Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

54 Pages«<525354
Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1061 Posted : Monday, September 4, 2017 1:46:50 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1062 Posted : Thursday, September 28, 2017 10:12:29 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1063 Posted : Wednesday, May 2, 2018 5:30:01 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)

Edited by user Wednesday, May 2, 2018 5:31:50 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
NNT  
#1064 Posted : Wednesday, May 2, 2018 5:45:20 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)

Lê Phi Ô – Chiến-sĩ vô danh

Posted on August 15, 2014 by minhhieu854
htxp://hung-viet.org/blog1/

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước họa xâm lăng của Cộng-sản phương Bắc, Quân-Lực VNCH đã có biết bao Anh-Hùng, Liệt-Nữ vị quốc vong thân. Bên cạnh đó… có những sự hy sinh không kém hào hùng ít được nhắc tới, tôi muốn nói đến những người lính không có số quân: “Vợ lính” ! Lê phi Ô.

***

Đúng 02:00 giờ sáng ngày 09 tháng 12 năm 1974, Lính vừa đổi phiên gác thì một ánh chớp cùng tiếng nổ long trời phát ra tại hàng rào hướng tây của Chi-khu, nơi tuyến phòng thủ của một trung đội thuộc Đại-đội chỉ-huy, một trung đội của Đại-đội 3 và tiểu đội thám-báo Tiểu-đoàn. Khói lửa, cát bụi mịt mùng, đặc-công việt cộng đã chui vào hàng rào phòng thủ đặt chất nổ phá hủy nhiều lớp kẻm gai. Lập tức, tổ thám báo của tiểu-đoàn tung nhiều quả lựu đạn vào vùng khói lửa nơi vừa xảy ra tiếng nổ để ngăn chận bọn đặc-công cảm tử địch xông vào.

Trong ánh chớp kèm tiếng nổ của lựu đạn bóng vài tên VC chạy ngược trở ra nhưng đã bị khẩu đại-liên trên vọng gác đốn ngã. Những trái sáng tay và của súng cối 81 ly được phóng lên sáng rực bầu trời, tôi gọi Trung-úy Lưu-đức-Thắng (khóa 24/VBĐL) đại-đội trưởng ĐĐ3/344 cẩn thận mặt Bắc, nơi có một ngôi chùa nhỏ sát cạnh hàng rào phòng thủ… đây là đường tiến sát rất thuận lợi cho VC vì bọn chúng biết lính không bao giờ dám mang súng đạn vào gần chùa dù chỉ để phục kích đêm. Trung-úy Thắng báo đã bắn hạ hai 2 tên địch ngay khi chúng vào tới hàng rào phòng thủ trong cùng… mười phút sau, Thắng cho biết hàng rào đã bị cắt đứt nhiều chỗ, lập tức tôi lịnh cho Trung-úy Thời đại- đội trưởng Đại-đội 2/344 đang bố trí quân tại trại cửa bên ngoài Chi-khu về hướng đông cách Chi-khu 500 thước đưa ngay một trung-đội vào chiếm giữ ngôi chùa nhỏ, trung-đội nầy chạm súng nhẹ và địch bỏ chạy, đây chỉ là tổ cảnh giới của địch.

Đây không phải là trận đánh đơn thuần của đơn vị đặc-công địch, vì đặc-công chỉ lẻn vào âm thầm chứ không phá hàng rào nhiều chỗ như vậy, bọn chúng đang chuẩn bị chiến trường cho những đơn vị lớn hơn. Đúng như tin tức MẬT từ Bộ Tổng-tham-mưu cho biết trước: VC mở chiến-dịch “Tánh-Linh Hoài-Đức” để đánh chiếm hai Chi-khu nầy theo chiến thuật mà chúng gọi là “Bóc vỏ” trước khi tiến đánh Thị-xã Xuân-Lộc, nếu không thành công thì ít ra bọn chúng cũng cầm chân được một số lớn đơn vị của ta để dễ bề đánh chiếm Tỉnh Phước-Long.

Trước đây một tuần, vì áp lực địch quá nặng nên Quân-khu 3 đã tăng cường Liên-đoàn 7/ BĐQ cho Chi-khu Hoài-Đức, Đơn vị BĐQ nầy đóng quân tại khu vực Gia-Huynh nằm trên Tỉnh- lộ 333 về hướng nam và cách Bộ chỉ-huy Chi-khu 10 cây số. Đồng thời Bộ chỉ-huy Tiểu-khu ra lịnh cho Tiểu-đoàn 344/ĐP của tôi rút bỏ xã Võ-Xu và các ấp nằm dọc Tỉnh-lộ 335 về phòng thủ duy nhất cứ điểm Chi-khu và xã Võ-Đắt, tiểu đoàn được tăng cường thêm Đại-đội 512/TS (Trinh-sát)

Quận Hoài-Đức là quận xa nhất của Tỉnh Bình-Tuy, cách Tỉnh lỵ 80 cây số đường chim bay. Xung quanh quận lỵ là rừng cây bạt ngàn, phía đông bắc giáp với Tỉnh Lâm-Đồng toàn núi rừng của chặng cuối dãy Trường-Sơn thuận lợi cho việc che dấu và tiến sát các đơn vị lớn VC mà máy bay quan sát khó phát hiện… những cuộc hành quân lục soát đã khám phá nhiều dấu vết địch cấp trung- đoàn. Tôi cho vài người lính Thượng (sắc tộc Man) giả dạng dân làm rừng xâm nhập những vùng nghi ngờ có địch để thám sát nhưng những người lính nầy ra đi không về ! Những cuộc chuyển quân của Ta và Địch làm cho người dân đoán biết được tình hình rất nghiêm trọng nên gồng gánh ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đêm 25 tháng 12 năm 1974, Chi-khu Tánh-Linh cách Hoài-Đức 15 cây số về hướng đông nam thất thủ.

Quốc lộ 23 – 1970

Chi-khu Hoài-Đức suốt tuần nay bị địch pháo bằng hỏa tiễn 107 ly và cối 82 ly trung bình 500 quả một ngày. Pháo binh của ta chỉ phản pháo cầm chừng vì đạn khan hiếm. Liên-đoàn 7 BĐQ ở phía nam cũng chạm nặng với khoảng 2 Trung-đoàn VC, pháo-đội 105 ly của Pháo-đội trưởng Nguyễn-hữu-Nhân thuộc TĐ181/PB-Sư-đoàn 18BB tăng cường cho LĐ 7/BĐQ đã phải dời vị trí nhiều lần (Nhân là anh vợ của Lê-phi-Ô) Cứ mỗi lần qua vị-trí mới là vị trí cũ bị pháo tan nát, Pháo đội nầy đã bị mất 2 khẩu 105 ly vào tay VC. Thiết đoàn 5 Kỵ-binh vào tăng viện cho LĐ7/BĐQ cũng bị thiệt hại đáng kể (hai sĩ-quan cấp tá bị tử thương).

Ban ngày bị pháo, ban đêm địch liên tục tấn công, xin phi cơ C123 yểm trợ và soi sáng không có… tổn thất lên cao mỗi ngày. Đang cầm máy điều động các đại đội phản công địch thì 2 anh Cảnh-sát dã chiến hớt hãi chạy đến báo: “thưa thẩm quyền, ông trưởng chi của tụi tôi bị VC bắt rồi !”. Tôi tái mặt, chi Cảnh-Sát nằm ngay trong Chi-khu và cách Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn của tôi khoảng 30 thước với một tiểu-đội Cảnh-sát dã-chiến, gần mười Cảnh-sát viên và tổ Thám-báo của tiểu-đoàn 5 người… mà bị VC bắt ?! Tôi và thượng-sĩ Hường thường vụ tiểu-đoàn, 2 cận vệ cùng 2 CSDC vội vã băng qua Chi Cảnh-Sát. Việt cộng đã đột nhập định cắt Chi-khu ra làm hai vì hỏa lực tại nơi đây tương đối yếu, trước khi bị anh em Cảnh-sát và lính phản công VC khi rút lui đã bắt được Đại-Úy Long trưởng chi và 2 cảnh-sát viên mang theo. Một số lính tiểu-đoàn và Cảnh-sát tử thương, Tôi tăng cường thêm 3 người lính của toán Hỏa-đầu vụ tiểu đoàn cho Chi Cảnh-sát (vì không còn quân). Trên đường trở lại BCH/tiểu-đoàn, thoáng thấy một bóng người nép vội vào gốc cây xoài bên hông văn phòng Quận cách tôi khoảng 10 thước, dáng dấp khả nghi không giống như lính. Tôi ra dấu cho Thượng-sĩ Hường cùng một anh lính nép vào tường sẳn sàng yểm trợ, tôi và anh cận vệ còn lại bò về hướng cây xoài sẳn sàng nhả đạn. Bóng người lạ xê dịch như muốn chạy, cả hai chúng tôi hướng súng sẳn sàng bóp cò. Bỗng một quả chiếu sáng tay bừng sáng trên trời soi rỏ bóng người lạ chỉ còn cách tôi khoảng 3 thước, không có súng và hình như đàn bà. “Nữ đặc-công VC” ? vừa thoáng nghĩ trong đầu thì anh cận vệ của tôi đã nhảy chồm lên tên Đặc-công còn súng của tôi thì kê sát vào lưng hắn sẳn sàng bắn, anh cận vệ la lên: “mày hả ?”. Anh ta quay lại tôi nói nhỏ: “Con Hạ, ông thầy ơi !”. Tôi quát khẽ: “Mầy làm gì ở đây ?!” – Con bé mặt còn nguyên nét sợ hãi: “Dạ em… dạ em…!”. Vài quả đạn pháo nổ quá gần chúng tôi chạy ùa vào lô-cốt kế cận, tôi hỏi lại: “Mầy làm gì ở đây ?”, Thượng-sĩ Hường nói: “Mấy bữa nay, nó thay thằng Xuân đi tiếp đạn cho anh em”, tôi nói như trách cứ Th/sĩ Hường: “Mấy bữa nay ?! thằng Xuân đâu mà nó phải đi tiếp đạn ?” – “Dạ, thằng Xuân anh của nó… chết rồi !”

Tôi hụt hẫng, cổ họng có cái gì nghèn nghẹn ! Ông già Mai, ba của con bé Hạ một nông dân hiền lành sống với ruộng rẩy, Thằng Đông con lớn của ông đi lính rồi tử trận ngoài miền trung, từ đó mỗi khi đi làm rẫy nhận được tin tức gì của VC ông đều bí mật báo với chính quyền, bọn cơ sở nằm vùng của VC biết được đã chặt đầu ông ngoài rẫy với bản án để răn đe. Thằng Xuân là lính của tiểu-đoàn tôi… con bé không dám ở nhà một mình nên vào đồn sống với anh của nó… bây giờ thằng Xuân chết rồi, nó sẽ sống với ai ?!! – Tôi nói thật khẽ với Th/sĩ Hường như nói với chính tôi: “Bố Hường, tạm thời Bố nuôi con Hạ giùm tôi… để khi nào yên tôi sẽ tính sau !”. Tôi quay về hầm chỉ huy dưới làn mưa pháo của địch như đi dạo phố.

Sau khi Tánh-Linh thất thủ, bọn VC dồn cả lực lượng cấp Sư-đoàn tấn công LĐ7/BĐQ và Chi-khu Hoài-Đức do Tiểu đoàn tôi tử thủ với quân số còn lại khoảng hơn 200 người. Trước trận đánh, vì Bình-Tuy không đủ quân số nên xin tăng cường 2 tiểu-đoàn ĐPQ, Quân-đoàn 3 chỉ tăng cường một tiểu-đoàn ĐPQ cho Chi-khu Tánh-Linh từ Long-An đến (TĐ335/ĐP) còn tiểu đoàn của tôi thì bổ sung quân số lên đến hơn 500 người lấy từ các tiểu-đoàn khác trong Tiểu-khu. Xác chết VC vì không ai chôn nên đã bốc mùi, xác lính thì chôn tạm, phủ poncho. Thương binh còn kẹt lại khoảng 50 người vừa nặng vừa nhẹ vì trực thăng vào vùng không được do phòng không VC dày đặc và nhiều chuyến phải quay đầu lại vì phải ưu tiên cho mặt trận Phước-Long. Liên-đoàn 7/BĐQ triệt thoái khỏi Hoài-Đức… như thế với tiểu-đoàn ĐPQ của tôi còn lại hơn 200 người bị Sư-đoàn 7 việt cộng và Trung-đoàn 812 Sông – Mao + 4 tiểu-đoàn Đặc-công 18, 19, 20 và 200C (từ 6 đến 8 ngàn quân) bao vây tấn công ngày đêm. Thượng cấp cho tôi toàn quyền quyết định đi hay ở, tôi đã cho thăm dò nhiều lần con đường rút nhưng không thể thực hiện được. Nếu lính tráng thì được còn vợ con họ thì sao ? và thương binh nữa ? Chúng tôi quyết định tử thủ.

Tôi gọi 2 đại-đội của tôi bên ngoài thì Đại-đội 1/344 của Đại-úy Trương-Kiêm tan hàng trong đêm mất hẳn liên lạc, Đại-đội 2/344 của Trung-úy Thời thì còn lại 36 người, Đại-đội 512 Trinh-sát của Trung-úy Đường vừa lui lại khu vực chợ cách BCH Chi-khu không xa vì áp lực địch quá mạnh, ngay trưa hôm đó Trung-úy Đường tử thương và Trinh-sát tan hàng. Bây giờ thì không riêng gì con bé Hạ mà cả các chị vợ và con lính cũng được cấp phát súng đạn. Vợ Trung-sĩ Hảo là cô đỡ (Bà Mụ ở nông thôn) trở thành y tá của tiểu-đoàn, hai tay chị đầy máu, một thương binh cánh tay trái chưa đứt lìa hẳn đã bốc mùi thối phải cắt bỏ, không còn thuốc Tê, với lưỡi dao cạo râu chị cố lấy bình tỉnh cắt bỏ cánh tay, anh thương binh cắn răng chịu với hai hàng nước mắt chảy liên tục vì quá đau đớn ! Tôi cố gắng an ủi từng người, anh tài xế của tôi bị gãy chân trái vì đạn pháo, thấy tôi anh ấy khóc. Tôi cố an ủi, bảo rằng vết thương của anh không đến đổi cưa chân đâu, anh ấy nói trong nước mắt: “không phải em sợ cưa chân đâu, nếu em được tải thương coi như chắc chắn được sống… thấy ông thầy còn kẹt lại… em thương cho ông thầy quá !”anh ấy nghẹn lời không nói được, anh ấy đâu biết rằng tôi còn nghẹn hơn anh ấy nữa !!! (sau ngày tôi ra tù, anh ấy hay tin, từ Saigon với đôi nạng gỗ và một chân… lặn lội xuống Bà-Rịa thăm tôi !).

Con bé Hạ đầu quấn khăn tang cho anh nó bằng cuộn băng vải trắng, mặc áo trận, vai mang súng M16 người nó trông cứng cỏi như một người lính thực thụ, mới 16 tuổi mà trông như 30 – 40 tuổi. Một tiểu đội nữ binh mới được bổ sung đặt dưới quyền chỉ huy của Thượng-sĩ Hường, tiểu-đội trưởng là vợ của Trung-sĩ nhất Man-Ngui (người Thượng).

Các toán thám sát được tung ra ngoài nay đã trở về, họ báo là bọn VC dày đặc, tiểu đoàn không còn cách nào rút lui được, nếu cố mở đường máu thì sẽ sống sót may lắm là 1/3. Hôm đó bọn VC không tấn công ban ngày mà chỉ pháo. Tôi đoán là đêm nay bọn chúng sẽ làm thịt chúng tôi… các thương binh còn cầm súng được đều phải ra tuyến ngoài, các Sĩ-quan phải rời bỏ vị trí chỉ huy ra ngoài cùng anh em chiến đấu tới hơi thở cuối cùng kể cả tôi, nhưng đêm đó vẫn yên tĩnh đến lạ lùng và ngạt thở. Đúng 9 giờ sáng ngày 04 tháng 01 năm 1975, với tất cả hỏa lực của đủ loại súng, bọn VC bắn như vãi đậu, tiếng hò hét xung phong man rợ. Anh em chúng tôi mắt mở trừng trừng, tay để sẳn cò súng nghiến răng… chờ giây phút sau cùng của đời mình sẽ đến ! Bọn việt-cộng vẫn chưa xung phong, Đại-úy Đinh-quang-Chính trưởng ban 3 tiểu-đoàn quay lại tôi hét lớn: “Trung-hiếu… khoan cho lịnh bắn, tụi nó dụ cho mình hết đạn đó !”, tôi gật đầu đáp nhận, không riêng gì Đại-úy trưởng ban 3 mà tất cả hình như cũng hiểu như vậy ! Vài lần hò hét xung phong không có kết quả, bọn VC nổi điên xung phong thật… Chiến trường bây giờ là địa ngục, là máu, là thịt xương vung vãi khắp nơi… lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy được địa ngục !!!

Trước đó chừng 20 phút, tôi đàm thoại với một giọng nói lạ trong máy truyền tin bảo tôi cho biết tọa độ chính xác để bắn yểm trợ, VC không thể gạt được tôi, tôi chửi trong máy: “Tiên sư các anh, muốn bắn thì bắn đi, cái Quận to tổ bố không nhìn thấy sao mà còn xin tọa độ!”, và mới đây thôi tiếng người lạ lại vang lên trong máy AN/PRC25: “Yêu cầu Bạch-Vân cho biết tọa độ chính xác của ta và địch !” (Bạch-Vân là danh hiệu của tiểu-đoàn tôi lúc đó), tôi đáp: “Tao ở bên trong, tụi bây ở bên ngoài… muốn chơi thì cứ chơi !” nói xong tôi cúp máy, bọn kiểm thính của tụi nó biết cả danh hiệu truyền tin tiểu-đoàn, biết thì biết… giờ phút nầy bọn chúng nó có muốn biết tên cha mẹ của tôi… tôi cũng cho luôn !

