Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

3 Pages<123
Options
View
Go to last post Go to first unread
Thy Lan Thao  
#41 Posted : Monday, February 2, 2015 7:26:12 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Xuân về Tết đến



UserPostedImage





Năm cũ sắp qua năm mới sắp đến, tuổi đời thêm một bậc thang lên cao. Cái chu kỳ bất di bất dịch của Xuân Hạ Thu Đông cũng như cái vòng lẩn quẩn sinh ký tử qui không còn làm cho một ai ngạc nhiên sợ hãi như trước kia nhưng điểm kỳ thú vẫn là niềm tin hy vọng vào ngày mai của cuộc đời nhất là trong thời gian Tết.



Tết đâu đâu cũng được mong đợi, chuẩn bị đón tiếp âm thầm hay rõ rệt. Tết cũng lặp đi lặp lại hằng năm thế vẫn là nguồn sinh lực ngầm trẻ hóa tâm hồn, một tia chớp đánh thức bản năng hội nhập, một ranh giới giữa cái có không, cái còn mất, cái ta và mình, hai điều tương phản, bổ túc, tiếp nối.


Theo Luật Nhân quyền hay luật tự nhiên của Tạo hóa, con người bình đẳng nhau, chỉ có xã hội mới phân định giai tầng, đánh giá thấp cao và từ đó mới phát xuất bất công, chống đối, thù hận. Nếu chúng ta chịu khó mỗi ngày vài phút tập trung sống theo tinh thần Tết thì trái đất nầy biến thành địa đàng rồi.


Về ngày đầu năm, thế giới thường chú trọng đến hai ngày Tết dương lịch và âm lịch. Thật ra thì nước nào cũng có ngày Tết riêng không phải bắt buộc phải vào mùa Đông như Âu Mỹ, hay vào mùa Xuân như Việt nam Trung quốc, nhưng tinh thần hưởng ngày khởi đầu năm mới vẫn như nhau theo truyền thống mức sống phong tục riêng.


Thông thường được sống thêm một năm, thọ lên một tuổi, đó là một niềm vui cá nhân và tập thể, tất nhiên cũng nên được tổ chức ăn mừng. Tính trung thực của niềm hân hoan nầy là luôn được chia sẻ cùng nhau không phân biệt không thành kiến. Rồi dần dần văn minh tiến bộ khôn ngoan hơn thay vì gây đoàn kết giúp đỡ nhau, con người lại tranh giành xâu xé giết hại nhau không tiếc thương. Đau buồn nhất là vì do giác quan và lòng tham sân si khó cưỡng lại được..


Chẳng hạn như để sống tất phải ăn uống. Người giàu nghèo mạnh yếu cũng thế, có hay vô học cũng không qua cái bao tử dạ dày đâu. Biết thế nhưng dù cái bộ phận hủ lô nghiền nát nầy tưởng chừng như vạn năng bất bại ấy từng nuốt cả cát xi măng đá sắt đạn súng xe, ăn cả hàng độc phương hại lâu dài, thúi tha rác rưởi, uống cả rượu nhái, độc giả lậu cấm, cũng không thể làm con người sống bất tử, vô nhiễm với tại nạn bệnh tật.


Rồi cũng vì lo đến nhu cầu thiết yếu hàng đầu của con người ấy, để nâng cao chất lượng dinh dưỡng duy trì cuộc sống, với bộ óc sáng tạo thông minh biết xoay sở cùng với năng khiếu thích nghi và trình độ kỹ thuật khoa học càng ngày càng văn minh tiến bộ, con người cao ngạo như muốn tranh với luật phép của Tạo hóa thiên nhiên và vì thế lắm lúc quá đà đưa cuộc sống thế giới càng ngày hỗn tạp, giết chóc, nghi nan, đầy rẩy âm mưu đòn bẩy mất lòng tin?


Thế nhưng, Tết cũng có ý muốn nhắc cho chúng ta dù có tài giỏi, giàu sang tột bực, quyền thế cao trọng đến mức độ thế nào chăng nữa vẫn không thể bất di bất dịch sống mãi đời đời. Tất cả sở hữu gi chúng ta được thừa hưởng hoặc tạo ra ai giữ được, nằm xuống rồi tay cũng trống không như khi ta khóc oa oa báo lúc mới ra đời.


Dòng đời giống như thời gian là một đường thẳng không ai, gì ngăn cản quay kéo lại được nhưng điểm khác nhau là cuối cuộc đời con người vẫn là cái chết bất di bất dịch. Như mỗi năm cũng kết thúc để mở sang trang mới, đó cũng luật tự nhiên không ai cưỡng lại được. Thế hệ trước đi qua, tất nhiên thế hệ kế tiếp nhất định được thụ hưởng tiếp nối thành quả ảnh hưởng tốt xấu cũng như lành dữ của cha ông.

« Ông cha kiếp trước khéo tu,

Ngày nay con cháu võng dù hiên ngang. »


Xin hãy ngắm xem những hình ảnh lung linh đủ màu chớp tắt tung lên cao uyển chuyển ung dung rơi rơi trên nền trời không bóng trăng sao sau tiếng pháo đì đùng lách tách uy dũng thức tỉnh trong đêm trừ tịch, một vòng quạt hoa trái đặc thù của mùa Xuân Tết đến, tiêu biểu như hoa mai, đào, cúc, vạn thọ, thủy tiên, mồng gà,?cam quít hồng đào dưa hấu bưởi mảng cầu sung,?bao thứ bánh ngọt mặn đậm đà tình mỗi vùng đất nước, đại để bánh ít, bánh tét bánh chưng giò chả, bánh men, bánh kẹp, hạnh nhân, tùy địa phương bao loại mứt, mứt dừa, mứt bí, mứt me, ? những trò chơi múa lân kịch nhạc, tất cả đều là chứng tích cho cuộc tống cựu nghinh tân trong niềm hân hoan và tri ân hy vọng ngày mới sẽ tốt đẹp hơn.


Truyền thống của dân tộc ta thiên về tâm linh hơn, có thể một phần vì tin vào huyền thuyết đẹp Con Rồng Cháu Tiên, nên việc bảo vệ gìn giữ mở mang đất nước độc lập tự chủ là điều kiện tiên quyết sống còn trên bốn nghìn năm. Tình yêu tổ quốc thật tự nhiên ai cũng có vì cây có cội nước có nguồn, riêng dân tộc ta còn điểm xuyết thêm bằng lòng nhớ ơn sâu xa tổ tiên chúng ta đã phải chống bao lần nhân tai ngoại xâm hung hãn, hiểm độc, thiên tai trên mọi bình diện trong việc mở đất khai hoang.


Và để thể hiện lòng tri ân và quyết tâm theo gương thế hệ trước bao đời, Tết quả là thời gian thích hợp nhất thiên thời địa lợi nhân hòa. Đó còn là lúc nghỉ ngơi sau một năm kiếm sống cật lực, thời gian tổng kết thành quả, đoàn tụ gia đình, thắm thiết tình đoàn kết giữa bạn bè, hàng xóm xa gần và nhất là thời kỳ giải trí vui chơi bồi dưỡng.


Đây cũng là lúc mà lòng người mở rộng, trầm tĩnh, hướng thiện, muốn chia sẻ. Ngày đầu năm, chúng ta hữu thần nên cũng thường đi chùa nhà thờ lăng miếu để cầu xin Ơn Trên, thần thánh, người khuất mày khuất mặt một điều gì mình mơ ước, hay tai qua nạn khỏi bệnh tật tiêu trừ. Gặp nhau ai ai cũng vui tươi và chúc mừng Phúc Lộc Thọ trong năm mới ngay cả với người mình không thích.


Nét đặc thù khác của phong tục tập quán nước ta là lễ tảo mộ, rước đưa ông bà quá cố về nhà ăn Tết chứng minh rằng chết không phải là chuyện chia ly đáng sợ mà là sự kiện tất nhiên của mỗi đời người ai cũng phải trải qua và cũng là thành phần của cuộc sống thế nhân.

Hơn thế nữa, việc tảo mộ cũng là dịp tập họp những người cùng dòng họ xa gần, cơ hội gặp gỡ láng giềng, bạn bè ngày xưa trong thời gian trước Tết này bên những ngôi mộ thân nhân quá cố.


Theo tín ngưỡng dân gian, tập tục nầy còn chứng minh cho ta thấy thân xác dù không còn nhưng hồn thiêng vẫn duy trì mãi mãi và vẫn về thăm hằng năm từ chiều cuối năm cũ đến mồng 3, 4, 7 đầu năm mới giã từ. Đó cũng là một cách giáo huấn âm thầm truyền đạt ý tưởng nguồn cội con người, bác bỏ mê tín dị đoan ảnh hưởng của thế giới vô hình như quấy rầy thưởng phạt người trần thế còn sống. Cuộc sống bên kia thế giới loài người nếu có chỉ là giai đoạn chuyển tiếp sang một thế giới khác mà thật sự chưa một ai biết được.


Vậy thì không nên bỏ hình bắt bóng, việc cần thiết của mỗi chúng ta là cố sống theo tinh thần Tết xứng đáng là con người trên địa cầu nầy. Như thế, sẽ không còn cảnh bóc lột người, không bon chen thù hận, không tham lam không chiến tranh mà sống nhau bình đẳng tự do tôn trọng nhau và sống đoàn kết bảo vệ quả bóng xanh nầy. Không quá bận tâm đế đời sống về sau vì ai biết được tương lai, « que sera sera ? » « Biết ra sao ngày sau » và thiên đường địa ngục ở nơi nào ?



Với kinh nghiệm của người đi trước, tổ tiên ta rất thông minh thận trọng trong việc lưu truyền bảo vệ phát huy nguồn gốc dân tộc và đất nước qua vài tập tục giản dị liên quan đến đời sống vật thể và tâm linh. Tổ quốc không chỉ gồm có đất nước mà cả hồn thiêng sông núi tượng trưng qua hình ảnh tổ tiên quá cố bao đời.


Xuân về Tết đến không những chỉ nhắc nhở ta cuộc đời ngắn ngủi mà chúng ta còn có một đất nước độc lập tự do dân chủ và bổn phận của chúng ta theo gương người trước bảo vệ từng tấc đất, môi trường ta thở nhất là trong thời điểm thiên nhiên và lòng người như hòa hợp tuyệt vời đến thăng hoa.



Trần Thành Mỹ


Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#42 Posted : Sunday, May 1, 2016 4:26:13 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Sông Nước Quê Hương


UserPostedImage

Kỳ diệu thay những giòng sông đất nước,
In dấu ấn riêng sâu đậm vùng miền.
Huyết mạch nầy chi phối bởi thiên nhiên,
Sức mạnh của nước nguồn đầu cuộc sống.

Ba miền ngự ba giòng sông trọng yếu,
Hồng hà từng nức tiếng chống xâm lăng.
Hương giang vinh danh Cố đô trầm lắng,
Cửu long phù sa phong phú đất bồi.

Hệ thống sông ngòi kênh rạch khắp nơi,
Mạch sống chính qua con đường thủy lộ.
Biển Đông lồng lộng cửa sông bến đỗ,
Vượt trùng dương ôm lấy Thái Bình Dương.

Thượng nguồn xa qua nhiều xứ láng giềng,
Vì quyền lợi riêng đập đê giữ nước.
Cũng một thế cờ xâm lăng từng bước,
Tằm ăn dâu dần mọi mặt sống còn.

Đừng than trời cao thiên tai không ngớt,
Lũ lụt, băng tan, động đất cháy rừng,?
Chính con người bất chấp luật thiên nhiên,
Chao đảo vạn vật vì tâm chưa thiện.

Chiến tranh lên ngôi khó phương dễ dứt,
Hòa bình thường bộ mặt giả thế nhân .
Cứ cho mình vốn độc nhất độc tôn,
Thích chiếm đoạt, chuyên quyền uy bất tận.

Thương sông nước tôi mất thông dòng chảy,
Đầu nguồn rồi từng đoạn khúc chận ngăn.
Hải sản đầy bị nhiễm độc trở trăn,
Dòng sữa mẹ cho đồng bằng dần cạn !

Tấm lòng sông vẫn bao la rộng mở,
Vượt núi xuyên rừng lên thác xuống đèo.
Luôn xuôi dòng trôi khai phá đắp bồi,
Mang sức sống ươm mầm sinh mọi nẻo.

Người địa cầu ta lắm khi đáng trách,
Vì lòng tham đưa đẩy đến xâm lăng.
« Cái lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng »,(1)
Vẫn còn chuyện « con sói và con cừu »,(2)

Dòng sông hiền hòa biến thành tranh đấu,
Nước cạn dòng chứng tình nghĩa đà vơi.
Vùng lên đi các nước nhỏ chư hầu
Chận làn sóng độc bạn thù gian xảo.

Sông có khúc cuộc đời người có lúc,
Tập như sông cuồn cuộn nước khó ngờ.
Khi êm đềm trôi lần khác vỡ bờ,
Biết quyền biến hợp cảnh tình đất nước !



(1) « La raison du plus fort est toujours la meilleure » (La Fontaine)

( 2 )Thơ ngụ ngôn của La Fontaine (Pháp) : Le loup et l?agneau

Trần Thành Mỹ
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#43 Posted : Sunday, October 2, 2016 5:58:48 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Ướt Mi


Bụi nào vào mắt em,
Hàng mi rung động nhẹ
Hạt châu sa lăn khẽ,
Nhớ ai lệ bên rèm

Giọt nước đọng khóe mắt,
Lóng lánh sắc kim cương.
Cuồn cuộn thay sóng biếc,
Tinh tuyền dáng giọt sương.

Hạt mưa hôn ướp mặt,
Giọt vắn dài đầy vơi.
Hàng mi ghì thêm chặt,
Hạnh phúc thật tuyệt vời !

Nước suối tiên thơm ngát,
Nhẩm vào hồn lịm mát,
Mộng ước tung cánh rộng,
Nhân thế rộn tình người.

Đời còn nhiều lối ngõ,
Vấp ngã cố đứng lên.
Chớp mi cho sáng tỏ,
Cứ khóc đừng la rên.


Than thân ai hiểu thương,
Cầu khẩn lợi ìch gì.
Van nài thêm bực bội,
Tất cả đều vô thường.



Trần Thành Mỹ

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#44 Posted : Wednesday, March 1, 2017 7:52:48 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Mơ Chị Hằng



Siêu mặt trăng trên Ngọ môn Huế ngày 14/11/2016

Ngắm bầu trời xanh mênh mông bát ngát,
Thấm vào hồn bao tình cảm dạt dào.
Chị Hằng ngày rằm lã lướt xiêm bào,
Tuyệt sắc âm thầm tiến gần trần thế.

Dáng tha thướt lướt qua màng mây mỏng,
Lồng bóng cao sang thanh thản thong dong.
Nhìn càng gần mộng tha thiết vào lòng,
Ai đoán được tuổi trăng già hay trẻ !

Có phải vốn mình vô ưu vô cảm,
Thích trêu người bằng sắc đẹp siêu phàm ?
Tâm sự nào giữ mãi kiếp hồng nhan,
Tự nguyện làm ngọn đèn trời đêm đến.

Giữa trời bao la bên hằng tinh tú,
Tỏa sáng hào quang hạnh phúc thiên thu.
Tầm nhìn sao mà ấm áp cương nhu,
Không gay gắt như vầng ô nóng bỏng.

Cũng e thẹn nép sau rèm thay sắc,
Biết hạ mình lòn dưới mảng mây ngông.
Vẫn hiên ngang sau giông tố bão bùng,
Tâm tự tại giữa không gian trống rỗng,

Có những đêm chỉ thấy toàn tinh tú,
Ðang nháy nheo như đom đóm cành bần.
Vẫn cô đơn luôn chu du vũ trụ,
Nhân chứng bao chuyện thế sự xoay vần.

Là chiếc gương xa vời vợi vận hành,
Ảnh hưởng đậm cả thủy triều vận nước.
Một vệ tinh xoay quanh trái đất xanh,
Nhà khí tượng cho nông dân trồng trọt.

Sống nơi thiên thai quây quần tiên nữ,
Trên cung thiềm còn Chú Cuội cây đa.
Vũ Nghê thường làm vua Ðường quên lối,
Thế mà sao Chị cứ mãi đơn côi.

Có phải chăng vì dương gian trần thế,
Với địa cầu luôn hòa hợp đậm đà.
Môi trường sống con người làm ô uế,
Tình giữa người như nước ốc nhạt phèo.

Mơ Chị Hằng sẽ trở thành hiện thực,
Một bước chân trên thiềm điện tuyệt vời. (1)
Chị không còn buồn nữa Chị Hằng ơi,
Người trần thế cùng vui trên Cung Quảng !




(1) Câu nói để đời của phi hành gia vũ trụ Mỹ Neil Amstrong khi đặt chân đấu tiên lên Mặt Trăng :« That?s one small step for a man, one giant leap for mankind.?(Ðây là bước đi nhỏ với một con người, nhưng là bước tiến vĩ đại của cả nhân loạị) trên phi thuyền Apollo 11, ngày 20/07/1969.


Trần Thành Mỹ


Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#45 Posted : Wednesday, September 13, 2017 6:27:25 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Quê hương đất tổ

UserPostedImage
Cận cảnh hoa tre với những nhụy vàng lủng lẳng

Ngày nay nếu chúng ta có dịp hỏi về quốc tịch của thế hệ trẻ Việt ở đất tạm dung, câu trả lời rõ ràng không chút đắn đo ngần ngại suy nghĩ là dân nước họ định cư, Mỹ, Pháp, Đức, Tiệp khắc, Nga... Trái lại cùng câu hỏi tương tự đặt với thế hệ trước, ít có người phát biểu một cách dứt khoát mà không một thoáng trầm tư nào đó hay thông thường nhất, xác định mình là dân nước sở tại thêm chữ gốc Việt như dân Canada, Úc...gốc Việt.
Một vài sự kiện thứ khác đáng chú ý nữa là nếu có dịp dự cuộc hội hợp gia đình hay cuộc tổ chức các phong trào hay Hiệp hội từ nhiều nước ngoài khác nhau, như cuộc họp giới trẻ thế giới, chúng ta phải nhìn nhận rằng đã có bao hiện tượng khác biệt biến chuyển bất ngờ khó tiên đoán trước được trong tư duy hình thể và tâm tình của giới trẻ trong và ngoài nước.

Thật ra nước Việt ta từ trên 4000 năm còn tồn tại giữ vững đất nước độc lập tự do nhờ tinh thần đoàn kết một lòng chống xâm lăng dù to mạnh đông văn minh hơn dù phải trải qua trăm năm hay nghìn năm đô hộ.

Vận mệnh Việt bao lần nghiêng ngả bởi chiến tranh xâm chiếm đồng hóa, ý đồ phân chia dân tộc, nội chiến, ý thức hệ choảng nhau, ngay cả thần quyền lắm lúc cũng đặt dấu mốc lung lay bôi xóa truyền thống cổ truyền.

Nói chung thế hệ trước đều có trải qua ít nhiều kinh nghiệm sống còn của một dân tộc, một quốc gia nhỏ bé mà hào hùng kiên định bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ truyền thống văn hóa văn minh, ngôn ngữ của mình. Còn thế hệ thứ ba thứ tư nầy, ở hải ngoại hay ngay cả trong nước sau 75, không thể có cái tâm tình ý thức của cha ông ngày trước.

Họ được sống trong và theo hoàn cảnh xã hội đuơng thời nhất là đất nước ta trong thời kỳ quá phức tạp éo le khó hiểu và đau thương, thay đổi tận cùng, thống nhất mà còn chia rẽ, chạy trốn vượt biên, sự ngỡ ngàng trước thực tế thân phận của bên thua phe thắng và chỉ còn có độc đạo tuân lệnh theo Nhà nước mới. Dạ dày đã bị buộc chặt rồi, tư tưởng như ván đã đóng thuyền, sai lệch đường lối đề ra là phản bội dễ mất mạng như chơi.

Ra nước ngoài, cuộc sống mới lạ chỉ có ảnh hưởng trực tiếp với thế hệ tha hương tị nạn sau 1975, cuộc đổi đời đúng nghĩa. Không một ai có thể đoán biết trước đưọc tương lai của một đàn chim Việt tung cánh theo vận may, đủ mọi thành phần tầng lớp xã hội, tuổi tác, tan tác chạy trốn bằng bất cứ phương tiện nguy hiểm đến tính mạng cũng không từ nan.

Thế hệ đầu tiên nầy sau bao nhiêu năm vất vả đã khẳng định được ý chí tự lập vươn lên vì gia đình con cháu, cũng có thể vì tự trọng tự hào dân tộc. Còn thế hệ sau, không được trang bị bằng tâm tình truyền thống lâu đời truyền dạy ở quê cha đất tổ, cộng thêm được sống trong một xã hội văn minh kinh tế thị trường văn minh tiến bộ thay đổi cật kỳ nhanh chóng “đời cua cua máy, đời cáy cáy đào “, làm sao các bạn trẻ thông hiểu dễ dàng cái khúc mắc rắc rối khó hiểu của tình hình và nhất là nền chính trị Việt Nam, nguyên nhân trầm trọng nào đã đưa bao gia đình tha hương, cuộc trốn chạy thập tử nhất sanh, bỏ của chạy lấy người.

Hơn thế nữa bị cuốn hút vào trào lưu hành trình mới cho tương lai, các bạn trẻ chỉ còn biết làm thế nào để hội nhập cho tốt để có một chỗ đứng trong nước định cư. Bằng cớ học sinh sinh viên Việt ta thường thành công trong việc học hành đỗ đạt. Nhưng các vấn đề khác liên quan đến đất nước mình, thế hệ thứ hai, ba như chưa sẵn sàng tìm hiểu để trở về nguồn.

Vả lại, phụ huynh thuộc thế hệ tha hương đầu tiên vì luôn lo toan xoay sở cho sinh kế gia đình, cố gắng nâng cao trình độ, khuyến khích con cái vươn lên, giúp đỡ thân nhân còn kẹt lại nên ít có dịp sống gần gụi với con cháu hầu truyền lại văn hóa tiếng mẹ và truyền thống dân tộc. Và không phải cha mẹ nào cũng có đủ trình độ học thức đạo đức, lòng kiên trì để thuyết phục con cái nghe mình, vấn đề tưởng dễ mà thật ra vạn nan có khi đến bất lực buông thả luôn.

Vậy lỗi tại ai? Phụ huynh, con cáì ta? Nan giải, mỗi gia đình mỗi cảnh lên án ai cho đúng đây? Dễ nhất là do hoàn cảnh, xã hội mới lạ, nền kinh tế thế giới, lòng tin lung lay,...

Việt nam ta với vị trí bao lơn rộng thuận lợi cho giao thông thế giới, tài nguyên dồi dào nguyên sinh hay chưa khai thác, chất xám chưa được đầu tư đúng mức hầu phát triển theo kịp trào lưu tiến bộ thế giới, khí hậu nhiệt đới gió mùa không quá khắc nghiệt như Phi châu, môi trường thiên nhiên nếu không bị chiến tranh tàn phá nhân tai và thiên tai, thật đúng là của quí trời cho. Thế mà dân tộc ta chưa chụp được cơ hội ngàn vàng cùng nhau phát triển mạnh đúng hướng để biến thành một con rồng Đông Nam Á, tiếc thay!

