộng ngẩn mặt nhìn cả hai vô cùng khó hiểu. Don đã chui vào trong xe để lẩn tránh những con mắt tò mò đầy ngơ ngác ấy. Dường như, anh không muốn đặt mình ngang hàng với họ, những người cùng màu da với anh.

Cái vẻ kiêu kì, ngạo mạn được hiểu chỉ như là cái vỏ che giấu phần nhiễu loạn trong tâm chí Don và chuyến đi này là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là gì” cứ mãi luẩn quẩn chưa tìm thấy lối ra của anh.

Don đã từng diễn ở Nhà Trắng và nhiều bữa tiệc quan trọng của chính phủ. Anh quen biết nhiều người quyền cao chức trọng. Chỉ cần một cú điện thoại của anh là cảnh sát phải thả họ ra với những lời xin lỗi rối rít. Nhưng như vậy thì sao? Sau ánh đèn sân khấu và những lời chào mừng nồng nhiệt thắm thiết thì anh vẫn phải ngồi riêng một góc, phải ăn riêng bên ngoài phòng ăn và bị phân biệt đối xử khi bước chân trên phố. Tony thắc mắc tại sao Don cứ nhất định phải đi xuôi về phía Nam. Thì câu trả lời là đây. Là những lần bị đánh, bị chửi rủa, bị bắt bớ vô cớ… chỉ vì màu da. Don đang cần tìm lại chính mình.

Rồi, chuyến đi đã đạt được mục đích của nó. Don có câu trả lời cho Trái tim anh. Con người ta không thể hoàn hảo theo cách người khác nhìn vào. Tony là một người da trắng thô thiển nhưng chân thành, đầy ắp yêu thương. Don là một người da màu nhưng tài năng và đa cảm. Lần đầu tiên, Don ăn gà rán bằng tay không cùng với Tony. Lần đầu tiên, Don tự lái xe còn Tony thì ngủ vùi ở ghế sau - quá mệt vì phải chạy xe trong bão tuyết. Cũng là lần đầu tiên, Don tới nhà người khác vào đêm Giáng Sinh, tới với gia đình của Tony.

Hành trình thay đổi của Tony cũng là hành trình khiến Don nhận ra chính anh cũng phải tìm thấy sự dũng cảm để sống khác đi, để là chính mình.

Phim do đạo diễn Peter Farrelly đồng biên kịch với Brian Currie và Nick Vallelonga, con trai của Vallelonga - Tony Lip - hợp tác viết kịch bản dựa trên những cuộc phỏng vấn Tony và Don, cùng những bức thư mà Tony đã viết cho vợ trong suốt hành trình kéo dài hai tháng của họ. Vì vậy, người ta có thể cảm nhận được từng chi tiết trong phim vô cùng sống động, chân thực và giàu cảm xúc. Đặc biệt, với tông màu xanh vàng hoài cổ cùng những bản nhạc Jazz tuyệt mỹ, “Cẩm nang xanh” đích thật là một bức tranh đa màu sắc về một tình bạn đẹp và những trái tim dũng cảm dám đổi thay.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1712 Posted : Sunday, December 19, 2021 12:35:33 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Paul Mauriat - Nhạc trưởng thiên hướng Pop

18/12/2021 - Gia Trình / RFI
Paul Mauriat, nhạc trưởng, nhà soạn nhạc người Pháp được cả thế giới biết đến nhờ bản nhạc Love is blue (Tình yêu màu xanh). Thành danh khá sớm từ thập niên 1950, danh tiếng của Paul còn theo ông đến khi qua đời vào năm 2006. Ông là người đem nhạc pop và chất tình ca Pháp vào thế giới nhạc cổ điển.

Tài năng thiên bẩm

Paul Mauriat, tên đầy đủ là Paul Julien André Mauriat sinh năm 1925 tại Marseille, Pháp. Sinh ra trong gia đình có truyền thống âm nhạc, cha ông là thanh tra bưu chính, có sở thích chơi violon và piano cổ điển. Cha ông phát hiện ra năng khiếu chơi đàn của Paul khi ông lên bốn tuổi. Paul có thể nhớ và chơi lại giai điệu trực tiếp trên piano. Do đó, cha ông kèm cặp Paul học nhạc rất sớm để ông theo học nhạc cổ điển tại Conservatoire de Marseille năm lên 10 tuổi.

Lúc thanh niên, Paul chơi thành thạo piano và violin, nhưng ông lại đam mê jazz và pop hơn hẳn nhạc cổ điển. Thiên hướng này khiến ông dịch chuyển khỏi quỹ đạo nhạc cổ điển như dự tính ban đầu. Khi mới 17 tuổi, Paul đã thành lập dàn nhạc riêng và tổ chức các chuyến lưu diễn khắp châu Âu trong thời Đại Chiến Thế Giới II. Tài năng của ông được đánh giá cao trong việc chỉ huy, phối khí.

Tình cờ, các buổi biểu diễn gây được sự chú ý với Charles Aznavour và Maurice Chavalier, hai nghệ sỹ hàng đầu của Pháp lúc bấy giờ. Paul trở nên thân thiết với Charles Aznavour, được ông mời làm nhạc trưởng và phối khí cho các sản phẩm âm nhạc của mình. Trong suốt thập niên 1940 và 50, Paul có cơ hội tiếp xúc và làm việc với rất nhiều nghệ sỹ Pháp thông qua Charles. Khi đó, Paul là người chịu trách nhiệm chính về hòa âm cho các nghệ sỹ khác.

Theo đuổi dòng nhạc dễ nghe (easy-listening)

Xuyên suốt thập niên 1960, ông bắt đầu sự nghiệp solo và kể cả sáng tác nhạc. Ông là đồng tác giả bản nhạc Chariot, trở thành hiện tượng năm 1962 của Petula Clark. Tại Hoa Kỳ, ca khúc được chuyển ngữ thành I will follow him (Tôi sẽ theo chân anh ấy) bởi Little Peggy March, trụ hạng 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong ba tuần liên tiếp.

Giữa thập niên 60, tên tuổi Paul Mauriat được biết đến rộng rãi nhờ siêu phẩm Love is Blue (Tình yêu màu xanh). Ca khúc mang hơi thở pop, chất tình ca Pháp nhẹ nhàng với giai điệu không thể nào quên. Love is Blue thực chất là một bản nhạc tham dự cuộc thi âm nhạc châu Âu Eurovision Contest của đội Luxembourg. Lúc đầu, ông không hào hứng với việc chơi lại bản nhạc nhưng do hãng đĩa Philips phát hành nên đồng ý. Paul Mauriat đã thổi vào bản nhạc sự mới mẻ của nhạc cổ điển lẫn trong pop, một cuộc cách tân thời điểm đó.

Đĩa nhạc này chỉ bán được 30.000 bản tại Pháp nhưng DJ Alan Mitchell chơi lại bản nhạc Paul và hỏi ý kiến người nghe. Hàng loạt cú điện thoại yêu cầu, DJ chuyển yêu cầu sang trên kênh radio. Bài hát nhảy lên hạng 1 trong 5 tuần liên tiếp. Album Blooming Hits, kèm bản nhạc Love is Blue nhảy lên vị trí ăn khách nhất. Đây là niềm tự hào của nhạc hòa tấu và cả nước Pháp khi có album khuynh đảo bảng xếp hạng âm nhạc Hoa Kỳ.

Thành công của Paul Mauriat trên nước Mỹ như bệ phóng cho tên tuổi của ông lan ra toàn cầu. Các bản nhạc ông sáng tác, hòa hấu đều tập trung vào thể loại easy-listening (dễ nghe) có giai điệu rất dễ thuộc. Hơn thế nữa, xu thế giao thoa giữa hai thể loại pop và nhạc cổ điển lúc đó còn khá mới mẻ. Đây là lý do chính tạo nên thành công của Paul Mauriat trong thời kỳ vàng son này.

Chiếm lĩnh trái tim khán giả Nhật

Từ năm 1967 đến 1972, Paul chuyên tâm sáng tác cho ngôi sao ca nhạc Pháp Mireille Mathieu và đóng góp cho phần hòa âm của Charles Aznavour. Đối với Charles Aznavour, Paul đã dàn dựng tổng cộng 135 bản nhạc khác nhau. Khá bất ngờ, thập niên 1970 lại chứng kiến sự tụt dốc của Paul Mauriat tại Mỹ, thị trường âm nhạc lớn nhất. Các ca khúc mới không gây được nhiều tiếng vang trên thị trường này ngoài bản hit Love in the every room trong phim Chitty Chitty Bang Bang.Mặc dùông không lặp được kỳ tích của bản nhạc Love is blue năm nào nhưng doanh số bán đĩa nhạc mang tên Paul Mauriat vẫn khá đều đặn, khoảng 800.000 bản/năm tính đến năm 1996. Ông trung thành với thể loại nhạc hòa tấu mang hơi hướng pop, dễ nghe và không quá kịch tính, hóc búa với khán giả.

