Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

80 Pages«<7273747576>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1461 Posted : Saturday, November 21, 2020 7:25:48 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Miley Cyrus - “Trái tim bằng nhựa”

Gia Trình - RFI - 21/11/2020
Miley Cyrus, ngôi sao tuổi teen của kênh Disney giờ đã khác xưa. Ca sỹ 28 tuổi luôn chứng tỏ sự nổi loạn, gây sốc cả về đời sống cá nhân lẫn gu âm nhạc. Album mới nhất của Miley - Plastic Hearts ra mắt vào ngày 27/11/2020 là sự kiện được giới trẻ chờ đợi.

Thần tượng tuổi teen đã bị xóa

Ký ức còn sót lại về Miley vẫn là ngôi sao nhí nhảnh dễ thương trên kênh Disney với bộ phim Hannah Montanah do cô thủ vai chính năm 14 tuổi. Bộ phim truyền hình ăn khách từ năm 2006 đến 2011 là bệ phóng cho tên tuổi của Miley nhờ tài năng ca hát và diễn xuất. Hầu hết khán giả biết cha cô là ca sỹ nhạc country Billy Ray Cyrus. Chính vì điều kiện thuận lợi này, Miley được nuôi dưỡng trong thế giới nghệ thuật từ nhỏ. Thử vai trên kênh Disney từ năm 11 tuổi nhưng bị từ chối vì quá nhỏ và non cho vai diễn. Tuy nhiên, may mắn vẫn mỉm cười với Miley nhờ năng khiếu nghệ thuật. Sự thành công của bộ phim kéo theo hàng loạt hợp đồng được ký với các hãng truyền hình, phim truyện, sản phẩm tiêu dùng và cả hãng ghi âm.

Tuy nhiên, sự nổi tiếng luôn đi kèm với rắc rối khi ca sỹ trẻ đang ở tuổi mới lớn. Ngoài chuyện tình cảm ồn ào với tài tử Liam Hemsworth, Miley công khai mình là pansexual (không thuộc giới tính cụ thể) và sử dụng cần sa, lạm dụng rượu. Sự biến đổi của cô gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ do các phụ huynh sợ ảnh hưởng tiêu cực tới con cái họ. Bước sang tuổi 20, Miley hoàn toàn lột xác thành một con người mới trong làng giải trí. Táo bạo hơn, nude đột phá, và tìm cách thu hút sự chú ý của truyền thông nhờ bản hit Wrecking Ball năm 2013. Mặc dù gây tranh cãi về hình tượng gợi dục, bản pop ballad này đánh dấu thành công đột phá về mặt thương mại.

Album được chờ đón nhất của năm 2020

Sau thành công của Wrecking Ball và những ồn ào đời sống cá nhân, Miley vẫn duy trì hình ảnh nối loạn vì chịu ảnh hưởng lớn từ đàn chị Madonna, Britney Spears. Sau gần 3 năm vắng bóng ở phòng thu, album được chờ đợi nhất của Miley Cyrus cũng hé lộ. Tựa đề album Plastic Hearts (Trái tim bằng nhựa) gợi nhớ album kinh điển của nhóm Tứ quái The Beatles năm 1965 - Rubber Soul (Tâm Hồn cao su). Phải chăng đây là một ẩn dụ ngầm về sự trưởng thành cái tôi trong âm nhạc của Miley?

Cô nói : “Tôi đã bắt đầu sản xuất album này từ 2 năm trước. Khi các công việc chính đã hoàn thành, tất cả đều bị xóa bỏ kể cả những gì liên quan tới âm nhạc”. Miley muốn ám chỉ tới vụ hỏa hoạn xảy ra tại căn nhà ở Malibu năm 2018, đây là tổ ấm với người yêu cũ Liam Hemsworth. “Tôi đã mất đi ngôi nhà trong trận hỏa hoạn nhưng lại tìm được chính bản thân mình trong đống tro tàn”.

Vụ tai nạn này cũng xóa sổ nhiều công sức của đội ngũ sản xuất khi toàn bộ máy tính, tài liệu ghi chép, đĩa EP đều biến thành mây khói. Tuy nhiên, sức nóng của trận hỏa hoạn dường như lan truyền sang cả album mới của Miley Cyrus. Chất giọng khàn, hơi đục, chiếm lĩnh sân khấu, được phát huy hết công suất.

Đòn bẩy sự nghiệp bằng các classic hit

Trong album mới này, Miley đã sử dụng đòn bẩy marketing đặc biệt nhờ các ngôi sao kỳ cựu, trong đó có Steve Nicks. Giọng nữ đình đám của nhóm Fleetwood Mac đã bật đèn xanh cho Miley sử dụng các khúc Edge of Seventeen cho album Plastic Hearts. Điều thú vị là Miley không hoàn toàn cover lại bản hit lừng lẫy của đàn chị có chất giọng khàn ấm như cô. Nữ ca sỹ 28 tuổi đã khéo léo đan cài bản hit mới Midnight Skyđể ráp với Edge of Seventeen thành một bản nhạc hoàn toàn mới là Edge of Mighnight.

Điều gì làm nên sức sống bản nhạc từ năm 1981 và bản nhạc mới toanh sản xuất năm 2020 ? Sự biến tấu rất hòa hợp trên nhiều phương diện: màu sắc giọng hát của hai ca sỹ, giai điệu mạnh mẽ, ca từ triết lý. Trong bài hát, Miley cất giọng : "I was born to run, I don't belong to anyone". (Tôi sinh ra để chạy, tôi không thuộc về ai cả). “Just like the white winged dove sings a song sounds like she’s singing”. (Như cánh chim bồ câu trắng, hát một bài hát, những âm thanh như chim hót). Trong phần ghi âm, dường như Steve Nicks cùng hòa giọng với Miley Cyrus trong phần điệp khúc tạo nên một con sốt mới. Riêng phần ghi âm trên Youtube, có khoảng 2 triệu lượt xem khi mặc dù album chính thức chưa ra mắt cho đến cuối tháng 11.

Vốn dĩ coi Steve Nicks là thần tượng, giờ đây Miley trở thành người bạn, đồng sản xuất với Steve. Mặc dù ý tượng trộn bài (mash-up) không quá mới mẻ, nhóm Destiny Child từng sử dụng đoạn chơi guitar mở màn của Edge of Seventeen trong ca khúc Bootylicious năm 2011. So với Bootylicious, bản mashup của Miley có chiều sâu và độ thẩm thấu cao hơn hẳn do độ dài và sự ăn nhập của đoạn cắt. Midnight Sky lọt vào top 10 trong top 100 ca khúc hay nhất năm 2020 cho Tạp chí Rolling Stone bình chọn.

Hoài niệm và trải nghiệm

Trước Midnight Sky và bản mash-up Edge of Midnight, Miley đã trải qua cuộc phẫu thuật thanh quản năm 2019. Giọng hát của Miley vẫn ổn định sau phẫu thuật nhưng sự thay đổi chính là cảm xúc và hoài niệm sâu bên trong. Nữ ca sỹ từng gây bất ngờ với hình ảnh thiện cảm trong ca khúc Slide Away. Sự đằm thắm, dịu ngọt trong Slide Away tương phản với nhiệt huyết bốc lửa trong Midnight Sky. Ca từ man mác buồn như muốn cứa sâu vào chuyện tình một thập kỷ đầy sóng gió giữa cô và Liam Hemsworth. Đó là góc nhìn khác biệt của Miley khi cái tôi trưởng thành và trải nghiệm nhiều biến động trong cuộc sống.

Once upon a time, it was paradise ; One upon a time, I was paralyzed ; Think I’m gonna miss these harbor lights ; But it’s time to let it go

Ngày xưa, đó là cả thiên đàng ; Ngày xưa, em từng bị tê liệt ; Em từng nghĩ rằng mình sẽ luôn nhớ ngọn đèn ở bến cảng ; Nhưng giờ chính là lúc quên đi tất cả

Không chỉ hoài niệm về cuộc sống cá nhân, âm nhạc của Miley dịch chuyển xuyên thời gian, trở lại về thập niên 70-80. Cùng với việc giãn cách xã hội, các concert trực tuyến của Miley thể hiện lại các ca khúc kinh điển của Pearl Jam, Britney Spears, The Cranberries và The Cure trong Festival Save our stage (Hãy cứu lấy sân khấu). Sự khám phá mới mẻ của cô là một điểm cộng vì nó đánh trúng tâm lý hiếu kỳ khán giả. Liệu ký ức ngôi sao pop Disney sẽ xử lý sao với ca khúc hard rock/metal như Nothing else matters của nhóm Metallica. Thực tế, Miley đã biến hóa những bản hit kinh điển như Heart of Glass của nhóm Blondie hay Wish you were here của Pink Floyd thành dấu ấn riêng.

Album Plastic Hearts có thể coi là một chương mới trong sự nghiệp âm nhạc của Miley Cyrus. Mặc dù ngôi sao của Hannah Montana thích nổi loạn, nhưng đó là sự nổi loạn đầy tính toán để tạo nên gu âm nhạc của một nghệ sỹ trưởng thành.

(Theo Rollingstone, Variety, Entertainment Weekly)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1462 Posted : Sunday, November 22, 2020 9:15:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

(AFP) – Phim Đài Loan My missing Valentine đăng quang trong lễ trao giải Kim Mã lần thứ 57.
Tối 21/11/2020, đạo diễn Trần Ngọc Huân (Chen Yu Hsun) ra về với 5 giải thưởng cao quý của làng điện ảnh Đài Loan, trong đó có giải dành cho bộ phim hay nhất và nhà làm phim tài hoa nhất, nhờ bộ phim thuộc thể loại hài My missing Valentine. Đạo diễn Lý An trong cương vị chủ tịch ban giám khảo chắc đã khiến Bắc Kinh tức giận khi trao tặng giải thưởng dành cho bộ phim tài liệu Lost Course của nữ đạo diễn Jill Li nói về thôn Ô Khảm (Wukan) tỉnh Quảng Đông, biểu tượng của phong trào đấu tranh chống tham nhũng tại Trung Quốc. Giải thưởng Kim Mã dành cho thể loại phim ngắn năm nay về tay Kwok Zune, nhờ tác phẩm Night is Young, phim ngắn về câu chuyện của một tài xế taxi Hồng Kông hồi năm 2019, trước các cuộc biểu tình của phe bảo vệ dân chủ.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1463 Posted : Friday, November 27, 2020 1:31:14 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Hai bộ phim gây sốc về khí hậu của hai bậc thầy điện ảnh

Trọng Thành - RFI - 27/11/2020
Khí hậu không còn là chuyện trên trời, chuyện của Trời, mà hơn bao giờ hết trở thành chuyện hệ trọng của xã hội con người. Tình hình đã hết sức khẩn cấp. Tổng thống tân cử Mỹ quyết định sẽ đưa Hoa Kỳ trở lại với Hiệp định Khí hậu Paris, ngay trong ngày đầu tiên nhậm chức. Trong lĩnh vực điện ảnh, gần đây xuất hiện hai bộ phim về khí hậu gây sốc. Hai bộ phim của hai lão tướng trong nghề.

Hai bộ phim tài liệu, một phim thu hút đông đảo công chúng trên mạng, còn phim kia gây chú ý đặc biệt trong giới điện ảnh Pháp. Mục Theo dòng thời sự của RFI xin giới thiệu.

***

Hai bộ phim không hẹn mà gặp. Biến đổi khí hậu với những hệ quả kinh hoàng là chủ đề chung. Hai bộ phim với hai phong cách rất khác biệt, thậm chí trái ngược, cùng nói về đe dọa của biến đổi khí hậu đối với vận mệnh của nhân loại, trong giai đoạn bản lề quyết định hiện nay. Cả hai đạo diễn đều là những người đã dành cả đời mình cho việc quan sát vẻ đẹp của thiên nhiên, hay của thế giới động vật.

Đạo diễn người Anh David Attenborough, tác giả bộ phim tài liệu « A Life On Our Planet / Một cuộc đời trên hành tinh chúng ta », khiến thống đốc Ngân hàng Trung ương châu Âu, cựu chủ tịch Quỹ Tiền tệ Quốc tế, bà Christine Lagarde, phải rơi lệ. Đạo diễn người Armenia Artavazd Pelechian, tác giả của bộ phim « Nature / Tự nhiên », khiến ông Jean-Luc Godard, một bậc thầy của nền điện ảnh Pháp, phải ngưỡng mộ.

Theo Les Echos, bộ phim « Tự nhiên » của đạo diễn Armenia mà tên tuổi rất ít người biết đến, được giới thiệu tại Paris vào tháng 10 vừa qua đúng vào lúc phim « A Life On Our Planet » của đạo diễn lừng danh của BBC phá mọi kỷ lục về truy cập trên mạng, kể từ khi được chiếu trên Netflix.

"Báu vật quốc gia sống"

Trả lời báo The Guardian, nhà sản xuất phim người Anh Alastair Fothergill, thường được ví như « ông hoàng của điện ảnh về thế giới động vật », khẳng định tác giả của phim « Một cuộc đời trên hành tinh chúng ta » « đã được tiếp xúc với thế giới thiên nhiên hoang dã, nhiều hơn bất cứ ai trên hành tinh này, sir David Attenborough cũng là người chứng kiến, nhiều hơn bất cứ ai khác, những biến đổi trong thiên nhiên. Chính vì vậy, ông ấy cảm thấy mình có trách nhiệm ».

Đạo diễn David Attenborough, 94 tuổi, được coi là « một báu vật sống của quốc gia ». Ra đời trước nữ hoàng Anh Elizabeth đệ nhị 17 ngày, David Attenborough từng bán tắc kè cho một phòng thí nghiệm gần nhà vào lúc 11 tuổi, trước khi ông trở thành một trong những nhân vật nổi tiếng nhất tại Vương Quốc Anh, được phong quý tộc vào năm 1985. Bộ phim nhiều kỳ « Life on Earth / Đời sống trên Trái đất », của David Attenborough, thực hiện cho BBC năm 1979, được coi đã làm nên một cuộc cách mạng trong thể loại phim tài liệu động vật.

Sir David Attenborough là một nhà kể chuyện tài ba (story teller), biết cách làm công chúng mê say thế giới thiên nhiên, từ các thế hệ cao niên, cho đến lớp trẻ sinh ra đầu thế kỷ 21. Gần đây, năm 2019, bộ phim « Our Planet / Hành tinh của chúng ta » (8 kỳ), do Quỹ Thiên nhiên hoang dã WWF, cùng Silverback Films và Netflix đầu tư, đã được 33 triệu gia đình thưởng thức, chỉ trong một tháng. Lần này, phim « Một cuộc đời trên hành tinh chúng ta » đã thu hút một triệu người xem, chỉ sau 5 giờ đưa lên mạng.

Trong bộ phim A Life On Our Planet, với những hình ảnh kinh hoàng làm ví dụ minh họa, nhà đạo diễn Anh đã nhấn mạnh đến quá trình băng trên Bắc cực vào mùa hè bị thu hẹp đến 40% diện tích, chỉ trong vòng 4 thập niên, rừng nhiệt đới bị tàn phá với tốc độ kinh hoàng, hai phần ba động vật hoang dã bị tuyệt diệt trong vòng nửa thế kỷ. Phim « Một đời sống trên Trái đất chúng ta » đặt công chúng đối mặt trực diện với đe dọa sống còn của biến đổi khí hậu.

Trong phần kết bộ phim, nhà đạo diễn kết luận « Cái hệ sinh thái nguyên sơ kỳ diệu biết bao ấy đang đứng trước bờ sụp đổ » : Lời kết được đưa ra trên nền hình ảnh băng Bắc cực tan chảy.

Theo nhật báo Anh The Guardian, đạo diễn David Attenborough chỉ thực sự nhận ra hiểm họa biến đổi khí hậu từ đầu những năm 2000, cho dù ngay từ đầu nghề làm phim, ông đã liên tục đưa ra các cảnh báo về những nỗ lực cần có để cứu lấy hành tinh. David Attenborough quyết định trở thành người cảnh báo đe dọa khí hậu hâm nóng, với bộ phim « Sự thật về Biến đổi Khí hậu » (2006). Thảm họa không tránh khỏi hay là chiến thắng vinh quang ? Một phần tư cuối cùng của bộ phim vừa ra mắt được tác giả dành cho một số đề xuất nhằm hoá giải thảm họa.

Bộ phim đầu tiên sau 27 năm

Về phần bộ phim của đạo diễn Armenia, Les Échos nhận xét tác giả Artavazd Pelechian, 82 tuổi, đã chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác với phong cách của nhà tranh đấu môi trường người Anh.

Đạo diễn Armenia là một người rất « kiệm lời ». Người được coi là một trong các tác giả tiên phong của điện ảnh Xô Viết chỉ cho ra đời khoảng 10 bộ phim trong toàn bộ cuộc đời sáng tác của mình. Trong những năm 1980, phim của Artavazd Pelechian được coi là « kinh điển đối với mọi trường phái điện ảnh trên toàn thế giới ». Theo tổng biên tập tạp chí « Cahiers du Cinéma », Serge Daney, đạo diễn Artavazd Pelechian là một nhà dựng phim thiên tài, một « mắt xích bị thiếu trong lịch sử thực thụ của ngành điện ảnh ». Artavard Pelechian nổi tiếng với thể loại phim không đối thoại, không cốt truyện.

Đạo diễn Artavard Pelechian từng nói : « Tôi tin tưởng là điện ảnh có thể chuyển tải những điều mà không có bất cứ một ngôn ngữ nào trên thế giới có thể phiên dịch được. Đối với tôi, điện ảnh chính là dấu vết của cái thời tháp Babel (tức kỷ nguyên huyền thoại, khi loài người được coi là nói chung một thứ ngôn ngữ), trước khi nhân loại chia ly, với những thứ tiếng nói khác nhau ».

Phim « Thiên nhiên » là bộ phim đầu tiên của ông kể từ 27 năm nay. Trong con mắt của giới hâm mộ điện ảnh, mỗi lần ông cho ra một bộ phim mới là một lần gây chấn động.

Bộ phim Thiên nhiên, dài 62 phút, là kết quả của hơn 10 năm chuẩn bị, theo đơn đặt hàng của Quỹ Fondation Cartier của Pháp và ZKM Filminstitut de Karlsruhe của Đức (năm 2005), hoàn toàn dựa trên các tài liệu lưu trữ. Theo giám đốc Quỹ Cartier, đạo diễn người Armenia - ngược hẳn lại với các tên tuổi lớn của nền điện ảnh phim tài liệu về thiên nhiên, như sir David Attenborough - hoàn toàn « không quan tâm đến chất lượng hình ảnh, theo quy ước hiện hành hay chất lượng về mặt hình thức, mà tập trung vào sức mạnh cảm xúc của cảnh phim ».

Phim Thiên nhiên hoàn toàn chỉ có hai màu trắng, đen. Bộ phim được ví như một khúc ca bi tráng báo trước Trái đất đang đứng trước ngưỡng cửa hỗn loạn.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1464 Posted : Saturday, November 28, 2020 12:34:07 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Coldplay - Ban nhạc “toàn cầu hóa”

Gia Trình - RFI - 28/11/2020
Nếu khán giả âm nhạc tìm kiếm sự bền vững và cảm hứng sáng tạo không ngừng nghỉ thì chắc chắn nhóm nhạc Anh quốc, Coldplay sẽ được xướng tên đầu tiên. Giản dị, nhẹ nhàng, âm nhạc đời thường của Coldplay còn phản ánh góc nhìn toàn cầu hóa, khái quát mọi diễn biến chính trị-xã hội trên thế giới.

Cảm hứng âm nhạc đời thường

Thành lập từ năm 1996, nhóm nhạc xứ sở sương mù gồm bốn thành viên chính. Giọng ca chính, guitar và piano, Chris Martin, guitar chính Jonny Buckland, guitar bass Guy Berryman, tay trống Will Champion có duyên gặp gỡ tại Trường Cao Đẳng London. Đến thời điểm hiện nay, sau gần 24 năm, ban nhạc sở hữu khối tài sản âm nhạc khổng lồ, với 8 album phòng thu, 6 album biểu diễn, 7 album tuyển tập. Lượng đĩa hát tiêu thụ lên đến hơn 100 triệu bản toàn cầu và 33,6 triệu lượt tải bài hát tính riêng tại Mỹ. Nhưng con số biết nói đã tiết lộ về sức hút khó cưỡng của Coldplay. Điều gì tạo nên vẻ đẹp âm nhạc của Coldplay?

Album mới nhất của Coldplay Everyday life (Cuộc sống thường nhật) như củng cố triết lý nghệ thuật của nhóm. Mọi cảm hứng âm nhạc đều đến từ đời thường, với sự đam mê và độ ngọt của giọng ca Martin. Hơn thế nữa, họ lạc trôi tới miền đất Jordani với chất liệu âm nhạc mang màu sắc Trung Đông. Trụ cột của nhóm, Chris Martin, chia sẻ : “Tất cả đều nói về con người. Mọi ngày đều tuyệt vời và cũng tệ hại. Đó là cảm giác tự do khi cuộc sống bùng nổ khắp nơi trên hành tinh này”.