Điểm đáng lo ngại nhất là đã là thế kỷ 21 rồi mà còn có những kiểu xâm lăng thực dân tân tiến hiện đại mới, kẻ mạnh hiếp yếu bằng mọi thủ đoạn âm mưu chính trị, kể cả tài liệu pháp lý quốc tế giả mạo, sửa đổi tráo trở vô tiền khoáng hậu. Nhiều nước nhỏ đang lo đến sự xâm chiếm đồng hóa ngấm ngầm từ từ bằng kinh tế, bằng quân sự, bằng mọi thủ đoạn ngoại giao kể cả việc không áp dụng thi hành luật pháp quốc tế.

Không phải chỉ có Đông Nam Á mới có hiện tượng trên mà đã từng xảy ra ở vài nước khác trầm trọng hơn điển hình là Tây Tạng, Tân cương....Do đó người dân tị nạn lớn tuổi càng ngày càng như khó có cơ hội trở lại nước nhà. Và các thế hệ tiếp nối tản mác trên năm châu với ngôn ngữ văn hóa văn minh khác biệt, với tâm tình tư duy xa dần truyền thống của cha ông, hy vọng ngày trở về cũng như “gởi gió cho mây ngàn phương”.

Hơn thế nữa, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng làm chao đảo tình hình thế giới trên mọi mặt. Cuộc chạy đua săn lùng thị trường mới ở các nước kém phát triển, chưa mở mang thật sôi nổi đòi hỏi nhiều kỹ thuật khoa học hiện đại tân tiến hàng đầu ngay cả chiêu thức ngoại giao. Thế giới trở thành như một bàn cờ quốc tế mà nay là bạn cờ mai trở thành đối thủ hay ngược lại.

Vả lại, thể chế chính trị khác nhau, ngay cả tôn giáo, việc thi hành Luật Nhân quyền cũng gây ra nhiều tranh cải, kiện tụng, bất đồng về việc thi hành hay vi phạm. Đúng là con người thường tự phong cho mình là người có lý, đôc tôn.

Do đó việc giúp đỡ, viện trợ ào ạt cho các nước nhỏ vừa thu hồi độc lập tự do không phải luôn luôn vô vụ lợi, có khi còn mang ý đồ bất lương vô nhân. gậm nhấm, đồng hóa đô hộ nô lệ. Đất nuớc ta là một điển hình sống động nhất trong lịch sử loài người.

Tình hình biển Đông chẳng hạn lại làm cho thế giới bàng hoàng với “cái lưỡi bò “ do Trung hoa tự vẽ ra để phân định hải phận ở vùng nầy và càng ngày càng tỏ ra bất chấp luật quốc tế gây hấn hăm dọa đánh chiếm bắt đầu các đảo các nước lân cận chung quanh, cũng là nguyên nhân trầm trọng cho việc phát triển phục hồi kinh tế nước ta.

Vị trí Việt nam có một vòng quạt tầm nhìn hoạt động xa ra biển, với thềm lục địa rộng dài đầy tiềm năng hay chưa khai thác, nhiều hải cảng thuận lợi có tầm vóc quốc tế nếu được sử dụng đúng mức, nhiều tài nguyên phong phú trên nhiều phương diện và nhất là dân số trên 90 triệu cũng là điểm nhắm mục tiêu của các bạn thù giàu nghèo trên thế giới.

Còn cái ròng rọc chiến tranh hòa bình cũng theo thời đại biết thay hình đổi dạng vị trí, giả thật bất ngờ, tung ra nhiều chiêu mới lạ trên trời dưới đất, cả không gian vô tận đến tận cùng đáy đại dương. Chẳng hạn như từ lâu các nhà chiêm tinh gia, chính trị gia hàng đầu thế giới cũng không tiên đoán đúng được các hiện tượng sử kiện quan trọng sẽ sắp xảy ra. Cuộc thế chiến thứ ba có sẽ ra không? Chiến tranh tôn giáo? Ngày tận thế ?

Tất nhiên việc phục hồi kinh tế và phát triển đất nước không thể dễ dàng nếu chưa ổn định về mặt chính trị, và sự thay đổi khó ngờ tình hình thế giới. Ai ai cũng chạy đua nước rút tìm thị trường đồng minh mới trong khi đó vấn đề khác tranh chấp ảnh hưởng giữa các tôn giáo nổi lên càng tăng biến viễn ảnh hòa bình càng bặt tăm hơi.

Tiếc cho đất nước ta không thiếu điều kiện để canh tân phát triển mọi mặt thế mà đến thế kỷ 21 nầy vẫn còn thấy hố sâu giữa giàu nghèo hun hút sâu rộng, tâm tình người dân chưa ổn tương lai giới trẻ bồng bềnh vô định. Rồi nếu thời gian chạy đua nầy càng dài, ảnh hưởng tốt xấu trong ngoài trà trộn lẫn nhau càng chỉ làm lòng người phân tán hơn. Mà thời gian chẳng bao giờ biết đợi biết chờ.

Tài nguyên và chất xám trong và ngoài nước chưa được khai thác sử dụng đúng lúc và đúng mức thì việc thất thoát biến thể phục vụ cho mục tiêu lý tưởng vụ lợi thấp hèn, thật đáng buồn.

Nhìn lại dòng lịch sử thế giới, chiến tranh vẫn là mặt trận hao mòn phá hủy chia rẻ tiêu diệt không tiếc thương mà hai phe thắng như thua đều là người thua cuộc. Ngay cả chiến tranh tôn giáo cũng khốc liệt tàn bạo vô nhân nữa là. Dù biết rõ trên đời con người luôn muốn sống yên lành hoà bình thế mà ở đâu có bóng dáng thế nhân lại có chiến tranh.

Một khía cạnh khác hữu hiệu của chiến tranh là tiến bộ. Khoa học kỹ thuật hiện đại trên mọi địa bàn giúp cho đời sống con người tiện nghi hơn mà cũng đưa kỹ nghệ vũ khí càng ngày càng tối tân tàn khốc hại đến tận cùng. Chiến tranh được dùng như phương cách lợi khí của giới kẻ mạnh độc tài xâm lăng luôn luôn cho mình lúc nào cũng lý, và càng ngày càng leo thang hơn trong mọi địa hạt kinh tế chính trị tôn giáo trở thành khủng bố vô nhân.

Không biết đến bao giờ con ngưười bớt nghĩ đến cái ta tối thượng để thế giới sống hòa bình đoàn kết giúp nhau tiến bộ. Thế hệ trước già đi không còn thời gian sức tài để phục vụ, thế hệ trẻ lại chưa có lý tưởng để theo, mà cũng chưa được trui luyện thuần thục hầu thực hìện mộng ước của cha ông. Tin ai gì bây giờ? Ngay cả khoa học kỹ thuật cũng thay đổi cấp kỳ, tôn giáo ư? Giới trẻ không còn tính vâng lời tuyệt đối của cha ông

Đứng trước tình trạng xuống cấp trầm trọng của thế thời, lòng người của thế kỷ thứ 21 nầy bất an phập phồng lo sợ viễn ảnh tương lai, còn giới trẻ thì ngược lại. Ở các nước giàu có thì chưa được nếm cái cực khổ nguy nan, không thể hình dung nổi chân trần đào sâu cuốc bẫm biến “sỏi đá thành cơm”, “ thân phận nhà nghèo” sống trong “Lều chõng” nên rất hồn nhiên hưởng thụ mà nền tự do phồn thịnh đãi ngộ chẳng thắc mắc tìm hiểu làm gì. Chiến tranh trên tivi, họ xem như chứng kiến cuốn phim trực tiếp cực kỳ gay cấn hồi hộp nín thở thôi vì trên màn ảnh hiện đại còn có nhiều cảnh rùng rợn, phi thường, giả tưởng hơn gấp bội và gồm cả người ở các hành tinh khác nữa là.

Con em Việt ta chẳng khác trong như ngoài nước cũng thế, thế hệ trẻ chưa trải nghiệm nào rõ ràng thật sự về chiến tranh và nhất là nội chiến. Càng lớn lên, họ có những nhu cầu thời đại riêng, tư duy tâm tình cũng bị ảnh hưởng môi trường sống càng ngày càng phức tạp gắp bội.


Nhưng dòng lịch sử vẫn tiếp diễn, nếu không biết sử dụng đúng lý và hợp thời thời gian với ý thức đấu tranh sáng suốt dám làm, kiên định và quyết tâm tất nhiên sự thay đổi và tiến bộ khó có thể xảy ra.

Ngày nay, với tinh thần và kiến thức thu thập mở rộng hơn, phóng khoáng hơn, cởi mở không còn bị ràng buộc bởi những tập tục lề thói xưa, hy vọng thế hệ thứ hai ba có thể làm chuyện đổi đời hoàn toàn không tiếc rẽ. Bao phương tiện hữu hiệu tân tiến giúp họ có cái nhìn rõ rệt hơn, phân biệt thật giả gian tà đúng hơn và từ đấy quyết tâm nắm tương lai vận mệnh mình tiến lên.

Hơn thế nữa với cái gên yêu nước Việt truyền thống bao đời cộng thêm kinh nghiệm sống còn của cha ông qua các cuộc chiến tranh lạnh nóng do các cường quốc đấu đá giành giựt nhau tìm thị trường mới, ý thức hệ chính kiến đối lập, hy vọng các thế hệ tương lai với ý thức suy nghĩ và kiến thức rộng khoáng, sớm biết đoàn kết nhau bảo vệ quê hương đất tổ trở về nguồn.
Trần Thành Mỹ

Edited by user Thursday, September 14, 2017 6:48:13 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#46 Posted : Wednesday, October 25, 2017 6:58:13 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Một nét đẹp trong tiếng Việt, chữ Nước.
Thác Bản Giốc
Ngưòi ta thường bảo con người có thể kéo dài đói ăn trên mười ngày
nửa tháng nhưng khát thì khó quá một tuần. Người Việt ta lại gọi một
cách nôm na thân thương quốc gia mình bằng một từ đơn âm Nước còn
có nghĩa là nước để uống để dùng. Trong ngôn ngữ toàn cầu khó mà
tìm được từ nào mà tượng hình tượng thanh đánh động vào ngũ quan
tình cảm tâm hồn một cách tự nhiên thân tình như từ Nước của chúng
ta.
Thật ra trên thế giới, nước nào cũng có nhiều xưng danh cho đất nưóc
mình. Pháp chẳng hạn là Patrie, état, nation, pays natal, la terre de nos
ancêtres, tiếng Việt ta Tổ quốc, Quốc gia, Quê hương, đất nước, tiếng
Hán Việt là QUỐC, nhưng chưa tìm thấy tiếng nước ngoài nào mà có từ
có dấu ngắn gọn bình dị với võn vẹn bốn chữ cái mà gợi tình lẫn ý quan
yếu quen thuộc gần gũi thiết tha như chữ Nước của ta.
Dẫn chứng ta có trong các từ hay thành ngữ Hán Việt như « tận trung
báo quốc », « lương sư hưng quốc », quốc nạn, quốc hận,…
Trong bản nhạc « Tình ca » của Phạm Duy « Tôi yêu tiếng nước tôi từ
khi mới ra đời… »
« Tình hoài hương » : « Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn,
Nước tuôn trên đồng vuông vắn »…
« Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc. »(Trần Bình
Trọng)
« Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. »(Lý Thường Kiệt).
« J’ai quitté mon pays… » (Enrico Macias)
2
2
« Pourquoi le prononcer, ce nom de la Patrie ?
Dans son brillant exil, mon cœur en a frémi ; »…(Lamartine- La terre
natale)
« Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre « …
Un jour, j’irai là bas te dire bonjour, Vietnam. »( Marc Lavoine – Bonjour
Vietnam)
Nói về nước, chữ Nho là THỦY, nước còn là nguồn sống cho sinh vật cỏ
cây. Trên mặt địa cầu nưóc chiếm 2/3 diện tích chung phần còn lại 1/3 là
đất. Không có nước không có sự sống trên hành tinh nầy qua nước
mưa, nước suối, ao hồ, sông biển.
Trong thơ văn, ca dao tục ngữ :
« Cây có cội, nước có nguồn. »
« Uống nước nhớ nguồn. »
« Nước non năng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non. » (Tản Đà )
« Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. »
« Còn nước còn tát. »
« Nước trong quá thì không có cá,
Người xét nét quá thì không có bạn bè. ».
Sơn tinh Thủy tinh
Bức tranh thủy mặc...
Vì thế ngay khi đổ bộ lên mặt trăng trước kia hoặc như hiện nay Hỏa
tinh, các nhà phi hành gia hay các robot trên các phi thuyền thám hiểm
không gian được phóng lên thường có nhiệm vụ đầu tiên đặc biệt là lấy
mẫu đất trên hành tinh ấy đem về phân tích xem gồm có nguyên liệu gì
nhất là có sự có mặt của nước để chuẩn bị cuộc hành trình định cư
trong tương lai.
Hơn thế nữa, thông thường ai cũng biết là người dân nước nào tất hiểu
rõ thấm nhuần, sử dụng nhuần nhuyễn tiếng nước mình hơn. Mỗi ngôn
ngữ đều có sắc thái đặc thù riêng «nồi nào vung nấy » do đó rất khó
hoặc không thể so sánh cho đúng được dù trong thực tế có tiếng của
nước giàu nghèo, nhược tiểu hay siêu cường, diện tích nhỏ to, nhiều
người sử dụng hơn.
Chẳng hạn như trước kia, tiếng Pháp được xem như là ngôn ngữ chính
yếu trong văn kiện bang giao quốc tế vì tiếng Pháp dễ đọc, rõ ràng diễn
tả chính xác qua cách sử dụng khúc chiết Mode và Temps (Cách và Thì
) của động từ. Tuy nhiên, văn phạm Pháp quá phức tạp, chi li còn áp
dụng nhiều quy tắc cầu kỳ như Accord du participe passé, cách chia
động từ theo mode temps và ngôi thứ quá phân định, do đó viết khó hơn
3
3
nói, đòi hỏi trình độ thực sự nếu không nhiều lỗi chính tả, sai sót trong lối
hành văn. Từ đó tiếng Pháp mất dần sức hấp dẫn và địa vị hàng đầu
của mình nhường chỗ cho tiếng Anh thực dụng luân lưu chuyển tải dễ
dàng hơn.
Ngoài ra ngày xưa chúng ta hình dung bầu trời rộng mênh mông bao la
không thuộc riêng một ai. Rồi càng văn minh luật quốc tế phân định vùng
không gian nào trên đầu là không phận của nước đó. Phi cơ phải tuân
thủ triệt để luật trên, nếu vi phạm có thể bị triệt hạ như thường. Thế là
bầu trời cũng bị con người tư hữu hóa luôn rồi.
Ngày nay môn địa lý chẳng những cho ta biết rõ những những nét đại
cương về trái đất, phân định rõ bằng những cộc mốc biên giới vị trí biên
giới của mỗi quốc gia. Vậy là đất cũng được bàn tay bộ óc con người chi
phối theo luật chiếm hữu của nhân loại.
Còn nước thì thế nào ? Cũng có luật giao thông hàng hải quốc tế, thềm
lục địa mỗi nước được tính bằng hải lý. Nhưng giống như không phận vì
không thể có cộc mốc biên giới hữu hình rõ rệt như trên đất liền nên có
nước lớn mộng bá chủ xâm lăng trong vùng Đông Nam Á chẳng hạn, bất
chấp luật quốc tế ấn định lại mốc biên giới mới ở miền Bắc nước ta ở Ải
Nam quan và Thác Bản Giốc và đơn phương ngang nhiên hơn vẽ
« đường lưỡi bò » trên Biển Đông uy hiếp ép đẩy lùi thu hẹp thềm lục địa
các nước nhỏ lân cận hay chung quanh gây tranh chấp biển Đông.

Đường lưỡi bò
Chúng ta cũng biết là tự ngàn xưa, ngoài sự cần thiết cho đời sống con
người như ăn uống vệ sinh, nông nghiệp, ngư nghiệp, chuyên chở vận
tải, hải lộ đường thủy còn là đường giao thông đầu tiên nhanh chóng
hơn đường bộ để lưu thông, liên lạc khám phá, mà con người đã biết sử
dụng bao phương tiện qua đường sông đường biển, lúc đầu bằng
4
4
những dụng cụ thô sơ như bè, bè mảng, ghe, thuyền, thuyền buồm rồi
dần dần đến tàu chạy bằng hơi nước, rồi máy nổ và điện tử, tàu hiện đại
ngày nay vượt đại dương, càng ngày càng to lớn tiện nghi, an toàn và
thoải mái hơn gấp bội.
Tàu du lịch Harmony of the Seas,16 tầng, cao hơn Tháp Eiffel 50m,rời cảng Saint Nazaire 12-5-16
Và chúng ta không quên cũng chính nhờ tính phiêu lưu mạo hiểm, tìm
tòi phát kiến địa lý vĩ đại mà bao nhà thám hiểm Âu châu đã tìm ra bao
đất mới, thế giới mới qua đường bộ hay trên biển qua đại dương.
Bản sao con tàu buồm Hermione mà Lafayette vượt Đại Tây Dương sang
Mỹ 1780

Marco Polo (1254-1324) nhà thám hiểm Ý đầu tiên đã đến Trung quốc
bằng « Con đường tơ lụa ».
5
5
Christopher Columbus (1451-1506) nhà hàng hải Ý đi bằng đường
biển về phía Tây Đại Tây Dương và khám phá châu Mỹ, 12/10/1492 tới
San Salvador mà Ông vẫn nghĩ là Ấn độ nên gọi thổ dân đầu tiên là
Indian.
Vasco de Gamạ (1460-1524) nhà thám hiểm phiêu lưu Bồ đào Nha đầu
tiên đi bằng thuyền từ Portugal tới vùng phía Đông kết nối châu Âu và Á
với hành trình xuyên đại dương. Năm 1497, Ông đến Ấn độ vòng qua
Mũi Hy vọng (Cap de Bonne Espérance –Cape of Good Hope) cực Nam
lục địa Châu Phi.
Hầu tước Pháp La Fayette dùng thuyền buồm Hermione được gọi là
« La Frégate de la Liberté » vượt Đại Tây Dương năm 1780 sang giúp
Mỹ trong cuộc Cách mạng Hoa kỳ. Và đến thế kỷ 21, một bản sao mới
chiếc Hermione được hạ thủy rời cảng La Rochelle đi Mỹ năm 2015.
Nói đến óc phiêu lưu khám phá maọ hiểm, chúng ta không thể không
nhớ đến nhà hàng hải địa lý Pháp mà còn là nhà đại văn hào viết truyện
khoa học giả tưởng nổi tiếng từ trước đến nay Jules Verne (1828-1905).
Trong các tác phẩm của mình, Ông còn đã tiên đoán hầu hết các phát
minh khoa học lớn của thế kỷ 20, cung cấp cả kiến thức khoa học từ
Những chuyến bay bằng khinh khí cầu « Cinq semaines en ballon »
1863, Từ địa cầu đến Mặt trăng « De la Terre à la lune « 1865, Vòng
quanh Mặt trăng 1870, Vòng quanh thế giới trong 80 ngày « Le Tour du
monde en 80 jours 1873, và Hai mươi nghìn dặm đưới đáy biển
« 20.000 lieues sous les mers « 1870.
Cho đến thế kỷ thứ 20, Thor Heyerdahl (1914-2002) nhà nhân chủng
học thám hiểm Na Uy còn đã sử dụng chiếc bè Kon Tiki với 6 người
6
6
thực hiện cuộc vượt qua Thái Bình Dương gần 8000km sau 101 ngày
đêm năm1947 an toàn.
Chiếc bè Kon Tiki
Nhà thám hiểm nổì tiếng người Anh Tim Severin trong phái đoàn đó có
Ông Lương Viết Lợi tham gia cuộc hải hành bằng chiếc bè mảng vượt
Thái Bình Dương đi được 5500 hải lý còn 1100 dặm đến Hoa kỳ, phát
xuất từ Hong Kong sang Mỹ tháng 3/1993.

Vậy so sánh ba phương diện trời đất nước, nước vẫn là sinh lộ quan
yếu nhất cho mỗi quốc gia.
Ngay con người từ lúc còn trong bụng mẹ, bào thai vẫn tròng trành trong
tiềm thủy đỉnh tử cung.
Những con sông kinh đào ao hồ thác nước đều là nguồn mạch sống cho
tạo vật sinh linh trên hành tinh xanh nầy. Chính các con sông lớn như
Missipsipi của Mỹ, Hằng Hà (Gange) ở Ấn độ, Hoàng hà và Dương Tử
Giang ở Trung quốc, Mékong qua sáu nước Á châu đổ ra biển Đông qua
9 cửa sông tại Việt nam, đã góp phần cốt yếu cho sự phồn vinh của đất
nước nào sông đã chảy qua.
Do đó biết được điểm tối ư quan trọng ấy, các nước ngự ở thượng
nguồn có thể gây khó khăn bắt chẹt các nước nhỏ dọc theo sông nhất là
nước ở hạ nguồn mà Việt nam ta là một bằng những đập thủy điện
khổng lồ.
7
7
Những chiếc đập trên sông Mékong
Đập thủy điện Cảnh Hồng Trung quốc
Trong văn chương Pháp có câu
« J’aime la lettre M parce qu ‘on la prononce AIME,
Je n’aime pas la lettre N parce qu ‘on la prononce HAINE ».
(Tôi thích chữ M vì ta đọc là AIME = Yêu thương,
Tôi không thích chữ N vì người ta đọc là HAINE (H câm)= Hận thù).
Chúng ta cũng có thể viết tương tự :
« Chúng ta yêu chữ M vì ta đọc là EM,
Chúng ta cũng yêu chữ N vì đó là ANH. »
Hai chữ ANH EM là hai từ ngữ trong phép xưng hô rất phong phú và
phức tạp có tính chuẩn mực khuôn mẫu của nền văn hóa văn minh Việt
về việc giao lưu giao tiếp trong xã hội, gia đình, trong tình yêu, hôn nhân.
8
8
Người Anh cùng có câu đáng suy gẫm :
« Believe giữa có chữ Lie,
Friend cuối vẫn có chữ End,
Lover cũng có lúc Over,
Wife trong lòng vẫn có If “.
Ngâm nga các câu tiếng Pháp Anh trên, thật thích thú phát hiện thêm
đây cũng là một nét đẹp khác tô điểm chữ Nước ta độc đáo hơn.
Thử đánh vần chữ NƯỚC ta có N+ƯỚC (Anh ước), vậy trong chữ
Nước có vần Ước mà tuyệt vời thay, Ước mơ, ước nguyện thể hiện hoài
bảo của thế nhân, quyền tự do căn bản của mỗi con người, anh cũng
như tôi, không phân biệt giàu nghèo mạnh yếu già trẻ và không có ai có
quyền cấm cản trừng phạt.
Cám ơn tổ tiên đã thông minh sáng tạo tuyệt vời ngay trong dòng chảy
văn hóa dân tộc mọi thời. Dù chữ Quốc ngữ bằng mẫu tự la tinh sinh
sau đẻ muộn, một trong những danh từ thuần Việt tiêu biểu như chữ
Nước vẫn hiên ngang sát cánh sống theo thời gian thời đại lịch sử, khoe
nét đẹp và ý nghĩa toàn vẹn của từ đơn âm nôm na bình dị dễ hiểu gắn
bó thắm thiết qua bao thăng trầm của đất nước vượt cả sự cầu kỳ bác
học khó hiểu khó viết trong một thời cao điểm của chữ Nho Hán Nôm.
Chúng ta con cháu Rồng Tiên được thừa hưởng thành tựu tinh thần siêu
việt ấy, hãy kiên trì tự hào gìn giữ, phát huy hoàn thiện cải tiến nét đẹp,
tính đặc thù độc đáo, sự trong sáng của ngôn ngữ mình luôn vì văn hóa
còn, Tổ quốc còn theo gương của tiền nhân đã có công gầy dựng đất
nước Việt Nam ta trên 4000 năm.
Trần Thành Mỹ
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#47 Posted : Thursday, November 23, 2017 7:51:00 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
NGHỀ THẦY

Thành kính nhớ ơn Quý Thầy Cô đã dạy dỗ chúng con.
Kính tặng tất cả thầy cô đã có lần đứng trên bục giảng.


