Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
quenhetroi  
#1 Posted : Saturday, July 2, 2016 9:54:03 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Dừng chân trước cửa Đồi Láng thơ thẩn nhìn Đồi Láng vắng vẻ tiêu điều. Khách chợt thấy lòng bồi hồi lưu luyến nhớ lại những năm tháng trước mà lòng thấy buồn.

Nhớ năm nào Đồi Láng là nơi tụ họp rất đông quần hùng: Cụ Tê Cu, cụ Tống văn Bình, NNT, Vyvy, cụ thần bốc phiphi, heo bot, cowboy, BHL, rongtien và còn rất nhiều những anh tài hào kiệt trên Phố Ảo Tình Chân chém gió vui đùa trò truyện cùng nhau.. “Khách thành thật xin lỗi, không nhớ chức vụ của các cụ”

Cụ Tê Cu đang tổ chức đại hội “Cưỡi Ngựa Gió” ngài ngồi ngâm nga uống trà, vân vê phọc tẩu do các nàng tiên nữ phục vụ hết mình, các nàng tiên nữ mong sao cụ tiên chỉ sớm được cưỡi ngựa gió như lòng hằng mơ ước. Bác NNT chân trong chân ngoài tiếp khách, rongtien moi đón cụ Vyvy đến trước cổng và gặp được cụ Thần Bốc Phi Phi. Trời xui đất khiến đúng lúc đó một cơn bão quét ngang qua phá nát Việt Báo, Làng Đối bị họa lây. Sau này Việt Báo được Trùng Tu lập lại phố mới và dĩ nhiên Đồi Láng cũng được cụ NNT bỏ ra rất nhiều công lao lập lại, nhưng không còn được như xưa. Hình như cụ Tê Cu, rongtien, cowboy, heo bot đã được “Cưỡi Ngựa Gió” hạc nội mây ngàn nơi nào rồi.

Khách bước vào quán ăn nghèo nàn, không thấy có một khách nào trong đó ngoài cô chủ. Khách gọi tô phở ngồi câu giờ mong sao gặp lại những cố nhân năm cũ. Kìa là bàn cờ tướng, nọ là bộ domino. Ô kìa! cây quạt mà các nàng tiên nữ dùng quạt cho cụ Tê Cu vẫn còn được ai đó treo trên vách.


Khách bỗng nhớ lại bài thơ của thi sĩ Hồ xuân Hương

Vịnh cái Quạt II

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng dời tay
Mỏng dày chừng ấy chành ba góc
Rộng hẹp ngần nao cắm một cây
Càng nực bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chẳng chán lại yêu ngày
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
Chúa dấu vua yêu một cái này

Khách bỗng nổi hứng họa lại


Vịnh Tô Phở

Thứ năm hay là thứ sáu đây
Để ta cầm đũa chẳng ngừng tay
Gọi tô tái nạm, gân vài miếng
Cho bát hành trần, húng mấy cây
Khói lên nghi ngút ăn càng khoái
Ăn sáng chưa đủ lại ăn ngày
Dăm ba bữa nữa ta lại đến
Nhiều người yêu thích gọi món này


Khách bỗng bồi hồi tự nhủ hôm nay là thứ năm hay thứ sáu nhỉ? Tại sao ta lại quên mất ngày tháng, hôm nay thứ mấy cũng không nhớ nổi nữa. Khách tư than: mới có tí tuổi mà đã "quên hết rồi", sau này thì sao?

Edited by user Tuesday, July 5, 2016 1:17:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

quenhetroi  
#2 Posted : Tuesday, July 5, 2016 11:50:17 AM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Khách dạo mắt nhìn chung quanh quán, Kia là 3 bài thơ tứ tuyệt. Đặc biệt là dùng nick đảo ngược để thành câu thơ:

Bài 1:

Hẹn với Tiên Rồng đưa tết lại
Hứa cùng Quốc Tổ đón Xuân sang
Quyết chí Bồi Cao nền vĩ đại
Chung lòng Hoàn Báo dãy giang san

Bài 2:

Hẹn với Tiên Rồng đưa Tết lại
Hứa cùng Quốc Tổ đón Xuân sang
Quyết chí Bồi Cao nền vĩ đại
Chặn luồng Phong Bá lũ sói lang

Bài 3:

Hẹn với Tiên Rồng đưa Tết lại
Hứa cùng Quốc Tổ đón Xuân sang
Quyết chí Bồi Cao nền vĩ đại
Đón chờ Minh Thánh ánh vinh quang

Chợt cô chủ quán, đẹp như tiên thoan thoát tới bàn khách ngồi, thấy khách chăm chú nhìn 3 bài thơ tứ tuyệt trên tường. Nàng ướm thử:
- Khách có biết giai thoại về 3 bài thơ này không?
- Nếu tôi nhớ không lầm đây là 3 bài thơ do 6 nick vô tình làm. Khách trả lời.
- Đúng là khách nhớ không lầm, vậy khách có thể cho biết vì sao có 3 bài thơ này không? Cô chủ quán hỏi.

Khách trả lời:
- Ba bài thơ này có được chỉ là tình cờ do Cụ toquoc đang chỉ dẫn rongtien cách thức làm câu đối. Toquoc ra vế: “Hẹn với Tiên Rồng đưa Tết lại”
- rongtien hiểu được ý cụ lấy nich của mình đảo ngược lại để ra vế đối, rongtien cũng đổi ngược toquoc thành quốc tổ
- “Hứa cùng Quốc Tổ đón Xuân sang”
- Câu thứ 3 do Cowboy làm tiếp:
- “Quyết chí Bồi Cao nền vĩ đại”
- cũng dùng nick mình là cowboy đổi thành bồi cao.
- Heo bot không chịu kém tiếp câu thứ tư:
- “Chung lòng Hoàn Báo dãy giang san.”


- Tại sao heobot không dùng nick của mình đảo ngược lại là “hột beo” hay “bột heo”. Thế heobot làm hư bột hư đường hết trơn rồi. Cô chủ quán ngắt lời than.

- Để tôi nói về 2 vế sau của bài thứ 2 và bài thớ 3 rồi sẽ bàn lại câu của heobot không biết còn nhớ không! Bài thứ 2 câu thứ 4 do Hoangbaphong “Chặn luồng Phong Bá lũ sói lang” Câu thứ 4 của bài thứ 3 do ThanhMinh “Đón chờ Minh Thánh ánh vinh quang” cả 2 bài đó nick cũng được đảo ngược. Ba bài đều hay tuyệt.
- Còn câu của Heobot do nói lái mà thành….

Khách gãi đầu cố nhớ lại làm sao có thể Hoàn báo lái ra heobot được nhỉ? Suy nghĩ hồi lâu khách hỏi lại
- Tôi quên hết rồi, xin nhờ nàng giải thích dùm, Tại sao nhỉ?

Cô chủ quán mỉm cười nói:
- Nãy giờ nói chuyện với khách mà quên chưa giới thiệu tên mình. Xin khách lượng tình tha thứ Tôi là nangtho lúc trước cùng Sonkhe và một số bạn làm thơ, họa đối trên đỉnh núi phía sau Đồi Láng. Hân hạnh được đón khách.

- Không dám, không dám Rất hân hạnh đươc gặp nangtho.

- Vâng, nangtho sẽ vì khách giải thích câu thứ 4 của bài thơ thứ nhất. Đây cũng là cái hay rất đặc biệt của tiếng Việt.

- Khi heo bot làm xong vế thứ tư là: “Chung lòng Hoàn Báo dãy giang san.” anh Cowboy chọc:
- Đối với Heobot thì câu thơ phải là

Chung lòng Beo Hột dãy giang san !
Hoặc là Reo giắc Bột Heo xuống giang san ! ( bột anthrax !? )
Xời ơi ! Cho nói lợi đi , níu không lại rơi vào trường hợp quốc gian thì bỏ bu

Ừa mà thôi tui xin mớm nhời cho chú tạ lỗi với Giang San như sau :
Quay chú Heo Bột tạ giang san !

Heobot không vừa nói:
- Ối giời ơi đầu xuân mà các bác nói toàn chuyện độc điạ với nhà cháu như thế này thì nhà cháu còn lòng dạ nào đi ăn ... phở nữa. Trong sách ... truyện có câu " Báo đền ơn vua , Hoàn trả giang san cho tổ quốc " nhà cháu dùng chữ hoàn báo là có ý nhân dịp đầu xuân nhắc nhở mọi người đòi lại mảnh đất mà tụi đầu bò ngoài bắc vừa dâng cho "đàn anh vĩ đại trung quốc"
Bây nhà cháu học đòi trạng Trình "chết" tự cho các bác nghe coi có thủng lỗ tai không nhé Hoàn nghĩa là viên, là hột . Báo là anh em với beo cùng thuộc họ nhà ... mèo . Thành thử hoàn báo là hột beo , mà hột beo là ..... ta đây chứ ai

Khách vỗ đùi nghe đét một cái thật to, cười thật lớn:
- HA HA HA Hay hay hay, hay tuyệt. Khách nói tiếp:
- Tiếng Việt rất hay và anh Heobot làm được câu này cũng rất tuyệt. Cám ơn cô chủ quán nangtho rất nhiều, đã bỏ công giải thích cho đệ. Cô chủ quán làm ơn tính tiền dùm, bây giờ đệ về, có dịp sẽ trở lại thăm làng lần tới.

Nangtho chăm chú nhìn khách và nói:
- Khách lạ hóa khách quen.

Bỗng nangtho chỉ tay ra ngoài cổng nói:
- Xin khách nán lại thêm chút nữa, hình như ngoài cổng có mấy vị đang đi vào làng ta đấy. Có thể đây là cụ tiên chỉ, cụ Vietbac hay là vài vị khách cũ đang tiến vào quán này. Hy vọng các huynh có nhã hứng cùng họa bài thơ “Vịnh Cái Quạt II” cho Làng Đối đươc vui tươi trở lại.
NNT  
#3 Posted : Wednesday, July 6, 2016 5:56:57 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,529
Man
Location: USA

Thanks: 1518 times
Was thanked: 2934 time(s) in 1613 post(s)
Kính bác quenhetroi,
Từ tui thành thực xin lỗi bác vì đường dây Internet tui xài bị hư từ bữa Thứ Bảy tuần rồi cho tới tối hôm nay mới chạy trở lại nên tui không biết bác đã lặn lội đường xa về Làng để nghinh đón bác .
Có Internet trở lại tui thiệt mừng nhưng khi gõ những hàng chữ nầy để chào mừng và vấn an bác thì cái comp của tui lại hư sao đó khiến tui vô cùng khó khăn khi bỏ dấu chữ Việt. Gõ trên Microsoft Word hay theo kiểu VIQR cũng trật vuột hoài. Tui gõ mấy hàng nầy thôi mà mất cả nửa tiếng đồng hồ, mắt hết thấy đường nữa rồi nên đành phải ngưng. Tui phải chờ thằng cháu đi chơi về sửa dùm cái comp này của tui thì mới có thể vô trở lại hầu tiếp bác. Thành thực tạ lỗi bác.
quenhetroi  
#4 Posted : Saturday, July 23, 2016 4:43:56 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Thấy Nangtho mời, Khách ngồi lại rót chén trà sen nhâm nhi độc ẩm. Một lát thấy cụ thủ từ NNT vào cáo lỗi rồi vội ra ngay.
Khách nói với nangtho:

- Trong lúc cho đợi các cụ khác đến, xin cho đệ ra đàng sau Đồi Láng chỗ Đầm Lầy ao sen. Cho khách thả hồn về dĩ vãng.

- Xin khách cứ tự nhiên, thiếp không ra được vì còn trông quán. Bây giờ có một mình thiếp, không biết lát nữa có nàng nào đến nữa trông quán với thiếp nữa không?

“Đừng thấy cô hàng phở trông như gái 18, 20 mà lầm tưởng các nàng tuổi còn nhỏ. Theo như cụ Tê Cu nói, tuổi các nàng không dưới hai, ba trăm tuổi đâu. Có nàng bị đầy xuống từ hồi Tề Thiên Đại Thánh náo loạn bàn đào trên Cung Tây Vương Mẫu, tới bây giờ vẫn chưa được triệu hồi về Thiên Cung. Nhưng các nàng rất khiêm tốn, một mực thiếp thiếp, muội muội nghe ngọt như mía lùi, khách không thể nào bỏ đi được.”

Lang thang bước theo con đường nhỏ sau làng, khách thấy lại. Đây là Cồn Lầy, kia là ao bèo chỗ mà bao nhiêu tao nhân mặc khách đã từng bước chân đến thả hồn vào thơ lúc hoàng hôn, bình minh hoặc trong cơn nắng cực.

Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.

Trong thấy đầm lầy cạn trơ không còn giọt nước.

Khách bỗng nhớ lại câu đối mà nangtho ra vế:

- Khách lạ hóa khách quen.

Đầm lầy thành đầm cạn

Khách lẩm bẩm đáp vế trên, một nỗi buồn mênh mang lại chợt đến như dạo nào khách lạc bước đến Tha La Xóm Đạo
Chợt bài hát Tha La xóm Đạo được trổi lên tiếp theo là Hận Tha la

hxxps://wxw.youtube.com/watch?v=uGnUulYqI14

Tha La Xóm Đạo
Tác giả: Dzũng Chinh

Đây suối rừng xanh đồn quanh
Đây mây trắng nghìn hoa với cây lành
Còn gì viễn khách về đây chi hỡi người
Đất Việt giặc tràn lan
Biết Tha La hận căm
Nhẹ bước gặp cụ già, ngạo nghễ đang ngóng gió
Em chẳng biết gì ư
Cười run run dâu trắng
Đã từ bao năm qua khói loạn khu mịt mù
Khách về chi đây, nghe tiếng hát khách hận do đây buồn
Tiếng hờn ai oán, cởi ra áo một chiều thu lửa dậy

Nghe não nùng chưa,
Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
Ôi khi hết giặc xong
Hãy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành
Cây lá ngẩn ngơ nằm trên nghìn hoa máu làm hoen cả ven rừng
Lòng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già mong manh
Đám mây tan phủ quanh, trời tối về bàng hoàng
Lạnh dài đôi khúc hát
Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tan tóc
Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà


Hận Tha La

Tác giả: Sơn Thảo

hxxps://wxw.youtube.com/watch?v=sQTflyY3_Kc

Đây Tha La Đây xóm đạo tiêu điều
Cây buồn quanh hận thù dâng ai oán
Đây mênh mông, Tha La buồn quạnh quẽ
Kìa rừng cây trái ngọt khách một dạo về thăm xóm
Hồn ngây ngất và buồn xưa lây lất
Nhìn hoa máu rưng sầu.

Đây Tha La Đây xóm đạo hoang tàn
Mây trời vây quanh màu tang khói lửa
Bao năm qua, Tha La còn chờ đó
Đoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy
Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc
Mùa thu nắng hanh vàng.

ĐK:
Tha La ơi, xóm đạo ơi
Còn đâu nữa chiếc áo ngày xưa
Đành khép kín, khoác vào bộ chiến y
Lòng hờn căm, một chiều xưa lửa dậy
Nghe não nùng chưa, Tha La sầu khuất biếc
Xóm đạo chắc hận thù.

Đây Tha La Đây xóm đạo yên lành
Nay còn Đây một rừng xanh suối mát
Tha La ơi, khi nao giặc tan hết
Ngày vui xưa trở lại, khách sẽ hẹn về thăm xóm
Hồn lây lất, và buồn xưa chất ngất
Hận kia đến bao giờ.


Sau bao năm lưu lạc trên quê người, khách có dịp được trở về thăm những nơi danh lam, thắng cảnh tại quê nhà, nào là Vũng Tàu, Nha Trang, Hội An, Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Hoà Bình, Hạ Long, Sapa. Khách có dip được đến Đền thờ Những Anh Hùng Dân Tộc: Hai Bà Trưng, Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu, Bà Chúa Kho, Đền Đô là nơi thờ 8 vị Vua đời nhà Lý, Đền Lý Thường Kiệt, Yên Thế là nơi Anh Hùng Hoàng Hoa Thám. Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Nhờ thế nên khách, biết được câu chuyến bùa ngải. Sẽ lần lượt cống hiến cùng quý hội viên, cùng Quý khách của làng.

P.S. Đây là câu chuyện khách đọc được trên net, thấy rất hay và được tác giả cho phép: nếu thấy hay, xin post cho tất cả các anh chị em khác cùng xem. Xin cám ơn tác giả thật nhiều, khách sẽ post link kỳ cuối cùng.
Nếu các anh chị nào đã được đọc, xin cùng khách từ từ post lên cho mọi người cùng đọc cho vui.
quenhetroi  
#5 Posted : Saturday, July 30, 2016 12:30:16 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Đang đưa hồn vào mộng, thả hồn vào thơ. Chợt khách thấy ruộng lúa chung quanh mình lay động một cách khó hiểu. Không có gió, nhưng những ngọn lúa lay động liên hồi từng cụm nhỏ chứ không lay động nguyên cánh đồng.
Cảm giác lo sợ chợt đến, khách tự nhủ:

- Không lẽ mình bao vây bởi bầy thú dữ rồi sao? Lúc trước ở đây làm gì có thú dữ chỉ có thỏ, nai và các loại thú rừng ăn cỏ thôi mà.
khách vội chạy đến gốc cây Đa gần đó, nếu có gì khách sẽ trèo lên cây đa trốn. Bỗng nhạc dứt, tiếng động tan không gian chợt ngưng đọng lại, tất cả chìm vào một sự tĩnh mịch một cách vô cùng khó hiểu. Đã sợ khách càng sợ hơn, khách vội vàng trèo lên cây đa. Khách chợt giật mình vì nghe được tiếng nói và tiếng cười khúc khích quanh mình.

- Bọn Thiếp tới đây đón chàng, sao chàng lại leo lên cây làm chi vậy?

Khách nhìn xuống một vòng đếm được khoảng chừng mười cô gái, tuổi chừng 18 đến 25. Cô nào cô nấy xiêm y đẹp lộng lẫy, đang bao quanh gốc đa mình. Khách dụi mắt coi mình tỉnh hay mơ.

- Chàng xuống đây với bọn thiếp đi.

- Các nàng là ma, hay chồn? Khách hỏi

- Ma đâu có lộ mặt ban ngày. Chồn thì phải có đuôi, bọn Thiếp không ai có đuôi đàng sau hết, chàng cứ yên tâm di.

- Bọn Thiếp được tin báo có khách quen trở về thăm làng, nên bọn thiếp tới đây đón khách.

Nghe vậy, khách leo xuống khỏi cây đa và hỏi:

- Hơn mười năm rồi, khách trở về thăm làng. Trông các nàng còn trẻ quá, chắc các nàng mới dọn tới đây ở sao?

- Không bọn Thiếp vẫn luôn ở đây từ ngày lập làng đến bây giờ mà chàng, chàng là ai mà bọn thiếp nhận không ra? Chàng còn nhận ra người nào trong bọn Thiếp không? Bọn thiếp được uống Trú Nhan Đơn, và Luyện thành Trú Nhan Thuật, nên dung nhan không bị tàn phá bởi thời gian. Vẫn luôn giữ được nét thanh xuân.

- Xin lỗi các nàng, khách “quên hết rồi” đến tên tuổi của mình khách cũng không nhớ được nữa. Còn các nàng, khách chỉ cảm thấy quen quen thôi, nhưng không nhận ra được nàng nào. Khách trả lời

- Vậy mời chàng, theo bọn thiếp đến nhà Rông đàng kia. Bọn thiếp đang nấu nước pha trà, và bên đó rượu cũng nhiều. Lát nữa mấy cụ về rồi, bọn thiếp sẽ tiếp ở đó luôn.

Nãy giờ, khách đâu có thấy nhà sàn, nhà Rông nào đâu. Bây giờ theo hướng chỉ tay của nàng áo tím, khách thấy bên đó có nhà Rông thật lớn. Khách tự nhủ:

- Thôi lỡ rôi, tới luôn đi bác tài. Ma hay chồn cũng thế thôi.

Khi vào đến nhà Rông, cảm giác khách thật là quen như mình đã từng được đến đây nhiều lần rồi. Sau đôi ba câu chuyện đưa đường, nàng này hỏi, nàng kia hỏi: khách đến từ đâu, trong thời gian qua khách đi đâu và làm những gì?

- Thú thật cùng các nàng, khách không nhớ mình là ai. “quên hết rồi” Khách chỉ còn nhớ, cách đây mười năm trước. Khi tỉnh dậy, khách thấy mình ở một nơi thật quen nhưng rất xa lạ, nhìn chung quanh không có một người quen và cứ nghĩ là mình đang mơ.

Trong giấc mơ khách thấy, mình đang ở trong nhà anh chi Châu cùng với ba người con 2 gái, 1 trai. Ở bao lâu rồi khách cũng không nhớ nổi. Bỗng Anh Châu nói:

- Bây giờ, tôi đặt vé xe khách cho bạn đi ra Hà Nội. Nhưng trên đường đi có ghé tới những nơi: Đà lạt, Nha Trang, Hội An, Huế, sau đó đến Hà Nội. Bạn muốn ở nhũng nơi đó bao lâu cũng được. Trước khi đi đến nơi khác, gọi điện thoại cho hãng xe khách một ngày trước nói là bạn muốn đi đến nơi kế tiếp. Họ sẽ đón bạn tại khách sạn bạn đang ở. Từ khách sạn bạn đang ở, nhờ họ đặt khách sạn nơi kế tiếp, Cứ vậy mà đi. Chúc bạn được một chuyến đi thật vui.

Sau này cứ như thế, khách một mình một balo đi trên khắp nẻo đường quê hương.

- Có chuyện gì vui chàng kể cho bọn Thiếp nghe đi. Cô áo Hồng nói

- Thôi được, đe khách kể chuyện “Thế Giới Bùa Ngải” cho các nàng nghe nhé.

Nguyên văn của câu chuyện:


Thầy Bảy

Ngày xưa, khi người viết còn là một công chức nhà nước, được phân công công tác về một nơi chưa hề có khái niệm về Địa lý nào trong đầu - Châu Thành - Tây Ninh. Xuất phát từ Sài sòn, từ sáng sớm, đáp chuyến xe đò lèn chặt người lên Thị xã Tây ninh, Chiếc xe cà khổ, có lẽ sản xuất từ những năm NAPOLEONE còn làm tiểu đội phó, cứ nhẩy lên chồm chồm và liên tục xịt khói đen, may mà mình đi sớm nên kiếm được chỗ ngồi gần của sổ.
Nhìn qua cửa xe, lần lượt nhìn cảnh chạy qua ngang đường: Hóc môn, Củ chi, Trảng bàng, Gò dầu,.. toàn những cái tên lạ tai mà lòng buồn như rau chợ chiều.

Qua cây số 22, lúc đó là Trạm kiểm soát liên tỉnh phải chờ đợi các đội kiểm soát lên lục soát hàng buôn lậu cũng mất mấy tiếng đồng hồ. Lúc kiểm tra xong, máy lại không nổ được, thế là tất cả mọi người phải xuống còng lưng đẩy hơn 50 m, cái DESOTO cũ rích mới chịu xì khói và ì ạch lên đường. Ngồi gần bác Tài xế, mặt mũi đen thui, bóng nhãy, hì hục lái xe chẳng khác nào đánh vật. Có lẽ hệ thống lái đã quá mòn nên thấy bác ta quay Vô lăng tít mù, mỗi lần vào số lại lấy cây cần số để bên cạnh, nhét vào hộp số, lắc lắc một hồi làm cho hộp số kêu rống lên như heo bị thọc tiết, và cứ thế hí hoáy một hồi, bác ta cũng vào được số và chiếc xe lại ì ạch lăn bánh.

Từ Sài gòn lên Thị xã Tây ninh có 99 Km, mà chiếc xe phải đi hết gần 7 tiếng đồng hồ. Vừa qua Ngọ thì chuyến đi cũng kết thúc, chiếc xe trả khách ngay tại cửa số 2 chợ Long Hoa. Lúc đó thị xã Tây ninh cũng còn thưa thớt dân cư, chủ yếu là tập trung xung quanh khu vực Cầu Quan và chợ Long hoa. Dân ở đây chủ yếu theo Đạo Cao đài và lần đầu tiên người viết được chứng kiến một đám tang với vô vàn tà áo dài trắng và cũng là lần đầu tiên biết thế nào là cái Thuyền Bát Nhã. Ngồi tại quán Cà phê cóc ven chợ, hỏi thăm đường về Châu Thành mới biết chỉ còn có một chuyến xe cuối cùng trong ngày. Thôi đành phó thác cho số phận.

"Bắt phong trần phải phong trần
Cho May Ô mới được phần May Ô"

- Đúng như câu hát mô đi phê mà trẻ con ở phố vẫn nghêu ngao. Ngồi gần bên cạnh trong quán Cà phê, người viết chợt để ý có hai cha con một người đàn ông - Người cha khoảng gần 70 tóc húi trọc và một cậu thanh niên gày gò khoảng 20 tuổi. Sở dĩ người viết chú ý tới họ là vì cách ăn mặc rất lạ so với người miền Bắc - Áo Vạt hò và quần thụng nâu, đầu lại chít thêm một cái khăn rằn, Nhưng cái đáng chú ý nhất là ánh mắt của họ - Ngồi uống Cà phê, gần như dửng dưng với cái ồn ào của Quán, ánh mắt họ trầm tĩnh, và thật là có Thần.

Người viết tập trung vào ngắm nghía ông già theo thói quen mà ông nội đã truyền cho từ thủa nhỏ - Xem nhân tướng và đánh giá con người theo con mắt nhân tướng học. Quả thật, nếu không tinh mắt thì không thể phát hiện được những nét tiềm ẩn của con người này. Dáng người chắc nịch với đôi vai xòe rộng chứng tỏ một sức khỏe hơn người, đặc biệt là đôi bàn tay với những cạnh vuông và chằng chịt vết sẹo, có lẽ đây là một cao thủ về KARATE không biết chừng. Đặc biệt nhất là đôi mắt -Một đôi mắt như có Thần lực bắt người khác phải cúi đầu. Ông đeo tòng teng quanh cổ mình một sơi dây chuyền bằng bạc đã xỉn màu và treo trên đó một cái nanh Heo rừng to tướng, phần cuối có bịt bạc nhọn hoắt. Từ con người ông toát ra một vẻ uy nghi, quắc thước và bao gồm cả một sự tin tưởng đến lạ kỳ, Đây có lẽ là hình ảnh mà người ta đã dùng để xây dựng hình tượng Võ Tòng trong cuốn ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM mà người viết đã đọc từ khi còn bé tí chăng?

Cuối cùng, cũng tới giờ xuất hành của chuyến xe chót về Châu Thành, So với chiếc xe này thì cái DESOTO ban nãy có lẽ lại là Thiên đường. Đây là một chiếc xe mà người dân tại chỗ kêu là " Xe Đò Lở ". Nó là một cái chuồng heo không hơn không kém, chỉ có một cái thùng đóng lấy bằng những cây ván bìa, đặt trên một bộ khung mà có lẽ bán Ve chai, các bà còn chẳng thèm mua. Đặc biệt hơn nữa, ngay đằng sau xe có một cái ống đen xì to cỡ một người ôm, đỏ rực than Cày đang cháy - Hoá ra vì khan hiếm nhiên liệu nên họ đã sử dụng chiếc xe chạy bằng than Cày như thế này đây. Chúng tôi cùng lên xe, tôi cố tình chọn chỗ ngồi gần cha con của họ, Hai bên đường, rừng Tây ninh còn xanh ngút ngàn, những ruộng lúa, rãy khoai mì trải dài theo từng chặng. Lâu lâu, những vườn cây thốt nốt cổ thụ lại hiện ra, nhắc cho tôi nhớ rằng, mình đang đi trên đất của người Miên thủa trước. Đường lên Châu thành thủa đó còn là một con đường đất đỏ đầy bụi và những ổ voi, ổ gà to tướng. Mùa này là mùa khô nên khí hậu về chiều rất nóng bức, cộng thêm hơi người và hơi của cái lò than đằng sau xe phả lại từng chặng làm cho quần áo tôi ướt sững. Để quên đi chặng đường gian nan phía trước, tôi tranh thủ làm quen với cha con ông già. Được biết ông tên là Bẩy ( chắc gọi theo thứ của miền Nam ), nhà gần Ngã ba Sọ ( Nơi có Trường bắn tử hình người ta - Cái tên nghe ghê chết đi được ), Ông Bảy là một Thày Bùa, chuyên chữa bệnh cứu người, nhất là những bệnh bị trúng thư, trúng Ngải phát điên vì tình.

Bà lão nhà ông cũng là một Thày Bùa cao tay ấn ( có khi còn cao hơn cả ông vì hai người học cùng Thày, bà lại được xuất sư trước ). Hiện các con ông đều theo phụ chữa bệnh với cha mẹ - Ông bà được 6 đứa con - 4 trai, hai gái. Ngày xưa hai ông bà đi khắp nơi kiếm Thày học Đạo, Trời đất xui khiến thế nào mà lưu lạc khắp nơi từ An Giang, Châu Đốc cho tới Năm Căn, nơi nào cũng in dấu chân của Ông Bà. Cuối cùng họ trụ lại tại chân núi Tà Lơn ( Campuchia ) gần 20 năm rồi vì chiến tranh Việt - Miên nên mới bồng bế nhau về sống tại đất Châu thành này.

Edited by user Saturday, July 30, 2016 1:04:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

quenhetroi  
#6 Posted : Monday, August 1, 2016 7:20:49 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Kể đến đây, bỗng nàng áo tía ngắt lời:

- Nãy giờ chàng kể chuyện đã hơi dài, chắc chàng khát nước rồi. Thiếp mời chàng chung rượu Trúc Diệp Thanh này, và kéo thêm điếu thuốc lào lấy giọng rồi kể tiếp. Mời chàng, rượu này chính tay chúng thiếp cất.

Đỡ lấy chung rượu, Khách nốc cạn khà một hơi thật dài và nói:

- Rượu Ngon, rượu ngon Các nàng nấu được Rượu ngon thế này. Có vị Thanh, Ngọt, The, Tuyệt quá, khách chưa từng được nếm Trúc Diệp Thanh ngon như ni. Uống xong the the đầu lưỡi, ngọt ngọt trong cổ họng, không đâu có được. Chắc đã được làm theo cách của Danh Y Lê hữu Trác, khách có nghe, nhưng hôm nay mới được thử. Đúng là danh bất hư truyền.

- Không dám, không dám chàng quá khen rồi. Mỗi năm chúng Thiếp chỉ cất được vài vò thôi. Đúng là cách của Danh Y Lê hữu Trác truyền cho chúng Thiếp. Vò này chúng Thiếp đã ủ được đúng 100 năm. 25 năm chúng thiếp hạ Thổ, 25 năm ngâm dưới suối, 25 năm nhét vào trong lòng cây cổ thụ và thêm 25 năm được phơi trên đỉnh núi hấp thụ khí Âm Dương, Nhật Nguyệt.

Khách chặt lưỡi tiếc:

- Âm Dương có, Phong, Vân “mây trời” có, tiếc là không đủ Ngũ Hành.

- Ngũ Hành, Âm Dương đầy đủ trong đây chàng ơi. Trong vò này chúng thiếp có ngâm chung với một thanh Thiết Thạch. Thanh Thiết Thạch này màu đen, không bao giờ bị rỉ sét. Một vị khách ra tận Trường Sa mang về tặng chúng thiếp.

- Khách có nghe huyền thoại về loại Thiết Thạch màu đen nhưng chưa từng được nhìn thấy. Mong các nàng cho khách được coi một lần.

- Trúc Diệp Thanh được hạ Thổ, Thiết Thạch thuộc về Kim, ủ trong cây thuộc Mộc, Ngâm dưới suối là Thuỷ, phơi trên đỉnh núi ban ngày thuộc Dương, khí nóng gay gắt ban trưa thuộc về Hoả. “Trúc Diệp Thanh được làm từ 54 loại thảo dược quý như dã sơn sâm, lão phục linh, cam thảo, quế thanh… và 5 loại gạo nếp. Tất cả được lên men và chiết xuất qua hệ thống chưng cất cổ điển. Sau đó, rượu được ủ ở nhiệt độ ổn định và chưng cất lần 2 để cho ra những giọt rượu tinh khiết, thấm đẫm dược thảo.” Nàng áo Tiá trả lời và hỏi:

- Chàng có biết xuất xứ Trúc Diệp Thanh từ đâu mà có không?

- Chuyện trước mười nay, khách “quên hết rồi” Những chuyện trong vòng mười năm trở lại khách biết rất nhiều.

Rượu Trúc Diệp Thanh

Lịch sử Trúc Diệp Thanh

Mạn đàm về các món ngon trên đời khi trà dư tửu hậu đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực của nhân gian, rượu ngon cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tương truyền, trước thời Bắc Tống, ở nước Hán, có một loại rượu ngon được rất nhiều kẻ sĩ dùng để thù tạc trong cuộc rong ruổi trên giang hồ bất tận, rượu say túy lúy, hào khí ngất trời, men kết thành thi ca, hương kết tình bằng hữu. Giang hồ tôn thờ thần men thành đạo…

Miên Thành tự Thanh Trúc chân nhân là kẻ sĩ thời ấy, cũng học chế biến và tiêu dao với loại rượu danh tiếng này. Nhưng một ngày kia, ông cảm thấy cách làm rượu mà ông biết lâu nay chưa thật hoàn hảo, nên ông quyết định khăn gói đi khắp thế gian để tìm. Trên đường vạn lý, ông đã học thêm rất nhiều cách ủ men, chắt lọc lấy rượu tinh chất, tuy nhiên rượu làm ra vẫn không thể trong như nước ngũ hồ, không thể ngọt mát như thạch huyết trong sơn động. Ông vẫn không nản chí.

Nhân một giấc mộng giữa núi rừng, ông như được thần nhân mách bảo. Vượt qua hết rặng núi phía trước, qua khỏi rừng lá trúc, gặp con suối kết hợp từ nguyên khí trời đất. Dùng nước đó chang rượu và dùng các loại củ của bốn loại cây ven suối để làm men, năm loại cốc mọc trên vùng thung lũng ấy làm cốt rượu. Khi men đã ăn đủ một tiết trời thì đào đất lên chôn chum rượu xuống bên suối ba tuần trăng. Ông dùng lá trúc khô đốt lò, dùng ống trúc tươi ngâm vào nước làm ống dẫn. Thế là một loại rượu mà thế gian chưa từng có đã ra đời. Ông đặt tên rượu là Trúc Diệp Thanh – Là sự kết hợp giữa tên ông và vùng này. Chuyện ngon dở đã có thế gian luận bàn, riêng ông, ông đã trao lại cho người đời sau theo đúng triết lý chữ “ THIỆN”

Từ bấy đến nay, rượu ngon thì nhiều người cố công học cách làm. Nhưng sự thật bản viết đã được Danh Y Lê Hữu Trác đem về hướng nam. Đến cuối đời nhà Nguyễn, người được giữ là Ngự Đạt ( Ngự y). Trước khi triều trao ấn kiếm, cụ đã kịp trao lại cho một đệ tử và dặn rằng “ Khi thiên hạ thái bình, rường mối y thuật thật giả khó lường, thì không cần giữ nữa, cứ theo triết lý của người xưa mà làm”


Thành phần và công dụng:


Trúc Diệp Thanh được làm từ 54 loại thảo dược quý như dã sơn sâm, lão phục linh, cam thảo, quế thanh… và 5 loại gạo nếp. Tất cả được lên men và chiết xuất qua hệ thống chưng cất cổ điển. Sau đó, rượu được ủ ở nhiệt độ ổn định và chưng cất lần 2 để cho ra những giọt rượu tinh khiết, thấm đẫm dược thảo.

Trúc Diệp Thanh không những là hương vị say lòng người khó quên mà còn có tác dụng tốt cho sức khỏe, đặc biệt đem đến giấc ngủ an lành cho người sử dụng.


- Thuốc lào cũng chính tay chúng thiếp trồng. để dành đãi mấy cụ và khách đến thăm làng. Nào, mời chàng xơi một điếu. Nàng áo Tiá nói

Cầm ống điếu, Nàng áo Cam bật mồi lửa châm vào điếu cầy, khách hít một hơi thật sâu, phà khói thuốc ra thật dài. Khách bật ngửa ra sau sùi bọt mép. Các nàng che tay lên miệng cười khúc khích:

- Lão say thuốc rồi. Hihihi

Trong cơn mơ màng khách kể:

Theo Đào Duy Anh, cây thuốc lào có lẽ từ Lào (Ai Lao) du nhập vào Việt Nam nên mới có tên gọi như thế. Sách Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn và Đồng Khánh dư địa chí gọi cây thuốc lào là tương tư thảo (cỏ nhớ thương), sở dĩ nó có tên gọi như vậy bởi vì người nghiện thuốc lào mà 2, 3 ngày không được hút thì trong người luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu trong đầu luôn luôn nghĩ đến 1 hơi thuốc, giống như nhớ người yêu lâu ngày không gặp vậy đó mới có tên là tương tư.

Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai.

Thời xưa, ngoài miếng trầu là đầu câu chuyện, thuốc lào cũng được đem ra để mời khách, hút thuốc lào còn được gọi là ăn thuốc lào.

Thuốc lào sau khi gieo trồng và thu hoạch chủ yếu được chế biến thủ công, lá được rửa, lau sạch sau đó được thái, xắt nhỏ ra, phơi khô rồi hồ để tiện cho việc đóng thành bánh.

Thuốc lào Quảng Xương, Thanh Hóa, Việt Nam. Bánh thuốc lào thường đóng gói cùng với một lá mía viền quanh hoặc lá mít ở một mặt.

Ở một số vùng, thuốc lào đã thành thương hiệu ngon nổi tiếng, như An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến An (thuộc thành phố Hải Phòng); Quảng Xương, Thanh Hóa. Trong những nơi trồng thuốc lào thì làng An Tử Hạ nay là làng Nam Tử thuộc Tiên Lãng được đánh giá cao hơn hẳn, vì có tiếng là thuốc ngon và đậm khói. Thời xưa thuốc lào của làng An Tử Hạ còn được dùng để tiến vua và được ghi vào sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi


Tỉnh cơn say, ngồi dậy khách nói:

- Để khách kể hết phần I của câu truyện: Thầy Bảy “tiếp theo”


.... XXX ....

Tự ý đục bỏ ....

.... XXXX ....

Edited by user Tuesday, August 2, 2016 4:18:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

quenhetroi  
#7 Posted : Tuesday, August 2, 2016 4:15:55 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
- Để khách kể hết phần I của câu truyện: Thầy Bảy “tiếp theo”


Chiều tà đã bảng lảng khắp nơi, quang cảnh thật thê lương, lâu lâu mới thấy một vài chòi canh rãy của dân như những chiếc chuồng chim trống hơ trống hoác bên đường. Khu vực này hầu như không có ruộng nước, chỉ có những rãy Khoai mỳ ngút ngàn. Rừng và rãy Mỳ chen lấn nhau suốt dọc đường đi, lác đác những gò mối nổi lên trông hao hao như cảnh cánh đồng Chum bên Ai Lao mà tôi có dịp đi qua.

Gần 7 giờ tối, xe mới dừng bánh ở khu chợ ven đường mang tên Phước Thọ, Phước Thọ đâu không thấy, chỉ biết là chắc chắn đêm nay không có chỗ ngủ rồi. Tôi mời hai cha con ông già vào làm tạm một ly bạc sửu cho ấm bụng trước khi chia tay. Khu vực này không có điện, nên quán cà phê phải thắp đèn Mang xông, ánh sáng trắng xanh nhức cả mắt. Vừa ngồi xuống, tôi vội lấy tấm giấy quyết định phân công công tác ra hỏi thăm đường về cơ quan. Thật bất ngờ bà chủ quán cho biết cơ quan tôi sắp đến đã chuyển địa điểm về Tân Biên cách nơi này gần 50 Km. Bà chủ quan le te, nhưng rất tốt tỏ ra vô cùng lo ngại cho tôi vì giờ này không còn xe nữa. Chán nản, tôi ngồi thượt ra thở ngắn thở dài. Thấy vậy, Ông già liền nói:

-Nếu chú không chê nhà tôi nghèo, tôi mời chú về nhà nghỉ tạm, mai tôi biểu thằng Đệ lấy chiếc Đam chở chú về cơ quan.

Thật chẳng còn cách nào khác, tôi đành quay sang cảm ơn thịnh tình của hai cha con ông già và nhận lời. Chúng tôi lầm lũi đi trong bóng tối của rừng xanh Tây Ninh, Theo con đường mòn vượt qua nhiều rãy Mỳ khoảng gần một giờ, chúng tôi mới về đến nhà. Nhà của hai cha con Ông già nằm trên một cái gò nhỏ, xung quanh là rãy Mỳ mới ngang tầm ngực. Nếu gọi là cái nhà thì thực vinh hạnh cho nó, vì thực ra chỉ là những khúc cây Bạch đàn gác lên nhau và đóng bằng đinh thay các mộng gỗ. Xung quanh tường là những miếng ván bìa đóng song song, hở hếch hở hoác, nhìn bên ngoài thấy suốt cả sang bên kia, Có lẽ trang trọng nhất của ngôi nhà là một cái ban thờ, cũng đóng bằng gỗ bìa, trên có rất nhiều tượng Phật và trên vách treo nhiều tấm ảnh có hình thù lạ mắt mà tôi chưa thấy bao giờ.

