Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

Options
View
Go to last post Go to first unread
lly (Lynn Ly)  
#1 Posted : Tuesday, July 23, 2013 4:38:40 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG


Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

Edited by user Monday, October 14, 2013 5:38:17 PM(UTC)  | Reason: Not specified

"Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



lly (Lynn Ly)  
#2 Posted : Tuesday, July 23, 2013 4:39:47 PM(UTC)
lly (Lynn Ly)

Rank: Advanced Member

Groups: Y Học Đời Sống, Registered
Joined: 4/5/2011(UTC)
Posts: 5,336

Thanks: 2457 times
Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
(EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


BS NGUYỄN VĂN THỊNH

NHẬP ĐỀ
NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA NGỪNG TIM-HÔ HẤP
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM Ở TRẺ EM


Quote:
Những mục tiêu


Cuối chương này, các bạn hẳn có thể :
  • Thảo luận và so sánh căn nguyên của ngừng tim-hô hấp của trẻ em và người lớn.
  • Thảo luận tiên lượng của ngừng tim nguyên phát và thứ phát.
  • Biết những đặc điểm cơ thể học, sinh lý và thần kinh của nhũ nhi và trẻ em.


I. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA NGỪNG TIM HÔ HẤP

Những nguyên nhân của ngừng tim-hô hấp của trẻ em không giống với người lớn do những khác nhau về sinh lý học, cơ thể học và bệnh lý học. Những khác nhau này thay đổi trong thời kỳ tăng trưởng, thời kỳ sơ sinh, vào tuổi ấu thơ (bao gồm tuổi thiếu niên) và cho đến tuổi trưởng thành.

Ngừng tim nguyên phát do một loạn nhịp tim loại rung thất hay tim nhịp nhanh thất vô mạch là thường xảy ra hơn ở người lớn. Sự xuất hiện đột ngột và không tiên đoán được, phản ánh bệnh tim nội tại. Khử rung sớm là điều trị của rung thất. Mỗi phút mất di trước khi khử rung làm giảm những khả năng trở lại một tuần hoàn ngẫu nhiên 10%.

Ngừng tim thứ phát thường xảy ra hơn ở trẻ em và phản ánh một quá trình tận cùng khi bệnh nguyên không được kiểm soát. Nhịp trước tận cùng (rythme préterminal) thường xảy ra nhất là tim nhịp chậm dẫn đến vô tâm thu hay hoạt động điện vô mạch.

Những nhịp này không phải do một bệnh của tim nhưng do một chức năng tim bất bình thường, hậu quả của một giảm oxy mô (hypoxie tissulaire) nghiêm trọng dẫn đến một loạn năng cơ tim (dysfonction myocardique). Điều này có thể là do một suy hô hấp với oxygénation không thích đáng hay một hạ huyết áp do một bất túc tuần hoàn. Lúc khởi đầu, cơ thể thực hiện một đáp ứng sinh lý thích ứng nhằm bảo vệ tim và não bộ khỏi tình trạng giảm oxy mô, dẫn đến một tình huống suy hô hấp hay tuần hoàn bù (insuffisance respiratoire ou circulatoire compensée).Tuy nhiên, cơ thể cuối cùng bị kiệt quệ.

Đó là giai đoạn suy hô hấp hay tuần hoàn mất bù (insuffisane respiratoire ou circulatoire décompensée) tùy theo nguyên nhân gây bệnh. Hai loại suy hô hấp và tuần hoàn có thể hiện diện đồng thời. Khi tình huống trở nên nghiêm trọng, suy hô hấp và/hoặc tuần hoàn dẫn đến suy tim-hô hấp và sau đó dẫn đến ngừng tim-hô hấp (bảng 1).

UserPostedImage

Bảng 1. Những hậu quả của một suy hô hấp hay tuần hoàn tiến triển không được điều trị ở nhũ nhi và trẻ em.