« Thưa thầy, thầy còn nhớ con không ? », câu nói của Carnot ngày xưa thật tự nhiên, đơn sơ, ngắn gọn, thế mà đã gợi cho thầy cô bao kỷ niệm đầu đời về nghề mình đã chọn. Thật vậy, trong quá trình lịch sử nhân loại, nghề giáo được mệnh danh bằng bao mỹ từ cao đẹp, nhà giáo dục, nhà mô phạm, nhà gõ đầu trẻ, kỹ sư tâm hồn, bán cháo phổi mà đại diện tiêu biểu nhất là « vạn thế sư biểu » đức Khổng phu Tử .

Thời Nho học thịnh hành, vai trò vị thế của thầy chỉ đứng sau vua, quân sư phụ. Câu “ nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy còn nói lên lòng kính trọng tuyệt đối, nghĩa thầy trò sâu nặng biết dường nào ! Quyền uy càng lớn, bổn phận, nhiệm vụ phải tương xứng.
UserPostedImage

Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn năm 22 tuổi


Xã hội đòi hỏi ở các thầy đồ xưa bao tiêu chuẩn, luật phép phải theo. Thầy phải như người mẫu, tấm gương. Tác phong đạo đức thường rập khuôn theo đạo lý kỷ cương thời đại, nhà giáo như được đặt trên một đài cao để người ta chiêm ngưỡng, bắt chước học đòi. Tuy thế thầy bấy giờ cũng không khác chi một thiếu nữ của thời “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”mà tứ đức như chiếc khung son vuông đều đặn làm nổi bật bức họa ba hoa “tam tòng”.

Tầm nhìn phóng khoáng, sâu rộng thế nào đi chăng nữa vẫn không vượt hẳn nổi mạng lưới sâu hằn phong tục tập quán, thầy như đầu toa xe lửa chỉ chạy trên đường rầy “tiên học lễ, hậu học văn”. Do đó nhà giáo như không còn có đời sống riêng tư. một “hình nộm”, một robot mực thước uy nghiêm, “đỉnh cao trí tuệ”, cách biệt, xa vời. Lắm lúc vì quá gò bó đến tẩu hỏa nhập ma, các đấng “lương sư hưng quốc”có cơ biến thành những tên gõ đầu trẻ hung thần vụ lợi mất lương tri .

Nhớ lại những hình phạt ngày xưa như đánh bằng roi mây, khẽ trên đầu mười ngón tay chụm lại, quì trên sơ mít, quì gối quay mặt vào tường cho muỗi cắn, cú đầu vả mặt...thể hiện đúng câu “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Thầy trò quả không có sự cảm thông, khó thân khó tiếp xúc. Thầy như người nghệ sĩ trên sân khấu bục giảng, diễn kịch mang mặt nạ đóng tuồng, tùy vai kép mùi, kép độc, đào thương, vãn hát ra về khen chê sau lưng, mặc, đường riêng thầy đi.

Xã hội đã phong tước vị cao sang phong nhã tất nhiên thầy phải đảm trách đúng mực, chu toàn. Vô hình chung, thầy được kính như một nhà uyên bác, thông thiên địa lý, mẫu mực cương nhu, công bằng bất khuất. Ra đường, ăn mặc chỉnh tề, tác phong chững chạc quắc thước như tiên sinh đạo cốt, ăn nói đứng đắn đúng phép, lễ độ trầm tĩnh, nhiệt tâm. Ở nhà cũng phải giữ lễ, trên dưới phân minh, không được nhập nhằng xô bồ hỗn loạn.

Rồi dần dần xã hội tiến bộ, giáo dục cũng đổi thay tùy hoàn cảnh đất nước, vị thế của thầy vì thế cũng được “kỹ nghệ hóa”, “bình thường hóa”luôn. Nghề thầy như bao nhiêu ngành nghề khác, không còn phân biệt thượng vàng hạ cám hết ngành hạ bạc như xưa. Nhà giáo cũng là con người với nhân tính cá biệt không thể tách rời xã hội, phát ngôn viên, truyền kiến thức chuyên môn mình đã hấp thụ được theo chương trình pháp định.

Nhưng đây vốn có liên quan đến trí óc, tâm hồn khó lấy thước mà đo, lấy roi mà thử thách nên cần có sự thích nghi hòa hợp dung hòa lý tình. Thầy không còn chỉ tay năm ngón ra mệnh lệnh như ông vua trên ngai ‘’rầm’’trong lớp, một đại thần với thanh bửu kiếm tiền trảm hậu tấu mà phải biết hòa mình, tìm hiểu, luôn học hỏi để thích nghi.

Dưới lăng kính của học sinh ngày nay, thầy vẫn tượng trưng cho khuynh hướng thế hệ đương thời, chiếc gương thời đại phản ảnh ước vọng tuổi trẻ, nguồn cảm hứng dồi dào cho óc mơ mộng trinh nguyên, một hiện hữu trong mọi lãnh vực mà đạo đức đồng minh với chất lượng.

Dù muốn dù không, nghề thầy vẫn khác vì đối tượng là con người còn trắng trong.Thêm vào đãy, giữa thầy và trò có sự tương quan chặt chẽ vì thầy vừa là thầy của trò mà cũng vừa học lại ở trò. Cái nhìn của học sinh quả là cửa sổ đưa thầy trở về nguồn sinh lực dồi dào muôn màu muôn sắc của thời yêu hoa phượng đỏ, đường lên Thiên thai với những tâm hồn chưa vướng bụi đời, một máy ảnh ghi hình, kính lúp phẩm bình chi li tùy hứng, một loa phóng thanh truyền tin cấp kỳ nhanh chóng, một hàng ngũ tình báo vô hình dầy đặc phong phú hồn nhiên khởi điểm của diễm phúc hay chán nản bi quan.

Không thể đòi hỏi ở học sinh niềm kính trọng một chiều như thời trước. Môi trường giáo dục càng ngày càng rộng mở, xã hội phát triển không ngừng. Tất cả đều phải chạy đua nước rút theo đà tiến bộ văn minh. Nghề thầy bắt buộc phải biến chuyển.

Trái hẳn với ngày xưa, tuổi tác giữa thầy trò, nhất là từ bậc trung học trở lên, xấp xỉ không kém nhau bao nhiêu, do đó thế hệ trẻ dễ thông cảm nhau dễ dàng. Thầy là đối tượng trò nhầm tới mà cũng là mầm hoả hoạn bất ngờ. “Vòng tay học trò” của Nguyễn Thị Hoàng cũng gợi lên cái choáng váng ngây ngô huyền hoặc ấy. Thật ra, ngôi vị giữa thầy trò khác biệt trong trường lớp thôi. Sự ràng buộc cũng chỉ dựa trên nền tảng đạo lý luật lệ xã hội từng thời.

Ngày nay, nhan nhản bao cuộc hôn nhân hội ngộ đẹp, trong đó đường tương kính đến tình yêu không viễn vông xa vời.
Nhìn thầy trên bục giảng như kịch sĩ thủ vai chính, ảo mộng biến thầy như anh hùng chiến sĩ, thư sinh hào hoa phong lưu mã thượng, kích thích óc tò mò thơ mộng ngây thơ của tuổi vừa chớm lớn còn lấp ló ở ngưỡng cửa cuộc đời. Chỉ cái tên nghề thôi cũng đủ bảo đảm suông phần nào lý lịch của thầy. Xuất thân từ Sư phạm còn chắc ăn hơn nữa vì xã hội đã bọc cho thầy chiếc áo khoác vinh dự hiện thân cho đứng đắn đàng hoàng, có lương tâm đạo đức. Ở thầy như mặc nhiên qui tụ nhiều tính tốt mà người thường ước mơ.

Rồi theo cuộc diện đời thay trắng đổi đen, ảnh hưởng của chiến tranh, cách mạng, chế độ, sống còn, kinh tế làm điêu đứng, ngả nghiêng “xính vính” bao nề nếp. Giáo chức trở thành kỹ sư tâm hồn chẳng hạn vì học sinh được ví như sản phẩm rập khuôn hàng loạt theo kiểu “clônage”. Còn tâm hồn, dù vô hình trừu tượng, như “con múa rối” tùy thuộc đảng, tôn giáo, trường phái, một đàn cừu Panurge chỉ theo một chiều hướng nghĩ suy nhất định. Vô tình hay cố ý nhích ra khỏi hàng là bị tố ngay là phản động, “tội tổ tông” đôi lúc cũng không được giảm khinh.

Nghĩ thế mới thương dân tộc ta luôn đương đầu với bao hiểm họa xâm lăng đủ mặt, nghìn năm thuộc Tàu, gần trăm năm Pháp đô hộ, hai lần đất nước chia đôi Sông Gianh, Bến hải. Việt nam biến thành chẳng những là nơi thử bom đạn , kỹ nghệ quân sự tối tân siêu vi mà còn là tụ điểm quần hùng Cái bang các nước, đủ loại giống màu, văn hóa ngôn ngữ . Miền Bắc ảnh hưởng Liên xô, Tàu, Đông Âu, khối Cộng sản, miền Nam, Mỹ và các nước Đồng minh, khối tư bản.

Thêm vào đấy, ở xã hội tiêu thụ, kinh tế chi phối, ảnh hưởng ngoài học đường như truyền hình truyền thanh, phim ảnh, nhạc, các trào lưu văn hóa ngoại, “ bao cái lăng nhăng nó khuấy ta”’, bao nguyên nhân lũng đọan nghề thầy.
Lại có chế độ không khoan nhượng lên án gắt gao nhà giáo thuần chuyên môn phi chính trị, buộc vào tội thuộc chế độ cũ, ít “hồng hơn chuyên”, phải được học tập, tẩy não, cải tạo.
Nghĩ cũng tội cho nghề, do đó hậu quả trớ trêu của nghề dạy, đào tạo học sinh “dốt hay nói chữ”, nhặp nhằng cái nọ xọ cái kia tất nhiên gậy đập lưng ông là thường.

Trên bục giảng, thầy chỉ truyền lại kiến thức thuần chuyên môn. Xã hội cần phân định rõ ràng, đừng “đánh lận con đen”. Bằng không bao chuyện tréo cẳng ngỗng, đi ngược dòng tiến bộ trở về thời kỳ đồ đá, dày xéo phong tục lịch sử gây lắm tội lỗi đau thương. Ở nước ta chẳng hạn, sau 75, bao thầy cô đã bị học trò ruột của mình tố cáo, một số tên trường bị xóa bỏ thay vào tên’ anh hùng chiến sĩ’ thời đại.
Lạ thật đất nước đã thống nhất, lịch sử phải được bảo tồn, phát huy. Thế mà nhà giáo dục bác học lỗi lạc nổi tiếng trong ngoài nước Pétrus Ký bị quên ơn, dẹp tượng, bôi danh. “Không gì quí hơn độc lập tự do” câu nói gối đầu giường nầy không ngăn cản nổi tên đường Tự do thay bằng Đồng khởi.

Ở Kampuchea, Pol pot Khmer Đỏ xô đuổi bắt bớ hành hình những người có học không tiếc thương. Gần đây nhất, chế độ Taliban của Afghanistan cấm đoán phụ nữ đi học trở thành bóng mờ nô lệ. Nền giáo dục Âu Mỹ cũng bị chóa lòa bằng hào quang tự do. Kỷ luật dễ dãi, lỏng lẻo, nghề dạy bắt đầu xuống dốc thảm thương vì cơn lốc kinh tế rõ nét nhất.

Hiện nay, nhan nhản những tấm bi kịch trò hành hung, bắn giết, trả thù, vì nguyên nhân không đâu, bạn học và ngay cả thầy không một chút rung tay hối hận. Đau thương hơn, thảm cảnh dụ dỗ, gạt gẫm học sinh vị thành niên là tiếng chuông cảnh tỉnh, báo động cho tất cả những ai còn hời hợt, coi thường, ít quan tâm đến nền giáo dục nước nhà. Phụ huynh thường giao phó con em mình cho nhà trường, quan niệm một cách mặc nhiên qui trách nhiệm tất cả cho thầy, vừa truyền kiến thức vừa rèn luyện đạo đức tác phong, “thầy nào trò nấy”.

Có khi vẫn biết gia đình đóng vai trò cốt yếu nhưng ngày nay, lắm lúc vì bận rộn với sinh kế, không còn có thì giờ lo cho con cái. Do đó, để thầm chuộc lỗi hoặc bù đắp tình thương, sẵn sàng chìu ý không đắn đo, suy nghĩ. “Được đằng chân lân đằng đầu”, con em cứ leo thang vòi vĩnh, vì đòi là được tại sao không đưa tối hậu thư? Tệ hại hơn nghe lời con mà phê phán oạnh hẹ, hạch xách, hăm dọa, gây hấn và có khi đến thượng cẳng hạ tay mới đáng buồn.
Tất nhiên là thầy không phải hoàn hảo nhưng nếu xã hội không có kỷ cương nề nếp, luật phép, hậu quả tai hại không phải chỉ cho một thế hệ đương thời mà cả bao thế hệ tương lai.

Thật ra, không có nghề nào là dễ, nhưng phải công nhận là nghề dạy học ngày nay đòi hỏi nhiều thử thách, công sức, nghĩ suy, sáng tạo và nghệ thuật. Bản tính tự nhiên của con người là thích học hỏi, suy luận nhưng ít thích người khác. Học lóm dễ hơn vì “học thầy không tầy học bạn”. Câu “không thầy đố mầy làm nên” vẫn còn giá trị cho mọi thời điểm nhưng chữ thầy cần được xác định đúng nghĩa.

Nghề dạy học phải kết hợp việc dạy và học như ông bà ta thường dạy, “’học ăn, học nói, học gói, học mở”, ý muốn nói là gì cũng có gì cho ta học. Dạy không phải là”thầy đời”, một tự điển sống, một nhà rao giảng giáo điều,...Chấm dứt vị thế các thầy đồ thời Nho học biến học sinh như con vẹt thuộc nằm lòng Tam tự kinh, thiên trời, địa đất, tử mất tồn còn, tử con tôn cháu, lục sáu tam ba...Thầy giáo, dù hòan cảnh nào cũng thường “giấy rách vẫn giữ lấy lề”, lắm lúc, chẳng đặng đừng, cũng phải “tháo giầy”, “giáo vác”, “dáo dác” chạy gạo đổ mồ hôi như câu “nhất sĩ nhì nông hết gạo chạy rong, nhất nông nhì sĩ”.

Hơn thế nữa, nghề dạy học ngày càng khúc chiết hơn vì khó còn lý tưởng để theo, mẫu người làm chuẩn, mục đích để nhầm tới. Họa chăng là chọn nghề vì thời vận rủi may, sống còn, kinh tế, lý lịch. Giá trị của nghề cũng thay đổi tùy thời điểm, phong tục tập quán, chế độ, chính trị. Đây không phải là do luật đào thải hay thừa trừ mà đó là sự vận chuyển tự nhiên của xã hội. Vậy thầy giáo cũng không cần màng tước hiệu “chiến sĩ văn hóa” vì khi “thời oanh liệt nay còn đâu” đành ‘’ôm uất hận đến ngàn thâu’’như bao nhà chính trị, anh hùng không gặp vận.

Tuy nhiên, dù sao nghề dạy học vẫn có nhiều thuận lợi, ưu điểm hơn bao ngành nghề khác vì luôn được tiếp cận với tuổi trẻ. Phổi của thầy như được hạnh thông bằng những tia nhìn quang tuyến nồng ấm mang sinh lực mới, tim thầy trò đầy nhiệt huyết cùng nhịp đập cảm thông, tâm hồn thầy thường xuyên trẻ hóa nhờ tiềm năng dồi dào của các em, thầy có cảm giác như được bảo vệ chở che, bênh vực an ủi, hiểu nghe hai chiều.

Như con ong thợ chuyên đắp xây tổ tươm mật ngọt, căn bản giáo dục là góp phần vào việc đào tạo hữu hiệu con người biết sống có tình người, không là công cụ, sản phẩm, tín đồ của riêng ai. Giáo dục cần có mục đích đứng đắn không thể
‘’Thân em như chiếc lụa đào,
Phất phơ trước gió biết vào tay ai’’.

Vì lợi ích sống còn và hội nhập trào lưu tiến hóa chung của đất nước, để ngăn chận cơ nguy xuống dốc của thế hệ trẻ mỗi thời, vì đây cũng là trách nhiệm của mọi công dân không phân biệt khuynh hướng chính trị, tôn giáo, đảng phái, các nhà lãnh đạo cần ý thức tầm quan trọng cấp bách rõ hơn, định hướng giáo dục cho đúng, thích nghi, nếu không “trăm năm trồng người” cũng trở thành phí phạm hoài công, đáng trách và còn mang tội với núi sông.

Trần Thành Mỹ

Edited by user Thursday, November 23, 2017 8:23:28 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#48 Posted : Tuesday, January 16, 2018 6:18:37 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
UserPostedImage

DẬY MÀ ĐI


Phi trường JF Kennedy đây rồi, tên của một vị Tổng thống trẻ tuổi thần tượng của giới thanh thiếu niên thập niên 60 chẳng những Mỹ mà cả thế giới đều mê say tôn vinh một thời. Lần nầy sang Cali, chúng tôi được dừng lai gần ba tiếng đồng hồ ở Nửu Ước. Hi ! Xin chào các bạn ở vùng phía Đông của nước Mỹ nầy cách Bĩ trên 5 giờ bay.

Lần đầu tiên đến đây tôi tưởng chừng như gần các bạn mình lắm, thì giờ rảnh rỗi có thừa, tôi vội lấy quyển ghi đia chỉ riêng ra tìm hết tên của những người thân quen ở vùng nầy hình dung tưởng tượng nếu bây giờ thình lình gặp lại tại đây chưa chắc đã nhận ra nhau. Dù sao tôi vẫn cứ bám lấy hy vọng mỏng manh là trái đất tròn tôi sẽ gặp được người đồng hương, nên đi vòng lượn qua các tiệm ở trong phi trường, nhất là tiệm Á châu, biết đâu có hiệu mang tên Việt nam.

Thình lình mừng rỡ thấy cách trang trí sang trọng, mỹ thuật tiệm bán vật kỷ niệm và cả đồ trang sức với mẫu mã hoa văn kiểu Á Đông, tôi vội nhanh đến ngay. Một bảng hiệu lung linh nhè nhẹ làm nhòe mắt tôi không có âm vang tiếng mẹ và tôi vừa thấy hiện diện sau quầy hàng một cậu thanh niên còn trẻ có dóc váng Á châu. Nụ cười đon đả lúc đầu trở thành gắng gượng, tôi tìm kiếm chỗ ngồi nghỉ chờ.
- Mẹ đừng buồn ho^m nay không gặp người nào Việt ở đây, Mỹ rộng quá, ngay cả ở Zaventem Bỉ nhỏ hơn mà mẹ cũng ít có dịp thấy người Việt đâu, Nhất con trai tôi đoán ý nghĩ tôi, một thoáng kỷ niệm trôi về quá khứ. Tôi nhìn con chép miệng cảm ơn nhưng bụng cứ lẩm nhẩm vẫn biết rằng trí óc mình khuyên đừng nhớ mà tim mình cứ rình rình là bắt thang bay.

Phi cơ trực thẳng San Francisco lúc 18.45 h. Chúng tôi đã hẹn trước nên được đưa về nhà mới ở Foster City không xa phi trường San Francisco lắm khác Danville trước kia. Ngoại cảnh hoàn toàn khác nhau, mỗi nơi đều có vẻ đẹp thoáng riêng.

Nhà ở Danville nằm trên ngọn đồi cao mây bay lắm lúc như đùa lùa sờ đầu vuốt tóc, phong cảnh kỳ thú thần tiên thanh tịnh thế mà lại là nơi hội tụ của những biệt thự lâu đài đồ sộ hiện đại của những cự phách mới nổi tiếng nhất là trong lĩnh vực thể thao phim ảnh, với cấu trúc tân kỳ, trang bị tiện nghi vật chất với kỹ mỹ thuật khoa học hàng đầu hiện tại. Thông thường nhà nào cũng có hồ bơi, sân tennis, sân bóng chuyền, sân bóng rổ, xe hơi đắc tiền đủ loại Porsche, Mercédès, Roll Royce,...Ra đường thường gặp những chiếc xe đặc biệt chở hành khách thượng thặng “siêu sao “ trang bị từ đầu đến chân quần áo mũ đúng thời trang dụng cụ đi chơi golf. Cuộc sống ở đây sao mà như “lạc lối Thiên thai “.

Bất giác tôi nhớ đến nguồn gốc huyền sử tuyệt đẹp mà cũng chia đôi của dân mình “Con Rồng Cháu Tiên”, Lạc Long Quân dẫn 50 con về miền biển, 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên non.

Nếu trong một lúc bốc đồng nghĩ quẩn tạm tin rằng tất cả mọi người trên quả bóng xanh nầy chúng ta đều là con cái của một Đấng Tối Cao không phân biệt ai là Thiên tử con Trời, hay “quân tử” con vua, dân nước nầy nước nọ thì biết đâu trên đất Hoa kỳ nầy trước kia cũng từng có dân tộc Việt mình từng cư ngụ? Tưởng tượng thôi cho đỡ nhớ đất nước mình xa xôi vời vợi cho đến thế kỷ 21 nầy rồi mà vẫn có kẻ muốn chiếm người thèm.

Mà cũng có thể lắm chứ, nhớ lại người Việt nam đặt chân trên Mỹ lần đầu tiên và sống như một cao bồi chính cống, một nhà thám hiểm đi tìm vàng Ông Trần Trọng Khiêm (1821-1866) và sau đó trở thành nhà báo Việt đầu tiên Morning Post, Alta California, Daily Evening, đến Hoa kỳ năm1849.
Rồi đến ông Bùi Viện (1839-1878) nhà ngoại giao Việt thời vua Tự Đức đã hai lần sang Mỹ gặp Tổng thống Mỹ Ulysses Grant nhiệm kỳ (1868-1876), lần hai năm 1875 để tìm đồng minh giao hữu.
Hơn thế nữa, bằng cớ gần đây nhất là trên hai triệu người Việt ta đã trở về quê tưởng tượng trên từ thế kỷ thứ 20 sau 30-04-1975, nơi đất hứa mới thành hình trên ba thế kỷ nay đã đùm bọc nâng đỡ tạo một giàn phóng tốt cho những “người con lạc loài” và thế hệ kế tiếp thành những thành phần mới có tài hữu ích.