Một lý do khác là ông quay trở về dòng nhạc cổ điển thay vì tập trung vào pop như thập niên 60. Paul thể hiện một số tác phẩm của Chopin, Bach và Pachabel như Grande valse brillante, Toccata và Fugue cung Rê thứ, Canon. Tuy kém hấp dẫn tại Mỹ, Paul Mauriat giành được sự hâm mộ đông đảo của khán giả Nhật. Ông là nghệ sỹ quốc tế duy nhất chơi hai đêm nhạc mà vé bán sạch trong chỉ một ngày tại địa điểm danh tiếng Nippon Budokan tại thủ đô Tokyo. Các nhóm nhạc lừng danh như The Beatles, Eric Clapton hay Kiss từng biểu diễn tại đấu trường trung tâm này.

Xuyên suốt sự nghiệp, Paul Mauriat đã tổ chức tới 1.000 show diễn tại Nhật. Ông khéo léo biết cách lấy lòng khán giả Nhật khi giới thiệu các bản nhạc bằng tiếng Nhật trước phần trình diễn. Nhờ vậy, ông có hợp đồng dài gần ba thập kỷ với hãng đĩa Philips và Pony Canyon tại Nhật. Lần trình diễn cuối cùng của ông diễn ra vào năm 1998 tại Osaka khi đó ông đã 73 tuổi.

Di sản âm nhạc đồ sộ

Paul Mauriat thành lập dàn nhạc mang tên ông Le Grand Orchestre de Paul Mauriat từ năm 1965. Cùng với dàn nhạc, ông xuất bản hàng trăm ghi âm và hợp tuyển âm nhạc khác nhau trong suốt 28 năm tồn tại. So với đồng nghiệp, ông sở hữu catalogue âm nhạc (bản quyền trình diễn) cho hơn 1.000 ghi âm với hãng đĩa PolyGram. Ông nghỉ hưu năm 1998 nhưng dàn nhạc mang tên ông vẫn biểu diễn cho tới khi ông qua đời vào năm 2006. Cựu thành viên chơi piano Gilles Gambus trở thành nhạc trưởng thay thế cho Paul Mauriat. Ông trút hơi thở cuối cùng tại miền nam nước Pháp, Perpignan và hưởng thọ 81 tuổi.

Cho đến giờ, khán giả vẫn nhớ về Paul Mauriat như hình với bóng cùng bản nhạc Tình yêu màu xanh năm nào. Ông là người phả hơi thở pop vào dòng nhạc cổ điển thính phòng.

(Theo AllMusic, New York Times, Encyclopedia)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1713 Posted : Monday, December 20, 2021 2:12:10 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Xoè Thái trở thành văn hoá phi vật thể của nhân loại trước nguy cơ bị mai một

18/12/2021 - VOA Tiếng Việt
Xoè Thái vừa được UNESCO đưa vào danh sách Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, một điều mà cộng đồng người Thái của Việt Nam vui mừng đón nhận vì sẽ giúp bảo tồn môn nghệ thuật đang đứng trước nguy cơ bị mai một

Môn nghệ thuật múa được xem là độc đáo của Việt Nam được Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể công nhận là một hình thức văn hoá cần được bảo tồn tại một phiên họp ở Paris, Pháp, hôm 15/12.

Đây là văn hoá phi vật thể thứ 14 của Việt Nam được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản của thế giới. Ca Trù, Nhã nhạc cung đình Huế và Đờn ca tài tử Nam Bộ nằm trong số những môn nghệ thuật của Việt Nam được công nhận trước đây.

Mô tả về điệu múa đặc trưng của người Thái, một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngoài dân tộc Kinh, UNESCO nói rằng Xoè là một điệu múa với các động tác tượng trưng cho các hoạt động của con người trong nghi lễ, sinh hoạt văn hoá, đời sống và lao động của người Thái, từ đám cưới cho đến lễ hội làng.

“Được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các gia đình, nhóm múa, trường học, điệu Xoè đã trở thành biểu tượng của lòng hiếu khách và dấu ấn bản sắc quan trọng của người Thái ở Tây Bắc của Việt Nam,” theo UNESCO.

Từ Điện Biên, một trong 4 tỉnh ở Tây Bắc có cộng đồng người Thái sinh sống, Phó Chủ tịch tỉnh Vừ A Bằng cho VOA biết lãnh đạo đại diện các tỉnh – gồm cả Lai Châu, Sơn La và Yên Bái – hôm 15/12 đã dự buổi công bố trực tuyến tại trụ sở Bộ Văn hoá Thể Thao và Du lịch ở Hà Nội với Uỷ ban liên chính phủ của UNESCO ở Paris về việc thông qua điệu Xoè Thái vào danh sách di sản phi vật thể thế giới. Theo ông Bằng, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, các đại diện của Việt Nam đã không thể đến thủ đô của Pháp để dự sự kiện này.

Ông Bằng cho biết cộng đồng người Thái vui mừng vì sự vinh danh của UNESCO đối với môn nghệ thuật truyền thống của họ nhưng cũng cho rằng điều quan trọng nhất lúc này là “phải có kế hoạch gìn giữ bảo tồn vì nó là di sản chung của một cộng đồng dân tộc.”

‘Có người Thái là có Xoè’

Trong tiếng Thái, “xoè” có nghĩa là múa và chủ thể của nghệ thuật Xoè là cộng đồng người Thái, cư trú chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc của Việt Nam, với nghề canh tác chủ yếu là trồng lúa nước.

“Xoè Thái rất quan trọng đối với dân tộc Thái,” bà Lường Thị Đại, một người nghiên cứu Xoè Thái ở Điện Biên nói với VOA và cho biết rằng có dân tộc Thái ở đâu là có điệu Xoè ở đó vì họ dùng điệu Xoè trong mọi hoạt động của cuộc sống. “Lên nhà mới cũng tổ chức Xoè, đám cưới đám xin cũng tổ chức Xoè, và tất cả những giao lưu khác đều dính đến Xoè hết. Cho nên người Thái từ bé tí đã biết và tham gia Xoè từ cộng đồng.”

Giải thích vì sao điệu múa Xoè lại phổ biến đến như vậy trong cộng đồng người Thái, bà Đại, 77 tuổi, cho biết rằng người Thái của mọi lứa tuổi, mọi giới tính và mọi địa vị xã hội đều có thể tham gia môn nghệ thuật đại chúng mang tính gắn kết cộng đồng này.

Ngoài các lễ hội, điệu Xoè còn được người Thái múa trong các buổi lễ tâm linh như cầu mùa màng tươi tốt hay thậm chí cả trong các đám tang cho người đã khuất núi.

Theo nhận định của UNESCO, múa Xoè “phản ánh thế giới quan và vũ trụ quan của người Thái, được trình diễn vào dịp Tết, trong lễ hội, các cuộc vui, liên hoan” và đây là môn nghệ thuật dành cho mọi người.

Xoè Thái đáp ứng đủ 5 tiêu chí mà UNESCO đề ra để công nhận một di sản văn hoá phi vật thể, trong đó gồm việc Xoè Thái đi kèm âm nhạc của các nhạc cụ dân tộc; nâng cao nhận thức về giá trị và tầm quan trọng của những vũ đạo truyền thống; có các biện pháp bảo vệ Xoè trong cộng đồng người Thái; sự tham gia đông đảo của cộng đồng; và Xoè được đưa vào danh mục kiểm kê quốc gia.

Trước nguy cơ mai một

Có khoảng 30 điệu múa Xoè được chia thành 3 loại chính, gồm Xoè vòng, Xoè trình diễn và Xoè nghi lễ. Theo mô tả về môn nghệ thuật này trên trang di sản phi vật thể của UNESCO, Xoè vòng là phổ biến nhất, trong đó mọi người nối nhau thành vòng tròn, thực hiện các động tác múa cơ bản biểu trưng cho khát vọng về sức khoẻ và hoà hợp cộng đồng.

Các điệu Xoè trình diễn và nghi thức được đặt tên theo các đạo cụ được sử dụng đi kèm trong các buổi biểu diễn, như khăn, nón, quạt, tính tẩu, sáo hay kèn.