II. TIÊN LƯỢNG

Tiên lượng của hồi sinh khi ngừng tim-hô hấp là u tối, nhất là nếu ngừng kéo dài. Sự nhận biết những tình huống đi trước ngừng tim-hô hấp và sự điều trị nó một cách thích đáng là thiết yếu. Sự nhận biết và hồi sinh một đứa bé ngừng hô hấp (giai đoạn cuối cùng của suy hô hấp mất bù) mà tim vẫn đập được liên kết với một tỷ lệ sống còn lâu dài 50 đến 70% trong khi tỷ lệ sống sót không di chứng thần kinh của một đứa bé ngừng tim hô hấp là dưới 5%. Những nguyên nhân của các bệnh của trẻ em so với những bệnh của người lớn phải được đặt tương quan với những khác nhau về sinh lý và cơ thể học.Những khác nhau này hàm ý một trình tự ưu tiên điều trị căn cứ trên A
  • đường dẫn khí (với sự bất động cột sống cổ trong chấn thương Ac), B-hô hấp (Breathing), C-tuần hoàn và D-trạng thái tâm thần (Disability). Phương tiện để nhớ ABCD chỉ ưu tiên dành cho những giai đoạn chủ yếu của xử trí về mặt đánh giá và điều trị, có thể áp dụng cho tất cả các trẻ em. Phương pháp này cho phép cứu sống.

    III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẺ EM

    A. ĐƯỜNG DẪN KHÍ.

    1. MŨI VÀ HẦU

    Vào lúc sinh, nắp thanh môn (épiglotte) nằm ở mức cột sống cổ thứ nhất, nghĩa là nằm cao và rất về phía trước. Vì lý do này đường dẫn khí đặc biệt dễ bị tắc do đè ép bên ngoài của các mô mềm.

    Nhũ nhi bắt buộc phải thở bằng mũi cho đến 6 tháng tuổi. Do đó, năng lực mà nó có thể tiêu xài khi bị tắc mũi (ví dụ do những chất tiết vì bị nhiễm trùng hô hấp) có thể đáng kể và dẫn đến suy hô hấp. Những lý do cơ học như atrésie des choanes, tắc gây nên bởi một ống thông mũi-dạ dày hay do sparadrap làm tắc các lỗ mũi, có thể gây nên một chướng ngại đáng kể đối với không khí đi qua mũi.

    2. TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẦU VÀ CỔ.

    Về mặt tỷ lệ, đầu của trẻ sơ sinh là lớn so với thân mình của nó. Được kết hợp với một xương chẩm tương đối dô ra, nên ở tư thế nằm đầu có khuynh hướng gập lên cổ, điều này dẫn đến tắc thanh quản, vốn mềm mại. Tuổi càng lớn, về mặt tỷ lệ, đầu càng trở nên nhỏ hơn so với ngực và cổ dài ra, và thanh quản trở nên đề kháng hơn với áp lực bên ngoài. Mặt và miệng của nhũ nhi vì hẹp so với lưỡi có kích thước lớn, nên lưỡi làm tắc dễ dàng đường khí của đứa bé trong tình trạng mất tri giác. Sàn miệng dễ đè ép, điều này có thể gây nên tắc đường khí nếu ta không áp dụng những biện pháp thận trọng khi mở đường khí.

    3. THANH QUẢN

    Ở nhũ nhi thanh quản nằm cao so với thanh quản của người lớn (ở người lớn thanh quản nằm ở mức các đốt sống cổ thứ 5 hay 6). Nắp thanh môn (épiglotte) cong hình chữ U lồi ra trong hầu với một góc 45 độ ; các dây thanh âm ngắn.

    Dưới 8 tuổi, phần hẹp nhất của thanh quản là sụn nhẫn (cartilage cricoide) trong khi sau 8 tuổi, thanh quản có hình trụ cho đến tận các phế quản gốc.

