Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

54 Pages«<5051525354>
Options
View
Go to last post Go to first unread
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1021 Posted : Saturday, October 19, 2019 12:59:51 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10 năm 2019

Bộ toàn tập Sacha Distel được tái bản

UserPostedImage
Sacha Distel xuất hiện lần cuối trong vở nhạc kịch Chicago, 09/2000(c) Reuters / Thomson

Mùa hè năm 2019 đánh dấu ngày tái bản bộ toàn tập của Sacha Distel, bao gồm hơn 100 ca khúc ghi âm trên 4 cuộn CD. Bộ đĩa này bổ sung cho tuyển tập đàn ghi ta (chủ yếu là nhạc hoà tấu không lời). Điều đó cho thấy trước khi trở thành một giọng ca crooner ăn khách, Sacha Distel từng nổi tiếng là một tay đàn nhạc jazz.

Bộ toàn tập Sacha Distel (1957-2003) được phát hành nhân 15 năm ngày giỗ của nam danh ca người Pháp. Vào mùa hè năm 2004, ông đã qua đời vì bệnh ung thư (71 tuổi), để lại một di sản âm nhạc khá đồ sộ, với hơn 100 album đủ loại và hàng ngàn giờ thu hình do sinh thời ông cũng nổi tiếng nhờ cái tài giới thiệu và dẫn chương trình ca nhạc. Chỉ riêng trong thể loại nhạc jazz, ông đã ghi âm hơn 30 tập nhạc với khá nhiều tên tuổi lớn như Lionel Hampton (Crazy Rhythm 1955), Bobby Jaspar (Modern Jazz Quartet at the Saint Germain’s club 1956), John Lewis (Bags' Groove 1957), ông cũng từng biểu diễn với Stan Getz, Lester Young, tác giả ruột của Billie Holiday .....

Trong vòng 6 năm liền, từ năm 1956 đến 1962, tạp chí chuyên ngành “Jazz Hot” đã bình chọn Sacha Distel làm nghệ sĩ nhạc jazz cừ khôi nhất nước Pháp. Năm 1961, ông sáng tác khúc nhạc nền cho bộ phim của Roger Vadim. Giai điệu này sau đó trở thành một trong những bản nhạc jazz kinh điển The Good Life (La Belle Vie) qua các giọng ca của Tony Bennett hay Dionne Warwick.

Sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, mẹ của ông là nghệ sĩ piano chuyên nghiệp, còn cậu ruột là nhạc trưởng Ray Ventura, chuyên điều khiển dàn nhạc nổi tiếng cùng tên. Thời niên thiếu, Sacha Distel học đàn ghi ta với nghệ sĩ Henri Salvador. Hai thầy trò giống nhau ở một điểm : họ có thể đánh đàn nghiêm túc, chơi những bản nhạc jazz khó nhất, nhưng khi hát họ lại chọn những giai điệu cực kỳ dễ nhớ, với phong cách hài hước, thích pha trò dí dõm vui nhộn. Trong quyển hồi ký phát hành vài năm trước ngày ông mất, Sacha Distel cho biết ông đã chọn hẳn nghề ca hát sau khi được nghe các bản ghi âm của Frank Sinatra tại nhà của Henri Salvador. Sacha Distel bắt đầu đi hát và ghi âm nhạc nhẹ từ năm 1957 cho tới album cuối cùng phát hành vào năm 2003.

Thành danh tại Pháp từ cuối những năm 1950, Sacha Distel có hẳn một chương trình ca nhạc mang tên ông (Sacha Show) trong gần một thập niên từ năm 1962 đến cuối năm 1971 (đồng sản xuất với hai vợ chồng Maritie và Gilbert Carpentier). Ngoài việc dẫn chương trình, Sacha Distel còn thường song ca những bài hát quen thuộc với các vị khách mời cũng là những nghệ sĩ tên tuổi. Vào thời bấy giờ, ít có nghệ sĩ Pháp nào đa tài như Sacha Distel. Ngoại trừ lãnh vực điện ảnh (có thử sức nhưng không thành công) ông hầu như chinh phục được hết làng giải trí, từ phòng thu thanh cho đến sân khấu nhà hát, cũng như trên màn ảnh truyền hình.

Tương tự như trường hợp của Frank Sinatra, một thần tượng mà ông hằng ngưỡng mộ, Sacha Distel trở thành một nghệ sĩ đa năng, theo kiểu Anh Mỹ (entertainer) nhờ có nhiều sở trường biểu diễn trên sân khấu. Người Pháp chủ yếu biết đến Sacha Distel qua các bài ca vui nhộn, còn người Anh thì khám phá giọng hát này như một french crooner, chuyên hát nhạc trữ tình.

Từ đầu những năm 1970, nước Anh đã mở rộng vòng tay tiếp đón nam danh ca người Pháp. Nhờ nói thạo tiếng Anh, ông thường được mời biểu diễn trong các show truyền hình tại Anh quốc. Ông đặc biệt thành công với phiên bản ‘‘Raindrops keep fallin' on my Head’’ của tác giả Burt Bacharach (tựa tiếng Pháp là ‘‘Toute la pluie tombe sur moi’’ 1970). Hai người quen thân với nhau từ khi tác giả Burt Bacharach mới vào nghề và là nhạc sĩ piano chuyên đệm đàn cho ngôi sao màn bạc Marlene Dietrich.

Nổi tiếng là một giọng ca đào hoa, xuất hiện bên cạnh những người đàn bà đẹp nhất thế giới, Sacha Distel từng là tình nhân của thần tượng điện ảnh Brigitte Bardot, họ cùng ghi âm vào năm 1973 nhạc phẩm ‘‘Le Soleil de Ma vie’’ (The Sunshine of my Life, nguyên tác của Stevie Wonder), Sacha Distel từ giữa những năm 1970 trở đi chủ yếu hát nhạc nhẹ tiếng Pháp, cũng như phóng tác các bản tình ca ăn khách của Anh Mỹ, trong đó có các nhạc phẩm của The Carpenters, Dean Martin, Frank Sinatra hay Nat King Cole ….. Vầng hào quang của ông lu mờ từ cuối những năm 1980 trở đi. Sacha Distel ít còn xuất hiện ở Pháp, ông chủ yếu đi biểu diễn ở nước ngoài đặc biệt là Anh, Đức hay Argentina.

Sự nghiệp của Sacha Distel giống như một trò chơi ghép hình với rất nhiều mảnh rời rạc, không đồng đều. Bộ toàn tập (1957-2003) nhân 15 năm ngày giỗ của Sacha Distel, tập hợp về cùng một chỗ các bài hát ghi âm trong nhiều giai đoạn khác nhau. Điều đó giúp cho người nghe khám phá giọng ca này dưới nhiều góc độ mới. Ngoài danh hiệu crooner Pháp, ông còn đã góp phần phổ biến dòng nhạc bossa nova của Brazil qua các bản chuyển ngữ phóng tác.

Thành công trong làng nhạc nhẹ khiến cho tài năng sáng tác cũng như chơi nhạc jazz của Sacha Distel ít còn được công chúng quan tâm tới, trong khi ông lại là tác giả của một trong những bản nhạc jazz nổi tiếng nhất thế giới (La Belle Vie / The Good Life). Một giai điệu xinh tươi cho đời thêm tuyệt vời.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1022 Posted : Sunday, October 20, 2019 12:41:36 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1023 Posted : Sunday, October 20, 2019 12:48:11 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Trịnh Cung, họa sĩ mang thông điệp ‘tử vì đạo’

Hà Vũ - VOA - 20/10/2019

UserPostedImage

Trịnh Cung, một trong những tài năng hàng đầu của làng mỹ thuật Việt Nam nổi danh từ trước năm 1975, được nhiều người biết đến không chỉ qua giải thưởng quốc tế mà còn qua sự sáng tạo và niềm đam mê hội họa vượt thời gian, dù nay ông đã ngoài 80.

Họa sĩ Trịnh Cung tên thật là Nguyễn Văn Liễu, sinh năm Mậu Dần (1938) tại làng Chụt, Nha Trang. Con đường hội họa của ông bắt đầu khởi sắc từ khi thi đậu vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế vào năm 1958, dù trước đó, ở trung học, năng khiếu vẽ của ông chưa phát tiết.

“Ông Võ Thành Điểm ổng hỏi đứa nào vẽ được cái mũ cối này, cái mũ cối Tây, mũ cối thuộc địa. Tôi mới giơ tay lên. Ổng kêu lên bảng, tôi vẽ trên bảng bằng phấn. Vẽ không giống, ổng đá đít. Cười quá trời quá đất. Cái đó tôi nhớ đời. Vậy mà sau này đi học vẽ,” họa sĩ Trịnh Cung hồi tưởng.

Tuy nhiên, khi vào trường Cao đẳng Mỹ Thuật Huế, ông nhanh chóng trở thành một học sinh giỏi vì chịu khó tìm tòi, học hỏi, bắt chước các danh họa Tây phương.

“Khi tôi học năm thứ nhất thì chỉ có 3 tháng sau tôi bắt đầu trở thành sinh viên giỏi tại vì tôi học được những cách vẽ ‘académie’, vẽ theo nhà trường. Cuối cùng tôi nắm được những nguyên tắc thành ra tôi vẽ được,” ông kể. “Tôi tiến bộ nhanh lắm và đến cuối năm, tôi trở thành ngôi sao của lớp bởi vì ngoài cái đó ra, tôi còn đi vẽ ngoài nữa, như bên Tây vậy. Tôi đặt giá ở phố Huế tôi vẽ. Tôi coi sách loại ‘Livres de poche’ về cuộc đời của những ông họa sĩ nổi tiếng ở Paris. Tôi bắt chước, tôi cũng sống như vậy. Thành ra, khi tôi mang tranh cuối tuần vô lớp ngày thứ Hai, ông thầy thích lắm. Ổng mới đem ra làm ví dụ cho anh em của lớp và khi thi tốt nghiệp, tôi đậu thứ nhì nhưng mà tôi đã sáng tác rồi.”

Sau một thời gian long đong chuyển từ trường Cao đẳng Mỹ Thuật Huế sang trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định rồi về lại Cao đẳng Mỹ thuật Huế, họa sĩ Trịnh Cung tốt nghiệp khóa 2, niên khóa 1961-1962.

Tốt nghiệp, ông về Nha Trang xin dạy vẽ tại trường Trung học Võ Tánh, nhưng bị từ chối vì không có chỗ. Ông bỏ vào Sài Gòn tìm việc.

Trịnh Cung trở nên nổi tiếng khi bức tranh sơn dầu nhan đề “Mùa Thu Tuổi Nhỏ” của ông được giải thưởng quốc tế.

“Bức tranh tôi mang từ Huế vô Sài Gòn để dự cuộc triển lãm mỹ thuật quốc tế lần thứ nhất thì tôi gởi để xem thử coi nó đi tới đâu. Không ngờ bức đó được chọn là một trong 18 tác phẩm đại diện cho Việt Nam trong cuộc triển lãm quốc tế gồm 21 quốc gia, trong đó có Anh, Pháp, Đức, Hà Lan toàn là ghê gớm không. Bức đó được đánh giá là hay nhất của phía Việt Nam. Tôi nhận được bằng danh dự của Hội đồng. Tôi được đón nhận như là một khuôn mặt trẻ có tài lúc đó,” ông nhớ lại.

Bức tranh đưa họa sĩ Trịnh Cung vươn ra quốc tế họa cảnh những đứa trẻ nghèo bên con trâu, cánh đồng, tay cầm những chiếc lồng đèn trung thu.