Coldplay đang muốn trở thành ban nhạc bình dị nhất, gắn kết cung bậc cao-thấp cảm xúc đời thường và chính trị thế giới vào album Everyday Life. Âm thanh pha trộn đủ màu sắc cuộc sống thường nhật ở nhiều miền đất khác nhau, đem lại hương sắc mới cho âm nhạc. Hơn thế nữa, trưởng nhóm thổ lộ “một vài thứ rất riêng tư về cuộc đời tôi, một vài thứ về sự kiện chúng tôi chứng kiến, một vài thứ để đồng cảm với nhân loại đang phải trải qua”.

What in the world are we going to do? Look at what everybody's going through ; What kind of world do you want it to be? Am I the future or the history?

Chuyện của thế giới mà chúng ta sắp phải thực hiện? Hãy nhìn vào những gì mọi người phải trải qua ; Chúng ta muốn thế giới sẽ ra sao? Liệu tôi có phải là tương lai hay chỉ là lịch sử?

Sự cảm thông mang màu sắc toàn cầu

Album Everyday life là phản ứng nhanh nhạy của nhóm trước những diễn biến tiêu cực xảy ra khắp nơi. Cấu trúc Everyday life được chia thành hai phần: Sunrise (Mặt trời mọc) và Sunset (Mặt trời lặn) như một ghi chép mang tính thường nhật. Chris Martin cũng nhấn mạnh vai trò của âm nhạc như một người quan sát, cảm nhận và chia sẻ những gì họ nhìn thấy một cách toàn diện hơn là phiến diện. Chính vì thế, ca từ của album mới phản ánh sự cảm thông sâu sắc tới nhân loại và những trải nghiệm thông qua lăng kính quan sát toàn cầu hóa.

Martin cũng nhấn mạnh : “Một điều giúp con người có cuộc sống tốt hơn là phải xỏ chân vào đôi giày của người khác. Đó là những đứa trẻ phải rời bỏ Syria, hay lớn lên ở Baltimore. Tôi luôn tự hỏi cuộc sống như vậy sẽ ra sao”. Chính vì thế, luồng tư tưởng xuyên suốt album là tính triết lý và nhân văn của nhóm nhạc toàn cầu.

Cùng với single Everyday Life, Coldplay cũng bộc bạch về cảm hứng phía sau các single như Orphans (Những đứa trẻ mồ côi) hay Arabesque. Cần lưu ý rằng phần hòa âm và phối khí là điểm mạnh bấy lâu nay của Coldplay. Khán giả vẫn say mê thứ âm nhạc có “gia vị” hòa âm tinh tế. Giai điệu êm dịu như dàn nhạc giao hưởng mini hơn là cách ban nhạc alternative pop/rock thể hiện. Trong ca khúc Orphans, Chris Martin hòa giọng cùng đám đông giới trẻ Jordani một cách bình dị, thân thiện như hình ảnh quen thuộc của anh. Khản giả bỗng dưng quên đi sự đau khổ thống trị lên những đứa trẻ tị nạn khắp toàn cầu.

I want to know when I can go ; Back and get drunk with my friends ; I want to know when I can go ; Back and be young again.

Tôi muốn biết khi nào ; Tôi có thể quay trở lại và say với những người bạn ; Tôi muốn biết khi nào ; Tôi có thể quay trở lại và trẻ lại như xưa.

Ban nhạc “Xanh, Sạch, Đẹp”

Không chỉ mang đến cảm xúc gần gũi đời thường, Coldplay là ban nhạc thân thiện với môi trường với nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Nhóm nhạc tỏ ra thất vọng với các chuyến lưu diễn tiếp theo nếu không đáp ứng tiêu chuẩn carbon-neutral (trung hòa khí thải carbon).

Tour lưu diễn gần đây nhất của nhóm thực hiện cách đây 3 năm. Năm 2016, 2017 nhóm lưu diễn với album A Head Full of Dreams Tour (Một bộ óc tràn ngập giấc mơ) với tổng cộng 122 shows trên bốn lục địa. Để thực hiện, ban nhạc phải sử dụng 109 người, 32 xe tải và 9 xe bus. Vì vậy, nhóm mong muốn đạt mục tiêu trong tương lai bằng cách sử dụng dầu diesel sinh học, không sử dụng cốc nhựa tiêu hủy, vận chuyển nhạc cụ bằng tàu thay vì máy bay, khuyến khích fan hâm mộ sử dụng phương tiện công cộng.

Tất nhiên, việc di chuyển bằng máy bay là không thể tránh khỏi, đi kèm việc xả khí carbon. Nhưng Coldplay muốn nhắm tới hai mục tiêu : sử dụng năng lượng mặt trời và không sử dụng vật liệu nhựa dùng một lần. Cùng các nghệ sỹ như Pearl Jam, Adele, bộ tứ muốn làm giảm nhẹ ảnh hưởng đến môi trường của các chuyến lưu diễn. Theo số liệu nghiên cứu, các ban nhạc Anh Quốc tạo ra 85.000 tấn khí thải gây hiệu ứng nhà kính năm 2009. Yêu cầu khắt khe này liệu có làm họ tự làm khó bản thân hay không?

Trong cuộc phỏng vấn gần đây với khán giả Jordani, nơi họ thực hiện album Everyday life, Cold play cũng bị các fan trên Twitter chỉ trích vì sự giả tạo : “Tại sao họ cần bay đến Jordani để phỏng vấn trong khi có thể phỏng vấn qua ứng dụng Skype”. Trái ngược, Chris Martin đáp trả bằng cách : “Chúng ta không nên tỏ ra quá thích thú trong việc chỉ trích người khác”. Khi nền công nghiệp biểu diễn âm nhạc có thể trở nên bền vững với môi trường, thì Coldplay sẽ là ví dụ điển hình. Câu chuyện “xanh, sạch, đẹp” của Coldplay còn trở thành nguồn cảm hứng cho ngôi sao trẻ như Billie Eilish.

Sự vĩ đại của một ban nhạc không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp âm nhạc mà còn ở tính nhân văn mà Coldplay truyền tải. Tầm vóc toàn cầu hóa của ban nhạc Coldplay được phản ánh trọn vẹn trong những tour biểu diễn quyên góp từ thiện với quy mô khổng lồ : Band Aid 20, Live 8, One Love Manchester, Hope for Haiti Now và kể cả album Everyday Life (Cuộc sống thường nhật).

(Theo BBC Radio 1, NME)



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1465 Posted : Monday, November 30, 2020 11:06:03 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Pháp đoạt giải nhất cuộc thi hát thiếu nhi "Eurovision Junior"


Tuấn Thảo - RFI - 30/11/2020
Trong bối cảnh dịch Covid-19, cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision dự trù vào giữa tháng 05/2020 đã từng bị hủy bỏ. Ngược lại, phiên bản dành cho thiếu nhi "Eurovision Junior" lại được duy trì. Tối Chủ nhật 29/11, cô bé Valentina 11 tuổi đại diện cho nước Pháp đã đoạt giải nhất trong số 12 thí sinh châu Âu.

Được thành lập vào năm 2003, "Eurovision Junior" dựa theo mô hình của cuộc thi hát truyền hình lâu đời nhất châu Âu (bản gốc ra đời vào năm 1956) và chỉ dành cho các thí sinh từ 9 đến 14 tuổi. Nước Pháp đã nhiều lần tham gia cuộc thi dành cho các giọng ca mầm mon. Năm ngoái, Pháp lọt vào danh sách Top Five gồm 5 thí sinh đầu bảng. Còn vào năm 2018, nước Pháp suýt nữa đoạt giải thưởng cao quý nhất, nhưng rốt cuộc lại về hạng nhì.

Riêng năm nay, cuộc thi "Eurovision Junior" lần thứ 18 đã được tổ chức tại Vácxava, thủ đô Ba Lan. Tuy chương trình được phát sóng trực tiếp, nhưng do các quy định phòng dịch Covid-19, các thí sinh đã thu hình sẵn phần biểu diễn ca khúc của mình, rồi sau đó họ theo dõi từ xa màn công bố kết quả, chủ yếu gồm hai phần, điểm của các ban giám khảo rồi sau đó điểm của khán giả tính theo sự bình chọn của công chúng.

Pháp dự thi với một ca khúc lạc quan

Chương trình được phát sóng cùng lúc tại hơn 20 quốc gia châu Âu (riêng tại Pháp chương trình này được phát trên kênh truyền hình France 2). Cô bé Valentina 11 tuổi đã dự thi với ca khúc tiếng Pháp “J'imagine” hàm ý : dù ở lứa tuổi nào đi chăng nữa, bất kỳ giấc mơ nho nhỏ hay lớn lao, cũng đều bắt đầu từ trí tưởng tượng. Do hai tác giả trẻ tuổi Barbara Pravi và Igit đồng sáng tác, nhạc phẩm “J'imagine” có một giai điệu hồn nhiên vui tươi, thể hiện rất rõ niềm lạc quan yêu đời, trong một thế giới chưa có gì đáng phấn khởi. Thông điệp tràn đầy niềm tin và hy vọng ấy có lẽ đã thuyết phục cả ban giám khảo, lẫn thành phần khán giả theo dõi trực tiếp chương trình.

Khi đến màn công bố kết quả, cô bé người Pháp Valentina đã tỏ ra vượt trội so với các thí sinh khác. Rốt cuộc, Valentina giành lấy ngôi vị quán quân, đứng đầu bảng xếp hạng với tổng cộng 200 điểm (trong đó có 88 điểm của ban giám khảo và 112 điểm từ phía công chúng). Đứng hạng nhì năm nay là Kazakhstan với tổng cộng 152 điểm. Còn hạng ba là Tây Ban Nha với 133 điểm. Khi so sánh cả hai bảng điểm, Valentina đại diện cho nước Pháp đã thắng đậm, vì cô bé có số điểm dẫn đầu theo bình chọn của ban giám khảo, cũng như theo sự chọn lựa của công chúng.

Từ Pháp đón chờ kết quả chung cuộc cùng với gia đình, cô bé Valentina đã bật khóc vì sung sướng, cô không ngừng ríu rít cảm ơn và nhảy nhót vui mừng trong bộ váy màu hồng. Đây là lần đầu tiên nước Pháp đoạt giải nhất cuộc thi hát thiếu nhi và như vậy, thủ đô Paris được giao trách nhiệm tổ chức "Eurovision Junior" vào năm 2021. Còn trong phiên bản dành cho người lớn, lần cuối nước Pháp đứng đầu bảng vàng là vào năm 1977, tức cách đây 43 năm với giọng ca Marie Myriam qua nhạc phẩm "L'Oiseau et l'Enfant" (Cánh chim và Đứa bé).

Valentina xuất thân từ đâu ?

Được chọn làm thí sính đại điện cho nước Pháp vào trung tuần tháng 10/2020, Valentina là một gương mặt khá quen thuộc với khán giả ở Pháp. Tuy mới có 11 tuổi, cô bé đã có khá nhiều kinh nghiệm sân khấu và thường xuyên đi hát trong các đợt biểu diễn solo hay hát cùng với nhóm. Sinh ra ở vùng Bretagne, gần thành phố Rennes, Valentina vào năm 7 tuổi, từng tham gia vòng thi hát giấu mặt trong khuôn khổ chương trình "The Voice Kids" phiên bản tiếng Pháp. Tuy không đoạt giải cuộc thi năm ấy, nhưng cô bé đã thu hút sự chú ý của ban giám khảo, khi trình bày một ca khúc của ngôi sao nhạc pop người Ý Laura Pausini, cho thấy cô bé có khả năng hát chuẩn nhiều thứ tiếng, do mẹ cô là giáo viên ngoại ngữ.

Đến năm lên 9 tuổi, Valentina được tuyển làm thành viên ban nhạc Thiếu nhi đoàn kết Thế hệ mới "Kids United-Nouvelle Génération". Cùng với nhóm, cô bé thực hiện vòng lưu diễn tại 30 nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Bên cạnh đó, Valentina cũng đã ghi âm với ban nhạc hai album và phát hành tổng cộng 7 đĩa đơn. Nhóm Kids United từng được chọn làm đại diện cho cơ quan UNICEF, thông qua việc bán đĩa cũng như các chương trình biểu diễn nhắm tới việc quyên góp giúp đỡ các hiệp hội chuyên bảo vệ quyền trẻ em cũng như bảo vệ môi trường.

Khi giấc mơ đầu đời thành hiện thực

Tuy khá bận rộn với công việc ghi âm và biểu diễn cùng với ban nhạc Kids United-Nouvelle Génération, nhưng Valentina vẫn không xao lãng chuyện sách vở, trường lớp. Có lẽ cũng vì mẹ cô là giáo viên, cho nên trong gia đình, vấn đề học hành vẫn là mối ưu tiên hàng đầu. Dịch Covid-19 đã làm giảm phần lớn các hoạt động trên sân khấu của cô bé, Valentina dành thêm thời gian cho việc học cũng như trao dồi thêm ngoại ngữ.

Cũng như các cô bé khác ở tuổi mới lớn, Valentina thông thạo cách sử dụng mạng internet. Chỉ trong một thời gian chưa đầy hai năm, từ khi cô về đầu quân cho nhóm Kids United Thế hệ mới, Valentina đã gầy dựng được một lượng người theo dõi (followers) khá đông đảo với hơn 300.000 thành viên đăng ký. Riêng video minh họa ca khúc “J'imagine” của cô đã thu hút hơn 2 triệu lượt người truy cập, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng.

Từ khi còn bé, Valentina đã đam mê với ca hát và ánh đèn sân khấu. Trong số những giấc mơ đầu đời mà cô bé từng ôm ấp trong những năm qua, có việc tham gia cuộc thi hát châu Âu dành cho thiếu nhi "Eurovision Junior" và kế đến nữa là việc gặp gỡ một ngày nào đó thần tượng của mình là diva nhạc trẻ Ariana Grande. Cũng như bài hát tiếng Pháp “J'imagine” có nói : bất kỳ giấc mơ nào, nho nhỏ hay lớn lao đều bắt đầu từ sức tưởng tượng. Nơi cô bé 11 tuổi Valentina, còn có tinh thần chịu khó rèn luyện và học hỏi, có như vậy thì giấc mơ hình dung trong tâm trí từ thuở nào, mới trở thành hiện thực mai sau.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1466 Posted : Tuesday, December 1, 2020 8:30:26 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)


Mùa trao giải Văn Học Pháp 2020 bị xáo trộn vì Covid-19


Thanh Hà - RFI - 30/11/2020
Covid-19 làm xáo trộn cả đến truyền thống công bố bảng vàng của ban giám khảo các giải thưởng văn học lớn của Pháp như giải Goncourt và Renaudot.

Trưa ngày 30/11/2020, ban giám khảo Goncourt thông báo giải thưởng quan trọng nhất của văn đàn Pháp năm nay về tay Hervé Le Tellier với tiểu thuyết L’Anomalie (Điều bất bình thường), nhà xuất bản Gallimard. Theo giải thích của ban giám khảo, đây là một tác phẩm tập hợp ba thể loại tiểu thuyết trinh thám, khoa học giả tưởng, mà không quên tấn hài kịch của thế gian.

Hervé Le Tellier, năm nay 63 tuổi, xuất thân là một nhà toán học trước khi bước vào thế giới văn chương. Ngoài ra, Le Tellier còn theo đuổi ngành báo chí. Trả lời hãng tin Reuters cách nay không lâu, giải thưởng Goncourt 2020 nói đùa « Tôi có thể chọn là một nhà toán học tồi, hay một nhà báo bất tài. Cuối cùng tôi chọn cái nghề nhà báo, dễ giấu cái dở của mình hơn ! »

Độc giả Pháp biết nhiều đến Hervé Le Tellier qua những tác phẩm như là Tôi và François Mitterrand (2016), trong đó tác giả bình phẩm về những trao đổi qua thư từ ông đã có với nhiều đời tổng thống Pháp liên tiếp, hay với tác phẩm Assez parlé d’Amour- Đã nói nhiều về tình yêu (2009). Như tên gọi của nó, trong cuốn sách này, Le Tellier chủ yếu nói về tình yêu trong thời đại của chúng ta.

Lần đầu tiên trong lịch sử của giải thưởng Goncourt, lễ công bố bảng vàng năm nay đã phải diễn ra trực tuyến, thay vì từ nhà hàng Drouant, quận 2 Paris như mỗi năm. Đại dịch Covid-19 và lệnh phong tỏa bắt các nhà hàng trên toàn quốc phải đóng cửa khiến ban giám khảo không thể họp báo tại nhà hàng nổi tiếng này.

Cùng hôm nay, giải thưởng Văn Học Renaudot, một cái thước đo lường uy tín khác trên văn đàn Pháp được trao tặng cho nữ văn sĩ Marie Hélène Lafon cho tiểu thuyết Histoire du fils – Chuyện của cậu con trai, nhà xuất bản Buchet-Chastel. Trong tác phẩm này, Marie Hélène Lafon đưa độc giả bước vào thế giới của André và muôn vàn bí mật bao quanh một gia đình trong suốt một thế kỷ, từ năm 1908 đến 2008.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1467 Posted : Saturday, December 5, 2020 7:50:53 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

BTS : Khi âm nhạc trở thành tín ngưỡng

Gia Trình - RFI - 05/12/2020
Chuyện nghệ sỹ trẻ được đề cử Grammy không có gì mới mẻ nhưng với BTS, boyband Hàn Quốc, lọt vào đề cử lại là câu chuyện tốn giấy mực. Đây cũng là nhóm nhạc K-Pop đầu tiên lọt mắt xanh giải thưởng âm nhạc danh giá nhất Hoa Kỳ.

Sự xâm lăng K-Pop trên toàn cầu

Làn sóng hâm mộ K-Pop chưa có dấu hiệu nguôi ngoai và đặc biệt với nhóm nhạc trứ danh của làn sóng này, BTS. Làn sóng thần tượng hóa ngôi sao ca nhạc làm người xem nhớ đến thập kỷ 60, 70 với trào lưu British Invasion (Sự xâm lăng văn hóa Anh). Hàng triệu khán giả khóc, gào thét để nhìn ngắm thần tượng như Beatles, The Rollingstones. Giờ đây, BTS, đại diện xuất sắc nhất của K-Pop cũng thực hiện được giấc mơ đó: biến âm nhạc trở thành tín ngưỡng như cách The Beatles ví von nổi tiếng hơn chúa Jesus.

Năm 2020 có thể coi là bước ngoặt lớn với BTS khi single tiếng Anh đầu tiên Life Goes On (Cuộc sống vẫn tiếp diễn) của nhóm lọt vào bảng xếp hạng Billboard top 100. Đồng thời, giải Grammy cũng xướng tên họ trong danh sách đề cử Trình diễn pop xuất sắc nhất với ca khúc Dynamite bên cạnh các nghệ sỹ tên tuổi khác như Justin Bieber. Tuy giải Grammy là sân chơi mới mẻ với BTS, các chàng trai vàng K-Pop càn quét giải thưởng American Music Awards trong ba năm trở lại đây. Nếu nhận được máy hát vàng Grammy lần này, họ còn lập kỳ tích đoạt 3 giải âm nhạc lớn của Mỹ trong năm 2020.

Phải chăng sự xâm lăng của K-Pop là xu thế tất yếu hay Hội đồng đề cử của Viện Ghi âm Hoa Kỳ đã dễ dãi hơn với âm nhạc nước ngoài? Album mới nhất BE, đồng thời là album phòng thu thứ 5 của nhóm, trình làng trong năm 2020. BTS mô tả album như lá thư tràn đầy hy vọng trong giai đoạn cách ly kéo dài vì đại dịch Covid-19 đã cướp mất cơ hội lưu diễn toàn cầu. Nhưng với cú hích Billboard Top 100, giải Grammy sẽ mở rộng cánh cửa thị trường âm nhạc Bắc Mỹ cho bảy chàng trai vàng.

Thành lập từ năm 2010, nhóm nhạc bảy thành viên xứ sở Kim chi đầu quân cho hãng giải trí Big Hit Entertainment (BHE). Nhóm BTS là con Át chủ bài của hãng Big Hit khi đóng góp tới 87,7% doanh thu của hãng (tính trong nửa đầu năm 2020). Còn biết đến đến với cái tên Bangtang Boys, âm nhạc BTS đa dạng từ hiphop, dance, R&B, pop, phù hợp với phần vũ đạo trẻ trung và lối ăn mặc thời trang. Ca từ của BTS xoáy sâu vào nhận xét cá nhân và xã hội, sức khoẻ tinh thần, rắc rối của tuổi trẻ, mất mát hay hành trình ái kỷ và chủ nghĩa cá nhân.

Phó giáo sư Candace Epps Robertson, trường Đại học North Corolina nhận xét khá tích cực về tính nội dung trong âm nhạc của BTS : “Ca từ của nhóm và videoclip tuy đơn giản nhưng tạo ra nền tảng cho hàng triệu fan hâm mộ đắm chìm và phát triển được giác quan đa văn hóa của các công dân toàn cầu”. Ngoài ra, Kathryn Lofton, giáo sư Đại học Yale, mô tả sự hâm mộ với BTS như “tín ngưỡng tiêu dùng”. Nhóm cam kết mối quan hệ với fan để tạo sự vui vẻ, lạc quan khi bạn tham gia với nhóm.