    Những đặc điểm cơ thể học này có những hàm ý về thực hành sau đây :
    • Các thủ thuật khai tắc một vật lạ có thể thất bại ở trẻ em nhỏ tuổi bị tắc đường dẫn khí một phần, với nguy cơ biến đổi tắc một phần thành tắc hoàn toàn. Vật lạ có thể kẹt vào phần hẹp nhất của thanh quản, nghĩa là ở mức sụn nhẫn.
    • Khi đưa vào lưỡi đèn thanh quản, việc kiểm soát lưỡi tương đối lớn có thể khó khăn và sự xê dịch của lưỡi về phía sau có thể gây tắc đường dẫn khí do vị trí cao của nắp thanh môn và thanh quản.
    • Vị trí đầu (position céphalique) của thanh quản tạo một góc nhọn giữa khẩu hầu và thanh môn (glotte). Điều này làm cho việc nhìn trực tiếp thanh môn khó khăn với một đèn soi thanh quản. Do đó để nhìn dễ dàng hơn, hãy dùng một lưỡi thẳng (lame droite) hơn là một lưỡi cong (lame courbe).
    • Việc đưa vào ống thông khí quản có thể bị trở ngại bởi commissure trước của các dây thanh âm, nằm cao hơn so với commissure postérieure.
    • Một ống thông khí quản không có quả bóng có thể được sử dụng ở trẻ em dưới 8 tuổi vì lẽ kích thước của ống thông được xác định bởi phần hẹp nhất của đường khí, nghĩa là ở mức vòng sụn nhẫn. Một ống thông có kích thước đúng đắn cho phép đóng kín vùng sụn nhẫn, điều này cho phép thông khí áp lực dương mà không quá gây rò quanh ống thông. Một ống thông khí quản quá nhỏ gây nên rò khí, liên kết với một sự thông khí không hiệu quả. Cho đến cách nay ít lâu, các ống thông có quả bóng (sonde à ballonnet) bị chống chỉ định ở trẻ em dưới 8 tuổi. Tuy nhiên người ta đã chứng minh rằng khi ống thông có quả bóng có kích thước thích đáng và khi áp suất quả bóng được theo dõi, nó có thể được sử dụng ở trẻ nhỏ (xem chương 3)

    Đường dẫn khí của trẻ em và nhũ nhi hẹp hơn so với đường dẫn khí của người lớn. Do đó nhũ nhi đặc biệt nhạy cảm với phù nề. Đường kính tuyệt đối của đường dẫn khí cũng nhỏ hơn, các nhiễm trùng hô hấp gây nên một tỷ lệ tử vong quan trọng hơn ở các trẻ em so với người lớn. Các hậu quả của phù nề có thể hiểu được do áp dụng định luật Poiseuille. Định luật này đặt sự liên hệ giữa sức cản của một khí lưu thông trong ống với chiều dài của nó, viscosité của chất khí và đường kính ống dẫn theo công thúc sau đây :

    UserPostedImage


    Một sự giảm nhẹ đường kính của đường dẫn khí có một ảnh hưởng quan trọng lên lưu lượng oxy và CO2 qua hệ hô hấp.

    B. HÔ HẤP

    Các lá phổi không được thành thục vào lúc sinh với một interface khí-phế nang 3m2 so với 70m2 ở người lớn. Số lượng những đường dẫn khí nhỏ gia tăng 10 lần giữa lúc sinh và tuổi trưởng thành. Vào lúc sinh, sự mở của các phế nang của một trẻ sơ sinh sinh non có thể bị biến đổi bởi một thiếu hụt surfactant. Sự cho surfactant ngoại tại có thể cho phép mở các phế nang và sau đó việc duy trì sự mở này có thể cần thiết.

    Cơ học thông khí (mécanique ventilatoire) thay đổi với tuổi tác. Ở nhũ nhi, các xương sườn có thể uốn nắn và các cơ gian sườn tương đối yếu và không hiệu quả so với cơ hoành. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong động lực học hô hấp (dynamique respiratoire) của trẻ nhỏ. Cơ hoành là cơ chủ yếu của thông khí nhũ nhi và cử động của nó về phía dưới lúc thở vào kéo ngực về phía bụng điều này tạo nên một effet de vide cho phép mang không khí vào đường hô hấp trên và trong hai lá phổi. Những chướng ngại vật lý đối với sự co cơ hoành có thể có nguồn gốc ở bụng (căng trướng dạ dày, tràn khí phúc mạc, tắc ruột) hay nguồn gốc ở phổi (tăng phồng trong trường hợp viêm tiểu phế quản, hen phế quản hay hít vào một vật lạ) và có thể dẫn đến một thông khí không có hiệu quả.