Bức họa được diễn tả theo trường phái Biểu hiện Expressionism, không căn cứ trên thực tại quang cảnh trước mắt, mà dựa vào tiềm thức.

“Cái đó là tiềm thức vì thời nhỏ của tôi là chạy giặc ở nhà quê, núi non, đồng ruộng không à. Thành ra có thể là giai đoạn ấu thơ của tôi, giai đoạn lúc tôi 6-7 tuổi, tôi sống trên những cánh đồng và nó đi vào tiềm thức của tôi. Tôi có khuynh hướng xã hội, thành ra tôi không vẽ lãng mạn như mấy ông kia. Đề tài của tôi từ đó đến sau này đều mang tính con người, của con người, của đất nước, của chiến tranh, nhiều hơn những người khác. Đó là vì tuổi trẻ của tôi hồi đó cũng khá bầm dập,” ông chia sẻ.

Lúc bấy giờ, ông còn ký tên là Thương Nguyệt, tên người yêu của ông, trên các tác phẩm. Về nguyên nhân ra đời nghệ danh Trịnh Cung, ông cho biết không hề liên quan đến em gái Trịnh Công Sơn, một người bạn của ông, như người ta đồn đoán.

“Trong một buổi trưa trong một cầu tiêu ở Tân Định. Tại sao là cái cầu tiêu? Là vì lúc đó tôi có nhà cửa gì ở đâu. Tôi xin tá túc chỗ ông cậu, làm bưu điện Tân Định. Ổng được cấp một căn hộ. Nhưng căn hộ đó cầu tiêu nằm ở chỗ khác không ở ngay trong nhà ổng. Mà cầu tiêu đó rộng lắm, có thể đặt một giường bố để ngủ. Tôi xin ổng cho tôi ở đó. Ổng OK. Tôi đặt một giường bố và một cái bàn viết nhỏ trong cầu tiêu đó. Tôi ở đó, một bữa trưa tôi dậy, tôi tìm cái biệt hiệu. Tôi mới lấy viết và tờ giấy ra tôi viết tên, tôi gạch, tôi bỏ, bỏ cho tới khi nó ra chữ Trịnh Cung. Tôi thấy được quá. Thứ nhất là nó không có dấu gì. Thứ hai là khi ký thử thì nó đẹp. Thứ ba, khi đọc tên đó thì âm thanh có vẻ mạnh, không yếu đuối như chữ Thương Nguyệt. Tôi chọn luôn.”

Khởi đầu sinh hoạt trong lĩnh vực hội họa, họa sĩ Trịnh Cung theo trường phái biểu hiện, tức là vẽ theo lối sáng tác.

“Có hai loại, loại vẽ hiện thực hay vẽ theo nature, loại đó phải dựa vào thiên nhiên, phải dựa vào những vật cụ thể như bình hoa hay chậu hoa hay là cái ấm trà hay là phong cảnh, con người nào đó thì mình vẽ trực tiếp cái đó hay mình ghi chép rồi mình vẽ lại. Đó là những người vẽ hiện thực. Còn tôi là người vẽ sáng tác tức là nghĩ cái gì ra thì vẽ chứ không vẽ cái trước mắt, nhưng những cái mình nghĩ ra đó đều dựa trên đời sống mình đã trải qua, ví dự như một đám đông, một khuôn mặt, một thành phố mình đã đi qua, mình đã ở đó, bây giờ mình nhớ lại. Lối tôi vẽ là lối mường tượng, nhớ lại và thêm thắt. Ý của mình muốn nói gì là chính. Tranh của mình có một cái thông điệp. Tôi theo một lối vẽ của bên Tây gọi là biểu hiện, Expressionisme, tức là vẽ cái mình nghĩ, vẽ cái mình cảm chứ không phải vẽ cái mình thấy,” ông giải thích.

Vào năm 1964, theo lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ, theo học khóa 19 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Ra trường, ông được giữ lại làm huấn luyện viên môn Chiến tranh Chính trị. Trong thời gian này, ông vẫn sáng tác và bức tranh sơn dầu ‘Đứa Trẻ Du Ca’ của ông được giải khuyến khích của Giải Văn học và Nghệ thuật Tổng thống. Ông còn là Tổng thư ký của Hội Họa sĩ trẻ do bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng và họa sĩ Ngy Cao Nguyên thành lập vào tháng 11 năm 1966.

Họa sĩ Trịnh Cung cho biết sau ngày 30/4/1975, ông gác bút lông và giá vẽ trong chục năm vì cuộc sống thay đổi với 3 năm tù ‘cải tạo’, 2 năm đi kinh tế mới, 3 năm làm việc cho Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và 2 năm bán thức ăn vỉa hè. Dù vậy, đây là giai đoạn ông cho ra đời bức họa nổi tiếng mang tên ‘Treo trên giá vẽ.’


“Bức đó tôi vẽ vào giai đoạn tôi bẻ bút sau khi đi ‘học tập’ về. Họ bắt tôi vẽ theo đường lối của Đảng Cộng sản. Tôi không vẽ, họ bắt tôi đi kinh tế mới. Coi như tôi bỏ nghề. Tôi vẽ bức đó với một cái thông điệp tôi tử vì đạo. Tôi coi giá vẽ như thánh giá của Chúa và người họa sĩ chết trên cây Thánh giá đó, kết thúc cuộc đời mình trên giá vẽ. Lúc đó tôi còn hăng lắm, tôi còn chống đối. May thay, Hà Thúc Cần mua ngay sau khi tôi vẽ chừng vài tuần lễ và ôm bức đó về Singapore luôn. Nếu ở Việt Nam thì bị tịch thu rồi,” họa sĩ Trịnh Cung tâm sự.

Đến năm 1986, ông chấp bút trở lại và sống được nhờ bán tranh cho Việt kiều và các phòng tranh của Hong Kong. Ngoài ra, ông cũng được mời thỉnh giảng tại một số trường đại học Việt Nam và Hoa Kỳ.

Thời kỳ này họa sĩ Trịnh Cung chuyển sang trường phái trừu tượng.

“Tôi khởi đầu bằng biểu hiện, cho đến năm 1992 tôi bắt đầu vẽ trừu tượng. Lúc đó tôi ở trong nước, tôi không thể theo cách biểu hiện trước kia được. Tại vì trước kia tôi gởi gắm rất nhiều tâm trạng của người mất nước, của người bị tước đoạt những quyền tự do nhưng nếu tôi làm như vậy thì nguy hiểm tôi sẽ gặp. Thành ra tôi nghĩ thôi cái gì muốn nói mình đã nói rồi và tôi bắt đầu vẽ trừu tượng. Đánh dấu vẽ trừu tượng bằng chuyến đi Mỹ của tôi năm 1996, là bước ngoặc tôi vẽ trừu tượng đặc biệt hơn. Còn từ 92 cho tới 96 là loại trừu tượng có tính thị trường để tôi nuôi sống gia đình tôi. Nhưng khi qua Mỹ, tôi khám phá ra được những bài học về màu sắc và sự vĩ đại của thiên nhiên. Tôi đi qua những vùng đất đai của nước Mỹ nó gợi cho tôi một cảm hứng để thay đổi và tìm ra cho mình cách vẽ trừu tượng mới mang sắc thái của tôi. Đó là cuộc triển lãm của tôi có tên là ‘Echo of the land’ tạm dịch là ‘Âm vang của đất’.”

Họa sĩ Trịnh Cung lập gia đình lần thứ hai với thi sĩ Phương Lan vào năm 2004 sau khi người vợ đầu tiên mất vào tháng 11 năm 1997. Ông chính thức định cư tại California vào năm 2013.

Đến Mỹ, từ năm 2017 cho đến nay, họa sĩ Trịnh Cung tự mình tìm ra một lối vẽ khác mà ông gọi là vẽ hiện thực nhưng không phải hiện thực thông thường, mà là hiện thực đơn sắc.


Họa sĩ Trịnh Cung giải thích:

“Tôi không vẽ màu. Tôi vẽ sơn dầu nhưng tôi không vẽ màu như các tranh hiện thực mà lâu nay các bạn thấy trên sách vở. Cái hiện thực của tôi là cái hiện thực về đời sống của tôi tại Mỹ, nhưng nó được gạn bỏ màu sắc đi để trở về cái đẹp của đen trắng và để khác đi cái hiện thực trong hội họa lâu nay các bậc thầy cũng như các anh em khác họ vẽ lúc nào cũng có màu, tôi không xài màu, nhưng cái đó là một cái thử thách của tôi. Khi tôi không thể xài màu thì nó có diễn tả được hết cái hiện thực không. Đó là một cách tôi tự tạo ra cái khó cho mình cũng như tạo ra sự khác biệt với người khác. Những loạt tranh này có tên chung là ‘Câu chuyện của một người di dân ở California’. Lâu nay tôi vẽ trừu tượng, vẽ biểu hiện, toàn là chuyện đâu đâu không. Nhưng bây giờ tôi vẽ lại tôi. Nó như một nhật ký của một người định cư tại Mỹ như tôi. Tôi vẽ về những ngày tháng tôi sống ở đây như thế nào, tôi va chạm với nền văn hóa thực sự ở đây như thế nào và tôi phải thay đổi như thế nào. Tôi có cái nhìn về đời sống của cộng đồng người Việt ở Bolsa như thế nào. Bức Goodwill là bức thành công nhất trong loạt tranh này. Rất nhiều người đòi mua mà tôi không bán.”

Ngoài vẽ tranh và triển lãm mỹ thuật, Trịnh Cung còn làm thơ và viết sách về hội họa. Ông đã xuất bản hai cuốn sách về lý thuyết cũng như về những vấn đề mỹ thuật. Cuốn thứ nhất là “Mỹ thuật Việt Nam và những vấn đề xoay quanh” nói về mỹ thuật ở trong nước hiện nay sau khi cộng sản chiếm miền Nam. Cuốn thứ hai xuất bản tại Mỹ mang tên “Nhận định và những câu hỏi về Mỹ thuật” đi vào chuyên môn, giúp các họa sĩ thấy được vấn đề và đặt nhiều vấn đề đối với thế giới. Cuốn thứ ba là cuốn “Trịnh Cung Treo Trên Giá Vẽ (1962-2018)” mới xuất bản vào tháng 4 năm 2019.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1024 Posted : Monday, October 21, 2019 1:03:55 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1025 Posted : Monday, October 21, 2019 1:08:33 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Trọng Thành - RFI - Thứ Bảy, ngày 14 tháng 9 năm 2019

‘‘Robot - Bồ Tát’’ giảng kinh: Cuộc cách mạng trong Phật giáo?

UserPostedImage
Người máy Mindar, trong vai Quán Thế Âm Bồ Tát, đọc kinh Phật, chùa Kodaiji, Kyoto, Nhật Bản, ngày 14/08/2019.QUENTIN TYBERGHIEN / AFPTV / AFP

Chùa cổ Nhật Bản « mời » người máy giảng kinh Phật. Viện tư vấn Trung Quốc tố cáo dự án Con đường tơ lụa mới đe dọa Khí hậu toàn cầu. 8 thành viên phong trào chống Biến đổi Khí hậu ra tòa tại Pháp, vì tổ chức gỡ trộm ảnh tổng thống. Triển lãm đầu tiên tại Paris về cuộc đời Đức Phật qua các tác phẩm nghệ thuật. Bang California buộc tập đoàn Uber công nhận quy chế nhân viên với các tài xế tự do. Trên đây là một số chủ đề chính Tạp chí Thế Giới Đó Đây tuần này.