Tôi vừa buông ống liên hợp thì tiếng kèn, tiếng hô xung phong của việt cộng vang trời xen kẻ với tiếng đạn nổ chát chúa long trời lỡ đất. Tiếng đạn đại bác tung cát bụi mịt mù… hình như cả ngàn quả nổ cùng một lượt nhưng không có quả nào lọt bên trong mà nổ phía bên ngoài hàng rào, nổ ngay trên tuyến của việt cộng. Trong cát bụi mịt mờ từng thân xác của bọn sanh Bắc tử Nam bị hất tung lên cao từng đợt, từng đợt, tiếng đạn đại bác nổ liên tục vào bọn VC nghe ghê rợn hơn lịnh xé xác của Kim-Dung tiên sinh. Hơn trăm mạng người còn sống sót của chúng tôi ngẩn ngơ quên cả bóp cò súng, giương đôi mắt nhìn một màn xi-nê sống động và hay hơn tất cả phim chiến tranh mà chúng tôi đã từng xem trước đây. Vì đây là cảnh thật chứ không phải trong màn ảnh, tiếng đạn đại bác vẫn nổ liên tục cho đến trưa… và trong tiếng đại bác reo hò là tiếng máy bay oanh-tạc phản-lực nghe càng lúc càng rõ. Trên bầu trời những chiếc F5 quen thuộc xuất hiện như những thiên thần. Tiếng đại bác vừa ngưng là những F5 nầy chúi xuống thả từng cặp bomb Napal trên đầu giặc biến Võ-Đắt thành biển lửa, quân tử thủ chợt tỉnh cơn mê… há hốc rồi bỗng nhiên vỡ òa tiếng reo hò ầm ỉ: “Quân tiếp viện đến… Quân tiếp viện đến !”. Đại-úy Chính trưởng ban 3 tiểu đoàn chạy lại phía tôi la lớn: “Sư-đoàn 18 vào tới rồi, mình sống rồi Trung hiếu ơi !”, nước mắt lưng tròng, tôi, Đại-úy Chính và hình như tất cả chúng tôi đều khóc ! Những giọt nước mắt sung sướng lăn dài trên gò má rồi chảy xuống chiến bào đã khô cứng vì cát, đất và máu của đồng đội. Võ-Đắt đã được hồi sinh sau 33 ngày sống trong địa ngục !!!

Tôi dạo một vòng quanh tuyến phòng thủ, đứng nghiêm chào trên mỗi xác của đồng đội, ôm chặc hai vai hoặc nắm chặc bàn tay những anh em bị thương để nghe niềm xúc cảm dâng trào trong tim thay cho muôn vạn lời nói ! Khi ngang qua một lô-cốt tôi thấy bé Hạ ngồi khóc, tôi hoảng hốt hỏi cô bé có bị thương không, nó không nói mà đưa tay chỉ xuống hầm. Tôi chui vào, xác của hai chị vợ lính nằm kề bên nhau tay vẫn còn giữ chặc súng, nhìn qua lỗ châu mai khoảng cách gần, xác của 3 tên Việt cộng bị bắn bể đầu. Nhìn lại thân xác các chị nằm đó như người đang ngủ say ! Thưa các chị, xin các chị hãy yên giấc ngàn thu… các chị đã nối bước tiền nhân, không hổ danh con cháu của hai bà Trưng, Triệu. Tổ quốc Việt-Nam, con dân nước Việt muôn đời ghi công và nhớ ơn các chị… tôi xin đại diện cho những người còn sống hôm nay kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của những liệt nữ, anh hùng… vô danh, xin ngàn thu vĩnh biệt !

Tôi bước ra khỏi hầm với gương mặt buồn, nhưng tâm tư chứa đầy niềm kiêu hãnh ! Tôi ngước mặt nhìn trời và ngầm cảm ơn đấng thiên liêng đã cho tôi được sống, chiến đấu và được biết thế nào là anh hùng… và, tôi đã may mắn được chiến đấu bên cạnh những người anh hùng !

Lê Phi Ô
Cựu Tiểu Đoàn-Trưởng TĐ344/ĐP
Tiểu-khu Bình-Tuy.

Edited by user Wednesday, May 2, 2018 5:50:27 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 5/2/2018(UTC), Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo  
#1065 Posted : Wednesday, May 2, 2018 11:51:48 PM(UTC)
Hoàng Thy Mai Thảo

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/26/2011(UTC)
Posts: 15,133

Thanks: 6780 times
Was thanked: 2737 time(s) in 1932 post(s)

Ghi Ơn Người Chiến Sĩ
Tiếng hát: Pia Nguyễn
posted 04-30-2018, 04:46 PM / saoroi - MGP



Ghi Ơn Người Chiến Sĩ
Thi Quân - le 29 avr. 2018
Để tưởng niệm ngày Quốc Hận ngày 30 tháng 4 (lần thứ 43 từ lúc miền nam bị cưởng chiếm). Thi Quân xin giới thiệu ca khúc Ghi Ơn Người Chiến Sĩ để ghi ơn các anh chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Các anh đã luôn chiến đấu oai hùng, luôn sống vì nhân dân, vì tổ quốc. Các anh đã hy sinh đời thanh xuân, hy sinh học vấn, hy sinh sự nghiệp. Có anh đã hy sinh máu xương, bị thương tật. Có anh đã hy sinh tánh mạng. Tất cả để bảo vệ miền nam. Để người dân miền nam có được 21 năm sống trong tự do, dân chủ, nhân quyền. Tuy các anh thua trong cuộc chiến vì bị đồng minh bỏ rơi và bị kẻ thù tráo trở. Các anh bị trả thù, bị hạ nhục sau cuộc chiến nhưng đối với tôi các anh sẽ mãi mãi là những anh hùng vì đã chiến đấu cho chính nghĩa và sẽ mãi mãi ghi ơn các anh. Mong những người trẻ hôm nay hãy theo những tấm gương dũng cảm và biết sống vì tha nhân của các anh thì sẽ giúp được nhiều cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam.


thanks 3 users thanked Hoàng Thy Mai Thảo for this useful post.
Ngọc Anh on 5/6/2018(UTC), NNT on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC)
Ngọc Anh  
#1066 Posted : Sunday, May 6, 2018 6:17:36 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 15,119

Thanks: 6619 times
Was thanked: 5179 time(s) in 2421 post(s)
Hồi Ký: Trận Đánh tại Chi Khu Thiện Giáo – Tháng 4, 1975
11/04/20181
Trần Kim Bằng

Hồi Ký: Trận Đánh tại Chi Khu Thiện Giáo – Tháng 4, 1975
Sau hồi ký “Vượt biên đường bộ”, 2015, Bằng được ủy thác, vinh dự góp tay viết về trận đánh tại quận Thiện Giáo, thuộc tỉnh Bình Thuận trong tháng 4 năm 1975 theo lời kể của một vị sĩ quan Quân Lực – Việt Nam Cộng Hòa (QL- VNCH).


Bài viết được trình bày qua hình thức hồi ký, tác giả cho biết sau nhiều đề nghị từ các anh em đồng đội từng sát cánh chiến đấu, các con cháu, luôn yêu cầu ông nên kể lại. Ngoài mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản (cs.) vô thần, ông còn mong như đóng góp nhỏ trong việc phản bác những lời nói vô trách nhiệm của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush (Junior)* khi cho rằng QL – VNCH không chịu chiến đấu, thay vì ông ta nhìn nhận để miền nam tự do rơi vào tay cộng sản đa phần là do các chính trị gia Mỹ. Phát biểu nông cạn thực đáng trách của ông Bush tạo ra những bực bội cho nhiều người lính của chúng ta, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu.


Cá nhân ông và các đồng đội đã hy sinh tuổi thanh xuân, chiến đấu hết mình cho tới khi miền nam thân yêu bị bức tử, vận nước chấm dứt.


Câu truyện đồng thời cũng ước mong như những đóa hoa thơm, thân thương gởi đến các chiến sĩ Địa Phương Quân - Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) của QL - VNCH trên mọi miền giới tuyến, đã nhiều phen đóng góp xương máu cho đất nước... nhưng luôn bị lãng quên, ít được đề cập tới.


*

- Về chiến thắng Thiện Giáo, dẫu muộn màng, nên được kể và ghi lại trong trang sử liệu đấu tranh can trường của QL-VNCH. Trận chiến này ngoài ĐPQ & NQ thuộc tiểu khu Bình Thuận, còn có thêm ít binh lính từ các binh chủng khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC, ... di tản về sát nhập chung, tình nguyện chiến đấu. Ở vào thời điểm khi vùng 1, vùng 2 tan rã, tình hình nhiều tuyệt vọng. Chi khu TG. cho gia đình binh sĩ, vợ con quân nhân các cấp di tản trước, riêng các chiến binh, những người chồng, người cha ở lại sẵn sàng chờ địch tới. Dù biết có thể phải hy sinh bản thân, mọi người quyết bảo vệ vùng trách nhiệm được giao phó. Nghĩ lại, thật hãnh diện. Theo nhận xét của người viết, mặc dù ngoài 80, nhưng với trí nhớ minh mẫn, nhiều chi tiết tường thuật rõ ràng vì chính ông là người tham chiến, giữ trọng trách chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ chi khu. Ông cho hay TĐ 230/ĐPQ được tiểu khu Phan Thiết bố trí ngăn địch tại tuyến đầu tức chi khu Thiện Giáo và cuộc đụng độ nặng cuối cùng nổ ra trong tháng tư, chống trả lại 2 trung đoàn việt cộng, trận đánh rất ác liệt và kéo dài khoảng 3 ngày. Với quân số chỉ hơn 1 tiểu đoàn, các chiến sĩ ĐPQ & NQ đã anh dũng, chặn đứng, đẩy lui nhiều đợt tiền pháo hậu xung của địch, và rất may mắn chỉ một vài người bị thương nhẹ, cả tiểu đoàn hầu như vô sự. Chiến thắng đầy tự hào cuối đời binh nghiệp này cũng đã được ghi lại trong trí nhớ của nhiều người dân Bình Thuận. Ông “Anh Ba”, ở cương vị chỉ huy trưởng chiến trường, mặt trận Thiện Giáo, cung cấp thêm nhiều chi tiết về trận đánh này.


- Tiểu sử về U-80, “Anh Ba", tức Đại úy Mai Vi Thành, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến quân khu II. Qua nhiều thăng trầm, vào thời điểm trước tháng tư 1975, vì là lính trận chuyên nghiệp, được giao lại quyền Tiểu đoàn trưởng (TĐT)- TĐ 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi khu trưởng Thiện Giáo. Sau khi tan hàng 30-4, vc. thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983.


- Anh Ba cũng là con nuôi cũa Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, QL - VNCH, vị tướng công chính thanh liêm, người đã tuẫn tiết trong ngày 30-4-1975 tại bản doanh, căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.



*

Vào truyện…


Giọt mưa Cali rớt vào ký ức
Lăn hồn ta về với núi với rừng
Gặp lại anh em tháng ngày thao thức
Hể hả cười… cùng khói lửa rưng rưng

Thơ Trạch Gầm (Theo mưa đến thăm cà phê lính)


Trận đánh Thiện Giáo (TG.) tháng 4, 1975


Khoảng đầu tháng 4, 1975, sau khi Ban Mê Thuật thất thủ, quân đoàn 2 hầu như tan rã và sát nhập vào quân đoàn 3 theo lịnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Mục tiêu quân sự của Hà Nội đã quá rõ ràng, cánh quân Duyên Hải, Trung đoàn 18 thuộc Quân đoàn 2 cộng sản đang tạo áp lực, chuẩn bị tấn công Phan Rang từ phía đông bắc, sau đó dọc theo đường Quốc lộ (QL) số 1 tiếp tục hành quân về phía Nam, với mục tiêu kế tiếp tiến vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, xuống chiếm lấy tiểu khu Phan Thiết. Tuy nhiên vì tình hình dân chúng từ vùng I và II bắt đầu di tản ngày càng đông trên quốc lộ 1, có thể không hẳn thuận lợi về mặt chiến thuật nên địch mở thêm mặt trận từ hướng tây, phía bắc tiểu khu Phan Thiết, nhằm khai thông đường tỉnh lộ 8. Nỗ lực ở mặt này, thì bằng mọi giá, phải dứt điểm Chi khu Thiện Giáo, vì đây là cứ điểm phòng thủ quan trọng để vào Phan Thiết. Cùng lúc, nơi mặt tây nam, tiến đánh Định Quán, rồi từ QL. 20 để vào mặt trận lớn hơn là tiểu khu Long Khánh, vòng đai phía bắc, nơi sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo phòng ngự, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Riêng mũi tấn công vô Thiện Giáo, vì là mặt trận then chốt, hầu như địch tập trung toàn lực lượng vũ trang quân khu 6 trên các cao nguyên Lâm Đồng, Bảo Lộc đưa xuống đồng bằng, đem vào trận.


Trận đánh tại chi khu TG. bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khoảng ngày 11, 12 tháng 4 năm 1975, và trong 3 ngày giao tranh, với nhiều đợt tấn công biển người, việt cộng (vc.) đều bị chặn đứng và đánh cho tan tác trên các cứ điểm, có thể nói là thảm bại, thiệt hại nặng mặc dù quân số và vũ khí vượt trội gấp 5, 7 lần. Ghìm được chân lực lượng lớn của địch tại đây là niềm tự hào, của tiểu đoàn 230/ĐPQ & NQ, cùng tất cả quân dân cán chính thuộc chi khu TG. Nhưng khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ hỗn loạn, rồi miền nam bị bức tử! chiến thắng này lại ở giai đoạn gần… đứt phim, nên theo dòng thời gian đi vào quên lãng, hầu như không ai nhắc tới, chỉ được truyền thông để ý đến cách hời hợt, chung chung sau này.


*

Thiện Giáo nằm trên tỉnh lộ 8, phía Tây Nam sát mật khu Tam giác, phía đông là quốc lộ 1 và mật khu Lê Hồng Phong, tây bắc có dãy Trường Sơn và mật khu Đăng Gia, phía nam là thị xã Phan Thiết. Quận TG. có hơn mười xã như Tân An, Bình An, Hòa Tân, Tân Thành... ngoài 1 xã hay khu trù mật của người bắc di cư với tinh thần chống cộng cao được thành lập từ thời Tổng thống Diệm, thì tất cả những xã khác đều là vùng xôi đậu. Chi khu Thiện Giáo, theo tầm nhìn chiến thuật là cứ điểm quan trọng, cái gai phải nhổ của vc. để tràn xuống phía nam, nên không bao giờ yên ổn, nơi đây với nhiều trận đánh đẫm máu liên miên của cả hai phía, lớn có, nhỏ có, không ngưng nghỉ. Có câu:” Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, cọp thì không thấy nhưng ma quỷ là bọn giặc du kích thì đầy, chúng từ các mật khu luôn ra uy hiếp, quấy rối, giành dân, có nơi một vài xã, vc. đã thành lập được cả cơ sở nằm vùng. Nhiều đời quận trưởng TG. đã bị tử nạn bởi phục kích, bị pháo, đánh lén, đánh úp**. Thiện Giáo hiền hòa, nhỏ bé, nhưng như một khiêu khích quá hiển nhiên, lộ liễu với các anh mật khu bao quanh nên thường bị đặc công quấy rối. Vấn đề an ninh thiệt ớn óc! Bởi vậy, cầm sự vụ lệnh trong tay về bình định quận TG. vị chỉ huy cần có mưu lược tài trí. Có lẽ chỉ có 2 loại người: loại to gan, lớn mật, và loại sau, thê thảm hơn, bị… đì.


*

Lực Lượng và phối trí: VNCH. (khoảng 1,200 quân)


TĐ 230/ĐPQ có 5 Đại đội (ĐĐ) cơ hữu. gồm 1 ĐĐ chỉ huy công vụ, 4 ĐĐ tác chiến và 2 ĐĐ biệt lập (tăng phái), thêm 7 trung đội nghĩa quân. Ghi chú thêm về NQ. của tiểu khu Phan Thiết, đặc biệt chi khu TG. là trong khoảng thời gian dài 20 năm ròng rã, sống mái với việt cộng để bảo vệ địa phương của họ, những người lính nghĩa quân nơi đây dạn dày kinh nghiệm và rất thiện chiến, họ đã nhiều phen gây tổn thất nặng cho đối phương, ghi nhiều chiến công.


1 trung đội Cảnh sát dã chiến.

1 đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (lực lượng áo đen)


Chỉ huy trưởng mặt trận là Tiểu đoàn trưởng (TĐT) - Tiểu đoàn (TĐ) 230/ĐPQ kiêm xử lý thường vụ chi khu trưởng chi khu Thiện Giáo, Đại úy Mai Vi Thành, tức Thành Râu, tuy nhiên các chiến hữu và dân chúng Phan Thiết hầu như ai biết ông, đều thân thương gọi "Anh Ba". Anh Ba vốn là cựu TĐT- TĐ 202/ĐPQ đóng tại Cây Táo, trên Quốc lộ 1, nhưng theo yêu cầu của các binh sĩ TĐ 230, được tiểu khu điều động về thế người tiền nhiệm là Thiếu Tá Thổ Thiêm, người gốc Chàm, một vị đức độ, can đảm, chỉ huy giỏi, nhưng phải giải ngũ sau 3 lần lưu ngũ.


- Tiểu đoàn phó 230/ĐPQ là Đại úy Trần Đăng Thiệt, vì 230 phải chuyển sang phòng ngự, bảo vệ khu vực nên ngoài các Đại đội trưởng, phó, tương đối còn đầy đủ nhân sự các phòng ban 1,2,3,4,5 và truyền tin.


Phía địch: Theo nhiều tin tình báo ở thời điểm này, tuy không đủ thời gian kiểm chứng chính xác, nhưng qua khai thác tù binh được biết, quân số ước lượng vào khoảng 2 trung đoàn của lực lượng vũ trang quân khu 6, hơn 5,000 quân? Với toàn bộ du kích miền cao nguyên 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, trong đó Trung đoàn 812 là nỗ lực chính, và 1 trung đoàn tân lập, được điều động vào trận nhằm dứt điểm quận Thiện Giáo, xóa sổ TĐ 230. Ngoài pháo binh với đầy đủ đạn dược tiếp vận từ mật khu, loại xe tăng V100 được ngụy trang thành T54 khá đe dọa tâm lý, mặc dù sau đó người lính ĐPQ - NQ. TĐ 230 đã chứng tỏ cho thấy dù địch có xe tăng nhưng cũng không làm khó được họ.


