Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

53 Pages«<515253
Options
View
Go to last post Go to first unread
NNT  
#1041 Posted : Friday, January 16, 2015 10:30:00 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)
Một cuộc trả thù hèn hạ của bè lũ CS Hà Nội
http://www.aihuubienhoa....-tri-nguoi-chet-chua-yen
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 1/18/2015(UTC)
Xích Hùng  
#1042 Posted : Monday, January 19, 2015 12:02:44 PM(UTC)
Xích Hùng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/25/2011(UTC)
Posts: 219

Thanks: 49 times
Was thanked: 270 time(s) in 108 post(s)
Ca sĩ Trần Ngọc Phong (tự Phong Râu)
Nguyễn Thế Thăng

Được biết trong Bữa Cơm Gây Quỹ Yểm Trợ Tù Nhân Lương Tâm do Nhóm Yểm Trợ Tự Do Dân Chủ Việt Nam tổ chức từ 3 giờ chiều đến 8 giờ tối ngày Chủ Nhật 9 tháng 5 năm 2010 tại Nhà Hàng Legin, Oregon, diễn giả là Ký Giả Hồng Phúc và Nhà Văn Phan Nhật Nam. Trong phần văn nghệ đặc sắc, độc đáo ngoài vợ chồng Nghệ Sĩ Văn Tiên/ Phương Thủy Dung cùng nhiều Ca Nhạc Sĩ địa phương còn có sự hiện diện lần đầu tiên của Ca Sĩ Trần Ngọc Phong. Với tư cách là một đàn em, một tù hữu của TNP trong bao nhiêu năm, tôi xin phép có đôi dòng giới thiệu về người Ca Sĩ đặc biệt này.

Trần Ngọc Phong, một Ca Sĩ chuyên nghiệp với giọng ca thiên phú, đã nổi tiếng một thời trên xứ Đà Lạt mù sương cuối thập niên 60 và đầu 70. Anh đi hát từ thuở còn đang theo học Đại Học Chính Trị Kinh Doanh, bắt đầu từ Phòng Trà ca nhạc La Tulipe Rouge năm 1964 rồi rất nhiều nơi khác. Anh hát với tất cả đam mê mà anh gọi là "nghiệp dĩ" chứ không hẳn vì tiền bạc. Cái nghiệp dĩ này đã bám chặt theo anh trong suốt cuộc đời sinh viên, binh nghiệp, tù đày... cho đến tận hôm nay trên miền đất tạm dung.

Anh tốt nghiệp Khóa 1 CTKD năm 1968, đang theo học Cao Học nhưng vì biến cố Mậu Thân đưa đến Tổng Động Viên, anh nhập ngũ Khóa 9/68, ra trường được chuyển về phục vụ tại Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với chức vụ Sĩ Quan Phụ Khảo thuộc Khối Văn Hóa Vụ (của Trung Tá Hoàng Minh Hòa) cho đến ngày mất nước.
Trong hơn 8 năm sống trong các trại tù khổ sai CS ngụy trang dưới mỹ từ "Trại Cải Tạo", tôi đã đi với anh một đoạn đường dài từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vô Nam. Anh đã hát không ngừng nghỉ, hầu như mỗi ngày, mỗi đêm suốt thời gian này. Lúc đầu chỉ hát lén sau khi cổng trại đã khóa kín với vài người canh chừng vì CS cấm hát "Nhạc Vàng", sau dần thành công khai với những bản nhạc thời VNCH trước kia được chuyển qua Anh Ngữ, bọn cán ngố có hiểu chi mô vì anh em gọi là nhạc "Liên Xô" hay "Cu Ba", đến những năm sau này thì không biết ai đã cải tạo ai, bọn cai tù CS công khai yêu cầu TNP hát "Nhạc Vàng"!!!

Trại Long Giao chúng tôi có một "phòng trà". Đó là một căn phòng bỏ trống bên cạnh nhà bếp. Tối tối anh em tập họp lại, người pha trà, người đóng góp vài cái bánh ngọt, vài cục kẹo, ít thuốc lào, thuốc rê... Đàn guitar tự chế bằng ván ép lượm lặt, dây đàn làm từ dây điện thoại. Ghế ngồi bằng những khúc củi. Trống là cái can xăng cũ lật ngược. TNP và Nguyễn Anh Tuấn thay phiên nhau hát mỗi đêm 4/5 mươi bài! Nhà Văn Dương Hùng Cường (tức Dê Húc Càn) tham dự rất thường xuyên, thỉnh thoảng góp thêm vài chuyện tiếu lâm.

Khi bị chuyển ra miền Bắc với kỷ luật chặt chẽ hơn, sắt máu hơn, anh em chuyển qua hát "Nhạc Xanh" tức nhạc "Niên Xô" hay "Cu Má" (=Cu Ba) thực chất là nhạc chuyển ngữ để ngụy trang, đồng thời để ôn lại chút ngoại ngữ cho qua thời gian. Có nhiều chuyên viên ngôn ngữ trong anh em như Nguyễn Văn Ngọc, người nói viết thông thạo bảy (07) ngoại ngữ có thể giải thích tường tận ngữ pháp liên hệ khi có những tranh luận. Anh Ngọc đã giúp tôi chỉnh lại những bài học tiếng Đức khi tôi dịch quyển "Allemand Sans Peine". Hay nhất phải kể đến anh Lê Thành Luận - một Cử Nhân Văn Chương Anh - đã dịch những bài thật xuất sắc. Ví dụ một đoạn trong bài Xin Còn Gọi Tên Nhau:
- Tiếng hát ru em còn nuối trên môi (Love song for you still on my lips)
- Lời nào gian dối cũng xin qua rồi (Please let's forget all what we've lied)
- Để lỡ ngày sau khi ta cần nhau (So that someday we'll meet again)
- Còn nuối chút êm vui ngày đầu (Little hope you're still be mine)
- Cho mình nhớ gọi thầm tên nhau (In our hearts murmur the names)


Và rất nhiều bài khác bằng tiếng Anh, Pháp hay Đức. TNP còn sở trường hàng trăm bài hát tiếng Tây Ban Nha nên rất thoải mái. Mỗi tối, trong khi anh em nằm trăn trở, có người trùm mền nhớ vợ thương con, có người rấm rức... TNP với cây đàn "tự biên tự diễn", anh hát nho nhỏ, cho mình, cho mọi người… có khi đến 1 hai giờ sáng. Anh hát nhạc Xanh, anh hát nhạc Vàng, anh hát những bài do anh sáng tác (hơn 30 bài). Bỗng nhiên nghe anh đổi tông qua “Nhạc Đỏ”: "Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng..." thì biết ngay anh vừa nhận ra ngoài song sắt thấp thoáng một vệ binh. Một hôm bất ngờ có một tên VC lên tiếng: "Vừa thôi anh Phong ơi, tôi đã nghe nhiều bài anh hát nãy giờ rồi, hay lắm, đừng giả vờ nữa, cứ tiếp tục đi, tôi canh cho !!!". Dần dần quen đến độ mỗi tối anh TNP phụ trách nhạc "yêu cầu" do cán binh CS "biến chất" tự nguyện làm lính canh để TNP tha hồ vi phạm "nội quy trại". Có lần TNP làm reo:
- Tôi sẽ hát bài cán Bộ yêu cầu với điều kiện.
- Điều kiện gì?
- Cán bộ đưa khẩu AK cho tôi bắn vài phát rồi tôi mới hát!?!?

Anh em trong phòng cười rộ lên! Đùa tí thôi!!!

Ngày mồng một Tết 1978, trại tập trung mọi người lên Hội Trường để nghe Trại Trưởng chúc Tết: “Trước thềm lục địa năm mới… ”. Chúc xong, Trại Trưởng "đề nghị" TNP hát một bài. Anh Phong đứng dậy chậm rãi nói: “Vì Trại Trường yêu cầu nên tôi xin hát bài "Hương Xưa", nhạc của Liên Xô (???) do Cung Tiến chuyển ngữ (???). Cả hội trường ngồi im phăng phắc, nổi da gà, rùng mình khi nghe TNP hát tỉnh bơ: "Ôi những đêm dài lòng vẫn mơ hoài một giấc ai mơ, buồn sớm đưa chân cuộc đời, thời hoàng kim nay đã chìm trong sương mơ, dù có bao phen lắng men đợi chờ... Nay đời tàn chết trong hoang vu, oán thù từng giờ…Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi, người ơi, chiều nào gió thu về cho tôi nhặt lá thu rơi...!?!". VC làm sao hiểu nhưng tất cả anh em đều nghe rõ tâm sự của anh, cũng là ước mơ của mọi người.

Cuối năm 1980, đa số anh em thuộc trại tù Thanh Lâm (Thanh Hóa) được chuyển về Nam. Trước khi lên xe, cứ 2 người bị xiềng chung lại với nhau bằng một sợi dây xích có khóa. TNP bị xích với Nguyễn Văn Sơn (Sơn Lai), tôi "cùng khóa" với Ngô Ta (tên thật một người "đồng hương" của tôi. Cùng trại có anh Ngô Tây và một anh tên Ngô Xứng nhưng anh em cứ kêu "Ngô Sắn" cho đủ bộ tam sên). Dĩ nhiên trong cuộc hành trình gần 4 ngày đêm, những đôi "uyên ương" này không bao giờ rời nhau trong mọi sinh hoạt. Ra đến nhà ga Thanh Hóa lúc 2 giờ sáng, anh em nằm vất vưởng trên nền xi măng, căn phòng khóa kín, cố tìm giấc ngủ chập chờn... Cái lạnh như từ trong xương lạnh ra... TNP lại cất tiếng hát, tay bị xiềng vẫn bấm phím đàn, những bài hát gây cảm xúc khó tả, trong đó, một bài mang tên Babilon của LM Nhạc Sĩ Nguyên Thanh mà tôi không thể nào quên trong suốt cuộc đời. Khi đoàn tàu vừa vượt qua cầu Hiền Lương, các toa xe đều vang lên những tiếng reo mừng: “Về quê rồi” - "Chúng ta đã trở về quê hương" - "Về Nam rồi anh em ơi"...

TNP hát lớn hơn bao giờ, vui hơn bao giờ. Đến Quảng Trị, bỗng một viên đá liệng trúng ngay một tên vệ binh làm hắn rớt nón cối. TNP giả bộ xót xa: “Chết rồi, dân miền Nam còn căm thù chúng tôi quá, họ ném đá chúng tôi đấy chứ, không ngờ trúng phải cán bộ?!!?”. Đến ga Huế, rất nhiều em bé bán đủ loại bánh trái trên sân ga. Một em trèo lên toa của tôi: “Mấy chú mua bánh không?”. Tôi giơ cánh tay bị xiềng lên: “Cám ơn cháu, mấy chú là tù làm gì có tiền!” – “Ụa, mấy chú là Sĩ Quan miền Nam hả?” – “Đúng cháu ạ!”. Em bé lẳng lặng đổ luôn thúng bánh lá xuống sàn rồi la lên: “Cha con cũng tù như mấy chú, con tặng mấy chú đó, không lấy tiền đâu. Em nhảy xuống tàu rồi chạy mất hút...”. Một anh phế binh đang chống nạng khập khễnh bước đi, nghe đối đáp giữa tôi và em bé, anh bỗng đứng nghiêm trên một chân, hai cái nạng rơi ra, tay phải giơ lên chào, tay trái đập mạnh vô đùi, cằm bạnh lên, đôi mắt long lanh... Tự nhiên tôi không ngăn được giòng lệ: “Cám ơn anh, "còn trời. còn đất, còn non nước…" phải không anh?” – “Dạ!”, một tiếng dạ thật lớn, thật cương quyết, thật căm hờn… TNP hát lớn: "Cười lên đi anh ơi, cười lên giấu những dòng lệ rơi, hãy ngước mặt nhìn đời...".

Xe từ từ lăn bánh. Anh phế binh vẫn đứng im thật lâu trên một chân, chào một lần nữa rồi ngồi bệt xuống đất, một tay vò đầu, một tay sờ soạng tìm cặp nạng… Khi xe gần đến thành phố Đà Nẵng, vệ binh VC bắt chúng tôi đóng hết các cửa xuống. Lúc bánh xe ngừng hẵn chúng tôi nghe những tiếng đập bên hông tàu:
- Mở cửa ra mấy chú ơi, mở cửa ra mấy chú ơi!
- Mấy chú là tù, có công an trên xe cấm không cho các chú mở.

Các cháu tiếp tục la lớn hơn, đập vào thành xe mạnh hơn. Căng thẳng. Hà Bằng thét lên thật to:
- Trời đất ơi, nóng quá rồi, ngộp thở rồi, mở cửa ra lẹ lên!
Tất cả anh em ngồi bên cửa nhìn nhau rồi đồng loạt mở tung lên, mặc những tên vệ binh la hét, nạt nộ, tức thì những ổ bánh mì được ném vào. Tôi nhìn thấy rõ những em bé trên dưới mười tuổi tay cầm 2 ổ bánh, ném xong lại chạy thật nhanh ra xa xa, nơi đó có vài thiếu phụ đứng bên cạnh những cần xế bánh, nhận 2 ổ khác, tiếp tục hăng hái chạy đi "giao hàng"!!! Không lẽ họ có tổ chức ?? Thấy vậy, TNP xướng trước, anh em cùng vỗ tay đồng ca bài Việt Nam Việt Nam hùng tráng biết bao. Vài cô gái ngồi trên chuyến tàu bên cạnh yêu cầu, TNP hát liền mấy bài, tiếng vỗ tay, tiếng cười vang vang, ngạo nghễ...

Một số tiếp viên trên tàu lén ra hiệu hay nói nhỏ nếu chúng tôi muốn nhắn tin gia đình, bỏ vô gạt tàn thuốc bên cạnh chỗ ngồi, họ sẽ chuyển giùm cho. Tôi lấy một vỏ bao thuốc lá Mai viết ở mặt sau địa chỉ nhà với dòng nhắn: "Con vẫn khỏe. Đang đươc chuyển về Nam, không biết trại nào, hình như Long Khánh. Chờ tin con", (không ký tên). Hình như tất cả những "thư" nhắn của chúng tôi đều đươc các em các cháu đích thân tìm đưa đến tận nhà. Các anh trên chuyến xe lửa xuôi Nam ngày cuối cùng của năm 1980 có còn nhớ cảm tình này, hình ảnh này không? Ân nghĩa thâm sâu của bà con Huế/Đà Nẵng có ai còn nhớ không? Cái chào thân thương của người bạn phế binh hình như vẫn còn đó, anh vẫn còn đang đứng mãi nơi đó, đứng trên một chân, bất động, tay vẫn chào, mắt vẫn còn ngóng theo đoàn tàu, đoàn tàu nay tha hương… Vì miếng cơm, manh áo, vì sinh kế sinh tồn, vì mải mê mưu cầu chút hạnh phúc bản thân... có ai, một lúc nào đó, còn nhớ đến anh chăng? Hay vẫn cứ bình thân an phận thủ thường!?! Chúng tôi về đến Z30A Xuân Lộc Đồng Nai vào lúc 11 giờ đêm, giờ cuối cùng của năm 1980 để bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 1981 tại nhà tù này.

Ngoài tài ca hát, TNP còn rất có duyên kể chuyện. Anh là tác giả của rất nhiều chuyện tiếu lâm châm chọc CS. Chuyện gì anh cũng có thể biến thành hài hước. Ngay những ngày căng thẳng vì phải khai lý lịch, TNP vẫn bình thản. Từ phòng lấy khẩu cung ra, Anh Phong vẫn với nụ cười "vểnh râu" cố hữu: “Hôm nay tôi được "dạy" một bài học nhớ đời”. Thằng cán bộ hỏi:
- Anh Phong, anh khai rằng anh có văn bằng Cử Nhân, vậy bằng Cử Nhân nghĩa là gì?
- Thưa cán bộ, Cử Nhân là Cử Nhân chứ còn là gì nữa.
- Anh học Cử Nhân làm sao?
- À, thì tôi học từ Tiểu Học, lên Trung Học phải thi lấy bằng Tú Tài Một, rồi lấy bằng Tú Tài Hai, rồi lên Đại Học học thêm 4 năm nữa, học tốt mới được cấp văn bằng Cử Nhân.

Tay cán bộ lẩm nhẩm tính toán một lúc rồi ra điều "ta đây":
- Như vậy là anh có bằng Tú Tài Sáu phải không?
- À à, hai cộng bốn là sáu, cũng đươc, cán bộ giỏi quá, biết làm cả tính cộng nữa!!!
- Đúng đấy. Nhưng tôi bảo thật anh nhá, anh học đến Tú Tài 6 mà anh ngu lắm!
- Tôi ngu thế nào cán bộ phải cho tôi biết chứ?
- TNP chợt sửng cồ lên!
- Anh vểnh tai mà nghe tôi dạy đây. Anh Tú Tài 6 mà anh quá ngu ở chỗ... Nhà anh ở đường Huỳnh Tịnh, Sài Gòn phải không?
- Ơ, ơ...
- Ừ đấy đấy, Huỳnh Tịnh Sài Gòn thì viết Huỳnh Tịnh Sài Gòn, đằng này anh viết Huỳnh Tịnh của Sài Gòn mà chữ "của" anh còn viết "hoa"!?!?
- Chu choa trời đất ơi, trên đời này tôi chưa hề thấy thằng nào ngu như... thằng… tôi ! Cám ơn cán bộ nghe!
- Ừ… !
(ghi chú: Nhà anh TNP ở đường Huỳnh Tịnh Của, Tân Định)

TNP còn rất "ga lăng" với phái nữ. Một lần trước mặt anh em, anh lân la đến làm quen với một "nữ cán bộ":
- Không phải tôi thấy người sang bắt quàng làm họ, chứ tôi thấy cán bộ quen lắm? Hình như cán bộ quê "đồng bằng sông Cửu Long"?
- Không, tôi người miền Bắc.
- Thế vậy chắc cán bộ đã vô Nam và sống gần Phi Trường Tân Sơn Nhất?
- Không, tôi chưa hề vào Lam. Tại sao anh hỏi thế?
- Tại tôi thấy cán bộ... bằng phẳng quá!
- Cán bộ cái nhăn mặt, một lúc mới hiểu ra:
- Im ngay, anh đừng "nếu náo" như vậy.
- Không dám đâu. Xin cán bộ bớt “lóng”. Cán bộ "vu khống" tôi rồi!!! Xin lỗi, xin lỗi !!!

(Xin đọc ngược chữ vu khống) Anh em được một phen cười bể bụng!

Một lần cả đội phải đi K5 vác gạo sớm. Sương mù vẫn còn dày đặc. Bên vệ đường có một cục đá lớn trên đó có 2 đứa bé khoảng chín/mười tuổi ốm o gầy giơ xương, trên đầu loe ngoe vài sợi tóc, da mặt nhăn nheo đang ngồi bó gối mà đầu gối cao trên hai tai.... TNP đến trước hòn đá khoanh tay cúi đầu rất lễ phép: "Cháu xin kính chào hai cụ ạ!". Vệ binh nạt: “Anh Phong làm gì vậy?” – “Tôi thấy hai cụ đây giống y chang hình các ông tiên trong truyện cổ tích nên định đến xin xỏ vài việc...” – “Vớ vẩn, khẩn trương đi đi!!!”

Hơn tám năm, biết bao nhiêu chuyện. Quả thật TNP là người tôi rất mến, rất phục. Anh không những trực tiếp nâng tinh thần anh em bằng lời ca tiếng hát, bằng những chuyện tiếu lâm... mà còn bằng chính phong cách hiên ngang của một dũng sĩ dù chiến bại. Ngay trong năm đầu tiên khi vừa bị chuyển ra Đảo Phú Quốc, anh và bốn người nữa đã tổ chức trốn trại. Cả tháng trời băng rừng vượt núi đến tận bờ biển phía tây của đảo, dự định kết bè thả trôi về hướng Thái Lan hay Mã Lai nhưng xui xẻo vào mùa gió Tây nên đành nằm chịu trận để rồi bị bắt lại với bao nhiêu nhục hình tra tấn... Thế mà lúc nào anh cũng cười, nụ cười vểnh râu với bộ ria mép bất hủ, với cái nick name thân thương "Phong Râu"!

Nguyễn Thế Thăng
(theo thongreo.blogspot.com)

thanks 1 user thanked Xích Hùng for this useful post.
Ngọc Anh on 1/21/2015(UTC)
Mén  
#1043 Posted : Saturday, January 24, 2015 11:32:28 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Tại sao không giữ lời hứa với mẹ tôi

* Tác giả Nguyễn Bảo Tuấn là con của Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo. Đây là một bài viết thật xúc động của một người con viết về người cha anh hùng của mình.

Trên FB tôi thấy đại đa số thường chọn hình mình hoặc hình con mình để làm avatar, ít hơn một chút thì lấy hình của người yêu, vợ hoặc chồng, hoặc một hình gì đó mà mình yêu thích. Riêng tôi thì tôi lại chọn một đối tượng khác mà hình như tôi thấy chưa một ai chọn giống như tôi: một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi. Tôi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh đầy phong ba bão táp. Cả nhà 6 người mà chỉ có một chiếc xe đạp thay phiên nhau đi, gạo thì chạy ăn từng bữa, anh trai tôi ngày ngày cứ 5h sáng phải chạy lên Gò vấp để lấy bánh đậu xanh về đi bỏ cho các tiệm bánh rồi mới về đi học trong suốt 7 năm trời, từ năm học lớp 11 đến hết năm thứ 6 Y khoa.

Khó khăn là vậy nhưng tôi vẫn trưởng thành một cách đầy kiêu hãnh. Đôi khi nhìn lại tôi tự hỏi là điều gì đã giúp tôi mạnh mẽ mỗi khi đương đầu với những khó khăn? Và câu trả lời là do trong huyết quản tôi vẫn đang mang một dòng máu nóng trong mình và tôi đã đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ người đã cho tôi dòng máu ấy: một người mà đã không giữ lời hứa với mẹ tôi.

Tôi cũng không biết tại sao tôi và người đó chỉ gặp gỡ và tiếp xúc trong có vài chục ngày, chính xác là từ ngày 06/01/1972 đến ngày 25/03/1972, mà tôi lại luôn luôn thương mến, cảm phục, tự hào và luôn lấy người làm tấm gương soi để tôi có đủ nghị lực vượt qua mọi khó khăn. Có lẽ là do cuộc sống của người quá vĩ đại và tôi đã được thừa hưởng một phần của nó. Mặc dù khi ra đi người đã không thực hiện được một lời hứa với mẹ tôi mà cho tới bây giờ tôi vẫn hỏi: “Tại sao?”

Charlie, tên nghe quá lạ!

“Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ...Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt…

Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972- Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện.
Nếu không có trận chiến mùa Hè năm 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum.

Charlie, "Cải Cách," hay "C," đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-Kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên”
- (Trích trong "Mùa hè đỏ lửa" của Phan Nhật Nam)

“Charlie bỗng trở thành một địa danh được nhắc nhớ từ sau 4000 quả đạn pháo tới trong một ngày, từ sau người mũ đỏ Nguyễn Đình Bảo nằm lại với Charlie” - (Trích lời giới thiệu trong CD Chiến tranh và hòa bình của Nhật Trường Trần Thiện Thanh)

Cho đến bây giờ cũng ít người biết rằng tôi chính là “đứa bé thơ” với “tấm khăn sô bơ vơ ” trong bài hát Người Ở Lại Charlie của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Và tôi lớn lên cùng với ký ức về một người Cha hào hùng như vậy.

Tôi không thần tượng Cha tôi từ một bài hát viết về người, cũng không thần tượng từ một hai trận đánh trong cuộc đời binh nghiệp của người, mà tôi thần tượng Cha mình từ chính cuộc đời của Người. Trải qua biết bao thăng trầm đời binh nghiệp và cuối cùng người đã được giao làm tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn “Song kiếm trấn ải” (biệt danh của tiểu đoàn 11 nhảy dù), một trong những tiểu đoàn được xem là thiện chiến nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Cha tôi là một người khát máu hung tàn, mà ngược lại hoàn toàn, mọi người đều nhớ về hình ảnh Cha tôi như là một võ sĩ đạo đúng nghĩa : giỏi võ, dũng cảm và cao thượng.

Thời bấy giờ có mấy ai dám đánh một sĩ quan của Mỹ, vậy mà Cha tôi đã làm điều đó khi người sĩ quan đó dám làm nhục một người lính Việt Nam (chuyện này tôi được nghe bác ruột tôi kể lại). Có tiểu đoàn nào trong quân đội mà luôn gọi Tiểu đoàn trưởng bằng tên thân mật “Anh Năm”?, nhất là trong binh chủng Nhảy dù, việc phân chia cấp bậc luôn được tôn trọng và đặt lên hàng đầu. Vậy mà trong tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tất cả mọi người từ lính đến sĩ quan chẳng ai gọi Cha tôi là Trung tá cả, mà luôn gọi là Anh Năm, và “Anh Năm” thường hay nói với mọi người trong tiểu đoàn rằng : “Tụi mày thì chẳng biết mẹ gì, nhưng tất cả tụi mày tao đều coi là em tao hết”

“Anh Năm,
Ngoài đời Anh sống hào sảng, phóng khoáng và thật "giang hồ" với bằng hữu anh em, còn trong quân ngũ, Anh như một cây tùng ngạo nghễ giữa bão táp phong ba, Anh không nịnh cấp trên đè cấp dưới, Anh chia xẻ vinh quang buồn thảm với sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp. Anh sống hùng và đẹp như thế mà sao lúc ra đi lại quá phũ phàng!?