Nước Nhật tân cổ giao duyên tiếp tục gây ngạc nhiên. Năm 2019, các nhà sư của một ngôi chùa cổ hoan hỉ đón chào người máy đến giảng đạo Phật. Đây có thể là lần đầu tiên. Người máy Mindar giảng kinh Phật, trị giá gần một triệu đô la, là kết quả của một dự án chung, giữa ngôi chùa Kodaiji 400 năm tuổi, với nhà chế tạo robot nổi tiếng Hiroshi Ishiguro, Đại học Osaka.

« Mindar » - cao 1 mét 95, nặng gần 60 kg, không giới tính – làm bằng thép không rỉ. Ngoài một phần đầu, mặt, cổ và đôi bàn tay phủ nhựa silicon trông giống như da người, « Mindar » – dây nhợ chằng chịt quanh người - không hề che giấu mình là máy. Quán Thế Âm Bồ Tát « Mindar », với giọng nói mang thanh sắc kim loại, không mệt mỏi xướng lên hết đoạn kinh này đến đoạn kinh khác, phê phán những thói kiêu ngạo, sân hận, tham lam và ái kỉ của nhân sinh.

Trường Đại học Osaka đã thăm dò phản ứng của các Phật tử, sau khi nghe người máy Mindar giảng kinh. Một số người cho biết có « cảm giác ấm áp gần gũi » khi tiếp xúc với Quán Thế Âm Bồ Tát máy, ngược lại nhiều người thấy khó chịu, « khi nghe những diễn đạt rất không tự nhiên của robot ».

Hãng thông tấn Pháp AFP đã đến thăm ngôi chùa này hồi giữa tháng 8/2019. Trả lời AFP, vị sư trụ trì Tensho Goto hài hước : « Tôi hy vọng là người máy này sẽ mang lại một phong cách vui tươi, lấp đầy được cái hố sâu ngăn cách giữa những nhà tu hành về già, hết mốt như tôi » với giới trẻ.

Nhà sư Tensho Goto giải thích rõ hơn : « Mục tiêu của đạo Phật là giúp giảm bớt khổ đau. Mục tiêu vẫn luôn luôn là như vậy kể từ hơn 2.000 năm nay, cho dù xã hội hiện đại giờ đây có mang lại những hình thức căng thẳng mới…. Theo Phật không phải là tin vào một đấng thánh thần, mà là đi theo con đường của Phật, dấn thân theo con đường của Phật, cho dù đại diện cho Phật pháp có là một cỗ máy, một cục sắt hay một cái cây ».

Đối với thiền sư Tensho Goto và các vị sư trong ngôi chùa cổ này, thì chế tạo ra người máy giảng đạo là điều hoàn toàn phù hợp với Phật giáo, bởi robot có khả năng học hỏi rất nhanh, với đà tiến bộ phi thường của công nghệ hiện đại.

Ông nói : « Sự khác biệt lớn giữa một nhà sư và một người máy, đó là con người như chúng tôi thì đều sẽ chết, trong lúc người máy thì bất tử. Người máy sẽ có cơ hội được gặp gỡ nhiều người, thu thập được vô số thông tin, và có khả năng tiến hóa đến vô cùng ». Theo thiền sư Tensho Goto, dân Nhật vốn không có định kiến với người máy, bởi tuổi thơ của họ chìm trong không khí tranh hoạt hình, nơi máy với người là bạn, trong lúc nhà sư Nhật nhấn mạnh là sự hiện diện của Quán Thế Âm Bồ Tát máy trong một ngôi chùa là điều phản cảm với người phương Tây nói chung.
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1026 Posted : Tuesday, October 22, 2019 1:47:01 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1027 Posted : Tuesday, October 22, 2019 1:52:31 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Thu Hằng - RFI - Thứ Hai, ngày 21 tháng 10 năm 2019

Hà Nội qua cảm xúc của một cựu đại sứ Pháp

UserPostedImage
Phố cổ Hà Nội vào thu cây bàng lá đỏpixabay.com/9636137

Ngày 14/07/2016, lần cuối cùng ông Jean-Noël Poirier chủ trì lễ Quốc khánh Pháp với tư cách là đại sứ Pháp tại Việt Nam. Tiếng nhạc rộn ràng, tiếng chúc mừng, cười nói, nhưng tâm trí của ông đồng thời hướng ra phía ngoài thành phố, nơi để lại cho ông biết bao kỉ niệm trong bốn năm làm đại sứ.

Khác với đa số đại sứ thường viết hồi kí, ông Jean-Noël Poirier chọn làm phim Mon Hanoi- Hà Nội của tôi để lưu lại cảm xúc, cũng như chia sẻ quan sát của ông về người dân Việt Nam qua cách sống của họ ở Hà Nội. Vì những thước phim sống động, những lời tự sự thân mật, dễ đi vào lòng người và ít hàn lâm hơn, như giải thích của ông với RFI Tiếng Việt.

“Ở Hà Nội, ngay lập tức tôi có cảm giác như đang ở nhà, tôi thấy rất thoải mái. Ở Hà Nội, tôi có cảm giác gần gũi, thân quen. Khi phân tích sâu hơn một chút cảm giác này, tôi thấy Hà Nội có gì đó hơi giống Paris khi tôi còn trẻ trong những năm 1960-1970. Đó là một thành phố còn rất bình dân, rồi sau đó phát triển nhanh chóng với những công trình được xây khắp nơi, nhưng lại luôn giữ được nếp sống dân dã ở góc phố.

Ngay ở trung tâm thành phố vẫn có những gánh hàng rong bày bán ăn trưa, những người bán ngô dạo với cả một nồi to ở sau xe, như thời tôi còn trẻ, có những người lau chùi cửa kính đi dọc phố và rao “Thợ lau kính đây !”, giống những tiếng rao của người bán hàng rong ở Hà Nội ngày nay. Tôi tìm thấy ở Hà Nội hình ảnh của một Paris dân dã ngày xưa, mà giờ không còn nữa”.


Hà Nội được xây dựng trong giai đoạn đẹp nhất của kiến trúc thế giới

Hà Nội của cựu đại sứ Pháp là tiếng rao hàng rong, tiếng khoan cắt của thợ làm đường, là hình ảnh người lái xe ôm chống cằm chờ khách, các bà, các chị tập thể dục buổi sáng quanh Hồ Gươm, là tiếng trẻ con ríu rít nô đùa trên hè phố, rồi những cột điện chằng chịt, nặng chĩu dây mà ông cho rằng người thợ phải cực kì kiên nhẫn mới tìm ra được đường dây cần sửa, và không quên được những mảng tường rêu phong, loang lổ, những ngôi nhà hình ống mà ông tưởng như trò chơi lego, và đặc biệt là những biệt thự cổ thời Pháp mang đậm nét kiến trúc thuộc địa.

“Ở Hà Nội, có những nét kiến trúc Pháp giai đoạn cuối thế kỷ 19-nửa đầu thế kỷ 20 mà tôi cho rằng đó là giai đoạn đẹp nhất của kiến trúc hiện đại. Từ khoảng 1870 đến 1950, có rất nhiều công trình đẹp được xây dựng, ngay cả các tòa nhà cũng được trang trí. Kiến trúc trong giai đoạn này đã thành công rực rỡ. Và Hà Nội may mắn được xây dựng vào đúng thời kỳ mà nền kiến trúc thế giới nổi tiếng là đẹp, còn kiến trúc Pháp thì đang trên đỉnh cao về tính hiện đại và tao nhã”.

Hà Nội như một bài học ngoài trời về lịch sử kiến trúc, từ nghệ thuật mới đến art décor hoặc những đường nét tối giản của những năm 1940 đều xuất hiện trên những ngôi nhà, biệt thự hay tòa nhà công sở ở Hà Nội.

“Hà Nội và người Hà Nội rất gắn bó với di sản có từ thời thuộc Pháp. Rất nhiều công trình được xây trong giai đoạn đó hiện bị xuống cấp và chịu nhiều biến đổi lớn trong nhiều năm gần đây. Nhưng đúng là hão huyền khi nghĩ rằng có thể khôi phục, trả lại nguyên trạng cho tất cả những ngôi nhà đó vì hiện nay, trong một số biệt thự đó có đến 15 hộ gia đình sinh sống, thay vì trước đây chỉ có một gia đình. Vì thế vườn tược biến mất, người ta xây thêm tầng và làm thay đổi hoàn toàn những căn biệt thự đó.

Theo tôi, những căn nhà đó khó lòng mà phục hồi lại được. Vả lại tôi không chắc là nên cải tạo lại chúng vì chúng đã trở thành một cái gì đó rất khác. Ngoài ra, có một số căn biệt thực mang tính biểu tượng đặc biệt, không bị chia thành nhiều hộ khác nhau. Chúng vẫn trong tình trạng tốt và đáng được trùng tu”.


Vùng Ile-de-France của Pháp và thành phố Hà Nội đã thực hiện nhiều dự án hợp tác trùng tu và còn một số dự án khác sẽ được triển khai. Ông Jean-Noël Poirier cho biết, không chỉ dừng ở những công trình cổ, chương trình hợp tác của vùng Ile-de-France còn có mục tiêu cao hơn : đáp ứng những thách thức mới nảy sinh trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội, như ô nhiễm không khí, tắc đường…

“Hà Nội có chung thách thức như những đô thị không ngừng mở rộng khác do tình trạng nhập cư, mỗi năm lại có tương đương một quận mới được hình thành. Tình trạng này sẽ không ngừng, ở Hà Nội, hay ở thành phố Hồ Chí Minh, sự phát triển sẽ tiếp tục và kéo theo tình trạng ô nhiễm và đáng tiếc là sẽ còn tồn tại trong thời gian dài trước khi giải quyết được vấn đề. Vì thế, chương trình hợp tác, dĩ nhiên không chỉ với mỗi Pháp, cố gắng giúp đỡ hết sức chính quyền Việt Nam xử lý tình trạng này.

Bắc Kinh từng gặp vấn đề ô nhiễm trong vòng vài chục năm. Nhưng không khí ở Bắc Kinh đã được cải thiện từ vài năm gần đây. Vì thế, cần lạc quan ! Sau giai đoạn chất lượng không khí bị sụt giảm, có thể xem xét lại vấn đề và tôi hy vọng là Hà Nội sẽ thành công”.

Hà Nội như một nhà hàng lớn ngoài trời

Hiếm có một vị đại sứ nào lại thích “la cà” hàng quán vỉa hè như vậy. Để khám phá một Hà Nội khác, bình dị, ông học đi xe máy để dễ lách trong những con ngõ nhỏ ở khu Văn Chương. Để thưởng thức vị thật của ẩm thực Hà Nội, ông sẵn sàng kéo ghế đẩu, ngồi vỉa hè vì “ngon nhất là ăn uống ngoài đường phố”.

“Ăn ở vỉa hè, tôi rất thích đi phố cổ, vừa là một khu du lịch, vừa là một khu bình dị, rất tấp nập. Trong phố cổ có nhiều quán cơm vỉa hè rất ngon và rất đa dạng, rất phong phú. Nhưng khu nào cũng có nhiều nơi ăn bánh cuốn, ăn bún đậu mắm tôm. Tất cả các loại món ăn miền Bắc thì đều ăn được tại Hà Nội”.