Môn nghệ thuật này được sinh ra trong quá trình lao động của người Thái và dần trở thành chất liệu gắn kết các dân tộc trên vùng cao Tây Bắc, theo truyền thông trong nước.

Tuy nhiên điệu múa, mà theo nhà nghiên cứu Lường Thị Đại nói là có từ lâu đời nhưng không biết chính xác từ bao giờ, đang đối diện với nguy cơ bị mai một vì không được lớp trẻ yêu thích nhiều hay muốn học hỏi.

“Người trẻ Thái bây giờ rất ít học điệu múa (Xoè),” anh Vũ Văn Phú, một phóng viên tại Điện Biên cho biết và giải thích rằng Xoè Thái hiện nay ít được tổ chức diễn trong cộng đồng hơn trước đây nên những người trẻ không có động lực để học môn nghệ thuật này như những người thuộc thế hệ trước.

Việc các dân tộc thiểu số hội nhập với nhiều nền văn hoá hiện đại do sự phát triển của nền kinh tế cũng làm ảnh hưởng tới việc giới trẻ ít quan tâm tới điệu múa truyền thống này.

Theo bà Đại, những điệu múa Xoè trong cộng đồng giờ đây bị lai căng bởi làn sóng hội nhập với văn hoá hiện đại.

“Những cuộc vui chơi, những đám cưới đám xin hiện nay bây giờ họ toàn dùng nhạc ‘xập xình’ nên nó không đúng bản chất,” bà Đại, người từng làm nghiệp vụ cho Sở Văn hoá Điện Biên và hiện nay tham gia giảng dạy ngôn ngữ, lịch sử và văn hoá cho những người học múa Xoè, nói.

Còn theo phó chủ tịch tỉnh Điện Biên, đây là mối quan ngại chung của cả cộng đồng Thái hiện nay.

“Trong xu thế hội nhập hiện nay và những tác động của yếu tố nền kinh tế thị trường rồi nhiều vấn đề tác động khác về mặt xã hội nên mình mà không lưu giữ thì nó bây giờ đang từng bước bị mai một,” ông Bằng nói và cho biết cộng đồng người Tây Bắc đang phải cố gắng làm sao để lưu giữ môn nghệ truyền thống này.

Cả ông Bằng và bà Đại đều cho biết cộng đồng người Thái vui mừng vì điệu Xoè được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại bởi điều này sẽ giúp cho môn nghệ thuật truyền thống của người Thái được gìn giữ và lưu truyền đến muôn đời sau.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1714 Posted : Wednesday, December 22, 2021 8:44:04 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Tiểu thuyết ‘Sơn Ca’ chinh phục cảm xúc người Mỹ gốc Việt trẻ

22/12/2021 - Titi Mary Trần / VOA
Có những mảnh đời của người Việt Nam trong những cuộc chiến mà khi nhìn lại lịch sử, ta không thể tưởng tượng được những gian truân mà con người tạo ra cho nhau.

Có những mảnh đời của người Việt Nam trong những cuộc chiến mà khi nhìn lại lịch sử, ta không thể tưởng tượng được những gian truân mà con người tạo ra cho nhau.

Đối với “Sơn Ca”, hay “The Mountains Sing,” tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai, viết về hai bà cháu gốc người Nghệ An, những địa chủ nông dân, từ những thập niên 1930 đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam, thì những mảnh đời trong tác phẩm đó là những câu chuyện dựa trên sự thật. Gia đình ly tán, anh em chiến đấu ở hai chiến tuyến đối lập, nạn đói với những thây người thê thảm, hàng xóm đấu tố bắt bớ nhau vì lòng tham và mê muội một chính thể, và những phân biệt kỳ thị để tranh dành quyền lợi.

Tưởng chừng như đây là những câu chuyện của quá khứ, của chiến tranh mà thế hệ đi trước muốn chôn vùi để con cháu của họ không phải gánh chịu, nhưng sức ảnh hưởng của nó cứ âm ỉ, chi phối những hoạt động của những ai từng trải qua những tổn thương và tạo ra những tâm bệnh không thể hiểu được, cho chính họ và thế hệ con cháu họ.

Đó là lý do những người trẻ Mỹ gốc Việt sống ở vùng Nam California xúc động và đồng cảm với tiểu thuyết Sơn Ca mặc dù chính bản thân họ chưa bao giờ trải qua những tan thương mà tác giả miêu tả rất thật, đến từng chi tiết, trong tiểu thuyết.

Võ Yến Nhi, một người Mỹ gốc Việt thuộc thành phố Redwood City, tiểu bang California, thổ lộ với VOA Tiếng Việt, “Rất là cảm động vì quyển sách này nói về mối quan hệ của một đứa cháu và bà ngoại; và em có mối quan hệ rất thân mật với bà ngoại em cho nên lúc đọc, em thấy cảm động, rất vui, vì em nghe tiếng của bà ngoại em trong tác phẩm này.”

Mặc dù là một tiểu thuyết hư cấu dựa trên những câu chuyện thật được viết bằng tiếng Anh, xen kẽ với những ngôn từ ta thán của tiếng Việt như, “Trời ơi,” hay tiếng gọi thân thương “Bà ơi,” hoặc những triết lý để đời như “Trong cái rủi có cái may,” như “Lửa thử vàng, gian nan thử sức,” hay những mật lệnh của quân đội miền Bắc Việt Nam như “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng,” Sơn Ca lột tả được cái lõi của đau thương. Trong đó, cái hồn bị tổn thương của người Việt trong cái xác chiến tranh Việt Nam là một trải nghiệm chung của nhân loại trong lịch sử, mà cho đến nay, ngôn ngữ mất còn của nó vẫn chưa được thấu suốt bởi loài người. Sơn Ca không ai oán, mà cũng chẳng gian dối đối với sự thật.

Theo nguyên cứu tổng quát của năm nhà khoa học Youssef NA, Lockwood L, Su S, Hao G, và Rutten BPF trong bản tường trình về ảnh hưởng của những tổn thương bị di truyền qua nhiều thế hệ vì biến đổi của DNA Methylation, đăng trên tạp chí Khoa Học não bộ (Brain Sciences) Tháng Năm, 2018, những trải nghiệm tổn thương của thế hệ cha mẹ di truyền cho thế hệ con cháu qua quá trình biến thể phân tử DNA Methylation, là một quá trình sinh học khi một nhóm hoá chất methane gắn vào trong gen khởi động (gene promoter) và kìm hãm sự phiên mã gen, làm ảnh hưởng đến hoạt động một đoạn của phân tử DNA mà không thay đổi trình tự của nó.

Khoa học đã chứng minh được những tổn thương ám ảnh từ chiến tranh ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động tinh thần lẫn thể chất của nhiều thế hệ khác nhau. Nhưng khoa học chỉ xác nhận những gì mà người Việt Nam, những người phải chống chọi và sống với chiến tranh triền miên, đã biết từ lâu.

Tiếc thay, những sự thật đó lại bị cắt xén trong sách giáo khoa lịch sử ở Việt Nam lẫn ở nước ngoài, bị cố ý chôn vùi trong dĩ vãng và bị giấu đi từ cả hai bên thắng cuộc và thua cuộc, trong lúc các thế hệ đi sau phải vùng vẫy để tìm hiểu cái gốc gác đang nằm trong DNA của họ.

Khi được hỏi về cảm xúc của mình đối với tiểu thuyết Sơn Ca, Trần Kaitlyn, một người Mỹ gốc Việt trẻ sống vùng Los Angeles, thổ lộ với VOA Tiếng Việt, “Tôi chưa được gần gũi với cội nguồn Việt Nam, nó thật sự mở mắt cho tôi, và tôi đang khám phá di sản đó.”

Riêng Phạm Hồng Phúc, người học chuyên ngành lịch sử ở Đại Học UC Berkeley, chia sẻ, “Tôi học được về lịch sử Việt Nam từ quyển sách này nhiều hơn là cả mùa học lịch sử Việt Nam ở đại học.” Và, “Lớn lên ông bà không kể chuyện này. Lần đầu tiên Phúc đọc sách này mới biết mấy chuyện trước năm 1954, và mấy chuyện đó bố mẹ Phúc cũng không kể.”

“Kể hay không kể? Liệu kể rồi có làm tổn thương con cháu mình không? Có đem lại thù hằn cho chúng nó không? Có đem yêu thương cho tụi nó không? Có mất mát gì không? Có còn gì không? Con cháu mình có nhìn mình với cặp mắt khác không?” là những câu hỏi mà thế hệ đi qua chiến tranh phải đương đầu sau cuộc chiến.

