Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

618 Pages«<611612613614615>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12241 Posted : Tuesday, May 7, 2019 5:24:23 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 600
Location: Deutschland

Thanks: 196 times
Was thanked: 439 time(s) in 295 post(s)

UserPostedImage


𝓟𝓱𝓮́𝓹 𝓵𝓪̣ !

Như một phép lạ, đội tuyển Liverpool/ Anh đã thắng đội Barcelona/ Tây Ban Nha với tỉ số 4 - 0 trong trận bán kết vào tối hôm qua, 7. 5. 2019, và trở thành đội tuyển đầu tiên của trận chung kết giải Champions League 2019.

Cần nhắc lại trong trận đi (trận 1) của vòng bán kết vào ngày thứ Tư vừa qua, 1. 5. 2019, đội Liverpool đã thua đội Barcelona 3 - 0. Ngoài ra 2 tiền vệ xuất sắc nhất của Liverpool là Mo Salah và Roberto Firmino bị chấn thương nặng, không thể tham dự trận đấu tối qua, trong khi Messi, cầu thủ số 1 hiện nay của thế giới và đá cho Barcelona, lại đang sung sức. Do đó, trong buổi họp báo 2 ngày trước đây HLV Kloop (người Đức, hồi trước là HLV của đội Dortmund) cũng cho là, đội Liverpool ở thế bị dồn tới chân tường, nhưng ông Kloop cũng nói: `Một khi chúng tôi còn được ra sân, chúng tôi sẽ đấu hết sức ...´. Và sự cố gắng, quyết tâm đó đã được trọng thưởng !

Trong trận giao đấu tối nay giữa 2 đội Ajax Amsterdam / Hòa Lan và Tottenham / Anh sẽ quyết định đội tuyển thứ hai cho trận chung kết, vào ngày thứ Bảy 1. 6. 2019, tại sân vận động Wanda Metropolitano, Madrid, Tây Ban Nha.

TBích

thao ly  
#12242 Posted : Tuesday, May 7, 2019 11:29:37 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)
Bắc Hàn lại bắn hỏa tiễn gây sức ép…


May 4, 2019

Bắc Hàn đã bắn một số “hỏa tiễn tầm ngắn không xác định” ra vùng biển ngoài khơi bờ biển phía đông của nước này vào ngày thứ Bảy, khiến Nam Hàn kêu gọi nước láng giềng cộng sản “ngưng các hành vi leo thang căng thẳng quân sự trên Bán đảo Triều Tiên.”

Một người đàn ông xem một bản tin trên tivi về việc Triều Tiên bắn tên lửa từ bờ biển phía đông của mình, trên đường phố ở Tokyo, Nhật Bản, ngày 4 tháng 5, 2019.

UserPostedImage

Quân đội ban đầu mô tả đây là một vụ phóng phi đạn, nhưng sau đó đưa ra một mô tả mơ hồ hơn. Vụ bắn mới nhất diễn ra sau khi Bắc Hàn nói họ đã thử nghiệm một hệ thống vũ khí điều hướng chiến thuật vào tháng 4.

Hoạt động quân sự dồn dập của Bình Nhưỡng có thể là một nỗ lực nhằm gây áp lực buộc Mỹ nhượng bộ trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chương trình hạt nhân của Bắc Hàn sau khi hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 2 kết thúc trong thất bại, theo các nhà phân tích.

Văn phòng tổng thống Nam Hàn kêu gọi Bắc Hàn kiềm chế hành động thêm nữa, một trong những tuyên bố cứng rắn nhất, kể từ khi hai miền BH khởi động các nỗ lực hòa giải vào đầu năm ngoái.

“Chúng tôi rất lo ngại về hành động mới nhất của Bắc Hàn,” nữ phát ngôn viên tổng thống của Nam Hàn nói trong một phát biểu, và nói thêm rằng, hành động này vi phạm thỏa thuận quân sự liên Triều.

“Chúng tôi kỳ vọng Bắc Hàn sẽ tích cực tham gia các nỗ lực hướng tới việc tái tục nhanh chóng các cuộc đàm phán giải trừ nguyên tử,” bà nói, sau cuộc họp có sự tham dự của bộ trưởng quốc phòng, các cố vấn an ninh của tổng thống và trưởng cơ quan phụ trách tình báo.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và Ngoại trưởng Nam Hàn Kang Kyung-wha đồng thuận “phản hồi thận trọng” về vụ bắn hỏa tiễn mới nhất và tiếp tục trao đổi liên lạc trong một cuộc điện đàm vào ngày thứ Bảy, Bộ Ngoại giao Nam Hàn nói trong một thông cáo.

Phát ngôn viên Bạch Ốc Sarah Sanders nói, “Chúng tôi có biết về các hành động của Bắc Hàn tối nay. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi nếu như cần thiết.”

Các hỏa tiễn, bắn từ phía đông thành phố biển Wonsan khoảng 9 giờ sáng (0000 GMT) bay khoảng 70 km đến 200 km theo hướng đông bắc, Văn phòng Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân của Nam Hàn cho biết trong một thông cáo.

Quân đội Nam Hàn nói họ đang tiến hành phân tích chung với Mỹ về các vụ phóng hỏa tiễn mới nhất. Các chuyên gia cho rằng các vật thể dường như là nhiều giàn phóng hỏa tiễn, không phải phi đạn đạn đạo, theo Reuters.

Lần phóng phi đạn cuối cùng của Bắc Hàn là tháng 11 năm 2017, khi nước này thử phi đạn đạn đạo xuyên lục địa. Ngay sau vụ thử đó, Bắc Hàn tuyên bố lực lượng nguyên tử của họ đã hoàn tất và sau đó Bình Nhưỡng chìa nhánh ô liu cầu hòa tới Nam Hàn và Mỹ.

Tuy nhiên, ngày thứ Ba, Phó Bộ trưởng Ngoại giao của Bắc Hàn lại cảnh báo rằng Mỹ sẽ phải đối mặt với “những hậu quả không mong muốn,” nếu không thể đưa ra một lập trường mới trong các cuộc đàm phán giải trừ nguyên tử đến cuối năm nay.

TT Trump nói vẫn tin Kim Jong Un ngay sau khi Bắc Hàn bắn hỏa tiễn

UserPostedImage

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày thứ Bảy bày tỏ tin tưởng rằng lãnh tụ Bắc Hàn (BH) Kim Jong Un sẽ không “thất hứa,” ngay sau sự việc mà dường như là BH bắn hỏa tiễn tầm ngắn.

“Bất cứ điều gì trong thế giới rất thú vị này cũng đều có thể xảy ra,” ông Trump viết trên Twitter, sau khi Nam Hàn nói rằng Bình Nhưỡng đã bắn một số hỏa tiễn không xác định ra biển.

“Nhưng tôi tin rằng Kim Jong Un hoàn toàn nhận thức được tiềm năng kinh tế to lớn của họ và sẽ không làm gì để can thiệp hay chấm dứt nó,” ông nói thêm.

“Ông ấy cũng biết rằng tôi đứng về phía ông ấy & không muốn thất hứa với tôi. Thỏa thuận sẽ xảy ra!”

Kể từ hội nghị thượng đỉnh lịch sử của hai người tại Singapore vào năm 2018, ông Trump nói ông Kim vẫn cam kết “giải trừ hạt nhân hoàn toàn” bán đảo Triều Tiên.

Ông khẳng định hai nhà lãnh đạo vẫn thân thiết ngay cả sau khi hội nghị tiếp theo của họ tại Hà Nội sụp đổ vào tháng 2, và rằng ông Kim sẽ vẫn đình chỉ thử nghiệm hạt nhân và phi đạn tầm xa.

Nhưng với các cuộc đàm phán bị trì trệ, BH dường như đang thử Mỹ.

Hai bên vẫn xung khắc về đòi hỏi của BH giảm bớt đáng kể những chế tài kinh tế và Mỹ nhất quyết đòi BH phải đưa ra những nhượng bộ cụ thể để loại bỏ kho vũ khí nguyên tử của Kim.

Đầu tuần này, Phó Bộ trưởng Ngoại giao BH Choe Son Hui cảnh báo Washington về “những hệ quả không mong muốn” nếu Mỹ không điều chỉnh lập trường của mình về các chế tài kinh tế.

(Theo Reuters VOA)

Lời bàn: Thái độ và hành động của Bắc Hàn bắn hỏa tiễn ra biển nói là để thử vũ khí, hoặc với bất lý do gì, vẫn là hành động ngu xuẩn của một đứa con nít, vừa có tính vòi vĩnh, vừa cố ý thách thức người lớn chiều chuộng, năn nỉ nó… để đám ma đầu (Nga Tàu) đứng đàng sau Kim vẽ rắn thêm đầu. Trong khi Ô. Trump chẳng những đã không có tí quan tâm nào tới vụ bắn của phi tiễn của kim, mà còn cho rằng: “Ông Kim cũng biết rằng tôi đứng về phía ông & không muốn thất hứa với tôi.” Đúng là cú vuốt ve tuyệt vời! Thế nào đám “thổ tả” cũng đăng đàn chửi rũa Trump cho mà coi!

NTV

Edited by user Tuesday, May 7, 2019 11:30:43 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12243 Posted : Tuesday, May 7, 2019 11:42:17 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 600
Location: Deutschland

Thanks: 196 times
Was thanked: 439 time(s) in 295 post(s)


𝓢𝓾̉𝓪 𝓫𝓪̣̂𝔂 & 𝓬𝓪̆́𝓷 𝓬𝓪̀𝓷 !


UserPostedImage


thanks 1 user thanked Bắc Kì Nho Nhỏ for this useful post.
thao ly on 5/8/2019(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12244 Posted : Wednesday, May 8, 2019 6:25:13 AM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 600
Location: Deutschland

Thanks: 196 times
Was thanked: 439 time(s) in 295 post(s)


ℂℍ𝔸𝕄ℙ𝕀𝕆ℕ𝕊 𝕃𝔼𝔸𝔾𝕌𝔼 𝟚𝟘𝟙𝟡

𝐋𝐢𝐯𝐞𝐫𝐩𝐨𝐨𝐥 vs 𝐁𝐚𝐫𝐜𝐞𝐥𝐨𝐧𝐚


Mời `bấm chuột´ vào hình dưới đây, đễ coi những cao điểm (highlights)
trong trận đấu bán kết 2 (lần về), diễn ra ngày hôm qua 7. 5. 2019,
giữa 2 đội tuyển Liverpool và Barcelona:



UserPostedImage






thao ly  
#12245 Posted : Wednesday, May 8, 2019 7:44:17 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

VOICE: tiếng nói của lương tâm và trách nhiệm


07/05/201910:58:00(Xem: 866)
Nam Lộc

Sự thành công trong cuộc vận động và định cư khẩn cấp nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền cùng gia đình của ông được đến bến bờ tự do của tổ chức VOICE và VOICE Canada vào ngày 3 tháng 5, 2019 vừa qua, đã là một câu trả lời mạnh mẽ cho những kẻ chuyên loan tin bịa đặt cùng những người thích chuyển tin thất thiệt mà họ đã tung ra, nhằm triệt hạ ý nghĩa của nỗ lực giúp đỡ các đồng bào tỵ nạn Việt Nam, đang sống vất vưởng ở Thái Lan hiện nay và đang mòn mỏi đợi chờ để được thế giới tự do đưa tay cứu vớt.

Inline image

Gia đình ông Bạch Hồng Quyền và thành viên của tổ chức VOICE tại phi trường Toronto, Canada

Trước đây tôi vẫn thường cho hành động phao tin thất thiệt trên các diễn đàn truyền thông, xã hội là việc làm của những kẻ “vô trách nhiệm”. Tuy nhiên, nếu thẩm định kỹ lưỡng qua trường hợp của ông Bạch Hồng Quyền, thì có thể nói rằng, đây là cả một âm mưu đánh phá thâm độc có chủ đích, có tổ chức và có sự liên kết giữa những thế lực ở trong nước cùng tay sai của họ tại hải ngoại. Bởi vì từ ngữ “vô trách nhiệm” là để ám chỉ sự loan tin bừa bãi, hoặc không đúng với sự thật. Nhưng cố ý dựng một câu chuyện hoang tưởng, với những tình tiết hoàn toàn bịa đặt và xảo trá để kết tội những người đã và đang tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền hay bảo vệ môi trường, nhất là đối với những cá nhân đang bị nhà cầm quyền CSVN truy nã, như trường hợp của các ông Trương Duy Nhất hay Bạch Hồng Quyền, thì rõ ràng đây là một kế hoạch có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và mưu mô.

Chuyện thất thiệt này bắt đầu xuất hiện trên các mạng truyền thông xã hội kể từ ngay sau khi nhà báo đối kháng Trương Duy Nhất đi lánh nạn ở Thái Lan, nhưng ông đã bị công an, bộ đội CSVN bắt cóc đem trở lại VN để giam giữ. Có lẽ để che giấu hoặc đánh lạc hướng sự kiện đó, nên những kẻ chủ mưu đã dùng tay sai hải ngoại tung ra bản tin hoàn toàn bịa đặt, với tựa đề là “Tổ chức VOICE, Nam Lộc và Trịnh Hội buôn người, đưa lậu Trương Duy Nhất vào Thái Lan”! Ngoài ra bọn họ còn dọa dẫm, nào là “đã trình báo cho các sở di trú cùng cảnh sát Thái Lan, Canada...”, nào là anh em chúng tôi đang bị “truy lùng, bắt bớ” v..v... Nhưng sự thật, thì chính lúc đó lại là lúc mà LS Trịnh Hội và các thành viên của VOICE cũng đang có mặt ở những cơ quan di trú, hay công lực của các quốc gia nói trên. Đang tiếp xúc, gặp gỡ với ông Bộ Trưởng Di Trú Canada cũng như Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải tại Otawa, thủ đô nước Canada, đồng thời cũng đang làm việc với các giới chức cao cấp của chính phủ Thái Lan cùng các tổ chức bảo vệ nhân quyền, Human Right Watch (HRW), cơ quan di dân quốc tế IOM, và văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) tại quốc gia này, để can thiệp và vận động cho sự an toàn của ông Bạch Hồng Quyền cùng gia đình được đến bến bờ tự do, trong tiến trình định cư khẩn cấp, chứ không như bản tin “tưởng tượng” mà họ đã tung ra và gởi đi khắp mọi nơi!

Inline image

Nam Lộc, Trịnh Hội và VOICE Canada cùng ông Bộ Trưởng Bộ Di Trú Canada

Ngoài ra và lố bịch hơn nữa khi nhóm chủ mưu ở trong nước và tay sai Việt gian tại hải ngoại còn loan tin rằng “Luật sư Anna Nguyễn cùng các thành viên của VOICE đang tìm đường trốn ra khỏi Thái Lan?”. Họ đâu có biết rằng thời gian đó anh chị em chúng tôi đang đi vận động với chính phủ và quốc hội Liên Âu cho sự an toàn của những tù nhân lương tâm, đang bị giam giữ ở VN, đồng thời yêu cầu các quốc gia trong khối đặt trọng tâm vào vấn đề nhân quyền với chính phủ CSVN trước khi ký kết những thỏa hiệp hợp tác về thương mại!

Inline image

BS Mỹ Lâm, LS Anna Nguyễn, cô Vi Yên, LS Dương Nguyễn, và LS Trịnh Hội tại trụ sở Liên Minh Âu Châu

Thật ra thì trường hợp gia đình ông Bạch Hồng Quyền chỉ là một trong số vào khoảng hơn một ngàn người tỵ nạn đang sống ở Thái Lan và đang chờ đợi được tổ chức VOICE can thiệp đi định cư tại Canada như các trường hợp khác. Tuy nhiên vì âm mưu bắt cóc nhà đối kháng Trương Duy Nhất, và kế hoạch quy tội để lấy cớ thi hành lệnh truy nã nhà hoạt động môi trường Bạch Hồng Quyền hầu đưa về VN xét xử, (cùng tội danh tương tự như một người cùng nhóm, ông Hoàng Đức Bình với bản án 14 năm tù) đã là nguyên nhân chính tạo mối quan tâm cho các chính phủ nước ngoài. Với lương tâm và trách nhiệm, họ đã áp dụng những nguyên tắc tôn trọng nhân quyền căn bản để bảo vệ các nhà đối kháng tại các nước Cộng Sản hay độc tài, đảng trị. Và đó cũng chính là lý do mà trong thời gian gần đây, nước Đức đã nhận LS Nguyễn Văn Đài cùng cô Trần Thu Hà đến tỵ nạn, cũng như Hoa Kỳ đã cấp chiếu khán nhập cảnh cho Blogger Mẹ Nấm, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và nhạc sĩ Việt Khang v..v...

Inline image

Nam Lộc và NS Việt Khang cùng PT Việt Hưng tiếp xúc TNS Tim Kaine tại Thượng Viện HK trước khi phái đoàn quốc hội đi VN

Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, một người phục vụ hơn 40 năm trong lãnh vực định cư người tỵ nạn ở Hoa Kỳ, thì mỗi khi các quốc gia tự do đưa ra những quyết định cấp quy chế tỵ nạn trong trường hợp khẩn cấp cho một cá nhân nào, thì họ phải cứu xét thật kỹ lưỡng hồ sơ, chi tiết và hoàn cảnh cùng lý do nguy hiểm đến tính mạng cũng như nguy cơ bị ngược đãi của đương đơn, với các chứng cớ rõ ràng và thuyết phục. Cộng với uy tín cùng thành tích hoạt động của các tổ chức đứng ra can thiệp và vận động, trước khi họ cấp các loại chiếu khán nhập cảnh có tính cách nhậy cảm và tế nhị nói trên, nhất là trong lãnh vực ngoại giao. VOICE và VOICE Canada đã thành công trong việc định cư gia đình ông Bạch Hồng Quyền là một kết quả vô cùng quan trọng trong tiến trình tranh đấu cho quyền tỵ nạn của những người Việt đang còn kẹt lại tại Thái Lan và Indonesia.

Inline image

Đại diện VOICE và VOICE Canada cùng ông Bạch Hồng Quyền trong cuộc họp báo tại Toronto, Canada

Để cho rộng đường dư luận, hai ngày sau khi gia đình ông Bạch Hồng Quyền đặt chân đến Toronto, VOICE Canada đã tổ chức một cuộc họp báo công khai và mở rộng để trình bầy và trả lời tất cả mọi thắc mắc của truyền thông, báo chí, đại diện cơ quan, đoàn thể cùng quý vị đồng hương người Việt tại Canada liên quan đến cuộc vận động định cư cho gia đình ông Quyền cũng như các đồng bào khác còn lại. Chúng tôi hy vọng những thông tin đứng đắn nói trên sẽ xóa tan đi các bản tin bịa đặt với chủ trương nhằm triệt hạ uy tín và danh dự của tổ chức VOICE cùng những thiện nguyện viên có lòng, đống thời làm ảnh hưởng đến cơ hội định cư đồng bào tỵ nạn Việt Nam, đang sống vất vưởng ở các nước tạm dung và đang dựa vào niềm hy vọng nhỏ nhoi đó để sống còn.

(Nam Lộc)
Mắt Buồn  
#12246 Posted : Wednesday, May 8, 2019 9:25:49 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,729

Thanks: 663 times
Was thanked: 565 time(s) in 405 post(s)

Người xem bói cho Vua Bảo Đại
và các tướng lĩnh chính quyền Sài Gòn


Tác giả: Trần Quang Quyến Nguồn:
Kim Dung Kỳ Duyên
Ngày đăng: 2019-05-06

UserPostedImage

Cụ Ngô Hùng Diễn và Giáo sư Trần Quang Quyến.

Cụ Ngô Hùng Diễn, thường được gọi là “thầy bói Diễn”, là một nhà tướng mệnh học nổi tiếng từ cuối thập niên 1930 cho tới khi cụ qua đời, vào năm 1974.