Nguyên đại sứ Pháp ví “Hà Nội như một nhà hàng lớn ngoài trời”. Ông lập riêng một danh sách các địa chỉ “bí mật” mà ông vẫn tự hào dẫn bạn bè tới khám phá : “Không xa đại sứ quán Pháp có quán bánh xèo tuyệt ngon. Ở khu thành công, có bánh cuốn Lào Cai, với nguyên liệu do tự tay bà chủ chế biến. Và dĩ nhiên còn có món phở bò yêu thích của tôi nữa. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ để địa chỉ, để tránh ghen tị”.

Và khi trả lời RFI Tiếng Việt, ông vẫn giữ riêng cho mình quán phở “ruột”.

“Rất nhiều người hỏi tôi địa chỉ của quán phở bò ngon nhất tại Hà Nội. Đây là một bí mật rất riêng. Nói chung, có thể nói phở bò ở Hà Nội là cực kỳ ngon. Khắp nơi trong thành phố, có thể tìm thấy một quán cà phê và một quán phở ngon và sạch”.


Trong phim của ông, dù có mải mê tìm hiểu, Hà Nội vẫn giấu trong mình những nét bí ẩn, cần kiên nhẫn khám phá và đôi khi chút tình cờ cũng mang lại điều thú vị, như khu Văn Chương, “nơi lý tưởng để thoát khỏi công việc văn phòng khi tản bộ” và làm ông liên tưởng đến Belleville, Ménilmontant ở Paris.

“Để khám phá nét đẹp và duyên của Hà Nội, phải mất một chút thời gian. Có lẽ, đối với khách nước ngoài đến Hà Nội lần đầu tiên, thì khó hiểu và khó tìm thấy những điểm thú vị của Hà Nội. Ví dụ, các biệt thự cũ, các khu bình dị được giới thiệu trong phim, thì phải đi hơi xa, không phải trong trung tâm thành phố, phải đi khu khác mà bình thường khách du lịch không đi.

Có một địa điểm “hotspot”, một địa điểm du lịch “nóng” bây giờ ở Hà Nội mấy tháng vừa qua là đường sắt. Có nhiều quán cà phê mọc lên hai bên đường sắt. Có rất nhiều khách du lịch, kể cả Việt Nam và nước ngoài, đi dọc đường sắt để nhìn thấy tầu hỏa đi qua, đi ra đi vào ga Hà Nội. Đây là một cảnh rất ấn tượng !”

Phố cà phê tầu hỏa đã bị cấm vì an toàn của người dân. Phong cảnh, nét sống ở Hà Nội khiến ông Jean-Noël Poirier có cảm giác như cùng lúc vừa ở Pháp, vừa ở Việt Nam. Vì thế, trút trang phục đại sứ sau bốn năm nhiệm kỳ, ông quyết định thử sống như người Hà Nội, với một công việc… rất khác.

“Sau khi hết nhiệm kỳ, tôi quyết định thành lập một công ty tư vấn cho công ty nước ngoài và những dự án lớn nước ngoài muốn đầu tư và phát triển tại Việt Nam. Làm doanh nghiệp ở Việt Nam không dễ lắm đối với người nước ngoài, cách làm việc khác một chút với cách làm của phương Tây. Và đây là công ty đầu tiên.

Năm ngoái (2018), tôi cũng quyết định thành lập một công ty thứ hai, nhưng trong lĩnh vực dịch vụ cho cá nhân. Đây là một công ty giặt là, giặt khô kiểu Pháp. Tại vì làm đại sứ 4 năm ở Hà Nội, tôi thấy là dịch vụ giặt khô ở thủ đô Hà Nội chưa đạt tới tiêu chuẩn châu Âu. Tôi đã mở một cửa hàng trong trung tâm thành phố và tháng sau (tháng 11) sẽ mở hai cửa hàng khác trong khu Mỹ Đình và Tây Hồ”.


Hoàng Thy Mai Thảo  
#1028 Posted : Wednesday, October 23, 2019 12:05:43 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1029 Posted : Wednesday, October 23, 2019 12:11:06 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Thu Hằng - RFI - Thứ Sáu, ngày 01 tháng 7 năm 2016

70 ngày cuối đời của Van Gogh ở Auvers-sur-Oise, Pháp

UserPostedImage
"Phố ở Auvers-sur-Oise", một tác phẩm của Van Gogh.Wikipedia

Quãng đời 37 năm ngắn ngủi của Vincent Willem Van Gogh (1853-1890) có thể được miêu tả trong ba từ : nghèo khó, thất bại và tuyệt vọng. Khi còn sống, họa sĩ tài hoa không bán được một bức tranh nào. Chỉ vài ngày sau khi tác phẩm đầu tiên có người mua, Vincent Van Gogh qua đời.

Ngay từ nhỏ, Vincent là một đứa trẻ thất thường, có khiếu ngoại ngữ (nói được ba thứ tiếng Hà Lan, Anh, Pháp) và vô cùng mê hội họa. Đây là cách duy nhất giúp họa sĩ kìm hãm những xáo động trong lòng. Xuất thân trong một gia đình mục sư, Vincent Van Gogh ra đời cùng ngày và mang cùng tên người anh trai chết yểu ngay khi trào đời một năm trước.

Năm 16 tuổi, Vincent Van Gogh học nghề bán tranh cho chi nhánh Galerie nghệ thuật Goupil tại La Haye nhờ giới thiệu của một người chú, đồng thời là nhà đồng sáng lập chi nhánh của Galerie này tại Paris. Năm 1873, ông được cử sang làm việc tại Luân Đôn. Tại đây, chàng thanh niên thương thầm nhớ trộm cô con gái bà chủ nhà trọ, Ursula Loyer, song không được đáp lại.

Thất tình, Vincent chìm trong u uất, tỏ ra bí ẩn và chỉ thổ lộ trong những bức thư gửi về cho người em trai kém họa sĩ bốn tuổi, Theodorus (1857-1891). Théo, tên gọi thân mật của Theodorus, còn là người bạn tâm giao, người thường xuyên hỗ trợ họa sĩ cả về tinh thần lẫn vật chất trong suốt quãng đời ngắn ngủi.

Van Gogh chạy trốn thực tế phũ phàng trong một thời gian ngắn tại Paris trước khi quay lại Luân Đôn và dạy học ở khu phố lao động Isleworth. Thất bại đầu tiên đã khiến Van Gogh không còn tập trung vào công việc và ngày càng đi theo đức tin. Bị các ông chủ khiển trách, Vincent xin nghỉ việc vào tháng 04/1876 sau 7 năm làm nghề bán tranh. Van Gogh truyền đạo cho những người thợ mỏ ở Borinage (Bỉ). Thế nhưng, mong muốn này của Van Gogh lại bị giáo hội phản đối nên buộc phải ngừng việc truyền đạo chỉ một năm sau (1879).

Thêm một thất bại, Van Gogh lang thang cô độc, mất phương hướng cho đến khi hội họa thôi thúc nghệ sĩ từ bỏ việc truyền đức tin. Từ tháng 11/1879 đến tháng 02/1886 là quãng thời gian để Vincent Van Gogh tập trung vào con đường nghệ thuật mà nghệ sĩ đam mê từ nhỏ, từ tự học đến học chung với những người bạn họa sĩ hay học chính quy tại Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật Hoàng Gia ở Anvers. Cũng vì tính cách đặc biệt, Van Gogh bỏ Viện Hàn Lâm sau hai tháng theo học vì chương trình quá gò bó với ông.

Phiêu lưu trong nắng vàng miền nam nước Pháp

Sau khi cha mất, tháng 02/1886, Vincent quyết định rời Bỉ đến Paris nơi người em trai Théo sinh sống. Tại đây, họa sĩ Hà Lan thường xuyên liên lạc với các họa sĩ trường phái Ấn tượng Pháp (Camille Pissaro, Paul Gauguin, Paul Signac). Ngoài ra, Emile Bernard và Henri de Toulouse-Lautrec cũng là những họa sĩ có ảnh hưởng sâu sắc đến tác phẩm của Van Gogh. Cả ba cùng tổ chức một triển lãm chung vào năm 1887, nhưng không ai bán được bức tranh nào. Họ hiểu rằng cơ hội chưa mỉm cười với họ.


Năm 1888, Vincent Van Gogh chuyển xuống thành phố Arles để vẽ những cánh đồng bát ngát chìm trong nắng vàng rực rỡ, đặc trưng của miền nam nước Pháp : Cây cầu Langlois, các bức họa Hoa hướng dương (Tournesols) và Le Jardin du Poète, khu vườn trên quảng trường Lamartine. Sống một mình trong cộng đồng người dân Arles luôn nghi ngờ người đàn ông ngoại quốc kỳ cục này, Van Gogh dần trở nên trầm cảm. Họa sĩ người Hà Lan quyết định mời Gauguin xuống Arles chơi và cùng làm việc. Gauguin đến ngày 23/10/1888. Nhưng chỉ hai tháng sau, tối ngày 23/12, giữa hai người xảy ra một cuộc tranh cãi căng thẳng do bất đồng về tính cách và cách nhìn nhận về nghệ thuật. Giận giữ và bột phát, Van Gogh tự tay cắt tai phải của mình. Hai bức tự họa là bằng chứng cho hành động này.

Được đưa vào bệnh viện, bác sĩ điều trị Félix Rey chuẩn đoán Vincent làm việc quá sức và bị động kinh. Cú sốc, hay lại thêm một thất bại, đã khiến Van Gogh rơi vào tình trạng ảo tưởng. Ông được điều trị nội trú tại Saint-Rémy-de-Provence nhưng vẫn được phép đi vẽ vào ban ngày. Thế nhưng, trước sức ép của người dân địa phương, Vincent bị chuyển sang nhà thương tư nhân Saint-Paul-de-Mausole và bị “giam lỏng” cùng với những bệnh nhân tâm thần thật. Ông hiểu rằng mình sẽ phát điên thật sự nếu còn ở lại miền nam nước Pháp.

Auvers-sur-Oise, nơi chấm dứt chuỗi đau khổ

Ngày 20/05/1890, Van Gogh chuyển đến đến ngôi làng Auvers-sur-Oise ở ngoại ô Paris và được bác sĩ Paul-Ferdinant Gachet chăm sóc, theo lời khuyên của họa sĩ Pissarro với người em trai Théo. Nhà trọ Auberge Ravoux, với giá thuê bèo bọt 3 franc 50 mỗi ngày, là nơi ở cuối cùng của họa sĩ.

Chị Marion André, hướng dẫn viên tại di tích Auberge Ravoux, kể lại những ngày cuối đời của Van Gogh :

« Van Gogh trọ ở phòng trọ số 5, dưới mái nhà của Nhà trọ Ravoux. Vì mê tín nên căn phòng trở thành « phòng của người tự tử » và chưa bao giờ được cho thuê lại. Trong căn phòng chưa đầy 7 m2, không còn gì để xem nhưng mọi người đều có thể cảm nhận được.

Tổng cộng thời gian Van Gogh lưu lại Auvers là 70 ngày. Họa sĩ chọn quán trọ Auvers vì có hàng cà phê nổi tiếng với giá bình dân và hơn nữa, ông chỉ cần một phòng để ngủ qua đêm. Chính vì vậy, căn phòng 7 m2 là đủ cho cách sống của Van Gogh. Vì ông là một người thích làm việc, rất chăm chỉ và vẽ ngoài trời từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày. Chính vì vậy, họa sĩ người Hà Lan ở rất ít trong căn phòng nhỏ này.

Căn phòng trọ này là nơi ở thứ 38 của họa sĩ trong vòng 37 năm. Van Gogh đi hết từ nhà trọ này sang nhà trọ khác, từ nước này sang nước khác. Ông nói thành thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì vậy, các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bỉ, Van Gogh đều đã đi qua và chưa một nước nào Van Gogh dừng chân lâu cả ».