Ý tưởng lạc quan tin vào tình người vừa bay vút qua lại chạm vào thực tại, anh em trong gia đình cũng thường bất hòa lắm chứ. Lich sử loài người được lập đi lập lại chứng minh ta thấy rõ điều bất đoàn kết rồi và đáng sợ hơn là càng văn minh tiến bộ, đông đúc, con người càng tinh vi nhuần nhuyễn trá hình lột xác quên mất cội nguồn, hậu quả xấu cho cái ưu thế thượng đẳng của thế nhân trên mọi sinh vật khác trên địa cầu xanh nầy. Cái mấu chốt vấn đề là sự mâu thuẫn ở trong ta, giữa thân và tâm, thiện ác, xấu đẹp mà chúng ta khó phân biệt dung hòa cân bằng.

Rồi bấy giờ ngược lại chúng tôi lại đang ở Foster City bao bọc bởi những con đường nước dài rộng, nhà nhà đều có bến riêng cho tàu ghe xuồng dạo quanh ra đến vịnh San Francisco. Cảnh vật ở đây hoàn toàn khác hẳn bất giác làm tôi lại nghĩ đến huyền thoại Sơn tinh Thủy tinh nước mình. Cảnh trí ở đây thật êm đềm thơ mộng khác hẳn vùng đồi cao thay đổi bất chợt. Tấm thảm nước phản chiếu ánh sáng mặt trời lung linh kỳ diệu tùy cơn sức gió lồng qua thành những bức tranh thủy mặc tuyệt vời làm rung động tâm hồn.
Sao lại nhớ quê nhà chằng chịt với những con sông dài đầy thắng cảnh, thác ghềnh vĩ đại thử thách trí dũng con dân chưa có dịp khai thác đúng mực, kịp thời.

Việt nam ta thường tự hào về nền văn hiến trên 4000 năm, tự lập nuôi dân qua cách trồng lúa nước, kiên trì mở mang bờ cõi về phía Nam đến tận Cà mau, và đặc biệt biến miền đất mới với khí hậu nóng bức gió mùa, hoang vu đầy rừng rậm thú dữ trên bờ dưới nước thành vùng mầu mỡ trù phú nhất ba Kỳ.

Sự kiện nầy làm chúng ta liên tưởng đến trường hợp Hoa kỳ, một cường quốc chỉ được thành hình trên 300 năm như miền Nam, và cũng được bao di dân đủ màu da từ các nước khác nhau, phần đông phải vượt cả đại dương mênh mông như Hầu tước La Fayette (Pháp) đã dùng thuyền buồm Hermione đến Hoa kỳ năm 1870, sát cánh nhau xây đắp mở mang bờ cõi rộng lớn hạng thứ ba thế gìới.

So sánh các sử kiện trên ta có thể tự hào ngầm ví nước Việt Nam ta như là một Hợp Chủng Quốc thu nhỏ lại, mini. Mỹ có sông Mississipi dài rộng, Việt Nam ta có Mékong (sông Cữu Long), Mỹ với dãy núi Rocky Mountains, ta có dãy Trường Sơn, khí hậu thay đổi tùy vùng như miền Bắc nước ta với khí hậu tiếp nhiệt đớị (subtropical) và Trung Nam nhiệt đới...

Di dân đến Mỹ cũng đa dạng đủ loại da màu, nước Việt nhất là miền Nam cũng do công sức của bao dân tôc khác như Khmer, Chăm, Trung quốc Minh hương...

Mỹ cũng có chiến tranh Nam Bắc (1861-1865) chỉ có 4 năm, Việt nam ta cũng đã bao lần chia đất nước thành hai, dài nhất là cuộc nội chiến Việt nam kéo dài 30 năm (1945-1975).

Điểm đáng khen và đáng học hỏi ở đây là sau cuộc chiến khốc liệt giữa hai phe đồng hương thù địch chấm dứt, người Mỹ đã biết chấp nhận giá trị và tôn trọng phe thắng thua đều là những chiến sĩ dũng cảm anh hùng.
Dẫn chứng chẳng hạn như về việc đầu hàng, sử liệu ghi lại cho ta thấy hình ảnh tướng chỉ huy miền Nam thua trận Robert.E. Lee cưỡi ngựa đến nơi họp mặt hai bên giữa tiếng nhạc đón chào của đoàn quân nhạc chiến thắng miền Bắc.
Sau đó không có tù binh, không có trại tập trung cải tạo, đặc biệt trong nghĩa trang quốc gia Arlington (Virginia) còn có một đài kỷ niệm Confederate Memorial một khu mai táng tập thể các tử sĩ của hai miền Nam Bắc.
Bất hạnh cho Việt nam sau cuộc nồi da nấu thịt vì ý thức hệ đã không có tướng lãnh đạo chiến thắng anh hùng quân tử như tướng Ulysses S. Grant của miền Bắc Mỹ lúc bấy giờ.

Thế là nước ta cũng hội tụ bao điều kiện căn bản để tiến nhanh vượt bực nhưng tiếc rằng vị trí của ta rất thuận lợi cho mọi đường giao thông, một bao lơn rộng lớn cho hàng không hàng hải, tài nguyên thiên nhiên phong phú, dân số trên 90 triệu cần cù thích ứng nhanh, dễ biến thành một địa bàn tốt đẹp cho thị trường mới nhất cho thế kỷ 21 nầy mà mọi quốc gia lớn nhỏ đều tìm đến.

Hơn thế nữa, vì chiến tranh bao nhiêu nguồn sinh lực phí phạm, chất xám chưa biết trân trọng giữ gìn, tình yêu nước chưa được đánh giá trung thực, còn có bao kẻ hám danh ham tiền đã bán lương tâm linh hồn cho mộng quỹ. Tiếc cho dân tộc Việt ta thông minh cần cù nhẫn nại luôn cầu tiến đầy sáng tạo, bao nuớc ngoài ùn ùn đến xin đầu tư khai thác, nhiều nhà chính trị đã từng đánh giá Việt nam có thể trở thành một con rồng lớn ở Đông Nam Á như Tổng Thống Lý Quang Diệu (1923-2015) nhà lập quốc Singapore phát biểu, thế mà cho đến ngày nay bao nhiêu nước nhỏ khác như Nhật, Nam hàn, Thái lan và cả Singapore tiến bộ vượt nhanh hơn trở thành tự do dân chủ tự lập tự cường rồi.

Rút tỉa những bài học kinh nghiệm máu xương trong quá khứ xa gần, ta còn nhận chân rằng không có dân tộc khác nào dù là đồng minh ân nhân, anh em viện trợ giúp đỡ vật chất hay đánh giặc thay mình mà không ý đồ nào khác, vô vụ lợi, vì ngay cả các cường quốc giàu mạnh vẫn ưu tiên quyền lơi, phúc lợi an sinh của dân nước họ.

Dòng lịch sử trôi nhanh, thời gian không biết đợi biết chờ. Bây giờ là những giờ phút cấp bách quyết liệt tranh đấu để sống còn, gìn giữ bảo vệ đất nước hầu tiến kịp theo lịch trình tiến bộ toàn cầu, chúng ta nên luôn thức tỉnh, dậy mà đi, biết đoàn kết dựa vào lòng dân, thay đổi tư duy, nhận chân lỗi lầm quyết tâm cải tiến để phục vụ theo gương tiền nhân đã có công gầy dựng non nước chữ S cho đến ngày nay.

Trần Thành Mỹ
Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#49 Posted : Sunday, March 18, 2018 5:04:10 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
HOA ĐỒNG CỎ NỘI



Mật thập thò ở cửa trên tay bưng mâm quà nhìn vào trong phòng khách rồi khẽ lên tiếng : « Thưa bà con mới lên. Má con cám ơn bà về quà Tết và xin gởi kính biếu bà mấy món má con tự tay làm, bánh tráng nước dừa, bánh khoai môn . »
- Bánh khoai môn phồng mè nữa à, cám ơn má con quá. Bà nội có khoẻ không ? Sao con mang lên nhiều thứ quá vậy ? Tết nhứt mà không để ở nhà cúng ông bà, biếu bà con họ hàng. Hơn nữa, năm nào cũng vậy, bà cũng đã có nhờ nội con đặt mua dùm trước món bánh khoai môn đặc sản quê con đó.
Bà thích loại bánh nầy rất thơm ngon, dòn sôm sốp không dai bỏ vào miệng không cần nhai vì da bột vàng nâu thật mỏng mịn tan dần mà hương thơm còn vương trong miệng. Thật ra bà cũng chưa bao giờ thấy ở đâu có bán hết, người quê mình bảo là món bánh gia truyền của một tầng lớp gia đình giàu có sang trọng địa phương ngày xưa đặc biệt chỉ làm trong ngày Tết, cách chế biến được giữ riêng không phổ biến kinh doanh, dần dần chắc thất truyền luôn quá, tiếc làm sao.
À, con về nhà chắc vui lắm phải không ? Các em con chắc ‘trộng đại’ rồi, còn nhỏ mà tụi nó đã dễ thương và phép tắc lễ độ. Thôi con đi đưa quà cho dì hai để cất dùm, con tìm gặp Mai đi, Mai trông con lên lắm.

Mật vừa ‘dạ’ vừa rút lui nhanh. Mật năm nay 12 tuổi, dáng gầy gầy cao, so với trẻ cùng lứa, Mật có vẻ nhỏ con nhưng lanh lẹ và sáng sủa. Mồ côi cha lúc 8 tuổi, còn ba em nhỏ, ngoài việc đi học còn phụ mẹ việc trong nhà. Mật học đã xong cấp Tiểu học rồi nhưng cũng có phần vì hoàn cảnh gia đình cũng phần theo quan niệm thời bấy giờ, con gái không cần học cao làm chi, học chút đỉnh biết đọc biết viết biết đếm là đủ rồi.

Thông thường đối với người con gái quê khá giả nghèo nàn cũng thế, việc nội trợ luôn được bà mẹ luôn chú trọng dạy dỗ từ lúc chập chững biết đi. Nhất là trong dịp những ngày cưới hỏi tang giỗ Tết, công việc chuẩn bị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Gia đình khá giả thì cũng giữ truyền thống công dung ngôn hạnh, quan niệm rằng sau nầy dù giàu có làm chủ đi chăng nữa vẫn phải biết việc biết làm trông nom tính toán để giữ hạnh phúc gia đình qua bao tử, đồng tiền đồng ra, không bị người phụ giúp qua mặt khinh thường, tiết kiệm được tiền bạc. Các cô ít có của hồi môn thì càng phải chịu khó hơn do đó phần đông biết phận mình nhẫn nại, khéo léo, cẩn thận, biết lo.

Cây nhà lá vườn nên công việc của các bà mẹ quê không bao giờ ngưng nghỉ, con cái họ cũng phụ thuộc vào nếp sống thôn dã nầy. Ngoài việc giữ em, ẳm nách, đưa võng dỗ ngon dỗ ngọt cho em ngủ, Mật thấy một mình mẹ phải lo liệu mọi toan, thương mẹ nên làm gì giúp được mẹ chút nào thì hết lòng trong mọi công việc. Khi thì mẹ gọi
« Mật ơi, có rảnh hông, giúp má cái nầy đi. »
Lần khác mẹ lại nhờ « Má đi dọn giỗ sáng nay, nhớ nấu cơm phụ nội cho các em ăn, má cố về sớm rồi mới đi học nha. »

Con bé cũng « túi bụi » với hai « thằng giặc con » dễ thương của nó, hai đứa nhỏ còn ngán chị hai chúng nó còn hơn má chúng nữa. Chưa bao giờ chúng nó mét lại với mẹ gì cả vì có nói với mẹ thì có khi còn bị mẹ rầy hơn.
Mật biết phụ mẹ lựa gạo ra khỏi nếp để mẹ nấu xôi, công việc nầy thường nhàm chán quá lắm lúc làm Mật buồn ngủ, nhiều khi ngủ gật vì trưa nắng chan chan, gió hiu hiu thổi làm má phải nhiều lần khều khều lay dậy mới tỉnh.

Lắm lúc thằng Phận, thừa lúc mẹ không để ý, bứt một sợi tóc, bẻ cong làm đôi, se lại thành giây, đút vào lỗ mũi quậy quậy làm Mật vừa nhột vừa có cảm giác con gì bò trên mặt nên vẫn còn say ngủ, do bản năng đề kháng tự nhiên lấy tay quờ quạo phủi qua phớt lại hay quay mặt qua phía khác. Phận rắn mắt đâu chịu bỏ cuộc, tiếp tục « thọc cù lét » chị cho đến khi nào chị bừng mắt hắt hơi « ách xì » hoặc « chới với » la hoảng lên vừa chùi lia chùi lịa mũi mắt. Thủ phạm vừa chạy ra xa vừa cười vừa trêu : « Lêu lêu là chị hai ngủ gật, là chị hai ngủ gục hi hi ». Chị Thìn rầy Phận lấy lệ thôi và cả nhà cùng cười xòa.

Mật cũng biết phụ bà nội chẻ bẹ chuối tét thành sợi giây phơi khô để mẹ gói bánh tét ngày Tết, xếp lau lá chuối mẹ rọc chuẩn bị làm bánh ít. Việc nào khó khăn nặng nhọc hơn như rắm gạo, nếp làm bột tẻ hoặc quết khoai mì làm bánh tráng khoai mì nước dừa hay khoai môn làm bánh khoai môn phồng mè thì mẹ không nhờ phụ nhiều đâu.

May là còn bà nội già yếu mà còn khá khoẻ mạnh ở chung nhà, sự có mặt của bà nội vẫn là nơi nương tựa tình cảm và tâm lý cho cả gia đình. Ở nhà, dù không làm gì nặng được, bà cũng « lắt xắt » tối ngày, trông nhà đưa võng ru cháu, làm mọi việc lặt vặt bà làm được, sức khoẻ bà cho phép.

. Bà thương con dâu bà lắm. Con dâu bà góa bụa trong tuổi còn khá trẻ, đảm đang, gái bốn con mà còn thanh thon gọn gàng, bao nhiêu đám trực tiếp hoặc nói bóng nói gió cưới xin. Thế mà chị Thìn vẫn nhất định không bước thêm bước nữa, không tái giá tục huyền dù có lần bà có nói là bà để toàn quyền định đoạt đời của con dâu mình. Chị Thìn không hứa không nói gì cả, chị cười cười gật gật cám ơn rồi cũng không thấy gì xảy ra.
Ngộ là càng ngày chị tỏ ra quyến luyến gần gũi với bà hơn. Có lần chị « cắc ca cắc củm » để dành tiền trong con heo đất hầu mua biếu bà một cối ngoáy trầu bằng đồng thật, cái chày dèm dẹp có cán có núm hình tròn về nhà, tự tay ngoáy trầu cho bà và vui sướng nhìn xem bà ăn thử không phải nhai trệu qua trệu lại khó khăn vì chị thấy răng của mẹ chồng chiếc còn chiếc rụng xệu xạo quá rồi.
Chày và cối giã trầu

Bà Tám chỉ có một người con trai là ba Mật. Hồi còn sinh tiền, ông Tám cũng quí con dâu mồ côi nhà nghèo nầy, không ganh tị với bạn bè hàng xóm, không ngồi lê đôi mách giỏi dang chịu khó. Không bao giờ thấy chị than van nhất là trong thời gian cha chồng rồi đến chồng bệnh nặng. Và cũng nhờ vậy bà Tám mới có dịp gặp bà Ba.

Thời bấy giờ, bệnh viện chỉ có ở trên chợ tức là trung tâm tỉnh lỵ. Nhớ lại lần bà té nặng thập tử nhất sanh phải đi chuyên trị ở nhà thương lớn ở tỉnh, may nhờ người quen thân giới thiệu xin cho bà tá túc trong những ngày trị bệnh ở nhà dưới ngôi nhà tư của bà Ba. Thế mà bà Ba lại chẳng những để cho bà ở không lấy tiền mà còn tin cậy bà như một người bạn thân không phân biệt giai cấp sang hèn quê thành gì cả.

Cũng là người góa bụa đồng bạn đồng thuyền, bà Ba có hai con, Mai con gái lớn 21 tuổi đã học xong ở trường Nữ công gia chánh được bà chuẩn bị tiếp tục giữ tiệm may của bà. Trung 19 tuổi đã đi du học tự túc ở Pháp. Do đó bà cảm thông hoàn cảnh thiếu trước hụt sau của mẹ chồng con dâu bà Tám. Ngược lại bà Tám hết sức cảm kích biết ơn tấm lòng nhân hậu của người đàn bà giàu có thật khó tìm thấy trong xã hội kim tiền thời bấy giờ. Bà may mắn có quới nhân giúp đỡ trong bước đường cùng cực nầy nhưng vẫn không yên tâm vì biết mình không thể nào trả ơn được.

Tuy nhiên trong những ngày xa nhà, bà nhớ mấy đứa cháu nội của bà quá, thằng Phận thằng Phùng đứa cũng đã 10 đứa được 8 tuổi, bé Thu sắp đi học rồi. Có chúng nó bên cạnh, nhiều khi cũng bực bội vì chúng nó hiếu động, chơi giỡn không biết mệt, ít giữ yên lặng lâu được, trêu ghẹo nhau, gây gổ khóc bù lu bù loa, mét bà, con nít mà, làm trọng tài cho chúng không dễ đâu, kiện cáo tùm lum bà thông cảm chúng. Mà con nhà ở đồng đâu phải không thông minh, bà nghĩ rồi bật cười khan một mình, nhớ những trò chơi sáng tạo hay bắt chước thật dễ thương của giới trẻ thiệt thòi ít có tiện nghi, tiền bạc.

Nhìn thằng Phùng leo thoan thoắt trên cây me, chuyền cành nầy sang cành khác như vượn khỉ con lí lắt, miệng thì huýt sáo, nhại tiếng hót chim cú, trao trảo, chíp chíp chim con, mỗi lần chị Thìn nhờ con hái dùm lá me non hay trái còn xanh để nấu canh chua, bà hồi họp không dám cản nhưng chỉ đứng nhìn theo sát, miệng cứ nhắc chừng. Phận thích trèo me, nhất là hái được trái me dốt chua chua ngòn ngọt nó có dịp trêu chị Mật nó vì vừa thấy nó quay đôi môi nhai rôm rốp từng mắt me vàng tươi miệng chép chép nói nhom nhem là tự nhiên không kềm được nhịn thèm Mật phải nuốt nước bọt trào lên liên tu và có khi xòe tay năn nỉ xin cho cắn một miếng .
Tổ chim Trao trảo, dòng Dọc

Hai đứa nhỏ còn bắt chước được tiếng mèo ngao chó sủa gây gổ, hai anh em nó có lần làm trò hề đùa cho bé Thu, còn ngồi chồm hổm nhảy qua nhảy lại gầm gừ theo tư thế của hai con đang định xáp chiến quyết liệt. Chúng nó nhại cả tiếng gà trống gáy, gà mái bươi đất tìm mồi trùng giun gián gọi gà con, tiếng nghé ngọ trâu về chuồng, tiếng hí vang cả tiếng móng sắt của ngựa trên đường đá chưa lát nhựa, tiếng ễnh ương phình bụng to kêu khi trời mưa nước nổi, tiếng con ếch mà « muốn to bằng con bò », và không quên tiếng nghiến răng của cóc báo hiệu trời mưa :
« Con cóc là cậu ông Trời,
Ai mà trêu cậu là Trời đánh cho ».
Hai anh em còn dạy bé Thu bài thơ « Con cóc »
« Con cóc trong hang,
Con cóc nhảy ra,
Con cóc ngồi đó,
Con cóc nhảy đi”.
Hòn Con Cóc -Vịnh Hạ Long
vừa đọc theo nhịp vừa làm động tác kèm theo, vui ơi là vui ! Ôi còn bao nhiêu chuyện khác bà nhớ một lúc không nổi, không gặp được cháu mới thấy cuộc đời bà sao mà trống vắng quá, tiếng nói bi bô la khóc cười của trẻ vẫn là nguồn sinh lực cho các cụ nội ngoại mọi thời.

Khi bà còn ở nhờ bà Ba trên chợ, vài ngày chị Thìn cũng tìm cách vội vã ghé thăm mang chút ít tiền để bà “dằn túi” mua trầu cau, lâu lâu đưa các cháu lên thăm nội. Chưa có cháu bà Ba cũng rất thích mấy đứa nhỏ mặt mày có vẻ sáng sủa, lễ độ. Biết Mật đã đổ vào lớp Đệ thất trường công tỉnh lỵ mà không được tiếp tục học, bà đề nghị để Mật trọ ở nhà bà đi học và lúc rảnh phụ lặt vặt tiệm may học nghề. Thế là Mật bắt đầu từ giã từ làng quê, nội già mẹ góa em thơ ra tỉnh học lâu lâu mới có dịp về nhà một lần.

Từ ngày ông mất, bà Ba mở tiệm may vừa dạy may, may mướn vừa bán thêm hàng vải. Công việc của bà thật ra cũng bề bộn nhưng nhờ bà có mướn cô Phúc làm thợ chính, bà trước kia cũng là thợ may chuyên nghiệp rồi, bây giờ lại có thêm Mai nên tiệm bà luôn đông khách. Bà còn khéo ăn nói cư xử lại có óc thẩm mỹ trang trí trình bày, vui vẻ chìu khách tùy theo đối tượng khách hàng. Khi các bà lớn, khách sộp đặt may chẳng hạn, thông thường bà hay mang tận nhà riêng trình bày trước một số hàng mẫu để các bà lựa chọn, vừa ý, bà đo ni luôn nếu cần rồi về thực hiện theo sở thích riêng của mỗi người.

Bà chỉ dạy Mật và các học trò may từng đường kim mũi chỉ, khâu cắt tỉ mỉ. Bà rất yêu nghề nên rất tận tâm trong việc đào tạo con em quê nhà. Tiệm của bà tập trung nhiều cô gái trẻ nên nhiều cậu thanh niên cũng thích lượn qua lượn lại trước tiệm, có khi đứng ở đầu phố, ngả ba chờ các cô về tán tỉnh hẹn hò làm quen. Các bà có con trai cũng gấm ghé để ý xem thử. Hơn thế nữa, thời bấy giờ chưa có người mẫu, bà Ba có khiếu bắt mạch khách hàng mọi tầng lớp nên khôn ngoan ngoài việc trưng bày tác phẩm mới ở tiệm còn trang phục cho Mai quần áo đúng thời trang, một cách quảng cáo rất hữu hiệu.