Phối hợp: Chi khu Thiện Giáo phối hợp hàng ngang với chi khu Định Quán, địa đầu của tỉnh Xuân Lộc. Địch tấn công Định Quán cùng lúc với chi khu TG. Thiếu Tá Lê văn Chánh, cũng là người bạn thân của anh Ba, nắm quận trưởng kiêm chi khu trưởng Định Quán đã anh dũng tử trận. Việt cộng dùng pháo 100 ly trên xe tăng T59, bắn trực xạ vào hầm chỉ huy sau khi chúng loa gọi nhưng ông thà chết không hàng. Thiếu Tá Chánh hy sinh lúc đang liên lạc vô tuyến với trưởng chi khu TG.


* Lúc 3 giờ sáng khoảng ngày11, 12. Với quyết tâm “giải phóng” TG. hay cứ điểm Ma Lâm, vc. mở màn bằng trận pháo mù mịt vào tất cả mọi vị trí, công sự các đại đội, đặc biệt quả pháo 155 ly đầu tiên rót vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, được báo cáo là chui xuống gầm xe của anh Ba nhưng... không nổ. Sau cơn mưa pháo, địch tổ chức nhiều đợt tấn công biển người, chúng vừa phát loa kêu gọi đầu hàng, vừa ồ ạt đánh vào từ mọi mặt đông tây nam bắc nhằm cắt rời các đại đội ra, không tiếp ứng được nhau. Mặt tây bắc của Đại đội 2 (ĐĐ2) do Trung úy Sanh trách nhiệm chịu áp lực nặng nhất bởi vị trí phòng thủ nằm án ngữ nơi trục giao thông chính của liên tỉnh lộ 8, tuy nhiên, như 1 phép lạ, quân trú phòng vẫn đứng vững sau nhiều phen bị cường tập. Vc. sau mỗi đợt pháo luôn cố gắng tràn ngập nhưng lần nào cũng “chém vè”, phải rút ra với tổn thất không ít về nhân mạng, và cho đến khi tàn cuộc vẫn không chiếm được các cứ điểm. Trong lửa cháy lẫn mùi thuốc súng khét lẹt… Anh Ba nhận định với các ban về những tuyên truyền láo từ chính trị viên cs. nhồi vào đầu cán binh của họ, như tinh thần hốt hoảng, lo sợ, mất bình tĩnh của các chiến sĩ ĐPQ & NQ, QL - VNCH sẽ tiếp tục tháo chạy khi nghe tin “quân giải phóng” đến, đã không xảy ra giống như ở ngoài vùng 1, 2. Ông cười cho biết, chúng đâu ngờ quân dân Bình Thuận của chi khu TG từ quan đến lính, đã rất tỉnh táo, kỷ luật, súng đạn đầy đủ, nghiêm chỉnh chờ sẵn. Địch vào đến đâu bị đốn ngã như sung tới đó. Chiếc tank đầu tiên của vc. nhằm uy hiếp tinh thần bị người lính ĐPQ dùng M72 bắn cháy được thông báo cho nhau làm nức lòng mọi người”.


Nhiều người dân TG., sau này kể lại trận đánh tháng tư vẫn hả hê, cho đây là 1 trận thắng lớn, để đời của các chiến sĩ ĐPQ - NQ của QL - VNCH, vốn bị chế diễu là lính "Địa...phao câu", lính... vườn.


Anh Ba cho biết trận TG, với quyết tâm cao độ, ai cũng kiên cường, thà chết để bảo vệ khu vực trách nhiệm của mình cách thần kỳ, mọi người đã anh dũng chống trả, bẻ gãy mọi mưu toan, và đứng vững sau nhiều xung phong cảm tử của địch. Chiến thắng này cho thấy người lính ĐPQ và NQ của chi khu Thiện Giáo xứng đáng được nhận huân chương tiêu biểu, vinh danh cho truyền thống bảo vệ làng xã trên toàn lãnh thổ.


Trận đánh kéo dài cho tới ngày thứ 3, dù tất cả những vị trí, công sự hư hại nặng nhưng người lính ĐPQ & NQ, QL - VNCH tinh thần vẫn cương quyết một lòng, điềm tĩnh tử thủ khi giờ phút thứ 25 đang cận kề.

Tin từ các nơi gọi về...

- Trình Đại bàng, tụi nó chết la liệt, nhiều lắm, có thâu lượm chiến lợi phẩm không?

- Chỉ thu lượm súng đạn, trang bị ngược lại cho mình.


Sau nhiều vô vọng liên lạc về bộ chỉ huy tiểu khu, cuối cùng Anh Ba cũng được biết dân tị nạn từ phía bắc đã về tới thị xã Phan Thiết? toàn bộ tiểu khu Phan thiết với 6 tiểu đoàn đã di tản chiến thuật? Bằng tàu hải quân, một số ra đảo Phú Quý, số khác về Vũng Tàu. Một trung sĩ trước khi cúp máy cho biết không còn bất cứ giới chức nào để ra lệnh, dĩ nhiên không tiếp vận, không yểm trợ, và thẩm quyền phải tự xoay sở lấy... Cánh quân của TĐ. 230/ĐPQ như vậy đã chiến đấu đơn độc ngay trên đầu tuyến, “nhất kiếm trấn ải” trực diện với quân số vượt trội hơn nhiều lần của cs., để làm chậm bước tiến địch?


Đơn độc nhưng lẫm liệt, hào hùng!

Thời điểm ngày cuối, vc. sau nhiều lần tấn công thất bại, với tổn thất nặng nề, chúng ngưng tấn công, đánh giặc nước miếng! vác loa réo liên tục, yêu cầu, đích danh tên người chỉ huy "anh Ba" và các binh sĩ "ngụy": ”các anh đã bị bao vây, mau buông súng, trở về với ... nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng!” (sic).


Kinh nghiệm cho ông biết chúng đang tập họp, chỉnh đốn hàng ngũ, bổ xung cho 1 đợt cảm tử mới, nhất quyết dứt điểm?

Trong khi giao tranh, ban 4 nhận lệnh tổng kết đạn dược, cho biết trang bị cho 1 người chỉ còn giới hạn không đủ để bảo vệ chính mình. Tình hình bi đát, sớm muộn sẽ bị tràn ngập? Anh Ba đã ra lệnh cho 4,5 mũi thăm dò để thoát ra, hầu hết đều bị khóa! lúc này chung quanh chi khu TG. việt cộng đông như đàn kiến, áp lực dày đặc từ mọi hướng. Tuy vậy, cuối cùng, một toán trinh sát cũng tìm được sinh lộ cho toàn quân. Trong âm thầm, tất cả các đại đội được lệnh len lỏi, triệt thoái về phía đông, băng ngang qua QL.1, xâm nhập thẳng vào... mật khu Lê Hồng Phong của địch. Ông đã binh pháp đúng, "tìm đường sống nơi tuyệt lộ", có cách nào tuyệt vời hơn để dưỡng sức cả nghìn quân ngoài chính mật khu của việt cộng, sự tiên đoán chính xác sau khi thẩm định các tin tức tình báo về việc lực lượng cộng sản đã hối hả rời khỏi mật khu Lê Hồng Phong, dốc toàn lực nam tiến, nương rẫy vắng bóng, chúng để lại mọi thứ hầu như nguyên vẹn, người lính tìm được ít lương khô dán mác tàu cộng, đủ để nuôi quân ta được khoảng...1 ngày.


Đạn dược và thực phẩm luôn là thứ cần thiết nhất.

Sau đó, tất cả mọi người được lệnh rời khỏi mật khu, theo đường chim bay, tiếp tục triệt thoái về phía nam.


Giải tán: Khoảng 2 ngày sau đoàn quân về tới tiểu khu Phan thiết, anh Ba bàn bạc với các cấp chỉ huy tiểu đoàn và đi đến quyết định cuối cùng. Trưa ngày 18 tháng 4 ông ra lệnh cho mọi người buông súng, tan hàng, ai về nhà nấy. Lý do, hết lương thực, đạn dược.


Đoạn kết: Sau ngày 30-04-1975, truyền đơn rải từ quận Hàm Thuận, Phan Thiết xuống tới Khu rừng lá ở Hàm Tân, cây số 25 tỉnh Bình Tuy, vào đến Ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Long Khánh, kêu gọi đồng bào và các cựu quân nhân đầu quân, tìm vào chiến khu "Rừng Lá" để kháng chiến, tiếp tục chiến đấu chống cs. Tờ truyền đơn ký tên Đại tá Ngô Tấn Nghĩa và Đại úy Mai Vi Thành như một xác tín nhằm kêu gọi phục quốc. Dù thật hay giả hoặc phản gián, những tờ truyền đơn này đã trực tiếp vinh danh "Anh Ba", người hùng Bình Thuận, người đã gây cho du kích cộng sản nhiều khiếp đảm, kinh hoàng qua trận đánh cuối cùng tại Thiện Giáo. *** Anh Ba còn cho biết thêm, khi TĐ 230/ĐPQ về tới Phan Thiết, việc đầu tiên là tìm đến kho đạn của tiểu khu để bổ xung vũ khí, trang bị... trong đầu ông đã hình thành một tuyến phòng thủ mới, chuẩn bị ngăn địch vào thị xã, nhưng khốn thay, cả kho đạn cũng đã được di tản? Ông bất lực, ngao ngán nhìn thị xã Phan Thiết lúc đó coi như đã hoàn toàn bỏ ngỏ, và địch thì vẫn chưa vô tới! Thiệt tình!

UserPostedImage

Sau khi toàn quân ”giải tán”. Anh Ba và mấy người anh em thân thương, tìm ra phía biển...


Mai về đâu mảnh cơ đồ,
Các Anh gian khổ cam go giữ gìn?

Thơ Ý Nga (Trận tàn, ta vẫn chưa thua)



Ghi lại theo lời tường thuật của “Anh Ba”, Tiểu đoàn trưởng – TĐ 230 Địa phương quân, Đại úy Mai Vi Thành. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.



Tháng tư, mùa quốc hận, 2018.

Trần Kim Bằng



Chú thích:

* Cựu Tổng thống Bush phát biểu trong một cuộc phỏng vấn.


** Như đã nói, các vị được chỉ định về nắm quận trưởng TG. thời gian này đều... rét vì 3,4 vị tiền nhiệm TG. khi về nhậm chức đều bị tử thương hay hy sinh ngay khi còn tại vị. Thiện Giáo với nhiều làng xã xôi đậu nên địch biết mọi chuyện phía ta, chúng có sẵn “đề lô” trong dân và pháo từ bên kia sông cứ rót vào bộ chỉ huy chi khu quận, sau đó rê chạy, các quận trưởng cựu hay mới về TG. tuổi thọ chỉ là may mắn. Quận trưởng quanh năm uống cà phê...dưới hầm. Anh Ba vốn gốc tác chiến nên coi đây là chuyện nhỏ, ông chỉ thị cho 2 trung đội trinh sát và tình báo giả dạng du kích vc., vác AK lẻn qua bên kia sông trà trộn chung với chúng, vài ngày là giải quyết xong vụ nổ pháo chạy. Khi ông về xử lý thường vụ chi khu TG. thế cho Thiếu Tá Nguyễn văn Lợi (bị thương vì pháo địch, về dưỡng thương ở Tổng Y viện Cộng Hòa), chỉ cần vài tuần là bình định, yên ổn.

*** Điểm qua sách báo việt cộng về trận Thiện Giáo, chỉ thấy có 1 bài vinh danh 1 người đại đội trưởng vc. đánh thắng trận nào đó rất chung chung ở khu 6, Phan Thiết, và thậm chí không nhắc đến tên Thiện Giáo trong những bài viết. Một số chi tiết về lực lượng, tên gọi (quân đoàn, khu…) cộng sản được tham khảo và trích từ báo SGGP cũ, nguồn VTV, nhưng hiện nay các nguồn link gốc của họ đã hết xử dụng được.

- Bản họa đồ vị trí đóng quân của ta và các mũi tấn công của địch.

UserPostedImage

- Hình ảnh internet (minh họa): Các chiến sĩ xây dựng nông thôn, và 2 người sĩ quan Địa Phương Quân (dưới).


Link
https://vietbao.com/a279...-thien-giao-thang-4-1975
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 4 users thanked Ngọc Anh for this useful post.
Ty Xung 17 on 5/6/2018(UTC), NNT on 5/6/2018(UTC), Tí Trễ on 5/6/2018(UTC), Hoàng Thy Mai Thảo on 5/6/2018(UTC)
Ngọc Anh  
#1067 Posted : Monday, May 28, 2018 7:09:17 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 15,119

Thanks: 6619 times
Was thanked: 5179 time(s) in 2421 post(s)

UserPostedImage


Ngày Chiến Sĩ Trận Vong nhớ về chuyện... 18 Ông La Hán của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vào tháng 5 năm 1975!


Trong cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua. Anh hùng không chỉ có ngũ đại tướng quân mà còn hàng vạn những chiến binh vô danh đứng rợp trời dọc theo suốt chiều dài của quân lực. Tỷ như cái chết cực kỳ anh dũng của... 18 ông La Hán.

- Thập bát La Hán!
- Phải. Đó là 18 dũng sĩ của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Khi Tướng Dương Văn Minh đọc bản văn đầu hàng thì họ đang múa súng tại rừng Tân Uyên. Khi xe tăng Việt cộng húc đổ cánh cửa Dinh Độc Lập thời họ đang đánh vỡ mặt bọn du kích ở mật khu Biên Hoà.
- Hách thật.
- Sáng ngày 2 tháng 5. Họ rút tới bờ sông Đồng Nai, định bơi qua phía bên kia để chơi một cú chót thì bị bao vây, bị bắt. Trước khí phách ngất trời của những người lính Biệt Cách, trước thần oai lẫm liệt của những ông La Hán thời đại. Kẻ địch vừa sợ toát mồ hôi, vừa phát hoảng dựng tóc gáy. Nên chúng đem xử bắn hết rồi ném xác xuống sông.
- Thảm lắm thay! Thảm lắm thay!
- Đồng bào quanh vùng. Phần vì cảm thương cho số phận những chiến sĩ đã vị quốc vong thân, phần vì ngưỡng mộ phong thái bất khuất của những đại anh hùng nên đã vớt xác anh em và chôn dọc theo bờ sông. Hỡi ơi, khi sống thì đứng trên đầu sóng ngọn gió, khi chết thời chẳng có được một mảnh gổ đề tên. Tựa như những câu thơ:

“Lính Biệt Cách Dù không thích nghĩa trang
Yêu cô đơn nên mến lá thu vàng
Ghét nghi lể nên âm thầm nằm xuống”.

Hoặc:

“Một mai anh chết trong rừng thẳm
Muôn lá vàng rơi niệm xác thân.”

Bao mỗ thở dài:
- Họ thuộc Biệt Đội nào?
Hán tử trợn mắt:
- Mày cũng biết Biệt Cách Dù?
- Bẩm, xưa tại hạ với Liên Đoàn 81 cũng có một chút duyên.
Hán tử nghẹn ngào:
- Họ thuộc về 3 toán Thám Sát. Thứ nhất là Biệt Đội 1 của Trung Uý Trần Bá Long, thứ nhì là Biệt Đội 2 của Trung Uý La Cao, thứ 3 là Biệt Đội 4 của Trung Uý Nguyễn Văn Qúy.
Hán tử chép miệng:
- Đại tá Phan Văn Huấn đương kim gia đình trưởng Biệt Cách Dù đã liên lạc với các chiến hữu ở Việt Nam để bằng đủ mọi cách phải tìm cho ra các nấm mồ của 18 đại dũng sĩ này. Tin giờ chót cho biết rằng đã kiếm được một hố chôn tập thể 8 người, rằng đã truy cứu được tên tuổi, rằng đã thông báo với thân nhân và đang chuẩn bị tìm nơi an táng.
- Cảm động quá! Cảm động quá!
- Than ôi, vật đổi sao dời, thấm thoát mà cũng đã hơn bốn mươi năm. Trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh đã có hàng vạn chiến sĩ ta đã hy sinh cho tổ quốc, trong đó có hàng ngàn tử sĩ mà xác thân còn gửi đâu đó ở hốc núi, xó rừng, ở lau xậy, ở ven suối. Không có được một tấm bia đá, không có được một nén hương thơm. Hỏi sao mà hồn phách được siêu thoát, hỏi sao mà nấm xương khô được nguyên vẹn. Tựa như lời ai điếu: “Anh hùng hữu hận diệp diệp tiêu”, nghĩa là: “Người anh hùng mang nỗi uất hận, trong khi bao lá cây xào xạc rụng xuống”.

Thôi thì, xin được chắp tay cúi đầu trước anh linh của thập bát La Hán.

Bao Bất Đồng

* Xin cám ơn người cựu chiến sĩ Thám Sát của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã gửi tặng tấm hình nơi 18 dũng sĩ đã bị Việt cộng xử bắn

Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose
Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose Rose


Edited by user Monday, May 28, 2018 7:10:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Tí Trễ on 5/29/2018(UTC)
NNT  
#1068 Posted : Sunday, November 4, 2018 5:52:35 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
Hương Áo Mộng - Chu Sa Lan

Tiểu Sử Chu Sa Lan (1945 - )
Sinh năm 1945 tại Bến Tre.
1963 Tốt nghiệp trường Hồ Ngọc Cẩn Gia Định
1965 Gia nhập QLVNCH năm 1965.
1975 Di tản sang Hoa Kỳ.
Hiện đang cư ngụ tại miền Đông với gia đình.
Viết cho nhiều nhật báo và tạp chí ở Cali với nhiều bút hiệu khác từ năm 1980 cho tới năm 1986.