Và đó cũng là nỗi dằn vặt của mẹ bé Hương. Khi bé Hương, một nhân vật chính của tiểu thuyết hư cấu Sơn Ca, đau đớn muốn tìm ra sự thật tại sao mẹ không ở với em, không nói chuyện với em khi mẹ em trở về từ tiền tuyến, thì mẹ của em lại bị dằn vặt ám ảnh với những ác mộng và những trải nghiệm từng trải qua trong chiến tranh.

Phải chăng đây cũng là những đau thương dằn vặt không thể nói của những người lính trở về từ cả hai chiến tuyến?

Tony Bùi, đạo diễn người Mỹ gốc Việt duy nhất đoạt giải khán giả bình chọn và phim dài hay nhất tại Đại hội điện ảnh Sundance năm 1999 với phim “Ba Mùa,” nói cảm xúc của anh khi đọc tiểu thuyết Sơn Ca, rằng “Chính là lòng trắc ẩn. Bạn có thể thấy được tác giả cố gắng hiểu về quá khứ của chính cô ấy và quá khứ của những con người Việt Nam. Đó là một hành trình tuyệt vời.”

Đối với Minh Phan, đầu bếp nổi tiếng với nhà hàng đạt danh hiệu Michelin tên Phenakite, chia sẻ với VOA Tiếng Việt rằng cách khéo léo sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết Sơn Ca làm cho cô “kinh ngạc.” Cô nói, “Nó đưa đẩy tôi, nó làm cho mùi vị, hình ảnh trở nên sống động đối với tôi.”

Những đau thương và nạn đói kém đến chết người có thể được lãng mạn hóa trong ánh mắt của thế hệ đi sau, những người vẫn còn đang vùng vẫy trong bể đời ở Mỹ để tìm lối cho chính họ, nhưng tàn khốc của chiến tranh và dư âm của nó thật sự đã ăn sâu vào DNA và tâm khảm của người Việt Nam. Chỉ có sự thật và sự can đảm đối diện với nó mới hy vọng phần nào đó làm cho cuộc sống thực tại dễ dàng, bình an hơn.



hongvulannhi  
#1715 Posted : Thursday, December 23, 2021 7:54:24 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 33,022

Thanks: 2506 times
Was thanked: 5368 time(s) in 3614 post(s)
UserPostedImage

Chuc Hoang Thy Mai Thao va doc gia tham lang & GD,
Giang Sinh an binh va tran day tinh thuong yeu .

HONG VU LAN NHI
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 12/25/2021(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1716 Posted : Saturday, December 25, 2021 2:52:32 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Giáng Sinh New York ngân vang với All I want for Christmas của Mariah Carey

25/12/2021 - Thu Hằng / RFI
Năm thứ ba liên tiếp, All I want for Christmas lại đứng đầu 100 ca khúc được nghe nhiều nhất dịp lễ Giáng Sinh tại Mỹ. Với hơn 1 tỉ lượt nghe chỉ riêng trên ứng dụng Spotify, All I want for Christmas mang về cho nữ hoàng nhạc Giáng Sinh từ 3 đến 4 triệu đô la thu nhập hàng năm.

Theo thông tín viên Loubna Anaki, All I want for Christmas nay đã trở thành ca khúc Giáng Sinh không thể thiếu ở New York :

“Giữa hàng nghìn giai điệu, chỉ cần vài nốt nhỏ là có thể nhận ra ngay và ca khúc bắt đầu ngân vang hàng năm trong suốt vài tuần dịp lễ Giáng Sinh.

Ở New York, All I want for Christmas có ở khắp nơi, trong các cửa hàng, ngoài phố, trong công viên…, không thể không nhận ra được, và khiến nhiều người qua đường cảm thấy hạnh phúc. Một phụ nữ nói : “Tôi rất thích bài hát này !”. Với một phụ nữ khác, “khi nghĩ đến Giáng Sinh, tôi nghĩ ngay đến bài hát này”.

Từ gần 30 năm nay, Mariah Carey kể cho chúng ta nghe những gì cô muốn cho dịp Giáng Sinh. Và có lẽ ca sĩ không thể nào mơ đến món quà đẹp hơn là thành công chưa từng có của bản hit mà chưa ca khúc nào vượt qua được.

Có rất nhiều lý do giải thích cho thành công này. Một phụ nữ qua đường cho rằng “đó là một ca khúc không bao giờ lỗi thời. Người ta muốn có tất cả, tình yêu, hạnh phúc và bài hát kể lại rất rõ ràng”. Còn theo một người khác, “bài hát cứ in đậm trong trí óc !”. Và đây có lẽ mới là một lý do cho thành công của bài hát, theo bày tỏ của một người đàn ông qua đường : “Tôi hát ca khúc đó khi tôi thức dậy và khi tôi tắm”.

Những người dân New York không ngại thể hiện ca khúc yêu thích của họ, theo phong cách riêng. Dù bạn có là người hâm mộ hay không thì đánh cược là bạn sẽ khó có thể quên được bài hát suốt thời gian còn lại trong ngày !”


Mariah Carey - All I Want For Christmas Is You (Official Video)
https://www.youtube.com/watch?v=yXQViqx6GMY
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1717 Posted : Monday, December 27, 2021 2:14:12 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

The Holiday - Tình yêu nảy mầm từ những đổi thay

25/12/2021 - Lệ Thu /RFI
Nhắc tới dòng phim Giáng Sinh, hẳn phần lớn khán giả yêu Điện Ảnh đều đồng ý rằng có rất nhiều bộ phim đề cập tới những nhân vật gặp phải vô vàn trở ngại hoặc sẽ rơi xuống hố sâu tuyệt vọng vào đúng dịp quan trọng nhất trong năm này. Khi mà khắp nơi trên thế giới, ai cũng phải tìm về với gia đình, người thân để giãi bày, lan tỏa và được yêu thương thì đâu đó vẫn còn những thân phận cô độc thậm chí mất hết mọi hi vọng.

Mô tuýp “Giáng sinh lạc lõng” tất nhiên không còn xa lạ nữa. Thế nhưng, để giải quyết tình trạng vẻ như không quá đặc biệt này bằng cái cách mà Nancy Mayer đã làm trong bộ phim “The Holiday” thì chắc chắn có thể nói là vô cùng độc nhất vô nhị. Là tác giả kịch bản đồng thời là đạo diễn phim, Nancy Mayer còn là một nữ đạo diễn rất thành công với nhiều phim về phái nữ, đã làm nên một sản phẩm không chỉ dịu nhẹ, ấm áp, vui vẻ, mà còn tạo ra một chuyến phiêu lưu kì thú đặc biệt dành cho dịp Giáng Sinh.

Với kinh phí hơn 80 triệu đô la, chỉ sau thời gian ngắn công chiếu, bộ phim đã đạt doanh thu hơn 200 triệu đô la và nhiều năm sau đó, trở thành một trong 10 bộ phim đáng được xem nhất mỗi dịp lễ cuối năm cận kề.

“The Holiday” được sản xuất năm 2006 của Hollywood, là câu chuyện về hai cô gái trẻ xinh đẹp, độc thân, đang ở vào giai đoạn bị lừa dối trong tình yêu, lạc lối giữa những dối trá và mất đi phương hướng lẫn niềm tin vào tương lai. Vô tình, họ làm quen với nhau trên mạng xã hội và một ý định điên rồ nảy sinh khi cả hai cùng lâm vào tình cảnh chán nản, rệu rã hiện tại. Họ quyết định sẽ đổi nhà cho nhau vào đúng dịp Giáng Sinh.

Một nhà báo đa sầu đa cảm người Anh và một cô nàng chuyên chạy dự án quảng cáo phim người Mỹ. Chuyến phiêu lưu khởi nguồn theo một cách chẳng giống ai, để rồi, từ đây, cùng với bước chân của hai cô gái, khán giả bắt đầu được trải qua nhiều cung bậc của Hỉ - Nộ - Ái - Ố, lúc khóc, lúc cười, lúc trống trải, hụt hẫng, lúc lại cảm động ấm áp và ngập tràn hạnh phúc.