Quan niệm về tướng số của cụ rất rõ rệt : “Xem tướng xem số là để làm điều lành, tránh điều dữ”. Cụ rất phiền hà khi có người muốn nhờ cụ đem phú quý vinh hoa tới cho mình, kiểu “muốn gỡ nhà người khác đem về làm chuồng heo !”. Theo cụ thì nghề thầy số là nghề… tổn âm đức, vì trong mọi tình huống khi đã xem cho ai, hướng dẫn người xem làm này tránh kia đều là “tiết lộ thiên cơ”. Có lẽ vì vậy nên cả đời cụ chẳng bao giờ dư dã, chỉ đủ ăn đủ mặc và không có con trai nối dõi (chỉ sinh duy nhất có một bà con gái, hiện vẫn còn ở Việt Nam).

Vì quan niệm trên (tổn âm đức) nên cụ không có học trò theo đúng nghĩa.

Đầu năm 1973, khi hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được thi hành thì cụ đã tiên đoán rằng tương lai miền Nam Việt Nam sẽ rơi vào tay phe cộng sản. Về các chính khách đặc biệt cụ đề cập đến 3 nhân vật đóng vai trò then chốt trong ngày mất nước là Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu. Cụ nói: “Khi Việt Nam Cộng hòa chỉ cần một trong ba bộ mặt sau đây lên nắm vận mệnh thì cầm chắc trong tay ngày mất nước đã tới. Đó là mặt ướt Dương Văn Minh, mặt sưng Vũ Văn Mẫu và mặt tuột Nguyễn Văn Huyền”. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, đúng lúc trời đang sáng sủa bỗng tối xầm lại, đài phát thanh Sài Gòn loan tin chính phủ mới, một lúc xuất hiện chình ình ba bộ mặt định mệnh “Ướt, Sưng, Tuột” thì sự việc mất nước là điều dĩ nhiên đã được Thiên Cơ an bày rồi vậy. Nếu đài BBC hay ký giả Derek Wilson có nhận lệnh của ai đó để loan tin bậy về Việt Nam, tiếp tay cho việc cưỡng chiếm miền Nam thì cũng là chuyện đã nằm trong định liệu của Tạo Hóa (Thiên Cơ Định Mệnh)….

Trước khi qua đời, cụ được xem một số hình ảnh các nhân vật trong chính phủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Cụ cho biết: “đa số quyền cao, cằm đánh vào, là những người có danh mà không có lợi”. Quả nhiên sau khi chiếm được miền Nam không lâu, cả Mặt Trận Giải Phóng lẫn chính phủ do Mặt Trận lập ra đều bị giải thể không kèn không trống. Mặt Trận ra đời năm 1960 với trống rung cờ mở inh ỏi ở Hà Nội vang dội ra ngoài thế giới, khi giải thể chỉ được loan tin đúng 5 dòng chữ corp 6 nơi trang chót của báo Nhân Dân. Nhà viết tự điển Thanh Nghị theo Mặt Trận vừa được cấp cho ngôi nhà góc đường Thống Nhất/Hai Bà Trưng, trông sang trụ sở công ty xăng Esso (ngôi nhà sơn trắng, mái xanh), ở chưa nóng đít là đã bị…. đá đít ra ngoài.

Cụ được hầu hết các nhân vật chính trị lẫn quân sự thời đó mời tới hỏi ý kiến. Cụ nói tướng cách ông Nguyễn Văn Thiệu tai bạt hậu nên không chịu nghe ai, hạ đình bị phá cách nên hậu vận hư hết. Trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống, cụ thường được mời vào dinh Độc Lập dùng cơm và nói chuyện thời thế, cụ chỉ yên lặng và nghe nhiều hơn là nói. Lần Nguyễn Văn Thiệu độc cử, cụ có tìm cách khuyên khéo, nhưng Nguyễn Văn Thiệu là người chỉ thích làm theo ý mình (duy ý chí). Về bà vợ thì cụ khen là người nhã nhặn, có giáo dục và vượng phu ích tử.

Tướng cụ cao lớn, dáng đi lắc lư, hai tay ve vẩy, là một trong các cách tướng rất xấu: cách tướng của người hành khất. Nhưng nhờ có những nét tướng khác bù đắp nên cuộc đời cụ tuy không giàu sang, nhưng lúc nào cũng phong lưu. Cụ không có con trai, nhưng khi qua đời cũng vẫn có người chống gậy, là đứa cháu trai gọi bằng chú được cụ “hành sao” cứu mạng năm xưa. Ngoài ra cụ còn có vô số người nhận làm cha nuôi. Đám tang cụ vào tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần 1974 khăn trắng chít dài hàng mấy cây số, được coi là một trong số những đám tang lớn nhất trong lịch sử Hòn Ngọc Viễn Đông. Thành phần tham dự ngoài thân nhân họ hàng không quá 50 người, còn lại đều là bè bạn và những người đã từng chịu ơn cụ.

Cụ nói xem tướng không khó, sửa tướng mới khó. Đối với môn địa lý cũng vậy. Có những ngôi nhà người tới ở thường bị đau yếu, nhờ cụ giúp đỡ, cụ chỉ cần thay đổi giường nằm, bàn thờ, hoặc có khi là vị trí cầu tiêu thì tự nhiên đời sống phấn chấn hanh thông hẳn lên.

Hồi sinh thời, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, mời cụ xem vị thế chùa Xá Lợi. Cụ nói Chùa cần xây cổng về hướng con đường nhỏ, bên cạnh, nếu không sẽ có đổ máu. Cụ Mai Thọ Truyền và ban quản trị đều không tin. Khi có vụ Phật giáo tranh đấu đưa tới cuộc cách mạng 1/11/1963, Chùa Xá Lợi trở thành bãi chiến trường người ta mới tin lời cụ. Sau này Chùa được sửa sang lại, làm thêm chiếc cổng bên hông. Cổng chính chỉ mở vào dịp lễ lớn ở mặt đường bà Huyện Thanh Quan, còn hàng ngày ra vào đều dùng cổng bên hông.

Sau cách mạng 1/11/1963 các vị tăng ni muốn tìm một vùng đất rộng để xây dựng một Trung Tâm Phật Giáo. Thượng Tọa Thích Tâm Giác mời cụ đến hỏi ý kiến. Cụ, sau nhiều ngày đi trực thăng xem đất, chỉ vào một khu thuộc Thị Nghè. Lúc đó xa lộ Biên Hòa chưa làm xong, cầu bê-tông nối từ Văn Thánh sang phía ấp Thảo Điền và xã An Khánh Thủ Đức chưa có… Lúc đó, Phật giáo không biết nghe ai bàn, quyết tâm xin bằng được miếng đất ở số 16 đường Trần Quốc Toản. Cụ lại được mời tới coi. Cụ hoàn toàn không đồng ý, vì lẽ khu đất này “hăng tê” (hanté, có ma), vua chúa Triều Nguyễn khi xưa đã dùng nơi đây làm pháp trường. Thượng Tọa Tâm Giác một mực khăng khăng nói “Phật tới đâu, lành tới đó”. Khi ngôi Chùa Việt Nam Quốc Tự dựng xong với gỗ và tôn … thì nội bộ Phật giáo bắt đầu lủng củng rắc rối. Thật ra thì sự lủng củng này đã có từ trước, nhưng vào thời gian đó mới vỡ tung ra. Cụ thường nói nơi thờ cúng cần chỗ đất tốt, vì quy tụ nhiều người lễ bái. Thế đất 16 đường Trần Quốc Toản có một con lạch như mũi dao đâm sâu vào trong, nhất là tam quan Chùa Việt Nam Quốc Tự làm bằng gỗ và tôn có dáng dấp như cổng nghĩa trang thì dữ nhiều lành ít. Sau này Thượng Tọa Tâm Giác dù có quyết tâm xây ngôi bảo tháp nhưng vẫn không thể hoàn thành. Thời gian trước khi cụ Diễn qua đời, Thượng Tọa Tâm Giác tỏ ý hối tiếc về chuyện đã qua và ngỏ lời xin lỗi. Về miếng đất cụ Diễn “cắm” cho nhà Chùa, sau này trở thành khu Tân Cảng rộng lớn với sông nước hữu tình… thì ai nấy đều tiếc hùi hụi.

Năm 1945, Việt Minh nắm chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy, cụ tiên đoán thời của vua Bảo Đại hãy còn. Một hôm trong hàng chả cá Lã Vọng ở Hà Nội gặp vua Bảo Đại, cụ cúi mình chào “Hoàng Thượng”. Vua Bảo Đại rối rít đỡ cụ và nói ông không còn làm vua nữa, nhưng cụ một mực gọi “Hoàng Thượng” và mách cho vài điều về mệnh vận trong vài năm sắp tới… Quả nhiên sau đó vài năm (1949), vua Bảo Đại thành vị Quốc Trưởng của chế độ Quốc Gia đầu tiên đương đầu với chủ thuyết vô thần.

Gần dinh Độc Lập có một biệt thự của Pháp để lại, biệt thự khá lớn, nhưng không ai có thể ở lâu được, vì trước sau người ở cũng gặp chuyện bất hạnh. Cụ có tới coi và nói: “Nhà này chỉ có tướng tinh như Đức Thánh Trần Hưng Đạo mới ở được mà thôi”. Sau 1/11/1963, tướng Dương Văn Minh mời cụ lại và cười tự đắc hỏi: “Bây giờ cụ thấy sao? Tôi ở được chứ?”. Không muốn đẩy đưa với tướng Minh, cụ đáp cho xong chuyện: “Bây giờ ngài đã là Quốc Trưởng rồi mà !”. Câu nói bỏ lửng ở đấy. Nhưng về nhà cụ nói với con cháu: “Chết đến nơi rồi mà vẫn còn tự đắc!”. Quả nhiên sau đó không lâu có cuộc chỉnh lý và tướng Minh bị hạ bệ. Sau này biệt thự thuộc chủ quyền một nhà tỷ phú Việt Nam. Biết thân biết phận nhà tỷ phú này xin ý kiến cụ. Cụ bảo: “Có thể ở, nhưng không được ở phòng khách và toàn bộ ngôi nhà trên… Nơi đây chỉ có thể tiếp khách, làm văn phòng, còn ăn ngủ thì xuống nhà dành cho…. bồi bếp!” Nhà tỷ phú nghe lời cho sửa lại khu nhà phụ cận để ở và không gặp chuyện rủi ro nào, ngoài cái rủi ro mất nước mà toàn dân miền Nam Việt Nam đều phải gánh chịu, chứ không phải chỉ mình ông.

Về sinh hoạt thế giới khi đề cập tới nước Anh, cụ nói Thái Tử Charles, con của Nữ hoàng Elizabeth II, không có tướng làm Vua. Ngôi vua nước Anh rồi đây sẽ trở lại dòng vị cựu hoàng thoái vị. Cách đây trên nữa thế kỷ, vị cựu hoàng này đã từ bỏ ngai vàng cưới một phụ nữ Mỹ ly dị chồng, nhường ngôi cho người em, tức Vua George VI, thân phụ của nữ hoàng hiện nay. Tuy sự việc chưa xảy ra, nhưng dù sao cũng là một đề tài chiêm nghiệm. Một bài toán chưa có đáp số.

Cụ Ngô Hùng Diễn mất ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần (1974) tại Quân Y Viện Cộng Hòa, an táng tại nghĩa trang Phước Hòa, Gò Vấp Gia Định.

Một trường hợp khác

UserPostedImage

Bà Trần Lệ Xuân

Trần Lệ Xuân sinh ngày 22/8/1924, trong một gia đình quyền quý. Cha bà là luật sư Trần Văn Chương, con trai cả của Đông Các Đại học sĩ Trần Văn Thông. Mẹ bà là quận chúa Thân Thị Nam Trân, con gái của Đông Các Đại học sĩ Thân Trọng Huề. Ông Chương là đại địa chủ và là luật sư đầu tiên của Việt Nam có bằng tiến sĩ luật của Pháp. Cụ Ngô Hùng Diễn xem tướng cho Trần Lệ Xuân vào năm 1940, khi người con gái tài sắc này mới tròn 16 tuổi, xem ngay tại nhà riêng của luật sư Chương ở Hà Nội. Lời phán của thầy Diễn cho Trần Lệ Xuân như sau: “Cô là một người phụ nữ danh giá. Chồng cô chỉ đứng sau một người và trên cả triệu người. Nhưng trong cuộc đời, cô tuyệt đối không được rời xa nhà chồng. Nếu cô rời xa nhà chồng thì cả gia đình nhà chồng sẽ gặp đại họa”. Và cuộc đời của Trần Lệ Xuân đã diễn ra đúng như vậy. Mười tám tuổi, Trần Lệ Xuân lấy chồng và đó là Ngô Đình Nhu, em trai Ngô Đình Diệm. Sau này Ngô Đình Nhu trở thành cố vấn đặc biệt của Ngô Đình Diệm, đúng là dưới một người và trên cả triệu người.

Nhưng biến cố năm 1963 cũng xảy ra khi bà Trần Lệ Xuân rời gia đình sang Mỹ. Chồng cùng gia tộc họ Ngô gần như bị tận diệt. Rõ ứng với những gì cụ Diễn đã tiên đoán.

Trước đó các lần đảo chính của phe chống ông Ngô Đình Diệm thì đều được bà chuyển dữ thành lành. Thậm chí là lúc tổng thống bị ném bom tại dinh Nordom cũng chẳng làm gì được gia đình bà.

Biến cố năm 1963 âu cũng là một định mệnh không thay đổi được.

Sách TƯỚNG PHÁP NGÔ HÙNG DIỄN

Sau 9 năm theo học Cụ Ngô Hùng Diễn và 45 năm áp dụng những điều học được để giúp bạn hữu và những người quen biết khi cần một vài ý kiến thuộc lãnh vực “huyền bí”, tác giả, giáo sư Trần Quang Quyến đã có ý định viết quyển TƯỚNG PHÁP NGÔ HÙNG DIỄN.

Năm tháng qua đi, nay quyển sách đã được viết xong. Tác giả coi đây là một lễ vật để tạ ơn người Thày, đã như hình với bóng, như tấm gương để noi theo cho suốt cuộc đời. Tác giả cũng hy vọng tài liệu này được chấp nhận như một đóng góp khiêm tốn vào lãnh vực nhân tướng học, nói chung và như một viên gạch để xây nền móng cho khoa nhân tướng của Việt Nam, nói riêng.

---

Bình luận :

Kim Dung: Mình tin ở phong thủy, tin ở tướng số nhưng cũng tin ở sự lương thiện, tử tế của cái tâm con người theo tinh thần “Đức năng thắng số”. Điều lớn nhất, đầu tiên và cuối cùng của đời người vẫn là phải sống lương thiện, tử tế, và biết tự giáo dục bản thân. Đó cũng chính là Phong thủy tốt nhất cho số mệnh, cho gia đình, người ruột thịt thương yêu của mình. Cũng là nhân cách của đời người !

Xin đăng bài trên để bạn đọc chia sẻ. Có thể tin, có thể không, tùy nhận thức mỗi người.

Khi đưa bài viết này lên FB, chủ Blog nhận được cái còm đáng chú ý, mang tính phản biện của FBker Vinhhuy Le về những thông tin trong bài viết. Chủ Blog đã email cho Ban Biên tập trang trithucvn.net để làm sáng tỏ những nghi vấn mà bạn đọc Vinhhuy Le đã đưa ra. Trong khi chờ đợi hồi âm của Ban BT, xin đăng nguyên văn cái còm, để bạn đọc tham khảo:

Vinhhuy Le:“Trước hết, cựu hoàng Bảo Đại không phải người mê xem tướng số. Mà nếu ổng có mê, cũng đã có sẵn cơ quan Khâm Thiên giám để lấy tử vi, phong thủy cho, nên ông chẳng cần tìm tới thầy bói dạo.

Tổng thống Ngô Đình Diệm theo Thiên Chúa giáo, nên cũng không quan tâm tới bói toán.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được cho là mê bói toán, nhưng thực ra đó là những đồn đại xung quanh Tổng thống Phu nhân (bà Mai Anh).

Và các thầy bói nổi danh nhất thời Việt Nam Cộng Hòa là các ông Khánh Sơn, Minh Nguyệt, Huỳnh Liên. Ba ông này viết nhiều sách, thậm chí được mời lên cả Đài truyền hình, để phổ biến bói toán.

Cũng nổi danh nhưng thuộc chiếu dưới là các thầy:

– Gia Cát Hồng, tên thật Phạm Bảo, Bắc di cư, mở văn phòng coi bói ở đường Trần Quốc Toản Quận 3. Ông này chuyên coi tử vi và chữ ký, ngoài ra còn kiêm nghề thầy lang chữa cả bệnh phong ngứa lẫn phong tình.

– Thầy bói mủ Nguyễn Huy Bích, cũng Bắc di cư. Tiếng là thầy bói nhưng ông chỉ xem cho thân hữu. Sở dĩ nổi tiếng là nhờ ông quen biết nhiều người trong làng văn làng báo.

– Có một ông tên Lê Văn Diễn, người miền Nam, công chức về hưu, coi bói tại gia, ở đường Hiền Vương quận 3. Thầy này chuyên về tướng số và bấm độn đoán việc lành dữ.

Tóm lại, trước 1975, không có nhân vật nào tên Ngô Hùng Diễn nổi tiếng về bói toán, cũng như có đủ điều kiện để coi bói cho cựu hoàng, tổng thống, đại tướng, v.v… Những thông tin trong bài viết này hoàn toàn hư cấu, chỉ cốt để quảng cáo cho cuốn sách “Tướng pháp Ngô Hùng Diễn” của quý ông Trần Quang Quyến mà thôi….”

Vậy đâu là thực, đâu là hư ???

Thế nhưng, có hai bạn đọc khác lại khẳng định, cụ Ngô Hùng Diễn cũng là một thầy tướng có tên tuổi. Xin trích đăng hai cái còm này của hai bạn đọc:

– Thanh Hằng Anh Thư: Mình cũng đã đọc rất kỹ nhiều tài liệu nói về Cụ Ngô Hùng Diễn, với thuật xem tướng Cụ là người vận dụng tuyệt vời văn hóa truyền thống mà cả Phật gia và Đạo gia đều đều khẳng định “Tâm sinh tướng hay tướng do tâm sinh”.

- Thắng Bùi: Trong hồi ký “Việt Nam máu lửa quê hương tôi” của tướng Đỗ Mậu giám đóc nha an ninh quân đội SG có nhắc tới ông thầy cao tay này.

Như vậy, chứng tỏ cụ Ngô Hùng Diễn cũng là một thầy tướng có “số má” trong làng bói toán. Không phải người “vô danh tiểu tốt”. Mình copy lên để thông tin sòng phẳng, cho bạn đọc hiểu thêm. Còn đánh giá trình độ, tay nghề của từng thầy, quả thật không đơn giản!

Edited by user Wednesday, May 8, 2019 9:29:44 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12247 Posted : Thursday, May 9, 2019 12:37:28 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 600
Location: Deutschland

Thanks: 196 times
Was thanked: 439 time(s) in 295 post(s)


UserPostedImage



ℂℍ𝔸𝕄ℙ𝕀𝕆ℕ𝕊 𝕃𝔼𝔸𝔾𝕌𝔼 𝟚𝟘𝟙𝟡
𝓕𝓲𝓷𝓪𝓵



Trong trận bán kết tối qua, 8. 5. 19, đội 𝐓𝐨𝐭𝐭𝐞𝐧𝐡𝐚𝐦/ Anh đã 𝐭𝐡𝐚̆́𝐧𝐠 đội 𝐀𝐣𝐚𝐱 𝐀𝐦𝐬𝐭𝐞𝐫𝐝𝐚𝐦/ Hòa Lan với tỉ số 𝟑 - 𝟐.

Như thế giải Champions League năm nay trở thành Premier League (giữa 2 đội tuyển hạng 1 của Anh).

𝐓𝐫𝐚̣̂𝐧 𝐜𝐡𝐮𝐧𝐠 𝐤𝐞̂́𝐭 giữa đội 𝐋𝐢𝐯𝐞𝐫𝐩𝐨𝐨𝐥 và 𝐓𝐨𝐭𝐭𝐞𝐧𝐡𝐚𝐦 sẽ diễn ra vào ngày 𝟏. 𝟔. 𝟐𝟎𝟏𝟗, lúc 𝟐𝟏 giờ, tại sân vận động 𝐖𝐚𝐧𝐝𝐚 𝐌𝐞𝐭𝐫𝐨𝐩𝐨𝐥𝐢𝐭𝐚𝐧𝐨, Madrid, Tây Ban Nha.