Tôi về lại vườn Tao Ðàn, vẫn những hoa nắng tròn tròn xuyên qua khe lá, lấp loáng trên bộ đồ hoa ngụy trang theo mỗi bước chân. Cây vẫn xanh, chim vẫn hót, ông lão làm vườn vẫn lom khom cầm kéo tỉa những chùm hoa loa kèn, những cụm hoa móng rồng và những bụi hồng đầy mầu sắc. Bên gốc cây cạnh căn lều chỉ huy của Anh hồi tháng trước khi còn đóng quân ở đây, tôi thấy có bó hồng nhung đỏ điểm vài cánh hoa loa kèn trắng.

Chống đôi nạng gỗ xuống xe, tiếng gõ khô cứng của đôi nạng trên mặt đường khiến ông lão ngẩng đầu và nhận ra tôi. Xiết chặt tay ông cụ, trong ánh mắt già nua chùng xuống nỗi tiếc thương, chòm râu bạc lưa thưa phất phơ trước gió. Ông cụ đọc báo, nghe đài phát thanh nên biết Anh đã ra đi, nên sáng nào cũng để một bó hoa tưởng nhớ và tiễn đưa Anh. Cụ mời tôi điếu thuốc Quân Tiếp Vụ, rồi ngồi xuống cạnh gốc cây, tay vuốt nhẹ trên những cánh hồng, sợi khói mỏng manh của điếu thuốc nhà binh quện trong tiếng nói:

- Thuốc lá Ông Quan Năm cho, tôi vẫn còn đủ dùng cho đến cuối năm. Mấy chục năm nay tôi mới gặp một ông quan nói chuyện thân mật và tốt bụng với những người dân như tôi. Người tốt mà sao Ông Trời bắt đi sớm như vậy!?
- (Trích trong "Máu lửa Charlie" của Đoàn Phương Hải).

Cha tôi đã sống như thế nào mà những người ít ỏi còn sống sót trở về sau trận chiến tại đồi Charlie đều nói là họ thật hối tiếc khi không được nằm xuống cùng Cha tôi ở đó.

“Tô Phạm Liệu cảm thấy lẻ loi ở cái đại hội y sĩ có nhiều những người “mặc quần mới áo đẹp” và “ăn to nói lớn”, thích “nhảy đầm” và “xếp hàng để lên hát”... Trong cơn say, anh nói là phải chi trước kia, mười mấy năm trước kia, anh được “ở lại Charlie” với Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, với các bạn nhảy dù thì “sướng hơn nhiều” - (Trích trong "Tô Phạm Liệu : người trở lại Charlie" của Phạm Anh Dũng).

Viên sĩ quan cố vấn Mỹ Duffy cho tới tận bây giờ vẫn còn luôn mang trong người những hoài niệm về Cha tôi và trận chiến tại Charlie. Mỗi lần tham gia các cuộc gặp gỡ của hội cựu chiến binh Việt Nam (trong đó có một số hiện đang là tướng lãnh cao cấp trong quân đội Mỹ) ông ta đều hỏi mọi người “Tụi mày có từng tham gia trận Charlie không, tụi mày có ai từng chiến đấu cạnh Colonel Bao (Trung tá Bảo) chưa? Thế thì tụi mày còn xoàng lắm. Và hàng năm cứ mỗi lần sinh nhật của mình, ông ta đều đặt một ổ bánh kem làm hình một ngọn đồi và ghi chữ Charlie lên đó. - (Chuyện này do Chú Đoàn Phương Hải khi về Việt Nam năm 2011 thuật lại cho tôi nghe)

Cha tôi đã sống như thế nào để một người Mỹ phải luôn khắc trong tâm khảm những hoài niệm như vậy?

Tôi chỉ có thể kết luận một câu: “Cuộc đời của Cha thật vĩ đại”.

Ngày hôm nay khi viết về Cha, tôi không biết viết gì hơn, chỉ xin dâng về hương hồn Cha một vài câu thơ nói về khí phách của Người và nơi mà Cha đã gửi lại thân xác của Người vĩnh viễn cho núi rừng Charlie. Ở đây tôi xin dùng từ "Cởi áo trần gian" vì tôi tin rằng Cha vẫn đang khoác một chiếc áo khác và vẫn đang nhìn tôi từ một nơi rất xa…

Lặng lẽ ngàn năm chẳng danh xưng
Bỗng chốc một hôm hóa lẫy lừng
Charlie gầm thét trong lửa đạn
Gọi mãi tên người nước mắt rưng
Trai thời nỗi chết tựa trên lưng
Khí phách hiên ngang bước chẳng dừng
Charlie vẫy gọi người ở lại
Cởi áo trần gian tặng núi rừng

(Kính dâng tặng hương hồn Cha)

Sinh nhật mẹ tôi ngày 11/04. Trước khi hành quân vào Charlie ngày 25/03 Cha tôi đã đặt một chiếc bánh sinh nhật cho mẹ với lời hứa là sẽ về dự sinh nhật của mẹ. Đến ngày sinh nhật mẹ đã không tổ chức mà vẫn chờ Cha về, và cho đến tận bây giờ mẹ vẫn chờ…

Tuy nhiên Cha đã thất hứa với mẹ vì ngày 12/04 Cha đã cởi áo trần gian và nằm lại vĩnh viễn với Charlie. Còn tôi, tôi chỉ biết hỏi là tại sao Cha lại không giữ lời hứa với mẹ tôi? Tại sao và tại sao…?...

Nguyễn Bảo Tuấn

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 1/31/2015(UTC)
Ngọc Anh  
#1044 Posted : Saturday, January 31, 2015 1:24:56 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)
UserPostedImage

Ngành Chiến Tranh Chính Trị VNCH Và Chương Trình Dạ Lan
31/01/201500:00:00)
Trúc Giang MN


1* Mở bài

Ngành Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa ra đời để phục vụ cho cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam. Đó là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa hắc ám độc tài Cộng Sản để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào miền Nam Việt Nam.

Ngành Chiến Tranh Chính Trị thực hiện các hình thức binh vận, dân vận, đồng minh vận và địch vận, thông qua những hình thức tuyên truyền, nổi bật nhất là chương trình Dạ Lan, những em gái hậu phương và những anh trai tiền tuyến.

Về địch vận, chiêu hồi được nâng lên tầm cao thuộc chính sách quốc gia. Từ năm 1963 đến tháng tư 1975 đã kêu gọi được 230,000 hồi chánh viên trở về với chính nghĩa quốc gia.



2* Chương trình Dạ Lan: “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến”

2.1. Nội dung chương trình Dạ Lan

Đêm đêm trên làn sóng điện của đài phát thanh Quân Đội, từ 7 giờ đến 9 giờ, giọng nói rất đặc biệt của “người em gái hậu phương”, rất thiết tha, truyền cảm, “nhỏng nhẻo”, tình tứ có mãnh lực thu hút tình cảm của các binh sĩ trên bốn vùng chiến thuật. “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến” là những từ ngữ rất quen thuộc được nghe thấy trong những bài thơ, bản nhạc thịnh hành thời đó.

Chương trình Dạ Lan là một nét độc đáo của Nha Chiến Tranh Tâm Lý, cộng với nét đặc biệt của giọng nói Dạ Lan, đã được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là những chiến sĩ độc thân, xa nhà.

Không ai ngờ được người xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là người con gái Quảng Nam, có một thời sống ở Huế, tên là Hoàng Thị Xuân Lan.

Ấn tượng nhất, đi sâu vào lòng các chiến sĩ trên khắp bốn vùng chiến thuật, nhất ở các tiền đồn xa xôi, đèo heo hút gió, là giọng nói của người em gái hậu phương Dạ Lan đêm đêm gởi tâm tình đến những anh trai tiền tuyến.

Với giọng nói rặt Bắt Kỳ rất êm đềm, tha thiết đầy trìu mến. Giọng ngọt xớt đôi khi tình tứ lãng mạn, gởi tâm tình và sự quan tâm từ hậu phương ra tiền tuyến cảm thông tình trạng gian khổ và chấp nhận hy của người trai thời loạn trước sự nguy vong của đồng bào miền Nam.

Những binh sĩ từ cấp bậc thấp nhất cũng cảm thấy là họ không bị bỏ quên, vì lúc đó có nhiều thiếu nữ đặt yêu cầu rất cao: “phi sĩ quan bất thành phu phụ.”

2.2. Tổ chức thực hiện

Chương trình Dạ Lan bao gồm các mục: tin tức, thời sự, điểm báo, văn nghệ và thư tín.

Phần hấp dẫn nhất là nhạc và thư tín. Dạ Lan giới thiệu từng bản nhạc, trả lời từng bức thơ từ tiền tuyến gởi về KBC 3168. Trả lời riêng biệt tên từng anh, đơn vị, vị trí đóng quân…không ai bị bỏ quên cả.

Thơ từ tiền đồn xa xôi tới tấp gởi về đến nổi đài Quân Đội phải tuyển dụng thêm nhiều nữ nhân viên đọc thơ và viết bài trả lời để cho Dạ Lan đọc.

UserPostedImage

2.3. Vài nét về Đại tá Trần Ngọc Huyến

Đại Tá Trần Ngọc Huyến 1952 Khóa 2 Trường Sĩ Quan Thủ Đức* Nha CTTL

Cha đẻ của chương trình Dạ Lan là Đại tá Trần Ngọc Huyến.

Năm 1964, Đại tá Trần Ngọc Huyến được cử giữ chức Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng, sau đổi lại Cục Tâm Lý Chiến, nằm trong Tổng Cục CTCT, thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Đại tá Huyến là người có óc sáng tạo. Nhiều sáng kiến của ông đã làm thay đổi hình thức và nội dung tuyên truyền đã có từ trước.

Ông có cử nhân Văn Khoa trước khi gia nhập quân đội.

Ngoài chương trình Dạ Lan, ông còn làm thay đổi hai tờ báo quân đội là Thông Tin Chiến Sĩ và Văn Nghệ Chiến Sĩ, thành tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong.

Đại tá Huyến cho biết, người quân nhân VNCH có quá nhiều gian khổ, khô cằn nên báo chí phải mang sự tươi đẹp của các kiều nữ. Hở hang một chút cũng không sao. Nội dung phải có hí họa, chuyện cười, văng tục một chút cũng OK.

2.4. Đi tìm xướng ngôn viên cho chương trình Dạ Lan

1). Dạ Lan 1

Chương trình mang tên Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội được hình thành trước khi có xướng ngôn viên của chương trình.

Dạ Lan được hiểu là hương thơm quyến rũ về đêm của một loài hoa.

Thiếu tá Nguyễn Văn Nam được giao nhiệm vụ đi tìm xướng ngôn viên (XNV) cho chương trình.

Qua thử giọng bằng máy thu âm của một vài ứng viên, một nữ XNV của đài Gươm Thiêng Ái Quốc, được chọn.

Đài Gươm Thiêng Ái Quốc đặt tại Đông Hà, phát thanh qua bên kia vĩ tuyến 17 trong chương trình địch vận, do Thiếu tá Phạm Huấn, tức nhà thơ Nhất Tuấn làm quản đốc và Hà Huyền Chi làm phó.

Một sự trùng hợp là xướng ngôn viên cũng tên Lan, Hoàng Thi Xuân Lan. Dạ Lan 1.

2). Dạ Lan 2

Hơn một năm sau, XNV Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) nghỉ việc. Đài phát thanh Quân Đội chọn nữ XNV thay thế.

Lại có những trùng hợp, XNV mới cũng có tên Lan, Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) tức Mỹ Linh, cũng có giọng nói giống hệt như Dạ Lan 1.

Mỹ Linh là nhân viên của đài Quân Đội, phụ trách chương trình nhạc ngoại quốc yêu cầu.

Dạ Lan 2 phụ trách chương trình Dạ Lan cho đến ngày 29-4-1975. Di tản sang Mỹ, hiện định cư tại bang South Carolina (Mỹ).

Dạ Lan 1 hiện đang sống ở Sài Gòn.

3). Cuộc đời lận đận lao đao của Dạ Lan 1

Hoàng Hải Thủy

Cô rời Sài Gòn với cái bào thai mấy tháng mà tác giả cái thai là ca sĩ Anh Ngọc (Từ Ngọc Tản).

Năm 1968, Hoàng Thị Xuân Lan trở về Sài Gòn, phụ trách việc hành chánh ở đài phát thanh Sài Gòn.

Nhà văn Hoàng Hải Thủy, bút hiệu Công Tử Hà Đông cho biết, có một thời gian cô sống chung rất hạnh phúc với nhà văn Văn Quang nhưng vài năm sau đó thì họ chia tay. Văn Quang là cựu trung tá Nguyễn Quang Tuyến, quản đốc đài phát thanh Quân Đội từ 1969 đến 30-4-1975.

Dạ Lan 1 hiện là một cư sĩ tại ngôi chùa ở ngoại ô Sài Gòn. Cô đam mê làm công tác thiện nguyện, đi đến mọi nơi để giúp đỡ đồng bào nghèo.

2.5. Thành phần của chương trình Dạ Lan

Xướng ngôn viên: Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) và Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2)

Câu chuyện hàng ngày: Lưu Nghi.

Điểm báo: Nguyễn Triệu Nam

Phần nhạc: Hai nhạc sĩ Đan Thọ và Ngọc Bích.

Chọn bài và dẫn nhạc: Huy Phương.

Phần tin tức: Ban tin tức của đài Quân Đội

Thư tín: Cô Ngọc Xuân và một số cô phụ trách, chọn lựa thơ, viết bài trả lời cho XNV Dạ Lan đọc.

Ngoài ra còn có nhiều văn nghệ sĩ đã từng tham gia, đóng góp cho chương trình Dạ Lan như các nhạc sĩ: Ngọc Bích, Đan Thọ, Anh Ngọc, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Đức, Văn Đô, Trần Thiện Thanh, Trần Trịnh, Đào Duy, Thục Vũ... Các nhà văn, nhà thơ như Huy Phương, Nguyễn Triệu Nam, Nhất Tuấn, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Phạm Huấn, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp, Tô Kiều Ngân…

Chương trình Dạ Lan là một sáng tạo độc đáo, một bước đột phá thu hút thính giả với một số lượng lớn mà trước kia không có.

Nhiều anh em binh sĩ viết thơ tỏ tình với Dạ Lan. Nhiều bạn đi phép về Sài Gòn, đến đài phát thanh Quân Đội tìm gặp Dạ Lan, nhưng chưa có ai được diễm phúc gặp Dạ Lan bằng xương bằng thịt cả.

Dạ Lan trở thành một huyền thoại.

Giọng nói của hai cô Dạ Lan đã in sâu vào lòng người chiến sĩ một thời, trong cuộc chiến giữ nước chống độc tài Cộng Sản. Hai Dạ Lan đã cống hiến tài năng của mình trong cuộc chiến đầy chính nghĩa là bảo vệ tự do và dân chủ cho miền Nam.

blank
Hình ảnh chiêu hồi.

3* Người sĩ quan chiến tranh chánh trị trong QLVNCH

Trung tướng Trần Văn Trung *Phù hiệu trường Đại Học CTCT

Chương trình Dạ Lan do Cục Tâm Lý Chiến thực hiện, nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Ngoài ra, Tổng Cục CTCT cũng đào tạo sĩ quan để phục vụ cho ngành nầy.

Do nhu cầu cấp bách, trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị được thành lập, và bắt đầu hoạt động từ ngày 1-1-1967, do Sắc luật số 48/SL/QP ký ngày 18-3-1966.

Thí sinh có bằng Tú tài toàn phần, qua một kỳ thi tuyển, được huấn luyện 2 năm, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. SVSQ/CTCT được huấn luyện về văn hóa, chính trị, quân sự, có thể nói là một sĩ quan đặc biệt so với từ trước, có khả năng căn bản toàn diện, cả văn lẫn võ. Những môn học về kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử và nhất là về luật pháp, bao gồm dân luật, hình luật, luật tài chánh, hành chánh, luật quốc gia, luật quốc tế…

Số sĩ quan ra trường từ khoá 1 năm 1969 đến khóa 6 tan hàng ngày 30-5-1975 đã cung ứng khoảng 1,000 CTCT, một con số tương đối nhỏ so với quân số trên dưới một triệu của QLVNCH. Vì thế, SQ/CTCT chưa phát huy rộng rãi được khả năng đã thụ huấn. Hơn nữa, những năm sau cùng, cuộc chiến trở nên khốc liệt ở quy mô lớn, chủ yếu là xử dụng sức mạnh hoả lực của vũ khí và quân số. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh Chính Trị chỉ huy đại đội trực tiếp chiến đấu.

VNCH thất trận vì hết bom, hết đạn, hết xăng dầu cho xe tăng, thiết giáp, máy bay…chớ không phải do hết ý chí và tinh thần bảo vệ đất nước.

Đồng minh phản bội, lực yếu, thế cô, thất trận là tất yếu.

3* Người chính ủy trong quân đội Cộng Sản Việt Nam

Người SQ/CTCT Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho một đảng phái chính trị nào cả, họ chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với tinh thần trách nhiệm và danh dự của người quân nhân. Trái lại, người chính ủy trong quân đội CSVN chỉ bảo vệ Đảng của họ, với một thiểu số 3 triệu người, đè đầu cởi cổ một dân tộc 84 triệu.

Chính đảng CSVN đã công khai tuyên bố, quân đội và công an là lực lượng chuyên chính vô sản của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, thực hiện cuộc cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa trên đất nước VN. Nhưng mỉa mai thay, công cụ trấn áp 84 triệu nhân dân lại mang tên là “Quân Đội Nhân Dân”, “Công An Nhân Dân”. Và từ đó, đảng tự nhận rằng Đảng là Tổ quốc VN, Đảng là dân tộc VN, CNXH cũng là Tổ Quốc, người nào không yêu CNXH là phản bội Tổ Quốc. Thật là một thứ lý luận ngu dốt và trơ trẻn hết nước nói. Sách vở và tài liệu còn ghi rõ ràng như thế.


Ads by LyricsPartyAd Options
blank
Hình ảnh chiêu hồi.

4* Đảng Cộng Sản VN không còn tin tưởng đảng viên

Đảng CSVN lãnh đạo quân đội một cách toàn diện. Các cấp chỉ huy đơn vị phải là đảng viên, như thế còn chưa đủ, Nghị Quyết 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính Trị, đã lập lại chức chính ủy với cấp bậc và quyền lực ngang bằng với người chỉ huy trưởng đơn vị, từ cấp đại đội trở lên. Trước kia, chính ủy chính thức giữ vai trò cấp phó của đơn vị. Như thế, một đảng viên nầy nằm sát bên cạnh một đảng viên kia, trong một đơn vị có hai chỉ huy trưởng, mục đích dò xét, canh chừng lẫn nhau, chứng tỏ đảng không còn tin tưởng vào sự trung thành của đảng viên mình như trước kia nữa. Trái lại, đảng viên cũng không còn tuyệt đối trung thành vào đảng, bằng chứng là, những “lão thành cách mạng”, những tướng lãnh nghỉ hưu, và ngay cả những đảng viên trẻ cũng chống đảng, vì cái thời kỳ bưng bít sự thật không còn nữa. Thời đại thông tin hiện tại đã phơi bày ra ánh sáng những trò lừa bịp, gian trá của đảng.

Luật sư Lê Thị Công Nhân trước kia cũng đã từng được kết nạp vào đảng, và mới đây, người đảng viên Nguyễn Chí Đức, đi biểu tình chống Trung Cộng ngày chủ nhật 17-7-2011, đã bị đồng chí là Đại úy Công an với biệt danh là “Minh Đạp” sút cho những cú đạp như trời giáng. Nguyễn Chí Đức trả lời phỏng vấn đài BBC như sau, “Tôi bị khống chế như một con lợn, và nhận 4 cú sút, trong đó 2 phát được “ăn bánh giày” vào mồm, một phát qua cổ và một phát vào ngực”.

Hình ảnh Linh Mục Lý bị bịt miệng trước toà, hình ảnh “Minh đạp” cho ăn gót giày được tuyền đi khắp nơi trên thế giới, cho thấy bộ mặt hung tàn của chế độ Hà Nội.

Đảng CSVN hiện nay chỉ nhờ vào bạo lực trấn áp để tồn tại. Đó là cái bi đát của một chế độ sắp bị diệt vong.

blank
Hình ảnh chiêu hồi.

5* Hoạt động của ngành Chiến Tranh Chánh Trị trong Quân Lực VNCH

Ngành CTCT của QLVNCH được tổ chức theo cơ cấu và nội dung của CTCT Trung Hoa Dân Quốc. Nội dung của Lục Đại Chiến là đúc kết những kinh nghiệm đấu tranh chống CS của Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Lục Đại Chiến áp dụng thích hợp vào chiến tranh VN, vì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp áp dụng chiến tranh nhân dân, du kích và nổi dậy của Trung Cộng.

Tổng Cục CTCT được chia thành 5 cục với một trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.

1. Cục Chính Huấn phụ trách huấn luyện

2. Cục Tâm Lý Chiến đảm trách tuyên truyền

3. Cục Xã Hội chăm sóc gia đình binh sĩ, giáo dục con em quân nhân, quản lý các Nha Tuyên úy.

4. Cục An Ninh Quân Đội bảo vệ an ninh nội bộ và phản gián

5. Cục Quân Tiếp Vụ cung cấp nhu yếu phẩm miễn thuế

6. Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị đào tạo sĩ quan trẻ có đầy đủ năng lực đảm trách công tác CTCT ở các đơn vị.

blank
Hình ảnh chiêu hồi.

6* Lục đại chiến

Nội dung hoạt động căn bản của ngành Chiến Tranh Chánh Trị là “Lục đại chiến”, tức là 6 trận chiến lớn chống đối phương, bao gồm: Tư tưởng chiến, Mưu lược chiến, Tổ chức chiến, Tình báo chiến, Tâm lý chiến và Quần chúng chiến.

6.1. Tư tưởng chiến.

Tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất, vì tư tưởng hướng dẫn hành động, có tư tưởng đúng mới hành động đúng và tích cực.

Nổ lực của ngành CTCT trong QLVNCH là làm cho nhân dân và chiến sĩ hiểu rõ được cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam là chính nghĩa, cụ thể là bảo vệ tự do, dân chủ cho nước Việt Nam Cộng Hòa, trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Đảng CSVN là tay sai của Cộng Sản Nga, Tàu trong mưu đồ bành trướng của CNCS, nhuộm đỏ thế giới của CSQT. Điều nầy được kiểm nhận là đúng, đó là ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm được miền Nam, Phạm Văn Đồng tuyên bố, “thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”.

Quân dân miền Nam chiến đấu tự vệ chống lại bọn người “Sinh Bắc tử Nam”, đã vượt vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, vượt Trường Sơn, vượt đường mòn HCM, vào tận miền Nam, dùng vũ khí của Nga, Tàu và các nước CS, để giết hại đồng bào miền Nam đã tập họp lại trong những đơn vị của quân đội, chiến đấu giữ tự do, dân chủ, giữ nhà, giữ nước. Chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh là ở những mục đích cao cả đó. Chương trình Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội đã làm việc đó, và góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu của người thanh niên thế hệ, trước hiểm họa mất nước.

6.2. Mưu lược chiến

Nhận thức đúng, hành động đúng, nhưng phải hành động như thế nào để đạt kết quả to lớn mà tổn thất rất nhỏ thì mới hữu hiệu. Đó là phải dùng “cái trí”, mưu trí trong việc dụng binh cũng như ở tất cả hình thức đấu tranh.

Trong phép dụng binh, thì cái nguyên tắc “bất chiến tự nhiên thành”, thắng lợi mà không giao chiến, mới là thượng sách. Mưu lược cổ điển nhắc tới 36 kế, xem ra một số mưu kế vẫn còn giá trị xử dụng, và nhiều tướng lãnh VNCH đã áp dụng thành công những kế sách đó.

Mưu lược chiến nói chung là những suy nghĩ sáng tạo trong việc áp dụng chiến thuật, chiến luợc đối với kẻ thù.

Trong lịch sử, để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân sĩ trước thế mạnh của quân xâm lược nhà Tống, danh tướng Lý Thường Kiệt đã cho thực hiện một mưu kế rất thần tình, ông sai người giả làm Thần Thánh, núp trong đền Trương Hát, khi trời sấm chớp, thì đọc bài thơ mắng chửi quân giặc như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

Binh sĩ nghe Thần phán những câu ấy, nức lòng đánh giặc, dứt khoát là phải cho quân giặc tơi bời như Thần linh đã phù trợ.

Cũng tương tự, Nguyễn Trãi vạch ra kế sách dùng mỡ (mật ong) viết trên lá cây câu chữ “Lê Lợi vi quân-Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua-Nguyễn Trãi làm tôi thần), để cho kiến ăn, hiện ra mặt chữ, rồi đem thả cho trôi sông, tạo ra một “điềm” trời, khẳng định yếu tố “thiên mệnh” khiến cho dân chúng nhanh chóng về Lam Sơn, tham gia nghĩa quân.

Ngành CTCT xem Nguyễn Trãi như là Thánh Tổ, dùng hai câu trong bài Bình Ngô Đại cáo:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Ngô Tất Tố dịch từ chữ Hán, “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo”.