Cái giá của sự dũng cảm điên rồ

Họ hoàn toàn không biết nhau ngoài đời, sự thật là vậy. Rồi bước ra từ thế giới ảo trên không gian mạng, Iris, nhà báo người Anh, rời khỏi nơi đầy gió và tuyết để tới Los Angeles ngập tràn nắng và hoa, còn Amanda - cô nàng nhanh nhạy với thời cuộc, luôn chìm trong công việc - thì mong ước thả hồn vào ngôi nhà tuyệt đẹp trên Đồi hoa hồng giữa vùng nông thôn của nước Anh - xứ sở sương mù. Chỉ mới nghe qua, chắc hẳn khán giả đã có thể hình dung ra cảm giác của hai cô gái lúc này. Một người thật sự sung sướng với sự thay đổi, người khác, tất nhiên, không khỏi thất vọng với quyết định quá nhanh quá nguy hiểm của mình. Và bởi vậy cho nên, dường như, câu chuyện của người cảm thấy đáng chán, là Amanda, bỗng trở thành câu chuyện trung tâm trong phim.

Vốn quen thuộc những tiện nghi sang trọng và không khí ấm áp của Los Angeles, Amanda gần như ngay lập tức cảm thấy ân hận vô cùng. Chỉ sau 24 giờ, cô đã gần như phát ốm với cuộc sống trong ngôi nhà chật hẹp ở vùng ngoại ô heo hút của Iris.

Thế nhưng, tất nhiên, rồi ai cũng sẽ có được cái Happy Ending của riêng mình, đặc thù phim Giáng Sinh bao năm qua vẫn thế. Và, để bù đắp cho sai lầm tưởng như không thể cứu vãn của Amanda, mối tình một đêm giữa cô với Graham, anh trai của Iris, đã sưởi ấm trái tim cô. Cô gái Mỹ xinh đẹp, mạnh mẽ, kiêu kì, sự nghiệp thăng hoa nhưng tình duyên thì trắc trở này thậm chí đã không nhỏ một giọt nước mắt khi chia tay người yêu cũ nhưng lại cảm thấy sự gần gũi kì lạ với Graham.

Bất ngờ xuất hiện ở nhà anh, bất ngờ phát hiện anh đang “gà trống nuôi con” chỉ càng khiến Amanda yêu thương anh hơn. Chỉ trong thời gian ngắn, biết bao cảm xúc ùa về mà gần như ngay lập tức, Amanda có thể gọi tên đó là Tình Yêu. Với Graham cũng vậy. Cái cách họ nhìn nhau giống như đã đợi chờ nhau từ rất lâu nhưng cuối cùng, không ai dám công nhận điều đó chỉ bởi vì họ đều đã quá khổ đau khi Yêu. Một người tan vỡ mối tình đã có thời mặn nồng hạnh phúc, là Amanda, người kia lại đã mất đi một nửa của mình, là Graham. Một người sợ Yêu thì sẽ đau khổ, người kia lại sợ khó có ai chấp nhận anh và hai con gái của anh. Nói cách khác, họ sợ sẽ lại phải đối măt với đổ vỡ và chia ly.

Nhưng, một lần nữa, tình yêu lại là chiếc chìa khóa thần kì mở được mọi cánh cửa. Amanda đã rớt nước mắt khi phải rời xa Graham, điều mà rất nhiều năm qua, cô gái cứng rắn như cô không làm được. Họ quyết định chính thức hẹn hò nhau vào đêm giao thừa, chính thức chấp nhận mở lòng đón nhận tình yêu. Tuyết vẫn rơi, gió vẫn thổi, nhưng trong ngôi nhà Đồi hoa hồng, những nụ hoa tình yêu đang bừng nở ấm áp và Amanda nhận ra rằng, cái cô đi tìm không chỉ là một nơi ở mới - một không gian mới, mà đó là một HOME đúng nghĩa, một mái nhà - một gia đình.

Được xây dựng đối nghịch tính cách với Amanda, Iris lại là người mau nước mắt và đa sầu đa cảm. Bị lợi dụng trong tình yêu khiến cô nàng sống co cụm, thu hẹp các mối quan hệ của bản thân. Nhưng khác với “người đổi nhà”, Iris không chỉ tìm thấy tình yêu mà còn cởi bỏ được lớp vỏ tự ti bên ngoài, mở ra thêm cánh cửa khác cho bản thân mình. Tình yêu mà Iris phát hiện ở Los Angeles không chỉ là tình yêu với anh chàng viết nhạc phim Miles mà còn là Tình yêu với cuộc sống, với niềm vui của những người xung quanh mình, là sự Tự tin mà ông hàng xóm của Amanda, nhà biên kịch huyền thoại Arthur Abbott, đã giúp cô tìm thấy. Cũng từ đó, Iris gắn bó với ông như một người thân.

Đạt được giải thưởng “Thành tựu trọn đời” nhưng vì quá mặc cảm với tuổi già và với cây nạng hay chiếc xe đẩy, Arthur đã muốn từ bỏ. Hành động Iris gạt chiếc xe đẩy của ông, để ông đứng lên trên chính đôi chân của mình cũng chính là hành động mang tính đột phá, là bước chuyển tâm lí của cô, thúc đẩy sự tự tin trong cô giống như cô đang giúp đỡ ông.

Những thành công làm nên bộ phim

Ở “The Holiday”, người ta bắt gặp hai câu chuyện tình yêu song song với hai màu sắc khác nhau và đều nhẹ nhàng tươi sáng. Nhiều người cho rằng bộ phim là mô tuýp quá quen thuộc, dễ đoán cũng không hề có quá nhiều bất ngờ hay mới lạ. Tuy nhiên, tại sao suốt 15 năm qua, tác phẩm vẫn luôn là bản tình ca ngọt ngào ấm áp cho đêm Giáng Sinh và mang đến thật nhiều cảm xúc tươi đẹp cho người xem? Câu trả lời có lẽ nằm ở 4 ngôi sao tên tuổi của Hollywood là Cameron Diaz - vai Amanda, Kate Winslet - vai Iris, Jude Law - vai Graham và Jack Black - vai Miles.

Cameron không xa lạ với thể loại phim Tâm lí Hài nên diễn xuất của cô thật vô cùng tự nhiên. Đôi mắt xanh đặc trưng tinh nghịch biết nói, bờ môi quyến rũ và cơ thể nhẹ nhàng linh hoạt đã tạo nên một Amanda ấn tượng khó phai. Còn Kate, với sự đằm thắm, trưởng thành trong diễn xuất, cô đã lột tả vô cùng thành công một Iris tự ti, gò bó bản thân, chân thành ngu ngơ trong tình yêu và sung sướng tới không ngờ khi tìm thấy hạnh phúc của đời mình. Cùng nhau, họ đã xây dựng được hai mảnh ghép đối lập trong bức tranh về một bộ phận những cô gái hiện đại với một vài bất ổn tâm lí và những khát khao yêu đương nhưng được che đậy khéo léo bởi sự bận rộn của công việc hay những đàn đúm tiệc tùng.

Bên cạnh đó, là hai chàng trai cũng với hai màu sắc khác nhau nhưng đều có nỗi sợ cô đơn, sợ Yêu rồi lại mất đi Tình Yêu. Là một Jude Law trong vai ông bố đơn thân nông thôn “biết may vá với một con bò ở sâu sau” đầy mạnh mẽ, hừng hực năng lượng và cứng cỏi. Là một Jake Black vào vai anh chàng nhạc sĩ độc thân đa cảm cũng từng tổn thương sâu sắc trong tình yêu và khao khát những chân thành.

Chưa dừng lại ở đó, “The Holiday” còn gây ấn tượng mạnh mẽ với công chúng bởi bối cảnh tuyệt vời ở vùng nông thôn nước Anh bằng ngôi nhà mang tên “Đồi hoa hồng” của Iris. Đây là ngôi nhà được dựng lên hoàn toàn mới ngay giữa khoảng không hoang vu đầy tuyết rơi, như bức tranh cổ tích, là điểm nhấn vô cùng đáng yêu khiến cho khán giả không thể rời mắt.

Với những tình tiết hài hước, nhẹ nhàng, ấm và nóng, người ta nói “The Holiday” là bộ phim dành cho những cô gái độc thân đang trên đường tìm kiếm một nửa của mình, hoặc dành cho những cặp đôi đang yêu muốn hâm nóng tình cảm trong dịp Giáng Sinh, hay là những người đang mắc kẹt trong những mối quan hệ dở dang cần thay đổi. Có thể đúng, cũng có thể sai. Nhưng chắc chắn, đây là bộ phim đáng xem trong những ngày cuối năm cận kề bởi đây là nơi Tình yêu bắt đầu với rất nhiều người. Thay đổi nơi ở không có nghĩa là thay đổi nơi đang cư ngụ mà một cách lớn lao hơn, đó chính là thay đổi những suy nghĩ thiếu tích cực trong bản thân mình để khai mở cho những Yêu thương mới mẻ nảy mầm.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1718 Posted : Tuesday, December 28, 2021 8:51:23 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Vì sao Pháp trở thành thị trường lớn thứ hai của manga Nhật Bản?