UserPostedImage
Sân vận động 𝐖𝐚𝐧𝐝𝐚 𝐌𝐞𝐭𝐫𝐨𝐩𝐨𝐥𝐢𝐭𝐚𝐧𝐨 ...


UserPostedImage

... nơi sẽ diễn ra trận chung kết giải Champions League.

UserPostedImage



thao ly  
#12248 Posted : Friday, May 10, 2019 11:33:32 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Những điều mẹ dạy


By Đinh Yên Thảo -

May 10, 2019

Mẹ! Không phải đến những ngày lễ mẹ ta mới nhớ về mẹ. Mà nó là những dịp nhắc nhở sự vô tình của ta về tình yêu thương bao la trời biển mà mẹ đã dành cho ta. Cùng những điều mà mẹ đã dạy để chúng ta trở thành ta của ngày hôm nay. Mời bạn cùng đọc dăm câu chuyện về mẹ mà ắt hẳn mỗi người luôn có một, hay nhiều câu chuyện để kể. Về mẹ kính yêu của mình.

nhung-dieu-me-day1
nguồn istock

Phần cơ thể quan trọng nhất

Amol Harrison, IL


Từ nhỏ, mẹ tôi đã thường hỏi tôi câu hỏi rằng, phần nào quan trọng nhất trong cơ thể. Tôi thường trả lời theo điều mình nghĩ và đoán. Lúc bé tôi trả lời “đôi tai”. Mẹ tôi lắc đầu và bảo có những người bị điếc. Lớn thêm tí nữa tôi trả lời “đôi mắt”. Mẹ vẫn lắc đầu, khen tôi đã lớn hơn nhưng còn có người mù. Tôi lần lượt trả lời theo năm tháng của mẹ và lần nào mẹ cũng lắc đầu, dù bảo rằng tôi đã thông minh và có nhiều nhận xét hơn. Ðến một ngày ông nội tôi qua đời. Cả nhà đều rất buồn, đến cả ba tôi cũng khóc. Và đó là lần thứ hai tôi thấy ông khóc kể từ khi bà nội tôi qua đời.

“Bây giờ con đã hiểu phần nào trong cơ thể quan trọng chưa?”. Tôi hết sức ngạc nhiên khi mẹ lại hỏi lúc này, cứ ngỡ đó là câu chuyện đùa vui giữa hai mẹ con từ nhỏ. Nhưng mẹ tôi bảo rằng, “đây là câu hỏi rất quan trọng bởi nó sẽ chỉ cho con cách sống như thế nào trong cuộc đời này. Hôm nay là ngày mẹ nói cho con biết”. Tôi hồi hộp, ngẩng đầu chờ đợi. “Ðó là đôi vai, con gái thương yêu của mẹ”, mẹ tôi nói trong nước mắt. “Con thấy ai cũng sẽ có lúc nào đó đau khổ trong cuộc đời và họ cần một bờ vai để dựa. Mẹ luôn mong con có đủ những yêu thương và những người bạn tốt quanh mình để con có thể dựa vào vai họ khi cần hay làm chỗ dựa cho khi họ cần đến”.

Ðó là bài học của mẹ mà tôi mang mãi trong lòng. Bộ phận quan trọng nhất cơ thể không phải cho riêng mình mà cho người khác, để thấu hiểu nỗi đau người khác. Như ai đó đã bảo, người ta rồi sẽ quên những điều bạn nói, rồi sẽ quên những điều bạn làm và chỉ còn nhớ những gì bạn đã chạm vào cảm xúc của họ – AH

Lòng mẹ âm thầm

Selina Chouhuri, Bangladesh


Nói thật là tôi thù ghét mẹ tôi, ngày nào tôi cũng nguyền rủa bà. Tôi không hiểu tại sao trên đời này lại có một người mẹ nhẫn tâm từ bỏ con mình lúc chỉ một tháng tuổi, khi mà tôi cần mẹ và giòng sữa mẹ ngọt ngào nhất. Tôi sống với bên nội, không có mẹ và cũng chưa bao giờ thấy tấm hình nào về bà. Nhưng không biết tại sao mà hình ảnh mơ hồ của bà cứ ám ảnh trong đầu tôi suốt cả thời niên thiếu. Ở đâu tôi cũng nghĩ đến bà với lòng giận dữ và đau khổ vì không có mẹ như bạn bè. Một ngày khi tôi bước qua tuổi 16 thì chú tôi đã chỉ tôi một người đàn bà gầy gò, đôi mắt đau khổ đứng phía xa nhìn tôi. Chú bảo đã đến lúc cho tôi biết đó là người mẹ đã sinh ra tôi. Lòng tôi chẳng có chút cảm xúc nào với bà. Hay đúng hơn là tôi đã nhìn bà với đôi mắt oán hờn, chẳng muốn bà đến gần và cũng chẳng muốn gặp lại bà thêm lần nào khác. Tôi thề với lòng mình vậy.

Vài chục năm sau, tôi đã có gia đình và quên bẵng đi chuyện cũ thì một ngày tôi nhận được lá thư. Ðó là thư của dì tôi, tức em gái của mẹ, báo tin bà vừa qua đời. Trong lá thư kể lại rằng, đã bao năm tháng nay mẹ tôi sống trong đau khổ, buồn tủi vì nhớ thương tôi. Bà sinh ra tôi là con gái và gia đình bên nội đã hăm dọa rằng, hoặc bà phải bỏ đi hoặc họ sẽ giết cả tôi. Bà âm thầm bỏ đi xa để tôi được an toàn, thỉnh thoảng tìm về nơi cũ để lặng lẽ ngắm nhìn tôi. Bây giờ tôi mới hiểu lòng mẹ trời biển thế nào, có khi chẳng thể nào nói ra nhưng nó vẫn luôn ở đó. Chỉ những đứa con như tôi mới không hiểu cho đến khi muộn màng – SC

Hãy là Thụy Sĩ

Abigial Woft, NJ


Tôi còn nhớ là ngày khai giảng lớp Một, mẹ dẫn tôi đến trường. Tâm trạng hồi hộp, bỡ ngỡ, lại vừa lo âu đủ thứ khi đến trước cổng trường. Tôi ngước nhìn mẹ và hỏi, “Con sẽ kết bạn mới làm sao hả mẹ”. Mẹ tôi âu yếm, vuốt tóc tôi mà trả lời câu hỏi tôi còn nhớ đến bây giờ, “Hãy là Thụy Sĩ” (“Be Switzerland” – thành ngữ chỉ sự ôn hòa, trung lập – ÐYT chú thích). Tôi hiểu là mẹ tôi đã dạy rằng hãy làm bạn với mọi người, đối xử với mọi người công bằng và bình đẳng. Tôi đã mang câu nói của mẹ suốt thời học sinh, sinh viên của mình. Rồi đến ngày đầu tiên nhận nhiệm sở, chuẩn bị bước vào một môi trường mới hoàn toàn khác biệt, tôi đã hít một hơi thở thật dài và nhủ thầm trong đầu, “Hãy là Thụy Sĩ” trước khi kéo cửa bước vào hãng – AW

Báu vật của mẹ

Wendy Pat, MN


Ðến một ngày tôi biết việc gì đến sẽ đến. Tôi biết và hiểu rằng nó đang đến từng ngày, từng giờ nhưng vẫn cố tình né tránh, chẳng nghĩ đến hay chẳng muốn nghĩ đến cho dù đó cũng là điều tự nhiên với bất cứ ai. Ðó là ngày mẹ tôi bắt đầu yếu và lẫn đi nhiều. Có là bao nhiêu tuổi, tôi vẫn cứ thầm mong mẹ sẽ mãi còn mạnh khoẻ, sẽ luôn là mẹ như từ bấy lâu nay. Tôi bắt đầu xem xét giấy tờ, coi lại những thứ mẹ tôi cất trong tủ, chuẩn bị hậu sự. Trong cái ngăn tủ ngay đầu giường mẹ tôi nằm là một hộp nhỏ chứa vài món đồ kỷ niệm của bà. Ðiều bất ngờ làm tôi xúc động đến chảy nước mắt là, những bài thơ nho nhỏ tôi viết cho mẹ từ hơn 50 năm trước được bà xếp cất ngay ngắn trong chiếc hộp. Tôi đọc lại những bài thơ, câu viết vụng dại, non nớt của mình mà thấy thương mẹ vô hạn. Bà nâng niu, cất giữ chúng như báu vật trong suốt vài chục năm qua. Có phải những đứa con là báu vật của những người mẹ, phải không mẹ ơi? – WP

Sự độc lập

Sonna Lawrence, OK


Từ nhỏ mẹ tôi đã tập cho tôi tính độc lập. Bà bắt tôi phải tự mình làm điều này, điều nọ, những điều mà có những người mẹ khác làm cho con mình. Thật tình lúc đầu tôi cũng không thích lắm vì chỉ muốn mẹ làm hết cho mình mọi chuyện, nhưng rồi tôi bỗng quen với việc tự mình xoay trở lúc nào không hay. Ðến trưởng thành tôi mới thấy mẹ là đúng và cảm ơn mẹ nhiều về điều này. Bà làm điều đó không phải cho bà mà cho chính tôi. Tôi mạnh mẽ hơn, biết tự mình quyết định nhiều việc dù tôi vẫn biết rằng mẹ tôi luôn bên cạnh để sẵn sàng đưa ra những lời khuyên mỗi khi tôi cần, điều tôi vẫn thường làm. Những lời yêu thương của mẹ giúp tôi thêm cơ hội suy nghĩ và quyết định những chọn lựa của mình được đúng đắn hơn – SL

Óc hài hước

Robet Hynes, NY

Thú thật mẹ tôi là người có óc hài hước và bà đùa giỡn với mọi việc. Phải là một người mạnh mẽ, thông minh lắm mới làm được điều đó. Ngay từ nhỏ tôi đã còn nhớ rằng mẹ tôi hay bông đùa, làm mọi chuyện trở nên nhẹ nhàng hơn và không khí gia đình lúc nào cũng vui vẻ. Tôi còn nhớ khi trả bill mà mẹ tôi cũng cười. Tôi cứ hỏi, trả bill thì có gì vui thú mà cười? Khi nhìn những hàng chữ bà viết phần dưới của tấm chi phiếu trả bill, quả thật cũng mắc cười. Ví dụ trả bill điện, bà ghi thêm bên dưới hàng chữ “Cảm ơn đã thắp sáng đời tôi”. Trả tiền nhà thì bà viết, “Ðã trả thêm được bốn cục gạch vào căn nhà”. Trả tiền điện thoại thì bà viết, “Dịch vụ rất tốt cho đến khi có người gọi đòi nợ”. Ðại loại là những câu dí dỏm như vậy.

Bây giờ khôn lớn tôi thấy quả thật là sự hài hước mà tôi học từ mẹ tôi là cần thiết. Nó giúp cho đời sống tôi được vui tươi, nhẹ nhàng đi rất nhiều, hóa giải được những việc tưởng đâu chừng ghê gớm. Nó cũng giúp tôi dễ dàng kết được bạn, hòa mình vào đám đông vì ai chẳng muốn mình có được sự vui vẻ và những nụ cười – RH

nhung-dieu-me-day
nguồn Parents Magazine
ĐYT chọn và dịch

Lời mẹ dặn

Nhà thơ Phùng Quán, Việt Nam

Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
Cũng không nói ghét thành yêu.

PQ
thao ly  
#12249 Posted : Friday, May 10, 2019 11:38:18 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Vấn Đề Hôm Nay

Bùi Chu – Phát Diệm, vì sao là lịch sử?


May 10, 2019
Từ Blog RFA, tác giả Tuấn Khanh

Câu chuyện nhà thờ Bùi Chu đang đứng trước các cuộc tranh cãi là có nên phá bỏ, xây mới, lại rơi vào một thời điểm rất thú vị: kỷ niệm 65 năm những người miền Bắc di cư vào Nam theo tiếng gọi tự do (1954 – 2019).

Trong những điều mà người ta bàn tán, và nói Nhà thờ Chánh tòa Bùi Chu, thuộc xã Xuân Ngọc (Xuân Trường, Nam Định) là di sản, là lịch sử bởi được xây vào năm 1884, bởi giám mục người Tây Ban Nha Wenceslao Onate Thuận, nhưng thật ra, ẩn sau đó, là một câu chuyện của niềm tin, máu, nước mắt, oan khiên… không chỉ riêng của người Công giáo, mà còn là cả một chặng dài lịch sử người Việt.

Người ta vẫn hay kể những câu chuyện kinh hoàng về người ở lại miền Bắc sau 1954, với Cải cách ruộng đất, với các vụ án xét lại chống Đảng, chiến dịch thanh trừng Nhân văn-Giai phẩm… nhưng rất ít có tài liệu nào nói lại rằng những người chọn ở lại, những linh mục, những giáo dân… đã sống thế nào trong những tháng ngày ấy, cho đến 1975.

Từ tháng 7-1954, dòng người ngược xuôi khi chia cắt đất nước, dù không thống kê được đầy đủ, nhưng theo sách Ramesh Thakur, Peacemaking in Vietnam, ước tính rằng có khoảng gần một triệu người từ miền Bắc Việt Nam chạy vào Nam vì từ chối sống dưới chế độ cộng sản. Trong khi đó, chỉ có gần 4.500 người từ Nam ra Bắc. Đa phần họ được gọi tên là dân tập kết đời đầu. Tuy nhiên, đó chỉ là con số thống kê cho đến hết tháng 7 năm 1955. Những cuộc đào thoát sau đó, từ Bắc vào Nam là còn chưa kể đến.

Trong số những giáo dân vào Nam, có không ít người từ Bùi Chu – Phát Diệm. Vì lẽ, hơn ai hết, từ năm 1945 họ đã hiểu cộng sản là gì. Đức giám mục Lê Hữu Từ (được tấn phong từ tháng 10/1945) đã nhận ra được ẩn đằng sau Mặt trận Việt Minh là bàn tay của Quốc tế Cộng sản. Chính vì vậy, ngài đã sớm hậu thuẫn cho tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc, nhằm tách biệt với hàng ngũ người Cộng sản, đặc biệt trong bối cảnh mọi người Việt Nam đều quyết kháng Pháp để đòi độc lập dân tộc.

Đó không phải là suy đoán, vì tài liệu nghiên cứu (2009) nằm trong tàng thư của Tòa tổng giám mục Sài Gòn, được tổ chức bởi Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn từ năm 2007, có ghi lại rằng Đức cha Lê Hữu Từ đã công khai tách bạch giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản với người đứng đầu của chế độ miền Bắc là chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, khi về Phát Diệm để tạo hòa hoãn với Đức cha Lê Hữu Từ, trong vai trò là Giám mục cố vấn chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe trực tiếp lời tuyên bố của Đức cha rằng “Tôi và toàn dân Công giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ Cụ trong công cuộc chống thực dân Pháp, giành độc lập cho tổ quốc Việt Nam. Nhưng nếu Cụ là Cộng sản thì tôi chống Cụ, và chống Cụ từ phút này”. Nhưng vào lúc đó, ông Hồ Chí Minh vẫn không nhận mình là Cộng sản. Thậm chí ông còn nói với Đức cha Lê Hữu Từ rằng sẽ có một cuộc phổ thông đầu phiếu “toàn dân sẽ định đoạt, Cụ và tôi khỏi phải lo”.

Nhưng cuộc phổ thông đầu phiếu đúng nghĩa ấy, không bao giờ có với người miền Bắc sau 1954 và cả nước, sau 1975.

Nằm kề nhau, nên hai giáo phận Bùi Chu và và Phát Diệm có cùng một khuynh hướng về đạo và đời. Đó là chưa nói 2 nơi này có cùng một lãnh tụ tinh thần của người Công giáo miền Bắc từ năm 1954 đến 1967, là ngài Thaddeus Lê Hữu Từ, Giám quản Tông tòa hạt đại diện của cả hai nơi này qua từng thời kỳ.

Sự mâu thuẫn giữa tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc và Việt Minh tăng dần, dẫn đến những va chạm bằng vũ khí. Theo tài liệu Gibbs, “Battle of Indo-China”, Đức cha Lê Hữu Từ đã có một đội dân quân kháng Pháp và cũng để bảo vệ giáo dân trước Việt Minh, con số được ước tính trong sách nói có lúc đã lên đến 6.000 người. Ủng hộ và yểm trợ cho ngài về mặt chiến sự, được biết có ông Ngô Cao Tùng, chức danh thiếu tá, có nguồn gốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lực lượng vũ trang của ông Tùng được ước tính cũng có khoảng 1.700 người.

Đây là một tình cảnh không khác gì với Phật giáo Hòa Hảo ở miền Nam Việt Nam. Một mặt chống Pháp đòi độc lập, nhưng mặt khác người yêu nước phải luôn đề phòng Việt Minh tiêu diệt mình để gồm thâu về một mối cho chủ nghĩa cộng sản. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập đạo Hòa Hảo, đã cho hình thành Lực lượng Vũ Trang Hòa Hảo (1945), mà tiền thân là Đội Bảo An, sau đó có thêm lực lượng Hòa Hảo Dân Xã của tướng Trần Văn Soái (tức Năm Lửa) sát nhập vào nhằm bảo vệ mình, cũng như cho cuộc kháng Pháp.

Tháng 10-1949, người Pháp bất ngờ nhảy dù đổ bộ xuống đồng Lưu Phương, sát cạnh khu an toàn Phát Diệm, không ai trở tay kịp vào lúc đó. Và cũng chính vì lý do này mà Việt Minh coi hai vùng Bùi Chu-Phát Diệm là ngầm theo Pháp chống lại Việt Minh. Dĩ nhiên đó là âm mưu chính trị, mà sau 1954, người công giáo ở Bùi Chu – Phát Diệm còn ở lại miền Bắc bị rơi vào hoàn cảnh khốn khó hơn hết dưới sự kiểm soát của chính quyền Bắc Việt cộng sản.

Theo tài liệu “Thái độ của các Giám Mục miền Bắc đối với Cộng sản từ 1945 đến 1954” do nhà chép sử Công giáo Vũ Sinh Hiên ghi lại cho thấy, dù ở trong vùng Pháp kiểm soát, nhưng suốt trong thời gian đó, Đức cha Lê Hữu Từ vẫn luôn bày tỏ sự bất mãn và chống đối công khai với người Pháp và vua Bảo Đại. Năm 1951, nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh thánh Jean Baptiste de la Salle, Đức cha Lê Hữu Từ đã lấy cớ đó, đọc bài diễn văn nảy lửa, tuyên bố rằng “Người Pháp hãy ở yên tại Paris và Bảo Đại nên về lại Sài Gòn”.

Nhưng dù vậy, đến 1954, khi người Pháp ra khỏi Bắc Việt, bắt đầu cuộc chia đôi đất nước, các giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm vẫn nằm trong sự thù nghịch của chế độ mới. Tên gọi “những con quạ đen” được truyền thông Nhà nước Marxist đặt tên cho các linh mục và tuyên truyền từ đó. Và rồi, một chương khác đầy khổ nạn đã mở ra. Một chặng lịch sử vừa kiêu hãnh, vừa đau đớn của người Công giáo miền Bắc đã hằn nơi mảnh đất họ sinh sống, hằn nơi tiếng chuông nhà thờ và những phiến đá nham nhở, yếu ớt theo thời gian của các thánh đường, như thánh đường Bùi Chu vậy.

Và đó là một phần của câu chuyện dài, để giải thích thêm cho ý nghĩa Bùi Chu – Phát Diệm vì sao là lịch sử.
Bắc Kì Nho Nhỏ  
#12250 Posted : Tuesday, May 14, 2019 1:31:48 PM(UTC)
Bắc Kì Nho Nhỏ

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/23/2012(UTC)
Posts: 600
Location: Deutschland

Thanks: 196 times
Was thanked: 439 time(s) in 295 post(s)
𝓓𝔃𝓾𝓲 𝓵𝓪̀ 𝓭𝔃𝓾𝓲 𝓺𝓾́𝓪 𝓭𝔃𝓾𝓲 !