Vài năm sau, sau khi ra trường về vừa phụ mẹ vừa đi dạy ở quê nhà, Mai lập gia đình theo chồng về Saigon, bà Ba càng thêm bận rộn hơn.Từ đó Mật trở thành như đứa con của bà vậy. Mật tỏ ra tháo vát, chịu khó thông minh lanh lẹ nên bà Ba rất tin cậy thương mến hết lòng. Mật vẫn vừa tiếp tục đi học vừa phụ bà Ba ngoài giờ đến trường. Hàng tháng cũng nhận được số tiền túi để tiêu dùng và đặc biệt số tiền lương nho nhỏ bà Ba gửi về phụ gia đình Mật. Mỗi lần các em lên thăm chị, Mật dẫn các em đi chợ mua quà bánh các em thèm, mua tập sách viết thêm cho các em. Các em Mật không phải đi trọ học vì đã có trường trung học trong quận nhà rồi. Càng ngày lớn lên, Mật có vẻ chững chạc điềm đạm mảnh khảnh nhưng toát ra một sức sống dễ lôi cuốn cảm tình.

Mỗi lần có dịp về vài ngày thăm gia đình, len lén ngắm con xinh đẹp trổ mã mà vẫn hồn nhiên lễ độ siêng năng như ngày nào, bắt tay vào phụ mẹ việc nhà, săn sóc nội, hỏi han về việc học các em, chị Thìn cảm thấy tim mình như oà vỡ,
“Cha mẹ ngảnh đi thì con dại,
Cha mẹ ngảnh lại thì con khôn”. (Tục ngữ )
để dấu nước mắt đoanh tròng, chị nhìn về phía di ảnh của anh trên bàn thờ nói nhỏ: “Con gái Mật chúng mình đó ba nó ơi ! Thương quá ơi là thương!”.

Còn bà Tám thì thôi không khác gì con dâu, bà cũng nghẹn lời cảm động trước sự trưởng thành tốt đẹp của đứa cháu nội gái lớn của bà, chưa bị ảnh hưởng bởi nếp sống hời hợt phù phiếm thị thành quên nếp nhà cần kiệm thảo ngay. Thỉnh thoảng nhớ gì bà tìm cách hỏi Mật lại để có dịp nhìn cô cháu gái bà rõ hơn và cũng để trắc nghiệm xem có đúng như bà nghĩ không. Bấy giờ bà mới thở phào vơi bớt nỗi lo vì trong thâm tâm bà, việc đưa Mận ra tỉnh học nhờ bà Ba tốt bụng vẫn là điều ray rức âm thầm của bà, một hình thức bất lực, bất khả kháng tự nuôi con cháu, một cách khổ tâm hơn như ‘bán cháu đợ con’.
- Mật à, con có buồn nội không, nội bắt con xa nhà lên ở với bà Ba ? Bà Tám nói nhẹ như ướm lời thú tội xin lỗi.
- Dạ không không, con không bao giờ dám buồn nội đâu. Nội thương tụi con lắm. Vì tương lai của con mà nội mới cắn răng đứt ruột để cho con đi xa đó. Má con bảo nội hy sinh cho chúng con rất nhiều quên cả tuổi tác và bản thân của nội đáng lý ra cần sự săn sóc và quây quần con cháu. Mận vừa trả lời vừa cảm động ôm lấy tấm thân còm cỏi run rẩy của bà nội già còn sống ngày nào là vẫn còn lo nghĩ cho cháu con.

Ba đứa nhỏ đang xúm xít chơi quanh thấy chị chúng ôm bà nội cũng vội chạy đến gần ngồi dưới chân bà Tám nhao nhao :
- Con cũng thương nội lắm, con rán ngoan học giỏi đạt nhiều điểm 10 cho nội vui nghe nội, bé Thu thỏ thẻ.
- Nội ơi, tụi con còn có một mình nội hà, nội mà có la rầy tụi con đi nữa cũng là vì lo cho tụi con, muốn dạy tụi con trở thành người tốt, má dặn đi dặn lại hoài như vậy. Má còn bảo nội la mà tiếng còn lớn, cầm roi nhịp nhịp dọa đánh được là má mừng vì nội còn mạnh khoẻ, Phận tiếp lời.
- Con còn nhớ mỗi lần con bệnh, mà ở nội trong nhà nầy con hay bệnh số dách, nội biết con ưa uống sữa bò hiệu “Con Chim”, “Ông Thọ”,



thế nào nội cũng nhờ ai đi chợ mua dùm. Vậy mà khi nội bệnh, con nói má mua hộp sữa để nội uống cho dưỡng sức, nội rầy rà um sùm xài phí vô ích, không cho khui ra, đưa cho nội để chừng nào nội cần thì uống. Ai dè nội cất đi để rồi đem đi biếu người bệnh khác.Nội không những lo cho con cháu mà còn hay giúp đỡ ai cần, Phùng vừa nói vừa bóp xoa chân bà nội trìu mến.
- Nội đừng lo cho con nhiều. Con cũng lớn rồi, là chị cả ba đứa em. Con may mắn được ở bên bà Ba, một người đàn bà nhân hậu trên đời. Vì vậy càng được bà tin thương, con luôn cố gắng xứng đáng phần nào với lòng tốt của bà. Bây giờ cô Mai đã mở tiệm may ở Saigon lại sắp có con, cậu Trung học bác sĩ ở Pháp chắc cũng chục năm nữa mới về, bà vui mà cũng cô đơn lắm nội à.
- Nội đội ơn bà Ba không bao giờ trả được.Nội chỉ biết cầu Trời khẩn Phật cho bà khoẻ mạnh thôi.
- Bà Ba cứ mong nội có dịp lên thăm ở lâu lâu chơi với bà. Bà bảo tụi con nhờ có đức của nội nên tụi con mới ngoan ngoản như vậy. Bà thích bàn chuyện với nội, gần nội bà cảm thấy yên tâm thư giản hơn. Nếu mà nội không phải giữ nhà thờ từ đường mồ mả ông bà và lo việc ruộng vườn thì bà sẽ mời cả gia đình lên ở trên ấy luôn.
- Có lần bà có nói mí với nội, nội cũng suy nghĩ thực hư. Nhưng về đến nhà, nhìn thấy má tụi con và mấy đứa nhỏ mừng rỡ rối rít vây quanh, nội không nở lòng nào bỏ đất bỏ làng quê mình được. Thôi thì có bị mang tiếng bội bạc cũng đành.
Thế là mấy đứa nhỏ la reo: Nhất là nội rồi.Hoan hô nội !

- Mà nội ơi, nội có biết là cô Mai và cậu Trung là con nuôi của bà Ba không?
- Bậy nà, không, sao con biết ? Có thật như vậy không?
- Chính bà nói với con sau khi đám cưới cô Mai. Thế là thế nầy, lúc đầu thấy con sau khi đi học, về nhà con không bao giờ dám nghỉ ngơi học bài gì cả, vừa học may vừa chạy chỗ nầy chỗ kia mua nầy nọ, ai sai đâu đánh đấy. Tối đến mới học bài nhưng mệt quá có khi ngủ quên gục đầu trên sách. Bà thình lình phát giác ra, lay nhẹ dậy, khuyên con đi ngủ rồi sáng sớm hôm sau bà gọi dậy học bài. Con sợ bà giận đuổi không cho trọ nữa nên tỉnh ngủ luôn nhưng không dám cãi lên divan nằm khóc rồi ngủ quên tới khi bà sang gọi. Sau đó bà ôn tồn nói:
- Cháu phải biết là cháu được nội cho ra đây để học chứ không phải làm công, việc chánh của cháu là học, rồi mới làm việc khác lúc rảnh rỗi như học một nghề tay trái. Bà có đủ sức lo cho cháu học, từ đây cháu như là con cháu trong gia đình rồi, như cô Mai vậy, cháu phải biết bổn phận của mình rõ ràng. Ngay hôm đó, bà bảo cô Mai làm thời khóa biểu hàng tuần cho con rồi sau đó từng tháng để cứ theo đó mà làm.

Bà hiểu tâm lý lắm, bà biết con sợ bà và nhớ nhà nên luôn luôn có vẻ săn sóc con hơn và hay kể chuyện nầy chuyện nọ như về cô Mai ngoan ngoản mau miệng và cậu Trung dễ thương mà ít nói hơn, nhưng cả hai có hiếu lắm. Do đó con biết thêm cô cậu thích ăn gì, sợ gì và thích ai nữa. Và cũng vì cậu Trung đi học xa, có lẽ nhớ con nên bà quyến luyến với con hơn. Bà kiểm soát việc học hành của con nếu cần bà còn tìm thầy cho con học thêm nữa. Bà nhờ con viết thư dùm cho cậu Trung, bà đọc con viết, bà bảo chữ con đẹp để cậu đọc cho dễ, chữ xấu cậu lười đọc rồi quên dần tiếng mẹ đi.
Buồn cười hơn bà bắt con học tư thêm tiếng Pháp để rồi trong thư nào cũng có một vài câu ngắn bằng tiếng Pháp cho cậu “ngán” chơi vì ngày còn nhỏ cậu Trung ghét văn phạm Pháp khó quá, cậu cứ càu nhàu là “văn phạm pháp”.
- Thật là một người đàn bà hiếm có biết thương người và vì người.
- Bà nhờ con viết đều đặn, mỗi cuối tuần, Bà kể chuyện nhà, tình hình trong nước, thời trang, văn nghệ, như là bút ký của bà vậy. Bài hát nào thịnh hành, ca sĩ nào bà thích, Thái Thanh với ban Thăng long chẳng hạn, “ Duyên quê” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có cậu cháu Thần đồng vĩ cầm tí hon” Hoàng Thi Thao, nữ ca sĩ Thúy Nga có mái tóc thật dài và trình diễn với chiếc đàn phong cầm, sau đó trở thành Hoàng phu nhân. Tân nhạc cũng thích mà cổ nhạc cũng mê, đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga với “Con gái chị Hằng”,đoàn Kim Chung, hát cải lương Hồ Quảng đoàn Bầu Thắng với Thành Tôn, Minh Tơ, Khánh Hồng, hát bội bà kể không chán tuồng“Thần nữ dâng Ngũ long kỳ“, chuyện cô năm Phỉ nổi tiếng “như cồn”năm 1931 lần sang Pháp ca diễn, bà Cao long Ngà, Phùng Há Bảy Nam, kịch Kim Cương, Bích Thuận Bích Sơn, hài kịch với Trần văn Trạch, Tùng Lâm,….

Hát bội

- Mật, nảy giờ con quên khuấy chưa nói tại sao bà Ba lại kể chuyện riêng tư ấy cho con.
- Một hôm, thư cho cậu Trung, bà báo tin bà dì xuất gia từ lâu của cậu qua đời ở chùa. Viết đến đấy, con tưởng bà đọc lộn vì con biết bà là con một chẳng có anh em gì nên hỏi lại. Bà ra dấu đừng ngắt lời và tiếp tục kể chuyện nầy chuyện khác con không còn nhớ nổi. Tối đêm đó, bà kêu sang bên bà ngủ, rồi bà trút bầu tâm sự cho con nghe.

Ông Ba ngày còn sinh thời rất hào hoa phong nhã, thuộc gia đình khá giả. Ông làm y tá và bà làm thợ may tại nhà. Cuộc sống thật yên vui êm ấm. Bà đã có thai hai lần nhưng đều không giữ được. Ông lại giao thiệp rộng, kết bạn với nhiều người nên thường dự tiệc tùng nhậu nhẹt đánh tứ sắc giải trí với nhau. Ngoài việc gác đêm ở bệnh viện, lâu lâu ông cũng đi đánh bài “đậu chến” thường ở nhà các ông bà lớn có địa vị giàu có, ông bà phủ, huyện trong tỉnh suốt cả đêm. Bà xem chuyện vắng nhà của ông là thường tình không có gì phải ghen tuông la ầm lên làm ông mất mặt. Vả lại bà nghĩ ông cũng buồn hiếm muộn chưa có con nên tìm cách giải khuây thôi chứ không lo “cờ bạc là bác thằng bần”, ông sẽ thua bạc nợ nần thụt kết.

10 năm sau, đường con cái như tắt nghẽn. Sức khoẻ của ông bà không có vấn đề gì nhưng lắm lúc ông bà cảm thấy hiu quạnh, buồn thiu. Ai hỏi thăm thì ông bà đều chối phăng cho rằng nhìn quạ ra quốc, chuyện gì đến thì đến, không thì không, lo cũng bằng thừa. Cho đến một hôm, trời mưa như trút, bà chờ ông về ăn cơm chiều như thường lệ, ông vào nhà cởi áo mưa, mặt mày nhợt nhạt, mắt quầng thâm. Bà vội đưa khăn cho ông rồi vội vã đi hâm nóng thức ăn đem ra. Nhưng ông ngăn lại và nói:
“Tôi muốn bàn chuyên với bà, quan trọng lắm, bà ngồi xuống đi, xin bà đừng chận lời để tôi nói một mạch cho hết rồi tùy bà quyết định. Tôi cũng đang rối trí quá nên không biết nên xử sự làm sao. Bà biết vợ chồng trẻ y tá Sinh Hồng trước kia làm việc ở đây rồi đổi về Mỹ tho. Anh Sinh mất thình lình như bà biết khi đứa con gái đầu lòng chưa 3 tuổi đứa con trai chưa ba tháng. Vì tứ cố vô thân, hai anh chị đều mồ côi sớm hết, chị Hồng xin nghỉ việc tìm cách sinh nhai khác để có thể vừa làm việc vừa nuôi con.

Hôm nay nhân dịp lên Mỹ tho dự lễ khánh thành một trạm xá mới, nhớ nhà của anh chị ấy không xa lắm nên sau lễ ghé thăm. Bà biết không, vừa thấy tôi, chị ấy mừng đến phát khóc. Tôi ngạc nhiên cảm động nhưng không tỏ gì dù tôi cảm thấy có gì là lạ xảy ra. Chị vội vã mang hai con ra trình diện, thằng bé chưa thôi nôi, tôi thấy hai đứa thật dễ thương nên có lời khen.
Bất thần chị quì xuống lạy “như tế sao”, khẩn khoản tôi về bàn với bà nhận hai đứa làm con nuôi. Chị cho đứt luôn cũng được, nếu muốn đổi họ sang của tôi, tùy mình thôi. Chị bị bệnh nan y thời kỳ cuối rồi, chắc không sống lâu. Mà có sống bệnh hoạn như vậy làm sao nuôi con nổi. Chị không muốn cho các con vào viện mồ côi, nhưng nếu không có ai cứu giúp xin nuôi thì cũng phải đành thôi. Chị bảo là có lẽ là Trời thương và anh ấy “sống khôn thác thiêng” nên khiến xui tôi đến thăm đúng lúc ngặt nghèo nầy. Chị còn tiết lộ là chị còn định làm liều, nếu tới đường cùng, sẽ đem hai đứa nhỏ giao đại cho vợ chồng mình vì chị ấy biết chúng mình rộng lượng nhân từ”.

Thế là sáng hôm sau ông bà lên gặp chị Hồng để làm thủ tục nhận con nuôi. Bà Ba còn đem chị Hồng về nhà bà một thời gian cùng với hai con trước khi bị bắt buộc phải nằm bệnh viện điều trị tích cực lâu dài. Bà đài thọ mọi chi phí, lâu lâu bà dẫn hai đứa nhỏ lên thăm mẹ nhưng chị Hồng càng ngày càng sa sút tiều tụy quá, chị muốn cho các con giữ hình ảnh đẹp của mẹ nên nhất định xin bà từ từ đừng đưa các con đến thăm.Cho đến khi qua đời, mặc dầu thân xác bị bệnh tật hoành hành đau đớn tột cùng, chị cảm thấy yên tâm thanh thản ra đi vì còn niềm tin vào tình người thật sự.

Lúc đầu cũng có dư luận cho rằng Mai và Trung là con rơi của ông vì thấy ông bà cưng chìu con hết mực .Bà Ba phớt lờ tin nhảm ấy bà cứ đường bà bà đi, bà vui vẻ tuyên bố: Chuyện gì mình làm được thì làm, chuyện phải nữa thì sao lại không làm. Mình thương lo dưỡng dục ai như con của mình thì đó là con mình rồi. Không mang nặng đẻ đau mà có con thế là hạnh phúc nhân đôi. Phải biết cho mới đánh được tầm mức giá trị của cái tâm cao thấp như nhận được gì rồi cũng phải tự vấn vì sao nguyên nhân, mình có xứng đáng với ân huệ ấy hay không.”

Vài năm sau ông Ba cũng qua đời không có dịp nhìn được thành quả tốt đẹp của các đứa con mà ông bà thương yêu hết lòng. Bà Ba lại một mình chống chèo tiếp tục bổn phận nuôi con, bây giờ là Mật. Tuổi càng cao, bà còn sốt sắng hơn trong việc từ thiện, bà cũng thích con cháu quanh bà. Hai đứa cháu con của Mai cứ có lễ nghỉ là đòi về ngoại. Vợ chồng Mai cũng thế luôn lôn sắp xếp việc nhà để có thể thăm bà vì bà bận rộn luôn nhất là trong ba năm Mật đi học trọ ở nhà Mai.

Mật tốt nghiệp, bà Ba giao dần tiệm cho Mật như cho Mai trước kia. Mật cũng được bổ nhiệm dạy ở trường trung học công lập bấy giờ. Mấy đứa em của Mật học rất giỏi, Phận năm thứ nhất Y khoa, Phùng và Thu còn học trung học. Chúa nhật nào rảnh, Mật cũng về nhà thăm gia đình, bà nội vẫn còn sống. Vài người mai mối hỏi ý thăm dò, chị Thìn cũng vui nhưng chưa có ý kiến vì chị nghĩ chắc Mật không còn thích hợp với cuộc sống làm dâu ở đồng quê đâu.

Luôn luôn cầu tiến, Mật trau giồi thêm sinh ngữ, để có thể đọc sách báo ngoại, theo dõi sinh hoạt phong trào văn hoá nghệ thuật các nước văn minh, học thêm nghề phụ khác như làm hoa nhân tạo, nghệ thuật cắm hoa trang trí nhà cửa. Mật săn sóc bà Ba từng miếng ăn thức uống, cụ bị sẵn quà bánh trái cây tươi ngon trong vườn gửi biếu gia đình Mai mỗi lần có dịp nhất là từ khi Phận đi học ở Saigon. Mật đã có lần thưa với bà Ba xin cho Mật trở về gia đình khi nào cậu Trung về nước vì Mật đã biết cậu đã học xong xuôi rồi, định xin ở lại thêm hành nghề bên ấy một thời gian để rút kinh nghiệm. Bà Ba không ngăn cản Trung nhưng Mai phản đối quyết liệt yêu cầu Trung phải về vì bà Ba bề ngoài khỏe mạnh nhưng người già như ngọn đèn dầu có thể bị tắt thình lình.

Cả nhà ra phi trường Tân sơn Nhất đón Trung và đưa thẳng về nhà bà Ba. Mật không thể cùng đi đón đưọc vì phần có giờ dạy, phần khác phải lo trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bữa cơm gia đình đoàn tụ, “áo gấm về làng”.
Điều mà người ngoại cuộc không bao giờ đoán được là trong bao nhiêu năm thư từ thường xuyên chưa bao giờ bà Ba kể đến tên Mật, Mật biết rõ điều đó vì chính Mật viết thư thay bà nhưng đọc thư của Trung là phần việc riêng của bà Ba và Mai. Ngay cả ảnh của Trung gởi về, bà cũng chỉ xếp vào album gia đình âm thầm thản nhiên vậy thôi, không đem hình ra phê bình bàn tán.

- Cô Mật kìa, anh Phúc ơi, cô Mật đến kìa, Hạnh thình lình reo vang nhảy ra khỏi lòng của Trung rồi lật đật cùng anh chạy nhanh ra cửa.
Ngạc nhiên lần đầu nghe tên nầy và cũng không hiểu tại sao có sự có mặt hôm nay trong bữa cơm riêng thân mật gia đình, Trung tò mò đi lần theo ra đứng sau cửa sổ. Một cảnh tượng sống động làm mềm lòng người, một cô gái trẻ tóc buộc đuôi gà cao tươi cười một tay bồng bé Hạnh đang quấn vòng tay bé nhỏ quanh cổ cô ép đầu vào má của cô, tay kia nắm lấy tay Phúc đang ngước nhìn lên ríu rít gì nói lung tung không biết rồi cả ba vừa cười vừa đi vào nhà theo cửa hông. Phân vân Trung cố moi óc trong kỷ niệm tìm tên và hình dáng nào giống giống như vậy không. Chẳng lóe một tia sáng nào.

Điều mà Trung thắc mắc hơn là vai trò của cô gái trẻ nầy trong nhà. Dường như cô ta chiếm được cảm tình mọi người, bằng cớ là chẳng những hai đứa cháu mà hiện giờ cậu đang nghe tiếng chuyện trò rộn ràng ở nhà bếp Trung còn nghe tiếng Khải chồng Mai vang vang từ ngoài vườn kêu nhờ:
“Dì Mật ơi, có rảnh tay ra phụ dượng đốn quày chuối sứ “chín cây” nầy sai quả quá và nhân tiện rã từng nải ra luôn, ăn liền được rồi ngon lắm. Nếu để qua đêm nay, e chim mổ ăn hết uổng quá”.

Nghe vui vậy thôi nhưng còn hơi mệt vì giờ giấc khác biệt, Trung ngả mình trên chiếc ghế xích đu xưa lâu đời rồi mà còn bóng lộn đảo mắt nhìn chung quanh phòng khách.
- Mẹ lớn tuổi rồi, Trung nghĩ, mà đầu óc còn tiến bộ thật. Phòng ốc sạch sẽ trang hoàng thanh lịch, trang trí trình bày tỉ mỉ có nghệ thuật. Hoa tươi được cắm trong những chiếc lọ hài hòa thật mỹ thuật thường chỉ tìm thấy trong tiệm bán hoa. Một bàn ăn dài phủ trên chiếc khăn bàn thêu đã được sắp đặt chén đũa sẵn rồi cho buổi ăn hôm nay.” Bà già” đảm đang khéo léo quá.
Mỉm cười Trung lim dim rồi lịm dần trong giấc ngủ êm đềm cho đến khi cả nhà đã ngồi bàn rồi, bà Ba mới lay gọi Trung.