24/12/2021 - Minh Anh / RFI
Tại Pháp, « manga » – truyện tranh Nhật Bản, giờ là một trong những món quà không thể thiếu trong các dịp lễ Noel, Tết mừng năm mới. Năm 2021, số lượng manga bán ra ở Pháp đã đạt con số kỷ lục : 50% truyện tranh bán ra là các tập manga Nhật Bản. Vì sao người Pháp lại mê truyện tranh Nhật Bản đến thế ?

Ngày 08/12/2021, tập thứ 100 của One Piece – bộ truyện tranh Nhật Bản bán chạy nhất tính từ năm 1997 (25 triệu bản tại Pháp) – đã ra mắt giới hâm mộ với 250.000 ấn bản. Một con số tương đương với một tác phẩm văn học được trao giải Goncourt. Đây chỉ là một phần trong thị trường manga đang nở rộ tại Pháp.

Khủng hoảng dịch tễ không thể ngăn cản mức tăng trưởng với ba con số ấn tượng trong thị trường truyện tranh ở Pháp : 124%. Năm 2021, lần đầu tiên số đầu sách bán ra đạt mức kỷ lục 28 triệu bản trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 8/2021, so với con số 20 triệu bản truyện tranh truyền thống, theo số liệu từ Viện GfK.

Manga : Truyện ba xu đổ bộ đến lãnh địa của Tintin

Đối với các nhà phát hành tại Pháp, « thị trường manga đang trong thời kỳ hoàng kim ». Xuất hiện lần đầu ở Nhật Bản trong những thập niên 1930, « Manga » - còn có nghĩa là mạn họa, du nhập vào Pháp vào những năm 1990. Vào thời điểm đó, thể loại truyện tranh Nhật Bản này bị phản đối, từng bị ví là loại truyện tranh ba xu, rẻ tiền, ngôn từ nghèo nàn, bạo lực. Đến mức tại nước láng giềng, đích thân vua Bỉ tìm cách cấm đoán loại truyện tranh mà ông cũng cho là bạo lực và vô bổ.

Nhưng bất chấp những chỉ trích mạnh mẽ, thị phần manga Nhật Bản không ngừng tăng. Mười lăm năm sau ngày « đổ bộ », manga chiếm đến 38% thị trường truyện tranh ở Pháp. Tính đến 31/12/2005, đã có đến 628 đầu sách của 231 tác giả được dịch sang tiếng Pháp. Và 15 năm tiếp theo, năm 2021, thị phần manga Nhật Bản lên đến 50%.

Làm thế nào mà manga, một thể loại truyện tranh dân gian dài tập, chủ yếu dựa trên những hình thức thái quá, đối đầu, và khoái cảm nhục dục, lại có thể gây được tiếng vang ở Pháp ? Trước hết, giới chuyên ngành đều nhìn nhận công đầu thuộc về Jacques Glénat và Dorothée. Người thứ nhất đã cho du nhập lọai truyện tranh từ Nhật Bản. Người thứ hai đã biết cách thổi bùng ngọn lửa nhu cầu. Để rồi từ đó, lần lượt các bộ One Piece, Naruto, Dragon Ball – 7 viên ngọc rồng… lần lượt đổ bộ lên mảnh đất của Tintin, Gaston Lagaffe hay Asterix.

Trả lời báo Les Echos, bà Marion Glénat, Corveler, con gái Jacques Glénathồi tưởng : « Vào cuối những năm 1980, cha tôi có một chuyến đi đến Tokyo. Trong va-li của mình, ông mang theo bộ truyện tranh "Les passagers du vent" với hy vọng bán được cho các nhà xuất bản Nhật. Họ nghe ông ấy một cách rất lịch sự, nhưng lại nói với cha tôi rằng họ cũng có vài thứ để đề nghị. Cuối cùng, cha tôi đi về với chiếc va-li chất đầy manga và tự nhủ : Thử xem sao ! »

Nhưng nhà nghiên cứu Jean-Marie Bouissou, trong một bài viết đăng trang mạng CAIRN.INFO hồi năm 2006, từng lưu ý rằng công nghệ văn hóa Nhật Bản là nhà vô địch về « truyền thông hỗn hợp », chia nhỏ lợi nhuận và mở nhiều kênh tuyên truyền để có thể luồn lách các chính sách bảo hộ tại nhiều nước.

Tại Pháp, đất nước mà manga vấp phải thái độ thù nghịch từ các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, giới truyền thông, các cơ quan công quyền và nhiều nhà xuất bản truyện tranh lớn, việc thâm nhập được tiến hành thông qua các loạt phim hoạt hình nhiều tập, tiếp đến là các loại trò chơi điện tử và các lá bài như Pokemon, Yu Gi Oh. Nghiên cứu của Jean-Marie Bouissou nhận thấy 95% những người được hỏi cho biết họ đã đến với manga đều thông qua các phương tiện trên.

Về điểm này, Grégoire Hellot, giám đốc sưu tập nhà xuất bản Kurokawa, trong một chương trình của đài France Inter hồi năm 2018, có nhớ lại như sau :

« Điều này cũng tương tự cho tất cả các nước khác Tây Ban Nha, Ý, bắt đầu từ loạt phim Goldorak, Candy, Albator, đổ vào Pháp cuối những năm 1970. Trẻ em thời kỳ đó rất thích những bộ phim này. Rồi sau đó, còn có chương trình truyền hình câu lạc bộ Dorothe kết hợp với các loạt phim hoạt hình như Những hiệp sĩ của cung hoàng đạo, Những kẻ sống sót, v.v…

Phim hoạt hình Nhật Bản cung cấp một phong cách kể chuyện và những câu chuyện sâu sắc hơn nhiều so với phim hoạt hình Mỹ thời bấy giờ, phải nói là quá nghiêm túc. Trong khi đó, phim hoạt hình Nhật Bản nói đủ chuyện, người ta có thể nói là họ cố gắng không đánh lừa trẻ em. Họ giới thiệu nhiều câu chuyện giàu cảm xúc, khiến trẻ em cảm động.

Những câu chuyện đó đi theo trẻ cho đến khi chúng trở thành thanh thiếu niên vào cuối những năm 90. Nhưng nghị sĩ thời kỳ đó là Ségolène Royal đã làm đảo lộn mọi thứ khi cho rằng phim hoạt hình Nhật Bản làm cho người ta trở nên điên rồ và thế là không còn phim hoạt hình Nhật Bản trên truyền hình nữa.

Do vậy, có một nhu cầu và nhờ vậy mà vào thời điểm đó những bộ truyện tranh giấy đầu tiên được xuất bản. Những người trẻ tuổi, thanh thiếu niên đã từng được xem phim hoạt hình và không còn xem phim hoạt hình nữa, nhưng vẫn tiếp tục yêu thích chúng đã đắm mình vào truyện tranh và rồi từ đó mà truyền tai nhau. »

Manga và những phân khúc thị trường

Một điểm khác khiến manga dễ dàng chinh phục thị trường truyện tranh Pháp đó là sự đa dạng phân khúc thị trường, theo giới tính, đủ mọi lứa tuổi… Trong thể loại này, người ta có « shônen manga » (dành cho nam thiếu niên) và « shôjo manga » (dành cho thiếu nữ). Rồi còn có những loại manga dành cho các đối tượng trưởng thành hơn như « seinen manga » (dành cho người lớn trẻ tuổi), loạt truyện dài tập lịch sử, rồi còn có « shakai manga » (chuyên nói về những vấn đề xã hội) hay như « gekiga » (chuỗi tập truyện cho người lớn thường bạo lực và u tối).

Đối với anh Grégoire Hellot, đây chính là thế mạnh để manga Nhật Bản có thể cạnh tranh trực diện với các thể loại « Comics » của Mỹ và truyện tranh truyền thống Pháp – Bỉ.

« Manga Nhật Bản bắt đầu từ cho trẻ nhỏ và có rất nhiều phân khúc thị trường. Có những tập truyện dành cho nam giới, nhưng cũng có loại truyện dành cho nữ giới. Truyện cho phụ nữ đi làm, cũng như là truyện cho các bà nội trợ. Nhưng đối tượng chính của manga vẫn là lứa tuổi thanh thiếu niên.