Trước nhà là một cái sân rộng bằng đất nện kỹ, phẳng lỳ. Bên cạnh nhà là một cái lán rất lớn có một chiếc giường bằng ván bìa dài hơn chục mét, trên đó người ta nằm ngồi la liệt. Xung quanh nhà, đây đâu cũng thấy có bếp kê bằng ba cục đá và nhiều người đang lui cui nấu bữa chiều. Cảnh tượng giống như sau những lần hành quân, chúng tôi tạm nghỉ nấu ăn vậy, nghĩa là hết sức sơ sài, tạm bợ. Tới mảnh sân, mọi người trong nhà ùa ra chào Thầy ran cả, Mọi người nói cười tíu tít và Ông già lấy trong tay nải ra những thứ mà mọi người gửi mua giúp, Bây giờ tôi mới để ý thấy cái túi xách to đùng mà anh con trai mang vác về toàn là thuốc Nam.
Anh lấy ra và chia cho từng gia đình một. Ông già giới thiệu tôi với mọi người và kêu tôi ra giếng tắm. Một anh con trai da đen trùi trũi lẹ làng hướng dẫn tôi ra giếng và rất nhanh, anh kéo cho tôi một chậu nước to tướng. Giếng ở đây rất sâu và nước lạnh ngắt,.Tắm xong, tôi lần mò vào nhà đã thấy một chiếu nhậu linh đình bày ra sân, Ba tấm chiếu đại bày ra sân mà có vẻ còn vẫn chật. Trên đó là những tấm lá chuối lớn bày rất nhiều thịt gà, những bát canh chua cá và cả chục chai rượu đế trong vắt, Bát đũa cũ mèm và cái cao cái thấp trông thật tức cười, Ông Bảy kêu tôi :

- Hai, mày vô đây gần tao nhậu cho dui.

Tôi rón rén đến ngồi gần ông Bảy, chỗ người ta vừa mới nhích ra nhường. Cái Ly duy nhất chạy vòng theo tua nhanh hơn cả cánh qụạt, chẳng mấy chốc tôi thấy đầu óc lâng lâng, mọi sự mệt nhọc chạy đâu hết ráo. Đêm xuống dần, khí Trời trở nên hơi se lạnh. Xung quanh bàn nhậu người ta bàn tán đủ thứ chuyện trên đời, nhưng nhiều nhất là nói đến những ca chữa bệnh Thần kỳ của Ông Thầy:

Có một cô bé tuổi chừng đôi tám, da trắng tóc dài, môi đỏ chót trông chẳng khác gì Hoa hậu, Một cậu con trai cùng Xã, thầm yêu, trộm nhớ, theo đuổi mãi không được liền nhờ một Thày Chà với số tiền khá lớn bỏ ngải mê cho cô. Yêu đương đâu chẳng thấy, chỉ thấy cô bé tự nhiên điên loạn, xé quần xé áo, đi lõa thể ngoài đường, bốc ăn những thứ dơ bẩn. Gia đình cô đã mang cô đi rất nhiều Thày và bệnh viện, hơn một năm rồi không khỏi. Lần cuối, nghe người ta mách đưa cô vượt cả trăm Km lên nhờ Thày Bẩy. Trước khi đi, hình như cô bé biết nên chống cự kịch liệt, cắn xé cả những thanh niên đứng gần, Người nhà cô phải trói chặt chân tay cô lại, bỏ nên xe lôi đưa lên. Khi vào tới cổng, cô tỉnh dậy kêu thét và chửi bới dữ dội nên không ái dám đến gần. Mấy anh con trai và Đệ tử của Thày Bảy vừa mở trói cho cô, bị cô cắn xé tơi bời làm anh nào cũng hoảng sợ bỏ chạy. Thấy vậy, Lão bà liền đứng dậy, tới bàn thờ Tổ lấy một ly rượu cúng và đốt ba cây nhang khấn khứa gì đó, sau đó bà phun rượu và khoán nhang lên cô bé. Chỉ có thế mà cô bé tự nhiên im lặng, sợ sệt như chó phải pháo, Người ta đưa cô vào nhà và sau ba lần trục Vong bằng ba con gà trống, bữa nay cô bé trông đã tỉnh táo và ngồi thẹn thùng bên cạnh bà mẹ, nghe người ta kể chuyện của mình.
Thấy vậy, tôi vội hỏi Thày Bảy:

- Bác ơi, Trục Vong bằng gà là làm như thế nào ạ?

Ông Thày mỉm cười nhìn cái thằng tôi như thương hại và nói:

- Nếu cậu muốn biết, sáng mai dậy sớm mà coi.

Đêm đó tôi giăng võng nằm ở hàng ba, tuy có rượu rồi mà vẫn trằn trọc không ngủ được, Xung quanh tối đen như mực, chỉ nhìn thấy bóng những hàng cây tối om. Trên bàn thờ Tổ, còn leo lét vài ngọn đèn dầu và những cây nhang đỏ ối. Nhìn kỹ gần bàn thờ Tổ tôi còn thấy có một cái bàn thấp hơn, trên đặt mấy hòn đá lớn nhẵn thín như những hòn sỏi nhưng rất to. Trước mấy hòn đá đó cũng có bát nhang và đồ cúng như những bàn thờ khác. Không biết tại sao lại thờ những cục đá đó nhỉ, tôi loay hoay với những câu hỏi và ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Một hồi chuông vang vọng trong không gian khiến cho tôi tỉnh giấc, Nhìn ra ngoài Trời mới vừa hừng sang. Đó đây, tiếng gà báo sáng rập rồn, Trong ánh nến lung linh trên bàn thờ và hương khói tỏa như muốn làm kẹo lại không khí lành lạnh của buổi sáng mai. Tôi thấy Ông Thày Bảy cùng các con và gần chục đệ tử đang hành lễ trước ban thờ Tổ. Giả tảng còn đang ngủ ngon, tôi nghe thấy tiếng khấn rì rầm của Thày Bảy và đám Đệ tử. Nghe Thày khấn kêu các vị chư Phật, các đấng Thần linh non nước, Thần Rừng, Thần Núi... và cuối cùng là 12 vị Thần Tà : Tà Lục, Tà Hom, Tà Sanh, Tà Sấm, Tà Sét, Tà Gầm, Lục Tặc Tà Hom, Tà Lơn,Thất Sơn, Ông Lục Tà Rù, Ông Chúa lèo, Ông Tà Đỏ,...

Thày còn kêu 72 vị Đại Thần gì đó tôi nghe không rõ, Có một điều lạ là khi làm Lễ, Thày Bảy và đám Đệ tử đều cởi trần trùng trục, chỉ vận có một chiếc quần Tà lỏn. Khoảng gần một tiếng sau, buổi lễ kết thúc, đám Đệ tử túa ra sân Luyện Quyền cước. Ngày xưa tôi cũng đã từng là lính trinh sát bên rừng Lào, cũng có học qua một vài môn Võ thuật, song những đường quyền của đám Đệ tử Thày Bảy thật là lạ lùng. Đặc biệt là họ hay đọc một tràng tiếng gì đó mà tôi không rõ trước khi múa quyền. Những người đang đi quyền có vẻ như múa hay như say rượu, mắt nhìn thẳng phía trước vô cảm, nhưng những đường quyền bung ra thật là đẹp, khiến một thằng trinh sát rừng Lào như tôi phải thèm muốn. Một điều nữa là nhờ ánh sáng đã khá rõ, tôi thấy trên bắp tay của mọi người đều có săm hình Vũ nữ APSARA của Campuchia. Thỉnh thoảng có người phóng vụt lên cây mít rất lớn trước sân và dùng hai bàn tay cong lại như vuốt Hổ mà cào dọc thân cây, Cây mít sùi sì và chắc như vậy mà bị lột từng mảnh vỏ như bị một con hổ thật cào xé, Người ra đòn vào cây mít đó không hề biến sắc cũng như không hề cảm thấy đau đớn hay mệt nhọc gì cả.

Khoảng hơn 7 giờ sáng, cô con gái út Thày Bảy bê ra một nồi cháo gà bự tổ chảng, tất cả chúng tôi cùng xúm vào ăn, vị cháo gà và mùi hành, răm, mùi tiêu hột ngọt lịm thấm vào từng thớ thịt, Tất cả ăn uống nhanh chóng và ngồi nghe Thày Bảy phân công công việc bữa nay, Thật là vui khi tôi biết được sáng nay, Thày Bảy và đám Đệ tử dùng gà để trục Vong lần cuối ra khỏi người cô bé nọ.


Còn Tiếp .......
quenhetroi  
#8 Posted : Monday, August 8, 2016 8:09:33 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Cũng nàng áo tía ngắt lời khách:

- Chắc chàng cũng đói rồi, xin mời chàng dùng tạm món bún chả Hà nội rồi kể tiếp. Trong lúc chàng ăn, Thiếp vì chàng thuật cách làm bún chả Hà nội.

Bún chả Hà Nội

Món bún chả Hà Nội là sự kết hợp nhiều loại gia vị tạo nên một tổng thể rất hài hòa, vừa vặn lại thơm ngon thể hiện sự khéo léo của người nội trợ.

Bạn cần chuẩn bị những nguyên liệu sau để làm món bún chả Hà Nội:

500g thịt ba ba chị
500g thịt nạc vai
Sả, hành khô, ớt, tỏi, chanh
Đu đủ, cà rốt, rau sống ăn kèm
Bột canh, Bột nêm,” cốt súp gà Quốc Việt“ đường, nước hàng, nước mắm, mắm tôm.

Bước 1:
Thịt ba chỉ rửa sạch, thái miếng hơi mỏng bản to. Thịt nạc vai băm hoặc xay nhuyễn

Bước 2:
Sả thái khoanh tròn. Cho vào máy xay nhỏ. Vắt lấy nước.
Hành khô xay thật nhỏ, gần như nát.

Bước 3:
Cứ 1kg thịt dùng 3 thìa non café bột canh, 1 thìa cốt súp gà Quốc Việt, 3 thìa đường. và 1 thìa café mắm tôm, 1 thìa café nước hàng.

Bước 4:
Chia đôi phần gia vị trên cùng với nước sả và hành xay nhuyễn để ướp chả, bạn sẽ ướp thịt băm riêng.
Và thịt miếng riêng, có thể ướp qua đêm trong tủ lạnh thì chả sẽ thấm gia vị hơn nhiều. Trước khi đem ra nướng khoảng 30 phút thì cứ mỗi kg thịt bạn cho thêm 1 thìa nước cốt chanh nhé, để thịt nướng xong được mềm.

Bước 5: Đồ Chua
Cà rốt, củ cải trắng, đu đủ xanh hoặc cuống của cây bông cải gọt vỏ cắt miếng mỏng. Pha giấm: Sử dụng dấm gốc trái cây như dấm nho, chuối, thơm... Pha từng ít một với 1/3 bát dấm, tùy độ chua của dấm đang có châm vào từ từ thêm vào khoảng 2/3 bát nước lọc hoặc hơn, nếm thử có vị chua rất nhẹ là được, thả ngâm cà rốt, đu đủ xanh... vào qua 1 giờ là dùng được. Có nhiều người chỉ dùng thuần đủ đủ xanh hoặc cuống cây bông cải mà thôi vì hai lọai này giòn lâu và thấm vị chua đậm đà hơn cà rốt, củ cải. Nếu dùng cà rốt, của cải trắng cắt mỏng có thể thả ngâm vào dấm là dùng ngay được liền.

Bước 6:
Xếp thịt miếng lên vỉ. Thịt băm thì viên thành những viên nhỏ để nướng. Chả có thế nướng bằng lò nướng, nhưng thơm ngon nhất vẫn là được nướng trên bếp than hoa đỏ hồng. Khi nướng bạn hãy chuẩn bị trước 1 bát dầu ăn để thi thoảng phết lên thịt cho khỏi khô nhé. Nướng xong bạn cho chả ra đĩa, để riêng.

Bước 7:
Pha nước chấm theo tỷ lệ: 2 mắm, 5 nước, 1.5 đường và 1 nước cốt chanh, sau đó cho tỏi và ớt bằm, vào hòa đều. Tuy nhiên công thức này cũng không thể áp dụng 100% được, vì hiện nay nước mắm trên thị trường có nhiều loại và độ mặn cũng khác nhau, vậy nên bạn hãy điều chỉnh cho vừa khẩu vị của mình nhé, miễn sao nước mắm ngọt 1 chút, chua dịu là được. Sau đó đun ấm lên thì tỏi và ớt sẽ nổi lên trông rất đẹp mắt. Rau sống rửa thật sạch. Khi ăn dọn bún và rau ra đĩa, dưa góp được cho vào nước chấm cùng với chả để thưởng thức. Làm sao nước chấm khi nếm thử cũng đủ năm vị: Ngọt, chua, cay, mặn và hơi chát. Màu đỏ của ớt, màu trắng của Tỏi, xanh của tép chanh, hơi đen là nước mắm, vỏ chanh vàng thái chỉ.

Cầu kỳ như bún chả Hà Nội nhưng khi đã thưởng thức thì khó ai có thể quên. Với công thức cho món bún chả ở trên mình dùng thêm một chút mắm tôm để chả được dậy mùi thơm, và thêm vào đó 1 vài giọt nước cốt chanh khi chuẩn bị nướng để miếng chả mềm và không bị khô, đây cũng là chút bí quyết nhỏ để món bún chả trở nên hấp dẫn và ngon miệng hơn.

Nhắc tới bún chả không ai là không nghĩ tới nét ẩm thực tinh tế của Hà Nội. Để làm được món bún chả thơm ngon là sự chuẩn bị khá cầu kì và kỹ lưỡng, cũng như cần bàn tay khéo léo, những kinh nghiệm nấu nướng của chúng Thiếp.

Món bún chả Hà Nội là sự kết hợp nhiều loại gia vị tạo nên một tổng thể rất hài hòa, vừa vặn lại thơm ngon thể hiện sự khéo léo của người nội trợ. Ngày cuối tuần dư dả thời gian bạn hãy vào bếp trổ tài món đặc sản này cho cả nhà.

Trình bày và thưởng thức


Nước chấm, thịt và đồ chua sẽ được chia đều để chung trong một bát vừa ăn. Ăn cùng với bún và rau sống.
Chúc chàng ngon miệng với món bún chả Hà Nội này! Chàng ăn xong kể tiếp nhé!


Không để mất thời giờ, ăn xong làm chén chè sen khách tiếp tục:

Trục vong

[size=7]Không biết Lão bà bà và mấy người phụ nữ đã đi từ lúc nào ra chợ, lúc trở về tôi thấy đã bê lỉnh kỉnh những thứ đồ cho một buổi lễ. Một chiếc tầu buồm bằng bẹ thân cây chuối được làm hết sức công phu, có đủ cột buồm, cờ quạt. Trên Tàu đặt một bộ Tam sên ( Trứng + Thịt heo + Tôm khô ), trầu cau, thuốc rê, hai cây đèn cầy.

Xung quanh Đàn tràng được treo rất nhiều lá Bùa với nhiều khoen, móc và thêm một số chữ Hán. Nhang đèn được thắp la liệt trên bàn thờ Tổ. Trái cây, Hoa tươi, gà luộc cũng được đặt trịnh trọng trên ban thờ, Một cái đĩa lớn để dao lể, kéo và một cuộn chỉ trắng để trên bàn, Một chú gà trống chừng 2 Kg đã bị trói chân để bên cạnh. Thầy Bẩy choàng qua người một chuỗi tràng hạt đen bóng, cùng 4 người Đệ tử dàn ra đứng 4 góc quanh Thầy. Cô bé bị bệnh từ khi thấy Thày Bảy chuẩn bị Đàn tràng lại bắt đầu rú lên từng hồi nghe lạnh cả xương sống. Người ta đưa cô bé vào ngồi trên một chiếc ghế thấp trước bàn thờ Tổ, chân cô bé duỗi ra và trước hai bàn chân người ta đặt con Tàu và một mâm trái cây. Thày Bảy và các Đệ tử lầm rầm khấn Tổ về, tiếng đọc Chú đều đều nghe buồn thăm thẳm Những người Đệ tử của Thày Bảy lấy chỉ trắng luồn từ hai ngón chân cái cô bé vòng qua cổ, hai ngón tay cái, hai đầu của sợi chỉ bỏ vào lòng con Tầu bẹ chuối, Thày Bảy mở trói con gà ra khiến nó kêu quang quác. Một tay Thày cầm con gà, một tay kia lấy chén rượu ngậm một hớp nhỏ, rồi cầm ba nén nhang khoán vào con gà và phun rượu vào nó, Lạ thay chú gà to khỏe như vậy bỗng co rúm lại và nằm im thin thít. Thày Bảy đặt con gà vào giữa hai bàn chân của cô bé mà con gà vẫn nằm im chịu trận không hề nhúc nhích. Xung quanh bắt đầu rộ lên những hồi Chú lạ tai, tiếng phun rượu phì phì, từng hơi rượu được thổi vào khắp người cô bé như những làn sương trắng. Người thì đọc chú, người thì khoán nhang, Họ tự vỗ vào lưng, vào ngực, vào đầu mình nghe đen đét. Thày Bảy cầm chuỗi tràng hạt một tay, tay kia cầm khăn Ấn vuốt dài từ đầu tới chân cô bé. Cô bé rú lên từng hồi man dại, tiếng kêu thật là ai oán như ở đưới Âm Ty, Địa ngục, Bà Bảy ngồi một bên như đang nói chuyện với ai đó :

- Ra mà ăn đi, thức ăn đầy ra đó, xong ta đưa về với sông với rừng, đừng có ngoan cố mà chết uổng nhe.

Người ta thổi rượu, thổi khói nhang vào miệng, vào hai lỗ tai cô bé thật nhiều.
Bỗng Thày Bảy quát to một tiếng : Mau…

Cô bé bỗng hực lên một tiếng, vươn cổ như muốn ói. Bà Bảy vội lấy một cái Hồ lô bằng gỗ nhét vào miệng cô bé và vung tay vỗ vào đầu cô bé quát : Ra mau,,..

Cô bé bỗng rùng mình và tự nhiên xỉu gục xuống, Bà Bảy lấy cái Hồ lô gỗ, nhét nắp lại và dán lên đó một đạo Bùa rồi để lên bàn thờ, Một tiếng than van tuy nhỏ nhưng nghe rất rõ đầy ai oán cất lên nghe sâu thẳm từ chiếc Hồ lô gỗ.

Con gà lúc này trông thật đáng sợ, nó tím tái như vừa qua một cơn đá độ sống mái, máu miệng nó ứa ra và lật ngang sang một bên - Nó đã chết hẳn. Các Đệ tử của Thày Bảy vội vàng dùng Kéo cắt các sợi chỉ, phần thì gút thành một sợi dây có nhiều gút quấn quanh hai cổ tay cô bé và một sợi quấn tòng teng quanh cổ, trên đó có treo một túi vải nhỏ trong có các đạo Bùa, Phần chỉ còn lại bỏ lên Tàu và người ta vội mang cái Tàu buồm bẹ chuối đó ra con sông gần nhà thả trôi song. Cô bé thân hình tơi tả nằm thiêm thiếp được đưa lên tấm ván gỗ cạnh đó. Thày Bảy cầm con dao lể, lể mấy chỗ ở trán và ống chân rồi nặn máu ra, máu thâm đen như màu mận chín. Người ta cho cô uống nước có đốt những Đạo Bùa bỏ vào rồi đắp cho cô bé cái mền, Cô bé chìm vào một giấc ngủ thật sâu. Mọi người xúm vào dọn dẹp và sau đó đi tắm rửa, Mặt trời cũng đã đứng bóng. Một chốc sau, cô bé tỉnh dậy, người ta đưa đi tắm rửa thay quần áo và bắt đầu ăn cơm trưa, Cô bé đã tỉnh táo hẳn và không hề còn có bóng dáng bệnh tật gì nữa, chiều nay cô được phép trở về nhà sau khi được bà Bảy cho một nắm Bùa làm thuốc và dặn cách ăn kiêng các thứ. Tôi ngồi coi từ đầu đến cuối và thật bàng hoàng với những cái chính mắt mình trông thấy. Chiều nay, Thày Bảy sẽ cho Đệ tử chở tôi về nhận công tác ở cơ quan mợi

Chiều hôm đó, đúng như lời hứa, Thày Bảy sai một Đệ tử dùng cái xe HONDA 50 Cm3 cũ mèm chở tôi về Tân biên. Chúng tôi đi theo đường tắt nên chỉ mất khoảng 30 Km, tuy nhiên đường thì thật là vô cùng khó đi, nhiều lúc phải băng qua cả những dãy mỳ mênh mông. Trên đường đi, theo thói quen, tôi tranh thủ hỏi chuyện cậu thanh niên này, Được biết, quê cậu tận ngoài Xuân Lộc, hồi tháng 3/1975 gia đình cậu gồm hai cha mẹ và 9 anh em đủ cả trai lẫn gái, bồng bế nhau chạy về Sài Gòn. Tuy nhiên chỉ ít sau đó, Sài gòn thất thủ trước những bước tiến quân vũ bão của phe Cách mạng. Sợ bị trả thù, gia đình cậu lại tiếp tục bồng bế nhau chạy lên Tây ninh,và ở chân núi Cậu, ngay bên hồ Dầu tiếng bây giờ. Hàng ngày, cậu cùng cha mẹ và các anh chị cuốc đất trồng mỳ, trồng điều đắp đổi qua ngày. Cho tới một ngày, có lẽ vì làm lụng quá sức, cha cậu lại bị thêm một trận cảm nên đã mất đi, để lại biết bao nhiêu cơ cực cho người mẹ và chín đứa con còn lóc nhóc. Chẳng biết cha cậu có chết phạm giờ Trùng tang liên táng như thế nào đó mà chỉ 3 tháng sau đó, tai họa đau thương, khủng khiếp liên tục đổ lên cái gia đình khốn khổ đó. Đầu tiên là chị cậu vào núi hái cây thuốc để bán cho các tiệm thuốc Nam, bị rắn Hổ Sơn cắn chết trên núi, gần một ngày sau mọi người mới hay. Tiếp theo là hai người anh lớn, đi rà sắt phế liệu, đụng phải trái mìn nổ banh xác, thịt xương vương vãi khắp vùng. Mẹ cậu vì buồn quá nên cũng chỉ hơn một năm sau lại nằm xuống, để lại 6 chị em côi cút giữa dòng đời. Những cái chết thảm thương vẫn chưa chịu rời bỏ gia đình cậu, khoảng một năm sau đó, trong một lần mang cây thuốc về Thị xã Tây ninh bán, chiếc xe đò lở chở theo hai người chị tháo vát nhất của gia đình bị bể vỏ ( vì quá mòn ), lật nhào xuống ruộng, làm gần chục người chết không toàn thây, trong đó có hai người chị câu.

Lúc này mấy người còn lại thật sự hoảng loạn, người anh trên cậu, phát điên và một ngày người ta tìm thấy thi thể nổi lên trong khúc sông cạnh nhà. Nhà đang đông đúc là thế, nay chỉ còn ba đứa trẻ lủi thủi vào ra, Lúc đó cậu còn có người anh 15 tuổi, một người 14 tuổi và cậu 12 tuổi. Một lần, cả ba đi làm cỏ mỳ gần Điện Bà Tây ninh trên núi Bà, chiều về nhà không kịp, các cậu tá túc nhờ nơi cửa Thiền.

Ngày đó Điện Bà Tây ninh, vì cuộc chiến cũng sơ xác hoang tàn, Chỉ có một vị Sư già hàng ngày nhang khói trong cửa Phật, Sau khóa tụng kinh tối. Vị Sư già ngồi hỏi chuyện ba đứa trẻ về hoàn cảnh gia đình. Sau khi nghe xong, Nhà Sư lặng lẽ mở một cuốn sách chữ Nho rách nát ra và bấm đốt tay tính toán. Mãi một lát sau, nhà Sư mới cho biết Cha các cậu chết nhằm đúng ba Trùng Tam Xa, nhị Xa, Nhất Xa.

Thật hiếm có người nào phạm vào giờ độc như vậy, chết Trùng phạm vào cả tháng, ngày, giờ. Nhà Sư còn cho biết hạn của Gia đình cậu chưa hết và còn rất thê thảm.

Ánh mắt đượm buồn, nhà sư nói :

- Lẽ ra, ta phải cho các con ở lại đây nương nhờ bóng Phật, may ra mới có thể thoát khỏi kiếp nạn này. Nhưng giờ đây Nhà Phật tan hoang, không biết thân ta có còn giữ nổi mình không nữa - Lực bất tòng tâm - Thật là kiếp nạn.
Nói rồi nhà Sư ngồi lặng im, cậu thấy ánh mắt nhà Sư già như ngấn nước mắt. Nhà sư già lặng lẽ bước vào chính điện, lấy trên bàn thờ mấy lá Sắc của Mật tông phái, thắp hương, thỉnh chuông và lầm rầm đọc Chú. Một lúc sau, nhà sư quay lại chỗ ba anh em đưa cho ba lá Sắc và nói :

- Đây là ba lá Sắc hộ mạng ta vừa xin cho các con, Nhưng trên núi này bây giờ không thể tìm kiếm được Tam Thần nên ta nghĩ rằng không thể giải trừ triệt để oan nghiệp của gia đình các con được, Âu có lẽ đó cũng là số phận.

Đêm đó nhà sư già ngồi trước Tam bảo đọc kinh chú cho tới sáng. Những ngày sau, ba anh em nhà kia vẫn hàng ngày đi làm mướn nuôi thân, hàng ngày lúc rảnh rỗi, chúng leo lên trên sườn núi Phụng, núi Heo để hái cây thuốc về bán hay đi câu Thằn lằn núi về bán cho các quán nhậu ở dưới Thị xã. Cuộc sống lặng lẽ trôi đi được hơn một năm, cho tới ngày giỗ người chị cả chết vì bị rắn cắn, bỗng người anh cậu đang ngồi ăn cơm, bỗng nhẩy bật dậy, nhẩy lên giường đứng, mặt mũi đỏ gay, bọt mép xùi ra và nói với giọng lạnh băng :

- Ba, má và các anh chị về đón các em đi đây.

Nói xong ngã vật xuống bất tỉnh, Mấy đứa sợ quá kêu khóc như ri khiến những người hàng xóm kéo đến chật cả nhà. Nghe chuyện xẩy ra người ta bàn tán xôn xao và mách các cậu phải sang gấp Huyện Châu Thành kiếm ông Thày Bảy để giải nạn cho. Ngay trong ngày, bà con láng giềng kẻ ít, người nhiều, đóng góp tiền bạc và thực phẩm giúp cho ba đứa trẻ, mướn một cỗ xe lôi chở đồ đạc trực chỉ Châu thành. Sang đến nơi, thật là sui cho ba anh em, Thày Bảy đi chữa bệnh ở xa, mấy bữa nữa mới về, Cả ba anh em đành làm một cái chòi nhỏ gần nhà Thày để đợi Thày về. Trong đêm đó, người anh liên tục lên cơn gầm rú, kêu đòi lấy mạng của cả ba anh em. Đệ tử của Thày Bảy có qua phụ giúp, nhưng chỉ vài tiếng sau những cơn điên lại nổi lên. Từ trong miệng người anh, hàng tràng tiếng thổ ngữ lạ tai phun ra như mây bay, gió cuốn. Cả chục Đệ tử của Thày Bảy đứng xung quanh, kẻ phun rượu, người khoán Bùa, kẻ ngậm dầu phun lửa, những tiếng vỗ vào cơ thể họ nghe chan chát. Con Tà kia càng ngày càng hung hăng, nó cũng chạy lại bàn thờ lấy ba cây nhang đang cháy, khoán những vòng tròn và những nét Bùa bí ẩn vào các Đệ tử Thày bẩy, Một lúc sau, ba, bốn Đệ tử Thày Bảy bỗng ngã vật ra đất xùi bọt mép, thân hình co rúm lại. Mọi người vội khiêng họ lên chiếc chiếu đặt trước bàn thờ Tổ. Phía ngoài kia, cuộc chiến vẫn vô cùng ác liệt, các Đệ tử của Thày Bẩy vẫn tiếp tục thi triển pháp thuật. Tiếng đọc Chú ngày càng mau, tiếng tự vỗ vào ngực mình ngày càng mạnh, Các đệ tử lúc này đã dùng chính bản thân họ, tay cầm những bó nhang lớn vây quanh con Tà thành một Thế trận Sinh tử. Lúc này, con Tà không còn đường nào thoát khỏi thế trận được bày, mặt khác lại liên tục bị tấn công bằng lửa nên bắt đầu luống cuống, nét Phù nó khoán càng ngày càng chậm. Khi cảm thấy ngày tận thế gần kề, con Tà bỗng hét lớn lên một tiếng, bung người lên cao và đọc một loạt tiếng Chú Lạ tai, tiếng chú nghe xót thương, ai oán, như giận, như hờn. Bỗng nhiên, người anh kế mắt mũi trợn ngược, nhe cặp nanh ra, hai tay múa quyền xông vào trận và dựa lưng vào người anh, quay đủ tám cửa bung ra hàng loạt Phù lạ mắt. Ngay lập tức, hai Đệ tử của Thày Bẩy bị hất văng ra xa, Trận đồ liên hoàn nay đã bị phá. Một chuỗi cười nghe thê lương chợt vang lên từ miệng người anh, Hai con Tà tận dụng thời cơ, tới tấp tấn công các Đệ tử còn lại của Thày Bảy. Họ lùi dần, lùi dần đến sát tận hiên nhà, ngay trước bàn thờ Tổ, Hai con Tà cười vang đắc thắng và chúng hùng hổ tiến về phía bàn thờ Tổ, tính sẽ đá văng bàn thờ Tổ của ông Thày Bảy. Các Đệ tử của Thày Bảy người nào cũng kiệt lực, lảo đảo đứng thành hàng ngang, lấy thân mình che bàn Thờ Tổ, Hai con Tà từ từ tiến vào,....




----- Còn Tiếp - Trừ Tà---

Edited by user Thursday, August 11, 2016 8:01:18 AM(UTC)  | Reason: Not specified

quenhetroi  
#9 Posted : Wednesday, August 17, 2016 3:58:35 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
- Ngừng chàng ơi! Chúng thiếp mới ngả một con dê non béo để đãi chàng. Mời chàng dùng với bọn thiếp món Tái Dê và món Dê Hấp. Dân gian cho rằng, thịt dê thuộc loại “ông ăn bà khen”, có tác dụng tăng cường sự sung mãn cho đàn ông. Chẳng biết đúng không, nhưng có thể khẳng định, thịt dê thuộc loại bổ dưỡng, các món ăn chế biến từ thịt dê luôn hấp dẫn mọi người.

Một con dê, sau khi đã làm sạch, thui vàng da, bọn thiếp có thể chế biến đến hơn 20 món. Đầu tiên phải kể đến 4 cái đùi. Cả con dê chỉ có phần đùi là nhiều nạc, xong 4 cái đùi coi như là hết 2/3 con. Tùy yêu cầu của khách, bọn thiếp có thể làm món hấp, nướng, còn xương, chân giò để xáo măng, hầm đu đủ hay nấu lẩu.

Dê hấp là món phổ biến, dễ ăn, nhất là với thực khách nữ, vì nó nhiều nạc, thịt mềm. Uống chung với Minh Mạng tửu nữa là đủ bộ, chỉ cần làm xong ly đầu tiên cho “thấm giọng”. Gắp lát thịt hấp cuộn trong lá mơ, nhắp thêm ly Minh Mạng tửu thì thôi rồi... Nếu:

“Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”


Thịt chó không thể thiếu mắm tôm, lá mơ, thì thịt dê cũng không thể thiếu chén chao, chút mắm tôm hay tương gừng để chấm cùng đĩa rau gia vị ăn kèm với lá mơ, mấy lát riềng, ít lát sả, ớt, rau thơm... Nói chung là tùy khẩu vị từng người.

Dân gian thường quan niệm ăn thịt dê giúp cánh đàn ông sung mãn hơn. Thế mới có chuyện:


Tái dê chấm với tương gừng
Ăn vào nó cũng phừng phừng như dê
Vợ cười sung sướng thoả thuê
Mình ơi mai lại tái dê tương gừng.


Theo Hải Thượng Lãn Ông và Y học tùng thư, thịt dê có vị ngọt, tính nóng, không độc. Các món ăn chế biến từ thịt dê rất bổ dưỡng, được nhiều người ưa thích.

Cách làm: - Dê Hấp chấm tương gừng -

- Đùi dê để phần da, cắt gọn lại, sát ít sả băm vào và cho vào luộc chung với nước dùng và một ít rượu, bột nêm, đường. Khi đùi chín vớt ra, để ráo, đợi nguội sắt lát mỏng vừa ăn, bạn nhớ sắt thịt kèm đủ phần da và lớp nạc trong cùng. Xong, bỏ thêm một ít gừng thái sợi chỉ và tiêu lên trên thịt đã sắt rồi cho vào trong nồi hấp. Đợi khoảng 3 – 5 phút là thịt thấm mùi.

Làm nước chấm: bạn nêm tương cho vừa ăn, trộn chung với gừng và sả băm nhỏ, nếu ăn cay thì cho thêm ớt.

Cuối cùng xếp rau, dứa, ớt dưới đĩa rồi đổ thịt đùi dê hấp lên trên là món thịt dê chấm tương gừng của bạn đã sẵn sàng.

- Đợi chàng ăn xong món Dê chấm với tương gừng rồi, uống thêm hai xị Minh Mạng Tửu, lát nữa bọn thiếp cho chàng Dê xối sả.
Nghe nàng áo trắng nói, lát nữa khách sẽ được dê xối sả, khách mừng thầm trong lòng. Đảo mắt một vòng nhìn các nàng, thấy nàng nào cũng chúm chím che miệng cười. Đôi mắt hiện lên vẻ tinh quái, Khách thầm nghĩ:

- Không biết đây là mộng hay thực, Họa hay phúc đây. Mặc kệ tới đâu hay tới đó, cùng lắm là theo chân cụ Tiên Chỉ đi “cỡi ngựa gió” là cùng.

- Chắc chàng biết nhiều về toa thuốc Minh Mạng Tửu.

- Cũng tạm đủ dùng thôi. Toa thuốc này ngày xưa U Bon Vương Lê Văn nhà Lý đời Lý Thái Tổ, kê toa cho Hàn-lâm thị độc học sĩ Yến Thù nhà Tống, đời Tống Nhân Tông. Còn được gọi là “Kê Đầu Tuyệt Vũ” -‘Rượu này cụ TVB thích lắm’ - thành phần không khác nhau bao nhiêu. Có dịp khách xin cụ TVB kể về giai thoại này cho quý viên chức trong làng nghe.

Đây là toa thuốc Minh Mạng Tửu còn được gọi là rượu Nhất dạ lục giao, Sinh Ngũ tử

Thành phần:

1-Thục địa 40g
2- Đào nhân 20g
3-Sa sâm 20g
4- Bạch truật 12g
5 Vân qui 12g
6- Phòng phong 12g
7- Bạch thược 12g
8- Trần bì 12g
9-Xuyên khung 12g
10- Cam thảo 12g
11- Thục linh 12g
12- Nhục thung dung 12g
13- Tần giao 8g
14-Tục đoạn 8g
15- Mộc qua 8g
16- Kỷ tử 20g
17-Thường truật 8g
18-Độc hoạt 8g
19- Đỗ trọng 8g
20- Đại hồi 4g
21- Nhục quế 4g
22- Cát tâm sâm 20g
23- Cúc hoa 12g
24- Đại táo 10 quả


Cách ngâm:

24 vị thuốc trên ngâm với hai lít rưỡi rượu tốt trong vòng 7 ngày. Lấy 150 g đường phèn nấu với một xị nước sôi cho tan, để nguội rồi đổ vô keo rượu thuốc, trộn đều, đến ngày thứ 10 đem dùng dần. Ngày 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, sáng, trưa , chiều trước bữa ăn. Bã thuốc còn lại ngâm nước hai với một lít rưỡi rượu ngon- một tháng sau dùng tiếp.

Chủ trị:

Trị bán thân bất toại, dương sự kém,
Tác dụng đại bổ thận, bồi bổ thần kinh, gia tăng khí huyết, tăng cường sinh lực, mạnh gân cốt, tăng tuổi thọ.


- Thuốc này cũng được chúng Thiếp ngâm hơn mười năm rồi, định để dành cho cụ Tiên Chỉ. Nhưng ...chặc. chặc. chặc. ….

Cụ Tiên Chỉ không uống, Bây giờ chàng được hưởng, để lát nữa chúng thiếp cho chàng Dê Xối Sả. Nào bây giờ các em cùng ta ngồi chung với Khách thưởng thức món dê hấp, và món tái dê này. Bỗng có tiếng ngâm khe khẽ:

Tái dê chấm với tương gừng
Ăn vào một miếng phừng phừng như dê
Đêm về vợ lại tỉ tê
Tối mai ta lại tái dê tương gừng.


Thế là tiếng cười chúm chím của các nàng lại nổi lên lần nữa. Khách cầm đũa gắp không ngừng, uống Minh Mạng Tửu lia lịa, trong chốt lát mồi hết, rượu cạn. Khách hồi hộp chờ các nàng cho Dê Xối Sả. Vẫn nàng áo Trắng lên tiếng:

- Chàng chuẩn bị dê xối sả với chúng thiếp chưa?

Nốc thêm một chung rượu, khách hùng dũng đứng dậy trả lời:

- Tinh thần đã chuẩn bị xong, xin mời nàng nào muốn cho khách dê trước.
- Chàng vội quá chàng ơi, xin chàng ngồi xuống. Việc gì tới sẻ tới, Nào tất cả các em hãy ngồi lại gần chàng, dũ bỏ xiêm y xuống, chúng ta mau đãi chàng.

Nghe nàng áo trắng cho phép các nàng dũ bỏ xiêm y, những cánh tay vội vàng thoan thoát dũ bỏ xiêm y. Tất cả không gian đều ngưng đọng, khách nhìn mà lòng khách hồi hộp chờ đợi giây phút thần tiên……..

Bỗng nàng áo trắng vỗ tay ba tiếng:

- A Hoàn, Mau mau mang món Dê xối sả ra đãi khách và thêm rượu. Món này phải ăn nóng mới ngon, uống Minh Mạng Tửu lát người sẽ cảm thấy nóng. Ăn xong món dê xối sả, món kế tiếp là Lẩu dê. bởi thế, ta cho tất cả các em dũ bỏ xiêm y luộm thuộm ra, mặc áo bà ba ngồi ăn cùng chàng là được thoải mái vô cùng.

- Trời, Ngất … Tưởng sẽ được Dê Xối Sả, hoá ra các nàng đãi khách món dê xối sả.


Cả bàn bật lên những tiếng cười thật to và thật dòn, người cười nghiêng, người cười ngả. Khách cũng gượng cười theo.


Dê xối sả

Người đẹp được gọi là A Hoàn bưng lên 2 đĩa dê xối sả. Những sợi sả được chiên vàng sậm bao bọc xung quanh những miếng thịt dê nóng hổi, thơm phức. Thịt dê đương nhiên ngon, nhưng khách lại thích cảm giác nhấm nháp từng cọng sả nóng, giòn rụm, thơm thơm tan dần trong miệng.

- Để làm món dê xối sả, sả phải chọn loại không già, không non, đập dập, xé sợi, tẩm bột và ướp gia vị riêng - bí quyết đặc biệt của Đồi Láng chúng thiếp.

Ăn xong khách muốn làm một giấc thật dài tới sáng. Nhưng các nàng nói:

- Chàng kể tiếp cho chúng thiếp nghe câu chuyện Trừ Tà đi. Trời vẫn chưa tối lắm.
- Được, các nàng muốn thì khách chiều:

Trừ Tà


Bỗng ngoài ngõ vang vọng tiếng xe Honda, hai chiếc xe vọt khẩn cấp vào sân. Thày Bảy và lão bà từ trên yên xe, bung lên nhẩy qua đầu hai con Tà và đứng chắn trước hàng Đệ tử, lúc này đã lần lược gục xuống. Thày Bẩy đứng tấn trước hàng Đệ tử, một tay cầm chuỗi tràng hạt xoay tít, một tay ông dùng Ấn Hỏa bung ra một lượt bảy lần Linh phù tứ tung Ngũ hoành, miệng đọc liên tục :

" Nhất tung khai Thiên môn,
Nhị tung bế Địa hộ,
Tam tung lưu Nhân ngôn,
Tứ tung sát Quỷ lộ,
Nhất hoành trừ nạn khổ,
Nhị hoành độ Nhân thân,
Tam hoành trừ ác tặc,
Tứ hoành trừ Sát nhân,
Ngũ hoành trừ Hung Thần,
Cấp cấp như Cửu Thiên Huyền nữ y như luật lệnh ",


Khi Linh phù cuối cùng được phóng ra, hai con Tà vội tìm đường tẩu thoát, Chúng vội vàng quay đầu như muốn phóng thẳng vào trong bụi rậm gần mép nước. Chẳng chậm một giây, Lão bà lấy ra một gói nhỏ trong túi vải vẫn quàng qua người và nhanh như điện xẹt, bà chạy quanh hai con Tà một vòng, vừa chạy vừa tung một chất gì đó màu đỏ như máu thành một vệt đỏ vòng quanh chỗ đứng của hai con Tà. (Về sau này mới biết đó chính là Tam Thần: Thần sa, Châu sa, Huỳnh hoàng).