Điện, ông trung sĩ trưởng toán quân lương của đại đội cười cười khi trao lá thư cũ và nhầu nát cho tôi. Cầm lấy phong thư với cọc tiền lương, tôi nói lời cám ơn Điện xong nhét hai thứ đó vào túi áo rồi bước ra ngoài sân. Nắng bên kia con sông hẹp vàng hực. Hàng dừa nước đong đưa trong gió nhẹ. Ngồi xuống gốc cây quen thuộc ngó ra bờ sông, tôi chậm chạp lấy phong thư ra. Nhìn nét chữ như ” rồng bay phượng múa ” của Huyền, tôi mỉm cười. Hình ảnh cô gái Châu Đốc hiện ra lung linh nhạt mờ trong trí nhớ của tôi. Hơn ba năm rồi tôi không gặp mặt cô giáo thi sĩ. Thư từ khi có khi không. Huyền viết thư cho tôi nhiều hơn tôi viết cho nàng. Xé phong thư hơi nhầu nát, tôi lấy ra tờ giấy học trò. Đây là một việc khác thường, bởi vì Huyền thường hay viết thư trên giấy pelure màu xanh. Lá thư ngắn, gọn.
– Anh thương,
Huyền xin lỗi anh vì gấp quá nên chỉ viết vội vài dòng cho anh. Em vừa nhận được thư của anh Thiều nói sẽ về nhà đầu tháng tới tức là ngày 1-4-1971. Ảnh nhờ em nhắn với anh là nếu có thể anh về nhà gặp ảnh. Ảnh mong gặp anh lắm. Anh cũng biết lâu lắm rồi anh chưa trở lại CĐ, cũng như có một người mong được thấy cái ” bản mặt đáng ghét ” của anh… Vậy anh nhớ về nghen…
Gấp phong thư lại tôi ngồi im nghĩ ngợi. Từ ngày đi lính tới nay đã mấy năm tôi không gặp lại Thiều. Huyền, trong một lá thư cách đây khá lâu có nói, không biết vì lý do gì mà Thiều, đang học đại học sư phạm ở Sài Gòn, đã bỏ dở việc học và tình nguyện đi Thủ Đức. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên là thằng bạn nhút nhát và hiền lành, sau khi ra trường lại chọn về Biệt Động đóng đâu đó ở cao nguyên. Đây là dịp cho tôi gặp lại Thiều, thằng bạn từ hồi trung học may mắn còn sống sót trong số gần năm chục thằng ở trung học.
Buổi chiều xuống nhanh. Cơm nước xong, trong căn hầm mà cũng là nhà của mình hơn một năm, tôi nằm im mường tượng tới ánh mắt long lanh buồn của Huyền đêm giã từ cách đây ba năm. Hai đứa ngồi với nhau nơi công viên cạnh bờ sông. Đêm thăm thẳm sâu. Gió lành lạnh làm cho Huyền phải rút sát vào tôi như tìm chút hơi ấm. Tôi im lặng nhiều hơn nói. Trái với lệ thường Huyền cũng im lặng ngã đầu vào vai tôi nhìn dòng sông Hậu về đêm. Chút ánh đèn điện lù mù của công viên vừa đủ soi sáng khuôn mặt buồn nhiều hơn vui của nàng. Ba năm không ngắn nhưng chắc cũng không dài để tôi có thể quên người con gái đặc biệt này.
Một tháng trôi qua bình thường cho tới ngày cuối của tháng 3. Từ Long An tôi đón xe đi Châu Đốc. Đường không xa nhưng phải mất cả ngày vì phải qua bắc Mỹ Thuận và bắc Vàm Cống xong còn phải đón xe từ Long Xuyên về Châu Đốc nữa. Dù đường xá xa xôi cách trở tôi cũng phải đi vì muốn gặp lại thằng bạn thân. Tự trong thâm tâm tôi biết, Huyền mới chính là người mà tôi muốn gặp nhất. Tôi muốn biết ba năm qua nàng có thay đổi gì không, nhất là tình cảm đối với tôi. Dù không muốn bị ràng buộc nhưng nếu biết Huyền vẫn còn yêu thương thì điều đó làm cho tôi sung sướng và hãnh diện. Tôi ích kỷ, nhỏ nhoi, hèn mọn ở chỗ đó. Giống như đứa con nít, có món đồ chơi, dù không thích chẳng thà bỏ xó chứ không chịu để cho nó lọt sang tay người khác. Tôi không muốn nàng yêu ai ngoại trừ tôi. Cho dù sau này nàng có lấy chồng thì hình bóng của tôi vẫn ở trong tim nàng. Cũng như tôi, nếu có lập gia đình với bất cứ ai thì hình ảnh của Huyền vẫn được tôi gìn giữ trong ngăn ký ức của mình. Tôi là người sống để hoài niệm quá khứ và hoài niệm quá khứ để mà sống. Đó cũng chính là sự mâu thuẫn trong tôi. Bởi vậy kỹ niệm thật khó mà phai mờ đối với tôi. Ngồi trong lòng chiếc xe đò cũ kỹ, dơ dáy và ồn ào; tôi để ý nghĩ mặc tình rong chơi cho tới khi xe dừng ở bắc Mỹ Thuận. Theo dòng người xuống phà ra tới giữa sông, nhìn mênh mông nước chảy, tôi nhớ mấy câu thơ của Huy Cận: ” sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp… con thuyền xuôi mái nước song song… người về nước lại sầu trăm ngã...”. Nước đẩy tôi về vùng Thất Sơn trong lần gặp nhau ba năm trước, Huyền đứng cạnh gốc cây thốt nốt. Tà áo dài của nàng lộng gió bay về núi Cấm. Nụ cười hạnh phúc. Tôi hỏi ” … thường ngày Huyền có cười như đi với anh không? ”. Nàng trả lời một câu nghe thật bùi ngùi: ” Chỉ cười khi có anh. Lòng em chỉ ấm khi có anh bên cạnh…”. Tôi ước gì chinh chiến chấm dứt để tôi có thể cởi bỏ quân phục, trở về bên nàng sống một đời bình yên và hạnh phúc. Nhưng súng vẫn nổ, người vẫn chết và tôi, mỗi khi bóng tối ụp xuống, lủi thủi trong căn hầm ẩm mốc, sống cô đơn và buồn bã kéo dài đời lính đóng đồn. Xe dừng nơi Bắc Vàm Cống. Sông Hậu miên man trầm lắng, nước đục phù sa và lang thang lục bình trôi. Ta bên này sông Tiền… Em bên kia sông Hậu… Chờ nhau bao lâu nữa… Hai chữ bên này và bên kia cứ lẩn quẩn trong trí tôi cho tới khi chiếc bắc cập cầu. Lại một lần đổi xe. Người cũng như xe đến rồi đi, thay nơi ở, đổi chỗ về. Từ khi sinh ra tới bây giờ, tôi đã bao lần dời nhà, thay chỗ ở. Nhiều lắm không nhớ hết. Những địa danh mà tôi đã đi qua trong đời lính. Cà Mau với Đầm Dơi, Năm Căn, Sông Ông Đốc, Thới Bình, U Minh Hạ, Trèm Trẹm, Cạnh Đền. Bạc Liêu. Sóc Trăng. Chương Thiện. Rạch Giá với Tắc Cậu, Xẻo Rô, Miệt Thứ, U Minh Thượng, Rạch Sỏi. Ngồi trên chiếc xe đò chạy đường Long Xuyên- Châu Đốc, tôi miên man suy nghĩ. Một thằng bạn thân bảo tôi có tật hay suy nghĩ, vì thế mà tôi không thể thành một người lính tốt được. Tuy nhiên lằn ranh của cái tốt và cái xấu mơ hồ, lộn xộn và khó mà đoán định được. Tôi nào muốn trở thành một người lính tốt, một chiến sĩ xuất sắc. Tôi chỉ muốn làm tròn bổn phận của kẻ cầm súng bảo vệ cái gì mình tin tưởng hay nói theo cách mà người ta hay điểm tô cho đẹp là trả nợ núi sông. Xe qua Cái Dầu. Tôi biết còn cách tỉnh lỵ Châu Đốc không xa. Tự dưng tôi hồi hộp và điều đó khiến cho tôi buồn cười. Mấy năm quen nhau, tôi biết Huyền là cô gái dịu dàng và hiền thục. Cho dù bây giờ có thành cô giáo, nàng cũng vẫn là cô giáo-thi sĩ lãng mạn, đa sầu đa cảm và mơ mộng như lúc còn đi học. Nàng đâu có dữ dằn, hăm he tôi này nọ để làm tôi phải lo âu, hồi hộp khi diện kiến nàng. Trong nhiều thư gởi, nàng có nói dù yêu thương tôi tha thiết và mong ước được làm vợ nhưng nàng không muốn ” ép duyên ” mà để tôi hoàn toàn tự do quyết định muốn lấy ai cũng được. Dĩ nhiên nàng cũng nhắc khéo ” lấy em tốt hơn ” vì em yêu anh, hiểu anh, anh em mình tính tình và sở thích hợp với nhau hơn, anh viết văn em làm thơ… Nàng không nghĩ tới chuyện hai người được bạn bè thương mến gọi đùa là ” sĩ ? ” sống chung với nhau hoài đâm ra hết ” sĩ ” mà ” sỉ ” vả nhau nhiều hơn. Đối với tôi, yêu là một chuyện mà lập gia đình lại là chuyện khác. Yêu thương là hành động lãng mạn của tình cảm, trong khi lấy vợ là một hành động thực tế kể cả lấy người mà mình yêu thương. Tôi là lính, nguy hiểm có thể không nhiều như những người lính khác song không có nghĩa tôi không bị chết một cách bất ngờ. Đối với lính, trừ các ông ở Sài Gòn hay lính văn phòng không ít thì nhiều cũng sẽ phải đối diện với kẻ địch. Mà súng đạn thì vô tình lắm. Là cô giáo, Huyền nên lấy chồng cùng nghề có vẻ phù hợp hơn. Chỉ có điều không phù hợp là, nàng bảo không yêu ai ngoại trừ tôi. Đó là một trở ngại. Hiền hậu và nhu mì song Huyền cũng rất bướng, cứng đầu và cương quyết khi bảo vệ điều mà nàng tin tưởng.
Xe dừng tại bến xe. Không biết Thiều có mặt ở nhà chưa nên tôi tạt vào cái quán bên đường, nhìn xế về phía cổng trường Thủ Khoa Nghĩa để chờ tới lúc tan học. Không lâu lắm, bóng cô gái mà tôi phải vượt gần 200 cây số để gặp thấp thoáng trong đám học trò chỉ còn lác đác ở sân trường. Thủ Khoa Nghĩa là một ngôi trường đẹp trong số những ngôi trường của miền lục tỉnh như Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên, Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho và Phan Thanh Giản Bến Tre. Nó có đẹp hơn những ngôi trường khác không thì tôi không biết, nhưng tôi thích nét ấm cúng, thơ mộng, yên ả và thanh tịnh của trường này. Không nhỏ quá mà cũng không lớn quá để cảm thấy chật chội hay lạc lõng. Trường Hồ Ngọc Cẩn của tôi ở Gia Định lớn hơn song cảnh trí lại không đẹp. Sau này vì đông học trò nên phải xây thêm lớp bằng cách lấn sân trường khiến cho sân chơi mất hết cây cối và chật hẹp. Vào trong đó rồi tôi có cảm tưởng như ở trong một cái hộp có nhiều ngăn.
Phải thành thật mà nói, nhìn thấy ánh thu ba long lanh nước mắt của Huyền khi gặp lại, tôi có thể làm bất cứ điều gì mà nàng yêu cầu ngay cả rời quân ngũ để về sống cạnh nàng. May là nàng không năn nỉ tôi chạy chọt để được đổi về Châu Đốc làm một anh lính văn phòng sáng đi chiều về đúng giờ giấc.
– Anh…
Huyền mừng vui tới độ nghẹn ngào chỉ kêu được một tiếng. Phần tôi cũng chỉ cười hỏi nhỏ.
– Huyền khỏe?
– Dạ cũng khoe khỏe…
Tôi bật cười vì cái giọng hờn mát và ngôn từ của Huyền. Nàng vẫn không thay đổi cung cách nói chuyện với tôi.
– Có nghĩa là không được khỏe hay chỉ khỏe khi thấy anh…?
– Cả hai… Anh về rồi chừng nào anh đi?
Tôi thở dài thầm lặng. Vừa mới thấy mặt nhau mà đã nghĩ tới chuyện lìa xa nhau rồi. Có lẽ cảm nhận được tiếng thở dài của tôi, Huyền lên tiếng bằng giọng nói cố làm ra bình thường song vì vậy mà lại trở nên không bình thường.
– Huyền chỉ hỏi vậy thôi… Anh muốn đi lúc nào cứ tự nhiên…
Tôi nheo mắt nhìn cô gái đang đứng trước mặt mình. Vài đứa học trò đi ngang cúi đầu chào Huyền rồi vừa đi vừa cười vừa rù rì. Chắc chúng nó ngạc nhiên khi thấy cô giáo đứng nói chuyện với một ông lính lạ mặt mà chúng nó đoán là bồ của cô giáo.
– Có nghĩa là Huyền không năn nỉ anh ở lại…
– Hông… hông năn nỉ mà cũng hông níu kéo…
Cười vì cái giọng dấm dẳn của nàng, tôi đùa.
– … Nhưng có đe dọa và trói buộc…
Huyền ngước nhìn tôi cười. Tôi nhận ra nụ cười thật tươi tắn mà ánh mắt nâu đen lại buồn bã và óng ánh như có chút nước mắt, biểu lộ chút gì mâu thuẫn và tương phản trong lòng nàng.
– Thiều có nhà chưa?
– Dạ có… Ảnh về từ hôm qua…
– Vậy thì mình đi về… Đi xe lôi hả em?
– Dạ…
Tôi ngoắc chiếc xe lôi đang đậu bên kia đường. Hai đứa leo lên. Thay vì ngồi cạnh, tôi lại ngồi đối diện cốt ý ngắm nghía cô giáo để xem có gì thay đổi. Biết tôi đang chiếu tướng nên Huyền có vẻ ngượng ngùng và bối rối.
– Có gì thay đổi đối với Huyền…
Huyền ngước lên với tia nhìn dò hỏi. Tôi cười tiếp.
– Về tình cảm…
Gió từ dòng sông Hậu kéo về bay bay những sợi tóc đen dài của Huyền. Tôi nghe mùi hương thoảng đưa mà tôi thường hay gọi đùa ” hương sông Hậu ” khi hôn lên tóc của nàng.
– Chẳng có gì thay đổi… chỉ có chờ… trông… ngóng… đợi… mong…
– Chờ ai vậy?
Tôi vừa cười vừa hỏi. Huyền háy tôi một cái thật dài.
– Em mà là con trai em đạp cho anh một đạp văng xuống đường liền…
Nói xong Huyền ngước nhìn tôi rồi bật cười hắc hắc. Tôi cũng cười.
– Con gái cũng đạp được mà…
– Em yếu đuối hổng nở đạp anh văng ra khỏi đời em…
– Chắc tại anh nặng tình với em nên em hổng nở đạp…
Cô giáo lườm tôi một cái và thân hình hơi ngã nghiêng vì chiếc xe quẹo vào con đường nhỏ dẫn về nhà.
– Anh mà nặng tình…? Tình của anh nhẹ hều… Anh là người tình tệ nhất thế gian này…
Ngừng lại giây lát Huyền thở dài nhè nhẹ nói tiếp. Giọng của nàng buồn như than thở.
– Nếu anh là người tình tệ nhất thế gian thì em là cô gái ngu nhất thế gian…
Thấy Huyền có vẻ buồn buồn, tôi bèn lảng sang chuyện khác.
– Thiều ra sao?
– Đen và ốm nhách… xí trai lắm… kể cả anh luôn…
Nói xong Huyền bật cười thánh thót. Tôi cũng cười thừa nhận điều đó. Lần gặp nhau này tôi nhận thấy Huyền ít lộ ra vẻ buồn bã hơn nhưng điều đó không có nghĩa nàng vui hơn. Dường như nàng đã già dặn, đã trưởng thành hơn trong suy tư nên từ đó biết cách giấu kín nỗi buồn của mình không để lộ ra ngoài cho người khác thấy được. Huyền là cô gái đa cảm, lãng mạn, mơ mộng, thích thi ca, sống thuần nội tâm, thiên về tình cảm hơn vật chất vì vậy khó mà hoà đồng với mọi người cùng lứa tuổi hay cùng nghề nghiệp. Lần đầu gặp nhau ở Sài Gòn, tôi với Huyền đã nói chuyện văn chương, thi ca rất nhiều. Tính lãng mạn và mê văn nghệ đã kéo hai đứa gần nhau và cuối cùng ràng buộc hai đứa lại với nhau.
– Anh vẫn còn viết?
Huyền hỏi.
– Chút chút…
Tôi trả lời hai tiếng rồi hỏi lại.
– Em vẫn làm thơ?
Huyền gật đầu. Nàng lây cách nói chuyện của tôi nên thỉnh thoảng bị ba má rầy là con nhỏ này dị hợm hỏi không trả lời mà chỉ gật đầu.
– Anh có đọc thơ em trên Tiểu Thuyết Tuần San…
Tôi ngừng lại giây lát như muốn người đối diện phải chú ý tới lời sắp nói của mình.
– Dường như có sự chuyển hướng trong thơ của em…
Trả lời câu hỏi của tôi bằng cái gật đầu nhìn nhận rồi lát sau Huyền mới thong thả nói tiếp.
– Em lớn rồi… Hết cái thời than mây khóc gió, khóc tình yêu của tuổi học trò rồi… Em muốn, bằng thi ca, tham dự vào cuộc chiến tranh này, đau cái đau của dân tộc, chia xẻ nhọc nhằn và gian khổ với những người bên cạnh mình, với những người lính như anh. Yêu anh và cám ơn sự hi sinh của anh không gì hơn là nhìn thẳng vào cuộc chiến bằng thái độ trung thực của một người đang sống trong chiến tranh. Em không dám nói em là trí thức, nhưng em cũng có chút hiểu biết để nhận thức anh chiến đấu cho ai và cho cái gì…
Tôi nhìn Huyền. Cô gái đang ngồi trước mặt tôi đã lớn với cái nhìn khác lạ và mới mẻ hơn. Xe dừng trước cửa nhà. Nghe tiếng hò lớn của ông anh ruột, Huyền cười đùa.
– Tối nay anh tha hồ ăn với nói… Em thấy anh ba mua bia đợi anh về…
Tôi xuống xe trước. Huyền đỏ mặt cười sung sướng khi thấy tôi làm cử chỉ khác thường là đưa tay ra cho nàng nắm lấy để rồi âu yếm dìu nàng xuống xe.
– Sao bữa nay anh nịnh em dữ vậy?
Trả tiền xe xong tôi thì thầm vào tai nàng.
– Sáng thứ hai anh mới đi… Anh dành cho em một ngày trọn… 24 giờ phép của anh…
Nét mặt của cô giáo rạng rỡ lên. Giọng nói âu yếm và trữ nặng tình của nàng rót vào tai tôi.
– Chủ nhật nghen… Em muốn anh làm mọi em nguyên ngày chủ nhật…
Tôi gật đầu. Cười hắc hắc Huyền ủn vào lưng đẩy tôi đi trước. Thiều bước ra với bộ quân phục rằn ri. Tôi với nó xiết tay nhau thật chặt. Không có lời chào, thăm hỏi gì hết. Nói cũng thừa thời nói làm chi cho mệt. Tôi chào ba má Huyền. Ông bà rất vui mừng vì sự có mặt của tôi trong nhà. Cả hai đã biết mối giao tình giữa tôi với Thiều và Huyền thành ra đối đãi với tôi như con cái. Bữa cơm chiều thật vui vẻ, ấm cúng và thân mật. Tối hôm đó, tôi với Thiều thức tới hơn 1 giờ sáng, uống bia ít mà đối thoại cũng không nhiều lắm. Dường như sự im lặng nói nhiều hơn hoặc giả hai đứa đồng cảm với nhau rồi thì cần gì ngôn từ nữa.
– Chuyện của mày với Huyền ra sao?
Thiều lên tiếng. Có lẽ đó là điều mà nó cần biết và cần nói với tôi nhất.
– Huyền nói với mày cái gì?
Thiều lắc đầu. Thấy nó có vẻ ngập ngừng như khó nói, tôi hỏi.
– Mày nghĩ tao nên lập gia đình với Huyền?
Thiều làm thinh. Thật lâu nó mới cựa mình, với tay đốt thuốc, hít hơi dài, hớp ngụm bia rồi cất giọng rời rạc, không thành câu và thiếu ý nghĩa song nếu gom góp lại tôi hiểu được.
– Mày lãng mạn… nó mơ mộng… mày đa tình… nó đa cảm… lấy nhau khổ nhiều hơn… thì thôi nên xa nhau… dứt khoát sớm càng tốt… càng lâu càng bi lụy nhiều hơn… Muốn nhớ nhau hoài, mày nên để cho tình đẹp cũng như đừng để cho người mà mình yêu thương vỡ mộng về mình. Tao nói như thế nhưng tùy tụi mày… Nếu mày muốn lột son phấn của tình yêu để thấy cái mặt thực thì cứ lấy nhau…
Tôi bật cười vì câu nói cuối của Thiều. Tôi hiểu nó cũng như tôi. Sống trong sự sợ hãi và lo âu là điều không ai muốn. Rất nhiều đêm, nằm trong hầm núp bóng tối vây quanh, lắng nghe tiếng depart của pháo, tôi hồi hộp tự hỏi trái đạn vô tình đó sẽ đi về đâu, rớt xuống nơi nào, có ngay chỗ mình nằm? Lương lính ba cọc ba đồng, chẳng đủ cho mình hút thuốc, ăn nhậu và xài vặt lấy gì nuôi vợ với ba con. Hằng ngày nhìn thấy cảnh mấy bà vợ lính ăn mặc luộm thuộm, sống trong những ngôi nhà tồi tàn, còn con lính thì gầy gò đói ăn đói uống, chẳng được học hành gì hết, tôi không muốn vợ con phải sống cảnh đời nheo nhóc và tăm tối. Điều đó làm cho tôi đắn đo khi có ý định lập gia đình với Huyền hay bất cứ cô gái nào khác…
Nước sông Hậu chảy miên man. Sóng vỗ bờ. Đêm chủ nhật thật yên tịnh. Công viên vắng lặng. Gió man mát thổi bay tà áo dài đen của Huyền. Bên cạnh nàng, tôi đứng im nhìn mặt sông thăm thẳm. Hai đứa chỉ còn có đêm nay thôi. Ngày mai tôi sẽ đi và không biết bao giờ trở lại. Hiểu điều đó nên Huyền cam chịu, không than van và hờn giận gì hết. Tôi đi làm tròn bổn phận của người lính để cho nàng được sống tự do, dù là tự do sống với nỗi buồn của nàng.
– Em thương anh…
Quen biết và vương vấn tình cảm từ hồi còn đi học, lần đầu tiên Huyền mới tỏ bằng lời. Nhìn vào ánh mắt long lanh buồn có những sợi lông mi dài cong cong, tôi mỉm cười.
– Anh biết… cũng như anh biết anh thương em… Nói ra thì có vẻ tiểu thuyết và cải lương nhưng đó chính là sự thực. Cũng tại anh thương em mà anh không muốn em trở thành vợ anh…
Huyền nhìn tôi dò hỏi. Tôi kể cho nàng nghe về cảnh đời tối tăm của người lính, về sự đợi chờ cái chết của tôi hằng đêm, về những suy tư vụn vặt của tôi khi nằm co ro trong căn hầm ẩm thấp nghĩ về những người thân yêu của mình.
– Anh không muốn em trở thành góa phụ cũng như những đứa con của anh lớn lên không có cha. Anh sợ… Em đã biết là anh sống xa cha của anh từ nhỏ…
Huyền nhẹ gật đầu như vẫn còn nhớ những gì tôi kể cho nàng nghe về chuyện gia đình của tôi. Im lìm nhìn xuống mặt nước sáng mờ mờ nhờ ánh đèn điện vàng của công viên, nàng chợt nắm lấy tay tôi rồi xiết chặt lại.
– Em sẽ chờ anh…
– Bao lâu?
– Bao lâu em cũng chờ…
– Em không sợ già…
Huyền lắc đầu rồi mới cười nói một câu.
– Em già mà tình em không già…
Nói xong nàng xoay người đi trước. Đứng nhìn theo tà áo dài đen bay trong gió tôi có cảm tưởng như là cái vẫy tay chào từ biệt. Sáng thứ hai, tôi rời Châu Đốc thật sớm. Thiều vẫn còn ngủ hay cố ý để em gái tiễn tôi ra bến xe. Gió ban mai từ sông Hậu thổi về bay bay tà áo dài màu đen của Huyền. Ngồi trong xe, nhìn nàng đứng im lặng, buồn bã và cô đơn, tôi biết còn lâu hoặc sẽ không bao giờ gặp lại nàng nữa. Dù xa cách và chia lìa, hình ảnh của nàng với tà áo dài màu đen đã theo tôi suốt cuộc đời.