Hơn thế, giải Grammy không chỉ là sân chơi giải trí lớn mà là ghi nhận của nền công nghiệp âm nhạc Hoa Kỳ với K-Pop. Vì vậy, giải Grammy là đích nhắm hoàn hảo mà ban nhạc BTS luôn khát khao nhắm tới với single tiếng Anh đầu tiên.

Khuyếch đại giá trị thương mại

Gần đây, thông tin các thành viên BTS có thể được trì hoãn nghĩa vụ quân sự khiến giá cổ phiếu công ty Big Hit tăng vọt. Sự nổi tiếng của nhóm không chỉ làm giàu cho các thành viên, cho công ty giải trí mà còn nuôi dưỡng cả nền kinh tế Hàn Quốc. Giá trị vốn hóa của Big Hit nằm trong top 10 Công ty lớn nhất trên sàn chứng khoán KOSPI Hàn Quốc.

Chính vì nền công nghiệp giải trí thịnh vượng này, đã bùng lên tranh cãi liệu có nên để các thành viên ban nhạc trì hoãn nhập ngũ khi đang ở đỉnh cao phong độ không ? Theo luật của Hàn Quốc, toàn bộ nam thanh niên độ tuổi 18 đến 28 phải tham gia quân ngũ trong vòng 2 năm để đối phó với nguy cơ an ninh từ Bắc Triều Tiên. Thành viên lớn tuổi nhất Kim Seok-jin (hay Jin) đã 27 tuổi, anh sẽ phải báo cáo nhập ngũ vào cuối năm 2021. Các thành viên còn lại, sinh năm 1993 đến 1997, sẽ đi nghĩa vụ quân sự trong các năm tiếp theo.

Sự nghiêm ngặt của luật Hàn Quốc đến mức sẽ không có khe hở nào cho các trường hợp đặc biệt, kể cả những chú gà đẻ trứng vàng như BTS. Bộ trưởng bộ Quốc Phòng Hàn Quốc, Suh Wook, nói rằng không có chuyện đặc cách mà chỉ là xem xét trì hoãn. Chính vì sự đồn đoán này khiến cho giới đầu tư đổ xô mua cổ phiếu BHE trước thông tin nhập ngũ các chàng trai.

Thành công trên nền tảng giải trí số

Câu chuyện thành công BTS chỉ là bề nổi của tảng băng, trong khi bề chìm là cả nền công nghiệp giải trí của Hàn Quốc trị giá hàng tỷ đô la. Sinh sau đẻ muộn hơn thị trường phát triển như Hoa Kỳ hay châu Âu, nền công nghệ giải trí xứ kim chi nay trở thành điểm sáng trên toàn cầu.

Ngoài các chuyến lưu diễn trị giá hàng trăm triệu đô la, BTS và Big Hit còn biết khai thác giá trị thương mại của chính họ và tấn công sang thị trường tài chính. Công ty đang sở hữu và quản lý BTS, Big Hit Entertainment được định giá lên tới 10 nghìn tỷ won (tương đương 8,5 tỷ đô la Mỹ). Theo giá trị chào bán ra công chúng, cổ phiếu Big Hit Entertainment đã tăng giá gấp đôi, lên gần 253 đô la Mỹ kể từ khi niêm yết.

Khác với thời đại của nhóm The Beatles, xu hướng nghe nhạc trở nên đa chiều và nhiều góc cạnh. Khán giả giờ đây không chỉ thưởng thức âm nhạc ở live concert mà trên đa phương tiện, đặc biệt điện thoại di động, máy tính, máy tính bảng. Mặc dù nhóm hủy chuyến lưu diễn toàn cầu trong năm 2020 do đại dịch, nhưng hầu bao của nhóm không vì thế bị thu hẹp. Nhóm BTS vẫn duy trì biểu diễn quảng bá trên mạng xã hội và biểu diễn online. Công ty Big Hit tập trung mạnh vào sử dung Youtube, các kênh mạng xã hội. Ngoài ra, Big Hit còn kiểm soát được toàn bộ doanh thu đến từ nền tảng Weverse. Đây là kênh thu hút đông đảo các fan K-Pop, và thể lôi kéo được các nghệ sỹ khác.

Ở góc độ khác, BTS nhanh nhạy khôn khéo trong cách marketing tên tuổi. BTS và Big Hit đã tài trợ 1 triệu đôla cho phong trào Black Lives Matter. Ngay lập tức, làn sóng fan hâm mộ BTS ủng hộ trên tài khoản Twitter OneInAnArmy tăng chóng mặt, chạm mục tiêu chỉ trong vòng 25 tiếng. Ngoài ra, nhóm hỗ trợ 1 triệu đô la cho Crew Nation ủng hộ nghệ sỹ giải trí ảnh hưởng bởi đại dịch virus corona và chương trình chấm dứt bạo lực trẻ em.

Liệu BTS có trở thành The Beatles của thế kỷ 21 không? Câu trả lời vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhưng chắc chắn rằng, BTS đã mở ra trang lịch sử cho K-Pop trên bản đồ âm nhạc toàn cầu.

(Theo Variety, Guardian, Wallstreet Journal)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1468 Posted : Sunday, December 6, 2020 12:58:23 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Giọng ca Édith Piaf lại ăn khách nhờ phim "Emily in Paris"

Tuấn Thảo - RFI - 04/12/2020
Đôi khi có những ca khúc rất xưa, tưởng chừng đã thuộc về dĩ vãng, bỗng dưng sống lại nhờ phim ảnh, thoát khỏi giấc ngủ đông dai dẳng năm tháng. Đó là trường hợp gần đây của nhạc phẩm "Fever" (Cơn sốt) của danh ca người Mỹ Peggy Lee và nhất là tình khúc "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) của thần tượng nhạc Pháp Édith Piaf, thành công trở lại nhờ bộ phim truyền hình nhiều tập "Emily in Paris".

Được phát hành cách đây vừa đúng 60 năm (tháng 12 năm 1960), giai điệu bài hát "Non, je ne regrette rien" từng được bình chọn vào năm 2015 là một trong 10 ca khúc kinh điển nhất của Édith Piaf, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà. Thật ra, phiên bản đầu tiên đã ra đời vào năm 1956 dưới ngòi bút của hai tác giả Charles Dumont (nhạc) và Michel Vaucaire (lời). Mãi đến 4 năm sau, Édith Piaf mới ghi âm bài hát này, sau khi hai tác giả đã chỉnh sửa một số ca từ. Lần đầu tiên được nghe ca khúc, Édith Piaf tuyên bố không có bài hát nào phản ánh cuộc đời của bà sâu sắc như bài này. Tài nghệ viết ca khúc "đo ni đống giày" của cặp bài trùng Dumont-Vaucaire lại càng rực rỡ thăng hoa qua tiếng hát mê hồn của Édith Piaf.

Nhạc Pháp hoài niệm ăn khách nhờ phim Mỹ

Tuy ra đời cách đây đúng 6 thập niên, nhưng bài hát bất hủ của Édith Piaf một lần nữa lại thành công, sau khi bộ phim truyền hình 10 tập "Emily In Paris" chinh phục được nhiều tầng lớp khán giả trẻ tuổi tại nhiều quốc gia trên mạng Netflix. Trên bảng xếp hạng các ca khúc ăn khách nhất trong tháng qua của tạp chí chuyên ngành Billboard của Mỹ, nhạc phẩm "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) đậm chất lưu luyến hoài niệm của Édith Piaf, lại giành lấy vị trí quán quân trong hạng mục nhạc phim truyền hình được phổ biến nhất tại Hoa Kỳ.

Nhìn chung, chỉ trong những tuần lễ đầu tiên sau khi bộ phim này được đưa lên mạng để trình chiếu, các số liệu chính thức cho thấy đã có gần 700.000 lượt khách truy cập để nghe hoặc tải ca khúc này. Trên cùng bảng xếp hạng, có hai ca khúc khác của các ca sĩ Pháp cũng thành công trong hạng mục nhạc phim, đó là tình khúc "Moon" của nghệ sĩ Kid Francescoli đến từ Marseille (hạng tư) và kế theo sau là nhạc phẩm "Burst Into Flames" của ca sĩ Cavale (hạng bảy).

Điều đáng ghi nhận là do tình hình của dịch Covid-19, cho nên hiện thời có rất ít phim mới được công chiếu tại các rạp. Hầu hết các tác phẩm phim truyện (phim lẻ) hay phim truyền hình (nhiều tập hay nhiều mùa) chủ yếu được phát hành trực tuyến thông qua các mạng như Netflix, Amazon Prime, Apple TV+, HBO Max, Disney+ .... Trên lãnh vực này, Netflix vẫn giữ lợi thế áp đảo về số lượng khách truy cập và nhạc phim phát hành trên mạng vì thế cũng trở nên phổ biến hơn. Nếu như danh sách của tạp chí Billboard tập hợp các loạt phim đến từ mọi phía, thì Netflix lại chiếm giữ đến 8 trong số 10 vị trí đầu bản xếp hạng. Về hạng nhì là ca khúc "I Shall Believe" của Sheryl Crow trích từ loạt phim "The Haunting of Bly Manor". Còn ở hạng ba là tình khúc "Fever" (Cơn sốt) của ca sĩ người Mỹ Peggy Lee, nhạc chủ đề của bộ phim 7 tập "The Queen's Gambit" (Nữ hoàng cờ vua), được xem như là một trong những series truyền hình dạng ngắn, thành công nhất hiện thời trên mạng Netflix.

Phim "Emily in Paris" sẽ có phần hai

Còn ở hạng nhất, mùa phim đầu tiên "Emily In Paris" đã chọn bản nhạc kinh điển (Chẳng hối tiếc gì) của Édith Piaf làm một trong những ca khúc chủ đề. Gọi là mùa đầu tiên, vì hồi đầu tháng 11 các nhà sản xuất đã thông báo loạt phim này sẽ có thêm phần kế tiếp, sau thành công ngoạn mục của mùa thứ nhất. Tuy nhiên, hiện giờ chưa có thông tin cụ thể nào về thời điểm khởi quay và nước Pháp vẫn chưa thật sự ra khỏi thời kỳ phong tỏa, nên có khá nhiều dự án quay phim vẫn còn bị "đóng băng" và các đoàn làm phim buộc phải tuân thủ rất nhiều điều kiện ràng buộc.

Mùa phim truyền hình "Emily In Paris" đầu tiên gồm 10 tập, và do đạo diễn Mỹ Darren Star sản xuất, người đã từng hái ra bạc triệu nhờ thực hiện 6 mùa phim "Sex and The City". Bộ phim kể lại câu chuyện của Emily Cooper (do Lily Collins thủ vai) một cô gái người Mỹ tuổi đôi mươi, được công ty phái đến Paris làm công tác trong lãnh vực quảng cáo thời trang. Được gửi sang Pháp dù Emily không rành tiếng Pháp (ngay cả ngôn ngữ xã giao cũng còn bập bẹ, cô chỉ nói những câu như "c'est la vie, j'aime Paris"), cho dù bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ trong môi trường làm việc với các đồng nghiệp mới, nhưng Emily lại nhanh chóng tìm ra hướng đi của mình nhờ cá tính và bản lĩnh. Hơn thế nữa, Emily khám phá tình yêu trong vòng tay của Gabriel (diễn viên Lucas Bravo) trong vai đầu bếp tiệm ăn "Les deux compères" ở trung tâm thủ đô Paris.

Trong loạt phim "Sex and the City", đạo diễn Darren Star đã từng dựng mối tình giữa Carrie Bradshaw (Sarah Jessica Parker) với Mr Big (Chris Noth) giữa lòng thủ đô Paris lung linh, huyền diệu. Lần này, đạo diễn khai thác gần như cùng một bí quyết để viết lên trang tình sử giữa Emily và Gabriel, càng trẻ càng nhiều đam mê. Quan hệ tình cảm cực kỳ lãng mạn ấy chính là cái cớ để cho các yếu tố khác bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Thế giới thời trang của Emily không tàn nhẫn khốc liệt (đến nỗi Emily phải đánh đổi linh hồn) như trong phim "The Devil Wears Prada" (tạm dịch Bà chằn thích hàng hiệu). Khung cảnh của Paris lại càng lý tưởng để thêu dệt một chuyện tình. Vấn đề ở đây là, trái với hai bộ phim nói trên, hầu như toàn bộ diễn tiến câu chuyện trải dài trên 10 tập. Vì thế cho nên, trong cách mô tả Paris cũng như nếp sống sinh hoạt của nguời dân thủ đô Pháp, bộ phim ít chinh phục được cảm tình của nhiều khán giả (đặc biệt là những người đã từng sống một thời gian ở Paris).

Hy vọng mùa thứ hai bớt khập khiểng hơn

Loạt phim "Emily In Paris" đã được khá nhiều khán giả hưởng ứng, nhưng cũng gặp phải lắm lời chê bai. Lối phản ánh trong phim bị cho là hời hợt với nhiều hình ảnh rập khuôn sáo mòn, vỏ đẹp, nhưng bên trong lại rỗng tuếch. Về điểm này, nhà sản xuất Darren Star từng giải thích rằng, đây không phải là phim tài liệu về Paris, mà là phim truyện và toàn bộ các nhân vật, cũng như sự kiện, đều là hư cấu. Nói như vậy thì cũng chỉ đúng có một phần, vì ngay cả trong phim hài, người ta có thể dùng chất "bi" để làm nổi bật thêm điều muốn nói, việc phản ánh bối cảnh sát sườn thực tế vẫn làm cho khán giả càng tin vào câu chuyện "tưởng tượng" đang được kể. Hy vọng rằng mùa thứ nhì trong lối phản ánh bối cảnh, cũng như tâm lý của người "parisien", không khập khiểng như trong mùa đầu.

Sự kiện bộ phim "Emily In Paris" giúp cho ca khúc "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) ăn khách trở lại là một điều thú vị bất ngờ, nhưng có lẽ để minh họa câu chuyện tình giữa Emily và Gabriel, thì một bài hát nào đó khác của Édith Piaf như "Sous le ciel de Paris" (Dưới bầu trời Paris) hay là "L'Hymne à l'amour" (Bài ngợi ca tình yêu) có lẽ sẽ thích hợp hơn.

Có người từng nói rằng, nếu như "La vie en Rose" (Cuộc đời màu hồng) chính là giai điệu của hạnh phúc lứa đôi, ngợi ca tình yêu đầu đời, thì đổi lại "Non, je ne regrette rien" chính là khoảnh khắc của một người dày dặn từng trải, không than van cũng chẳng hối tiếc khi ngoảnh mặt nhìn lại, cho dù một chút ngậm ngùi chợt thoáng qua tình khúc cuối.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1469 Posted : Tuesday, December 8, 2020 10:23:30 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Concerto số 3 Rachmaninoff, quả ngọt từ tình bạn cao cả

Hoài Dịu - RFI
Trong xứ sở gần như vô hạn của giới sành nhạc, mấy ai không thể không biết đến cuộc ngộ diện giữa hai nghệ sĩ người Nga xuất chúng nhất thế kỉ XX. Một bên là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc Serge Rachmaninoff, nổi tiếng với những tuyệt tác chạm « thẳng trái tim » với những ngón tay biết hát. Bên kia là « Hoàng đế piano » Vladimir Horowitz, người một mực tôn sùng « vị thần âm nhạc » Rachmaninoff của đời mình.

Tình bạn giữa hai thiên tài

Vào cuối những năm 1910, trong thời gian theo học tại nhạc viện Kiev, Vladimir Horowitz đã biết chơi trọn những sáng tác của Serge Rachmaninoff. Minh chứng thuyết phục nhất đó là ông đã chơi bản concerto số 3, tác phẩm khó nhất trong tất cả concerto cho đàn piano của Rach, trong buổi thi tốt nghiệp ra trường. Cách diễn tấu của cậu sinh viên tài năng này đã gây ấn tượng mạnh tới mức những vị giám khảo khó tính nhất hôm đó cũng phải đứng dậy vỗ tay không ngớt.

Ngay khi đặt chân đến Hoa Kỳ để chuẩn bị cho chuyến lưu diễn đầu tiên tại đây, « Volodia » (tên gọi thân mật của Horowitz) chỉ có một ý định trong đầu : diện kiến thần tượng của mình. Giấc mơ đã thành hiện thực. Tháng giêng năm 1928, trong căn phòng của hãng đàn Steinway ở New York, Horowitz đã chơi bản concerto số 3 của Rachmaninoff dưới sự dẫn dắt của cây piano 2 do chính tác giả đệm phần dàn nhạc.

Trong trạng thái sững sờ, Rachmaninoff tuyên bố với người nghệ sĩ đồng hương : « Tác phẩm này thuộc về anh đấy ». Nhận xét về sự kiện này, Rach viết : « Anh ấy đã nhào vào những câu nhạc như một con hổ đói ». Với sự táo bạo, lòng can đảm, cuồng phong mãnh liệt, « anh đã ăn tươi, nuốt gọn nó chỉ bằng một miếng ».

Cuộc gặp gỡ đó nhanh chóng làm đâm chồi một tình bạn bền lâu cho đến khi Rachmaninoff qua đời : hai người đàn ông, cùng chung một nỗi niềm lưu lạc tổ quốc, người này khâm phục cái tài của người kia và không ngừng dõi bước nhau trong hoạt động âm nhạc. Horowitz thường hủy các buổi hòa nhạc của mình nếu như Rachmaninoff biểu diễn ở New York. Tương tự như vậy, Rach luôn có mặt trong những buổi diễn của bạn đồng hương Horowitz ở New York, và luôn là vị khán giả ra về cuối cùng.

Mặc dù giữa hai người có nhiều mối đồng cảm và sự tôn kính lớn lao, nhưng không phải lúc nào đôi bạn cũng luôn tìm thấy tiếng nói chung. Đơn cử là khi Rachmaninoff đề cập đến lối diễn tấu của Horowitz về những tác phẩm của Tchaïkovsky, cho rằng bạn chơi hơi quá nhanh. Thế nhưng Horowitz không bao giờ đồng ý với lời nhận xét đó và ông vẫn giữ tempo nguyên sơ của mình trong những buổi hòa nhạc sau.

Concerto số 3, bản nhạc khó nhất hành tinh viết cho đàn piano

Chấp bút trong khu điền viên yên ả của gia đình, Ivanovka, concerto số 3 cho đàn piano được hoàn thành ngày 23 tháng 9 năm 1909. Rachmaninoff viết tác phẩm này với mục đích phô diễn tài năng cá nhân của một nhà soạn nhạc tài hoa cũng như nghệ sĩ dương cầm kiệt xuất thế giới.

Bản anh hùng ca số 3 được xem như một trong những tác phẩm khó nhất trong danh mục biểu diễn của các nghệ sĩ dương cầm danh tiếng. Một mặt vì tính chất đồ sộ, chứa đựng nhiều chuyển đổi phức tạp về tâm thái, từ êm dịu, phẳng lặng tựa hồ thu đến mưa bão cuồng nộ. Một mặt lại đòi hỏi nhiều ngón đàn đỉnh cao trong kĩ thuật chơi.

Thế nên, tuyệt phẩm mệnh danh « khó như ma, như quỷ » ấy khiến nhiều nghệ sĩ dương cầm giỏi giang không dám động tới. Ngay cả thần đồng âm nhạc Ba Lan, Josef Hofmann, người mà Rachmaninoff đã đề tặng và xem là tài ba hơn ông, đã không bao giờ có ý định chơi nó. « Bản nhạc đó không phải dành cho tôi », Hofmann từ chối.

Bản concerto được công diễn lần đầu tiên vào tháng 11 năm 1909, Rachmaninoff xuất hiện với tư cách là nghệ sĩ khách mời của nhà hát New Theater, New York (sau này là Century Theater). Vào cuối buổi hòa nhạc, sau khi ông chơi xong bản concerto số 3, tiếng reo hò trong khán phòng yêu cầu nghệ sĩ thưởng thêm một đoạn nhạc nữa (bis), nhưng đó là điều không thể. Những ngón tay của Rachmaninoff « đang bị bốc lửa » sau khi chơi bản concerto « thần thánh » này.

Một tờ báo Hoa Kỳ thuật lại : « Khán giả đồng thanh gọi tên nhiều lần ngài Rachmaninoff để cố nài ông ấy diễn lại, nhưng ông ấy giơ tay lên theo nghĩa rằng ông hoàn toàn đồng ý, tuy nhiên những ngón tay của ông lại không nghe lời. Điều này khiến khán giả phải bật cười, và để cho Rachmaninoff rời khỏi sân khấu ».

Có một chi tiết nhỏ liên quan đến bản concerto số 3 này đó là vì sao Rachmaninoff lại có động lực mạnh mẽ mang tác phẩm mới ra lò của mình giới thiệu tại Hoa Kỳ? Đến nỗi do thời gian hạn hẹp, ông không thể tập chơi nó ở Nga mà phải mang theo một cây piano có trang bị hệ thống chặn tiếng để tranh thủ luyện tập trên tàu. Đơn giản là khoản thù lao cho tác phẩm mới mà ông dự trù sẽ được dùng vào việc thực hiện ước mơ đắt đỏ nhất : mua siêu xe. Cuối cùng ông đã chọn chiếc Mercedes « Lorelei » rất khó tìm thấy tại nước Nga.

