Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

5 Pages<12345>
Options
View
Go to last post Go to first unread
wild grass  
#41 Posted : Wednesday, September 28, 2016 9:53:37 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


Cuộc nổi dậy năm 1956 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An

Phạm Việt Đào




Rạng ngày 13/11/1956, một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát "Quỳnh Lưu đứng dậy" đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục:

Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta


Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty công an Nghệ An, hô thật to những khẩu hiệu:

Lương giáo đoàn kết chặt chẽ sau lưng các nghĩa quân…
Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt...


Công an tỉnh lẩn trốn từ lâu trước khí thế này. Dân chúng thi nhau nhảy lên nóc Ty công an, xé tan cờ đỏ sao vàng, đạp vỡ ảnh HCM và các lãnh tụ CS quốc tế…Trước tình hình này, Chính phủ ra lịnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa, Phủ Quỳ và Ðồng Hới về bao vây nghĩa quân.


UserPostedImage


Sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt cải cách ruộng đất, các nạn nhân đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ truyền kiếp. Các đảng viên CS trung kiên được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, liền tìm ngay các đồng chí đã tố sai để trả thù. Do đó, tình trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơi. Uy tín của Đảng bị suy sụp, cán bộ hoang man, lo sợ tột độ.

Ở nông thôn, các đảng viên đi họp phải mang búa theo để thảo luận với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm bất ổn như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình tiểu tư sản hồi kháng chiến đã trú ngụ ở nhà mình. Các bần cố nông trót nghe lời đảng tố điêu nay bị sợ rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở thuệ. Vì vậy, số dân ở Hà Nội, Nam Ðịnh đột nhiên tăng lên gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, ảnh hưởng đến giới công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức. Nhân dân tỉnh Nghệ An, gồm đủ mọi thành phần giai cấp ở các xã Quang Trung, Tân Nho, Diễn Tân, Vạn Kim, Diễn Ðức, Diễn Ðông, Diễn Nguyên, Minh Châu, Ðức Vinh, Hồng Thăng, Ðại Gia, Yên Trung đã mở 1 đại hội để tố cáo những chính sách sai lầm của chính quyền. Ban tổ chức đại hội còn mời luôn cả cán bộ VC thuộc cấp tỉnh và huyện đến tham dự để chứng minh tinh thần đấu tranh cho tự do của nhân dân.

Sau nhiều giờ thảo luận, đại hội đã đồng thanh lập bản kiến nghị nguyên văn như sau :
- Yêu cầu trả lại cho chúng tôi những vị linh mục chánh sở và tất cả những vị giáo sĩ bị bắt bớ giam cầm.
- Yêu cầu trả lại cho chúng tôi xác các vị linh mục đã bị hành quyết và của những vị đã bị thủ tiêụ
- Yêu cầu trả lại những tài sản của địa phận, của thánh đường, của Ðức Mẹ đã bị chính quyền tịch thu hoăc xung công.
- Yêu cầu đền bồi thanh danh của các giáo sĩ đã bị nhục mạ và danh dự của các giáo hữu đã bị vu khống.

Cán bộ chính quyền rất căm tức những lời kết án của dân chúng, lúc đầu họ nhất định không ký tên, nhưng với áp lực của hàng ngàn người, họ bắt buộc phải ký vào quyết nghị.

Ban tổ chức đã gởi bản quyết nghị này đến 4 nơi: Tòa thánh La Mã (qua trung gian của Ðức Khâm sứ Dooley), Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến, Hồ Chí Minh và gởi đến chính quyền quốc gia miền Nam. Phía CSVN đã tìm đủ mọi cách ngăn chặn bản quyết nghị đến tay Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến.

Dân chúng đã dùng ngay chính sách sửa sai của Chính phủ để đòi lại chồng con đã bị giết, tài sản đã bị cưỡng đoạt và đòi được di chuyển tự do vào Nam như đã cam kết trong Hiệp định Genevơ.

Giữa lúc đó, được tin chiều ngày 9/11/1956, Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến sẽ đi qua Cầu Giát để lên Hà Nội, hàng ngàn người đã kéo ra đường số 1 chờ đợị. Ðồng bào đã góp đơn lại giao cho 6 thanh niên đại diện đưa thư. Mấy ngàn đồng bào đã nằm ngay trên đường để chặn xe lạị. 6 thanh niên đã đưa cho viên sĩ quan Ấn Ðộ trong Ủy Ban mấy vạn lá thư đựng trong bao bố. Viên sĩ quan này cho biết sẽ trình lại cấp trên và trả lời vào ngày thứ Bảy trong tuần.

Sau đó, ngày 10/11/1956, khoảng 10.000 nông dân đã mở đại hội lần thứ hai tại xã Cẩm Trường để bàn thảo về ngày thứ Bảy.


UserPostedImage



Nhưng ngay lúc đó, Chính quyền đã điều động 2 đại đội chủ lực và 1 đại đội công an võ trang huyện Diên Châu về xã Cẩm Trường để giải tán đại hội nông dân. Bạo động đã xảy rạ. Tiếng súng và lựu đạn nổ vang trời. Mặc dù tay không nhưng khí thế quần chúng quá mạnh, những người phía sau đã tràn lên thay cho những người gục ngã phía trước.

Cuối cùng, dân chúng đã bao vây đồn bộ đội, công an vào giữa đêm hôm dó. Chính quyền đưa thêm 2 trung đoàn về bao vây 10.000 nông dân tại xã Cẩm Trường. Dưới cơn mưa phùn lất phất cuối đông, cảnh tượng bi hùng đã diễn ra ở 1 trận địa giữa 10.000 nông dân và 2 vòng trong ngoài đầy những công an và bộ đội. Tờ mờ sáng này 11/11/56, các bà mẹ đã đánh trống, mõ kêu gọi dân chúng quanh vùng đến tiếp cứu. Xã Diễn Châu như bị động đất. Rồi 30.000 nông dân kéo đến vây phía ngoài 2 trung đoàn chính quy…Cuộc nổi dậy bộc phát quá lớn, quá mau, đã đi ra ngoài sự tiên liệu của cả 2 bên. Chính quyền đã tỏ ra rất lo lắng biến cố này vì Nghệ An là quê quán của ông Hồ Chí Minh; chưa biết cách giải quyết thế nào để gỡ thể diện cho mình và Đảng. Chính quyền cũng tìm cách liên lạc với Giám mục Trần Hữu Ðức nhờ ông giải quyết, nhưng ông đã trả lời:

"Tôi không biết về vấn đề chính trị, vì tôi là 1 nhà tu hành".

Lúc bấy giờ, phía dân chúng đã có 1 số lượng vũ khí đáng kể, tịch thu được từ bộ đội. Chưa bao giờ 1 cuộc nổi dậy ở miền Bắc lại có đủ tất cả thành phần dân chúng, kể cả các đảng viên CS.

Ðêm 11 rạng ngay 12/11/1956, 1 số nghĩa quân lén trở về Quỳnh Lưu để tổ chức biểu tình yểm trợ cho dân quân xã Diễn Châu. Ðêm hôm đó, 3000 thanh niên các xã Do Xuyên, Ba Làng và Nông Cống (tỉnh Thanh Hóa) đã kéo vào yểm trợ nghĩa quân. 4g sáng cùng ngày, 1 Ủy Ban Biểu Dương Lực Lượng Nông Dân Quỳnh Lưu và Ủy Ban Tiếp Tế Nghĩa Quân được thành lập. Phụ nữ, trẻ em đã mang gạo, thực phẩm đến xã Cẩm Trường, nơi cuộc đấu tranh đã bước vào ngày thứ 3.

Rạng ngày 13/11/1956, 1 cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát Quỳnh Lưu đứng dậy đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục:

Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta


Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty công an Nghệ An, hô thật to những khẩu hiệu: Lương giáo đoàn kết chặt chẽ sau lưng các nghĩa quân… Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt... Công an tỉnh lẩn trốn từ lâu trước khí thế này. Dân chúng thi nhau nhảy lên nóc Ty công an, xé tan cờ đỏ sao vàng, đạp vỡ ảnh HCM và các lãnh tụ CS quốc tế…

Trước tình hình này, Chính phủ ra lịnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa, Phủ Quỳ và Ðồng Hới về bao vây nghĩa quân. Sư đoàn này quy tụ nhiều bộ đội miền Nam tập kết mà Hồ Chí Minh muốn sử dụng, thay vì dùng bộ đội sinh quán ở miền Trung hoặc miền Bắc, để có gì thì đổ cho binh lính miền Nam nóng tính này. Trận địa tại xã Cẩm Trường đã lên đến 5 vòng đai giữa dân quân và quân chính phủ. Buổi chiều cùng ngày, nghe tin dân quân xã Cẩm Trường bị Sư đoàn 304 vây, gần hàng chục ngàn người đã tiến về xã Cẩm Trường để tiếp ứng cứu. Vòng đai chiến trận đã tăng lên lớp thứ 6. Buổi tối ngày 13/11/1956, hơn 20.000 nông dân từ Thanh Hóa lại kéo vào tiếp viện, mang theo đầy đủ lương thực tính kế trường kỳ đấu tranh.

Ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu. Trước bạo lực đó, nông dân vẫn cứ quyết tâm tử chiến để bảo vệ căn cứ. Lịnh của ban chỉ đạo nghĩa quan được truyền đi: Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng... Nhưng vì vũ khí quá thô sơ, nghĩa quân phải rút vào rừng sâu. Sau khi trận chiến kết thúc, quân đội VC đã xông vào các làng Thanh Dạ, Song Ngọc, Cẩm Trường bắt tất cả già trẻ lớn bé giải đi. Họ tra khảo từng người để tìm ra ban chỉ đạo đấu tranh nhưng vô hiệu, vì bất cứ ai, kể cả các em thiếu nhi đều tự xưng là người lãnh đạo cuộc nổi dậy này. Không bắt được ai, chính quyền đành thả bà con ra về, nhưng chính quyền tính kế bắt đi Linh mục Hậu và Linh mục Ðôn của 2 xứ Cẩm Trường và Song Ngọc. Dù 2 vị này đã nói, Chúng tôi là nhà tu hành, chúng tôi không biết gì đến việc nhân dân, nhưng cũng bị công an kéo lê lên xe giải về Hà Nội.

Chính quyền bắt 2 vị linh mục phải lên đài phát thanh đổ lỗi cho giáo dân và nông dân, nhưng 2 vị không bằng lòng. Chính quyền đe dọa nếu không tuyên bố như vậy thì sẽ giáng tội cho 2 vị là những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa phản động này. Họ mang hình ảnh Linh mục Tấn bị thủ tiêu ở Phủ Quỳ ra dọa nạt. Cuối cùng, 2 vị phải tuyên bố ngược lại sự thật.

Dù nhà cầm quyền, vẫn cố tình che dấu, xuyên tạc… cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu cho đến ngày hôm nay; dù họ đã dùng bạo lực đàn áp trong biến cố Quỳnh Lưu, nhưng tinh thần yêu nước, can trường của người dân các tỉnh miền Trung nói chung, và ở tỉnh Nghệ An nói riêng, đã soi sáng cho các thế hệ sau con đường chính nghĩa để đòi lại tự do.



Được đăng bởi Nhà văn Phạm Viết Đào vào lúc Thứ tư, tháng chín 21, 2011
http://phamvietdao2.blog...com/201...i-day-nam.html

wild grass  
#42 Posted : Wednesday, September 28, 2016 10:08:25 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Hãy vực dậy Truyền Thống Khởi Nghĩa Quỳnh Lưu

Nguyễn Nhơn




Trích: (Danlambao - Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ngăn cản người dân khởi kiện Formosa)
Hơn 600 người dân, đa số là ngư dân và giáo dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã lên đường đến Tòa án thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để nộp đơn khởi kiện Formosa vì đã hủy hoại môi trường biển Việt Nam. Formosa, thủ phạm gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt từ đầu tháng 4/2016 đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe, tính mạng, nòi giống, tương lai của người dân vùng biển miền Trung nói riêng cũng như người dân Việt Nam nói chung nhưng lại nhận được sự đồng lõa, bảo kê của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.
.... Khi được hỏi “cha đánh giá thế nào về hành xử của công an, nhà cầm quyền cộng sản về việc ngăn cản người dân đi đòi công lý, tự bảo vệ quyền sống của mình?”, Linh mục Anton Đặng Hữu Nam khẳng định: “Tôi vẫn coi người cộng sản là chuyên môn dùng mưu hèn kế bẩn để ngăn cản mọi việc làm chính đáng của người dân. Văn hóa cộng sản là văn hóa mắm tôm. Văn hóa cộng sản là văn hóa đánh lén. Văn hóa cộng sản là văn hóa trả thù. Văn hóa cộng sản là văn hóa hèn hạ. Những người yêu công bằng tự do, những người đấu tranh dân chủ là kẻ thù của chế độ. Và vì thế mà công an, chế độ này luôn bằng mọi cách để trả thù, ngăn cấm người dân đi tìm công lý, bóp chết mọi khát vọng tự do, nhân quyền của người dân.
” Ngưng trich.




(Trích bài viết NHẮC LẠI CUỘC NỔI DẬY CỦA DÂN QUỲNH LƯU (ngày 13.11.1956)” của tác gỉa Cẩm Ninh)
Rạng ngày 13-11-1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Bài hát “Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa” đã được truyền đi khắp nơi, hoà với những đợt trống, mõ vang lên liên tục :

Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Tiêu diệt đảng cờ Hồng
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta


Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty Công an Nghệ An, hô thật to những khẩu hiệu: “Lương giáo đoàn kết chặt chẽ sau lưng các nghĩa quân”, “Lương giáo quyết tâm chống CS khát máu”, “Tinh thần Quỳnh Lưu bất diệt”… Công an tỉnh lẩn trốn từ lâu trước khí thế này. Dân chúng thi nhau nhảy lên nóc Ty Công an, xé tan cờ đỏ sao vàng, đạp vỡ ảnh HCM và các lãnh tụ CS quốc tế.

Ngày 14-11-1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu. Khi vòng đai thứ 7 thành hình, Hồ Chí Minh ra lịnh tiêu diệt cuộc nổi dậy có một không hai trong lịch sử đấu tranh chống VC. Trước bạo lực đó, nông dân vẫn cứ quyết tâm tử chiến để bảo vệ căn cứ. Lịnh của ban chỉ đạo nghĩa quân được truyền đi : Chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giải phóng dân tộc.

Nhưng vì vũ khí quá thô sơ, nghĩa quân phải rút vào rừng sâu. Sau khi trận chiến kết thúc, quân đội VC đã xông vào các làng Thanh Dạ, Song Ngọc, Cẩm Trường bắt tất cả già trẻ lớn bé giải đi. Họ tra khảo từng người để tìm ra ban chỉ đạo đấu tranh nhưng vô hiệu, vì bất cứ ai, kể cả các em thiếu nhi, đều tự xưng là người lãnh đạo cuộc cách mạng này. Không bắt được ai, VC đành thả bà con ra về, nhưng Hồ Chí Minh tính kế bắt đi Linh mục Hậu và Linh mục Ðôn của 2 xứ Cẩm Trường và Song Ngọc. Dù 2 vị này đã nói: “Chúng tôi là nhà tu hành, chúng tôi không biết gì đến việc nhân dân”, nhưng cũng bị công an kéo lê lên xe giải về Hà Nội.

Ðòi cho bằng được tự do, công bằng, quyền căn bản của con người không thể xem là một cái tội. Dùng bạo lực để áp đặt một tội danh là gieo nỗi oan khuất cho cả một dân tộc. Nỗi oan khuất đó đã chồng chất đến trời xanh. Nói về những nỗi oan sống dưới chế độ CS thì không biết bao nhiêu mà kể.

Thời gian cũng đủ chứng minh CSVN không thể trả lời. Nhưng người dân VN có thể sẽ tự trả lời khi cao trào thèm khát cuộc sống tự do dân chủ tới hồi chín muồi. Tiếng trống bi hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 60 năm về trước vẫn còn vọng về thúc giục người có lòng ái quốc, thương nòi trong chúng ta. Bài hát vang trong bầu trời Quỳnh Lưu như nhắn nhủ gọi người can trường đi tìm chân lý của cuộc sống : con người sinh ra phải được tự do. Ngưng trich.


Lời khẳng định “ Quỳnh Lưu “ 60 năm trước:

Tiếng trống bi hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 60 năm về trước vẫn còn vọng về thúc giục người có lòng ái quốc, thương nòi trong chúng ta. Bài hát vang trong bầu trời Quỳnh Lưu như nhắn nhủ gọi người can trường đi tìm chân lý của cuộc sống : con người sinh ra phải được tự do.”

Và lời xác quyết Quỳnh Lưu ngày hôm nay:

Những người yêu công bằng tự do, những người đấu tranh dân chủ là kẻ thù của chế độ. Và vì thế mà công an, chế độ này luôn bằng mọi cách để trả thù, ngăn cấm người dân đi tìm công lý, bóp chết mọi khát vọng tự do, nhân quyền của người dân.

Ngày nay, tôi có một ước mơ
Trước khi rời bỏ trần thế nầy, được thấy
Ngày tàn của cộng sản hung tàn
Giải đất hình chữ S, quê tôi bên kia bờ Đại Dương
Chấm dứt đêm trường cộng sản
Nước Việt Nam trở lại huy hoàng,
rạng rỡ bên bờ Biển Đông!


Muốn ước mơ thành hiện thực, phải đứng thẳng người lên và chiến đấu.
Hôm nay 600 dũng sĩ Quỳnh Lưu cất bước lên đường lại cất cao lời hát:

Anh đi giết giặc lập công
Con thơ em gửi mẹ bồng
Ðể theo anh ra tiền tuyến
Tiêu diệt đảng cờ Hồng
Ngày mai giải phóng
Tha hồ ta bế ta bồng con ta


Phen nầy với tinh thần Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa vùng dậy, bọn “đảng cờ Hồng” hết đất dung thân.

Rồi sẽ có một ngày, dân tộc Việt tái hiện lịch sử Đống Đa “Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ hành quân thần tốc nhập Thăng Long.”

Khi mà người dân Tây Đô, Cần Thơ bị họa môi sinh nhiểm độc chất thải nhà máy giấy Lee & Man kết đoàn kéo ra Hà Nội khiếu kiện,

Khi mà 26 ngàn hộ dân Thủ Thiêm bị cào nhà, cướp đất hiệp đoàn: Tây Đô và Sài Gòn kéo lên Đồng Nai hiệp cùng dân Lộc Dã bị nguy cơ bạo quyền lấp sông Đồng nhập cuộc,

Tất cả kéo rốc ra Ninh Thuận, nơi đồng bào Phan Rang bị ô nhiểm Titan chực chờ hiệp đoàn.

Cùng kéo nhau ra Cà Ná, hội tụ cùng đồng bào nơi đây đang bị uy hiếp vì dự án nhà máy thép Hoa Sen.

Tất cả cùng bôn tập ra Vũng Áng, mặt trận tiền tiêu thứ nhất. Hiệp cùng chiến binh Hà Tĩnh đánh một trận khai màn: Triệt hạ hán ngụy Hà Tĩnh.

Quân đoàn chiến thắng tiến thẳng ra Nghệ An. Nơi đây đơn vị xung kích Quỳnh Lưu đã sẳn sàng, đánh mở đường cho Đại quân tiến phát. Bài ca Quỳnh Lưu Khởi Nghĩa còn vang dội hơn cả tiếng pháo Ngọc Hồi năm xưa!

Nơi cố đô Thăng Long, đội quân thứ 5 Thái Hà đang tiềm phục, bất ngờ vùng dậy mở trận nội công - ngoại kích, mở cửa thành cho Đại quân nhập Thăng Long.

Thị dân Thăng Long reo hò đón Đại Quân Miền Nam. Đồng lòng cùng nhau hỏa thiêu xác cáo Ba Đình, xúc hết Bầy Cá Tra và cả lòng tong, cá chốt “giặc cờ hồng” đổ trút xuống sông Hồng để chúng trôi giạt ra Biển Đông biệt tăm, biệt tích.

Dân tộc Việt Nam lại tái hiện Mùa Xuân Kỷ Dậu
Quang Trung Đại Đế nhập Thăng Long
Gò Đống Đa bức tử Sầm Nghi Đống
Đánh cho Tôn Sĩ Nghị không còn manh giáp
Tống xuất việt gian Lê Chiêu Thống
Theo giặc chệt chạy về tàu
Mùa Xuân Kỷ Dậu Thăng Long huy hoàng


wild grass  
#43 Posted : Tuesday, October 4, 2016 12:55:47 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Việt Nam Cộng Hòa
là quốc gia duy nhất dám đánh Tàu cộng.

Nguyễn Quân




UserPostedImage


UserPostedImage





Nguyễn Quân viết: Từ 1970 đến nay vẫn chưa nuớc nào hay quân đội nào dám chủ động tấn công Trung cộng, chỉ duy nhất Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia duy nhất đám đánh Trung cộng vào năm 1974.

Thời điểm nổ ra trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa, để bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc thì Việt Nam Cộng Hòa là bên chủ động và khai hỏa tấn công truớc vào các chiến hạm của Trung cộng, Khi đó là buổi sáng 19/1/1974 khi Hộ tống hạm Nhật Tảo ( HQ-10) nổ pháo vào hai chiếc tàu 271 và 274 của Trung cộng, sau khi Trung cộng có những hành động xâm luợc, hiếu chiến và khiêu khích.

Cuộc chiến 1979 và 1988 của Việt gian cộng sản không thể tự hào là đánh Trung cộng đuợc, khi 1979 CSVN buộc phải chống trả bằng không thì chết, 1988 không thể gọi là hải chiến khi lính cộng sản Việt Nam chỉ làm bia tập bắn cho giặc.