- Xin lỗi cả nhà. Ngủ quên mà chưa bao giờ ngủ ngon như vậy, Trung vội vã đứng dậy theo bà Ba sang bàn ăn, mời mẹ và anh chị. Ồ các món ăn sao mà thấy hấp dẫn, thịnh soạn quá.
Không khí gia đình thật ấm cúng thân tình làm sao. Trung cũng mới gặp anh rể kỹ sư Khải lần đầu nhưng thấy quí mến anh ngay. Khải điềm đạm mà vui tính, ăn nói chững chạc khiêm tốn mà hài hước, bà Ba thường hỏi ý kiến Khải trước nếu cần như con trai bà vậy. Cả nhà tự nhiên ăn nói vui vẻ.
- Món nào cũng được trình bày công phu đẹp mắt lại thật ngon. Ở bên Pháp lâu lâu cũng có đi ăn món Việt chứ đâu dám chi phí nhiều về điều khoản nầy, mà có tiệm nấu hợp với khẩu vị mình, tiệm khác ít hơn, nên dần dần có thèm thì hùn tiền với nhau tổ chức nấu nướng chung hoặc phân công ai biết làm món nào thì nấu đem đến. Tha hương nhớ món ăn quen thuộc lắm, gì cũng ngon.
- Vậy anh đố cậu biết ai làm đầu bếp chính bữa ăn hôm nay đây, Khải hỏi.
- Con biết, con biết , Hạnh Phúc tranh nhau đưa tay cao lên, Phúc còn dợm chạy đến Trung để mách cậu câu trả lời nếu Mai không trừng mắt suỵt khẽ.
Trung ngớ trước câu hỏi của Khải nên do dự đưa tay trỏ về phía mẹ rồi phía Mai. Hai đứa nhỏ lắc đầu nguầy nguậy tay chỉ lia lịa về phía Mật làm cả nhà cười ồ lên còn Trung thì mắt miệng mở to mà phát âm nhỏ khào khào gật gật đầu như đã hiểu ám hiệu các cháu “cô đó đó à”.
Bà Ba cười lên tiếng đỡ lời:
- Đúng đấy. Hồi này định giới thiệu nhưng thấy con mới thức dậy rồi quên luôn. Mật hiện là giáo sư trọ ở nhà mình, trọ lâu rồi từ lúc còn đi học ở trung học cho đến bây giờ. Ngoài ra Mật còn giúp mẹ điều hành tiệm may nữa. Con chào và cám ơn Mật đi.
Trung nghiêng mình về phía trước vì hai người ngồi cùng một bên bàn ăn nhìn Mật, đưa tay lên cao vẫy vẫy:
- Chào cô Mật được biết cô. Cô mà được má tôi và chị cả tôi khen tài nội trợ là điều chắc chắn hiếm hoi ít có rồi. Tôi chỉ xin tận hưởng nhâm nhi thưởng thức thôi, cám ơn cô.
Bình dị tươi tỉnh như thường Mật nhìn đáp lại một cách hồn nhiên “Cám ơn cậu” rồi đứng dậy cùng với Mai dọn cho bàn trống đi. Phần tráng miệng là đĩa hoa hồng bằng rau câu rất đẹp mắt trông như thật. Kế bên là mâm trái cây nhà, nào là đu đủ, chuối cao, xoài cát, ổi xá lị, trên hết là trái thanh long hồng hồng tim tím.
- Người Việt mình chẳng những ăn bằng miệng mà còn bằng mắt, hay đúng hơn cả ngũ quan. Món ăn trở thành một tác phẩm nghệ thuật, tuyệt quá, Trung vừa thử ăn món thạch ưóp lạnh vừa mát vừa lạ miệng.


Sau bữa cơm đó, ai cũng trở về với công việc thường nhật. Những ngày Trung còn nghỉ, bà Ba ít ra tiệm vì phải ở nhà riêng để đón tiếp bạn bè thân nhân đến chúc mừng. Khi Trung báo tin sẽ trở về nước, bà Ba đã sắp xếp mọi công việc nhà đâu ra đấy, còn về nghề nghiệp của con là để Trung quyết định. Bà mượn thêm một bà giúp việc phục vụ chỉ ở nhà bà, dùng cơm với con và về nghỉ ngơi ở đấy.

Mật ở trên lầu tại tiệm may, bà bếp cũ cũng vẫn còn mặt thường xuyên. Khi Mật nhắc lại việc xin trở về nhà không tá túc ở đây, bà Ba khẩn khoản Mật đừng đi, thậm chí bà còn đích thân đến nhà Mật xin cho Mật ở lại giúp bà. Và theo yêu cầu của Mật, bà để cho Mật ra riêng nhưng ở tại tiệm may của bà. Vì vậy bà sửa sang trang hoàng lại căn lầu thật tiện nghi, bà bảo:
- Trung nó đã về, bà mừng thật mừng. Rồi đây khi cậu ta lập gia đình, bà sẽ để ngôi biệt thự ấy cho vợ chồng nó, bà về lại dưỡng già ở ngôi nhà kỷ niệm nầy của ông bà với con nha. Mà à đâu được, con cũng lập gia đình nữa chớ, con cũng theo chồng như con Mai. Hay là nếu hai đứa con bằng lòng về ở nhà nầy thì hay biết chừng nào.
Mật cảm động đến tận cùng, chỉ biết ôm nhẹ cánh tay bà ứa nước mắt nói:
- Bà ơi, gia đình con mang ơn bà sâu rộng không bao giờ trả được, mà bà, bà cũng chẳng bao giờ nhớ kể công đâu. Con có ngày nay là cũng do bao công sức nuôi dạy của bà. Con không dám hứa trước với bà điều gì mà con không biết xảy ra trong tương lai, nhưng nếu có sự việc xảy ra như bà đã nghĩ thì con cũng chỉ cầu xin như thế để được luôn ở bên bà.
- Cám ơn con, bà chỉ còn mong con hạnh phúc là bà mãn nguyện rồi.

Vài tháng sau, Trung được bổ nhậm làm việc ở bệnh viện tỉnh nhà. Bà Ba vội vã mở phòng mạch riêng cho Trung. Trung dù mới về nước nhưng với mảnh bằng tốt nghiệp ở Pháp, tướng tá cao ráo dễ nhìn, ít nói điềm đạm tận tâm nhất là còn mang đính bài độc thân, tiếng đồn gần xa, khách bệnh càng ngày càng đông và đặc biệt là danh sách “chiêu hiền thê” do mai mối giới thiệu tự động dài ra.

Mà ở đâu cũng thế, vấn đề hôn nhân luôn là đề tài tranh luận bàn tán phê bình góp ý, có dai như cao su, ngán như cơm nếp mắc mưa thế mà mấy ai thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn đó. Trong một tỉnh nhỏ, có khi chuyện bé xé ra to, tin tức qua đường dây truyền miệng cũng nhanh chóng cấp kỳ “ tam sao thất bổn” từ voi thành chuột, cá hóa thành rồng, thất thiệt.

Bận rộn luôn, Trung ít có thì giờ nghỉ ngơi du lịch giải trí thế mà cũng không được yên trong sở như ở nhà. Nay nhà nầy mời ăn giỗ, ngày khác tiệc mừng viện đủ lý do. Thật ra cậu ta cũng thích, nhưng không biết tại sao chưa có cô nào có thể làm cho cậu tin được, có lẽ bị “trượt vỏ dưa thấy vỏ dừa cũng sợ”.Chỉ có một mình bà Ba được Trung tiết lộ một lần chuyện tình cảm éo le của mình cho mẹ nghe thôi. Do đó dù nhờ Mật viết thư sang Pháp, không bao giờ bà để Mật đọc thư Trung gửi về và không bao giờ nêu tên Mật trong thư. Bà muốn bảo vệ Mật cả Trung, tình cảm con người lắm lúc như con ngựa bất kham không biết lúc nào trở chứng.

Vốn là khi học Y khoa,Trung đã yêu một cô bạn Pháp con một nhà giàu cùng lớp. Cuộc tình thật đẹp thắm thiết sâu đậm. Ba má của Gisèle cũng chấp thuận chàng rể khác chủng nầy không đắn đo kỳ thị. Gần đến năm tốt nghiệp, họ quyết định cưới nhau, Trung mới viết thư về xin phép mẹ và xin ở lại hành nghề bên ấy. Vì Mai không biết chuyện tình của Trung nên quyết liệt phản đối, Trung mới bàn lại với hôn thê. Không ngờ Gigi giận dữ đưa tối hậu thư, một là cưới và ở hẳn luôn bên ‘ mẫu quốc’, hai là cắt đứt ngay. Trung cố giải thích hết lời vì anh chỉ còn có một mẹ già, bổn phận con cái hiếu thảo là phụng dưỡng mẹ cha và nếu thương anh thì theo giúp anh làm tròn nghĩa vụ ấy. Anh cũng đề nghị là Gigi cứ về thử sống quê chồng một thời gian, không được thì chừng đó tính lại sau. Vô ích, chẳng những không cho Trung gặp lại nàng mà còn để chọc tức Trung, ngang nhiên cặp bồ mới và dẫn thẳng giới thiệu với Trung. Ngán ngẫm tình đời, tình yêu trở mặt, vị bác sĩ trẻ trở về với mẹ, quê hương.

“Con đừng lo gì cho má cả. Nếu con thấy phải ở lại thì tùy con, đừng làm điều gì mà sau nầy mình ân hận thì thôi. Bên nầy mẹ còn có gia đình chị Mai và bà con thân thuộc, chỉ thương con xa nhà thiếu thốn tình thương thôi” Trung nhớ lại từng chữ mẹ viết và nhận thấy rằng tình bà mẹ Việt nam thật vô bờ khoan dung không ích kỷ, như dòng nước từ nguồn chảy xuôi ra biển chứ không bao giờ thoát ngược trở lộn lại nguồn.
Khi gặp lại con, nhân lúc chỉ có hai mẹ con, bà Ba nhìn sâu vào mắt con trai thì thầm:
- Sao con lại về? Con không thương cô ấy nữa à? Có phải vì mẹ không? Lý do nào cũng không vững hết, làm vậy là bất nghĩa con biết không?
- Hết rồi mẹ à, con sẽ kể rõ cho mẹ sau.
Thế mà từ đó, Trung cảm thấy như tìm lại dần dần sức mạnh tinh thần truyền qua từ lòng từ tâm hy sinh của mẹ, giúp anh dứt khoát đoạn tuyệt được với cơn thất vọng bị khinh khi phản bội lạnh lùng tàn nhẫn, gầy lại niềm tin vào cuộc sống con người.
Không còn gì có thể chận bước anh làm lại cuộc đời hữu dụng và hạnh phúc, không chỉ vì bị một lần ngã ngựa mà mấy người nài “cứng cựa” lại phải bỏ nghề.

Những người nài ngựa

Riêng bà Ba, từ khi biết chuyện rõ ràng, thương con bà không bao giờ đề cập vấn đề hôn nhân với con dù bà luôn mong con tìm được người hợp ý. Trong lúc đó bà còn phải đối phó với bao người quen bạn bè nhờ bà về việc làm quen cưới xin cô giáo sư trọ ở nhà bà. Lu bù công việc, quá quen với sự có mặt thường xuyên bên mình, bà quên khuấy mất là Mật đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành đàng hoàng đảm đang đẹp đẽ. Bất giác bà nhớ thấy Mật quá, lâu rồi bà chỉ xẹt qua tiệm có khi không gặp Mật, bà trách mình sao mà tắc trách quá vô tình, con gái cần phải chăm sóc hơn mới đúng.
Nghĩ là làm ngay sợ quên, chiều hôm ấy, sau ăn cơm xong, bà rủ Trung sang tiệm may cho biết và nhân tiện mời Mật sang dùng cơm với cả nhà luôn cuối tuần có cả gia đình Mai về thăm.
- Mẹ ơi, ngộ thiệt, sao mà mẹ con mình nghĩ giống nhau quá! Con cũng định thưa với mẹ sang thăm cô ấy vì hồi sáng nầy có mấy người ở chỗ con làm hỏi thăm Mật đó. Bà y tá trưởng thì bảo con gái của bà thich giờ dạy của cổ, viết chữ đẹp dạy hay mà còn khéo léo tự may quần áo thật chic đúng mốt mà không diêm dúa, sang trọng quí phái.
- Mà thật đúng như vậy, tụi nó còn chưa biết tài nội trợ của con Mật nếu biết chắc còn khen nhiều hơn.
- Cô khác nói may áo dài ở tiệm mình, cô Mật làm giáo sư vậy mà thật bình dị vui vẻ khi đo ni khách hàng, cô ấy còn thêm, cổ là con gái mà còn thấy ‘mê’ cái hồn nhiên dịu dàng không điệu bộ của Mật.
Anh y tá đứng bên lại cười cười hỏi con:
- Tôi đánh cá với cô Tâm là bác sĩ không hảo ngọt, vậy đúng không bác sĩ?
- Tôi không biết anh hỏi để làm gì nhưng tôi cũng trả lời anh, theo cả hai nghĩa trắng lẫn đen, tôi không thích ngọt lắm, hảo ngọt càng không.
- Cám ơn bác sĩ, tôi “ăn cá” rồi vì ở nhà của bác sĩ có một thứ hàng quí cao cấp về ngọt là Mật, chữ M viết hoa, mà bác sĩ chẳng hay chẳng biết bất cần không để ý trong khi nhiều người thèm thuồng rắp ranh định nhào vào tán tỉnh “xin cua” (faire la cour).
Cả hai mẹ con cười ngất rồi vui vẻ sang thăm Mật.

Lần nầy gặp lại, Trung ngạc nhiên nhìn Mật muốn không ra. Trung cũng nói thật ý nghĩ mình và cũng không quên lập lại lời khen nào chỉ liên quan Mật thôi. Không thấy một triệu chứng nào thích thú, hãnh diện gì trên gương mặt đắm thắm khả ái tự nhiên nhiên của cô.
Bà quản gia mang trà và bánh đãi khách. Mùi thơm bốc lên từ tách trà sen nóng hổi cọng thêm hương vị lá dứa nước dừa của miếng bánh bò vàng hực rễ tre rành rạnh, Trung lần đầu tiên sực tỉnh choáng ngợp bởi niềm tin hạnh phúc gia đình có thật mà từ lâu anh mong đợi kiếm tìm vô vọng. Anh nhận chân thêm rằng phải kinh qua cái chết mất của lòng ích kỷ thì tình yêu đích thực chân thành mới có thể đâm chồi nẩy lộc kết trái trổ hoa. Hy vọng !

Bánh bò rễ tre

- Cậu nói rồi em mới nhớ, khách hàng và đồng nghiệp của em cũng hay hỏi em về cậu. Nhiều khi họ bàn tán về cậu, đánh cá cho vui rồi nhờ em làm trọng tài, nhưng tựu trung là khen hơn chê. Mấy chị bạn có lần trêu em là “mình đồng da sắt” chẳng bao giờ bị bệnh hoạn nên chẳng cần đi khám bệnh, bận tâm đến sự có mặt, công việc của các vị “lương y như từ mẫu”.
- Thế à, chắc cũng là đề tài thường tình thôi. Chỉ tội cho cô bé phải bị hạch xách, trả lời vấn đề mà em mù tịt vì chúng mình có biết gì nhau đâu. Biết rằng em chẳng quan tâm để ý đến những lời ra vào ấy, cũng cho tôi thành thật cám ơn em rất nhiều vì tình cảm tha thiết sâu lắng đối với cả nhà chúng tôi. Má và chị Mai còn bảo em là viên ngọc quí hiếm Trời ban cho gia đình, vì vậy với giá nào mẹ cũng hết sức bảo vệ em cầu cho em hạnh phúc…
Trung ngưng ngang vì thoáng thấy cái nhìn long lanh nước mắt hướng về bà Ba đầy tin yêu. Trung như bị thu hút bởi ánh sáng tuyệt vời của “cánh cửa sổ tâm hồn” thanh cao hướng thiện ấy, lòng anh trầm lại hy vọng rằng từ đây nếu có, thay vì anh chỉ có một vị thiên thần hộ mệnh, anh sẽ có đến hai.

Như để làm dịu bớt bầu không khí căng thẳng, bà Ba đề nghị theo sự góp ý của Khải, từ đây, nếu Mật không thấy gì trở ngại, gọi Mai là chị, Khải và cả Trung là anh. Vậy mà lạ chưa chỉ nghe nói như vậy Trung cũng hồi hộp tưởng tượng đến cảnh xướng danh thí sinh trúng tuyển trong các kỳ thi ngày xưa và cảm thấy như cơn gió vừa thổi qua làm mát lòng khi Mật tươi cười thưa:
- Cám ơn Bà và các anh chị.

Thời gian qua. Chẳng có gì thay đổi, Trung vẫn chưa thấy rục rịch gì về việc lập gia đình cứ viện lý do còn lo phòng khám bệnh trước đã. Bà Ba trước sau như một, ai có hỏi, bà cứ lập luận “ ép dầu ép mỡ chứ ai nỡ ép duyên”. Mật vẫn sống thản nhiên bận rộn không ngừng lo cho các em tiếp tục học lên cao, chưa nghĩ đến hạnh phúc riêng tư dù bà nội mẹ nhiều lần rù rì đề cập tới.

Biết Mật thích đọc sách báo ngoại về thời trang, nữ công gia chánh, Trung không quên mua đem sang biếu và cùng bình luận như anh em trong nhà thường là có mặt bà Ba. Ai cũng nghĩ bà đang tìm cho Trung mối nào “ môn đăng hộ đối” xứng thông xứng gia như quan niệm thời bấy giờ. Lầm to, vì bà Ba hiểu rõ tâm tính của Mật hơn ai hết nên quí mến Mật hết lòng, biết mình biết người, biết phận mình mà không than van tị hiềm, phân biệt rõ ràng giữa nhận và cho. Ở cô toát ra một sự hòa hợp cương nhu, một sự thăng bằng hài hòa lý tình. Điều mà bà nghĩ là mình biết chắc chắn nhất là không bao giờ trong tương lai Mận phác họa cho mình hình ảnh của một mệnh phụ phu nhân, bà bác sĩ chẳng hạn. Còn bà, bà không mong gì hơn là được con dâu như vậy.

Chẳng những bà hy vọng thôi mà cả Mai có lần đã nói với bà “ sao mẹ không cưới Mật cho Trung đi, để lâu mất đó. Tụi nó đàng hoàng quá, không tạo cơ hội gặp gỡ tìm hiểu nhau làm sao mà thành”. Bây giờ bà cũng hơi mừng thầm như đã có sự chuyển biến tự nhiên ở Trung thì phải, bằng chứng là câu chuyện nào trong bữa cơm thường xoay quanh đâu rồi cũng trở về hồng tâm Mật.

Hè năm ấy, cả nhà định tổ chức du ngoạn ở Vũng tàu mời cả 4 chị em Mật trong tuần lễ cuối tháng sáu. Không may bà nội Mật ngã bệnh thình lình trước đó. Vừa nghỉ hè nên Mật vội vã xin phép bà Ba về nuôi bệnh nội. Hay tin, Trung cũng không chần chừ vào sở sắp xếp công việc về sớm rồi lái xe về quê Mật. Từ đó Trung cứ chiều về sáng lên làm việc chờ đến khi nào bệnh bớt hẳn mới ngưng.
Có lần sau khi chẩn mạch xong Trung tươi cười bảo:
- Nội khoẻ rồi, chỉ còn uống tiếp tục thuốc còn lại cho hết rồi sau đó uống thuốc bổ thôi. Nội sống lâu lắm đó.
- Cám ơn cháu. Nội chỉ mong sống để nhìn được đám cưới của cháu thôi. Nội cũng có lời khuyên cháu nha, thương ai thì cứ thành thật nói ra, được thì tiến tới, ngược lại thì thôi, sòng phẳng trong tình cảm lúc nào hay lúc nấy đỡ thân khoẻ trí. Bác sĩ trị bệnh người khác đã khó còn chữa bịnh cho mình cũng chẳng dễ đâu.
- Cảm ơn nội. Từ ngày mai, cháu không đến được nữa, xin phép bà cháu về luôn.
Quay ra vừa bước khỏi phòng Trung chạm vào đôi mắt thật dịu hiền long lanh trong sáng chiếu thẳng vào anh đầy cảm phục tri ân:
- Mai nầy em cũng phải về để lấy Sự vụ lệnh để đi gác và chấm thi, nội đã bớt bệnh rồi, cám ơn anh thật nhiều.
- Mình đi ra ngoài nha, anh xin phép mẹ cho anh đưa em về một lượt, chúng mình cùng đi về chung với nhau nghe em.
- Dạ.
Trung nắm lấy bàn tay Mật tìm mẹ báo tin dưới bầu trời trong vắt, vầng trăng lưỡi liềm hạnh phúc đã lên cao, những vì sao lóng lánh chớp tắt như đôi mắt e ấp thẹn thùng tỏa sáng ngây thơ cùa người con gái ở đồng tràn đầy sức sống niềm tin vào cuộc đời.

Trần Thành Mỹ



Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#50 Posted : Wednesday, May 16, 2018 6:41:58 PM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
Thăm con



‘’Hồi nào năm xưa em còn bé tí teo,
Nằm gần bên mẹ em bé như con mèo’’
Bài hát nầy làm mẹ nhớ lại ngày con còn bé bỏng, mẹ con mình sao mà gần gũi làm sao! Bàn tay nhỏ bé xinh xinh xòe ra quờ quạng mẹ đoán con thức giấc, đôi môi hồng hé mở chép chép miệng, chắc chắn con khát sữa rồi, mắt lim dim báo hiệu con sắp ngủ. Con ướm nói ‘’ma, ma’’, tập khóc cười đòi mẹ bồng mẹ bế, con cười nắc nẻ khi bố cù nhẹ thọc lét lòng bàn chân, vào nách vào hông. Cha mẹ nào chẳng mong cho con mau lớn đủ lông đủ cánh đâu nhớ thời gian đâu ’’ tính từng ngày”. Mẹ còn nhớ ngày đầu tiên đi học, con lẫm đẫm níu chặt tay mẹ không chịu rời nửa bước khi bước vào trường mẫu giáo, nhìn thấy quanh mình bé khóc bé la nhôn nháo lao xao ngán sợ làm sao.

Con lớn dần tóc mẹ đổi màu theo. Mẹ đã kể về bà ngoại, lúc sinh con ra ngoại mừng đến nổi được nhìn thấy đứa cháu đầu lòng còn đỏ hỏn mà quên mất đường trở về nhà. Không bao giờ ngoại quên trịnh trọng mang lễ vật đến nhà hộ sinh để tạ ơn các đấng khuất mày khuất mặt đã cho mẹ tròn con vuông. Nhìn ngoại sau nầy đả đớt trò chuyện làm con cười khăng khắc miệng chưa răng thế mà nụ cười sao mà đẹp hồn nhiên. Ngoại ru cháu trên võng trong nôi cho đến lúc con mê man trong giấc điệp mới nhẹ nhàng bỏ mùng tấn kỹ sợ muỗi mòng tấn công cháu cưng của cụ.

‘’Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ’’, có nhìn tận mắt ngoại lúc nầy mới thấy công sức và tình yêu cha mẹ thật vô bờ. Con kể lể chuyện vui buồn ở lớp, mẹ cũng hồi họp lắng nghe từng khúc từng cơn. Mẹ cũng khó chợp mắt ngủ yên khi con còn cặm cụi sách đèn trong mỗi mùa thi cử.
Ngày con ra trường mẹ vui mừng khôn tả, phải chi ngoại còn, ngoại sẽ hả lòng hả dạ biết chừng nào, ngoại sẽ sung sướng run run nhẹ bảo, ‘’con bé ấy mới ngày nào mà bây giờ lớn đại rồi, giỏi quá’’. Ngoại không cần nhớ đến tuổi đời mà chỉ nghĩ đến hạnh phúc tương lai của cháu con hơn cả chính mình.. Theo nhịp thời gian, các con lớn dần mà cha mẹ không bao giờ nghĩ đến cũng như các con quên mất cha mẹ ‘’ da mồi sạm mặt, tóc sương điểm đầu’’(Nguyễn Du).