Sau khi nghe người nghệ sĩ đồng hương tấu lên đứa con tinh thần của mình, Rachmaninoff đã cho rằng không có ai có thể chơi bản nhạc này xuất sắc hơn Vladimir Holowitz, thậm chí hay hơn cả chính tác giả của nó. Mặc dù sau này, có một số nhà lý luận trao danh hiệu này cho nghệ sĩ piano bậc thầy khác Sviatoslav Richter, nhưng lúc ấy (1928) anh ta chỉ mới 13 tuổi.

Rachmaninoff vốn có đôi tay dài quá cỡ, có thể ôm gọn 13 phím trên đàn. Điều này được coi là kỉ lục trong lịch sử âm nhạc thế giới. Đó chính là một trong những lý do mà một vài sáng tác của ông trở nên bất khả thi đối với những nghệ sĩ piano điêu luyện, có đôi tay gọi là « bình thường ».

Thế nhưng tạo hóa lại ưu ái ban tặng cho Vladimir Horowitz một tâm hồn giàu nhạc cảm và đôi tay ngoại cỡ như Rachmaninoff. Có những bản sonate mà tác giả đã phải lược giản đi vì ngay chính ông cũng không thể vượt qua nổi độ khó về kỹ thuật, thì nay bản thảo đặc biệt được biên tập lại như ban đầu, và chỉ để dành riêng cho Horowitz diễn tấu.

Như là định mệnh, mối đồng cảm sâu sắc, sự thấu hiểu và niềm cảm phục giữa họ đã làm nên một tình bạn cao cả. Để ngày hôm nay, thế giới mới may mắn gập mình trước những đường chạy thần tốc, phi thường như quỉ dữ của concerto số 3.

Có khi nó lại khiến tâm thái nhân loài trở nên sâu hơn, tĩnh hơn bởi những giọt đàn lan tỏa nhả ra từ những đầu ngón tay thiên thần. Tâm hồn khô héo bỗng hồi sinh. Đó là lý do tại sao Serge Rachmaninoff và Vladimir Horowitz trở thành vĩ nhân của mọi thời đại.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1470 Posted : Saturday, December 12, 2020 1:42:02 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Đạo diễn Hàn Quốc Kim Ki Duk qua đời vì Covid-19

Thanh Hà - RFI - 12/12/2020
Từng đoạt nhiều giải thưởng lớn của làng điện ảnh quốc tế như Sư Tử Vàng của Venise hay Gấu Bạc của liên hoan phim Berlin, đạo diễn Hàn Quốc Kim Ki Duk từ trần hôm 10/12/2020 tại Latvia, thọ 59 tuổi.

Từ đầu những năm 2000, Kim Ki Duk đã trở thành một trong những gương mặt nổi bật tại các liên hoan điện ảnh quốc tế và ông được xem là một trong những người đưa nghệ thuật thứ 7 của Hàn Quốc ra với thế giới bên ngoài.

Ông nổi tiếng với những tác phẩm như The Isle - Ốc Đảo (2000) Xuân, Hạ, Thu, Đông … và Xuân (2003) hay Arirang (2011) … Nhưng có lẽ ông đã đạt đến đỉnh cao sự nghiệp vào năm 2012 khi đoạt giải Sư Tử Vàng của liên hoan phim Venise với Pieta.

Đây là một tác phẩm nói về một người đàn ông làm nghề đi siết nợ và luôn sẵn sàng dùng bạo lực, tra tấn, tàn nhẫn đến vô độ trước những con nợ khó đòi … cho đến khi hắn ta gặp một người đàn bà tự nhận là mẹ.

Kim Ki Duk nổi tiếng là một nhà làm phim thích khai thác sự tàn nhẫn và bạo lực. Nhiều tác phẩm của ông, kể cả Pieta, đã khiến khán giả « ớn lạnh ».

Sinh ra trong một gia đình nghèo, Kim Ki Duk sớm phải tự tìm kế sinh nhai. Năm 14 tuổi ông đã lao vào trường đời, làm việc ở nhà máy, rồi nhập ngũ. Có lúc họ Kim đã định trút bỏ bụi trần để tìm đến với đạo. Đầu thập niên 1990 ông sang Paris và kinh đô ánh sáng là bệ phóng đưa Kim Ki Duk vào thế giới điện ảnh.

Năm 2017, Kim Ki Duk đánh mất hào quang. Tác giả những bộ phim từng được xướng tên trên bảng vàng tại những festival uy tín nhất thế giới này bị cáo buộc xâm hại tình dục một nữ diễn viên. Ông đã phải chi ra một số tiền không nhỏ để tai tiếng được chìm vào quên lãng. Nhưng hình ảnh của nhà làm phim đã xấu đi trong mắt công luận Hàn Quốc.

Kim Ki Duk phải ra nước ngoài tìm chỗ nương thân. Ở chặng cuối cùng, ông chọn Riga, thủ đô của Latvia. Tại đây, ông đang gây dựng lại một sự nghiệp mới và đang tìm nhà để ở lại hẳn chốn này. Vì virus corona, giấc mơ « làm lại từ đầu » của Kim Ki Duk tan vỡ.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1471 Posted : Sunday, December 13, 2020 7:25:45 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Juliette Gréco: Hát là sống, sống thật, sống hết mình

Trọng Thành - RFI - 12/12/2020
Nữ ca sĩ « với nghìn gương mặt », « nàng thơ » của trào lưu hiện sinh, một biểu tượng của nền thi ca và âm nhạc Pháp qua đời ngày 23 tháng 9 năm 2020, ở tuổi 93. Juliette Gréco, người thể hiện hầu hết các tên tuổi lớn của nền thi ca Pháp thời hậu chiến… tiếp tục đưa ca khúc Pháp đến với thế giới ngay ở tuổi 89.

Hát là sống. Sống thật, sống hết mình. Tha thiết yêu, khao khát tự do, khát khao hiểu biết. Hài hước và châm biếm. Dịu dàng, thiết tha mà bất khuất... Nhiều người nhận ra trong nữ ca sĩ vừa qua đời những sâu thẳm của tâm hồn Pháp.

Ra đời tại Montpellier ngày 7 tháng 2 năm 1927, Juliette Gréco trải qua một tuổi thơ « đầy đủ về vật chất, nhưng hết sức thiếu thốn về tình cảm ». Người mẹ thường nhắc nhở với « Toutoute », tên gọi trong nhà của Juliette, rằng cô bé hoàn toàn không phải là đứa con được trông đợi. Năm 1943, mẹ cô, một kháng chiến quân chống phát-xít, bị bắt và đưa vào trại tập trung cùng chị gái. Sau khi được mật thám Đức thả ra, lang thang ở Paris không đồng xu dính túi, Juliette tìm đến một người quen duy nhất tại Paris. « Nàng thơ của trào lưu hiện sinh » tương lai có được chỗ nương thân tại nhà Hélène Duc, cô giáo cũ môn tiếng Pháp, nằm ngay sát khu Saint-Germain-des-Prés, trung tâm của đời sống văn nghệ Pháp, trước và sau Thế chiến Hai.

« Hoa nở trong lòng »

Paris được giải phóng, Gréco như tái sinh một lần nữa. Cô có được một chỗ làm tại một nhà hát trong khu Saint-Germain-des-Prés. Người thiếu nữ thông minh, đầy tinh thần phản kháng, táo bạo, ham hiểu biết đã tìm thấy ở Paris miền đất mong đợi, với đời sống trí thức, âm nhạc nghệ thuật đang trong giai đoạn sục sôi sáng tạo. Gréco có cơ hội được gần gũi với các văn nghệ sĩ lớn của nước Pháp thời bấy giờ… Trong một hồi tưởng lại giai đoạn đầu tiên này, Juliette Gréco tâm sự :

« Lúc đó tôi là đứa bé nghèo, hoàn toàn chẳng có gì, về áo quần, về đồ ăn uống, nhưng lại là một đứa trẻ hết sức no đủ về tinh thần, về tri thức, về tình bằng hữu. Tôi đã nhận được ‘‘rất nhiều quà tặng’’ từ những người xung quanh. Tôi để ngỏ mọi cánh cửa tâm hồn, nhưng trong trạng thái lặng câm. Tôi như một mảnh đất tốt : mở ra, nghe và ghi nhận. Với tôi, như thể hạt giống trong lòng đất. Đất tốt.

Tôi lắng nghe, ghi nhận, tôi cứ để cho hoa nở trong lòng mình, trong sâu thẳm. Trong đáy lòng. Tôi đã phải mất rất nhiều thời gian mới có thể bày tỏ được. Bởi vì, những gì tôi nhận được là quá đẹp ! Khi tôi được nghe nói về hội họa, tôi được nghe những người như Picasso. Về triết học, là những người như Merleau-Ponty hay Camus. Tôi gần như là quá tải. Tôi thật vô cùng may mắn. Điều đó có thể đã khiến tôi trở nên kín đáo hơn cả tôi khi trước » (trích đoạn phỏng vấn năm 1954, phát lại trong chương trình Hommage à Juliette Gréco, France Inter, 27/09/2020).

Triết gia Maurice Merleau-Ponty là người đầu tiên đáp lại câu hỏi của cô bé Juliette, về « chủ nghĩa hiện sinh là gì? », khi hai người tình cờ gặp nhau trong một quán cà phê gần cầu Pont Royal. Juliette Gréco đã tìm được một người cha tinh thần. Trong một chương trình « Il n’y a pas qu’une vie dans la vie » trên kênh Europe 1 (năm 2007), Juliette Gréco đã hồi tưởng lại cái ngày đáng nhớ, mà nếu không có nó, đời cô có thể đã chuyển hoàn toàn sang một hướng khác.

Năm 1948, chính Jean-Paul Sarthe đã là người mở đường cho hành trình nghệ thuật của « Nàng thơ của trào lưu hiện sinh », khi ông gần như là ra lệnh cho cô tham gia vào một cuộc trình diễn tại « Bœuf sur le toit », quán ăn nổi tiếng của giới trí thức Paris thời đó. Sarthe nói : « Tôi đã làm việc vì cô đấy ! Đây là danh sách các bài hát. Cô hãy chọn đi ! ».

Lựa chọn và quyết định. Lần đó, Juliette Gréco đã chọn Si tu t’imagines của Raymond Queneau (sáng tác năm 1947) và L’Éternel Féminin, của Jules Laforgue.

« Phụng sự Chúa » theo cách của mình

Juliette Gréco gần như không sáng tác. Bà chủ yếu trình diễn tác phẩm của người khác. Nàng thơ của Saint-Germain-des-Prés rất thích một câu trong Kinh Thánh : « Tôi là người đầy tớ gái của Chúa. Xin sự ấy xảy ra như lời Ngài » (Phúc âm Luca). Phương châm hành động của Juliette : các nhà văn và nhạc sĩ là những vị Chúa tể, bà chỉ « là người phụng sự, người trình diễn ».

Thành công lớn đầu tiên của Juliette Gréco là ca khúc « Je hais les dimanches / Tôi căm ghét những ngày Chủ nhật », trình diễn năm 1951. Ca khúc với những lời lẽ táo bạo do Charles Aznavour soạn, nhạc đệm của Florence Véran, thoạt tiên được soạn riêng cho nữ danh ca đàn chị Edith Piaf. Piaf từ chối. Gréco trở thành ca sĩ đầu tiên trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng này.

Ca khúc « Sous le ciel de Paris / Dưới bầu trời Paris » (lời Jean Dréjac, nhạc Hubert Giraud), ra đời năm 1951, nhờ giọng hát Juliette Gréco và một số ca sĩ tài ba khác, như Édith Piaf, Yves Montand, đã trở thành một biểu tượng của Paris, của nước Pháp.

Năm 1951, ở tuổi 24, « bông hồng đen » của Saint-Germain-des-Prés ra mắt album nhạc đầu tay mang tên « Je suis comme je suis / Tôi là tôi » (lời Jacques Prévert). Ngọn lửa tự do, khát vọng yêu thương, khát vọng là chính mình, Juliette Gréco đã giữ. Giữ đến trọn đời.

Đằm thắm

Juliette Gréco thường nói, bà thật may mắn, có cơ may gặp bao con người tuyệt vời trong cuộc đời. Juliette Gréco hiểu mỗi ca khúc có ý nghĩa hệ trọng như thế nào. Những ca khúc có thể lan toả khắp nơi, trong thành phố, vượt đại dương, những ca khúc có thể đi suốt một đời người.

Gò má cao, đôi mắt sâu thẳm dưới làn tóc đen, Juliette Gréco - người nghệ sĩ mà từng lời ca « như truyền đến tận mỗi ngón tay » - đã đưa công chúng bình dân đến với bao sáng tác của các nhà thơ, nhà soạn ca khúc, thành danh, hay chưa thành danh: Queneau, Sartres, Prévert, Desnos, Vian, Cosma, Aznavour, Gainsbourg, Béart, Ferré, Brel hay Brassens.

Françoise Piazza, một người bạn vong niên, gắn bó hơn nửa thế kỷ với ca sĩ, giảng viên văn học, tác giả một cuốn lịch sử cuộc đời Gréco kể lại : « Bà là người thể hiện xuất sắc nhất các tác giả lớn nhất thời bấy giờ. Khi họ nghe các sáng tác của mình qua tiếng hát Juliette, họ không còn nhận ra chúng nữa : bất ngờ so với những gì được viết ra trên giấy. Có một cái gì đó sâu thẳm hơn những từ ngữ đã được viết ra ». Jean-Paul Sarte, triết gia hiện sinh, cũng là thi sĩ, từng cảm thán : « Juliette Gréco có hàng triệu bài thơ trong cô. Hàng triệu bài thơ còn chưa được sáng tác » (theo lời thuật của nhà văn, ký giả Jacques Chancel).

Nhạc phẩm « Chanson pour l’Auvergnat » của nhà sáng tác, ca sĩ Georges Brassens, được Juliette trình diễn năm 1955.

Nhiều tác phẩm được trình với phong cách đằm thắm, da diết trong thời kỳ này, như « La Javanaise » của Serge Gainsbourg, hay « Romance », lời Henri Bassis, nhạc Joseph Kosma.

Nhưng ẩn đằng sau phong cách dịu dàng ấy là ngọn núi lửa sôi sục. Với thời gian, dấu ấn cá nhân của Juliette Gréco, người phụng sự « Chúa », để lại ngày càng rõ trong các trình diễn. Khi trình bày nhạc phẩm « Jolie môme » của Léon Ferré, ca khúc được Gréco coi là « đậm chất phân biệt giới tính nhất », bà đã tìm cách đảo ngược lại góc nhìn của tác giả, biến ca khúc thành một hành động khiêu khích, tẩy bỏ hoàn toàn điều mà Gréco gọi là « sự phục tùng » của nữ giới. Nữ tài tử Anna Mouglalis, người từng thủ vai Juliette Gréco trong một bộ phim tài liệu, ghi nhận chính những phụ nữ như Gréco đã góp phần quan trọng thúc đẩy nữ quyền.

« Bông hồng đen » của Saint-Germain-des-Prés trong nhiều năm trời tiếp tục là tiếng nói thách thức các giới hạn. « Déshabillez-moi » (1967) là một ca khúc minh chứng rõ ràng cho những gì mà Gréco có thể mang lại cho tự do và cho khả năng biểu đạt những cung bậc cảm xúc tinh tế.

Bài hát thoát y vũ thành ca khúc nữ quyền

Bertrand Dicale, một chuyên gia về ca nhạc Pháp đương đại, tác giả ba cuốn tiểu sử của danh ca, ghi nhận : ca khúc táo bạo « Déshabillez-moi », ra mắt năm 1967, đã bị đa số đài phát thanh lớn tẩy chay.

Nhạc phẩm « Déshabillez-moi / Hãy thoát y cho tôi », do Robert Nyel soạn lời, nhạc của Gaby Verlor, thoạt tiên là một tác phẩm mà Robert Nyel viết riêng cho người tình, một vũ nữ thoát y, để phục vụ cho các trình diễn gợi dục trên sân khấu giải trí. Dự án không thành, do hai người chia tay. Robert Nyel đề nghị với Gréco ca khúc, mà theo nhà biên soạn « đã không có ai muốn nhận hát ». « Nàng thơ » đồng ý, nhưng đề nghị thêm vào một dòng kết. Dòng kết đảo ngược cái đích của ca khúc.

Juliette Gréco chấp nhận trình diễn ca khúc, với điều kiện phải được trang phục kín, chỉ để hở mặt và đôi bàn tay. Mục tiêu của ca sĩ là biến một bài hát về kêu gọi thoát y trở thành một ca khúc về nỗi đam mê, lòng ham muốn sẻ chia. Thoát y chính là để cởi lòng.

« Hãy thoát y cho tôi » ra đời ngay trước thềm cuộc đảo lộn cách mạng tháng 5 năm 1968 tại Pháp. Từ chỗ là một ca khúc nhìn phụ nữ như đối tượng ham muốn của đàn ông, với sự trình diễn của Juliette Gréco, « Hãy thoát y cho tôi » trở thành một bài hát nữ quyền : một bài ca nữ quyền đầy nữ tính.

« Cuộc cách mạng nào cũng đòi hỏi người dân cất lên tiếng hát cách mạng… Không có cuộc cách mạng nào là không có tiếng hát. Không có tiến bộ nếu không có tiếng hát. (…) Một điều hết sức quan trọng đối với tôi, đó là tiếng nói của nhân dân », trong một cuộc phỏng vấn năm 2001, ở tuổi ngoài 70, nữ ca sĩ tâm sự. Ca khúc « Déshabillez-moi » đã chỉ thực sự thành công rộng rãi vào đầu năm 1968, khi nước Pháp bước vào cuộc cách mạng xã hội lớn.

Tình bạn - tình yêu đến trọn đời

Juliette Gréco có ba đời chồng, nhiều tình nhân, người yêu lý tưởng trong cuộc đời mình. Mối tình dữ dội, bất thành với nghệ sĩ nhạc jazz người Mỹ da đen nổi tiếng Miles Davis, để lại vết thương lớn trong cuộc đời Gréco. Miles Davis không muốn Juliette gặp bất hạnh tại một nước Mỹ phân biệt chủng tộc nặng nề, nơi một phụ nữ da trắng lập gia đình với người da đen bị khinh rẻ. Cho đến cuối đời, hai người vẫn không thôi nhớ nhau. Năm 1991, ít tháng trước khi giã từ cõi đời, Miles đến Paris để được gặp Juliette lần cuối. « Chỉ cần nhìn thấy em từ sau lưng, tại bất cứ nơi nào trên thế giới, tôi cũng nhận ra em », Miles Davis tâm sự.

Nhưng Juliette Gréco cũng có một mối tình khác. Ngày càng thắm thiết với thời gian. Tình bạn, tình yêu, sự ngưỡng mộ đối với một người nghệ sĩ, mà sau suốt cả một đời người, Juliette Gréco đã thấy chính mình trong đó.

Brel

Năm 2013, 35 năm sau ngày mất của Jacques Brel, Gréco cho ra đời một album mới, dành riêng để trình diễn 12 ca khúc của Brel. Danh ca suốt đời phụng sự cho việc thể hiện các tác phẩm của người khác đã tìm thấy những lời ca của lòng mình. Gréco tâm sự : « Đó phần nào chính là tôi, là tôi - một phụ nữ. Bởi tinh thần nổi loạn, bởi những nỗi đau xé lòng. Đấy chính là cái tiếng nói mà tôi hiểu, điều mà tôi có thể diễn đạt. Đó là một tiếng nói có thể là của tôi. Và tôi đã lấy đó làm chính tiếng nói của lòng mình ».

Tình bạn - tình yêu - thi ca - âm nhạc. Có lẽ ít ai biết được cuộc đời Gréco gắn bó như thế nào với Brel. Người chồng thứ ba, người đã cùng bà đi đến trọn đời, nhà soạn nhạc Gérard Jouannest cũng chính là người đồng sáng tác giai điệu của ca khúc huyền thoại « Ne me quitte pas » với Brel.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1472 Posted : Monday, December 14, 2020 1:34:25 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Giai thoại tình khúc Holidays của Polnareff

Tuấn Thảo - RFI
Nổi tiếng trong làng nhạc Pháp nhờ tài soạn giai điệu có một không hai, Michel Polnareff cũng là nghệ sĩ có sự nghiệp ghi âm bấp bênh, nhiều lần bị gián đoạn. Trong vòng nửa thế kỷ (1966-2016), ông chỉ thu thanh 9 album studio và 5 tập nhạc live. Thế nhưng, những bài hát của ông lại rất quen thuộc với biết bao nhiêu người yêu nhạc Pháp. Trong số này có tình khúc Holidays, từng được chuyển sang lời Việt với tựa đề Ngày vui chóng qua.

Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ, Michel Polnareff từ thuở thiếu thời đã thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của thân phụ (Leib Polnareff lấy nghệ danh là Léo Poll), từng viết nhạc cho Édith Piaf. Thời niên thiếu, Michel Polnareff đoạt giải nhất nhạc viện thành phố nhưng ngược lại do thiếu chăm chỉ, ông phải thi nhiều lần mới đậu bằng tú tài.