𝐂𝐡𝐮́𝐧𝐠 𝐧𝐨́ 𝐯𝐮̛̀𝐚 𝐧𝐠𝐡𝐞 𝐭𝐢𝐧 ...
LÚ bị đứt mạch máu não !



UserPostedImage


UserPostedImage


wild grass  
#12251 Posted : Thursday, May 23, 2019 1:02:54 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)


Nhà thơ Tô Thùy Yên đã trở về cát bụi tai Houston, Hoa Kỳ

Đặng Tiến



NHÀ THƠ TÔ THÙY YÊN (1938 - 2019)

Một nén nhang lòng cho thi sĩ Tô Thùy Yên,một cội đề của thi ca miền nam trước 75.

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm Viện Pasteur, Sài Gòn, sau về công tác ở Bệnh viện Chợ Rẫy. Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp, một thời gian rồi bỏ dở. Ông bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới (thập niên 1950) trước khi xuất hiện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh "Thơ Tự Do" trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Ông là người miền Nam duy nhất trong nhóm Sáng tạo.




Cuối năm 1963 ông nhập ngũ, phục vụ ngành chiến tranh chính trị. Chức vụ cuối cùng là thiếu tá, trưởng phòng Tâm lý chiến.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị nhà cầm quyền cầm tù ba lần, tổng cộng gần 13 năm. Cuối năm 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo dạng tù nhân chính trị. Hiện nay ông đang ở Houston, tiểu bang Texas.

Một trong những bài thơ hay nhất,tiêu biểu nhất của ông là bài TA VỀ (Trường thi kinh điển của Tô Thùy Yên, từ tuyệt vọng trong tâm cảnh ngậm ngùi, khắp cùng đổ vỡ, tang thương. Nhưng không bi lụy, thề. Sự hào sảng của kẻ sĩ “Thơ chẳng ai đề vạt áo phai” không còn ý nghĩa của thắng-bại, tiếng cười sảng khoái cất lên ngay trên đầy đoạ, khổ đau của chính mình. Nỗi đau “mềm phế phủ” không phải ai cũng chịu nổi, càng không phải là những tháng năm tù đày. “Bỗng nghe/ đau/ mềm phế phủ” trước vật đổi sao dời sau mười năm xa vắng, mười năm lao cải, mười năm đá cũng ngậm ngùi thay… Không tố cáo, không luận tội bằng bằng trăm câu, ngàn chữ. Nhưng giá trị cáo trạng nằm trong chữ “thay”. Đá cũng ngậm ngùi thay, huống chi lòng người. Ai làm ra nông nổi này? Triều đại có hưng vong, chiến tranh có kết thúc. Lịch sử có sự công bằng cho con chữ thẳng ngay, không tố giác nhưng không khuất phục, bỏ qua… Thái độ bình tâm nhả chữ khi viết về lịch sử là khí độ của người cầm viết...

Tuyển tập thơ Tô Thùy Yên
https://www.nguoi-viet.c...yen-tap-tho-to-thuy-yen/


TA VỀ
Tô Thùy Yên

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta


TRƯỜNG SA HÀNH
Tô Thùy Yên

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỉ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người


Chiều trên Phá Tam Giang - Thơ Tô Thùy Yên
Thanh Lan & Nhật Trường





Mặc Lâm - Tô Thùy Yên, gõ cửa thiên thu

Tôi biết làm thơ từ khi còn rất nhỏ nhưng mãi tới gần tuổi năm mươi mới thật sự đọc được thơ qua một người mà càng đọc tôi càng được mở ra những cánh cửa khác của sự mầu nhiệm từ thi ca. Người làm thơ ấy là Tô Thùy Yên, một ánh sáng khơi gợi niềm cảm hứng, một cành khô giữa rừng có khả năng giúp người đi lạc trong cơn mê muội thẳm sâu của hưng phấn tìm được lối ra, một lẻ loi của cây xương rồng giữa sa mạc có khả năng chống lại sự cô đơn mà thượng đế giao phó.
Thơ của Tô Thùy Yên được rất nhiều người yêu mến vì chất tĩnh trong cái động của nó. Nếu 10 năm tù là trạng thái “động” của những buốt nhức của cơn đau thể xác thì “thế giới vui từ nỗi lẻ loi” là cái tĩnh thiền đạo của một người đã hiểu tường tận nỗi lẻ loi có sinh lực như thế nào. Lẻ loi ấy chỉ có thể hiện hữu trong một tâm thế vị tha, tha thứ những hằn học, những miệt thị, những oán khí của người khác đã dành cho mình. Lẻ loi vì sẽ không có nhiều người làm được. Lẻ loi vì tuy cúi mái đầu sương đã điểm nhưng vẫn tin vào tâm lượng của đất trời vẫn nặng trĩu niềm vui.

Niềm vui ấy Tô Thùy Yên đã tìm thấy sau khi từ giã trại cải tạo về nhà sau hơn 10 năm biệt xứ:

Ta về cúi mái đầu sương điểm / Nghe nặng từ tâm lượng đất trời / Cảm ơn hoa đã vì ta nở / Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.”

Chất thiền trong thơ Tô Thùy Yên có lẽ được hình thành từ những cơ cực mà cuộc đời ông chứng kiến. Những cái chết anh liệt nhưng thảm thương, những chia ly tràn khỏi bến bờ đau đớn, sự phân hủy cuộc sống đến vô tận đã đày ải tâm linh trước khi chính bản thân ông sụp đổ. Trong bài Qua sông ông viết:

Áo quan phong quốc kỳ anh liệt / Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang / Quê xa không tiện đường đưa tiễn / Nghĩa tận sơ sài, đám lạnh tanh / Thêm một chút gì như hối hả / Người thân chưa khóc ráo thâm tình...”


Những câm nín ấy vẫn ám ảnh ông nhiều năm sau trong bài Ta về, nỗi ám ảnh chiến tranh và tình người, một “hội chứng nghiến răng” của nhân loại: xông vào cái chết để bảo vệ ảo tưởng. Tô Thùy Yên sống và gậm nhấm thời kỳ ấy nên biết từng mùi vị của những lần hành quân đầy máu, máu của bạn bè lẫn đối phương. Máu không những đổ ra từ súng đạn nó cũng đổ ra từ tàn khốc của trại giam. Ám ảnh trở thành thói quen và Tô Thùy Yên lẩm bẩm sợ cho cơn thất lạc của chính mình:

Ta về như bóng ma hờn tủi / Lục lại thời gian, kiếm chính mình / Ta nhặt mà thương từng phế liệu / Như từng hài cốt sắp vô danh

Trong những cuộc hành quân ấy Tô Thùy Yên không ít lần thấy vẻ đẹp tiềm ẩn phía sau những quả mìn tàn nhẫn, những bức tranh được ông phác thảo vội vã miêu tả cái mỏi mệt của thiên nhiên quyện lấy con người như một định mệnh khắc nghiệt. Con người thì rã rời trời thì thấp và ướt sũng, mây trên trời lục bình dưới sông tất cả như hòa nhịp cho một bản nhạc buồn chỉ có chiến tranh mới có thể tạo ra được:

Đây ngã ba sông, làng sát nước / Xuồng ba lá đậu kế chân bàn / Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt / Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang

Tô Thùy Yên là một nhà thơ, đã hẳn, tuy nhiên ông còn là một họa sĩ thiên tài. Thơ ông đầy màu sắc quyết liệt chói chang của mặt trời, lạnh lẽo cô đơn như nước biển, và hơn cả tranh, màu sắc trong thơ ông phảng phất hình bóng con người. Trong “Trường sa hành”, một bài thơ quan trọng trong sự nghiệp thi ca của ông chúng ta có thể đồng ý với nhau ở điểm: màu sắc đã tạo thơ ông khác biệt vượt qua rất nhiều tác giả khác củng thời. Chỉ có điều không như hội họa, chúng ta chỉ thấy hai màu xanh lơ và đen trong cả bài thơ nhưng trong lòng lại bùng vỡ hàng loạt những gam màu khác: Đỏ úa của mặt trời trong ánh chiều tà mà tác giả gọi là “chiều rã” Những thay đổi quang phổ của rong biển, những long lanh từ muôn vạn tầng màu làm hồn ta lay động, màu lửa cháy rực cả đào khiến chim cũng đen úa cả tiếng xao xác quần bay. Miếng mồi cháy một màu khét khói cũng không khỏi ngậm ngùi…


Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo...
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi
….


Rồi nữa, kế sau màu sắc là âm thanh. Thứ âm thanh kinh khủng của tiếng gọi không thành lời. Âm thanh bị bóp nghẹt giữa hư vô. Âm thanh rơi vào một khoảng cách đặc sệt của không gian đóng kin:

“Đất liền, ta gọi, nghe ta không? / Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng / Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc / Con chim động giấc gào cô đơn

Viết về Tô Thùy Yên phải cần cả cuốn sách, một vài trang giấy không những bất toàn mà còn hời hợt. Nhưng sự ra đi của ông nếu không thể thắp bằng đuốc để tưởng nhớ thì đành dùng một nén nhang cũng đủ để tiển đưa ông. Trong tâm thế ấy cùng chia sẻ với những gì mà năm 1991 ông đã viết trong trại biệt giam 3C Tôn Đức Thắng:

Ta nằm xuống
Dỗ mình hãy cố ngủ
Tập quen dần với giấc thiên thu


Hãy ngủ, ông nhé và tôi tin rằng những gì ông để lại thế gian này cũng thiên thu không kém….



NGỰA PHI ĐƯỜNG XA
Đặng Tiến


Tô Thùy Yên đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu.

Chuyện đẹp, vì bài thơ của tác giả 18 tuổi đi thẳng đến độc giả 18 tuổi.
Ngày nay Tô Thùy Yên là tác giả danh tiếng. Bài thơ thanh xuân được những lớp phù sa bồi thêm nhiều ý nghĩa mới.

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu.
(…) Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
(…) Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.


(Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển, tr 13)

Cánh đồng, con ngựa ở đây khác với những hình ảnh trong thơ cổ, tranh Đường, tranh Tống, ngược lại phần nào đó, gợi lên nền “văn hóa đồng hoang” của Nga La Tư thời cổ đại. Chuyến tàu – nôm na là xe lửa – là biểu tượng văn minh cơ khí và hiện đại. Cuộc va chạm lớn lao giữa hai nền văn minh đông phương thảo mộc và tây phương cơ giới đã được nhà văn Phạm Văn Ký, 1910- 1992, vẽ lại trong tiểu thuyết Mất nơi trú ẩn (Perdre la Demeure, Gallimard, 1961, giải thuởng Hàn Lâm Viện Pháp), mô tả cảnh xây dựng con đường sắt tại Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Ngày nay, với tậpTHƠ TUYỂN (1) ghi tắt TT, của Tô Thùy Yên, con tàu còn mang nhiều ý nghĩa khác, như hình ảnh của lịch sử, dân tộc và loài người, tàn khốc và vô tâm:

Tàu đi, khoan xoáy sâu đêm thép,
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
Lịch sử dường như rất vội vã,
Tàu không đỗ lại các ga qua
.
(Tàu Đêm, 1980 , TT, tr 122)

Bài thơ làm trong thời gian học tập cải tạo miệt Nghệ Tĩnh; con tàu chở những người tù lưu xứ (tr 121), từ một sự vật cụ thể, mang thêm nội hàm tượng trưng rộng lớn trong thế giới Tô Thùy Yên:

Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man

(TT, tr 125)

"Trên đường lịch sử sắt tuôn mau” (tr 120) con tàu đối lập với ngựa; ngựa là hình ảnh loài người trong thân phận cá nhân, trong một thế hệ, một dân tộc hay thời đại trước tiến hóa. Sức người có hạn rượt theo bánh xe lịch sử, vô hạn và vô định, vì lý tưởng chính đáng, vì những say mê cuồng nhiệt và mù quáng, vì “duy ý chí”, vì hoang tưởng hay chỉ là nạn nhân trong một hoàn cảnh. Cho đến khi “ gục đầu, gục đầu’

Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.


Ngựa nâu là màu ngựa thường, có khi là ngựa thồ, không phải là bạch câu, ô truy hay xích thố. Ngựa của Kim Trọng trắng tựa “tuyết in”, chấm trên nền cỏ thanh minh như một đóa hoa lê; ngựa của chinh phu cũng"tuyết in" nổi bật dưới chiến bào “đỏ tựa ráng pha”. Ngựa của Vân Tiên đen tuyền, lấp lánh dưới kim khôi và siêu bạc rạng ngời giữa trận tiền. Ngựa của Tô Lang chỉ có “lớp áo” nâu sòng, màu của số phận dân quê, nói được là màu “dân tộc” cày sâu cuốc bẫm, hay cửa chùa vắng lặng. Khi thua cuộc, con ngựa -con người- chỉ để lại một “vết nâu”.

Nâu như một giọt máu khô.

Thơ, và nghệ thuật nói rộng ra, là những giọt máu đang khô, hay đã khô, trên nền mãi mãi non xanh của ngôn ngữ loài người.

Cuộc đời như thế đấy.



THƠ TUYỂN của Tô Thùy Yên bắt đầu bằng một câu trần trụi, trong bài nhan đề Thi Sĩ làm năm 1960, có thể xem như là tuyên ngôn. Thơ, thơ ai cũng vậy, bao giờ cũng vậy, là Lời, lẫn với Đời. Khác nhau ở tỷ lệ: đời ít lời nhiều, hay ngược lại. Ở Tô Thùy Yên đời và lời cân phân.
Câu thơ dù bay bổng, nợ đời, tình đời vẫn nặng chĩu.
Thơ nhẹ cánh, mà đời nặng gánh. Nói “đời” là mơ hồ, thậm chí hàm hồ. Đời nào, đời ai, đời những ai? Đời tênh hênh thì thơ cũng tô hô. Ngày xưa Xuân Diệu tự xem như con chim “ngứa cổ hát chơi”, lại thêm “hát vô ích thế mà chim vỡ cổ”. Tô Thùy Yên không làm thơ để mà chơi.

Tôi giành giựt đổ máu với tôi
Từng chữ một

(Thi sĩ, TT, tr 9)

Người xưa kể lại giai thoại “thôi xao”, nhẹ nhàng như việc "đẩy cửa dưới trăng, tăng xao nguyệt hạ môn", ( chuyện nhà thơ Giả Đảo đời Đường ) không “đổ máu” như Tô Thùy Yên. Lê Đạt nói về nỗi vất vả trong lao động chữ nghĩa có dùng hình ảnh "phu chữ”; Tô Hoài, trong bài viết đùa thân mật, diễn nôm là “cu ly chữ”. Tôi có dịp hỏi ý kiến Lê Đạt, anh trả lời: hiểu như thế không sai, nhưng cục bộ, “phu” còn có nghĩa là "đại phu", hay "đại trượng phu" theo Mạnh Tử. Đây là lời nói riêng, không phải là ý kiến.

Tô Lang không chơi chữ nước đôi kiểu ấy: "đổ máu" là đổ máu, chỉ có một nghĩa, dĩ nhiên là nghĩa bóng. Đọc thơ Tô Thùy Yên, cũng không nên đọc để mà chơi. Tác giả kén chọn người đọc và cách đọc, có lẽ vì thế mà 40 năm sau khi có thơ thường xuyên đăng báo, anh mới cho xuất bản một tập THƠ TUYỂN. Viết về anh có phần khó; không phải ở khâu bình giải khen chê, mà ở mức độ đồng cảm. Tôi viết bài này là do yêu cầu của độc giả, chủ yếu vì lí do tâm cảm và đồng cảm, xem từng chữ của Tô Thùy Yên như những giọt máu. Ví dụ con ngựa nâu là giọt máu mới đông. Cũng trong bài tuyên ngôn Thi sĩ:

Bài thơ lọt vào người như kẻ trộm

Âm thầm
Vơ vét sạch vô tư

(TT, tr 10)

Như vậy đơn vị thơ Tô Thùy Yên không phải ở câu thơ, như thường lệ, mà là bài thơ có khi khá dài, thường trên một trăm câu, và từng bài thơ một, phải đặt lại vào toàn thể tập thơ mới đúng vị trí và ý nghĩa của nó. Trích dẫn từng câu, từng đoạn, dù tiêu biểu, là việc cực chẳng đã. Đọc toàn tập, chúng ta nhận thấy thơ của Tô Thùy Yên không có tuổi, cho dù mang nhiều âm vang của lịch sử, trong một giai đoạn chiến tranh, đổi đời và tù đày khốc liệt.

Bây giờ ta đã già như tuyết
Già vô âm vọng
Già thâm u
Bây giờ ta trẻ như hừng đông
Trẻ như tiếng reo
Trẻ bất tử.
Ta ca ngợi những điều vô ích nhất,
Như tình yêu, cuộc đời, sợi tóc cỏ.


(Chim Bay Biển Bắc, 1972, TT, tr 69)

Chàng thanh niên 18 tuổi, khi kể chuyện Con ngựa Chuyến tàu đã là một tâm hồn già; con người ngũ tuần vừa ra khỏi trại cải tạo sau nhiều năm lưu xứ với “mái đầu sương điểm”.

Ta về một bóng trên đường lớn,
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai

(Câu mở đầu bài Ta về, 1985, TT, tr 126)

Bài tuyên ngôn “Thi sĩ” làm 1960 đã có những câu:

Những tên cai ngục
Ngôn ngữ bất đồng.
Với thứ linh hồn quốc cấm,
Tôi tù tội chung thân

(TT, tr 9)

Trong một bài thơ đề tặng Thụy Vũ, ghi 7-1972 đăng báo Văn (Sài Gòn) số 208 ngày 15-8-1972:

Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng
Ôi những rặng cây mang án tử hình treo

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó, tr 58)

Lại còn bài này nữa cùng thời 1972:

Sống trên đời chuyện ghê gớm quá,
Vậy mà ta sống, có kỳ không ?
Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm..

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày, cho hết đời ta ...

(Bài: Hề, ta trở lại gian nhà cỏ, TT, tr 43- 45-46)

"Tử tội mừng ơn lịch sử tha"! Bài thơ ghi thời điểm sáng tác: tháng 7-1972. Tôi ngờ ngợ tác giả nhớ nhầm, thơ in nhầm ngày tháng chăng? Tôi (vớ vẩn) đi kiểm soát lại thì thấy đúng, bài thơ đăng trên báo Văn, Sài Gòn số 208 đã dẫn, thời đó, có ghi rõ: làm ngày 11-7-1972.

Cùng với bài Tưởng tượng ta về nơi bản trạch, lời thơ bi tráng tuyệt diễm:

Ta bằng lòng phận que diêm tắt,
Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông.
Thôi nói, bởi còn chi để nói,
Núi xa, chim giục giã hoàng hôn.
Tưởng tượng ta về nơi bản trạch,
Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng.
Mùa xuân bay múa trên trời biếc,
Ta búng văng tàn thuốc xuống sông


(Báo Văn, tr 61, Thơ Tuyển tr 51)

Que diêm tắt mà vẫn phơi phới đào hồng, trên cõi đời này, chỉ có Tô Thùy Yên! Niềm hạo nhiên đó, Tô Quân còn gọi là: “cái có nơi ta” trong bài Chim Bay Biển Bắc đã dẫn, làm ngày 4.8.1972.

Đừng loạn tâm, đừng loạn tâm
Cuối chặng hành trình quay đảo nhất
Cả thảy sẽ an nhiên
Trong trật tự hằng hằng của vũ trụ
A! Loài người thăng tiến được bao xa?
Trời đất phồng lên cơn giận dữ
Thổi trận mưa rơm, Cõi Tạm mù


(Văn số 208, tr 91, Thơ Tuyển tr 70)

Trước đó, bài Đãng Tử,1971 có ghi tiền đề: (epigraphe)

Ngày kia trở lại Ngôi Nhà Lớn
Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.


(Báo Văn, số 190, TT, tr 23)

Mười năm lưu đày, thêm những lần bị bắt đi bắt lại, âu cũng chỉ là một kiếp chơi! Nắm bắt được điều đó, mới hiểu thấu bài Ta về (1985) nổi tiếng về sau, được nhiều người trích dẫn, không phải lúc nào cũng với hảo ý văn nghệ.