    Ở trẻ lớn hơn, các cơ gian sườn được phát triển hơn và góp phần một cách đáng kể vào cơ học thông khí ; các xương sườn cốt hóa và biến hóa thành một cấu trúc cứng, trở nên đề kháng hơn trong trường hợp détresse respiratoire. Có thể có một co rút gian sườn và ức quan trọng ở trẻ nhỏ trong trường hợp suy hô hấp, trong khi co rút này không quan trọng ở trẻ lớn hơn.

    C. TUẦN HOÀN

    Thể tích lưu thông của một trẻ sơ sinh là 80ml/kg và giảm với tuổi để đạt 60-70 ml/kg ở người lớn. Đối với một trẻ sơ sinh 3kg, thể tích này là 240 ml ; ở 6 tháng tuổi với một trọng lượng 6kg, thể tích lưu thông là 480 ml. Vì lẽ thể tích lưu thông bé, các trẻ rất nhạy cảm với sự mất nước. Do đó không lấy làm ngạc nhiên khi những trường hợp ỉa chảy giết chết mỗi năm hàng triệu trẻ em trên thế giới.

    D. TRẠNG THÁI TÂM THẦN

    Một trong những khó khăn mà ta có thể gặp với trẻ rất nhỏ là nó không thể diễn tả những xúc cảm của nó. Do đó, khi ta điều trị một trẻ bệnh hay bị thương, điều rất quan trong là đến với nó với sự cảm thông và tử tế. Không phải là khó lắm khi tưởng tượng một đứa bé có thể hoảng sợ như thế nào khi nó bị bệnh và khi bố mẹ bi căng thẳng đem nó đến bệnh viện, trong một môi trường xa lạ hay những người lạ mang lại cho nó những điều không thoải mái. Sự nhận thức làm giảm sự sợ hãi. Điều quan trọng là hãy giải thích rõ ràng những điều một cách trực tiếp cho đứa trẻ. Nếu có thể những lời giải thích phải được thực hiện bằng một ngôn ngữ dễ hiểu đối với đứa bé. Bố mẹ phải có thể được ở gần con mình, ngay cả trong khi hồi sinh ; sự hiện diện của họ trong điều trị cho phép làm giảm sự e sợ, stress và sự lo âu của đứa bé và của bố mẹ của nó.

    Năng lực diễn đạt của đứa bé được cải thiện khi lớn lên. Tuy nhiên phải nhớ rằng trong tình huống stress, lo âu hay đau đớn, đứa bé có thể thoái lui. Phải xét đến điều đó khi đánh giá thần kinh đứa bé. Vì lẽ trạng thái còn non nớt về mặt diễn đạt trước 5 tuổi, thang điểm Glasgow được biến đổi đối với lứa tuổi này.

    E. TUỔI VÀ TRỌNG LƯỢNG

    Đứa trẻ khác với người lớn vì tầm vóc nhỏ thay đổi với tuổi. Chính vì thế ở đứa trẻ trọng lượng quan trọng vì lẽ các loại thuốc được cho tùy theo trọng lượng cơ thể.

    Trong tình huống cấp cứu, ta không có thời gian để cân đứa bé. Công thức sau đây cho phép đánh giá gần đúng trong lượng của đứa bé tùy theo tuổi tính bằng số năm (giữa 1 và 10 tuổi).

    Trọng lượng (kg) = 2 x (tuổi tính bằng số năm + 4)

    Có những giải pháp khác thí dụ règle de Broselow. Thước này đo kích thước của đứa bé và suy ra trọng lượng của nó. Đối diện với trọng lượng của đứa bé được chỉ những liều lượng của các loại thuốc cấp cứu được tính theo trọng lượng này. Kích thước của các thiết bị khác nhau, có thể cần thiết, được chỉ tùy theo trọng lương. Những thước chính xác hơn những công thức để đánh giá trọng lượng của đứa bé. Dầu thế nào đi nữa, và dầu phương pháp được lựa chọn là gì, điều quan trọng, đó là người chăm sóc phải đủ quen với phương pháp này để có thể áp dụng nó một cách nhanh chóng và hiệu quả.