Thực ra, nhà trọ Ravoux ở Auvers-sur-Oise cũng chỉ là một trạm dừng chân tạm thời để chữa bệnh. Nhưng trong suốt thế kỷ thứ XIX, Auvers-sur-Oise đã nổi tiếng trong giới họa sĩ là một vùng nông thôn đẹp như tranh, thơ mộng, êm đềm và chỉ cách Paris hơn 1 giờ đi xe lửa. Đã có nhiều họa sĩ nổi tiếng sống tại đây như Daubigny cùng với bạn bè như Corot, Daumier. Sau đó là Cézanne, Pissaro là những họa sĩ theo trường phái trừu tượng.

« Đúng là chỉ sống tại Auvers-sur-Oise có 70 ngày, nhưng Van Gogh đã vẽ 80 bức tranh và khoảng 100 bức vẽ. Đây là một khối lượng tác phẩm rất quan trọng và đáng nể phục trong một khoảng thời gian ngắn như vậy.

Cứ đến ngày chủ nhật, Van Gogh tới nhà bác sĩ Gachet ăn cơm. Họa sĩ vẽ khu vườn nhà bác sĩ, vẽ chân dung Maguerite, con gái của bác sĩ. Gia đình chủ nhà trọ Ravoux trở thành những người bạn thân thiết của họa sĩ và ông vẽ hai bức tranh cô con gái chủ nhà trọ.

Van Gogh qua đời trong căn phòng của mình lúc 1 giờ 30 ngày 29/07/1890 khi mới 37 tuổi. Cho đến giờ, người ta vẫn không biết chính xác chuyện gì đã xảy ra. Chỉ biết là Van Gogh về nhà với một vết thương do đạn bắn trúng ngày 27/07. Họa sĩ trình báo với cảnh sát là ông vô tình bắn vào mình. Cuối cùng, ông đã không qua khỏi. Đám tang không được tổ chức theo nghi lễ tôn giáo. Chỉ có lễ truy điệu được tiến hành ngay tại nhà trọ sau đó linh cữu được quàn tại nghĩa trang địa phương ».

Théo để lại cho gia đình Ravoux các bức tranh của Van Gogh vẽ trong thời gian trọ ở đây, trong đó có hai bức chân dung cô con gái, và một số khác cho bác sĩ Gachet, để cảm ơn họ. Vài năm sau, gia đình Ravoux bán lại một số bức tranh của Van Gogh trong « Ngày dọn kho » (vide-grenier) chỉ với giá vài xu cho các họa sĩ Mỹ.

Trước khi rời miền nam Pháp, Van Gogh cũng tặng tranh chân dung vị bác sĩ đã điều trị ông. Sau này, người ta tìm thấy một bức tranh được dùng để bịt chuồng gà nhà bác sĩ, trong tình trạng gần như bị hỏng hoàn toàn, nhưng may mắn là đã được khôi phục. Trong suốt 37 năm, Van Gogh gần như là một họa sĩ vô danh, từng kí tên trên hơn 800 tác phẩm nhưng chỉ bán được một bức tranh duy nhất, “Vườn nho đỏ” (La Vigne Rouge), tại Bruxelles vào năm 1890.

Sáu tháng sau ngày Vincent mất, người em trai Théo, vì bị tổn thương và bệnh nặng, cũng qua đời tại Hà Lan. Năm 1914, Johanna, vợ của Théo, đã mang hài cốt của chồng đến an táng bên cạnh mộ Vincent ở Auvers-sur-Oise.

UserPostedImage
Mộ của Vincent Van Gogh và em trai Théo tại Auvers-sur-Oise.
RFI / Tiếng Việt

hongvulannhi  
#1030 Posted : Wednesday, October 23, 2019 8:31:44 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,253

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

Tiếng hát Châu Hà: Niềm đam mê âm nhạc vượt thời gian


08/10/2019
Hà Vũ

Những ai mê các ca khúc trữ tình của nhạc sĩ lừng danh Văn Phụng đều biết đến giọng ca mượt mà của ca sĩ Châu Hà, người bạn đời gắn bó và cũng là nguồn cảm hứng sáng tác của ông trong rất nhiều tác phẩm.

Sinh ra trong một gia đình khá giả, bố người Bắc, mẹ là người miền Nam ở Mỹ Tho, ca sĩ Châu Hà thủa nhỏ đã theo học một trường của các nữ tu tại Sài Gòn và quen hát Thánh ca. Bà học đàn piano với một thầy nổi tiếng nghiêm khắc, nên bà hấp thụ được rất nhiều.

“Thầy dạy piano tên là Nguyễn Văn Dung. Ông rất giỏi. Ông giỏi đủ mọi thể điệu: nhạc Mỹ, nhạc Tây phương, nhạc Âu châu, nhạc gì ông cũng biết. Tôi học, tôi biết các bản nhạc của Mỹ là do ông và tôi biết lịch sử về nhạc Jazz cũng là tôi học ở ông. Học piano, tôi đánh 4 tiếng một ngày, hết một quyển exercise, ông đòi hỏi như vậy,” bà cho biết.

Ca sĩ Châu Hà nói thoạt đầu bà ôm mộng làm nhạc sĩ, nhưng có lẽ số mệnh đã đưa đẩy khiến bà trở thành một ca sĩ và bà theo nghiệp cầm ca chắc cũng từ cái gene của bố mẹ.

“Mẹ tôi biết nhạc, đánh đàn cũng hay lắm. Ông cụ thì nghe “cô đầu”. Ổng mê cô đầu nên tối tối ông đi cô đầu nghe hát. Mẹ tôi ở nhà đánh đàn. Dòng họ bên ngoại tôi các ông các bà hát vọng cổ hay lắm thành ra tôi nghĩ rằng có ảnh hưởng của bên ngoại.”

Nhờ năng khiếu ca hát trời cho, khả năng đàn piano thành thạo và rành nhạc lý, nên ca sĩ Châu Hà không gặp khó khăn gì trong việc ca hát. Dù gặp một bài mới, hay không có đàn kèm theo, bà vẫn hát được một cách dễ dàng. Bà lại là người mê nhạc Tây phương, cả cổ điển lẫn hiện đại.

Khả năng ca hát của ca sĩ Châu Hà không chỉ dừng lại ở chất giọng, ở kỹ thuật, mà còn cả một nghệ thuật chuyển tải âm nhạc qua nhiều ngôn ngữ khác nhau.

“Tôi có một thời gian vài năm tôi hát cho các sĩ quan cao cấp quân đội Mỹ. Ban nhạc của chúng tôi chơi trên nóc của lầu Rex. Tôi với anh Văn Phụng và Kim Tước hát ở đó khá lâu. Quân đội Mỹ, Hiệp Chủng Quốc thì thành ra đủ các giống người. Có Đại Hàn tôi hát tiếng Đại Hàn. Có người Hawaii tôi hát tiếng Hawaii. Tổng cộng, tôi hát đến 7 thứ tiếng. Có khách gì, tôi hát tiếng đó,” bà cho biết.

UserPostedImage

Ca sĩ Châu Hà bên chồng, nhạc sĩ Văn Phụng

Hồi tưởng lại kỷ niệm lần đầu gặp gỡ nhạc sĩ Văn Phụng, bà còn nhớ như in từng chi tiết.

“Sự thật, đúng sự thật là năm 1952, ba anh Văn Phụng mướn nhà của ba tôi. Một hôm anh Văn Phụng đến thăm ông cụ, anh nghe tiếng đàn của tôi, anh rón rén, anh tò mò, anh lên lầu. Lúc đó tôi ngồi đàn, hong tóc dài của tôi cho khô, tóc tôi dài chấm dất. Vừa đàn nhưng tôi thoáng thấy có bóng người nơi cửa, tôi quay lại tôi thấy anh Văn Phụng. Anh nói ‘Xin lỗi, tôi là Văn Phụng, con cụ Bảng dưới nhà, nghe tiếng đàn của cô tôi đánh bạo lên đây để làm quen.’ Lúc đó tôi không biết Văn Phụng là ai vì tôi ở miền Nam nhiều hơn ở ngoài Bắc. Ông hỏi tôi cô đàn bài gì đó? Tôi mới nói bản nhạc tên là 'It's a sin to tell a lie' của Eddie Duchin một nhạc sĩ Mỹ tôi học ở miền Nam. Tôi đàn anh thấy hay quá. Ảnh bảo: ‘Vậy cô có thể cho tôi đàn nhờ một tí?’ Ảnh nhìn bản nhạc ảnh đàn hay lắm. Ảnh đàn xong rồi tôi mới thấy tôi múa rìu qua mắt thợ. Tôi khen ông thì ông đàn luôn bản nhạc ‘Suối tóc’. Ông đàn xong ông không biết đặt tên bài ấy là bài gì. Ông chỉ đàn âm điệu của bài ‘Suối tóc.’ Đàn xong rồi, ông quay ra nhìn tôi ông bảo ‘Mái tóc cô đẹp quá, thật là suối tóc.’ Tự nhiên ông buộc miệng ông nói như vậy. Thế từ đó đặt tên ‘Suối tóc’ cho bản nhạc đó. Thế thì thôi chúng tôi không gặp nhau nữa là vì năm đó là năm 52 mà mãi đến năm 54 mới di tản. Từ 52 đến 54 chúng tôi không có gặp nhau vì có quen nhau đâu, có bạn bè gì đâu. Lúc đó ông đã có vợ rồi. Tôi đâu có màng đến người có vợ. Lúc đó tôi mới 18 tuổi, còn trẻ quá. Nhà ông cụ, bà cụ tôi khá giả thành ra cụ cứ phải chọn lựa người đúng cho mình. Người ta lầm, người ta tưởng thời gian đó chúng tôi đã lấy nhau rồi hay đã yêu nhau rồi bị gián đoạn. Cái đó không đúng đâu.”

Ca sĩ Châu Hà kể đến năm 1955, sau khi vào Sài Gòn, bà được người anh nuôi là Đoàn Văn Cừu, Tổng giám đốc Đài phát thanh Việt Nam, dành cho 1 giờ mỗi ngày để trình diễn trên đài phát thanh khi đài tăng cường giờ phát sóng từ 8 tiếng lên thành 24 tiếng một ngày.

“Tôi lập một ban nhạc để chơi nhạc trong một giờ đồng hồ phát thanh. Có tiền, có phát lương đàng hoàng, 300 đồng một bài. Tự nhiên trong một ngày đó, tên tuổi của tôi vang lên ở làn sóng điện, một cách không phải thi cử, tuyển lựa gì cả. Cứ thế là hát, cứ thế là tổ chức ban nhạc của mình. Tự nhiên trời cho tôi hưởng đúng giai đoạn đài phát thanh mở ra 24 tiếng một ngày thành ra tôi đâm ra đắt hàng. Tôi hát từ sáng cho đến tối. Sáng sớm 7, 8 giờ đã hát rồi cho đến 12 giờ đêm vẫn còn hát. Cứ như là cắm dùi ở đài phát thanh. Thành ra tôi thành ca sĩ thôi.”

Cũng khoảng năm 1955, ca sĩ Châu Hà gặp lại nhạc sĩ Văn Phụng khi ông từ Nha Trang vào Sài Gòn.