Gần đây và hiện nay, về mặt văn hóa, trong nước đang thảo luận dài dòng về đề tài: truyền thống và hiện đại; dân tộc và thế giới; cái riêng trong cõi chung… Ý hướng tốt: muốn liên minh cái nọ với cái kia, điều hòa cuộc sống dân tộc trong một thế giới đang bước đi những bước khổng lồ.

Thực tế văn hóa, nghệ thuật không rắc rối như vậy. Người nghệ sĩ làm thơ, vẽ tranh một cách hồn nhiên muốn sao làm vậy, rồi tác phẩm của họ nó ra sao còn tùy; dân tộc hay hiện đại là do người xem người đọc. Nếu rung cảm chân thành và sâu sắc thì phải mang đủ hai yếu tố, với phần liều lượng khác nhau.

Nói rằng điều hòa truyền thống với hịện đại, ngày nay trở thành một khẩu hiệu, một cách chào hàng trong thị trường văn hóa. Trong thâm tâm người sản xuất đã có hậu ý đối lập: làm sao cho có bản sắc dân tộc mà vẫn hiện đại; làm sao theo kịp các trào lưu của thế giới mà vẫn giữ truyền thống. Hai chữ “mà vẫn” có tính cách lãnh đạo và tham lam. Mà lãnh đạo và tham lam là phi văn hóa. Người nghệ sĩ chân chính, dù cho bề ngoài phải chịu ức thúc, nhưng trong đáy tâm hồn, trong cõi thâm sâu của sáng tạo, họ là những cá nhân tự do sống và sáng tác với "cái có trong ta" như chữ nghĩa Tô Thùy Yên.

Con người nô lệ, vụ lợi và xu thời, giỏi lắm là nghệ nhân hay văn công. Trong thực tế sáng tạo, dân tộc và hiện đại là một đơn vị bất khả phân. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, trong một tác phẩm mới in, đã nói chí lí và dũng cảm: “cái khẩu hiệu Dân tộc Hiện đại của văn nghệ chúng ta trong nhiều năm nay là một mệnh đề thiếu chính xác và hoàn chỉnh ngay ở mặt tu từ (…) khẩu hiệu này thiếu cái hàm ý nhân loại trong truyền thống” (tr 58). Trong một bài khác, anh nói thêm “ Cũng vậy đối với nghệ thuật bản sắc dân tộc và tính toàn cầu phải được hiểu là một”.(tr 73).


Cần nêu lên tiền đề này trước khi đề cập đến đề tài cục bộ: Tô Thùy Yên, dân tộc và hiện đại, đặt một trường hợp riêng lẻ trong cuộc thảo luận chung của đất nước - dù rằng cuộc thảo luận khập khiểng. Nói khác đi, vấn đề không đặt ra với tôi; với tôi chỉ có thân xác những bài thơ ngoài thời gian và vô quốc tịch; nó là thơ Tô Thùy Yên thế thôi, không dân tộc hiện đại gì ráo. Nhưng với người đọc – người đọc báo chẳng hạn, người viết có nhiệm vụ (và hạnh phúc) phải cập nhật hóa bài viết, trong bối cảnh lý luận rộng lớn hơn, hiện hành trên đất nước.

Tô Thùy Yên đến với văn học Việt Nam ở một giai đọan mới, mở ra tại miền Nam khoảng 1955-1956. Anh là thanh niên trí thức, đọc nhiều sách báo nước ngoài, trên một mảnh đất mở vào “Thế giới tự do” thì dĩ nhiên tâm hồn và trước tác cũng phải hiện đại: câu thơ, nhịp thơ, hình ảnh, ý tứ trong thơ Tô Thùy Yên minh chứng điều đó, chúng ta không cần đồ họa lôi thôi. Cái chính là làm nổi bật tính dân tộc trong thơ Tô Thùy Yên, đã đưa thơ anh đến với một nhân loại muôn đời,vượt qua hàng rào “hiện đại”.

Trong số những nhà thơ đương thời, có lẽ Tô Thùy Yên là người sử dụng nhiều ca dao nhất. Lưu Trọng Lư, một trong những người phát động thơ mới, thuộc nhiều ca dao, hay nhắc đến những màu sắc dân tộc, nhưng ít khi đưa ca dao vào thơ. Thanh Thâm Tuyền sành ca dao, nhưng không sử dụng, thậm chí có thể nói thơ Thanh Thâm Tuyền là một thi loại phản-ca-dao. Tô Thùy Yên, ngược lại ưa dùng lời ăn tiếng nói dân gian; nếu không thuộc tục ngữ, ca dao, người đọc có khi không hiểu anh nói gì. Ví dụ bài thơ mới làm cuối 1993, để Giã Biệt, “từ bỏ căn nhà, từ bỏ quê hương” lên phi cơ biệt xứ:

Anh ra đi
Bứt ruột mà đi (a)
Như đã một lần cũng bứt ruột
Đi những mười năm tưởng chẳng còn về
Máu chảy không cầm như nước theo sông
Thành phố của anh
Nhục nhằn duyên cưỡng ép (b)
Cay đắng phận rau răm (c)
Tim lay lắt chập chờn nỗi đợi
Mòn mỏi nén nhang khuya (d)
Buổi trở lại, trèo lên cây bưởi cũ (e)
Trông thấy nhau, thương chỉ để mà thương (f)
Đôi bông đó thôi thì em hãy giữ (g)
Tưởng tình xưa
Xin bỏ lỗi cho anh
Anh ra đi
Một lần nữa ra đi
Một lần nữa bứt ruột
Thương người ở lại
Thương như mưa (h)

(TT, tr 203)

. Đưa tay mà bứt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

b. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên

c. Cay đắng phận nghèo (mùi đời)

(thành ngữ).

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

d. Anh buồn còn chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya

e. Trèo lên cây bưởi hái hoa

f. Cây cao bóng ngã qua rào
Trông cho thấy mặt không chào cũng thương.

g. Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

h. Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Dĩ nhiên là còn nhiều câu khác mà tôi không biết, như “máu chảy không cầm” tôi nhớ mang máng đâu đó, không tường tận. Muốn tìm ra nhiều điển cố dân gian trong một bài thơ như vậy, phải lần lên đến Quốc âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, thế kỷ thứ XV.

Có những giao hưởng tài hoa và thi vị, trong lời hẹn một ngày về Vườn hạ

Ăn trái chín cây mùa hạ trước
Thấy nhành ớt động bóng chim quen

(TT, tr 91)

Muốn đi vào tâm tư tác giả, ta cần biết:

- Chim chuyền bụi ớt líu lo
Tình thương quân tử ốm o gầy mòn

- Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi


Trong bài Ta về , 1985:
Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao
Khóc người, ta khóc ta rơi rụng


(TT, tr 135)

Câu trên gợi lên cảnh “ đêm khuya ra đứng bờ ao” mà ai cũng nhận ra, nhưng không gian bờ ao kết hợp với “rụng” nhắc lại một câu ca dao khác và gợi ra tâm trạng hờn tủi của người về

Thiếu chi cam rim hường rim anh không chuộng
Anh đi tìm trái khế rụng bờ ao.


Một bài khác còn nhắc tới cây khế dung dị nhưng tuyệt đẹp:

Ta nhớ lắm
Khu vườn xưa, cây khế tím mùa hoa


Có khi Tô Thùy Yên sử dụng nguyên si một câu ca dao:

Thôi, em tiếc thêm chi cái sợi dây dài
Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?


(TT, tr 150)

Nguyên câu văn ca dao, hóm mà sâu :
Tưởng giếng sâu em(anh) nối sợi dây dài,
Ai ngờ giếng cạn em (anh) tiếc hoài sợi dây.

Bài Mùa Hạ làm trong trại học tập Nghệ Tĩnh, trực tiếp nhắc nhở nội dung dân gian của một hình ảnh.

Ngày nghỉ về vườn thăm họ ngoại
Lòng như con sáo trong ca dao

(TT, tr 108)

Con sáo là hình tượng tự do: "con sáo sổ lồng sáo bay”. Vương vấn đâu đó ít nhiều cay đắng, khi nhớ đến câu trước: "Ai đem con sáo sang sông," so với tình huống của người dân miền Nam đi học tập cải tạo “ bên kia sông”. Cùng trong trang đó:

Em mặc bà ba ra bến nước,
Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào,
Đến nay lòng ấy còn xao gợn…
Mùa trái cây nào hái tặng nhau .


(TT, tr 108)

Ngoài “mùa trái cây” gợi nhớ đời sống Miệt Vườn, chữ “bà ba” là đặc tính của Nam Bộ , nhưng không xuất hiện nhiều trong thơ. Thường thường ta chỉ thấy “áo lụa Hà Đông” hay là:

Yêu nhau gói trọn hồn trong áo
Nhớ nhau từ trong tà lụa bay

Đinh Hùng

Võ Phiến thời đó (1972) đã nhiều lần luận về cái áo dài tha thướt; sau này, ra nước ngoài, anh mới nhớ đến cái áo bà ba. Tô Thùy Yên trong những câu thơ uyên bác, không ngại dùng những từ dân dã, Nam Bộ như cười bung (tr 59), lá bung phơi (tr 111), bung nở (tr 212), tiếng hò mời dzô dzô (tr 47), quên ngang (tr 119). Những lời lẻ dân gian được sử dụng uyên bác:

Tôi gầy yên lặng với âm thanh (TT, tr 10)
Ngọn cây, ô, đã giát hoàng hôn ( TT,tr 43)

Ngoài ra còn có một số hình ảnh lấy từ ở đời sống hàng ngày, ở tuổi thơ nông thôn, từ tàu chuối lưa thưa đến hoa khế tím, con còng, con dế, đến chim bói cá, cá thia lia, những trò chơi trẻ con như cút bắt, "xu thảy hết... đồng cái thua buồn cũng liệng sông" (tr 95) ; với những kỷ niệm sắc bén:

Ai ngắt dùm anh cây cỏ sướt
Làm đôi gà đá, đá ăn cười

(TT, tr 92)

Gà đá, ở đây là những chùm cỏ cú, làm trò chơi của trẻ nghèo ở nông thôn.
Kỷ niệm thơ ngây, lần xen vào những câu thơ hào hoa

Con chim lạc bạn kêu trời rộng,
Hồn chết trôi miền dạ lý hương.

(TT, tr 94)

Trong từ vựng, đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Việt là giá trị những hư từ, như liên từ, giới từ, những công cụ cú pháp không có nội dung riêng, trái với thơ chữ Hán nặng về thực tế và né tránh hư từ. Thơ Tô Thùy Yên cô đúc và có phong thái cổ thi nên cũng ưu đãi thực từ, nhưng hư từ trong thơ anh lại rất đắc vị:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

(Ta Về, TT, tr128)

Đọan thơ này thường được trích dẫn vì nội dung lịch sử và nhân đạo, triết học. "Hoa đã vì ta nở" nhắc đến câu thơ vua Trần Thánh Tông,1240-1290, trong bài Vườn xuân nhớ người cũ:

Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
Xuân hoa như hứa, vị thùy khai ?.

ĐT tạm dịch :

Muôn hồng ngàn tía suông đua sắc,
Hoa nở, vì ai vẫn nở nhiều ?




Nhưng đừng quên giá trị của nó về mặt thi pháp, cách sử dụng các hư từ “vì”, “từ”, và cách ngắt nhịp huê dạng “ từ mỗi” trong câu thơ.

Nói chuyện thơ, chúng tôi nghĩ nên ưu tiên cho các vấn đề về thi pháp, từ pháp, âm pháp, nói chung là ngôn ngữ. Dĩ nhiên nội dung của tác phẩm là quan trọng. Trong thời Tô Thùy Yên, lịch sử dân tộc để lại nhiều hình ảnh sâu đậm, quá khuôn khổ của một bài báo.

Vậy xin khất độc giả đến một dịp khác.


Paris, 22.10.1998. Điều chỉnh, 6-12-2009.
Đặng Tiến




(1) Tô Thùy Yên, THƠ TUYỂN. Tác giả xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ 1995. Thơ trích từ đấy.
(2) Thái Bá Vân, TIẾP XÚC VỚI HỘI HỌA, nxb VIỆN MỸ THUẬT, Hà nội, 1998, chỉ in 400 cuốn, ai đọc ai không? Đến hôm nay, 2009, chưa thấy tái bản.


thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
hongvulannhi on 5/25/2019(UTC)
hongvulannhi  
#12252 Posted : Saturday, May 25, 2019 10:38:51 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,713

Thanks: 2444 times
Was thanked: 5240 time(s) in 3496 post(s)
ME^NH MO^NG CO? DAI. BE^N TRO+`I

Tha'ng Na(m, ca^'t bu+o+'c đi xa
Go't phie^u la~ng đa~ trai? qua bao nga`y
Vui cu`ng non nu+o+'c, tro+`i ma^y
Bu+o+'c cha^n ho^` hai? co`n say đu+o+`ng da`i.

Tu+o+?ng kho^ng ai he.n mo^.t mai
Tu+o+?ng kho^ng ai đo+.i ba`n tay u? no^`ng
Gio+` nhu+ gio' thoa?ng me^nh mo^ng
Nhu+ tru`ng kho+i so'ng bo^`ng be^`nh đuo^?i xo^ .

Bo^~ng đa^u, co' phu't ti`nh co+`
Nghe lo+`i gio' nha('n ba^'t ngo+` reo vui
Co? May nghie^ng nga? be^n tro+`i
Ru cu`ng so^ng nui' vo+.i vo+`i me^'n thu+o+ng.

Cuo^.c đo+`i va^~n bie^'t vo^ thu+o+ng`
Ai đi, ai đe^'n, mie^n tru+o+`ng ai hay
Gio+` thi` ngu+o+`i đo', ta đa^y
Tho^i đa`nh he.n la.i mo^.t nga`y tha('m tu+o+i ...

Gu+?i theo na('ng a^'m be^n đo+`i
Phu? le^n co? dai. ti`nh ngu+o+`i phu+o+ng xa .

HONG VU LAN NHI
5/25/2019

Edited by user Saturday, May 25, 2019 1:29:18 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 5/28/2019(UTC)
wild grass  
#12253 Posted : Tuesday, May 28, 2019 12:36:39 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 320

Thanks: 48 times
Was thanked: 111 time(s) in 95 post(s)
Mắt Buồn  
#12254 Posted : Thursday, May 30, 2019 2:25:29 PM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 4,729

Thanks: 663 times
Was thanked: 565 time(s) in 405 post(s)
Sự thật về mẹ ruột của Pax Thiên


Thứ Ba, 19/07/2011 09:51 GMT+7

(TT&VH Cuối tuần) - Nhìn Phạm Thu Dung trong bức ảnh này (chụp tháng 6/2011), không ít người giật mình: Dung có nhiều nét hao hao… Angelina Jolie, từ gương mặt góc cạnh đến bờ môi hơi dày. Hai người phụ nữ này đã và đang là một phần quan trọng trong cuộc đời của Pax Thiên, một đã sinh ra cậu và một đang nuôi cậu trong giấc mơ thiên đường.

Đêm định mệnh

21h ngày 29/11/2004 bệnh viện Từ Dũ tiếp nhận một sản phụ có dấu hiệu sắp sinh. Sản phụ được chuyển gấp vào khoa sản và nửa tiếng sau, dù thiếu tháng, một cậu bé 2,1 kg đã ra đời. Người sản phụ đó tên Phạm Thu Dung. Đứa bé được đặt tên là Quang Sáng, lấy họ mẹ.

Sinh con xong, Dung quyết định không nhìn mặt đứa bé, điều ấy mang tính định mệnh trong cuộc đời Phạm Quang Sáng hay Pax Thiên Jolie-Pitt sau này. Vì chỉ 2 ngày sau, Dung trốn viện, khi đó vẫn còn đang nợ 480.000 đồng tiền viện phí vì không có tiền.

Phạm Quang Sáng, cái tên được nảy ra từ ý nghĩ bất chợt của người mẹ, liên quan tới truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà Dung đã từng rất cảm động khi đọc từ ngày bé. Vài ngày sau khi chào đời, Phạm Quang Sáng được đưa về Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi Tam Bình.

Trước 21h, Phạm Thu Dung vẫn còn đang phê thuốc, cô đau bụng dữ dội nhưng không nghĩ mình đau đẻ. Để hạ cơn đau, Dung nhờ bạn cho thêm một liều nữa, vẫn không giảm và cô quyết định vào bệnh viện. Cuộc đời của Phạm Thu Dung trước và sau sự kiện Phạm Quang Sáng đều liên quan đến một sợi dây oan nghiệt: Ma túy.

UserPostedImage

Phạm Thu Dung

Một cuộc đời sa ngã

Dung vẫn nhớ những ngày tháng ăn chơi ở vài vũ trường đình đám Sài Gòn gần 15 năm trước. 18 tuổi (1995), tới vũ trường Mỹ Mãn hay Thái Sơn thì hầu như ai cũng biết tiếng Dung, quậy kinh khủng. Vũ trường thâu đêm suốt sáng, rượu bia, hàng trắng, đánh nhau như cơm bữa, thanh toán giang hồ... Cứ vô sàn mà thấy ai có vẻ sốc sốc là Dung “anh chị” ngay, đánh không cần nghĩ ngợi, đánh đến nỗi mà bảo vệ nhìn thấy mặt cô là phải năn nỉ “thôi tối nay đừng giở trò gì nữa nha”. Đám chiến hữu của cô cũng toàn máu mặt, dân anh chị có số ở quận 4. Dung nổi danh đi đánh lộn ra tiền, tức là đánh xong hôm sau bắt nạn nhân tới quán cà phê trên đường Lê Thánh Tôn “phạt”. Cả đám dân chơi trẻ tuổi, tầm 20 như nhau, không về nhà, bỏ tiền ra thuê một căn nhà trên đường Lê Văn Sỹ, ban ngày tụ tập ở đó, tối đến mỗi người một hướng. Đứa thì đi làm vũ trường, đứa đi chơi và hầu như đứa nào cũng dính “trắng”. Nhiều người bạn của Dung đã chết vì sốc thuốc, có người chết vì HIV.

UserPostedImage

Vợ chồng Angelina Jolie Brad Pitt đã nhận nuôi Phạm Quang Sáng tại Trung tâm Bảo trợ trẻ em mồ côi Tam Bình

19 tuổi cô bắt đầu lậm vào hàng trắng và nghiện. Dung kể, lúc đó bạn bè cứ đưa nhưng cô từ chối và rồi họ vẫn cứ tiếp tục đưa, nói “thử đi rồi cuộc đời mày sẽ khác, cuối cùng thì đời em khác thiệt”. Ở độ tuổi đó Thu Dung cũng khá bốc đồng, ai khích là cô làm ngay.

Thời điểm ấy gia đình Dung khá giả nhờ ba là thuyền trưởng tàu viễn dương. Nhưng Dung đã quậy thì nức tiếng, chẳng tiền của nào lại được. Để có tiền (vì lúc này ba mẹ Dung quyết định “cấm vận tài chính”), Dung đi cầm xe rồi gửi giấy về cho nhà chuộc ra. Dung nhớ có lần ba cô đi công tác về nhưng không thấy chìa khóa tủ nên có kêu cô ra chợ tìm mẹ mang chìa khóa về. Dung kiếm được mẹ, lấy chìa khóa nhưng trước khi mang về thì cô rẽ ngang vào hàng làm chìa khóa “thửa” riêng 1 cái. Vì thế sau này cô có tiền khá dễ dàng, lúc lấy tiền, lúc cắt vàng ra bán. Hoặc có những lúc cô đi mượn nợ, đến lúc không trả nổi thì chủ nợ cứ đến nhà là mẹ phải trả, riết thành quen. Dung nhớ lại có lẽ mình đã phá hết nửa gia tài của ba mẹ và sau này khi cha mẹ cô làm ăn thất bát thì gia cảnh lâm vào khó khăn thật sự.