Michel Polnareff khởi nghiệp ca hát từ năm 1965. Album đầu tay - Love Me Please Love Me được ghi âm tại Luân Đôn với sự tham gia của hai tay đàn ghi ta trẻ tuổi mà cừ khôi là Jimmy Page và John Paul Jones. Hai gương mặt này ba năm sau đó (1968) thành lập nhóm Led Zeppelin, một trong những ban nhạc rock lừng danh thế giới.

Phát hành vào năm 1966, album đầu tay Love Me Please Love Me từng được tạp chí chuyên đề Rolling Stone xếp vào danh sách 50 abum nhạc rock của Pháp hay nhất mọi thời đại. Ngay từ những sáng tác đầu tiên, Michel Polnareff cho thấy ông không chạy theo phong trào của đám đông, không sáng tác theo thị hiếu của công chúng mà lại tự tạo thế giới âm nhạc của riêng mình.

Khác với những bài hát hơi ‘‘ngây ngô’’ của phong trào nhạc trẻ Pháp những năm 1960, lối sáng tác của Michel Polnareff chuẩn mực về mặt giai điệu, nhưng lại đầy tính thử nghiệm trong cách phối khí hoà âm, phảng phất ảnh hưởng của The Mamas and the Papas, Brian Wilson ca sĩ chính của nhóm The Beach Boys, và nhất là của ban nhạc The Moody Blues trong cách dùng nhạc khí cổ điển để phối các bản nhạc rock.

Michel Polnareff liên tục thành công cho tới năm 1972. Ông chủ yếu sáng tác nhạc, còn phần soạn lời được giao cho nhiều tác giả khác trong đó có Pierre Delanoe (chuyên viết lời cho Michel Sardou) hay Jean-Loup Dabadie (chuyên sáng tác cho Julien Clerc).

Trong hồi ký gợi lại nhiều thập niên dòng nhạc Pháp, tác giả Jean-Loup Dabadie cho biết vào những năm đầu thập niên 1970, Michel Polnareff đang trong giai đoạn tìm tòi thử nghiệm qua các album concept xen kẽ các bài hát với nhạc hoà tấu không lời. Đó cũng là giai đoạn Michel Polnareff đưa khái niệm Âm Nhạc quyện chặt Giấc Mơ vào trong tập nhạc PolnaRêve và ý tưởng ‘‘Cách mạng tình dục’’ trên album live PolnaRévolution.

Mùa xuân năm 1972, Michel Polnareff sáng tác một giai điệu chưa có lời mà ông đặt tên là Falling Days, gợi lên không khí mùa hè qua cái hình tượng ‘‘Ngày Tàn Nắng Rơi’’. Tác giả Jean-Loup Dabadie được giao trách nhiệm đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc này. Một công việc mà ban đầu tưởng dễ nhưng loay hoay mãi ông vẫn không tìm ra được ý tưởng chủ đạo.

Cho tới cái ngày ông thấy chữ Holidays trên quảng cáo truyền hình : một chữ tiếng Anh nhưng lại khá quen thuộc đối với người Pháp. Từ ý tưởng của một kỳ nghỉ hè, tác giả Dabadie viết ra một câu chuyện (giống như một bộ) phim không phải để kể lại kỷ niệm của một chuyến đi, mà lại gọi mời người nghe thả hồn phiêu lưu vào cõi mơ, hình dung ra những chân trời xa xăm, mênh mông sa mạc, bao la sóng biển.

Theo tác giả Jean-Loup Dabadie, chỉ có điều là Michel Polnareff rất ghét đi máy bay, nỗi sợ hãi đó không những tạo ra rào cản tâm lý mà còn gây trở ngại cho việc xuất ngoại để quảng bá các album. Điển hình là các tập nhạc đầu tay được giới phê bình tán thưởng, nhưng Polnareff sẽ không bay sang Hoa Kỳ để quảng bá cho các album của mình.

Michel Polnareff quyết định sang Mỹ vào tháng 10 năm 1973, nhưng anh lại đi bằng du thuyền qua đường biển, chứ không đi máy bay. Một chuyến đi mà ông không biết có ngày nào trở lại, đánh dấu thời kỳ Polnareff bắt đầu cuộc sống lưu vong, ông bị sạt nghiệp cháy túi, nợ thuế chồng chất do bị manager lừa đảo. Michel Polnareff mất hơn mười năm để giải quyết vấn đề, trở lại Pháp mà không sợ bị bắt về tội ‘‘trốn thuế’’. Giai đoạn này đã để lại cho Polnareff nhiều kỷ niệm hết sức buồn đau, do thân mẫu của ông cũng qua đời do bạo bệnh. Tuy sau đó Michel Polnareff vẫn sống ở Mỹ và trở lại Pháp để biểu diễn hay ghi âm, nhưng thành công không còn được liên tục đều đặn như xưa.

Trở lại với bản nhạc Holidays, tác giả Jean-Loup Dabadie cho biết bản nhạc Holidays đã được ghi âm với dàn nhạc hoà tấu của Graham Preskett, và trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất của Michel Polnareff. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha (tựa đề là Vacaciones) ghi trên đĩa nhựa 45 vòng trở thành một món sưu tầm qúy hiếm do ít được phổ biến, nay trị giá năm ngàn euros một bản. Holidays sau này từng được ghi âm lại, kể cả phiên bản của Pascal Obispo. Trong tiếng Việt, bài Holidays được đặt tựa là Ngày vui chóng qua, theo ghi chép của một số nguồn tin, tác giả Mộ Dung là người đã viết lời Việt cho bài này.

Bản thân Michel Polnareff rất thích nội dung bài hát Holidays : một người có thể ghét đi máy bay những vẫn có thể thả hồn chu du bốn bể, tựa như mạn thuyền lướt sóng mơ mộng, thả gió lộng cho mây bay bềnh bồng.

Thay vì dùng hình tượng ‘‘Ngày Tàn Nắng Rơi’’ (Falling Days), Holidays lại chấp cánh bay bỗng nhờ giọng hát thánh thót cao vút của Polnareff. Lối hoà âm phiêu diêu như thể thoát khỏi trọng lực và sức hút, mở ra cuộc hành trình bất động tưởng chừng như không bao giờ kết thúc, bất tận giữa chốn tình ca mùa hạ, miên man trong cõi thụy du điệp khúc.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1473 Posted : Tuesday, December 15, 2020 1:46:10 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

J.F. Michael: Vẫn bất hủ với « Adieu Jolie Candy »

Thanh Phương - RFI
Trong số những ca khúc của Pháp từng được cả thế giới biết đến và cho tới nay vẫn là một trong những bản nhạc bất hủ, chúng ta phải kể đến « Adieu Jolie Candy » của thời thập niên 1960, một ca khúc gắn liền với tên tuổi của Jean-François Michael.

Nhạc của « Adieu Jolie Candy » là do nhạc sĩ Raymond Jannot soạn ra, nhưng lời bài hát là do hai tác giả Alain Boublil và Michel Hursel viết.

Michel Hursel chính là một trong những biệt danh của ca nhạc sĩ đã quá cố Michel Berger (1947 -1992), tác giả nhiều ca khúc cho những danh ca như Johnny Halliday, Véronique Sanson, Françoise Hardy hay France Gall, người vợ cuối của ông, cũng như tác giả của một số vở ca nhạc kịch và rất nhiều nhạc phim.

Còn Alain Boublil, người Tunisia, cũng là một tác giả rất quen thuộc trong làng nhạc Pháp, vì ông không những đã sáng tác nhiều ca khúc cho các ca sĩ Pháp thời thập niên 1960, mà còn đã cộng tác với ca nhạc sĩ Claude Michel Schonberg để viết nhiều vở ca nhạc kịch nổi tiếng như La Révolution française (1973), Les Misérables (1980), Miss Saigon (1991) ….

« Adieu Jolie Candy » đã được Jean-François Michael trình bày lần đầu tiên vào năm 1968, khi còn là giám đốc nghệ thuật cho hãng dĩa Barclays. Ngay lập tức, bài hát này đã lôi cuốn ngay khán giả Pháp và chẳng mấy chốc đã trở thành ca khúc nổi tiếng toàn cầu và kể từ đó tên tuổi J.F Michael gắn liền với « Adieu Jolie Candy ».

Nội dung « Adieu Jolie Candy » mô tả tâm trạng của một chàng trai đến sân bay Orly, Paris, buồn bã tiễn đưa người yêu Candy, cô gái người Anh, về nước sau kỳ nghỉ hè tại Pháp. Anh băn khoăn không biết Candy sẽ còn nhớ đến anh hay không, riêng anh thì anh sẽ không bao giờ quên nụ cười của người yêu, nhớ cả những lỗi tiếng Pháp của của nàng.

J. F. Michael sinh năm 1946, có tên thật là Yves Roze, đã đi hát từ năm 1965 và đến năm 1968 mới lấy nghệ danh là J.F. Michael, khi ông trình bày ca khúc "Adieu Jolie Candy". Trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, J.F Michael đã thâu nhiều dĩa 45 tours và 3 album, nhưng vì bị bệnh nặng nên ông đã phải bỏ dở sự nghiệp ca sĩ. Đến năm 1975, ông chuyển sang làm nghề đạo diễn và nhà sản xuất dĩa. Tuy vậy, cho đến những năm gần đây, J.F. Michael thỉnh thoảng vẫn đi trình diễn đây đó ở Pháp và ở nước ngoài, đồng thời tham gia những chương trình ca nhạc quy tụ những ngôi sao thời thập niên 60-70.

Nhờ giọng ca của J.F. Michael mà « Adieu Jolie Candy » đã đi khắp thế giới và dĩ nhiên bài hát này cũng đã nhanh chóng được du nhập vào miền Nam Việt Nam, vì thời ấy công chúng rất ưa chuộng nhạc Pháp. « Adieu Jolie Candy » được chuyển ngữ sang tiếng Việt thành ca khúc « Tiễn em nơi phi trường », thường được trình bày qua giọng ca của Elvis Phương.

Ngoài « Adieu Jolie Candy », J.J. Michael còn được nhiều người biết đến qua những ca khúc trữ tình khác, như « Si l’amour existe encore » ( 1974 ) hay « Coupable » ( 1973 ), cũng rất quen thuộc với công chúng Việt Nam.

Cũng giống các bộ phim, có tập một thì phải có tập hai, năm 1984, J.F. Michael viết ca khúc tiếp nối « Adieu Jolie Candy », mà ông đặt tựa là « Rappelle-toi Candy », nhắc lại những kỷ niệm với nàng Candy. Nhưng bài hát này đã nhanh chóng đi vào quên lãng.

Gác micro sang một bên, J.F. Michael trong nhiều năm trời đã làm giám đốc nghệ thuật cho nhiều nghệ sĩ khác, và đặc biệt đã sản xuất bài hát rất ăn khách của nữ ca sĩ-công nương Stéphanie xứ Monaco, « Comme un ouragan ».

Nay đã bước qua tuổi 71, J.F. Michael nay đang phải chiến đấu với bệnh tật ngặt nghèo. Từ đầu thập niên 2010, ông bị một căn bệnh có tên là bệnh Waldenstrom, một dạng rất hiếm của ung thư tủy xương. Chính vì căn bệnh quái ác này, mà J.F. Michael đã phải hủy bỏ nhiều chuyến lưu diễn ở nước ngoài, trong đó có chuyến lưu diễn mà ông đã dự trù cho Việt Nam, nơi mà chắc chắc ông sẽ được khán giả đón tiếp nồng nhiệt và ai cũng ước ao được nghe chính J.F. Michael trình bày ca khúc bất hủ « Adieu Jolie Candy ».

Lời bài hát « Adieu Jolie Candy »

Adieu jolie candy
c'est à Orly que finissent les vacances à Paris
Adieu jolie candy
une voix t'appelle,
C'est l'heure déjà de t'en aller
Dans cette avion qui t'emmène vers l'Angleterre
Adieu jolie candy
Tu m'écriras
Tu le dis mais on dit toujours ça
Adieu jolie candy
Je regretterai ton sourire et tes fautes de français
Mais cette avion te ramène en Angleterre
Adieu jolie candy
Adieu jolie candy
Je deviendrai un souvenir une photo de vacance
Adieu jolie candy
Celui qui t'aime, la bas il a bien de la chance
Adieu Candy
Adieu
Adieu
Adieu jolie candy
c'est à Orly que finissent les vacances à Paris
Adieu jolie candy
une voix t'appelle,
C'est l'heure déjà de t'en aller
Dans cette avion qui t'emmène vers l'Angleterre
Adieu jolie candy
Tu m'écriras
Tu le dis mais on dit toujours ça
Adieu jolie candy
Je regretterai ton sourire et tes fautes de français
Mais cette avion te ramène en Angleterre
Adieu jolie candy
Adieu jolie candy
Je deviendrai un souvenir une photo de vacance
Adieu jolie candy
Celui qui t'aime, là-bas il a bien de la chance
Adieu Candy
Adieu
Adieu


Lời bài hát « Rappelle-toi Candy »

Rappelle-toi, Candy
Tous les deux,
Soixante-huit, l´été,
Les jours bleus
L´adieu à Orly
Tu rentrais là-bas, en Angleterre

Rappelle-toi, Candy
Cette musique,
On aimait ce slow
Nostalgique
Et je pense encore à toi
Oui! Je pense comme si c´était hier
Tu aimais tant Paris,
Les jardins du Luxembourg

On avait le coeur-folie
A coups de "Je t´aime"
De grand amour
Tu te moquais de moi
Quand je prenais l´accent anglais
Et je riais de toi
Quand tu imitais les Français

Rappelle-toi Candy
Les vacances,
Tu pleurais
En quittant la France
On s´était juré de s´écrire
Et de ne jamais s´oublier

Si le temps, Candy,
Nous a séparé
Moi, je ne t´ai jamais,
Jamais oubliée
Et quand je pense encore à nous,
J´ai le coeur serré, je te l´avoue


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1474 Posted : Wednesday, December 16, 2020 1:40:57 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Sealed With a Kiss, phiên bản tiếng Pháp

Tuấn Thảo - RFI
Trong làng nhạc Pháp, tình khúc Derniers Baisers (Những nụ hôn cuối cùng) là một trong những ca khúc hiếm hoi, ba lần lập kỷ lục số bán trên thị trường. Đây là phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm Sealed With A Kiss rất quen thuộc từ những năm 1960. Giới trẻ ở Pháp thời nay biết đến bài này chủ yếu qua phiên bản của Laurent Voulzy, ghi âm vào năm 2006. Thế nhưng ít ai còn nhớ ai là người đầu tiên hát bài này trong tiếng Pháp.

Người từng đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc Sealed With A Kiss là tác giả quá cố Pierre Saka (1921-2010). Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris trong một gia đình nghèo, ông có hai dòng máu : mẹ là người Pháp, bố là một thợ may người Hy Lạp nguyên quán ở đảo Crète, cho nên sau này khi sáng tác ông cũng thường lấy bút danh là Jean Michal Crétois. Thời còn trẻ, ông làm việc cho đài phát thanh (Radio Luxembourg) trước khi chuyển qua sáng tác và viết lách từ những năm 1950.

Pierre Saka thành danh nhờ tài đặt lời, ca từ chẳng những hợp với ngữ điệu tiếng Pháp mà còn gần giống với nội dung nguyên tác. Ông dễ dàng kiếm sống vào cái thời bùng phát phong trào nhạc trẻ những năm 1960. Hầu hết các thần tượng nhạc trẻ thời bấy giờ đều có ghi âm các bản nhạc Pháp phóng tác từ các ca khúc từng ăn khách trên thị trường Anh Mỹ. Trong suốt những năm 1960, Pierre Saka đặt thêm lời Pháp cho các ca sĩ như Sylvie Vartan, Richard Anthony, Eddy Mitchell, Nicoletta, Frank Alamo ……

Trong quyển hồi ký mang tựa đề ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), Pierre Saka kể lại những giai thoại xung quanh ca khúc này. Bản nhạc gốc Sealed With a Kiss do hai tác giả Mỹ Peter Udell và Gary Gell sáng tác vào năm 1960, khai thác dòng nhạc pop dành cho giới trẻ trước khi có hiện tượng The Beatles và làn sóng pop rock từ Anh Quốc đổ ập vào nước Mỹ.

Trong nguyên tác, nhạc phẩm Sealed With A Kiss mang ý nghĩa của một lời tạm biệt với mối tình đầu đời. Một cặp tình nhân phải chia tay sau khi gặp nhau nhân kỳ nghỉ hè, họ hẹn gặp lại vào mùa tựu trường. Chàng trai hứa sẽ viết cho cô gái mỗi ngày một lá thư để thỏa niềm thương nhớ, để khuất lấp nỗi cô đơn. Chàng trai dùng nụ hôn để “dán lại” mỗi bức thư tình.

The Four Voices là nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, phong cách của họ gần giống với bộ tứ The Brothers Four cực kỳ ăn khách thời bấy giờ với nhạc phẩm Greenfields và sau đó là The Green Leaves of Summer. Hai năm sau khi thất bại với Sealed With A Kiss, nhóm The Four Voices rã đám, nhưng bài hát này lại ăn khách nhờ một bản phối mới qua tiếng hát của Brian Hyland, ăn khách tại Hoa Kỳ cũng như tại Anh. Bản nhạc này sau đó đã có hàng trăm phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, Hoa, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha hay tiếng Đức.

Pierre Saka đặt lời tiếng Pháp cho bài này mà ban đầu được dành cho ca sĩ Nancy Holloway. Nhưng rốt cuộc ban nhạc trẻ Les Chats Sauvages lại trở thành nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Vào thời ấy, ca sĩ chính là Dick Rivers vừa mới tách ra khỏi nhóm, điều đó buộc hãng đĩa Pathé Marconi phải tuyển lựa ca sĩ mới để thay thế. Xuất thân từ thành phố Toulouse, ca sĩ Mike Shannon (tên thật là Michel Simonet) trở thành giọng ca chính của nhóm Les Chats Sauvages.

Bản nhạc Derniers Baisers trở thành ca khúc ăn khách nhất của họ với hơn hai triệu bản bán chạy, và trở thành tình khúc mùa hè năm 1963. Thế nhưng, những bất đồng nội bộ khiến cho nhóm Les Chats Sauvages phải chia tay nhau vào năm 1964. Tên tuổi của Mike Shannon hầu như chìm vào quên lãng, và khi nhắc tới bài Derniers Baisers, nhiều người lại tưởng lầm rằng ca khúc này do Dick Rivers ghi âm, do anh là ca sĩ chính đầu tiên của nhóm.

Phiên bản tiếng Pháp của Sealed With A Kiss ba lần lập kỷ lục số bán : sau Mike Shannon vào năm 1963, bài hát ăn khách lần thứ nhì vào năm 1986 với phiên bản của C. Jérôme với lối hoà âm theo kiểu pop ballad những năm 1980. Tới năm 2006, trên album đề tựa ‘‘Làn sóng thứ bảy’’ (La Septième Vague), Laurent Voulzy giành lấy hạng đầu thị trường Pháp, Bỉ, Luxembourg, Thụy Sĩ nhờ một bản phối rất mộc của bài Derniers Baisers theo điệu bossa nova.

Còn trong tiếng Việt, bài Sealed With A Kiss có ít nhất hai lời khác nhau. Lời đầu tiên là của tác giả Trường Hải, việt hóa bài hát tiếng Anh thành Hạ Vàng Biển Xanh : danh ca Khánh Ly từng ghi âm bài này trước năm 1975. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ. Sealed With a Kiss trở thành Tình Yêu Trong Đời, trước đây do ca sĩ Trúc Mai ghi âm, sau đó có thêm nhiều bản cover của Don Hồ hay qua phần song ca của Duy Quang & Như Mai.

Tại Việt Nam, Sealed With a Kiss rất quen thuộc với người nghe, nhờ ca từ mộc mạc dễ thuộc, lời lẽ bình dị dễ nhớ, nên đã trở thành một trong những bài hát dạy học tiếng Anh thông dụng nhất. Về phần Pierrre Saka, trong quyển hồi ký đề tựa ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), tác giả ghi nhận là những ca khúc tuyệt đẹp thường hay lắng đọng trong tiềm thức để rồi bất chợt ùa về với bao kỷ niệm. Tất cả mọi chuyện đến một lúc nào đó đều sẽ qua đi, mong sao những giai điệu đẹp vẫn luôn trẻ mãi, sống hoài theo năm tháng, như thể thời gian tạm dừng chân, giữa một mùa hè bất tận.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1475 Posted : Saturday, December 19, 2020 12:49:49 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Cher - Tuổi nghỉ hưu còn xa

Gia Trình - RFI - 19/12/2020
Ở tuổi 74, ca sỹ kiêm diễn viên Cher vẫn sung mãn và năng lượng cho các show trình diễn quy mô lớn. Nếu thưởng lãm Cher trình diễn trên sân khấu, không ai dám nghĩ một nữ danh ca ở tuổi bà ngoại lại có thể trình diễn nhiệt huyết đến vậy.