Hai con Tà bị nhốt trong vòng tròn Tam Thần, không còn đường chạy, mắt long sòng sọc, tru lên những hồi man dại. Ở ngoài, theo lệnh ông Bảy, lão bà cùng mấy Đệ tử còn lại ngồi xếp bằng và chắp tay niệm:

CẨN CÔ THẦN CHÚ :

" Khản Khản Sắc Sắc Ngũ Lang,
Cẩn Cô Cẩn Cô Trá Bàn Trá
Tứ Đế, Tứ Thánh, Tứ Thiên Vương.
Bát Đế, Bát Thánh, Bát Kim Cang.
Đầu Đảnh Hỏa Luân Trấn Tứ Phương
Hàng Thiên Ma, Hàng Địa Ma
Khử Ôn Đạo, Trảm Tà Ma.
Án Sắc Lệnh, Trảm Sắc Lệnh,
Đáo Trảm Sắc Lệnh, Ta Bà Ha.
Hỏa Luân Kim Cang Tam Sái Thần
Khước Đạp Kim Cang Trấn Thiên Môn
Kim Môn Tự Hữu Huỳnh Kim Tả
Kim Mao Sư Tử Đái Kim Lân
Kim Lang Điện Thượng An Kim Tả
Kim Nam Kim Nữ Kim Hiệp Chưởng
Chấp Kim Lư, Kim Tịnh Bình
Kim Cang Nhiễu Chuyển Kim Phật Điện
Bá Vạn Tứ Thiên Kim Cang Thần
Văn Kinh Ngữ Thính Chơn Kinh
Hữu Nhân Tụng Đắc Chơn Kinh Thập Nhị Bộ
Thắng Tụng Hoa Nghiêm Nhứt Tạng Kinh
Thiên Lôi Chấn Động Kim Cang
Địa Lôi Chấn Động Kim Cang
Phật Đảnh Kim Cang
Di Sơn Tắc Hải Kim Cang
Phan Thiên Phúc Địa Kim Cang
Trấn Thiên Trấn Địa Kim Cang
Mai Ôn Tàng Thư Kim Cang
Đạt Mạ Lão Tổ Kim Cang
Ngũ Bá Giới Hạnh Kim Cang
Thiên Hạ Trấn Thần Kim Cang,...


Ông Thày Bảy lại lấy ra một gói lớn gồm chín vị thuốc Bắc bao gồm : Thần sa, Châu sa, Hùynh hoàng, Sương truật, Địa liền, Quế chi, A Ngùy, Huyết giác, Đại Hồi ném tới tấp vào hai còn tà. Lập tức, đang hùng hổ gầm thét, hai con Tà nhũn như chi chi và lật đật quỳ xuống vái lấy vái để hai ông bà Bảy. Nghiêm sắc mặt bà Bảy hỏi:

- Chúng ngươi là ai mà sao dám ngông cuồng giết người, chiếm xác, lại còn muốn đạp đổ bàn thờ Tổ của ta nữa, lớn gan thật - Khai mau, không ta cho một chảo Ngũ lôi oanh đỉnh thì vĩnh viễn bất đầu thai nghe chưa?

Con Tà lớn vái lấy vái để hai ông bà Bảy và thưa :

- Dạ thưa Đại sư, chúng con chính là những vong hồn của bày rắn Hổ Sơn đã tu luyện lâu năm trên núi Cậu. Gia đình chúng con gồm đúng 12 người, đủ cả lớn bé già trẻ, tổng cộng tới 4 Đời sống dưới chân núi Cậu.

Một ngày cách đây 7 năm, trong một trận càn quét, một quả bom 500 Bảng Anh đã thả đúng chỗ gia đình chúng con sinh sống, than ôi, thịt nát, xương tan, cả gia đình chúng con chẳng còn một mống nào cả, ụ mối rất lớn trong bụi mây là nhà của chúng con biến thành một cái ao rộng lớn, Hồn chúng con vẫn vơ vẩn ở khu đó để tìm được người thế mạng mình mới đi đầu thai được. May quá, có gia đình kia gồm mười một người dọn đến ở trên đất của chúng con, Chúng con cứ luôn canh chừng họ để chờ thời cơ, Vận may đã đến khi người cha của họ chết đúng vào Trùng tang Tam xa. Theo đúng luật Âm, chúng con được bắt chín người trong gia đình họ để thế mạng. Tuy nhiên vì không đủ người Thế mạng nên chúng con phải tìm cách bắt nốt mấy người còn lại. Chỉ hiềm vì gia đình họ có tổng cộng mười một người nên chúng con phải theo đến đây, xem ai hợp căn thì bắt nốt cho đủ 12 người, lúc đó Gia đình chúng con mới đầu thai hết được, Chúng con biết tội của mình, nhưng không thể làm khác được, mong ông bà Đại xá cho chúng con.

Thày Bảy nghiêm mặt nói:

- Lũ chúng bây đâu biết Trời cao Đất dày gì cả, Họ có tội tình gì mà các người giết chết cả nhà của họ, các ngươi có biết không?

Một con Tà vội nhổm đầu lên cãi:

- Thế Gia đình chúng con có tội gì mà chết tuyệt cả họ, lại chẳng ai được toàn thây?

Nói rồi nó gào lên nức nở, Thày Bảy im lặng, một nét buồn sâu thăm thẳm vương trên nét mặt.
Một lúc ông mới nói :

- Hận thù nên cởi chứ không nên cột, nếu cứ trả thù mãi thì nghiệp oán trùng trùng lấy chi gỡ đây, Thôi ta bảo hai nhà người, để ta tụng kinh cầu Siêu cho cả họ nhà ngươi được Siêu Sanh Tịnh độ, hưởng công đức của chư Phật, Hai người mau trả lại thân xác cho người ta. Từ đêm nay ta sẽ tụng liên tục chín ngày đêm cầu Siêu cho họ nhà người, về báo với gia đình như vậy nhé, Nói rồi ông quát nhỏ một tiếng : - Mau

Lập tức hai cái thân xác kia dãy dụa và lăn ra đất bất tỉnh, Con Tà đã ra đi. Ngay đêm đó, Ông bà Bảy và đám Đệ tử lập Đàn cầu Siêu thực lớn cho họ nhà Rắn đủ chín ngày đêm liên tục. Hai người anh đã được trả xác vẫn còn ngây ngây dại dại, ông bà Bảy phải chữa cho cả tháng sau mới khỏi. Đám Đệ tử cũng phải mất cả tuần sau mới lại được người. Từ đó, Ông Thày bảy lại có thêm ba Đệ tử hàng ngày học Pháp thuật và cùng ông bà chữa bệnh cứu người, Mấy năm đã trôi qua, không ai còn nghe thấy gì về họ nhà Rắn Hổ Sơn trên núi Cậu nữa, ngoại trừ khoảng nửa tháng sau trận đó, một cô bé đang ngồi chơi bên hè bỗng chắp tay cung kính vái Ông bà Bảy :

- Gia đình con xin cảm ơn Đại sư ngàn lạy, Chúng con đã được Siêu thặng

Công ty tôi về công tác là một công ty chuyên về trồng cao su của Tây Ninh. Những ngày đầu nhận công việc mới bận rộn, tôi tạm quên đi câu chuyện vừa qua. Mải mê với những chiếc máy kéo, máy ủi và đội xe KAMAZ, gần một tháng sau tôi mới có dịp về lại Châu Thành. Đường bữa nay có vẻ như gần và tốt hơn nhờ tôi lấy một chiếc xe ZEEP lùn của công ty sang thăm ông Thày. Ghé qua chợ Tây Ninh, tôi kiếm mấy chai rượu và một mớ mồi gồm có cá suối và thịt rừng lên để nhậu với các chư huynh đệ học trò Thày Bảy, Gần tới nhà Thày, từ xa tôi đã thấy một đám đông, túm năm, tụm ba trước ngõ, Đánh vội chiếc xe vào dưới tán cây dầu cạnh nhà, tôi lật đật chạy vào nhà. Ngay trên bộ ván vẫn giành cho khách nằm là một người đàn ông, mình mẩy bê bết máu, một cánh tay bị chặt gần như lặc lìa, máu phun ra có vòi, Thày Bảy và mấy học trò đang dùng chiếc áo nâu cố gắng quấn lại mà không cầm được, Từ trong nhà, bà Bảy nhanh nhẹn đi ra, miệng nhai cái gì đó xanh lè, gạt mấy cậu học trò ra và phun vào chỗ tay bị chặt, máu vẫn phun sùi bọt, Thật lạ lùng, gần như lập tức máu ngừng chảy. Thày Bảy vội thắp mấy nén nhang trên bàn thờ Tổ, rồi cùng bà Bảy chắp tay liên tục đọc Chú. Một lát sau, người bị nạn từ từ mở mắt ra, Đó là một người đàn ông trạc trên 60 tuổi, có lẽ là người Chàm, Tuy máu me đầy người và một cánh tay đang lủng lẳng sắp đứt, nhưng thần sắc của ông ta vẫn còn oai phong, lẫm liệt lắm. Đặc biệt khi vừa mở mắt ra, nhãn lực của đôi mắt ông có một cái gì đó ma quái khiến cho tôi phải rùng mình, Thày Bảy vội sai mấy cậu học trò dùng xe lôi, đưa gấp người đàn ông đó về bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Khi mọi người đi rồi và đám đông đã giải tán, ngồi bên ly rượu, tôi mới từ từ hỏi Thày Bảy về đầu đuôi câu chuyện. Theo lời Thày Bảy, thì đây là một võ sư lừng danh của Tây Ninh từ hàng chục năm trước, Ông này người Chàm và là một võ sư theo hệ phái Thất Sơn Thần quyền. Không biết ông đã từng học võ ở đâu và từ bao giờ, nhưng cách đây hơn chục năm đã là một đại cao thủ trong làng võ nghệ Tây Ninh. Các cao thủ từ khắp nơi trên đất Nam bộ, đều đến kiếm ông để tỷ thí so tài và lần lượt bị ông đánh bại, Những đêm ông luyện võ, quang cảnh thật là rùng rợn, Sau khi thắp nhang trên bàn thờ Tổ, ông bỗng như một người khác hẳn, say say, tỉnh tỉnh, đi lại như người mộng du. Nếu một người nào đã học qua các trường phái võ khác, thấy vậy không khỏi phải bật cười. Ông cứ la đà, tay chân trông cứng quèo, đi lại liêu siêu, chẳng ra thế võ nào cả, Vậy mà khi gặp đối thủ, nhất là những bậc siêu quần, những thế võ huyền diệu được bung ra như điện giật của đối phương, ông đều hóa giải nhanh và đơn giản đến mức không ngờ. Có một điều lạ là, theo nhận xét của những người nghiên cứu võ thuật, những thế võ của ông hình như không thuộc một môn võ nào cả mà lại hội tụ được tất cả các môn võ mà người ta được biết. Và cũng chưa kịp tàn một cây nhang, đối thủ của ông bị một đòn đơn giản đến không ngờ phải văng tít ra xa, ngất lịm. Những khi không có đối thủ, ông thường phải nhờ đến rừng mít nài cạnh nhà để luyện, Chỉ trong một thời gian ngắn, cả rừng mít nài xum xuê xanh tốt đều trụi hết vỏ và chết khô gần hết.

Nghe Thày Bảy nói vợ ông đã chết từ lâu và theo ông chỉ có một đứa con trai độc nhất chừng hơn mười tuổi, Những năm gần đây, hai cha con ông không ở một chỗ cố định mà thường lưu lạc đi khắp Sài Gòn - Lục tỉnh vừa dạy võ vừa mãi võ bán thuốc. Thuốc của ông chỉ là những thứ lá cây rừng, nhưng chữa được bá bệnh, nhất là cầm máu và chữa sưng chặc, Ông có một chiếu khiến tất cả những người chứng kiến đều chết khiếp và có lẽ tại Tây Ninh bây giờ, những người trên 70 tuổi đều còn nhớ và kể mãi cho con cháu nghe. Cũng nhờ chiêu thức độc bản đó mà thuốc của ông bán chạy như tôm tươi.

Theo lời Thày Bảy và sau này đi hỏi thăm các vị bô lão trong vùng tôi mới tin là việc thật. Đó là vào những buổi chợ đông, hai cha con ông thường khoanh một hàng rào bằng dây thừng làm chỗ mãi võ bán thuốc ở giữa chợ, Hai cha con lần lượt biểu diễn những bài quyền theo Phái Thất Sơn Thần quyền, lúc dũng mãnh như cọp beo, lúc lại như người say rượu. Một số người đứng xem khoẻ mạnh được ông chọn, bước vào vòng dây, ông đưa cho họ những cây mác sắc như nước sáng loáng và bảo họ dùng hết sức chém vào hai cha con ông. Lúc đầu họ còn e ngại, sau nhờ ông và mọi người khuyến khích nên đã dùng hết sức chém túi bụi vào hai cha con, không phân biết tay chân, đầu cổ, Nhưng thật lạ, chỉ một bước chân hờ hững, chệch choạc, cả hai đã tránh được những nhát mác như mưa chém tới. Gần tới cuối, cậu con trai như có chủ định, cố tình nhận một nhác mác chém thấu bả vai, máu tuôn ra xối xả. Thấy vậy, người cha lấy một gói thuốc để trên bàn, nhai nhỏ và phun vào vết chém, lạ thay, chỉ tích tắc sau, vết chém như lành hẳn không còn có cả dấu vết của sẹo. Mọi người liền đổ xô vào, chen nhau mua thuốc của ông. Chỉ một lúc sau, gánh thuốc hai cha con mang theo đã hết nhẵn.

Những ngày phiên chợ đông, nhất là những ngày có lễ hội, số người các tỉnh đổ về Tây Ninh đông như kiến, cha con ông lại biểu diễn tuyệt chiêu của mình. Ông cho cậu con ngồi lên một cái ghế, bên cạnh là một cái bàn để cây mã tấu sắc như nước. Sau khi mọi người xúm vào xem đông nghịt, ông cầm cây mã tấu múa một bài quyền xung quanh chỗ cậu con trai đang ngồi, Miệng niệm chú rì rầm, ông chạy vòng quanh cậu con trai và bất ngờ hét lên một tiếng, ông tung người cầm mã tấu chém thẳng vào cổ cậu con trai. Cái đầu lâu lông lốc văng tuốt ra xa, cái cần cổ bị phạt ngang máu phun ra có vòi, Cái thân người lật ngang tỳ vào thành ghế, Mọi người rú lên, vài người yếu bóng vía ngã lăn ra đất, Một không khí im lặng chợt bao chùm cả một khu đất rộng trong chợ, Những khuôn mặt không còn một giọt máu, ngơ ngác.

Mặt không hề biến sắc, ông thày võ người Chàm, đốt ba nén nhang, khoán nhiều vòng trong không trung, miệng lẩm nhẩm đọc những tiếng chú lạ tai, bỗng ông chỉ thẳng ba nén nhang về phía cái đầu lâu lúc này nằm lăn lóc, dính đầy bụi đất cạnh lùm cây hô : MAU,

Một làn khói xanh lét từ phía cái thân thể không đầu lan ra, lan nhanh dần và phủ chùm lấy cái đầu lâu ở dưới đất. Làn khói càng ngày càng mờ mịt, che mờ hết cả một khoảng sân rộng, Khi làn khói tan hết, mọi người nhìn về chiếc ghế, nơi cậu bé ngồi, thì lạ chưa, cậu bé lại tươi cười đứng dậy, chẳng hề có một dấu vết nào của cuộc Xử trảm vừa rồi. Mọi người cùng ùa cả lại, mọi người sờ nắn, xem xét kỹ càng nơi cổ của cậu bé. Thật là kinh ngạc, nơi cổ của cậu bé không hề có chút thẹo nào, chỉ thấy một vòng tròn hơi đo đỏ, mỏng dính còn xót lại. Phép lạ của thày Chàm, một đồn mười, mười đồn trăm, lan đi khắp Sài Gòn - Lục tỉnh, nhất là trên những chuyến xe đò hành hương về Toà thánh Tây Ninh hàng năm mỗi độ xuân về. Trong những người khách hành hương về thăm Toà thánh Tây Ninh và Vía Bà năm nay có một người Chà Và ( Ấn Độ ) cũng đi cùng. Từ nhiều năm nay, ông đã nhiều lần nghe kể về câu chuyện giật gân và dị thường của thày Chàm Tây Ninh, Lần này ông quyết đi Tây Ninh để chứng kiến cho bằng được. Người Chà Và này cũng là một thày Bùa Ngải rất tinh thông, xuất thân từ Ấn Độ, nhưng nhiều đời đã sinh sống tại miền Thất Sơn - Châu Đốc,

Con gà thường tức nhau tiếng gáy, Các Thày luyện Bùa phép cũng vậy, Thày nào sau khi hạ sơn, ngoài việc đi cứu nhân độ thế, cũng thường tìm những Thày khác cao tay để kiếm chỗ thi thố sở học của mình. Chính vì vậy mà nhiều trận chiến mưa gió não nề đã nổi lên kinh Thiên động Địa. Chuyến đi Tây Ninh này của thày Chà Và cũng không ngoài mục đích đó. Trong lúc đó, ông thày người Chàm Tây Ninh, như thường lệ, tới rằm tháng Giêng là lễ hội DIÊU TRÌ KIM MẪU, tại Tòa thánh Tây Ninh ; Hai cha con ông lại tới khu sân vận động bấy giờ, lúc đó còn là một bãi đất trống để biểu diễn võ thuật và cuối ngày đó, thế nào cũng có biểu diễn màn Xử trảm rùng rợn như đã kể ở phần trên. Sinh nghề, tử nghiệp, Núi cao lại có núi cao hơn, Sóng biển thì lớp sau đè lớp trước, Không ai có thể dè một vụ lưu huyết rùng rợn đang chờ hai cha con nhà thày Chàm Tây Ninh kia. Như thường lệ hàng năm, tại khu bãi đất rộng cạnh Toà tháp hình bát giác giữa đường vào cửa số 2 chợ Long Hoa, hai cha con ông thày Chàm lại khoanh một vòng rộng làm nơi biểu diễn võ thuật, Khác với hàng năm, Rằm tháng Giêng năm nay, dân khắp Sài Gòn - Lục tỉnh đến dự lễ hội DIÊU TRÌ KIM MẪU thật là đông. Hàng ngàn xe đò các loại, đỗ chật cả khuôn viên Tòa Thánh, đỗ dài dằng dặc suốt từ cửa số 2 lên tới Cầu Vườn Điều, từ cửa số 2 tới tận Long Thành Trung. Khắp nơi, chỗ nào cũng thấy người là người, Thật là một quang cảnh "Ngựa xe như nước, áo quần như nêm ".

Cái nắng mùa này cộng với hơi người bốc lên khô khốc. Người ta trải ni lông, chiếu nóp nằm ngồi la liệt trong khuôn viên Tòa Thánh, dưới những bóng cây to, Đêm nay lễ hội DIÊU TRÌ KIM MẪU sẽ thật tưng bừng. Từ sáng sớm, các chức sắc trong Tòa Thánh đã thúc giục mọi người, hối hả bầy biện các ban thờ của Đức mẹ Diêu Trì. Một con rồng lớn bằng trái cây xếp lại dài hàng chục mét đã được làm xong. Trên thân con rồng là hàng vạn trái cây các loại, xếp thành hình Rồng, có đầu đuôi chuyển động được. Cặp mắt được trang điểm bằng những bóng đèn chớp tắt liên tục. Hình Đức mẹ cũng được trang điểm bằng những bức tranh bằng trái cây, hoa lá và hàng vạn bóng đèn mầu thật là uy nghi lộng lẫy. Những chảo cơm và thức ăn khổng lồ được liên tục dọn ra tại Trai Đường, mọi người đến dự lễ hội cứ tự mình ăn uống miễn phí, ăn xong chỉ cần xếp chén, đũa lại là những bà, những chị đi làm công quả tại Tòa Thánh dọn sạch sẽ ngay. Hàng chục tấn gạo và thức ăn chay đã được đem ra đãi những người đi hành hương. Hàng trăm chức sắc, và người phụ lễ mặc áo quần dài trằng đứng hai bên cửa vào Tòa Thánh để hướng dẫn cho khách hành hương vào lễ tại Điện trung tâm, Trong số những người hướng dẫn đó, có nhiều bà, nhiều chị mặc đồ trắng, nói tiếng Anh, tiếng Pháp tuyệt hay để hướng dẫn cho khách ngoại Quốc.

Trở lại với sân diễn võ thuật của hai cha con ông thày Chàm, Từ khoảng 3 giờ chiều, hàng ngàn người đã xúm xít vòng trong vòng ngoài nơi sân diễn của hai cha con, Người ta vừa xem vừa kể cho nhau nghe những kỳ tích mà hai cha con đã thực hiện trong các năm trước, Cả một xe Tà rẹc ( xe do 2 con bò kéo, bánh bằng gỗ ) chở thuốc của hai cha con, nhanh chóng vơi đi trông thấy, Vui vì năm nay bán được nhiều thuốc, mặc dù nóng, dù mệt, hai cha con vẫn liên tục thay nhau đi những bài quyền Thất Sơn huyền ảo. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm dậy sau mỗi bài quyền vừa được trình bày, Trong dịp này, rất nhiều cao thủ trong các môn phái võ khắp nơi cũng về dự, nhiều người xin thử tỷ thí với người cha, nhưng chỉ chưa tàn nén nhang người nhà đã phải khênh ra ngoài cấp cứu. Đứng lẫn lộn trong đám người đến xem, ông thày Bùa người Chà Và cũng không bỏ sót một chiêu thức nào của hai cha con thày Chàm Tây Ninh. Ánh mắt của thày Chà Và ánh lên những nét tức tối, ghen tỵ khó tả, Một cuộc thư hùng kinh Thiên động Địa sắp diễn ra. Trời đất như muốn u sầu, tiếng chuông từ Tòa Thánh vang vọng thinh không, Không khí như muốn nén lại, cô đặc giữa vòng tròn trùng điệp trước cửa số 2 chợ Long Hoa.

Khoảng hơn 4 giờ chiều, khi sự cuồng nhiệt của khán giả xung quanh đã lên cao độ, hai cha con ông thày Chàm bắt đầu tiết mục tủ kinh dị của mình. Cậu con trai mặc áo choàng đỏ được đưa ngồi lên một cái ghế tựa bằng gỗ vững chắc. Bên cạnh đó là một cái bàn thấp để một cây mã tấu sáng loáng, Một hồi trống dục lên vang động cả khu vực, Điểm vào đó là những tiếng cồng vang lên Tùng..Bli,.tùng,..Bli,..Tùng,..Bli ( nghe như nhịp trống tùng xẻo ngày xưa ).

Ông thày Chàm tây Ninh mặc bộ võ phục màu đen, chân đi bata thoăn thoắt một bài quyền huyền ảo. Ánh nắng chiều nghiêng nghiêng, soi rõ bộ mặt ửng hồng và chỉ lấm tấm những giọt mồ hôi, Khi ông thày Chàm cầm cây Mã tấu huơ lên mấy vòng, ánh thép loang loáng cắt nhỏ ánh nắng chiều ra hàng ngàn mảnh vụn. Bỗng nhiên, một cơn trốt từ trên cao cuốn xuống đất, bụi gió mù mịt cả một vùng. Lá cờ Đạo trên đỉnh tháp bát quái bị cuốn tung xuống đất, Sững sờ, ông thày người Chàm dừng múa, giơ tay bấm độn một quẻ - Sắc mặt ông chợt tái đi, mồ hôi đổ ra lã chã trên khuôn mặt dạn dày sương gió, Nếu tinh ý, người ta thấy tay cầm mã tấu của ông hơi run run. Những người bên ngoài lúc này vì sự cuồng nhiệt đã lên đến cao độ nên không mấy người chú ý đến những cử chỉ khác lại đó, Tiếng hô đồng thanh bên ngoài như những đợt sóng dậy :

Trảm đi - Trảm đi - Trảm đi,...

Hơi khác với mọi lần, ông thày Chàm đi về phía bàn thờ Tổ dựng gần đó thắp ba nén nhang, Trong ánh mắt của ông lúc này có cái gì ươn ướt như muốn khóc, Đám người bên ngoài vô tình vẫn gào la vang dậy :

Trảm đi - Trảm đi - Trảm đi,..

Không thể đừng khi cưỡi lên lưng cọp, ông thày Chàm cầm thanh mã tấu tiến lên đứng cạnh cậu con trai duy nhất. Trông lúc này, người ta có cảm tưởng như ông tiều tụy hẳn đi, mái tóc như bạc thêm, lưng như còng hẳn xuống. Tuy vậy, những cử chỉ đó diễn ra rất nhanh, hầu như không ai nhận thấy. Đường mã tấu ông bắt đầu thi triển những vòng sánh sáng xung quanh cậu con trai. Xuyên qua ánh mã tấu đang phát ra, bỗng ánh mắt của ông chợt như xoáy vào mặt của một người mặc đồ đen đang đứng gần sát vòng dây. Hai ánh mắt giao nhau sâu thẳm và hình như có tiếng sấm và những tia lửa căm hờn dội vào nhau tung toé từ hai ánh mắt đó. Ông thày Chàm Tây Ninh chợt hiểu ra điều mình vẫn cánh cánh trong lòng từ lúc nãy, Vậy là kẻ tử thù của hai cha con ông đã có mặt nơi đây, Than ôi, ông Trời sao nỡ gây nên cảnh oái oăm, cùng cực thế này, Hai kẻ tử thù gặp nhau ngõ cụt,...

Nên - Không nên - Nên - Không nên??????


Kẻ đó chính là ông thày Chà Và người Ấn - Kẻ thù không đội Trời chung của ông đã đứng đó, ánh mắt lạnh lẽo như khoan tới tận tâm can, trí óc của ông thày Chàm.

Rất nhanh, ánh mắt của ông Thày Chàm Tây Ninh như sắc lại, ta có thể nhìn thấy trong đó cả một biển Trời ai oán, căm hờn. Đường mã tấu mỗi lúc một nhanh, tiếng chém vào không khí nghe sừng sựt, vi vu, một tiếng " Tả " vang lên và đường mã tấu nhằm cổ cậu con trai chém thẳng xuống.

Soạt,...ánh mã tấu lướt qua cổ cậu con trai ngọt sớt, cái thủ cấp lăn lông lốc ra xa, máu từ cái cần cổ lại phun ra có vòi. Trong đám đông xung quanh đó, tiếng rú man dại cất lên, nhiều người ngã lăn ra đất ngất lịm.
quenhetroi  
#10 Posted : Monday, September 12, 2016 10:00:20 AM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)

Kể đến đây, người khách bị ôm chặt bởi các nàng:

- Ôi ghê quá! Ôi sợ quá! Xin chàng ngưng lại đi ngủ, rồi ngày mai kể tiếp.

- Đúng rồi, khách cũng mệt rồi, để khách đi ngủ ngày mai kể tiếp nhé.

Khách nằm ngủ một giấc thật ngon, gần sáng bỗng nghe được tiếng thì thào ngoài sân:

- Trói lại, cắt cổ thui rồi mổ bụng hay là mổ bụng rồi thui.

- Mổ bụng lấy bộ đồ lòng ra trước, cho gia vị vào bụng, khâu lại rồi thui thịt sẽ ngon hơn.

- Vậy bây giờ, chúng ta vào bắt trói lại làm thịt trước khi trời sáng.

- Thôi để cho chàng kể xong câu chuyện, rồi mình bắt trói làm thịt cũng được.

- Lỡ chạy mất thì sao?

- Làm sao mà thoát được, các chị cứ lo xa không à.

Nghe đến đây, khách thấy mình đúng là bị vào hang cọp rồi. Nhưng ít nhất hôm nay mình chưa bị làm thịt. Cứ từ từ tính, hy vọng sẽ được các cụ đến giải cứu mình sau. Cứ nằm nướng thêm một chút nữa cho khoẻ. Đàng nào cũng không thoát được rồi. Mình sẽ kiếm kế hoãn binh, được ngày nào hay ngày đó.

- Chàng ơi! Dậy đi, trễ rồi ra uống café và ăn sáng với chúng thiếp đi.

Khách nghĩ:

- Gớm đang sửa soạn thịt mình, mà giọng vẫn ngọt như mía lùi.

Khách dậy, đánh răng rửa mặt xong, trở lại trên bàn đã có một khay bánh cuốn.

- Đây là bánh cuốn Thanh Trì, chúng thiếp làm đãi chàng.


Thơm hương bánh cuốn Thanh Trì



Những miếng bánh trần không nhân mềm mại, thanh mát được nhúng vào thứ nước chấm màu hổ phách không chua quá, mặn quá, cay quá và dậy hương cà cuống. Thơm hương bánh cuốn Thanh Trì

Hà Nội có quá nhiều thứ quà đáng để nhung nhớ, vấn vương và được gọi là món ngon, nhưng không phải món ngon nào cũng được gọi là đặc sản rồi trở thành tên gọi gắn liền với nơi sản sinh ra nó và chiếm vị trí đáng kể trong kho tàng văn hóa ẩm thực Hà thành như bánh cuốn Thanh Trì. Chẳng thế mà từ hơn một thế kỷ nay, bánh cuốn Thanh Trì đã trở thành “miếng ngon Hà Nội”, đi vào trang văn của Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân… và được đúc kết thành câu ca:

Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng.



Bánh xưa…


Không ai rõ làng bánh cuốn có tự khi nào, chỉ biết rằng theo tích dân gian thì Thanh Trì là một làng vào loại cổ nhất của Thăng Long - Hà Nội. Từ thời Hùng Vương thứ 18, người dân đã tụ họp về đây khai khẩn đất đai làm ăn, con trai vua Hùng đích thân dạy dân cày cấy và người dân có cuộc sống yên bình, no ấm. Kể từ đó nghề làm bánh cuốn được hình thành và trường tồn cho đến ngày nay.

Để có được những thúng bánh ấy cũng rất công phu. Từ việc chọn gạo cho tới khi tráng bánh. Gạo có ngon thì mặt bánh mới láng mượt, óng ả. Nếu dùng loại gạo quá dẻo thì bánh nát, gạo kém thì bánh không thơm ngon.

Khi ngâm gạo cũng thật cẩn thận, tùy thuộc vào thời tiết mà thời gian ngâm có thể khác nhau. Khi xay bột cũng là khâu quan trọng, bột được xay nhuyễn bằng cối đá sẽ cho mặt bánh láng bóng, óng ả. Nếu bột loãng quá bánh sẽ nát, mà đặc quá bánh sẽ dày, ăn mất ngon. Cầu kỳ từ việc chọn, ngâm gạo, xay bột cho đến khi nổi lửa. Bếp lúc nào cũng luôn đỏ lửa, nhưng không quá to để cho hơi bốc đều, bánh mới chín thấu. Múc lưng muôi bột, giàn đều trên khuôn vải, đậy nắp vung lại, khi mở vung ra, bánh phồng lên là báo hiệu đã chín. Dùng que tre lấy ra, xếp thành từng lớp trong lòng một chiếc thúng, trên phủ tờ lá sen hay lá chuối, lá dong. Thường thì xế chiều, dân Thanh Trì đã nổi lửa tráng bánh. Sở dĩ bánh cuốn phải tráng từ chiều cho tới đêm vì bánh tráng xong phải để qua đêm thì mới bay đi hết mùi nồng của bột. Đến sáng bánh vừa mềm, vừa thơm mát mùi gạo...

Trước khi Miền Bắc hoàn toàn độc lập, các mẹ, các chị trong làng đi bán bánh cuốn nhất định phải mặc áo dài tứ thân màu nâu non; thắt lưng bao màu xanh, màu hồng hoặc màu vàng; đầu vấn khăn, bên ngoài chít khăn mỏ quạ. Thúng bánh đội đầu, đôi chân rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội từ tờ mờ sáng. Gặp khách là đặt thúng xuống, với đôi tay mềm mại các mẹ, các chị lần giở từng lớp bánh mỏng tang, tách từng lớp sao cho khỏi rách.

Trên mặt lá bánh cuốn điểm những cọng hành phi vàng, mỗi lớp bánh được xếp gọn trên đĩa, lần lượt từng miếng bánh một được đặt cạnh nhau, với một nhát kéo, tất cả được cắt đôi. Công việc tiếp theo là nhấc một nửa đầu bánh cuốn mới cắt đặt lên trên nửa kia để người thưởng thức có thể nhìn thấy rõ từng lớp bánh cuốn tráng mỏng như giấy.

Người xưa ăn bánh cuốn thấy ngon khi có bát nước chấm vừa miệng và dậy mùi cà cuống, bên cạnh đĩa đậu làng Mơ rán giòn...…

và nay

Ngày nay đậu mơ được thay thế bằng giò chả Ước Lễ hoặc những miếng chả nướng giống trong món bún chả. Những miếng bánh trần không nhân mềm mại, thanh mát được nhúng vào thứ nước chấm màu hổ phách không chua quá, mặn quá, cay quá và dậy hương cà cuống. Cứ thanh dịu y như sự nhẹ nhàng của người con gái xứ kinh kỳ này vậy.

Làng Thanh Trì vẫn giữ nghề làm bánh, nhưng do nhu cầu cuộc sống, nhiều nhà không còn giữ được nếp xưa. Thay vào những chiếc cối đá, nồi đồng đó là những chiếc máy làm bánh công nghiệp. Vẫn thứ gạo ấy, nước ấy, những chiếc bánh cũng mỏng tang nhưng sao cái thứ sản xuất ra hàng loạt này ăn cứ nhạt thếch, phải chăng sự “công nghiệp hóa” chất chứa quá nhiều trong đó đã làm mất đi cả vị quê?! Cũng còn một số gia đình giữ được cách làm bánh thủ công, nhưng số đó chỉ đếm được trên đầu ngón tay.




Tiếp "Bùa Ngải Việt Nam"



Vẫn như thường lệ, ông thày Chàm đi về phía bàn thờ Tổ thắp ba nén nhang, sau khi lầm rầm khấn vái với vẻ hết sức thành kính, ông khoán nhiều vòng, nhiều ngoặc trong không gian. Sau đó, hướng về cái đầu lâu đang lăn lóc dưới đất,ông chỉ thẳng ba cây nhang về phía đó hô :

- MAU,

Một làn khói xanh như thường lệ bắt đầu hiện ra từ cái xác không đầu, lan dần, lan dần ra và phủ lên cái đầu lâu lúc này như đang muốn cựa quậy. Phía bên ngoài, ông thày Chà Và mặt biến sắc, vội tay bắt Quyết, miệng lẩm nhẩm, Những người kế bên chỉ nghe thấy nho nhỏ :

" Thần phụng thỉnh MAHAROGA,..",

Ngay lập tức, thấp thoáng trong làn khói xanh có hai con rắn vàng cực to, trên đầu có mào đỏ, nhào lộn như muốn vật nhau với cái đầu lâu. Ông thày Chàm phóng như bay về nơi chiếc xe Tà rẹc chở thuốc, rút đánh roạt ra một đôi kiếm cổ, ngắn chừng 50 cm, Tay cầm song kiếm, miệng đọc chú khẩn trương, ông phóng mình về phía đôi rắn Thần đang nhào lộn xung quanh cái đầu lâu. Muộn mất rồi, phía bên kia ông thày Chà Và phất tấm khăn Ấn Tổ màu đỏ một cái, đôi rắn lập tức biến mất, một làn gió thổi thốc lại, mang theo mùi tanh hôi khủng khiếp. Mọi người xung quanh thấy vậy đua nhau mà chạy, Khi khói tan, chẳng ai nhìn thấy ông thày Chà Và đâu nữa, Trên bãi đất trống, ông thày Chàm Tây Ninh đang phải bám lấy vành bánh xe Tà rẹc thở rốc, miệng ông trào máu tươi, hai thanh kiếm cổ lăn lóc trên mặt đất, Phía bên kia, cái xác không đầu đổ gục xuống, nằm vắt ngang qua thành ghế thâm đen. Ngước mắt về nơi cái đầu lâu nằm lúc trước, bất chợt ông thày Chàm Tây Ninh chợt gục xuống,....CÁI ĐẦU LÂU ĐÃ BIẾN MẤT,....

Ngay chiều tối hôm đó, nghe tin dữ, Thày Bảy vốn là một người bạn cũ thân thiết của ông thày Chàm Tây Ninh vội vã cùng bà Bẩy và một vài Đệ tử thân tín đóng một cỗ xe ngựa, tốc hành xuống cửa số 2 chợ Long Hoa. Sau khi mua hòm đặt cái xác không đầu của con trai thày Chàm vào đó, đưa thày Chàm lên xe để ông Bẩy trị thương, thu dọn đống đồ nghề hoang tàn vương vãi khắp nơi, tất cả cùng về nhà ông thày Bẩy. Đám tang con trai ông thày Chàm Tây Ninh diễn ra rất lặng lẽ, nhưng sự thù hận đã bốc cao ngùn ngụt trong đám chúng sinh. Ông thày Chàm vẫn bó gối ngồi trên bộ ngựa, riêng thày Bảy, ánh mắt sắc lạnh đứng trước bàn thờ Tổ nhìn xuống với đám đệ tử đang quỳ trước cái hòm đựng xác không đầu. Rất lâu sau thày Bảy mới khẽ khàng nói với đám đệ tử :

- Thày Chàm Tây Ninh vốn là bạn của ta từ 30 năm trước, Ngày xưa ta và bà Bảy cùng với thày Chàm vốn là huynh đệ đồng môn học tại Tà Lơn bên Căm Pu Chia,Ba chúng ta tuy chung một thày, nhưng học ba môn khác nhau, Bà Bảy chuyên học về các môn sát phạt, thư, ếm, Thày Chàm chuyên học về bốc thuốc, côn quyền, Còn riêng ta, ta chỉ học cách mở Thư, mở Ngải, mở Ếm và các môn khác hữu sự trong cuộc đời, Thày ta đã gả bà Bảy cho ta, mặc dù Gia thế nhà ta so với nhà bà Bảy còn kém xa. Bà Bảy, chịu theo lời Thày mà theo ta đến ngày hôm nay.

Còn riêng thày Chàm Tây Ninh, sau khi Thày ta cho hạ sơn, đã đi khắp nơi hành Bồ tát Đạo, cứu đời, Trong những chuyến đi Ta bà của mình, vì hành hiệp cứu người lương thiện, gây thù chuốc oán với Ma giới nên ổng cũng không thiếu kẻ thù. Ông Thày Chà Và kia là một trong những kẻ tử thù của ông thày Chàm. Ngày xưa, vì cứu một phụ nữ con một Điền chủ giầu có ở tỉnh Sóc Trăng mà gây nên họa ngày nay.

Chuyện là như thế này : Ngày đó, khắp cả tỉnh Sóc Trăng từ Kế Sách, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Long Phú, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung đến tận Ngã Năm cả người Việt, Khme, Hoa đều phải kinh sợ một ông thày Bùa người Ấn Độ, Không biết dòng họ ông này từ Ấn sang Việt Nam từ bao giờ, nhưng khi đến Sóc Trăng, ông ta đã là một tay gian ác khét tiếng thâm độc về các môn Thư - Phù - Chú - Ếm. Đặc biệt ông ta rất thành thạo các môn luyện Thiên Linh Cái, Nói về các loại Thiên Linh, các con cũng đã từng nghe bà Bảy chỉ rồi đó. Thiên linh thai nhi, Thiên linh sọ người và các loại động vật như trâu bò, ngựa, hổ, báo, mèo,..Thiên Linh bằng những loại động vật sống như rắn, bò cạp,.Thiên linh bằng cây như chuối hột, Trong các loại Thiên linh đó thì thiên linh Cái, tức là Thiên linh Thai nhi là man rợ nhất, vì khi luyện phải hy sinh tính mạng của cả mẹ lẫn con.

Thời gian đầu về Sóc Trăng, ông thày Chà Và mở một quán cà ri dê ngay bên bờ sông Hậu, Vì món ăn của ông ta đặc biệt và rất ngon nên chẳng mấy chốc đã nổi tiếng và đông nhất vùng, Dần dần ông ta phát lên giầu có và trở thành một đại gia khuynh đảo cả một vùng. Ông ta đã lấy đến 5 bà vợ, nhưng lạ thay, chỉ được trên dưới một năm là các bà đều phải chết bất đắc kỳ tử. Dân trong vùng đồn đại là ông ta có số sát vợ, Các bà, các cô vì thấy ông ta nhà giầu, lại to lớn, khỏe mạnh, ăn nói có duyên nên cứ lao vào như thiêu thân, bất chấp Thần chết rình dập. Tại cái cồn nhỏ phủ đầy dừa nước và cây cỏ hoang dại 5 ngôi mộ xếp thành một hàng thẳng của 5 bà vợ ông ta, cũng không làm các bà, các cô chùn bước, Có một ngày, ông thày Chàm Tây Ninh đi qua vùng đó bán thuốc. Ngồi nhậu ở quán Cà ri dê, nghe chuyện dân trong vùng đồn đãi về ông thày Chà Và thì nghi hoặc lắm, Sau đó ông thày Chàm mới âm thầm điều tra và phát hiện ra một sự thực khủng khiếp, Hóa ra là ông thày Chà Và cưới vợ về không phải với mục đích ái ân hay giúp việc, mà là ông cưới về để luyện Thiên Linh Cái. Tất cả 5 bà vợ đều được ông ta cưới về, sau khi ăn ở một thời gian thì có thai. Đêm nằm, ông ta giả bộ tình tứ, tay vừa xoa xoa cái bầu, vừa ngọt ngào hỏi người vợ :

- Em cho ta đứa con này nhé.

Bà vợ thật vô tình và nghĩ đơn giản nên trả lời :

- Con của em cũng là con của anh, em cho anh đó.