ý kiến người đăng bài: Dẫu biết rằng người bộ đội tại đảo Gac Ma chỉ ôm đầu chịu đạn, chờ chết ... nhưng trước mỗi cái chết oan khuất của người Việt từ bàn tay giặc ác xâm lăng Trung công ... lòng chùng xuống ngậm ngùi.

Có lẽ những người bộ đội ngây ngô ấy vẫn tin rằng: đó chỉ là trân đánh biểu dương thôi, đồng chí môi hở răng lạnh đời đời bền vũng bên nhau, chắc chỉ bắn thế thôi, mình chắng bắn trả chống cự cũng chỉ bị bắt ít ngày rổi thả về quê thôi !

và có lẽ cái đau đớn nhất là trước phút lìa đời, người ta chợt sáng suốt hiểu ra hay thắc mắc vì sao mình xuôi tay chịu chết ...

Họ bị lừa, và biết, biết bao triệu người Việt chân chất đã bị lừa, bị ngu hoá, bị che mắt bịt tai ... cũng một kiếp người, ngắn ngủi làm sao! Cầu cho hương hồn họ siêu thoát, mong cho gia đình họ được yên ổn.

Tội đồ là những kẻ đã dùng uy quyền xảo trá, lường lận đẩy họ vào chỗ chết tủi buồn ... Con giun bị xéo cũng quằn ... Họ, là người, không được phép mưu cầu lẽ sống, trốn chạy hay chống trả, dẫu trong vô vọng để ngậm cười ... Chưa có một thể chế, chính thể nào biết binh lính mình bị tấn công tràn ngập mà không cho rút quân, không cho tiếp ứng, không cho bắn trả !!! Cái này không phải là hèn mà là bán đứng, bán trắng xương máu binh lính, bán thấu luôn tinh thần người lính là phải chiến đấu đến cùng, là bán cả giang sơn.





Việt Nam Vinh Quang (Nam Dao - Phan Văn Hưng)


https://youtu.be/ExiND6jvkPc


Việt Nam bao năm chìm trong bóng đêm dầy
Vẫn kiên cường nuôi chí phục hưng
Việt Nam vươn lên từ những tấm thân gầy
Nguyện xây đắp thương yêu tràn đầy

Người hỡi đứng lên giành quyền sống làm người
Dù máu xương đọa đày vẫn tiến tới
Ngày đã đến cho trang sử mới ra đời
Tiếng non sông giục mời

Trong tim ta sôi dòng máu ông cha
Bạo quyền không hàng, liều thân dọc ngang xông pha
Tiến lên đi giải phóng sơn hà
Hồn nước non vui tình nhà

Việt Nam oai linh nghìn thu sáng danh này
Đất Tiên Rồng nuôi chí hùng anh
Việt Nam dang tay thành tâm khắp nhân lọai
Cùng thế giới đi xây tình dài

Việt Nam thắp cao ngọn đuốc ấm cho đời
Bằng trái tim vun trồng thời đại mới
Hồn sông núi vang trong mạch sống giống nòi
Bước đi trong miệt mài

Trong bôn ba bao thử thách gian nan
Màu cờ huy hoàng vẫn lướt trời xanh hiên ngang
Quyết tâm xây dựng nước rạng ngời
Việt Nam Vinh Quang đời đời !



wild grass  
#44 Posted : Sunday, October 23, 2016 10:57:49 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


Luận thời cuộc:
26 tháng 10, Ngày Quốc Khánh của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa

Phạm Lễ




Sau 50 năm, bốn chữ VIỆT NAM CỘNG HÒA vẫn còn là một văn bản hợp pháp và chính danh cho những người Việt Nam muốn dùng để đòi hỏi tự do, dân chủ ở trong nước cũng như nơi hải ngoại. Nhưng mấy ai nhớ đến ngày Quốc khánh 26 tháng 10 và Tổng Thống Ngô Đình Diệm – Người lãnh đạo, tạo dựng ra VIỆT NAM CỘNG HÒA.

Hầu hết những người còn quan tâm về thời cuộc từ vận mệnh quốc gia đến đời sống của hiện nay, tất cả đều muốn dấn thân để đấu tranh “Tìm lại hai chữ Tự Do cho đất nước và dân tộc”.

Nhưng, nhìn lại quãng đường đấu tranh mà chúng ta đã và đang làm đều chưa đưa ra được một sự sáng tỏ nào để có thể khả dĩ chấp nhận đó là một đường lối chính danh.

Vì chúng ta không có chủ thuyết chiến lược để làm nền tảng chung cho hành động, khả năng thay đổi chiến lược đoản kỳ và trường kỳ đã không được thay đổi theo nhu cầu và sự biến đổi quá nhanh của thời cuộc.

Trong khi đó từ năm 1945 đến nay, Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam, dựa vào đó làm chiến lược và chiến thuật để làm nền tảng thực hiện đường lối độc tài đảng trị, gieo rắc thống khổ lên mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam.

Việt cộng đã và đang đánh lừa dư luận thế giới trong nhiều thập niên qua về hai chữ “Dân chủ”.

Dựa vào lòng khát khao hai chữ "Tự do" khi đang bị sống dưới ách đô hộ của bọn thực dân Pháp thời trước 1954.

Dựa vào nhược điểm trình độ dân trí thấp của dân tộc.

Dựa vào nhiều khuyết điểm của tầng lớp lãnh đạo không chịu nâng cao đời sống cho dân chúng. Không nhường cơm sẻ áo cho đồng bào mà chỉ biết làm tay sai, vơ vét của dân cho ngoại bang. Hà khắc dân chúng để hưởng đặc quyền cai trị, coi đồng bào như cỏ rác giống như cộng sản hiện nay.

Vì thế mà cộng sản đã dễ dàng chiếm đoạt quyền cai trị sau khi đã đánh lừa được sự nhẹ dạ của dân chúng, của những kẻ ngu dại ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản.

Nhìn lại lịch sử cận đại, Việt cộng đã hoàn toàn lộ diện bộ mặt thật của một bè lũ phản dân hại nước, một tầng lớp bóc lột mới trên sức sống của dân tộc Việt Nam. Bọn hút máu nhân dân mới này thật sự chưa bao giờ đem lại cho dân tộc sự an vui, thanh bình và tự do cả.

Để giới hạn phạm vi của đề tài, nơi đây tôi xin đặt ra ngoài mọi dị biệt về quan điểm để chỉ nói đến ý nghĩa về ngày 26 tháng Mười – Ngày Quốc Khánh chưa quên của Việt Nam Cộng Hòa.

Kể từ ngày song thất (7/7/1954) ông Ngô Đình Diệm chính thức chấp nhận vai trò thủ tướng của quốc gia VN. Đó cũng chính là thời gian đen tối nhất của chiến cuộc Đông Dương. Một cuộc chiến không chính danh giữa người Pháp và cộng sản Việt Nam, một công cụ của cộng sản quốc tế đương thời.

Trong khi đó áp lực của tư bản đương thời giành giật thị trường và quyền lực cai trị thế giới đã áp đặt cho dân tộc VN một hiệp định oái oăm được ký kết tại GENEVE ngày 20/7/1954 để chia đôi đất nước VN. Chính hiệp định này đã mang đến cho phần đất Bắc một giải khăn tang từ vĩ tuyến 17 trở ra.

Trong khi đó phân nửa đất nước còn lại về phía Nam vĩ tuyến 17 bên này cây cầu Hiền Lương là phần đất của TỰ DO mà Thủ tướng Ngô Đình Diệm sau khi chấp chánh đã di cư được hơn một triệu đồng bào di cư vào miền Nam tìm tự do với muôn vàn khó khăn.

Đồng bào miền Bắc di cư vào miền Nam đã tin tưởng vào uy tín lãnh đạo của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã chấp nhận lìa bỏ quê cha đất tổ để được sống trong tự do và thanh bình.

Chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm với tiếp tay của một số người yêu nước thật sự lúc bấy giờ đã đến với nhau từ các đảng phái, tôn giáo không phân biệt cá tính và đường lối. Tất cả đã dồn nỗ lực để củng cố một nền chính trị ổn định đem lại sự an bình cho phần đất còn lại.

Đứng trước tình hình cực kỳ khó khăn về chính trị, kinh tế và xã hội lúc bấy giờ dựa trên hậu thuẫn sức mạnh đoàn kết của các đoàn thể. Chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 tháng 10 năm 1955 nhằm chọn ra một thể chế và người lãnh đạo chính thức cho miền Nam Việt Nam.

Hơn 90% dân chúng đã chấp nhận đề cử ông làm quốc trưởng và sau khi Quốc hội lập hiến đầu tiên được tổ chức bầu cử vào ngày 4/3/1956.

Vì căn cứ vào Hiệp định Geneve 20/7/1954 thì đúng ngày 26/4/1956 người lính lê dương Pháp cuối cùng phải rời bỏ Việt Nam, cho nên giới sinh hoạt chính trị ở miền Nam Việt Nam cùng với Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đã cùng với Quốc hội Lập Hiến bấy giờ đã thảo luận và hoàn thành một văn bản pháp chế. Đó là sự hình thành Hiến pháp đầu tiên vào ngày 26/10/1956, và từ đó miền Nam Việt Nam có quốc hiệu chính thức là VIỆT NAM CỘNG HÒA.

Bốn chữ VIỆT NAM CỘNG HÒA và ngày quốc khánh 26/10 khởi sự để đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn bị trị, mất tự chủ điều khiển quốc gia quá lâu sau gần 100 năm bị lệ thuộc trong tay thực dân Pháp.

Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đã được Quốc hội lập pháp và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận với danh xưng mới là Tổng Thống Ngô Đình Diệm của nước Việt Nam Cộng Hòa. Lấy ngày 26/10 làm ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Sau cái chết mờ ám do bọn bất tài tay sai ngoại bang và cộng sản gây ra cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, người sáng lập, lãnh đạo nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, và ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị cho Tổng Thống. Mọi chủ quyền đất nước lại từ từ mất đi và chúng ta đã bị bán đứng nốt đất nước Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản như đã thấy.

Sau 50 năm, bốn chữ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn là một văn bản hợp pháp và chính danh cho những người Việt Nam muốn dùng để đòi hỏi tự do, dân chủ ở trong nước cũng như nơi hải ngoại. Nhưng mấy ai nhớ đến ngày Quốc khánh 26 tháng 10 và Tổng Thống Ngô Đình Diệm – Người lãnh đạo, tạo dựng ra VIỆT NAM CỘNG HÒA.

Sau 50 năm, người viết hy vọng mọi người còn dùng bốn chữ VIỆT NAM CỘNG HÒA hãy nhớ về ngày ra đời của một Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Hãy cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc Khánh chính danh là ngày 26/10.


wild grass  
#45 Posted : Monday, October 24, 2016 11:43:39 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Nhân ngày giỗ thứ 53
TƯỞNG NHỚ CÔNG ƠN TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lê Duy San




UserPostedImage


“Tôi tiến, hãy tiến theo tôi.
Tôi lùi, hãy giết tôi.
Tôi chết, hãy nối chí tôi”

Ngô Đình Diệm




Ngày 7/5/1954 Diện Biên Phủ thất thủ. Hoàng Đế Bảo Đại mời ông Ngô Đình Diệm đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng. Biết tình hình khó khăn, ông đã từ chối mấy lần nhưng Hoàng Đế Bảo Đại vẫn năn nỉ. Sau cùng, ông đã đòi phải được tòan quyền về dân sự cũng như quân sự ông mới nhận lời.

Ngày 7/7/1954, cụ Ngô Đình Diệm về nước chấp chính. Chưa đầy hai tuần sau, ngày 20/7/1954, Hiệp Định Jenève được ký kết phân chia nước Việt Nam thành hai miền Nam Bắc.

Về nước đúng lúc đất nước bị chia đôi, miền Nam lại chia năm xẻ bẩy: nào Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, nào phe thân Pháp, phe thân Cộng. Quốc gia thì chậm tiến, xã hội thì đầy dẫy tệ đoan, dân trí thì thấp kém. Ruộng vườn thì bị bỏ hoang, đường xá, cầu cống thì bị Việt Cộng phá hoại. Ðó là chưa kể đến sự phá hoại ngấm ngầm của thực dân Pháp và Việt Cộng. Ngay cả người Mỹ cũng chưa hoàn toàn tin tưởng cụ Diệm. Các chính trị gia thì mỗi người một ý. Không những thế, ông còn phải lo cho cả triệu người Bắc di cư vào Nam để tránh nạn Cộng Sản.

Trong bài này, chúng tôi xin trình bầy 2 vấn đề: Thiết lập nền Đệ I Công Hoà và những thành quả của chính phủ Ngô Đình Diện trong 9 năm cầm quyền.


I/ Thiết lập nền đệ Nhất Cộng Hoà.

Noí tới vấn đề thiết lập nền Đệ I Cộng Hoà Việt Nam, chúng ta không thể không nói tới vấn đề truất phế Hoàng Đế Bảo Đại tức cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955.

Tuy ông Diệm đã được Hoàng Đế Bảo Đại trao toàn quyền về dân sự cũng như về quân sự. Nhưng thực tế về quân sự, tướng Nguyễn Văn Hinh là Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội. Tướng Hinh lại là người thân Pháp, luôn luôn chống đối ông Diệm và có âm mưu đảo chánh lật đổ ông Diệm. Nhưng âm mưu đảo chánh bất thành và tướng Hinh bị trục xuất khỏi Việt Nam.

Ngày 28/3/1955, Bình Xuyên nổi loạn, pháo kích vào dinh Độc Lập rồi mấy ngày sau đó tấn công vào thành Cộng Hoà.

Trước tình thế khó khăn như vậy, vậy mà Hoàng Đế Bảo Đại lại gây khó khăn cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bằng cách từ Cannes (Pháp Quốc) gửi ngay một công điện vào ngày 28/4/1955, triệu hồi Thủ Tướng Diệm qua Pháp nói là để “tham khảo ý kiến,

Theo luật sư Lâm Lễ Trinh thì ý đồ của Hoàng Đế Bảo Đại là để cất chức Thủ Tướng Diệm vì ông Diệm đã khai trừ tướng Nguyễn Văn Hinh và đã đóng cửa sòng bài Đại Thế Giới của Bẩy Viễn là nơi cung cấp tiền bạc cho Bảo Đại và muốn thay thể bằng Lê Văn Viễn tức Bẩy Viễn, xếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy cảnh sát, công an...

Bị đẩy vào chân tường, Thủ Tướng Diệm đã tham khảo ý kiến hội đồng nội các rồi phúc đáp: “Hội đồng Nội Các không đồng ý để ông xuất ngọai giữa tình thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các chánh đảng và nhân sĩ quốc gia sẽ được triệu tập ngày 29/4/55 tại dinh Độc Lập để cho biết ý kiến “Thủ Tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc Trưởng hay không?” Hội nghị này gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam trong đó có ba tổ chức nổi bật và có thực lực là: VN Dân Xã Đảng (Hòa Hảo) mà bí thơ là Nguyễn Bảo Tòan, VN Phục Quốc Hội (Cao Đài) do Hồ Hán Sơn thay mặt và Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến VN của Trịnh Minh Thế do Nhị Lang đại diện.

Ông Nhị Lang, tác giả cuốn sách Phong Trào kháng chiến Trịnh Minh Thế cho biết “Đúng 10 giờ sáng ngày 29/4/55 Hội nghị khai mạc, Thủ Tướng Diệm tiến vào phòng họp với vẻ mặt ưu tư, sau khi ngỏ lời chào mừng Hội Nghị, ông tuyên bố: “Để qúy ngài được tự do thảo luận” rồi ông kiếu từ đi ngay…”

Trong khi các hội viên yên lặng chăm chú đọc chương trình nghị sự, thì ông Nhi Lang đứng lên tuyên bố: “Thưa quí vị, tôi được chỉ thị của đòan thể chúng tôi là Mặt trận Quôc gia Kháng chiến Việt Nam đến đây gặp quí vị không phải đề nói chuyện về việc Thủ Tuớng Ngô Đìng Diệm có bổn phận hay không bổn phận thi hành lệnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề, là đã đến lúc chúng ta cần trút bỏ quyền hành của ông Quốc trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Sài Gòn đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay lúc này để bắt buộc Thú tướng phải bỏ nước sang bên Pháp xa xôi kia, để ‘’tham khảo ý kiến?’’ Tham khảo cái gỉ? Phải chăng đây là mưu kế để nhắm lật đổ Chánh phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quí vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo đại ngay bây giờ, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng hội này ngay!’’.

Trong khi cử toạ còn đang bang hoàng và sửng sốt thì đại tá Hồ hán Sơn, đại diện tướng Cao đài Nguyễn thành Phương đứng lên và tuyên bố tiếp: “Nhân danh Việt Nam Phục Quốc hội, chúng tôi đồng ý với mặt trận Quốc gia kháng chiến, yêu cầu quí vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc trưởng Bảo Đại kia đi cho xong. Nếu ý kiến nầy không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc!’’

Phiên họp kéo dài 7 tiếng. Đúng 5 giờ chiều, Chủ Tịch Nguyễn Bảo Tòan mời Thủ Tướng Diệm xuống phòng họp để nghe kết qủa. Kết qủa gồm có 3 điểm sau:

* Truất phế Bảo Đại.

* Giải tán chính phủ Diệm và ủy nhiệm chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

* Tổ chức tổng tuyển cử, thành lập chế độ cộng hòa
.

Ông Nhị Lang viết: “Khi Thủ tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ Hội nghị này lại quay sang một chiều hướng khác và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thủ Tướng Diệm lộ vẻ đăm chiêu và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin qúy ngài cho tôi được có thì giờ suy nghĩ kỹ về vấn đề quan trọng này.


Ngay ngày hôm sau, 30/4/55, cụ Diệm lại nhận được thêm một công điện thứ 2 triệu hồi ông Diệm sang Pháp. Đây có thể nói là giọt nước cuối cùng đã buộc ông Diệm phải đi tới quyết định truất phế ông Bảo Đại.

Như vậy, việc truất phế Hoàng Đế Bảo Đại không phải hoàn toàn do Thủ Tướng Diệm quyết định mà là do cả một Hội nghị gồm có 18 chính đảng, đòan thể và 29 nhân sĩ miền Nam quyết định. Ông chỉ là người quyết định sau cùng và quyết định của ông cũng đứng trên quyền lợi của quốc gia dân tộc chứ không phải quyền lợi của cá nhân hay phe phái.

Với cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/10/1955, Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế và ông Ngô Đình Diệm trở thành Tổng Thống. Tổng Thống Diệm đã cho bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để sọan thảo bản Hiến Pháp cho nước Cộng Hòa Việt Nam và bản Hiến Pháp này đã được Tổng Thống Diệm ban hành ngày 26/10/1956.


II/ Những thành qủa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau 9 năm cầm quyền.

1/ Về Hành Chánh: Cải biến Trương Quốc Gia Hành thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Trường Quốc gia Hành chánh ở Đà Lạt thành lập từ năm 1952 thời Quốc gia Việt Nam. Chương trình học là 1 năm. Đến năm 1955 thì trường được chuyển về Sài Gòn và đổi tên là Học viện Quốc gia Hành chánh ở đường Alexandre de Rhodes gần Dinh Độc lập sau dời về trụ sở mới ở số 10 đường Trần Quốc Toản, Quận 3. Đây là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng hòa nhằm đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Chương trình học là 3 năm.

2/ Về Quân đội: Cải biến Trường Võ Bị Liên Quân ĐàLạt thành Trường Võ Bị Quốc Gia ĐàLạt và nâng cao trình độ các TT Huấn Luyện Hải Quân và Không Quân Nha Trang.

Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (tiếng Pháp: École militaire Inter-armes) thành lập năm 1950, nhằm đào tạo sĩ quan cho quân đội quốc gia Việt Nam, thời gian thụ huấn là 1 năm. Sang thời Đệ I Cộng hòa Việt Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm cải tổ lại và kể từ ngày 29 tháng 7 năm 1959 theo nghị định của Bộ Quốc phòng đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ huấn luyện sĩ quan hiện dịch cho ba binh chủng: hải quân, lục quân, và không quân cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chương trình thụ huần là 2 năm, sau tăng lên 3 năm.

Ngòai ra các Trung Tâm Huyấn Luyện Không Quân Nha Trang, Trung Tâm Huấn Luyên Hải Quân Nha Trang …, cũng được nâng cao trình độ kiến thức để đào tạo các sĩ quan có khả năng cho hai ngành Không Quân và Hải Quân cho quân lực VNCH. Ai muốn vào 2 binh chủng này phải có bằng Tú Tài và phải qua một kỳ thi tuyển.

3/ Về Giáo Dục: Việt Hóa Trung Học và Đại Học, Thành lập thêm Đại Học Huế.

Trước khi ông Diệm về nước, chỉ có mỗi một Viện Đại Học đó là Viện Đại Học Hà Nội. Sau năm 1954 được di chuyển vào Nam. Không những trường Đại Học mà hầu hết các trường Trung Học ở miền Nam lúc bấy giờ vẫn còn giảng dậy bằng Pháp Ngữ. Tới khi Thủ Tướng Diệm về nước chấp chính, nền giáo dục được cải tổ và Việt Ngữ được dùng để giảng dậy không những ở cấp Tiểu Học mà cả ở cấp Trung Học. Riêng cấp Đại Học thì vì vấn để thiếu giảng viên Việt Ngữ nên được Việt hóa dần dần.