“Chúng tôi găp nhau, gặp nhau cũng chỉ là bạn thôi nhưng mà ông sáng tác ra thì ông đưa tôi hát bất cứ bản gì ‘Mưa trên phím ngà,’ hay ‘Tiếng dương cầm.’ Tất cả những bản gì mới sáng tác ra là Châu Hà hát. Rồi ông Văn Phụng có một ban nhạc với tôi, Kim Tước, Mộc Lan, Nhật Bằng và Ngọc Giao. Chúng tôi hát với nhau suốt nhiều năm,” bà thuật lại.

Nhạc sĩ Văn Phụng và ca sĩ Châu Hà trở thành đôi bạn đời vào năm 1963 và không xa rời nhau cho đến khi ông Phụng qua đời vào ngày 17/12/1999 tại bang Virginia, Hoa Kỳ, trong sự tiếc thương vô hạn của vợ con và bạn bè. Bà Hà nói sau khi ông Phụng mất, nhiều năm liền bà không dám nghe nhạc của chồng sáng tác vì niềm đau khôn nguôi.

“Tôi nghe nhạc, tôi bị anxiety attack liền, ngay lập tức, suốt 7 năm trời. Nghe nhạc là bị attack thế là đi nhà thương, tìm không ra bệnh lại gửi về. Bảy năm như thế, không dám nghe nhạc Phụng nữa bởi vì nó đau quá. Mình mất tình yêu của mình đau quá không muốn nghĩ tới nữa. Nghĩ tới vẫn còn thấy đau.”

Hiện nay, ca sĩ Châu Hà, chủ nhân của suối tóc tạo nên nhạc bản lừng danh của Văn Phụng, đang cư ngụ tại khu nhà dành cho người cao niên-người hưu trí ở Tyson Corner, bang Virginia. Bà cho biết bà vui, bà thích lắm vì có nhiều bạn già 90-100 tuổi. Bà là người trẻ nhất, 85 tuổi.

Edited by user Wednesday, October 23, 2019 5:01:12 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 10/24/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1031 Posted : Thursday, October 24, 2019 12:01:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1032 Posted : Thursday, October 24, 2019 12:08:07 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Triển lãm "Đức Phật, huyền thoại vàng son" ở Paris

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Tư, ngày 23 tháng 10 năm 2019

UserPostedImage
Triển lãm "Bouddha, la légende dorée" nhân 130 năm ngày thành lập Bảo tàng Guimet
159 tác phẩm đủ loại đề cao các giai đoạn hưng thịnh, rực rỡ nhất lịch sử Phật giáo
Tuấn Thảo / RFI

Cách đây đúng 130 năm, Viện bảo tàng Guimet đã được khánh thành tại Paris (năm 1889), theo nguyện vọng của ông Émile Guimet. Sau chuyến Đông du gần hai năm trời tại Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ, nhà triệu phú người Pháp đã dành cho Phật giáo một vị trí quan trọng trong viện bảo tàng do chính ông thành lập.

Hơn một thế kỷ sau, Viện bảo tàng nghệ thuật châu Á Guimet đã muốn đề cao tầm nhìn xa của nhà sáng lập Émile Guimet qua việc tổ chức từ đây cho tới đầu tháng 11 năm 2019 một cuộc triển lãm lớn về hành trình của Đức Phật nói riêng và sự lan tỏa của đạo Phật trên toàn châu Á nói chung. Cũng cần biết rằng, viện bảo tàng đầu tiên mang tên ông Guimet đã được thành lập nhiều năm trước đó tại thành phố Lyon, lúc bấy giờ là một viện bảo tàng lịch sử tự nhiên.

Chỉ sau khi thực hiện chuyến Đông du (năm 1876), ông Guimet mới ý thức được tầm quan trọng hàng đầu của các nền văn minh cổ đại châu Á và nghệ thuật tôn giáo Đông phương, nhất là đạo Phật. Các nỗ lực tìm tòi nghiên cứu của ông vì thế cũng tập trung nhiều hơn vào châu Á, để rồi cho ra đời một trong những bộ sưu tập quý giá nhất trên thế giới


Từ bộ sưu tập phong phú với hơn 52.000 cổ vật và tác phẩm nghệ thuật, ban điều hành bảo tàng Guimet đã chọn lựa để trưng bày khoảng 160 tác phẩm đủ loại đến từ nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, vùng Hy Mã Lạp Sơn, Trung Á và khu vực Đông Nam Á ….. Cuộc triển lãm mang tựa đề ‘‘Bouddha, la légende dorée’’ (Đức Phật, huyền thoại vàng son), qua các tác phẩm nghệ thuật phản ánh phát triển của đạo Phật, với nhiều trường phái có truyền thống khác nhau chẳng hạn như Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Kim Cương thừa. Cuộc triển lãm qua hàng tựa cũng đề cao các giai đoạn hưng thịnh, rực rỡ nhất lịch sử tại các quốc gia từng gắn liền với Phật giáo. Về điểm này, ông Thierry Zéphir, trưởng ban tổ chức triển lãm tại bảo tàng Guimet cho biết thêm chi tiết :

Chúng tôi giới thiệu qua cuộc triển lãm này khoảng 2.000 năm nghệ thuật Phật giáo. Các tác phẩm xưa nhất trong đó có một bức phù điêu có từ thế kỷ thứ nhất và một bức tượng Phật có từ thế kỷ thứ hai, còn tác phẩm gần đây nhất là một bức tượng nghệ thuật đương đại được sáng tác vào năm 2016. Trong quá trình tổ chức cuộc triển lãm, chúng tôi đã cố tình chọn lựa các tác phẩm đến từ mọi quốc gia châu Á, để cho công chúng thấy rõ sự phong phú đa dạng của các hình thức nghệ thuật và đồng thời những điểm chung trong cách thể hiện hình tượng của Đức Phật xuyên qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau.

Trong cuộc triển lãm, có rất nhiều bức tượng Phật tiêu biểu cho nhiều giai đoạn lịch sử cũng như các phong trào nghệ thuật khác nhau. Theo ông Thierry Zéphir, tuy Phật giáo đã có từ thứ kỷ 6 trước công nguyên, nhưng việc miêu tả và thể hiện Đức Phật qua hình thức vẽ tranh, chạm trỗ hay tạc tượng chỉ bắt đầu khoảng 600 năm sau, tức là từ thế kỷ thứ nhất trở đi. Giai đoạn này còn được gọi là ‘‘thời kỳ thánh tượng’’ :

Qua cách thể hiện hình tượng, các nghệ nhân đã muốn miêu tả nhân dạng của Đức Phật, tuy có hình người (thế nhân), nhưng vẫn có những nét ưu việt, vượt trội so với người trần. Xu hướng này lại càng rõ nét trong nghệ thuật Phật giáo Đại thừa. Cơ thể của Đức Phật thanh nhã và cân xứng, vầng trán rộng, sống mũi thon, mắt đang khép lại hay chỉ hé mở, đôi môi thường mỉm nụ cười. Có thể nói là hình tượng của Đức Phật trong tư thế ngồi thiền đã trở thành một biểu tượng rất quen thuộc, xuyên khắp châu Á, lưu truyền trong bao thế kỷ qua. Khác hay chăng là trong tư thế (đứng, ngồi, nằm) hay là các hình thức thủ ấn (mudra), mỗi động tác hay cử chỉ của bàn tay đều có ý nghĩa riêng (thiền định, thuyết pháp, khai sáng, giác ngộ …..). Nhưng hầu hết đều có một điểm chung, khuôn mặt từ bi bác ái, rạng ngời tỉnh thức của Đức Phật còn được các Phật tử gọi là Đấng Thế Tôn.

Cuộc triển lãm tại Viện bảo tàng nghệ thuật châu Á Guimet thật ra không phải dành riêng cho giới chuyên môn, mà lại nhắm vào đại đa số người xem. Cho dù không hề hiểu biết một chút gì về Phật giáo, người xem vẫn cảm nhận được ngay sự thanh thoát nhẹ nhàng khi nhìn thấy Đức Phật khép mắt, nội tâm hướng thiền định, trên môi nhẹ nở nụ cười bình an.

Ngoài việc trưng bày các báu vật cổ xưa, cuộc triển lãm còn giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật gần đây, tiêu biểu nhất là bức tượng Phật ngồi thiền bằng gốm của nghệ sĩ đương đại Nhật Bản Takahiro Kondo (2016), cũng như các tấm ảnh chụp các bức bức phù điêu dưới ánh trăng rằm của quần thể đền đài Borodubur (nằm trên đảo Java) của hai nhiếp ảnh gia Caroline và Hughes Dubois, trưởng ban tổ chức triển lãm muốn cho thấy tư tưởng Phật giáo tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẻ đến xã hội thời nay.

Đạo Phật là một tôn giáo đề cao tư tưởng khoan dung, đề cao tinh thần bác ái, vì thế rất nhiều người tìm thấy trong đạo Phật một thông điệp tích cực lạc quan. Theo cảm nhận của rất nhiều người, đặc biệt là người Âu Mỹ, đạo Phật không hẳn là một tôn giáo với những điều ràng buộc hay áp đặt, mà lại dạy cho chúng ta nhiều điều triết lý có thể áp dụng được ngay trong cuộc sống thường ngày. Điều đó có thể giải thích vì sao Phật giáo đã được nhiều người trong xã hội thời nay hưởng ứng, cho dù họ không nghĩ là họ theo đạo Phật, hay tự xưng mình là ‘‘Phật tử’’. Nhiều người tìm thấy trong triết lý Phật giáo điều giúp cho họ tìm lại sự thanh thản bình tâm và như vậy họ có thể đối đầu với nhịp sống hối hả thời công nghệ ‘‘hiện đại’’.

Bước vào không gian triển lãm, khách tham quan cảm nhận được ngay không khí thanh tịnh khác thường. Lối dàn dựng rất tỉ mỉ công phu, trong cách dùng ánh sáng không trực tiếp, cõ lẽ cũng vì để bảo tồn các cổ vật ‘‘mỏng manh’’ dễ bị hư hại, nhất là các tác phẩm nghệ thuật hàng trăm năm tuổi vẽ trên giấy, thêu trên lụa. Cách dùng ánh sáng ấy cũng tạo ra một khung cảnh huyền ảo lạ kỳ, giữa những mảng chập chùng tối sáng. Các gian triển lãm được sắp đặt theo chủ đề và được minh họa bằng những gam màu khác nhau.

Chẳng hạn như những tượng Phật bằng đồng (đền Angkor hay là đền Ayuthaya) nổi bật trên màu tím, các tượng vàng hay bằng đất nung nâu vàng lại càng lộng lẫy trên phông màu xám tro, nhưng khi có ánh sáng rọi vào lại lấp lánh màu xám ngọc trai. Các bức phù điêu, tượng gốm hay tranh vẽ được dựng xen kẽ trên những phông màu đất nâu hay xanh lục.

Khách tham quan có lẽ thường được nhìn thấy tượng Phật bằng đồng bằng đá, gỗ quý hay ngọc thạch, nhưng bộ sưu tập của Viện bảo tàng Guimet trưng bày những cổ vật quý hiếm hơn thế nữa. Các tác phẩm được vẽ trên lụa, khắc trên thanh tre, các nét chạm trỗ khéo léo trên bức tranh cuốn làm bằng những mãnh ngà voi ghép lại …..