Trong bóng tối, hắn nở nụ cười mãn nguyện và ánh mắt chợt sắc lạnh đến rợn người. Sau khi tính đủ ngày tháng cho cái thai, lão thày Chà Và lập tức bắt bà vợ tắm rửa thật sạch sẽ, rồi bất ngờ, trong đêm tối hạ thủ giết chết người vợ, Hắn mổ bụng những người vợ đó ra, lấy cái thai nhi và bắt đầu hành trình tội lỗi của mình : Luyện THIÊN LINH CÁI,

Edited by user Tuesday, September 13, 2016 3:03:55 PM(UTC)  | Reason: Not specified

quenhetroi  
#11 Posted : Tuesday, September 20, 2016 2:23:28 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
- Tiếp luôn đi chàng.

- Tiếp thì tiếp làm gì dữ dậy. Nhưng để khách kéo điếu thuốc Lào, uống thêm miếng nước nữa chứ.




Thế Giới Bùa Ngải (tiếp)

Thiên Linh Cái


Sau khi lấy thai nhi khoảng 100 ngày tuổi ra khỏi bụng mẹ, lão thày Chà dùng một số loại rễ cây rừng theo một công thức bí truyền, sao tẩm và đặt trong một cái keo thủy tinh trong suốt. Lão thiết lập Linh sàng tại ngay khu cồn có chôn mấy xác người đó, Một cái lán nhỏ bằng gỗ được dựng lên ngay gần mấy nấm mộ. Cái lán tuy nhỏ nhưng vững chắc và luôn cửa đóng then cài. Vì là nằm chơ vơ trên một cái cồn nhỏ trên sông Hậu, nên ở khu vực này hầu như không có bóng dáng người nào đi qua, mặt khác do xung quanh mọc đầy dừa nước và cây cỏ ngút ngàn nên cái lán nhỏ của lão chẳng ai phát hiện ra cả. Linh sàng được kê trên một cái bàn gỗ cỡ ngang bụng người, Trên đó Lão bày Sắc Tổ của môn phái, một cặp Thất tinh kiếm làm từ thân cây Dâu hàng trăm tuổi. Một ngọn đèn dầu đậu phộng được thắp suốt đêm ngày,Ngoài ra còn một số những đồ vật có hình thù kỳ dị chắc là đồ của môn phái Lão, Đặt đằng trước bát nhang là cái keo thủy tinh, trong có chứa cái thai nhi đã tẩm thuốc kỹ lưỡng. Bông, nhang, trái cây, giấy tiền và hàng xấp Phù vàng, trắng, đỏ, những thứ đồ chơi của trẻ con, quần áo trẻ con được bày la liệt trên Linh sang. Cứ hàng ngày vào giờ Tý và giờ Dậu là Lão lại lẳng lặng bơi một chiếc xuồng Ba giạ sang cồn đó để luyện, Trên những ngôi mộ của mẹ các thai nhi, lão trồng rất nhiều những cây Vạn thọ màu bông vàng rực.

Mùa này là mùa khô nên Lão không phải sợ tới việc có sấm sét trong khi luyện Đây là điều tối kỵ khi luyện Thiên Linh Cái - Bởi có thể bị sét đánh bất tử, Việc luyện Thiên Linh Cái này cũng đòi hỏi phải ngay bên cạnh dòng nước chảy, chính vì vậy Lão chọn địa điểm trên cồn đất giữa sông hậu Lão rất đắc ý. Một việc nữa Lão cũng rất thích là do cây cối mọc um tùm, lâu lắm không có dấu chân người lui tới nên Âm Khí khu vực này rất mạnh, hầu như không có bóng nắng dọi tới mái Lán của Lão. Tới giờ luyện, Lão thắp nhang trên bàn thờ và dùng những câu chú cổ lạ tai, âm điệu nghe rất âm u, ai oán, lúc như thống thiết, bi thương, lúc lại ngọt ngào như phủ dụ trẻ con, Lão kêu gọi Linh Nhi bé nhỏ đang nằm trong keo thủy tinh hỗ trợ Lão, hứa hẹn với Linh Nhi đủ điều, Sau khi luyện, Lão lại ra mộ những người vợ thắp nhang và cũng khấn hứa đủ điều.

Mặt khác Lão cũng dày công chăm sóc những cây bông Vạn Thọ trên những ngôi mộ cho xanh tốt, Những cây Vạn Thọ này rất quan trọng vì nó sẽ cho Lão biết mức độ thành công của việc luyện tới đâu. Thời gian cứ chầm chậm trôi qua, Lão cứ đều đều luyện tập, thường xuyên thay đồ lễ, thường xuyên đọc Chú phủ dụ, mua chuộc Linh Nhi. Lúc này là lúc cực kỳ nguy hiểm cho sinh mạng Lão vì thực ra nó đã được gắn liền với Yêu Pháp mà Lão đang tu luyện, Tới gần cuối tháng thứ 3 thì có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xảy ra. Trong khi Lão đọc Chú thì trong không gian có những tiếng động lạ tai bắt đầu vang lên, lúc thì như tiếng trẻ con khóc, lúc thì là những tiếng cười ma quái, lúc thì tự nhiên trong keo thủy tinh có tiếng kêu lộp cộp như người đi guốc.
Càng ngày càng nhiều chuyện dị thường xảy ra, Nhiều tiếng cười âm u ma quái, những tiếng thở dài não ruột, những lời ma hờn quỷ trách từ xa xăm vang vọng đến trong đầu người luyện rất rõ, mồn một từng chữ từng tiếng vọng vào bên tai, ngay cả những lúc ở bên ngoài Tịnh thất, Và đôi mắt của kẻ tu luyện Tà pháp luôn luôn đỏ rực như ánh than hồng, vì phải vận dụng nội lực khống chế bản thân không được kinh sợ, nếu không thì sẽ bị cái bào thai oan nghiệt đó nhiếp hồn mình ngược lại trở nên điên loạn vạn kiếp bất phục, vĩnh viễn bất siêu sinh. Từng ngày từng ngày qua chậm chạp mỗi ngày, mỗi giờ đều là sự cố gắng phi thường của người luyện, lúc qua khỏi tháng thứ 3 là giai đoạn quyết định thành bại. Thiên Linh thai nhi qua quá trình hun đúc, phù trợ của cha nó qua các bài chú bí mật và đã thọ đủ khí âm dương nên không còn sợ ánh sáng nữa. Nó đã tự mở nắp keo và ngồi chễm chệ trên miệng keo đôi khi phát tiếng cười sằng sặc nhảy xuống cù lét, hay hóa ra mặt quỉ to như cái mâm xanh biếc như ánh ma chơi đưa ngay mặt người luyện mà nhát, kẻ luyện có thể nhắm mắt hay mở mắt lúc tu luyện, niệm chú, chỉ cần sức định tâm cho vững và đúng phương pháp bí truyền là Thiên Linh thai nhi nó không làm gì được mình.

Tuy Lão có tiếng là gan lỳ, nhưng nhiều lúc Thiên Linh làm quá, như trêu Lão, thả cái cặp chân xuống trước mặt Lão, sau đó từng bộ phận như thân, tay, đầu mới dần dần hiện ra ; Lão phải dùng đến cặp Thất Tinh kiếm gỗ dâu ra trợ lực, mới có thể áp đảo được con Thiên Linh. Lão cũng biết, nếu dùng cặp Thất Tinh kiếm hay dùng Phù, dùng Ngải quá nhiều, con Thiên Linh kia sẽ lờn mà không sợ Lão nên Lão cũng hết sức hạn chế. Lúc này Lão chỉ cố tâm đọc Chú cho thật nhiều, giữ tâm bất định là cầm chắc cửa thắng rồi, Nếu lão quá lạm dụng những phương tiện như Bùa, Ngải hay Kiếm Thất tinh, thì sau này, nếu gặp đối thủ mạnh hay biết chiều chuộng hơn, con Thiên Linh sẽ phản chủ, quay lại giết chết Lão ngay lập tức.

Thời gian cứ chầm chậm trôi đi, khi đủ 100 ngày là việc luyện Thiên Linh đã hoàn tất, Lúc này Thiên Linh giống như một cậu bé ngoan, quỳ xuống dưới chân cha nó mà tuân theo mệnh lệnh. Lão làm đại lễ đặt tên cho Thiên Linh, bắt nó phải tuyên thệ với Thày Tổ và chính lão là phải tuyệt đối trung thành, Lúc này cái thai nhi đã héo quắt chỉ còn một miếng bé bằng bao diêm quẹt, Lão liền thâu lấy, bỏ vào túi vải đeo ở cổ. Ngay lập tức, Lão nổi lửa đốt cả Linh sàng và cái lán, làm cho Thiên Linh không còn chỗ về trú ngụ nữa. Từ đây trên mọi nẻo đường người và Quỷ đã hợp nhất. Sau đó người luyện mới ra mộ của người vợ xấu số cúng tế, khấn vái v.v..... và ngắt các hoa Vạn Thọ đã trồng trước đó đem ra bờ sông Hậu gần đó vừa niệm thần chú vừa rải tất cả xuống dưới, nếu tất cả bông hoa ấy đều trôi xuôi nước và chìm xuống thì coi như vong hồn kẻ khuất đã chuyển hoá, đầu thai ở một nơi nào khác rồi. Còn như nếu có cái bông nào mà trôi ngược dòng nước đó là vong hồn người vợ hãy còn quyến luyến thai nhi, kẻ luyện phải lập tức làm đàn chiêu hồn người khuất mặt đem về nhà mà thờ phụng nhang khói đều đặn, người luyện Thiên Linh không bao giờ có vợ được bởi khi lấy vợ thì lập tức sẽ bị Thiên Linh nó bẻ cổ hay vật hộc máu chết ngay. Có lẽ là ghen dùm mẹ nó cũng nên, Khi ông thầy nào mà có Thiên Linh rồi thì nổi tiếng lắm, chuyện gì nó cũng nhất nhất bẩm báo, cho biết trước thành hay bại, lợi hay hại v.v..... Người ta thường thấy Lão nằm trên võng đu đưa mà miệng lẩm bẩm, thì thầm như đang nói chuyện một mình, đó là Lão đang trò chuyện cùng Thiên Linh cái vậy.

Biết được điều đó nhưng ông Thày Chàm Tây Ninh vẫn kiên nhẫn chờ đợi để có đủ chứng cớ đưa Lão ra Pháp luật. Nói không, bây giờ ai mà thèm tin Lão, Cũng không phải chờ lâu, trong vùng lại xôn xao vì việc Lão thày Chà Và đã đánh tiếng xin cưới cô con gái của một điền chủ giầu có trong vùng. Cô này mới có 18 tuổi, tóc dài, da trắng, mình dây, luôn mặc bộ đồ bà ba màu sáng, Cô đang là mối quan tâm và là nguyên nhân nhiều đêm mất ngủ của trai tráng, chức sắc trong vùng. Khi biết tin Lão thày Chà chính thức cầu hôn, nhà cô gái vô cùng lo sợ và trai tráng trong vùng rất phẫn nộ, Nhiều lần họ tính tổ chức đốt nhà của lão hay tính kế giết hắn đi. Tuy nhiên, tất cả những cái tính toán đó đều thất bại thảm hại, Những người định đi đốt nhà thế nào mà bị lạc lối ngay tại xứ của mình, nhiều người còn bị dẫn tít vào giữa bụi tre gai mà không biết đường ra tới sáng, có người tìm mới trở về được. Những người tính hại Lão thì tự nhiên cứ bị tai nạn liên tiếp, chỉ lo đối phó, sức đâu mà còn tính nổi chuyện hại Lão được. Cả một vùng, không khí như bị trầm lặng hẳn xuống, người ta còn e ngại cả ra đường khi trời tối khi mà trong khu vực có đến 3 người bị rắn Hổ sơn cắn chết tươi ngay trên đường lộ, Trong tình hình đó ông thày Chàm Tây Ninh quyết tâm theo dõi nhất cửa nhất động của Lão và âm thầm ra tay. Một cái lưới bịt bùng, Thiên la, Địa võng đã được giăng ra chờ đón con Quỷ khát máu sa bẫy.

Tuy bên nhà gái cố gắng hết sức tìm kế hoãn binh, song do uy lực của các Pháp thuật của thày Chà Và, cuối cùng cũng phải đến ngày đám cưới. Cô Lan, con gái của vị điền chủ nọ, không có cách nào khác ngoài những dòng nước mắt đã khô cạn, cũng đành phải nhắm mắt đưa chân.

Từ sáng sớm, hàng trăm chiếc bàn tròn được kê la liệt từ trong nhà ra tới mấy cái rạp vải bố ngoài sân, kê tuốt ra tận ngoài vườn cây vú sữa, Sabôchê, xoài mát rượi. Vì cả hai nhà đều giầu có và có thế lực, mặt khác cũng là lần cuối tiễn con gái đi về nhà chồng, chưa biết sống chết ra sao, nên ông điền chủ cố làm thật rình rang, cho mát mặt đứa con gái cưng. Một dàn nhạc sống được đưa từ tỉnh về làm náo loạn cả một vùng quê yên tĩnh bởi tiếng đàn, tiếng trống, tiếng ca. Hàng chục con bò, heo và hàng mấy trăm con gà, vịt được hóa kiếp trong đợt này, Một cái cổng chào bằng lá dừa nước, kết hoa lá rất đẹp, trên có bảng Vu Quy, có hai con chim câu đang châu mỏ vào nhau. Ngoài bờ sông, ba cái tàu đò thật lớn, được chăng đèn kết hoa lộng lẫy. Hai nhà cách nhau có hơn 1 Km, nhưng để phô trương thanh thế nên lão Chà vẫn thuê tới ba chiếc tàu đò đó, rước cô dâu đi vòng vòng trong vùng. Người ta đến tụ tập, ăn nhậu, cười nói âm vang, Khắp nơi, những chiếc chiếu được dải ra đất cho mọi người ăn xong rồi thì tiếp tục sát phạt đỏ đen, Lệ quê là như vậy, đám cưới nào cũng phải có cờ bạc đi liền họ mới chịu, Nhiều nhà, nghèo rớt mùng tơi, nhưng nếu trong xóm có đám là vẫn phải chạy đôn chạy đáo mấy chục để tàn cuộc nhậu là đánh bạc, Người ta nhậu suốt từ sáng sớm cho đến tối khuya.

Lớp nọ vào thay thế lớp kia, Bàn tiệc này tàn, người ta lại tranh thủ dọn đi để lấy chỗ bày bàn mới, Rượu đế chảy ra như nước sông Hậu. Người ta uống, ca, say và kiếm chỗ nằm vạ vật, có khi ngay bên cạnh chuồng heo vẫn cứ gáy khò khò. Lão Chà và đợt này chứng tỏ một sức mạnh về rượu thượng thừa, Dắt vợ đi chào từng bàn, mỗi bàn lão uống một ly xây chừng chúc mừng, vậy mà mấy chục ly rượu trong người Lão như hóa thành nước. Đúng giờ, Lão hô tất cả mọi người lên Tàu để rước dâu, Trên tàu, các món ăn cũng bày la liệt, Mọi người ăn, uống, ca hát, nói cười và hình như quên biến đi cái tai họa đang rình rập trên đầu. Ngồi ở chiếc bàn gần cuối Tàu, trong một góc khuất, ông thày Chàm Tây Ninh, vẫn trầm tư uống rượu, đốt thuốc, Hầu như mọi cái náo nhiệt của đám cưới chẳng ảnh hưởng gì đến ông cả. Trong đêm trước ngày cưới của cô Lan, một cuộc họp tay ba tuyệt mật đã diễn ra tại nhà ông bà điền chủ, Tất cả những gì cần thiết cho thời gian tới của cô Lan tại nhà lão thày Chà đã được ông thày Chàm Tây Ninh, ông điền chủ và cô Lan tính toán và trù liệu cụ thể. Ông thày Chàm biết rằng, với những tính năng của Thiên Linh Cái của lão thày Chà, mọi sự việc gần như đã bị báo trước và lão ta đã có sự đề phòng cẩn thận, Mặt khác, những môn phái của Lão thày Chà đã luyện đến mức độ thượng thừa như Chàkha, Năm Ông, các phép của Ấn Độ bí truyền,..thật khó cho những mưu toan che dấu được Lão, Tuy nhiên, vỏ quít dày - đã có móng tay nhọn.

Phép thuật của dân tộc Chiêm Thành từ ngàn xưa cũng có những môn bí truyền cực kỳ lợi hại mà ông thày Chàm Tây Ninh là một truyền nhân. Tới cuối buổi gặp gỡ, ông thày Chàm Tây Ninh trao cho cô Lan một cái gói nhỏ và ghé tai dặn :

- Cứ như thế,..như thế.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cái thai trong bụng cô Lan đã ngoài ba tháng. Cái giờ phút kinh hoàng đã đến gần. Hàng ngày, lão thày Chà vẫn cứ lén lút sang cái cồn đất nhỏ trên sông Hậu chuẩn bị làm cái thất mới. Có lúc lão bỏ đi đâu không rõ đến vài ba ngày, lúc về mang theo nhiều thứ cỏ trông giống như những vị thuốc Bắc, Dạo này lão tự nhiên cưng chiều cô Lan lạ lùng. Lão chăm sóc cô từng ly từng tý một, nếu người ngoài nhìn vô, tưởng rằng cuộc sống vợ chồng của cô hạnh phúc lắm. Không có cái gì ngon mà lão không mua cho cô ăn, có những lúc lão ôm về cho cô cả ôm quần áo, vải vóc, nữ trang. Thời gian này lão cứ liên tục hỏi cô Lan :

- Em cho anh đưa con này nghe.

Cô Lan cứ chỉ cười cười mà nói :

- Nó là con của em, khi nào nó lớn, em sẽ giao nó cho anh tập theo cha buôn bán.

Một chút thoáng qua ánh mắt sa sầm của lão hiện về như một đám mây đen. Rất nhanh rồi chợt hết liền. Ngày thứ 99 của cái thai trong bụng cô Lan đã tới, Từ sáng sớm, người nhà của cô đã sang cấp báo : Má cô bị đau nặng, đang mê man tại nhà. Mặc dù hết sức khó chịu, song lão thày Chà vẫn phải cho cô về thăm mẹ, với lời dặn, bằng mọi giá đến tối phải về nhà. Ngay trong ngày hôm đó, lão thày Chà vào ngay trong mật thất thắp nhang khấn khứa liên tục, Không biết lão làm cái gì, nhưng cô Lan đang ngồi ăn cơm với cha mẹ bỗng hất đổ bát cơm và lật đật đòi về nhà chồng. Ông điền chủ vội cho người cấp báo với ông thày Chàm Tây Ninh đang trọ ở gần đó, Gần như ngay lập tức thày Chàm có mặt. Những cái cọc cao ngang tầm ngực được đóng la liệt theo một kiểu dáng lạ mắt ở khắp khu vườn. Hàng mấy chục cân tỏi và thuốc rê giã nhỏ, vắt nước được rẩy khắp nơi từ trong nhà sa tới cuối mí vườn Sabô chê. Các loại Thần Sa, Chu Sa, Huỳnh Hoàng, muối hột được giã nhỏ rải khắp mọi nơi. Dọc theo những cây cọc, người ta giăng những tấm lưới cá có bề rộng khoảng nửa thước với cọng to và dày. Một Đàn tràng được dựng lên ngay trước cửa, lấp lánh những thanh đao thép, những thanh kiếm gỗ dâu trăm tuổi, những lá cờ đuôi nheo, hàng rổ những lá phù vàng, trắng, đỏ. Một cái lò đất nung bằng gạch Chăm Pa, được đốt lên ở ngay trước Đàn tràng, khói nghi ngút và các loại Trầm Hương, Bạch đàn hương, các loại lá cây rừng bốc ra một mùi thật là đặc biệt. Cô Lan bị đóng gông cả chân lẫn tay bằng những cái gông gỗ và đặt nằm trên bộ ngựa Gõ đen bóng, Càng ngày, cô càng gào thét dữ dội, cả người lăn lộn, mặc những cái gông đã cột chặt vào thành ván. Cô ra sức chửi rủa những người trói cô, không từ cả cha mẹ, anh chị em đều bị cô chửi suốt lượt.

Xung quanh bộ ván Gõ, ông thày Chàm Tây Ninh đã cho giăng mấy lớp lưới cá đại mà người ta hay dùng bắt cá ngoài khơi, xung quanh đó dán đầy những lá Bùa của người Chiêm Thành với những hình vẽ kỳ bí. Chiều dần dần xuống, mỗi lúc cô Lan lại càng làm dữ hơn, Gào khóc, chửi bới hầu như không biết mệt với cái thân hình nhỏ nhắn của cô. Ông thày Chàm Tây Ninh từ chiều đã cho đun một cái vạc to chứa đầy những loại lá rừng mà ông đã chuẩn bị từ trước, Thứ nước trong vạc đun mãi trở nên màu đen và sánh tựa như hắc ín, Cả cái vạc bốc lên một cái mùi khen khét, mà mùi trầm từ cái lư trầm bốc ra cũng không át nổi. Mọi người trong nhà cùng hơn chục trai tráng trong thôn đến giúp, được ông thày Chàm dặn dò, phân công chu đáo. Mọi người tranh thủ ăn cơm sớm để phòng công việc đến bất ngờ. Khoảng 9 giờ tối, chợt có một luồng gió lạnh, mang theo mùi hôi tanh đến phát nôn phát mửa xộc tới, Từ trong đêm tối, tiếng trống trận âm vang, tiếng lao xao, rú rít của muôn sinh vật, tiếng than van, thở dài não nuột, tiếng khóc than, ai oán,.. Tất cả như một cơn thác, đổ về phía nhà ông điền chủ. Thày Chàm Tây Ninh vội ngồi vào Đàn và tám thanh niên trai tráng vác đao đứng thành hình bát giác xung quanh Đàn.

Bỗng một tiếng gầm vang ghê rợn nổi lên, một đợt sóng mùi hôi tanh, khét lẹt xộc tới. Trong màn đêm qua những ánh đuốc người ta chợt thấy, một đôi rắn màu vàng có mào đỏ rực, cuồn cuộn lao tới. Hàng ngàn con rắn các loại như Hổ Sơn, Chàm Quạp lửa, Mái Gầm,....lúc nhúc xung quanh, tất cả cùng nhằm hướng Đàn tràng của ông thày Chàm Tây Ninh lao tới.

Trên Đàn, ông thày Chàm Tây Ninh không hề biến sắc, Ông dùng lá cờ hiệu màu đỏ phất lên ra hiệu cho 8 người trong trận Bát Quái thay đổi vị trí. Từ Bát Quái Thiên Tiên, trận pháp lập tức trở về Hậu Thiên, với cửa Tử hướng về lũ quái vật đang ồ ạt xông tới. Lúc này, Trận đồ như một cái hom, úp về phía quân địch.

Chúng muốn vào phá trận chỉ còn mỗi đường là vào cửa Tử của Trận đồ, Đôi Rắn Thần vừa lướt tới, gặp hơi của vị thuốc rê và tỏi trộn lẫn vội bốc ngay lên cao, tiếng hú nó vang còn lên hơn cả tiếng sáo diều, Chúng lồng lộn trên không trung, thấp thoáng trong ánh đuốc, cảnh tượng thật ghê rợn. Lũ rắn con đi theo, lớp thì bị mắc vào những tấm lưới thả chùng, càng cựa quậy, càng vướng vào lưới và bị xiết lại ; lớp thì do mùi của thuốc rê và tỏi nên gục xuống, nằm la liệt từng đống trong vòng lưới vây. Tiếng trống trận của lão thày Chà càng ngày càng vang động, điểm thêm vào đó là những tiếng cồng cực kỳ bi ai, Hai con rắn Thần nhào xuống, thổi một làn hơi đen kịt, mùi tanh hôi tưởng như không thể nào kể xiết, Hàng người trong Trận đồ Bát Quái lảo đảo, Những lá cờ trận bị giật tung lên trời và rơi xuống lả tả. Thấy vậy, ông thày Chàm vội ra lệnh cho người đứng bên chảo thuốc đang sôi sùng sục, bưng nguyên một chậu bột thuốc chuẩn bị sẵn trút vào, Một làn khói màu nâu mịt mù bốc lên, che kín cả đôi Rắn Thần, Ngay lập tức, chúng rớt bịch xuống đất và lủi đi mất tăm.

Đây chính là một bài thuốc cổ truyền bắt rắn của người Chiêm Thành, Hàng nghìn năm trước, vì phải sinh sống trong khu vực núi non hiểm trở, rắn nhiều vô số, nên dân tộc Chàm đã có những bài thuốc bắt rắn và chữa rắn cắn cực hay. Đôi Rắn Thần đã đi mất, những làn khói cũng đã tan dần, trên chiến trường, hàng ngàn xác rắn các loại nằm la liệt. Phía bên kia, lão thày Chà chuyển sang thủ đoạn khác, Tiếng trống trận lúc này cũng chuyển sang một nhịp điệu khác với âm hưởng vô cùng trầm hùng, Người ta tưởng chừng như có hàng ngàn chiến xa đang lăn bánh tiến về phía Đàn tràng, Âm lượng ngày càng lớn, nó như lói vào tim những người trong trận. Không gian tưởng như lúc này bị cô đặc lại, ngột ngạt, tức thở. Từ trên không, hàng trăm con quạ đen bay về phía Đàn Tràng, Chúng bay lượn đan qua đan lại, nhằm vào những người trong trận Bát Quái lao tới mổ, giật văng từng miếng thịt. Tay bắt quyết, miệng đọc chú, tay kia ông thày Chàm tung lên trên trời một nắm những lá Bùa vàng. Những con quạ đen rớt lả tả xuống đất và hiện nguyên hình là những tấm giấy đen xếp lại. Tiếng trống và tiếng cồng ngày một tăng nội lực, nó như khoan xoáy vào không gian, khiến cho không gian như co lại, hạn hẹp hơn, Lần lượt từng người trong Trận Đồ Bát Quái gục xuống, miệng ứa máu tươi, Trận Đồ Bát Quái đã bị phá vỡ..,

Gần như ngay lúc đó hình bóng năm người đàn bà mặc áo dài trắng, theo gió lướt tới, Cách di chuyển của họ thật kỳ dị, hình như không phải đi mà chỉ như lướt qua các khóm cây, ngọn cỏ. Xung quanh năm hình người đàn bà đó là cả một bày dơi đông vô kể cũng kéo đến vây xung quanh Đàn tràng của thày Chàm Tây Ninh,

Từ xa đã vang vọng tiếng của lão Chà Và đọc chú vọng đến rõ mồn một :

" Nam mô Tiên sư Lỗ Ban
Tiền Tổ Lỗ Ban
Hậu Tổ Lỗ ban - Sác sác -
Chứng cho tôi đây là đệ tử Thái Tuế
- Nhật Mộc Thần phù Lỗ ban sát
- Sai khiển Thiên Linh tùng chấp lệnh,...."

" Thần cung cấp trợ oai linh
- Tam Sát Phiên Thần
- Nhân sát - Tài sát - Vật sát
- Tam sát Phiên Thần -
Cấp cấp như luật lệnh,...",..

Từ trên Đàn tràng, thày Chàm Tây Ninh chợt phun ra một ngụm máu tươi, lảo đảo như muốn gục xuống. Cố hết sức bình sinh, thày đứng dậy, vung thanh Thất Tinh kiếm, ném tung lên trời một nắm Bùa và cao giọng đọc chú :

" Án Chỉ lâm Chỉ lâm
- Bộ lâm - Bộ lâm
- Phấn tra - Phấn tra
- Mục Đề dạ - Ta bà ha
- Sắc chuyển Luân Vương khuyết Ấn tuyệt ngũ phương
- Thâu Thần Tiên giáng hạ
- Thâu tay cầm Tam Muội Hỏa,..."

Không thể dừng được nữa, Thày bắt buộc phải đọc chú thâu tất cả các Phép thuật của thày Chà Và, không cho tác yêu tác quái nữa. Sau khi đọc đủ 21 biến - Tiếng niệm chú từ xa của thày Chà tự nhiên ngưng hẳn - Năm cái xác chết tự nhiên sình thối, chảy nước vàng và ngả rạp xuống đất ngay trước cửa Đàn Tràng. Những con dơi miệng đầy răng, nằm chết la liệt xung quanh. Phía bên lão thày Chà Và, nay bị thu hết pháp thuật, các câu chú đều mất hết sự Linh ứng, Lão ói ra một đống máu tươi, nằm ngất lịm đi trong Tịnh thất của mình, Từ nay lão không còn tác yêu tác quái được nữa, Thời gian hòa bình ít nhất cũng được 10 năm.

Ngay trong đêm, ông thày Chàm Tây Ninh kêu mọi người thu dọn chiến trường, vứt hết những cái xác súc vật xuống dòng sông Hậu, chôn lại 5 xác chết trên cù lao, Một chiếc xuồng gắn máy lớn chở thày Chàm và cô Lan nhằm hướng Tây Ninh thẳng tiến,
Thày Bảy lại từ tốn nói:

- Câu chuyện ta vừa kể cho các con nghe, đã xẩy ra cách đây hơn chục năm rồi.

Sau trận chiến đó, lão Thày Chà và bỏ xứ đi đâu mất tiêu, Còn ông thày Chàm Tây Ninh cũng đưa cô Lan vào chân núi Cậu, tít ngoài bờ lòng hồ Dầu Tiếng để sinh đẻ. Chỉ tiếc rằng, cô Lan sau khi sinh được một thằng con trai thiếu tháng, lớp vì sức yếu, lớp vì những độc tố trong người do lão thày Chà truyền sang, lớp vì cuộc sống ở rừng quá thiếu thốn, nên chỉ vài tháng sau cổ cũng mất. Tự nhiên ông thày Chàm Tây Ninh phải cái cảnh gà trống nuôi con - Mà lại là con của kẻ thù, Thật là cảnh trớ trêu, Cậu con trai của cô Lan và lão thày Chà, chính là cậu bé vừa bị giết này đây. Việc ngày hôm ấy xẩy ra chỉ là những sự việc tiếp theo của câu chuyện mười mấy năm về trước, Ông Trời cũng thật trớ trêu- Cha tự tay giết con mà không hay - Pháp thuật tài giỏi mà làm chi không biết ? Oán thù trùng trùng, điệp điệp, chừng nào mới nguôi đây? Có lẽ sau trận mất con đó mà ông thày Chàm Tây Ninh và ông thày Chà Và lại có trận quyết đấu lần thứ ba.

- Thôi, chúng bay chuẩn bị xe cho tao lên bệnh viện đa khoa Tây Ninh thăm lão và hỏi xem cớ sự ra sao?

Tôi vội nói :

- Thưa Thày, để con lấy xe đưa Thày đi cho lẹ, Một lúc sau, ông bà Bảy, tôi và hai cậu đệ tử ruột cùng lên cái xe Zeep lùn nhằm bệnh viện đa khoa Tây Ninh tốc hành.

Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã tới Phòng cấp cứu của bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Dò hỏi mấy bác sĩ trực tại đó, chúng tôi được biết là ông thày Chàm Tây Ninh đang phải nằm trong phòng mổ để tháo khớp tay. Theo bác sĩ cho biết, mọi người đã cố gắng hết sức song không cứu được cánh tay cho ông thày Chàm. Chẳng hiểu nguyên nhân gì mà cánh tay bị chặt của lão chóng hoại tử nhanh đến thế, May mà đã được cầm máu kịp thời, chứ nếu như người khác chắc lão đã đi về chầu Tiên Tổ rồi, Khoảng hơn một tiếng sau, một chiếc băng ca có gắn 4 bánh được đẩy từ phòng mổ ra. Ông thày Chàm được phủ khăn trắng xóa chỉ còn hở gương mặt xanh lét, đang thiêm thiếp vì thuốc mê được đưa ra phòng hồi sức. Nhìn hình dáng tiều tụy của lão, chúng tôi không ai không khỏi chạnh lòng. Có lẽ từ nay ông thày Chàm chỉ còn có một tay sẽ khó mà biểu diễn võ thuật được nữa.

- Than ôi, đúng là Đại bàng gãy cánh.

Một võ sư lừng danh thiên hạ, thân hình cao to lừng lững, gọng nói sang sảng giờ đây đang nằm tiều tụy, thấy nhỏ bé quá, Lòng cảm thông dâng trào làm lũ chúng tôi không ai cầm được nước mắt.

Thày Bảy phân công mọi người ở lại chăm sóc ông thày Chàm và bảo tôi lấy xe chở ông đi công chuyện. Tôi đưa thày bảy lên xe, nhằm hướng chợ Sa Mát thẳng tiến, Tới chợ Sa Mát, ông bảo tôi chờ và rảo bước vào trong chợ, Khoảng 30 phút sau, thày Bảy bước ra, trên vai đeo một cái ba lô to đùng, Tới xe, thày xếp các thứ gọn gàng lại, nhét vào ba lô chật cứng. Tôi chăm chú nhìn và thấy thật là lạ với những thứ mà Thày mới mua tại chợ, Ngoài con dao găm lá liễu là vật bất ly thân đeo bên hông, tôi thấy Thày mới mua thêm nột lưỡi mác chặt cây sáng quắc, ngoài ra còn thấy vô số mì ăn liền, bánh tráng, thuốc rê, tỏi, võng dù, màn tuyn và một đôi giày bata màu xanh nữa, Khi chuẩn bị xong, Thày hối tôi chở Thày lên cửa khẩu Sa Mát là cửa khẩu giữa Tây Ninh và Huyện Mi Mốt của Miên.

Huyện Mi Mốt của Miên tiếp giáp với huyện Tân Biên của Việt Nam thông qua cửa khẩu Sa Mát, Khu vực Sa Mát chính là khu vực hồi chiến tranh, bộ chỉ huy miền Nam gọi tắt là cục R đóng quân.Cả một vùng cây cối um tùm, rậm rạp và còn cơ man nào là bom mìn từ hồi chiến tranh để lại, Vùng này đã có rất nhiều người và trâu bò khi đi làm rãy đã trúng bom, mìn phơi xác trên những ngọn cây Cày Kơ Nia. Công ty chúng tôi đang có kế hoạch biến vùng Sa Mát này thành một Nông trường Cao su lớn hàng ngàn ha và tiến sát Nông trường Cao su Mi Mốt bên Miên. Tuy nhiên, để làm được điều đó còn vô vàn khó khăn, tiền của và cả máu nữa.

Cả vùng mang tiếng chợ cửa khẩu, song cũng chỉ có vài chục căn quán sơ sài bán các thứ vật dụng cần thiết cho bà con quanh vùng. Tuy nhiên, khu vực này lại là một cửa khẩu buôn bán thuốc lá lậu nên cánh buôn thuốc từ thành phố thường lên, Hàng thuốc lá thường là HERO, ZET, 555, APSARA,...

Vùng Mi Mốt còn là một vùng chuyên trồng cây thuốc lá sợi vàng ngon có tiếng. Dân khu vực ở lẫn lộn cả người Việt và người Miên, do vậy chợ này dùng cả tiền Việt và tiền Ria của Miên, trao đổi cũng bằng cả hai thứ tiếng Việt – Miên. Chợ Sa Mát cũng còn là một nơi tụ tập của giới giang hồ, buôn lậu trước khi vượt biên giới bằng đường rừng sang Miên, Thái Lan,..
Tới một con đường mòn sang Miên, người dân ở đây thường gọi là đường Tiểu ngạch, Thày Bảy xuống xe và dặn tôi :

-Con về cơ quan đi, Thày đi ít bữa sẽ về, Nhớ ghé qua bệnh viện thăm chừng thày Chàm nghe con. Nói rồi thày Bảy xốc ba lô nhằm hướng Mi Mốt thẳng tiến. Bóng chiều đã nhập nhoạng bên cửa rừng và chẳng mấy chốc bóng thày Bảy mất hút giữa rừng xanh Mi Mốt.


Còn tiếp "Đón đọc Thiên Linh Cái Phần II"
Ngọc Anh  
#12 Posted : Monday, September 26, 2016 4:18:45 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,798

Thanks: 5248 times
Was thanked: 4399 time(s) in 2127 post(s)
Cám ơn Khách quenhetroi
Đúng là ...nhớ trước quên sau Angel

Đang chờ đọc tiếp phần II Applause

Edited by user Monday, September 26, 2016 4:20:51 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
quenhetroi  
#13 Posted : Saturday, October 15, 2016 6:03:36 AM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)

Thiên Linh Cái II - Tiếp

Tối đó, tôi lái xe về thẳng Công ty để ngày mai kịp làm việc. Suốt chặng đường hơn 50 Km, từng câu hỏi cứ chập chờn trong đầu. Việc ông Thày Chàm thì cũng tương đối rõ rồi, chắc chắn là cuộc huyết chiến lần thứ 3 giữa ông thày Chàm Tây Ninh và lão thày Chà đã nổ ra. Sự việc cụ thể như thế nào thì phải chờ câu trả lời của chính ông thày Chàm Tây Ninh, Chỉ tội giờ này chỉ còn có một tay, công lực lại mất hết, không biết ống ấy sẽ tiếp tục sống ra sao. Còn lão thày Chà số phận bây giờ ra sao cũng phải đành chờ đợi câu trả lời của thày Chàm Tây Ninh, tuy nhiên tôi có thể biết chắc một điều là số phận của lão cũng không hơn gì ông thày Chàm, Một điều tôi đắn đo, lo ngại nhất chính là thái độ và cuộc vượt biên bất thình lình của ông thày Bảy. Chỉ cần để ý một chút, đằng sau cái vẻ mặt lạnh băng và thái độ câm lặng của ông là cả một núi lửa đang phun trào dòng nham thạch nóng bỏng, Cái im lặng chết người của ông, khiến tôi thấy lo lắng và rờn rợn trên suốt dọc đường về Công ty. Dạo này, Công ty chúng tôi đang tổ chức làm lại con đường của TRẦN LỆ XUÂN ngày trước đã làm, qua cơn binh lửa chiến tranh đã thành hư hỏng nặng. Từ Thị trấn Đồn Pal, con đường rải đất đỏ vòng vèo lên tới Kà Tum, Bổ Túc, Thanh Niên, Suối Ngô, 95, bặng qua một cái cầu lên tận Sóc Con Trăn. Con đường đi tiếp men theo lòng hồ Dầu Tiếng và sang tới tận Sông Bé, Đây chính là con đường ngày xưa Trần Lệ Xuân cho làm để có thể khai thác và vận chuyển gỗ về Sài Gòn, Dọc hai bên đường lau sậy um tùm, cây cối mọc chen ra có chỗ tới gần hết đường. Hàng nghìn ổ voi, ổ gà do cánh xe Be chở gỗ tạo nên, khiến con đường này hầu như không thể hoạt động được, Trên mỗi Km đường, ngày xưa hết quân Sài Gòn lẫn quân Cách mạng đã chôn vùi hàng trăm trái mìn, lựu đạn,...

Nhiều chiếc máy ủi của Công ty chúng tôi đã nổ tung do chạm phải những trái bom, mìn còn sót lại, khiến một số anh em lái xe hoảng sợ, bỏ Công ty về nhà, không chịu làm việc. Có chỗ đã qua hàng chục lần san ủi, trồng Cao su lên tới 3 tầng lá rồi mà công nhân đi làm cỏ vẫn chạm phải mìn tan xác như ở Nông trường Bổ Túc.

Chúng tôi phải quyết định tháo bỏ Ca bin các xe để có bề gì tài xế không chết vì đầu đập vào thành Ca bin, Tuy vậy, vẫn có cậu lái khi chạm phải bom, văng lên cao hàng chục mét, rớt xuống chạy điên không dám về đơn vị, Chúng tôi huy động tất cả thợ trong Công ty lao vào sửa chữa, thay thế những chiếc xe hư hỏng.

Chiều chiều, ngồi quây quần nhậu bên đống lửa, chúng tôi vẫn phải cố cười nói, la hét cho qua cái sợ ăn mìn, Được cái ở rừng nên mồi nhậu thật là dồi dào, Chỉ một buổi sáng máy ủi, ủi gốc le, gò mối là chúng tôi có hàng chục con Trút, thứ mồi nhậu còn thơm và ngon hơn thịt gà, Ngoài ra còn có rất nhiều Nhím, Don, Nai, Hoẵng, gà rừng. Rượu thì chúng tôi không thiếu, mang dầu máy ra Sóc Miên đổi là ba thiên. Công việc cứ thế cuốn hút tôi cho tới gần một chục ngày sau tôi mới trở lại Bệnh viện Đa Khoa Tây Ninh thăm ông thày Chàm được.

Sau khi bố trí công việc ở sở, tôi lại lấy chiếc ZEEP lùn phóng thẳng xuống Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh, Vào đến nơi mới biết thày Bảy đã đón ông thày Chàm về nhà trị thương được hai bữa. Từ Thị xã Tây Ninh, tôi lại tiếp tục cuộc hành trình lên Phước Vinh là nơi ở của thày Bảy, Qua chợ Long Hoa giờ này đã vắng bóng của hai cha con ông thày Chàm, tôi vào mua một ít thực phẩm, thuốc và đồ nhậu lên làm quà cho bà Bảy, Loay hoay thế nào, tới gần trưa tôi mới đến được Phước Vinh, Vào đến nhà Thày Bảy, thấy các sư huynh đệ tụ tập đông đủ cả, Tôi vào trong nhà thấy thày Bảy đang ngồi uống trà ở bộ ngựa và ông thày Chàm đang nằm bên cạnh, hai người đang rì rầm to nhỏ, Thấy tôi đến, thày Bảy kêu tôi lại ngồi uống trà, Tôi xin phép lên bàn thờ Tổ thắp nhang xong xuôi mới ra hầu chuyện hai Thày, Trong khi ngồi uống trà, thày Bảy từ từ kể cho tôi nghe câu chuyện mấy bữa trước mà tôi vẫn đoán già đoán non. Chuyện đó xảy ra như sau :

- Kể từ chuyện tranh hùng lần trước, khiến cho đứa con nuôi của thày Chàm ( mà cũng là con đẻ của lão thày Chà ) bị giết chết, lão thày Chà biệt tích giang hồ, còn thày Chàm trở lại núi Cậu Tây Ninh trị thương và tìm cách trả thù.
Sau một thời gian trị thương và cho cái đau mất đứa con nuôi nguôi ngoai dần đi, thày Chàm Tây Ninh quyết định về lại Tháp Chàm - Phan Rang cầu thày Tổ của mình.