Chỉ 2 năm sau ngày nền Đệ I Cộng Hoà được thành lập, nhiều trường trung và tiểu học đã được thành lập thêm. Số học sinh trung học đã tăng lên 40% và số học sinh tiểu học đã tăng lên 60%. Trường Quốc Gia Nông Lâm Súc thành lập năm 1955, sau đổi thành trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc. Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, sau đổi thành Đai Học Kỹ Thuật Phú Thọ và Viện Đại Học Huế cũng được thàng lập vào năm 1957.

4/ Về Nông nghiệp: Thành lập Khu Trù Mật, Hữu Sản Hóa Nông Dân.

Phong trào Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc của Cộng Sản dùng biện pháp đấu tố, tra tấn dã man và chém giết địa chủ để cướp đất của họ, nhằm tiêu diệt giới điền chủ và bần cùng hóa người dân, khiến cả trăm ngàn người dân vô tội bị chết chỉ vì họ có vài ba mẫu ruộng. Trái lại, chương trình Cải Cách Điền Địa ở miền Nam do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thực hiện nhằm hữu sản hóa nông dân. Đối với điền chủ, Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ thị cho các viên chức địa phương trả tiền mua số đất vượt quá giới hạn một cách thỏa đáng, chứ không tịch thu, đấu tố như miền Bắc. Chương trình này bị gián đoạn vì biến cố 1/11/63 và được tiếp tục vào những năm 1971, 1972, 1973 (6).

5/ Về Kinh Tế và kỹ nghệ.

“Kế hoạch 5 năm” đầu tiên từ 57-61 được thực hiện để kỹ nghệ hoá đất nước đã làm gia tăng sự sản xuất lúa gạo và cao su. Khu Kỹ Nghệ Biên Hoà được thành lập. Nhiều nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy ván ép được xây cất và các viện bào chế dược phẩm được thành lập. Đường xe lửa xuyên Việt được tái lập.

6/ Cải tạo xã hội: Bãi bỏ chế độ đa thê, Bài trừ tệ đoan xã hội.

Năm 1961 luật Gia Đình được bàn hành, chế độ đa thê bị bãi bỏ. Các tệ đoan xã hội như cờ bạc, hút sách v.v … bị bài trừ khiến xã hội trở nên lành mạnh. Đời sống kinh tế của người dân miền Nam ổn định và sung túc không như người dân miền Bắc phải sống dưới chế độ tem phiếu.

7/ Về Tài Chánh: Thành lập Ngân Hàng Quốc Gia và Viện Hối Đoái.

Ngày 3/12/1954, Thủ Tướng Diệm ký sắc lệnh thành lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam một cách gấp rút để có thể hoạt động từ 1/1/1955, khi Hoa Kỳ viện trợ trực tiếp cho Việt Nam và Viện Hối Đoái để phụ trách các giao dịch về ngoại tệ.

Ngòai những thành qủa trên, Tổng Thống Diệm còn cho thành lập khu Trù Mật, khu Dinh Điền, thi hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược và phát động Phong Trào Tố Cộng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã ra bản Tuyên Cáo vào ngày 17 tháng 4 năm 1963 mở đầu chiến dịch Chiêu Hồi khiến cho Cộng Sản miền Bắc lo sợ.


III/ Kết luận.

Về nước trong tình thế nhiễu nhương, đầy khó khăn, vậy mà ông đã ổn định được miền Nam, thu hồi được chủ quyền từ tay người Pháp và lập lên nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam. Với một thể chế dân chủ tuy không được hoàn hảo như các nước tân tiến tây phương nhưng chính phủ Ngô Đình Diệm cũng đã đem lại cho người dân được hưởng một cuộc sống tự do dân chủ, no ấm và một nền giáo dục tốt đẹp, đầy tính cách nhân bản và khai phóng. Trong khi đó, miền Bắc, cho tới năm 1975 người dân vẫn còn phải sống dưới chế độ ngu dân, độc tài và đói khổ.

Có thể nói, kể từ khi Nhật đầu hàng và trao trả độc lập cho Việt Nam cho tới bây giờ, chưa có một vị Tổng thống, Quốc Trưởng hay Chủ Tịch nước nào đạo đức, liêm khiết và hết lòng vì nước, vì dân bằng Tổng thống Ngô Đình Diệm. Và cũng kể từ khi Việt Nam được độc lập tới nay, cũng chưa có chính phủ nào thực hiện được những thành quả tốt đẹp cho quốc gia dân tộc như chính phủ của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Có thể nói: Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đã tái thiết miền Nam sau chiến tranh Việt Pháp 1946-1954, đã đưa miền Nam Việt Nam trở thành một quốc gia có một nền kinh tế tốt đẹp và một quân đội hùng mạnh. [color=blue]Còn ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam chì lo phá hoại, lo chiến tranh và lo khủng bố, giết hại đồng bào miền Nam vô tội.

Không phải chỉ có người Việt Nam chúng ta mới mới kính trọng Tổng Thống Diệm mà nhiều người ngọai quốc trong đó có Giáo Sư Sử Gia Edward Miller và Sử Gia Henry Fairbanks cũng phải cộng nhận ông là một người có hoài bão thực hiện một nhà nước được xây dựng trên những giá trị tốt đẹp nhất của Tây Phương và khôi phục những giá trị cổ truyền tốt đẹp (của Đông Phương làm nền tảng cho phương thức canh tân xứ sở. Tổng Thống Tưởng Giới Thạch thì nói: “Một trăm năm nữa thì Việt Nam cũng không thể tìm được một người như Tổng Thống Ngô Đình Diệm” và Tổng Thống Eisenhower cũng phải công nhận ông là : Một người phi thường “He’s a miracle man”. Phó TT Hoa Kỳ Johnson cũng đã ca ngợi rằng: “Tổng Thống Diệm là một Churchill của Á Châu...Lịch sử xếp ông ta như là một trong những vĩ nhân của thế kỷ 20”.

Từ ngày miền Nam xụp đổ người dân miền Nam đã nhận thức được ông Ngô Đình Diệm là người thế nào và đâu là nguyên do thực sự đưa đến sự xụp đổ của miền Nam, thì hầu như khắp nơi trên thế giới, nơi nào có đông người Việt tỵ nạn Cộng Sản cũng đều tổ chức Lễ Tưởng Niệm Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách trang nghiêm và long trọng vào tháng 11 hàng năm để tưởng nhớ công ơn của cố Tổng Thống Diệm.

Những việc làm của Tổng Thống Diệm [không phải là không có khuyết điểm và thiếu sót. Nhưng với những thành quả mà ông đã đạt được, dân tộc Việt Nam sẽ đời nhớ ơn ông. Rồi đây, khi đất nước Việt Nam thanh bình và chế độ Cộng Sản không còn, chắc chắn sẽ có những kỳ đài, những quảng trường, những trường học, những đại lộ mang tên NGÔ ĐÌNH DIỆM, để tưởng nhớ vị tổng thổng đầu tiên của Việt Nam đã vị quốc vong thân.


wild grass  
#46 Posted : Saturday, October 29, 2016 11:44:36 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY QUỐC KHÁNH VNCH

Nguồn: Khối Tinh Thần NGÔ ĐÌNH DIỆM Đức Quốc



UserPostedImage



UserPostedImage
Giây phút lịch sử của VNCH, 26/10/1956.
Quốc Khánh 26 tháng Mười 1956, đánh dấu sự ra đời của Việt Nam Cộng Hoà.
Từ đó, ngày này còn được gọi là Tết Cộng Hoà.




UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


wild grass  
#47 Posted : Sunday, October 30, 2016 8:10:19 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)
MINH XÁC MỘT CÂU NÓI LỊCH SỬ

lê thanh hùng





UserPostedImage





Tôi tiến, tiến theo tôi. Tôi lùi hãy giết tôi. Tôi chết hãy theo gương tôi” (Mừng Quốc Khánh, ngày 26-10-1963)


Kính thưa: - Quý vị quan khách,

- Toàn thể quý vị,

Thưa: - Các bạn trẻ thân mến.

Trước hết, chúng tôi xin cám ơn ban tổ chức cho phép chúng tôi được chia sẻ đôi dòng mộc mạc sau đây với toàn thểi quý vị, nhân dịp lễ Tưởng Niệm Tinh Thần Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cũng là tưởng niệm tình thần các Chiến Sĩ Quốc Gia đã bỏ mình vì tổ quốc.

Kính thưa toàn thể quý vị.

Có lẽ quý vị đồng ý với chúng tôi rằng: Chúng ta đến đây không phải để vinh danh, ca tụng ông Ngô Đình Diệm là Tổng Thống VNCH. Nhưng chúng ta đến đây để ngưỡng mộ tinh thần của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Vậy tinh thần đó là gì?

Theo kiến thức chất phác và nông cạn của chúng tôi là hai câu sau đây:

Vào khoảng tháng Tư năm 1963, chúng tôi viết bài luận văn bằng cách bình luận lời nói sau đây của Ngô Tổng Thống:

“Đạo đức thắng tội ác. Sự thật thắng gian trá. Tình thương thắng hận thù.”

Thế rồi sau khi Tổng Thống bị thảm sát, nhất là khoảng 30 năm gần đây, chúng ta thường biết đến câu nói sau đây gán cho Tổng Thống trên các diễn đàn hay sách báo v.v.:

Tôi tiến, tiến theo tôi. Tôi lùi hãy giết tôi. Tôi chết trả thù cho tôi.”

Tiếc thay! Câu nói của Tổng Thống không phải như vậy, mà nguyên văn như sau:

Nếu tôi tiến, các ông tiến theo tôi. Nếu tôi lùi các cứ ông giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!”

Để minh xác lại lời nói của Tổng Thống như trên, chúng tôi xin mượn bài viết của ông Hương Bình Cao Văn Chiểu, nguyên Dân Biểu nền Đệ I VNCH với nhan đề dưới đây:

MINH XÁC MỘT CÂU NÓI LỊCH SỬ

Ai cũng biết, trước đây, hàng năm, ngày 26 tháng 10 là ngày QUỐC KHÁNH, kỷ niệm ngày thành lập Đệ Nhất Cộng Hòa Việt-Nam.

Tại Dinh Gia-Long, thường lệ mỗi năm, Tổng Thống Ngô-Đình-Diệm thường tỏ ra vui vẻ, thân mật với các vị Đại-Diện quân dân tới chúc mừng.

Nhưng ngày QUỐC KHÁNH 26-10-1963 đã có một không khí khác biệt. Sau những lời chúc từ của đại diện các cơ quan, đoàn thể, Tổng Thống Ngô-Đình-Diệm chỉ đáp từ rất vắn tắt, rồi đột nhiên, với một giọng cương quyết, nhấn mạnh từng chữ và tuyên bố: “Tình thế biến chuyển, vận nước đổi thay ra sao, sử sách sau này sẽ ghi rõ… Riêng về phần tôi, nếu tôi tiến, các ông hãy theo tôi, nếu tôi lùi các ông cứ giết tôi. Nếu tôi chết các ông hãy theo gương tôi!”

Nói xong, Tổng Thống cáo từ, rồi rút lui.

Mọi người đều ngạc nhiên, ưu tư, vì trong mấy ngày trưóc đó, tình hình đã trở nên gây cấn, có thể nói là trầm trọng, một bầu không khí hoài nghi, bất trắc, không ai đoán được những gì sẽ xẩy ra.

Rồi chỉ vài hôm sau, là cuộc chính biến 1-11-1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã bị bọn tướng lãnh đảo chánh và thảm sát.

Phải chăng Tổng Thống đã có linh tính biết, thấy những việc chẳng lành sắp xẩy đến cho mình và cho Đất Nước!

Kẻ viết bài này đã có mặt tại Dinh Gia-Long hôm đó và đã mắt thấy, tai nghe những lời tuyên bố nói trên.

Nhưng sau đó, câu nói của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị dư luận và báo chí tường thuật sai lạc:

Nếu tôi phục vụ cho quốc dân, xin đồng bào hãy giúp tôi. Nếu tôi bị ám sát xin hãy trả thù cho tôi!”

Như vậy là hoàn toàn sai!

Một người như Tổng Thống Ngô Đinh Diệm, với đức độ hiếu sinh, nhân từ và bác ái, lại chủ trương thuyết Nhân Vị một cách thành tín, không bao giờ lại có thể đặt vấn đề “báo thù, báo oán”, không bao giờ lại hô hào người khác trả thù cho mình! Sở dĩ có sự sai sự thật này, có lẽ vì một số người dựa vào câu nói của một nhân vật Pháp na ná như thế, để gán cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm:

“Si j’avance, suivez moi. Si je recule, tuez moi. Si je meurrs, vengez moi!”

Nhưng ai cũng biết, nhất là những người đã có mặt tại Dinh Gia Long hôm đó, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không lấy một câu của kể khác để làm phương châm cho mình! [ ]

HƯƠNG BÌNH CAO VĂN CHIỂU
Antony. Pháp


UserPostedImage




Còn theo lời của Đại Úy Lê Châu Lộc, cựu sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống cho biết: Đôi khi Tổng Thống đi thăm mấy đơn vị quân đội, ngài thường nhắn nhủ:

“… Nếu tôi chết anh em hãy nối chí tôi”.

Như vậy “Nối chí tôi!” hay “theo gương tôi!” có thể hiểu như cùng một nghĩa.

Ngoài ra, tinh thần của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được thể hiện trong cuộc sống của ngài như chúng ta đã từng thấy. Nhất là trên cương vị một lãnh tụ ngài cương quyết không chấp nhận bốn yêu sách của chính quyền Hoa Kỳ qua Đại Sứ Henry Cabot Lodge bắn tiếng thăm dò như sau:

1.- T.Th. Ngô Đình Diệm nhường hải cảng Cam Ranh cho Hoa Kỳ 99 năm
2.- T.Th. Ngô Đình Diệm chấp thuận cho Hoa Kỳ đưa 200.000 quân vào Nam Việt Nam
3.- T.Th. Ngô Đình Diệm đặt Bộ Quốc Phòng VNCH dưới quyền chỉ huy của Quân Đội Hoa Kỳ.
4.- T.Th. Ngô Đình Diệm phải đưa ông cố vấn Ngô Đình Nhu ra nước ngoài.


Sau khi những dòng chia sẻ khiêm tốn này được phổ biến, nhiều người thắc mắc:

Bằng cách nào chứng minh được bốn đề nghị trên ông Cabot Lodge nhận chỉ thị từ chính quyền John Kenedy Jr. là chính xác?

Xin thưa: Sau khi anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát, bốn đề nghị trên đã thực sự diễn ra tại miền Nam Việt Nam chúng ta mà ai ai, và ngay cả thế giới đều thấy rất rõ. Đó là câu trả lời chính xác nhất.

Thế rồi vào những giờ phút rất nguy khốn cho tính mạng, Tổng Thống vẫn tỏ ra can đảm và bất khuất nói thẳng vào Đại Sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge (có ông Frederick Flot đứng cạnh) đề nghị Tổng Thống ra đi. Tổng Thống vẫn lớn tiếng với ông Cabot Lodge rằng:

Ông Đại Sứ có biết ngài đang nói chuyện với ai không? Tôi xin ngài biết cho rằng, ngài đang nói chuyện với Tổng Thống của một nước độc lập có chủ quyền. Tôi không bỏ dân tộc tôi. Tôi chỉ rời nước tôi, nếu đó là ý muốn của toàn dân tôi. Tôi sẽ không ra đi theo lời yêu cầu của ông Đại Sứ và của các tướng làm loạn. Chính phủ Hoa Kỳ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước thế giới về vấn nạn khốn nạn này.” (Ông Cao Xuân Vỹ và vài sĩ quan tùy viên đứng gần đó nghe rất rõ).

Tôi (Frederick Flot) đáng lẽ sẽ đón Tổng Thống bằng chiếc Limousine có treo cờ Mỹ đưa Tổng Thống ra phi trường, từ đó ông ta sẽ lên máy bay của Đ.S. Cabot Lodge đi Phi Luật Tân

Khi tới bước đường cùng, cái chết gần kề, linh mục Jean quản nhiệm nhà thờ Cha Tam đề nghị Tổng Thống lẩn tránh, Tổng Thống đã khẳng khái như một chiến sĩ can đảm từ chối:

Xin cảm ơn cha. Tôi không có tội gì với dân tộc và quốc gia tôi. Tôi thấy không có lý do gì phải lẩn tránh” (LTNĐGMTT, tr. 664)

Sau khi trả lời cha Jean như trên, Tổng Thống liền bảo Đại Úy Đỗ Thọ gọi điện thoại báo cho các tướng đảo chính đem xe đến đón ngài vể Bộ Tổng Tham Mưu gặp họ, chứ ngài không đầu hàng như nhiều người suy diễn.

Kính thưa toàn thể quý vị.

Trong văn chương Âu - Mỹ đã khuyên nhủ: “Ly sữa đã đổ xuống thảm, làm sao lấy lại được.”

Vì thế, chúng ta đến đây không phải để than khóc, để thương tiếc Tổng Thống; chúng ta cũng không đến đây để oán thù những kẻ đã gây ra ngày Quốc Nạn 1-11-1963. Thay vào đó chúng ta cùng nhau “nối chí, noi gương” Tổng Thống Ngô Đình Diệm là cùng nhìn về tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta bên kia biển Thái Bình, mà bọn Việt Cộng đã từng bị bọn Tầu Cộng tẩy não cả rồi và còn áp chế nữa. Họ không còn mang dòng máu Việt Nam như chúng ta nữa. Họ đang quay về với nguồn gốc của họ là Tầu Cộng. Còn bọn Tầu Cộng đang gậm nhấm tổ quốc Việt Nam chúng ta bằng kế hoạch “ru ngủ, âm thầm, lặng lẽ, từ từ như tằm ăn dâu. Khéo dệt như lụa Hàng Châu. Êm ả như nhung Thấm Quyến… theo thể thức “diễn tiến hòa bình”, khiến người dân nước Việt và dư luận quốc tế nhận thấy, Trung Hoa không “đô hộ” Việt Nam, nhưng chính người Việt Nam tự đồng hóa, trở về cội với nguồn là dân tộc Trung Hoa. Để rồi, từng bước, từng bước thầm… đến năm 2060 tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta sẽ trở thành một quận của Trung Hoa với danh xưng “Âu Lạc.”

Vậy, nhân mùa Tưởng Niệm lần thứ 50 cố Tống Thống Ngô Đình Diệm, cũng là Tưởng Niệm các chiến sĩ Quốc Gia chân chính đã bỏ mình vì tổ quốc Việt Nam, chúng ta những người Việt quốc gia nóí chung và những người ngưỡng mộ Tình Thần cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói riêng, dù ở bất cứ nơi nào, xin hãy vì tiền đồ tổ quốc, bớt đi những ý kiến, những quan điểm riêng tư, phe nhóm… Thay vào đó, xin hãy cùng nắm tay nhau để “còn nước còn tát” cứu lấy quê hương chúng ta bằng cách nào đó, hầu tránh được cảnh phải khóc than ai oán như nhạc sĩ Việt Khang đang ngậm ngùi trong lao tù Cộng Sản: “Việt Nam tôi đâu? Việt Nam còn hay đã mất?”, và, để hương linh Đức Quốc Tổ Hùng Vương, hương linh các anh hùng giữ nước qua các triều đại, các thời đại, hương linh các anh hùng vô danh cùng hương linh toàn thể chiến sĩ quốc gia… được mỉm cười nơi chin suối, nhất là đề thế hệ con cháu chúng ta tránh khỏi cảnh tủi nhục dưới ách Bắc thuộc lần thứ NĂM.

Xin kính chào toàn thể quý vị.

Ghi nhớ ngày Quốc Tang thứ 50 của dân tộc Việt Nam (2 – 11 – 2013.)



https://youtu.be/z6XPhaoeyIA




UserPostedImage

Edited by user Sunday, October 30, 2016 8:16:56 PM(UTC)  | Reason: Not specified

wild grass  
#48 Posted : Monday, October 31, 2016 11:09:54 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


Cuộc gặp lịch sử




UserPostedImage





Francis X. Winters * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch -

Hồ và Diệm gặp nhau một lần duy nhất.


Vào năm 1946 lực lượng của Hồ bắt Diệm và giam ông ở trong tù cho tới khi Hồ mời ông đến phỏng vấn tại căn cứ địa miền núi Tuyên Quang của Hồ. Hồ đã khiến người tù kinh ngạc:

Tôi sẵn sàng dành cho ông chức vụ cao trong chính phủ của tôi.”

Nếu lời đề nghị này khiến Diệm kinh ngạc thì câu trả lời của Diệm lại khiến Hồ sững sờ:

Ông và tôi mỗi người đều muốn những tương lai hoàn toàn khác nhau cho Việt Nam. Ông có thể cam kết ông sẽ không áp đặt chuyên chính vô sản ở đây?”

Rồi Diệm thử xem Hồ có tuyên bố thật lòng hay không.

Tôi sẽ chấp nhận Bộ Nội Vụ (công an) kèm theo sự kiểm soát hoàn toàn về tình báo.”

Hồ không khước từ ngay lời đề nghị ngược lại này. Hồ cân nhắc trong hai tuần trước khi thấy quyền lực của mình bị phân chia như thế là không hay. Lời nói chia tay của họ như sau:

Diệm: “Tôi không tin ông hiểu tôi là người như thế nào. Hãy nhìn thẳng vào mặt tôi. Phải chăng tôi là người sợ hãi?”

Hồ: “Không, ông không phải là người như thế.”

Diệm: “Tốt, vậy bây giờ tôi đi ngay.”

Nguồn: Trích dịch từ tạp chí Mỹ National Review số ra ngày 25/11/1988, trang 34, trong bài báo tựa đề nguyên tác “ They shoot allies, don’t they? When, 25 years ago, Ngo Dinh Diem was assassinated, his supporters blamed the United States. They were right.”