Mục đích nhấn mạnh, cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam là đại nghĩa, đầy chính nghĩa, phù hợp với thiên lương đạo lý, là cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chống lại cường quyền, tàn bạo là chủ nghĩa Cộng Sản. Vũ khí giết đồng bào miền Nam, do các nước Cộng Sản cung cấp, là một chứng minh hùng hồn nhất. Cái tàn bạo của Cộng Sản thể hiện rõ ràng, cụ thể nhất trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế. Hơn nữa, Hồ Chí Minh là “người Nga gốc Việt”, được Nga nuôi dưỡng, giáo dục, làm việc và ăn tiền của Cộng Sản Quốc Tế, là điều không thể chối cãi được.

6.3. Tình báo chiến

Tình báo được định nghĩa tổng quát là những hành động thu thập, nghiên cứu, tổng hợp, xử lý những tin tức và tài liệu bí mật về quân sự, chính trị, quốc phòng, an ninh, khoa học kỹ thuật…của đối phương.

Tình báo là thu thập, báo cáo tình hình của địch, một yếu tố rất quan trọng, không những trong chiến tranh mà còn quan trọng trong những cạnh tranh về mọi mặt trong xã hội. Quan điểm căn bản được Tôn Tử ghi như sau:

Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách đãi
Bất tri bỉ, nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ
Bất tri bỉ, bất tri kỷ mỗi chiến tất bại.

(Biết người biết ta trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng, một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại). Ý nghĩa trên được rút gọn trong câu “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”, đó là quan niệm căn bản, chớ không có ý nghĩa tuyệt đối, bởi vì việc thắng bại còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như trường hợp một trong hai bên tham chiến, không có quyền lựa chọn giữa đánh hay không đánh, như bị vây đánh hội đồng chẳn hạn. Năm bảy thằng Cộng Sản vây đánh một người Việt Nam Cộng Hòa, thì mình không bị chột cũng bị què.

Tổng thống Obama bổ nhiệm ông Leon Panetta, Giám đốc CIA vào chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng là thích hợp nhất, vì khả năng biết người, biết ta của ông cao hơn những người ngoài khu vực an ninh, tình báo.


6.4. Tổ chức chiến

Tổ chức (Organize) là sắp xếp các bộ phận cho có hệ thống, hoạt động ăn khớp với nhau trong việc thực hiện một công tác, một chiến dịch. Công việc càng phức tạp, có liên hệ đến nhiều cơ quan, thì cần phải được tổ chức thật chu đáo, mang tính hợp lý và khoa học, như trong một bộ máy, những trục, những bánh xe răng phải hoạt động ăn khớp chặt chẽ với nhau thì máy mới vận hành được.

Vai trò của việc “tổ chức” trong công tác tiếp vận cho một chiến trường lớn rất quan trọng, trong đó, vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, nhiên liệu… cần phải có sự phối hợp ăn khớp với nhau của các ngành như quân cụ, quân nhu, quân vận, quân y, phi cơ và tàu bè vận tải của không quân và hải quân, lực lượng quân đội bảo vệ lộ trình, bảo vệ an ninh bãi đáp, bảo vệ bầu trời chống lại phòng không của địch…mà Tổng Cục Tiếp Vận đóng vai trò chính và Cục Truyền Tin là phương tiện chủ yếu.

Tóm lại ngành CTCT, người sĩ quan CTCT phải có óc tổ chức để thực hiện từng công tác về dân vận, binh vận, địch vận, tuyên truyền, phản tuyên truyền cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể đang xảy ra.

6.5. Tâm lý chiến

Cục Tâm Lý Chiến là cái xương sống của ngành CTCT trong QLVNCH. Chiến tranh tâm lý là chiến tranh về tư tưởng, dùng tư tưởng đánh bại tư tưởng, ý chí và tinh thần của quân địch, đồng thời nâng cao tinh thần quyết thắng của binh sĩ ta. Phương tiện chính của CTTL là tuyên truyền và phản tuyên truyền.

Có hai loại tuyên truyền: tuyên truyền công khai và tuyên truyền bí mật.

6.5.1. Tuyên truyền trắng

Tuyên truyền công khai còn gọi là tuyên truyền trắng, là dựa vào những tin tức chính thức, có nguồn gốc rõ ràng như những lời tuyên bố của các chức sắc cao cấp như thủ tướng, bộ trưởng hoặc phát ngôn viên chính phủ…từ đó triển khai, phân tích để chứng minh một điều gì muốn tuyên truyền. Ví dụ như ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm miền Nam, thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố “thống nhất đất nước để đưa cả nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Đảng CSVN là lá cờ đầu, là đội quân tiên phong của Cộng Sản Quốc tế tiến hành cuộc cách mạng vô sản thế giới”. Đó là lời tự thú có giá trị, chứng minh CSVN là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế CS. Xâm chiếm miền Nam để bành trướng CNCS trong mưu đồ nhuộm đỏ thế giới của CS. Hết chối cãi. Lòi bộ mặt giả dối, lừa bịp là chiêu bài “giải phóng dân tộc”. Lộ liễu hơn nữa, đảng Xã Hội lấy lại bản chất thật sự của nó, là chính thức mang tên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngày nay, đảng Cộng Sản hết thời, vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị nhân loại ném vào sọt rác.

Tuyên truyền trắng lấy những câu thơ nâng bi của Tố Hữu chứng tỏ thân phận tay sai của Liên Xô, cụ thể như sau:

Vui biết mấy khi con tập nói
tiếng đầu lòng con gọi Stalin…
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười.

Cái độc đáo của tài nâng bi là, con nít VC biết học nói “tiếng người nước ngoài” trước khi biết nói tiếng Việt, đó là biết phát âm tên ông Stalin. Người không có học “tiếng người nước ngoài” thì chỉ phát âm như sau, “ông Ăn Tờ rô Bốp Mốc Cu ra Đớp”, ông Ni Cô Lai Nhai Quai Dép hoặc ông Ê Rích Hôi Nách Cơ…

Tuyên truyền bí mật có hai dạng là tuyên truyền đen và tuyên truyền xám.

6.5.2. Tuyên truyền đen

Tuyên truyền đen là dựa vào những tin tức có nguồn gốc “gần như có thật”, từ đó phân tích, bổ sung, tăng cường, thêm mắm dậm muối, làm cho đối phương hoang mang, bất mãn.

6.5.3. Tuyên truyền xám

Tuyên truyền xám là dựa vào tin tức “không có nguồn gốc rõ ràng”, hoặc căn cứ vào những sự việc đang xảy ra mà bịa thêm câu chuyện, như: bà con đồn rằng, dư luận cho rằng, người giấu tên cho biết…

Tuyên truyền xám mang tính đánh phá nhẹ nhàng, tưởng chừng như vô hại, nhưng tác dụng rất thâm hậu. Cái “không có” mà được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, khiến cho người nghe, từ hoang mang cho đến chỗ tin là “có thật”. Trong Cổ học tinh hoa, có câu chuyện Tăng Sâm giết người. Tăng Sâm là người con lương thiện, thuần hòa hiếu thảo, người có học sách thánh hiền, tôn trọng đạo lý. Một hôm, có người chạy đến báo với bà mẹ, “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ thản nhiên tiếp tục dệt vải. Người thứ hai đến báo, bà mẹ vẫn tin con mình không sát nhân. Người thứ ba đến báo, bà mẹ lo lắng, chạy đi tìm hiểu vì không còn niềm tin.

Tuyên truyền là một vũ khí đấu tranh rất lợi hại. Một ví dụ về tuyên truyền của tay sai VC ở hải ngoại, như muốn đánh phá các cựu quân nhân của QLVNCH, thì trước hết đánh phá Tổng Tư Lịnh quân đội là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Và để che dấu thân phận tay sai VC, chứng tỏ khách quan, công bằng, nên chúng một mặt ca ngợi Tổng thống Ngô Đình Diệm, một mặt đánh phá Tổng thống Thiệu. Người đọc tưởng như khách quan, công bằng, nhất là khi người viết tự nhận mình là một cựu SQ/QLVNCH…

Hiện nay VC trong nước rất sợ sự thật, cho rằng đó là các loại tuyên truyền xuyên tạc, là “diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch”, và lo ngại, cảnh giác, sợ rằng các đơn vị “tự diễn biến”.

Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết)

I have devoted half of my life for communism.

Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives..

Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.

6.5.4. Phản tuyên truyền

Phản tuyên truyền là căn cứ vào những lời tuyên truyền của địch về những chương trình, những chủ trương sẽ đem ra thi hành, từ đó, diễn dịch, phân tích mặt sai trái, tiêu cực, tác hại… mục đích cản trở, phá hỏng kế hoạch của đối phương.

Chiến tranh tâm lý được thực hiện trên mọi lãnh vực của xã hội. Hiện nay, Internet và điện thoại vệ tinh là phương tiện được xử dụng hữu hiệu nhất.

6.6. Quần chúng chiến

Quần chúng chiến là việc tranh thủ, vận động sự ủng hộ, hợp tác, tham gia của quần chúng nhân dân. Vai trò của quần chúng rất quan trọng trong Chiến Tranh VN, vì cuộc chiến khởi đầu bằng chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, gốc của Mao Trạch Đông được HCM và Võ Nguyên Giáp đem áp dụng vào VN. Trong thời gian đầu, VC sống được là nhờ bám vào dân, ăn chực của dân ở nông thôn, nên lấy lòng dân bằng chủ trương cùng ăn, cùng ở, cùng làm song song với hành động khủng bố tàn nhẩn để trấn áp người dân, nhất là ở những vùng nông thôn hẻo lánh.

Vai trò của quần chúng rất quan trọng nên người thi hành công tác TLC phải hiểu biết rõ về tâm lý quần chúng. Trong chương trình chính huấn có những bài học về tâm lý quần chúng, tâm lý đám đông…

Tóm lại Lục Đại Chiến là những kinh nghiệm xương máu và đắng cay về Cộng Sản mà Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc đã rút tỉa ra được sau khi thua trận, và sẵn sàng phổ biến lại cho đồng minh VNCH.


Ads by LyricsPartyAd Options
blank
Hình ảnh chiêu hồi.

7. Chương trình Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa

Tung cánh chim tìm về tổ ấm

Một thành tích của ngành CTCT là Chiêu Hồi. Chiêu hồi thuộc diện địch vận, được nâng lên tầm mức quốc gia. Chiêu hồi được thực hiện từ năm 1963, áp dụng kinh nghiệm của Philippines trong việc chiêu dụ Cộng Sản Hukbalahap, và kinh nghiệm của Sir Robert Thompson thuộc quân đội Anh để bình định Malaysia.

Chương trình Chiêu Hồi kêu gọi những thành phần VC trong Mặt Trận Giải Phóng MN và CSBV trở về với chính nghĩa quốc gia. Từ năm 1963 cho đến ngày tàn cuộc chiến 1975, Chiêu hồi trải qua nhiều cơ cấu tổ chức khác nhau, kêu gọi được hơn 230,000 hồi chánh viên, buông súng trở về với “quốc gia”.

7.1. Tổ chức và thành quả

Ngày 17-4-1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Quyết định thành lập Chương trình Chiêu hồi, theo đề nghị của Cơ Quan Nghiên Cứu Việt-Mỹ và Viện Trợ Mỹ (USOM).

Ý kiến ban đầu do Sir Robert Thompson, chuyên viên Tâm Lý Chiến của cơ quan viện trợ Anh Quốc đề xướng.

Năm 1968, chương trình phát triển mạnh, kết quả tốt nên được nâng lên thành một Bộ trong chính phủ, Bộ Chiêu Hồi, mỗi tỉnh có một Ty Chiêu Hồi. Ngân sách Bộ Chiêu Hồi do viện trợ Mỹ đài thọ.

7.2. Hoạt động

Bộ Chiêu Hồi (BCH) phối hợp với Bộ Quốc Phòng, Bộ Thông Tin, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các quân binh chủng, cơ quan Thông Tin HK (JUSPAO), cơ quan viện trợ USOM, Cố Vấn Mỹ, Tổng Cục CTCT, Cục Trung Ương Tình Báo, Cục An Ninh QĐ, Tổng nha Cảnh Sát QG, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật Bộ TTM, Chiến Dịch Phượng Hoàng, các đài phát thanh và truyền hình, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Mẹ Việt Nam và báo chí.

Bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác được dùng làm nhạc hiệu của các chương trình chiêu hồi.

Nhiều truyền đơn được phi cơ thả xuống các vùng VC, kể cả tờ Giấy Thông Hành có in hình quốc kỳ VNCH và của các quốc gia đồng minh. Quân đội Úc có truyền đơn riêng dùng trong các cuộc hành quân Tâm Lý Chiến, mang tên “Xuân Đoàn Tụ” kêu gọi hồi chánh.

Ngày 18-2-1973, Bưu Điện phối hợp với BCH phát hành con tem 10$ để kỷ niệm người hồi chánh thứ 200,000.

7.3. Chính sách Hồi Chánh

Giúp đở tái định cư, đoàn tụ gia đình, xử dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến.

Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Bộ Thông Tin Chiêu Hồi ký tên tờ Cam Kết ghi rõ như sau:

1. Đối xử đúng đắn

2. Hưởng quyền công dân

3. Chăm sóc thuốc men tại Trung tâm Chiêu Hồi

4. Đoàn tụ gia đình

5. 30$ tiền ăn cho mỗi hồi chánh viên, vợ và mỗi con lớn. Con nhỏ 15$ mỗi ngày.

6. Hàng tháng 200$ tiền tiêu vặt. 100$ cho mỗi người trong gia đình cư trú tại TT/CH

7. Tiền thưởng về vũ khí mang về từ 500$ đến 75,000$

8. Hai bộ quần áo mới hoặc 1,000$

9. Tiền hoàn hương cho gia đình 1,000$

10. Giúp đỡ kiếm công ăn việc làm

11. Những hồi chánh viên định cư trong các Ấp Chiêu Hồi được cấp xi măng, mái và 1,000$ tiền mặt để xây nhà, 2,000$ sắm vật dụng trong nhà và 6 tháng gạo.

Ghi chú: Một đô la Mỹ năm 1963 bằng 35$ VN. Những năm 1970, giá khoảng 200VNĐ

7.4. Những nhân vật hồi chánh

1. Thượng tá Tám Hà, Trần Văn Đắc, Chính ủy sư đoàn 5

2. Thượng tá Huỳnh Cự

3. Trung tá Phan Văn Xướng

4. Bác sĩ Đặng Văn Tân

5. Nhà văn Xuân Vũ, Bùi Quang Triết

6. Nhạc sĩ Phan Thế

7. Diễn viên Cao Huynh

8. Mai Văn Sổ (Em song sinh với Mai Văn Bộ)

9. Bùi Công Tương, Ủy viên Tuyên huấn tỉnh Bến Tre

10. Ca sĩ Đoàn Chính (Con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và nhạc sĩ Bùi Thiện.

Thượng tá Tám Hà (Trần Văn Đắc), chính ủy sư đoàn 5, hồi chánh ở Bình Dương năm 1970. Ông làm việc tại TC/CTCT và toà Đại sứ Mỹ. HK bốc sang Mỹ năm 1975.

Thượng tá Phan Văn Xướng và binh đoàn Cửu Long hồi chánh tập thể ở Đồng Ông Cộ, cách toà hành chánh Gia Định 3 km, khu vực Ngã tư Hàng Xanh, trong cuộc tấn công đợt hai hồi năm Mậu Thân 1968. Ngoài trung tá Xướng ra, còn có 2 ca sĩ nổi tiếng là Đoàn Chính và Bùi Thiện.

Ông Phan Văn Xuớng được Bộ Chiêu Hồi bổ nhiệm vào chức tham nghị với lương bổng và phụ cấp của một giám đốc. Đoàn Chính và Bùi Thiện được tiếp tục hát ở các đài phát thanh và truyền hình.

Trung tá Lê Xuân Chuyên thuộc quân đội chính quy Bắc Việt, hồi chánh năm 1967 tại Bình Tuy. Ông giúp Bộ CH khai sinh các Đội Võ Trang Tuyên Truyền, được cử giữ chức vụ ngang hàng với một Tổng giám đốc, kiêm Chỉ huy trưởng Võ Trang Tuyên Truyền Trung Ương.

Trung tá Huỳnh Cự, hồi chánh ở Quảng Ngãi, được cử giữ chức Tham nghị, tương đương với một giám đốc, Trường đoàn Thuyết Trình Trung Ương.

Ông Bùi Công Tương, hồi chánh ở Kiến Hòa năm 1970, ông giúp BCH hoàn thành cuốn Bạch Thư tố cáo tội ác của VC. Ông cung cấp những hình ảnh mà VC Bến Tre đã ngụy tạo ra cảnh cán bộ CS đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng ra cảnh binh sĩ VNCH đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẻ mặt căm giận của một cụ già. Những hình ảnh ngụy tạo đó được VC phổ biến và báo chí phản chiến Tây phương chụp lấy để đánh phá VNCH.


7.5. Câu chuyên chiêu hồi

Vào buổi saáng cuối tuần tháng 5 năm 1967, tiểu khu Phước Tuy nhận được tin VC đào đường, đấp mô trên quốc lộ 15. Theo thông lệ, Trung tá tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Lê Đức Đạt cử Đ/U Dung, phó tỉnh trưởng nội an và Đ/U Hiệp, chỉ huy BĐQ đi mở đường tái lập giao thông.

Khoảng 1 giờ trưa, một cán binh VC hớt hải chạy ra hồi chánh và yêu cầu đuợc gặp Trung tá tỉnh trưởng gấp để báo tin 2 sư đoàn VC là công trường 5 và công trường 7 đã tập kết ở núi Thị Vải, với kế hoạch tấn công đơn vị dọn đường trên đường về, và đánh vào tỉnh lỵ.

Một kế hoạch hành quân được nhanh chóng thực hiện với sự tham gia của cố vấn Mỹ. Lịnh báo động toàn tỉnh Phước Tuy được ban hành.

Mở màn trận đánh. Được các phi cơ quan sát hướng dẫn, những chiếc F-4 và F-105 ném các loại bom một cách chính xác vào đội hình của VC. Trực thăng, pháo binh luân phiên nhau tấn công vào các mục tiêu đã xác định. Chiều tối, B-52 trãi thảm vào đám tàn quân.

Sự xuất hiện đúng lúc của người hồi chánh viên đã tiêu hủy phần lớn sinh lực của 2 sư đoàn 5 và 7 của VC.

Các hồi chánh viên chống cộng một cách tích cực và dũng cảm, vì các anh đã vạch rõ bộ mặt ghê tởm của CS, nên chúng xem các anh là kẻ thù, vì thế, cuộc chiến của các anh không có chỗ lùi. Các anh chỉ biết tiến tới, hoặc chiến thắng, hoặc chết, chết theo quân dân và đất nước VNCH.

8* Kết luận

Chế độ Cộng Sản đã nâng cao các hình thức tuyên truyền lên tầm mức quốc gia, đó là chế độ giáo dục nhồi sọ con người từ lúc mới sanh cho đến chết. Ở nhà trẻ nghe cái điệp khúc “hôm qua em mơ gặp bác Hồ”. Về già, công nhân viên chức cũng phải học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trước tiên bức màn sắt, bức màn tre buông xuống để cô lập nhân dân với thế giới bên ngoài. Bưng bít thông tin để cho bọn văn nô, bồi bút tha hồ bịa chuyện thần thánh hoá lãnh tụ. Những tên đồ tể, tay đẫm máu đồng bào của mình như Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Kim Chánh Nhật, kim chi, Fidel Castro và Hồ Chí Minh đều trở nên thần thánh cả.

Ở Việt Nam, thế hệ thanh niên bị nhồi sọ chỉ biết “cầm gươm ôm súng xông tới” “sanh Bắc Tử Nam”. Đến khi mọi dối trá được phơi bày ra ánh sáng thì tất cả đều bật ngữa, nhưng để bảo vệ miếng cơm manh áo, che dấu những sai làm, mù quáng của bản thân nên ngậm đắng nuốt cay âm thầm chịu đựng.

Tay tổ Cộng Sản là Mikhail Gorbachev thú nhận: “Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.”

Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa làm nổi bật chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam là “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào và Tổ quốc Việt Nam.


Trúc Giang

Minnesota ngày 30-1-2015

Edited by user Saturday, January 31, 2015 1:29:05 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 3 users thanked Ngọc Anh for this useful post.
tý xưng on 1/31/2015(UTC), Mén on 1/31/2015(UTC), NNT on 2/2/2015(UTC)
Ngọc Anh  
#1045 Posted : Wednesday, February 18, 2015 8:32:39 PM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)
UserPostedImage
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Ngọc Anh  
#1046 Posted : Thursday, February 19, 2015 7:32:17 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)
UserPostedImage

Đầu năm chúc anh chủ nhà và gia quyến
Quí khách vãng lai Trang Lính
365 ngày hạnh phúc và bình an
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
Xích Hùng on 2/19/2015(UTC)
Xích Hùng  
#1047 Posted : Thursday, February 19, 2015 10:44:47 AM(UTC)
Xích Hùng

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/25/2011(UTC)
Posts: 219

Thanks: 49 times
Was thanked: 270 time(s) in 108 post(s)
Cám ơn Trang Chủ

Mùa Xuân Nào Ta Về
Lam Phương
Trình bày hợp ca


Mùa xuân nào là ta νề
Mùa xuân nào là ta νề
Ѵề quê hương уêu dấu sống bên mẹ cha
Ѵề sống cạnh dòng sông hiền
Ѵề ngh℮ giọng hò ba miền
Ѵề thăm riêng đôi má lúm sâu đồng tiền

Ngàу đầu xuân trên xứ xa
Tình đồng hương thêm thiết tha
Ѕao νẫn ngh℮ trong lòng mình thêm caу đắng
Trời mùa xuân đâу lắm hoa
Đường ngựa x℮ như sóng xa
Ѕao thế gian như còn mình ta νới ta

Ѕài Gòn ơi xin chờ ngàу tôi νề
Tôi mơ một chiều trên ρhố Bô-na
Mưa nhạt mưa nhòa hình bóng ℮m qua
Kỷ niệm êm đềm làm lòng tôi tê tái

Ѕài Gòn ơi bâу giờ là νẫn còn
Con sông hiền hòa sóng nước long lanh
Xa lộ Biên Hòa lều mát trăng thanh
Hay là chỉ còn trong dĩ vãng ngàу xanh

Mùa xuân nào là ta νề
Mùa xuân nào là ta νề…

Edited by user Thursday, February 19, 2015 10:49:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Xích Hùng for this useful post.
Ngọc Anh on 2/19/2015(UTC)
Mén  
#1048 Posted : Thursday, February 26, 2015 11:53:35 AM(UTC)
Mén

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 12/6/2011(UTC)
Posts: 116
Location: United States

Thanks: 54 times
Was thanked: 267 time(s) in 104 post(s)
Để Tưởng Niệm Một Người Anh

(Sau Bốn Mươi Năm Tan Đàn Xẻ Nghé)
Phạm Tín An Ninh


Lần cuối cùng tôi gặp lại anh, khoảng tháng 7 năm 1978 tại Nghĩa Lộ. Trong những người tù ốm o đang vác những bó nứa, băng qua khu ruộng khô mà đám tù chúng tôi đang “lao động” , bất ngờ tôi nhận ra anh, khi anh hỏi xin bọn tôi một ngụm nước. Tôi ngỡ ngàng đứng nghiêm đưa tay lên chào:

- Đại Tá!

Anh nhìn lên, nhận ra tôi và nở nụ cười:

- Mi ở đây à? Chừ còn tá với tướng chi mi. Mi khỏe không?

Tôi đưa cho anh lon guigoz nước rồi nắm lấy tay anh. Anh gầy hơn xưa nhiều, chỉ có nụ cười vẫn vậy, không thay đổi. Chưa kịp hỏi anh ở trại nào và vợ con ra sao, thì tên vệ binh hét lên: “Không được quan hệ linh tinh, khẩn trương về trại”. Tôi phụ đưa bó nứa lên vai anh. Bước đi, anh nói vọng lại một câu:

- Mi nhớ giữ gìn sức khỏe hỉ!

Có một thời báo chí và nhiều người gọi anh là “Người hùng Ban Mê Thuột”. Điều đó rất xứng đáng. Khi chỉ có trong tay một tiểu đoàn và được tăng cường Đại Đội 23 Trinh Sát tinh nhuệ, nhờ hầm hố công sự vững chắc, anh cùng đơn vị đã phải chiến đấu đơn độc nhưng thật quyết liệt can trường trước nhiều đợt tấn công biển người của địch, giết hằng trăm địch quân và bắn cháy nhiều chiến xa T-54, giữ vững vị trí đến sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã lọt vào tay giặc gần một tuần trước đó. Ngày 17.3.75, một lực lượng địch đông đảo có nhiều chiến xa kéo đến bao vây tấn công để bằng mọi giá phải nhổ cái gai làm chúng vô cùng căm tức. Với hàng ngàn quả pháo, chúng muốn san bằng cái cứ điểm cuối cùng mà đơn vị anh đang tử thủ, quyết sống chết trong căn cứ B50 bên cạnh phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 8 cây số về hướng Đông. Anh đã cùng đồng đội vẫn không nao núng, đánh thật đẹp một trận để đời. Một số binh sĩ hết đạn, anh ra lệnh cho thu nhặt súng đạn của địch để đánh lại địch. Rất tiếc, phi vụ tiếp tế thả dù cuối cùng không may rơi ra ngoài vị trí, lương thực và đạn dược đã cạn kiệt. Anh khôn khéo lừa địch, cùng những thuộc cấp sống sót mở đường máu lúc nửa đêm, phân tán thành nhiều toán nhỏ, vài toán rút về hướng Lạc Thiện, vài toán đi về khu làng Thượng thuộc tỉnh Tuyên Đức, riêng anh cùng một toán trên 20 người đến được Phước An, hai ngày trước khi quân lỵ cuối cùng của tỉnh Darlac này rơi vào tay Cộng sản. Anh và đồng đội đã tạo thêm một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Đặc biệt, anh cũng là cấp chỉ huy trực tiếp cuối cùng của tôi vào những giờ thứ 25, trước khi Quân Lực VNCH bị bức tử, để những chiến sĩ anh hùng như anh phải đành đau đớn tức tưởi kết thúc binh nghiệp nửa đường.