Truyện tranh phương Tây, bất kể là Mỹ hay Pháp người ta thường có xu hướng xấu hổ hay bối rối khi nói về những câu chuyện yêu đương trong lĩnh vực giải trí. Trong khi đó manga Nhật Bản không ngần ngại đi sâu vào tâm lý của các nhân vật. Nghĩa là quý vị có thể sẽ thấy những nhân vật siêu anh hùng có thể đấm vỡ một bức tường, hay một cô gái xuất hiện nói ấp a ấp úng. Những nhân vật mà một thanh thiếu niên có thể dễ dàng tìm thấy chính mình. »

Điểm cuối cùng làm nên lợi thế cho manga Nhật Bản là có kích cỡ nhỏ, dễ dàng bỏ túi để có thể đọc trên tầu điện ngầm. Giá một tập manga cũng « mềm » chỉ tầm từ 6-10 euro, thay vì là từ 15-19 euro đối với một tập truyện tranh có kích cỡ lớn hơn một chút một tờ giấy khổ A4.

Manga : Một phần di sản văn học

Với hơn 28 triệu ấn bản (40 triệu theo Les Echos) trong năm 2021, nước Pháp được ví như là « tổ quốc » thứ hai của manga. Truyện tranh Nhật Bản gần như là sản phẩm văn hóa không thể thiếu tại các hiệu sách, bất kể quy mô lớn nhỏ. Tại Montpellier, hiệu sách Sauramps, lớn nhất của thành phố, từ 15 năm qua đã dành hẳn một gian riêng cho manga Nhật Bản.

Trả lời RFI Tiếng Việt, Leslie Bonnet, một nhân viên phụ trách gian sách manga cho biết, mỗi tháng hiệu sách bán ra khoảng 16.000 quyển manga cho khoảng 300 đầu sách, cho đủ mọi lứa tuổi từ 8 đến trên 50. Theo lời cô Bonnet, nhu cầu về sách tăng vọt đến mức hiệu sách phải tính đến chuyện mở rộng thêm gian hàng trong sắp tới : « Từ hai năm nay, nhu cầu về truyện tranh Nhật Bản bất ngờ bùng phát. Đến mức hiện tại chúng tôi thiếu cả chỗ để sách. Nếu muốn đáp ứng được nhu cầu thị trường, sớm hay muộn gì chúng tôi cũng sẽ phải nới rộng gian hàng. Đúng là trong vòng có hai năm, gian hàng này đã được cơi nới thêm gần như một gian rưỡi nữa. »

Cũng theo Leslie Bonnet, doanh thu từ manga hiện nay là bằng một nửa của truyện tranh. « Về mặt doanh số, đúng là doanh số bán ra của manga là bằng một nửa truyện tranh. Điều đó có nghĩa là để có thể bằng với doanh số của truyện tranh truyền thống, số đầu sách manga bán ra phải nhiều hơn gấp 3 lần. Bình thường một tập truyện tranh giá khoảng 15 euro, trong khi một tập manga chỉ có 6 đồng. »

Trước nhu cầu ngày càng lớn và thế hệ « phim hoạt hình Nhật Bản » nay cũng đã trưởng thành, một thế hệ nhà bán sách mới, đam mê manga, ra đời. Một lợi thế cho nhiều nhà sách nhỏ để có thể cạnh tranh, đồng thời cho phép nhiều người hâm mộ được chìm đắm trong thế giới nhân vật ưa thích của mình. « Đúng vậy, cần phải hiểu rõ lĩnh vực này để có thể hướng dẫn khách hàng. Điểm lợi hiệu sách manga ở đây thường chúng tôi là những fan hâm mộ, rất thích đọc manga nữa. »

Để vinh danh nền nghệ thuật thứ 9 này, một bức ảnh cỡ lớn (XXL) nhân vật chính Kaiju trong bộ truyện cùng tên đã được dán một bên tường kính của BNF. Một cách thức để nhìn nhận manga Nhật Bản giờ cũng là một phần của di sản văn học, như lời nhận định của bà Marine Planche, Trung tâm Văn học Quốc gia dành cho giới trẻ, thuộc Thư Viện Quốc Gia Pháp (BNF), trên đài TV5Monde. « Đó cũng là một phần của những điều tạo nên ngành xuất bản sách, một phần của di sản văn học Pháp, có thể sánh ngang vai cùng với bao thể loại khác. Ở đây có một lĩnh vực đang ngày càng được công nhận một cách hợp pháp. »

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1719 Posted : Wednesday, December 29, 2021 2:44:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Các album nhạc Giáng Sinh tiếng Pháp năm 2021

25/12/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Truyền thống ghi âm những bài hát Giáng Sinh nhân dịp lễ cuối năm đã có từ lâu trong làng nhạc quốc tế. Riêng về điểm này, việc phát hành các tuyển tập Noël vẫn là sở trường của giới nghệ sĩ Anh, Mỹ. Còn trong khối các nước Pháp ngữ, các dự án ghi âm album Giáng Sinh, kể cả nguyên bản và phóng tác, chủ yếu là do các nghệ sĩ xuất thân từ vùng Québec, Canada.

Có lẽ cũng vì thế mà trong những năm vừa qua, giới yêu nhạc Pháp chủ yếu được nghe các giai điệu Noël trong tiếng Pháp qua các giọng ca như Isabelle Boulay, Natasha St-Pier, Roch Voisine hay gần đây hơn nữa là album Giáng Sinh phối theo thể điệu swing và jazz của nam danh ca Garou. Năm 2021 có lẽ là năm phá vỡ thông lệ này. Nhiều nghệ sĩ Pháp gần đây đã nhận lời tham gia vào album tập thể ''Chants de Noël'' (Những khúc hát Giáng Sinh) ghi âm với các dàn đồng ca thiếu nhi.

Trong số này, có Chimène Badi hát lại nhạc phẩm ''Douce Nuit'' (Silent Night / Đêm thánh vô cùng), Vincent Niclo trình bày giai điệu ''Noël Blanc'' (White Christmas) còn nam ca sĩ Kendji Girac thể hiện lại nhạc phẩm ''Petit Papa Noël'' (bài này từng được phóng tác sang tiếng Việt thành ''Ông Noël dễ thương'') được xem là ca khúc Giáng Sinh tiếng Pháp thịnh hành nhất mọi thời, do phiên bản ghi âm nổi tiếng đầu tiên đã được phát hành vào năm 1946, tức cách đây đúng 75 năm qua giọng ca của Tino Rossi. Đây cũng là ca khúc chủ đề của bộ phim ''Destins'' (Định Mệnh) của đạo diễn người Pháp Richard Pottier.

Về phía các album solo, đáng ghi nhận hơn cả là tuyển tập Noël của Elsa Esnoult, kết hợp một số giai điệu mới với những bài hát đã từng phổ biến vài năm trước, nay vừa được hòa âm lại. Trong đó, có nhạc phẩm ''Last Chistmas'' với lối phóng tác tiếng Pháp hoàn toàn khác biệt với phiên bản tiếng Pháp ''Reviens Moi'' của thần tượng nhạc Pháp quá cố Dalida. Tuyển tập solo quan trọng nhất năm nay là album Giáng Sinh của giọng ca trẻ tuổi Amaury Vassili, nam ca sĩ người Pháp chất giọng baryton martin. Tại Pháp, có hai giọng ca thành danh trong lãnh vực pop-opera hay các giai điệu bán cổ điển là Amaury Vassili và Vincent Niclo.

Mang tựa đề ''We love Christmas'', tuyển tập này bao gồm 11 giai điệu Giáng Sinh quen thuộc, trải dài trên ít nhất 6 thập niên, xen kẻ cả hai thứ tiếng Anh và Pháp. Về phía các bạn đồng nghiệp, Amaury Vassili đã triệu mời danh ca tenor người Pháp Roberto Alagna cùng ghi âm với mình những nốt nhạc thuần chất thính phòng cổ điển. Còn trích đoạn đầu tiên của album này là bài ''Silent Night / Douce Nuit'' ghi âm cùng với Jean-Baptiste Guegan. Nam nghệ sĩ này từng đoạt giải nhất cuộc thi tài năng mới (France Got Talent / La France a un Incroyable Talent) năm 2018, nhờ có một chất giọng giống hệt thần tượng quá cố Johnny Hallyday, rocker số một của Pháp. Lần này, Jean-Baptiste Guegan tham gia ghi âm giai điệu Noël (Đêm thánh vô cùng) thành một bản song ca thiên về dòng nhạc blues rock, hơn là thánh ca hay phúc âm.