Thày Tổ của ông thày Chàm năm đó cỡ khoảng ngoài 90 tuổi, nhà nằm gần tháp Chàm POKLONG GARAI,Tháp Pô Klaong Garai ở thôn Đô Vĩnh, Đây là khu tháp đại diện cho phong cách muộn (đầu thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII) là các tháp Poklong Gairai, tháp Pôrôme.

Tháp PôKlông Garai gồm nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau, nhưng hiện nay còn lại 3 ngôi xây bằng gạch. Đó là tháp Cổng (cao 8,56m), tháp Lửa (cao 9,31m) và tháp Chính - tháp thờ vua PôKlông Garai - (cao 21,59m, mỗi cạnh rộng hơn 10m).
Bố cục và cấu trúc của mỗi tháp là cả một công trình kiến trúc nghệ thuật. Mỗi cạnh, mỗi tầng và mỗi mặt của từng tháp được trang trí bằng các hoạ tiết gốm, đá với đủ loại hình người, hình đuôi rồng, hình lá, hình bò thần.Tất cả công trình trạm trổ, điêu khắc đều phản ánh đầy đủ ý nghĩa về nghệ thuật và tôn giáo của người Chăm. Vùng này là một khu vực núi đá hoang vu, các đền đài từ ngày xưa nay đã từng là Kinh đô của Vương Quốc Chiêm Thành lừng lẫy, đã mấy lần đem quân vào đánh chiếm Thăng Long.

Người Chăm ở Ninh Thuận sống quây quần thành một đại gia đình và vẫn còn theo chế độ mẫu hệ, Tuy đàn ông thực tế đóng vai trò to lớn trong cuộc sống nhưng chủ gia đình luôn là người đàn bà cao tuổi. Phong tục Chăm qui định con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, đặc biệt người con gái út phải nuôi dưỡng cha mẹ già nên được phần chia tài sản lớn hơn các chị. Về mặt sinh hoạt, mỗi nhà trong khuôn viên có tổ chức mặt bằng khác nhau. Song, đồng bào cho rằng nhà thang yơ là kiểu nhà cổ nhất. Đó là nhà sản, nhưng nay sàn rất thấp gần sát mặt đất. Đầu hồi bên trái và một phần của mặt nhỏ dành cho khách, chủ nhà, kho đựng lương thực và dụng cụ,
Người Chăm ở Ninh Thuận có khoảng 60 % theo đạo bà La Môn, 40% còn lại theo đạo Hồi Giáo ( ISLAM ), Thầy Tổ của ông thày Chàm là người theo phái Bà La môn, một Đạo giáo có từ rất xa xưa. Người Bà La Môn từ ngàn xưa do cuộc sống khắc nghiệt luôn phải đối đầu với kẻ thù và thú dữ đã mang trong huyết quản dân tộc mình một dòng máu cần cù chịu khó và một phương pháp Huyền thuật rất giỏi, Với tư cách là tôn giáo cổ nhất Ấn Độ với Thánh điển còn lưu lại, Ấn giáo Phệ-đà (vedic religion) giữ một vai trò đặc biệt trong tôn giáo của Ấn Độ, Đó chính là gốc gác thày Tổ của ông thày Chàm.
Khi về đến thôn Đô Vĩnh bái kiến thày Tổ, Thày Chàm Tây Ninh ở lại gần một năm để bổ xung thêm pháp thuật, Hàng ngày, thày Chàm cùng bạn Đạo lên tháp Pô Klaong Garai cầu đảo Thần linh, Các vị thần Phệ-đà như Mật-đa-la (密多羅, sa. mitra), Phạt-lâu-na (zh. 伐樓那, sa. varuṇa), Nhân-đà-la (zh. 因陀羅, sa. indra) và các Mã Đồng (zh. 馬童, sa. aśvin) là những đấng tối cao về tâm linh của họ, Người thực hiện cầu đảo Thần linh bằng một bài tán tụng. Đàn tế lễ được lập một cách nghiêm trang với ba loại lửa, việc tế lễ được thực hiện bởi nhiều Tế sư khác nhau cùng với các bài kệ tụng (sa. ṛc), ca vịnh (sa. sāman), câu tế đảo (sa. yajus), và các chân ngôn (sa. mantra). Vật tế lễ là Tô-ma (zh. 蘇摩, sa. soma), thú vật, bơ lỏng, ngũ cốc và thực phẩm đã được nấu chín. Tổ tiên (sa. pitṛ) cũng được cúng tế. Trong những đêm lạnh giá của Ninh Thuận, thày Chàm vẫn khoác bộ quần áo dân tộc của mình chạy nhẩy băng băng qua các sườn núi đá để luyện pháp thuật dùng cho công việc trả hận nay mai, Sau khi được thày Tổ truyền cho đủ ngón nghề tuyệt mật, thày Chàm lại từ biệt thày Tổ mình, khoác tay nải nhằm hướng Tây Ninh thẳng tiến.

Về tới đất Tây Ninh, ông thày Chàm quyết định lấy khu vực Ngã Ba Sọ - Thuộc huyện Châu thành làm đại bản doanh để định đoạt công việc tiếp theo của mình. Sở dĩ ông chọn khu vực này bởi vì đây là một khu vực còn khá nhiều rừng già. Ngày xưa đây cũng chính là khu vực căn cứ Đồng Dù của Mỹ đóng quân, có những con đường mòn đi sang Miên rất gần và thuận tiện. Mặt khác khu vực này giờ đây người ta lấy làm trường bắn những kẻ phạm tội tử hình và chôn tại một nghĩa địa bên cạnh trường bắn, Chỉ nghe cái tên Ngã ba Sọ không thôi cũng khiến nhiều kẻ rợ tóc gáy, không dám đi qua khu vực này ngay cả ban ngày. Toàn khu vực chỉ lèo tèo có vài chiếc chòi canh rãy của những người trồng mỳ và một vài lò đốt than cày của tiều phu, Chiều đến, chỉ mới khoảng 3- 4 giờ là khu vực này đã chìm vào trong hoang vắng, lạnh lùng. Ở đây, người ta chỉ còn thấy cây cối xanh um, gió đưa xào xạc và oan hồn, tử khí của những kẻ bị bắn làm chủ không gian. Ông thày Chàm lầm lũi chặt cây tự mình làm một chiếc chòi nhỏ trong đám rãy mì, ngay bên cạnh một con suối nhỏ. Từ đây đi tắt sang nhà ông thày Bảy cũng không quá xa, nên lâu lâu, ông thày Bảy cùng đám học trò cũng qua phụ hợ việc dựng nhà cho ông thày Chàm, hay ông thày Chàm lúc rảnh cũng tạt qua thày Bảy uống trà, trao đổi dăm ba câu chuyện. Ngày qua tháng lại, khu vực nhà của ông thày Chàm đã dần dần có dáng dấp của một căn nhà thực thụ, Ngoài đám mì và đám lúa rãy trồng để lấy lương thực, một khoảng đất lớn đến gần nửa công đất sau nhà kéo tới bờ suối được ông thày Chàm trồng cơ man nào là các loại Ngải.

Thôi thì đủ loại từ những loại Ngải hiền để ăn nói, cầu tài, đòi nợ như Nàng Thăm, Nàng Mơn, Nàng Mọi, Nàng Hách,..( Những thứ này thày dùng để giúp người ta làm ăn, lấy tiền độ nhật qua ngày ), ngoài ra còn vô số các loại ngải độc khác Mai Lai ngải, Ô Rạch mặt, Bo gec, Bạch Đại Ngải, Huyết Nhân Ngải,.. nghe nói thày đã dùng pháp thuật trục từ Cao Miên và Xiêm La về.

Những buổi tối chạng vạng, thày Chàm thắp hương đỏ ối cả bờ suối để luyện Ngải, từng hàng chú trục Ngải ơi hời trong không gian lạnh vắng nghe thật là ghê rợn. Ngoài vườn Ngải khổng lồ đó, trong một góc buồng, ông thày Chàm còn lập một bàn thờ Tổ, trên bày la liệt những lá Sắc của nhiều môn phái khác nhau. Tầng dưới cùng là một hàng hũ sành bịt khăn đỏ kín mít, bên trong có chứa những gì thì có lẽ chỉ mình ông thày Chàm mới biết mà thôi.
Hàng đêm, ông thày Chàm luôn nai nịt gọn gàng, đem theo một chiếc túi vải nhỏ lầm lũi đi về phía nghĩa địa bên cạnh trường bắn ở Ngã ba Sọ,( Đoạn này tôi được thày Bảy kể lại )

Trong những khoảng khắc giao thời giữa đêm và ngày của giờ Tý, ông Thày Chàm lần lượt thắp nhang trên những nấm mộ của những người tử tù và lầm rầm đọc chú, Thông thường, những người tử tù này vì chưa muốn chết nên ước vọng cuộc sống của họ rất lớn. Khi chết đi, họ vẫn không hề nghĩ là mình đã chết, nên chứng nào tật đó vẫn ra sức tác yêu tác quái. Thảng có những Linh hồn nào đã biết mình chết rồi thì họ luôn oán thán đủ thứ và thèm khát được trả hận. Chính vì vậy, khi ông thày Chàm sử dụng một pháp môn tối cổ của dân tộc mình điều khiển họ thì các Vong hồn đó trở thành một thứ vũ khí giết người từ xa thật là ghê rợn. Tuy nhiên, để có thể điều khiển được những Âm binh khát máu đó, đòi hỏi ông thày phải có một sự quyết tâm ghê gớm và một pháp thuật thật cao cường. Chỉ sơ xẩy một chút thôi là ông Thày chính là vật đầu tiên hy sinh cho các Vong hồn đó trả hận. Trong vòng 100 ngày, ông Thày không được tắm rửa, giành cái hơi của mình cho các Vong Linh đó quen dần với mình. Ngoài ra, tuyệt đối ông Thày không được gần đàn bà và không được để bất cứ một người đàn bà nào đang bẩn mình héo lánh đến khi vực Đàn pháp cả. Cứ liên tục hàng đêm, đúng giờ Tý, khu vực nghĩa trang tử tù lại đỏ ối các đám nhang thắp theo những hình thù kỳ quái. Mùi trầm hương loại tốt thơm nức, bay xa tới tận ngoài đường lộ đá đỏ, Thời gian chầm chậm trôi qua và ngày thành công đã gần kề. Tới ngày cuối cùng, ông thày Chàm đích thân mang mâm xôi gà sang nhà ông bà Bảy để cúng Tổ của thày Bảy, xin Tổ cho ông bà Bảy sang trợ giúp khi Pháp Đàn viên mãn.

Đêm hôm đó, một Đàn tràng lớn nhất từ xưa đến nay được lập tại nghĩa địa những người tử tù. Trầm, hương, đèn, nến, trầu, cau, rượu, thuốc, bông, trái cây, gạo, muối, trứng vịt, tôm khô, thịt heo luộc, cháo trắng, giấy tiền vàng bạc,.. được bày kín cả một cái bàn lớn cao ngang bụng, Hai bên Đàn tràng, hai cây Thất tinh kiếm dựng đứng sáng lòa. Cạnh hai cây kiếm là hai bó đuốc tre ngâm tẩm nhựa cháy đùng đùng soi sáng rực rỡ cả một khu nghĩa địa vốn âm u lạnh lẽo. Vòng xung quanh Đàn tràng, theo phương vị của Tiên thiên và Hậu thiên Bát Quái, người ta dựng những cây cột tre, trên có treo rất nhiều đạo Bùa kỳ bí viết bằng Châu sa trên những tấm lụa vàng, Trên đỉnh mỗi cây cột tre là một dải lụa chiêu hồn bay phấp phới.

Đúng 12 giờ đêm, một hồi 3 tiếng cồng vang vọng, trầm hùng khắp không gian. Ông bà Bảy, ông thày Chàm ngồi thành một tam giác xung quanh Đàn pháp, mỗi người tùy theo bản lãnh của mình mà tác pháp. Tuy 3 người thuộc ba pháp môn rất khác nhau, nhưng mọi người đều là những cao thủ trong Huyền môn, do vậy mà sự phối hợp của họ chính xác như những bánh xe trong chiếc đồng hồ. Trên chiếc bàn, trầm hương thơm ngào ngạt, xua đi cái lạnh về đêm và cái âm u huyền bí của vùng nghĩa địa. Hàng đuốc sáng bập bùng, soi tỏ khuôn mặt của từng người. Ông Bảy ngồi lặng lẽ, chắp tay theo ấn Liên Hoa, bà Bảy lại ngồi theo kiểu bán già, hai ngón cái và ngón út của hai bàn tay chạm vào nhau, xòe ngửa lên trên theo Kim cang bộ ấn. Ông thày Chàm, hay tay cầm chặt 2 cây đoản kiếm cổ, hướng thẳng lên không trung. Một hồi cồng nữa lại vang lên, ba người cùng đồng loạt phát công vào khoảng không phía trên Đàn tràng. Một tiếng bục, trầm đục vang lên, một quả cầu năng lượng xanh vàng, trắng đỏ quấn dần lấy nhau, các màu đan xen vào nhau, quấn quít nhau và cuối cùng hòa vào nhau thành một quả cầu ngũ sắc, xoay chuyển ngày càng nhanh ở trên Đàn tràng, Bên này bà Bảy đang niệm:

" Xua xua ơ nhâm
- Lắc hay hay - Ru han cốc
- Xu lây thu - Xu lu píc
- Lu lu pa,....A La Hăng Ru Tai Pa Mac
- Lai Du Cô Ru Cốc Bi Xô
- Xa Xu Xi Mac Đăc Lu Ton
- Nhac May - Pà Tà Xà Đục
- Xà Đơm - Mô Phắc,.."

Bên kia ông Bảy dùng chú Mật tông :

" Ngọc bảng tùng thư trấn Cửu thiên
- Tam Đồ xả thính giải oan khiêm
- Viên âm phổ biến thập phương giới
- Bồ tát Long Thần thị chứng minh
- Nam Mô - Xu Xit Đi Ô Môm
- Ri Ta Ri - Man Đa - Man Đa - Xóa Ha ".

Ông Thày Chàm Giơ Cao Hai Thanh Kiếm Lên Không Trung Miệng Niệm :
" Bac May - Bac Mu
- Xa Phac - Xu Lai
- Hum May Tu Lay
- Tu Luc Ca - Xu Xu
- Lô Pa - Ma Nô
- Xo Ru - Xo Ram
- Kho Lac - Tu Ha
- Tu Hay Hay,... Án Lôi Cấp Giáng
- Long Hổ Chi Oai
- Nhật Nguyệt Minh Chiếu
- Ngộ Chơn Mạng
- Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ,...."

Cả một vùng không gian như cô đọng lại, không khí ngột ngạt như chuẩn bị vào tâm bão. Bỗng trong không trung một luồng gió tanh hôi, lạnh lẽo ào ạt tràn đến vây kín Đàn tràng và quả cầu ngũ sắc đang xoay. Gần như cùng một lúc cả ba người phóng chưởng vào quả cầu và hô :

- Mau,

Ngay lập tức, quả cầu ánh sáng ngũ sắc quay theo chiều ngược lại, ngày càng nhanh, Những ánh sáng xanh, tím từ quả cầu phát ra đan thành một cái lưới vây kín khu vực Đàn tràng. Hàng chục bóng trắng mờ ảo rồi rõ dần, rõ dần hiện ra trong khói nhang, trầm và ánh lửa bập bùng. Thày Chàm lập tức ra lệnh :

- " Nhất chuyển Càn Khôn Thiên Địa hội
- Nhị chuyển thất thập nhị Huyền công
- Tam chuyển Phật tổ Lỗ ban y tốc giáng,..."

Những bóng ma kia lập tức hiện rõ dần và xà xuống, nằm phủ phục dưới chân Đàn tràng như chờ lệnh. Chỉ chờ có vậy, thày Chàm nhưng tụ chân khí và thổi vào họ một làn hơi trắng. Làn hơi này quy tụ đủ 108 thứ ngải mà thày đã luyện trong suốt 100 ngày qua. Thiên Linh tử tù cộng thêm Thiên Linh Ngải hòa quện vào nhau, tăng sức cho nhau trở thành một thứ vũ khí khủng khiếp nhất mà con người ta có thể luyện được. Bà Bảy dùng nhang khoán lên hình bóng của các Vong tử tù một hàng Sắc lệnh. Hàng Sắc lệnh này sẽ chính là một cái dây cương, khiến cho các Thiên linh phải ngoan ngoãn nghe lời người điều khiển, Từ nay, ông thày Chàm đã là tổng chỉ huy một đội quân Thiên Linh tử tù hòa quyện Thiên Linh Ngải tuyệt đối trung thành. Ba trăm năm nay, lần đầu tiên, pháp môn cổ quái này đã được ông thày Chàm luyện thành công.

Sau ngày luyện thành công Pháp môn mới. Thày Chàm phóng lửa hỏa thiêu toàn bộ trang trại của mình, sang tạm biệt vợ chồng ông thày Bảy và các học trò, một mình lên đường đi tìm lão thày Chà và để rửa hận. Tất cả hành trang của ông lão chỉ bao gồm một tay nải đựng quần áo, vật dụng, chút tiền độ đường và cặp đoản kiếm cổ bất ly thân. Dĩ nhiên, khuất vô hình đi cùng với ông là hơn một chục Đệ tử mới, có khả năng thật kinh hoàng.


Con Tiếp : Thiên Linh Cái III
quenhetroi  
#14 Posted : Friday, November 11, 2016 11:01:57 AM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Các nàng à! Khách đã ở đây được bao lâu rồi ?

Khách nghe văng vẳng tiếng ai như tiếng chị NA, không thấy người nhưng lại nghe được tiếng nói của chị. Khách ngạc nhiên hỏi các nàng, nàng áo trắng trả lời:

- Chàng ở đây kể chuyện, tất cả mọi người đang ngồi trong làng đối đều nghe được và chàng cũng có thể nghe được tiếng nói của các cụ trên đó.

Khách ngồi đây kể chuyện cũng lâu rồi, khách xin phép ra ngoài dạo mấy vòng cho dãn gân cốt nhé.

Nàng áo trắng trả lời:

- Chàng mạng Mộc, đáng lý sẽ để nàng Giáng Huyền dẫn chàng đi dạo vùng đất này cho chàng biết. Nàng Giáng Huyền mạng Thủy, Thủy sanh Mộc nếu có gì nàng sẽ giúp chàng được nhiều hơn. Nhưng biết chàng không thích màu đen, nên để nàng Giáng Thanh đi với chang. Nàng Giáng Thanh mạng Mộc, Mộc Mộc tỵ hoà nên hy vọng 2 người sẽ vui vẻ hơn.

Trong lúc di dạo khách tiếp tục kể.




Thiên Linh Cái III - Tiếp

( Phần sau này, chính ông thày Chàm kể lại cho tác giả và vợ chồng thày Bảy nghe về chuyến đi của mình ).

Sau khi tạm biệt mọi người, ông thày Chàm liền đi viếng mộ của mẹ con cô Lan ở chân núi Cậu. Hai ngôi mộ được chôn sát nhau, dựa đầu vào chân núi Cậu, chân đạp ra phía lòng hồ Dầu Tiếng. Thấm thoắt từ khi cậu con trai chết cũng đã mấy năm trôi qua, vẻ hoang vắng đìu hiu của khung cảnh càng làm cho trái tim của lão nhức nhối. Cẩn thận bày bông, nhang, trái cây, giấy tiền vàng bạc, một xấp bánh tráng lên mộ của hai mẹ con, ông thày Chàm thì thầm khấn khứa một mình, cặp mắt của ông lúc này vừa hào hùng, vừa bi ai, vừa căm phẫn. Tàn nhang, lão đốt tiền vàng bạc cho hai mẹ con, và tưới cả một chai rượu đế lên đám tro, vái hai mẹ con mấy vái, lão lầm lũi cất bước lên đường. Gần một năm, lăn lộn khắp Sài Gòn, Lục tỉnh, rồi tiến dần lên miệt Châu đốc, Sóc Trăng, An Giang, tới tận mũi Năm Căn, hình bóng của lão thày Chà và vẫn bặt vô âm tín. Đã rất nhiều lần, lão phái đám Thiên Linh đi lùng kiếm khắp các ngõ ngách, nơi mình đi qua, vẫn không thấy gì cả. Một ngày, Lão dừng chân tại đỉnh núi Két của Châu Đốc, Nơi đây là một nơi tụ hội của rất nhiều Thày bà về tu tập, luyện phép, Trên đỉnh núi Két, có một vuông đất khoảng hơn trăm m2, tục gọi là Sân Tiên.

Tương truyền ông Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ( Phật Thày Tây An ), đức Huỳnh Phú Sổ và một vài vị tiếng tăm khác cũng thành chánh quả tại sân Tiên này, Gần sân Tiên còn có giếng Tiên, là một hốc đá trận đỉnh núi nhưng không bao giờ cạn nước, Từ khi lên núi Két, hàng ngày lão lê la đi khắp các hang động của các vị tu Tiên, tu Núi hỏi thăm về tung tích lão Chà Và. Thời gian này, hầu như tất cả các hang động trên núi Két đều có chủ, thôi thì đủ các môn phái, đủ các pháp môn. Ở lưng chừng núi có một ngôi chùa nhỏ do một vị sư già trụ trì. Nói là chùa, song thực chất cũng chỉ là một hang đá được tạo bởi một tấm đá cực lớn nằm gác lên mấy viến đá khác, tạo thành một mái hiên khoảng 50m2. Nhà sư trụ trì dùng đá và xi măng xây một bức tường ở phía sau và một bàn thờ Tam Bảo dựa vào vách núi. Giường ngủ của nhà sư là một viên đá lớn bằng một manh chiếu, bằng phẳng và mát lạnh ( Thời gian sau này, tôi và Thanh Pali có tới nơi này ghé thăm, nhưng vị sư đó đã mất, chỉ còn một Vị Đệ tử ruột khoảng gần 60 tuổi trị trì thay Thầy, mộ vị sư già được táng ngay bên cạnh chùa ).

Chùa tuy ở lưng chừng núi nhưng không hề thiếu nước, bởi có một đường ống mủ dẫn nước từ đỉnh núi xuống một bể chứa tha hồ dùng, Vị sư trụ trì vốn theo dòng cổ Mật, lúc đó cũng khoảng trên 80 tuổi, Nơi này chỉ có sư trụ trì và một người Đệ tử ở cùng hàng ngày trì chú, kinh kệ. Một bữa, thày Chàm ghé chùa thăm và được sư trụ trì đãi cơm chay và đàm đạo suốt một ngày. Nhân đó, ông thày Chàm mới kể cho Trụ trì nghe về câu chuyện đời của mình và mục đích công việc đang tìm kiếm, Trầm ngâm hồi lâu, nhà sư già mới bảo thày Chàm :

- " Bần Đạo có thể giúp Thày tìm được tung tích ông thày Chà, cái đó khó gì, song bần Đạo nhìn vào ánh mắt của Thày, bần Đạo thấy sát khí bốc ngùn ngụt. Bần Đạo cũng nhìn thấy sau ánh mắt đó một cuộc huyết chiến kinh Thiên động Địa, tai kiếp, tai kiếp,.. Hận thù nên cởi chứ không nên gút lại làm chi, Nghiệp báo trùng trùng biết khi nào dừng ".

Nghe vậy, thày Chàm vội quỳ xuống chắp tay xá vị sư và nói:

- " Bạch Thầy, gần một năm nay, con lặn lội khắp nơi để tìm tung tích Lão ta mà vẫn biệt tăm. Con vẫn biết hận thù nên cởi chứ không nên gút lại, song con đã thề trước vong linh hai mẹ con cô Lan, với Thày Tổ quyết trừ hại cho dân, tiêu diệt lão thày Chà nên mới có ngày hôm nay. Trước bàn thờ Tam Bảo, con xin phát nguyện khi con làm xong việc lớn rồi, sẽ nguyện làm Bồ tát Đạo, cứu giúp chúng sinh đến hơi thở cuối cùng, Nhà con có nghề thuốc rất hay, con sẽ dùng nghề thuốc để cứu dân chúng, Thày tin ở con đi ",
Ngó đăm đăm vào mắt thày Chàm, nhà sư thở dài và nói :

- " Thôi, âu cũng là nghiệp duyên, tối nay, đúng giờ Tý, Thày lại đây tôi sẽ giúp Thày."

Thày Chàm vội phủ phục xuống đa tạ nhà sư, Ngoài kia, xa tít cánh đồng lúa của vùng Bảy Núi, chợt như ửng hồng và đó đây phảng phất một mùi hương cốm mới. Suốt buổi chiều ngày hôm ấy, thày Chàm tranh thủ đi thăm các hang động có các vị Thày đang tu luyện trên núi Két, Ngọn núi này từ chân lên tới đỉnh chỉ vài trăm mét, nhưng chứa đựng rất nhiều hang động to nhỏ đủ cỡ, Đặc biệt là trong các đám cây rậm rạp mọc trên núi, có vô số các loại cây Ngải, mọc um tùm. Ngọn núi này cũng có nhiều loại Ngải khó kiếm ở nơi khác, có lẽ là do khí hậu thích hợp và ngọn núi rất dốc nên ít có người qua lại hay làm rãy trên núi. Trong các hang động, thày Chàm đã gặp được một vài người bạn học từ thời thanh niên, tưởng như không bao giờ có thể gặp mặt được nữa. Đặc biệt trong chuyến đi ngao du chiều nay, thày Chàm lại được gặp một vị Sư Huynh từ hơn 30 năm trước. Đang mải mê ngắm đám cúc Vạn thọ vàng rực trước cửa một khe núi hẹp, bỗng nghe tiếng kêu mừng rỡ gọi tên mình, thày Chàm ngước lên và nhận ra vị Sư Huynh của mình.

Người này đang theo phép tu Tiên ở trên núi Két, sống hoàn toàn bằng nước suối và những bông cúc Vạn thọ, Nhìn hình dáng mình mai, sương hạc với bộ râu quá cằm của Sư Huynh, thày Chàm không khỏi bồi hồi, bất chợt thở dài. Mới nhiêu đó đã ngoài 30 năm có lẻ, Hai huynh đệ kéo nhau vào trong một cái hang khá rộng ngồi tâm sự chuyện đời. Nguyên do người Sư Huynh của thày Chàm, từ khi bị phạm tội và bị đuổi ra khỏi bổn môn, đã lưu lạc lên miệt Thất Sơn - Châu Đốc này.

Sau nhiều ngày dãi dàu với cuộc sống cùng cực, Sư Huynh được một vị Tiên Ông trên Núi Ông Cấm chỉ dạy phép tu Tiên và đã chọn nới này làm nơi tu luyện. Cũng rất may, mà Sư Huynh vừa qua thời gian bế môn nên hai huynh đệ mới có dịp gặp nhau tại nơi này. Hai huynh đệ mải mê nói chuyện tới khi trời tối hẳn lúc nào không hay. Một cây đèn chai được thắp lên, ánh lửa nhỏ xíu chỉ đủ soi sáng cái mặt bàn bằng đá hơn một thước vuông, Sư Huynh cho thày Chàm biết một bí mật của vùng núi này, một sự thật mà chỉ những người tu non tu núi ở vùng này lâu năm mới biết, Đó là bí mật về sự trợ giúp của các Thày Tổ vô hình trên Tây An Cổ tự.

Từ thị xã Châu Đốc nhìn về hướng Tây thấy một ngọn núi cao khoảng 248 m gọi là núi Sam cách thị xã 5 km, Đến chân núi Sam, nhìn lên chân núi là thấy một ngôi chùa mang dáng dấp của những ngôi chùa Ấn Độ có kiến trúc hài hòa với cảnh trí thiên nhiên, tạo một vẻ đẹp lộng lẫy đó là chùa Tây An Cổ Tự. Chùa Tây An cổ tự do một vị quan triều Nguyễn đời Minh Mạng (1820) là Tổng đốc Nguyễn Nhật An xây dựng theo lời nguyện của ông khi được Triều đình phái đi Cao Miên. Theo lời nguyện này, nếu ông đi thành công, khi về sẽ dựng một ngôi chùa thờ Phật tại chân núi Sam. Cất chùa xong, ông thỉnh vị hòa thượng đầu tiên là Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu là Hải Tịnh đến trụ trì. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), chùa lại thỉnh thêm một vị hòa thượng nữa tên là Đoàn Minh Huyền, pháp hiệu là Pháp Tang đến trụ trì.

Vị hòa thượng sau này ngoài việc tu hành còn có tài làm thuốc trị bệnh cho nhân dân rất hiệu quả nên sau khi ông mất, đồng bào suy tôn hòa thượng với danh hiệu là Phật thầy Tây An và danh hiệu này vẫn được gọi đến ngày nay. Phật Thày tây An chính là người cho ra đời Đạo phái Bửu Sơn Kỳ Hương nức tiếng cả miền Nam thủa trước. Điều đặc biệt là hệ thống các bàn thờ Tổ các môn phái được bố trí thành một vòng tròn khép kín, chỉ những bậc tu hành trên núi mới biết được sự Linh ứng và dòng khí rất mạnh của từng ban thờ. Trong Tây Am Cổ tự có hầu hết tất cả những Tổ của Huyền Môn niền Đông Nam Á này. Khi viếng thăm, các Thày thường phải đi theo đúng một quy luật nhất định và hầu hết được Tổ về chứng. Thấm thoắt đã bước vào 11 giờ đêm, Núi Két im lìm phủ trong màn sương bụi, Cái lạnh thấm dần vào từng thớ thịt. Bốn phía xung quanh chỉ có màn sương trắng và hình chiếc mỏ Két lừng lững giữa trời cao. Ông thày Chàm đề khí, phóng như bay giữa các bậc đá hiểm trở tiến về phía ngôi chùa, Lúc này trong chùa, chỉ còn vài ngọn đèn cầy leo lét, và bóng ông thày Chùa im lìm trên vách núi, Trước mặt thày Chùa là một tấm gương đồng sáng lóng lánh, những ánh đèn chiếu vào tạo nên những bóng người như đang nhẩy múa. Thày Chùa ra hiệu cho ông thày Chàm vào thắp hương cung thỉnh thày Tổ, Sau những lễ nghi của bản môn cung thỉnh thày Tổ, cung thỉnh

" Tây phương Phật Tổ Thích Như Lai,
Bồ đề Tổ sư,
36 vị Lục Tổ Lục cụ,
Chuẩn Đề, bồ tát Quan Âm,
Già Lam chân Đế,
9 phương Trời,
10 phương Phật,
Tả Quan Châu
- Hữu Quan Bình,
Đấu chiến Thắng Phật,
Bạch Hổ sơn động,..
Ngọc Hoàng Thượng Đế,
chư vị Phật tổ,
Linh Sơn Thánh Mẫu,
Nguyên Nhung chúa Tướng,
Cửu Thiên Huyền Nữ,
Cửu vị Tiên nương,
ba ông Quốc Vương Đại Thần,...",

Thày Chàm ngồi sấp bằng bên ông thày Chùa, Thày Chùa giảng sơ cho ông thày Chàm về tấm gương đồng :

" Đây chính là một chiếc Kính Đàn, quà của thày Tổ tặng ta, Nó có nguồn gốc từ tận Tây Tạng xa xôi, Nếu chỉ luyện để thay Đàn tràng, người luyện chỉ cần luyện trong vòng 49 ngày với chú Chuẩn Đề là thành công, Riêng chiếc Kính Đàn này, ta đã luyện liên tục ròng rã 1000 ngày. Nguyên tắc của luyện Kính đàn là trong thời gian luyện, không được rời khỏi nơi tu luyện và không để bất cứ ai nhìn vào Kính Đàn, Khi luyện xong, hàng ngày phải dùng bao vải đỏ bao kín và không được xê dịch Kính Đàn. Vì bất cứ một lý do gì phải rời chỗ luyện đi qua đêm là phải làm lại từ đầu. Chính vì vậy, trong gần 3 năm qua, ta không hề bước chân khỏi chùa này. Ngày nay, thành tựu viên mãn, ta lần đầu xử dụng để giúp Thày. Việc tìm kiếm kẻ thù hay bất cứ một người nào đối với Kính Đàn này chỉ là một tác dụng rất nhỏ so với toàn bộ công dụng của nó, Tuy nhiên, tôi cũng cần phải nói trước với Thày rằng cuộc đời của Thày sẽ thay đổi rất nhiều sau khi nhìn vào Kính Đàn này, Thày suy nghĩ kỹ chưa ? Thày Chàm vội phủ phục xuống tạ ơn thày Chùa và hứa rằng không có ân hận gì cả, mọi việc đã suy nghĩ kín kẽ lắm rồi.

Nghe xong, thày Chùa gật đầu lặng lẽ và tới bàn thờ gióng lên một hồi chuông. Tiếng chuông âm vang, ngân xa trong mà đêm tĩnh mịch, Ngồi xuống theo thế Kiết Già, thày Chùa bắt ấn và bắt đầu đọc Đà Ra Ni. Cứ sau mỗi câu chú là một lần thay đổi thế kiết Ấn, Khoảng 30 phút sau thày Chùa mới vào bài chú chính :
CHUẨN ĐỀ, Sau khoảng 3 chuỗi Chuẩn Đề, trên mặt Kính đàn bắt đầu xuất hiện những hình ảnh của một vùng xa lạ.

Lúc này thày Chàm dùng hết tinh lực nhìn vào Kính đàn và chẳng mấy chốc hình bóng lão thày Chà hiện ra rõ dần, rõ dần, Ông thày Chà thấy lão thày Chàm đang ngồi luyện công bên một đầm nước lớn, hai bên có cặp rắn vàng có mào đỏ hộ đàn, Xung quanh chỗ Lão ngồi là vô số cây cột, treo lủng lẳng những đạo Phù ẩn thân cực lớn - Thảm nào mà kể cả Thiên Linh Tử tù của ông thày Chà cũng không thể phát hiện ra, Nhìn kỹ địa hình xung quanh một lúc lâu, ông thày Chàm đã nhận biết được vị trí của khu vực đó, một khu vực quen thuộc, Lão đã từng đi qua tại Tây Ninh, Lão chợt cười khan một mình. Tiếng tụng Đà ra Ni nhỏ dần và ông thày Chùa đã sang phần hồi hướng công đức, Hình ảnh trên Kính Đàm mờ dần, mờ dần rồi từ từ biến mất. Một hồi chuông nữa lại ngân lên vang vọng trong đêm thanh vắng, tiếng chuông như xoáy tròn và ngân dài, vang xa, thành những đợt sóng xa tít tắp. Tiếng chuông này không rời thành tiếng mà liên tục, trầm hùng, đợt sóng âm này đè lên đợt sóng âm kia, làm cho ta có cảm giác như đứng trước biển đang có hàng ngàn đợt sóng dâng trào. Thày Chàm vội ngẩng lên nhìn, thấy ông thày Chùa chỉ dùng dùi chuông, xoay quanh miệng một chiếc chuông lớn, Tay của ông cầm và xoay rất nhẹ nhàng, nhưng muôn ngàn đợt sóng âm thanh từ chiếc chuông cứ vang mãi, ngân xa, Tiếng tụng chú Dược sư lại cất lên trầm hùng :

Namo Bhagavate Bhaisajya-guru-vaidurya-prabha-rajaya,Tathagataya Arhate Samyak-sambuddhaya. Tadyatha, Om Bhaisajye Bhaisajye Bhaisajya samudgate Svaha.

Trên Kính Đàn lúc này hiện lên hình ảnh của ông thày Chàm đang ngồi phủ phục, Nhìn kỹ hình ảnh của mình, ông thày Chàm thấy ở trước vùng bụng của mình có một quầng ánh sáng xanh lè, chiếm hầu như hết cả khoang bụng. Ngạc nhiên, ông quay sang thày Chùa có ý dò hỏi, Như một vị bác sĩ thuần thục, thày Chùa cầm một cành trúc, chỉ vào khoang bụng của thày Chàm trên gương và nói :

- Đây chính là vùng hai lá gan của Thày. Hiện tượng có ánh sáng xanh như thế này chứng tỏ rằng thày đã vào gần cuối giai đoạn 3 của bệnh ung thư gan, Có lẽ thời gian gần đây, Thày bắt đầu hay có những cơn đau ở khu vực này phải không?

Thày Chàm vội phủ phục xuống đất và nói :

- Bạch Thày, đúng là khoảng gần 2 tháng gần đây, tôi thường có những đợt nhói đau tại vùng bụng. Nhưng cũng chỉ nghĩ là do những thương tổn do tuổi tác và những cuộc đấu võ mà ra, ai dè,..Tôi vẫn biết sống chết có số, nhưng tâm nguyện của tôi chưa hoàn thành, tôi không thể nào nhắm mắt được. Thày xem có cách gì cứu giúp cho tôi được không?

Thày Chùa trầm ngâm một hồi lâu và rằng :

- Lẽ ra tôi cũng chẳng muốn nói với Thày làm chi, nhưng đêm qua, có hai mẹ con người đàn bà đến cầu xin cứu Thày lúc tôi đang tụng kinh. Mà lạ quá, đứa con trai là một vong hồn không đầu, còn người đàn bà xưng tên là Lan, Họ năn nỉ, khóc lóc dữ quá nên tôi đã siêu lòng, nhận lời chữa trị cho Thày, Muốn chữa khỏi bệnh của Thày, tôi phải dùng công lực của mấy chục năm tu luyện để hóa giải. E rằng sau này, chân Khí của tôi cũng hao tổn rất nhiều. Cứu một người bằng xây mười tòa tháp. Vả lại, tôi đã được sự đồng ý của đấng Vô Vi rồi, Thày phải ở lại trên núi này 100 ngày, tôi cam đoan với Thày sẽ hết sạch bệnh.

Thày Chàm vội quỳ xuống định lạy thày Chùa, nhưng ông thày Chùa vội đỡ dạy mà rằng :

- Tôi với Thày âu cũng là nghiệp duyên, đừng cảm ơn tôi làm chi, Có cảm ơn thì hãy cảm ơn các đấng Vô Vi trên sân Tiên kia kìa.
Thày Chàm ngước mắt lên nhìn về phía sân Tiên trên đỉnh núi, những đám mây mờ đục đang trôi qua, bỗng như có muôn ngàn ánh sáng rực rỡ, huy hoàng. Từ đêm đáng nhớ đó, thày Chàm ở lại trên núi Két để thày Chùa chữa bệnh ung thư cho mình, Hàng ngày, những lúc rảnh rỗi, hai Thày thường lùng sục trong núi tìm những vị thuốc dùng để chữa bệnh ung thư. Thày Chùa cho thày Chàm uống thay nước liên tục 2 bài thuốc trục nọc độc trong cơ thể ra.

Bài thứ nhất gồm 2 vị : Bách Hoa Xà + Bán Liên Chi.

Bài thứ 2 chỉ có một vị thuốc duy nhất là : Xạ Đen.

Ngoài uống thuốc, hàng ngày là 2 lần thày Chùa dùng công lực của mình kích thích tất cả những đường Kinh mạch, Huyệt lạc trong cơ thể thày Chàm. Mỗi lần thày Chùa truyền năng lượng vào người, thày Chàm thấy toàn bộ các đường Kinh của mình nóng ran, chạy rần rần khắp cơ thể. Những lúc như vậy, thày Chàm tập trung ý nghĩ, đưa các luồng hỏa hầu đi khắp các Huyệt vị trong cơ thể và tập trung vào phá khối ung thư ở vùng bụng. Trong lúc điều trị, thày Chùa từ từ chỉ dẫn cho thày Chàm nghệ thuật chữa các căn bệnh ung thư, Theo thày Chùa, muốn chữa được bệnh ung thư bất kỳ loại gì phải đảm bảo được các yếu tố sau :

Một là : Cả Thày trị bệnh và con bệnh phải có một ý chí quyết tâm thật cao, tin tưởng sẽ thành công trong điều trị, Không có gì làm cho người bệnh chết nhanh hơn là mất ý chí chiến đấu chống bệnh tật, Điều đó giải thích được lý do, chính những bác sĩ, khi bị mắc bệnh ung thư thường chết nhanh hơn người bình thường, Có lẽ, các bác sĩ thường biết rõ về căn bệnh của mình hơn là người bình thường ( hay bị người nhà dấu nguyên nhân bệnh ), Ngày nay, các bác sĩ khi khám và điều trị ung thư thường quên mất điều này, tuyên bố người bệnh mắc ung thư có nghĩa là tuyên án tử hình người bệnh, làm cho người bệnh suy sụp tinh thần, dẫn đến chán nản, buông rơi điều trị.

Hai là : Việc ăn uống của người bệnh phải khiêng khem hết sức cẩn thận, Tuyệt đối không uống rượu, bia, hút thuốc và cố gắng ăn chay càng nhiều càng tốt, Đừng nghĩ rằng, ăn chay không đủ chất như ăn mặn, thậm chí hiện nay người ta đã chứng minh rằng, trong đậu nành, đậu phộng, mè lại có độ đạm cao hơn cả thịt bò, Ngoài ra nên uống thay nước bằng hai thứ nước của 2 bài thuốc trên.