Vào đầu tháng 4/75, QĐ II&QK2 lần lượt lọt vào tay giặc, sau những cuộc triệt thoái tồi tệ và bi thảm nhất trong lịch sử chiến tranh. Hầu hết quân nhân các cấp thuộc các Sư Đoàn và Tiểu Khu thống thuộc còn sống sót đã tiếp tục di tản vào Bình Tuy, Vũng Tàu, Sài gòn. Được lệnh của Bộ TTM truyền đi trên các đài phát thanh, truyền hình, kêu gọi “đến trình diện tại Trại Chí Linh, Trung Tâm Huấn Luyện XDNT Vũng Tàu” để sau đó được bổ sung tái lập một sư đoàn duy nhất: Sư Đoàn 22BB với Thiếu Tướng Phan Đình Niệm tiếp tục làm tư lệnh, đặt dưới quyền xử dụng của Quân Đoàn III.

Không ngờ số lượng đến trình diện thật đông đảo. Đa số là sĩ quan, chỉ có khoảng một phần ba là hạ sĩ quan và binh sĩ. Khi lang thang đi tìm mấy thằng bạn cùng đơn vị cũ, xem ai còn ai mất sau trận chiến Khánh Dương và một số phải di tản theo Tỉnh Lộ 7B oan nghiệt, bỗng tôi nghe trên loa có một giọng Huế quen thuộc gọi tên mình, và yêu cầu đến dãy nhà số 4 gặp Đại Tá Võ Ân. Tiếng gọi quen thuộc ấy cũng chính là tiếng nói của anh.

Tôi tìm đến dãy nhà số 4, nơi đặt BCH Trung Đoàn 47 (tái lập). Vội vàng tìm gặp anh, để xem người hùng của trận chiến Ban Mê Thuột bây giờ ra sao. Anh ngồi trên dãy bàn dài với một vài sĩ quan cấp trung tá, có nhiều vị tôi quen biết. Tôi đưa tay chào, chưa kịp trình diện lời nào, thì anh đã phất tay bảo tôi ngồi:

-Tau được chỉ định tái lập gấp Trung Đoàn 47 này. Mi về đây với tau cho vui. Anh em 23 nhiều lắm. Tụi mình “đánh đấm” tiếp.

Thoáng một chút xúc động. Nghĩ mình là một sĩ quan đàn em cấp thấp, cũng chẳng tài cán gì, chỉ gặp gỡ một vài lần và được anh quí mến. Vậy mà hôm nay, trong cái cảnh chợ chiều, hổn tạp rối ren này, anh vẫn còn nghĩ đến mình.

Ba ngày sau, Trung Đoàn 47 BB được tạm tái lập với một quân số mà quan nhiều hơn lính. Một tiểu đoàn có đến 2 trung tá. Cấp đại đội có 1-2 thiếu tá, có vị đã từng làm tiểu đoàn trưởng hay chi khu phó. Có nhiều trung đội được chỉ huy bởi một đại úy với quân số không quá 25 người, mà 50% là sĩ quan. Chắc chắn trên thế giới không có một đội quân nào với bản cấp số kỳ quặc và “ghê gớm” như thế.

Trong hầu hết những bài viết về các trận chiến cuối cùng của QLVNCH, dường như chưa có ai nói đến sự kiện này. Tại sao những sĩ quan cấp tá, cấp úy lại sẵn sàng nhận lãnh những chức vụ quá nhỏ nhoi như thế, trong lúc tình hình nguy ngập, chiến trường đang từng giờ thu hẹp lại, mà mọi bất lợi, hiểm nguy đang chờ họ đối mặt? Hơn nữa hầu hết đều bỏ lại gia đình ở miền Trung mà bây giờ đã thuộc vùng địch chiếm. Bao nỗi ưu tư canh cánh bên lòng. Nếu không phải là “Tổ Quốc, Danh Dự. Trách Nhiệm”, sứ mạng cao cả mà họ đã tuyên thệ nhận lãnh khi quì xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa?

Ngay tại BCH Trung Đoàn, ngoài Đại tá Võ Ân Trung đoàn trưởng, còn có đến 4, 5 trung tá. Trung tá Nguyễn Thắng Phùng, chỉ huy trưởng TTHL/SĐ 23BB nhận lãnh chức vụ Trưởng ban 3. Vai trò này anh đã từng làm cách đây trên 10 năm, khi còn mang cấp bậc thiếu úy. Tôi vẫn còn nhớ, khi mới ra trường vài tháng, dắt trung đội biệt phái đến trình diện BCH Trung Đoàn 45BB của Trung tá Võ Văn Cảnh, đóng trại giữa rừng để chỉ huy trận chiến Quảng Nhiêu đang hồi khốc liệt nhất, tôi được gặp Thiếu Úy Nguyễn Thắng Phùng, đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn. Anh rất vui vẻ, niềm nở hướng dẫn trung đội tôi ra nằm giữ an ninh cho một Pháo Đội Pháo Binh 155 ly, đóng bên cạnh BCH Trung Đoàn. Anh dặn dò chỉ vẽ những điều cần thiết. Chỉ với câp bậc thiêu úy, nhưng tôi nghĩ anh là một Trưởng Ban 3 nhiều kinh nghiệm, khả năng. Tôi có cảm tình với anh kể từ ngày ấy. Anh đã đảm trách chức vụ này từ khi còn thiếu úy, bây giờ mang đến cấp bậc trung tá, anh lại trở về với cái chức vụ hơn 10 năm trước. Vậy mà anh rất vui vẻ, bình dị, thường thân tình đùa cợt với anh em và chu toàn trách nhiệm của mình. Anh bảo:

- Được làm việc với Đại Tá Ân là vui rồi!

Tôi rất nể phục thái độ và tư cách của anh.

Trong BCH Trung Đoàn có một vài vị nguyên là tiểu khu phó, tham mưu trưởng của các tiểu khu. Tôi cũng gặp một anh thiếu tá, nguyên là tiểu đoàn trưởng xuất sắc của một tiểu đoàn ĐPQ tại TK Bình Định. Năm 1971 có một thời tăng phái hành quân cho Trung Đoàn 44 của chúng tôi tại An Khê, còn bây giờ thì anh đang vui vẻ làm đại đội trưởng với quân số chưa tới 80 người.

Tôi được anh Ân thương mến, giao cho một chức vụ cũng không có trong bản cấp số: Sĩ Quan Hành Quân & Tiếp Vận. Thực chất, đó chỉ là một loại “thượng sĩ thường vụ” của Trung Đoàn, chạy ngược chạy xuôi lo đủ thứ việc.

Ngày 17/4/1975, chưa kịp trang bị xong, một số quân nhân chưa có cả súng đạn, Trung Đoàn được lệnh di chuyển xuống Long An, đảm trách hành quân an ninh trong vùng Bến Lức. Ban đêm, từng đoàn xe từ Tổng Kho Long Bình chở vũ khí, quân trang quân dụng xuống để đơn vị vừa hành quân vừa trang bị tiếp. Đạn thì thiếu nhưng súng lại thừa. Một người có thể được trang bị một khầu M16 và thêm một súng Colt 12 nếu muốn.

Ngày 22/4/75 có khoảng 10 tân sĩ quan hai khóa 29 và 30 của Trường VBQGVN vừa tốt nghiệp “non” tại Trường Bộ Binh Long Thành, đến trình diện. Các anh vẫn giữ đúng nề nếp, cử một đại diện chỉ huy trình diện đơn vị trưởng theo đúng lễ nghi quân cách. Nhìn họ mà tất cả chúng tôi ai nấy cũng đều cảm kích, chạnh lòng. Những sinh viên đã từ bỏ học đường chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn tổ quốc. Bây giờ giang sơn đang như sợi chỉ mành trước gió, tổ quốc lâm nguy, vậy mà họ vẫn đến đây, để chấp nhận một cuộc chiến ở giờ thứ 25, trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất lợi, khi chưa hề có được một ngày kinh nghiệm chiến trường. Trong những đôi mắt nhuốm chút ít ưu tư ấy vẫn tỏa ra đầy khí phách, sẵn sàng nhập cuộc.

Đại Tá Võ Ân đến bắt tay từng người một. Im lặng một lúc, anh lấy giọng:

-Thay mặt đơn vị, anh cám ơn và hoan nghênh các em đã đến trình diện. Các em đã cho chúng tôi một nguồn sinh lực mới, sau thời gian trải qua những mất mát, giao động. Điều đó cũng đã là một góp phần xứng đáng rồi. Anh biết các em chưa nghỉ phép sau khi làm lễ ra trường. Còn đơn vị lại đang trong thời kỳ tái tổ chức. Bây giờ theo thông lệ, anh cấp cho các em giấy nghỉ phép mười ngày, để các em về thăm gia đình. Mong là các em hiểu sự quyết định này của anh.
Hầu hết các tân sĩ quan nhất quyết xin ở lại để chiến đấu cùng đơn vị. Có anh bảo là gia đình ở ngoài Trung, không có ai ở đây. Nhưng tất cả sĩ quan chúng tôi có mặt lúc ấy đều thấy quyết định của ĐạiTá Ân là có cân nhắc và có tình có lý, nên khuyên các anh nên chấp nhận quyết định của Đại tá, nếu anh nào gia đình ở miền Trung có thể về Sai gon tạm nghỉ ngơi chờ lệnh, sau khi hết phép trở lại đơn vị cũng chưa muộn (?)

Ngay chiều hôm ấy, có lệnh bàn giao vị trí cho một đơn vị khác của Quân Đoàn III, chúng tôi khẩn cấp di chuyển đêm xuống giải tỏa áp lực địch tại Quận Cần Giuộc. Theo tin tức, đã có hơn một trung đoàn địch đang trên đường tiến đến uy hiếp khu vực này.

Tất cả chúng tôi đều đến từ Vùng 2, nên không ai biết rành địa thế và tình hình trong khu vực lạ lẫm này. Để tránh chậm trể và nguy hiểm, Trung Đoàn được biệt phái một toán Cảnh Sát do một Thiếu Tá chỉ huy, dẫn đường. Khởi hành từ 10 giờ tối, cho mãi 5 giờ sáng đơn vị mới tới địa điểm. Toán Cảnh sát “hướng lộ” đã dẫn chúng tôi đi sai lộ trình. Rất may là tất cả an toàn, không đụng độ với bất cứ lực lượng nào của địch.

BCH Trung Đoàn đóng tại Trường Trung Học Cần Giuộc. Phía trước là đồng ruộng, sau mùa gặt nên đất đã khô và trơ những gốc rạ. Tổng Kho Long Bình có lệnh phân tán quân trang quân dụng, nên đã đưa xuống đây cả mấy chục chiếc xe GMCvà xe jeep các loại, kèm theo một lệnh miệng: “ Mỗi xe chỉ có đầy bình xăng, xử dụng chiếc nào đến hết xăng là bỏ luôn.” Vừa xe, vừa gạo, và quân trang chất thành những đống cao giữa trời, trên những đám ruộng khô.

Trung Đoàn có ba tiểu đoàn, không có đại đội trinh sát và đại đội chỉ huy công vụ. Một tiểu đoàn đóng chung với BCH Trung Đoàn, làm lực lượng trừ bị, hai tiểu đoàn bung ra xa. Trong đó có một tiểu đoàn hành quân tái chiếm xã Mỹ Lộc, một khu trù phú của quận Cần Giuộc, bị một tiểu đoàn địa phương của địch xâm nhập, truy giết các nhân viên xã ấp và các trung đội nghĩa quân.

Giữa một cuộc chiến không nhìn thấy tương lai, và phải chỉ huy một đơn vị như chiếc áo cũ mục nát,được vá víu bằng những tấm vải đủ màu, nhưng Đại tá Võ Ân cùng tất cả chúng tôi đã sống với nhau thật vui vẻ, chí tình. Với tôi, đó lại là thời gian đáng ghi nhớ nhất trong cả mười một năm binh nghiệp. Cái ranh giới chỉ huy gần như nhỏ lại, để nhường cho cái tình huynh đệ. Điều này có được phần lớn là nhờ vào anh - Đại tá Võ Ân.

Ngày xưa, khi còn chỉ huy các tiểu đoàn, trung đoàn hùng mạnh, tham dự nhiều trận chiến cam go ở Bình Định, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, anh vẫn vui vẻ thân tình như hôm nay. Với bạn bè hay đàn em, thuộc cấp lúc nào anh cũng dùng hai chữ “mi, tau”. Sĩ quan trong đơn vị thực sự xem anh như một người anh, hay một ông thầy của thời trung học.

Tháng 11 năm 1973, Phóng viên chiến trường Dương Phục, trong một lần đặc biệt đi theo đơn vị của anh, khi ấy là Trung Đoàn 53 thuộc Sư Đoàn 23BB, đang quần thảo với địch trong một trận chiến vô cùng khốc liệt tại Quảng Đức, đã viết:

“Tôi vác ba lô ra xe và hai tiếng đồng hồ sau có mặt bên cạnh đơn vị có nhiệm vụ tái chiếm hai tiền đồn Bu Prang và Bu Bong đã lọt vào tay địch quân trong cuộc tấn công ngày 4.11 vừa qua.

Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, trông giống một giáo sư hơn là một đơn vị trưởng tác chiến. Cả bộ chiến phục bụi bậm, bẩn thỉu, và khẩu súng lục Colt 12 đeo lủng lẳng bên hông cũng không giúp anh có vẻ ngoài oai hùng của người lính chiến. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là bề ngoài. Sức chịu đựng bền bĩ và ý chí sắt thép của anh Ân được truyền tụng theo chiều hướng huyền thoại hóa trong trung đoàn.

Ân tiếp tôi ngay tại vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/53. Khuôn mặt trẻ trung, nhưng dầy dạn vẻ phong trần, nụ cười chân tình như chỉ những người lính chiến mới biết cười như vậy. Ân bảo tôi :

- Anh đến chậm mất hai ngày.

- Hai ngày sớm hơn đã xảy ra chuyện gì?

- Pháo. Địch pháo như mưa, pháo dội vào các đơn vị chúng tôi. Sau pháo, chúng xung phong.”

Sáng ngày 27 tháng 4 /1975, khoảng 10 giờ sáng. Khi chúng tôi đang ngồi uống cà phê trong một phòng học được dùng làm Trung Tâm Hành Quân, nghe tiếng trực thăng đang đảo thấp một vòng đáp xuống đám ruộng khô phía trước, cách chúng tôi chừng hơn100 mét. Nghĩ là trực thăng CNC đến làm việc cho Trung Đoàn, Đại Tá Ân bảo tôi lấy một chiếc xe jeep mới toanh, không mui, chạy ra đón phi hành đoàn. Vì trời nóng, nên đa số chúng tôi đều mặc áo thun. Tôi không kịp mặc áo lính, lái xe chạy băng qua mấy đám ruộng khô và dừng lại trước chiếc trực thăng vừa đáp xuống. Bỗng bất ngờ, ngạc nhiên khi thấy một người vừa bước xuống, tay cặp chiếc mũ sắt ngụy trang có gắn 3 ngôi sao. Theo sau là một vị trung tá trên tay cầm khẩu M-18. Tôi giật mình, nhận ra đó là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Vội vàng bước xuống xe, tôi đứng nghiêm đưa tay chào. Ông bước tới gần tôi. Trong tiếng cánh quạt trực thăng chưa dừng hẵn, tôi nghe ông hỏi lớn:

- Có Đại Tá Ân trong đó không?

- Trình Trung Tướng, có .

Tôi trả lời và mời ông lên xe, nhưng ông từ chối, bảo là ông muốn đi bộ. Có thể là ông có ý cho tôi chạy vào trước để báo cho đại tá Ân, tôi đoán thế.

Tôi vội vã lái xe chạy vào BCH la lớn cho Đại Tá Ân và mọi người biết: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng tới thăm chứ không phải phi hành đoàn.

Tất cả vội vã mặc áo và sửa soạn lại tấm bản đồ lớn được treo trên bảng đen (của lớp học). Tôi xếp mấy chiếc ghế lại cho ngay ngắn. Khi Đại Tá Ân chưa kịp bỏ áo vào trong quần thi Tướng Trưởng đã bước vào phòng. Anh chỉ còn kịp đứng nghiêm hô to: “vào hàng, phắc” rồi đưa tay lên chào.

Tướng Trưởng trông khá mệt mỏi, ánh mắt hình như bị mất ngủ. Ông hỏi với một giọng buồn bã:

- Tình hình thế nào em?

Đại Tá Ân đưa cây que chỉ bảng lên tấm bản đồ, định trình bày tình hình, thì Tướng Trưởng đưa tay ngăn lại. Ông chỉ nói một câu ngắn ngủi:

- Phải cẩn thận. Đừng để hao tốn sinh mạng của anh em một cách vô ích.

Sau khi đưa tay bắt từng người có mặt trong TTHQ, Tướng Trưởng cho biết ông không có nhiều thì giờ vì chỉ mượn được trực thăng trong một thời gian ngắn, và bảo Đại Tá Ân lái xe chở ông sang thăm ông Quận trưởng Cần Giuộc. Tôi gọi toán cận vệ lên một xe jeep khác chạy theo, nhưng Tướng Trưởng khoát tay, bảo không cần. Sau này Đại tá Ân cho biết, anh Trung tá Quận Trưởng này cũng là một thuộc cấp được Tướng Trưởng tin cậy và quí mến, thời Ông còn làm Tư Lệnh QĐIV.

Cả đại tá Ân và chúng tôi không biết lúc ấy Tướng Trưởng giữ chức vụ gì. Chỉ biết là ông đến thăm anh Ân và dặn dò đôi điều. Anh Ân cũng cho biết là chưa từng làm việc dưới quyền Tướng Trưởng, có lẽ ông chỉ nghe nói đến anh Ân “người hùng trong trận chiên Ban Mê Thuột”, nên đến thăm và khen ngợi anh như từng khen ngợi những sĩ quan, những đàn em xuất sắc của ông ở Quân Đoàn I, nơi có nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc với cái tên chỉ có hai chữ như anh (Võ Ân): Lê Huấn, Võ Toàn, Vĩnh Dác, Hoàng Mão, Nguyễn Hóa,Võ Vàng...

Tôi gặp và biết anh Ân lần đầu tiên vào khoảng cuối năm 1972, khi anh mang cấp bậc trung tá, dắt một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 22BB, từ Bình Định lên tăng cường cho Trung Đoàn 44BB chúng tôi, để giải tỏa Trung Nghĩa, một ngôi làng Công giáo, dưới sự chỉ huy của một vị linh mục, quyết tử chiến với Cộng quân, nhưng vì không đủ hỏa lực nên bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn chiếm hơn nửa làng. Một trận chiến phức tạp, khốc liệt, và cuối cùng anh đã chiến thắng ngoạn mục. Bằng một lối đánh giặc rất đặc biệt, xử dụng toàn súng cối 60 ly thay cho Pháo Binh và phi yểm.

Sau nhiều lần tấn công bất thành, do lực lượng địch trú ẩn bám trụ trong các giao thông hào kiên cố và chống trả mãnh liệt. Lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn, tránh tối đa việc xử dụng phi pháo có thể gây thiệt hại cho khu nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Hơn nữa, Pháo Binh khó cận yểm vì khoảng cách giữa địch và dân quá gần, tiền sát viên của ta khó tiếp cận để điều chỉnh cho thật chính xác.

Anh lệnh cho các đại đội tạm rút ra, lựa chọn các binh sĩ trẻ và có năng lực tác chiến, chỉ trang bị súng nhẹ, không mang theo ba lô, chia thành nhiều toán nhỏ, làm lực lượng xâm nhập, tấn công. Các binh sĩ lớn tuồi hay yếu kém theo sau, làm lực lượng tải đạn, tản thương và án ngữ. Anh tâp trung cơ hữu và xin chúng tôi tăng cường thêm cho anh nhiều súng cối 60 ly (ít được các đơn vị xử dụng) với đầy đủ đạn dược, cùng một số xạ thủ có kinh nghiệm về loại vũ khí này. Tôi được Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng 44, chỉ định đảm trách công việc này. Anh và tôi cùng hướng dẫn cấp tốc các tiểu đội trưởng cũng như xạ thủ, điều chỉnh súng cối từng mét một. Khi các tiểu đội bò vào tiếp cận các hầm hố của địch, đích thân anh điều động trên 20 khẩu súng cối 60 ly tác xạ theo sự điều chỉnh của các tiểu đội trưởng. Kết quả thật không ngờ. Địch quân bị tiêu diệt bởi các khẩu súng cối 60 ly này, số còn lại bị thương và bị bắt sống, bên ta không có binh sĩ nào tử thương.

Sau trận chiến, trước khi trở về đơn vị gốc, anh gọi tôi ra ăn bữa cơm chia tay, cùng với vài sĩ quan của anh ngoài tiệm Thiên Nam Phúc. Và có lẽ do chiến công này, chỉ một thời gian ngắn sau đó anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 23 BB để giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 thay Đại Tá Trần Văn Chà. Sau này, tôi cũng được nghe kể lại, anh Ân là người chưa từng giữ cấp “phó” bao giờ.

Anh tốt nghiệp Khóa 12 Thủ Đức, là người thăng cấp trung tá sớm nhất và cũng là người duy nhất của khóa mang cấp bậc đại tá . Hầu hết những sĩ quan giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng dưới quyền, đều là khóa đàn anh, có người xuất thân trường Võ Bị đồng thời với anh. Nhưng tất cả đều nể phục và kính mến anh.

Ngày 30-4-75, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đang quây quần trong phòng học được dùng làm TTHQ. Đại Tá Ân gục đầu xuống bàn. Tất cả im lặng. Cái im lặng thật rợn người. Có lẽ trong đầu mỗi người đang suy nghĩ về một điều gì đó. Tôi bước lại ôm vai anh. Trung Tá Phùng lệnh cho gọi tất cả anh em tập họp trước sân trường để nghe anh Ân ra lệnh lần cuối cùng. Anh cám ơn, bắt tay và ôm từng người, chúc tất cả trở về an toàn và gặp lại gia đình. Anh cũng ra lệnh phá hủy tất cả các loại súng ống trước khi rời vị trí.

Anh bảo tôi tâp trung tất cả tài xế lái các xe GMC khả dụng chở anh em về cầu chữ Y. Không đủ xe, tôi chạy đi mướn thêm hai chiếc xe đò. Tôi nghiệp hai anh tài xế đến giờ này vẫn còn chí tình với lính, tình nguyện chở giúp bọn tôi về đến Sài gòn. Tôi đưa anh về nhà (chị Ân thuê để cùng các con tạm trú ở đây, sau khi theo đoàn quân di tản từ miền Trung). Anh bắt tay tôi thật chặt, nhìn tôi rồi bỗng nở một nụ cười, như chưa hề có chuyện gì xảy ra:

-Mi về xem vợ con ra sao. Cẩn thận hỉ.

Tôi nhìn anh, chưa biết nói lời gì để an ủi anh, thì lại nghe tiếng anh đùa:

-Que sera sera! Chừ tau chỉ tội nghiệp cho vợ con, còn tau thì phó thác số phận cho ông trời!

Tính anh là vậy đó, lúc nào cũng bất cần, cũng cười đùa, mặc dù trong lòng đang rối như tơ vò.

Chia tay anh, tôi bước đi mà nước mắt lưng tròng. Bước chân nhẹ tênh như không còn cảm giác, và trong lòng bây giờ dường như chỉ là một khoảng trống mênh mông!

Anh bị tù hơn 14 năm. Sang Mỹ cùng gia đình năm 1992 theo diện HO, và chỉ vài năm sau anh qua đời tại Florida, do bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Có lẽ do hậu quả từ những cơn say và nhiều đêm mất ngủ. Anh dùng rượu để có thể tâm tình với hư vô, với những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại ở đâu đó trên các chiến trường xưa, và đã ân hận vì không trả được món nợ máu xương này cho họ.

Anh ra đi, nhưng không hề chết. Tên tuổi Võ Ân vẫn còn vang vọng mãi trong tâm khảm của mọi người đã từng quen biết và sống chết cùng anh. Lịch sử dân tộc chắc chắn còn ghi đậm tên anh. Một người lính đã sống hết lòng với đồng đội anh em, và chiến đấu bằng tất cả danh dự cùng cả trái tim mình.