Phạm Thu Dung ở thời điểm đó rất khác với Phạm Thu Dung của tuổi 19 trở về trước. Cô là đứa con được cưng nhất trong nhà. Hồi nhỏ cô học giỏi, cấp I & II học ở Âu Dương Lân (quận 8), cấp 3 học trường Lê Quý Đôn. Lớp 12 thi tốt nghiệp cô đạt 4 môn hơn 38 điểm. Suốt 9 năm trời Dung đều là học sinh giỏi. Năm học lớp 10 đi xe đạp bị đụng gãy chân, liền được ba mua ngay cho chiếc xe Astrea, thời điểm đó chỉ có con nhà giàu mới được cưng thế. Có lẽ vì sung sướng như vậy mà cô hư sớm.

Dung bắt đầu sa ngã khi vào năm lớp 11. Thời gian đó ba cô đi công tác suốt, chỉ có mẹ ở nhà. Dung thường nói dối mẹ là đi học, nhưng thật ra là đi chơi, từ vũ trường này tới vũ trường khác, đúng 22h30 là có mặt ở nhà. Có người thấy về báo với gia đình nhưng nhà Dung chẳng ai tin. Cứ thế, sau khi tốt nghiệp xong thì Dung “bùng nổ”…

UserPostedImage

Pax Thiên những ngày đầu tiên đến Mỹ

Dung vẫn còn nhớ, ngày 25/3/1998 khi mẹ đưa cô đi cai nghiện ở Trung tâm Bình Triệu (năm đó Dung 21 tuổi), thì ba cô mới biết sự thực. Buổi tối, ông ngồi trên ghế ở phòng khách, và khóc. Sau, ông ra bàn thờ thắp nhang cho ông nội, lại đứng khóc. Lúc đó Dung tự hứa với lòng là sẽ cai, cô nói với ba “thôi ba đưa con đi cai đi, con không thể sống như vậy được nữa”. Nhưng sau 3 tháng, về, cô tái nghiện, rồi cai nghiện lại tái nghiện. Dung chẳng còn nhớ mình đã đi cai bao nhiêu lần, cai xong, nghiện lại. Giờ ngồi nghĩ lại Dung nói rằng cuộc đời cô không có cái đích để đến, là do cô cả, chính cô đã hủy hoại tương lai của mình.

Dung nói rằng cô thần tượng ba mình. Chính ba đã định hướng cho anh chị em trong nhà, nhưng Dung là đứa con đi lệch. Nếu đi đúng hướng có thể đời cô đã khác. Và nếu như mối tình đầu êm đẹp thì có lẽ số phận của cô cũng đã khác. Tình đầu tan vỡ, đẩy cô gái trẻ vào một cảm giác trả thù đời. Dung tụ tập vũ trường, hàng trắng như một cách tìm quên. Đàn ông cô tới với họ cũng chỉ vì tiền, chẳng cần tình yêu. Sau này, khi gặp cha ruột của Quang Sáng, một phần cũng là vì tiền. Lúc đó Dung đang là công nhân may tại một công ty ở Lái Thiêu (Bình Dương), người đàn ông này lúc đó là tổ trưởng tổ của cô, đã có vợ và con. Có vẻ giữa hai người có xích mích nên năm 2004 Dung quyết định chia tay, nghỉ làm, khi ấy cô chưa biết mình đã có thai. Và rồi cái thai lớn dần, cha đứa bé không hề hay biết và Dung cũng quyết định không nói. Cô cũng từng có ý định phá thai nhưng lại thương đứa bé vô tội, nên quyết định giữ lại. Lúc ấy Dung đã cai được ma túy nhưng khi biết mình có bầu, cảm thấy buồn chán, cuộc sống bế tắc, không tình yêu, thất nghiệp, nên cô dính lại. Đứa con lớn dần trong bụng, Dung cũng chẳng nghĩ đến chuyện đi khám, cô chỉ cần tiền để nuôi sống cơn nghiện. “Lúc đó tôi là một người rất khác, vô trách nhiệm với mình và con của mình, không gì có thể biện hộ được”, Dung nhớ lại.

Sau đêm 29/11/2004

Sau đêm đó, bạn của Dung báo cho chị ruột của cô và hai ngày sau, hai chị em trốn viện. “Tôi không thể nào nuôi con vậy được. Tôi nghĩ nếu tôi nuôi nó cũng sẽ không có tương lai, thà làm như vậy biết đâu nó có tương lai tốt hơn. Lúc làm giấy khai sinh cho nó, không hiểu sao tôi lại để tên thật, địa chỉ nhà cũng là địa chỉ thật, vì nếu làm khác đi chắc đến giờ cũng chẳng ai biết… Giờ nghĩ lại, thời điểm ấy có điều gì đó thôi thúc tôi phải nói sự thật, phải làm một điều gì đó thật lòng, dù là rất nhỏ bé, cho đứa con của mình. Lúc đó tôi chẳng còn nghĩ gì được hết, cứ nghĩ là mình để nó lại bệnh viện, đừng biết tới nữa. Nhưng thật tâm tôi đau lắm”.

Thời điểm đó nhà Dung rất nghèo, gia đình chuyển từ quận 8 xuống Thủ Đức sống. Đưa Dung về nhà nhưng không ai biết cô mới đẻ xong, chị của cô chỉ nói là cô bị sốt và cần vào phòng nằm nghỉ. Ba cô không biết gì hết “tại ổng khó lắm, ổng mà biết sự thật này chắc ổng sốc”. Phải mãi sau này khi người của Trung tâm Tam Bình đến nhà tìm thì ba của Dung mới biết…

UserPostedImage

Cả gia đình Brangelina lúc nào cũng có nhau

Thay đổi cuộc đời

Thời điểm mà đoàn nhà báo nước ngoài đến nhà Dung năm 2007 (sau đó có một bài nói về việc cô sẽ đòi lại con đăng trên tờ News Of The World) thì Dung đang sốt li bì và chẳng hay biết gì. Đúng ra Dung chẳng quan tâm. Cô nhớ lại thời điểm trước đó, 28 Tết (năm 2006), “bác Hào (Phó giám đốc trung tâm Tam Bình), đi cùng một người bên Hội phụ nữ và cảnh sát khu vực ghé nhà nói chuyện với ba tôi (Dung ở trong phòng) và họ có yêu cầu ba ký tên vào tờ giấy cho con (tức Phạm Quang Sáng). Sau đó tôi có hỏi là sao ba không để trung tâm giải quyết mà ba phải ký thì ba nói rằng “có một gia đình người nước ngoài nhận nuôi Sáng và họ yêu cầu phải có đầy đủ giấy tờ”. Lúc đó ba tôi mừng lắm khi biết tin một gia đình nước ngoài nhận nuôi Sáng. Bản thân tôi cũng vậy”. Và cũng chính lúc đó, Dung nghĩ rằng mình phải thay đổi. Giữa năm 2007 Dung ra Nha Trang quyết tâm là cai bằng được. Cô tự cai ở nhà trọ của mình, mệt thì uống thuốc, mệt nữa thì ra biển tắm. Cô tự hứa với mình rằng mình phải sống khác, phải sống làm sao “để một ngày nào đó nếu đứa con có quay về tìm mình thì mình đứng thẳng chứ không phải cúi gằm mặt xuống”.

Phải đến năm 2009 Phạm Thu Dung mới biết chuyện Pax Thiên, đó là khi bà nội cô mất, cô về Sài Gòn và được anh ruột cho biết. “Tôi về nhà hỏi, cuối cùng ba mẹ mới nói hết cho tôi nghe. Có điều vào thời điểm đó có nhiều bài báo viết sai sự thật về tôi, họ viết tôi đòi con này nọ, tôi đọc rất bực mình”.

UserPostedImage

Pax Thiên 7 tuổi, có một chiều hè vui chơi thoải mái trên bãi biển ở Malibu, California.

“Vậy nếu chị biết sự việc vào đúng thời điểm Angelina Jolie nhận nuôi Pax Thiên, chị có đòi tiền hay phá bĩnh gì không?”. Dung trả lời: “Mình làm vậy chẳng khác nào mình bán con mình lần hai, nhẫn tâm lắm. Tôi không hề có khái niệm gặp Jolie để nói rằng “bà phải cho tôi bao nhiêu đây tiền để tôi gầy dựng cuộc sống”. Tôi chỉ mong Sáng được hạnh phúc, có một cuộc sống tốt, tốt hơn là ở với tôi, chỉ thế thôi”.

UserPostedImage

Pax Thiên bên mẹ Angelina Jolie

Dung cho rằng cuộc đời cô như vậy nhưng cuối cùng Pax Thiên được sung sướng thì giống như là một sự bù đắp. “Đường đời của tôi bất hạnh là do tôi, cái vòng luẩn quẩn đó tôi đã từng muốn thoát ra mà không thoát được. Đâm ra có lẽ đó là cái luật bù trừ, con tôi sẽ được hạnh phúc hơn tôi, nó xứng đáng được như vậy. Nếu gặp Jolie có lẽ tôi chẳng biết nói gì, nhưng trong thâm tâm tôi tin đó là một người phụ nữ rất tuyệt vời và tôi cảm ơn bà vì tất cả. Tôi đọc nhiều bài báo nói Jolie nhận con nuôi để tìm kiếm thêm sự nổi tiếng nhưng tôi tin không phải như vậy, Jolie nhận con nuôi là vì cái tâm. Tôi rất hiểu điều đó và rất kính trọng Jolie vì điều đó. Tôi là một người mẹ không có trách nhiệm”.

Câu truyện Chiếc lược ngà nói về tình cảm cha con, người cha đi chiến đấu lúc con chưa đầy tuổi, nên sau này khi cha về phép đứa trẻ không chịu nhận cha mình… Khi cha con nhận nhau thì người cha lại lên đường, có hứa tặng con chiếc lược ngà. Làm xong chiếc lược thì người cha hy sinh… Phạm Thu Dung không giống người cha ấy, nhưng tình cảm của cô dành cho con ít nhiều cũng có hình bóng trong chiếc lược ngà. Và cô cũng nên được tha thứ.

Thứ ba, 19/07/2011 17:08 (GMT 7)
Cung Tuy
Theo thể thao Văn Hóa

Edited by user Thursday, May 30, 2019 2:41:44 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#12255 Posted : Friday, May 31, 2019 11:24:40 PM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)

Sống và chết


Huy Phương

May 5, 2019

UserPostedImage

Đài Tưởng Niệm các quân nhân VNCH đã chọn cái chết uy dũng ngày 30 Tháng Tư, 1975 (Hình: Thành phố Westminster, California)

Ngày 30 Tháng Tư, mỗi năm đều đến và rồi qua, nhưng mỗi lần như thế, vết thương lại như bị xát muối làm cho người ta đau đớn, mặc dầu là chỉ đau đớn trong hồi tưởng, nhưng sự thật là hôm nay, chúng ta đang còn phải gánh chịu những hậu quả khốc liệt của nó.

Mỗi năm ngày 30 Tháng Tư về, ám ảnh nhiều nhất, tôi thường nghĩ đến những cái chết. Trước hết là cái chết của 5 vị tướng lãnh và hàng trăm người không chịu được nỗi nhục, vì cái phi lý của chuyện thất trận và nhất là việc đầu hàng, từ một sĩ quan đang ở trong văn phòng khi nghe tin thất trận, hay là người lính bị bỏ lại trên một bờ biển nào đó của đất nước.

Mặt khác nhiều binh sĩ đã ra đầu hàng vẫn bị quân thắng trận man rợ mang ra giết như cảnh xử tử ở pháp trường. Dân chúng và cả quân đội thì bị chết trên đường chạy loạn vì bom đạn từ miền Trung vượt đèo Hải Vân vào Nam hay từ cao nguyên đổ xuống miền duyên hải, vì nghĩ biển mênh mông vẫn là sinh lộ.

Sau đó không lâu, lại là những cái chết bi thảm của những người can đảm vào núi để tìm đường phục quốc, chết trong nhà tù hay chết sông, chết biển khi tìm cách vượt thoát chế độ ra đi.

Người lính tôn thờ ba điều tâm niệm cho binh nghiệp của mình và đã chọn cái chết vì “trách nhiệm” không tròn cũng như “danh dự” bị tổn thương. Trong những phút bức bách cuối cùng này, một người chọn cái chết cho mình, là một điều dễ dàng hay khó khăn?

Ai cũng có một mạng sống đáng quý, một gia đình để yêu thương và một đất nước để phụng sự, trong hoàn cảnh này, điều gì được cho là đáng quý hơn hết? Chết hay sống?

Khó khăn khi cần phải cân nhắc, và dễ dàng khi ai đó chỉ cần quyết định trong vài mươi giây, chắc không cần phải ngồi xuống bình tâm suy nghĩ thiệt hơn, để cuối cùng chọn cho mình một giải pháp. Một giải pháp nghe ra có vẻ cần đến thời gian, nhưng chọn cái chết chỉ cần ba giây đồng hồ.

Chúng ta, những người còn sống, không ai có thể nhân danh ai, nhân danh điều gì để thẩm định những chuyện chết và sống, để cho rằng, chết như vậy có đúng không, và cũng trong hoàn cảnh đó, chọn cái sống có sai không?

Hai trong bảy quy tắc đạo đức mà các võ sĩ Samurai Nhật Bản phải tuân theo, phản ánh tinh thần võ sĩ đạo rất sắc nét, mạnh mẽ, chính trực là can đảm và danh dự. Chỉ có quân đội VNCH mới có truyền thống ấy trong ngày miền Nam thất trận.

Trận Okinawa với quân đội Mỹ kéo dài 82 ngày, kết thúc vào Tháng Sáu, 1945, biết không giữ nổi đất đai của tổ quốc, trong những giờ phút cuối cùng ngày 15 Tháng Sáu, Đại Tá Kanayama, Trung Đoàn Trưởng Tr. Đ. 27 BB. đã mổ bụng. Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân Okinawa, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu, và Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng tự sát cùng với bảy sĩ quan tham mưu trong binh đoàn.

Sau khi Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản, sáu ngày sau, 15 Tháng Tám, 1945, Nhật Hoàng, đồng ý đầu hàng, nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã tự sát vì danh dự và không chịu nỗi điều ô nhục đầu hàng, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…

Nhưng chúng ta cũng cần những người phải sống như Đại Tá Yahara để thế giới có cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa,” chúng ta có Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy và Y Sĩ TQLC Đặng Vũ Bằng cùng nhiều nhà văn quân đội khác.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, trong nỗi xót xa vì mất mát, tù đày và ly tán, nhiều nguồn dư luận lên án mạnh mẽ những cấp chỉ huy bỏ ngũ trước giờ đầu hàng với danh từ “đào ngũ,” nghe ra xót xa và tủi nhục ngần nào. Nhưng liệu là con người, trong hoàn cảnh ấy, chúng ta nếu khổng thể chọn cái chết trung dũng, chỉ là một người bình thường, chúng ta làm gì hơn như thế?

Người ta kể chuyện một ông Tướng thích đội nón dạ (feutre), khi vào nhà tù Cộng Sản ông cũng mang chiếc nón theo. Chỉ tội là những lúc gặp bọn cai tù Cộng Sản, ông đứng lại, khúm núm giở chiếc nón ra, cúi sâu và cất tiếng chào “cán bộ” rất lễ phép. Có lẽ ông cho đó là chuyện bình thường, nhưng đối với đám sĩ quan trẻ, có thể trong đó có nhiều người đã từng ở dưới quyền ông, thì đó là một điều sỉ nhục và xấu hổ ngay cho họ!

Những vị Tướng Lãnh tự sát giờ đầu hàng, là những vị bản chất anh hùng, trọng danh dự, khí khái, không biết quỵ lụy, khó có thể sống qua những ngày tù tội, đói khát và nhất là luôn luôn bị lăng nhục bởi những kẻ thắng trận từ các hang động trở về.

Chắc chắn trong hoàn cảnh ấy, chọn cái chết là một điều tốt. Chúng tôi, những người lính, thật lòng không muốn trông thấy những vị chỉ huy cao cấp thương mến của chúng tôi phải vật vã giữa bầy tù kiệt sức, nhặt nhạnh từng hạt bắp trong cái lon “gô” hay phấn khởi vì một miếng da trâu trong cái bát rỉ sét vào những ngày Lễ Tết như chúng tôi. Với cấp nhỏ, chúng tôi đành lòng, sau cuộc chiến, bị đối xử, bạc đãi dành cho những người thua trận, nhưng xót xa muôn vàn khi thấy những cấp chỉ huy của mình ngày trước phải chịu những thảm cảnh như vậy.

Một mặt khác, dù không muốn nêu đích danh, quả thật chúng ta cũng thấy đau xót và tởm lợm, khi sau này, thấy những vị Tướng Lãnh, đã từng hưởng “ơn Vua, lộc Nước,” cam tâm làm tôi mọi cho kẻ thù, bước qua dư luận và sống, được kẻ thù gọi xem là loại con cái “nghịch tử, hồi đầu,” vẫn thường huênh hoang tuyên bố những lời mạt sát, như con dao nhọn, đâm vào vết thương đang rỉ máu của chúng ta. Sống như thế, chỉ thêm ô danh.

Nói về chuyện chọn cái chết, ngay sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 biết rằng gia đình chúng ta bị tan vỡ, quê hương đày đọa và bản thân chúng ta bị lưu đày đi các trại tù trong rừng thiêng nước độc xa xôi, làm lụng vất vả đến kiệt quệ, chịu đói lạnh, không đủ ăn, bươi móc miếng ăn như những con ma đói, và luôn luôn bị sỉ nhục, trong một thời gian dài, không bản án, người thì bảy, người mười ba, mười bảy năm ròng rã, liệu chúng ta có quyết định chọn cái chết cho mình hay không?

Và làm sao để đành lòng bỏ lại các chiến hữu, những người bạn chiến đấu đã từng sống chết có nhau, trong phút “dầu sôi lửa cháy” để ra đi tìm cái sống cho mình. Vì vậy Đại Tá Nguyễn Hữu Thông đã xuống tàu di tản rồi mà vẫn trở lên bờ với anh em, cuối cùng nằm chung với nhau một huyệt mộ chôn vội trong Quân Y Viện Quy Nhơn. Vì vậy mà Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong hoàn cảnh các thương binh, cầm tay ông, sợ ông bỏ đi mà mếu máo “Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nghe Thiếu Tướng!”

“Không, qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em!”

Đó là trách nhiệm, danh dự và cả lòng nhân ái. Như chúng ta đã biết, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã ở lại và đã chọn cái chết sau cùng!

Nhưng chúng ta cũng biết đến bao nhiêu người, đành buông theo số phận, sống qua cảnh tù đày hay lưu lạc chốn quê người, xót xa câm nín vì không thể làm gì khác hơn trong hoàn cảnh “Bại binh chi tướng bất khả ngôn dũng, vong quốc chi đại phu bất khả ngôn trí!” Chúng ta kính trọng những cái chết nhưng cũng cúi đầu trước những cái sống, vì chúng tôi biết rằng, sống cho ra con người, có lẽ cũng phải chịu muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết.

(Huy Phương)

thao ly  
#12256 Posted : Saturday, June 1, 2019 12:08:54 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)
Ngày Tưởng Nhớ Chiến Binh


28/05/201900:00:00(Xem: 517)
Trần Khải

Ngày Thứ Hai 27 tháng 5 năm 2019 là Ngày Memorial Day 2019 tại Hoa Kỳ. Dịch ra tiếng Việt là Ngày Lễ Chiến sĩ Trận vong, tức là ngày tưởng niệm các tử sĩ trong chiến tranh.

Cũng trong ngày này, cũng là ngày gặp gỡ các cựu chiến binh để tưởng nhớ các đồng đội, các chiến hữu một thời cùng trong cuộc chiến, và để bày tỏ lòng tri ân tử sĩ.

Lễ Chiến sĩ Trận vong là một ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, diễn ra vào ngày thứ Hai cuối cùng trong tháng 5 hằng năm. Truyền thống, vào ngày này người dân Mỹ đi viếng thăm các nghĩa trang và các đài kỷ niệm; lá cờ Mỹ để rũ cho đến trưa theo giờ địa phương.

Riêng đối với người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, ngày Memorial Day bên cạnh là một ngày lễ, ngày nghỉ ngơi, cũng là ngày gặp các bằng hữu trong cuộc chiến quá khứ, tưởng nhớ các chiến hữu để hy sinh, và suy niệm về một cuộc chiến đầy bi thương trong lịch sử dân tộc.