chu sa lan
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 11/5/2018(UTC)
NNT  
#1069 Posted : Sunday, November 25, 2018 2:29:30 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)


Một mặt trận hai kẻ thù
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

TÔI CÒN NỢ ANH
Ngô Quốc Sĩ

Ân đền nợ trả là luật đời bất thành văn “ân oán giang hồ”. Nợ tình với em, nợ hiếu với cha mẹ, nợ trung với tổ quốc, nợ tang bồng với chí trai, và nợ nhân nghĩa với trần hoàn. Nợ phải trả, nhưng mấy ai được may mắn như Nguyễn Công Trứ “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo!” Thường tình, người ta vẫn băn khoăn tự hỏi làm sao trả dứt được nợ nước, nợ người và nợ đời ? Bao trường hợp “nửa đường đứt gánh” rồi ôm hận xuống tuyền đài như chàng trai mũ đỏ tên Đương, như ngũ tướng Nam- Hưng-Hai-Phú- Vỹ..

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, bao chiến sĩ cộng hòa đã phải buông súng khi tinh thần chiến đấu còn ngút ngàn. Rồi từ đó, bao tinh hoa đã nhắm mắt trong tức tưởi, người bỏ xác trong ngục tù, người bỏ nuớc ra đi trong tủi hận hay ở lại sống dở chết dở! Hoàng Nhật Thơ qua bài thơ “Người Lính Việt Nam cộng Hòa..Tôi nợ anh” đã trải hết tâm tình biết ơn đối với các chiến sĩ đã xông pha lửa đạn, đã ra đi như “đại bàng gãy cánh” khi mộng lớn chưa thành. Tác giả đã vẽ lại cuộc chiến kéo dài 20 năm với bao tang tóc, đồng thời thể hiện niềm tâm cảm nặng nợ đối với những người đã nắm xuống cho quê hương dân tộc.

Vào thơ, tác giả đã ca tụng ý thức sứ mệnh của người trai Việt đã “xếp bút nghiên theo việc đao cung” đáp lại tiếng gọi sông núi. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh, thì tuổi trẻ Việt Nam, rường cột của nước nhà đâu có quyền ngồi yên?

Anh lớn lên ... quê hương dày lửa khói,
Sách vở buồn ... chữ nghĩa dở dang rơi,
Mực chưa vơi ... gác bút ... bước vào đời,
Trường nghiêng nắng ... Ve ngân lời từ giã !

Thế là đời trai đã thay đổi. Chàng thư sinh nho nhã ngày nào, nay thành người lính mới nơi quân trường nắng cháy thịt da, lời sông núi ca vang thay cho sách vở, chữ nghĩa phấn trắng bảng đen:

Nắng quân trường ... tháng ngày dài huấn nhục,
Đêm di hành lạnh buốt dưới mưa rơi,
Da sạm đen ... màu nắng đổi cuộc đời,
Người lính mới ... ca vang lời sông núi.

Rời quân trường bước ra chiến trường, người chiến sĩ đã đối diện với bao thử thách, với gió sương và đạn thù hiểm nguy như chinh phu ngày nào “tên roi đầu ngựa giáo lan mặt thành”

Hai mươi năm ... Anh chưa tròn giấc ngủ,
Vì đạn thù vẫn cày nát quê hương,
Bước quân hành ... ngọn cỏ đọng giọt sương,
Anh dừng gót ... hậu phương ... hoàng hôn phủ.

Điều đáng nói là đối diện hiểm nguy, người chiến sĩ không hề nao núng. Anh đã ý thức được sứ mệnh người trai thời chiến, khi đất nước đang lâm nguy trước mộng xâm lăng của kẻ thù phương Bắc.

Ý thức rằng, Hà Nội đã nhẫn tâm chia đôi đất nước với Hiệp Định Geneve, chặt đứt thi thể mẹ Việt Nam, lại còn nuôi cuồng vọng xâm chiếm miền Nam, nên trai Việt phải lên đường:

Sông Bến Hải ... lửng lơ buồn im lắng,
Chảy ngăn đôi ... đau xót Mẹ Việt Nam,
Gót giày Saut in dấu nẻo quan san,
Ngăn cuồng vọng lan tràn từ phương Bắc.

Cuồng vọng xâm lăng của phương Bắc đã gieo bao tai họa cho Miền Nam, từ thôn quê đến thị thành, tiêu biểu như Huế và Quảng Trị trong Tết Mậu Thân:

Tết Mậu Thân ... giặc đốt phá điêu tàn,
Chiếc cầu gãy ... Anh bàng hoàng chua xót !..
Ôi Quảng Trị ... Cổ thành nghiêng đổ nát,
Máu của anh ... từng viên gạch đỏ loang

Rồi Charlie, Tống Lê Chân, nhất là An Lộc, bao xương máu đã rưới ướt đất mẹ. Điều đáng nói là nỗi đau chiến tranh không làm nhụt chí người lính cộng hòa, trái lại càng nung nấu lòng căm hờn và nuôi chí chiến đấu, hiên ngang thách đố với bạo quyền như cây thông sừng sững giữa đất trời bão tố:

An Lộc Địa ... chín mươi ngày rung chuyển,
Hằng trăm ngàn đạn pháo ... máu xương rơi,
Anh hiên ngang sừng sững với đất trời,
Anh vẫn sống với cuộc đời đáng sống !

Nhất là làm sao quên được những giây phút hào hùng, người chiến sĩ nghiêng cánh bay lượn, tưởng như Kinh Kha mang kiếm sang Tần, thực hiện sứ mệnh diệt trừ bạo tặc với búa liềm cờ đỏ:

Lững lờ mây ... xé trời nghiêng cánh sắt,
Anh tung hoành ngang dọc giữa không gian,
Giữ quê hương ... diệt lũ cộng bạo tàn,
Giáng những trận kinh hoàng trên đầu giặc.

Cuộc chiến kéo dài. Kiếp chinh nhân gian khổ. Nhưng người chiến sĩ không bao giờ than thở hay ngại ngần chùn bước, mà luôn vững tâm chiến đấu:

Máu tuôn rơi thịt nát không ngại ngần
tổ quốc chưa một lần buông súng..

Nhưng oái oăm thay! Súng không buông mà gãy! Chí trai treo đầu súng đã rơi rụng khi đạn đã lên nòng mà không được bắn. Nhục nhã thay! Lệnh đầu hàng đã giáng cả trời oan khiên xuống đầu dân Việt với gươm kề cổ, dây thòng lọng lủng lẳng trên đầu:

Tháng Tư Đen ... Ngày Ba Mươi ... gãy súng,
Giặc Hồ vào ... máu nhuộm đỏ quê hương,
Đôi dép râu mang chủ nghĩa bạo cường,
Gieo tang tóc ... xây thiên đường bằng máu !

Trong thiên đường máu, hạnh phúc vắng bóng và cuộc sống từng ngày tàn tạ. Đất mẹ thành đất chết. Dân Việt hấp hối, nghẹn ngào giã biệt quê hương:

Người Người còn sống giống như người đã chết,
Khác nhau chăng ... một xác chết biết đi,
Mất quê hương ... Anh còn lại những gì ...
Ngoài kỷ niệm khắc ghi vào quân sử !

Quê hương đã mất, nhưng máu các anh đã thấm ướt đất mẹ. Hữu danh hay vô danh, các anh đã đi vào lịch sử. Máu các anh là máu thánh, và phải được đền trả bằng máu thánh. Máu nở thành hoa như Nguyễn Chí Thiện đã mơ ước: “Máu ươm hoa hoa máu chan hòa, hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa”. Đó là món nợ hoa máu, tác giả và dân Việt còn nợ các anh:

Tôi nợ Anh ... nhịp quân hành rộn rã,
Ánh đuốc thiêng ... khúc hát khải hoàn ca,
Tôi nợ Anh ... nợ nước với thù nhà,
Món nợ đó ... Tôi thề sẽ phải trả ...

Món nợ đó ... Tôi thề sẽ phải trả ...
Trả cho Anh và Tổ Quốc Việt Nam

Ước mong dân Việt nắm chặt tay Hoàng Nhật Thơ cùng trả hết món nợ núi sông...
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 1/2/2019(UTC)
NNT  
#1070 Posted : Tuesday, January 1, 2019 11:56:30 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
From :<ngo...2409@yahoo.com>

Date: December 29, 2018 at 9:20:16 AM MST

Subject: LÁ THƠ PLEIME chưa kịp gởi cho bạn của Thiếu úy Lê Anh Thái ....

Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là Lê Anh Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là LÁ THƠ PLEIME vì Thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ khi còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.


Lá Thư Pleime

Tao được thơ mày cả tháng nay
Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
Lưng không rời giáp, tay rời súng
Liên lạc thì không có máy bay

Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay

Pleime suốt tháng mưa dầm dề
Mày ơi, thèm quá khói cà phê
Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
Thèm rót bọt đầy một cốc bia

Sài Gòn mày vẫn xem phim chưởng ?
Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly ?
Những chiều thứ bảy còn đi nhót ?
Hay lén ông già nhậu whisky ?

Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
Râu tóc bù xù như cái bang

Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
Hành quân liên tiếp giữa rừng già
Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da

Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
Tao bị thương xoàng ở bả vai
Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
Mày đừng có nói mẹ tao hay

Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
Ai đi nhốt gió được bao giờ ?

Những đêm biên cảnh sống xa nhà
Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
Cũng có đôi lần tao muốn khóc
Muốn về thăm mẹ... thế nhưng mà...

Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
Trực thăng đã đáp trong vòng đai
Tản thương lính đã đưa lên đủ
Tao viết thơ này vội gởi ngay.

Thiếu Uý Lê Anh Thái



Edited by user Tuesday, January 1, 2019 12:03:39 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Lam Vien on 1/1/2019(UTC), Ngọc Anh on 1/2/2019(UTC)
NNT  
#1071 Posted : Sunday, February 17, 2019 4:29:09 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
Tôi đi thăm chồng ‘cải tạo’
Người viết : Minh Hòa

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định…

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.

Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng thầy mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng ba má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…

Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà Lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.

Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.

Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu Tết Tân Hợi 1971, Sư đoàn Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong dòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.

Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa… Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi: “…phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà Lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.

Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…

Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….

Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.

Rồi mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị… Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ Thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trên đường tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…

Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một Tướng Patton của Việt Nam, “Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà.” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…

Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế…

Tháng Tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm thầy mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu Thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chết có nhau…

Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa Tháng Năm đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào Tháng Sáu, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi???…

Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà Lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dần vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.

Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về… Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đột nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.

Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định… Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ… Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay… nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…

Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi…

Anh từ miền cực Bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.

Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.

Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay. Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.

Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.

Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???

Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!

Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.

Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an. Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:

– Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.

Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.

Tôi cúi mặt giận dỗi:

– Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được…

Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:

– Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ… Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!

Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:

– Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…

Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.

Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà… anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…

Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nước mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:

-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em… đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…

Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc. Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.

Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…

Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì. Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.

Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.

Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh Hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.

Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.

Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.

Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…

…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:

– Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ… Hà hà..

Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….

Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…

[Tác giả Minh Hòa và gia đình hiện định cư tại Hoa Kỳ]
thanks 3 users thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 2/17/2019(UTC), Ty Xung 17 on 2/17/2019(UTC), Tí Trễ on 2/22/2019(UTC)
Ngọc Anh  
#1072 Posted : Friday, February 22, 2019 6:06:46 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 15,119

Thanks: 6619 times
Was thanked: 5179 time(s) in 2421 post(s)
UserPostedImage



“Tượng đài Chiến sĩ Vô danh giữa ngã tư Hồng Bàng-Tổng Đốc Phương”. (Ảnh)

Họ là ai?

Là những Chiến Sĩ Vô Danh bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, nhiều trận đánh đẫm máu giữa VCBV và LLDB tại Pleiku, Ben Het, Đức Cơ, Dakto, Đồng Xoài,Bình Giả, Lộc Ninh, Tống Lê Chân, Kàtum, Bến Sỏi..., , anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù.
Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính VNCH. “Người Chiến Sĩ Vô Danh”. Thưa quý vị !!