Phạm Tín An Ninh
14/2/2015

Edited by user Thursday, February 26, 2015 1:41:03 PM(UTC)  | Reason: Not specified

thanks 1 user thanked Mén for this useful post.
Ngọc Anh on 2/26/2015(UTC)
NNT  
#1049 Posted : Thursday, March 5, 2015 5:46:19 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)
Hồi Ký
CUỘC ÐỔ BỘ TRONG LÒNG ÐỊCH
Tác Giả : Trung Tá Nguyễn Ðăng Hòa

Kể từ sau cuộc đổ bộ bằng trực thăng của Tiểu đoàn 1 Quái Điểu vào ngày 11/7/72, tại quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, chưa một ai viết lại cuộc đổ bộ ấy, và tôi nghĩ nếu tôi không viết để nói lên cuộc chiến đấu ác liệt, oai hùng này thì ai có thể viết thay tôi ? Vì như tôi đã trình bày trong tập Hồi ký CƠN LỐC DÀI, hơn 1OO ông phóng viên thế giới, không một ông nhà báo nào dám "thi thố tài năng" đi theo chúng tôi cả.

Như có một thôi thúc, ray rứt nào đó buộc tôi phải viết để nói lên sự thật oai hùng của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đã tạo được trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cho phép tôi được làm một nhân chứng lịch sử để tô đậm thêm Quân sử hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


* * * * *

... Phá Tam Giang vào một sáng mù sương 11/7/72

Dù đang là mùa hè nhưng trời Huế vẫn còn sương mù, một làn khói mỏng giăng đầy, bao phủ cả một vùng Vân Trình rộng lớn. Trên cánh đồng vừa mới gặt, mùi rạ thơm thoang thoảng, nếu có thêm vài cô thôn nữ xinh xắn của mẹ Việt Nam nữa là ta đã có một hình ảnh đồng quê thanh bình của bao năm cũ. .. Gia đình Quái Điểu hơn 700 tay súng đã sẵn sàng tại bãi bốc chờ lên trực thăng đi vào đất đi.ch. Những chàng Kinh Kha thời đại đang ưu tư về cuộc đời và đang chờ đón một tương lai không mấy rạng rỡ.

Đúng 7 giờ sáng, chiếc trực thăng UH-1B của chỉ huy đáp xuống cạnh nhà thờ 2 chuông Điền Môn, bốc tôi và cố vấn Mỹ bay thẳng ra biển Đông. Để tránh phòng không địch, trực thăng đã phải bay trên biển và ở cao độ vừa tầm cho chúng tôi quan sát thành phố Quảng Trị và quận lỳ Triệu Phong, nơi Tiểu đoàn 1 Quái Điểu sẽ phải đổ bộ để tái chiếm.

Quận Triệu Phong nằm về phía Đông Bắc cổ thành Quảng Trị khoảng 2 cây số, là quê hương của tên đồ tể Lê Duẩn, môn đệ kế vị già Hồ đã về chầu Diêm Vương. Vì vậy không dễ gì địch để chúng tôi tái chiếm lại Triệu Phong.

Những túi lửa B.52 chiều ngang 1 cây số và chiều dài 3 cây số được lóe lên từng chập, và khi các chùm bom chạm đất thì lửa bốc cháy cùng những tiếng nổ phụ rền vang một góc trời ... Tại đây địch cũng sẵn sàng nghêng đón chúng tôi. Đơn vị bạn gần nhất vẫn còn ở tuyến sau Mỹ Chánh mịt mù. Chúng tôi sẽ phải nhảy trên đầu địch, đánh thọc sâu vào lòng địch, bóp ngay yết hầu chúng, buộc chúng phải nhả Cổ thành Quảng Trị mà chúng đã chiếm giữ hơn 3 tháng qua. Sư đoàn Dù đã gặp phải muôn vàn khó khăn và thiệt hại nặng nề khi tái chiếm Quảng Tri.

Có lẽ thượng cấp quên đi cửa ngõ Triệu Phong, nơi mà Việt cộng phải giữ với bất cứ giá nào, để bảo vệ huyết lộ dẫn ra Cửa Việt bằng đường bộ và đường thủy dọc theo sông Thạch Hãn. Nhờ huyết lộ này mà chúng có thể tiếp tế cũng như tải thương và thay quân rất dễ dàng.

Đúng 12 giờ 5 phút ngày 11/7/72, ngày mà suốt đời tôi không bao giờ quên được. Trước khi lên máy bay, Tướng Trưởng và Tướng Lân đến bắt tay và chúc chúng tôi thành công. Lời nói của Tướng Lân, Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến như một luồng điện chạy dài theo xương sống tôi:

- Danh dự này, tôi giao cho anh và Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến.

Riêng Đại tá Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 nhìn chúng tôi như một người cha nhìn những đứa con thân yêu đang đứng bên bờ vực thẳm. Ông rơi nước mắt nói với tôi lời giã biệt:

- Mày cố gắng giữ gìn anh em, khuyên họ nên đọc kinh cầu nguyện theo đạo giáo của họ !

Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến với biệt danh Quái Điểu được trực thăng bốc từ nhà thờ 2 chuông Điền Môn bay ra Triệu Phong, bất thần đổ trên đầu địch, giữa những đám ruộng trước quận lỵ. Tuy bãi đáp đã được B.52 "dọn cỏ" suốt 2 tiếng đồng hồ, với 33 phi vụ đã cày nát từ Đông Hà đến Quảng Trị, mà gia đình Quái Điểu vẫn được con cháu Bác và Đảng dàn chào long trọng. Súng phòng không 23 và 37 của địch bắn lên như pháo bông.

Đại đội 4 Tiểu đoàn 1 do Đại úy Trịnh Văn Thềm chỉ huy, lãnh nhiệm vụ đổ bộ trước. Hai chiếc trực thăng khổng lồ CH.54 chạm đất một cách bất ngờ nên thoát được phòng không địch. Có 32 chiếc trực thăng đổ quân, gồm 17 chiếc CH-53 (loại Chinook Mỹ dùng để cứu con tin tại Iran) chở được 60 người và CH-46 loại Chinook chở được 20 người. Chiếc tôi đi bị lãnh 4 viên phòng không, tưởng chừng như rớt. Vừa rời khỏi trực thăng, tôi đã được chào mừng bằng một trái 57 ly không giật, vì chung quanh tôi là một rừng antenne truyền tin. Tôi bị thương ở đùi phải, máu ướt đẫm. Viên Trung úy Hải quân Mỹ bị lòi ruột ra ngoài trông thật khiếp, nhưng vẫn còn sống. Đau đớn cho Tiểu đoàn chúng tôi là 1 chiếc trực thăng bị rớt và nổ tung sau đó 2 phút lại chở nguyên Trung đội Quân y, 60 người chỉ sống sót 12 trong đó có Bác sĩ Hoàn. Ông đã lao được ra ngoài cửa cấp cứu, nhưng phải 2 ngày sau mới bò về được Bộ chỉ huy Tiểu đoàn với thân hình cháy phỏng nặng. Chúng tôi không lấy được xác những người bị chết vì chiếc máy bay này thuộc Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và đã mang theo 47 trái mìn chống chiến xa và tất cả đã tan tành theo chiếc máy baỵ. Đáng lẽ tôi đã gởi xác theo chuyến đó rồi, nhưng tới phút chót cố vấn Mỹ lại rủ tôi đi trên chiếc CH-46 để khi xuống bãi thoát ra thật nhanh, tránh được phòng không địch.

Ngay phút đầu, sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, chúng tôi đã bị thiệt hại hơn 200 người vừa chết vừa bị thương. Người cố vấn Mỹ còn cho tôi biết trong số 32 máy bay trực thăng, có 29 chiếc trúng đạn và 2 chiếc rớt, một nổ tại chỗ và một rớt ngoài biển. Cuộc đổ bộ này đã được báo chí xem như cuộc đổ bộ Inchon tại Đại Hàn năm xưa. Tướng Lân được triệu về dinh Độc Lập để thuyết trình về cuộc đổ quân cho Hội đồng An ninh Quốc Gia. Mọi người hồi hộp theo dõi bước chân của bầy Quái Điểu gan lì.

Cánh đồng Triệu Phong đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Xe tăng Việt cộng phối hợp với bộ binh của chúng bắt đầu rời vị trí phòng thủ để rượt đánh chúng tôi, và những chiếc trực thăng vũ trang "Cobra" của phe ta đã táo bạo săn đuổi chúng như những con diều hâu hung dữ. Riêng Tiểu đoàn 1 Quái Điểu lúc bấy giờ tan tác như bầy gà lạc mẹ, mạnh ai nấy đánh, dùng chiến thuật cá nhân phối hợp từng tổ nhỏ cố bám lấy bờ sông Vĩnh Định là chi nhánh của sông Thạch Hãn để làm điểm tựa, giữ lấy mạng sống mong manh. Hai con sông này đã nuôi dưỡng quận lỵ Triệu Phong, làm cho nó trở nên trù phú và sầm uất nhất tỉnh Quảng Trị, giờ đây đang ôm ấp che chở cho những toán Quái Điểu lạc bầỵ

Nhờ vào súng M.72 chống chiến xa ta đã bắn hạ được một số tăng địch, có những chiếc bốc cháy cách xa ta chỉ 50 thước, làm cho anh em an tâm hơn và tin tưởng vào loại vũ khí cá nhân hiện đại và tối tân này, mỗi Đại đội chỉ được trang bị 12 trái thôi. Những hố bom trở thành vị trí chiến đấu lý tưởng cho binh sĩ mình. Họ đứng thẳng, tỳ súng vào miệng hố nhắm vào từng đợt sóng biển người của bọn Việt cộng khát máu mà bắn.

Đại đội 1 của Đại úy Bùi Bồn đã dùng con sông Vĩnh Định như một chỗ tựa tốt để chống trả từng đợt xung phong của địch cũng như yểm trợ cho các Đại đội 2, 3 và chỉ huy còn đang phơi mình trên bãi đáp. Kết quả sơ khởi Đại đội 1 đã tịch thu 10 cây súng 37 ly phòng không của địch đã đặt hàng ngang tại bìa làng.

Trời đã vào đêm, bóng tối đồng lõa với tội ác của địch qua những đợt "cắn lén" nhưng cũng là người bạn chân tình che chở cho chúng tôi, hạn chế tầm quan sát của địch nên chúng chỉ dùng pháo đe dọa vu vơ. Đến 10 giờ Tiểu đoàn mới nắm được tay nhau, lập thành một phòng tuyến tạm thời. Chỉ còn Đại đội 4 của Đại úy Thềm bị cô lập phải tự phòng thủ bảo vệ riêng, nhưng xét về mặt chiến thuật thì rất có lợi cho Tiểu đoàn. Một cái chốt khổng lồ làm tiền đồn cho đơn vị tại Chợ Sãi, dùng Pháo binh và Hải pháo ngăn chận sự di chuyển của địch từ Cổ thành Quảng Trị qua quận Triệu Phong, cũng như quan sát được thủy lộ dẫn ra Cửa Việt. Chiếm và giữ được Triệu Phong thì sớm muộn gì tỉnh Quảng Trị cũng sẽ trở về vùng đất Tự do.

Thường thường đánh nhau với những đơn vị chính quy tuy chém giết thả giàn "mạnh được yếu thua" nhưng thích hợp với người quân tử. Một cuộc chiến tranh quy ước, có lúc đánh lúc nghỉ, ăn uống, tiếp tế, tải thương, thay đổi lối đánh cho phù hợp trận liệt, rồi trở lại đánh tiếp. Nhưng với bọn Việt cộng, các cấp chỉ huy của chúng có được đào tạo ở một quân trường nào đâu! Đã vậy đầu óc lại bị Bác Đảng nhồi nhét hận thù đầy ắp nên chúng hăng say chém giết ... từ chú du kích nhỏ bé không biết gì gặp lúc đàn anh chết nhiều quá, cũng nhảy ra thay thế chỉ huỵ Vì vậy Việt cộng chỉ biết dùng một chiến thuật rừng với lối đánh lén, cắn lén!

Triệu Phong lúc bấy giờ là vùng địch kiểm soát nên họ có nhiều lợi thế hơn ta. Chúng rình rập, tấn công không ngơi nghỉ cốt làm cho quân ta mệt, tinh thần căng thẳng, quân số tiêu hao dần mòn. Nếu không có tinh thần cao và khả năng điêu luyện sẽ bị chúng đốn ngã dễ dàng. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đang đi trên đoạn đường chông gai ấy. Đến 11 giờ đêm quân ta tạm ngưng chém giết, mọi người lục ba-lô lấy cơm sấy ra nhơi. Ngồi trong hố cá nhân, chẳng cần cấp chỉ huy ra lệnh hay kiểm soát đôn đốc, ai nấy cũng đề cao cảnh giác và sẵn sàng lâm chiến vì đã quá quen thuộc với những đòn đen tối hạ cấp của lũ chuột Việt cộng.

Đêm khuya yên tĩnh, bỗng có tiếng la hét vang dội từ phía Chợ Sãi, nơi Đại đội 4 của Đại úy Thềm phòng thủ riêng. Một đoàn xe tăng địch với đèn pha sáng trưng, dàn hàng ngang cùng bộ binh chạy theo bên hông xe vừa bắn vừa hô xung phong. Tôi đã chuẩn bị trước các yếu tố tác xạ tiên liệu Pháo binh và Hải pháo, 42 khẩu pháo 105 ly nhả đạn cùng lúc và liên tục cộng với hàng ngàn trái hải pháo loại 500 cân Anh khổng lồ, khi nổ chụp lúc chạm nổ, trút lên đầu địch.

Vặn tần số truyền tin nội bộ của Đại đội 4 tôi theo dõi trận đánh, nghe các Trung đội trưởng liên lạc với Đại đội trưởng lòng tôi yên tâm được phần nào và cảm phục sự gan lì của họ. Trên máy PCR. 25 vang lên giọng nói bình tĩnh của Thiếu uý Tánh khi anh liên lạc với Đại úy Thềm:

- Thần Phong hãy yên tâm, chiếc tăng đầu còn cách chúng tôi 100 thước, tôi đã ra lệnh từng tổ 3 người sẵn sàng M.72 nghênh chiến ... Hiện giờ chiếc gần nhất chỉ còn khoảng 50 thước, chờ kết quả, sẽ có một số "cua rang muối" (chiến xa địch) để tặng Thần Phong và Hương Giang (danh hiệu của tôi).

Thiếu úy Tánh nói tiếp trong sự hồi hộp của tôi:

- Tôi bắn thử một viên M.72 chống chiến xa, kết quả tuyệt vời, chính tôi cũng không ngờ đạn vừa ra khỏi nòng là một tiếng nổ long trời, con cua trước mặt tôi đã nổ tung và bùng cháy.

Tất cả các Trung đội đều an tâm và phấn khởi, từng tổ tam tam chế đã dùng M.72 cải tiến để đưa đoàn cua của Bác vào chảo rang. Đại đội trưởng đã gọi máy về Tiểu đoàn tặng tôi có đến hàng chục con cua. Riêng Hạ sĩ Ích, Tiểu đội phó dùng M.79 phóng lựu, một mình anh đã rang 3 con cua ngon lành.

Song song với Đại đội 1 và 4, sự chiến đấu gan dạ của Đại đội 2 của Đại úy Duật và Đại đội 3 do Trung úy Vàng Huy Liễu chỉ huy đã tạo sức mạnh vô song cho gia đình Quái Điểu. Sư đoàn 312 của Việt cộng với quân số gấp 10 lần hơn đã không nuốt được Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến kiên cường.

Qua hai ngày song đấu, địch đã được tăng viện nhưng không vì thế mà áp đảo được quân ta. Cấp chỉ huy Việt cộng đã đánh giá sai lầm về Tiểu đoàn 1 Quái Điểu, và cho đấy là một miếng mồi ngon chúng chỉ cần nhe nanh là đã nuốt chửng được ngay. Việt cộng đâu ngờ gặp phải một miếng mồi lửa, tạo nên bởi sự đoàn kết sắt đá, gắn bó keo sơn cùng sự chiến đấu bền bỉ gan dạ của anh em binh sĩ ta. Và chúng cũng không lường được lòng yêu nước tràn đầy của những người lính Việt Nam Cộng Hòa trước sự tồn vong của đất nước. Tiểu đoàn 1 Quái Điểu đã tổ chức được vị trí phòng thủ kiên cố bằng máu xương và sức mạnh tinh thần của mình cộng với sự yểm trợ hùng hậu mà chưa bao giờ Quân lực Hoa Kỳ xử dụng trên chiến trường Việt Nam.

Tôi đang liên lạc trên hệ thống Không lực để nhờ họ đánh phá căn cứ Ái Tử, (nơi mà địch đang đặt Bộ chỉ huy và căn cứ hỏa lực để yểm trợ cho chiến trường Quảng Trị) bằng những trận rải thảm B.52 tạo nên những biển lửa khổng lồ đốt cháy tham vọng điên cuồng của bọn Cộng sản cướp nước bạo tàn, thì Trung sĩ Ngữ cận vệ trung tín nhất của tôi chạy vào báo:

- Trình Thiếu tá, Trung úy Kỳ thuộc Đại đội Viễn thám vừa bắt được 2 nữ du kích Việt cộng, tịch thu 2 khẩu súng "các-bin" tại nhà mình đang đóng quân!

Thì ra căn hầm cư trú của 2 "cô bé" du kích chỉ cách hầm đóng quân của tôi và cố vấn Mỹ độ 10 thước, trong vòng 24 giờ qua các cô muốn giết chúng tôi lúc nào chẳng được. Vì thế tôi đến gặp 2 cô và được biết họ cũng như hầu hết thanh thiếu niên Quảng Trị bị kẹt lại sau khi quân ta rút về tuyến Mỹ Chánh đã bị Việt cộng đoàn ngũ hóa và trang bị thành tổ "dân quân chiến đấu". Hai cô còn cho biết họ là nữ sinh trường trung học Nguyễn Hoàng và có người anh cả là Đại tá làm việc tại Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòạ Tôi liền cởi trói, bảo lãnh 2 cô và gia đình họ rồi hứa sẽ đưa ra vùng tự do sau cuộc đổ bộ này. Từ đó 2 cô là những người phục vụ đắc lực cho đơn vị tôi về tình hình du kích tại địa phương. Nhờ vậy mà chúng tôi đã thanh lọc và bắt giữ cũng như tịch thu rất nhiều tài liệu và vũ khí. Thế mới hay, trong cuộc chiến, yếu tố "tranh thủ nhân tâm" cũng quan trọng không kém, và còn tiết kiệm được xương máu anh em.

Sau 15 ngày chiến đấu quên ăn quên ngủ, Tiểu đoàn 2 Trâu Điên đã giao tiếp được với Tiểu đoàn chúng tôi nhưng cách nhau bằng con sông Vĩnh Đi.nh. Vì không dùng được trực thăng nên tôi phải nhờ đơn vị bạn này tải thương bằng những bè chuối buộc dây kéo qua sông !

Sau đó Tiểu đoàn 1 Quái Điểu được đưa về Huế, chúng tôi như những người về từ cõi chết, râu tóc rậm rạp như người rừng, mắt sâu như vực thẳm, tiều tụy như những bệnh nhân lâu ngày. Chúng tôi những người lính Thủy Quân Lục Chiến đã dành phần đời trai trẻ của mình cho những chuyến đi dài không mệt mỏi: từ tuyến đầu của con sông Thạch Hãn, được chọn làm giới tuyến ngăn địch cho đến vùng đầm lầy sông Ông Đốc, chặng đường cuối của quê hương hoặc lặn lội vùng biên giới Miên Lào với núi rừng trùng điệp... với một mục đích duy nhất là bảo vệ quê hương thân yêu khỏi lọt vào tay quân Cộng sản khát máu, bạo tàn.

Nguyễn Ðăng Hòa
thanks 1 user thanked NNT for this useful post.
Ngọc Anh on 7/21/2017(UTC)
Lữ Khách  
#1050 Posted : Saturday, April 18, 2015 5:56:07 PM(UTC)
Lữ Khách

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 4/25/2011(UTC)
Posts: 2,175
Location: Canada

Thanks: 37 times
Was thanked: 121 time(s) in 56 post(s)
Khu Trục Bọc Thây

Tác giả: Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Diễn đọc: TV5050



Phần 1




Phần 2


Edited by user Saturday, April 18, 2015 6:00:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Ngọc Anh  
#1051 Posted : Thursday, May 7, 2015 6:51:15 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)

Chuyện 2 người lính


UserPostedImage

Khoảnh khắc được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào tháng 4-1973

Khi tấm ảnh này được đăng lên ở đây, nếu người lính (thủy quân lục chiến của miền Nam) này vẫn còn thì hãy cho ông nhà báo chiến trường này được gặp. Hoặc ai biết anh ấy thì xin mách mối giúp.

Hình ảnh hai người lính của hai chiến tuyến

Nếu những kẻ lảnh đạo CS Bắc Việt chỉ cần có tâm hồn và niềm suy tư rất chân tình như hai người lính này . Có lẽ nước Việt Nam chúng ta bây giờ không sa sút thua xa Hàn Quốc- Nhật Bản một cách thê thê thảm như bây giờ !
Họ là hai người lính ở hai bên chiến tuyến. Một người là bộ đội miền Bắc, người kia là lính thủy quân lục chiến của miền Nam.


Cả hai cùng đóng quân tại vùng ranh giới Long Quang, xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.
Trong một buổi chiều tạm yên tiếng súng, họ cùng choàng vai nhau chụp chung một bức hình kỷ niệm.
Khoảnh khắc này được ông Chu Chí Thành, phóng viên ảnh của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), ghi lại vào thời điểm tháng 4-1973. Hơn 40 năm sau, tác giả bức ảnh đã cất công đi tìm lại nhân vật của mình...
Tấm ảnh lịch sử

Ông Chu Chí Thành nay đã ngoài tuổi thất tuần, vẫn còn rất minh mẫn. Trong ngôi nhà có phần cũ kỹ của ông ở một con hẻm trên đường Minh Khai (Hà Nội), rất nhiều bức ảnh về cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam - Bắc được ông trưng bày.
Nằm ngay ở vị trí trang trọng nhất trong phòng riêng của ông là bức ảnh được phóng khá to về hai người lính khoác vai nhau - một người mặc quân phục bộ đội giải phóng, người còn lại mặc quân phục thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Sau lưng hai người là trảng cát rộng của vùng giới tuyến trải dài hơn 2km.
Ông Chu Chí Thành trầm ngâm một lúc lâu như để lục lại ký ức về khoảnh khắc này hơn 40 năm về trước. “Lúc đó, tôi cùng anh Trần Mai Hưởng, cũng là phóng viên của TTXVN, đến chốt Long Quang. Thật bất ngờ về tất cả những gì đang diễn ra ở đây” - ông Thành nói.
Đó là thời điểm tháng 4-1973, tức chỉ khoảng hơn một tháng sau ngày hiệp định Paris được ký kết. Chiến sự được tạm dừng ở vùng ranh giới hai miền. Ông Thành vẫn nhớ rất rõ thời điểm ông đến chốt Long Quang, ở hai bên ranh giới vẫn chĩa súng về phía nhau.
Tuy nhiên, đến buổi chiều thì mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Một nhóm bộ đội miền Bắc ra vẫy tay gọi í ới vào chốt của quân đội miền Nam ở bên kia ranh giới, mời mấy anh em qua bên này uống nước chè xanh.
“Tôi cứ ngỡ là chuyện đùa. Nhưng mấy phút sau một nhóm bốn năm người lính cộng hòa kéo dây ranh giới để qua chốt của quân giải phóng” - ông Thành kể chậm rãi.
Hai bên bắt tay, chia nhau chén nước chè xanh, hút chung điếu thuốc lá Điện Biên và cùng trò chuyện cười đùa. Những người lính phía miền Nam nói giọng miền Nam cũng mang sang một chai rượu nếp đen làm quà cho bộ đội miền Bắc.
Một anh lính thủy quân lục chiến thấy ông Chu Chí Thành cầm máy ảnh nên gọi: “Nhà báo ơi, chụp cho tôi với anh bộ đội giải phóng tấm hình kỷ niệm”.
Nói rồi, hai người lính đến khoác vai nhau tươi cười hồn nhiên. Bấm xong mấy bức hình, ông Thành đứng trân người đến mức quên mất chuyện hỏi tên tuổi của hai người lính.
“Cách đó mấy cây số về phía nam súng vẫn đang nổ, nhưng tại điểm ranh giới này họ nói chuyện với nhau rôm rả, không giống những người lính ở hai bên chiến tuyến. Nhìn cái cách mà hai người lính ấy choàng tay nhau, tôi biết rằng ngày đất nước thống nhất đã sắp đến” - ông Thành xúc động.
Tìm người trong ảnh