* Tựa đề của người dịch.


1.11.2016
Trần Quốc Việt


wild grass  
#49 Posted : Sunday, November 13, 2016 11:44:09 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Tưởng Niệm và Tri Ân QLVNCH,
trong ngày Chiến sĩ trận vong tại Hoa Kỳ

Mường Giang




Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói “Ðất nước còn thì còn tất cả”. Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đã mất hết mọi thứ kể cả quyền được làm người bình thường, khi chính phủ và quân lực VNCH không còn tồn tại, để bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và trăm ngàn cuộc chiến khắp mọi nẽo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị rã ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng.

Nói về sự hy sinh của Người Lính VNCH, tác giả Ý Dân đã đem hai lực lượng quân sự của hai miền Nam-Bắc VN so sánh và kết luận rằng: “Cuộc chiến khốc liệt do Cộng sản Bắc Việt phát động bởi lệnh của Liên Xô và Trung Cộng nhằm cưỡng chiếm Miền Nam VN, bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản đệ tam quốc tế kéo dài đến 20 năm, với những hậu quả tang thương cho quê hương và dân tộc Việt “. Cộng sản Bắc Việt đã cho hàng triệu bộ đội xâm nhập vào tàn phá miền Nam. Chính phủ VNCH vì phải bảo vệ lãnh thổ và sinh mệnh đồng bào, nên đã chống trả hết sức dũng cảm và mãnh liệt. Người Việt mấy ngàn năm chung gốc nguồn, huyết thống, lịch sử và tổ tiên cha me, bổng dưng oan nghiệt bị ngoại bang áp đặt đứng về hai phía đồi nghịch hận thù, bôi mặt tàn sát lẫn nhau, trong hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ suốt cuộc chiến này.



UserPostedImage





Sau ngày 30-4-1975 mọi xảo trá lần lượt bị phơi bày từ mọi phía, cho thấy cuộc chiến VN hoàn toàn do Hồ Chí Minh và đảng CSVN làm theo lệnh của QTCS gây ra. Cũng vì vậy, Bắc Việt đã được viện trợ vũ khí ồ ạt của Khối CSQT mà đứng đầu là Liên Xô và Trung Cộng.. nên được trang bị từ vũ khí cá nhân tới cộng đồng. Trong khi đó, QLVNCH được Hoa Kỳ trang bị phần lớn quân dụng đã lổi thời và nhỏ giọt (kể cả chiến hạm, phi cơ, trọng pháo) nhưng Họ vẫn can đảm chiến đấu để bảo vệ hữu hiệu được miền Nam VN cho đến ngày đau thương mất nước

Cũng nhờ tinh thần chiến đấu phi thường và sự hy sinh vô bờ bến của Người Lính, qua các trận đánh lừng danh trong quân sử mà điển hình là Tết Mậu Thân năm 1968, Bắc Việt bất ngờ đồng loạt tấn công 44 tỉnh lỵ của miền Nam VN, vẫn bị thảm bại ê chề, bỏ lại hơn 60.000 xác trên trận địa khi tháo chạy. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, người lính QLVNCH vẫn kiêu hùng đẩy lui được nhiều sư đoàn bộ đội Bắc Việt khi mưu toan thôn tính các tỉnh Quảng Trị, Kon Tum, Bình Ðịnh, Bình Long. Tất cá các trận đánh trên đều ác liệt, đẳm máu, nói lên sự thiện chiến của người lính QLVNCH phải đương đầu với quân số đông gấp bội và trang bị vũ khí tối tân của giặc. Kết quả nhiều sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt phải rút lui, bỏ lại nhiều chục ngàn tử thi và hằng trăm xác chiến xa bị bắn cháy, tại mặt trận.



UserPostedImage



Nhưng số phận của người lính VNCH đã không may mắn bởi sự sắp đặt oan nghiệt của các thế lực quốc tế, qua bàn tay lông lá của đồng minh Mỹ. Rồi trong lúc chiến thắng gần kề, họ đã bị bức tử và đầu hàng. Ðưa ra lời nhận xét về người lính VNCH, nhà báo nổi danh Peter Kahn viết rằng “người lính miền Nam VN đã chiến đấu cho lý tưởng tự do, nhưng rất tiếc họ đã bị trói tay, buộc chân, cắt giảm viện trơ..”. Tóm lại, không có quân đội nào, khi gặp hoàn cảnh cay nghiệt trên mà vẫn giữ được lòng trung thành tuyệt đối với Tổ Quốc và sự chịu đựng một cuộc chiến đấu lâu dài, tàn khốc như vậy. Còn nhà báo Denis Warner thì lên án gay gắt quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự cho QLVNCH vào lúc cần phải gia tăng. Sau cùng, để vinh danh người lính QLVNCH,nhà báo Peter Kahn đã đưa ra lời kết luận: “Rốt cuộc người lính QLVNCH đã tài giỏi hơn sự ước lượng của các chuyên gia quân sự trên thế giới. Phía mạnh hơn chưa hẳn là phía tốt hơn.”.

Bộ đội CS Bắc Việt, nhà văn gái Dương Thu Hương viết rằng “mục tiêu mà bộ đội Bắc Việt theo đuổi trong suốt cuộc chiến chỉ đem lại kết quả tai hại, là biến đổi xã hội văn minh VN bằng một mô hình xã hội man rợ”.

Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đã đạt được nhiều chiến công hiển hách trong suốt dòng lịch sử của dân tộc, qua sứ mạng ngăn chống các cuộc chiến xâm lăng của giặc phương Bắc lẫn phương Nam, trong đó có cả Lào-Thái, bọn thực dân da trắng Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Lan.

Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nữa, ra đời trong nước hay hải ngoại, vẫn luôn có bổn phận ngưỡng mộ và hãnh diện, về công đức vĩ đại “dựng và giữ nước” của tiền nhân, trong đó “Quân Ðội VN bao đời” là lực lượng chính yếu bảo vệ Tổ Quốc Hồng Lạc, khác hẳn với Bộ Ðội Cộng Sản Bắc Việt trước sau, trên dưới chỉ biết “trung với đảng, hiếu với lãnh tụ” và yêu nước là “nước Xã Hội Chủ Nghĩa” mà thôi!

Với ý nghĩa thiêng liêng và cao quý trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được hình thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự của khối cọng sản đệ tam quốc tế, do Cộng Sản Bắc Việt đảm nhận. ÐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ của quân dân MIỀN NAM chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.

Ðây không phải là một cuộc chiến riêng của CỌNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây thời đó và ngay cả bây giờ, đã bóp méo sự thật với mục đích đầu độc dư luận thế giới để làm giảm uy tín của QLVNCH. Làm như vậy, Cộng Sản và thành phần ham sống sợ chết, đám con ông cháu cha, quan quyền nhà giàu được du học ngoại quốc, mới có cơ hội vừa ăn chơi trác táng, vừa chửi Mỹ, vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong sản tại Ðông Nam Á tức Bắc Việt, mới có được một chính nghĩa lý tưởng “đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước”. Còn bọn phản chiến Miền Nam VN mới có chính danh “để khước từ trách nhiệm và bổn phận” đối với đất nước mình trong thời loạn, mà “giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh”.



UserPostedImage



Ðây mới chính là nổi thãm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. Vì định kiến, vì buông xuôi, vì thủ đoạn con buôn quốc tế. Tất cả đã dồn ép QLVNCH vào chân tường trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút tình quân-dân, cá-nước... Trong đó thiệt thòi nhất, không phải là những đơn vị chính qui mà là những người lính cô đơn Nhân Dân Tự Vệ, Cán Bộ Xã Ấp, Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân và Ðịa Phương Quân.. luôn phải sống chết với đất, với nhà, trực diện từng giây phút với Việt Cộng để bảo vệ ruộng đồng, làng xóm, đình chùa nhà thờ, những di tích lịch sử của tổ tiên bao đời tạo dựng và sinh mệnh trân quý của đồng bào.

Hai mươi năm chiến đấu đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải đối mặt với một kẻ thù gian xảo độc ác, mất hết thiên lương nhân tính vì đã bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt. Còn sau lưng bị đâm lén bởi hậu phương vô tình bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh Mỹ “con buôn chính trị” cùng với đại bàng trên thượng tầng cao ngất “chia xương, bán máu lính” để vinh thân phì gia. Xin được cảm ơn những Bộ Ðội VC Nguyễn Thùy, Vũ Ngọc Tiến, Nguyễn Hòa ... đã trung thực vẽ lên “bức tranh vân cẩu” của cuộc chiến VN, qua những hồi ký, tạp ghi, truyện dài, truyện ngắn.. kể cả những bức thư tâm tình rất cảm động. Tất cả hầu hết, đều thẳng thừng xác nhận hay nói đúng hơn đã lên án “chỉ có Bộ Ðội Bắc Việt hay Việt Cộng, vì thiếu thốn tình dục, thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hãm hiếp phụ nử, chứ người lính VNCH đâu có lý do gì, để mà cuồng dâm cả xác chết của nử cán bộ VC? như một vài kẻ khùng điên ngẩu hứng, muốn cho đời biết tên tuổi, đã bịa chuyện để làm hoen ố thanh danh của chính đồng đội mình.


CẢM TẠ MIỀN NAM

Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do, dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.
Cảm tạ Miền Nam soi đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không phải Các Mác và Lê Nin ngoại tộc.
Cảm tạ Miền nam mở lòng khai phóng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ
Cảm tạ Miền Nam một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỉ
Dù không thành công cũng đã thành nhân.


(Phan Huy)



UserPostedImage



Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tròn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.

Sau đó, cọng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này có nhiều “mẹ chiến sỉ VC” đã từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng sống còn để “quậy nát đất nước” trong suốt thời gian chiến tranh 1945-1975.

Bao nhiêu bi kịch do Hà Nội đã tạo ra sau ngày Miền Nam VN bị cưởng chiếm, từ hành động cầy mồ người chết để trả thù đã bị thua VNCH trên chiến trường, tới việc VC cướp bóc tài sản, cưởng bức vợ con Người Lính Miền Nam ngã ngựa, hành hạ những phế binh, cô nhi quả phụ tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch ‘đuổi tận, giết tuyệt’ các thành phần trên, đang sống tại các chòi, dựng trong Nghĩa Ðịa Phước Bình, Sài Gòn và những nơi khác khắp mọi miền đất nước. Nơi nào VC cũng hung hăng tàn ác không hề thay đổi.

Bốn mươi mốt năm tan hàng rã ngũ, quân-dân Miền Nam đã lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xã nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thể xác dù đã bị bầm giập tan nát, tinh thần của người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lý tưởng của họ. Công cuộc đấu tranh của Dân-Quân-Cán-Chính và thế hệ hậu duệ của VNCH từ mấy chục năm qua sau ngày mất nước, với chính quyền Cộng Sản VN trong nước cũng như tại Hải Ngoại, đã minh chứng hùng hồn, về sự chính danh và lý tưởng của người Quốc-Gia và QLVNCH.



UserPostedImage



Ngày nay dù trong tay không còn súng đạn, đồng minh nhưng người Lính cũ năm xưa, vẫn tiếp tục con đường quang phục đất nước bằng tim óc, thân xác còn lại, có đồng đội bên canh cùng chiến đấu, đồng bào trong các Cộng Ðồng Tị Nạn ủng hộ giúp đở tiếp tay và hãnh diện nhất là sự dấn thân ồ ạt của những thành phần trí thức trong nội địa và hải ngoại. Tất cả quyết tâm đạt cho bằng được “Chiến thắng cuối cùng”. Ðó là giựt xập chế độ bất nhân tàn bạo kẻ cướp của QTCSVN, cởi ách nô lệ thực dân mới, đang xiết cổ hơn 90 triệu đồng bào trong nước, thực thi nền dân chủ pháp trị, bình đẳng, tự do.. để cho người Việt lấy lại quyền làm người, đã bị Hồ Chí Minh và đồng bọn cướp mất từ tháng 9-1945 cho tới ngày nay. Ðược như vậy, người Việt mới có cơ hội ngẩn mặt nhìn trời và quyền tự quyết về vận mệnh cũng như số phận của Nước Việt, trước kẻ thù không đội trời chung “Trung Cộng”.

dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đã điểm sương mới về
.’
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )

Tóm lại nếu không bị Mỹ và bọn trí thức nằm vùng hay thiên tả của Miền Nam bán đứng, chắc chắn VNCH cũng sẽ như Tây Ðức, Nam Hàn và Ðài Loan, không bị mất và sụp đổ vào tay Bắc Việt vào tháng 4-1975. Người VN sẽ không bị tủi nhục vì kiếp sống lưu vong đầu đường xó chợ, qua thân phận tị nạn, lao động, bán dâm và làm dâu bất đắc dĩ khắp chân trời góc biển.

Hai mươi năm chinh chiến, đâu đâu cũng có mặt những chiến sĩ hào hùng của QLVNCH như Dù, TQLC,BDQ,LLDB,TG,BB kể cả DPQ,NQ. Cùng lúc, tại các chiến trường hiểm nguy trên, không bao giờ thiếu bóng dáng của người lính áo đen, đang âm thầm hoạt động bên những thần tượng của quân lực, với nhiệm vụ tiếp cận, thông tin và mở rộng vòng tay đón đồng bào ra khỏi vùng mê lụy, chết chóc, mà VC gọi là khu giải phóng. Họ là những chiến sĩ vô danh của QLVNCH, đã có mặt khắp nước từ 1955-1975, đã chết, bị tù đày hành hạ dã man như bất cứ một người lính nào của miền Nam sau ngày 30-4-1975.

Hỡi ơi, một thời lịch sử hào hùng đã khép lại, bao chục năm buồn thảm đến đi trong thiên đường xã nghĩa nhưng vẫn không ngăn nổi phế hưng cuộc đời, trong đó thời gian đã làm sống lại những gương anh hùng liệt nữ của VNCH thuở nào đã nằm xuống vì đại nghĩa dân tộc từ 1955-1975. Và như thế viết lại những trang sử này cho dù không thể nói hết vì Những người Lính chiến đấu đơn độc trong mọi chiến trường khắp nước hay tại Bình Thuận, là những chiến sĩ vô danh thênh thang một cõi đi về.

Còn hình ảnh nào đẹp và hào hùng hơn, khi lật qua những trang quân sử của VNCH, của một tướng lãnh hàng đầu, mà cấp bậc được gắn ngay tại mặt trận. Ðó là Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng TMT.QLVNCH, lúc còn Ðại Tá Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhảy Dù. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, lúc còn là Thiếu Tá Liên Ðoàn Trưởng LÐ Quan Sát 77, đã nhảy trực thăng vào chiến trường để tự mình điều động chỉ huy binh sĩ, trong trận Suối Ðá (Tây Ninh) vào năm 1964, trước tầm súng cá nhân của VC.

Những ngày lửa máu Tết Mậu Thân 1968, làm sao quên được hình ảnh của Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, xông xáo khắp các Mặt Trận Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Ðịnh, để trực tiếp chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến tại Ðô Thành, nên đã bị thương nhưng không chịu cho tải thương. Nhiều tướng lãnh khác cũng đã hy sinh tại chiến trường như Chuẩn tướng KQ Lưu Kim Cương, Nguyễn Bá Liên (Tư lệnh Biệt Khu 24), Trương Quang Ân (Tư lệnh SD23BB), Trương Hữu Ðức (Tư lệnh Thiết Giáp), Trung tướng Nguyễn Viết Thanh (Tư lệnh Quân Ðoàn 4), Ðại tướng Ðổ Cao Trí (Tư lệnh QD3). Ðại Tá Lê Ðức Ðạt (Tư lệnh SD22BB)..

Mùa hè đỏ lửa 1972, Trung tướng Nguyễn văn Toàn (Tư lệnh QD2) đã bay vào trận địa tại Thị xã Kon Tum, để chỉ huy phá chốt. Tại Bình Thuận, từ 1969-1975, Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa, Tiểu Khu Trưởng và Ðốc Sự HC Phạm Ngọc Cửu (Phó Tỉnh Trưởng) có đêm nào mà không tới các đồn bót, xã ấp, đại đội DPQ.. để ngủ chung với các đơn vị tác chiến. Tại Mặt Trận Phan Rang ngày 16-4-1975, từ Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (Tư lệnh Tiền Phương của QD3) tới Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang (Tư lệnh SD6KQ) và Ðại Tá Nguyễn Thu Lương (Lử Ðoàn Trưởng Nhảy Dù). Cả ba vị đều có trực thăng riêng để thoát thân, khi đại quân Bắc Việt tràn ngập khăp nơi. Nhưng vì không thể bỏ rơi thuộc cấp, tất cả đã đi bộ và bị giặc bắt tại chiến trường. Ðó là những tấm gương chói lọi trong quân sử, mà bất cứ đọc tới cũng phải kính phục, ngưởng mộ.

Tóm lại, trong hàng ngũ tướng lãnh Miền Nam, đã có rất nhiều khuông mặt LỚN đầy UY VŨ HIÊN NGANG, chấp nhận cái chết liệt oanh làm banh mặt kẻ thù lúc đó, góp phần với đồng bào và các chiến sĩ vô danh anh hùng khác.. nêu tấm gương bất khuất của người lính trận, cái tiết tháo ngàn đời của đấng sĩ phu trí thức Hồng-Lạc và trên hết là TRÁCH NHIỆM-DANH DỰ của Cấp Chỉ Huy, Lãnh Ðạo: “Sinh vi Tướng, Tử Vi Thần ố Nhất tướng công thành vạn cốt kho” nên Thành Mất Phải Mất Theo Thành. Những danh tướng VN Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai.. ngay khi tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh bắt QLVNCH buông súng, rã ngủ đầu hàng Cọng Sản Ðệ Tam Quốc Tế lúc trưa ngày 30-4-1975, các vị trên đã tự tìm cái chết vinh, làm hãnh diện cho màu cờ và sắc áo của QLVNCH, mãi mãi trong dòng sử oai hùng Nước Việt.

Giá trị của con người giữa chốn ba quân, vinh hay nhục là thế đó!


Viết từ Xóm cồn Hạ Uy Di
Tháng 11-2016
Mường Giang



wild grass  
#50 Posted : Tuesday, December 20, 2016 2:38:19 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Hoài Niệm -
Việt Dzũng, niềm thương tiếc khôn nguôi

We Production




UserPostedImage



Cho Ngày tưởng niệm 20/12/2016, giỗ ba năm, của cố nhạc sĩ Việt Dzũng.

Trân trọng chia sẻ và gửi tặng Hoài Niệm đến gia đình, người vợ thân yêu của anh Việt Dzũng, cũng như tất cả các thính giả ái mộ người nhạc sĩ vẫn mãi mãi đồng hành cùng chúng ta trong công cuộc quang phục quê hương.

Phần chính của lời nhạc phổ từ một bài thơ của độc giả Nguyễn Đan Thanh hiện còn ở Việt Nam. Tin rằng nỗi niềm trong bài thơ cũng là nỗi niềm của rất nhiều người Việt khắp nơi, và WE đã thực hiện ca khúc Hoài Niệm này.




https://youtu.be/qoBERWIqejU

Hoài niệm - Lời Nguyễn Đan Thanh & Trần Bảo Như - Nhạc Trần Bảo Như - Hòa âm Nguyên Ca -Tiếng hát Mê Linh


Từ nguyên tác:

Nhớ Việt Dzũng - Nguyễn Ngọc Hùng Dũng
Nguyễn Đan Thanh

Tôi Bao giờ nghe được bản tình ca
Là nhặt được mảnh trăng xưa ngày ấy
Giòng sông thơ gió chiều đưa đẩy
Dưới lòng sông trỗi dậy khúc nhạc buồn

Người bây giờ đã mắt nhắm tay buông
Sao âm vang vẫn còn vọng mãi
Nếu ra biển xin hãy dừng chân lại
Nghe biển đêm hát khúc tự tình

Quê hương mình sao cứ mãi điêu linh
Để thi ca vẫn ôm sầu cổ độ
Tôi viết cho Anh người nằm dưới mộ
Không quen nhau sao vẫn nhớ thương hoài

Việt Dzũng đi rồi tôi đứng giữa trần ai
Ai hát cho tôi nghe Thề không phản bội...
Ai cũng quý anh nỡ nào anh đi vội
Anh có mang theo bảy nốt nhạc buồn

Đất Sài gòn tôi nốc cạn chiều buông
Văng vẳng đâu đây Quê hương ngạo nghễ
Trời Sài gòn sao bây giờ buồn thế
Giận trời già tôi uống cả hồn tôi





wild grass  
#51 Posted : Monday, January 2, 2017 10:45:07 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Hào Khí VNCH
nguoiviettudo




UserPostedImage



Chỉ là vài hình ảnh biểu trưng cho hào khí của những người từng khoác áo chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Một cái tát vào mặt sự dối trá, chụp mũ trơ trẽn của VC và tay sai.

Tôi muốn upload video về hình ảnh lính Dù cho tù binh VC ăn uống, hút thuốc tết Mậu Thân và những Thương Binh Anh Hùng vẫn mặc lên người quân phục của đơn vị tham dự lễ vọng Giáng Sinh ở DCCT (2016).

Có thể nói mỗi người lính VNCH là một chiến binh huyền thoại. Nếu điều kiện cho phép ( quân khí đạn dược đầy đủ, chỉ huy còn nguyên) họ sẽ chiến đấu tới giờ phút chót. Dù VC và tay sai có huênh hoang ngụy biện như thế nào thì trong thâm tâm họ vẫn kính phục, ngưỡng mộ và sợ hãi trước một đối thủ trên tài trên sức chỉ vì vận trời mà phải thua trận.