Ba là : Cần cải thiện môi trường sống, tốt nhất, khi bị ung thư nên chọn những vùng núi cao, sống ở đó mà điều trị, Khí hậu trong lành và yên tĩnh, giúp con người ta chiến thắng bệnh tật tốt hơn.

Bốn là : phải thực hiện đúng câu, Âm phù - Dương trợ, nghĩa là vừa dùng thuốc, vừa dùng chú DƯỢC SƯ và TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG đọc vào thuốc hàng ngày.

DƯỢC SƯ QUÁN ĐỈNH CHÂN NGÔN

Quy mạng Đức Thế Tôn Dược sư lưu ly quang vương Như Lai Ứng Cúng Chính Đẳng Chính Giác - Chân ngôn nói rằng: Xin Ngài hãy ban cho con thuốc diệt trừ bệnh Quả Báo, bệnh Nghiệp Ác, bệnh Kiến Tư, bệnh Trần Sa, bệnh Vô Minh để cho con mau chóng phát sinh được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.

TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ

Hỡi ánh lửa rực rỡ của Như Lai Vô Kiến Đỉnh Tướng đã thiêu cháy mọi năng chấp, sở chấp hãy tỏa sáng rực rỡ khiến cho con được an trú trong sự gia trì này nhằm phá tan sự trì độn chậm chạp của Nội Chướng và Ngoại Chướng. Đồng thời khiến cho con dứt trừ được mọi tai nạn, thành tựu sự an vui tốt lành.

Uy lực của những câu chú sẽ tăng hiệu lực của thuốc. Như vậy, hiệu quả chữa bệnh sẽ chắc chắn và nhanh hơn nhiều. Ngoài ra, những trường hợp bất khả kháng vì bệnh đã quá nặng, hoặc người bệnh hết số thì những điều trên cũng giúp cho người bệnh ra đi nhẹ nhàng và ít đau đớn hơn.

Tháng ngày thấm thoắt trôi đi, 100 ngày trên núi đã đi đến những ngày cuối cùng, căn bệnh ung thư của thày Chàm biến mất như chưa bao giờ xuất hiện, thậm chí thày Chàm còn đỏ da, thắm thịt và cường tráng hơn hẳn so với lúc chưa bị bệnh.
Đêm cuối cùng ở trên núi Két, thày Chùa căn dặn thày Chàm lần cuối :

- Từ nay Thày phải phát nguyện hành Bồ tát Đạo, thấy ai có duyên thì chữa trị cho họ và quan trọng là Thày cố gắng kiềm chế mối hận thù, Oán thù chỉ nên cởi chứ đừng cố buộc làm gì, Ngày mai Thày phải xuống núi, lần này có lẽ là lần cuối chúng mình gặp nhau, Chúc Thày thượng lộ bình an và cố gắng hành thiện cứu đời.

Thày Chàm quỳ xuống lạy tạ ơn cứu tử của Thày Chùa rồi khoác tay nải xuống núi, nhằm hướng Tây Ninh rảo bước. Đằng sau, mỏ của ngọn núi Két như lúc lắc lên xuống chào Thày. Một trang mới lại bắt đầu trong cuộc đời giang hồ của ông thày Chàm. Về đến Tây Ninh lúc này đã vào giữa mùa khô, Chút hơi lạnh từ phía lòng hồ Dầu Tiếng thổi về như báo hiệu thêm một cái Tết đến gần. Những vườn Điều chi chít quả đã chín vàng óng trên cành, phô ra bên ngoài những hạt Điều nâu sẫm. Những vườn xoài cũng mang nặng những quả lúc lỉu, thôi thì quả chín, quả hường vàng như muốn trả công một nắng hai sương cho người chăm sóc. Cả Tây Ninh giờ này trông thật là sung túc, Người ta có thể chạy xe hàng giờ cũng không hết những động mía, động mì, những vườn xoài, nhãn tiêu da bò, vườn Điều, tiêu. Tại những xóm nhỏ ven đường, có nhà trồng hàng ngàn nọc tiêu, những thân cây khô làm nọc cho tiêu leo được quấn một tấm áo choàng xanh mướt sừng sững xếp hàng vươn lên trời xanh. Dân Tây Ninh có một cái lạ là hay làm theo phong trào, nếu thứ cây nào có giá là đua nhau trồng, không hề nghĩ đến đầu ra cho sản phẩm, Chính vì vậy mà người dân Tây Ninh hết khổ vì mì, mía đến tiêu, điều vì lý do bội thu, Thường cứ 3 năm lại có một đợt giá cao, song tiếp đến 2 năm mất giá, Nhiều nhà dở khóc, dở cười, thậm chí sạt nghiệp cũng vì sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ.

Thày Chàm trở lại vùng chân Núi Cậu, ven lòng hồ Dầu Tiếng, Việc đầu tiên của ông là ra thắp hương trên phần mộ của hai mẹ con cô Lan. Lần này, ông ngồi rất lâu trước hai ngôi mộ, tay lần nhổ từng cọng cỏ đến khi sạch bóng, sau đó ông lại lui cui dùng xẻng đắp cẩn thận từng xẻng đất lên mộ cho tròn đầy, Khác hẳn với những lần trước sục sôi căm hận vì ý định trả thù, lần này trông ông bình thản, nhẹ nhàng, âu yếm xúc từng xẻng đất đắp mộ, nhẩn nha như một người không còn vướng bận với tháng ngày. Chiều xuống, ông giăng võng ngay gần hai ngôi mộ, Một đĩa cá khô Sặc, một cút rượu đế Gò Đen ông mua khi đi qua vùng này được bày ra, một đống than hồng được đốt lên. Đêm nay, ông quyết ở lại tâm sự với Linh hồn hai mẹ con cô Lan. Treo tay nải và đôi kiếm cổ trên một chạc cây nơi mắc võng, ông ung dung ngồi nhậu một mình, chốc chốc lại sớt rượu xuống đất mời vong linh hai mẹ con, ông lẩm bẩm một mình nói chuyện với các vong. Từ chập tối, ông đã ra lệnh cho các Thiên Linh Tử tù đi lùng sục khu vực ông đã thuộc nằm lòng trong suốt thời gian qua trên Núi két. Vì khu vực đó nằm tại Bến Trường - Châu Thành là nơi gần Ngã ba Sọ, nên ông cũng đã cho phép đám Thiên Linh về lại thăm nơi chôn cất thân xác của chúng. Chắc chắn, trước khi trời sáng ông sẽ biết rõ sự tình.

Đêm nay, ông giành trọn thời gian cho mẹ con cô Lan, Lâu lâu, ông lại tới đốt thêm nhang cắm lên hai phần mộ, ánh nhang sáng lập lòe trên mộ cùng ánh lửa bập bùng, bóng ông thày Chàm ngồi nhậu ung dung, khiến người ta phải liên tưởng như đang ở một cõi u linh nào đó. Khoảng canh hai, khi cút rượu cũng vừa cạn, một luồng gió lạnh bất chợt nổi lên, cuốn tung đi những tàn lửa đỏ vút lên bầu Trời đen đặc, ông thày Chàm vội ngồi ngay ngắn lại : Ông biết Vong Linh của mẹ con cô Lan Đã về. Từ trong màn đêm mờ ảo hơi sương, khói, bóng hình hai mẹ con cô Lan từ từ hiện ra, rõ dần, rõ dần, Cô Lan vẫn mặc bộ đồ bà ba trắng như ngày nào, dắt thằng bé cụt đầu đến phủ phục ngay cạnh ông, Tiếng khóc rấm rứt, ai oán đến xé lòng của hai mẹ con, khiến ông thày Chàm cũng không ngăn được dòng lệ. Sau một thời gian rất lâu mới ngưng được tiếng khóc, cô Lan cho ông biết tình hình của lão Thày Chà lúc này. Theo cô, đúng như ông đã từng thấy trên Kính Đàn, lão Thày Chà đang luyện công tại một khu rừng chồi ngay tại Bến Trường, cách Ngã Ba Sọ khoảng vài Km, Sở dĩ lũ Thiên Linh tử tù không phát hiện được ra Lão vì Lão đã sử dụng một thuật bí truyền của Huyền Môn để ẩn thân. Thời gian vừa qua, Lão đã luyện thành công được khá nhiều pháp môn của các môn phái khác nhau, Mặt khác, hỏa hầu của Lão hiện nay cũng đang vô cùng sung mãn. Đặc biệt, lão đã luyện thành công một pháp môn tối cổ của người Thái không biết lão học được của ai, để có thể sai khiến ngay lưỡi gươm của địch thủ đang cầm trên tay, Lúc Lão đọc Chú, lưỡi gươm đó sẽ quay lại bất ngờ giết chết chính chủ nhân của nó chỉ trong gang tấc. Ngoài ra, Lão cũng đã luyện thành công cặp Rắn Thần vẫn theo Lão từ bao lâu nay thành một thứ Vũ khí giết người từ xa hữu hiệu, Hai mẹ con cô Lan rất lo ngại cho thày Chàm trong cuộc quyết chiến sắp tới, Hai mẹ con thề với thày Chàm sẽ quyết tâm theo dõi tìm những yếu điểm của lão thày Chà, giúp thày Chàm thành công trong thời gian tới. Cô nhắc thày Chàm nên liên kết với vợ chồng ông thày Bảy Tây Ninh mới có cơ thắng được trận này.

Ba người cứ thế cùng nhau tâm sự, chút hết những nhớ nhung, oan ức trong lòng tới gần canh tư lúc nào không hay. Bỗng nhiên, từ trong không trung xuất hiện mấy bóng trắng từ từ hạ xuống cùng với mùi tanh hôi khủng khiếp, lan tỏa nhanh hơn trong màn đêm lạnh, Thứ mùi này, người ta liên tưởng tới ngay mùi mà ta hay gặp ở những nhà xác quàn người chết - Lũ Thiên Linh Tử tù đã về,....

Khi lũ Thiên linh tử tù vừa hạ xuống trước mặt ba người (đúng ra chỉ có 1 người và 2 hồn Ma), chúng đã vội tranh nhau kể chuyện. Vì đứa nào cũng muốn tranh công nên chúng làm ồn cả lên, khiến chẳng ai nghe được gì, chỉ đến lúc ông thày Chàm nạt nộ chúng, chúng mới chịu yên lặng, Đại khái, chúng kể về những vòng rào tâm linh được lão thày Chà dựng lên xung quanh khu vực lão luyện công. Từ ngoài vào đến chỗ Lão Chà luyện công có đến ba hàng rào Tâm linh cực kỳ hiệu quả và ác độc.

Vòng ngoài cùng được bảo vệ, tuần tiễu bởi lũ âm binh giấy, được Lão thày Chàm cắt bằng hình nhân giấy và luyện tập rất công phu, Vòng thứ hai là vòng bảo vệ của các loại Thiên linh Thai nhi, Thiên linh sọ người, Thiên linh chuối hột, Thiên Linh mèo, rắn.

Vòng trong cùng là nơi kiểm soát của cặp Rắn Thần vẫn luôn cùng Lão bao lâu nay, Ngoài ra, khoảng cách giữa hai vòng rào là những chiếc bẫy bằng Trận đồ hình mạng nhện, chúng như hình dạng một cái Xa đơm cá, mà ở phần cuối là những chiếc Hồ Lô sành có dán đầy Bùa, dùng để thu phục, bắt nhốt các Thiên Linh của đối phương. Khi những Linh hồn Ma hay Thiên Linh cái không may mắc vào Trận đồ này lập tức bị cuốn vào cuối trận và lọt vào trong Hồ Lô ; Lúc này, chúng bị các lá Bùa tấn công làm cho hồn siêu phách lạc, khó có thể đầu thai sang kiếp khác được nữa, Trận đồ này thật là tàn độc, đến nỗi có một Thiên Linh tử tù mới đến ở khoảng cách khá xa, chút nữa là bị cuốn vào Trận đồ, cho tới tận lúc này hắn vẫn còn run sợ.

Nghe chúng kể xong, tất cả đều lặng thinh, Thật là một vùng đất Thiên La - Địa võng, khó mà công phá được, Ông thày Chàm lo lắng ra mặt, lặng thinh cúi đầu suy nghĩ, Duy chỉ có hồn cô Lan từ đầu đến giờ vẫn yên lặng, bây giờ mới nói với Thày Chàm :

" Vẫn biết là lão thày Chà có đề phòng, ai dè hệ thống phòng ngự của Lão ta quá tàn độc, Tuy vậy, không phải là không có chỗ hở. Tôi thấy rằng, Lão Thày Chà không lưu ý tới khúc sông Vàm Cỏ Đông chảy ngay sau lưng, Khúc sông này rộng hàng trăm thước, sâu hơn chục thước, nước chảy siết vô cùng, thuyền bè đi qua khúc này thường bị đắm là do dòng nước có nhiều xoáy. Tại khúc sông chỗ khu vực Bến Lở, ngày xưa có một chiếc tàu chiến của Pháp bị đánh đắm, bùn đất tụ lại tạo thành những vũng xoáy rất nguy nhiểm, Chính vì có dòng sông hiểm nguy như vậy mà phía này Lão Thày Chà chủ quan ít đề phòng, Ta nên tấn công vào từ hướng này.

Mặt khác, Thầy nên sang nhà Thày Bảy Tây Ninh nhờ hai vợ chồng Thày Bảy trợ giúp. Tôi nghĩ, nếu có sự trợ giúp của vợ chồng thày Bảy và lũ Đệ tử, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng thày Chà, Riêng hai mẹ con chúng tôi xin đảm nhận trinh sát phía bờ sông Vàm Cỏ Đông, "

Thày Chàm gật đầu đồng ý và phân công lũ Thiên linh tử tù tiếp tục theo dõi mọi động thái của lão Thày Chà, Lúc này đã gần sáng, hai mẹ con cô Lan và lũ Thiên Linh tử tù lập tức biến mắt, thày Chà chuẩn bị tay nải, sáng nay sẽ sang chỗ thày Bảy Tây Ninh nhờ trợ giúp.


Còn Tiếp
quenhetroi  
#15 Posted : Tuesday, December 20, 2016 5:16:25 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Tiếp


Từ phía núi Cậu, những tia sáng buổi sớm đã bắt đầu hừng lên, chiếu sáng cảnh bờ hồ Dầu Tiếng ướt đẫm sương đêm, làn hơi trắng đục mờ mịt dải trên mặt hồ như những cánh màn giăng, tạo nên một vẻ đẹp thê lương đến não lòng, Một ngày mới lại bắt đầu trên lòng hồ Dầu Tiếng. Ngay trong ngày hôm đó, khi thày Chàm đến cầu viện, vợ chồng ông Thày Bảy đã cho triệu tập tất cả các đệ tử trong môn phái của mình về cấp tốc. Cách của ông kêu đệ tử về cũng lạ, Chẳng cần cho người đi gọi, vì thực tế, nếu có đi gọi thì cũng chẳng biết họ ở đâu mà lần. Chỉ thấy thày Bảy đốt một lư trầm trên bàn thờ Tổ, thắp 7 cây nến xếp theo hình chòm sao Bắc Đẩu. Sau đó ông lên Đàn lầm rầm đọc chú. Chỉ đơn sơ có vậy mà từ trưa tới chiều tối, hầu hết các đệ tử ở đẳng cấp cao đã có mặt tại nhà Thày. Buổi tối hôm đó, thày Bảy triệu tập một cuộc họp bất thường về công việc của ông thày Chàm. Sau khi nghe Thày Chàm kể về những gì mình đã biết về khu vực cũng như những cách thức phòng ngự của lão thày Chà, tất cả đều lặng thinh, cúi đầu suy nghĩ. Ông Bảy cũng suy nghĩ lung lắm, tạm thời mọi người chưa tính ra được kế gì khả dĩ có thể đột nhập vào nơi đó. Nếu tấn công trực diện, không thể nào tránh được tổn thất về nhân mạng, điều đó cả thày Chàm và vợ chồng ông thày Bảy đều không muốn.

Còn để bảo đảm không có tổn thất mà có thể thắng được lão thày Chà thì chưa có một phương pháp nào khả dĩ. Bàn cãi mãi tới nửa đêm chưa ngã ngũ, một nồi cháo gà to tướng được bưng ra chiêu đãi thày Chàm và các chư huynh đệ, Mọi người ai cũng thấy ngót bụng nên chẳng mấy chốc nồi cháo gà đã hết vèo. Bà Bảy từ tối đến giờ vẫn yên lặng chỉ huy con cháu nấu nướng, dọn dẹp, bây giờ mới thong thả hướng về ông Bảy lên tiếng, Bà nói :

-" Ngày xưa, khi chúng tôi còn học phép tại Tà Lơn, Sư Tổ có lần bàn về cách thức giải phá trận đồ kiểu này, Chắc ông Bảy còn nhớ buổi dạy của Sư Tổ bữa đó ??

Đây là một phép phá trận được lưu truyền bí mật trong bản môn, chỉ được truyền lại cho những người trưởng tràng để tiếp nối cho đời sau, Hồi đó, ông Bảy là một thanh niên thông minh, nhanh nhẹn và rất từ bi nên Sư Tổ chỉ định dạy cho một mình ổng. Hy vọng sau này ông sẽ thế chức Trưởng môn phái tại Tà Lơn, Tuy nhiên, vì ông Bảy còn mẹ già ở bên Việt Nam, không thể ở mãi bên Tà Lơn được, nên ông đã từ chối học, nhường cho người bạn thân của mình là vị Trưởng môn đời thứ 7 hiện nay ở Tà Lơn. Sau này, ông Bảy và Bà Bảy được chính Sư Tổ kết duyên cho và để hai người về Việt Nam sinh sống như nguyện vọng của thày Bảy. Trước khi cho hai người xuống núi về quê, Sư Tổ âm thầm tặng cho bà Bảy cuốn bí kíp về cách thức phá trận đồ, dặn phải học cho nhuần nhuyễn để lúc hữu dụng, có thể trợ giúp cho thày Bảy. Đây chính là một đặc ân của Sư Tổ dành riêng cho hai vợ chồng ông bà Bảy. Đây cũng chính là kỳ vọng mà Sư Tổ đặt lên vai vợ chồng ông, hy vọng sau này môn phái được phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam. Thày Bảy ngạc nhiên quá đỗi, vì hai vợ chồng về Việt Nam đã mấy chục năm, bữa nay bà Bảy mới nói ra chuyện này. Nhưng ông cũng đã hiểu tính của bà Bảy, cái gì cần đến thì lúc đó bà mới chỉ bảo, không bao giờ nói trước điều gì cả. Có lẽ bà Bảy vẫn còn chưa tha cho ông Bảy câu nói ngày xưa, khi ông thấy bà chỉ chăm chú vào học các môn thư, yếm nên đã có nói

- Không khéo bà sa vào Tà đạo.

Lúc đó bà Bảy chỉ im lặng, nhìn ông trân trối và cười nhạt, Cho đến mãi về sau ông mới hiểu rằng, không có những kiến thức về Thư, Yếm của bà Bảy thì giờ này ông cũng xanh cỏ nhiều lần rồi. Bà Bảy từ tốn kể tiếp cho mọi người nghe về phương pháp dựng và phá trận đồ, Theo truyền thuyết kể lại, phương pháp này Khổng Minh Gia Cát Lượng học được chính từ vợ của mình. Vợ Khổng Minh tuy hình thể rất xấu, vừa lùn lại vừa rỗ hoa nhưng về nhân tướng lại là một hình thể cực tốt, Bà là người tinh thông nhiều môn như Thái Ất, Độn Giáp, Tử Vi và là một đệ tử chân truyền của một cao nhân ẩn sĩ vùng Động Đình Hồ.

Chính vị này đã chỉ dạy cho bà cách dựng và phá những Trận đồ ngày ấy. Sau này, bà truyền lại cho Khổng Minh và những Trận pháp do Khổng Minh dựng vang tiếng cả ngàn năm. Thực sự việc xây dựng một TRẬN ĐỒ vì mục đích gì đi chăng nữa, người Chủ trận phải hiểu tường tận cách bố trí Trận pháp. Ngoài việc xác định rõ vị trí của Huyệt kết ở đâu, hướng của Long Nhập thủ như thế nào trong 72 Long Thấu Địa, Thiên Môn - Địa hộ ở đâu, Tính chất Âm - Dương,Ngũ hành của Khí Huyệt như thế nào, người bố trí Trận đồ phải rất giỏi về Ngũ Tử Khí Long ( Phận biệt các loại Khí Hỏa Khanh, Không hư, Bảo Châu ), phải thành thạo các thuật Toán an Ngũ Thân, Lộc, Mã, Quý, Tứ cát, Tam Kỳ, Bát Môn, an các Thiên Can, Địa Chi lên Bát Quái Đồ Hỗn Thiên, Những thuật này liên quan mật thiết đến Thuật tính Thái Ất, Độn Giạp Việc xác định được cửa SINH của BÁT QUÁI ĐỒ, tuy khó khăn nhưng chưa thấm vào đâu so với việc tính toán thời gian Huyệt mở của tại cửa SINH, Việc này ngày xưa các cụ tính rất giỏi nay tiếc rằng đã thất truyền, Hiện nay chỉ còn nguyên lý của nó thông qua việc tính toán THỜI CHÂM - TÝ NGỌ LƯU TRÚ VÀ LINH QUY BÁT PHÁP.

Tuy nhiên theo nguyên lý " Nhất Bổn tán Vạn thù - vạn thù quy nhất bổn ' và " Đời - Đạo, ÂM - DƯƠNG ĐỒNG NHẤT LÝ ", Chúng ta hoàn toàn có thể dùng thời châm để tính thời gian Huyệt mở.

Ví dụ : TÝ - NGỌ LƯU CHÚ là hai tự trong 12 Địa Chi, chỉ về Thời gian, Hàm ý quá trình ÂM - DƯƠNG biến hóa, tiêu, trưởng của Thời gian, Trong một ngày thì giờ Tý ( 23 - 1g ) ở nửa đêm là lúc Âm thịnh nhất ( cũng là lúc Dương bắt đầu được sinh ra, Giờ Ngọ ( 11 - 13 g ) vào lúc giũa trưa, lúc Dương thịnh nhất ( Cũng là lúc Âm mới sinh ra )

Trong một năm thì tháng Tý ( Theo âm lịch kiến Dần hiện nay là tháng 11 ) là tiết Đông Chí, là thời kỳ Âm thịnh nhất nhưng cũng là thời kỳ Dương được sinh ra, Tháng Ngọ ( Tháng 5 Âm lịch ) chứa tiết Hạ Chí là thời khí Dương cực thịnh, nhưng đồng thời cũng là thời kỳ " Nhất Âm sinh "

Hai từ LƯU - CHÚ có nghĩa là chỉ vào sự chu lưu, tưới rót của Khí trong các Kinh Mạch.

Thuật ngữ TÝ - NGỌ LƯU CHÚ có hàm nghĩa : Khí thịnh, suy, lưu động trong các Kinh mạch ( Hay Long mạch cũng vậy ) theo nhịp điệu của thời gian chuyển biến, TÝ - NGỌ LƯU CHÚ PHÁP là một phép Thời châm, chọn Huyệt Khai, Mở theo giờ thịnh, suy ( Huyệt mở hay đóng ) của Khí trong Kinh mạch ( Hay Long mạch ), Nó sử dụng 66 Huyệt Ngũ du của 12 chính Kinh làm Huyệt chụ

Phép TÝ - NGỌ LƯU CHÚ cũng như các phép LINH QUY BÁT PHÁP, PHI ĐẰNG PHÁP đều là những phép THỜI ĐIỀU TRỊ từ thời cổ xưa, Người xưa cho rằng, nắm được các phương pháp này thì nghệ thuật chữa bệnh hay làm Phong thủy, dựng trận được nâng cao tột bậc, có hiệu quả hơn hẳn, tác dụng nhanh và chính xác hơn, ví như chèo thuyền gặp nước xuôi,. nhất là với những ca cấp tính.

Trong bài " Luận về phép Tý Ngọ Lưu Chú " - Từ Văn Bá ( Từ Thị ) viết : " Nói phép Tý - Ngọ Lưu Chú là nói cương nhu tương phối, Âm - Dương tương hợp, Khí Huyết tuần hoàn, giờ Huyệt mở, đóng " ( Theo Châm cứu Đại thành của DƯƠNG KẾ CHÂU) Cương-nhu ở đây là nói về Tạng phủ, Kinh mạch.

Âm - Dương ở đây là nói về Can - Chi phối với Âm - Dương, Nội dung chủ yếu của phép Thời châm này bao quát : Thiên Can, Địa Chi, Âm Dương, Ngũ Hành, Tạng phủ, Kinh lạc cho đến các Huyệt Tỉnh, Vinh, Du, Nguyên, Kinh, Hợp,...
Ngày phối Kinh, giờ phối Huyệt, Mỗi ngày ( Can ) có một đường Kinh chủ đạo đồng tính Âm Dương - Ngũ hành với nó, Ngày Kinh chủ đạo bắt đầu và kết thúc vào giờ đồng Can với ngày lịch.

Dương Kinh dẫn Khí đi trước, Âm Kinh dẫn Huyết đi trước, Ngày Dương ( Can, Chi ), giờ Dương Khai ( mở ) Huyệt Dương, Ngày Âm, giờ Âm Khai Huyệt Âm vì Dương gặp Âm thì đóng lại.

Gặp các trường hợp này thì dùng nguyên tắc tương hợp như Giáp ( 1 ) hợp Kỷ ( 6 ),...và nguyên tắc " Bổ tả Huyệt Mẹ con " để giải quyết, Phần lý thuyết tuy đơn giản như vậy, song khi bước vào thực tế thật là vô cùng nguy hiểm. Tuy khó khăn như vậy, nhưng chiếc khóa nào cũng có chìa để mở cả.

Chúng ta chỉ cần tra đúng chìa là chiếc khóa dù phức tạp đến mấy cũng sẽ nhẹ nhàng mở ra, Theo tôi, trận của Lão thày Chà tuy có vẻ hiểm hóc, song Lão ta dù học được một ít về Trận pháp, song vì không hiểu được Quái lý, nên trong Trận pháp này bày ra nhiều yếu điểm, Chúng ta hoàn toàn có thể phá trận này một cách dễ dàng. Ông Bảy từ nãy đến giờ vẫn hết nhìn bà Bảy lại nhìn sang ông thày Chàm vẻ như lạ lẫm, bỗng ông buột miệng nói :

- Tôi cũng có được nghe giảng qua về trận đồ Bát Quái trong Huyền môn. Thậm chí khi biến trận, nó có thể xoay theo 360 độ số Trời, lúc đó có hằng hà sa số kiểu trận biến thiên không ngừng theo năm tháng, ngày giờ, Ngoài ra vì có hai vòng thuận nghịch theo chiều của Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát Quái, nên nó giống như hai bánh xe quay ngược chiều nhau, lúc đó vào được cửa Sinh chẳng khác nào ta phải bắn một mũi tên xuyên qua các cây nan hoa của hai bánh xe quay ngược chiều nhau. Khi dựng trận kiểu này, cũng phải cần đến 20 người có công lực thâm hậu nữa, trong mỗi vị trí của các phương Bát Quái, phải có một người ngồi trụ, như vậy hai vòng Tiên Thiên và Hậu Thiên hết 18 người, ngoài ra, còn phải có hai người bên ngoài chỉ huy trận và phát công khởi động Trận đồ nữa, Việc này khó quá, ta kiếm đâu ra người cho đủ đây.

Bà Bảy từ tốn nói :

" Ông thật khéo lo xa, Việc tính toán thời gian mở cửa Sinh của trận, tôi đã có sẵn một bụng đây rồi ( Ông Bảy nhìn sang cái bụng lép kẹp của bà Bảy bật cười ), Việc khó nữa là kiếm người có nội công thâm hậu, đủ sức chịu dựng sự vận động của Trận đồ cũng có cách rồi, ông quên những người bạn của chúng ta rồi sao ? "

Ông Bảy nghe vậy như chợt trút được gánh nặng trên vai, thày Chàm cũng rạng ngời vẻ mặt. Nguyên là vùng đất Tây Ninh này là nơi phát xuất của Cao Đài Đại Đạo từ mấy chục năm trước, các cao thủ tụ về đầu quân rất nhiều. Tuy nhiên vì một lý do riêng, chỉ có phái THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO là có khả năng bày bố những trận đồ kiểu này, họ đã tổ chức những cuộc hành hóa đi giải khai Huyệt đạo ở rất nhiều nơi. Ngoài ra còn một số môn phái khác như : Tân Chiếu Minh, Tổ Tiên Chính Giáo, Vô Vi pháp, Ayasanta, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,...cũng có rất nhiều các cao thủ tu tập ở trên núi Bà, núi Heo, núi Phụng, núi Cậu.

Ông bà Bảy đều có những mối quan hệ thân thiết với các nhóm đó, Nhanh nhẹn, ông thày Bảy phân công. Ông và thày Chàm lần lượt đi đến các giáo phái nhờ giúp đỡ ( tất nhiên là với tư cách cá nhân ), bà Bảy ở lại nhà trông coi lũ đệ tử và tính toán Trận đồ, Bây giờ muộn rồi, mai hai người sẽ đi sớm. Một nồi cháo nhím được dọn ra, thịt nhím trắng và thơm hơn cả thịt gà, ngọt ngay, Vừa ăn, vừa khề khà chén rượu, cả nhà vui như vừa vượt qua được một thử thách khó khăn, Màn đêm đen kịt bao phủ khắp nơi, vẳng lại từ xa xa tiếng chó sủa ma vu vơ.


Còn Tiếp : Trận Chiến cuối cùng"
quenhetroi  
#16 Posted : Sunday, January 29, 2017 10:36:14 AM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Thế Giới Bùa Ngải (tiếp)

TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG “Phần I”

Trong suốt gần một tháng sau đó, Thày Bảy và Thày Chàm lần lượt đi viếng thăm các Đạo hữu thân thiết mà từ lâu lắm rồi họ không được gặp. Đầu tiên hai ông tìm đến thăm người bạn thâm giao nhất của hai ông là một người theo phái THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO của Giáo phái Cao Đài. Phái THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO là một nhánh của Giáo phái CAO ĐÀI, nhóm này thường rất giỏi về nhận Điển và bày bố TRẬN PHÁP, Người bạn của hai ông là một chưởng quản của NAM THÀNH THÁNH THẤT. Đây là một người đàn ông cao lớn, có khuôn mặt hết sức cởi mở, cuốn hút. Vừa bước vào Thánh Thất, hai ông nghe một giọng đọc thơ Điển vang vọng :

" Tâm sẵn Ngọc minh há kiếm ngoài,
Chuyển luân Hoàng đạo hiện Cao Đài,
Chơn truyền Thượng hạ ban từ thử,
Sự nghiệp Đế Thiên đã định bày "

Ông Thày Chàm chợt buột miệng :

- Hay, trong Tâm đã sẵn có Ngọc, lẽ nào lại phải đi tìm kiếm Ngọc quý ở ngoài thân, Tìm cầu chánh giác phải quay về nội Tâm, Như vậy, bài Điển của Ngọc Hoàng Thượng Đế ta vừa nghe, như muốn khuyến cáo cho chúng ta nghĩ lại, cái gì nên bỏ và cái gì nên mang theo cho cuộc hành trình sắp tới. Thật ra, đời sống của con người ở cái cõi tạm này, xét lại một kiếp người thì đâu còn được gì? Thật sự, lẽ cùng cực của Đạo là mức tuyệt đối. Mà thật là lạ - Hễ tuyệt đối thì không còn nói gì đến những điều thương, sự ghét. Nhưng cũng phải thấy rằng, cuộc sống trong thế gian này chỉ là trường đối đãi, do vậy sự từ bi, bác ái được nêu lên chỉ là việc thường để răn long.

Ông Thày Bảy cũng buột miệng nói :

- Lạ ghê, chúng ta chưa hề nói mục đích của chúng ta đến đây mà ngài chưởng quản NAM THÀNH THÁNH THẤT như đọc thấu ý nghĩ của chúng ta.

Từ trong Thất, một bài thơ nữa lạ vẳng ra :

" Nhìn xem mấy áng phù vân,
Chợt tan, chợt tụ, bao lần tụ tan,
Xuân qua, Xuân lại Trần gian,
Chỉ người giác ngộ huy hoàng đón Xuân.
Dầu trong cõi tạm Hồng trần,
Trọn gìn Tâm Đạo thì Xuân vĩnh tồn "

Ông Thày Chàm lại than nho nhỏ :

- Sao mấy bài thơ Điển này giống những lời vị sư già trên Núi Két dạy ta thế nhỉ.

Hai người dợm bước định tiến về phía Thất thì một chú Đồng tử mặc đồ trắng cầm một tờ giấy ra đưa cho hai người và bảo :

- Thày tôi dặn trao cho hai vị tờ giấy này, bởi Thày tôi đã nhập Thất, không thể tiếp các vị được.

Trên tờ giấy trắng là một bài thơ viết bằng mực Tàu, chữ như Rồng bay - Phượng múa :

" Thấm thoắt Đời qua cuộc bể dâu,
Ham vui chỉ chuốc cuộc mua sầu,
Lập thân muốn tránh đường mưa gió,
Tìm Đạo nương mình vững nghiệp sau,
Rừng Thiền trở gót mới ung dung,
Nhàn hạ riêng vui cảnh bá tùng,
Lao lực thế tình chi xạo sự,
Rửa tai chờ lóng nhạc năm cung,
Cung đàn chờ khách cận song thu,
Năng mến Đạo màu chí trượng phu,
Biển khổ vớt người thuyền gặp lúc,
Đeo đai Thế sự chỉ mua sầu,
Tách bến sông mê sóng tạt thuyền,
Lọc lừa nghiệp quả kẻ may duyên,
Trương buồm Hạnh - Đức xuôi chiều gió,
Đưa khách phồn hoa lánh nẻo phiền "

Ông Bảy than rằng :

- Có lẽ sư huynh này muốn ta dẹp bỏ thù hận đây ? Ý ông như thế nào?

Thày Chàm ngó mông lung ra phía cánh rừng xanh thăm thẳm phía trước mà không trả lời. Một hồi rất lâu sau, hai ông đành tạm biệt NAM THÀNH THÁNH THẤT lần ra ngoài đường, bóng chiều đã dần buông trên những cánh rừng. Từng đàn trâu đeo mõ lốc cốc đi về chuồng, Ngoài đằng kia, nhà nào đốt rơm đuổi muỗi cho trâu, hương vị của khói rơm nao nao trong lòng người xa xứ. Tìm mãi mới được một quán cóc còn bán hàng, hai ông lần vào trong, gọi hai xị rượu đế với một miếng khô cá đuối nướng ngồi nhâm nhi, nghĩ tới công việc ngày mai. Nhớ lại những bài thơ buổi trưa, ông Thày Bảy chợt cất giọng ngâm theo điệu Nam ai :

" Mê đắm tình đời luống khổ Tâm,
Muôn Thu chịu mãi bước sai lầm,
Xa đường Thiên Đạo không trông thoát,
Nhơn dục cháy bừng đốt tri Tâm,.."

Rồi quay sang ông Thày Chàm cụng ly đánh cạch và hỏi nhỏ :

- Bây giờ ông tính sao ?

Từ nãy đến giờ, ông Thày Chàm ngồi bó gối im ru, mắt ông ươn ướt, đầy vẻ thê lương, Mãi một hồi lâu sau ông mới cất tiếng :

- Anh Bảy ơi ! Sao tôi khổ Tâm quá, Việc của mẹ con cô Lan, ông đã biết rồi, không trả thù thì tôi đâu còn mặt mũi nào nhìn họ nữa, Nhưng nghĩ đi cũng phải suy lại, từ vị sư già trên Núi Két cho tới vị chưởng quản NAM THÀNH THÁNH THẤT đều có ý khuyên chúng ta nên bỏ ý định trả thù, Tôi hoang mang quá anh Bảy ơi,

Ông Bảy cũng trầm ngâm, rồi ôm vai người bạn già đau khổ mà nói :

- Thôi thế này, ngày mai chúng ta thử đến chi nhánh của các Giáo phái Tân Chiếu Minh,Tổ Tiên Chính Giáo,Vô Vi pháp, Ayasanta gần đây xem sao, Tôi nghĩ với tình thâm giao mấy chục năm trời, lẽ nào họ lại không giúp chúng ta, nếu trường hợp tất cả cùng chối từ, thì âu cũng là mệnh Trời. Bây giờ phải kêu thêm hai gói mỳ tôm dằn bụng để mai có sức đi tiếp.

Đêm hôm đó, hai vị Thày giăng hai cánh võng nhờ cột của quán nằm đốt thuốc mông lung, Suốt đêm đó, không ai ngủ được, mọi việc được quay lại như một cuốn phim chầm chậm, Thấm thoắt đã gần ba năm từ ngày cái đầu lâu mất tích.

Từ đó bao nhiêu biến cố đã xảy ra, đẩy hai ông bạn già, hai vị Thày cao tay khét tiếng xứ Tây Ninh này phải vạ vật nơi đây. Lâu lâu, trong đêm thanh vắng, tiếng chó tru từng hồi dài như muốn báo hiệu một kết cục không lấy gì tốt đẹp. Mãi gần sáng, hai ông mới chợp mắt được đôi chút. Trong giấc ngủ mộng mị, hai ông như thấy mẹ con cô Lan và lũ Thiên Linh tử tù quần đảo khắp xung quanh, canh gác cho hai ông ngủ, Một ngày mới lại bắt đầu,..

Ngày hôm sau, hai Thày lại tiếp tục lên đường trở về chợ Long Hoa, Lúc đi qua ngôi tháp Bát quái cạnh chợ, họ dừng lại thắp vài nén nhang, tưởng nhớ đứa con đã mất và trận chiến bi hùng năm trước, Trời Tây Ninh vẫn ngăn ngắt xanh một màu, những hàng cây chò chỉ vẫn oai phong vương lên Trời cao như những người lính xếp hang. Chợ Long Hoa vẫn tấp nập kẻ mua, người bán, dòng đời hối hả như đã lãng quên hai vị Thày, Qua chợ Long Hoa, họ đi về phía núi Bà Đen, Từ xa, ngọn núi Bà cao vút, in bóng hình trên nền Trời xanh và mặt nước của hồ Dầu Tiếng cũng xanh ngăn ngắt. Gọi một con đò ngang, họ tiến về một cù lao nổi lên ở giữa hồ, Nơi đây có một Thất của phái Tân Chiếu Minh do một người bạn cũ của họ làm chưởng quản. Phái Tân Chiếu Minh do ngài Ngô Minh Chiêu sáng lập, vị tiền bối khai Đạo và cũng là vị Giáo Tông Anh Cả đầu tiên trong nền Tôn Giáo Cao Đài, tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Ngài sinh ngày mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Dần, nhằm ngày 28-02-1878 tại Quận Bình Tây, tỉnh Chợ Lớn. Liễu Đạo ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thân, nhằm 18-04-1932 tại Cần Thơ hưởng dương được 54 tuổi vì được bổn Đạo Chiếu-Minh xây tháp tại nghĩa-địa Chiếu-Minh trước Thánh Đức Tổ Đình cách Châu Thành Cần-Thơ lối 3 cây số. Ngài có lập gia đình với bà Bùi Thị Thân và sanh được 9 người con, mất hết 2 còn 7 người, 2 gái và 5 trai. Cha mẹ là công nhân nghèo làm việc tại nhà máy Bình Tây Chợ-lớn, vì phải theo chủ đi ra Hà Nội Bắc Việt, nên gởi con lại cho người em gái nuôi. Ngài xa tình thương phụ mẫu rất sớm từ lúc mới lên 7 tuổi và được người cô dưỡng nuôi cho đi học tại trường Mỹ Tho. Sau được học bổng lên học tại trường Trung Học Chasseloup-Laubat ở Sàigòn và đỗ được bằng thành chung năm 21 tuổi. Được bổ làm việc; trước tại sở Tân Đáo (sở di trú) ngày 31/12/1902, sau tại Dinh Thượng Thơ ở Sàigòn. Dời về làm việc tại Tòa Bố tỉnh Tân An ngày 01-05-1909 và thi đỗ tri huyện năm 1917. Sau vì buồn mẹ mất và không muốn liên can đến việc làm không liêm chính của một số đồng liêu. Ngài xin đổi ra Hà Tiên một tỉnh xa xôi gần biên giới Cao Miên và bờ biển Vịnh Thái Lan. Chính nhờ cảnh trí xinh đẹp Trời nước mênh mông và núi non thanh lịch khêu gợi, nên Ngài hay đến Thạch Động để cầu Tiên và được các Đấng thiêng liêng dẫn dắt đưa về nẻo Đạo huyền vi. Đến khi ra trấn nhậm quận Dương Đông ngoài đảo Phú Quốc, trong vịnh Xiêm La, Ngài mới ngộ được Đạo Trời và được đức Cao Đài Tiên Ông trực tiếp truyền trao bí pháp tu luyện cho đến khi đắc Đạo.

Chính tại quận đường, ban ngày Ngài đã tận mắt thấy "Thiên Nhãn" hiện ra hai lần với hào quang chói lòa rực rỡ để khiến Ngài dùng làm biểu tượng mà thờ đức Chí Tôn Thượng Đế mở Đạo kỳ ba để độ tận nhơn loại, là Giáo Chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tức Đạo Cao Đài, Ngài là vị môn đồ đầu tiên được đức Cao Đài Thượng Đế phong chức Giáo Tông, là người Anh Cả để dẫn dắt các em trở về với Đại Từ Phụ. Đêm vía đức Ngọc Hoàng Thượng Đế mùng 9 tháng giêng năm Bính Dần (21-2-26). Ngài Ngô Minh Chiêu mới xin đức Cao Đài Thượng Đế lấy tên mấy người đệ tử đầu tiên đề cho một bài thi kỷ niệm. Thượng Đế có cho 4 câu như vầy:

CHIÊU, KỲ, TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
BẢN đạo khai SANG QUí GIẢNG thanh,
Hậu Đức tắc Cư Thiên Địa cảnh,
Huờn Minh Mân đáo thủ đái danh.