FB ‎Ngô Đình Bảo‎ to Miền Nam Việt Nam
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Tí Trễ on 2/22/2019(UTC)
NNT  
#1073 Posted : Saturday, March 23, 2019 7:34:30 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (1943-1975)

Thiếu Tá Lê Anh Tuấn là cựu học sinh Chu văn An, chức vụ sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 43 Ngăn Chận tại Tuyên Nhơn.

Ngày 30/4/75, sau khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng, Thiếu Tá Lê Anh Tuấn đã chở đồng bào tị nạn Cộng Sản tới nơi an toàn rồi trong đêm hôm đó, anh đã dùng súng Colt bắn vào đầu tự sát

Năm 1997, gia đình và bè bạn đã về Việt Nam tìm thi hài Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được dân chúng chôn cất và săn sóc tử tế, đào lên thì thấy hài cốt nguyên vẹn cùng với thẻ căn cước quân nhân, thẻ bài, chứng chỉ tại ngũ và thẻ sinh viên năm thứ 4 Luật Khoa, tất cả được bọc cẩn thận trong bao plastic. Hiện tro cốt được mang về Mỹ, đặt tại chuà Giác Minh, San Jose, California

Bà cụ thân mẫu Thiếu Tá Tuấn năm nay vừa đúng 99 tuổi vẫn hàng đêm cầu nguyện cho người con trai ra đi khi chưa có gia đình.


Phần 1: Tình Bạn, Tình Chiến Hữu

Các Bạn,

Hôm nay ngồi trên máy bay lâu quá, nên tôi chợt nhớ ra một món nợ đối với các bạn là phải viết về Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, cựu học sinh Chu Văn An, một người đàn anh khả kính và khả ái, cũng là người bạn quân ngũ, đã từng cứu mạng tôi mấy lần.

Trước khi vào truyện, để các bạn có một ý niệm khái quát về Lê Anh Tuấn, xin đọc những vần thơ dưới đây cuả một nhà thơ Quân Đội:

"Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi Hành Quân mà ... rượu đế cũng đeo theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo,
Xem chiến cuộc là Tai Trời, ách nước
Ta bắn trúng ngươi, chỉ vì ngươi bạc phước
Là số phần cuả ngươi đó, ngươi ơi "

Theo ý tôi, đây có thể là những vần thơ mô tả rõ nét nhất con người Lê Anh Tuấn.

Trong chiến tranh Việt Nam, có ba tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vì lý do địa dư, nằm ngay trên đường tiếp tế cuả Việt cộng, từ mật khu Mỏ Vẹt xuống, qua những kinh rạch chằng chịt đổ ra 2 con sông Vàm cỏ, do đó "Tam Kiến" (Kiến Hoà, Kiến Phong và Kiến Tường) là những địa danh chiến sự luôn luôn bùng nổ dữ dội nhất.

Kiến Hoà nằm trong phạm vi hoạt động cuả Sư Đoàn 7, tôi thuộc Sư Đoàn 9, nên xuôi ngược hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường không biết bao nhiêu lần. Những địa danh như "Bót" 23, Mỹ An, Mộc Hóa, Hậu Mỹ, Tuyên Bình và Tuyên Nhơn vẫn mãi mãi nằm trong ký ức của tôi.

Thời gian đã hơn 30 năm trôi qua là quá ... dài đối với mạng sống và trí nhớ cuả một quân nhân, nhưng chưa đủ dài đối với các nhân vật trong truyện, cho nên, dù những đoạn viết này phản ảnh hoàn toàn sự thật, nhưng sự thật nhiều khi rất ... "sống sượng", nên đã được "Tiểu Thuyết hóa" đi một chút.

Tôi sẽ không phổ biến rộng rãi truyện này. Những ai tình cờ đọc được, nếu có "động lòng" thì xin vui lòng xem đây là "Tiểu Thuyết".

Tôi chỉ viết ra để vinh danh một người bạn, một người anh hùng, dám hy sinh mạng sống cuả mình để bảo tồn danh dự. Vì thế tôi sẽ không trả lời bất cứ thắc mắc nào, nếu có, cuả qúy vị đâu.

Những dòng chữ dưới đây ghi lại những kỷ niệm cuả một thời quá khứ, nên chắc cũng chẳng hay ho gì. Các bạn cứ việc phê bình, góp ý sửa đổi hoặc vứt đi cũng được, chẳng có gì phiền hà.

***

Tôi gập Thiếu Tá Tuấn lần đầu tiên là vào mùa mưa năm 1973 tại Tuyên Nhơn. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ là vì ở vùng này, sau những cơn mưa đầu muà, người lính trận rất khó di chuyển, mỗi bước đi mang theo cả tảng đất phèn, to gấp ba đôi giầy ... đó là chưa kể nước phèn luôn luôn ... hành hạ đôi bàn chân.

Vưà nhảy xuống khỏi trực thăng, tôi thấy một Sĩ Quan trong bộ áo bà ba mầu đen, loại "thường phục" mà các Sĩ Quan hay mặc mỗi khi không đi hành quân, đứng đón sẵn ở dưới chân máy bay, với một cây gậy tre dùng để chống mỗi khi di chuyển trên đất bùn, với khuôn mặt sáng suả và nụ cười cuả trẻ thơ.

Trưóc mắt tôi là một thanh niên có nước da ngăm ngăm, vẻ mặt mỏi mệt nhưng ánh mắt sáng rực trong đôi kính cận thị, trông rất trí thức. Tôi mở lời chào xã giao:

"Thiếu Tá trông đẹp trai và Thư sinh quá!"

Câu trả lời cuả anh Tuấn kèm theo một nụ cười hiền hậu nhưng rất tươi:

"Ông Bác sĩ là dân Chu Văn An phải không?"
"Sao Thiếu Tá biết?"

"Ối ... giời ơi, cứ nghe cái giọng Bắc Kỳ và kiểu cách cuả ông là biết ngay chứ thế nào nữa"

"Thế Thiếu Tá đứng đây đón tôi đấy à ?"

"Tôi có đón ông đâu, tôi đứng đón ... gói bún gửi mua từ Cao Lãnh ! Lát nữa sang tôi nhé. Ông may lắm, ông Trung sĩ Nghĩa cuả tôi đánh tiết canh và nấu bún sáo vịt ... hết xảy.

Anh trao cho tôi cây gậy tre và nói:

"Ông dùng cái này, mùa này đường rất trơn, coi chừng té, tôi quen rồi"

Mấy năm lặn lội trên đường hành quân cho tôi một bài học kinh nghiệm là nếu đã nhận ra nhau là ... dân Chu Văn An thì chẳng còn khoảng cách nào về Binh chủng, cấp bậc hay đơn vị gì nữa, nên từ đoạn này trở xuống, tôi chỉ xin viết là Anh Tuấn cho thân mật, vì kể từ sau buổi gập gỡ đó, chúng tôi chỉ xưng hô với nhau bằng Anh-Tôi, Ông-Tôi có khi là Cụ với Tôi hoặc Toa-Moa , tùy theo từng hoàn cảnh.

Tháng 6 /1973, Mặt Trận Tuyên Nhơn khá nặng. Cứ nhìn hàng rào kẽm gai phòng thủ dầy đặc và ban đêm, pháo binh thường chiã thẳng nòng súng sang bên kia sông để có thể bắn trực xạ, sẳn sàng đối phó với chiến thuật biển người cuả Việt Cộng là biết ngay.

Anh Tuấn nói với Ông Trung Đoàn Trưởng cuả tôi:

"Đại Tá, Ông này là một bạn học cũ cuả tôi, xin để ông ấy sang ở chỗ chúng tôi để nói chuyện chơi, cả chục năm không gặp"

Rồi anh ghé tai tôi:

"Ông chẳng biết gì về quân sự, sang tôi cho ... chắc ăn, lỡ chúng nó có "tapis" còn biết đường mà chạy!"

Lần gặp gỡ đầu tiên cuả hai cựu hoc sinh Chu Văn An giản dị và ... dễ dàng như thế!

Giản dị như ... con người Lê Anh Tuấn và dễ dàng ... còn hơn đi tìm những thứ lỉnh kỉnh như: bún, măng khô, húng quế và đậu phộng ... để nấu một món ăn thuần tuý Bắc Kỳ.

Là một người lính, tôi cũng không khỏi có chút "dị đoan"

"Anh Tuấn ơi, tôi nghe nói ở ngoài mặt trận, rất ... kỵ ăn thịt vịt, anh không tin à?"

Thiếu Tá Tuấn trả lời rất tự nhiên:

"Ồ, may thì đạn nó tránh mình chứ mình có tránh được đạn đâu mà phải lo ! Cụ nói thế không sợ mấy ông chủ lò bún họ kiện cho à?"

Cái tính ... vui vẻ, tàng tàng rất Chu Văn An cuả Anh Tuấn khiến chúng tôi trở thành bạn thân rất nhanh, làm tôi quên hẳn chuyện ăn thịt vịt ... hên hay sui.

Lúc đó và mãi đến về sau này, tôi cũng không hề biết anh có một ông anh ruột là ... Trung Tướng, vì chẳng bao giờ thấy anh đề cập tới, nhưng kể từ khi chúng tôi trở thành bạn thân thiết thì tôi có cảm giác là các cấp chỉ huy có vẻ ... nể vì tôi hơn một chút.

Tôi bắt đầu "khoái" anh Tuấn và Hải Quân từ ngày đó. Binh chủng này thật lạ. Đến giờ ăn cơm là các ông phục vụ dọn bàn, khăn ăn, muỗng, đũa rất ngay hàng thẳng lối. Các Sĩ Quan phải chờ vị Sĩ Quan cao cấp nhất theo thứ tự ngồi xuống rồi mới trịnh trọng bưng mâm cơm lên, gồm vài ... quả cà với một hũ mắm tôm !!! dăm bẩy con cá khô nướng và vài lát thịt hộp, trông cứ lịch sự như ... Tây

Quanh năm suốt tháng ăn uống ..."thịnh soạn" cỡ này, tôi biết chắc chắn là không hề có tham nhũng ở Giang Đoàn 43 cuả Thiếu Tá Tuấn.

Một lần sau bữa cơm tối, anh Tuấn cho đem ra một chai Johnny Walker mà anh nói là quà tặng từ thời Cố vấn Mỹ, mời tôi uống.
Uống rượu với ông này chán lắm! vì ông ấy cứ tợp vài hớp là lại chạy ra, chạy vào kiểm soát thứ nọ, thứ kia và rượu Whisky mà lại đi pha với nước ... xá xị con Cọp thì chẳng còn mùi vị gì cả.
Nhưng đây chính là sự khác biệt giữa anh Tuấn và tôi. Tôi uống rượu để ngủ, còn ông ấy uống rượu để ... thức ! Nước xá xị mầu nâu đậm nên có rót rượu ít đi một chút thì cũng không ai biết, nhưng lại làm cho "đối thủ" rất dễ say. Chẳng phải anh Tuấn muốn ăn gian, nhưng vui bạn bè mà vẫn phải lo nhiệm vụ. Tuy nhiên anh ấy vẫn được tặng biệt danh 'Ông Cọp', mặc dù hiền khô.

Trong lúc ngà ngà say, anh có tâm sự với tôi là sau khi tốt nghiệp Trung học, anh cũng có ý định học Y khoa, nhưng vì thời cuộc, thấy trách nhiệm cuả thanh niên thời chiến quan trọng hơn nên đã quyết định gia nhập Hải Quân, vì thế anh rất thích nghe tôi kể những chuyện liên quan tới ngành Y khoa.

Câu chuyện giữa hai người bạn cứ kéo dài như thế cho đến khi tôi say hẳn, trước khi đi vào giấc ngủ, tôi còn nhớ mang máng anh Tuấn có kêu Trung sĩ Nghĩa, một ông Trung sĩ già Bắc Kỳ Công Giáo "ri...cư ", một con người chất phác, hết sức trung thành và có tinh thần chống Cộng quyết liệt !

Chợ Quận có một depot pharmacie, cô chủ là người "Sè...ghềnh", còn rất trẻ và dĩ nhiên nhan sắc vượt trội so với người dân ...nông thôn. Cô có tình cảm "thắm thiết" với Thiếu Tá Tuấn, đến nỗi không chịu về Sài gòn nữa.
Tuy nhiên "Love story" này thuộc về đoạn sau.

Lê Anh Tuấn, một vị chỉ huy rất tư cách

Từ đoạn này trở đi thì tôi ... không còn là một thanh niên dưới 30 tuổi nữa, mà sẽ viết theo cái nhìn khách quan ở thời điểm của 34 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt.

Ngày 30 tháng 4 vừa qua, do một sự gặp gỡ tình cờ với một nhóm bạn Hải Quân hiện đang sinh sống ở San Jose, nhắc đến những chuyện trong thời chiến, tất cả các anh em Hải Quân đều ngậm ngùi khi nói đến Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, một cựu học sinh CVA và còn là một huyền thọai của QLVNCH ! Các bạn đều lấy làm tiếc là:

"Lịch Sử sẽ không công bằng khi bỏ quên Lê Anh Tuấn"

Tuy nhiên nhiều bạn không biết là chính tôi lại là người có cơ hội gập gỡ anh Tuấn và ít nhất là cơ duyên này đã cứu mạng tôi đến ba lần.

Những giòng chữ đầu tiên, tôi chỉ có thể nói là:

Trong cuộc sống, có những người bạn mà chỉ cần gập một lần, mình vẫn có thể nhớ mãi. Lê Anh Tuấn là một người như thế :

Chân thành, giản dị, có óc khôi hài sâu sắc, hết mình với nhiệm vụ, bạn bè, đồng đội.

Nhưng trên tất cả đây là một quân nhân có tiết tháo, chẳng thà hy sinh tính mạng chứ không thể hy sinh danh dự. Những con người như thế không nhiều lắm trong Lịch sử Việt nam.

Khi nghe tin anh đã tự sát chứ nhất định không đầu hàng Việt Cộng, tôi rất buồn, nhưng lại cảm thấy rất hãnh diện vì đã được quen biết anh.

Trước hết, xin nói qua về lối sống của anh. Lê Anh Tuấn là một con người sống hết mình, luôn luôn đặt trách nhiệm lên trên tất cả, suốt ngày lo lắng công việc, kiểm soát chỗ này chỗ kia, để bảo đảm an toàn cho lính và dân chúng sống ở vùng trách nhiệm của Giang Đoàn 43, nhưng ban đêm, tôi lại thường thấy anh thức rất khuya để đọc sách.

Phòng ngủ cuả anh tuy ngăn nắp nhưng rất chật hẹp vì chứa đầy sách. Tôi để ý nhiều nhất là sách về Thế Chiến Thứ Hai. Tôi vẫn còn nhớ anh cho tôi mượn 3 cuốn : "Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh" (All Quiet On The Western Front) của Enrique Maria Remarque, cuốn "One day in the Life of Ivan Denisovich" của Solzenitsyn và cuốn "Biệt Đoàn Thần Phong".
Đến bây giờ, suy nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu những sách vở nói trên có ảnh hưởng gì đến quyết định của anh không ? và hình như anh còn học Luật vì tôi thấy có nhiều sách của Trường Đại Học Luật Khoa để trên đầu giường.

Câu chuyện còn khá dài, nhưng máy bay đã sắp đáp xuống, nếu các bạn còn muốn nghe thêm thì xin cho tôi ... nghỉ ngơi một chút, vì tôi sẽ phải tra cứu lại sách địa dư cho thêm phần chính xác.

Còn nếu thấy chán hoặc dở quá thì cũng xin cho biết.

Phần 2: Thiếu Tá Lê Anh Tuấn và tôi

Mỗi Đại Đội Quân Y yểm trợ cho Trung Đoàn có 2 quân y sĩ, chúng tôi thay phiên nhau mỗi nửa tháng, khi một người đi hành quân thì người kia trông coi bệnh xá ở hậu cứ.

Từ quận Tuyên Nhơn ra ngoài quốc lộ 4 có 3 phương tiện:

- Đường thuỷ, thường chỉ dùng cho phụ nữ hoặc dân điạ phương, vì rất dể bị Việt Cộng chận bắt, nếu còn trẻ và lạ mặt.

- Đường bộ thì chỉ có một chiếc xe khách, vài ngày mới có một chuyến và cũng rất nguy hiểm vì mìn cuả VC.

- Trực thăng là phương tiện chúng tôi hay dùng nhất mổi khi thay phiên, thường là đi cùng máy bay chở vị Tư lệnh thị sát mặt trận hoặc trực thăng tải thương, dĩ nhiên chỉ có quân nhân và một vài vị khách được "gửi gấm" đặc biệt mới được dùng trực thăng, một trong những vị khách đó là Kim Hoa, cô chủ depôt pharmacie ở chợ quận.

Căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân đóng ở Cần Thơ, nên cũng do "yêu cầu" của Anh Tuấn, vì ... "thương cho thân gái dặm trường", anh hay nhờ tôi đi chung xe đò đưa Kim Hoa về Sàigòn, vì thế tôi có nhiều cơ hội hiểu thêm về mối giao tình giữa cô Kim Hoa và Thiếu Tá Tuấn.

Thoát chết lần thứ nhất nhờ anh Tuấn

Nói đến Tuyên Nhơn là phải nói đến "bắn xẻ" và chiến thuật "tiền pháo, hậu xung" của Việt Cộng.

Mỗi khi Trung Đoàn đổ quân xuống Tuyên Nhơn, công việc đầu tiên là phải xây "bunker" cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân và Bệnh Xá. Chỗ ở dành riêng cho tôi thường là một bunker rất nhỏ khoảng 2 mét x 3 mét cạnh bệnh xá, vừa đủ kê một chiếc giường sắt và thùng dược phẩm.
Các bunker này được xây rất kiên cố, trụ làm bằng các thùng phuy chứa đất, vách toàn là bao cát và trần làm bằng nhiều lớp bao cát chất trên các lớp sắt PSP, loại sắt dùng làm phi trường dã chiến.
Với cấu trúc như thế, các loại đạn tương đối chính xác như cối 82 hoặc đại bác 122 ly thì chẳng ăn thua gì ! Chỉ có hỏa tiễn 220 ly "delayed" là có thể xuyên thủng trần, tuy nhiên loại hỏa tiễn này chẳng đáng để ý, vì dàn phóng thô sơ nên rất ít khi chính xác, thường chỉ rơi vào ... nhà dân!