Ông Thành ở vùng giới tuyến giai đoạn này hơn ba tháng mới về Hà Nội. Từ lúc chụp bức ảnh tại chốt Long Quang cho đến khi về rửa phim, tráng ảnh xong, ông mới sững người vì đã quên hỏi tên của hai người lính đó.
Tấm ảnh được ông giấu kỹ cho đến năm 2007 mới công bố. Ông đặt tên cho tấm ảnh là Hai người lính. Dù ảnh đã có tên, nhưng ông Thành nói vẫn cứ luôn canh cánh trong lòng một nỗi niềm. Ông thấy mình như còn mắc nợ vì cái sự “quên” đáng trách đó nên quyết đi tìm thông tin về hai người lính.
Ông mang tấm ảnh tìm đến những người bạn từng chiến đấu tại chiến trường thành cổ Quảng Trị giai đoạn từ 1972-1973 để hỏi. Hết người này đến người khác đều lắc đầu. “Ai cũng nói chiến tranh bom đạn ác liệt, chỉ những người cùng tiểu đội mới biết nhau. Có người cùng đơn vị chưa kịp hỏi tên nhau đã hi sinh”.
Cách đây mấy năm, ông có quen một nữ phóng viên, ông cũng đưa tấm ảnh cho cô này nhờ đưa lên mạng Internet để “may có người biết”.
Tính đến khi chúng tôi tìm gặp ông, đã hơn 40 năm sau khoảnh khắc ấy và cũng đã hơn chục năm ông tìm kiếm, nhưng vẫn vô vọng.
Gặp chúng tôi, ông cũng không quên gửi gắm nỗi lòng của mình, có cách gì tìm giúp ông. Và chúng tôi đã cất công đi tìm. Thật may mắn, trong khi tìm về điểm chốt Long Quang (Quảng Trị) ngày ấy, chúng tôi đã gặp được một manh mối.
Ông Phan Tư Kỳ, nguyên là xã đội trưởng xã Triệu Trạch thời điểm năm 1972-1973, xem kỹ bối cảnh tấm ảnh rồi dẫn chúng tôi ra lại đường ranh giới hai miền giữa trảng cát năm nào để xác định vị trí nơi ra đời tấm ảnh.
Đây là vị trí mà vào thời điểm sau hiệp định Paris, trung đoàn 48 thuộc sư đoàn 320 đóng quân. Nhưng có đến năm đại đội thuộc hai tiểu đoàn được rải quân theo từng nhóm đóng chốt dọc theo đường ranh giới dài hơn 2km.
“Tôi chỉ biết chừng đó. Không thể nhớ được là người trong ảnh thuộc đại đội nào” - ông Kỳ lắc đầu.
Ông Lê Vũ Bằng, nguyên ủy viên Ủy ban xã Triệu Trạch, phụ trách binh vận tại chốt Long Quang thời điểm đó, dù “thấy quen quen” nhưng cũng không nhớ là ai. Liên lạc với một số cựu binh thuộc trung đoàn 48 thời điểm ấy tại Quảng Trị nay ở Hải Phòng, Thanh Hóa, Thái Bình, chúng tôi cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu.
Đã tìm được người bộ đội

Trời Quảng Trị trở gió bấc khi dịp kỷ niệm 40 năm ngày đất nước thống nhất đến gần. Cuộc điện thoại ngắn ngủi thông báo cho ông Chu Chí Thành về kết quả tìm kiếm không được như ý vừa dứt trong tiếng thở dài tiếc nuối, thì một cuộc điện thoại khác bất ngờ đến.
Điện thoại từ ông Phan Tư Kỳ. “Có manh mối rồi. Ngày mai có một đoàn cựu binh C5 (đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48) ở Thạch Thất (Hà Nội) sẽ ghé về Long Quang thăm chiến trường xưa” - ông Kỳ reo lên.
alt

Ông Chu Chí Thành - nguyên chủ tịch Hội Nhiếp ảnh Việt Nam, nguyên phóng viên ảnh TTXVN, tác giả của bức ảnh Hai người lính - trước hội trường Thống Nhất, TP.HCM chiều 26-4 - Ảnh: Thuận Thắng

Đúng 9g sáng 21-4, chiếc ôtô chở đoàn cựu binh vừa đến Long Quang, ông Phan Tư Kỳ mang theo bức hình của chúng tôi chạy ra đưa cho đoàn. Hơn 20 người lính C5 chuyền tay nhau bức ảnh và lục lại ký ức hơn 40 năm trước. Ai cũng nói thấy người bộ đội trong bức ảnh quen mặt nhưng không nhớ là người nào.
Trong buổi trưa cùng ngày, bức ảnh được những cựu binh này chuyển đi khắp tất cả các ban liên lạc của trung đoàn 48 tại các tỉnh thành trong cả nước qua đường Internet. Đúng 16g40 cùng ngày, một cuộc điện thoại lạ bất ngờ đến. Đó là ông Đỗ Bê, nguyên là đại đội trưởng đại đội 5, tiểu đoàn 2, trung đoàn 48.
Ông Bê khẳng định người trong bức hình chính là lính của đại đội mình năm ấy. Để chúng tôi chắc chắn, ông Bê nối điện thoại cho chúng tôi gặp ông Đỗ Thành Chấm, là một người lính của đại đội 5.
Ông Chấm khẳng định người bộ đội trong bức hình này là bạn thân của ông từ thời niên thiếu ở thôn 2, Kim Quan, Thạch Thất, Hà Nội, tên là Dương Minh Sắc, sinh năm 1954. Hai người nhập ngũ cùng ngày và ở cùng đơn vị nhiều năm.
Tuy nhiên, ông Chấm thở dài: “Tiếc là Sắc đã mất vì bệnh nặng cách đây mấy năm”. Lần theo địa chỉ của ông Chấm đưa, chúng tôi vào Huế tìm vợ của ông Sắc. Bà Đỗ Thị Thim, vợ ông Sắc, vào Huế sống với anh trai là một cựu chiến binh người Thái Bình hiện kinh doanh khách sạn ở đây.
Tay run run cầm bức ảnh chúng tôi đưa, bà Thim chạy vào tủ lấy ra một tập hình kỷ niệm của vợ chồng đem ra so sánh. “Đây, cái mũi và cặp mắt này thì không lẫn đâu được. Đúng là ông Sắc nhà tôi thời trẻ” - bà Thim nói.
Theo bà Thim, hai ông bà gặp nhau tại Nga khi cả hai cùng đi xuất khẩu lao động năm 1990, một năm sau thì cưới nhau và sinh con. Thời điểm bà gặp ông Sắc cách thời điểm chụp bức ảnh này đến 17 năm sau nên ngoại hình ông có nhiều thay đổi.

Nhưng những nét trên khuôn mặt này rất khó nhầm lẫn. Khi lấy nhau, ông Sắc cũng kể cho bà nghe rất nhiều về cuộc chiến ác liệt ở Quảng Trị, nhưng ông chưa một lần kể về việc chụp bức ảnh này.
“Những ngày ở Nga ông ấy cũng hay kể chuyện chiến trường. Có lúc kể về giai đoạn sau hiệp định Paris mới thấy ông vui hơn một chút. Bởi khi đó, lính hai bên tại vùng giáp ranh qua lại với nhau rất bình thường. Văn công về biểu diễn bên này thì cũng gọi lính bên kia qua xem chung” - bà Thim nói.
Năm 2008, tức gần một năm trước khi mất, ông Sắc cứ nằng nặc đòi về thăm lại chiến trường xưa Quảng Trị.
Và sau khi thỏa nguyện ước mong này, ông qua đời. “Chồng tôi chỉ có hình ảnh từ thời điểm năm 1990 trở về sau. Khi đó anh Sắc đã 37 tuổi. Không ngờ anh lại còn một hình ảnh ở tuổi 20 như thế này” - bà Thim nói.
Mong tìm được người còn lại trong bức ảnh

Vậy còn người lính Việt Nam cộng hòa trong bức ảnh là ai? Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Lai, từng là lính địa phương của quân đội Việt Nam cộng hòa đóng tại vùng ven thị xã Quảng Trị thời điểm năm 1972-1973, cũng đóng quân ở xã Triệu Trạch, hiện sống tại Vũng Tàu.
Ông Lai nhớ đóng ở chốt Long Quang thời điểm đó là một đơn vị quân chủ lực thuộc lực lượng thủy quân lục chiến của quân đội Việt Nam cộng hòa. Ông Phan Tư Kỳ, nguyên xã đội trưởng xã Triệu Trạch thời điểm đó, xác nhận người lính cộng hòa trong bức ảnh thuộc tiểu đoàn 5, lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến Việt Nam cộng hòa.
“Thời điểm đó tôi cũng hay nói chuyện với lính bên đơn vị này. Họ toàn nói giọng miền Nam và nhiều người cho biết họ lớn lên từ cô nhi viện” - ông Kỳ nói.
Ông Chu Chí Thành là người vui nhất khi tìm được một người trong bức ảnh này. Ông cũng giải tỏa được nỗi niềm trong lòng mình mấy mươi năm qua. Tuy nhiên, ông vẫn rất muốn tìm lại người lính Việt Nam cộng hòa chụp chung trong bức hình đó.
“Tôi luôn xem tấm ảnh này như là biểu tượng hòa hợp của hai miền” - ông Thành nói. Khi tấm ảnh này được đăng lên ở đây, nếu người lính này vẫn còn thì hãy cho ông nhà báo chiến trường này được gặp. Hoặc ai biết anh ấy thì xin mách mối giúp.
Quốc Nam


From: TH

Tản mạn từ một bài thơ trong ngày chiến thắng

Tôi với anh
Hai mái đầu xanh
Xanh như màu quân phục...
Làng tôi sông Hồng nước đục
Quê anh Vàm Cỏ lở bồi
Mẹ nhớ tôi, hết đứng, lại ngồi
Má mong anh, vào nhà, ra ngõ
Tôi đã ngỏ lời vào một đêm trăng tỏ-Trước lúc lên đường
Ba lô anh có kỷ vật người thương-Đêm giở ngắm trên đường hành tiến
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước
Tôi và anh
Có bao giờ tính suy mất được
Cho bản thân mình, cho mẹ, cho em
Chỉ nghe kèn trống nổi lên
Người hối thúc đưa ta vào chiến trận
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
Nước quê anh cá chết dạt bờ
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ
Mình mê mải với giấc mơ bạo chúa
Tôi và anh
Hai mái đầu còn xanh
Xanh như màu quân phục
Nào...!
Hãy khoác vai nhau ta cùng chúc phúc
Để tôi về ngoài ấy đắp đê
Nước Vàm Cỏ cũng đang gọi anh về
Cùng cày cấy nuôi mẹ già anh nhé
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng
Một cánh mai tươi, một nén hương vàng
Ta về tặng cho những người đồng đội
Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội
Dưới suối vàng
Họ...!
Chắc cũng đã ôm nhau...!

Sắp đến ngày 30/4 trên các phương tiện truyền thông người ta bắt đầu tuyền truyền cho ngày chiến thắng. Chính trong những ngày này, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một người lính đã từng cầm súng đổ máu trong cuộc chiến tranh này đi kèm một tấm hình hai người lính trẻ của hai phía đứng bên nhau. Tôi đọc bài thơ và rưng rưng xúc động. Bài thơ trĩu nặng suy tư về một thời đã qua. Cái thời mà lẽ ra người ta phải đóng băng nó lại, Cất nó vào những trang sách sử để cho các đời sau của dân tộc Việt đọc lại, suy ngẫm rút ra những kinh nghiệm quý báu từ những sai lầm của cha ông thì người ta lại trương nó ra, dùng tay vạch lại những vết thương chưa kín miệng trong tâm hồn dân tộc và làm cho vết thương lại rỉ máu. Bốn mươi năm rồi vết thương ấy chưa bao giờ kín miệng.
Không hiểu sao đọc xong bài thơ, trong đầu tôi lại hiện lên cái lễ tiếp nhận đầu hàng của quân đội miền bắc và miền nam trong cuộc chiến tranh nam bắc Mỹ cách đây hơn hai trăm năm. Không một tiếng hò reo vui mừng của người chiến thắng. Không một tiến trống thúc. Khi những người lính miền bắc, kẻ chiến thắng định bắn các loạt đại bác chào mừng thì tướng Grant đã ra lệnh ngừng ngay những hoạt đọng chào mừng lại . Ông bảo với họ “ Chiến tranh đã kết thúc bây giờ họ là đồng bào của chúng ta” . Hai đội quân hiên ngang đứng đối mặt nhau trong con mắt họ ánh lên một sự kính trọng đối thủ. Im lặng! Một sự im lặng thiêng liêng trùm lên hai đạo quân. Đây không phải là một lễ đầu hàng . Họ! Hai đứa con Mĩ hư hỏng đánh lộn nhau và giờ đây Mẹ Mỹ choàng ôm lấy hai đứa con hư, kéo chúng vào bầu vú căng sữa của mình để mặt chúng giáp lại bên nhau, cùng hít thở mùi sữa mẹ để chúng nhận ra “ Chúng là hai anh em”. Tôi bỗng hiểu vì sao nước mĩ lại hùng mạnh đến thế và bỗng hiểu vì sao chúng ta cứ mãi mãi là một nước nhược tiểu. Nước Mĩ hùng mạnh bởi những nhà lãnh đạo Mĩ là những người có tầm cao văn hóa. Ngay sau chiến tranh, người Mĩ đã đánh tan mối thù hận giữa hai miền nam bắc. Cả nước trở thành một khối không còn cái mặc cảm của kẻ chiến bại và cũng không còn cái vui mừng của người chiến thắng. Nước Mỹ có 11 lễ hội kỷ niệm cấp quốc gia nhưng trong đó không có ngày kỉ niệm chiến thắng nam bắc Mỹ. Còn chúng ta? Những ngày tháng tư này tôi cứ nghe ra rả những lời ngợi ca chiến thắng. Chúng ta chiến thắng ư? Chiến thắng ai? Khi phảỉ nghe những lời ca ngợi ấy, trong tôi lại vang lên câu thơ của Tào Thực cách đây đã hơn một nghìn năm
Cành đậu đun hạt đậu
Hạt đậu khóc hu hu
Cùng sinh ra một gốc
Thiêu nhau nỡ thế ru
Không! Chúng ta! Hai miền Nam Bắc đều là kẻ chiến bại. Có kẻ chiến thắng nhưng kẻ đó không phải là chúng tôi. Đó là kẻ mà ông Lê Duẩn đã nói “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung quốc” Họ đã thắng mà không phải đổ chút xương máu nào. Họ quyết tâm chống Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Chao ơi! Có gì để hãnh diện! Có gì để tự hào khi mà ta, cả miền nam, miền bắc chỉ là những tên lính đánh thuê. Ta cầm súng lao vào bắn giết lẫn nhau mà chẳng biết vì cái gì
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước
. “Người ta”! Người ấy xa lạ lắm chẳng liên quan gì đến anh và tôi, chẳng quan tâm gì đến lợi ích của anh và tôi . Còn tôi và anh nói như nhà thơ chế Lan Viên đều trở thành” con rối cho cuộc đời giật dây” mà là những con rối thì đã tốt. Hai chúng ta chỉ là những con tốt bị thí một cách không thương tiếc cho những giá trị mơ hồ dối trá .”Người ta” Xa lạ quá và cũng mơ hồ quá! Ngày xưa, cách đây bốn mươi năm khi tác giả bài thơ này còn trẻ, còn bị cái chính sách ngu dân dối trá bưng bít khiến cho hai mươi triệu người dân miền bắc ai cũng nghĩ “Mình đang cứu nước” Cái “Người ta” lúc ấy gần gũi lắm, cụ thể lắm.
Bác bảo đi là đi
Bác bảo thắng là thắng.
Tố hữu
Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn thời gian nào thế nhỉ
Cho tôi được sinh trong buổi đảng dựng xây đời.
Chế lan Viên
Còn nay ! sau bốn mươi năm, khi sự thật không thể che dấu mãi làm chúng ta bừng tỉnh.Chúng ta ân hận. Một nỗi ân hận muộn màng
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng.
Và đấy cũng là lúc những thứ cụ thể, thiêng liêng, gần gũi ngày xưa trở nên nhòa nhạt trong chúng tôi, biến thành thứ “Người ta” xa lạ
Anh được gì trong cuộc chiến ây ? Tôi được gì trong cuộc chiến ấy?
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
Nước quê anh cá chết dạt bờ
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ
Và cái « Người ta » xa lạ ấy đã quan tâm gì đến những mất mát đau thương của gia đình tôi và gia đình anh ?
Hình như Đại việt sử kí toàn thư đã nhầm. Không phải là mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con xuống biển mà là sau khi li hôn mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con vào Miền nam còn bố Lạc Long Quân giữ năm mươi người con ở lại miền bắc . Trong sự tức giận , Lạc Long Quân đã đốt chiếc bọc chứa một trăm quả trứng thành than, rắc tro của nó xuống biển đông và bảo với các con rằng : « Từ nay, chúng nó không còn là « Đồng bào » của ta nữa » và thế là năm mươi đứa con của mẹ âu cơ với năm mươi đứa con của bố lạc long quân trở thành kẻ thù không đội trời chung. Mối hận thù tiền kiếp ấy cho đến bây giờ vẫn chưa tan.

Có những dân tộc trong một thời điểm hiếm hoi nào đó của lịch sử, dưới sự dẫn dắt của lòng tự tôn dân tộc, và sự dối trá, lừa bịp của những kẻ cầm quyền mà trở nên cuồng tín. Khi đó gần như toàn bộ dân tộc đó trở nên độc ác và tàn bạo. Nhưng họ chỉ tàn bạo và độc ác với những người khác chủng tộc với họ còn với dân tộc họ họ vẫn là những con người mà Đức và Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai là hai ví dụ diển hình. Còn chúng ta? Chúng ta độc ác với chính dân tộc mình.

May mắn cho hai dân tộc đó, họ đã bại trận. Niềm tự hào man dại của họ đã buộc phải quỳ gối trước cái thiện, cái tốt đẹp của con người. Ngọn lửa ấy tắt ngấm trong tâm hồn họ để cho họ nhận ra rằng « Máu người không phải nước lã » và « Sinh mạng và phẩm giá là hai thứ trân quý nhất mà tạo hóa đã dành cho con người”. Tiếc thay dân tộc ta không có được cái may mắn của dân tộc Đức và Nhật. Chúng tôi đã chiến thắng. Chúng tôi đã chiến thắng các anh, người anh em của tôi. “Đồng bào” của tôi Và cái ngọn lửa man dại đó đã được tiếp thêm nhiên liệu để cho nó tiếp tục cháy không biết đến bao giờ.
Đọc bài thơ này, đọc những comment trong bài thơ này, tôi lại ngậm ngùi cho số phận những người lính các anh trong những trại “Cải tạo” của chúng tôi. Dưới ánh sáng của ngọn lửa chiến thắng man dại, Cái “Người ta “ ấy đã “Cải tạo” các anh bằng cách thắp lên trong các anh một ngọn lửa hận thù.

Tôi đọc lại bài Cáo Bình Ngô mà trong lòng bỗng nhiên ngờ ngợ. Dân tộc này kì lạ quá, rất nhân đạo với kẻ thù nhưng lại tàn nhẫn với chính mình

Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,

Chao ôi! người ta vẫn tự hào rằng “Người ta” nhân đạo. Không có cuộc tắm máu nào sau chiến thắng. Cũng đúng! So với phát xít Hít le, với Pinôchê , với pôn pốt thì quả “ Người ta” nhân đạo hơn thật. Nhưng sao con mắt của “người ta” chỉ luôn cắm đầu nhìn xuống đám bùn đen dưới chân mình mà không ngửa mặt lên nhìn bầu trời cao lồng lộng? Hay đấy là tâm thức của văn hóa Việt? Chỉ luôn so sánh mình với những cái kém hơn. Mà ta ở đâu trong thế giới rộng lớn này? Ta ở gần đáy của nó. Đáy cách ta một gang tay, bầu trời cách ta cả ngàn cây số thế mà ta chỉ nhìn xuống dưới chân mình thì làm sao ta có thể cất mình lên .
Đọc bài thơ tôi lại liên tưởng đến những nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Bao nhiêu nước nhưng duy nhất có hai người bị kết án tử hình vì kẻ đó đã ra lệnh cho quân đội bắn vào đoàn biểu tình còn lại tất cả đều được tha thứ . Không một ai bị tù đầy và nó cũng là một trong những nguyên nhân khiến những nươóc đó tiến những bước dài trong kinh tế.
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ
Mê muội qua chưa? Chưa qua đâu! Có thể với nhà thơ, người viết bài thơ này đã thoát khỏi cơn mê sảng nhưng sâu trong tiềm thức của bao nhiêu người dân miền bắc cái ngọn lửa hào hùng chiến thắng vẫn cháy và trong hàng triệu người miền nam ngọn lửa hận thù vẫn cháy. Và vết rạn của dân tộc vẫn cứ hiện hữu trong mỗi chúng ta.
Bao giờ chúng ta mới có thể ôm nhau trong vòng tay mẹ Việt để cho cái ước mơ của người viết bài thơ này trở thành hiện thực.

Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội
Dưới suối vàng
Họ...!
Chắc cũng đã ôm nhau...!
Hà nội 8/4/2015

Vài lời xin lỗi gửi đến tác giả bài thơ.

Tôi hứa với anh viết tặng anh một bài bình nhưng không hiểu sao những suy tư trăn trở của anh cứ lôi tôi vào những suy tư mà bài thơ anh chưa nói đến. Cho tôi xin lỗi! Nhưng một bài thơ có thể lôi người đọc vào những suy tư có lẽ đó là lời khen lớn nhất rồi phải không anh
.

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
Ngọc Anh  
#1052 Posted : Friday, July 17, 2015 6:28:40 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)

Cái Nón Sắt

UserPostedImage

Trong cái nón sắt của anh mặt trời vẫn còn đó ban ngày và ban đêm mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao vẫn còn đó


SÀI GÒN - Thời gian gần đây, ở Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác, có nhiều người miền Bắc, trở nên mê... nón lính. Mê nón lính ở đây là "mê nón sắt"

Kế bên cạnh nhà chúng tôi là một ông hàng xóm, tuổi đời chừng bốn mươi lăm, ông này làm nghề giao nước bình (dân Sài Gòn ngày nay hầu hết đều mua nước uống gọi là “nước tinh khiết,” đựng trong những cái bình 20 lít), ông ta có cái nón lính, thứ nón bằng cát-tông cứng lót dưới nón sắt của binh sĩ VNCH.
Nhìn cái nón ông mà thấy ham, vì có màu nâu gỗ, bóng ngời ngời, bóng như thoa mỡ, tới mức lộ cả từng đường vân sọc. Ông quí cái nón này lắm, hỏi cớ sự vì sao, ông không nói. Chỉ biết từ khi nhà nước bắt đội nón bảo hiểm khi sử dụng xe máy thì ông đem ra đội hàng ngày. Có lẽ ông là một trong những người đầu tiên ở Sài Gòn tạo mốt đội nón lính thay vì phải đội các loại nón bảo hiểm kém chất lượng (nón cối bộ đội) được bày bán đầy đường, đầy tiệm.

UserPostedImage

"Nón Sắt" được chế tác thành nón bảo hiểm, bày bán trên đường phố Sài Gòn.


Bẵng một thời gian, chúng tôi không thấy ông đội nữa, hỏi ra thì biết bị... mất cắp. Ông nói: “Tiếc đứt ruột anh ơi! Thời giá cái nón tui lúc đó khoảng một triệu chưa chắc mua được, nhưng chuyện không phải vì tiền. Nếu bây giờ phải chuộc hai, ba triệu tôi cũng chuộc cái nón đó. ” Chúng tôi không tò mò hỏi về giá trị kỷ niệm của cái nón, bởi ai cũng biết, đa phần người Sài Gòn cố cựu đều có những kỷ niệm sâu sắc với những người lính VNCH.
Ngày nay, chỉ cần đi một đoạn trên đường gần nhà thờ ngã sáu Phù Ðổng là thấy rất nhiều xe bán nón lính. Các xe này đa phần vừa bán nón vừa làm nghề bọc nhựa giấy tờ cá nhân. Người bán thường là dân nhập cư từ các tỉnh phía Bắc vào.

Một hôm chúng tôi ghé vào hỏi thì họ cho biết nón lính ở đây có hai loại; loại nón của lính VNCH còn tốt giá mắc hơn nón lính đưa về từ Camphuchia và Thái. Hỏi vì sao lại mắc hơn cả đôi ba trăm ngàn, họ nói: “Tầm tuổi bác thì biết giá trị của cái nón này rồi, thế mà còn đi hỏi làm gì. Nón ‘lính ngụy’ bây giờ là kỷ vật đấy nhá. Săn tìm khó lắm mà lại cực tốt, cực đẹp nhá.”

Ở Cần Ðước-Long An, chúng tôi có quen một anh nông dân. Hôm anh lên Sài Gòn, ghé nhà chúng tôi, tay cứ cặp cái nón lính bằng sắt. Lúc xong việc, bỗng anh hỏi: “Biết chỗ nào bọc vải lính, bọc lưới nón sắt thì chỉ giúp.” Thì ra: “Tui đi ăn giỗ, thấy trong xó chuồng gà của nhà người bạn còn cái nón sắt thì hỏi mua. Bạn tôi nói, cái nón này có lúc nó chỉ để đâm cua đồng nấu canh, rồi anh cho luôn không lấy tiền.” Ðúng là anh nông dân này đội cái nón sắt lên trông đẹp và oai hơn hẳn. Nhưng cái nón dù được chà giấy nhám rất kỹ vẫn còn sét xẹt lại nặng trịch, đội mỏi cổ muốn chết. Anh nói: “Kệ, đội để nhớ ông già tui. Ổng đi lính chết hồi năm 74. Ông cứ chỉ giùm tui chỗ bọc lại bao nhiêu tiền tui cũng làm.”