Tỏa sáng năm đại dịch năm 2020

Bóng đêm của dịch bệnh năm 2020 không phải là lý do chính đáng để Cher nghỉ ngơi. Cher phải hủy nhiểu buổi diễn trong tour Here we go again trên khắp nước Mỹ, đặc biệt show ngày 12 tháng 3 tại Oklahoma do một nhạc công chơi jazz nhiễm virus. Cách ly tại nhà nhưng giọng ca của Believe đẩy mạnh hoạt động xã hội trên bình diện rộng. Cher là một nghệ sỹ giải trí hàng đầu với gu thời trang dị thường, khuấy động không gian bằng những bản nhạc dance/pop sôi động.

“Tôi biết mình cần phải làm gì. Tôi đã bắt đầu học và nghe thử bản nhạc khi tôi ở Anh năm ngoái nhưng nó rất khó”. Bản nhạc Chiquitita bất hủ của nhóm ABBA, ra đời năm 1979 được Cher thể hiện chính thức ra mắt vào tháng 5/2020. Ca sỹ sinh năm 1946 đã phát hành bản cover bằng tiếng Tây Ban Nha để ủng hỗ tổ chức UNICEF. Cher ghi hình video tại nhà riêng và sau đó ghép với phần dựng trẻ em trên toàn thế giới. Tiết lộ với báo giới, cô nói : “Một trải nghiệm tuyệt vời đầy lạc quan. Điều này thực sự tích cực trong bối cảnh hỗn loạn chúng ta đang sống chung.” Không những vậy, cô còn tham gia với các nghệ sỹ khác như Kylie Minogue, Robbie Williams trong bản thu thanh Stop Crying Your Heart Out cho BBC Children.

Gần đây, Cher còn bay sang tận Pakistan để giúp chú voi cô đơn Kavaan tìm được tổ ấm mới tại khu bảo vệ động vật hoang dã tại Campuchia. Mọi chuyện không chỉ dừng ở đó. Ca sỹ đoạt giải Grammy còn sáng lập ra quỹ từ thiện CherCares CCPRRI (Sáng kiến Phản hồi và Nguồn lực cho Đại Dịch) với tiến sỹ Irwin Redlener trường đại học Colombia. Kế hoạch ban đầu sẽ phân bổ 1 triệu đô la Mỹ cho những người bị tác động bởi đại dịch trong ngành công nghiệp giải trí. Cùng với Dolly Parton, người tặng 1 triệu đôla cho việc nghiên cứu vac-xin, trái tim nhân hậu của nữ ca sỹ không có biên giới khi đấu tranh hết mình cho phân biệt chủng tộc, bình đẳng giới. Phải chăng dòng máu da đỏ và lực lượng fan đông đảo LGBT ủng hộ nên nữ ca sỹ 74 tuổi quên tuổi nghỉ hưu?


Nguồn năng lượng đổi mới

Mặc dù không còn xa lạ với nền công nghiệp giải trí, ở độ tuổi bà ngoại, Cher vẫn có sức hút kỳ lạ như bản nhạc dance thành công như Believe, Song for The Lonely, After All. Nữ ca sỹ biết cách hâm nóng sân khấu và giữ lửa hâm mộ cho khán giả bằng chất giọng contralto dày và khó bị nhạt nhoà.

Kể từ năm 1979, Cher tách ra hát solo và có tour diễn đầu tiên. Thành công bản hit kim cương Believe năm 1998 mở đường cho Cher lên đường với tour diễn Do You Believe? Từ 2002 đến 2005, tour diễn Living Proof: Farewell Tour (Bằng chứng sống: Tour Tạm biệt) trở thành tour diễn thành công nhất khi thu về hơn 250 triệu đô la tiền vé. Sự thành công ngoài mong đợi này khiến cho báo giới đặt câu hỏi : “Bao giờ cô ấy mới chính thức nghi hưu khi tour diễn mang tên Tạm Biệt?”. Tiêu thụ hơn 100 triệu đĩa hát trên toàn cầu, khó ai tin rằng đây là kỷ lục của nữ ca sỹ ở tuổi 70 ko phải là tuổi 17.

Vì sao sự tạm biệt của nữ thánh nhạc pop lại thu hút công chúng đến vậy? Có phải Cher là ngôi sao đa diện, thành công trên nhiều lĩnh vực? Không chỉ ca hát, Cher lấn sân sang điện ảnh, phim truyền hình. Cô từng đoạt giải Oscar xuất sắc nhất trong phim Moonstruck năm 1987. Đây là kỷ lục hiếm có của một siêu sao ca nhạc khiêm diễn viên điện ảnh, lịch sử chỉ ghi nhận siêu sao Barbara Streisand mới sánh ngang với cô. Ngoài ra, cùng với người chồng cũ, Sonny, Cher từng tham gia show truyền hình kênh CBS The Sonny and Cher Comedy Hour với hơn 30 triệu lượt xem hàng tuần trong những năm 70.

Năm 2010, Cher quay trở lại phim ảnh với phim ca nhạc Burlesque sau nhiều năm vắng bóng ở thể loại musical. Theo đà tiếp diễn, sự hóa thân của Cher trong vai bà nội của cô gái trẻ Sophie trong phần 2 phim ca nhạc Mama Mia: Here we go again là điểm nhấn xuất sắc. Hai ca khúc Cher thể hiện lại của nhóm ABBA là Fernando và Super Truper được Bjorn, thành viên nhóm ABBA khen hết lời. Anh nói : “Giờ đây Fernado thuộc về cô ấy”. Điều đó chứng minh rằng Cher không ngại đổi mới và đôi khi sự đổi mới gây kinh ngạc cho người xem như những trang phục kỳ dị, táo bạo tốn nhiều giấy mực.

Từ phụ thuộc đến độc lập

Thành công của Cher không thể thiếu vai trò dẫn dắt của người chồng đầu tiên Sonny Bono. Họ là bạn bè, tình nhân, vợ chồng để tạo nên bản hit I got you babe (Giờ anh đã có em). Bản nhạc sản xuất năm 1965 lên hạng 1 Bảng xếp hạng Billboard. Cú hích đầu tiên đã mở đường cho Cher phát triển sự nghiệp solo song song với hát song ca với người chồng. Hàng loạt hit tiếp nối như Bang Bang (My Baby Shot me Down) trong thập niên 60. Bước sang thập niên 70, tên tuổi Cher và Bono trở nên mờ nhạt trước làn sóng heavy rock với âm thanh mạnh mẽ của Led Zeppelin, Eric Clapton, bên cạnh trào lưu giải phóng tình dục và bài trừ ma túy.

Hôn nhân với Bono trục trặc nhưng họ vẫn sát cánh bên nhau trong 4 album xuất bản liên tiếp trong thập niên 70. Ly dị với người chồng Sonny, Cher đã có mối quan hệ dài 2 năm với nhà sản xuất âm nhạc David Geoffen. Nhờ có điều kiện này, cô ký hợp đồng mới Warner Bros, David định biến Cher thành ngôi sao nhạc rock thay vì ca sỹ pop đơn thuần. Ý tưởng này thất bại cho dù Cher khám phá nhiều thể loại khác nhau.

Sự nghiệp âm nhạc chìm lắng từ khi xa rời Bono, nhưng con đường đến với màn bạc của Cher thênh thang rộng mở từ cuối thập niên 70 đến cuối thập niên 80. Năm 1988, cô được coi là một trong các ngôi sao kiếm tiền nhiều nhất Hollywood với cát-xê 1 triệu đô la một phim truyện (tại thời giá lúc đó).

Tuy nhiên, sự kiên trì không bao giờ thiếu đối với Cher. Cô quay trở lại với âm nhạc với bản hợp đồng năm 1987 với hãng Geffen Records. Sau đó, bản hit If I could turn back time năm 1989 thành công vang dội về thương mại, bất chấp chỉ trích trang phục thiếu vải, biểu diễn trên chiến hạm USS Missouri.

Gần 10 năm sau, ở độ tuổi xấp xỉ lục tuần, bản hit Believe lại oanh tạc các bảng xếp hạng trên toàn cầu. Ca khúc mang lại giải Grammy cho Ghi âm Dance xuất sắc nhất, tiêu thụ hơn 1,8 triệu bản trên khắp nước Mỹ. Believe tạo dựng kỷ lục đối với nghệ sỹ nữ tại Anh và Mỹ. Bài hát giai điệu lôi cuốn, phối khí trẻ trung, và kỹ thuật làm méo tiếng đến mức người ta gọi là hiệu ứng Cher.

Nhìn tổng thể, Cher trẻ trung rất nhiều so với tuổi thật và chất giọng cô bền màu theo năm tháng. Nhờ Believe, cô định hình tốt hơn gu âm nhạc và tập trung vào pop/disco là điểm mạnh, hơn là tấn công tràn lan sang các thể loại khác.

Không chi nối tiếng với âm nhạc, phim ảnh, Cher còn nổi tiếng về đời sống cá nhân. Hình xăm tranh cãi, gu thời trang phô diễn, phẫu thuật thẩm mỹ và những mối tình với trai trẻ như Val Kilmer, Tom Cruise, tay guitar nhóm Bon Jovi Richie Sambora. Phải chăng đó là thứ xúc tác, hay gia vị cần thiết cho đầu bếp nghệ thuật cừ khôi như Cher?

Thú vị hơn nữa, mỗi khi Cher nhấn mạnh đây là tour diễn cuối cùng của cô kể từ năm 2002, lịch diễn của cô ngày càng dầy thêm. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng tuổi nghỉ hưu với người đàn bà hát 74 tuổi còn rất xa vời!

(Theo Los Angeles Times, Billboard, Variety)


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1476 Posted : Tuesday, December 22, 2020 12:55:12 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

100 năm ngày sinh của thiên tài Charlie Parker

Tuấn Thảo - RFI - 22/12/2020
Nói rằng Charlie Parker là một trong những nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20, có lẽ vẫn còn chưa đủ. Nhờ vào tài nghệ sáng tác và chơi kèn saxo, Charlie Parker là người đã thay đổi diện mạo của làng nhạc jazz vào đầu những năm 1940. Nỗ lực cách tân ấy vẫn tồn tại cho đến tận bây giờ. Nếu còn sống, Charlie Parker năm nay sẽ tròn 100 tuổi.


Sinh trưởng trong một gia đình nghèo tại Kansas City (bang Missouri, miền nam Hoa Kỳ), Charlie Parker thừa hưởng từ nhỏ năng khiếu chơi đàn dương cầm của thân phụ. Ông học kèn saxo alto từ năm 11 tuổi, với khát vọng gia nhập sau này một dàn nhạc chuyên nghiệp, lưu diễn ở khắp nơi để thỏa mãn giấc mộng ‘‘hải hồ’’. Vào thuở thiếu thời, Charlie Parker đã tham gia vào rất nhiều phiên biểu diễn nhạc jazz để thi thố tài năng (jam session). Cũng từ đó mà Charlie Parker được các đồng nghiệp mệnh danh là ‘‘Bird’’ rút gọn từ chữ ‘‘YardBird’’, trong tiếng lóng có nghĩa là tân binh, lính mới.

Tuổi trẻ tài cao, ngựa non háu đá. Tài nghệ chơi kèn saxo của ông được công nhận là hiếm thấy, nhưng Charlie Parker lúc bấy giờ vẫn chưa được rèn luyện tới nơi tới chốn, ít ra kỹ thuật vẫn chưa đủ tầm bay xa để phát huy trọn vẹn tham vọng nghệ thuật cao vời. Diễn viên kiêm đạo diễn kỳ cựu Clint Eastwood là người đã giải mã bí mật của hiện tượng Charlie Parker. Trong bộ phim tiểu sử (biopic) quay vào năm 1988, dành cho nghệ sĩ nhạc jazz với tựa đề ngắn gọn là ‘‘Bird’’, đạo diễn Clint Eastwood đã khéo lột tả cái khoảnh khắc để đời, khiến cho Charlie Parker vươn lên hàng thiên tài.

‘‘Tân binh’’ lại vượt xa các kiện tướng

Vào năm 16 tuổi, Charlie Parker tham gia cuộc thi do tay trống Jo Jones tổ chức cho dàn nhạc Count Basie Orchestra tại Kansas City. Count Basie (1904-1984) từng nổi tiếng nhờ tài chơi dương cầm và đồng thời là một trong những nhạc trưởng quan trọng nhất làng nhạc jazz thời bấy giờ. Tham vọng thì cao nhưng tay nghề còn non, Charlie Parker bị hụt hơi, lép vế trong những pha ứng tấu với dàn nhạc. Kẻ tung quá mạnh, người hứng quá nhẹ, buổi biễu diễn trật nhịp lạc điệu, khiến cho tay trống Jo Jones nổi cơn thịnh nộ, ném đồ vào Charlie Parker và đuổi cậu thiếu niên ra khỏi sân khấu, dưới tiếng cười nhạo, chê bai của khán giả.

Trong cái giây phút định mệnh ấy, Charlie Parker tự thề nguyện rằng, kể từ nay, ông sẽ không bao giờ còn bị ai sỉ nhục trên sân khấu. Theo nhà phê bình kiêm tác giả Patrice Blanc-Francard, tác giả của quyển sách ‘‘Từ điển của những người yêu nhạc Jazz’’, Charlie Parker rời nguyên quán và trong vòng 4 tháng trời, ông đã sống cô lập, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Ông luyện tập mỗi ngày 14 tiếng đồng hồ, nghe đi nghe lại cách chơi của các ban nhạc jazz qua đĩa hát, để rồi ông chẳng những tập chơi lại một cách thuần thục mà còn đi tìm tất cả những lối biến tấu khác xung quanh một giai điệu. Sau thời gian luyện tập ấy, ông xung phong vào các ban nhạc lưu diễn, dù chỉ là để chơi thay thế, dù chẳng có hợp đồng biểu diễn nào. Ông chịu khó chờ thời, nhịn đói cầm hơi, ngủ bờ ngủ bụi, miễn là có cơ hội thử lửa trên sân khấu cho đến cái ngày rực rỡ tỏa sáng.

Đến khi trở lại nguyên quán, tài năng của Charlie Parker đã thật sự chín muồi. Từ vị trí của một lính mới, chàng Bird ngày nào thực hiện cú đột phá ngoạn mục, dù chỉ mới tròn đôi mươi. Charlie Parker đã thay đổi hẳn lối tiếp cận nhạc jazz, tài nghệ của anh ‘‘tân binh’’ lại vượt xa tất cả các nghệ sĩ saxophone khác cùng thời thuộc vào hàng kiện tướng. Theo nhà phê bình Patrice Blanc-Francard giải thích, vào giai đoạn những năm 1941-1942, Charlie Parker đã thực hiện cuộc ‘‘cách mạng đầu tiên’’ trong làng nhạc jazz. Cùng với Dizzy Gillespie và Thelonious Monk, Charlie Parker đã hình thành phong trào bebop, khiến cho các nghệ sĩ đàn anh là Benny Goodman hay là Count Basie với sở trường là swing, cũng như các nhạc trưởng chuyên điều khiển các dàn nhạc big band, hầu như đều trở nên lỗi thời.

Ngẫu hứng bất tuyệt, ứng tấu trường thiên

Nổi danh từ năm 1943-1944 trở đi, Charlie Parker được công nhận là một tác giả thật thụ khi ông có cơ hội ghi âm các sáng tác của chính mình. Nhiều giai điệu của ông với thời gian đã trở nên kinh điển như Parker’s Mood, Bird of Paradise, Donna Lee (cùng với thiên tài Miles Davis), Shaww Nuff (cùng với nghệ sĩ Dizzy Gillespie), Scrapple from the Apple, Now’s the Time hay là tổ khúc lừng danh Yarbird Suite …

Ngoài cái tài soạn giai điệu, Charlie Parker còn có một cách chơi kèn saxo rất khác biệt phi thường, cách nén hơi để nắm bắt và giữ chặt nốt nhạc trước các đoạn ứng tấu trường thiên. Trước Charlie Parker, không ai có đủ làn hơi sâu và dày để tách các nốt nhạc ra thành từng cụm gắn chặt tựa những ‘‘cụm tuyết’’, để rồi từ đó ông trỗ tài ngẫu hứng biến tấu liên miên bất tuyệt, tạo cho giai điệu tuần hoàn nỗi da diết miên man. Sau Charlie Parker, phải đợi đến hơn một thập niên mới, công chúng tìm thấy một nghệ sĩ xứng đáng thừa kế là John Coltrane (1926-1967), nhưng vẫn thuộc vào hàng hậu bối.

Giống như những vì sao băng khác trong làng nhạc, chẳng hạn như Robert Johnson (1911-1938) hay là Jimi Hendrix (1942-1970), cả hai đều chết sớm ở tuổi 27 nhưng nổi tiếng nhờ tài chơi đàn ghi ta, sự nghiệp của Charlie Parker khá là ngắn ngủi, do chứng nghiện rượu và ma túy. Tuy chỉ kéo dài trong khoảng một thập niên, nhưng các sáng tác của ông vẫn có nhiều giá trị, đủ để lại một dấu ấn không thể phai mờ.

Chương trình 100 năm ngày sinh của ‘‘Bird’’

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Charlie ‘‘Bird’’ Parker, đài phát thanh Pháp TSF Jazz dành một loạt chương trình đặc biệt cho nhạc sĩ này. Bộ phim ‘‘Bird’’ của Clint Eastwood cũng được tái bản với một phiên bản mở rộng với phỏng vấn và phim tư liệu. Hãng đĩa ‘‘Chant du Monde’’ cũng xuất bản một tuyển tập chọn lọc gồm 24 bản nhạc thu thanh trực tiếp ‘‘hoàn chỉnh’’. Nhưng quan trọng hơn hết là bộ toàn tập gồm tổng cộng 131 bản nhạc ghi âm trên 10 cuộn CD với chủ đề ‘‘Now's The Time’’.

Khu vườn âm nhạc có nhiều loài hoa thơm cỏ lạ, trong số đó Charlie Parker xuất hiện như một đóa ‘‘tà hoa’’ do ông bị nghiện ma túy từ thời còn trẻ. Suốt đời, ông đã buộc phải nhiều lần tự nhốt lỏng trong các trung tâm cai nghiện, tìm đủ mọi cách để một lần nữa tránh sa ngã trước cám dỗ, phấn đấu để vượt qua sự yếu đuối của bản thân.

Rốt cuộc, Charlie Parker đã vĩnh viễn ra đi qua sớm chỉ ở tuổi 34, nhưng theo giới bác sĩ, cơ thể của ông lúc qua đời, lại già cỗi như một người trên 60 tuổi. Thế nhưng đóa ‘‘tà hoa’’ qúy hiếm ấy giữa hai khoảnh khắc bất hạnh, lại biết thổi vào đời bao nốt trầm nhức nhối, khi kiếp người ngắn ngủi bất chợt được thiên hứng, bỗng dưng phủ bóng ngậm ngùi.



thanks 1 user thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
hongvulannhi on 12/24/2020(UTC)
hongvulannhi  
#1477 Posted : Thursday, December 24, 2020 2:35:04 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,376

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
UserPostedImage


MERRY CHRISTMAS

Chúc các bạn và độc giả thầm lặng & Gia đình
Hưởng mùa Giáng Sinh tràn đầy Hồng ân,
tràn đầy niềm vui, sức khỏe, đầm ấm bên gia đình và người thân.

HONG VU LAN NHI

Edited by user Thursday, December 24, 2020 3:23:32 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 12/25/2020(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1478 Posted : Friday, December 25, 2020 9:18:13 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

Nhạc sỹ Lam Phương qua đời trong niềm tiếc thương của công chúng

Ngọc Lễ / VOA - 24/12/2020
Nhạc sỹ Lam Phương, người được xem là một trong những đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, vừa qua đời ở miền Nam California, Hoa Kỳ, ở tuổi 83 sau nhiều năm chống chọi bệnh tật. Sự ra đi của ông đã khiến mạng xã hội tràn ngập những thông điệp tiếc thương.

Tin từ gia đình nhạc sỹ Lam Phương cho biết ông qua đời vào chiều tối thứ Ba ngày 22/12 tại một bệnh viện ở thành phố Fountain Valley, quận Cam, California. Đã nhiều năm qua, ông bị tai biến khiến cho việc đi lại và nói chuyện khó khăn. Cách nay vài ngày, ông nhập viện cấp cứu vì bệnh tim và tai biến mạch máu não.

Thông tin ban đầu từ gia đình cho biết sẽ có lễ tang và lễ tưởng niệm Lam Phương ở cả Mỹ và Việt Nam. Tuy nhiên, do tình hình dịch Covid-19 đang bùng phát dữ dội ở California nên đám tang của ông cũng phải tuân thủ một số hạn chế phòng dịch.

‘Tượng đài âm nhạc Việt Nam’

Lam Phương, sinh năm 1937 tại Rạch Giá, Kiên Giang, trong một gia đình gốc người Minh Hương chạy trốn nhà Thanh từ Trung Quốc sang Việt Nam. Ông là một trong những nhạc sỹ được công chúng biết đến nhiều nhất và có số đĩa hát được tiêu thụ thuộc hàng cao nhất.