Ngày thứ ba sau khi chúng tôi đến Tuyên Nhơn là trận tập kích đầu tiên cuả Việt Cộng. Các sỉ quan và binh sĩ mỗi khi nghe tiếng pháo "cấp tập" để chuẩn bị xung kích, thì việc đầu tiên là phải sang bộ chỉ huy hoặc ra hố chiến đấu cá nhân để chuẩn bị tác chiến. Riêng đối với Quân Y thì cứ việc ngồi chờ để "tiếp đón" thương binh nếu có.

"Cò iả miệng ve " - chữ anh Tuấn thường dùng - ngay trong đợt pháo kích đầu tiên đêm hôm đó, bunker dành riêng cho tôi trúng ngay một hỏa tiễn 220 ly "delayed" nổ tung và xập hoàn toàn !

Tin tức tôi đã "tử thương" loan đi rất nhanh và chừng nửa giờ sau thì đến tai anh Tuấn, lúc đó đang chỉ huy phản pháo tại Bộ Chỉ Huy Giang Đoàn. Anh chạy như bay, không kịp cả đội nón sắt về hầm cá nhân chỗ của anh và tôi đang ở, hét to từ ngoài cửa hầm;

"Ông còn đó không?"

Anh ôm chặt vai tôi mừng rỡ, khi thấy tôi đang ngồi nghe nhạc !

"Ông làm tôi hết hồn ! Cứ tưởng ông được vinh thăng "Cố"... Đại Úy rồi !"

Hóa ra anh Tuấn là người đầu tiên báo cho tôi biết là ... tôi còn sống! Cũng nhờ món tiết canh và bún xáo vịt mà anh khoản đãi.

Thực ra, rời bỏ đơn vị để đi "ngủ...hoang" là một vi phạm quân kỷ rất nặng. Nhưng trong trường hợp "kỳ diệu" này thì chẳng ai muốn đề cập tới làm gì, nên mấy ngày sau Thiếu Tá Tuấn đã ký cho tôi một bằng "Tưởng Lục" vì đã phối hợp trợ giúp đồng đội!

Đến bây giờ, tôi cũng không biết anh Tuấn theo Đạo gì, nhưng mấy hôm sau vụ "chết hụt" cuả tôi, tôi đã thấy anh thắp nhang cúng Ông Địa cho tôi một cách rất " thành khẩn".

Cầu ... Ông Tuấn

Đây là cây cầu sắt đầu tiên ở Tuyên Nhơn, do Công Binh Chiến Đấu xây dựng, nối liền Chợ Quận với Chi Khu.

Ngày cắt băng khánh thành có ông Quận Trưởng, Thiếu Tá Tuấn, Đại Úy Chỉ huy lực lượng Công Binh xây cầu và một vài vị cao niên trong Quận, trong đó có Bà ngoại cuả cô Kim Hoa.

Nhưng kể từ sau ngày khánh thành, cũng chẳng ai hiểu vì sao cây cầu này được gọi là "Cầu Ông Tuấn"

Lúc còn nhỏ, từ khi vào miền Nam, tôi rất ít khi tìm hiểu về cách đặt tên cuả những cây cầu, thảng hoặc có nghĩ đến thì cũng ngầm ... chê bai về những cái tên có vẻ hơi "bình dân" như "Cầu Kiệu", "Cầu Bông" !

Nhưng sau khi đi qua những cây cầu ở miền Nam, tôi mới biết đây là một vinh dự vô cùng lớn khi được đặt tên cho một cây cầu, vì người miền Nam quan niệm cây cầu là một cái gì vĩnh viễn, nối liền con người với con người.

Điều này có thể kiểm chứng được: sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Sàigòn và các con đường đều đã bị đổi tên, nhưng "Cầu Kiệu", "Cầu Bôn"g thì vẫn còn giữ nguyên tên.
Năm 1986, tôi có dịp về thăm lại Tuyên Nhơn thì cây cầu vẫn còn đó và vẫn được dân chúng gọi là "Cầu Ông Tuấn" !

Kể từ ngày thi hành Hiệp định Paris, công tác lớn nhất cuả Quân Lực VNCH là chiến dịch "chiếm đất, giành dân". Được đem tên đặt cho một cây cầu, có thể là thành quả lớn nhất cuả Thiếu Tá Tuấn trong chiến dịch này. Tuy nhiên, theo ý cuả riêng tôi thành quả lớn hơn nữa là giành được ... cô Kim Hoa !

Love story

Kim Hoa là một người con gái đẹp, với đôi mắt to linh động, dáng người cao, nước da rất trắng, cực hiếm ở vùng nước ... phèn, xà bông có dùng cách mấy cũng không thể xủi bọt! Tuy nhiên sức quyến rũ nhất ở cô là vẻ hiền hậu và giọng nói chất phác đặc biệt cuả người miền Nam. giọng nói mà sau này tôi thường đem ra để "chọc" anh Tuấn:

"Ông Tuấn ơi, nếu tác giả " Tiêu Sơn Tráng Sĩ "mà cho Quỳnh Như là dân Nam Kỳ thì đời Phạm Thái còn ... thê thảm hơn nhiều"!

Anh Tuấn nghe thế thì tháo kính ra lau, một cử chỉ chàng ta hay làm nhửng khi ... bối rối:

"Ông nói đúng đấy"!

Kim Hoa mồ côi cha mẹ từ lúc còn rất nhỏ, cô được bà dì ruột nuôi dạy xem như con gái, học trung học ở Mỹ Tho và Đại Học Dược Khoa Saigon.

Ông Dượng của Kim Hoa là một Dược Sĩ tốt nghiệp bên Pháp, mở một nhà Thuốc Tây trên đường Phan Đình Phùng, khoảng trước cửa Chợ Vườn Chuối, và còn có một cửa hàng bán thực phẩm nhập cảng từ Pháp trên đường Lê Thánh Tôn. Vì thương bà ngoại của Kim Hoa nên mở depôt pharmacie ở Tuyên Nhơn như một phương tiện giúp đỡ bà mẹ vợ.

Cô Kim Hoa về thăm bà ngoại trong dịp nghỉ hè, khoảng một tuần lễ sau khi tôi đến Tuyên Nhơn.

Sự hiện diện cuả cô ở Chợ Quận lập tức trở thành một "hiện tượng". Bà ngoại của cô tự nhiên trở thành "bà ngoại" cuả ... tất cả các Sĩ Quan còn độc thân trong Quận. Và tôi bỗng dưng ... thất nghiêp ! vì mấy ông "cháu ngoại hờ" này chỉ tìm đến tôi khi cần chữa những bệnh ... "thầm kín", còn ngoài ra, bệnh hay ... không bệnh, các "bố" chỉ lảng vảng sang tìm cô Kim Hoa để khai bệnh và ... mua thuốc !
Có khi mua xong lại quẳng đi, để ngày hôm sau ... có cớ mua tiếp!

Tôi đoán là ban đầu anh Tuấn cũng không để ý lắm tới cô, dù là "ngoại" rất qúy mến anh, vì trước đó anh đã giúp đỡ bà sửa sang hầm cá nhân chống pháo kích. Sau đó, vì sự hiện diện cuả cô cháu gái, lại giúp nới rộng hầm cho ... "an toàn" !
Và Hải Quân cũng là lực lượng duy nhất có khả năng chở nước ngọt từ vùng "Đầu Bờ" (tôi cũng chỉ nghe nói chứ chưa được đến vùng này bao giờ) ... giúp cho nước da cô không bị rám nắng vì nước ... phèn!

Ngày Kim Hoa chào từ giã bà ngoại để trở lại trường Dược là một ngày "định mệnh" cuả cô chuẩn ... Dược Sĩ ! Vì chậm trễ nên cô lỡ chuyến xe khách ra ngoài quốc lộ, ngay đúng lúc chiếc xe Jeep chở Thiếu Tá Tuấn đi công tác vừa tới, và cô được phép ... quá giang, nhưng chưa đi được nửa đường thì chiếc xe khách đi phía trước trúng mìn cuả Việt Cộng nằm quay lơ và tất cả hành khách trên xe chết hết ! Bà ngoại cuả cô Kim Hoa đưa ra kết luận ... xanh rờn:

"Kể từ nay, cháu là người cuả ... ông ấy!"

Vì chữ "hiếu", tên Kim Hoa tự nhiên ... biến mất thay bằng tên mới: "Cô Tuấn"! Và cũng từ đó pharmacie vắng hẳn khách, dù cô chủ quyết định bỏ học ở lại luôn Tuyên Nhơn để ... chăm sóc cho "ông ấy".

Người con gái miền Nam luôn luôn được giáo dục đặc biệt:
"Con đường đi vào tim người đàn ông bao giờ cũng ... xuyên qua bao tử !". Tôi chưa bao giờ gập cô gái Bắc Kỳ nào nấu những món "nhậu" nhanh hơn và ngon hơn "Cô Tuấn".

Thức ăn cuả người miền Nam cũng có tính cách khá đặc biệt, thí dụ như trái sầu riêng, nếu không ăn được thì thôi, nhưng nếu đã ăn được thì sẽ trở thành ... ghiền.

"Cô Tuấn" là người nắm được những bí quyết ấy! Một lần cô gửi cho tôi quà Sàigòn đem lên cho anh Tuấn gồm có một chai rượu Martel và vài bánh fromage Camembert và Roquefort, cô còn dặn với:

"Anh nhớ nói "ảnh" ăn mấy thứ này với ... cọng hành sống"

Bản chất tôi là một người "nhà quê" nên thú thật cũng không biết thưởng thức mấy món ăn ... Tây này, nhưng ông Tuấn thì "Nam Kỳ...hoá" rất nhanh, chỉ uống rượu Martel với phô-mai Camembert và... cọng hành sống thì mới thấy ngon!

Tôi vẫn nghe đồn là đàn ông mà mê phô-mai Camembert đều là những người đàn ông rất ... chung tình! Tiếc thay bây giờ lại mất đi một người để kiểm chứng!

Đầu năm 1980, tôi được thả từ "trại cải tạo" về, và người đầu tiên tôi đến thăm là cô Kim Hoa, ở pharmacie trên đường Phan Đình Phùng nay đã bị đóng cửa, chỉ còn quầy hàng trống trơn ! Tôi cố quan sát để tìm xem có sự thay đổi nào trong cô không? Là một người con gái thông minh cô như đoán được ý nghĩ của tôi:

" Đời em chỉ lấy chồng có một lần!"
Và cô đã kể cho tôi nghe về cái chết của anh Tuấn.

Cho đến hôm nay, tôi vẫn không thể quên được ánh mắt buồn cuả cô khi nhìn bức ánh nhỏ của anh Tuấn để ở một góc khuất cuối quầy hàng.

Tháng 2 năm 1980, Kim Hoa theo gia đình sang Pháp, tôi bị đuổi khỏi Saigon sau mấy lần vượt biên thất bại và mất liên lạc từ đó.

Đây là một chuyện tình buồn, tiêu biểu cuả thời chiến:

"Anh yêu em một lần rồi xa nhau trọn kiếp! "

Vì sự tôn trọng đối với người đã khuất, tôi xin ngưng đoạn này ở đây và cũng không muốn tìm hiểu thêm nữa!

"Bác Sĩ" Lê Anh Tuấn và thằng con trai bây giờ không biết đang ở đâu.

Có hai công tác đáng nhớ nhất mà tôi được thực hiện chung với anh Tuấn:

Một là đốt kho lúa của Việt Cộng: hàng trăm tấn lúa được chất trong những chòi lá để chuẩn bị chở vào mật khu! Công tác này chẳng có gì là nguy hiểm, chỉ việc đốt cháy càng nhiều càng tốt, phần còn sót lại thì phải vùi trái khói để lúa sẽ có mùi không thể ăn được nữa. Nhưng quan trọng hơn cả là phải thi hành "nghiêm lệnh":

" Tuyệt đối không được mang ra, dù chỉ một ký trên hàng trăm tấn thóc!"
Lý do: các vị Tư Lệnh không muốn Việt Cộng xúi dục dân chúng đi thưa kiện là Quân Đội chiếm lúa của dân".

Công tác tuy thấy đơn giản nhưng để được chỉ định thực hiện lại là cả một vinh dự lớn: phải còn trẻ, độc thân, có quá khứ trong sạch, và có kỷ luật.
Nói thì dễ, nhưng thực hiện việc đốt kho luá không dễ chút nào. Hoàn toàn không phải vì lòng tham mà vì chung quanh chúng tôi, hàng ngày vẫn có những cô nhi, quả phụ không có gạo để ăn. Đối với một người quân nhân, cái chết tuy đáng buồn nhưng vẫn còn ít buồn hơn khi phải đốt bỏ thóc gạo trong khi rất nhiều người ... đang đói.


Đó là một nghịch lý trong chiến tranh Việt Nam, khi chúng ta phải đối đầu với một địch thủ quá dơ bẩn.

"Nhảm nhí" - Đó là kết luận cuả anh Tuấn khi thực hiện xong công tác và cũng là lần đầu tiên tôi thấy anh rưng rưng nước mắt !

Công tác thứ hai thì còn "độc đáo" hơn:

Hôm đó, vào khoảng 1, 2 giờ đêm, có một chiếc thuyền tam bản do một người đàn bà vừa chèo vừa la to:

"Chúng tôi tìm cô mụ, có người ... sanh khó"

Rất không may, hôm đó cô mụ duy nhất ở trong Quận lại ra Tỉnh để sanh! mà vùng của sản phụ lại toàn là ... Việt Cộng, không hề thấy bóng đàn ông mà các bà lại ... có bầu liên tục.

Bộ Chỉ Huy họp gấp, quyết định là gửi 2 trung đội đi mở đường để bảo vệ an ninh đường bộ, tôi và Thiếu Tá Tuấn cùng với lực lượng giang thuyền hành quân đường thủy. Tôi chỉ kịp gom vội đống dao kéo cho "mission impossible" này.

Thực chưa bao giờ có cuộc hành quân nào "bi, hùng" hơn thế ! Hành Quân đi vào hang ổ cuả Việt Cộng để ... đỡ đẻ !

Đến nơi, sau khi bố trí canh gác, chỉ có "Bác Sĩ" Tuấn và tôi được vào ..."phòng sanh". Dưới ánh sáng mập mờ cuả ngọn đèn dầu là một "ca"... sanh ngược rất khó, cần phải cắt vá, Bác Sĩ Tuấn tình nguyện chiếu đèn "pin" cho tôi giải phẫu!

Thật chán mớ đời, Thiếu Tá Tuấn nổi tiếng là người chấm tọa độ phản pháo trên bản đồ ... hết xảy, thế mà cái "tọa độ" to tướng của bà sản phụ, thì ông ấy cứ chiếu đèn "pin" đi mãi đâu, tôi nhìn lên mới biết ông "Bác sĩ" Tuấn vừa ... đỡ đẻ, vừa ... quay mặt đi nơi khác, báo hại tôi trở thành Hiệp Sĩ...mù !

Mãi cho đến lúc có tiếng trẻ con khóc oe oe, thì ông Tuấn la lên:

"Ơ, bà sanh được một thằng con trai, thế bà đặt tên cho nó chưa" ?

Bà sản phụ trả lời:

"Cám ơn Thiếu Tá, xin cho phép em đặt tên nó là ... Tuấn, giống người sanh ra nó!

"Bà đặt tên nó theo tên tôi cũng được, nhưng nhớ bảo nó sau này không được theo ... Việt Cộng mà bắn lại tôi đấy nhé!

Sáng hôm sau, chúng tôi sang Quận để giúp làm giấy khai sanh cho thằng nhỏ và sau đó ghé cô Kim Hoa mua một ít thuốc cho sản phụ. Tôi nói đùa để trêu cô Kim Hoa:

"Tôi mua thuốc này cho thằng ... con Ông Tuấn đấy" !

Chỉ thấy cô vùng vằng bỏ đi, nước mắt như muốn trào ra và nhất định không chịu bán! khiến tôi phải giải thích hết lời cô mới nguôi cơn giận.

"Em "hổng" có tin đâu, "ảnh" nhát ... thấy mồ" !

Nhìn sang thì thấy ông Tuấn, lau kính liên tục, mà càng lau ...thì kính càng mờ, vì mồ hôi tay ướt đẫm.
Anh hùng cách mấy cũng phải chịu thua nước mắt giai nhân !

Cứu mạng tôi lần thứ hai

Khoảng giữa tháng 12 năm 1974, chúng tôi đang ở Tuyên Nhơn thì nhận khẩn lệnh sang giải cứu Mộc Hóa, 2 Đại Đội Cơ Động được điều động theo chiếc Trực Thăng Chinook tiến vào trước, để lập "cầu nối" cho phần còn lại của Trung Đoàn, vì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 114 đang bị thương mà không thể tải thương ra được nên tôi cũng được lệnh theo chiếc Chinook này vào trong chuyến đầu tiên. Vừa theo sau thùng thuốc để bước lên máy bay, thì ông Trung sĩ Nghĩa, cận vệ của Thiếu Tá Tuấn chạy lại nắm tay tôi nói :

"Thiếu Tá bảo ông quay về gấp vì còn ... bỏ quên nhiều đồ"

Tưởng thật, tôi chạy ngược lại Bộ Chỉ Huy để lấy đồ bỏ quên, thì kịp cùng với anh Tuấn nhìn lên chiếc Trực thăng Chinook, đang cháy như một cây đuốc do trúng hoả tiễn "tầm nhiệt" SA7 cuả Việt Cộng.

Một người bạn Chu Văn An của tôi, là Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội cũng chết trong chuyến bay này!

Tôi vừa sợ, vừa bàng hoàng nói lời cám ơn thì anh Tuấn an ủi:

"Mạng ông lớn lắm, nếu ông đi lính tác chiến thì dám lên ... Tướng như chơi" !