    IV. NHỮNG NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA TỬ VONG.

    Trong thời kỳ sơ sinh, các bất thường bẩm sinh là nguyên nhân thông thường nhất của tử vong, tiếp theo bởi những tai biến chu sinh và sau đó bởi chết đột ngột của nhũ nhi. Ở nhũ nhi, các bất thường bẩm sinh vẫn là nguyên nhân gây tử vong đầu tiên, tiếp theo bởi các bệnh hô hấp và tim mạch, các nhiễm trùng và các chấn thương. Nguyên nhân thông thường nhất gây tử vong ở trẻ em lứa tuổi trước học đường là chấn thương, tiếp theo sau bởi những bất thường bẩm sinh, các bệnh tim mạch và ung thư. Chấn thương là nguyên nhân đâu tiên gây tử vong (gấp đôi ung thư) ở trẻ em lứa tuổi học đường. Ở thiếu niên và thanh niên (giữa 15 và 24 tuổi), tự tử và những vết thương do chính thiếu niên gây nên là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ; giết người là nguyên nhân thứ ba.

    Những nguyên nhân của tử vong thay đổi đối với tuổi. Do đó điều quan trọng là xác lập những sơ đồ phòng ngừa. Những sơ đồ phòng ngừa này gồm ba điều : giáo dục, biển đổi môi trường và tăng cường pháp lý về an toàn. Mọi nhân viên điều trị có thể tham gia vào sự cải thiện của phòng ngừa những tai nạn : phòng ngừa nguyên phát (thí dụ phòng ngừa những tai nạn bằng cách sử dụng đồ dùng an toàn trong những khu vực chơi) ; phòng ngừa thứ phát (giảm những hậu quả của tai nạn thí dụ bằng cách khuyến khích đội casque ở những trẻ đi xe đạp) và phòng ngừa tam phát (giảm những hậu quả của sự cố bằng cách cải thiện appel de service de secours sau tai nạn ; thí dụ bằng cách tham gia vào một cours như RANP-EPLS)

    Sự phòng ngừa tam phát được minh họa bởi chaine de survie, có mục đích cung cấp những điều trị cấp cứu tốt nhất một cách phối hợp.

    Chaine de survie
    Mắt xích 1 : Nhận biết sớm và gọi cứu
    Mắt xích 2 : Hồi sinh tim-phối sớm để lợi thời gian
    Mắt xích 3 : Khử rung sớm để phát khởi tim trở lại
    Mắt xích 4 : Hồi sinh sau ngừng tim để cải thiện tiên lượng.


    UserPostedImage


    Chaine de vie của Hội đồng hồi sinh châu Âu (ERC) có thể được áp dụng cho đứa bé. Mắt xích đầu tiên nhằm nhận biết vấn đề của đứa bé (thường nhất là một suy hô hấp hay tuần hoàn) và gọi giúp đỡ (sau một phút hồi sinh tim phổi ở đứa bé) ; mắt xích thứ hai nhằm bắt đầu một hồi sinh cơ bản sớm ; mắt xích thứ ba nhằm có thể khử rung sớm khi cần thiết và mắt xích cuối cùng nhằm hồi sinh sau ngung tim để bảo vệ não.

    CHẾT ĐƯỢC DỰ KIẾN VÀ CHẾT BẤT NGỜ

    Ta có thể đứng trước một đứa trẻ mà tình huống làm cho những thủ thuật hồi sinh không thích hợp. Đứa trẻ này và gia đình của nó phải được xử trí với lòng trắc ẩn bởi một kíp được đào tạo soins palliatifs.

    Cái chết của một đứa bé là một lúc âu lo và căng thẳng đối với bố mẹ, những người thân cũng như đối với kíp điều trị có can dự vào. Điều quan trọng là kíp điều trị này có thể tiếp cận một buổi debriefing sau cái chết để có thể diễn đạt những cảm xúc và tình cảm được cảm thấy khi điều trị đứa bé. Mọi thành viên của một kíp điều trị phải có khả năng gọi giúp đỡ hay yêu cầu những lời khuyên ở các đồng nghiệp, những référent hay những thầy thuốc tâm lý.