(12 chữ lớn ghi trong bài thi là tên 12 vị đệ tử đầu tiên, còn ba tên chót Huờn Minh Mân là 3 vị hầu đàn)

Vâng lệnh Đức Chí Tôn, ngày 13 tháng 8 năm Bính Dần (29/6/26), ông Lê Văn Trung hiệp cùng 247 môn đệ đức Cao Đài đứng tên lập tờ khai Đạo gởi đến Chánh Phủ Pháp qua ông Thống Đốc Nam Kỳ là Ông Le Fol (trao toàn quyền Pasquier vào ngày 7/10/26). Đến đây Ngài Ngô Minh Chiêu nhận thấy đã xong nhiệm vụ xây dựng nền tảng cho cơ Phổ Độ, nhường lại cho quí ông Trung tiếp tục và xin trở về ẩn tu để tịnh luyện cho được thành công viên mãn và mở cơ Tuyển Độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi. Để dẫn độ một số người đại nguyên căn, quyết cầu tu giải thoát hầu tu chứng tại tiền cho nhơn sanh tin tưởng nơi Tân Pháp Cao Đài do đức Thượng Đế truyền trao cho Ngài hồi ở Dương Đông Phú Quốc năm Tân Dậu (1920).
Phương châm tu hành của phái Chiếu Minh Tam thanh vô vi:

Đệ tử Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi thuộc Cao Đài Đại Đạo cần phải tuân hành những lời dạy của đức Giáo Chủ Ngô Minh Chiêu, như dưới đây:

Thập thanh điều:


1/ Không nên thâu dụng của bá tánh,
2/ Không nên dự vào việc Quốc chánh,
3/ Không nên thốt đến Đạo nào,
4/ Không nên niệm chú thư phù và chác thói tà mị.
5/ Không nên bươi móc việc quấy và che lấp việc phải của người.
6/ Không nên buông lung tự tánh, phải xét những việc tội lỗi mà chừa.
7/ Không nên gần kẻ bạo ngược, hung hăng. Phải ẩn dật lo tu.
8/ Không nên tham luyến hồng trần, vinh hoa phú quí.
9/ Không nên coi người giàu sang hơn người nghèo hèn.
10/ Phải giữ đạo đức, hiếu nghĩa, trung tín, liêm sĩ, tiết trinh, từ bi chơn chánh.

Thập thanh điều:

Một khuyên giảm khẩu bớ con,
Hai khuyên chánh kỷ cho tròn hóa nhơn.
Ba khuyên giảm tánh giận hờn,
Bốn khuyên giữ lễ chớ lờn oai Tiên.
Năm khuyên kính mến người hiền,
Sáu khuyên đậy mắt lánh miền thị phi.
Bảy khuyên học chữ Từ Bi,
Tám khuyên hành đạo kịp kỳ Long Hoa.
Chín khuyên suy xét gần xa,
Mười khuyên lập nết ôn hòa độ dân.
Mỗi người đạo hữu nào muốn vào cầu Đạo tu theo Phái Đại Thừa Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, đức Ngô có căn dặn cặn kẻ, trước tiên phải suy nghĩ chính chắn liệu chở nổi cái Đạo hay không rồi sẽ bước tới, vì tu theo Đạo của Ngài phải chịu khổ sở lắm và phải vui vẻ chấp nhận mọi khảo đảo thử thách.

"Vậy Thầy dạy cho các con biết Đạo Thầy rất khó, muốn tu đặng thành vị phải vào tử ra sanh, chịu trăm cay ngàn đắng, khổ hạnh muôn vàn. Con thử xét, người mà muốn tạo một địa vị khả quan nơi cõi tạm nầy, còn phải hao tốn biết bao sức lực khó khăn, lựa là tạo một ngôi báu ở chốn muôn năm thông thả, ngàn kiếp thanh nhàn. Vậy con bình tâm suy xét cho kỹ càng, liệu lấy sức mình trước khi thệ nguyện, rồi Thầy sẽ định đoạt.

"Đạo Thầy thiệt rất khó ngộ, nhưng cũng dễ tìm, vì Thầy tùy duyên hóa độ, kẻ có căn dễ gặp, người vô phước khó tri..".
Muốn thọ Pháp Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, người cầu Đạo phải đă thọ trường trai ít lắm 100 ngày trước đó và được hai bạn đạo tiến dẫn vào một đàn nào đó. Sau khi được người chủ đàn cho biết rõ điều kiện như đã kể ở đoạn trên và đọc Thánh Huấn vừa rồi để tự xét nét lấy, coi có theo nổi không.

Nếu nhận thấy được, thì xin thỉnh keo, xin được keo rồi thì sẽ được cho hầu đàn dự cúng lễ theo các đạo hữu. Nếu muốn theo thì thỉnh kinh về học cho thuộc và lo sắp đặt bàn thờ Thầy đúng theo nghi thức đã qui định của qui điều nội lệ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi. Sau khi xét nét tự kiểm điểm kỹ càng có thể theo nổi đến ngày cuối cùng đời mình, thì trở lại để được hầu đàn cơ cho ơn Trên dạy. Nếu được chủ đàn chấp thuận thì lựa ngày tốt như ngày rằm nào, đến đàn xin keo để đốt hồng thệ và sẽ có người hướng dẫn Đạo Pháp, công phu tứ thời mỗi ngày và chỉ cách thức giữ gìn qui giới, từ cách sanh sống, ăn uống, ngủ nghê, không bỏ sót chi tiết nào. Người chỉ Đạo có phận sự hướng dẫn tận tình cho người thọ pháp.

Người thọ pháp phải tôn kính người đó mà tuân theo, vì người đó thay Thầy để truyền Đạo cho mình, cùng đồng chung chịu trách nhiệm như nhau trước thiêng liêng. Học Sư bất như học hữu; Đạo Vô Vi, Sư Vô Vi trên có Thầy, đức Cao Đài Tiên Ông bố hóa, dưới có bạn hiền hướng dẫn, chỉ cần đương sự quyết tâm cầu tu giải thoát, siêu đọa tự mình, pháp Đạo dầu có linh đến đâu mà người thọ pháp không cần chuyên, chịu cực khổ sớm trưa chiều khuya, tứ thời công phu tịnh luyện thì Pháp Đạo vẫn không cứu được mình. Chính mình phải tự giải thoát lấy mình, chớ Thầy không bồng ẵm mình được. Vào tới Thất, hai Thày lập tức được mời vào uống trà đàm Đạo cùng Đàn chủ, Mùi trà sen thanh khiết, hòa trong gió của hồ Dầu Tiếng, hòa lẫn với những tiếng chim hót véo von trên cành, tưởng như đang ngồi ở một động Tiên.

Sau một tuần trà, vị Chưởng quản hỏi thăm rất chi tiết tình hình và nguyện vọng của hai ông Thày, Vẻ đăm chiêu hiện dần trên khuôn mặt phúc hậu của ông, Tuy nhiên, sau khi nắm rõ tình hình, vị Chưởng quản của phái TÂN CHIẾU MINH vẫn không hề có ý kiến gì. Gần đến trưa, bữa cơm chay đạm bạc được dọn ra, hơi ngạc nhiên vì chỉ có hai cái bát và hai đôi đũa, người bê cơm ra hiểu ý nói :

- Thày chúng tôi đang ở trên Đàn, hai ông cứ tự nhiên dùng bữa. Hai ông Thày ngồi bới chén cơm ăn qua quýt cho có bữa và kêu dọn xuống,

Tới tận gần hết giờ Ngọ, vị Chưởng quản mới bước vào phòng khách. Ông xin lỗi hai vị Thày và nói :

- Tôi mới xuống Đàn, sau khi đã xin keo và được biết Đại Từ Phụ không cho chúng tôi làm việc này. Ngài còn có lời khuyên hai ông nên dẹp bỏ hận thù, quyết lòng tu cầu chứng, hòng tìm được sự giải thoát ngay trong kiếp này. Chúng tôi cũng vừa nhận được Điển của LÝ THÁI BẠCH TIÊN ÔNG, gửi tặng các Ngài, Bài thơ đó như sau :

" Bồng non cảnh thú vị nhàn quê,
Đảnh Phật Đài minh tỏa bút đề,
Công đức chuộng tu, trau bổn tánh,
Quả nhân bồi vẹn trọn danh phê,
Thông tri lý chánh tầm nguồn thiện,
Máy nhiệm huyền cơ lố cận kề,
Đồng đại bước qua cơn bĩ cực,
Sóng non lố bóng tỏa máu huê, "

Tôi mong rằng hai Vị thông cảm và cố gắng thực hiện lời LÝ THÁI BẠCH TIÊN ÔNG đã dạy.

Hai ông Thày ngồi nhìn nhau và lặng lẽ đứng dậy chia tay với các sư huynh đệ của phái TÂN CHIẾU MINH. Một lúc sau, hai người nhằm thẳng đỉnh núi Bà thẳng tiến. Trên lưng chừng núi Bà, có một nơi gọi là giếng Trời, Theo như truyền thuyết, từ khoảng năm 1700, các vị sư thuộc phái Liễu Quán ( là một chi của phái Lâm Tế - TQ ), đã tìm vào Núi lập ra những cảnh chùa. Đầu tiên là Chùa Phước Lâm Vĩnh Xuân (hiện nay ở Thị Xã TÂY NINH ), từ chùa Vĩnh Xuân các vị mới lần lên núi lập thêm các chùa Linh Sơn Tiên Thạch (Chủa Bà), Chùa Hang, chùa Trung, chùa Trung hang (chùa Trung hang tức Linh Sơn Tự, hiện nay đã bị xóa bỏ ).
Từ đó lập ra một phái nhánh của Liễu Quán tên là TẾ THƯỢNG CHÁNH TÔNG. Truyền thừa theo kệ Pháp:

Thiệt Tế Đại Đạo,
Tánh Hải Thanh Trừng,
Tâm Nguyên Quảng Nhuận,
Đức Bổn Từ Phong,
Giới Định Phước Tuệ,
Thể Dụng Viên Thông,
Vĩnh Siêu Trí Quả,
Mật Khế Thành Công,
Truyền Trì Diệu Lý,
Diễn Xướng Chánh Tông,
Hành Giải Tương Ưng,
Đạt Ngộ Chơn Không.

Nói tới giếng Chùa hang hay Giếng Trời, không ít người Tây Ninh còn nhớ truyền thuyết về ông Đạo Dừa.

Người “sáng lập ” ra Ðạo Dừa này là Nguyễn Thành Nam, sinh năm 1909 tại xã Phước Thịnh, tổng An Hòa, huyện Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông là con của một gia đình giàu có.

Cha tên Nguyễn Thành Trúc, làm chánh tổng từ năm 1940 đến năm 1944 và mẹ là bà Lê Thi Sen. Năm 1928, ông sang Pháp du học tại Rouen.

Năm 1935, ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước. Xuất thân trong một gia đình khá giả ở huyện Châu Thành, du học ở Pháp. Với tấm bằng kỹ sư hóa học, Nguyễn Thành Nam về nước, lúc đầu tổ chức sản xuất xà phòng, nhưng vì không cạnh tranh nổi, nên phải giải nghệ. Sau đó, ông bỏ lên núi tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ ăn một lần vào giờ ngọ bằng rau và hoa quả, uống nước dừa xiêm.

Năm 1945, ông đến chùa An Sơn ở Bảy Núi, Châu Đốc, quy y cầu đạo với hòa thượng Thích Hồng Tôi. Tu theo luật đầu đà, ông ngồi tại bệ đá trước cột phướn chùa suốt 3 năm, đêm ngày tịnh khẩu, chịu đựng gió sương, thân hình chỉ còn da bọc xương. Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản. Một năm sau, từ núi, ông về lại Bến Tre, dựng một túp lều ở mỏm cù lao Tân Long vào năm 1952.

Sau mấy tháng hoạt động, thấy bất tiện, ông về quê ở ấp I, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, mua một xà lan nhỏ, đậu bên mé sông Ba Lai và dựng một lều cao trên một mẫu vườn dừa, rồi ngồi tu "tịnh khẩu". Bên cạnh đó, ông cất nhà cho một số tay chân phục vụ ở và cho khách vãng lai có chỗ trú ngụ. Kỹ sư Nguyễn Thành Nam bắt đầu xưng giáo chủ của một đạo lấy tên là "Đạo Dừa". Tương truyền, đã có lần ông Đạo Dừa tìm đường xuống hang, Chẳng biết thấy được điều gì mà từ đó ông tịnh khẩu luôn.
Thực chất giếng Chùa hang hay Giếng Trời trên lưng chừng núi Bà là do hoạt động của kiến tạo và những dòng sông ngầm chảy qua tạo nên, Tương truyền giếng này sâu không có đáy và có đường thông ra biển. Nhiều người đã tính thử trèo xuống nhưng đều thất bại. Đứng ở miệng giếng, nếu thả một nắm giấy xuống sẽ bị gió thổi ngược lên mà không hề rơi xuống, Nhiều người thử ném đá xuống giếng nhưng không hề có tiếng động vọng lại, Chỉ rất ít người như hai ông Thày Chàm và ông Thày Bảy mới biết rằng, trong một hang đá, cách miệng giếng vài chục mét, có một cao nhân đang ngày đêm miệt mài luyện pháp thuật. Người này, có thể khinh công xuống những vách núi nhẹ nhàng như một cánh chim. Về Pháp thuật của ông thì thực ra chưa ai biết được giới hạn, chỉ biết rằng, rất nhiều cao thủ trên giang hồ là Đệ tử của ông. Theo như suy nghĩ của hai Thày, chỉ có tìm được vị Cao nhân này, mối thù của hai người mới có thể trả được. Nắng vàng rộn ràng trải trên các mỏm đá mồ côi khổng lồ như thúc giục hai vị Thày lên núi thật nhanh.

Lên tới lưng chừng núi theo con đường độc đạo vòng vèo qua những bãi đá mồ côi khổng lồ. Có hai con đường lên đỉnh núi : Một đường mòn nằm sau lưng chùa Bà, đường này xấu, khó đi. Một đường mòn khác bắt đầu từ đài Liệt sĩ đi men theo các trụ điện lên thẳng đỉnh núi. Ngày xưa chưa có con đường qua đài Liệt sĩ này. Hang gió hay Giếng Tiên là tên gọi của một cái hang sâu thăm thẳm sau lưng chủa Hang. Ngày xưa, miệng hang còn to hoang hoác, phủ đầy dây leo, nước ướt đẫm, Sau này để tránh nguy hiểm, người ta mới dùng xi măng xây thu miệng hang lại. Hai ông Thày tiến tới miệng hang nhìn xuống, một hố đen thăm thẳm ở trước mặt hai người. Không gian lặng thinh, chỉ thỉnh thoảng có vài tiếng rúc nho nhỏ của bọn thằn lằn núi, Ngẩng nhìn lên bầu trời trong xanh vời vợi, một cánh chim nhỏ nhoi đang bập bềnh trong gió ngàn. Buộc chặt hai đầu hai cuộn dây dù to tướng vào một gốc cây ở cửa hang, hai ông Thày mím môi tụt theo cuộn dây lần từ từ xuống miệng hang, Vừa qua khỏi miệng hang độ vài thước, một làn gió lạnh buốt từ bên dưới thổi lên khiến cả hai ông Thày phải rùng mình, Đó đây, trong màn đen bao phủ, tiếng nước nhỏ tí tách hòa chung với tiếng gió nghe như một bản hợp ca buồn bã. Hai Thày vội vàng đề chân Khí, đưa dòng Khí từ Đan điền theo dòng Đại Châu Thiên bao phủ, hộ vệ khắp người. Đến bây giờ họ mới hiểu được tại sao bao nhiêu trai tráng trong vùng rắp ranh chinh phục Hang này đều một đi không trở lại. Cái Sơn lam, chướng Khí của hang Gió này thật là độc, mặc dù được chân Khí của vòng Đại Châu Thiên che chắn, song hai ông Thày vẫn thấy cái lạnh từ từ xâm nhập vào lục phủ ngũ tạng.

Một tay bám sợi dây, một tay soi ngọn đèn 3 pin cực sáng, chiếu xuống dưới, ông Thày Chàm lần lần tụt xuống trước, kế bên ông Thày Bảy cũng xuống theo ánh sáng của ngọn đèn. Bên ngoài, ngọn đèn 3 pin sáng là thế mà vào trong hang, ánh sáng như bị ép nhỏ lại, chỉ soi mờ mờ vài mét trước mặt, Xuống được chừng 30 m, bắt đầu nghe rõ tiếng thở dốc của từng người. Kia rồi, Thày Chàm chợt kêu lên, dưới chân hai người, cách khoảng 15 m, có một cửa hang nằm ngang ăn thông với đường từ trên xuống, Mừng rỡ, hai Thày vội vàng tụt xuống cho nhanh. Bỗng nghe một tiếng soạt thật lớn, trong ánh đèn mờ mờ, hai ông Thày chợt thấy một con dơi cực lớn lao vào và tiếp sau đó là một loạt tiếng vang ầm ầm nghe như tiếng cơm sôi, Một đàn dơi khổng lồ, có sải cánh tới hàng mét ầm ầm lao tới, Phập, phập,..những cái mỏ nhọn hoắt của chúng cắm vào da thịt hai ông Thày,như những con dao găm đâm vào, Rụng rời chân tay, hai ông Thày chỉ la Trời lên được một tiếng và phải buông tay, rơi tự do trong màn đêm thăm thẳm của Âm Ty - Địa Ngục.

Trong màn đêm đen hun hút, trong cái thăm thẳm đến buồn nôn của trạng thái rơi tự do, mất trọng lượng, hai ông Thày đã không thể làm gì hơn là nhẩm trong đầu câu khấn QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT : " NAM MÔ CỨU KHỔ CỨU NẠN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ", Thời gian tưởng chừng như ngưng đọng, cô đặc sệt lại. Thần Chết như đang cầm lưỡi hái bổ xuống.
Bỗng nhiên, như từ cõi hư vô, một chuỗi tràng hạt bằng đá cực lớn, quấn xoay tròn dưới chân hai người. Chuỗi đá xoay tít, xoay tít, luồng khí do chuỗi đá gây ra như nhẹ nhàng quấn lấy hai ông Thày và như một vòi rồng từ từ cuốn hai ông Thày lên cao, Một giọng sang sảng đầy oai hùng bỗng cất lên :

" Thập Bát Bồ Đề Liên Chủng Chủng,
Liên Hoa Khai Thủ Diệu Trùng Trùng,
Chuyển Chuyển, Luân Luân La Hán Tướng,
Thiên Long Bát Bộ Hộ Vô Cùng " HA !HA !HA !HA !

Định Thần lại, hai Thày thấy dưới chân mình là một chuỗi hạt bằng đá màu xanh lá mạ như có chất lân tinh lập lòe, Đó là một chuỗi hạt có 18 viên đá to bằng quả cam đang xoay tít, tạo ra một sức phản lực từ từ đưa hai Thày bay là là vào một cái hang nằm ngang, Tít mãi ở trên cao, bầu Trời bằng một cái đĩa thấp thoáng dọi ánh sáng mờ mờ vào lòng hang. Khi vừa đặt chân lại trên nền hang, vừa trụ tấn, hai Thày đã thấy trước mặt mình một quái nhân đang cười sang sảng và cười như chưa bao giờ được cười : HA HA HA HA HA,.....

Quái nhân thật là kỳ dị, thân hình khô đét, mái tóc dài quá vai bồng bềnh, đôi mắt sáng quắc như phát hào quang. Quái nhân cởi trần, trên người chỉ có miếng vỏ cây đập dập làm thành chiếc khố. Chuỗi hạt bây giờ đã nằm vắt ngang ngực ông ta từ trước ra sau, Ánh sáng xanh biếc từ xâu chuỗi phát ra soi tỏ mọi vật quanh ông.

Hai Thày vội vàng quỳ xuống đảnh lễ quái nhân ơn cứu mạng, nhưng lạ thay, chỉ một cái khoát tay nhè nhẹ, hai ông Thày không sao quỳ xuống được, lại phải vòng tay chấp lễ. Sau khi được phép, hai Thày mới ngồi xuống một tảng đá xanh vuông vức như cái bàn cạnh chỗ Quái nhân ngồi. Vừa ngồi xuống, hai ông Thày vội bật dậy như chạm phải gai. Thì ra, tấm đá lạnh buốt như băng giá, Thấy vậy, Quái nhân lại bật lên một tràng cười đầy sảng khoái : HA HA HA HA,..Lạ một cái là ông ta cứ cười như thể chưa bao giờ được cười vậy, Hai ông Thày thấy thế cũng bật cười làm cho cái hang rung động bởi những trận cười như súng bắn : HA HA HA HA HA,..

Cười mãi đến sặc xụa, cả 3 người mới chịu thôi, Lúc này hai ông Thày mới để ý đến cái hang động mà mình đang đứng, Đây là một cái hang được hình thành do dòng chảy mạnh mẽ của dòng sông ngầm trong lòng núi. Trần hang rất cao, có lẽ đến 6-7 mét, hai bên thành hang khá rộng đầy những nhũ đá tua tủa và có ánh sáng xanh như lân tinh.

Có lẽ chuỗi hạt của Quái nhân cũng làm bằng loại đá như thế này đây, Quái nhân ngồi trên một phiến đá vuông vắn có màu xanh đen, Có lẽ phiến đá đó cũng lạnh buốt như phiến đá mà hai ông vừa ngồi ban nãy. Vách đá đằng sau Quái nhân là một bức tường thẳng tắp mà trên đó khắc chi chít những dòng chữ lạ lùng mà hai ông chưa bao giờ nhìn thấy, Đó không phải chữ Hán, cũng không phải chữ Quốc ngữ đang dùng, Nó hao hao giống như những loại chữ Phù của PaLi, nhưng cũng không phải loại chữ đó, Hai người chỉ biết được có chữ Vạn ở đầu mỗi trang viết. Thấy hai người mải mê nhìn, Quái nhân buột nói :

- Chữ Thiên đó, hai nhà người có biết không???

Hai ông Thày đều nói không và lần này lại một tràng cười sảng khoái nữa lại vang vọng không gian. Thấy hai ông Thày đứng lớ sớ, Quái nhân liền nói :

- " Ta đã cứu hai cái mạng chúng bay, lẽ ra giờ này chúng bay đã là hai đám bột nhão dưới tận cùng đáy hang kia rồi, Hôm nay ta vô cùng sảng khoái, đã lâu lắm rồi ta mới được trận cười thỏa chí đến như vậy, Có lẽ đã 30 năm có lẻ, ta mới thấy lại cái giống người, được nói tiếng loài người, Ta khai cho hai nhà ngươi một đặc ân - Không mau mà bái kiến Sư phụ đi, "
Hai ông Thày nhìn nhau và đồng loạt quỳ xuống khấu đầu làm lễ :

- Chúng con xin bái Sư phụ.

Vẻ hài lòng hiện rõ trong con mắt sáng quắc của Quái nhân. Tới trước vách đá, ông ta đột nhiên thốt lên một loạt những tiếng lạ tai mà hai ông Thày cũng chưa bao giờ được nghe, Khoảng 30 phút sau, ông ta mới quay lại và nói :

- Hai chúng bay ra bái Tổ - Thầy đi.

Hai ông Thày liền ra đứng trước vách đá chắp tay lại, Lạ thay, một luồng chân khí từ dưới đất bốc lên, thấm vào khắp lục phủ - Ngũ tạng của hai người, Chất Khí đó làm cho hai người nóng bừng bừng, mồ hôi đổ ra như tắm. Chưa bao giờ hai ông Thày lại thấy sảng khoái và mạnh mẽ như lúc này, Chất Khí đó thấm sâu dần và dần dần tràn ngập một niềm vui khó tả trong tim, óc hai người, Ngoài kia, chắc mặt trời đã lặn, chỉ có các vách đá sáng xanh lên như những sắc cầu vồng.

Buổi tối hôm đó, Quái nhân đãi hai ông Thày một bữa cơm kỳ lạ, Bữa cơm chỉ có mấy cành lá mọc trong lòng hang, mấy hòn đất trăng trắng mà Quái nhân vừa bới trong một đống đất ở góc hang và một vò nước lạnh. Lần đầu tiên phải ăn thứ đất đó, hai ông Thày cảm thấy quái lạ, Song khi nhìn Quái nhân nhai đất ngon lành, hai ông Thày cũng thử ăn theo, Lạ thay, miếng đất đó đưa vào miệng có mùi thơm nhè nhẹ và có vị như ta đang ăn một miếng bánh khảo, Loại lá cây mà Quái nhân chiêu đãi giống như một loại Dương Xỉ, nhưng khi nhai, một vị thơm ngát, bùi, béo tràn đầy khoang miệng. Sau bữa cơm, Quái nhân và hai ông Thày ngồi trò chuyện trong ánh sáng xanh của vách đá, Cuộc đời của Quái nhân quả thực là một pho tiểu thuyết thật ly kỳ.

Ngày xưa, ông là một nông dân nghèo tại vùng Đồng Tháp Mười. Vùng Đồng Tháp Mười nơi ông sinh sống ở phía Bắc sông Tiền. Đến khu vực Đồng Tháp Mười, người ta sẽ bắt gặp những cánh rừng tràm bạt ngàn, những hồ sen, đầm súng, những vườn cò, sân chim mênh mông và hoang sơ không phải nơi nào cũng có. Nhà ông ở ngay tại Tràm Chim, là khu rừng Tràm có vô vàn loài chim đến cư ngụ, Đây là một khu vực thuộc Huyện Tam Nông - Tỉnh Đồng Tháp, Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sông MeKong, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua hệ thống kinh thủy lợi (kênh Hồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12. Ngày xưa, gia đình ông có một sân chim nhỏ khoảng hơn một mẫu.

Cả gia đình cũng tạm đủ ăn nhờ những thực lợi từ sân chim, Sự việc đau thương xảy ra cũng bắt nguồn từ sân chim đó. Một tên Hương quản, nhờ có thế lực của Pháp, đã cố tình chiếm đoạt sân chim của gia đình ông. Mặc cho những lời dọa nạt, mua chuộc của tên Hương quản, gia đình ông vẫn cương quyết không dời bỏ sân chim. Một bữa, tên Hương quản đưa một toán lính Pháp tới sân chim của ông. Chúng đưa ra một tấm giấy viết lằng ngoằng chữ Pháp và có con mộc đỏ chói, nói rằng, vùng đất sân chim đã là của Hương quản, gia đình ông ở đây là bất hợp pháp, Tên hương quản tự tay bật lửa thiêu đốt căn nhà mà gia đình ông đang ở.

Chịu không nổi, ông và cậu con trai cầm mác xông vào chém chúng, Chỉ ngay nhát mác đầu tiên, đầu tên Hương quản đã lìa khỏi thân, Cậu con trai của ông lao vào chém gãy tay một tên lính Pháp, song ngay lập tức bị một phát súng mút cơ tông của mấy tên còn lại bắn chết, Chúng trói thúc khửu tay ông lại và chuyển lên Sài Gòn, nhốt vào Khám Chí Hòa.

Trong phiên tòa Đại hình tại chợ Lớn, nhà cầm quyền Pháp tuyên bố tử hình ông vì tội cố sát người Pháp, Chúng đem ông vào nhốt tại Xà lim tử tù tại Khám Chí Hòa. Thời gian chờ lên máy chém thật là gian nan khủng khiếp đối với những người như ông. Mỗi khi nghe tiếng loảng xoảng mở khóa cửa, là ông lại chuẩn bị cho việc lên máy chém. Thường những cuộc xử án tử hình vào khoảng tang tảng sang. Chính vì thế, những tử tù như ông thường phải lấy ngày làm đêm, còn ban đêm thường thức trắng, phập phồng chờ giây phút bọn lính đến lôi đi. Thời gian chờ đợi lên máy chém còn đáng sợ hơn cả cái chết, nó làm cho con người ta mềm nhũn cả tinh thần, lo âu, thấp thỏm, ăn không ngon, ngủ không yên. Mãi đến gần sáu tháng sau ngày tòa tuyên án tử hình, một buổi sáng nghe tiếng loảng xoảng lạnh người của cánh cửa sắt mở ra, ông bị hai tên Mã Tà còng tay giải ra khỏi Đề Lao.

Lên tới một căn phòng rộng, đã thấy bốn người bạn tử tù như ông đang ngồi dưới đất. Cạnh một cái bàn có một người Việt nhỏ bé và một ông Tây mũi lõ, tóc xoăn đang nhìn họ chằm chằm. Họ xi lô, xi la cái gì đó mà ông không hiểu, cuối cùng người Việt kia bắt tay ông Tây và ra lệnh từng người tù điểm chỉ vào một tờ giấy có đóng mộc đỏ. Chúng dồn mọi người ra một cái xe bịt bùng và nổ máy phóng đi. Qua một lỗ thủng ở vách xe, ông và những người tử tù thấy chiếc xe đang lao nhanh về hướng Tây Ninh, Hóc Môn, Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu,.. Lần lượt hiện ra qua lỗ nhỏ ở vách xe, Mọi người vô cùng thắc mắc về chuyến đi này. Thông thường, nếu bị xử chém, chúng đâu cần đưa đi đâu xa, Từ Khám Chí Hòa lên tới Bình Hưng Hòa chỉ có vài Km đường. Không hiểu chúng có âm mưu gì mà lại đưa họ lên tận Tây Ninh, Cuối cùng, chuyến xe cũng dừng lại và họ bị xô xuống xe, Ngẩng đầu nhìn lên, ngọn núi Bà Đen cao thăm thẳm lừng lững ngay trước mặt họ. Đến lúc này, người Việt nhỏ bé kia mới quay ra nói với năm người tử tù. Tôi là một nhà Địa chất chuyên thám hiểm các hang động ở khắp đất Đông Dương này, Bữa nay tôi xin được với Chính phủ Pháp một đặc ân cho các ông. Tôi cần các ông cùng tôi xuống thám hiểm Hang Gió của núi Bà Đen này, Công việc rất khó khăn và nguy hiểm. Nếu thành công, các ông được hoàn toàn tự do và được xóa bỏ án tử hình. Còn,... nếu thất bại,... thì âu cũng là tại số phận của các ông. Thôi thì đằng nào cũng chết cả, nhưng làm cho tôi, nếu phải chết thì cái chết của các ông sẽ là có ích cho dân tộc Việt Nam. Ngay lập tức, những cái gông gỗ nặng trịch được cởi bỏ, Năm người tử tù vươn vai hít thở không khí tự do tưởng đã mất đi vĩnh viễn. Tiếp theo những ngày sau đó, họ tập trung hết nỗ lực để tiến hành thám hiểm cái hang không đáy này. Một cái ròng rọc bằng gỗ có một sợi dây dù rất to, nối liền với một cái giỏ mây to có gắn đèn pha sử dụng Ắc quy được đặt trên miệng hang. Người ta trang bị cả dao găm, súng Mút Cơ Tông với đầy đủ đạn dược cho những người thám hiểm. Ngày cuối cùng, sau khi mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất, viên Kỹ sư Địa chất tổ chức khao quân ngay tại miệng hang. Một bữa tiệc lớn được tổ chức có đủ rượu NAPOLEON, thịt thú rừng và cả những món hải sản nữa. Đã từ lâu những người tử tù mới được một bữa no say đến như vậy. So với những bữa tiệc cuối cùng trong cuộc đời tử tù thì đây quả là một Thiên đàng, Ít nhiều, họ vẫn còn cái cơ may được sống và trở về với gia đình, dù cơ may đó vô cùng nhỏ nhoi.

Ngày hôm sau, từ sáng sớm, viên Kỹ sư Địa chất đã kêu mọi người ăn no, nai nịt gọn gàng để xuống hang. Mọi phương án bất trắc đã được tính toán kỹ từ hôm qua, bây giờ chỉ còn phụ thuộc vào mỗi,.. ý Trời. Năm người tử tù được phân ra làm ba tốp. Hai người xuống trước, hai người ở miệng hang để quay ròng rọc, một người nữa và viên Kỹ sư sẽ xuống sau, Quái nhân lần này may mắn là được tháp tùng viên Kỹ sư xuống hang lần thứ hai. Sau khi viên Kỹ sư chúc phúc cho hai người tử tù đầu tiên xuống hang, họ ngồi vào trong cái giỏ mây và ròng rọc được thả xuống. Một không khí im lặng bao chùm không gian, tiếng hơi thở gấp gáp của hai người điều khiển ròng rọc nghe rõ mồn một. Ánh sáng của ngọn đèn ắc quy cứ mờ dần, mờ dần theo từng mét dây được thả xuống, 10 mét, 20 mét, 30 mét, cái trục tời cứ từ từ nhả ra từng mét dây một trong im lặng đến rợn người, 40 mét rồi 50 mét. Bỗng nhiên từ dưới hang vọng lên một tiếng thét rợn cả tóc gáy, rồi tất cả lại im bặt. Dây tời tự nhiên nhẹ bỗng, viên Kỹ sư vội thúc hai người phụ trách quay tời, kéo giỏ lên cho nhanh, Khi giỏ mây kéo lên đến nơi, người ta thấy một đám máu loang lổ khắp cả thành giỏ - Hai người tử tù đã biến mất tăm,.. Nét thất thần hiện rõ trên gương mặt viên Kỹ sư và những người tử tù còn lại,. Là một con người sắt đá, viên Kỹ sư quyết không bỏ cuộc giữa chừng. Uy tín và danh dự của một nhà Địa chất chuyên về hang động không cho phép ông được bỏ cuộc. Sau khi nạp đạn và lên cò sẵn hai khẩu Mút Cơ Tông, viên Kỹ sư cùng Quái nhân lại bước vào giỏ mây và hành trình đến với Thần Chết lại được bắt đầu. Từng mét dây lại được trục tời thả ra, cái giỏ lại từ từ chìm vào màn đen của hang động, 40 mét, 50 mét, Viên Kỹ sư giật dây ra hiệu cho bên trên dừng lại, Ánh đèn ắc quy mờ mờ, ảo ảo soi vào thành hang ẩm ướt, Tay lăm lăm khẩu súng đã lên đạn, hai người cố căng mắt nhìn vào bóng tối mờ ảo. Một sự im lặng đến rợn người trùm kín hai người, Ra hiệu cho bên trên thả tiếp, Cái giỏ mây lại từ từ trôi xuống trong cái lạnh giá và tối tăm của Âm Ty - Địa ngục. Bỗng nhiên từ hai phía thành hang, có tiếng hực lên và một cơn cuồng phong ào ạt thổi tới, Trong ánh đèn mờ mờ, hai người thấy một cặp mãng xà cực lớn đang trườn tới. Đuôi của chúng cuốn chặt vào một doi đá nhô ra, hai cái đầu to tướng há ngoác phun nọc phì phì, Điều lạ là trên đầu chúng có cặp mào đỏ như mào gà trống. Máu trong huyết quản hai người như đông cứng cả lại, chân tay như bị tê liệt.

Khẩu súng trong tay viên Kỹ sư bất thần nhả đạn, Viên đạn bay vào vách đá văng lại vào trúng thân một con mãng xà, Nổi điên, con mãng xà văng người cuốn tròn lấy cái giỏ mây có hai người ở trong xiết chặt, Tiếng súng như làm cho Quái nhân chợt bừng tỉnh. Ông ta cầm chắc khẩu súng nhằm thẳng vào cái miệng đang há ra đớp viên Kỹ sư và nổ súng, Một tiếng súng chát chúa vang lên, cái đầu con mãng xà lặc lìa, nhưng trong cơn dãy chết, nó cuốn mình xiết chặt cái giỏ và bất thần cái đuôi của nó như một cơn lốc đập vào cái giỏ mây một phát trời giáng, Cái giỏ mây lộn tùng phèo trên không trung, hắt tất cả văng xuống phía dưới. Viên Kỹ sư cắm đầu, rơi tự do vào khoảng không tối đen mịt mù cùng với xác con rắn. Quái nhân cũng bị hất tung lên cực mạnh bắn về một bên thành hang, nơi đây có một nhánh nằm ngang ăn thông với lòng hang. Cú rơi cực mạnh làm Quái nhân đập đầu vào đá bất tỉnh. Ở trên kia, nghe tiếng súng và thấy cái giỏ mây nhẹ bỗng, hai tử tù còn lại vội vàng cắm đầu chạy xuống núi, Không gian trở lại yên tĩnh như núi Bà Đen luôn trầm mặc trước mọi thăng trầm của con người.

Tỉnh dậy, Quái nhân thấy xung quanh mình một thứ ánh sáng xanh dịu đang bao trùm, Một sự yên tĩnh kỳ lạ trùm khắp không gian, Tít trên nóc hang, những nhũ đá rủ xuống cũng sáng xanh như đèn Neon. Cái cảm giác đau đớn hoàn toàn biến mất. Lạ thay, sau cú va chạm khủng khiếp như vậy, tưởng rằng thương tích sẽ đầy mình, Lão đưa tay rà khắp thân thể - Thật là diệu kỳ, không có đến cả một vết bầm tím.

Thấy đói bụng, Lão đi vòng quanh hang để tìm kiếm thức ăn, Thật là xui xẻo, khắp hang, Lão chỉ tìm được một nắm lá cây có dạng như Dương Xỉ, nhưng khi ăn có một vị bùi, béo vô cùng, Hết nằm lại ngồi, Lão suy nghĩ tìm đường ra khỏi hang. Đường theo miệng hang mà lão rơi xuống thì không thể trở lại được nữa rồi, Chỉ còn con đường duy nhất là lần theo đường hang nằm ngang xem sao, Tẩn mẩn, lão vớ một cục đất trăng trắng ngay bên thành hang đưa vào miệng nhai nhai cho đỡ buồn. Lạ thay, khi vừa đưa vào miệng, một mùi thơm phảng phất như mùi bánh khảo. Nhai thêm một chút, có vị bùi bùi như ăn gan lợn, Thấy hay hay Lão nhai và nuốt liên tục đến khi no căng. Lần ra dòng nước nhỏ trong vắt chảy trong lòng hang, lão uống thêm mấy ngụm nước coi như xong bữa cơm thịnh soạn, Việc phát hiện ra thứ đất ăn được, khiến lão thêm yên lòng, chờ cơ hội thoát ra khỏi hang.


Thế Giới Bùa Ngải (Còn tiếp)

TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG “Phần II”
quenhetroi  
#17 Posted : Friday, February 3, 2017 1:20:29 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Nàng Thanh bỗng nói:

- Chàng đa biết tên của chúng thiếp rồi, nhưng thiếp chưa đuợc hân hạnh biết tên chàng. Chàng có thể cho thiếp biết tên chàng, để chúng thiếp gọi cho thân mật hơn.

- Không phải ta không cho nàng biết tên của ta, nhưng chính ta cũng chẳng còn nhớ tên của ta là gì nữa kìa!.

- Chàng nói thế, thiếp không dám ép. Nhưng chàng có thể đoán được tên của chúng thiếp không?

- Các nàng đều dùng màu áo mà đặt tên, thì ta cũng có thể đoán ra được ít nhiều. Các nàng đều dùng chừ Giáng cộng thêm màu sắc mà thành tên.

- Uả! vậy Giáng Hương là gì của các nàng nhỉ?

- Thiếp gọi Giáng Hương bằng chị, Nàng không còn ở dưới này nữa, Nàng đã mãn hạn và về nhà lâu rồi. Uả! Chàng cũng biết nàng Giáng Hương sao?

- Ta có đọc sách và được, các cụ kỵ của ta kể về giai thoại của nàng. Ta cũng mong có ngày đuợc gặp hậu duệ của nàng. Không ngờ bây giờ lại gặp các chị em của nàng. Thôi để ta đoán thử, tên các nàng nhé.

- Xin chàng cứ tự nhiên.

- Nàng áo trắng chắc được gọi là chị cả, tên nàng có thể là Giáng Bạch, Nhưng Giáng Bạch nghe không đuợc hay lắm. Ta nghĩ nàng tên là Giáng Tuyết mới đúng hơn.

- Hay
- Nàng mặc áo Xanh Lục nên được gọi là Giáng Thanh
- Nàng mặc áo đỏ chắc được goi là Giáng Tử
- Sai
- Sai rồi, vậy sao? Thôi để sửa sau, ta nói tiếp

- Màu Trắng = Giáng Tuyết
- Màu Xanh = Giáng Thanh
- Màu Đỏ = Giáng Tử - sai rồi
- Màu Hồng = Giáng Hồng hoặc Giáng Hường
- Màu Đen = Giáng Huyền
- Màu Vàng = Giáng Hoàng
- Màu Lam = Giáng Lam
- Màu Tím = Giáng Tía

- Hay lắm, xin chàng cứ tiếp. Nhưng Màu Hồng là Giáng Hồng hoặc Giáng Hường chàng chỉ được chọn một.

- Ngoài Giáng Hồng hoặc Giáng Hường ra, Ba nàng sau đây ta không biết gọi là gì, để cho ta suy nghĩ chút coi có thể đoán ra tên các nàng không?

- Màu Cam = Giáng Cam, không đúng
- Màu Nâu = Giáng Chàm cũng không phải
- Màu Đỏ = Giáng Tử đã sai rồi.
- Màu Hồng là Giáng Hồng hoặc Giáng Hường đây ta!!!