Dĩ nhiên trong số này không kể đến Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Ngọc Ngạn và Việt Gian.

TỔ QUỐC GHI ƠN ANH EM

***


... ”Một lần, vào mấy ngày tỉnh Quảng Trị sắp thất thủ mùa hè 1972, mặt trận tây nam La Vang trở nên ác liệt, Tiểu đoàn 21 BĐQ bị Sư đoàn 304 CSBV vây đánh te tua. Biết phòng tuyến Đại đội 2 mình thế nào cũng vỡ, Trung úy Ẩn chạy vào BCH Tiểu đoàn kêu lớn:

– Anh Thưởng! Lính chết nhiều rồi, cho rút lui ngay! Việt Cộng đông lắm!…

Nghe tiếng Ẩn nói như muốn chủ bại, Thiếu tá Thưởng tức giận, từ dưới hố cá nhân nhảy vội lên rồi vừa đưa tay chỉ ngay mặt người em vừa quát to:

Mi rút mi chết với tao! Ra chỉ huy, mau!

Ẩn lật đật quay lui, có vẻ khiếp sợ ông anh hơn địch. Sau đó, Cộng quân lăn xả vào như kiến, dù chúng đã chết hết lớp này sang lớp khác. Đại đội tôi kế bên trái Ẩn, cả hai tiếp tục chống trả. Lúc ấy đang cận chiến, không thể dùng máy truyền tin để điều động kịp nữa, tôi cũng như Ẩn chỉ còn hét lên và cùng lính vừa bắn vừa đốc lựu đạn kháng cự một cách tuyệt vọng. Địch liền phối hợp hỏa lực, từ phía tây trút xuống một trận pháo phủ đầu, bất kể quân của chúng vẫn còn nằm sát vị trí Biệt Động, rồi với chiến thuật biển người cố hữu, địch xung phong, tràn ngập như nước vỡ bờ ….”

(Trần Thy Vân , Sa Huỳnh Biển Lửa)

***


“…Ông ta còn có biệt danh là ông Tướng giải phóng.
Tại sao là giải phóng, Thư biết không ?.”
“Thưa đại bàng, tôi không được biết”. Tôi trả lời.
“Số là hôm ấy, toán ông bị phát giác. Lính Bắc hỏi : Ai đấy ? Ông Tướng lính quýnh trả lời: Biệt kích Giải phóng.
Trời ơi, VC làm gì có biệt kích.

Còn trung sĩ Tám, trung sĩ Khoái, trung sĩ Đặng, hạ sĩ Dự, hạ sĩ Lực, còn chuẩn úy Bùi Toàn Hảo, chuẩn úy Âu Hoàng Minh, chuẩn úy Phan Thái Gia, chuẩn úy Nguyễn Thái Lâm …”
Anh kể như thuộc lòng. Đó là điều hiếm hoi cho một người đã trải qua rất nhiều đơn vị. Nó chứng tỏ đại đội 405TK là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ. Nó chứng tỏ, anh đã có một nơi để tự hào trong đời binh nghiệp của anh.
Rồi anh Hòa nhắc lại hạ sĩ Y Brep và hạ sĩ Ba. VC trồi lên đánh cận chiến. ***** Y Brep quạt Thompson bảo vệ anh, ***** Ba xô anh xuống hố. Và kết quả, Hạ sĩ Ba chết, và Y Brep bị mù một con mắt.

Tôi lắng nghe tiếng anh nghẹn lại. Vâng, tôi cũng vậy.

Anh nói rằng, những người lính 405 TK anh hùng quá, dũng cảm quá, anh chưa bao giờ thấy đơn vị nào mà tất cả đều cùng một lượt xung phong lên đồi cỏ tranh, đứng thẳng mà tiến lên. Anh chưa bao giờ thấy một đại đội lại đánh tan tành một tiểu đoàn…”

(Trần Hoài Thư, Về Một Đại Đội Cũ)

***


“... Trước mắt chúng tôi là Quốc Lộ 1, dài mút mắt, hướng Sài-Gòn. Cuối trời hướng tây có từng cột khói đen cuồn cuộn bốc lên. Trong vài túp lá, quán cóc bên đường xe lửa, xác những người bạn Nhảy Dù chết cách đó một vài ngày còn nằm trên sạp tre. Họ đã hi sinh khi nhổ chốt địch để lấy lại đoạn đường quanh Cầu Hang. Tôi không còn tâm trí đâu mà lo chôn cất cho những người bạn đã kiêu dũng nằm xuống này. Chính tôi cũng không rõ số phận chúng tôi sẽ như thế nào trong vài giờ sắp tới.

Mười giờ sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975. Tôi thẫn thờ rời cái quán cóc bên đường. Chiếc xe Jeep của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 BB đã khuất dạng nơi khúc quanh có vườn cây xanh, về hướng Thủ-Đức. Tư lệnh đã quay lại tìm tôi, nhưng giây phút cuối cùng, chúng tôi không kịp gặp nhau. Vào giờ phút này, trên máy thu thanh, ông Dương Văn Minh đang oang oang ra lệnh cho chúng tôi buông súng. Ông Dương Văn Minh gọi kẻ thù của chúng tôi là “những người anh em” Chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ, buổi sáng Ba Mươi tháng Tư năm 1975, cuộc chiến tranh Việt-Nam hai mươi năm đi vào trang chót…

(Vương Mộng Long, Cuối Đường)

***


“… Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cọng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời.

Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các Sĩ Quan, Binh Sĩ rời khỏi xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với nỗi đớn đau ê chề bất tận.

Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi ...”

(Lê Đắc Lực, Tàn Cơn Binh Lửa)

***


... ”Bây giờ, ngồi ghi lại những dòng chữ nầy, lòng tôi vẫn còn bồi hồi, cảm động. Tôi thắc mắc tại sao ngày đó người lính miền Nam gan dạ đến như vậy? Lý tưởng bảo quốc, an dân? Lao vào mục tiêu, biết mình sẽ hy sinh, nhưng vẫn có biết bao nhiêu người trẻ tình nguyện! Riêng chuyện của chính tôi, tinh thần nào làm động cơ để 4 người lính TQLC không ngại bị ngã gục khi cõng tôi ra ngoài vùng binh lửa, cài răng lược.

Tôi đã trườn đi năm đêm rồi, quãng đường dài chắc hơn 5 cây số, dẫy đầy mìn bẫy và dây điện thoại của Cộng Sản! Tôi mang ơn những người lính Mũ Xanh nầy biết bao nhiêu! Ôi tình người, tình chiến hữu.

Một phi vụ cứu cấp không thành. Thiếu Úy A-37 Nguyễn Hàn gan lỳ của chúng ta đã hy sinh sau hai ngày lần mò về miền an toàn! Phi công phụ Trịnh Hữu Văn bị VC bắt sau 4 ngày thoát hiểm, sau này Văn được thả ra từ nhà tù miền Bắc, hiện nay, Văn cư trú tại Houston. Xạ thủ Tuấn, người trai xứ Huế không biết bây giờ ra sao?

Còn cơ phi Võ Văn Xôm? Lúc tôi còn nằm trị thương tại Trung Tâm Y Khoa Không Quân Tân Sơn Nhứt, thì chiếc quan tài của cơ phi Xôm được chuyển đến và hôm sau, trực thăng đưa về quê của Xôm ở Cai Lậy! Xôm tìm về gần đến vị trí của TQLC thì bị lộ và VC đã giết, tiểu đội Trinh Sát TQLC đã tìm được xác Xôm với tấm thẻ bài! …”

(Tô Văn Cấp, Tình Đồng Đội)

***


…. ”Từ 250.000 đến 316.000 tử trận hoặc mất tích và 1.170.000 bị thương. Con số khác là 220.357 tử trận được tác giả Lewy trích dẫn từ tài liệu lưu trữ của Bộ quốc phòng Mỹ, tính từ năm 1965 đến năm 1974. Cộng thêm con số tử trận trong giai đoạn 1974-1975 và trước đó cho ra ước tính khoảng hơn 250.000 tử trận. Nhà sử học R.J. Rummel đưa ra con số ước tính cao nhất có thể lên tới 316.000 tử trận. Viet Museum note. Trong chiến tranh Viet Nam 1 chết là có từ 6 đến 7 thương binh. Trong số bị thương một nửa tàn phế từ 50% đến 100%. Cụt 1 tay là 50%, mất tứ chi là 100%. Tàn phế dưới 50% thân thể không tật nguyền, không mù què nhưng vẫn được giải ngũ và được coi là thương binh, hưởng phụ cấp thương binh. …”

(Giao Chỉ San Jose, TPBVNCH, Chuyện Người Thương Binh)

***


“... A picture says a thousand words…” Dual Roles – ANGEL & SOLDIER IN ONE ...




UserPostedImage

UserPostedImage

UserPostedImage

wild grass  
#52 Posted : Wednesday, January 4, 2017 11:40:48 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


Tổng Y Viện Cộng Hoà Những ngày cuối cùng


TB Phạm Trinh Viên



UserPostedImage



Lời nói đầu.

Dưới đây, là một lá thư của một cựu quân nhân thương binh Việt Nam Cộng Hòa (ở Úc) gửi cho một người bạn lính cùng khóa 4/72B SQTB Đồng Đế (đang ở Hoa Kỳ).

Một lá thư bình thường như hàng ngàn lá thư khác. Duy có điều mà tác giả muốn kể lại; chứng kiến tận mắt, nghe tận tai, những thảm cảnh bi thương, của các thương bệnh binh QLVNCH bị đuổi ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hòa, sáng ngày 01/05/1975, sau khi Bắc quân cưỡng chiếm Sài Gòn.



UserPostedImage

Tổng Y Viện Cộng Hòa, ngày cuối cùng 30/4/1975



Sydney, cuối tháng 11 năm 2013.

Cường Dù thân.

Cái số tao với mày có “cái duyên” gặp gở nhiều lần, mặc dù hai thằng ở hai đơn vị khác nhau, cách xa nhau hàng trăm cây số.

Lần gặp gỡ đầu tiên ở quân trường Đồng Đế, một trung tâm huấn luyện thép, lúc đó, chỉ biết nhau thôi vì mày ở trung đội 1, còn tao thì trung đội 4, một trung đội luôn được “vinh dự” vác súng nặng, cho đến khi hai đứa được lệnh vác ba lô súng đạn đi công tác chiến tranh chính trị Chiến Dịch Hòa Đàm Ba Lê, tháng 11 năm 1972 đợt 1 tại Chi Khu Phan Lý Chàm, một quận lỵ của tiểu khu Bình Thuận, tình cờ được sắp xếp trong cùng nhóm, đến lúc đó mới thật sự chơi thân với nhau. Khi còn trong “quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, thì mày mang cái tên là Cường “Pilot”, vì cái mộng “lơ lửng trên không” của mày. Nhưng mộng không thành, cuối khóa mày đành tình nguyện về Nhảy Dù, cho có chút hơi hám của AIR.

Thế rồi, thời gian trôi qua mau, ngày tụi mình gắn “quai chảo” cũng tới, các tân sĩ quan bùi ngùi chia tay, mỗi đứa về đơn vị mà mình đã chọn. Riêng cái nhóm tụi mình còn có thể gặp nhau tại Sài Gòn, mỗi đứa có 15 ngày phép ngắn ngủi. Sau đó, tao về trình diện trường Công Binh Bình Dương. Còn mày thì về Bộ Tư Lệnh Dù, Hoàng Hoa Thám, học khóa nhảy dù trước khi về trình diện Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù.

Kể từ đó, tao cứ đinh ninh rằng, tao và mày rất khó mà có cơ hội gặp lại. Nhưng tại “cái duyên” nên tao và mày lại gặp nhau vài lần nữa cho đến cái ngày đen tối nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày cuối cùng, 30 tháng 4 năm 1975.

Gặp mày lần thứ hai, tao đang theo học Công Binh ở Bình Dương, vì cũng gần Sài Gòn nên cứ hai tuần được cho về phép cuối tuần.Tao thật bàng hoàng khi nhận được tin mày bị thương. Một mảnh sơn pháo 130 ly chém vào đầu gối chân phải ở mặt trận Thường Đức. Tao vội đến nhà thăm mày. Cứ như thế tao và mày vẫn còn gặp nhau hai, ba lần nữa, cho đến khi tao tốt nghiệp khóa căn bản Công Binh về trình diện tiểu đoàn 7 Công Binh của sư đoàn 7 Bộ Binh, bộ Tư Lệnh đóng tại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, tỉnh Định Tường, do Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư Lệnh. Kể từ đó, tao và mày cũng như các bạn cùng trang lứa, mỗi đứa một phương trời, đi làm nhiệm vụ của người trai thời chiến chinh, rất khó có cái cơ hội gặp gỡ lại nhau tại Sài Gòn.

Tháng 2/1975 tao bị thương nặng, trong khi trung đội tao làm nhiệm vụ mở đường, tiếp tế đạn pháo binh cùng các quân cụ cho miền sâu, nằm sát biên giới Việt Miên. Được trực thăng tản thương về Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn điều trị.

Lúc đó, tình hình chiến sự ngày càng bi đát, các thương bệnh binh từ khắp nơi đổ về Tổng Y Viện ngày càng nhiều. Rồi tin tức được báo chí, đài phát thanh đăng tải và thông tin về cuộc triệt thoái của quân đoàn 2, tức là vùng cao nguyên Pleiku, Ban Mê Thuột rơi vào tay địch quân, tiếp theo là mất vùng 1. Tất cà các đơn vị thiện chiến, chủ lực của Việt Nam Cộng Hòa lần lượt di chuyển xuôi về phía Nam.

Một lần nữa, tao gặp lại mày thật tình cờ, lúc mày vào tái khám vết thương cũ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Cũng nhân dịp này, mày đến thăm tao, sau khi đến nhà tao hỏi thăm được biết tao đang nằm điều trị tại đây.

Chiến sự ngày càng khốc liệt, Việt cộng bắt đầu bao vây Sài Gòn, pháo vào phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng may, không có trái nào lạc vào Tổng Y Viện. Đêm ngày 29/04 và ngày 30/04 các thương binh Việt cộng, từ các mật khu và ven đô được đem về, tràn ngập trong Tổng Y Viện. Phe ta lẫn phe địch đều nằm chật kín các hành lang bệnh viện, đau đớn, kêu la và chờ tử thần đến đưa đi, vì các bác sĩ cùng y tá, nhân viên, đều đã bỏ chạy khỏi Tổng Y Viện.

Sáng ngày 1/05/ 1975, từ trên lầu 3, khu tổng quát, tao đã chứng kiến Việt cộng chạy vào cổng Tổng Y Viện bằng hai xe Jeep treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ngừng trước cửa văn phòng của Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Cộng Hòa, dẫn vị y sĩ Chuẩn Tướng (không nhớ tên) lên xe Jeep và chở đi mất tiêu. Sau một thông báo bằng loa phát thanh, tất cả các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Hòa, đều phải rời khỏi bệnh viện trong thời hạn một ngày. Thế là một quang cảnh hoảng loạn đã xảy ra. Các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Hòa, người còn đi được hoặc may mắn còn chút sức tàn, dắt díu các thương binh bạn, khập khiểng rời khỏi nơi điều trị.

Còn lại, là thương bệnh binh bị thương nặng, nhìn những người này ra đi mới chính là một quang cảnh thê thảm nhất mà tao đã nhìn thấy trong suốt cuộc chiến Quốc Cộng. Họ bò lê, bò lết dưới đất, bông băng dính đầy máu mủ, quét trên mặt đất, đầy bùn đất, hòa lẫn với vết thương lở lói, máu mủ vẫn còn rỉ ra ngoài. Nhưng tất cả đều cố gắng trong sự tuyệt vọng cùng cực. Họ cố bò, lết từng tấc đất ra cổng Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đến đây, tao thật không dám nghĩ tiếp: “Cuộc sống của họ sẽ ra sao, nếu như ra khỏi được Tổng Y Viện, và sống dưới một chế độ thù địch?

Vẫn chưa hết, tháng 6/75 theo thông báo của Ủy Ban Quân Quản, Việt cộng tại Sài Gòn, tất cả các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa từ Thiếu Úy trở lên đều phải trình diện, “được học tập cải tạo để trở thành công dân tốt” trong chế độ mới, chỉ là những chữ hoa mỹ, nhằm che đậy sự dối gạt bên thua trận, mở màn cho một sự trả thù khủng khiếp của bè đảng cướp cộng đối với Quân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tập trung lao động khổ sai rải rác trên toàn lãnh thổ Việt Nam, từ Nam ra đến Bắc. Tại đây, phần vì tù đày khổ sai, phần vì thiếu ăn, bệnh tật không có thuốc men, ngày về với cha mẹ, vợ con, người thân càng mù mịt, vô vọng. Việt cộng, đã giết hại hàng ngàn sĩ quan, qua việc chúng bắt họ phải lao động khổ sai trên các bãi mìn chung quanh trại giam khiến nhiều người bị thương tật què cụt, đui mù, tạo thêm một “lực lượng” không nhỏ các tử sĩ và thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975.



UserPostedImagePhu nhân tướng Westmoreland thăm thương binh Nhảy Dù, tại Tổng Y Viện Cộng Hòa sau biến cố Tết Mậu Thân
(Hội QYND)




Cường Dù thân.

Tao viết cũng đã khá dài, với mục đích nhắc mày, và nhắc ngay chính bản thân tao, dù có hơi muộn màng, các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa còn kẹt lại quê nhà: “Chính là những người chúng ta phải tri ân, vinh danh họ đã hy sinh một phần thân thể cho Tổ Quốc, hiện đang oằn mình trước sự sống cơ cực dưới một chế độ cộng sản, không chút quan tâm mà còn thù hận, đày ải những con người đáng thương này.”


UserPostedImage

Thân,
TPB Phạm Trinh Viên (Sydney, Úc)
wild grass  
#53 Posted : Monday, January 9, 2017 2:21:45 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Nhân Bản
là Hành Trang Căn Bản của Sĩ Quan và Binh Lính VNCH

Trịnh Khánh Tuấn




UserPostedImageUserPostedImage

UserPostedImageUserPostedImageUserPostedImage



Vậy thì nhân bản là gì?

NHÂN” trong phạm trù đạo đức là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.

NHÂN còn là mối quan hệ giữa người và người. Đây là cách đối xử tử tế của con người cùng chung sống trong xã hội. Nếu đối xử thật tốt trong mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân có thể coi như là đạo làm người vậy.

NHÂN BẢN là lấy con người làm gốc (bản=gốc)
仁 nhân đạo: lòng nhân đạo
人 nhân bản, nhân văn, nhân loại

Nhân văn, nhân bản, nhân loại là những khái niệm liên quan với nhau và đều biểu hiện vấn đề chung: tính nhân loại, tính đồng loại

NHÂN BẢN: nét nghĩa cơ bản là lấy con người làm gốc, làm trọng;
NHÂN VĂN, lấy con người làm trung tâm, tôn trọng và đề cao nhân cách con người với tư cách con người xã hội;
NHÂN LOẠI: tính người, đề cao phẩm giá con người trong tính cộng đồng, tình đồng loại của nó. Tức là những phẩm giá cao cả, phổ quát nhất. Nhờ những phẩm giá này mà con người liên kết lại với nhau, thông hiểu nhau và sẵn sàng giúp đớ, tương trợ nhau.

Tóm lại NHÂN là người, BẢN là gốc, là nền tảng cần thiết để làm người, những cung cách xã giao, ứng xử thật tốt giữa người với người. Người ta thương nói một ai đó thiếu nhân bản ( phi nhân) là thiếu đi những nguyên tắc căn bản đó.

Trong bài viết nầy chỉ đề cập đến hai chử NHÂN BẢN được trang bị trên đầu súng của các chiến sĩ từ cấp sĩ quan cho đến người lính trong quân lực VNCH. Nhân bản được đề cao sẽ giảm thiểu được mức độ sát thương và ác tính khi cầm vũ khí trong tay.

Đây là điểm khác biệt lớn giữa người lính VNCH với người lính quân đội cộng sản. Nhân bản là nhu cầu trọng điểm và cần thiết để ngăn ngừa được sự tổn thất lớn về sinh mạng khi hai bên giao chiến với nhau.



UserPostedImageUserPostedImage



Tinh thần ĐEM ĐẠI NGHĨA ĐỂ THẮNG HUNG TÀN… LẤY CHÍ NHÂN THAY CƯỜNG BẠO trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi cũng đã cho chúng ta thấy được việc vinh danh tính nhân bản của quân đội Đại Việt ngày xưa. Quân lực VNCH là một quân lực kế thừa sự nghiệp của tiền nhân, nên họ đã được huấn luyện tinh thần nầy ngay từ lúc chập chững bước vào quân trường.

Ý thức về NHÂN BẢN có giá trị cao hơn ý thức hệ “đấu tranh giai cấp bằng bạo lực” mà người lính cộng sản đã được đảng giáo dục, đảng còn lấy hận thù giai cấp gắn lên nòng súng, và dùng để định hướng đường đi của viên đạn. Trong Quân lực VNCH người ta không bao giờ thấy cấp chỉ huy xiềng người xạ thủ vào các vũ khí nặng(cộng đồng), để cưỡng bức họ phải sống chết với tội ác, những việc làm phi nhân đó thường thấy nơi quân đội cộng sản. Trên chiến trường, hình ảnh người bộ đội chết bên cạnh các vũ khí cộng đồng mà chân bị xiềng chung với vũ khí nặng, nơi ngưòi lính tác chiến, thật tàn nhẫn! Tôi xin trích phần hồi ký chiến trường “Poncho buồn” của chiến sĩ Bảo Định, thuộc Tiểu Đoàn 43 -Sư Đoàn 18, trong trận chiến An Lộc.