Thông qua các tấm bản đồ, cuộc triển lãm tóm tắt sự lan rộng của các nhánh khác nhau trong Phật giáo, từ Afghanistan đến Nhật Bản, từ Trung Quốc đến Indonesia. Bước qua các gian triển lãm, người xem có cơ hội chiêm ngưỡng hình tượng của Đức Phật thiêng liêng được thăng hoa qua mọi hình thức nghệ thuật : những tác phẩm điêu khắc được tìm thấy trong một ngôi đền ở miền nam Ấn Độ, một bức phù điêu làm bằng sa thạch đỏ cũng như những tác phẩm nghệ thuật Gandhara có từ của thế kỷ thứ nhất, thời đế chế kouchan (nay là Pakistan), các pho tượng đá Indonesia thế kỷ 12, rồi gốm sứ của Trung Quốc hay của Nhật Bản thế kỷ 18.

Nghệ thuật vương quốc Khmer đến từ quần thể đền Bayon đem lại những nét đơn giản mà tinh tế. Về phía Hàn Quốc, những bức tượng của các vị bồ tát linh thiêng hay các bậc cao tăng được chạm khắc trên đá, có từ thời Choson (thế kỷ 15). Những cuộn chân kinh chép tay, hay khắc trên gỗ trầm hương, của Miến Điện có từ thế kỷ 17. Guimet cũng là nơi lưu trữ Bàn tay Phật bằng đất nung với những vết mạ vàng. Đó là bàn tay của một pho tượng Phật Bâmiyân, từng bị Taliban phá hủy vào năm 2001.

Đây là một trong những di tích hiếm hoi còn giữ lại sau đợt khai quật của các nhà khảo cổ Pháp thực hiện vào những năm 1930. Đối với giới chuyên gia, mỗi thời kỳ có thể là một đề tài nghiên cứu nhiều năm, những đối với ban tổ chức, nghệ thuật Phật giáo đã được đây lên một bậc cao, đường nét thẩm mỹ tinh tế đến nổi các cổ vật ở đây được nâng lên hàng nghệ thuật và đơn thuần được thưởng thức như một tác phẩm nghệ thuật hẳn hoi.

Khách xem triển lãm không thể nào bỏ qua gian phòng cuối cùng với thánh tích mạ vàng, một chiếc stupa có từ thế kỷ 18 được khảm với nhiều viên đá quý thạch lam(stupa là "tháp bà" hay "phù đồ", nơi cất giữ một phần xá lợi hay di thể của Đức Phật). Đây là một bảo vật thuộc bộ sưu tập của nữ hoàng Eugénie, từng được trưng bày tại lâu đài Fontainebleau. Cũng như tấm tranh cuộn thangka (đến từ Cam Bốt) minh họa 9 tiền kiếp của Đức Phật, một tuyệt tác mà Guimet đã vay mượn từ Viện bảo tàng Nghệ thuật Nguyên thủy Quai Branly được cho.

Thời xưa, đây là báu vật được trưng bày tại cung điện Versailles, từng được dùng vào thời vua Louis XVI để giảng dạy các hoàng thân về triết học cũng như tôn giáo phương Đông. Chiếc tháp bà (stupa) bằng vàng khảm đá qúy được lồng kính, đặt ở bên cạnh một bức tượng Thái Lan trong tư thế ngồi thiền, ở trên đầu của Đức Phật, sáng tỏa năm chiếc vương miện, lung linh huyền diệu ánh vàng son.
hongvulannhi  
#1033 Posted : Thursday, October 24, 2019 2:01:35 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 30,253

Thanks: 2456 times
Was thanked: 5289 time(s) in 3545 post(s)

Jean Marie Benjamin: từ nhạc công quán rượu
trở thành linh mục truyền giáo ở Iraq
nhờ cuộc gặp gỡ với Cha Pio


10/21/2019 9:11:02 PM

Khi còn trẻ, Jean Marie Benjamin là nhạc công tại một quán rượu. Quan tâm đến đời sống thiêng liêng, nhưng anh không tham dự Thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Một cuốn sách về cha thánh Piô đã thúc đẩy anh đến San Giovanni Rotondo để gặp cha Piô, và cuộc đời anh đã thay đổi.

UserPostedImage

Năm 1968: Jean Marie Benjamin, một nhạc công trẻ ở quán rượu tại thủ đô Paris, đã phát hành được hai album, đang sáng tác bản giao hưởng đầu tiên của mình. Anh cũng nuôi dưỡng một mối quan tâm nhất định trong đời sống thiêng liêng và đọc sách về chủ đề này. Thỉnh thoảng anh vào một nhà thờ, nhưng chỉ có thế.

Một buổi tối, anh ăn tối tại nhà một người bạn và thấy một cuốn sách về Cha Piô. Trên bức ảnh bìa là khuôn mặt của vị thánh dòng Cappuchino, và Jean Marie nhìn thấy thứ gì đó thu hút anh ta đến độ anh xin mượn cuốn sách đó, đọc nó trong một đêm và quyết định đến San Giovanni Rotondo để biết về vị linh mục cuốn hút đó.

Chờ đợi gặp cha Piô

Tại San Giovanni Rotondo, Jean Marie đã quen biết Marco, một giáo sư văn học người Ý, và người này đã khuyên anh nên đi lễ vào lúc năm giờ sáng nếu muốn xưng tội với Cha Piô. Điều này không hề dễ dàng, bởi vì có hàng trăm tín hữu chờ đợi và cũng vì cha Piô không còn giải tội cho người nước ngoài nữa.

Jean Marie làm theo lời khuyên, và sáng hôm sau, anh ta thấy một Cha Piô rất già, đang ngồi trên xe lăn, gập người chịu cơn đau từ những dấu thánh cuộc thương khó của Chúa Kitô nhưng vẫn được mọi người chiêm ngắm với sự ngưỡng mộ vượt xa những gì có thể được mô tả. Anh thuật lại: “Cảm giác thật tuyệt vời. Không có đủ lời hay thành ngữ hay cách thế nào để thuật lại những gì đang xảy ta.” Ngay cả những chú chim đậu ở cửa sổ nhà thờ cũng giữ thinh lặng trong giây phút ấy. Ngày hôm đó Jean Marie không thể xưng tội. Ba ngày sau đó, Cha Piô rất mệt mỏi và sức khỏe bị suy yếu rất nhiều. Tuy nhiên, Chúa nhật, ngày 8 tháng 3, ngay khi cánh cửa nhà thờ được mở, Jean Marie đã chạy đến ngồi ở hàng ghế đầu trong số những người chờ đợi để lãnh nhận Bí tích Hòa giải.

Cuộc gặp gỡ quyết định

Khi đến lượt mình, Jean Marie nghe một câu hỏi chậm rãi từ Cha Piô, như thể cha biết rằng anh không nói tiếng Ý: “Từ bao lâu rồi con không xưng tội?” Anh trả lời một vài câu bằng tiếng Pháp. Cha Piô lập lại câu hỏi. Jean Marie trả lời anh không nhớ đã bao lâu rồi. Anh kể: “Cha Piô giơ tay vẫy từ phải sang trái ba, bốn lần, tạo ra một tiếng động dường như muốn nói “không”. Rồi Cha Piô kể cho tôi ngày, tháng, năm lần xưng tội cuối cùng của tôi. Đó là một ngày 13 tháng 7. Và rồi tôi nhớ: Tôi đã xưng tội ở Bờ Biển Ngà, trong một chuyến đi đến Châu Phi với bố mẹ tôi”. Sau một hồi im lặng, chàng trai trẻ xin cha Piô ban phép lành. Cha nhìn sâu vào mắt anh và nói: "Hãy đi gặp một linh mục người Pháp". Jean Marie chạm vào các dấu thánh của cha và cảm thấy một "sự ấm áp" ấn tượng và sự hiện diện mạnh mẽ của Thiên Chúa. Anh trở về Paris và được đổi mới cuộc đời nhờ "một sức mạnh mới", như anh mô tả.

Cha Piô dẫn đường

Vào ngày 23 tháng 9 năm đó, khi hay tin Cha Piô qua đời, Jean Marie đã khóc và anh nhớ rằng cha đã bảo anh hãy đi xưng tội với một linh mục người Pháp. Anh chưa làm được, anh thậm chí còn không nghĩ về nó. Anh kể: "Tôi quyết định đi tàu điện ngầm và dừng ở bất kỳ nhà ga nào, đi ra ngoài, đi bộ, vào nhà thờ đầu tiên tôi sẽ tìm thấy trên đường." Ra khỏi ga Notre Dame des Victoires, Jean Marie nhìn thấy một nhà thờ và nhìn thấy hai tòa giải tội không có người. Anh vào một trong hai tòa này và thưa với vị linh mục: "Thưa cha, con thưa với cha sự thật, con không biết cách xưng tội, nhưng con đến từ cha Piô".

Vị linh mục lắng nghe câu chuyện của anh và nói với anh: "Điều rất đẹp đã xảy ra với con. Nếu cha hiểu chính xác, không ai cho con biết tên cha để con đến gặp cha. Cha Piô đã hướng dẫn con. Con biết tại sao cha bị thuyết phục. Cha là cha Reveilhac, và cha chịu trách nhiệm gây quỹ ở Pháp cho bệnh viện “Nhà xoa dịu đau khổ”, một bệnh viện của Cha Piô. Mỗi năm cha đến San Giovanni Rotondo hai lần và mỗi lần cha đều gặp Cha Piô. Điều này đã xảy ra trong khoảng 30 năm".

Rời bỏ nếp sống cũ

Cha Reveilhac trở thành linh hướng cho Jean Marie Benjamin. Khi lớn lên trong đức tin và đời sống tâm linh, anh cảm thấy được mời gọi trở thành linh mục, nhưng cha linh hướng yêu cầu anh chờ đợi, vì ơn gọi của anh chưa trưởng thành. Jean Marie chia sẻ: "Với thời gian tôi nhận ra rằng cha Reveilhac đã đúng: Tôi không biết liệu tôi có thể thay đổi lối sống của mình không, vì vậy ngay lập tức, hãy rời khỏi âm nhạc, các tác phẩm, phòng thu âm, các buổi hòa nhạc".

Dấn thân vì nhân dân Iraq

Dần dần, Jean Marie đã khám phá và thực hiện các hoạt động mới. Từ năm 1983 đến 1988, anh làm việc tại phòng thu âm của Liên Hợp Quốc tại Genève, chịu trách nhiệm tổ chức các sự kiện của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Vào tháng 3 năm 1988, sau một chuyến hành hương đến San Giovanni Rotondo, anh quyết định trở thành linh mục. Ngày 26/10/1991, anh được chịu chức linh mục. Năm 1995, cha Jean Marie sản xuất bộ phim đầu tay về Cha Pio, được đài truyền hình RAI trình chiếu. Năm 1998, cha sản xuất tại Iraq một phim tài liệu về gia sản văn hóa và đã làm chứng về thảm kịch của các nạn nhân người Iraq từ các vũ khí của Hoa Kỳ và Anh. Từ đó cho đến nay, cha quan tâm và dấn thân cho hoạt động nhân đạo ở Iraq.

Hồng Thủy
(VaticanNews 21.10.2019)

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 10/25/2019(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1034 Posted : Friday, October 25, 2019 12:27:42 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1035 Posted : Friday, October 25, 2019 12:38:22 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Giải nhân quyền Sakharov 2019 về tay nhà đấu tranh Ilham Tohti

Thanh Hà - RFI - ngày 24-10-2019

UserPostedImage
Giải thưởng nhân quyền Sakharov 2019 về tay nhà trí thức Duy Ngô Nhĩ, giáo sư Ilham Tohti.
Reuters

Đang phải thi hành bản án chung thân vì tội đòi ly khai, giáo sư kinh tế người Duy Ngô Nhĩ, Ilham Tohti ngày 24/10/2019 vừa được Nghị Viện Châu Âu trao tặng giải thưởng nhân quyền Sakharov 2019. Liên Hiệp Châu Âu kêu gọi Bắc Kinh trả tự do ngay tức khắc cho nhà trí thức này.