Nơi đây, xin ghi lại một số bài thơ của các nhà thơ một thời chiến binh. Để đọc lại. Để tưởng nhớ.

Thơ Trạch Gầm

LỜI TRƯỚC NGHĨA TRANG
.
Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương
.
Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lể nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
.
Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
.
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả Sơn Hà cứ tưởng như mơ
.
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mầy những thằng đã chết
Ngày... Quê Hương còn lắm nỗi thiết tha.
… o …

Thơ Trần Dzạ Lữ

BỮA CƠM NGOÀI CHIẾN TRƯỜNG
.
Bốn năm thằng lơ láo
Áo quần rách tả tơi
Ăn cơm bên xác người
Tay bốc, tay cầm súng
.
Lòng nhớ mẹ phương Tây
Ý thương em chạy giặc
Xóm làng sầu khôn khuây
Đất trời thêm hiu hắt
.
Ăn xong, múc nước ruộng
Uống đại cho qua ngày
Quê nhà em có biết
Chinh chiến thân lưu đày?
.
Ăn được là điều may
Có khi hai, ba ngày
Không ăn, chẳng có uống
Ta nằm với cỏ cây

(Phong Điền 25.5.1972)
… o …

Thơ Nguyễn Phúc Sông Hương

NGƯỜI LÍNH LÀM THƠ TRÊN ĐỈNH NÚI
.
Leo lên đến đỉnh khi chiều xuống,
Đầu vách cheo leo đá nẩy mầm.
Có phải hương đưa từ thạch thảo
Hay là bởi nhụy của bông trăng.
Người lính bỗng quên đời chiến trận
Chìm trong mênh mông một đêm rằm
Cả một tiểu đoàn đang gác súng,
Nghe hồn man mác tiếng thơ rung.
Đêm nay ta chẳng cần căng võng,
Giường đá, ba lô kê gối nằm.
Bên kia núi, địch chắc buồn lắm
Nên đốt lửa hồng xua ánh trăng
Ai thổi tù và vang dưới lũng
Hay là địch lạc thổi tìm quân?
Mặc tiếng cọp gầm, người lính trận
Gạo sấy, muối mè, ăn dưới trăng.
Đỉnh cao ta chẳng cần xin pháo
Để cho địch sống qua đêm rằm.
Sáng mai có lệnh lần qua núi,
Khuất ánh trăng, quân đi ngặm tăm.
Người lính miền Nam đi đánh giặc
Ba lô mang theo hồn thơ văn.
… o …

Thơ Linh Phương

HÀNH QUÂN
.
Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân
.
Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch Thuỷ
Thề chẳng trở về với tay không
.
Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
Hận kẻ bạc tình trên cánh tay
.
Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô
.
Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân
.
Mai mốt này đây nơi trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung
… o …

Thơ Tô Thùy Yên

ANH HÙNG TẬN
.
Dựng súng trường, cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều.
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt,
Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều.
Đây ngã ba sông, làng sát nước,
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn.
Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt.
Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang.
Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn
Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng.
Ta gạn dăm lời thơ tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương.
Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen.
.
Hề chi, ta uống cho say đã,
Nào có ra gì một cái tên…
Tới đây toàn những tay hào sĩ
Sống chết không làm thắt ruột gan.
Cũng không ai nhắc gì thân thế
Có vợ con mà như độc thân.
Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:
Còn mươi tháng nữa lên trung úy,
Có thể ngày mai chửa biết chừng…
Mặt bạn, mặt ta còn trắng cả
Như mặt trời chiều mới tạnh mưa.
Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở,
Muỗi thủy triều chừng cũng giạt ra.
.
Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt.
Sông không bờ, trời cũng không chân.
Người thuở trước tìm vàng khẩn đất
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.
Ngày nay, ta bạn đến đây nữa,
Đất thì không khẩn, vàng không tìm…
Bạn nhủ ta: đừng hỏi khó,
Uống mất ngon vì chuyện loạn tâm.
Ta chắt cho nhau giọt rượu sót,
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây.
Giờ cất quân, đưa tay bắt,
Ước cõi âm còn gặp để say./.

Edited by user Saturday, June 1, 2019 12:13:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thao ly  
#12257 Posted : Saturday, June 1, 2019 12:18:54 AM(UTC)
thao ly

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 4,514
Woman

Thanks: 482 times
Was thanked: 444 time(s) in 341 post(s)
Thị trưởng Trương Minh Ẩn – Chia sẻ và giúp đỡ


By Đinh Yên Thảo -

May 24, 2019

Như đã đưa tin trên số báo trước, Tiến Sĩ Trương Minh Ẩn, 70 tuổi, vừa trở thành người gốc Việt đầu tiên đắc cử vào chức vụ Thị Trưởng tại Texas. Trong vai trò tân thị trưởng thành phố Haltom trực thuộc Hạt Tarrant, TX, Thị Trưởng Trương minh Ẩn đã dành cho Trẻ cuộc phỏng vấn đặc biệt trên số báo hôm nay. Xin mời quý độc giả cùng theo dõi.

UserPostedImage

Đinh Yên Thảo (DYT): – Xin chúc mừng Tiến Sĩ Trương Minh Ẩn vừa trở thành tân thị trưởng thành phố Haltom, Texas. Cảm xúc trong những giây phút đầu tiên khi ông nghe tin được đắc cử vào chức vụ thị trưởng là như thế nào? Lúc đó ông ở đâu và với ai?

Thị trưởng Trương Minh Ẩn (TT TMA): – Cuộc bầu cử chấm dứt lúc 7 giờ chiều ngày Thứ Bảy 4 Tháng 5 thì gia đình chúng tôi và một vài bạn bè đến nhà một ứng cử viên hội đồng thành phố khác để có buổi tiệc nho nhỏ chờ kết quả. Mọi người hồi hộp chờ đợi và đến 7:30 tối thì có kết quả bầu cử sớm, tôi thấy kết quả rất khả quan khi các đối thủ của tôi chỉ có khoảng 20% phiếu còn tôi được khoảng 60%, có phần trăm thắng cao. Khoảng đâu 11:20 khuya có kết quả cuối cùng thì tôi nhảy lên, “Mình thắng rồi, người thị trưởng đầu tiên (tại Texas) của Việt Nam”. Ðó là những giây phút rất phấn khích trong cuộc đời tôi vì tôi không nghĩ một người tị nạn sang đây mà trở thành thị trưởng một thành phố, là chuyện rất hy hữu. Ðây là chiến thắng rất vẻ vang cho riêng tôi và cộng đồng người Việt tại đây. Tôi đã nhận rất nhiều lời cảm ơn và chúc mừng của đồng hương, người bản xứ từ khắp mọi nơi.

UserPostedImage

Bích chương vận động bầu cử của ông Trương Minh Ẩn

ĐYT: – Vâng đúng vậy thưa ông, sau California thì đây là tiểu bang thứ nhì có một người gốc Việt đắc cử vào chức vụ thị trưởng. Các số liệu cho thấy có khoảng 4%, tức dưới hai ngàn người Việt hiện cư ngụ tại Haltom, ông nhận được bao nhiêu lá phiếu của cử tri gốc Việt?

TT TMA: – Dân số ở đây có gần 50 ngàn người nhưng số người đi bầu chỉ có khoảng 4%. Tôi được đâu khoảng 1,100 phiếu, gần 60% phiếu, còn bên kia mỗi người được hơn 300 phiếu. Lần này có khoảng gần 300 người Việt Nam bỏ phiếu cho tôi, đó là chuyện lạ vì xưa nay không có đến 50 người Việt đi bỏ phiếu. Thường khi tranh cử mà có ba người thì dễ có runoff, tức bỏ phiếu lần hai (nếu tỉ lệ không quá bán), trong khi hai đối thủ của tôi là hai người Mỹ trắng cũng có tiếng trong vùng và cha mẹ họ cũng là những người đã ở đây rất lâu nhưng với sức mạnh của cộng đồng Việt Nam thì tôi đã thắng vẻ vang, không bị runoff.

ĐYT: – Khi ông tranh cử thì điều khó khăn nhất là gì? Vấn đề tài chánh thì sao thưa ông?

TT TMA: – Ðiều khó khăn nhất là làm sao cử tri tin tưởng điều mình hứa hẹn để bầu cho mình, đó là điều quan trọng nhất. Vấn đề tài chánh thì đồng hương mình là số một, có người đã tặng tôi tấm ngân phiếu mười ngàn đô, có người năm ngàn đô, hai ngàn đô nên vấn đề tài chánh không phải là vấn đề trở ngại.

UserPostedImage

Thiếu úy Trương Minh Ẩn tại Pleiku năm 1972

ĐYT: – Khác với giới trẻ gốc Việt tham gia vào dòng chính Hoa Kỳ, ông thuộc thế hệ người Việt tị nạn thứ nhất và ra tranh cử ở tuổi 70 nhưng vẫn thắng cử rất vẻ vang. Điều gì đã dẫn ông đến quyết định này?

TT TMA: – Cũng may mắn là sức khoẻ tôi còn tốt do đó khi ra tranh cử thì tuổi tác không phải quan trọng mà cái chính ở tinh thần phục vụ. Nhưng tôi cũng nói điều này cho thế hệ thứ hai chứ thế hệ thứ nhất như tôi mà bây giờ nghĩ sẽ ra tranh cử, làm lại từ đầu thì chuyện đó không có đâu anh. Tôi ra tranh cử để cha mẹ khuyến khích con cháu và các thế hệ thứ hai, thứ ba nhìn đến mà đi theo.

ĐYT: – Theo ông nghĩ thì tại sao cộng đồng chúng ta cần có những dân biểu hay thị trưởng gốc Việt như ông ?

TT TMA: – Ðối với tôi thì cái quyền lợi ngay tại chỗ có người không thấy nhưng với quyền lợi chung thì rất là quan trọng. Chẳng hạn như chuyện trong thành phố này, có một cột điện trong khu gia cư chính phủ mà người Việt Nam ở rất là đông bị hư, bị tắt từ vài tháng nay nhưng không ai lo hết, chỉ đến khi gọi tôi một tiếng thì một giờ đồng hồ sau điện sáng lại. Hay anh gặp trở ngại với một văn phòng nào đó trong thành phố và cần sự giúp đỡ thì tôi có thể mời người sếp của văn phòng đó đến gặp anh để nói chuyện và tôi cũng muốn nghe câu chuyện xảy ra thế nào. Ðó là điều tôi đã từng thực hiện rồi chứ cũng không phải là ví dụ. Nó là cái lợi trước mắt khi có người của mình làm lớn trong thành phố.

UserPostedImage

Trương Minh Ẩn tại trại tỵ nan 1975

ĐYT: – Quả đúng như vậy vì những vị dân cử trong các cấp chính quyền địa phương là những người can dự trực tiếp đến đời sống thường ngày của chúng ta. Nhưng tại khu vực Dallas Fort-Worth đông đúc hàng trăm ngàn người gốc Việt mà ngay lúc này chỉ có mình ông vừa đắc cử, ông nghĩ tại sao?

TT TMA: – Chúng ta không có nhiều những vị dân cử vì hồi nào đến giờ có con cái thì ông bà, cha mẹ đều muốn con cháu đi học bác sĩ, luật sư hay kỹ sư để dễ kiếm tiền. Người Mỹ khi vào phục vụ họ không nghĩ đến tiền. Thường thì người giàu mới ra tranh cử nghị viên hay thị trưởng vì tiền lương rất ít nhưng quyền hạn rất nhiều. Hệ thống của Mỹ là giàu để được quyền còn người Việt thì nghĩ tìm quyền để được giàu, hai cái khác nhau. Do đó có người khi tôi đề nghị tham gia vào các ban phục vụ trong hội đồng thành phố thì thường hỏi “được trả bao nhiêu tiền” hay “không trả tiền tôi không làm”. Người Việt mình làm gì cũng thường bỏ lên cán cân nặng nhẹ về tiền bạc và lợi lộc nên không tham gia nhiều như các sắc dân khác.

ĐYT: – Cũng có một số người gốc Việt đó đây từng đắc cử vào các cấp chính quyền địa phương đến liên bang nhưng dường như không giữ được các vị trí này lâu dài hay thăng tiến cao hơn. Ông nghĩ tại sao?

TT TMA: – Kể chuyện của tôi đi. Năm tôi thắng cử nghị viên thành phố có tỉ lệ là 75%, rất là cao. Sau đó có bất cứ sự kiện nào tôi cũng đều tham dự hay có người gặp trở ngại gì đó mà gọi điện thoại thì tôi giúp liền, chính vì đó mà miệng đồn miệng và là những lá phiếu tương lai để giữ chức vụ của mình. Khi mình đắc cử rồi thì ngày làm việc nào của mình cũng xem như cuộc vận động cho cuộc tái tranh cử tương lai, cho người dân thấy rằng người này đúng là người đại diện của họ, không phải đại diện chỉ bằng cái tên mà bằng hành động và sự giúp đỡ.

UserPostedImage

Cảnh sát Trương Minh Ẩn và vợ

ĐYT: – Từng là cảnh sát, thám tử rồi thị trưởng hiện nay, hy vọng ông sẽ giải quyết được xu hướng tội phạm nhắm vào cộng đồng người Việt hay Á Châu nói chung hiện nay. Ông có thể nói qua vấn đề tội phạm trong cộng đồng Việt Nam như thế nào và thái độ chấp hành luật pháp của người gốc Việt ra sao, có gì cần lưu tâm?

TT TMA: – Tôi từng làm cảnh sát 32 năm, 5 năm làm cảnh sát Fort Worth, sau đó làm cảnh sát điều tra về du đãng, ma túy, điều tra các vụ án mạng lớn, tôi cũng từng đi giúp đỡ đại hội Thánh Mẫu Missouri đúng mười năm cho đến khi bắt hết bọn tội phạm nên nói về vấn đề tội phạm gốc Việt thì có thể nói hoài không hết, tôi chỉ nói sơ thôi. Việc này theo từng thế hệ, từng thời gian. Thời gian đầu mới sang thì có những đứa trẻ nghĩ mình là ông trời nên coi thường luật lệ, vô băng đảng, cướp bóc đồng hương. Ðến giai đoạn hai thì đỡ hơn vì mọi người ý thức được chuyện mình phạm tội thì sẽ bị ở tù. Từ sau năm 2000 thì vấn đề tội phạm bạo lực chuyển sang chuyện làm thẻ tín dụng giả hay ăn cắp ID người khác để làm thẻ tín dụng gạt tiền, tức dạng “white collar crime”. Cũng có một số người giàu lên vì trồng cần sa, sau này dời về bên Georgia vì bên đó rừng nhiều, có khu vực cảnh sát ít lui tới. Ðối với người Việt Nam nói chung thì họ rất tôn trọng luật pháp nhưng nhiều người vẫn còn cất giữ tiền vàng trong nhà, thích đeo nhiều vòng vàng, mang túi xách bốn, năm ngàn, để nhiều tiền mặt trong bóp nên là mục tiêu cho tội phạm nhắm vào. Những việc này tôi rất thường nhắc nhở trên các chương trình phát thanh.

ĐYT: – Được biết ông là một cựu phi công chiến đấu cơ của quân lực VNCH, con đường một cựu sĩ quan đến Mỹ trở thành cảnh sát, theo học tiến sĩ rồi trở thành Thị trưởng quả là câu chuyện khá đặc biệt và đáng ngưỡng mộ. Ông có thể kể đôi nét về đời binh ngũ của mình cùng hành trình trên đất Mỹ này ra sao?

TT TMA: – Tôi nhập ngũ năm 1969, đến năm 1970 thì được chọn qua Không Quân và được sang Mỹ huấn luyện một năm. Về nước thì tôi đóng tại Plây-ku bốn năm, tham gia những trận lớn trong Mùa Hè Ðỏ Lửa, Ðắk-tô, Plây-me, 60 % các phi vụ của tôi hầu như lúc nào cũng dính đạn. Trong chiến tranh nên thấy cái chết là chuyện bình thường. Ðến ngày 28 tháng Tư năm 75 thì sau phi vụ cuối cùng tại Nha Trang, tôi bay sang Thái Lan vì các cấp chỉ huy đã bỏ đi hết rồi. Sau đó sang đảo Guam, gặp lại vợ và hai đứa con đã được đưa sang bên đó, rồi cả nhà được đưa sang Camp Pendleton tại California. Thời gian đó gia đình tôi là bốn người và vợ tôi đang có bầu thêm đứa nữa, tôi ở trong trại sáu tháng vì không ai bảo lãnh. May mắn là có một gia đình đại tá lực lượng đặc biệt của Mỹ rước chúng tôi về Pennsylvania. Ông rất tốt và thương người Việt Nam vì từng sang Việt Nam năm lần, lần cuối ông bị thương và được người dân, lính mình cứu…

UserPostedImage

Cảnh sát Trương Minh Ẩn

Năm 1979 gia đình tôi về Texas, tôi làm đủ mọi việc, từ trong siêu thị, được đề bạt lên làm department manager, sau đó tôi bán bảo hiểm. Lý do tôi gia nhập cảnh sát là hồi đó tôi ở cạnh một hàng xóm hay đánh vợ, cảnh sát đến thì không ai nói được tiếng Anh nên tôi trở thành thông dịch viên, giúp đỡ cảnh sát. Họ mới kêu tôi đi thi và tôi đậu, bắt đầu đi làm cảnh sát từ năm 1987. Lúc đầu tôi tuần tiễu, sau đó làm cảnh sát chìm đúng năm năm. Khoảng năm chín mấy, ở vùng này Việt Nam nổi loạn dữ lắm, đánh lộn, du đãng, cướp bóc mà bên văn phòng biện lý không hiểu nhiều về phong tục, tập quán và ngôn ngữ người Việt nên văn phòng bên đó mời tôi về làm việc. Năm 2013 cảnh sát tìm tôi đề nghị ra ứng cử nghị viên để giúp đỡ cho họ và họ đã giúp tôi thắng cử. Hai nhiệm kỳ sau thì quen việc và các nghị viên khác bầu tôi làm Phó Thị trưởng vì tôi cứng rắn lắm, cái gì không đúng là chỉ ngay trong buổi họp.

Còn chuyện đi học thì tôi ham học lắm, hồi đó tôi đậu Tú Tài 1, Tú Tài đôi sau đó đi sĩ quan rồi theo học Luật. Qua Mỹ đưa giấy tờ đó ra thì TCU cho tôi được 42 tín chỉ để vào cảnh sát vì lúc đó chỉ cần 20 tín chỉ. Sau đó tôi vừa đi làm vừa học lại, từ sáu giờ đến mười giờ, liên tục như vậy trong 20 năm cho đến khi tôi lấy bằng tiến sĩ về Tội Phạm Học tại NorthCentral University. Tôi cũng giúp xây chùa, hai cái chùa ở đây và một cái tại Kentucky. Tôi rất bận rộn nhưng ý chí đã khắc phục được cái mệt mỏi của tôi. Hiện giờ tôi cũng đã học được một thời gian tiếng Tây Ban Nha, cuộc đời tôi chỉ có sự học là tôi mê nhất.

ĐYT: – Quả là một hành trình và nỗ lực bền bỉ và xứng đáng cho giới trẻ nhìn đến. Sau bao nhiêu năm sống và phục vụ như vậy, ông có thể chia sẻ tâm niệm của mình về điều gì ông xem là quan trọng nhất trong đời sống của mình?

TT TMA: -Tôi nghĩ mình phải biết tha thứ và biết quên. Có ai làm mình giận thì mình xem như câu chuyện buồn, đừng mang theo, chuyện gì mình nghĩ tha thứ được thì nên tha thứ. Ðối với tôi thì đừng bao giờ mang lửa từ bên ngoài về nhà và đừng mang lửa trong nhà ra ngoài đường. Ðiều quan trọng với tôi là sự chia sẻ và giúp đỡ. Mấy chục năm nay tôi vẫn thường giúp đỡ các cô nhi viện bên Việt Nam, giúp xây chùa ở đây, giúp cho các hội cựu chiến binh, hội người già của Mỹ… Tôi nghĩ nhờ vậy mà ơn trên ban cho tôi sự may mắn và thành công. Nói như đạo Phật là mình tích đức thì gặt được quả tốt vậy thôi.