….Nhiều người lính vc bị xiềng vào chân súng, vào bunkers ( hầm trú ẩn). Nhiều tiếng rên, nhiều tiếng khóc la. Nào là “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất”. Tuyệt nhiên không có tiếng “Bố ơi! Mẹ ơi!” hay “Trời ơi! Phật ơi!” như ta vẫn thường thốt lên mỗi khi đau đớn hay gặp cơn nguy biến. Khói súng, và mùi da thịt cháy khét lẹt của giặc toả ra cả một vùng. Súng cá nhân, súng cộng đồng vất bỏ ngổn ngang. Kết quả ta thu được 1 súng thượng liên 12ly7, 1 súng cối 82ly, 2 khẩu 61ly, nhiều AK, B40 và B41. Bên ta hoàn toàn vô sự! Phi trường Quản Lợi đã được tái chiếm….” (ngưng trích)

Trong hàng ngũ bộ đội, người ta còn thấy rất nhiều trẻ thơ tuổi 13, 14, 15... cầm súng ra chiến trường để chiến đấu cho tham vọng nhuộm đỏ miền nam của hồ tặc. Nếu ai chưa từng thấy những sự việc nầy, thì xin hãy tham khảo một số hình ảnh có thật trong cuộc chiến vừa qua, để thấy bản chất PHI NHÂN trong hàng ngũ quân đội nhân dân của cộng sản Bắc Việt. Khi những đứa trẻ nầy bị bắt trong chiến đấu, chính phủ VNCH đã phải vất vả tổ chức cho các thiếu niên nầy được theo học và huấn luyện nghề nghiệp, rồi cho hội nhập vào xã hội miền nam. http://danlambaovn.blogs...at-can-phai-biet-phan-10



UserPostedImageUserPostedImage
Những trẻ em còn rất nhỏ của bộ đội Bắc Việt
UserPostedImage

UserPostedImage




NHÂN BẢN không bao giờ tìm thấy nơi người chiến sĩ quân đội miền bắc. Với chủ trương huấn luyện một người lính là công cụ cho đảng, nên đầu súng của mổi người lính cộng sản được đảng trang bị trên đường ngắm nơi đầu súng là một chủ nghĩa. Được thể hiện qua văn thơ của những tên văn nô trong bộ chính trị, như Tố Hữu:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt


Những hành trang mà đảng đã nhét vào ba lô của người chiến binh cộng sản là những, hận thù giai cấp, bạo lực cách mạng để tiến chiếm mục tiêu.. tư duy của họ là một bản chất PHI NHÂN. Bản chất phi nhân của người cộng sản thể hiện đậm nét từ sau ngày 30.4.1975. Như việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC còn hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ các chuyên viên tình báo, các lò sát nhân của Nga Tàu….cho đến chiến dịch đổi tiền gom góp tài sản của nhân dân miền anm….xua vợ con quân cán chính VNCH lên rừng thiêng nước độc mà chúng gọi là vùng kinh tế mới….hành hạ tinh thần lẩn thể xác của các người lính VNCH trong các trại cải tạo nơi rừng sâu….

Một thành tích đáng được đề cao về tính nhân bản trong chế độ VNCH, đó là chính sách CHIÊU HỒI. Lấy tình thương xoá bõ hận thù, đây là một thể hiện cách đối xử bằng tình ngưòi với một đội quân xăm lăng từ miền bắc XHCN.

http://namrom64.blogspot...ong-trinh-chieu-hoi.html

Để hổ trợ cho chánh sách nầy, nhiều sáng tác chất chứa tình thương yêu đồng loại rất tha thiết, mời gọi một sự trở về trong căn nhà tình thương VNCH, như bài “Ngày về” của nhạc sĩ Hoàng Giác.

Tung cánh chim tìm về tổ ấm
nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi
luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh.

Tha thiết mong tìm về bạn cũ
nhưng cánh chim mịt mùng bạt gió
vắng tiếng chim xanh ngày vui hót tung mây
mờ khuất xa xôi nghìn phương

Trên đường tha hương, vui gió sương
riêng lòng ta mang mối nhớ thương
âm thầm thương tiếc cho ngày về
tìm lại đường tơ nay đã dứt ………




UserPostedImageUserPostedImage
UserPostedImageUserPostedImage



Tính đến đầu năm 1973 con số cán binh việt cộng trở về với chính nghĩa quốc gia là 200.000 người. Tất cả được đối xử không phân biệt, không qua một ngày cải tạo hay nhục hình sau khi làm xong các thủ tục khai báo cần thiết. Họ đưọc trợ cấp tiền và hưóng nghiệp để hội nhập vào xã hội miền nam VN. http://vanhoavn.blogspot...2/09/blog-post_6697.html

Người cộng sản thường tuyên truyền quân đội nhân dân là một quân đội chính nghĩa (?), vì nhân dân mà chiến đấu (?). Nhưng trong suốt cuộc chiến, có bao giờ nhân dân miền bắc thấy được 200.000 ngàn binh lính VNCH quy thuận dưới lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản trong cuộc chiến đánh Mỹ cứu nước (?).

Thật xin lổi !! 1000 người cũng không có. Ai CHÍNH, ai TÀ đã đưọc xác định, bên nào có chính nghĩa hơn bên nào? Xin mời xem tài liệu Wikipedia viết về chính sách chiêu hồi, một tài liệu do chính những tay viết xuất thân từ CHXHCNVN viết: http://vi.wikipedia.org/...#234;u_hồi#cite_note-13. Nên biết rằng các tay viết trong Wikipedia không có bài viết nào trung thực về chế độ và những người lảnh đạo VNCH, họ viết theo phong cách và nếp nghỉ của những kiến thức lượm lặt trong các tủ sách do XHCN xuất bản.

Người cầm súng trong chế độ cộng sản, họ đuợc thừa hưỏng một gia tài lớn từ “Tư Tưởng Phi Nhân của HCM, đến như một người trẻ như Việt Khang, lớn lên trong cái nôi của phi nhân đã tỉnh giấc và sáng tác một bản nhạc làm rung rinh chế độ, bản nhạc ” Anh là ai ” nói lên ác tính của những người lính được đảng đào tạo:

http://www.youtube.com/watch?v=R4L1grczk6E.

Bản nhạc là một cáo trạng PHI NHÂN trong cách đối xử với dân mình, nó còn nói lên được bản chất hèn với giặc, ác với dân trong tình yêu đất nước của đám người trung với đảng hiếu với thiên triều.

Trở lại chính sách Chiêu hồi của VNVCH, với 200.000 người hồi chánh viên, nếu như còn cầm súng ngoài chiến trường, thì thử hỏi bao nhiêu sinh mạnh nửa sẽ chết dưới họng súng của họ? Chiêu hồi là một chính sách rất thành công của người quốc gia khởi xuớng trong việc hoà giải hoà hợp dân tộc.



UserPostedImageUserPostedImage



Ngược lại, người cộng sản cũng đưa ra chính sách HG-HH dân tộc trong mấy năm qua, nhưng không bao giờ thành công như người quốc gia trong quá khứ.

Nghi quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004, từ ngày ban hành đến nay là 10 năm, cũng không kiếm ra được con số 200.000 Vịt kiều về với bác và đảng. Tại sao cộng sản không bao giờ thành công trong vấn đề HG-HH dân tộc? Lý do: họ đã đưọc nuôi sống bằng chất dinh dưởng cặn bã đó là ” Tư Tưỏng HCM “, một tư tưỏng vừa ” phi nhân” vừa làm hao mòn và ung thối đất nước tận gốc rể.

http://danlambaovn.blogs...khi-at-nuoc-suy-tan.html

Quân lực VNCH chiến đấu vì tổ quốc, họ chiến đấu tự vệ không bằng chủ nghĩa, họ chiến đấu không bằng hận thù, họ chiến đấu để bảo vệ đồng bào trước sự phá hoại điên cuồng của cộng sản Bắc Việt.. Tất cã người chiến sĩ quân lực VNCH từ cấp chỉ huy cho đến binh lính thuộc các quân binh chủng của VNCH họ ý thức được thế nào là tính nhân bản trong cách đối xử với tù binh vc, mặc dù đang còn ghìm súng ngoài mặt trận. Quý vị độc giả có thể xem Clip Video được quay tại mặt trận gần Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân 1968 để thấy rõ nét về chân dung của người lính VNCH.

http://www.youtube.com/watch?v=RVKva8quAks

Người lính VNCH chiến đấu vì Tổ quốc-Danh Dự và Trách Nhiệm mà nhân dân đã đặt lên vai của họ trước khi cầm súng ra chiến trường. Ngoài ra trong ba lô họ là tình yêu nước thương dân; quan niệm của người chiến sĩ VNCH là dùng chiến tranh để khử chiến tranh, khử bạo, cãm hoá kẻ thù, mang hạnh phúc, yên bình đến cho đồng bào. Họ đều thuộc nằm lòng, những căn bản cần thiết để bước ra chiến trường, đó là những điều TÂM NIỆM dành cho: Các cấp chỉ huy( 8 điều)



UserPostedImage


Và cho binh sĩ(6 điều)

UserPostedImage



Nhân bản luôn là đề tài được khai thác trong mội trường huấn luyện của QL.VNCH ( tài liệu học tập do Cục Chính Huấn-Tỗng Cục Chiến Tranh Chính Trị VNCH soạn thảo):



UserPostedImage



Tôi xin trích điều tâm niệm thứ năm của cấp chỉ huy ra đây để làm thí dụ:

TÔI LUÔN CHÚ TRỌNG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO CHỈ HUY ĐƠN VỊ. TÔI CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ ĐÔN ĐỐC KIỂM SOÁT BINH SĨ TRONG NHIỆM VỤ ”BẢO VỆ TÁNH MẠNG VÀ TÀI SẢN CHO NHÂN DÂN.

Tiếc thay số phận nghiệt ngã của quân lực VNCH ,đã phải chấm dứt hành trình cứu nước ngoài ý muốn;

Họ đã không thất trận, họ bị bức tử!!

Buông súng vì quân lệnh, nhưng họ vẩn âm thầm chiến đấu tiếp tục sau ngày 30.4.1975. Một cựu Đại Tá VNCH Võ Đại Tôn, đã ôm súng từ Úc Châu lặn lội trở về đất mẹ để tiếp tục công nghiệp giải trừ chế độ buôn dân bán nước…một Trần Văn Bá, Mai văn Hạnh..Lê Quốc Quân từ thủ đô Paris củng lần lượt trở về VN vào thập niên 1980. Lớp lớp đã lên đường để cùng với quốc nội nối kết trong một mục tiêu là DÂN TỘC ĐỘC LẬP- DÂN QUYỀN TỰ DO- DÂN SINH HẠNH PHÚC. Có người đã nằm xuống vì lý tưởng đó…có người vẩn còn tiến tới để hoà nhịp trong cuộc cách mạng Dân Tộc Dân Chủ đang ngày phát triển mạnh mẻ tại quê nhà! Cuộc chiến vẩn đang tiếp tục…./.



UserPostedImage



TÀI LIỆU LIÊN KẾT:

1. Thành phần hồi chánh viên VC! – kết quả chương trình “Chiêu Hồi” của VNCH! Những Người Trở Về Với Đại Gia Đình Dân Tộc http://tunhan.wordpress....-chuong-trinh-chieu-hoi/

2.Tản mạn về chính sách chiêu hồi:
http://danlambaovn.blogs...hinh-sach-chieu-hoi.html

3. TÁC GIẢ BẢN NHẠC CHIÊU HỒI CỦA VNCH
http://www.vietlandnews....m/showthread.php?t=20506

4. Chương Trình Chiêu Hồi Trong Hồi Ký Của Hồi Chánh Viên Hữu Nguyên
http://quehuongngaymai.c.../showthread.php?t=171023


Trinh Khánh Tuan, 13.4.2014



MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÔNG TÁC CHIÊU HỒI


UserPostedImageUserPostedImageUserPostedImage
UserPostedImageUserPostedImage

UserPostedImage



[/size]
wild grass  
#54 Posted : Sunday, January 15, 2017 10:47:44 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Nhớ về một Nhân sĩ Miền Nam
- Cố Tổng thống Trần Văn Hương




UserPostedImage



Mai Thanh Truyết(Danlambao) - "...Tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước..." - Cố Tổng thống Trần Văn Hương.

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại làng Long Châu, quận Châu Thành (nay là thành phố Vĩnh Long), tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Collège Le Myre De Villers tại Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đã theo học mấy năm trước. Thời gian 1943-1945, Cụ Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luận lý tại trường này. Cụ là một thầy giáo đã từng đào tạo nhiều học trò nổi tiếng (tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, cũng tự nhận là một học trò của ông) và từng giữ chức vụ Đốc học Tây Ninh.

Cụ Trần Văn Hương mất ngày 27 tháng 1 năm 1982 tại Sài Gòn, nhằm ngày mùng 3 Tết. Cụ mất đi để lại cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Hôm nay nhân ngày lễ tưởng niệm Cụ, tôi xin chia xẻ vài suy nghĩ về Cụ.

Khi “Cách mạng tháng Tám 1945” nổ ra, Cụ tham gia chính quyền Việt Minh với tư cách nhân sĩ tự do. Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, Cụ được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, năm 1946, do Cụ biết lực lượng Việt Minh là Cộng sản quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu nên Cụ bỏ về quê sống ẩn dật và tuyên bố bất hợp tác với cả chính quyền Việt Minh lẫn Pháp và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ, sau này là Quốc gia Việt Nam.

Xét về sự nghiệp chính trị, Cụ Trần văn Hương đã hai lần được mời và bổ nhiệm đảm trách chức vụ Ðô Trưởng Sài Gòn, chức vụ đứng đầu quán xuyến điều hành bộ máy hành chính thủ đô Việt Nam Cộng Hòa, bảo tồn bộ mặt của thể chế Cộng hòa ở miền Nam đang trong giai đoạn củng cố xây dựng và phát triển với những khó khăn chồng chất về mọi mặt.

- Lần đầu vào năm 1955 sau khi Hiệp định Genève chia hai đất nước Việt Nam được ký kết, do cố Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm;

- Lần thứ hai, sau khi chính quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Cụ Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Ðô Trưởng Sài Gòn.

Và hai lần được mời làm Thủ tướng và một lần Phó Tổng Thống:

- Lần đầu vào Tháng 11 năm 1964, cụ được Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm làm Thủ Tướng Chánh Phủ (1964-1065) và lập nội các, giữa lúc tình hình chính trị vô cùng căng thẳng.

- Lần thứ hai vào năm 1968, trước tình hình chính trị, quân sự, kinh tế suy sụp trầm trọng cụ nhận lời Tổng thống Thiệu ra làm Thủ tướng lần thứ hai (1968 -1969).

Trong bối cảnh chính trị miền Nam, Cụ đã lần lượt dấn thân vào sinh hoạt chính trị đại chúng với danh nghĩa là một nhân sĩ miền Nam do nhu cầu của đất nước; và lần nào Cụ cũng giúp cho tình thế vượt qua những khó khăn. Ðến phút cuối, khi bị áp lực phải chuyển giao quyền hành cho những kẻ mà cụ biết là “chẳng làm được gì”, Cụ cũng thực hiện nó trong tinh thần Hiến định, tức chuyển giao theo “ý dân”, qua các Dân Biểu và Nghị sĩ, trong phiên họp lưỡng viện Quốc Hội.



UserPostedImage



Với tôi, Cụ là mẫu người có phong cách của một nhân sĩ miền Nam xem thường mọi thiếu thốn và ràng buộc vật chất trong khi dấn thân phục vụ đất nước. Lúc nào Cụ cũng giữ vững tinh thần, ngay cả trong lao tù, Cụ coi mọi chuyện đều “vô thường”, qua câu thơ bất hủ để đời ghi trong tập thơ “Lao trung lãnh vận” khiến ai đọc lên cũng cảm phục “ông già” trong cảnh tù đày.

Ðó là: “Ngồi buồn gải háng, dái lăn tăn”. Những người yêu thơ lãng mạn có thể không thích câu thơ nặng tính nhân sinh này, nhưng những người từng trải qua cảnh tù đày đều thấy ở đó cái khí khái xem thường nghịch cảnh lao tù của tác giả.

Tính can trường về nhân cách của con người miền Nam của Cụ Trần Văn Hương còn được biểu lộ qua sự kiên quyết dấn thân, không bỏ cuộc, mà trái lại, vẫn chấp nhận trách vụ được giao phó do nhu cầu của tình hình đất nước và thường hoàn thành trách vụ. Còn nhớ, trong cuộc hành quân Hạ Lào Lam Sơn 719, Cụ đã bất chấp thế lực của quân đội Mỹ, và sự hiểm nguy của bản thân, mở cuộc họp báo quốc tế, tố cáo thái độ bội ước và bỏ rơi chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa của quân đội Mỹ, khiến Chính phủ Mỹ lúc đó phải lập tức ra lịnh cho các đơn vị Mỹ hành quân phải tiếp tục kế hoạch, và xin lỗi về việc này. Dịp này Cụ đã hãnh diện nhận lãnh tước vị ‘Hạ sĩ danh dự’ của binh chủng ‘Nhảy Dù,’ ghi đậm lời tri ơn sâu xa của binh chủng này dành cho Cụ.

Trong tư cách là một nhà giáo, vào năm 1974, cụ có ước nguyện là cố gắng xây dựng Ðại học Long Hồ tại Vĩnh Long. Nhiều giáo sư gốc gác địa phương được mời phụ trách chức vị Viện trưởng như GS Nguyễn Văn Trường, GS Trần Kim Nở nhưng việc không thành vì những biến động thời cuộc dồn dập trong giai đoạn nầy.

Một biến cố sau cùng của con đường “hoạn lộ” của Cụ theo lời kể của một cựu quân nhân thân cận với chức vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 21-4-1975:

"Là một quân nhân, vào những ngày cuối cùng của miền Nam, tôi được cái may mắn gần gũi với cụ Hương, nhất là những lúc dầu sôi lửa bỏng khi thủ đô Sài Gòn đang bị cộng quân vây hãm. Tình hình thật là cấp bách sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-75, bàn giao chức vụ Tổng Thống cho cụ Trần Văn Hương theo hiến pháp. Ông đã nhận lấy chức vụ đứng đầu một đất nước trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Một mặt, dưới sức ép thật nặng nề từ người bạn đồng minh Hoa Kỳ muốn sớm rút chân ra khỏi Việt Nam, mặt khác, về phía địch, cộng sản Bắc Việt biết rõ sự suy yếu hoàn toàn của chính quyền miền Nam dưới sự bỏ rơi của Mỹ nên càng gia tăng áp lực, đưa quân uy hiếp thủ đô Sài Gòn. Thêm vào đó, thành phần thân cộng có mặt trong guồng máy miền Nam, cũng luôn tạo áp lực để đòi hỏi lật đổ chính quyền miền Nam bằng sự thay thế một chính quyền do cộng sản kiểm soát."

Trong thời gian bảy ngày sau khi bàn giao với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng Cụ Trần Văn Hương phải chấp nhận việc bàn giao cho tướng Dương Văn Minh theo diễn tiến như sau:

- Ngày 21-4-75 tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Cụ Trần Văn Hương nhận lãnh chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.

- Ngày 26-4-75 đại sứ Martin yết kiến và thông báo cho Cụ Hương về áp lực cộng sản Bắc Việt và khả năng của cộng quân tấn công vào Sài Gòn.



UserPostedImage



- Ngày 27-4-75 quốc hội VNCH họp và biểu quyết việc trao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh.

- Ngày 28-4-75 vào lúc 5:00 chiều, Cụ Trần Văn Hương trao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh theo quyết định của quốc hội.

Trong bài diễn văn, Tổng thống Trần Văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26-4-75, chúng ta thấy rõ ràng Cụ Trần Văn Hương không thoát khỏi áp lực quá mạnh, một của người bạn đồng minh Hoa Kỳ, và một áp lực về phía cộng sản Bắc Việt mà tướng Dương Văn Minh được sắp xếp như là một con cờ chính trị để làm nhiệm vụ xóa chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Chúng ta hãy nhớ lại những gì Cụ Hương đã phát biểu có tính cách lịch sử trong bài diễn văn tại quốc hội dưới sự hiện diện của đầy đủ dân biểu và thượng nghị sĩ. Cụ Hương đã cho biết rằng Cụ chỉ muốn chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh trong vai trò thủ tướng, nhưng tướng Dương Văn Minh vẫn khăng khăng đòi Cụ Hương phải trao quyền để cho tướng Dương Văn Minh nói chuyện với "phía bên kia".


Ba Nhân cách LỚN của Cụ Trần Văn Hương

1 - Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái Đại sứ Martin nói:

- Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhân danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT "trăm tuổi già".

Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:

- Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.

Khi nghe câu “Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giật mình nhìn trân trân Cụ Trần Văn Hương. Năm 1980, Cụ Hương thuật lại: Dứt câu chuyện, “on se sépare sans même se serrer la main” (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày).

2 - Vào năm 1978, khi Việt cộng trả lại “quyền công dân” cho ông Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang “hồ hỡi phấn khởi” đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền cộng sản:

“… hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhân viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lãnh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mệnh lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi."



UserPostedImage



3 - Sau cùng, trong hoàn cảnh cơ cực của thời đất nước bị đô hộ bởi Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, các Ðại sứ của các nước Pháp, Úc cho người đến thăm Cụ và cho biết họ có thể can thiệp với Cộng sản cho Cụ ra khỏi nước với lý do đi trị bệnh, nhưng cụ tiếp tục từ chối, cương quyết ở lại chia sẻ cùng dân quân Miền Nam sự tủi nhục và nghèo đói dưới gông cùm Cộng sản.