Rồi đến lúc các con rời tổ ấm. Bài hát tạ ơn vang lên trong giáo đường nhân ngày hôn lễ:
‘’Xin đừng buồn vì chúng con rời xa ba mẹ,
Chính vì bàn tay mẹ quá ấm,
Đôi tay ba quá vững chắc
Nên chúng con mới vươn lên cao được’’
làm bố mẹ cảm động bồi hồi. Nhìn các con quấn quít bên nhau bất giác mẹ nhớ lại ‘phút đầu tiên’ ấy thuở mà quan niệm còn ‘’nam nữ thọ thọ bất thân.’’Mẹ mong cho con được hưởng và biết sử dụng đúng quyền tự do lựa chọn quyết định cuộc đời trong nghề nghiệp đến hôn nhân để một ngày nào già yếu, mẹ hãnh diện được vịn vào tay con dìu bước như xưa kia mẹ dẫn con từng bước đầu đời.

Lâu lâu có dịp các con về hoặc rảnh rỗi bố mẹ lặn lội đến thăm. Nhìn các con sao mà thấy nao nao dạ. Trước mắt mình là khuôn mặt vóc dáng vừa lạ vừa thân. Nghe các con thi nhau kể chuyện nắng mưa, tiếu lâm, buồn vui bực mình trong việc làm, tranh luận sôi nổi bao đề tài lắm lúc làm mẹ ngạc nhiên đến ngẩn ngơ. Nhưng bà mẹ nào lại không tìm lại được những nét đặc biệt thân quen cũ của con mình. Cô gái lớn thường thích thay mặt mẹ ra mòi chị cả lo lắng dẫn bảo em, thế mà chỉ mê tựa vào mẹ ngủ quên. Cô gái kế, nhỏ người mà tiếng lớn, chỉ bắt nạt được cậu em út kém hơn ba tuổi, hét to mét mẹ mỗi lần bị em trai đẩy nhẹ té lăn cù.

Đường đời một chiều, con lớn lên cha mẹ già theo năm tháng. Nhìn các con cười cười trêu mẹ khi hạt cơm còn dính hờ trên mép má môi ‘’ ngọc ẩn long tu’’, ‘‘mẹ ăn mà còn để dành cho ai đó’’ làm mẹ quên sao được những lần con háu bú, sữa nhễu nhão quanh môi, hoặc ngứa nướu răng cắn ngấu nghiến ‘bầu sữa mẹ’ làm mẹ bất thần nhảy nhỏm lên đau điếng. Con chẳng biết gì cứ ngẩn tò te rồi lại rúc đầu vào núc tiếp.

Mẹ không trách các con đâu, vì trước kia mẹ cũng thế, ít khi lo nghĩ đến tuổi già của ngoại, không dám nghĩ thì đúng hơn, vô tình như lúc nào cũng muốn được nuông chìu đùm bọc chở che. Để rồi đến lúc nghìn trùng xa cách mới hối tiếc đã không còn được ôm tấm thân gầy còm, vịn bờ vai, bóp nhẹ đôi tay khẳng khiu, đôi tay mà trước đây, bồng bế con đến cháu, đã quạt thâu đêm khi con nực nội bức rức lăn qua lộn lại trong mùa nóng hực quê mình. Ngoại khòm khòm lưng lửng thửng chăm chú theo từng bước cháu chập chững đi, loạng choạng gượng ngã khi cháu thình lình nhào đại vào lòng ôm ngoại.

Có lần sợ ngoại té lăn đùng ra, mẹ vội chạy đến đỡ vừa vuốt nhè nhẹ lưng vừa xuýt xoa hỏi:’’Má có sao không má?’’Sao mà nhớ cái nhìn khó tả của ngoại, vừa cảm ơn thiết tha triều mến, vừa xót xa tuổi đời già không biết còn giúp con được bao lâu. Bà mẹ nào cũng thế, nước mắt chảy xuống, không nhớ đến công ơn sinh thành dạy dỗ cũng như hy vọng mai sau được báo đền. Chỉ cần một cử chỉ triều mến, một câu thăm hỏi săn đón, một lời khen hứa hẹn “không biết chừng con bằng tuổi mẹ, cha, con có khoẻ được như vậy không?”,một câu nói biết ơn, “thật là có phúc đến từng tuổi nầy rồi mà còn có ba có má, sướng quá” để được nhìn thấy ngoại tủm tỉm cười, cảm động phều phào bảo:”Lớn xộn rồi, cha mẹ con nít rồi mà còn nhỏng nhẻo”. Cao đẹp thay niềm hạnh phúc đơn sơ đôn hậu của các bà mẹ chỉ sống vì cháu vì con!

Người ta thường nói già trẻ bằng nhau.Trẻ đòi hỏi săn sóc chở che, già cần chăm nom thăm hỏi.Thời gian như đọng lại nặng nề khắp châu thân, tứ chi bải hoải bất tuân ý chí, đầu óc quên trước quên sau thách đố, da dẻ bắt đầu như bản đồ giao thông đường sá, mắt mờ răng xệu xạo, ngậm ngùi luyến tiếc “thời oanh liệt nay còn đâu”.

Người Việt ta quen nếp sống đại gia đình, nên việc sống xa con cái là điều bất đắc dĩ. Người già thường sống với quá khứ, nghĩ rằng kinh nghiệm đời mình là kho tàng lưu lại cháu con. Cha mẹ già là cây ‘cột cái’ nhà đoàn tụ, chứng nhân cho thế hệ kế tiếp.

Vì thế con đừng trách mẹ khi thấy mẹ ngưng đũa khi con muốn bới thêm cơm. Nên tập hiểu mẹ hơn, nhớ con trước kia ham chơi lắc đầu nguầy nguậy, ngoe nguẩy chạy đi bắt mẹ phải khom lưng bưng chén cơm theo sau vừa năn nỉ vừa dọa mét bố đét mông để ép đút cho con thêm vài muỗng nữa.

Nội ngoại già cũng thế, hồi họp lo âu cũng thừa rồi, thế mà cũng vẫn như xưa ‘hết hồn’ thấy cháu chạy còn ngả nghiêng chưa vững, trái lại cháu thì như chẳng bao giờ biết mệt cứ tung tăng đùa giởn hả hê.
Nhớ có đêm về thăm nội, đang đêm con giật mình khóc thét liên hồi, mẹ bố thay phiên nhau dỗ dành mà con không chịu nín. Nội thức giấc khi nghe bố đét vào mông con ’bốp, bốp’, vội tuột cầu thang xuống nghiêm trang bảo:” Hồi bé anh cũng thế, con nít có đau mới khóc, chưa biết nói thì khóc, sao lại đánh con.’’Các cụ tỉnh ngủ lắm. Hồi sinh con đầu lòng, mệt mõi mẹ cũng ngủ say. Mỗi lần con ngó ngoáy, ngo ngoe, cọ quậy là ngoại đã thức rồi, đến bên nôi tấn mùng hay thay tã, không cần gọi mẹ dậy đâu.
Ở nhà ngoại thích ru đưa võng cho con ngủ. Nằm trên giường, ngoại lâu lâu xoay nhẹ đầu con lúc sang trái khi sang phải hy vọng đầu con lớn lên sẽ tròn vo có sọ khỉ mà theo ông già bà cả tượng trưng bộ óc thông minh. Trong bữa cơm không ngớt kể tả lại cử chỉ ngộ nghĩnh con làm, mắt liếc qua liếc lại, cười chúm chím, xoè tay ưỡn mình mà ngoại gọi là ‘Mụ Bà dạy’.

Để rồi ngày nào con thấy ngoại ăn trầu ngoáy lâu lâu quên chùi nước bã trầu chảy dài hai bên mép hay dính áo, bước đi chậm chạp, ăn nói đôi khi lẩm cẩm, chỉ thích kể chuyện ngày xưa, nhớ trước quên sau như mẹ bây giờ chậm hiểu kỹ thuật hiện đại, sử dụng máy vi tính trật lên trật xuống, các con hãy tập cảm thông người già là thế đấy. Các cụ không sống mà chỉ sống còn.

Nhưng đó là chuyện tự nhiên như cha mẹ nuôi con thôi. Các con không có gì phải bận tâm nhiều về chữ hiếư. Hãy cố làm bổn phận mình là trả ơn rồi. Cha mẹ nào lại không hãnh diện về con mình làm nở mặt mày gia đình giống dòng dân tộc. Không phải dễ thích nghi hội nhập với cuộc sống nước ngoài. Nhưng ở đâu cũng có kỳ thị, ganh tị, đố kỵ nhỏ nhen hết.

Không nơi nào là thiên đàng hạ giới, cuộc sống cũng do mình phần chính đó con. Người không thành công thì trách oán hận thù buồn phiền chán nản, người một bước lên giàu có sang cả dễ dàng đôi khi lại quên mất quá khứ hàn vi thiếu thốn, lên mặt chê bai khinh bỉ kẻ không may.

Lắm lúc phải đương đầu với nếp sống mới lạ, cha mẹ cũng phân vân tự hỏi:’’Cuộc phiêu lưu định mệnh nầy sao mà đắt quá, ảnh hưởng thế nào với thế hệ mai sau?’’Các con đâu phải là dân bản xứ, tất nhiên khó khăn không thể tránh. Nếp sống, tập tục, ngôn ngữ khác, các con phải vừa học vừa thích nghi hội nhập, thật là bài toán thử thách khó giải đáp. Ngay cả cái nhìn của bạn bè giới trẻ ngoại dù có hồn nhiên dễ dãi nhưng cũng vô tình vô tâm. Họ sẵn sàng chấp nhận sự khác biệt mà vẫn phủ nhận điều bất bình thường đó.

Nhiều lần mẹ bắt gặp con ứa nước mắt, khóc ròng trên chồng sách vở khi bị điểm xấu, ngạo chê. Tất nhiên con nhớ lại ngày còn ở quê nhà, bạn bè ríu ra ríu rít kể chuyện trường lớp, ganh đua nhau từng điểm, xầm xì thầy cô thiên vị bạn nầy đẹp bạn kia khéo nịnh hơn. Sang đây, mỗi ngày đi học từ sáng đến chiều tối mới về, đêm đến học bài đắm mình trong ngôn ngữ khác, con từ từ xa dần tiếng mẹ, tập tục tổ tiên.

Quả là một cuộc thay đổi lớn. Cha mẹ cũng thế, phải học lại từ đầu, từ cách dùng muỗng đĩa dao đến phục sức, nếp ở cách ăn. Quần quật với cuộc kiếm sống lương thiện bằng công sức mình, cha mẹ đâu còn thì giờ lo cho con cái nhiều được nhất là ở một xứ mà mình không biết chữ nhứt một nào.Người Việt ta ai cũng rán nuôi con ăn học huống hồ người tị nạn buộc lòng xa xứ nầy.

Bây giờ nghĩ đến đây bố mẹ thấy thương và cám ơn các con vô cùng. Các con đã biết lùi bước, cúi đầu can đảm kiên trì nuốt nước mắt, học lấy học để làm thầy cô ngạc nhiên. Các con đã giải tỏa, cất bớt đi cho bố mẹ một gánh nặng, cục đá lo âu, hồi họp phân vân, hối hận đè nặng trong tim. Điểm hay nữa là các con luôn cố giữ truyền thống nề nếp quê hương dù phải cố gắng hội nhập thích nghi. Không quá khích đua đòi theo thời trang ‘mốt’,văn minh tự do Âu hóa quá trớn, luôn tìm cách bảo trì giá trị trung thực của chính mình.

Thật tình mà nói, các con ngày nay vất vả hơn nhiều dù được hưởng tự do, tiện nghi đầy đủ nhưng con người đâu chỉ sống vì mảnh áo miếng cơm thôi. Đến khi lập gia đình, các con phải tự lập, tự lo xoay sở việc làm việc nhà theo cuộn sóng trào lưu tiến bộ thôi thúc cuốn nhanh. Khác hẳn với thời trước, đại gia đình, dù có tuổi, cha mẹ vẫn còn lo giúp con cái được, phụ nuôi dưỡng cháu, để mắt đến chuyện nhà cho con rảnh tay rảnh trí hơn như mẹ có ngoại vậy

Bây giờ ở xa các con, bố mẹ cũng đành âm thầm lo mà chẳng trực tiếp giúp được gì nhiều. Vả lại các con cũng không muốn cha mẹ già mà còn phải cưu mang bận bịu thêm, cần tận hưởng hậu quả công sức mình theo quan niệm mới đương thời. Ngày ngày gọi thăm, có dịp là cả đàn thê tử tụ họp về xin mẹ nấu những món ăn dân tộc ưa thích khoái khẩu, để mẹ có dịp ’thả giàn’ nuông chìu con cháu, hạnh phúc đơn sơ đang ở trong vòng tay của mọi người. Cảm ơn Ơn Trên đã cho gia đình sum họp, con cái quyết tâm tự trọng vươn lên.

Nhớ lại bài ‘’ Đứa trẻ’’ (L’enfant) của Victor Hugo:
‘’Khi đứa trẻ xuất hiện,
Cả nhà vỗ tay reo.
Vầng trán buồn nản nhất
Chợt hết nét nhăn nheo.’’
Con cái quả là lý sống của cha mẹ, tương lai của dòng họ, điểm tựa của tuổi già, bức họa của niềm ước mơ, hình ảnh mờ ảo của quá khứ, bức tranh con đường xuyên suốt cuộc đời, kết tinh công sức óc tim, thành quả vĩ đại con người tạo ra được, hy vọng truyền nhân giống trên quả đất xanh. Cha mẹ là nhà vườn ươm giống, cấy trồng cho sinh sôi nẩy nở, kho tàng kinh nghiệm, vòng tay ấm áp thương yêu luôn âm thầm theo dõi hiện diện cho đến suốt cuộc đường trần.

Thời gian vút qua, tre già măng mọc. Rồi đây đến phiên mình các con cũng sẽ trải qua thời kỳ ấy.Qua kinh nghiệm của các thế hệ trước, các con đã được chuẩn bị một số vốn liếng sống cho cuộc hành trình nầy từ lâu rồi. Hãy tập bước theo nhịp của cuộc đời đừng vừa tiến vừa luôn quay nhìn về quá khứ. Thế hệ sau tất nhiên phải hơn thế hệ trước, xã hội mới tiến bộ được. Nhưng phàm thực hiện điều gì cũng cần có mục tiêu đường hướng rõ rệt để rồi tùy thời tùy cơ cải tiến. Do đó phụ huynh không thể phó mặc con em cho xã hội, dù là xã hội tân tiến cực văn minh vì thế giới ngày nay chưa phải là địa đàng hoàn toàn bình đẳng tự do, không còn người không có tình người.

Về phần cha mẹ, còn có cơ may là không được chần chờ đắn đo để đến thăm con. Không có lần nào giống lần nào, cảm xúc cũng thế. Các con có lớn lên thế nào đi chăng nữa, các con vẫn là núm ruột nhỏ vô hình suốt đời ràng buộc với tim óc mẹ cha. Vậy con đừng nhíu mày khi mẹ vô tình làm trái ý con, đừng bực bội nhăn nhó nói:”Bộ mẹ tưởng con là con nít chắc”, “Con đâu có ngu đến nổi như mẹ tưởng”. Dễ thương nhất là con cứ cười cười gật gật, dạ dạ vâng vâng lái qua chuyện khác, nếu cần .

Vẫn biết các con ngày nay không thể sử dụng tiếng Việt tinh tế, sắc sảo theo truyền thống quê nhà vì ảnh hưởng “nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”.Các con cũng bị xâu xé bởi hai nền văn hóa Á Âu, nghiêng bên nầy tất nhẹ bên kia. Vả lại lối suy nghĩ cũng thật khác nhau, cách xử sự càng cách nhau một trời một vực. Không còn “nam nữ thọ thọ bất thân” chẳng hạn, gặp nhau là tay bắt mặt mừng thật sự chứ không phải là chỉ để ví von thôi, ôm nhau, hôn ba cái trên má như ở Bĩ đây. Lối phát biểu cũng không kém, trực tiếp, sòng phẳng, thẳng thắn không e dè, nghĩ gì nói nấy, có khi “nửa nạc nửa mỡ” tự do tranh luận trong niềm ôn hòa tương kính.

Sang đây các con được tiếp cận thụ hưởng ánh sáng đó nhưng cũng là con dao hai lưỡi thật sắc bén của hai nền văn minh lâu đời dường như đối kháng nhau, một bên hướng về nội tâm hơn, một bên thực tế. Bên “chín lượng kẻ mười cân”, nếu dung hòa được thì thiên đàng nhỏ rồi. Và nếu không vì quá khích, tự cao tự đại quá độ, bị khủng khoảng bởi ngọn sóng thần tsunami tự do quá trớn, mà biết ngồi lại với nhau chung hưởng những ngày còn được hít khí trời trên quả đất mẹ màu xanh nầy thì hạnh phúc như có thật ở trần gian..

Ở xứ mình, việc đi học của các con là thường tình như các trẻ khác. Sang xứ người là cả một biến động mọi bề, hậu quả thật khó đoán, kim đồng hồ xe quay về số không, điểm xuất phát. Các con cũng đừng so sánh hoàn cảnh mình với của ai cả chỉ tổ làm lòng mình bớt thanh thản hơn thôi. Con lớn thì cha mẹ già như chu kỳ của ‘parabole’ vậy, con tiến lên cực thì cha mẹ tuột dần từ cực điểm đi.

Bây giờ ai cũng bận rộn với công việc nên khó có cơ hội thăm nhau thường xuyên. Trái lại về hưu, dù rảnh rỗi hơn nhưng sức người có hạn, việc thăm con lắm lúc cũng không phải việc đơn giản dễ làm. Nhìn các con mẹ nhớ lại ngày ngoại đi thăm mẹ lúc mẹ ở nội trú Gia long xa nhà. Lần đầu tiên bóng ngoại khuất dần sau cánh cửa cổng đóng sầm khép kín, mẹ cảm thấy bơ vơ làm sao. Bạn bè đồng cảnh ngộ ai cũng nước mắt chực đầy mi. Cảm giác cô đơn đó mẹ cũng cảm thấy mỗi lần các con về thăm không bao lâu rồi lại ra đi.

Thăm các con cũng thế, cũng bầu trời xanh trên đầu, gió mát nắng đẹp lung linh vậy mà sao lòng mẹ vẫn vấn vương buồn tiếc. Còn nói chi những ngày mưa giông tuyết đổ, hàn thử biểu xuống độ âm, cái lạnh rét căm căm càng nung nấu niềm lo. Vậy các con đừng bực dọc khi thấy bố cứ dặn dò từng ly từng tí tùy theo đài khí tượng thay đổi từng ngày. Mục đích đối tượng của cha mẹ bây giờ vẫn là các con, các con có khuyên bảo gì cũng quên hết, nhớ đâu làm đó, cứ tưởng tượng rồi lo cho hết thì giờ. Còn trẻ làm sao các con hiểu được mà hiểu để làm chi cho sớm.

Rồi cũng đến lúc nào đó không thể tự lo cho mình được, tất nhiên phải vào nhà dưỡng lão bên những người người khác cùng cảnh ngộ như mình. Hình ảnh của những ông bà lão còn hồng hào mà bị hạn chế trong cử chỉ hành động nói năng mẹ nhớ đến ngoại già gần 90 tuổi đời rồi mà vẫn còn minh mẫn đùa vui cười ha hả dỗ dành, xuýt xoa ôm cháu vào lòng mỗi lần cháu chạy chơi vấp ngã. Các con cũng đừng có gì phải hối hận nếu chúng ta phải rơi vào trường hợp ấy vì “ nhập gia tùy tục” mà, các con có làm gì đáng trách đâu. Cha mẹ già nào chắc cũng đã chuẩn bị tinh thần cho mình rồi, không ít thì nhiều vì có ai biết chắc được ngày mai ra sao.


Trước đây, còn trẻ khoẻ, ai cũng thích than van rên trời trách đất không bao giờ vừa lòng. Nắng hạn than nực nội mất mùa, mưa tuyết cũng bị bình phẩm ít nhiều, đi làm than cực, thất nghiệp chửi đời. Về già lắm khi tiếc rẻ bao nhiêu điều quá khứ mình thiếu kiên trì can đảm thực thi. Vậy nào chúng ta hãy cùng nhau vui hưởng những ngày còn quây quần đoàn tụ bên nhau dù biết trước là cuộc đời tất có hợp có tan, lo chi chuyện bất biến xảy ra.

Thăm con, cha mẹ cũng tập yên hưởng khoảng đời còn lại như việc đến thăm con cũng mang cho thế hệ mai sau bao chi tiết của mặt phải trái cuộc đời để lấy đó nghiệm suy.

Thăm con vì thật ra cha mẹ già còn là hình ảnh sợi giây huyết thống vô hình buộc ràng con cái nhắc nhở nhau dòng họ cội nguồn, quyển album kỷ niệm thân thương sống động, hình ảnh, tiếng nói gia đình, tia nắng huyền diệu, gió mát ấm êm, chiếc cầu quê hương nối liền quá khứ với tương lai .


Trần Thành Mỹ

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Thy Lan Thao  
#51 Posted : Sunday, July 8, 2018 11:39:39 AM(UTC)
Thy Lan Thao

Rank: Advanced Member

Groups: Gò Công Moderator, Registered
Joined: 3/28/2011(UTC)
Posts: 2,723
Location: usa

Thanks: 1692 times
Was thanked: 2633 time(s) in 1764 post(s)
[color=red]Tản mạn về Khôn ngu {size]
UserPostedImage
Lời phát biểu gán cho con bò hiền từ an phận bộc trực trong bức tranh biếm họa trên làm cho chúng ta lúc đầu mỉm cười nhưng rồi nghĩ lại cũng tạo ra cho ta bao suy gẫm.
Thật vậy, con người sinh vật siêu đẳng nhất hơn cả muôn loài, thường tự hào về nhiều đức tính siêu việt của mình như trí thông minh, có tư tưởng sáng tạo và đặc biệt là có tình cảm tâm linh. Do đó dần dần con người ý thức tính độc tôn của mình, chiếm ngôi vị thượng đẳng trở thành người cai quản địa cầu, điều khiển vạn vật qua tiến trình tiến bộ văn minh mọi thời.
Hầu như đã là con người rồi, bất luận là ai, dường như ai cũng tự cho mình cái quyền phê bình theo lăng kính riêng suy diễn của mình và thường cho là đúng nhất và bảo vệ cho đến cùng. Hơn thế nữa còn thích tự phong ngầm cho mình là thông minh, người khác là dốt, ngu dại không ít thì nhiều và thường phản bác lại một cách tự nhiên nếu yếu thế như : Không ai hoàn toàn cả. Ai cũng có khuyết lẫn ưu. Anh giỏi điểm nầy, người khác trội hơn anh chỗ khác và bình đẳng như nhau vì ai cũng chết. »
Về vấn đề khôn ngu, mỗi dân tộc đều có quan điểm cách diễn tả riêng nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn đến con thú nào mà người ta thường đề cập chung chung có quan niệm gán cho là ngu đặc biệt là con bò. Người Pháp chẳng hạn cho rằng ngu như lừa (sot, têtu comme un âne), người Âu Mỹ bảo ngu như bò « Dull as a cow, stupid as cattle » dù họ uống sữa bò, thay sữa mẹ. Người Á châu nói riêng dân Việt ta cũng nói ngu như bò, nhưng trước kia thường là các bà mẹ cho con bú cho đến ăn thôi nôi nghĩa là sau một năm. Nếu người mẹ trong thời gian nầy không có đủ sữa hay bệnh hoạn thì nhờ người vú nuôi bằng cách « bú thép » tức là bú nhờ, cùng một bầu sữa mẹ chung với một đứa trẻ khác, hay thay sữa bằng nước cơm đường : « Ầu ơ… con tôi khát sữa nút tay, Ai cho bú thép ngày ngày mang ơn ».(Ca dao).
Riêng trong bài nầy chúng ta chỉ đề cập đến trường hợp chữ « ngu » với hai định nghĩa như có vẻ trái nghịch nhau thôi.
Theo tự điển: Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ (1400-1707). Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau đó vào tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và tên Đại Ngu không được dùng làm quốc hiệu từ thời điểm đó. Chữ Ngu (虞) là từ cổ nên ở đây có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu si" (愚癡), dốt nát, kém thông minh.
Nhưng tại sao người ta lại cho rằng con bò thì ngu ?
Chúng ta thử hình dung sơ sơ con bò. Con bò có vóc dáng to lớn, hiền hậu, bước chậm rãi bộ lông màu vàng trắng đen nâu một màu hay có đốm, đôi mắt to dễ thương, cái miệng rộng không ngớt nhai đi nhai lại, hàm răng trắng bắt mắt cho đến đổi mà một thương hiệu phó mát (fromage) Pháp Thụy sĩ nổi tiếng thế giới đã dùng nhản hiệu độc đáo nhân cách hóa cái nụ cười của con bò « La vache qui rit » (Con bò cái cười) dù ai cũng biết rằng chỉ con người mới biết cười, « le rire est le propre de l’homme ». Đây cũng là logo huy hiệu có mục đích quảng cáo thương hiệu mà thôi.