ĐYT: – Cảm ơn ông đã chia sẻ những tâm tình này. Trước khi kết thúc, ông có thêm lời chia sẻ đến cử tri gốc Việt Haltom đã bỏ phiếu cho ông cũng như đồng hương khắp mọi nơi đang vui mừng vì có thêm một thị trưởng gốc Việt tại Hoa Kỳ?

TT TMA: – Tôi cảm ơn cộng đồng Việt Nam rất nhiều, đã ủng hộ từ tiền bạc, vật chất đến công sức. Có những anh em HO không có nhiều tiền bạc mà khi tôi đưa trả lại tiền xăng để giúp chở người đi bầu nhưng họ không nhận. Cảm ơn tất cả những cử tri Haltom City đã đưa tôi vào vị trí hôm nay. Tôi cũng cảm ơn tất cả những người ở xa đã ủng hộ tôi bằng lời nói, những khuyến khích tinh thần mà đối với tôi là vô giá.

ĐYT: – Xin một lần nữa chúc mừng Thị Trưởng Trương Minh Ẩn. Kính chúc ông nhiều sức khoẻ để tiếp tục con đường phục vụ cộng đồng và xã hội trong vai trò mới của mình.

ĐYT thực hiện
Dallas, TX

Edited by user Saturday, June 1, 2019 12:28:34 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#12258 Posted : Saturday, June 1, 2019 10:55:28 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,713

Thanks: 2444 times
Was thanked: 5240 time(s) in 3496 post(s)
ĐTC gặp gỡ chính quyền, đại diện xã hội Rumani
và ngoại giao đoàn


6/1/2019 3:49:30 PM

ĐTC Phanxicô mời gọi các lực lượng chính trị vượt thắng những khác biệt, cộng tác với nhau để phát triển đất nước. Đồng thời kiến tạo một xã hội bao gồm trong đó những người nghèo không bị gạt bỏ.

UserPostedImage

Hàng trăm người, gồm các giới chức chính quyền, ngoại giao đoàn cạnh chính phủ Rumani và đông đảo đai diện các thành phần xã hội, đứng đầu là Đức Thượng Phụ Daniel, Giáo Chủ Chính Thống Rumani.

Diễn văn của ĐTC

Lên tiếng sau lời chào mừng của Tổng thống Iohannis mời gọi mọi người nhìn lại 30 trôi qua và nhận thực hiện trạng ngày nay, để tiến đến một tương lai tươi sáng hơn. ĐTC nói:

Đây là lúc thuận tiện để cùng nhau nhìn lại 30 năm đã trải qua từ khi Rumani được giải thoát khỏi một chế độ chèn ép tự do dân sự và tôn giáo, cô lập đất nước đối với các nước Âu Châu khác, và ngoài ra chế độ ấy đã đưa tới tình trạng trì trệ kinh tế và làm tiêu hao những sức mạnh sáng tạo của mình.”

Trong thời gian qua, Rumani đã dấn thân trong việc xây dựng một dự phóng dân chủ qua các lực lượng chính trị và xã hội khác nhau, đối thoại với nhau, để tiến tới sự nhìn nhận nền tảng đối với tự do tôn giáo và hoàn toàn hội nhập đất nước vào mội bối cảnh quốc tế rộng lớn hơn.

ĐTC nhìn nhận rất nhiều cố gắng và năng lực đã được sử dụng để cải tiến đất nước Rumani và đã mang lại một đà tiến mới cho nhiều sáng kiến được đề ra, để đưa đất nước vào thế kỷ 21.

Kêu gọi tiếp tục nỗ lực phát triển đất nước

ĐTC nói:

”Tôi khuyến khích quí vị tiếp tục làm việc để củng cố các cơ cấu và những định chế cần thiết, không những để mang lại câu trả lời cho những khát vọng chính đáng của người dân, nhưng còn để kích thích và giúp nhân dân của quí vị có thể triển khai tất cả tiềm năng và tài khéo mà chúng ta biết là họ có”.

Vượt thắng các chướng ngại

Tuy nhiên, ĐTC cũng nhắc đến những chướng ngại cần vượt qua nhà những hậu quả không luôn luôn dễ dàng trong việc xử lý chúng để có sự ổn định xã hội và quản lý lãnh thổ. Trước tiên là hiện tượng di dân, nhiều triệu người dân Rumani đã di cư ra nước ngoài, rời bỏ quê hương để tìm kiếm những cơ hội mới về công ăn việc làm và đời sống xứng đáng.. Tiếp đến có tình trạng rất nhiều làng quê không còn dân cư, tạo nên những hậu quả cho phẩm chất cuộc sống ở các vùng ấy và làm suy yếu những căn cội phong phú về văn hóa và tinh thần vốn nâng đỡ nhân dân Rumani trong những nghịch cảnh. ĐTC nói:

Đồng hành giữa các lực lượng xã hội

”Để đương đầu với những vấn đề trong giai đoạn mới hiện nay của lịch sử, để tìm ra những giải pháp hữu hiệu và tìm được sức mạnh can đảm để áp dụng chúng, cần phải tăng cường sự cộng tác tích cực giữa các lực lượng chính trị, kinh tế, xã hội và tinh thần; cần đồng hành với nhau và đề nghị tất cả mọi người hết sức xác tín đừng từ bỏ ơn gọi cao quí nhất mà Quốc Gia phải khao khát, đó là đảm nhận công ích của dân tộc. Đồng hành, như một phương thức để kiến tạo lịch sử, đòi phải cao thượng từ bỏ một cái gì đó trong quan niệm riêng của mình hoặc lợi ích riêng để hỗ trợ một dự phóng rộng lớn hơn, để có thể kiến tạo sự hòa hợp, giúp tiến bước chắc chắn về những mục tiêu chung.

Kiến tạo xã hội bao gồm

ĐTC cũng cổ võ chính quyền và nhân dân Rumani kiến tạo một xã hội bao gồm, trong đó mỗi người đóng góp tài năng của mình, trở thành người người giữ vai chính đối với công ích, một xã hội trong đó những người yếu thế, những người nghèo hơn và những người rốt cùng không bị coi như ”những đồ bỏ”, những chướng ngại cản trở guồng máy tiến bước, nhưng như những công dân và anh chị em phải được hội nhập với trọn danh nghĩa vào đời sống dân sự...

Chống áp đặt từ các tổ chức tài chánh quốc tế

ĐTC nhận xét rằng tất cả những điều trên đây cần có một tâm hồn, một con tim và một hướng đi rõ ràng, không bị áp đặt vì những nhận xét từ bên ngoài hoặc từ quyền lực của các trung tâm tài chánh quốc tế, nhưng từ ý thức về vị trí trung tâm của con người và các quyền bất khả nhượng của họ.

Các Giáo Hội Kitô cộng tác

Sau cùng, ĐTC xác quyết các Giáo Hội Kitô có thể giúp tìm lại và nuôi dưỡng tâm hồn từ đó nảy sinh những hoạt động chính trị và xã hội đi từ phẩm giá con người và dấn đến sự chân thành và quảng đại dấn thân cho công ích của cộng đoàn. Trong công trình này, Giáo Hội Công Giáo sẵn sàng đóng góp phần của mình để xây dựng xã hội và muốn trở thành dấu chỉ sự hòa hợp, hy vọng hiệp nhất và phục vụ phẩm giá con người và ích chung.”

Sau cuộc gặp gỡ chính quyền Rumani, ĐTC đã về tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 3 cây số để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi.

G. Trần Đức Anh OP
(VaticanNews 31.05.2019)


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Edited by user Saturday, June 1, 2019 11:01:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#12259 Posted : Saturday, June 1, 2019 11:22:18 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,713

Thanks: 2444 times
Was thanked: 5240 time(s) in 3496 post(s)

ĐTC và các vị lãnh đạo Chính Thống Rumani cầu nguyện chung


6/1/2019 4:09:00 PM

Chiều 31.05.2019, ĐTC Phanxicô đã cùng với các vị lãnh đạo Chính Thống Rumani cầu nguyện chung với nhau "Kinh Lạy Cha".

UserPostedImage

Cuộc gặp gỡ với Thánh Hội đồng Chính Thống Rumani kéo dài 30 phút, sau đó ĐTC đã đến Nhà Thờ chính tòa Chính Thống ”Ơn cứu độ nhân dân”.

Thánh đường vĩ đại này mới được Đức Thượng Phụ Daniel và Đức Thượng Phụ chung Bartolomeo của Chính Thống Constantinople khánh thành hồi tháng 11 năm ngoái (2018,) nhưng công trình chỉ được hoàn tất vào năm 2024 tới đây, sau 14 năm kiến thiết, với 70% kinh phí do nhà nước tài trợ.

Nhà thờ chính tòa nằm ở trung tâm thành phố Bucarest và có thể chứa được 5 ngàn người, được xây theo hình thánh giá Hy lạp, dài 126 mét và rộng 68 mét.

Khi đến nhà thờ chính tòa mới của Chính Thống, ĐTC được Đức thượng Phụ Daniel đón tiếp và cùng tiến lên qua lối đi chính của thánh đường tới bàn thờ.

Cuộc viếng thăm và cầu nguyện tại đây được diễn ra qua kinh Lạy Cha và các bài ca mùa phục sinh của Công Giáo và Chính Thống giáo..

ĐTC giải thích kinh Lạy Cha

Tại đây, sau lời chào mừng của Đức Thượng Phụ Daniel, ĐTC đã ngỏ lời với mọi người và ngài giải thích về những ý nguyện được biểu lộ qua kinh Lạy Cha mà mọi người sắp cùng nhau đọc lên. Bắt đầu từ câu ”Lạy Cha chúng con”.

Dẫn nhập

Ngài nói: ”Mỗi lần chúng ta thưa 'Lạy Cha chúng con' chúng ta tái khẳng định rằng 'từ Lạy Cha' không thể đứng riêng rẽ mà không có thêm từ 'chúng con'. Hiệp nhất trong Lời Kinh của Chúa Giêsu, chúng ta cũng liên kết với nhau trong kinh nghiệm của Chúa về tình thương và sự chuyển cầu, khiến chúng ta nói: ”Cha của tôi và Cha của anh chị em, Thiên Chúa của tôi và của anh chị em (Xc Ga 20,17). Đó là lời mọi gọi làm sao để ”của tôi” được biến thành của chúng ta, và điều này trở thành kinh nguyện.

Ý nguyện

Lạy Cha, xin giúp chúng con coi trọng cuộc sống của người anh chị em, biến lịch sử của họ thành lịch sử của chúng con.. Xin giúp chúng con đừng xét đoán người anh em qua những hành động và giới hạn của họ, nhưng đón nhận họ, trước tiên, như người con của Chúa. Xin giúp chúng con vượt thắng cám dỗ cảm thấy mình là con cả, vì muốn ở trung tâm nên quên đi món quà là người anh em khác (Xc 15,25-32)

Cùng đọc kinh Lạy Cha

Sau lời dẫn nhập này, các tín hữu trong thánh đường cùng đọc Kinh Lạy Cha trong bầu không khí thật cảm động.

Cuối buổi cầu nguyện, ĐTC đã chào giã từ 10 thành viên của Thánh Hội đồng Chính Thống và tiến ra thềm Nhà Thờ, và ngài chúc lành cho tất cả các tín hữu hiện diện, rồi lên xe mui trần tiến về Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse của Công Giáo lúc quá 6 giờ chiều để cử hành thánh lễ đầu tiên trong 3 ngày viếng thăm tại Rumani.

G. Trần Đức Anh OP
(VaticanNews 31.05.2019)


UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#12260 Posted : Saturday, June 1, 2019 11:26:52 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 29,713

Thanks: 2444 times
Was thanked: 5240 time(s) in 3496 post(s)
Chứng nhân cho Đức Kitô Phục Sinh


6/1/2019 2:07:03 PM

CHÚA THĂNG THIÊN. Lễ trọng. - Lễ cầu cho giáo dân. (Cv 1,1-11; Ep 1:17-23; Lc 24:46-53.)


UserPostedImage

Hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Người trở về nhà Cha, sau khi đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Người hồi hương trong vinh quang phục sinh và “được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19).

Chúa Thăng Thiên mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Giáo hội, kỷ nguyên của chính chúng ta. Chúng ta hãy làm chứng cho tình yêu thương của Thiên Chúa đã cho chúng ta tất cả kể cả Con yêu Dấu của Ngài bằng một đời sống vui tươi, cảm tạ, một mối tương quan bác ái, huynh đệ đối với mọi người chung quanh để làm sao thể hiện một con người được cứu độ, được Thiên Chúa yêu thương và loan báo tình yêu thương đó cho mọi người.

Trên trời cao, các thiên thần và triều thần thiên quốc đang tụ họp tổ chức nghi lễ đón tiếp Đấng Cứu Thế khải hoàn. Tác giả Thánh vịnh 23 đã chiêm ngưỡng và mô tả cuộc nghinh đón đó bằng ca khúc bất hủ: “Hỡi các khải hoàn môn và các vệ binh thiên quốc, hãy cất cao đầu lên. Hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu, hãy mở rộng ra, để Vua vinh hiển và đoàn tùy tùng tiến vào. Vua vinh hiển là ai? Thưa là Đức Giêsu uy hùng lẫm liệt, là Chúa oai phong chiến thắng. Hỡi các khải hoàn môn, hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu hãy cất cao đầu lên, để Vua vinh hiển tiến vào, Vua vinh hiển là ai? Chính là Thiên Chúa hùng dũng uy linh”.

Chúa Giêsu lên trời, một cảnh tượng thật huyền diệu. Thân xác Người nhẹ bay lên cao. Tay Người ban phúc lành cho các tín hữu. Dáng Người nhỏ dần và hòa biến vào không gian vô tận.

Chúa lên trời chẳng qua là sự Người trở về cùng Chúa Cha và được biến hình cả thể xác lẫn tình thần, việc Chúa lên trời đó đối với các môn đệ cũng là một dấu chỉ tối cao về việc Ngài trở lại và nhờ đó, các ông cũng được lên trời. Từ giờ đó, họ biết rằng đời họ là một cuộc hành trình tiến về ánh sáng và bất chấp mọi trở ngại của cuộc sống trần gian cũng như quân thù bách hại, mọi chuyện sẽ hoàn tất trong ánh sáng của sự biến hình.

Chúa lên trời cho chúng ta một niềm tin chắc chắn rằng một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ được về trời với Chúa. Vì vậy ngay từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị cho cuộc sống mai sau. Chuẩn bị cho cuộc sống mai sau có nghĩa là chúng ta phải biết rằng cuộc sống này chỉ là tạm bợ, chóng qua, để chúng ta không bám víu vào mà chỉ lo tìm kiếm những thứ thuộc về đời này, những thứ mà Chúa Giêsu gọi là thuộc về thế gian. Đồng thời chúng ta phải sống thực tại Nước Trời ngay tại trần gian này. Mà thực tại Nước Trời là gì nếu không phải là tình yêu thương. Do đó dấu hiệu để chúng ta biết mình sống ở đời này mà có lo vun đắp cho hạnh phúc mai sau hay không chính là việc chúng ta có thể hiện tình yêu thương trong cuộc sống hay không.

Đoàn tùy tùng theo Chúa về trời đông vô kể, các thánh thời Cựu Ước, các tổ phụ, các tiên tri, các người công chính…đang hoan hỉ vui mừng đi theo Chúa. Đặc biệt có thánh cả Giuse, thánh Gioan Tiền hô, Tổ phụ Abraham, Giacop, Môisê, thánh Giop, vua Đavid, các tiên tri, hân hoan cung nghinh Đấng Phục Sinh khải hoàn về thiên quốc.

Trên núi Cây Dầu cả cộng đoàn môn đệ đang ngây ngất chiêm ngưỡng, tâm trí như mất hút vào không gian vô tận, lòng rộn rã hân hoan: “Hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa. Hãy trổi cao kèn sáo, đàn ca lên dâng Người khúc ca tuyệt mỹ, Chúa là Vua khắp muôn dân, ngự trên tòa uy linh cao cả” (Tv 47, 2-3, 6-9).

Chúa về trời vì chính Người đã từ trời xuống thế: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống” (Ga 3,13). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.

Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.

Khi ta nói Đức Giêsu lên trời, điểm cốt yếu phải tin là Chúa Kitô đã sống lại và siêu vượt khỏi cái thế giới tù túng, tội lụy, hay thay đổi và đầy đau thương này. Với thân xác phục sinh, Người đã đi vào một thế giới mới, thế giới của Thiên Chúa. Thế giới đó là thế giới xác thực, thiêng liêng, mới mẻ và siêu việt. Chỉ trong thế giới đó mới có sự sống đích thực. Thế giới đó siêu việt (chứ không xa cách) thế giới chúng ta đang sống. Đó là một thế giới khác biệt hẳn về phương diện thực hữu, chứ không phải về phương diện không gian xa gần hay rộng hẹp. Chúng ta có thể “sờ đụng” vào thế giới đó trong lòng tin và nơi các bí tích cứu độ. Đó là một sự “tiếp cận” một thực tại mầu nhiệm nhưng đồng thời rất thật, rất gần, thật và gần hơn cả cái thế giới phàm tục mà ta đang sống đây.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy việc Giáo Hội nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ của Đức Kitô, nối tiếp những công việc Người đã làm, kể cả những công viêc lạ lùng như trừ quỷ, chữa lành các bệnh nhân. Giáo Hội thể hiện sự hiện diện của Đức Kitô giữa trần gian. Sự hiện diện này không còn bị đóng khung trong thời gian và không gian. Nhưng đã được mở ra để có thể đến với mọi người.

Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta không phải chỉ biết ngước mắt nhìn lên cao, mà điều quan trọng đó chính là chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà bằng cả việc làm và đời sống, nhất là bằng sự dấn thân, để thực hiện một sự lựa chọn rõ rệt. Con Thiên Chúa khi làm người và ở giữa chúng ta, đã thể hiện một sự lựa chọn rõ rệt, Ngài không hiện diện một cách chung chung, và vô thưởng vô phạt, nhưng đã hiện diện như một Tin Mừng cứu độ cho nhiều người, đồng thời như một hòn đá vấp ngã đối với một số người khác.

Việc Chúa Giêsu lên trời mãi mãi là một huyền nhiệm. Dùng ngôn ngữ loài người để tả một huyền nhiệm của Trời thì thật khó biết bao. Nhưng điều quan trọng là biến cố đã xảy ra. Thật khó mà tưởng tượng rằng sự xuất hiện của Chúa Giêsu cứ thưa dần, thưa dần cho tới khi tắt hẳn. Nếu thế đức tin con người sẽ tàn lụi. Nếu như Chúa Giêsu biến thành Đấng Kitô của cõi trời và không còn liên hệ gì với cõi trần này, lúc đó chúng ta sẽ rơi vào khủng hoảng.

Sống mầu nhiệm Chúa lên trời hôm nay, chúng ta không phải chỉ đăm đăm ngước mắt nhìn về trời để nuối tiếc, để tìm kiếm, nhưng là ra đi vào thế giới, vào môi trường mình đang sống để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em chung quang mình. Sống chứng nhân là xây dựng nước trời ngay trong cuộc sống này, trong gia đình, trong họ đạo của chúng ta. Chúa Kitô đặt hết niềm tin tưởng nơi chúng ta, để rồi một khi chu toàn bổn phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về trời với Chúa của mình.

Lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay một lần nữa Chúa mời gọi mỗi người chúng ta hãy là chứng nhân cho Ngài. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải lập nhà dòng hay xây dựng những cơ sở để làm việc từ thiện như Mẹ Têrêsa, điều Ngài chờ đợi nơi mỗi người chúng ta là hãy bỏ đi tính ích kỷ xâm chiếm cuộc sống của chúng ta để mở tâm hồn mở con tim mở miệng ra để sống cho Ngài và cho tha nhân.

Huệ Minh

Edited by user Saturday, June 1, 2019 11:29:00 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Users browsing this topic
Guest (5)
618 Pages«<611612613614615>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.