Xin nghiêng mình trước tiết tháo của một nhân sĩ miền Nam Việt Nam!

Khi Cụ qua đời, đám tang được tổ chức tại nhà do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp trong hẻm 210 đường Phan Thanh Giản, bên cạnh trường Marie Curie. Có một sự kiện thú vị cũng cần nên kể ra nơi đây là anh con trai trưởng của Cụ là Trần Văn Dõi đi ra phường để xin phép mua một cái hòm quốc doanh, nhưng bị người tài xế trung thành của Cụ chận ngang, và anh này chạy vào Chợ Lớn mua một cổ quan tài gỗ với giá 10.000 Ðồng (tiền Việt cộng bấy giờ). Anh Tàu nghe nói là mua cho Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa nên bớt xuống còn 5.000 Đồng mà thôi.

Một trong những ước nguyện của Cụ là khi chết được chôn ở Nghĩa trang Quân Ðội với lễ nghi quân cách của một binh nhì; nhưng việc nầy cũng không thành. Tuy nhiên một an ủi cho Cụ là được hỏa táng tại Lò thiêu Thủ Ðức, xéo bên cạnh bức tượng Tiếc Thương, trước sự hiện diện đông đủ của học trò cùng hầu hết thân hào nhân sĩ miền Nam không quản ngại mạng lưới công an chằng chịt chung quanh lò thiêu.

Hôm nay, nhân ngày giỗ Cụ Trần Văn Hương, cúi xin đốt nén hương lòng tưởng niệm một người con Việt chân chính miền Nam với niềm tin chắc chắn rằng Tuổi trẻ Việt Nam sẽ tiếp nối bước đường Cụ đi và chắc chắn sẽ thành công trong công cuộc dành lại quê hương từ tay bạo quyền Cộng sản.

Thành kính xin Cụ phò hộ cho Tuổi Trẻ Việt Nam trong công cuộc giành lại Quê Hương.

Tết Đinh Dậu - 2017


Người con Việt miền Nam
Mai Thanh Truyết


wild grass  
#55 Posted : Monday, January 16, 2017 11:10:23 PM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Vùng Tàu:
Tưởng niệm 74 chiến sĩ hải quân VNCH hy sinh tại Hoàng Sa




UserPostedImage



CTV Danlambao - Một cuộc tưởng niệm 74 chiến sĩ hải quân VNCH hy sinh trên biển Hoàng Sa năm 1974 đã được một số anh em tại Vũng Tàu tổ chức chiều nay 16/1/2017. Tham gia buổi tưởng niệm còn có một số anh chị em đến từ Sài Gòn.

Đây là một trong nhiều hoạt động thể hiện lòng yêu nước và cổ vũ cho nhân quyền mà nhóm tranh đấu tại Vũng Tàu thực hiện thường xuyên trong một vài năm trở lại đây.

Hơn mười người, trong trang phục là chiếc áo in hình bản đồ Việt Nam với các dòng chữ: “No-U. Xóa đường lưỡi bò, bảo vệ biển đảo Việt Nam. Trường sa-Hoàng Sa là của Việt Nam”. Cuộc tưởng niệm được diễn ra trang trọng trên một chiếc tàu nhỏ lênh đênh trên biển.

Vòng hoa mang dòng chữ “Tưởng niệm 74 anh hùng tử sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc” được các anh chị em thả xuống biển với sự trân kính, biết ơn. Dòng chữ “Hoàng Sa-Trường Sa là máu thịt của con dân Việt Nam” được viết bằng chữ màu đỏ trên nền vàng của tấm banner khổ lớn.



UserPostedImage



Chị Trần Thị Thu Nguyệt chia sẻ với CTV Danlambao: “Tôi từ Sài Gòn đến đây, cùng với các anh em Vũng Tàu tổ chức buổi tưởng niệm 74 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biển đảo quê hương bốn mươi ba năm trước. Trung cộng với lực lượng xâm lược hùng hậu đã cưỡng chiếm được Hoàng Sa, nhưng tinh thần chiến đấu quả cảm của các anh hùng VNCH trong trận hải chiến ngày ấy sẽ mãi mãi bất diệt. Do bị bưng bít thông tin nên rất ít người dân biết về trận hải chiến này, về sự hy sinh của những anh hùng VNCH. Vì thế, tôi hy vọng việc làm nhỏ bé của mình, sẽ góp phần lan truyền sự thật đến với người dân, nhất là các bạn trẻ. Đất nước này là của chung, vì vậy mỗi người dân Việt Nam đều cần có trách nhiệm bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng cha ông để lại”.



UserPostedImage




Anh Vũ Đình Hải, một người đấu tranh tại Vũng Tàu bày tỏ: “Ngày 19/1/1974 là ngày Trung cộng dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Thời điểm đó, quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Mặc dù lực lượng hải quân VNCH yếu hơn nhiều lần so với quân Trung cộng, nhưng các anh đã chiến đấu oanh liệt. Hoàng Sa mất, 74 chiến sĩ đã ngã xuống nhưng tinh thần yêu nước, tinh thần hy sinh vì dân tộc mãi mãi trường tồn. Ngày hôm nay, chúng tôi hướng về biển Đông, nơi các anh đã chiến đấu và hy sinh, để tưởng nhớ và tri ân đến những người con trung thành của đất nước. Chúng tôi mong rằng, tất cả những sự kiện lịch sử liên quan đến việc bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam, liên quan đến giặc Tàu xâm lược phải được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông. Người dân Việt Nam. Và nhất là thế hệ tương lai của đất nước phải được biết sự thật về những gì đã và đang xảy ra trên đất nước này”.



UserPostedImage



43 năm trôi qua. Vào ngày mà 74 chiến sĩ VNCH vị quốc vong thân tại Hoàng Sa thì nhiều bạn trẻ tưởng nhớ đến các anh chưa ra đời. Kể từ sau năm 1975, mặc dù cả một bộ máy tuyên truyền của chế độ độc tài bôi đen danh dự của các anh, gọi các anh và đồng đội của các anh là "ngụy quân" nhưng cuối cùng các anh vẫn luôn là những viên ngọc quý của Tổ quốc trong trái tim của muôn người, ngay cả chính những người đã sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ.



UserPostedImage


wild grass  
#56 Posted : Thursday, January 19, 2017 1:27:05 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)


Ai Là Tác Giả Bài Thơ "Tưởng Niệm Hoàng Sa"?

January 16, 2014

Anh ruột tôi là 1 chiến sĩ hy sinh trên chiến hạm HQ 10, Nhật Tảo. Mấy chục năm nay tôi đã đọc biết bao nhiêu bài thơ, đoạn văn viết để tri ân các liệt sĩ anh hùng. Có một bài thơ thật đặc biệt với tôi vì nó được viết bởi 1 người miền Bắc (khuyết danh) năm 1974. Theo đặc san Quảng Đà phát hành ở thủ đô Hoa thịnh Đốn, Hoa Kỳ, năm 2005 (Trang 84), bài thơ này đã được gửi từ miền Bắc Việt Nam sang Pháp rồi từ đó chuyển về miền Nam Việt Nam năm 1974 sau trận Hoảng Sa. Tôi đọc bài thơ này không biết bao nhiêu lần không chán... Lời thơ thật cảm động, sẻ chia và cũng đầy hùng khí. Vì tình hình chính trị năm 1974 Tác giả đã không thể để tên của mình. Hy vọng bây giờ với internet, chúng ta có thể tìm ra danh tánh của vị tác giả bài thơ này (Vũ Nam Nhuận ở Virginia, Mỹ)



Tưởng Niệm Hoàng Sa

Xin kể thêm tôi: thành 19 triệu một người
Trái tim tôi đập về trong đó
Dòng máu xa nguồn bỗng giận sôi
Hoàng Sa, Hoàng Sa
Cái tên nghe buồn từ thuở ban sơ
Đối với tôi đã là da thịt
Dẫu chỉ là một mảnh san hô
Lại đau chăng vết buốt tự ngàn xưa
Trong sử cũ còn hằn dấu ngựa
Từ thảo nguyên xa
Từ biển ải lửa
Khói tràn về đen thẫm những ước mơ
Đếm bao người vợ đợi chờ
Em ơi, trên từng trang sử nhỏ
Xin kể thêm tôi, thành 19 triệu một người
Thành viên gạch hồng tươi
Làm bức tường thành, ngăn triền sóng dữ
Giữ không cho rơi một giọt mật nào
Mỗi giọt ra đi chính mỗi giọt máu đào, bao đời cha ông nhỏ xuống
Người bạn hải quân miền Nam ơi
Trên đảo mù sương hôm đó có tay anh cầm súng
Từ những hạm tàu rẽ sóng đại dương
Tôi thấy pháo anh giương nòng sừng sựng
Cuộc chiến đấu kết thúc dù bị thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao
Xin cho thơ tôi góp phát súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm giữa sóng
Đáy biển âm thầm ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng tổ quốc ta


Một thi sĩ miền Bắc khuyết danh (1974 )





Tưởng Niệm 43 năm Hải chiến Hoàng Sa (19/01/1974 - 19/01/2017)
Người Năm cũ


UserPostedImage





Hồn Tử Sĩ gió ù ù thổi.
Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người.
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…




UserPostedImage




Khóc cho Biển, biển tôi đau nặng.
Gió ngang đầu, rờn-rợn u u !
Giọt máu ấy, chính nhân đất Việt.
Tiếng phương Nam Hoàng hạc kêu sầu!
Chinh phu ơi! nghìn triệu giọt đau.
Cứ thế! Biển gào lên thống hận.
Mối thù ấy miên miên hồn nước.
Máu HOÀNG SA quyện máu TRƯỜNG SA.
Khắc vào tim BIỂN, ĐẢO quê nhà.
Cả dân tộc hãy cùng nhớ lấy!
Ghi sâu vào tim óc mối thù sâu.
Hãy cùng hét vang vang trời NAM VIỆT.
ĐẰNG GIANG TỰ CỔ HUYẾT DO HỒNG!!!





UserPostedImage


UserPostedImage


UserPostedImage


wild grass  
#57 Posted : Friday, January 20, 2017 1:04:04 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)
Hồi Ký - Yểm Trợ Trận Chiến Hoàng Sa

Nguyễn Văn Sáng




Ngày 17 tháng 4 năm 1974, chiến hạm Vĩnh Long HQ-802 (LST) của chúng tôi bỗng sôi động hẳn lên với lệnh rời vùng trách nhiệm Trường Sa để tiến về quần đảo Hoàng Sa. Có tin đồn Trung Cộng sắp tấn công tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, và Hải Ðội III Ðặc Nhiệm trực thuộc Hạm Ðội chuẩn bị nghênh chiến. Chiến hạm chúng tôi được điều động đi yểm trợ tiếp vận vì đã được thực tập trong lực lượng đặc nhiệm Hải Ðội III năm 1973, vừa là 1 tàu với nhiều máy móc kỹ thuật. Phản ảnh sự sôi động của tình hình bây giờ, người ta còn nghe mọi thủy thủ trên tàu trong câu chuyện thường nhật lại nói chêm thêm dăm ba câu tiếng tàu vào các câu đùa cợt trong suốt hải trình ra vùng Hoàng Sa. Ðời quân đội là thế, thằm chút khôi hài trong cái cực nhọc để tìm chút vui tươi. Cá nhân tôi, vừa được đi du tập qua các quốc gia Á Châu trong vùng trách nhiệm của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ về lại Hạm Ðội VN, nhận thấy quá rõ ràng thái độ mới của chính trường Hoa Kỳ và sự bấp bênh của chính quyền Nixon, lòng tôi âu lo về sự xuất hiện của loài cá mập này càng làm gia tăng gánh nặng cho HQVN. Như vậy, thật bất ngờ, trận hải chiến Hoàng Sa sắp thành sự thật.
Nhiệm vụ của Hải Ðội đặc nhiệm được thành lập từ năm 1973 nhằm đối phó với vấn đề đặt quân trú phòng trên lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa, song song với việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên dầu hỏa thuộc về chủ quyền VN. Hải Ðội đặc nhiệm được chỉ huy bởi HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc (Khóa 5), cũng là Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3 (Hải Ðội Tuần Dương), thuộc BTL Hạm Ðội. Thành phần của Hải Ðội đặc nhiệm cùng thao dượt mùa hè 1973 gồm có: CXH HQ-802 (Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái hạm, CXH HQ-801 (có chở theo các Sinh Viên Sĩ Quan thuộc Trung Tâm Huấn Luyện HQ Nha Trang), Khu Trục Hạm HQ-4 (DER) và 3 Tuần Dương Hạm (WHEC). Ngoài ra còn được tăng phái 1 số hạm trưởng thâm niên để thực tập các công tác tiếp vận quy mô ngoài khơi.

Trước đó khoảng 3 tháng, bỗng dưng Bắc Kinh lên tiếng tuyên bố chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Ngoại trưởng VNCH ông Vũ Văn Bắc liền lên tiếng bác bỏ và cực lực lên án ý đồ xâm lăng này của Trung Cộng. Ngày 16-1-1974 Trung Cộng mang 2 chiến hạm số 402 và 407 cùng nhiều ngư thuyền vũ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền, một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ngày 17-1-1974, Khu Trục Hạm HQ-4 đến Hoàng Sa gây áp lực buộc lức lượng Trung Cộng rút khỏi 2 đảo Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Tuy nhiên, chiến hạm của Trung Cộng vẫn lảng vảng trong vùng. Chiều lại, tin báo cáo cho biết có thêm 2 chiến hạm săn tàu ngầm loại Kronstad của Trung Cộng được tăng cường. Nhận thấy tình hình nghiêm trọng, Bộ Tư Lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, Duy Mộng và Vĩnh Lạc. Ðồng thời, tăng cường thêm Tuần Duyên Hạm HQ-5 (Cruiser) và Hộ Tống Hạm HQ-10 (Escort) vào vùng chiến cùng với Khu Trục Hạm HQ-4 (Destroyer) và Tuần Duyên Hạm HQ-16 (Cruiser). Tăng cường thêm có Toán Hải Kích SEAL điều động bởi HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Khóa 20), và toán Biệt Hải điều động bởi HQ Trung Úy Lê Văn Dũng (Khóa 20), 1 Trung Ðội Ðịa Phương Quân đang trú phòng tại đảo chính, đảo Hoàng Sa, và 1 phái đoàn công binh của Quân Ðoàn 1 (do Thiếu Tá Hồng chỉ huy) tăng viện để xây cất một phi đạo trên đảo Hoàng Sa. Lực lượng HQ Trung Cộng có 11 chiến hạm và ghe thuyền (gồm các tàu Khinh Tốc Ðỉnh Komar với hỏa tiễn hải-hải, Vớt Mìn, Trục Lôi Hạm và Hộ Tống Hạm), tổng số binh sĩ Trung Cộng hiện diện không rõ.

Chiến hạm chúng tôi, HQ-802, hai máy tiến full vận chuyển với tốc độ nhanh đến vùng 1 Duyên Hải ngày 18-1-1974 để nhận lệnh. Trên đường đi Hạm Trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công ra lệnh hạm phó, Thiếu Tá Thái, chỉ huy bắn thử các trọng pháo để thao dượt tác xạ. Mỗi phát đại bác bắn đi, tàu chúng tôi rung chuyển khắp thân của khối sắt nỗi, hầu hết thủy thủ đoàn đều lên boong tàu lúc thao dượt tác xạ. Chúng tôi chỉ biết HQ-5 đã tiến ra Hoàng Sa với toán SEAL, HQ-4 mang theo toán Biệt Hải, và HQ-16 đang có mặt ngoài khơi Hoàng Sa. Dĩ nhiên là mọi thủy thủ đều quan tâm đến những diễn tiến đầy kinh ngạc này. Ðang bận đương đầu với chiến cuộc với CSVN mà HQVN tham dự bằng yểm trợ hỏa pháo từ mặt biển, nay nghe tin HQ Trung Cộng sử dụng chiến hạm với tốc độ nhanh trang bị hỏa tiễn vượt trội hơn hỏa lực HQVN, ai cũng lo ngại về sự bất cân bằng của trận hải chiến. Trước đó khoảng 1 năm, CXH Vĩnh Long HQ-802 được lệnh đi thao dượt tập đội tại ngoài khơi Trường Sa, theo các tin tức là 2 quần đảo Trường và Hoàng Sa có thể có các mỏ dầu quan trọng. Từ đó chúng tôi rời đất liền với những công tác dài hạn kéo dài vài ba tháng lênh đênh chỉ thấy những nước và sóng biển, thèm khát mặt đất, cây cối, nhà cửa và những tà áo dài. Hải đảo Trường Sa buổi chiều các hải âu bay về hòn đảo nhỏ với số lượng đông đảo làm đen cả bầu trời và tiếng kêu chíu chít nhộn nhịp của bầy chim có thể nói kinh khủng như phim “Birds” của vua kinh dị Hitchkok. Ai muốn bắt bao nhiêu chim và lấy bao nhiêu trứng chim hải âu này đều được cả. Chỉ cần lấy xoong, giỏ ra mà xúc bắt vì chúng nhiều vô số. Các sinh vật dưới biển nhiều con thật lạ lùng, các anh Ðịa Phương Quân ăn phải cá biển độc bị sưng phù và nhiễm bệnh nhiều đến nỗi chúng tôi phải chở thêm y sĩ ra trị bệnh. Có buổi chiều tàu bỏ neo, tôi đứng gần anh hạ sĩ Ðương đang thả mồi câu cá. Mồi nhấp nhấp rung dưới nước, hạ sĩ Ðương giật lên 1 con cá khá lớn. Anh vừa kéo cá lên khỏi mặt nước khoảng 1 mét, bỗng từ dưới nước nổi lên 1 con cá mập phóng ngang qua táp mất con cá của hạ sĩ Ðương, cắn đứt luôn cả dây câu, và biến vào lòng biển. Mọi người chúng tôi đều nhìn nhau kêu “Ồ” một tiếng. Từ hôm ấy, chúng tôi không rủ nhau nhảy xuống biển vùng ấy để bơi lội khi trời nóng bức, điều mà chúng tôi vẫn thường làm mấy hôm trước. Cả hai vùng biển Trường và Hoàng Sa đều nổi tiếng là có nhiều đá ngầm tức là các đỉnh núi của những núi chìm với chân núi sâu một hai ngàn thước, ví như các bãi chông dễ thọc lũng các tàu bè. Các tàu khi mắc đá ngầm bị bể nát cả thân, chỉ nỗi lềnh bềnh phần trên trở thành xác khô phơi thân cùng sương gió. Ngày còn phục vụ trên HQ-800 tàu chúng tôi cũng đã trợ giúp kéo tàu Trường Xuân của Vishipcoline khi tàu này bị mắc cạn ở
Trường Sa. Có trải qua cái khổ tâm đó thì mới hiểu cái kinh dị của hai vùng biển này.

Sáng sớm ngày 19-1-74, trong khi tàu chúng tôi được lệnh bỏ neo ngoài khơi, quá Ðà Nẵng ngang hòn Tri Tôn, Hạm trưởng Công ra lệnh 2 toán đặc biệt trang bị vũ khí và áo phao có cả 2 binh sĩ người nhái trực thuộc HQ-802 hạ xuồng chuẩn bị ứng chiến. Tuy nhiên, lệnh từ Bộ Tư Lệnh Vùng 1 vẫn giữ chúng tôi trong tình trạng chờ để yểm trợ. Cùng lúc ấy, tại quần đảo Hoàng Sa, toán Hải Kích SEAL (Người Nhái) của HQVN được lênh đổ quân lên đảo Quang Hòa do Trung Cộng chiếm cứ. Quân Trung Cộng nổ súng khiến cho 2 người nhái VN chết (Hạ Sĩ Long “sandwich”, và HQ Trung Úy Ðơn). Toán Hải Kích rút về chiến hạm HQ-5 lúc 9:30 sáng. Trận hải chiến ngay sau đó bắt đầu lúc 10:00 sáng. Tôi được biết chiến hạm 2 phía dàn hình đối mặt, HQ Việt Nam ở vòng ngoài tiến về hướng Ðông Nam vào, Trung Cộng vây quanh đảo Quang Hòa, hướng về phía Ðông Bắc nghênh chiến. Sĩ quan chỉ huy chiến thuật (HQ Ðại Tá Ngạc) ra lịnh khai hỏa, tác xạ trực tiếp vào tàu địch. HQ Trung Cộng phản công. Trận hải chiến diễn ra với tổn thất hai bên như sau:

- VNCH: HQ-10 bị chìm tại trận. HQ-16 bị hư hại nặng, (phòng máy bị trúng đạn nhưng còn hải hành được). HQ-5 và HQ-4 bị hư hại nhẹ. Gần 50 binh sĩ bị tử thương, kể cả hạm trưởng HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà của HQ-10 cùng chết theo tàu.

- Trung Cộng: Chiếc Kronstad 271 (soái hạm ) bị chìm. Ba chiến hạm tham chiến còn lại bi hư hại nặng và trung bình. Con số tử vong và bị thương không rõ.

Chúng tôi nóng lòng theo dõi các diễn tiến của trận hải chiến và rất đau lòng trước cái chết của một số đàn anh và các chiến hữu mà chúng tôi đã gặp từ Hải Ðội 3 Duyên Phòng (Vũng Tàu). . . Một lần nữa cái đau xót xưa lại trở về, kẻ thù Phương Bắc lại dày xéo mãnh giang sơn mà cha ông chúng ta đã lập nên. Sau trận Hoàng Sa, Trung Cộng lập tức huy động một lực lượng hùng hậu kết hợp Hải-Lục-Không Quân với gồm cả 42 chiến hạm và 2 tiềm thủy đĩnh tấn công đổ bộ bao vây tấn chiếm đảo chánh Hoàng Sa và các đảo kế cận, bắt giữ tất cả binh sĩ VN trên các đảo giải về Trung Cộng.