Trong số các bản nhạc Noël được nhiều nghệ sĩ Pháp ghi âm lại có nhạc phẩm ''Noël Blanc'' (Noël trắng), lời tiếng Pháp là của tác giả Francis Blanche. Trong nguyên bản, bài hát do tác giả trứ danh Irving Berlin sáng tác, có giai điệu trầm buồn có lẽ cũng vì nhạc phẩm này ra đời trong bối cảnh nước Mỹ tham gia vào Thế Chiến thứ hai. Khi được trình bày trực tiếp trên đài phát thanh NBC (trong chương trình The Kraft Music Hall), giọng ca của Bing Crosby mềm mại như nhung, vuốt chữ mượt mà, luyến láy lụa là đã tìm được sự hưởng ứng của hàng triệu con tim, ngay cả nơi những người không còn tâm trí đón mừng Giáng Sinh, khi thấy con mình cầm súng ra trận, để rồi chưa chắc gì có cơ hội trở về. Cho nên bài hát mới có đoạn như sau :

Thầm mơ một mùa Giáng Sinh

Hàng cây phủ đầy cụm trắng

Lấp lánh như bao tấm thiệp

Thời ấu thơ nào ta viết

Vọng tiếng chuông xe trượt tuyết

Nguyện cầu cho thời trong trắng

Hạnh phúc sắc ngày tươi tắn

Mong sao những đêm Giáng Sinh

Êm đềm cõi mộng thanh bình

Mênh mông Noël màu trắng

Tác giả Francis Blanche khi chuyển lời tiếng Anh sang tiếng Pháp, chẳng những nắm bắt cái thần của giai điệu, mà còn bám sát nguyên tác. Ông dùng biện pháp tu từ để nhấn mạnh đến những kỷ niệm tuổi thơ, khát vọng tìm lại những tháng ngày thanh bình, êm ấm bên gia đình. Lúc sinh tiền, nam danh ca Christophe rất ngưỡng mộ giọng ca crooner của Bing Crosby cho nên đã ghi âm một phiên bản phóng tác của "White Christmas". Còn Amaury Vassili thì lại rất thích phiên bản mà anh cho là hoàn chỉnh nhất của Michael Bublé, cho nên anh đã ghi âm bài này theo phong cách cool jazz, phác họa một một khung cảnh mùa đông sao sáng êm đềm, khi tình thương thắm mềm nguyên cả bầu trời đêm.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1720 Posted : Thursday, December 30, 2021 12:50:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,743

Thanks: 6962 times
Was thanked: 2771 time(s) in 1958 post(s)

Nhạc sư Trần Quang Hải qua đời tại Paris, thọ 77 tuổi

30/12/2021 - VOA Tiếng Việt
Nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải, trưởng nam của cố Giáo sư-Tiến sỹ Trần Văn Khê, vừa qua đời hôm 29/12 ở Paris, Pháp, sau thời gian chống chọi với bệnh ung thư máu, hưởng thọ 77 tuổi, gia đình ông loan báo.

Từ Pháp, Ca sỹ Bạch Yến, vợ ông Trần Quang Hải, đã xác nhận thông tin này với VOA Tiếng Việt chiều ngày 30/12 theo giờ Paris. Theo cáo phó gửi ra thì ông Hải đã từ trần vào rạng ngày 30/12 năm 2021.

Theo đó, tang lễ sẽ được cử hành vào lúc 13h30 chiều ngày 4/1 năm 2022, sau đó đưa đi hỏa táng tại Đài hỏa táng Valenton.

“Ông đi nằm ngủ chứ đâu có biết ông sẽ đi. Ông ngủ một giấc êm đềm thôi,” ca sỹ Bạch Yến nói với VOA và cho biết phu quân bà ra đi bất thình lình nên không để lại lời trăn trối hay di nguyện gì.

Quảng bá âm nhạc Việt Nam

Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải được cho là đã tiếp bước con đường nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra thế giới của thân phụ là Trần Văn Khê – người góp công trong việc đưa các loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam như nhã nhạc cung đình Huế, quan họ Bắc Ninh, ca trù miền Bắc, cồng chiêng Tây Nguyên và đờn ca tài tử Nam Bộ thành di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận.

Cùng vợ là danh ca Bạch Yến, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải đã có hơn 3.000 buổi giới thiệu về âm nhạc dân tộc Việt Nam tại 70 nước trên thế giới. Ông cũng đã xuất bản hai quyển sách tại Mỹ và Pháp là ‘50 năm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam’ và ‘Hát đồng song thanh’.

Sinh ra tại Sài Gòn vào năm 1944 trong gia đình có truyền thống 5 đời nghiên cứu và trình diễn âm nhạc cổ truyền, ông Trần Quang Hải đã chọn học ngành violin. Sau khi tốt nghiệp tại Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, ông sang Pháp du học và đã từng học về nhạc cụ dân tộc tại các trường đại học nổi tiếng như Sorbonne, Pháp, và Cambridge, Anh.

Cũng như thân phụ, Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải lấy bằng tiến sỹ âm nhạc dân tộc Việt Nam ở Pháp. Ông đặc biệt nghiên cứu về hát đồng song thanh (kỹ thuật dùng một dây thanh đới hát hai giọng khác nhau), gõ muỗng và đàn môi.

Kể từ năm 1968, ông tham gia nghiên cứu tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học tại Bảo tàng Con người, tức Musée de l’Homme, tại Paris và đồng thời cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế.

Không người kế tục?

Trao đổi với VOA, đạo diễn Thanh Hiệp, vốn chuyên theo dõi văn hóa-nghệ thuật truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh và có giao tình nhiều năm với ông Trần Quang Hải, nói ông ‘bàng hoàng và đau lòng’ khi nhận được tin về sự ra đi của Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải vì mới cách nay mấy ngày, ông còn trao đổi thư từ với ông Trần Quang Hải.

Theo lời đạo diễn này thì nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư-Tiến sỹ Trần Văn Khê vào ngày 27/12 năm 2021, trường Đại học Văn Lang đã ra mắt Quỹ học bổng Trần Văn Khê. “Cách nay mấy ngày anh Hải còn nhắn tin cho tôi nói ông rất vui về việc này và có gửi kèm tấm thiệp chúc mừng Giáng sinh,” đạo diễn này nói.

Nhận định về đóng góp của cố Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải đối với nền văn hóa-nghệ thuật Việt Nam, ông Hiệp cho rằng mặc dù không đi sâu về âm nhạc truyền thống như thân phụ, nhưng thông qua việc giảng dạy về đồng song thanh cho 5.000 môn sinh ở nhiều nước trên thế giới, ông Hải ‘đã giới thiệu cho thế giới về các loại nhạc cụ của Việt Nam như kèn lá trong nhạc lễ Nam bộ, sáo trúc của đờn ca tài tử, chiêng trống của hát bội…’ bằng cách so sánh đồng song thanh với các nhạc cụ này.

“Anh Hải cũng nhìn thấy những bất cập trong việc bảo vệ di sản ở Việt Nam và khuyến nghị các bảo tàng phải làm sao để các di sản có linh hồn, không chỉ trưng bày mà phải làm cho nó sống dậy, chẳng hạn như tổ chức các buổi diễn về các nhạc cụ dân tộc để thu hút giới trẻ và làm cho giới trẻ hiểu được,” ông nói với VOA.

Giáo sư-Tiến sỹ Trần Quang Hải cũng đã trao tặng hàng ngàn tư liệu bao gồm sách vở, băng đĩa, hiện vật nghiên cứu của ông cho Việt Nam hồi năm 2017 và đang tính trao tặng đợt hai, trong đó có bản quyền hai cuốn sách của ông để xuất bản ở Việt Nam, cũng theo lời đạo diễn này.

Về người kế tục sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc truyền thống của gia tộc họ Trần sau khi các ông Trần Văn Khê, Trần Quang Hải lần lượt qua đời, ông Hiệp nói: “Rất tiếc ông Hải không có người con nào chuyên sâu về lĩnh vực này. Đó là nỗi buồn.”

Ông Hải có một người con gái ở Pháp nghiên cứu và xuất bản sách về văn hóa ẩm thực Việt Nam. Ngoài ra, một người em họ của ông Hải là bà Hà Trần, con gái cố “quái kiệt” Trần Văn Trạch, hiện đang nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc ở Pháp nhưng ‘chuyên về piano’.

“Tôi cảm thấy gia tộc họ Trần tới đó là hết rồi (về nghiên cứu âm nhạc Việt Nam) nhưng ông Hải có nhiều học trò người Việt đang hoạt động ở Việt Nam,” ông Hiệp nói.

Users browsing this topic
Guest (2)
87 Pages«<84858687>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.