Người ta không mê nón lính theo kiểu thời trang nhất thời, cũng không giống như kiểu mê đồ cổ, đồ xưa. Nón lính mà họ sắm được họ đội hàng ngày, tuy là nón cũ có khi đã có tuổi đời phải đến năm, sáu mươi năm, có khi bị lãng quên ở một xó nào đó rồi tự nhiên được thích, được mê







Lời bài hát Người Tình Không Chân Dung
Hoàng Trọng


Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này
Bây giờ anh ở đâu, bây giờ anh ở đâu?
Còn trên đời này đang xông pha đèo cao dốc thẩm hay đã về bên kia, phương trời miên viễn chiêm bao.

Trên đầu anh cái nón sắt ngày nào ấp ủ, mộng mơ của anh mộng mơ của một con người .

NÓI`:
Ôi nó khác chi mây trời hiền hoà,
khác chi bốn mùa êm trôi,
có tiếng cười thủy tinh của vài đứa trẻ
và hơi ấm vòng tay ôm của một người vợ hiền ,
phải thế không anh?


(Hát)

Trong cái nón sắt của anh mặt trời vẫn còn đó
ban ngày và ban đêm mặt trăng
hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao .
Vẫn còn đó, tất cả vẫn còn đó vẫn còn đó .
Nhưng anh , bây giờ anh ở đâu con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm, tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ.
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa
mưa nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời .

Hỡi người chiến sĩ đã để lại
cái nón sắt trên bờ lau sậy này
Anh là ai? Anh là ai? Anh là ai?

Những người đã chết hôm kia hay hôm qua
Trên thành phố tan hoang bom đạn này
Những người đó hôm nay vẫn còn đó
Ngoài trời xa trong tiếng súng đêm nay

Những người đã chết hôm qua hay hôm nay
Cho màu áo em xanh, cho cuộc đời
Vẫn còn đó trên môi trên nụ cười
Vẫn còn đó trong đêm sao rạng ngời

Hỡi những người đã chết hôm qua,
Những người còn sống hôm nay,
Xin hãy hát với nhau lời nguyện cầu
Người Việt mình sao chóng hết thương đau
Và loài người mau sớm biết thương nhau
Để từ đó tôi yêu người,
Để từ đó tôi yêu tôi

Những người đã chết cho tôi hay cho em
Cho cành lúa đơm bông trên ruộng gầy
Những người đó hôm nay vẫn còn đó
Ngoài vầng trăng trong tiếng hát thơ ngây

Những người đã chết cho tôi hay cho anh
Cho lời hát ca dao nuôi cuộc tình
Vẫn còn đó trên cao nơi mặt trời
Vẫn còn đó trong tim trong hồn người .

Những người đã chết cho tôi hay cho anh
Cho lời hát ca dao nuôi cuộc tình
Vẫn còn đó trên cao nơi mặt trời
Vẫn còn đó trong tim trong hồn người ./.


Edited by user Friday, July 17, 2015 6:43:31 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
NNT on 7/17/2015(UTC)
Ngọc Anh  
#1053 Posted : Friday, July 17, 2015 7:16:54 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)
3 người trẻ tặng tổng cộng 100 ngàn cho đại nhạc hội Cám Ơn Anh kỳ 9 tại San Jose

Chỉ có 3 người ấy thôi mà con số đóng góp đã lên 100 ngàn Mỹ kim. Bác sĩ Kimberly tặng 20 ngàn. Chủ nhân chợ Ocean Market ở Milpitas tặng 70 ngàn. Và một bạn trẻ khác tặng 10 ngàn... Còn bao nhiêu người trẻ khác nữa cũng đã đóng góp vào quỹ giúp thương phế binh VNCH còn kẹt lại quê nhà.


UserPostedImage

Photo: Jimmy Vu

Cali Today News – Cali Today News


– Trong một ngày nắng dịu ở San Jose, chúng tôi bước vào sân vận động trường trung học Yerba Buena, nằm sát khu vực Little Sài Gòn San Jose, để tham dự đại nhạc hội Cám Ơn Anh, nhằm gây quỹ cứu trợ cho các thương phế binh quân lực VNCH còn kẹt lại tại quê nhà.
Đó là một nghĩa cử đáng trân trọng.
Sau khi vào cổng, không ai bảo ai, nhưng gần như các anh em chúng tôi đều giật mình và lo ngại. Khu ghế ngồi khán giả để lộ ra những khoảng trống mênh mông ở hai bên cánh, và phía sau. Chúng tôi đều lo ngại và về số người tham dự và tổng số tiền sẽ gây quỹ được.
Nguyễn Hồng Dũng dự đoán: “Chắc trời còn nắng quá, nên nhiều người chưa đi. Chắc nhiều người sẽ đi dự khi nắng dịu xuống.” Nguyễn Ngọc Mùi đi kề bên, gật đầu, hy vọng vào điều anh Dũng dự đoán.
3:30 chiều, chúng tôi rời sân vận động trường Yerba Buena để về tòa soạn, số người đi dự càng đông hơn. Trên đường đi về, nghe nhạc sĩ Nam Lộc công bố con số đóng góp đã lên đến 30 ngàn người. Một con số thấp đáng suy nghĩ.
8:00 tối, Nam Lộc gọi cho tôi, lúc ca sĩ Thế Sơn đang chở anh đi về một gia đình quen biết để dùng cơm tối. Anh Nam Lộc kể cho tôi nghe đã thu được trên 870 ngàn Mỹ kim, và thường thì trong vòng hai tháng sau đại nhạc hội, số người gọi về tặng thêm khoảng 300 ngàn nữa. Và anh tin chắc rằng con số cuối cùng của tổng số tiền gây quỹ giúp thương phế binh qua kỳ đại nhạc hội Cám Ơn Anh năm nay sẽ chắc chắn vượt quá 1 triệu Mỹ kim.


Những gương mặt trẻ xuất hiện

Nhạc sĩ Nam Lộc ghi nhận rằng năm nay có những gương mặt trẻ xuất hiện và đóng góp những khoảng tiền đáng kể. Anh nêu ra ba trường hợp điển hình, mà những doanh gia trẻ thành công, đã báo ân các anh thương phế binh. Chỉ có 3 người ấy thôi mà con số đóng góp đã lên 100 ngàn Mỹ kim.

Bác sĩ Kimberly tặng 20 ngàn. Chủ nhân chợ Ocean Market ở Milpitas tặng 70 ngàn. Và một bạn trẻ khác là ông Nhân Nguyễn, giám đốc công ty My Best Home Care tặng 20 ngàn, gồm 10 ngàn cho đại nhạc hội Cám Ơn Anh và 10 ngàn cho cơ quan USCC – một cơ quan từng bảo lãnh và bảo trợ cho rất nhiều người tỵ nạn Việt Nam từ các quốc gia Đông Nam Á sau khi họ vượt biên đến được định cư tại Hoa Kỳ. Cơ quan này đã ứng trước tiền vé máy bay vì thuyền nhân Việt Nam không có khả năng tài chánh để mua vé máy bay. Một số người đã trả lại tiền ứng trước đó, nhưng cũng có nhiều người vì nhiều lý do khác nhau đã quên trả. Ngày nay, nhiều người làm ăn thành đạt và cuộc sống ổn định, nên họ trở lại trả tiền và đền ơn cơ quan USCC. Ông Nam Lộc cho biết rằng các giám mục và linh mục lãnh đạo cơ quan USCC sẽ vô cùng nhạc nhiên và bất ngờ khi nhận được những cái check với số tiền lớn như cái check của ông Nhân Nguyễn của công ty My Best Homecare....

Còn bao nhiêu người trẻ khác nữa cũng đã đóng góp vào quỹ giúp thương phế binh VNCH còn kẹt lại quê nhà.

Anh Nam Lộc nói rằng thế hệ trẻ này là tương lai của cộng đồng, họ thành công và họ biết đền ơn đáp nghĩa. Mai này, họ sẽ là người thay thế xứng đáng thế hệ đàn anh nơi xứ người.

Nam Lộc nói thêm: Nam nghĩ đi? Muốn có 70 ngàn để đóng góp giúp thương phế binh, người chủ chợ phải bán bao nhiêu bó rau, bịch ớt...?

Nhưng điều đáng qúy hơn, là anh chủ chợ Ocean Market đã từ chối lời mời của anh Nam Lộc, mời anh lên sân khấu để Ban tổ chức cám ơn. Anh gửi cái check cho Nam Lộc rồi đi ngay, lặng lẽ xuống đâu bên dưới, lẫn trong hàng ngàn khán giả để xem văn nghệ...

Ngoài ra, trong kỳ này, những đóng góp của các tiểu bang khác và tổ chức Voice cũng đáng chú ý. Phái đoàn Houston mang về cái check “thật lớn”, với con số 224,400.62 Mỹ kim, và tổ chức Voice Canada mang về chái check cũng thật đáng nễ, 100 ngàn Mỹ kim.

Thật đúng như câu ngạn ngữ của Việt Nam: “Ba cây tụm lại, nên hòn núi cao”.

Như những nhánh sông góp thành biển cả. Sự đóng góp khắp nơi là đáng trân trọng.

Tôi báo cho Dũng và Mùi tin này và cả hai đều mừng vì những điều hai anh đoán dã diễn ra đúng như thế, vì chúng ta tin rằng không có ai nỡ quay lưng lại, khép lòng lại với những người thương phế binh VNCH, từng chiến đấu cho quê hương và cho mọi người.

40 năm sau, một thế hệ mới có thể chưa sinh ra trong chiến tranh, nhưng vẫn không quên anh, người lính và thương phế binh VNCH.

Tôi bước vào phòng làm việc, dùng computer để tìm bài “Giữa Quê Người Tôi Hát Tên Anh”, người thương binh VNCH của nhạc sĩ Dzuy Linh...

Tiếng nhạc chạy đều trong xúc động...

Nguyễn Xuân Nam
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
thanks 1 user thanked Ngọc Anh for this useful post.
NNT on 7/17/2015(UTC)
NNT  
#1054 Posted : Sunday, August 16, 2015 6:43:18 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)
Câu chuyện về bức tượng Thương Tiếc

https://kyvancuc.wordpre...e-buc-tuong-thuong-tiec/
NNT  
#1055 Posted : Wednesday, September 2, 2015 9:33:49 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)
UserPostedImage
Ngọc Anh  
#1056 Posted : Monday, January 25, 2016 6:10:15 AM(UTC)
Ngọc Anh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/19/2011(UTC)
Posts: 14,735

Thanks: 5082 times
Was thanked: 4294 time(s) in 2078 post(s)
Lâu rồi chẳng thấy tăm hơi ?
Hỏi thăm chủ quán đi đâu vắng nhà ???
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau (BG)
NNT  
#1057 Posted : Tuesday, February 16, 2016 8:51:59 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)

LỜI TỬ SĨ

Mẹ chớ đắp cho con ngôi mộ mới
Để xương con rữa nát với thời gian
Làm phân bón cây nhân quyền sai trái
Cho ngày sau con cháu sống huy hoàng

Em chớ buồn nhìn mộ anh xiêu tán
Thấy bia anh đầy dấu đạn căm thù
Ngay cả núi sông giặc còn rao bán
Thì hồn nào yên được giấc ngàn thu!

Con hãy để xác cha hòa với đất
Ba chết rồi, cải táng được gì đâu!
Đồng đội ba biết bao người bỏ xác
Dưới truông hào, trên núi thẳm, rừng sâu

Chị hãy để cho em vào phiêu lãng
Cho em quên mối hận tháng Tư buồn
Hai mươi năm đất miền Nam tươi sáng
Chỉ một ngày mưa thấm lệ trào tuôn

Bạn hãy để cho tôi tròn tiết tháo
Sống anh hùng thì chết cũng quang vinh
Chớ xin xỏ bọn cường quyền vô đạo
Thêm tủi lòng người đã quyết hy sinh

Nếu bạn muốn tôi ngàn thu yên giấc
Xin hãy thay tôi dựng lại cờ Vàng
Tôi không muốn được mồ tươm mả tất
Khi nước nhà mây vẫn trắng màu tang


Vũ Đình Trường
NNT  
#1058 Posted : Thursday, June 30, 2016 7:10:48 PM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)
Mời vô đọc "Hai Ngày Gác Tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà"

https://ongvove.wordpress.com/20...-nghia-trang-quan-doi-2/


UserPostedImage
NNT  
#1059 Posted : Wednesday, July 19, 2017 9:02:23 AM(UTC)
NNT

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/24/2011(UTC)
Posts: 6,407
Man
Location: USA

Thanks: 1399 times
Was thanked: 2796 time(s) in 1525 post(s)

Bàn tay của người khuất mặt

Con đường Quốc lộ 14, từ Pleiku đi Kontum còn tương đối an ninh cho những chuyến xe đò và nhứt là xe nhà binh chạy ngược xuôi chở quân, đồ tiếp tế nhiên liệu lương thưc cho những cánh quân, những đơn vị trú đóng vùng Kontum Tân Cảnh, Benhet vào ban ngày trong thời điểm 1970- 1971
.
Từ KonTum được nối dài cho đến Tân Cảnh vẫn còn là đường tráng nhựa rất tốt, nhưng từ Tân Cảnh đi về hướng Căn Cứ Ben het chỉ là con đường rải đá gồ ghề dằng xốc.

Đơn vị tôi nằm ngay trên con đường dằng xốc này và điểm đặt biệt, vì địa thế hiểm trở chật hẹp nên con đường xẽ đôi căn cứ ra làm hai, có nghĩa là con đường chaỵ ngang chính giữa căn cứ. Đây là Căn Cứ Hoả Lực Dakto.

Căn cứ Hoả Lực nằm trên đỉnh ngọn đồi thấp, phía dưới chân đồi có con suối và chiếc cầu sắt bắt ngang uốn cong hai vòng trước khi lên đến đỉnh. Pháo Đội của tôi từ Qui Nhơn tăng phái lên Vùng Dakto Tân Cảnh gồm có sáu khẩu đại bác 105 ly yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 42 Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 22, chịu trách nhiệm lảnh thổ ở đây.

Nhưng bổng nhiên tình hình chiến cuộc trở nên sôi động, nên mới có một lử Đoàn Nhảy Dù tăng viện, và đã xãy ra Chuyện” Người Ở lại Charlie“, một ngọn núi cao ngất cách xa tôi ngoài tầm đạn 105 ly. Đơn vị này có Pháo Binh cơ hửu của Nhảy Dù yểm trợ.
Buổi chiều trên căn cứ Hoả lực Dakto, đang thư thả ngắm trời mây sông núi trong không khí “ không tiếng súng nổ “ trong chốc lát, thì từ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 22 đang đặt tại Tân Cảnh, trong đó có Bộ chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn kèm theo đã ra lệnh cho tôi chuẩn bị“ thế lên đường“.

Dân Pháo Binh mà nghe lệnh“ Thế Lên Đường“ là phát chán vì phải dọn tất cả, nặng nhứt là chất hết đạn đại bác lên xe, trung bình chừng hai ngàn quả, lính các khẩu đội vác mệt nghỉ. Trời miền núi vùng Tam Biên ( ngả ba biên giới Việt Miên Lào ) xuống nhanh và mau tối, tôi báo cáo“ Sẵn sàng“ về Bộ Tư lênh Sư Đoàn, đầu máy bên kia bảo“ chờ”.

Trời sẩm tối không nhìn thấy gì trước mặt, than ôi giờ này mà còn chờ thì biết chừng nào mới Thế lên Đường đến vị trí mới chiếm đóng vị trí, rồi tác xạ yểm trợ ngay cho các đơn vị bạn đang chạm địch? Gióng hướng súng ban đêm là nổi cực hình cho Pháo Binh vì hạn chế tối đa tiếng động nhất là ánh đèn pin.

Tôi bốc máy thúc dục“ sao cho lệnh đi chưa”, dỉ nhiên là không nói bạch văn mà phải dùng ám danh đàm thoại cho địch không biết. Bên đầu máy vẫn bảo chờ. Tôi sốt ruột lắm, và cuối cùng vì lý do gì không biết từ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn ra lệnh hủy bỏ vì điều động đơn vị 155 ly khác đến thế chổ tôi sắp chiếm đóng.

Thế là khỏe re, nhưng phải cho lệnh Pháo Đội xuống đạn và quân dụng ở lại tại chổ, 1 giờ khuya đêm đó, tôi nhận lệnh yểm trợ tối đa cho căn cứ Phượng Hoàng ( căn cứ mà hồi chiều lệnh cho tôi di chuyển đến đó ). Đơn vị đại bác 155 ly của người bạn Lâm Xuân Thảo bị tràn ngập biển người sau nhiều đợt địch pháo kích liên tục. Đơn vị của tôi bắn liên tục từ khuya cho tới tờ mờ sáng thì được tin Pháo đội 155 ly bị“ xoá sổ“ nhiều người lính bị bắt sống, Trung uý Lâm Xuân Thảo chết tại chổ nhưng không toàn thây vì trận xáp lá cà của địch.

Tôi bàng hoàng xúc động thương tiếc cho người bạn trước tôi một khoá và cũng rùng mình nghĩ rằng Lâm Xuân Thảo đã chết thế mình. Tôi không hiểu tại sao đến giờ phút sau cùng thì thay đổi lệnh không cho tôi thế lên đường, mà là một đơn vị 155 ly đến đó để yểm trợ cho căn cứ 5 và 6 đang bị áp lực địch vây .

Lâm xuân Thảo chết không toàn thây nhưng vẫn lấy được xác, được tin Lâm Xuân Thảo ra đi, làm tôi nghẹn cứng cổ họng, thương cho người bạn cùng đi học một khoá Đại Đội Phó Chiến Tranh Chính Trị ngày nào. Vì là trong Pháo Binh Sư Đoàn của chúng tôi chỉ có hai trung uý tham dự khoá này , nên rất thân nhau trong suốt khóa học.

Ngày mãn khóa, Trường Chiến Tranh Chính Trị tổ chức buổi lể Sinh Nhật Tập Thể vừa dùng để mãn khóa vừa để cho các khoá sinh biết cách thực hành khi trở về đơn vị của mình. Buổi lể xong hết và dĩ nhiên trong hội trường còn quá nhiều đèn cầy đã dùng để cắt bánh Sinh Nhật và thổi đèn, cũng như vô vàn hoa tươi vươn vãi khắp hội trường.

Trong khi chờ đợi nhà trường phát Sự Vụ Lệnh trở về đơn vị gốc, thì Lâm Xuân Thảo nghịch phá, y bèn gom nhiều đèn cầy cắm xung quanh chiếc giường. Thảo lấy hoa tuơi rãi dọc xung quanh mép giường và trên đầu giường cắm một bình hoa thật to, chính giữa là tấm bảng viết vội“ Cố Đại Uý Nguyễn Trãi”. Chính giữa giường là cái xắc đựng quân trang dài tròn to bằng thân tôi và chiếc nón sắt của tôi thì hắn để trên đầu, lấy một tấm poncho phủ kín từ nón sắt xuống đến tuí đựng quân trang, y chang một thây người chết nằm đó.

Đèn cầy xung quanh giường được thấp sáng rực xong xuôi hắn chạy ra hành lang gọi tôi “ Mày vào xem cái này “. Tôi tưởng chuyện gì quan trọng, đi theo Lâm Xuân Thảo vào bên trong phòng ngủ thì hởi ôi, tôi đọc được tên tôi một tấm bảng hình chử nhật bằng cuốn vở học trò mở ra, tôi lạnh toát cả người vì thấy một thi thể nằm đó, đèn cầy lấp lánh xung quanh đầy hoa tươi. Tôi liên tưởng tới chuyện không may, như một điềm xấu sẽ xãy ra cho tôi trong những ngày kế tiếp khi trở lại cuộc chiến.

Tôi giận lắm, tôi biết ngay là thằng Thảo nó làm trò chơi này thật quá đáng, tôi vừa hét vừa đá mạnh làm tung toé hết hoa và đèn cầy, tôi đạp văng chiếc nón sắt cùng cái túi đựng quân trang rơi xuống giường rồi mặt hầm hầm bỏ ra ngoài. Tôi cảm thấy lạnh xương sống và liên tưởng tới một điềm xấu cho tôi khi trở về đơn vị.

Hành động giận dữ của tôi tưởng đủ để cho nó hiểu tôi ghê sợ và phản đối kịch liệt, ngõ hầu nó ân hận việc làm của mình. Nhưng không, tôi bỏ ra hành lang hội trường cho bớt giận, một lúc sau tôi trở vào thì vẫn thấy hình ảnh một xác người nằm trên giường, với đèn cầy thắp sáng trở lại cùng với hoa đầy đặc xung quanh mép giường, và đặc biệt cái tấm bảng viết“ Cố Đại Uý Nguyễn Trãi“ cũng được gắn trên đầu giường trở lại. Những người bạn cùng khóa Chiến Tranh Chính Trị bu quanh chiếc giường và cười sặc sụa về thành tích“ giỡn một cách vô ý thức này“.

Tôi lại đá và hất tung chiếc giường một lần nữa, tất cả rơi vung vãi và tôi hét lớn“ tôi không muốn người nào chơi như thế này nữa“ Thực tình tôi bắt đầu sợ hình ảnh này vì linh tính sẽ không may cho tôi về sau trong bước hành quân. Vẫn là những tiếng cười đắc thắng của đám bạn, tôi muốn điên tiết …..

Giờ đây tin Lâm Xuân Thảo đã vĩnh viển ra đi làm tôi xúc động mạnh, chuyện này đáng lẽ là của tôi, sao lại Thảo chết thế ?? Hay là một điềm gở đã ứng nghiệm của trò chơi trong trường Chién Tranh Chính Trị?.

Một năm sau, cũng tại Căn Cứ Hoả Lực Dakto, năm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa, trong đêm Cộng Quân ào ạt tấn công Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 42 trong đó có Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn có Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh Sư Đoàn. Pháo đội 105 ly của tôi đã bắn liên tục từ 10 giờ đêm đến rạng sáng hôm sau, vì khoảng cách gần mút tầm nên xử dụng thuốc nạp 7 là thuốc nạp tối đa, sự giựt lùi của nóng súng rất mạnh làm cho càng súng cũng bị gãy một khẩu, tôi bắn và theo dỏi trên hệ thống vô tuyến thì biết giờ nào các ông xếp của mình rời hầm chỉ huy, giờ nào mất liên lạc và giờ nào địch quân tràn ngập căn cứ nhờ những sĩ Quan Đề Lô bên ngoài lên tiếng trong máy.

Lử Đoàn 2 Nhãy Dù đang ở vòng ngoài của Tân Cảnh, tôi mất liên lạc với cấp chỉ huy trực tiếp của tôi, nên quay sang yểm trợ trực tiếp cho một cánh quân Nhảy Dù gần Tân Cảnh. Tiếng người Sĩ Quan Đề Lô nhãy Dù gọi đơn vị tôi tác xạ, khi tôi kiểm soát vị trí đứng ( toạ độ điểm đứng của sĩ quan này ) thì thấy rất gần, sau khi điều chỉnh nhiều lần và loạt đạn bắn hiệu quả chỉ còn cách ít hơn 50 mét ( khoảng cách không an toàn và không cho phép tác xạ vì quá gần quân bạn ).

Tôi đích thân gặp người Sĩ Quan Đề lô và nói“ không thể bắn cho anh được vì quá gần quân bạ “. Người SQ Đề Lô ấy trả lời rất dõng dạc“ Anh cứ bắn đi, bắn cho đến khi nào không còn nghe tiếng của tôi nữa thì coi như tôi đã chết“. Câu nói rất anh hùng và khí tiết của một Sĩ Quan Pháo Binh hy sinh thân mình để cứu đơn vị. Câu nói làm cho tôi nghẹn lại vài giây vì xúc động, tôi không có sự chọn lựa nào hơn khi nghĩ đến những loạt đạn“ Bắn Hiệu Quả“ sẽ cứu được đại đơn vị, và cũng đang cầu xin an toàn cho viên Sĩ Quan Đề Lô.

Sau đó tôi gọi danh xưng của người này nhiều lần và không thấy tăm hơi gì hết, tôi lặng người đi và nghĩ rằng anh ta đã chết. Lúc bấy giờ tôi mất liên lạc hoàn toàn với các cấp chỉ huy của tôi từ phía Trung Đoàn 42 và Pháo Binh Sư Đoàn. Tôi biết tất cả Bộ Tư Lệnh đã di tản ra ngoài và đang đâu đó. Từ giờ phút này tôi thực sự cãm thấy bơ vơ chi lạ, giống như“ rắn mất đầu“. Tôi không biết phải làm gì ngoài tự phòng thủ căn cứ và bản thân

Từ trên ngọn đồi của Căn Cứ Dakto nhìn về hướng Tân Cảnh tôi thấy chiếc hai chiếc phản lực đang nhào xuống, ngóc đầu lên liên tục, và rồi một cột khói mịt mù bám theo một chiếc, chắc là bị dính hoả tiển SA7 của địch?.

Khi Bộ Tư Lênh đã bị tràn ngập thì cũng là lúc bọn VC quay mủi dùi sang căn cứ của tôi mà dập bằng Dại Bác 130 ly. Tôi nghe tiếng depart rất rỏ và xác định được hướng bắn từ đâu, nhưng nó cách tôi 18 cây số lận, còn súng của tôi có phản pháo cũng chỉ gải ngứa vì chỉ có 11 cây số 100 mét. Thế là cứ chịu trận ăn pháo địch mà không có một phản ứng nào.