Sáng tác của ông trải rộng trên nhiều chủ đề từ thân phận con người, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương cho đến đời lính chiến. Tổng cộng, ông đã viết trên 200 bài hát, trong đó có những bài hết sức nổi tiếng được công chúng thuộc lòng như: Thành phố Buồn, Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Duyên Kiếp, Khúc Ca Ngày Mùa, Biển Tình, Nắng Đẹp Miền Nam, Đoàn Người Lữ Thứ, Tình Anh Lính Chiến, Đường Về Quê Hương, Phút Cuối, Tình Bơ Vơ, Xin Thời Gian Qua Mau, Chuyện Buồn Ngày Xuân…

Tin tức về sự ra đi của ông đã nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và gây xúc động mạnh.

“Dòng nhạc Lam Phương có sức lan tỏa rộng khắp tới mọi tầng lớp trong xã hội, được thuộc nằm lòng và yêu chuộng qua nhiều thế hệ cho đến tận bây giờ… Sự ra đi của ông là một mất mát to lớn cho nền nghệ thuật Việt Nam,” trang nhà trung tâm Thuý Nga, nơi từng thực hiện nhiều chương trình ca nhạc vinh danh ông, viết.

Một trung tâm băng nhạc khác ở hải ngoại là Asia cũng gọi sự ra đi của ông là ‘mất mát to lớn’. “Dù nhạc sỹ không còn nữa nhưng những sáng tác của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng khán giả yêu nhạc,” trung tâm Asia viết trên trang nhà.

Trên tài khoản mạng xã hội của mình, ca sỹ Thanh Tuyền đã viết những lời phân ưu vĩnh biệt Nhạc sỹ Lam Phương: “Anh ra đi nhưng dòng nhạc của anh bất tử đến ngàn năm. Tất cả mọi người đều thương Anh. Anh Lam Phương… cả một Biển Tình của Em.”

“Dòng nhạc của Chú sẽ luôn sống mãi trong tim của con, của những anh chị em nghệ sỹ và của tất cả khán thính giả,” ca sỹ trẻ Đan Nguyên viết trên Fanpage của anh.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân gọi Lam Phương là ‘ông hoàng của âm nhạc đại chúng Việt Nam’ còn ca sỹ Dương Triệu Vũ tôn vinh ông là ‘tượng đài âm nhạc Việt Nam’.

‘Lời nhạc đi vào lòng người’

Từ thành phố Hồ Chí Minh, ca sỹ Phương Dung, người có mối quan hệ thân thiết gần 60 năm với Lam Phương, nói với VOA bà ‘xúc động’ khi biết tin ông qua đời nhưng bà chấp nhận sự thật vì ‘anh Lam Phương cũng đã lớn tuổi rồi mà không thể thắng được số phận’.

“Tôi tiếc là nền âm nhạc Việt Nam mất đi một nhân tài và những bài hát của Lam Phương đã để lại trong lòng tôi nhiều xúc động, kỷ niệm và sự kính trọng,” ca sỹ Phương Dung nói.

Ca sỹ Phương Dung đã thu dĩa nhiều bài hát của nhạc sỹ Lam Phương, nhưng bà nói bà nhớ nhất là bài ‘Một mình’ vì ‘lời ca rất xúc cảm’ và bài ‘Vĩnh biệt’ mà bà thu âm trong giai đoạn 1964 – 1965 mà cho đến nay chỉ gần như một mình bà độc quyền hát bài này.

Khi mới vào nghề, ca sỹ Phương Dung từng hát cho đoàn kịch và đại nhạc hội của Lam Phương, bà cho biết.

“Lúc anh Lam Phương đàn cho đoàn kịch nói Kim Cương trong giai đoạn 61- 64, tôi hát ở rạp Thanh Bình, anh Lam Phương đàn ở dưới. Mỗi bài hát anh đàn cho tôi hát lúc nào tôi cũng có sự xúc động rất nhiều. Anh làm cho tôi thật sự dấn thân vào bài hát,” ca sỹ Phương Dung nhắc về điều bà nhớ nhất ở người nhạc sỹ vừa ra đi.

Từng đi hát chung với Lam Phương từ Nam ra tới miền Trung vào năm 1964, bà nhận xét ông là người ‘rất hiền lành’.

Nhận định về âm nhạc của Lam Phương, bà nhận xét ‘có thể ông có một cuộc tình nào đó đã in đậm trong tim ông đến tận bây giờ và đó là tài sản vô giá để ông có những bài hát đi vào lòng người’.

Bà đưa ra dẫn chứng là lời bài hát ‘Xin Thời Gian Qua Mau’ có đoạn viết: “Tám mùa đông cây rừng khô trụi lá; Chưa bao giờ một phút sống xa nhau.” “Lối viết nhạc cho tình yêu đó chỉ có anh Lam Phương mới viết được,” ca sỹ Phương Dung nhận định.

Điều mà bà tâm đắc nhất về âm nhạc của Lam Phương là ‘lời văn viết rất hay’.

“Anh viết lời làm cho người khác người ta đọc, người ta hát có cảm giác mình là nhân vật đó,” bà nói thêm.

Bà cho biết trong lần cùng nữ ca sỹ Hoàng Oanh đến thăm Lam Phương cách nay đã 10 năm tại tư gia của ông sau khi ông bị tai biến, lúc đó Lam Phương ‘đã nói chuyện hết sức khó khăn’.

Ca sỹ Phương Dung nói rằng bà sẵn sàng tham gia một chương trình tưởng niệm Nhạc sỹ Lam Phương. “Sẽ có nhiều bài mà tôi muốn chọn hát, nhưng bài mà tôi thích sẽ là ‘Một Mình’ và ‘Còn Gì Mà Mong’,” bà nói.

Sinh ra trong một gia đình nghèo khó với tên thật là Lâm Đình Phùng, nhạc sỹ Lam Phương trải qua tuổi thơ cơ cực. Ông được gia đình gửi lên Sài Gòn đi học và bén duyên với âm nhạc khi còn nhỏ. Ông có sáng tác đầu tay là bài ‘Chiều Thu Ấy’ vào năm 1950 khi mới 13 tuổi.

Bản nhạc ‘Kiếp Nghèo’ được sáng tác vào cuối những năm 1950 đã đưa tên tuổi Lam Phương lên tầm cao mới. Tuy nhiên, chính bản ‘Thành phố Buồn’ vào năm 1970 hết sức thành công đã đưa ông lên tột đỉnh danh vọng và giàu có.

Ông di tản khỏi Sài Gòn vào năm 1975 đến Mỹ và sống qua nhiều tiểu bang, từ Virginia, Texas và cuối cùng ở California. Có một khoảng thời gian 15 năm ông sang Pháp sống sau khi cuộc sống hôn nhân đầu với nghệ sỹ kịch nói Túy Hồng tan vỡ. Sau lần hôn nhân tan vỡ này, ông còn trải qua hai cuộc hôn nhân nữa trước khi bị tai biến vào năm 1999.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1479 Posted : Saturday, December 26, 2020 9:59:29 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 17,177

Thanks: 6944 times
Was thanked: 2770 time(s) in 1957 post(s)

2020 - năm của phim Giáng Sinh, dòng phim sưởi ấm trái tim người xem

Thùy Dương - RFI - 26/12/2020
Hàng năm, cứ vào cuối thu, đầu đông, khi những cơn gió lạnh về, khi trên phố bắt đầu lấp lánh, lung linh ánh đèn trang trí Giáng Sinh và đâu đó vang lên những bản nhạc Noel rộn rã, cũng là lúc mùa phim Giáng Sinh trên các kênh truyền hình được khởi động, khiến khán giả tạm quên đi những bộn bề lo âu của cuộc sống để được đắm chìm vào một thế giới khác, thế giới của tình yêu thương, lòng tốt, niềm hạnh phúc và hy vọng.

Dòng phim về những điều dung dị mà ý nghĩa

Không phải vô cớ mà cứ đến cuối năm, các đài truyền hình lại dành khá nhiều thời lượng phát sóng các bộ phim Giáng Sinh, từ những bộ phim kinh điển cho đến những bộ phim mới. Nhưng đâu là những nét đặc trưng làm nên dòng phim Giáng Sinh ? Trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ ngày 16/12/2020, nhà biên kịch Hà Anh Thu, từ Việt Nam giới thiệu :

« Phim Giáng Sinh là một dòng phim mà theo tôi nghĩ là không hề mới. Hầu hết phim Giáng Sinh đều thuộc thể loại phim hài và tình cảm. Cũng có những loạt phim hành động nhưng những phim này vẫn mang âm hưởng tính hài, tính nhẹ nhàng và cả lãng mạn nữa. Hầu hết đều có happy ending (cái kết có hậu). Cũng có những hỷ nộ ái ố, những buồn vui, những giận hờn và chia ly nhưng cuối cùng vẫn là cái kết rất có hậu và ấm áp, giống như ước nguyện của chúng ta vào mỗi dịp Giáng sinh và năm mới. Đó là mong ước về một cuộc sống hạnh phúc và tươi đẹp hơn.

Nhân vật trong phim Giáng sinh vô cùng đa dạng. Ngoài những nhân vật bình thường, những câu chuyện gia đình bình thường còn có nhân vật liên quan đến Giáng Sinh như ông già Noel, thậm chí là bà già Noel, các chàng tiên, vị thần mùa đông … Phim Giáng Sinh có rất nhiều đề tài, mà nội dung xoay quanh đó là gia đình, tình bạn, tình yêu, đặc biệt rõ rệt nhất là nhận thức thay đổi rõ rệt của các nhân vật chính trong các bộ phim Giáng Sinh. Vào phim, nhân vật chính thường là mang cảm xúc, nhận thức A, nhưng ở kết phi thì lại mang cảm xúc, nhận thức B. Sự thay đổi này chúng ta có thể đoán trước được, bởi vì hầu hết phim đều có happy ending, thế nhưng vẫn đầy sức cuốn hút và níu chúng ta lại ngồi xem đến phút cuối.

Tại sao lại như vậy ? Thứ nhất là nhạc phim. Âm nhạc trong phim Giáng Sinh đầy rộn ràng, mang đầy âm hưởng của niềm vui, nhưng cũng rất sâu lắng. Thứ hai, bối cảnh phim rất vui mắt, với màu đỏ, màu vàng của vật trang trí, màu xanh của cây thông Noel, màu trắng của tuyết, và khiến ta thấy rạo rực hơn, cảm thấy muốn ôm lấy nhau bên lò sưởi rực lửa và ấm áp. Điều thứ ba mà tôi nghĩ là có thể hấp dẫn chúng ta, đó là sự hài hước, dí dỏm trong phim Giáng Sinh. Ngoài những tình tiết rất vui nhộn, diễn xuất của diễn viên cũng khiến cho ta thấy đôi khi có những điều rất phi lý và ngớ ngẩn nhưng lại làm chúng ta cảm thấy vui, nhẹ nhõm, sảng khoái hơn.

Điều thứ tư, và theo tôi cũng là điều quan trọng nhất, đó là chuyện phim. Đặc trưng của chuyện phim Giáng Sinh là những câu chuyện vô cùng bình dị, gần gũi, chân thực, đến mức đôi khi ta thấy có cả mình trong đó, thậm chí xem phim ta có thể rút ra bài học cho mình, để mình thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Cái happy ending (kết có hậu) đóng vai trò vô cùng quan trọng, dù có bất cứ chuyện gì xảy đến thì cuộc sống vẫn luôn tươi đẹp. Nếu cánh cửa này đóng lại thì một cánh cửa khác sẽ mở ra. Cái kết của phim Giáng Sinh thì hầu hết đến 99% không chỉ là happy ending, là hạnh phúc mà còn là đầy ắp hy vọng.

Với những tinh thần tuyệt vời như vậy, phim Giáng Sinh trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu vào dịp cuối năm, khi Giáng Sinh về và chúng ta chuẩn bị đón một năm mới ».

Tại Pháp, kể từ tháng 10, đài truyền hình TF1 (với các kênh TF1 và TMC) trình chiếu không dưới 24 bộ phim Giáng Sinh mỗi tuần và kể từ ngày 14/12 vào các ngày trong tuần, mỗi ngày có 3 bộ phim Giáng Sinh được chiếu, thay vì hai phim như trước đó. Trên kênh Europe 1, ông Jonathan Escarpiado, phó giám đốc chuyên trách mua bản quyền phim của đài truyền hình TF1 cho biết từ vài năm nay, khán giả ngày càng hứng thú với dòng phim Giáng Sinh. Trung bình, vào mùa Noel, mỗi ngày đài TF1 thu hút được 1,5 triệu khán giả xem phim Giáng Sinh.

Vậy còn ở Việt Nam, phim Giáng sinh có được chiếu nhiều hay không ? Nhà biên kịch Hà Anh Thu cho biết thêm : « Ở Việt Nam cũng không khác nhiều so với những nơi khác trên thế giới. Vào thời điểm này trên các kênh truyền hình tràn ngập phim Giáng Sinh và hầu hết là phim nước ngoài. Các nhà làm phim Việt Nam có sản xuất phim mới để công chiếu vào dịp Giáng Sinh, không phải đề tài về Giáng Sinh nhưng cũng là đề tài về tình yêu, cũng xoay quanh tình bạn, tình yêu, vui nhộn, lãng mạn và mang kết đẹp, phù hợp với tinh thần Giáng Sinh ».

2020 : Năm Covid - năm của phim Giáng Sinh

2020 là năm đại dịch, năm phong tỏa, năm đau thương tang tóc cho người dân nhiều nước trên thế giới, từ Trung Quốc đến từ châu Âu, Hoa Kỳ, Mỹ La tinh … Trong bối cảnh đó, phim Giáng Sinh với chuyện phim nhẹ nhàng, tình cảm, lãng mạn với cái kết có hậu dường như là sự lựa chọn lý tưởng của các đài truyền hình để làm dịu nỗi tang thương do dịch bệnh gây ra, đưa người xem tạm thoát ra khỏi thực tại đớn đau, đầy bắt trắc, cũng như làm giảm sự nhàm chán của những tháng ngày phong tỏa dài dằng dặc.

Tại Pháp, không cần chờ đến cuối năm, mà ngay từ hồi mùa xuân, kênh truyền hình M6 đã thông báo phát lại các phim Giáng Sinh trong đợt phong tỏa đầu tiên kéo dài 2 tháng, với hy vọng mang lại không khí nhẹ nhàng, ấm cúng cho giai đoạn cuộc sống bị đảo lộn vì dịch bệnh. Tại Mỹ, kênh truyền hình Hallmark, vốn nổi tiếng với các bộ phim Giáng Sinh lãng mạn, cũng làm điều tương tự.

Theo một thăm dò ý kiến được thực hiện với 2.000 người, do trang mạng People của Mỹ tiến hành, 20% số người được hỏi đã bắt đầu xem phim Giáng Sinh ngay kể từ tháng 08, thậm chí là còn sớm hơn nữa, 37% bắt đầu xem từ tháng 09. Cuộc khảo sát của People cũng cho thấy 80% số người được hỏi khẳng định trong năm 2020 họ xem nhiều phim Giáng Sinh hơn mọi năm. 72% công nhận dòng phim này mang lại cho họ sự thoải mái.

Mạng phim Netflix ngay từ cuối tháng 09 cũng đã quảng bá chào mời khán giả xem phim Giáng Sinh mới. Các con số thống kê của các đài truyền hình cũng nói lên nhiều điều. Chẳng hạn, trên các kênh truyền hình Pháp TF1 và TMC của tập đoàn truyền hình quốc gia tư nhân TF1, phim Giáng Sinh năm nay thu hút 30% lượng người xem đối với nhóm khán giả là nữ giới dưới 50 tuổi, so với con số 22% của năm 2019. Mỗi ngày các phim Giáng Sinh thu hút khoảng 2 triệu khán giả, chiếm 21% tổng số khán giả của TF1 và TMC, con số này mọi năm là khoảng 1,5 triệu/ngày. Jonathan Escarpiado, phó giám đốc chuyên trách mua bản quyền phim của đài truyền hình TF1 gọi đó là một điều « khá đặc biệt ».

Không khí ấm áp và những điều diệu kỳ của Giáng Sinh dường như có thể sưởi ấm trái tim người dân của những nước chịu nhiều tang thương vì dịch bệnh như Mỹ và Pháp. Cũng chính vì được chiếu không chỉ vào mùa Noel nên năm 2020 còn được gọi là năm « không mùa phim Giáng Sinh », bởi cả năm 2020 là « năm của phim Giáng Sinh ».

Phim Giáng Sinh - phương thuốc giảm trầm uất

Đài BFMTV ngày 18/11/2020 dẫn lại nhận định trên NBC News của chuyên gia Mỹ về cách ứng xử, Pamela Rutledge, theo đó phim Giáng Sinh, với lối kể chuyện có thể đoán trước, lấy cảm hứng từ khuôn mẫu của những câu chuyện cổ tích, nhìn cuộc sống rất giản đơn và mang lại cho khán giả sự thoải mái và những giá trị tinh thần. Có cùng một kiểu mô-típ kịch bản, với chuyện phim giản đơn và cái kết kiểu « không thể đoán sai », nhưng với Covid, khi mọi chuyện đều trở nên khó đoán định, thì chính những điều tưởng chừng như bình thường có thể dễ gây nhàm chán cho người xem, lại khiến tâm trí chúng ta dễ chịu hơn.

Tạp chí mạng Slate phiên bản Pháp ngữ ngày 15/12/2020 trích dẫn chuyên gia trị liệu Kati Morton theo đó, « biết được điều gì sẽ xảy ra có tác dụng khiến mọi người thấy rất thư giãn. Những bộ phim Giáng Sinh cho chúng ta thấy một cuộc sống dễ dàng hơn nhiều, thoát khỏi tất cả những gì chúng ta không biết và rất phức tạp trong cuộc sống thường ngày ». Nhà trị liệu Morton hài hước nhận xét : « Tất cả đều được giải quyết chỉ trong vòng một tiếng rưỡi », trong khi ở ngoài đời thực, những vấn đề đó có khi cần nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí là cả cuộc đời.

Trong khi đó, nhà trị liệu Saniaah Mayo giải thích với tạp chí mạng Slate là những bộ phim “feel good” khiến mọi người thấy thoải mái như thể loại phim Giáng Sinh có thể có tác dụng như thuốc chống trầm uất, cải thiện tinh thần của người xem trong bối cảnh họ đang phải trải qua giai đoạn khó khăn. Theo một số nhà nghiên cứu, những bộ phim hài lãng mạn như phim Giáng Sinh có thể kích hoạt não bộ người xem tiết ra dopamine, vốn được mệnh danh là « hormone hạnh phúc » và oxytocine, còn được gọi là « hormone tình yêu ».

Còn đối với Tamara Makana Chock, giáo sư chuyên về tâm lý xã hội truyền thông, phim Giáng Sinh đáp ứng nhu cầu tìm thú tiêu khiển trong giai đoạn căng thẳng. Chúng cho phép mọi người thoát khỏi cuộc sống hàng ngày và những áp lực. Mặc dù thường là không thực tế, nhưng phim Giáng Sinh khiến chúng ta được mơ mộng và nghĩ về một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới mà mọi chuyện đều kết thúc có hậu. Đó chẳng phải là mong ước lớn nhất của chúng ta trong thời Covid-19 hay sao !


hongvulannhi  
#1480 Posted : Saturday, December 26, 2020 4:44:56 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 32,376

Thanks: 2503 times
Was thanked: 5351 time(s) in 3597 post(s)
Vì Sao Khiêm Tốn


UserPostedImage

Việt Hải


Hôm cuối tuần vừa qua bạn tôi, anh bác sĩ Trang Morita đến nhà rủ tôi đi thăm một người mà tối đã gặp một lần cách đây khá lâu. Bây giờ tôi được cơ hội đi thăm anh ấy. Người mà tôi muốn đề cập đến là nhạc sĩ Lam Phương. Tôi cho anh Morita biết tôi muốn viết bài về anh Lam Phương (LP), anh Morita đồng ý vì cả hai chúng tôi đều thích nhạc của LP.

Ngược dòng thời gian khi tôi còn nhỏ tôi thường nghe những nhạc phẩm ca ngợi nét đẹp đồng quê như bài “Trăng Thanh Bình”, “Nắng Đẹp Miền Nam” hay “Khúc Ca Ngày Mùa”, những bài hát mang người nghe về cái nắng ấm của miền nam tự do cho người Việt sống dưới vĩ tuyến 17. Sau năm 1954, trăng thanh bình thật sự chiếu sáng các vùng đồng quê Việt Nam, khi mà người dân quê chưa bị ảnh hưởng nhiều vì những nghiệt ngã tan thương của cuộc chiến khốc liệt, để biến họ thành những nạn nhân của những tranh chấp ý thức hệ. Nhạc LP chan chứa cái ước mơ của cuộc sống họ thật bình dị với cái hạnh phúc của trăng thanh bình, của mơ mùa lúa mới, của gạo trắng trăng thanh như:

“Giờ đây ánh trăng lên rơi xuống khắp đồng quê
bao la la bao la ạ..ạ..
Có một đàn cò trắng bay về về đồi xa
xa xa xa vời.
Mừng vui lúa tung tăng hò reo lúa mừng trăng reo
vang vang tình tang lúa reo.
Lúa mừng cuộc đời sống thanh bình đã về đây
với dân yên lành.”