Chủ tịch Nghị Viện Châu Âu David Sassoli nhấn mạnh : ông Ilham Tohti là nhà trí thức đã "đóng góp rất nhiều để tạo nhịp cầu giữa cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ và người Hán hiểu rõ nhau hơn". Ông là một "tiếng nói ôn hòa, là người chủ trương hòa giải" nhưng lại bị giam giữ trong nhà tù Trung Quốc một cách bất công từ năm 2014.

Giữa những năm 2000, giáo sư Ilham Tohti lập ra trang mạng Uighur Online, cho công bố những bài viết bằng tiếng Hán và Duy Ngô Nhĩ liên quan đến các chủ đề nhậy cảm trong xã hội. Ông mạnh dạn bày tỏ lập trường phải duy trì hai ngôn ngữ này cùng lúc tại vùng Tân Cương, chỉ trích chính sách kinh tế của Bắc Kinh đối với vùng tự trị này.

Tư pháp Trung Quốc cáo buộc ông quảng bá các tư tưởng ly khai, khuyến khích sinh viên tham gia một tổ chức Hồi giáo cực đoan và đòi độc lập cho Tân Cương. Ngay từ đầu tháng 10, khi hay tin ông Ilham Tohti được đề cử trao giải Sakharov, Bắc Kinh đã chỉ trích Liên Hiệp Châu Âu "ủng hộ khủng bố".

Cuối tháng 9/2019 giáo sư người Duy Ngô Nhĩ này đã được trao tặng giải thưởng Vaclav Havel của Hội Đồng châu Âu. Giải thưởng này vinh danh những nhà đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền.

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1036 Posted : Friday, October 25, 2019 11:59:29 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1037 Posted : Saturday, October 26, 2019 12:07:56 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage


Liên Khúc Thu - 2009 (37)

Ngàn lệ xa xăm dõi mắt thu
Trời thu mây trắng mộng viễn du
Ghé bến trần gian mùa lá đổ
Say đắm chiều thu gió thổi vù (Kỳ Nguyên)


Chiều thu gió thổi lá vi vu
Hồn nương cõi mộng giữa sương mù
Bâng khuâng lá đổ sầu muôn nẻo
Mây vẫn âm thầm kiếp lãng du (CLĐ)


Lãng du Mây bước lệ âm thầm
Thơ thẩn nhớ Đò... Gió trầm ngâm
Mải nhìn lá úa mùa thu trước
Đâu biết thu này bến lặng câm (TTHTMT)

Bến lặng đêm thu trăng ngẩn ngơ
Đò xưa gác mái mõi mong chờ
Đưa khách lãng du về bến cũ
Cho lòng thu ấm, tình thu mơ (TT)


Thu mơ tình ấm thoáng mộng hờ
Nghe lá thu tàn hát vẩn vơ
Bài ca lưu luyến giờ ly biệt
Để hồn lãng tử chạm vần thơ (LU)


PS.
CLĐ = Cô Lái Đò
TT = Thạch Thuỷ
Kỳ Nguyên & TTHTMT & LU = Hoàng Thy Mai Thảo

Hoàng Thy Mai Thảo  
#1038 Posted : Sunday, October 27, 2019 11:44:08 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1039 Posted : Sunday, October 27, 2019 11:47:02 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Dalida, giai thoại tình khúc "Chết trên sân khấu"

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 26 tháng 10 năm 2019

UserPostedImage
Hình bìa đĩa nhạc nhân cuộc triển lãm về Dalida năm 2007 tại ParisAFP/OLIVIER LABAN MATTEI

‘‘Mourir sur scène’’ (Chết trên sân khấu) là một trong những bài hát tiêu biểu nhất của Dalida, được phát hành lần đầu tiên vào năm 1983. Với thời gian, bản nhạc này đã trở nên kinh điển, gắn liền với tên tuổi của Dalida nói riêng, tiêu biểu cho những nghệ sĩ nào đã dành trọn cuộc đời cho sân khấu nói chung.

Tuy nhiên, bài hát ‘‘Mourir sur scène’’ (Chết trên sân khấu) ban đầu được sáng tác cho người khác chứ không phải cho danh ca người Pháp gốc Ai Cập. Theo lời kể của nhà soạn nhạc Jeff Barnel, khi sáng tác bài này với Michel Jouveaux, cả hai tác giả nghĩ tới hai giọng ca ăn khách nhất thời bấy giờ. Đầu tiên hết là Johnny Hallyday, kế theo sau là Michel Sardou. Bản nhạc được viết như một tiết mục ‘‘nhạc kịch’’, đặc biệt có ý nghĩa đối với những nghệ sĩ nào thật sự có tâm huyết với sân khấu : sàn diễn đối với họ không chỉ đơn thuần là nghề, ca hát thật sự là một cái nghiệp.

Bản nhạc này tình cờ lọt vào tai của nhà sản xuất Orlando, em trai của Dalida. Bằng mọi cách ông muốn thuyết phục hai tác giả Jeff Barnel và Michel Jouveaux dành cho Dalida độc quyền ghi âm. Nhóm sáng tác vì thế buộc phải chỉnh sửa ca từ sao cho hợp với giọng ca và nhất là hợp với hoàn cảnh của Dalida. Chỉ có điều là khi được nghe thử qua vài lần, Dalida tuyệt đối không hề thích bản nhạc này, một bài hát mà theo cô quá đỗi bi quan, sầu thảm.

Bản nhạc này nằm trong dự án ghi âm tập nhạc mang tựa đề ‘‘Les P’tits Mots’’. Trong cùng một thời điểm, Dalida ghi âm nhiều ca khúc (trong đó có bài ‘‘Bravo’’ và ‘‘Téléphonez-moi’’) đề cập tới cùng một chủ đề ‘‘đời nghệ sĩ cô đơn’’. Một khi màn nhung buông xuống, ánh đèn sân khấu chợt tắt, người nghệ sĩ thường cảm thấy tâm hồn bị trống trải, họ phải đối mặt trực diện với nỗi cô độc của chính bản thân. Đôi khi, họ không nhận ra mình, cho dù có bắt gặp ánh mắt thân quen trong những lúc trang điểm soi gương.

Bản nhạc này đủ nói lên thân phận của giới nghệ sĩ cũng như những gì công chúng không thể thấy đằng sau vầng hào quang danh vọng. Tác giả Michel Berger gợi hứng từ cùng một chủ đề sáng tác cho Johnny Hallyday bài ‘‘Chanteur abandonné’’ nói lên cái cảm giác người nghệ sĩ bị bỏ rơi, còn cặp bài trùng Alain Chamfort & Jacques Duval lại mô tả cái cảnh vào vai một nhân vật khác, tự nhìn mình mà lại thấy một ‘‘Kẻ thù ở trong gương’’ (L’ennemi dans la glace).

Tuy không thích bản nhạc, nhưng rốt cuộc Dalida vẫn ghi âm bài hát ‘‘Mourir sur scène’’ (Chết trên sân khấu). Điều đáng gây ngạc nhiên là bài này lại ít được giới truyền thông hưởng ứng vào lúc được xuất bản. "Chết trên sân khấu" cũng không được chọn làm ca khúc chủ đạo và chỉ được khai thác như mặt B, khi đĩa đơn cùng tên (Les P’tits Mots) được phát hành trên thị trường Pháp. Dalida thật sự khám phá tiềm năng của bản nhạc này khi cô đi biểu diễn ở nước ngoài để quảng bá cho album mới. Tại Thổ Nhĩ Kỳ hay tại vùng Québec (Canada), Dalida thường thu hình cho nhiều tiết mục biểu diễn và mỗi lần nhạc phẩm ‘‘Chết trên sân khấu’’ đều được công chúng hưởng ứng nhiệt tình, hơn hẳn các bài hát khác.

Đến khi trở về Pháp để thực hiện một chương trình đặc biệt (của Maritie và Gilbert Carpentier), trong số bảy bài hát trích từ album mới được thu hình biểu diễn, bài ‘‘Chết trên sân khấu’’ vẫn là màn trình diễn gây nhiều ấn tượng nhất. Trước sự hưởng ứng này, bài hát được tái bản và lần này, Dalida sẽ ghi âm thêm nhiều phiên bản trong các thứ tiếng khác, kể cả tiếng Anh (Born to Sing) do tác giả Norman Newell phóng tác), tiếng Ý (Quando nasce un nuovo amore en italien) của tác giả par Dossena, hay tiếng Tây Ban Nha Morir cantando en (của tác giả Toro). Phiên bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ "Bir gece sahnede" là của Ajda Pekkan.

Các nghệ sĩ nổi tiếng như Shirley Bassey, Amel Bent hay Julien Doré đều đã từng ghi âm ca khúc này. Còn trong tiếng Việt, bài ‘‘Mourir sur scène’’ (Chết trên sân khấu) có tới hai lời khác nhau. Thứ nhất là nhạc phẩm "Hư Ảo" qua cách đặt lời của tác giả Khúc Lan, nổi tiếng với phần trình bày của cố ca sĩ Ngọc Lan. Phiên bản tiếng Việt thứ nhì mang tựa đề "Lời em trăn trối" là của tác giả Lê Toàn qua phần thể hiện của Thiên Kim.

Trong tiếng Pháp, bản nhạc ‘‘Chết trên sân khấu’’ trở nên kinh điển vì cả hai tác giả Jeff Barnel & Michel Jouveaux đã khéo léo cài đặt nhiều chi tiết có thật trong cuộc đời của Dalida vào trong ca khúc. Đặc biệt là lần tự tử hụt của thần tượng ca nhạc Dalida vào năm 1967 vì quá đỗi tuyệt vọng, sau khi cô phát hiện tình nhân của cô (nam ca sĩ Luigi Tenco) đã tự bắn một phát súng vào đầu.

Thành ra, nhân vật trong bài hát mở cuộc đối thoại với tử thần, trong đoạn thứ nhì mới có câu : "Người và ta đã có dịp gặp nhau một lần, làm sao quên được khi đã thấy nhau thật gần". Trong nhiều cuộc phỏng vấn Dalida thường nói là điều quan trọng nhất trong đời là "Sống theo ý mình" (À ma manière), hàm ý mọi chuyện đều do Dalida tự quyết định.

Khi hay tin Dalida vĩnh viễn ra đi vào năm 1987, tự kết liễu cuộc đời ở tuổi 54, công chúng không khỏi bàng hoàng, đối với họ nhiều tựa đề ca khúc trong đoạn cuối cuộc đời của Dalida chẳng khác gì những bản di chúc : Để không sống cô đơn (Pour ne pas vivre seul), Cũng chừng đó thôi (Pour en arriver là) hay là Chết trên sân khấu (Mourir sur scène). Bản nhạc này có những đoạn mà khi nghe qua, ta không khỏi rùng mình :

Người muốn vĩnh biệt đêm mưa. Kẻ muốn chết trong chiều nắng. Ai mà không thích nhẹ nhàng. Ra đi trong giấc muộn màng.

Đời người sinh ly tử biệt. Đừng bắt ta khổ trọn kiếp. Xin đời đến khi phải hết. Trong vầng hào quang được chết.



Hoàng Thy Mai Thảo  
#1040 Posted : Monday, October 28, 2019 1:06:52 AM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,105

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)
UserPostedImage
Users browsing this topic
Guest (3)
54 Pages«<5051525354>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.