Lâu nay người miền Bắc nước ta còn có thành ngữ « khéo lo con bò trắng răng » cũng xác định rõ là răng bò trắng thật, đó là sự thật hiển nhiên và còn có ý nhấn mạnh vào nghĩa bóng thâm thúy là khuyên nhủ người đời đừng lo lắng chuyện không đâu.

Hơn thế nữa, đôi mắt bò đẹp thật, ánh mắt hiền từ, nhìn đàn bò, thuộc loài nhai lại, thong dong bình thản trên đồng cỏ xanh, vô tư đùa giởn ngay cả dưới trời mưa lất phất, bông tuyết rơi rơi hay trong những ngăn chuồng đứng sát với nhau miệng nhai đi nhơi lại đều đều thức ăn theo kỷ thuật nuôi thời đại mới, ta cảm nhận như dưới cái lớp vỏ bề ngoài ngờ nghệch ấy là ví như cả một cuộc sống nội tâm thâm hậu của những bậc cao thủ võ lâm thiền định lấy cái « nhẫn » làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình.

Trong văn hóa Á Đông, con bò thuộc một loại gia súc trong sáu loại thú nuôi trong nhà như ngựa, trâu/ bò, cừu/dê, chó, lợn, gà điển hình là bài « Lục súc tranh công » và đặc biệt hình tượng của con bò còn được khắc họa trong nền văn minh văn hóa lớn trong việc thờ phượng, tín ngưỡng do vai trò gần gũi và ích lợi của giống bò trong đời sống thường nhật loài người. Điển hình là Ai cập, Ấn độ thờ bò, Thần Siva cưỡi con Bò Trắng Nandi.
Bò lại thuộc loài « ăn chay » nghĩa là ăn chủ yếu là cỏ và rơm rạ, nuôi ít tốn kém không như ngày nay người ta dùng đồ ăn gia súc kỷ nghệ trong những chuồng trại nuôi bò càng ngày càng tân tiến rộng khoáng khoa học hơn.



Thông thường bò được xem vừa là nguồn tài sản cung cấp nhiều huê lợi vừa giúp ích cho nhà nông trong việc đồng áng vận chuyển nông sản.



Tất cả những gì thuộc bò đều tốt ngon hữu dụng hết từ sữa máu thịt xương (xương là để ninh làm nước dùng nấu phở) đến phân bò cũng được ưa chuộng trong việc trồng trọt hay chất đốt. Ngay cả móng bò cũng còn được đặt tên cho một loại cây xanh đô thị có bóng mát hoa đep, cây Móng Bò hay là cây hoa Hoàng hậu.

Hoa Móng bò-hoa Hoàng hậu

Vậy mà người đời vẫn ví von sự khờ khạo ngu đần của bò không thôi dù không quên cái cú đá tuyệt vời của bò như « hồi mã thương » của Nhạc Phi trong thành ngữ dân gian « đau như bị bò đá », cú đá nầy cũng được người đời ca tụng là xuất thần bất ý cực kỳ nguy hiểm, khó đỡ khó ngờ, hành động nầy còn chứng tỏ rằng sức mạnh nào cũng có giới hạn, sự chịu đựng quá sức cũng có thể tràn ra như nước vỡ bờ, hệ lụy khôn lường.

Sự phản xạ tự nhiên đó không tùy thuộc vào sức vóc thể chất thôi mà còn về trí óc nữa làm cho chúng ta lại liên tưởng đến hai từ « hiền và ngu » đôi khi nghĩa lẫn lộn với nhau. Lắm lúc người ta lại cho rằng quá hiền từ cũng gần như là khờ khạo, ngu ngơ, dễ tin, ù lỳ, không lập trường, không dám quyết định, sợ sệt, có thái độ nghĩ suy không khác gì hơn kẻ nhu nhược, đần độn :

- Ông ấy trông có vẻ hiền từ tử tế, có giáo dục, tốt bụng, thế mà ai mà ngờ đó là « Con quỉ râu xanh », đội lốt « Con sói với con cừu non » (Le loup et l’agneau – La Fontaine),…
- Bà ấy thấy hiền như cục bột tưởng như cắn cục bột không nổi, thế mà cắn đồng tiền đồng thành hai thành ba… hay như câu hát ru em
« Ví dầu cha mẹ anh hiền,
Cắn cơm không bể cắn tiền bể haỉ »

Bò cũng không biết nói như con Rắn trong huyền thoại về sự tích loài người theo Thiên Chúa giáo, đã dụ dỗ Bà Thỉ Tổ nhân loại E và (Ève) ăn trái táo cấm để rồi sau đó mời Ông Thỉ Tổ A Dong (Adam). Quả táo vừa nuốt vào cổ, trực nhớ lại lời Chúa Cha cấm, Ngài Thỉ Tổ loài người định nhả ra mà không còn kịp nữa, trái cấm có thể xích lên xích xuống nhưng không thể khạc ra được khỏi cổ họng của Ngài nên cái cục cổ trên cuống họng của các ông theo từ y học là « proéminence laryngée » mà dân gian gọi là « Pomme d’Adam ».

Bò chỉ biết rống và có thể là biết khóc, theo lời những người mổ thịt, bò khóc, chảy nước mắt khi bị búa bổ vào đầu trong giờ bị hành quyết. Bò có vẻ như để cho số mệnh
an bài
« Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.” Nguyễn Du
không vùng lên tích cực mà chỉ phản kháng lấy lệ, bất cần, đầu hàng số phận.

Vậy là thái độ bất lực nầy có thể tạm giải thích hai từ hiền và ngu “tuy hai mà là một’, và chứng tỏ con người có lý khi phê bò ngu. Mà bò thật sự có ngu không?.Và loài người chúng ta có thành phần nào như thế không?

Trước hết chúng ta cùng đọc lại và phân tích lời phát biểu trên của bò.
Mở đầu câu vô đề làm ta ngạc nhiên vởi hai từ “bọn nó” ám chỉ loài người có vẻ vô lễ xấc xược, tuy nhiên đó không phản ảnh thật hình ảnh con bò trong đời sống thường nhật, có thể là của con bò tót, bò rừng (taureau ) thường được huấn luyện chuyên trong việc đấu bò ở Tây ban nha hay miền Nam nước Pháp ở làng ớt Espalette xứ Basque.



Cách xưng hô thiếu thân thiện trịch thượng đó còn đánh giá trình độ và bậc thang xã hội không cao của bò rồi. Hoặc giả ngược lại, đây cũng là ngụ ý về thái độ của thành phần trí thức quá khích, “ ngụy quân tử “, thành phần trên trước cao cả tập trung quyền hành tự cho mình độc quyền tự do phê phán đến độ lắm lúc thành lộng ngôn.

Tiếp đến, từ thứ ba cũng không phải nhẹ nhàng đâu, thay vì phê hay chê mà là CHỬI thẳng thừng. Có lẽ con bò sống gần gũi với con người nên thông suốt tâm lý và cả phong tục tập quán các dân tộc khác nhau.

Chẳng hạn như ở Ấn độ ngày xưa, bò được tự do nghêng ngang đi chạy giỡn ngoài đường, ngang nhiên vào nhà dân lục soát để tìm thức ăn, cản trở lưu thông mà không ai dám chê phê đánh đuổi gì.

Ở Việt nam tục lệ đó không có, con bò cũng không được tôn trọng như con Rắn được gọi là Ông Dài, con Cọp được gọi là Ông Cọp, Ông Ba mươi, Ông Hổ, mà bị liệt vào loài gia súc cực khổ mà còn bị chửi là ngu nhất, không được chủ thương chìu như chó ngựa heo. Cũng không được tôn giáo nào dùng tên của con mình là Bê mà tên của con cừu là Chiên lại được để chỉ những tín đồ đạo Chúa.

Đến đây chúng ta suy nghiệm ra rằng lời phát biểu trên đúng là của con bò Việt vì chú bò nầy biết rõ phong tục tập quán và cả văn hóa của ông chủ của chú. Chắc chắn các bạn cũng thừa biết là trên thế giới khó có dân tộc nào mà chửi tuyệt hay, phong phú, đủ loại thể văn, tục có thanh không thiếu, đủ giọng thượng vàng hạ cám, ,…nói tóm lại có lối chửi quá ư là độc đáo như ta. Điển hình là “Bài chửi mất gà “, một đoạn trích trong bài “Năm con gà nghe bài chưởi Mất Nước” của “Dân tau”:
“Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, Dân tau có một đất nước. Tối qua còn dòm ngược, ngó xuôi, ấp yêu, ve vuốt, thế mà bây giờ đất nước của Dân tau bị thằng nào trộm bán mất rồi! Ai thấy thì chỉ cho Dân tau biết, ai lỡ mua được thì cho Dân tau xin, nếu không trả thì Dân tau chửi cho mà nghe đấy… ấy… ấy!
Bố cái thằng chết đâm, cha cái con chết xỉa, lũ ăn cắp khốn nạn!...”

Rồi tiếp đến « Bọn nó chửi mình ngu » cho ta thấy rằng con bò cũng biết suy luận lắm chứ nên phân vân về lời đánh giá không tốt nầy và phát hiện có điểm mâu thuẩn nào đó trong lời phê bình ấy bằng phần cuối câu “nhưng lại muốn uống sữa mình để được thông minh.” Vậy với cái lập luận quá chín chắn như thế, ai có thể bảo là óc bò thiếu mầm mống thông minh? Đó có phải như là khẩu khí âm hưởng ý tưởng thái độ của các bậc hiền triết, nhà khoa học, nhà nhân chủng học không?

Nhà hiền triết biết mình biết người không chấp nê lời phê của người khác, khen cũng cám ơn mà chê cũng cám ơn, chính mình là người chủ động và chịu trách nhiệm lời nói, cuộc đời mình. Sự góp ý của người ngoài là do cái nhìn của họ đánh giá về bề ngoài của mình mà thôi, có thể đúng có thể sai, lầm lẫn là chuyện thông thường tự nhiên, vì thể “Nghe như chọc ruột tai làm điếc, Giận vẫn căm gan miệng mỉm cười.”

Vả lại, ai cũng biết rằng một trong những nguyên nhân gây đau khổ trong cuộc sống nhân loại là do lời nói vì phát ngôn ra rồi không bao giờ rút kéo bắt chụp lại được và duy nhất con người mới có tiếng nói để giao lưu mà thôi. Chỉ có con người mới có khả năng tuyệt diệu ấy đáng lý ra
“Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
mà thường
“Giết nhau chẳng lọ Lưu cầu,
Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa.”(Cung oán)

Lời nói như con dao hai lưỡi vì thế làm cho tâm và trí lắm lúc cũng choảng nhau. Điển hình là thường phê bình người khác dễ dàng, mạnh miệng, xét nét, phóng đại, chủ yếu là phần phải có lợi về mình nhất là sau lưng đối thủ và đối với thành phần thấp yếu hơn mình.

Ở đây quả thật thắc mắc của bò là đúng vì con người, sinh vật siêu đẳng hơn mọi loài cầm thú kể cả loại to mạnh hơn, vừa chửi bò ngu lại vừa “muốn uống sữa bò để được thông minh”. Vậy là cái “gên” ngu xấu của giống thú cũng có khả năng hô thâu hô biến hầu biến thể chất lượng của sữa nó mang lại sự thông minh cho “đỉnh cao trí tuệ “loài người!

Đấy cũng còn là bài học thực tế cho con người đừng tưởng rằng người “dân ngu khu đen”, ít học, nghèo khổ, nhà quê “quê rích quê rang quê cả về làng ông Cả cũng quê” là ngu và con cháu của họ cũng đều thừa hưởng cái gên mầm mống độc hại ấy truyền lại đời nầy sang đời khác biến những hậu duệ thành khờ khạo khùng khùng điên điên, rõ là là điều lầm to ngu xuẩn dốt khoa học nữa là. Ngày nay chúng ta thấy rõ trong xã hội mọi thời ngay cả theo dòng lịch sử, đâu phải chỉ có thành phần con ông cháu cha, cậu ấm cô chiêu, quí tử của các bậc trí thức, quí tộc giàu có mới có “gên” thông minh mà ngược lại bao trường hợp “thời thế tạo anh hùng” thời thế tạo nhà giàu, hiền tài... vẫn có thể xảy ra.

Đặc biệt là thế giới càng ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bực, thế mà chúng ta vẫn thấy những trường hợp ngựa về ngược. Ngay cả tôn giáo cũng không còn địa vị đôc tôn, cũng có con chiên ghẻ lở lạc đường, những chủ chăn chiên sa ngã chối bỏ niềm tin. Nhan nhản bao cuộc đổi đời vượt tầm hiểu biết của loài người khi lên voi lúc xuống chó, không biết lúc nào voi thành chó, chó thành voi, tình người âm thầm biến dạng thành thú tính hồi nào không ai biết ai hay.

Ai cũng là sinh vật duy nhất sử dụng hai mươi bốn giờ một ngày, “một cây sậy có tư tưởng” (un roseau pensant-Blaise Pascal) khôn ngoan hơn mọi sinh vật khác, thế mà lắm lúc tàn bạo giết người trả thù hơn thú dữ “ nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc”(Trần Thủ Độ), giết cả cha mẹ thân nhân, đồng chí, ân nhân, lừa thầy phản bạn, bán nước cầu vinh.

Còn nói về trí thông minh, truyện cổ tích Việt nam có kể về chuyện con cọp thắc mắc về trí khôn của con người. Hằng ngày nó thấy con trâu chăm chú cày ruộng thế mà vẫn bị bác nông dân quất roi vào mông đều đặn. Nó tìm cách hỏi trâu lý do tại sao.Trâu không biết trả lời thế nào cho đúng nên chỉ bảo rằng con người thấy nhỏ bé nhưng có trí khôn và nếu hổ muốn biết thì hỏi trực tiếp chủ nó. Tò mò về trí thông minh, hình dáng ra sao, có bao nhiêu thành công lực,…mà khống chế nổi trâu, ngựa được hết, hổ hỏi người và xin cho hổ xem ra như thế nào? Bác nông dân tương kế tựu kế đồng ý nhưng bảo vì không mang theo nên phải về nhà mới lấy được cho hổ xem. Quá nóng lòng xem trí thông minh của con người, hổ bằng lòng cho về không chút nghi ngại.Trước khi đi để lấy trí khôn của mình để “khoe “ với hổ, bác nhân tiện nói thêm rằng bấy giờ nếu hổ muốn sẽ biếu một phần nào đó nếu cần.Và chưa để hổ kịp suy nghĩ, bác nông dân lại đề nghị khi bác về hổ vồ bắt trâu của bác rồi thì sao, chi bằng hổ để bác cột vào gốc cây to gần đó cho yên tâm. Quá muốn thỏa mãn tính tò mò, cọp ưng thuận ngay. Bác nông dân ung dung trói chặt “chúa sơn lâm” vào gốc cây rồi chất rơm chung quanh mình “rồng” vừa nổi lữa lên đốt cọp vừa đánh vừa la to: “Đây là Trí Khôn ta đây”.

Như thế quả là con người ý thức rằng chỉ có mình mới có trí thông minh thật sự chứ không phải “có đầu mà không có óc” hoặc nếu có thì chỉ là “óc bùn” theo miệng đời dân gian, hoặc tệ hại hơn là có trí khôn mà lại dùng trí thông minh của mình vào điều trái đạo vô ơn qua câu “cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán”.

Và điều còn lạ hơn nữa, tại sao ngày càng văn minh, các phát kiến sáng tạo kỹ thuật khoa học càng ngày càng vuợt bực, thế mà con người để cải tiến đời sống vật chất thể lực của mình lại còn áp dụng phương cách sống của người tiền sử theo bản năng đi săn bắn diệt thú sát sanh để sinh tồn. Rồi từ đấy bao phương tiện dụng cụ hiện đại phục vụ nhu cầu căn bản đến cầu kỳ của nhân loại ngày càng phong phú tinh vi biến con người từ “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện” mà vì “cái miệng đòi ăn” ngon, lúc đầu còn hàn vi ít kinh nghiệm nên ăn uống còn thô sơ nhè nhẹ rồi vươn lên theo tầm cao thời đại, không chỉ dùng thức ăn cho no dạ mà nuốt cả những món nào mang lại tiền của, địa vị như buôn lậu, “mãi quốc cầu vinh” mất cả nhân tính tình người.

Còn trường hợp con bò thì sao? Là con thú bị chửi là ngu hiền, thế mà nó có vẻ biết suy xét phân tích tổng họp như nhà khoa học mọi dữ kiện hành động của mình một cách vô tư khách quan, trường hợp nầy đáng được đề cao thức tỉnh loài người. Phải biết ưu nhược điểm của mình và sáng suốt phân tích lời phẩm bình của người khác có đúng hay sai để rút kinh nghiệm, như con bò ở đây nó công nhận là nó không có trí khôn như người nhưng nó không mù quáng tự tôn mà biết đánh giá trị thật sự của nó là hữu dụng khoan dung chẳng hạn.

Còn hậu quả của sữa của nó có ích lợi gì liên quan đến trí thông minh của con người thế nào, đó là chuyện của con người phải tự giải quyết, bò đâu có trí khôn như người mà bận tâm nhún trề khen chê, bò chỉ hành động theo bản năng nó thế thôi “chó sủa cứ sủa, đoàn lữ hành đi qua “ (Les chiens aboient, la caravane passe).

Ngoài ra, qua lời phát biểu ngây ngô mà xúc tích đó, chúng ta rút ra thêm một bài học quí giá khác nữa về tình nhân loại tình yêu dòng giống của mình. Bằng cớ là sống cùng đàn, bò không bao giờ có thượng cẳng hạ chân đấu đá với nhau đến độ cắt tình máu mủ, khác với con người chia rẻ nhau đến thậm chí gây ra nội chiến, tiêu diệt lẫn nhau đồng bào ruột thịt cùng nguồn gốc quê hương.

Nhìn vào “xã hội “ loài bò đi, rõ ràng là không bao giờ thấy có xảy ra chiến tranh giữa các “các dân tộc” bò khác giống như bò vàng xám đốm …, đồng cỏ đó rộng thì cùng nhường nhau thảnh thơi nhơi cỏ, chật hẹp như trong chuồng thì cứ thư thái mà nhai gần bạn gần anh. Vì thế đâu có xuất hiện bao cuộc gây hấn can qua xâm lăng mở rộng đất đai tìm thị trường mới, đâu có cuộc chiến đấu đẵm máu một mất một còn cạn tàu ráo máng của kẻ thắng người thua vì kỳ thị màu da, tôn giáo, ý thức hệ, vân vân và .…

Ngoài ra còn một điểm khác nữa đáng nêu ra trong lời phát biểu của bò là ngụ ý đến lòng ham muốn đến tham lam ích kỷ, nhất là liên quan đến ăn uống để sống, đây cũng là một nguyên nhân cốt yếu ảnh hưởng đến hành vi lành dữ mọi loài.

Con thú vì bản năng sinh tồn phải đi tìm thức ăn nước uống, tuy nhiên là chỉ trong hoàn cảnh khắc nghiệt như do thời tiết khí hậu hay bị nạn đói hoành hành chẳng hạn mới bắt buộc tranh giành bằng sức mạnh như sư tử cọp beo hay mưu trí như cáo chồn, tóm lại loài thú chỉ áp dụng luật rừng trên đội dưới đạp, cái lý của kẻ mạnh “La raison du plus fort est toujours la meilleure “La Fontaine (Cái lý của kẻ thắng bao giờ cũng đúng nhất) trong trường hợp bất khả kháng mà thôi.

Trái lại con người thông minh lại có tâm tư tình cảm đáng lý ra bắt buộc sử dụng luật pháp của loài người, xã hội còn hy vọng công bằng bình đẳng hơn, thế mà lại thường nghiêng về phía luật rừng luật thú mới kỳ. Không phải vì đói nghèo mà đánh giết nhau mà oái oăm thay lại vì quá sung túc dư giả, lòng tham ham muốn không đáy, thỏa mãn tính độc tôn, trí óc thượng đẳng sức mạnh vô địch phi thường của con người.

Nói cho cùng, quan niệm về khôn ngu thật khó đánh giá khó biết khó lường vì
“Biết ai là dại biết ai khôn”(Trần Tế Xương).
Câu “ giả dại qua ải “còn cho ta thấy thêm rằng trên đời nầy mọi sự việc cụ thề hay vô hình đều có thề biến thể như ta thấy ngày nay nhan nhản đồ thật đồ giả không biết đâu mà lần. Do đó
“Chớ cậy mình khôn cười kẻ dại,
Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.”(Nguyễn Bĩnh Khiêm).

Thế thì suy ra giữa người và thú ai khôn hơn? Chắc hẳn là người rồi trong phần tổng quát nhưng thú vẫn có khả năng bẩm sinh tuyệt vời riêng như chó chẳng hạn với tài đánh hơi, tìm đường, tính trung thành bảo vệ hiểu biết ý người lắm lúc hơn cả con người nữa là.

Vậy thì trong con người chúng ta đều có tính người và tính thú và nếu chúng ta không khống chế được tính thú thì lòng người mà dạ thú thật là đại họa cho xã hội thế giới loài người vả cả thiên nhiên đất trời.
[size=7] Trần Thành Mỹ

Edited by user Sunday, July 8, 2018 11:55:22 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Con đi dưới lá cờ sao máu
Rờn rợn lòng con, nhục Mẹ ơi...
Users browsing this topic
Guest
3 Pages<123
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.