Tất cả hấm hố, đài Tác Xạ, hầm đạn đều trúng đạn của địch tan nát, hệ thống truyến tin bị sập đổ, gãy cần ăng ten không còn liên lạc với ai được. Bộ chỉ Huy một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ Pháo Binh cho tôi cũng bị sấp và ông Tiểu Đoàn Trưởng đã bị thương.
Tôi chưa biết xoay sở ra sao trong tình huống này, cộng quân bộ binh thì chưa tiến tới gần Căn Cứ tôi. Tất cả lính pháo đội đều trú ẩn dưới hố cá nhân mà chiều cao bằng với mỗi con người trừ cái đầu nhô lên để chiến đấu cá nhân. Đơn vị Pháo Binh của tôi ai cũng được trang bị thêm một khẩu M 72, trong lúc này rất cần thiết để chống xe tăng địch; trên miệng hố cá nhân mỗi người đều có một khẩu M 16 và một khẩu M 72 chờ chiến xa Cộng Quân tiến đến.

Sư Đoàn Bắc việt nhất là đơn vị Pháo Binh địch đang có một Đề lô áp sát đơn vị tôi, bọn này cũng tiết kiệm đạn ra phết, chỉ tác xạ khi nào có người đi rên mặt đất sau khi san bằng căn cứ Dakto sau nhiều đợt pháo kích bằng 130 ly; tôi đoán là Đề lô rất gần, gần sát nên họ nhìn chính xác lắm. Cũng đã xế chiều, người nào cũng mệt mỏi và đói, đạn 130 ly không còn nổ trên căn cứ, tôi leo lên khỏi miệng hố đi kiếm soát một vòng xung quanh các hố cá nhân. Tôi gọi lớn Ban Hoả Đầu Vụ đem lương khô cho tôi và cho lính còn đang dưới hố cá nhân; Binh Nhứt Nguyễn Văn An dáng người lùn, mập không lanh lợi tay cầm gói gạo sấy đã đổ nước chạy đến miệng hố cá nhân của tôi để trao cho tôi, lúc này tôi đã đi đến chổ khác. Bọn Đề Lô Việt Công ma mãnh không kém, vừa thấy có người trên mặt căn cứ là gọi pháo tiếp. Một tiếng nổ đạn depart từ một khu núi quen thuộc từ sáng tới giờ phát ra, chúng tôi biết ngay là sẽ ăn đạn pháo 130 ly kế tiếp. Không ai bảo ai, Binh Nhứt An tự động nhảy xuống cái hố của tôi trống đã có sẳn còn tôi thì nhảy vào hố khác cách đó chừng 100 mét ( hố bỏ trống )

Loạt pháo này chỉ chừng trên dưới một chục quả, sau đó ngưng bắn. Tôi chạy thục mạng về hố của mình, thì hởi ôi phía dưới hố chỉ còn lại đôi giày trận của An, hình hài Binh Nhứt An nát bấy nhừ y như bầm tiết canh vịt, vì một quả đạn 130 ly rơi đúng xuống hố mà An núp, An đã chết thế cho tôi trong giây phút này. Làm sao tin được một viên đạn bay theo chiều hình cong parabol từ trên cao có thể rơt trúng phóc vô miệng một cái hố cá nhân chỉ vừa vặn đúng cho một thân con người. Viên đạn rớt đúng ngay thời điểm tôi đã rời chổ khác, và Nguyễn Văn An đã chết thay thế tôi. Sát miệng hố có chiếc xe GMC 10 bánh đậu từ lâu dùng để phát điện cho hệ thống truyền tin đánh“ mọrse “, chiếc xe đã hư nát lủng nhiều lổ đạn và xẹp bánh từ những đợt pháo kích trước, giờ đây thịt da nhão nhoẹt nát bấy và nhỏ như thịt bầm của An một phần được bắn lên và đang bám trên thành cửa xe.

Tôi lặng người đi và tưởng như trong mơ, tôi thực sự xúc động trước cái chết của người lính thuộc cấp chết thế cho mình. Cái số của tôi chưa tới số ??? Điều gì đã khiến cho tôi rời cái hố ? Một sự tình cờ xãy ra hay có sự“ sắp xếp của bàn tay vô hình nào đó”???

Tránh pháo kích địch một cách hiệu quả nhứt không gì bằng ẩn người trong hố cá nhân, đạn rớt trước mặt hay sau lưng hố không bao giờ gây thiệt mạng. Chưa bao giờ tôi gặp một trường hợp đạn pháo kích rớt chính xác xuống miệng hố, điều gì đã khiến tôi rời khỏi cái hố cá nhân của riêng tôi? Tim tôi đập mạnh hơn, tôi lặng người và TIẾC THƯƠNG CHO AN. Người đi trong cuộc chiến thường hay tin tưởng vào SỐ MẠNG, hay là TRỜI KÊU AI NGƯỜI ẤY DẠ, hoặc ĐẠN TRÁNH MÌNH CHỨ MÌNH KHÔNG THỂ TRÁNH ĐẠN.

Tâm tư tôi bị giao động mạnh khi nhìn xuống hố, không còn một thứ gì có thể nhận ra là con người , vì nó nát bấy như băm nhỏ, một viên đạn đại bác 130 ly làm sao có thể rớt ngay phóc vô một cái hố đường kính chỉ chừng năm mươi centimet. Nếu như lúc đạn đang bay trong không trung, tốc độ gió mạnh hơn, hay gió đổi chiều chỉ một chút cũng làm viện đạn lệch đi, hay người xạ thủ địch quân giật cò chậm hơn 1/50 giây cũng sẽ làm viên đạn lệch qua chổ khác vì sự quay của trái đất sẽ đổi chổ viên đạn rơi.

Nhiều yếu tố để khiến một viên đại bác rơi trúng đích, nhưng có điều gì đã khiên tôi bồn chồn đói bụng mà phải rời hố, để rồi một binh sĩ thuộc cấp chết thế mình. Tôi nhắm mắt lại và lặng người không dám nhìn vào đáy hố, nó chỉ còn rỏ nhất đôi giày trận của Binh Nhứt Nguyễn Văn An.
Trong nổi hụt hẫng kèm theo lo âu, chưa biết phải làm gì, từ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Biệt Động Quân bảo vệ Căn Cứ chuyển cho tôi một cái lệnh, hệ thống truyền tin gần và xa của đơn vị tôi coi như hoàn toàn tê liệt, chỉ còn duy nhứt đơn vị bảo vệ Căn Cứ của tôi là chổ dựa trong lúc này .
Lệnh của Trung Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn cho tôi“ triệt thoái khỏi Căn Cứ đi về Trại BENHET ngay bây giờ. Thì ra vẫn còn có người nghĩ đến tôi, thực ra không phải nghĩ đến tôi, mà là nghĩ đến 6 khẩu đại bác thì đúng hơn. Tôi không liên lạc trực tiếp với Quân Đoàn mà chỉ thi hành lệnh qua trung gian của Biệt Động Quân Quân Khu 2. Pháo Binh của tôi mất tiêu hết đâu rồi, đâu còn xếp lớn xếp nhỏ gì để liên lạc.
Tôi trở lại Pháo đội và ra lệnh“ cấp tốc di tản khỏi nơi này“ Khi người Đề Lô địch thấy lố nhố người xuất hiện chạy đi chạy lại trên mặt đất thì họ bắt đầu khai hỏa trở lại, làm cho công việc chuẩn bị trở nên phức tạp hơn. Chỉ móc được 5 khẩu đại bác vào những chiếc GMC nào còn chạy được dù là bể bánh xe, hay bể kết nước. Phải bỏ lại một khẩu vì không còn kịp.

Nếu cố gắng kéo cho được 6 khẩu và đầy đủ phụ tùng thì tôi e sẽ có quân nhân trúng đạn pháo kích. Tôi quyết định tự tay tôi rút khối kích hoả của khẩu bỏ lại và ném ra xa giấu đi, làm vô hiệu không cho địch quân xử dụng khẩu đại bác này khi họ tràn ngập.
Tôi cất chiếc nón sắt ra khỏi đầu và cuối xuống cái hố, nơi có xác bầy nhầy bị băm nhỏ như chào vĩnh biệt Binh Nhứt Nguyễn Văn An. Đạn pháo kích địch vẫn tiếp tục rơi, tôi chạy thiệt nhanh lại đoàn xe đang chờ và phóng hết ga về hướng Căn Cứ Ben Hét, một căn cứ đầu nảo của Biệt Động Quân Biên Phòng của vùng rừng núi Tam Biên, đi về hướng BENHET tức là không về hướng đồng bằng mà càng tiến gần với ngả ba biên giới Việt Miên Lào.

Khi đến BENHET xong , tôi gặp người Trung Tá Biệt Động Quân , Căn Cứ Trưởng , ông ta bảo tự bố trí phòng thủ tạm và chờ sẽ có lệnh sau . . Khi mặt trời khuất sau rặng núi , tôi quyết định dùng một chiếc GMC và lựa một toán lính gan dạ , lanh lẹ cùng tôi chạy trở lại Căn Cứ Dakto để lấy khẩu đại bác bị bỏ lại . Vì tôi là người dấu khối kích hỏa , biết chổ nên tôi phải đi , và tôi cùng đi thì binh sĩ sẽ lên tinh thần .

Địch quân không ngờ rằng có người trở lại nên không phản ứng kịp và chúng tôi đã hoàn thành công tác lấy được khẩu đại bác trở về Ben Het . Ở đây pháo đội không gióng hướng súng để tác xạ yểm trợ nữa , mà chỉ bắn trực xạ phòng thủ vị trí , vì đêm nào cũng nghe tiếng xích của xe tăng địch rú gầm xung quanh , Cả Pháo đội thức bét con mắt để trông chừng mà trực xạ Phải tới ngày thứ tư mới có trực thăng câu đại bác và toàn bộ pháo đội tôi từ Benhet về Kon Tum .

Không phải Quân Đoàn thương tiếc đơn vị tôi mà cho trực thăng hai cánh quạt đến bốc chúng tôi , mà vì cả Sư Đoàn vừa bị tan hàng không còn một khẩu đại bác nào để tử thủ KonTum . Khi trực thăng đáp xuống là lúc đạn pháo kích bắt đầu rơi tới tấp . Trực thăng không thể chờ mình được nên cũng liều mạng móc súng , đạn 105 ly và dụng cụ . Coi như chơi trò ú tim hên xui may rủi , nếu lỡ trúng đạn thì đành chịu .

Mỗi lần chỉ đáp được một trực thăng vì xuống một lúc dể trúng đạn pháo kích . Có tất cả 10 chuyến thì xong hết đơn vị . Chỉ khi nào trực thăng lên đến độ cao an toàn thì mới biết mình thoát nạn .

Thời điểm này là lúc Cộng Quân Bắc Việt đang vây KonTum chỉ còn có cái lỏm , Trực thăng vừa đáp xuống thành Dapla là có dàn chào đạn của VC ngay . Bọn nó ở đâu sẵn và pháo kích liên tục . Cái số của tôi may mắn nên không phải làm sao cã .

Những ngày gian khổ và nhiều nguy hiểm tại KonTum cũng qua đi khi có các đợn vị Pháo Binh của Sư Đoàn 23 đến được , mà chỉ đến bằng người không thể mang theo đại bác vì trực thăng không thể câu súng qua đèo ChuPao . Không biết do ông lớn nào thương nghĩ tới , đã truyền lệnh cho tôi từ Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn 23 , ra lệnh tôi bàn giao tất cả súng đại bác lại cho nhân viên Pháo Binh Sư Đoàn 23 để chuẩn bị trực thăng vận về Pleiku nhận súng ở đó và tái phối trí . ( Tôi là dân Pháo Binh Sư Đoàn 22 )

Gia đình tôi từ quê cha sanh mẹ đẻ cho tới quê vợ không biết tin tức tôi ra sao trong hai tháng . Ba tôi chạy ngược chạy xuôi hết đi coi bói ông thầy này tới bà nọ để mong tin con . Cả một sư đoàn 22 và cả một Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn của tôi tan nát , cũng không còn biết tôi thì làm sao từ Nhatrang và Sài Gòn biết được .

Khi về đến Pleiku , đơn vị đã ổn định , tôi được đi phép đặc biệt về thăm nhà . Tất cả “ gia tài “ quân ngũ của tôi để lại tại Căn Cứ Đệ Đức Bồng Sơn, cũng bị tràn ngập , Căn Cứ mất , tôi cũng mất hết tất cả , nơi này có hai ông Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tiểu đoàn củă tôi cũng mất tích và chết sau đó . Tôi không còn đồ đạt gì nên cứ mặc quần áo trận lên xe đò về Nhatrang .

Vừa ngồi lên xe đò nhỏ từ Qui Nhơn đi Nhatrang , một cô ngồì sát bên bảo “ anh anh , anh mặc đồ này khi vô tới Hảo Sơn , Vũng Rô , tuị nó chận và bắt anh đó “ . cô nói tiếp “để em đưa cái áo này cho anh mặc đở “ Tôi nghĩ bụng “ về tới đây còn gặp rắc rối “ Thế là tôi cũng phải nghe lời cô ấy . Vừa mặc xong , một bàn tay của một người đàn ông đứng tuổi ngồi cạnh cô gái cho mượn áo cầm tay tôi mà không cần hỏi han giáo đầu chi hết “ Có phải anh vừa thoát một đại nạn lớn lắm phải không ? Tôi thấy anh thoát chết là do một nguời nào đó khuất mặt họ cứu anh “. Tôi thấy đúng ở chổ thoát đại nạn , nhưng do ai cứu thì tôi không biết , tôi nghĩ thầm mà không trả lời .

Không lẽ ông này thấy tôi mặc đồ lính rồi đoán vậy ? hay ông ta có bùa ngải gì đây ? tôi tự hỏi mà không dám thố lộ . Ông ta tiếp “ tôi nói thực cái mạng anh rất lớn , có một vong linh người Nử theo cứu anh , chứ không thì anh không có ngồi đây “ Tôi thấy đúng như trúng tim đen ở chổ may mắn thoát chết , nhưng mà ai đã cứu mạng tôi thì không biết . Và rồi tôi lẫm bẫm “ cũng có thể lắm …. “

Tôi về được tới nhà trong bất ngờ mà Ba Má tôi không hề biết . Mọi người đều khóc , khóc vì sung sướng tôi đã về bằng xương bằng thịt ,mà có ông thầy bói nào nói với Ba tôi là “ tôi không còn nữa , tan xác hết rồi “ Cái cảnh xum họp này coi thật là cãm động , cả nhà vui mừng hẳn lên . Tối hôm đó sau khi cơm nước xong Ba Má tôi kể chuyện cho tôi nghe trong lúc có các cô chú cũng có mặt cùng nghe . Ba tôi kể rằng : “ năm nào nhà mình cũng muớn mấy ông ngoài Bình Định cứ vào sau mùa gặt thì đào đất ruộng xung quanh nhà dùng xe cút kít đẩy đất lên bồi đất xung quanh nhà cho cao để trồng cây ăn trái . Họ ăn ngủ tại nhà mình và trả lương khoán Khi nào làm xong hết việc thì họ đi nơi khác , làm bảy ngày một tuần tối ngủ ở đây , Ba tôi vừa nói vừa chỉ chổ ngủ của ông ấy .

Có một buổi tối nọ sau khi ăn xong như thường lệ , cũng ngồi nói chuyện bâng quơ thì bỏng nhiên ông ta bụm hai bàn tay rồi vuốt mặt , Thả tay ra thì thấy mặt đỏ rần như Trương Phi . Ông ta rung người lắc lắc đầu mấy cái rồi nhìn thẳng vào mặt Ba tôi mà nói “ Sao nhà Ngươi đẻ ta ra mà bỏ , không ngó ngàng gì tới ? Nhà ngươi có còn nhớ vào một buổi sáng chừng tám chín giờ đẻ ta ở gốc keo rồi chôn ở đó không ? Nhà Ngươi không có đặt tên , không có bàn thờ cho ta . Nhưng giờ ta không còn ở đây nữa , ta ở trên cao lắm , Ta có hai người anh đang trong nguy hiểm , và chính ta đã cứu một người anh đó . Ba Má tôi rợn tóc gáy rất là sợ , vì sao ông này nói trúng y chang sự việc mà ông ta không là người trong gia đình , ông ta không thể nào biết được chuyện riêng tư này đã xãy ra mấy chục năm trước . ( chuyện cái bào thai bị sẫy )

Ba Má tôi nhớ lại , vào một buổi sáng , Má tôi đi tiểu ngoài hàng rào keo cách xa nhà chừng vài chục thước sát bờ ruộng ; trong lúc bà mang thai ba tháng . Bà đã để lọt cái thai ra ngoài , coi như sẫy thai . Ba tôi vội lấy cái nồi gọ bằng đất , một loại nồi nhỏ chỉ nấu cơm cho một người an , bỏ cái thai trong đó và đem chôn cũng ngay gốc cây keo bà vừa tiểu .

Vì Ba tôi nghĩ rằng cái thai mới có ba tháng , còn quá nhỏ nên không quan tâm . và không hề quan tâm đến nữa . Đó là đứa em Gái kế tôi . Chuyện đã mấy chục năm , nay được một ông lạ hoắc kể ra , làm sao không làm kinh ngạc mọi người . Sau đó Ba Má tôi làm một cái “ trang “để thờ đứa nhỏ mà không để chung với bàn thờ chính giữa nhà thờ Ông Bà và đặt tên cho nó .

Em Gái tôi nói lúc nào cũng theo sát tôi để phù hộ độ mạng khi xãy ra nguy hiểm . Tôi nghe kể lại cũng thấy rợn da gà và liên tưởng tới chuyện tôi được lệnh di chuyển súng đến Căn Cứ Phượng Hoàng mà rồi đổi lệnh để cho Trung Uý Lâm Xuân Thảo chết thế không toàn thây .

Tôi nhớ đến chuyện Binh Nhứt Nguyễn Văn An đã thế chổ trong hố cá nhân của tôi để rồi thịt xương bị nổ tung và và bằm như tiết canh . Tôi thở ra và nghĩ không ngờ vẫn còn thế giới vô hình đâu đây . Tôi không biết phải làm gì với em gái tôi để gọi rằng đền ơn cứu mạng tôi . Và kể từ đó tôi rất tin tưởng CON NGƯỜI TA CHẾT ĐI VẪN CÒN LINH HỒN . cũng như tôi tin CON NGƯỜI TA SỐNG CHẾT ĐỀU CÓ SỐ .

Người chở dất cho nhà tôi sau khi báo cho Ba Má tôi biết những điều như trên thì lấy hai tay đập vô mặt mình mấy cái rồi trở lại bình thường . Ba Má tôi có hỏi “ hồi nãy giờ anh nói gì và có biết chuyện gì ? “ Ông ta nói không nhớ không biết gì hết .

Câu chuyện riêng tư của gia đình tôi thuộc về tâm linh , có thể vô lý mà nghe ra đều cho rằng huyền thoại khó có thể tin sự thực . Nhưng tôi chắc chắn 100% là sự thực . Có điều này nữa là một cái bào thai dù chỉ ba tháng tuổi , vẫn có linh hồn .

Vùng Dakto Tân Cảnh Ben Hét coi như mất luôn vào tay địch cho đến năm 1975 , chỉ còn giử được KonTum . Cũng năm ấy 1972 , Sư Đoàn 22 Bộ Binh cùng với Liên Đoàn Biệt Động Quân ồ ạt tái chiếm ba Quận Bắc Bình Định là Hoài Ân , Bồng Sơn Tam Quan , Có lúc dàn trận cả 52 khẩu đại bác trong rừng dừa Vạn An để bắn TOT ra vùng đất địch ( T O T là Time On Target ), Chỉ trong hai giờ tác xạ không ngưng nghỉ , các đồi núi trơ xuơng chỉ còn đất với đá mà không có cây cối nữa .

Pháo đội tôi chiếm đóng đồi Vạn An , Cứ sáng sáng năm giờ là Pháo Binh Địch pháo kích căn cứ tôi , mà hễ bị pháo kích là bắt buộc phải phản pháo . Tôi chạy ra khẩu đội ra lệnh phản pháo thì lính mới dám ngóc đầu lên vì địch pháo rát quá . . Tôi đứng ngay giữa hai càng súng ra lệnh nạp đạn trực xạ vì súng địch chỉ cách chừng 1000 mét Một quả đạn súng cối 82 ly của địch rớt xuyên qua làm rách áo giáp và xẽ nát thịt bắp đùi người xạ thủ nạp đạn rồi rớt xuống trước mặt tôi mà không nổ . Người lính ngã xuống . May mắn , nếu quả đạn ấy nổ thì tôi cũng banh xác rồi .

Vào thời điểm đầu tháng 3 năm 1975 Cộng quân đã chiếm Ban mê Thuột , sau đó cắt đứt quốc lộ 19 từ Pleiku xuống Qui Nhơn , Pháo đội tôi đóng tại chân đèo Mang Giang gần Lăng Mai Xuân Thưởng . Chúng pháo kích suốt ngày đêm để khống chế đơn vị tôi không cho yểm trợ Trung Đoàn Bộ Binh . Những chuyến xe tiếp tế đạn 105 ly dồn dập mỗi ngày có tới 20 chiếc , một lần tôi leo lên chiếc GMC đứng trên 200 thùng đạn đại bác để kiểm soát số đạn chở đến bị sai loại đạn , những quả 82 ly của địch rót đến tới tấp , có một quả rơi ngay dưới chân tôi và nằm trên những thùng gổ đạn 105 mà không nổ . Thật là huyền diệu , và may mắn
.
Những ngày cuối cùng của Phù Cát Bình Định , tôi bị một quả B40 bắn trúng chiếc xe tôi trước khi qua cầu . Xe trúng đạn lật làm năm người trong xe bị thương trong đó iôi với sáu mãnh đạn B40, ( mà giờ đây sau 38 năm nó vẫn còn trong cánh tay ). Sau chừng 30 phút , một người lính bò lên băng vết thương cho tôi thì bị một viên AK , anh ta ngã xuống chết ngay .
,
Phản ứng tự nhiên của tôi , ngóc đầu lên xem từ hướng nào bắn người lính chết , tôi liền bị ba viên AK khác bắn từ sau ót xuyên ra phía trước mặt . Có cả ba lổ đạn đi vô khác nhau , nhưng chỉ có một lổ cho ba viên đạn đi ra nên nó phá cái mặt tôi khá lớn . Đây là một điều thần diệu , chỉ cần ba viên đạn ấy nhích ra một chút xiú thì sẽ chạm tới óc và chắc chắn tôi đã chết ngay . Tôi cũng tin rằng đứa em gái tôi đã cứu tôi trong giờ phút đó .

Những người lính và Sĩ Quan đơn vị khiêng tôi trên đoạn đường dài từ Cầu Cương vào phi trường Phù Cát . Khi vào bên trong phi trường , có chiếc trực thăng HU-1B , họ bằng lòng cho tôi đi trong khi phi Trường đang khói lửa ngập trời . Ông Trung Uý Pháo Đội Phó của tôi cùng người Trung Sĩ khẩu Trưởng khiêng tôi bỏ lên trực thăng đã có sẵn 34 người lính Bộ Binh trên ấy . Chiếc trực thăng cất cánh chừng 10 mét thì rớt xuống và chặt đứt đôi người trung uý pháo đội Phó và trung sĩ khẩu trưởng , vì khi khiêng tôi bỏ lên trực thăng thì vẫn còn đứng dưới đất . Cánh quạt trực thặng lúc rớt xuống đã chém. đứt đôi hai người mà không tìm thấy phần trên từ ngực bay đi đâu .

Sáng hôm sau tôi bị bắt làm tù binh , nhưng họ thấy tôi bị thương nặng quá nên bỏ tôi nằm tại chổ trong phi trường

Trong trại tù Hoàng Liên Sơn. Bắc Việt , một ngày chúa nhật nghỉ lao động , có người bạn tù lớn tuổi , cầm tay tôi coi chỉ tay và nói chắc như đinh đóng cột : “ mạng của anh rất lớn ,nhiều lần sắp chết mà không chết , vì có một vong linh của kẻ khuất mặt che chở , Nó hiện lên rành rành đây nè “ . Tôi không tin điều ấy là có thực , nhưng qua cuộc đời trong lính trãi qua những sự kiện thoát hiểm nguy như vậy làm tôi phải tin rằng điều ấy có thực .

Anh em bạn tù tối đến , vừa đói , vừa buồn , đau khổ không biết ngày nào trở về nhà , nên thường hay tổ chức kể chuyện cho quên hết đói và ưu phiền , Họ thấy tôi có những vết đạn còn mang trong người , nên hỏi thăm và bảo tôi kể chuyện “ Những Ngày Cuối Cùng cuộc Chiến của tôi “ Tôi đã kể lại tỉ mỉ câu chuyện bị thương và rớt máy bay và những ngày gjan nan sau đó . Sáng hôm sau Trên Bộ Chỉ Huy Trại Tù cho người gọi tôi lên “ làm việc “ Họ khủng bố tinh thần từ 8 giờ sang đến 5 giờ chiều với kết luận “ còn hàm ơn luyến tiếc chế độ cũ “

Từ ngày ra khỏi tù về với gia đình tôi luôn tự tin rằng số tôi không chết sớm được , và có lẽ “ Chỉ có Trời hại mới chết , người hại không chết Đây là những điều có thật tôi viết lại nhằm nói lên rằng “ Có Thê giới Vô Hình , và Con Người Ta chết có số “ Bây giờ bên VN họ phá thai nhiều quá , tôi thấy tội cho những hài nhi ấy quá chừng.

Nguyễn Trãi
Users browsing this topic
Guest
53 Pages«<515253
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.