Mấy hôm sau hoàn hồn, tôi mới hỏi lý do tại sao anh gọi tôi trở lại, thì anh nói nửa đùa, nửa thật:

"Tôi thấy ông đi theo hai người lính khiêng thùng thuốc giống như khiêng quan tài, trông ... kinh quá ! Vả lại ở vùng này lâu rồi nên tôi biết Chinook rất nặng nề, khó tránh được SA7"

Tôi và cô Kim Hoa rời Tuyên Nhơn ngày 20 tháng 4 năm 1975, đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng, anh Tuấn có dặn tôi :

"Tình hình bây giờ khá bi đát, nhưng chưa tuyệt vọng, nếu có gì xảy ra tôi sẽ đợi ông ở Long Xuyên" rồi anh cho tôi tần số và ký hiệu liên lạc, nhưng những ngày sau đó mọi việc biến chuyển quá nhanh và sau cùng, tôi chui đầu vào ... Trại Cải Tạo

Đoạn Kết

Về cái chết oai hùng của Thiếu Tá Tuấn, nếu các bạn muốn biết thì có thể xem ở bất cứ đặc san Hải Quân nào, số Kỷ Niệm 30 tháng Tư.

Năm 1986, tôi quyết định bỏ ra một năm để đi khắp Việt Nam, thăm lại những chốn xưa. Trên Quốc Lộ 4, khi ngang qua "bót 23", một động lực vô hình đã thôi thúc tôi trở về thăm Tuyên Nhơn dù là lòng không muốn, vì nỗi ám ảnh bởi những kỷ niệm không vui về Thiếu Tá Lê Anh Tuấn. Thuê một chiếc "xe đạp thồ", khi vào đến Tuyên Nhơn thì trời đã xế chiều.

Cảnh cũ còn nguyên nhưng người xưa đã không còn nữa!

Trong buổi chiều sương mờ, đứng trên Cầu Ông Tuấn nhìn sang Bộ Chỉ Huy Chi Khu cũ, nay đã biến thành "Doanh trại Quân Đội Nhân Dân". Tôi có cảm giác như muốn khóc và bên tai tôi bỗng nhiên văng vẳng lời đồng dao:

"Quân đội nhân dân là ... con Rận nhân đôi !
Con Rận nhân đôi là ... Con Rận nhân Hai
Con Rận nhân Hai là ... Con Hại Nhân Dân !"

Việt Cộng bao giờ cũng ... HÊN !

Chỉ vì sự gượng ép trong cách gieo vần mà Quân đội nhân dân được ví ... với con RẬN NHÂN ĐÔI.

So sánh như thế thì thực là OAN cho CON RẬN ! Đúng ra phải so sánh Việt Cộng với con gì khác ... tồi bại hơn nhiều !

Con rận và Việt Cộng chỉ giống nhau ở điểm cả hai đều là loại ký sinh trùng ... hút máu người.

Nhưng con rận "CÓ TƯ CÁCH" hơn Việt cộng nhiều! vì RẬN đâu có cầm súng bắn vào đàn bà, trẻ con.

Tuy nhiên, với sự công bằng tối thiểu của một học sinh Chu Văn An, tôi cũng phải khen bọn Việt Cộng một điều:

Nếu không có những thằng Việt Công dơ dáy, bẩn thỉu thì làm sao nổi bật lên tư cách của người anh hùng.

Ngủ ngon nhé, Anh Tuấn!

Chúng tôi vẫn còn nhớ đến anh

Nghiêm hữu Hùng

Edited by user Saturday, March 23, 2019 9:22:42 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Lam Vien on 3/23/2019(UTC), Ngọc Anh on 9/25/2019(UTC)
NNT  
#1074 Posted : Wednesday, April 17, 2019 6:01:22 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)

Tưởng Nhớ 30-4-1975


Tuần lệnh đầu hàng cởi chiến y

Mắt rưng rưng lệ trước quân kỳ

Anh hùng khí thế cam thua trận

Chiến sĩ cang cường chịu nhục thây

Đơn vị bơ vơ đành giải tán

Gia đình thê thảm đoạn phân ly

Nhân dân thống khổ đời bia miệng

Đất nước loạn thời mau cứu nguy



4/08/2019
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 9/25/2019(UTC)
NNT  
#1075 Posted : Sunday, September 15, 2019 8:10:54 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)



Tưởng Nhớ Những Người Lính Bị Bỏ Quên Của Miền Nam Việt Nam - Tác giả : JIM WEBB

Sau 33 năm, 81 người lính dù sẽ từ Hawaii về yên nghỉ ở Little Sài Gòn

Trong một bài ý kiến được đăng trên báo USA Today thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019, ông Jim Webb đã viết một bài mang tựa đề “Tưởng Nhớ Những Người Lính Bị Bỏ Quên Của Miền Nam Việt Nam” (Remember South Vietnams Forgotten Soldiers). Ông Jim Webb từng là một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến chiến đấu tại Việt Nam, trở thành một nghị sĩ liên bang đảng Dân Chủ đại diện Virginia, và từng giữ chức Tổng Thư Ký Hải Quân Hoa Kỳ. Dưới đây là bài viết của ông.

*
Chiếc vận tải cơ C-123 của quân đội Hoa Kỳ bị bắn rơi trong Chiến Tranh Việt Nam, mang theo những quân nhân đồng minh của chúng ta bị mất tích từ đó đến nay. Những hài cốt của họ không có quê hương. Biết vậy nên tôi phải hành động.

Xã hội của chúng ta tưởng nhớ những người quá cố như thế nào, kể cả những người mất mạng trong lúc chiến đấu cùng với chúng ta ngoài trận địa? Ông William Gladstone, một thủ tướng Anh trong thế kỷ thứ 19 đã đưa ra một công thức bất diệt: “Chỉ cho tôi xem cách thức một quốc gia hay một cộng đồng chăm sóc những người chết của họ, và tôi sẽ đo lường với sự chính xác bằng toán học về mức độ cảm thông tế nhị của những con người sống trong cộng đồng đó, sự tôn trọng luật pháp của họ đối với đất nước, và sự trung thành của họ đối với những lý tưởng cao cả.”

Vào ngày thứ Sáu này (13 tháng 9, 2019), một chiếc phi cơ của Không Quân Hoa Kỳ sẽ chuyên chở hài cốt trộn lẫn của 81 quân nhân nhảy dù thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ Hawaii, nơi mà họ đã được cất giữ trong cơ sở của quân đội trong hơn 33 năm qua, đến California. Vào ngày 26 tháng 10, một buổi lễ tưởng niệm và vinh danh trịnh trọng theo nghi thức quân đội sẽ được tổ chức dành cho những người này tại Westminster, nơi được gọi là Little Saigon và có hàng ngàn người Mỹ gốc Việt đang sinh sống.

Đây là một sự kiện rất đặc biệt vì chúng ta có thể không bao giờ biết những hài cốt là ai và vì họ là những người lính đồng minh của chúng ta. Sau buổi lễ, những người bị lãng quên này sẽ được yên nghỉ trong một nghĩa trang của người Mỹ gốc Việt lớn nhất tại đất nước của chúng ta.

Đây sẽ là nơi yên nghỉ cuối cùng của một hành trình phức tạp dài 54 năm từng bắt đầu trên một trận địa trong một cuộc chiến tàn ác từng xé nát đất nước của chúng ta, để lại hậu quả 58,000 quân nhân Hoa Kỳ và hàng triệu người Việt Nam phải bỏ mạng.

Vào cuối năm 1965, một chiếc vận tải cơ C-123 của Hoa Kỳ bị bắn rơi, giết hết bốn người Mỹ trong phi hành đoàn và 81 quân nhân Nhảy Dù Nam Việt Nam. Địa điểm máy bay bị rớt nằm trong vùng đang có tranh chấp và mãi cho đến năm 1974 mới có thể vào được. Những mảng xương và những món đồ cá nhân đã được thu thập, thế nhưng tất cả những hài cốt đã trộn lẫn vào nhau để có thể đưa vào trong một quan tài. Những hài cốt được chuyển đến Bangkok. Những quân nhân Mỹ đã được xác nhận danh tính bằng phương pháp thử nghiệm DNA và được chôn cất chu đáo. Thế nhưng đối với những người lính Việt Nam Cộng Hòa thì họ không có bảng kê khai chuyến bay. Vào năm 1986, hài cốt của họ được gởi đến phòng thí nghiệm POW/MIA tại Hawaii, nơi có nhiệm vụ xác định danh tính của những quân nhân mất tích của quân đội chúng ta.

Và rồi hài cốt của những quân nhân Miền Nam Việt Nam này đã được cất giữ ở đó trong suốt 33 năm qua. Vì không có bảng kê khai chuyến bay cho sứ mạng lúc trước, chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết được tên tuổi của những người lính Miền Nam đã bị mất mạng. Họ chỉ có thể được xác định là thuộc một Sư Đoàn Dù thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Chính quyền Hà Nội đã hai lần từ chối nhận những hài cốt này để an táng họ tại Việt Nam. Và vì họ không phải là công dân hay quân nhân Hoa Kỳ, cũng không có cách rõ ràng nào để chôn cất và vinh danh họ tại Hoa Kỳ. Họ là những người lính vô danh, và thật sự là “Những Người Vô Tổ Quốc,” sau khi họ đã hy sinh mạng sống cho một đất nước mà nay đã không còn.

Tôi được biết về trường hợp này hai năm trước đây. Đối với tôi, thông điệp bất diệt của ông Gladstone là mốc hướng dẫn. Nếu chúng ta là những con người và đất nước như chúng ta nghĩ, thì chúng ta không chỉ chăm sóc cho những người chết của chúng ta mà còn chăm sóc những người từng chiến đấu cùng với chúng ta. Những người lính vô danh này xứng đáng được tưởng nhớ với danh dự và nhân phẩm.

Sau nhiều tháng thương lượng một cách khó khăn về mặt ngoại giao cũng như luật pháp, giờ đây sự kiện này mới có thể xảy ra. Vào ngày 26 tháng 10 năm nay (2019), sau một buổi lễ truy niệm tại công viên Freedom Park ở thành phố Westminster, những người lính này sẽ được an táng tại một nơi ghi nhớ sự can đảm và sự đóng góp của hàng trăm ngàn người tỵ nạn Việt Nam, những người đã liều mạng ra khơi trong giai đoạn nguy hiểm nhất, hy sinh hết tất cả để có thể đến đất nước của chúng ta.

Buổi lễ đó sẽ đi xa hơn việc tưởng nhớ sự hy sinh và hành trình dài năm thập niên của những người lính đã hy sinh mạng sống khi còn trẻ tuổi cho lý tưởng tự do cho một quốc gia mà nay đã không còn. Buổi lễ sẽ nhắc cho chúng ta nhớ tới hàng trăm ngàn người lính khác cũng đã hy sinh mạng sống và hàng trăm ngàn hài cốt chưa được tìm thấy.

Cuộc hành trình buồn nhưng vĩ đại của những người lính bị lãng quên từ trận địa Việt Nam đến một nghĩa trang lớn nhất của người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ sẽ mang đến một kết cục cho nhiều người khác đã tự trả giá và tìm đường đến nước Mỹ. Nó sẽ cho phép đất nước chúng ta có dịp ghi ơn và trân quý sự hy sinh của 2 triệu người Mỹ gốc Việt, những người đã giúp cho xã hội chúng ta được mạnh mẽ và linh động hơn.

Và nó sẽ giúp chúng ta nhớ rằng là người Hoa Kỳ thì phải sống như thế nào, và chúng ta nên luôn ước nguyện sẽ trở thành: những người biết quý mạng sống của con người, và những người không bao giờ quên những ai đã từng đứng sát bên cạnh chúng ta trong những thời điểm khó khăn nhất.

Edited by user Sunday, September 15, 2019 8:13:53 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 2 users thanked NNT for this useful post.
Tí Trễ on 9/15/2019(UTC), Ngọc Anh on 9/25/2019(UTC)
NNT  
#1076 Posted : Tuesday, September 24, 2019 3:13:26 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)



Vị tướng cúi người lau giày cho 1 binh nhì, sau khi cậu hi sinh, chân tướng sự việc khiến người người xót xa

Không phải tự nhiên, giày của chàng lính binh nhì bị bẩn. Đằng sau đó là một câu chuyện cảm động đến nghẹn ngào.


Chàng lính binh nhì bị khiển trách vì giày bẩn.

Vào một đêm năm 1944, một đội quân tập trung tại sân bay quân dụng của nước Anh để tướng quân Maclay kiểm duyệt. Ánh mắt điềm tĩnh của ông nhìn lướt 1 lượt qua các binh sĩ.

Đột nhiên, ánh mắt của ông dừng dưới chân một binh sĩ: "Bước lên phía trước, báo cáo tên của cậu!".

Viên lính bị gọi sải chân bước lên phía trước: "Báo cáo tướng quân, tôi là binh nhì Lik, thuộc đội đột kích của sư đoàn dù số 6, không quân Anh."

Ánh mắt của vị tướng quân càng trở nên nghiêm nghị: "Là một thành viên của không quân Hoàng gia Anh, tại sao có thể không chỉnh đốn quân tư trang một cách cẩn thận, từ trước đến nay tôi đã có lệnh rất nghiêm, rằng người đến lau giày cũng không sạch, nhất định sẽ không được tham gia chiến đấu.

Lik nhìn xuống giầy của mình mà toát mồ hôi hột, vội giải thích: "Sau khi ăn cơm tối, tôi đã lau giày 1 lần, không biết tại sao lại dính vôi được. Nhưng thưa tướng quân, lần ra quân này rất quan trọng, xin tướng quân nhất định hãy cho tôi tham gia."

Vị tướng quân còn chưa kịp nói gì, đội trưởng đội đột kích ở bên cạnh đã lên tiếng: "Tướng quân ghét nhất những người không để ý chỉnh đốn quân tư trang, Lik, cậu nên rút đi."

Lúc này, vị tướng quân nhìn người đội trưởng rồi rút chiếc khăn tay trong túi áo ra, ngồi xuống lau giày cho Lik, vừa lau vừa chậm rãi nói: "Lần sau không được để xảy ra việc này."

Vừa lau xong chiếc giầy bên trái, định chuyển qua chiếc bên phải thì chuông báo ở sân bay kêu lên, đó là tín hiệu thông báo cho binh sĩ lên máy bay. Lik vội đáp lễ với vị tướng quân rồi theo đồng đội lên máy bay vận tải.

Sự việc xảy ra ngay trong đêm trước của cuộc đổ bộ vào Normandy trong thế chiến thứ 2. Không quân Hoàng gia đã đưa binh lực của một sư đoàn xuống trận địa của quân Đức để phối hợp với đội quân đổ bộ sau đó cùng tác chiến.

Việc này thành công, nhưng sau khi đi sâu vào trận địa của Đức, thương vong vô cùng lớn, Lik cũng tử trận trong một đợt pháo kích, chết không toàn thây. Đội trưởng đội đột kích là một trong số ít những người may mắn sống sót.

Sau khi chiến dịch này kết thúc, anh cầm chiếc dày bên phải vẫn còn dính vôi - di vật duy nhất có thể tìm thấy được của Lik về gặp tướng quân Maclay.

Vị tướng quân ánh mắt kiên nghị ra hiệu cho người đội trưởng đưa chiếc giày xuống mộ tập thể chôn cất các tướng sĩ đã tử trận trong thế chiến thứ 2. Người đội trưởng lặng lẽ lau sạch chiếc giày và đặt nó vào hộp tro cốt.

Chân tướng sự việc

Thực ra, vôi trắng là do anh ta đã lén rắc lên giày của Lik, mục đích là để chàng lính trẻ này rút khỏi cuộc xuất quân lần này, thật đáng tiếc là cuối cùng, việc này đã không có tác dụng.

Bên ngoài chiếc hộp, người đội trưởng viết một dòng chữ: Binh nhì Lik, đội đột kích của sư đoàn nhảy dù số 6, không quân Anh, người con trai nhỏ tuổi nhất của tướng quân Maclay – không quân Hoàng gia Anh, và cũng là người con trai cuối cùng.

Cách đây khoảng 20 năm về trước, bộ phim điện ảnh mang tên "Giải cứu binh nhì Ryan" nói về thời điểm ngay sau cuộc đổ bộ Normandy.

4 người con trai trong gia đình Ryan ở tiền tuyến tham gia chiến đấu thì 3 người trong vòng 2 tuần liên tiếp tử vong nơi trận mạc ở nước ngoài. Mẹ của cậu ta trong vòng 1 ngày nhận tin báo về sự ra đi của 3 người con.

Còn người con trai út của bà là tìm James Francis Ryan thuộc Sư đoàn Dù 101 cũng tham gia nhảy dù xuống Normandi song sau cuộc đổ bộ đọ, Ryan bị lạc. Tướng quân George Marshall đã ra lệnh cho một đội quân đi tìm Ryan về cho người mẹ đáng thương của cậu ta.

Đối với người đội trưởng đội đột kích, bản thân anh biết rõ Lik quan trọng với tướng quân Maclay đến mức nào. Vì thế, anh đã nghĩ cách để không cho Lik ra trận.

Nhưng với tướng quân Maclay, sự hưng vong của một quốc gia còn quan trọng hơn sự tồn tại của một gia tộc. Trong lời nhắc: "Lần sau không được để xảy ra việc này" đã thể hiện một cảm xúc vô cùng phức tạp, vừa mạnh mẽ cứng cỏi, vừa như nhẫn nhịn biết bao cảm xúc không nỡ để con đi.

Khoảnh khắc cha con họ lúc đó, thật khiến những người biết chuyện cảm thấy rưng rưng xúc động.

Nguyễn Nhung
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 9/25/2019(UTC)
NNT  
#1077 Posted : Monday, October 7, 2019 4:11:31 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 7,356
Man
Location: USA

Thanks: 2315 times
Was thanked: 4585 time(s) in 2315 post(s)
CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

☘️ Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.
Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.
Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.
Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.
" Anh yêu quý,
Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.
Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
Vợ anh
Lê Thị Hồng"
Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.
Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.
Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v... anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.
Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.
Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.
"Hồng em,
Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
Chồng em
Nguyễn Hữu"
Anh nhắc lại hai lần chữ "lầm lẫn", để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.
Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: "Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?"
Anh lắc đầu: "Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. "
"Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng."
Người cán bộ nói tiếp: " Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa."
Anh ấp úng: "Vâng, thưa cán bộ."
Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: " Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình."
Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.
Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ "lầm lẫn" kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.
Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.
Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.
Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.
Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.
Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: "Xin lỗi...xin lỗi chị".
Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.
Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.
Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.
Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện...
Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?... Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.
Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

(Phan Xuân Sinh)
Users browsing this topic
Guest
54 Pages«<525354
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.