Người nông dân vất vã đổ mồ hôi, nhoc nhằn cho thửa ruộng mà họ bám víu để sinh sống. Ngày mùa gặt hái thu hoạch dưới ánh trăng vàng là niềm hạnh phúc của đời sống thôn quê. LP diển tả niềm vui sướng của người nông gia qua bài “Khúc Trăng Ngày Mùa” với tiếng chày khua giã gạo, xen lẫn tiếng hát hoan ca ngày mùa:

“Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát
Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác
chiếu hồn quê bao khúc ca yêu đời
.
Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát
Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát
Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời

Lờ lững trôi qua trôi mãi trong chiều tà
tiếng tiêu buồn êm quá
Hồn ngất ngây trong tiếng hát đưa nhịp nhàng
tiếng cười thơ ngây
Mịt mùng đêm thâu cung hằng chênh chếch bóng
khuất sau rặng tre
Tiếng ai hò chập chùng xa đưa
Hò là hò lơ hó lơ hò lơ ...”

LP diển tả nét đẹp của miền nam, nơi bao người dân hiền hòa, yêu chuộng tự do được may mắn sống dưới ánh sáng của thiên nhiên, của tình người, qua bài “Nắng Đẹp Miền Nam”:

“Đây trời bao la ánh nắng mai
hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh.
Ta cùng chen vai đem tay góp sức
tăng gia cho người người vui hòa .
Đường cày hôm nay lên tràn
bông lúa mới ôi duyên dáng đồng ơi!
Đến mai sẽ là ngày muôn hạt chín lả lơi
mình ngắm nhau cười.

Kìa đàn chim quê chim tung bay về đâu
mang tin rằng giờ đây ta sống với bình minh.
Tiếng ca trong lành tiếng hát lừng trời xanh
đẹp biết bao tâm tình...
Tình là tình nồng thắm
buộc lòng mình vào núi sông
tình mến quê hương.

Ngàn bóng đêm phai rồi
vầng dương lên soi đời làng ta nay rạng ngời!... “

Năm 1954 khi miền nam hân hoan tiếp nhận hai triệu người di cư từ miền bắc vượt vĩ tuyến 17 để tìm tự do nơi phương nam, Lam Phương sáng tác nhạc phẩm “Chuyến Đò Vĩ Tuyến”, nói lên mối tình chia cách bởi định mệnh khắt khe của quê hương phân ly:

“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mông mênh
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng
Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm bên lúa vàng ngào ngạt dâng
Ơ... aị.. hò ...
Giòng sông mơ màng và đẹp lắm ...”

Lam Phương thuở nhỏ ra sao ?

Tôi và anh Trang Morita vui vẽ trao đổi những mẫu chuyện với anh LP để hiểu rỏ hơn thời niên thiếu của anh. Anh cho biết về chi tiết của người nhạc sĩ mà cả hai chúng tôi đang đối diện, anh từ tốn kể chuyện vui vẽ. Tôi nhận thấy nét khiêm cung và nụ cười hiền hòa, với cung cách ăn nói khoan thai, nhỏ nhẹ như sau:

Thuở nhỏ của anh rất hàn vi vì vào thời kỳ thế chiến thứ hai bùng nổ người dân quê sống giữa hai lằn đại của quân đội Nhật và Đồng Minh, gia đình anh chia chung số phận kém may mắn của vận mạng quê hương, gia đình anh nghèo, thiếu thốn nhưng anh lại may mắn có người hiền mẫu hết lòng yêu thương con cái. Trong lúc tâm sự chúng tôi thấy nét xúc động dâng tràn mỗi khi anh nhắc về bà mẹ của mình. Tôi vừa hỏi vừa ghi chép tiếp về tiểu sử của anh.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/3/1937 tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá. Anh là người anh cả trong gia đình gồm 6 anh em. Các em của anh không ai lại chọn con đường âm nhạc hay nghệ thuật như anh.

Khi anh kể tiếp thêm về thân phụ mình thì trong thời Thế Chiến thứ 2 loạn lạc, thôn quê miền Nam VN thường bị phi cơ của quân đội Đồng Minh oanh kích, tấn công quân Nhật đang chiếm đóng Đông Dương. Nhiều gia đình đã phải lánh nạn, thông thường người đàn ông trưởng gia đình lên thành phố lớn kiếm sống và để thăm dò đường tái định cư nơi yên ổn cho toàn gia đình còn lại. Thân phụ anh ra đi lên Saigon nhưng ông đã không trở về đón vợ con. Ông quyết định ở lại với những bóng hình của người phụ nữ khác. Để rồi sau này LP có nhiều em khác dòng, cùng cha khác mẹ.

LP rất thương mẹ. Mẹ anh là một bậc hiền mẫu, một lòng nuôi nấng con cái cho ăn học, bà như bao bà mẹ quê dù chất phác, mộc mạc, nhưng bà sống trọn tình mẫu tử. Những năm tháng hàn vi đó đã hun đúc cho LP thành con người kiên trì và nhẫn nại và anh đã dồn hết tình thương cho người mẹ.

Hoàn cảnh hàn vi đó đã ảnh hưởng đến sự phấn đấu liên tục để vươn lên, nó đã tô luyện cho anh một ý chí tự lập thân và còn lo cho gia đình, một đặc điểm cao quí của nội tâm LP. Và cũng bởi lòng yêu thương người mẹ hiền mà LP đã quyết tâm vượt mọi trở ngại để thành công trên bước đường sự nghiệp âm nhạc của mình. Để rồi sau này tại Saigon LP đã thành đạt ý nguyện tạo một cuộc sống khả quan đền đáp mẹ hiền.

Tôi nhận xét anh LP là một con người rất tình cảm. Tình thương mẹ lúc nào cũng ấp ủ con tim anh. Hình ảnh người mẹ hiền lúc nào cũng phảng phất trong nét bình dị của những ca khúc về mẹ của LP. Tôi nghe bài “Tạ Ơn Mẹ” mà mường tượng trong tâm trí sự diệu hiền của người mẹ quê với tình thương bao la nuôi con khôn lớn. Rồi ngày hôm nay, người con gởi lại mẹ những lời tri ân nồng nàn nhất về mẹ, vì mẹ và cho mẹ như bài hát sau:

“Đêm nay nằm nghe sóng vỗ, êm đềm như tiếng mẹ ru
Lời ru của thuở ban đầu, nụ cười tiếng khóc đầu môi,
đã làm đời mẹ buồn vuị..
Đến khi khôn lớn ra đời, lời mẹ hiền nhớ khôn nguôi
...
Ạ`... ơị.. lời đó cho con ngọt bùị..
Ạ`... ơị.. tiếng ru man mác xa vờị..
Những lúc đông sang, những ngày băng giá tuyết rơi,
lời mẹ hiền như... giọt nắng... muôn đờị..
là ngọn đuốc soi đường trong đêm dài triền miên đen tối
Dù dòng đời trăm ngàn thay đổi.
Lời yêu thương chở che của mẹ vẫn ngàn đời ấm mãi tim con..."

Nói về khuynh hướng nhạc Lam Phương thì âm nhạc anh được sáng tác rất đa dạng về các thể điệu khác nhau, và về các chủ đề khác nhau, như nhạc quê hương, nhạc tình ca, hay nhạc lính chiến. Ngày xưa trong thời kỳ học tiểu học trường tôi thường tập dợt các bài hát nhịp nhàng khi trình diển các điệu vũ múa vào dịp bãi trường hay tất niên. Các cô hay thầy dùng các bài có điệu mambo, tôi nhớ là bài của LP được chọn lựa như bài: “Trăng Thanh Bình”, “Nhạc Rừng Khuya” hay “Khúc Ca Ngày Mùa”.

Sau thời gian gia nhập vào quân đội kể từ năm 1958 trở đi, LP chuyển sang sáng tác các bài tình ca mang hình ảnh của ngừời quân nhân và cuộc chiến như bài “Đêm Dài Chiến Tuyến”, "Chiều Hành Quân", "Tình Anh Lính Chiến". Tôi nhớ bài tình ca về người lính chiến và người em gái nhỏ hậu phương “Chiều Hành Quân”:

“Một chiều hành quân qua thôn xưa
lúc nắng xuân chưa nhạt màu,
Chạnh lòng tìm người em gái cũ:
Em tôi đã đi phương nào?

Nghẹn ngào nhìn qua hàng tre xanh
ngắm bóng chim đua trên cành,
Giờ tìm đâu hình bóng cũ:
Em ơi! Em đi về đâu?

Về đâu em ơi lúc tình còn sâu
lúc hương trần đời vẫn chờ nhau giữa đêm thâu
Về đâu khi em vẫn là nguồn sống,
khi ánh xuân nồng vừa nhẹ vương lên má hồng...”

Ngày trước năm 75, tôi nghe chị Hoàng Oanh hát bài “Tình Anh Lính Chiến”, tôi thích lắm, bài hát nói lên tình đẹp nên thơ khi người trai đi chiến đấu bảo vệ sơn hà, nơi hậu tuyến yên vui người em gái xây ước mơ, xây mộng đẹp ngày đoàn viên:

“Xuyên lá cành trăng lên lều vải
Lòng đất ấm thương tình đôi mươi
Thương những người mạch sống đang khơi
Đang tìm một cuộc đời cho lòng vơi nét phong sương

Anh chiến trường tôi nơi hậu tuyến
Đời lính chiến xui gặp nhau đây
Đôi đứa mình còn mỗi đêm nay
Nói gì cạn niềm thương để rồi mai ta lên đường...”

Tôi cũng nghe chị Thanh Tuyền cất tiếng ca vang bài hát “Đêm Đài Chiến Tuyến” khi xưa tại Sài Gòn. Một nhạc phẩm nói lên giờ phút xa xôi nơi chiến trường người chinh nhân đang đồn trú nơi xa xăm, nhớ về người em gái nhỏ, rồi biên những dòng thơ nhung nhớ gởi về từ chiến tuyến:

“Một đêm dài nhớ em, một đêm dài trắng đêm
Nhìn sao rừng nhớ em, nhìn núi đồi thấy em,
người anh yêu trọn đời

Từ khi mình biết nhau, đời ta đẹp biết bao
Giờ vui đời chiến binh, bạn anh là gió sương,
quê anh là muôn phương

Nếu hôm xưa không đến tìm em với muôn lời nồng say
thì giờ trong bóng đêm tình đâu vấn vương
Và tìm ai nhớ thương

Đêm nay gối súng viết lên dòng thư gởi em
Viết cho em, trao cả về em

Viết trong vạn niềm say vì đời trai gió sương
ngoài kia núi sông, thì tim này dâng cả em
anh xin một điều, là mình đừng dối lừa nhau,
đừng gây niềm kỷ niệm khổ đau, vì thư hồng vẫn trao.”

Anh LP kể tiếp cho chúng tôi nghe là về sau anh gia nhập vào Đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi về cộng tác với các đài phát thanh như Đài Phát Thanh Quân Đội, Đài Phát Thanh Sài Gòn và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.

Tôi nhớ ngày xưa được nghe các chương trình kịch nghệ của ban Thẩm Thúy Hằng hay ban kịch Sống của Túy Hồng, mà nhiều bài hát của LP được lồng vào các vở kịch như: “Nghẹn Ngào”, "Phút Cuối", ”Chờ Người”, "Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi", “Đèn Khuya”, "Chiều Tàn", "Đèn Khuya", "Mộng Ước”,”Thu Sầu”, “Trăm Nhơ’ Ngàn Thương”,...

Bài tôi vẫn nhớ vì tôi có một người bạn thân có kỷ niệm riêng với nó là bài ca nhạc tình xao xuyến “Phút Cuối”. Anh ca nhạc phẩm này rất hay và rốt cuộc phút cuối anh tan vỡ với người tình như nội dung của bài hát:

“Chỉ còn gần em một giây phút thôi
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Nguời theo cánh chim về vui với đời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi

Núi đồi lồng lộng chiều mưa nhớ ai
Biển xanh vẫn xanh nguời đi sao đành
Để trong giấc mơ hồn anh thẫn thờ
Em ơi bao giờ mới đuợc gần nhau...”

Âm nhạc có những bản nhạc được quảng đại quần chúng trong dân gian tiếp nhận rộng rãi khi nó thực sự nhập tâm hay đi vào lòng người vì nó nói lên nỗi lòng của họ hay một cảm nhận mà nhân gian gần gủi trong các tiết tấu, nhịp điệu của bài hát đó. Bài “Duyên Kiếp” là một trong các bài điển hình khi tôi nghe anh bạn hàng xóm nhà tôi trong cơn bị tình phụ, tối tối buồn tình vác đàn ra trước bao lơn nhà hát nghêu ngao kiểu chế lại lời bài hát:

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao
Mua chai thuốc chuột uống vô là rồi
Đường đời mịt mời vạn nẻo về đâu
Mong chờ duyên kiếp đưa lối niết bàn...”

Thay vì lời đúng là:

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao
Non cao đất rộng biết đâu mà tìm
Đường đời mịt mời vạn nẻo về đâu
Mong chờ duyên kiếp đưa lối bắc cầu...”

Trong biến cố mất miền nam LP ra đi, rồi đem gia đình sang sau và định cư tại Cali. Nhưng vì có những khó khăn của tình cảm tại Mỹ, anh bỏ sang Pháp sinh sống. Khi anh ra nhạc phẩm “Lầm”, nó tiêu biểu cho hàng ngàn con tim trắc trở khi ân hận đưa em sang đây. Không phải nó chỉ đúng cho khối người di tản đợt năm 75 không thôi, mà gần đây nhiều anh “Việt Kiều” về bên nhà cưới vợ, rồi mang sang Mỹ, để rồi các anh cảm thấy lời bài “Lầm” thật ai oán, thật phũ phàng như lời tiên tri và nó rất gần gủi với họ hơn bao giờ hết.

Bài hát “Tình Đời” cũng là bài ca nói lên nỗi oan trái của tình trường, tình đến rồi đi theo cơn gió nghiệt ngã, bẽ bàng:
“Em có còn thương nhớ gì không
Trong những đêm lạnh giá canh trường
Một mình lẻ bóng đơn côi
Lời yêu ai đành gian dối
Kỷ niệm buồn che khuất vành môi

Còn nhớ tiếng nói thơm môi, lời yêu một thời
Tình xanh tuyệt vời mà ta đã trao
Và tôi say trong tình vừa nở
Ngờ đâu ngày tan vỡ
Giờ còn trong giấc mơ thôi

Nên mới hiểu nhân thế đổi thay
Khi trắng tay người ngoảnh xa người
Người thì tính toán lợi toan
Người thì trăm bề gian dối
Ngẫm sự đời ta buồn mình ta”

xxx

Anh cho biết trong hơn 200 ca khúc anh sáng tác trong đời thì thời gian lưu trú bên Pháp nguồn cảm hứng phơi phới đến với anh tại kinh đô ánh sáng Ba Lê đã cho anh hơn phân nửa tổng số nhạc đó.

Vui say với tình yêu mới nơi kinh thành Paris, LP sáng tác nhạc phẩm “Mùa Thu Yêu Đương”, nhịp điệu tươi vui, lời nhạc thật tình tứ. Paris đem những mùa thu của LP thêm ngọt ngào trong hạnh phúc qua lời ca, tiếng hát:

“... Mùa thu ơi
Paris dệt mộng tình si
Khi nghe người đi vào đời,
Thấy lòng như bớt đơn côi

Bờ môi em là nguồn tin yêu đắm đuối
Ngày thuyền tình vào bến mới
Ta sẽ cho nhau tình yêu tuyệt vời

Anh ước mai sau cũng như ngày đầu
Thương lời ngọt ngào
Đưa anh vượt khỏi cơn đau ngày nào
Mùa thu thay lá, mùa nối tơ duyên
Anh nguyện một đời tình ta mãi là
Mùa thu yêu đương. “

Tôi xem anh xuất hiện trên hai băng video số 22 và 28 của Thúy Nga Paris By Night, tôi thấy nét phong độ, nét yêu đời của anh. Do đó chính hoàn cảnh mới tạo điều kiện cho tâm hồn hân hoan, vui vẽ cho anh sáng tác thật sung mãn. Bài hát “Bài Tango Cho Em” đã nói lên ý niệm của sự suy nghĩ mà tôi vừa nói đến:

“Từ ngày có em về,
nhà mình toàn ánh trăng thề.
Giòng nhạc tình đang tắt lâu,
tuôn trào ngọt ngào như giòng suối.

Anh yêu phút ban đầu,
đẹp nghiêng nghiêng dáng em sầu.
Trong mắt em buồn về mau,
em ơi có khi nào lần gặp đây cho mai sau.

Tiếng đàn hòa êm ái,
nhịp bước em thêm lả lơi.
Cung điệu buồn chơi vơi,
đôi tâm hồn riêng thế giới.

Mình dìu sát đi em
để nghe làn hơi cháy
trong tim nồng nàn.
Tiếc thương chi trời rộng thênh thang,
Vương vấn để rồi một đời cưu mang...”

Khi anh hay tin ca sĩ Họa Mi vượt thoát tìm tự do, xin tị nạn chính trị tại Pháp, LP cho ra nhạc phẩm “Em Đi Rồi” làm xúc động hàng triệu thính giả khi xem video mà Họa Mi ca bằng nước mắt oan khiên của hoàn cảnh nghiệt ngã vì gia đình phân ly:

“Em đi rồi, đường xưa có nắng không anh?
Lá hoa còn xanh, hay tàn theo tháng ngày ?
Giờ một mình anh, lẻ bước trong sương mai
Người tình còn đâu, chỉ đớn đau con tim

Em đi rồi từ đây tiếng hát cô đơn
Biết chia cùng ai nỗi buồn trên xứ người
Một lần biệt ly chẳng biết nói năng chi
Lệ tràn bờ mi thì đã quá chia ly

Dù tình thật xa tình vẫn còn đây
Khóe mắt u hoài vì ngấn lệ chưa vơi
Trời buồn tình ngâu trời đêm bão tố
Mưa tuôn thành giòng thuận gió biển đông
Tình buồn tình xa tình không mờ xóa
Hai phương trời rộng tình vẫn mênh mông.”

Đường đời vẫn là bãi chiến trường thử thách nhạc sĩ LP. Rời bỏ Rạch Giá lên Sài Gòn lập nghiệp, anh gặt hái nhiều thành công về kinh tế cũng như danh phận, tạo tên tuổi cho biệt hiệu Lam Phương.

Rồi khi ra hải ngoại đổi đời, hạnh phúc tình yêu thử thách anh, anh vẫn đứng vững tạo thêm nhiều tác phẩm âm nhạc hơn khi còn trong xứ. Đến tháng 3 năm 1999, một thử thách khác lại đến với đời anh là một căn bệnh quái ác tai biến mạch máu não, do chứng tiểu đường gây ra. Sau biến cố này, bác sĩ Morita được nhạc sĩ Nam Lộc giới thiệu đến trị bệnh cho anh tại nhà, từ đó tôi được dịp thăm anh. Hậu quả của căn bệnh tai biến này làm cho anh bị tê liệt nửa cơ thể, đây là một khó khăn lớn cho những hoạt động thường nhật của anh, mà trong đó cái đam mê và sự nghiệp âm nhạc bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy vậy với ý chí phấn đấu anh luyện tập đi đứng hằng ngày, sức khoẻ của anh có phần khả quan hơn, khi chúng tôi vào nhà, anh cho chúng tôi đi thăm phòng tập thể lực của anh với các dụng cụ máy móc thể dục. Gần đây chúng tôi xem video Thúy Nga #74, nhạc phẩm mới nhất “Hạnh Phúc Mang Theo” của anh trong giai đoạn hậu tai biến (post stroke) được trình làng.
Lời Kết:

Có lẽ không ai chối cải LP là một nhạc sĩ tài danh vì những nhạc phẩm của anh đã đi vào lòng dân gian, những lời ca từ các bài hát của LP đã đi vào quảng đại quần chúng.
LP trải qua ba thử thách trong cuộc đời là: Sự nghèo khó lúc thiếu thời, Sự bấp bênh của hạnh phúc cá nhân khi ra hải ngoại, và Sự nguy hiểm của vấn đề sức khỏe đe dọa đời anh. Đến nay anh đang hướng về cái tuổi “Cổ Lai Hy” 70, một khúc quanh quan trọng trong cuộc sống đối với người Việt Nam.

Chúng tôi vui khi gặp anh và xin cầu chúc sức khoẻ anh thêm dồi dào.

Khi ra về trên freeway hướng về Los Angeles, anh Morita hỏi tôi sẽ viết gì và có kỷ niệm gì với nhạc sĩ Lam Phương. Tôi đáp lời anh Morita là bài viết tôi sẽ kể nhiều về những nhạc phẩm của anh Lam Phương mà tôi thích.

Lam Phương cho tôi niềm lạc quan, sức phấn đấu bền bỉ và nụ cười hiền hòa như những mùa trăng thanh bình trong bài hát của anh.

Và điều trên cao hơn hết mà chúng tôi quí anh vì:

"Lam Phương là một vì sao khiêm tốn."

Trần Việt Hải (Gởi anh Lam Phương cùng Bác sĩ Trang Peter Morita)

Edited by user Saturday, December 26, 2020 4:54:25 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (10)
80 Pages«<7273747576>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.