Sáng ngày 20-1-74, hai chiến hạm HQ-4 và HQ-5 về lại Ðà Nẵng cập bến an toàn gặp lại HQ-16 đã về đó trước, tất cả các chiến hạm đều bị trúng đạn. Chiến hạm chúng tôi sau đó được lệnh trở về Vũng Tàu. Sau này khi tàu về đến Vũng Tàu, tôi thấp thỏm mong tin về các bạn SQ cùng khóa tham dự trong trận đánh đó là HQ Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (Người Nhái) và nhất là HQ Trung Úy Lê Văn Dũng (Biệt Hải) bị HQ Trung Cộng tiến chiếm đảo Hoàng Sa bắt mang về Trung Cộng, cùng với các Ðịa Phương Quân và toán Công Binh. Khi thoáng thấy HQ-471 do HQ Ð/Úy Hoàng Thế Dân (Khóa 20) làm Hạm Phó lù lù xuất hiện về lại cửa biển Vũng Tàu từ vùng chiến Hoàng Sa, chúng tôi đã lên máy truyền tin và vì quá mong đợi tin an nguy lẫn nhau đã liên lạc trực tiếp bằng bạch văn về tin tức của trận hải chiến, bất chấp các lệnh mã hóa truyền tin.

Trong hải sử cận đại mà các cuộc hải chiến xảy ra rất hiếm hoi, biến cố Hoàng Sa là trận hải chiến đã hâm nóng lại mối thù sâu xa với kẻ thù Phương Bắc, mà liên tục qua nhiều thế kỷ đã tìm cách xâm chiếm và xâm phạm chủ quyền nước Việt Nam, như một anh láng giềng ngoan cố tệ hại nhất. Trận hải chiến Hoàng Sa đã để lại tâm khảm tôi một số ưu tư dằn vặt mà qua thời gian tôi vẫn không thể nào khuây. Chúng ta không thể nào quên được ý đồ xâm chiếm của kẻ thù Phương Bắc. Kém may mắn thay, đi kèm với hành động xâm lăng ấy là một thái độ trở cờ của chính trường HK, hậu quả của lỗi lầm về chánh trị của Tổng Thống Nixon trong vụ Watergate. Nước VN đã bị cô lập và bị từ khước các chọn lựa bằng giải pháp ngoại giao, để rồi phải chọn hình thức hi sinh, chiến đấu trong vô vọng, liều chết để bảo tồn danh dự trước kẻ thù mạnh hơn mình về quân sự. Tuy nhiên có lẽ niềm đau day dứt nhất vẫn là cái chết đáng thương của các chiến sĩ Hải Kích kiêu hùng mà quân chủng Hải Quân đã phải tốn bao nhiêu công sức để đào tạo. Họ được lệnh đổ bộ lên đảo trước các mũi súng địch đang gờm chờ sẵn trong hàng phòng thủ, mà không hề được hải pháo dọn bãi yểm trợ. Rồi nghĩ lại hoàn cảnh HQ-10 trong tình trạng bán khiển dụng (tàu có 2 máy chánh nhưng một đã bị hư), mà vẫn được lệnh tham chiến để rồi bị trúng đạn chìm vào lòng biển cả. Người lính VN đã phải trực diện với bao phi lý của thời cuộc như thế chỉ để nối tiếp các thế hệ đàn anh viết lên những trang sử đỏ thẳm bằng máu của chính họ. Xin đốt một nén hương lòng cho các anh hùng Hoàng Sa và mượn lời thơ của Nguyệt Trinh để ghi khắc công trạng ấy và cầu mong cái chết của họ không trở thành vô nghĩa:

Sóng biển chiều nay cuồn cuộn quá
Còn đây uy dũng pháo Hoàng Sa
Vành khăn tang trắng đầu con trẻ
Kinh buồn vĩnh biệt tiếng cười cha


Nguyễn Văn Sáng

Edited by user Friday, January 20, 2017 1:04:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#58 Posted : Saturday, January 28, 2017 3:59:42 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,799

Thanks: 1913 times
Was thanked: 4391 time(s) in 2735 post(s)
UserPostedImage


Đầu Xuân, chúc anh wild grass và gia đình,
phúc lộc tràn đầy, Sức khỏe dồi dào, mọi điều tốt đẹp, như ý .

HONG VU LAN NHI

Edited by user Monday, February 6, 2017 1:35:26 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
wild grass on 1/31/2017(UTC)
wild grass  
#59 Posted : Wednesday, February 1, 2017 12:12:53 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)
Originally Posted by: hongvulannhi Go to Quoted Post
UserPostedImage


Đầu Xuân, chúc anh wild grass và gia đình,
phúc lộc tràn đầy, Sức khỏe dồi dào, mọi điều tốt đẹp, như ý .

HONG VU LAN NHI



Cám ơn Hồng Vũ Lan Nhi ghé thăm và tặng tấm thiệp chú gà cồ đẹp quá đi !
Cho cỏ lơn tơn * có chút xíu ý kiến


Cỏ không dám nhận đại danh từ "anh" trước cái nick name "wild grass" của mình. Thiệt tình không dám nhận chữ này.
-Lý do thứ nhất: một số anh chị trong phố gọi HVLN là chị cả.
Thêm lý do thứ hai: nhớ như là có đọc trong forum này bài viết về Hồng Vũ Lan Nhi, dạo năm 63 hay 65 thì phải, HVLN đã có thơ đăng báo, xuất bản, đã học Luật khoa hay Văn Khoa ... đã quen thuộc thả bộ, dạo bước qua những con đường Sàigòn một thuở "cây dài bóng mát". Riêng cỏ, ngày đó thì còn ... vất vả lắm (mới vào trường, mấy ai không vất vả) mà mỗi trưa, mỗi chiều nắng gắt tan học còn mải ngóng tìm rồi chạy theo mấy ông đạp xe gắn chuông leng keng kéo theo cái thùng cà ... rem cây với xi dzô đá nhận gần cổng trường làng **.




Ghi chú
* wild grass hiểu theo ý khờ chủ là cỏ mọc ngoài phạm vi sân trước vườn sau, nên nó có thể mọc lang thang, mọc lơn tơn ... không nên gọi là mọc vô trật tự ... cỏ nó buồn

** dông dài chút xíu cho đỡ nghiêm trọng.
thanks 1 user thanked wild grass for this useful post.
hongvulannhi on 2/6/2017(UTC)
wild grass  
#60 Posted : Wednesday, February 1, 2017 12:40:38 AM(UTC)
wild grass

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 11/1/2015(UTC)
Posts: 207

Thanks: 12 times
Was thanked: 52 time(s) in 44 post(s)



Tài dùng binh của Nguyễn Huệ

Nguyễn Nhã



Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự chưa hề nếm mùi thất bại.

Chiến thắng bất hủ Xuân Kỷ Dậu đã đưa Nguyễn Huệ lên tột đỉnh đài vinh quang của dân tộc. Người đời sau có thể vì quá thần thánh hóa con người hùng của Nguyễn Huệ, nên người ta đã coi Nguyễn Huệ như một thiên tài quân sự siêu việt. Thực ra thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ cũng đã được người cùng thời với Nguyễn Huệ xác nhận như là một sự thực không thể chối cãi.

Các giáo sĩ thường ví Nguyễn Huệ như là “Alexandre” hay “Tân Attila” (2). Đại đế Hy Lạp Alexandre Le Grand và vua hung nô Attila đều là những nhà quân sự nổi danh “bách chiến bách thắng” ở Châu Âu.

Người Việt cùng thời với Nguyễn Huệ như một cung nữ cũ của vua Lê, khi nghe tin vua Lê Chiêu Thống đã đưa Tôn Sĩ Nghị về Thăng Long, đã từ Trường An (4) ra Thăng Long nói với Thái Hậu:

Cứ xem những lời trong bài hịch thì, thấy Ngài (Tôn Sĩ Nghị) buộc cho ta nhiều lắm, mà Ngài thì cứ lượn lờ trên sông, chỉ dùng thanh thế dọa nạt, không biết Nguyễn Huệ là bậc anh hùng lão, hung thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam, thật là thần xuất quỷ nhập không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào còn dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh của y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn sấm sét. E rằng bất nhật y sẽ lại ra, quân Tôn Tổng Đốc còn có cái lo bên trong, địch sao cho nổi!” (5).

Các sử quan nhà Nguyễn cũng phải xác nhận:

… “Nguyễn văn Huệ là em của Nguyễn văn Nhạc, tiếng nói như tiếng chuông to, mắt lập lòe như ánh điện, là người giảo hoạt đánh giặc rất giỏi; người người đều sợ Huệ” (6).

Cái giỏi và độc đáo của Nguyễn Huệ ở điểm xuất thân là kẻ ít học, chỉ là kẻ “áo vải”, người trong “hang núi” như Nguyễn Huệ đã tự nhận, không xuất thân từ một trường dạy võ nào, hay một chức, quan võ nào của triều đình mà từ một kẻ bạch đinh trở thành một tướng lãnh tài ba.

Phàm kẻ làm tướng tài, thì như Tôn Tử nói: “Tướng ấy là trí, là nhân, là kính, là tín, là dũng, là nghiêm. Trí là để bẻ gãy kẻ địch, nhân để làm cho người ham theo, kính là để chiêu người hiền, tín là để đúng lệ thường, dũng là để thêm khí, nghiêm là để nhất lệnh.”

Nguyễn Huệ thật là một người lắm mưu nhiều trí.

Không có trận đại thắng nào mà Nguyễn Huệ không dùng tới mưu từ trận đầu tiên đi vào sử sách là trận đánh úp quân Tống Phước Hiệp ở Phú Yên với kế “dụ địch”, khiến địch không đề phòng xuất kỳ bất ý đánh úp, giúp quân Tây Sơn lật ngược được thế cờ. Trận đánh chiếm Phú Xuân (1786) với kế “ly gián” phối hợp với kế “dụ địch” khiến hai tướng Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể nghi kỵ nhau và Phạm Ngô Cầu mắc mưu bắt quân lính phục dịch mọi việc không còn hơi sức chiến đấu.

Trận phá 20.000 quân và 300 chiến thuyền của Xiêm (1784) cũng dùng tới kế “phục kích”. Đến khi ra Bắc Hà diệt họ Trịnh, Nguyễn Huệ dùng đường thủy ngược theo sông Hồng tới địa phận Lỗ Giang (7) gặp thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Huệ lại dùng kế “dụ địch” khiến quân Nhưỡng mắc lừa, bắn vào thuyền không lúc đêm tối, đến khi sáng ra thì bắn hết đạn, quân Nguyễn Huệ đã ập tới, phá tan quân Đinh Tích Nhưỡng làm phòng tuyến trấn giữ kinh thành bị chọc thủng, khiến quân của Nguyễn Huệ tiến tới kinh thành không mấy khó khăn.


Nguyễn Huệ với lối hành quân vũ bão

Đánh nhanh đánh mạnh, đó là điểm đặc biệt về phép dụng binh của Quang Trung. Nếu như Hưng Đạo Vương sở trường về lối đánh “đoản binh” để chống lối “trường trận” hay Lê Lợi với phép “dĩ dật đãi lao”, chuyên đánh du kích thì Quang Trung trái hẳn, rất sở trường lối đánh “trường trận”. Đó là lối đánh “vận động chiến”, “trận địa chiến”. Đó là lối đánh của một kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Quang Trung luôn tỏ ra thế mạnh.

Thế mạnh là nhờ ở quân số, hỏa lực, phương tiện và mưu kế (chiến thuật chiến lược).

Trước hết về quân số, Nguyễn Huệ thật có tài huấn luyện rất mau chóng các tân binh để biến thành các chiến binh có khả năng chiến đấu cao.

Khi ra Bắc đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ đã qua Nghệ An và Thanh Hóa lấy thêm quân lính đến tám vạn người (1).

Với hơn 10 ngày tuyển binh và kể từ ngày bắt đầu tuyển (ngày 29 tháng 11 Mậu Thân tới Nghệ An) cho tới ngày ra trận, trong vòng chỉ khoảng 01 tháng trời, đồng thời phải chuyển quân một khoảng đường dài hàng mấy trăm cây số mà lính ấy ra trận đánh giặc lại hay, như vậy thực là ngoài sức tưởng tượng. Giáo sĩ Le Roy đã tả đạo quân Quang Trung thì gồm cả người già lão, trẻ con trông giống một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh. Ấy thế mà đạo quân khốn khổ ấy lại tàn sát được đạo quân Trung Hoa (2).

Hồi Lê Lợi khởi nghĩa, Ngài cũng tuyển lính tráng ở các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa. Nhà nào có ba người thì một người làm quân, thuế khóa giao dịch đều miễn trong ba năm” (3). Sang đời Lê Thánh Tông phép tuyển binh rất rõ ràng chu đáo:

Cứ ba năm thì làm hộ tịch một lần gọi là tiểu điển, 6 năm 1 lần gọi là đại điển. Sai quan đi các xứ, dùng nội thần và văn võ mỗi hạng một viên, dựng lập tuyển trưởng để duyệt dân binh, chia làm các bực tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng, nhà nào có 3 đinh thì 1 người bổ vào hạng lính tráng, 1 người bổ hạng quân và 1 người bổ hạng dân. Nhà có 4 đinh thù 2 người bổ vào hạng dân. Nhà có 5, 6 người trở lên thì 2 người bổ hạng lính, 1 người bổ hạng quân để ứng vụ. Hạng lính thì kể riêng, Hạng lão nhiều và tàn tật thì khai riêng. Những người phiêu lưu trốn biệt thì bỏ ra ngoài sổ. Trưởng thành đến 18 tuổi thì vào sổ. Trước hết tuyển những người cường tráng làm binh lính, rồi đến dân tráng sung vào hạng quân, ở nhà làm ruộng, khi nào có thải người yếu thì chiếu theo thứ tự lấy bổ sung vào. Cứ mở sổ mà lấy binh, không cần phải đòi bắt mà có đủ ngay (4).

Còn Nguyễn Huệ thì việc tuyển binh có phần gắt gao hơn. Trong bức thơ đề ngày 12-5-1787, giáo sĩ Longer gửi ông Blandin viết: “Người bạn đồng sự trẻ của chúng tôi bắt buộc phải chạy bởi người ta bắt tất cả mọi người phải đi đánh nhau từ 15 tuổi trở lên. Những người già, đàn bà góa, và con gái cũng bắt đi sửa cầu, đường xá” (5).

Một giáo sĩ khác viết: “Họ (quân Nguyễn Huệ) đã phá hủy ở đây tất cả những ngôi nhà thờ đẹp nhất của chúng ta cùng tất cả những ngôi chùa và bắt các sư tăng cầm khí giới ra trận (6).

Việc kiểm soát đi lại rất gắt gao và khoa học nên sự trốn lính rất khó khăn. Giáo sĩ Doussaint gửi thư cho ông Blandin ngày 16-6-1788 viết:

“Rất khó đi lại, kẻ nào không có “thẻ” sẽ bị bắt giữ và bị tù: mõ làng bắt buộc phải dựng lên 2 hay 3 căn nhà nhận dấu (tay) của người qua lại. Với phương tiện này, họ bắt được hết tận suất đinh (7).

Với cách tuyển binh như trên, nên quân của Nguyễn Huệ lúc nào cũng có quân số đông đảo, hàng trăm ngàn người, rất cần thiết để dùng lối đánh vũ bão.

Về hỏa lực, Quang Trung có khí giới lợi hại nhất là ống phun lửa tục gọi là Hồ lửa và lực lượng xung kích lợi hại nhất là voi trận (8). Chính Tôn sĩ Nghị trước khi tiến quân sang đã ban 8 điều quân luật để dặn dò quân sĩ. Trong đó có nói: “Người Nam đánh trận hay dùng sức voi. Lối đó nội địa (Trung Hoa) không quen, nên hễ gặp phải, ắt phải chạy trước để tránh…

Họ chỉ dùng các “ống phóng” làm lợi khí. Thứ lợi khí ấy cũng gọi là Hồ lửa. Trong khi 2 bên giáp nhau, trước hết họ dùng vật ấy đốt cháy quần áo người ta, để cho người ta phải lui…” (9).

Về loại ống phun lửa từ đời Lê Thái Tổ đã thấy nói đến. Mỗi về trang bị ống lửa hạng đại tướng quân 1 cái, hạng lớn 10 cái, hạng nhỏ 80 cái (10). Chắc loại ống phun lửa này còn sơ khai không tân tiến được như loại “Hổ lửa” sau này.

Ngoài ra các khí giới khác chắc cũng dùng như khí giới ở thời Lê Trung Hưng như kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn. Hoặc như nỏ bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên lửa thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù (11).

Về súng, quân đội Quang Trung trang bị các loại súng tay như súng chim (12), súng đại bác.

Các súng đại bác dùng để phòng thủ, hay dùng để tấn công bằng cách cho voi chở như lời Ngụy Nguyên chép trong sách Thánh Vũ Ký: “Giặc (Tây Sơn) đều chở đại bác bằng voi mà xông vào trận.” (13)

Súng đại bác đã được chúa Nguyễn ở Nam Hà dùng từ lâu và đã nhờ người Bồ Đào Nha lập xưởng đúc súng ở Phú Xuân. Trong một tập du ký viết về Nam Hà vào năm 1749, ông Le Poivre có cho biết chung quanh phủ chúa Nguyễn có tới 1200 khẩu đại bác mà phần lớn là súng của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Súng thì (không bắn được tới 6 phát và phần lớn đạn không cùng một cỡ (14). Mỗi khẩu đội gồm 6 người (15)…

Voi có nhiều ở Cao Nguyên Trung Phần. Tây Sơn cũng như Nguyễn Huệ ở gần đất có voi, nên việc lập tượng binh rất dễ dàng. Các triều đại trước kia cũng phần lớn lấy voi ở miền đất giáp Chiêm Thành để làm voi chiến, “Hiến Tông, (Lê) năm Cảnh Thống thứ hai (1499), ra lệnh cho quân dân địa phương Quảng Nam, (16) ai bắt được voi công thì báo cho ba ty khám thực, cứ bắt được 1 con thì được kể 20 người công đầu và 20 người công phụ mà thưởng cho theo thứ bực” (17). Xem thế, việc bắt voi làm voi trận vào thời Lê này còn khó khắn lắm. Thời Trịnh Nguyễn phân ranh, Chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía nam, gồm các vùng Cao Nguyên, nên việc kiếm voi rất dễ dàng. Vì thế, Chúa Nguyễn lúc nào cũng có sẵn hàng trăm voi trận như giáo sĩ Delacourt có nói ít nhất là 400 voi trận (Ar-M. E, Coch 740, tlđd). Lực lượng tượng binh của Nguyễn Huệ không rõ cả thảy được bao nhiêu, nhưng cũng phải tới hằng trăm thớt voi trận. Sách Liệt Truyện chép: “Binh đắc thắng được hơn 10 vạn, voi trận mấy trăm thớt.” Vua Quang Trung duyệt binh sĩ ở trên doanh. Vua Quang Trung thân cỡi voi ra doanh trại ủy lạo quân sĩ rồi hạ lệnh tiến phát (18).

Dùng voi trận rất lợi nhưng cũng rất hại. Vì nếu không khéo, chính voi ấy lại giết quân mình dễ dàng, làm quân mình thua trận mau hơn. Như trận Tập kích Bích Kê, quân Tây Sơn la hét, gây tiếng động làm voi quân chúa Nguyễn có tới hơn 40 con sợ hãi, chạy tán loạn, đạp lên quân sĩ Chúa Nguyễn chết nhiều hơn là quân Tây Sơn giết. (19)

Thời đó, người ta thấy hầu như Nguyễn Huệ chỉ sử dụng voi trận ở chiến trương miền Trung và Bắc, còn miền Nam thì không. Sử sách không thấy nói tới việc mang voi vào đánh Gia Định. Có lẽ vì những lần mang quân vào đánh Gia Định, Nguyễn Huệ điều đi bằng đường biển, không tiện mang theo voi, một phần vì voi trận chỉ thích hợp với chiến trường miền nhiều rừng núi, chứ không hợp với miền nhiều đồng lầy như ở miền Nam.

Nguyễn Huệ ít khi dùng ngựa mà luôn luôn cỡi voi, lúc đưa đám ma vua Lê Hiển Tông cũng cỡi voi, lúc duyệt binh rồi đến khi ra trận cũng vậy.

Vì thích dùng voi, nên Nguyễn Huệ đã tạo ra tượng binh rất lợi hại. Sách Cương mục chép về Nguyễn Huệ dùng voi đánh quân Thanh: “Hồi trống canh năm sớm hôm sau, Văn Huệ xăn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng, quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, bỏ chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc lại lùa voi xông đến, quân Thanh, trong cơn gấp rút, không cứu nhau được, ai nấy rút vào trong đồn lũy để cố thủ. Bốn mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng những bó rơm to lớn để che đỡ mà lăn xả vào rồi quân tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết mà chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy. Giặc đến được đồn Nam Đồng, thừa thắng, ập lại giết chết quân Thanh bị chết bị thương đến quá nửa.” (20)

Voi trận của Nguyễn Huệ thật là một lực lượng xung kích rất lợi hại, chẳng khác nào như lực lượng “xe tăng thiết giáp” thời nay, khiến cho quân Nguyễn Huệ thêm dũng mãnh.

Users browsing this topic
Guest
5 Pages<12345>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.