- Chàng có cần sự trợ giúp không? Chàng cứ hỏi, các cụ đang ngồi ở Quán phở trong làng ngoài kia. Các cụ sẽ nhắc cho chàng nhớ.

- Đúng rồi nhỉ, Ta cần sự trợ giúp của các cụ.

- Các cụ ơi! Cụ Ngủ Ngáy To, Cụ Phi Phi, Cụ Vyvy, Cụ Tý Trễ và toàn thể các cụ đang ngồi trong quán phở và các giai nhân cũng đang hiên diện tại quán. Xin các cụ và các giai nhân giúp quenhetroi tên của các nàng duới đây, quenhetroi xin đạ ta các cụ và các giai nhân.

- Màu Cam = Giáng
- Màu Nâu = Giáng
- Màu Đỏ = Giáng
- Màu Hồng = Giáng Hồng hoặc Giáng Hường

Ta có thể gọi Màu Đỏ là Giáng Hồng và màu Màu Hồng là Giáng Hường được không các cụ?

quenhetroi  
#18 Posted : Thursday, February 16, 2017 1:33:00 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)

TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG - Phần II

Sau khi no nê, Quái nhân leo lên một phiến đá phẳng tính ngủ một lúc. Khi Lão vừa đặt lưng xuống, giống như đụng phải ổ kiến lửa phải bật ngay dậy. Thì ra viên đá đó lạnh ngắt như một tảng băng, Xem xét kỹ viên đá, lão nhận ra đây là một viên đá Thạch Anh tím cực kỳ lớn. Một điều khiến Lão vô cùng phân vân, hình như viên đá này không phải có sẵn ở nơi này mà có nguồn gốc ở chỗ khác bởi hình thể và tính chất của viên đá không giống như các loại đá ở hang. Không thể nằm trên mấy phiến đá đen đó được. Quái nhân lững thững ra một phía vách hang thẳng đứng phía trước. Thật là diệu kỳ, trên vách hang, qua ánh sáng xanh của đá, Quái nhân phát hiện những dòng chữ vô cùng lạ lùng. Những dòng chữ này không phải khắc trên đá mà như ẩn chìm trong đá, thật thật, hư hư. Đến gần vách đá và chăm chú nhìn kỹ những hàng chữ, Quái nhân vô cùng kinh ngac.

- Chẳng lẽ ngày xưa nơi đây đã có người ở ???

Ngay tại chân vách đá, có một viên đá hình trụ giống như một cái cối xay lúa, Quái nhân bước lên để xem những hàng chữ cho rõ hơn, Lại một bất ngờ nữa xảy ra trong thân thể ông. Từ lúc bước lên cái cối đá đó, Quái nhân cảm thấy trong người có một nguồn Sinh lực cực kỳ mạnh, thấm nhanh vào lục phủ ngũ tạng. Càng ngày, Khí lực ngấm vào thân thể càng mạnh, Một sự sảng khoái vô cùng vô tận tràn ngập thân thể Quái nhân. Nhớ lại cách một ông sư ngày xưa ở gần nhà vẫn ngồi - Lão bắt chiếc ngồi thử kiểu Kiết già, Loay hoay mãi, hết kéo chân nọ gác lên chân kia đau điếng, cuối cùng sau rất nhiều nỗ lực, Lão đã có thể ngồi Kiết già trên cái cối đá đó. Gần như vô thức hay có một sự chỉ dẫn của các đấng vô hình. Quái nhân bắt đầu vận khí theo vòng Nhị Thiên, Tam Thiên di chuyển. Cụ thể,ví như vòng Nhị Thiên, đầu tiên quán tưởng cho hơi thở (gọi là Minh châu )nơi Huyệt Huê quang. Bắt đầu hít vô chuyển cho Minh châu lên Thượng đài, chạy vòng xuống Huyệt Ngọc chẩm rồi xuống Huyệt Giáp tích. Ngưng lại nơi đây, nuốt tân dịch từ từ cho rơi xuống Hạ điền (Rốn ), nằm nơi đó, rồi bắt đầu chuyển từ Huyệt Giáp tích xuống Huyệt Vĩ lư, tới Huyệt Trường cường, sau đó tách ra làm hai bên và đi vòng xuống hai chân, ngưng nơi hai ngón chân cái rồi thở nhẹ ra(Quán tưởng đưa tất cả trược trần xuất ra ngoài 2 ngón chân cái.).

Tiếp tục hít hơi vô, cảm thấy 2 làn Điển quang từ ngoài chạy vào 2 ngón chân cái(Cảm thấy mát lạnh ), chạy trở lên Huyệt Trường cường rồi đến Vĩ lư, lên nữa cho đến Giáp tích và ngưng lại đó, nuốt Tân dịch lần nữa đưa về Hạ điền, nằm lại đó. Bắt đầu chuyển tiếp từ Giáp tích ra hai tay, chạy đến 2 ngón tay cái thì ngưng lại và thở nhẹ ra (Ý tưởng đưa tất cả trần trược xuất ra ngoài ngón tay cái ).

Sau đó lại bắt đầu hít vô, cảm thấy có hai lằn Điển chạy vào từ 2 ngón tay đến Giáp tích rồi lên Huyệt Ngọc chẩm, đến Thượng đài rồi trở lại Huê quang. Như vậy là đã đi hết một vòng Châu thiên -Hành như vậy mỗi lần 36 vòng. Từ khi bắt đầu các vòng Đại, Tiểu Châu Thiên vận chuyển trong người lão, hàng loạt Luân xa trong con người lão được khai mở, Khí lực trong con người Lão vô cùng sung mãn, Nhiều lúc, thấy thân thể quá nóng, Lão lại ra ngồi trên những phiến đá đen để điều hòa thân nhiệt. Quái nhân đã hấp thụ được một sinh lực vô cùng xung mãn, đủ cả Âm - Dương, Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Lão đã có một thành công lực bằng nhiều người tu luyện cả đời. Cho tới một ngày, khi đang ngồi nhập định, điều tiết cho dòng Khí trong người tuần hoàn theo Đại - Tiểu Châu Thiên, Lão bỗng nghe một tiếng nói văng vẳng bên tai:

" Con hãy đọc theo ta "

Ngạc nhiên, Lão ngó mông lung ra xung quanh xem ai nói, nhưng hang động vẫn tĩnh lặng không có một bóng người ngoài chính bản thân Lão. Ba ngày liên tiếp, vẫn giọng nói đó vang vọng bên tai :

" Con hãy đọc theo ta ",
SI ỐP RÂY - MI CA MI MÍT,
SI ỐP RÂY - MI CA MI MÍT,
SI ỐP RÂY - MI CA MI MÍT,
SI ỐP RÂY – MI CA MI MÍT,...."

Lão gần như thụ động đọc theo, đọc mãi theo giọng nói kia :

SI ỐP RÂY – MI CA MI MÍT,
SI ỐP RÂY – MI CA MI MÍT,
SI ỐP RÂY – MI CA MI MÍT,...

Cho tới lúc đọc thật nhanh, lưỡi lão đã quíu cả lại và ngay lập tức, một tràng tiếng lạ tai từ miệng Lão cũng tuôn ra như nước chảy mây trôi :

SI ỐP RÂY - MI CA MI MÍT
LA TI SAT
CAT ĐÔ NA
PA RA TI
CHI CHA RA
NA TA LI,.....

Lão cứ ngồi như vậy và miệng liên tục tuôn ra những câu chữ lạ mà bản thân Lão chẳng hiểu mô tê gì, Liên tục hơn mười ngày sau, giọng nói đó cứ khuyến khích, nhắc nhở Lão tiếp tục công việc đó.

Những ngày cuối cùng, Lão đã dần dần hiểu được mình đang nói cái gì ??? Ngày một tiến bộ, Lão đã có thể nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ lạ tai đó với giọng nói vô hình kia. Thì ra, người đó là Thày Tổ nhiều đời, nhiều kiếp của Lão, Qua trao đổi với Thày Tổ, Lão biết rằng trong nhiều kiếp trước, Lão đã từng theo học rất nhiều Thày Tổ bằng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, Các Thày Tổ cũng nhiều người hiện về, nói chuyện và dạy Lão những điều mà kiếp trước Lão đang học dở dang, kiếp này Lão chỉ là tiếp tục những gì đang học dở. Một thời gian ngắn sau nữa, Lão cũng đã đọc thông viết thạo được rất nhiều loại chữ Vô Vi. Chỉ sau một thời gian không lâu, Lão đã có một kho kiến thức mà những nhà nghiên cứu dành cả đời tâm huyết cũng không bằng một góc của Lão. Mỗi khi có vấn đề gì nan giải, Lão lại dùng các loại ngôn ngữ của Thày Tổ để hỏi và câu trả lời thường là những bài giảng hết sức chính xác và súc tích, Có một điều lạ Lão nhận ra là : Có những chuyên môn rất xa lạ với cuộc sống bên sân chim trước kia, nhưng khi được nghe Thày Tổ giảng giải, Lão hiểu và nhớ liền và lại cảm thấy rất thân thuộc. Lão cũng biết rằng Lão đang theo học các Thày Tổ Vô Vi Phật Pháp, Vô vi nghĩa là không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô vi là Hữu vi (有爲, sa. saṃskṛta), cũng thường được hiểu là “Không làm”.

Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các pháp còn lại đều là hữu vi. Quan niệm này được lưu lại trong Thượng toạ bộ (pi. theravādin) và Độc Tử bộ (sa. vātsīputrīya). Tất cả những bộ phái khác đều dần dần thay đổi cách sử dụng danh từ này. Đại chúng bộ chấp nhận 9 pháp vô vi.

Đó là hai cách Diệt độ (sa., pi. nirodha), trong đó một loại (1.) được đạt bằng sự phân tích phân biệt, gọi là Trạch diệt (sa. pratisaṃkhyā-nirodha), tương ưng với Niết-bàn.

Loại Diệt thứ hai (2.) được đạt không qua sự phân tích, phân biệt (phi trạch), được gọi là Phi trạch diệt (sa. apratisaṃkhyā-nirodha), liên hệ đến những lậu hoặc (ô nhiễm) mà một A-la-hán không còn vướng mắc.

Được xếp vào vô vi pháp nữa là Hư không (3.),
Không vô biên xứ (4.),
Thức vô biên xứ (5.),
Vô sở hữu xứ, tức là cái “không có gì” (6.),
Phi tưởng phi phi tưởng xứ (7.),
nội dung của thuyết Duyên khởi (8.)
và Bát chính đạo (9.).

Thuyết nhất thiết hữu bộ công nhận ba pháp vô vi là Hư không và hai loại Diệt trên. Duy thức tông liệt kê thêm vào ba vô vi pháp này một loại Diệt bằng một trạng thái thiền định an vui bất động, sự chấm dứt suy nghĩ và thụ cảm của một A-la-hán và Chân như (sa. tathatā). Pháp Tạng bộ (sa. dharmaguptaka) xếp vào loại vô vi pháp Chân như và sự “Trường tồn của mọi pháp.” Dưới “Trường tồn của mọi pháp” họ định nghĩa rằng cái đặc tính gì không biến đổi của nó (sự không biến đổi của nó chính là sự biến đổi) và định luật nhân quả (Nghiệp) cũng như một vài trạng thái Định. Khi học theo Vô Vi Pháp, Lão đã trực tiếp liên hệ được với Thày Tổ nhiều đời, nhiều kiếp mà Lão từng theo học và một điếu đặc biệt hơn nữa, Lão đã tiếp cận được kho kiến thức khổng lồ của Vũ trụ mà không một thư viện nào của con người sánh được. Lão cũng nhận thấy rằng, bản thân những kiến thức về Quy Luật Vũ Trụ, tương tác đến đời sống con người, tuân theo những quy luật đơn giản và tổng quát, nhưng vì con người không nắm được nên cứ càng ngày lại càng làm cho nó rối rắm thêm lên. Kết quả là đi sai và quá xa những cái nguyên lý ban đầu, Cũng có lẽ vì lý do đó mà những kiến thức từ hàng ngàn năm trước lại chính xác và tinh tế hơn những gì mà loài người đang hiểu biết trong thời đại gọi là KHOA HỌC này.

Quái nhân lại được Thày Tổ dạy thêm về Pháp Thuật và Võ công, Cách học võ của Lão cũng vô cùng quái lạ. Sau khi ngồi Kiết già, thiền định một lát là lại có giọng nói chỉ điểm. Con hãy đọc theo ta:

IN TA SI PHÉP MI,
IN TA SI PHÉP MI,
IN TA SI PHÉP MI,
IN TA SI PHÉP MI,...

Lão lập tức làm theo, mới đọc được khoảng hơn 20 lần, tự nhiên Lão thấy tay, chân mình chuyển động nhịp nhàng như múa, Hai bàn tay của lão thay nhau phóng ra một dòng Khí mờ đục, liên miên bất tận. Những khi chuyển bộ theo những hình Lão chưa thấy bao giờ, bàn chân Lão thoăn thoắt phóng ra những cú đá kinh thiên động địa.

In Ta Si Phép Mi,
In Ta Si Phép Mi,
In Ta Si Phép Mi,..

Phụng Thỉnh Phật Kim Cang

- Bát Bộ Vận Chuyển
- Chuyển Vận Toàn Pháp
- Linh Linh Tâm Hiện
- Minh Kinh Khai Tốc
- Xuất Hóa Hiện Bá Thiên
- Vạn Pháp Tà Thần Kinh
- Bát Nhã Ba La Mật Đa,..

Miệng đọc, tay múa quyền, chân chuyển động theo bộ pháp nhanh như mây trôi gió cuốn, Thỉnh thoảng hứng chí, Lão lại phát chưởng vào vách đá - Một tiếng nổ ầm vang động, bụi đá bay ra trắng xóa như một cơn cuồng phong, Đắc chí, Lão cười phá lên vang động cả lòng hang : HA, HA, HA,..

Thày Tổ còn chỉ thêm cho Lão biết rằng : Nếu Lão chỉ có tay không thì bài quyền trên đã là không có địch thủ rồi, Nếu Lão cầm trong tay một thanh gỗ, tưởng như một thanh kiếm thì những đường kiếm trác tuyệt sẽ tự động bung ra, ngay cả những Sa Mu Rai Nhật Bản cũng khó bì kịp lão. Ngược lại, chỉ cần lão tưởng đó là một ngọn giáo thì ngay lập tức những bài múa giáo cũng bung ra và trong thiên hạ, có lẽ không thua ngọn giáo của Triệu Tử Long trong trận Đương Dương - Trường Bản.

Phương pháp này hoàn toàn theo ý và theo những khẩu Quyết tự hiện ra trong đầu Lão, Vô chiêu dùng thắng hữu chiêu - Chính vì vậy kẻ địch không làm sao đoán được các thế tiếp theo, Những câu Quyết cứ tự động tuôn ra trong đầu Lão:

Ngũ Hành Cương Khí
- Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ Chuyển Thông
- Aum Mani Padme Hum Brum
- Nam Mô A Di Đà Như Lai Phật Tổ Chứng Minh
- Thống Nhất Chỉ Thần Công
- Giải Phá Toàn Thân Khai Thông Bá Mạch
- Khí Huyết Lưu Thông
- Tam Hoa Tụ Đỉnh
- Ngũ Khí Triều Nguyên,.....

Kể từ đó, hai ông Thày ( Thày Bảy và Thày Chàm ), được sự giúp đỡ của Quái nhân trong hang động ra sức học tập. Hàng ngày vào đúng các thời TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU, hai Thày ra ngồi luyện trước vách đá, Các vị Sư phụ của các kiếp trước lần lượt về để dạy cho họ những bài học khác nhau của Huyền môn Vô Vi và võ thuật.


Còn Tiếp
TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG - Phần III
quenhetroi  
#19 Posted : Tuesday, February 28, 2017 5:32:05 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Thế Giới Bùa Ngải "tiếp theo và hết"

TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG - Phần III


Thấm thoắt đã 20 ngày trôi qua kể từ khi xuống lòng hang, mà hai ông Thày tưởng như đã bao nhiêu đời kiếp. Nhưng cũng chính từ những tháng ngày khổ ải ấy, 2 ông thầy đã được tu luyện 1 nội công cực kì thâm hậu. Lão Quái nhân gọi hai người ra căn dặn :

" Các ngươi đã đến lúc phải đi làm nhiệm vụ của mình, những gì mà HỒNG BÀNG TIÊN MẪU đã truyền cho các ngươi, các ngươi ráng làm cho tròn phận sự. Thôi, đã đến lúc hai chúng ngươi phải dời đây rồi..."

Nói rồi lão Quái nhân phất tay dợm lui vào trong. Từ trên miệng hang, bỗng nổi lên một làn gió lạnh đầy tanh hôi và tiếng kêu khóc than oán vang vọng. Hai ông Thày vội quay ra nhìn - Lúc này, Linh hồn hai mẹ con cô Lan đang quỳ dưới nền hang và kêu khóc như mưa. Tiếng kêu khóc ai oán, não nề, u uất khiến cho Lão Quái nhân tưởng như sắt đá cũng không còn lạnh lùng được nữa. Tiếng kêu khóc muôn sầu, muôn thảm lúc này đang vang vọng khắp không gian. Lúc đó Lão Quái nhân chợt ngân nga một câu chỉ điểm của

ĐẠI BI SÁM PHÁP

Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con hướng về lửa, nước sôi,
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi Địa-ngục,
Địa-ngục liền mau tự tiêu-diệt.
Nếu con hướng về loài Ngạ-quỉ,
Ngạ-quỉ liền được tự no đủ.
Nếu con hướng về chúng Tu-la,
Tu-la tâm ác tự điều phục.
Nếu con hướng về các Súc-sanh,
Súc-sanh tự được trí-huệ lớn.

Đọc xong Lão lại cúi đầu lững thững bước vào hang. Khi lão Quái nhân vừa khuất sau những vách đá, hai ông Thày vội vàng đến bên Vong hồn hai mẹ con cô Lan kêu dạy. Cô Lan vẫn quỳ dưới đất và nức nở nói đứt quãng :

-Về ngay đi hai Thày ơi, ở nhà có chuyện to rồi......hu hu.

Ngạc nhiên, cả hai Thày vội nói :

- Có chuyện gì vậy, nói ngay đi xem sao.

Cô Lan vẫn nức nở, kể trong tiếng nấc nghẹn ngào :

- Ngày hôm qua, nhân thấy hai Thày đi vắng đã lâu chưa thấy về, lão thày Chà đã tung toàn bộ lực lượng, đánh thần tốc vào nơi ông bà Bảy đang sinh sống và thờ phụng. Chắc có lẽ lão thày Chà hận ông thày Bảy tiếp tay cho thày Chàm chống lại hắn. Bà Bảy cùng toàn thể các sư - huynh đệ trong môn phái hết sức chống trả, nhưng công lực của lão thày Chàm quá mạnh. Bà Bảy bị lão thày Chà đánh trúng một đòn trọng thương, người trưởng Tràng là một đệ tử yêu quý nhất của ông bà Bảy bị cặp rắn Thần cắn chết tươi ngay tại sân nhà ông Bảy. Hầu hết những đệ tử của ông bà Bảy đều trúng thương người nặng, người nhẹ. Toàn bộ bàn thờ Tổ qua bao nhiêu năm ông bà Bảy thờ phụng trang nghiêm là thế bị lão Thày Chàm dùng chưởng đánh cho đổ sập, tan nát. Hiện nay, mọi người đang thay nhau trị thương và dọn dẹp chiến trường. Lũ Thiên Linh và hai mẹ con con cũng bị lũ Thiên Linh của lão thày Chàm đánh cho sất bất sang bang. May mà hai mẹ con trốn đi kịp, tìm khắp nơi mới thấy hai Thày ở đây. Các Thày về mau, bà Bảy nguy lắm. Nói rồi hai mẹ con lại ôm nhau nức nở.

Hai ông Thày nín lặng mà thấy đắng trong miệng. Mãi một lát sau bình tĩnh lại, họ cùng ra trước vách đá của Thày Tổ Vô Vi thưa chuyện và xin phép được về nhà gấp. Sau khi được chuẩn y, họ cùng lạy tạ Thày Tổ và lão Quái nhân chuẩn bị cùng hai mẹ con cô Lan ra về.

Lần này, vách hang cao thăm thẳm không còn là chướng ngại đối với hai ông Thày nữa. Cả hai ông Thày dùng thuật Khinh công mà họ học được, phóng băng băng từ vách hang này sang vách hang kia. Chả mấy chốc, họ đã lên đến cửa hang. Ngoài kia, bóng chiều đang mờ dần, chỉ ở phía tít đằng xa phía Huyện Châu Thành, ông mặt Trời đang từ từ chìm xuống sau màu xanh mịt mù của rừng già biên giới.

Có gì của ta đâu ?
Từ thân thể đến đầu.
Có gì của ta đâu ?
Sao cứ mãi sầu đau.
Có gì của ta đâu ?
Một khi thân tứ đại,
Tan rã sẽ về đâu ?
Tan rã sẽ về đâu ?
Sao cứ mãi âu sầu,
Một khi hơi thở dứt,
Chút nghiệp năng bể dâu,
Sao cứ mãi âu sầu.
Một khi hơi thở dứt,
Chút nghiệp năng bể dâu,
Có gì của ta đâu ?
Sao cứ chấp mong cầu ?
Có gì của ta đâu ?
Sao cứ mãi sầu đau.
Có gì của ta đâu ?
Một khi hơi thở tận,
Trăm chấp nặng chìm sâu.

Tối hôm đó, khi bốn người (Thực ra chỉ có 2 người và 2 ma) về đến nhà. Bước vào tới cửa nhà, nhìn bàn thờ Tổ bị đổ nát tan hoang, tượng Phật, tượng Thần vỡ tan nát, chiếc khăn Ấn màu đỏ bị cháy quá nửa.Bà Bảy chùm mền nằm trong góc nhà, mặt bà sạm đen và có những lằn xanh chạy như những lằn roi trên thái dương. Cả khu nhà trước nay đồ sộ như vậy, nay mái lá, kèo cột đổ nát tan hoang. Ngoài sân, chiếc quan tài màu đỏ gác lên hai chiếc ghế, đèn nhang sáng quắc. Một vòng hoa rừng làm vội được đặt ở phía đầu quan tài. Hơn một chục đệ tử của ông thày Bảy, chỉ còn một hai người bị thương nhẹ, cố gắng gượng dậy để lo việc nhà. Số còn lại đều phải nằm trên võng hoặc trên giường để mọi người trị thương. Ông Bảy lúc này khuôn mặt đen sạm, lầm lỳ không nói một câu nào. Còn thày Chàm đang ứa hai dòng nước mắt đầy hận thù. Hai ông Thày liền bước đến chỗ bày Bảy, đỡ bà ngồi dậy. Bà Bảy nhìn ông Bảy cũng ứa lệ. Hai người đỡ cho bà Bảy ngồi theo thế kiết già, một người đằng trước, một người đằng sau, họ cùng xòe cả hai bàn tay hướng về bà Bảy vận công. Giọng ông Bảy trầm hùng đọc chú :

" Thoái ra tít ra
Mặc ca rây
Ô ra ca rây
La mít tặt lô mít
Cạc si sê
Mạc mo rây tóc tít
Say ti phu mi na sát nát ".

Phía bên kia, ông thày Chàm cũng sang sảng :

“Phật Tổ Lục độ chứng minh
Vận chuyển, chuyển vận
A ca rây danh nắc
A lăng phăng mắc mắc ".

Đó là hai ông Thày đang vận chân khí, dùng Vô Vi Pháp gọi là Phật Khí Công để tụ nội ngoại lực Khí, đả thông kinh mạch và trục chất độc ra cho bà Bảy. Một lát sau, toàn thân bà Bảy mồ hôi đổ ra như tắm, trên đầu một làn sương trắng cứ bốc cao dần lên gần tới nóc nhà. Những đường gân xanh trên mặt bà Bảy mất dần, mặt bà đỏ hồng trở lại. Mãi một lúc sau hai Thày mới thu chân khí và ngồi điều tức. Bà Bảy đã khỏe hẳn trở lại. Suốt đêm hôm đó, hai Thày liên tục vận chân khí, trị thương cho các đệ tử của mình. Khi người đệ tử cuối cùng trị thương xong, vừa lúc ánh mặt trời ló rạng ở hàng tre trước mặt.

Một lúc sau, phường Bát âm lục tục kéo đến, tiếng đờn cò, tiếng mõ, tiếng nỉ non của cây nhị tạo thành một dàn hợp sướng đầy bi ai, thống thiết. Người ta đi kéo về một chiếc thuyền Bát Nhã và khênh quan tài người Trưởng Tràng đặt lên đó. Một chén cơm trắng vung đầy, có quả trứng và cây đũa bông đặt ở trên. Dàn nhạc lễ đi trước, mọi người lầm lũi đi sau thuyền Bát Nhã. Không có một tiếng khóc, chỉ có những làn môi mím chặt và những ánh mắt rực lửa căm thù. Khi những viên đất đầu tiên được ném xuống mộ, thày Bảy thay mặt tang gia nói với mọi người :

- Thưa tất cả các bà con cô bác, các anh chị em. Thằng đệ tử ruột của tôi, vì bảo vệ bàn thờ Thày Tổ và các huynh đệ đồng môn, đã phải ngã xuống vì sự ác độc tột cùng của lão Thày Chà. Vẫn biết, oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Song tôi thiết nghĩ, Lão Chà đã gây ra nhiều tai họa cho mọi người. Oán thù ngút ngàn. Lão đáng ngàn kiếp phải đọa vào Tam Đồ, để khỏi gây tang tóc cho mọi người. Vì cuộc sống bình yên của mọi người, nay tôi quyết trừng trị Lão.

Lúc này tất cả mọi người đều đồng thanh :

- Quyết tâm tiêu diệt lão Thày Chà. Những cánh tay giơ lên trời cao, hứa hẹn một lời thề quyết tử. Bỗng nhiên, từ trên không trung, một tràng sấm nổ, ánh sáng xanh lè, phóng qua phóng lại trên bầu trời ảm đạm. Người và Trời đã tương thông với nhau.

Từ đầu đến giờ, ông thày Chàm vẫn lặng thinh bất tận. Tiếng sấm làm ông như chợt tỉnh lại. Đốt nguyên cả bó nhang, cắm lên mộ người Trưởng tràng, ông đọc bài văn tế ướt đẫm nước mắt :

"Vui mộng đêm qua chợt trở mình,
Như còn phảng phất mấy lời kinh.
Tan hồn muôn kiếp bơ vơ khóc.
Xin được quỳ nghe kể hữu tình.

Muôn vàn hồn đau lớp lớp về,
Oan từ xa lắm, khổ lê thê.
Theo mây chẳng chở - Nhà không chứa,
Phảng phất đêm nay khóc tỷ tê.

Nếu chết cho người được mến thương,
Cũng vui trong định luật Vô thường.
Còn hơn gửi xác - Đời vô nghĩa.
Cô độc oan hồn lạnh thấu xương.

Tất cả về đây nguyện một lời,
Cầu xin siêu độ cõi chơi vơi.
Xin tình thương xót làm hơi ấm,
Là phép mầu vi xóa hận đời.

Có những oan hồn đến với ta,
Ngậm ngùi khóc, kể chuyện đời qua.
Xin thương, dìu độ cho con trẻ,
Trong cảnh trầm luân lạc nẻo tà.

Cũng có hồn oan muốn hiện hình.
Đền ơn báo oán - Ứng oai linh.
Nghiệp nhân - chứng quả ta khai ngộ,
Nhờ đức từ bi xóa tội hình.

Từ đấy khi ta muốn xuất thần,
Tiêu dao hồn phách hiện chân thân.
Một vui với cõi đời vô hiện
Còn một lo siêu độ với trần "

Đọc xong bài văn tế, ông khóc rống lên thảm thiết...hu hu hu. Nhìn ông thày Chàm nức nở khóc, không một ai không bùi ngùi, xao xuyến vì cảnh đời éo le trong cõi vô thường này.

*****

Một cái Tết nữa sắp đến trên đất Tây Ninh. Khác với miền Bắc, càng gần Tết, trời càng nắng chang chang và vì đang ở giữa mùa khô nên cái nắng lại càng gay gắt. Trên vùng đất Châu Thành lúc này đang rộn ràng vào mùa thu hoạch mía, mì và các loại cây ăn trái khác. Các lò đường mở ra khắp nơi và hoạt động hết công suất. Những chảo nước mật mía vàng óng đang sôi sùng sục phả ra một mùi thơm thật quyến rũ. Những cặp trâu kéo máy ép mía vẫn đi chậm rãi thành những vòng tròn bất tận, những núi xác bã mía trắng xóa phơi đầy các con đường đá đỏ. Từ sáng sớm tinh mơ, những chiếc xe lôi chở công chặt mía đầy lặc lè thi nhau chạy vào những động mía ngút ngàn. Những cô gái mặt bịt kín khăn che mặt, xách theo những cặp lồng cơm và cây rựa, can nước uống cười đùa rúc rích trên xe. Thông thường, những người đi chặt mía là làm công đứng, tức là làm liền một lèo từ sáng sớm cho tới gần 2 giờ chiều mới nghỉ. Do vậy họ phải thức dậy từ 3g sáng, nấu cơm, ăn vội vàng, chập chuội, rồi tay dao, tay cầm cơm, nước ra điểm tập trung để xe lôi chở vào động mía. Thường là từ nhà đến nơi chặt mía phải đi hơn chục Km. Nắng Tây Ninh và những lá mía sắc như dao, đầy lông ngứa tha hồ hành hạ những người làm công. Chính vì vậy, người nào người ấy phải mặc quần áo dài và bó kín chân tay. " Tây Ninh nắng cháy da người ". Cả một ngày làm quần quật như vậy, nhưng họ chỉ được trả công với giá cực kỳ rẻ mạt. Những lúc khỏe và có việc làm thì còn đỡ, những lúc ốm đau, không việc làm là họ phải đi vay với giá cắt cổ để mua gạo, mua thuốc. Đây chính là thời cơ cho những con mẹ cho vay cắt cổ người ta hút máu của họ. Lãi suất thường là 30 % tháng, nếu tháng nào không trả lãi là lãi mẹ chồng tiếp lãi con. Chả thế mà dù lao động cực kỳ vất vả, nhưng nhà cửa của họ vẫn sơ xác, cuộc sống của họ vẫn đói nghèo triền miên.

Tận cùng của một trảng mía khu vực Bến Trường là một cánh rừng chồi mọc vòng vèo ven một con suối nhỏ. Mùa này, dòng suối chỉ còn là một vệt nước bé tý, cố ngoi ngóp ra khỏi cánh rừng. Tại một khoảng đất lớn của rừng chồi, người ta thấy có 3 cái lán bằng cây lợp tranh khá vững chắc. Ba cái lám quay đầu vào nhau tạo thành một chữ U, mà ở giữa là một cái sân đất nện rộng. Vì là ở tận cùng của động mía, nên khu vực này hầu như không có mấy người ghé thăm. Năm thì mười họa, một vài công chặt mía, ghé vào xin can nước mà thôi. Có lần, một người thanh niên sau khi xin nước, tò mò đi ra dòng suối phía sau lán, vừa băng qua mấy vạt cây trồng thành hàng giống như những bụi giềng, chợt sùi bọt mép và ngã lăn ra đất. Những người đi theo vội đỡ lên, cõng về nhà. Chỉ trong vòng 3 ngày sau, thân thể anh ta trương lên đầy ứ nước vàng chảy ra từ những lỗ chân lông. Từ thân thể anh ta bốc ra một mùi xú uế, khăm khẳm và anh ta phải chết trong đau đớn với những tiếng gào thét cuồng điên. Từ sau cái chết đó, những người chặt mía, tuy không biết rõ nguyên nhân, song không ai bảo ai, đều tránh xa khu vực lán quái dị đó. Các ông Thày ở khu vực đến xem và đều bảo anh ta chết vì Khí Ngải. Có những Thày hiểu biết nói rằng, anh ta đã vô tình đi qua những bụi Ngải cực độc mà từ xưa nay ở khu vực Tây Ninh không hề có.

***

Trong đêm đen của rừng già Tây Ninh, tại khu vực rừng chồi của Bến Trường, hai bóng đen lầm lũi đi trong yên lặng.Thoảng đâu đó tiếng cú rúc, tiếng rì rào của cành lá chạm vào nhau trong cái giá lạnh của những ngày giáp Tết. Hai bóng đen phóng rất nhanh như dùng thuật Khinh công, lướt nhẹ trên những thảm cỏ, qua những lùm cây. Sau khoảng tàn một tuần nhang, họ đã đến khu vực có 3 cái lán dựng chữ U trong khoảng rừng chồi. Hai người dừng lại nho nhỏ bàn tính. Tới đây, chắc các bạn cũng đoán ra hai cái bóng đen đó là ai rồi. Thật vậy, họ chính là ông thày Bảy và ông thày Chàm đang thực hiện nhiệm vụ mà họ từng ấp ủ bao lâu nay. Từ chiều, bà Bảy và lũ Đệ tử đòi theo, nhưng hai người nhất khoát không đồng ý. Họ muốn dùng chính những tuyệt học của mình đã học từ lão Quái nhân trong động để tiêu diệt lão thày Chà. Bà Bảy và lũ học trò chỉ còn biết im lặng và ngồi nhà lo lắng cho trận chiến cuối cùng này. Một linh cảm bất an dâng đầy trong lồng ngực bà. Chậm dãi, bà Bảy thắp mấy nén nhang trên bàn thờ Tổ cầu xin cho hai người được bình an, thắng trận trở về.

Tại bản doanh của lão Thày Chà ( đến đây, chắc bạn đọc cũng đã biết khu vực 3 cái lán hình chữ U, chính là nơi lão thày Chà cư ngụ ), không một ánh đèn, tất cả như chìm vào trong một lớp sương mù ma quái. Ẩn sau cái vẻ yên ắng đó là một cơn cuồng phong đầy chết chóc sắp sửa bùng phát. Hai ông Thày dùng Khinh công, phóng vọt vào khu đất giữa hình chữ U và nhẹ nhàng đáp xuống. Chân vừa chạm đất, bỗng nhiên hai Thày thấy cả khu đất như rung chuyển và xoay tít. Ngay sau đó là những mũi tên lửa từ 3 cái lán bắn ra sáng rực cả Trời đêm. Một tràng trống trận lập tức dồn vang và những tiếng đọc chú từ các ngôi lán vàng ra :

" Cam Cò Cây,
Cam Manh Manh,
Cam Hanh Phanh,
Cam Mành Mảnh,
Cam Mây Nganh,
Cam Manh Nganh,
Cam Sắc Xi,
Cam So Rẹc,
Cam Chuốt, Cam Phược...
Bờ Ri Ti Ti Tích Nặc,
Bờ Ri Tích Ti Na Nặc,
Phắc Cu Bờ Rích Nặc,
Sắc Phịch Phổ Nặc,
Ô Mạc Ten Ka Bơ Ra,
Quýt Sơn Manh Manh Lơn...."

Hai Thầy vội vàng mượn một gốc cây cụt, đề chân Khí vọt thẳng lên không trung. Thật là Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, khi hai Thày đang lơ lửng trên không thì một làn khí hôi tanh như điện sẹt từ phía đầu họ giáng xuống. Thấp thoáng trong ánh lửa, hai con rắn Thần nhe hàm răng nhọn hoắt phóng thẳng xuống đầu họ. Không một giây chậm trễ, ông Thày Chàm phóng đôi kiến cổ cắm thẳng xuống nền đất và hai người liền mượn chuôi kiếm làm điểm tựa phóng thẳng ra ngoài trận chiến. Một hồi cồng nữa lại vang lên, những luống Ngải bên hông nhà từ nãy giờ vẫn im lìm, bỗng như đứng dựng cả dậy, chúng xoay quanh cuộc đất hai ông Thày đứng và phun ra một làn sương độc dày đặc. Hai Thày vội bế chân khí, không để những làn hơi độc xâm nhập vào lục phủ ngũ tạng của mình. Thày Chàm dùng một ngón tay trỏ, điểm vào đám Ngải đang xoay cao gịong đọc chú :

" Tả đồ càn - Khôn động,
Hữu chuyển Nhật - Nguyệt linh,
Nhất họa lan yểm sấm,
Nhất điểm Quỷ - Thần kinh,
Ngô thỉnh Lỗ Ban lệnh,
Cấp cấp kỳ trợ linh..."

Thật lạ lùng, chỉ sau có mấy chỉ, đám Ngải bỗng héo rũ nẵm rạp xuống đất, xác sơ.
Từ phía trong lán, một hồi cồng nữa vang lên cùng nhịp đọc chú dồn dập :

" Ề hế mê brây cô ma dăn mặc mặc...
Ề hế no ni quăn sắc nha thô...
Mô ni cô mô ni ra ma,
bud kinh ni bud thăn,
băn bách săn khăn băn bách...
Ề hế má ná bà tá,
Nắc mô pút thia dắc...
Mê bá rá ú "

Ngay lập tức, từ trong một căn lán vọt ra hình bóng lão thày Chà. Lúc này trông Lão thật đáng sợ, hai con mắt đỏ vằn phóng ra những ánh hào quang xanh lét, tay lão cầm hai thanh đoản kiếm cổ có hình thù kỳ qúai, ánh thép xanh đến lạnh người. Lão cất lên một tràng tiếng cười u ám và cao giọng :

- " Bộ các ngươi chán sống rồi hay sao mà dám xâm nhập vào địa phận của ta. Ngày này sang năm là này giỗ đầu của hai nhà người đó. "

Vừa thấy bóng Lão Thày Chà, ông thày Chàm liền tung mình vọt lên đứng chặn trước mặt Lão. Xòe rộng bàn tay, đẩy lên phía trước, một làn sóng xung kích ào ạt tuôn ra từ bàn tay Ông. Sửng sốt, lão thày Chà vội nhẩy sang bên cạnh, theo đà, luồng sóng xung kích bắn thẳng vào một căn lán. Rầm... lập tức cả cái lán to là thế vỡ tan tành, lả tả rơi xuống. Thất sắc lão thày Chà lâm râm đọc :

" Bís mi la hia rọt mal nia rọt him Ol Lót hùm mà so ly, A la xây di đi na Mô Ham Mách "

Ngay lập tức đôi kiếm cổ rời khỏi tay lão, nhằm hai ông thày phóng tới. Và cũng gần như tức thì, một luồng lực từ lòng bàn tay thày Chàm phóng vào đôi kiếm trận còn đang đóng đinh từ ban nảy trên sân. Luồng công lực này nhổ phăng đối kiếm và phóng chúng đón đầu hai thanh kiếm của lão thày Chà. Một tiếng xoảng cực lớn, hai cặp kiếm đập vào nhau và bắn tung lên không trung. Bây giờ ông thày Bảy mới phóng vào trận và chặn đứng trước mặt lão thày Chà. Người ông Bảy xoay tít như chong chóng, tiếp cận lão thày Chà, dùng một đòn cận chiến, hai bàn tay ông Bảy vung ra. Một làn kình phong cuốn thẳng vào ngực lão thày Chà, vì cự ly quá ngắn, không kịp trở tay, lão thày Chà bắn tung lên không. Bên kia, ông thày Chàm cũng phát một luồng khí, điều khiển cặp kiếm cổ phóng thẳng vào lão thày Chà. Xoạt, sắc như nước, đôi kiếm cổ bay ngang qua người lão thày Chà còn đang lơ lửng trên không. Đường kiếm sắc ngọt, cắt lão thày Chà làm ba mảnh, hai chân rơi xuống trước, rồi đến đôi tay, cuối cùng là cái thân cụt lủn của Lão đè gọn lên trên. Hai người vội phóng lại gần xem Lão chết chưa. Thày Bảy dùng hai tay lật ngửa thân lão Thày Chà lên xem. Chỉ một tích tắc bất cẩn, đôi mắt lão nhắm nghiền bỗng mở ra độc ác, đôi môi Lão mấp máy đọc chú lần cuối :

" na mô buôtha dá thá ú so há mạ mạ ú da sa mi pí "

Lập tức thanh kiếm của thày Chàm vừa rơi cạnh Lão bỗng bay vút lên nhằm thẳng ngực của thày Bảy đâm tới và cũng gần như tức thì, ông thày Chàm gạt thày Bảy sang một bên.

Xoạt, đường kiếm sắc lẹm đi qua cánh tay của thày Chàm đang đẩy thày Bảy. Ông thày Chàm gục xuống, trên cánh tay lặc lìa máu tuôn xối xả. Bên kia, lão thày Chà cũng giật lên mấy cái và nằm bất động. Trên môi Lão còn như vương một nụ cười ác độc. Ngoài kia, phía lòng hồ Dầu Tiếng, ánh mặt Trời đang từ từ dâng lên.....


Cám ơn các cụ đã và đang theo dõi câu chuyện "Thế Giới Bùa Ngải"
Xin các cụ tiếp tục theo dõi những câu chuyện sau ..............
quenhetroi  
#20 Posted : Saturday, May 13, 2017 3:41:19 PM(UTC)
quenhetroi

Rank: Member

Groups: Registered
Joined: 8/17/2013(UTC)
Posts: 22
Location: USA

Thanks: 4 times
Was thanked: 3 time(s) in 1 post(s)
Muốn viết thêm, nhưng đánh dấu nản quá! quenhetroi chỉ quen đánh dấu theo kiểu VIQR. Bây giờ viết theo kiểu Microsoft nản quá. Tom ơi! cho xin software viết tiếng Việt trên diễn đàn này đi, Trên đây có đủ kiểu xài rất tốt.

Cám ơn trước
Users browsing this topic
Guest (2)
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.