    Vài tuần sau khi đứa bé qua đời, bố mẹ phải được mời gặp thầy thuốc chịu trách nhiệm điều trị đứa bé. Điều đó cho phép bố mẹ có những câu trả lời cho những câu hỏi vẫn chưa được giải quyết của họ và nhận những kết quả của những thăm dò hay những bệnh phẩm được thực hiện lúc đứa trẻ chết.

    Điều quan trọng là bố mẹ cảm thấy rằng những điều trị tốt nhất đã được cho con họ mặc dầu sự hồi sinh đã thất bại. Một xử trí sớm dựa trên phương pháp ABD làm giảm số những trường hợp tử vong bất ngờ. Đào tạo RANP (Réanimation Avancée Néonatale & Pédiatrique)
  • EPLS (European Pediatric Life Support) có mục đích cung cấp những điều trị tốt nhất cho các em bé.

    Quote:
    Những điểm chủ yếu

    • Ngừng tim hộ hấp thứ phát thường gặp nhất ở trẻ em và là biến cố tận cùng của một bệnh hay một thương tổn.
    • Sự nhận biết và phương pháp cơ cấu hóa ABCD của đứa bé bị bệnh ngăn ngừa sự tiến triển về hướng ngừng tim hô hấp.
    • Đường dẫn khí, hô hấp, tuần hoàn, và tình trạng thần kinh có những đặc điểm khác ở đứa bé so với người lớn.
    • Sự phòng ngừa nguyên phát (phòng ngừa tai nạn), phòng ngừa thứ phát (giới hạn những hậu quả của tai nạn) và phòng ngừa tam phát (xử trí tốt nhất của cấp cứu) phải được hướng về những nguyên nhân đặc hiệu của tử vong tùy theo tuổi.


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (23/7/2013)


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)
  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #3 Posted : Saturday, July 27, 2013 10:39:19 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG I
    NHẬN BIẾT TRẺ BỊ BỆNH NẶNG
    (RECONNAÎTRE L’ENFANT GRAVEMENT MALADE)


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn hẳn có khả năng :
    • Mô tả và nhận biết đứa trẻ bị bệnh nặng
    • Nhận biết và thảo luận chức năng hô hấp bình thường và bất bình thường.
    • Nhận biết và thảo luận chức năng tuần hoàn bình thường và bất bình thường
    • Định nghĩa choáng
    • Biết những ưu tiên điều trị đứa trẻ bị bệnh nặng.


    PHẦN I


    Tiên lượng của ngừng tim hô hấp cua đứa trẻ là u tối. Chẩn đoán sớm và điều trị thích đáng đứa trẻ bị bệnh nặng cho phép làm ngừng sự tiến triển về ngừng tim hô hấp và làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh của những tình huống này.

    Chương này mô tả thực hiện như thế nào một đánh giá nhanh chóng một đứa trẻ cũng như những triệu chứng và những dấu hiệu lâm sàng liên kết với suy hô hấp và tuần hoàn (choáng), cả hai có thể dẫn đến ngừng tim hô hấp.

    Sự nhận diện đứa trẻ bị bệnh nặng và sự xử trí theo những nguyên tắc ABC :

    A = Airway (đường dẫn khí)
    B = Breathing (Thở)
    C = Tuần hoàn

    Ta cho thể thêm D vào ABC. D thay thế cho chữ disability (những rối loạn về tình trạng tri giác). Sự đánh giá tình trạng tri giác bổ sung sự đánh giá suy hô hấp và tuần hoàn.

    I. NHẬN BIẾT SUY HÔ HẤP

    1. CHỨC NĂNG HÔ HẤP BÌNH THƯỜNG.

    Một chức năng hô hấp bình thường đòi hỏi những chuyển động khí đi vào và đi ra khỏi hai lá phổi cũng như những trao đổi oxy và CO2 ở màng phế nang-mao mạch.

    Sự thông khí phút (ventilation minute) (yếu tố quyết định chính của trao đổi CO2) tùy thuộc đồng thời thể tích lưu thông (volume courant) (thể tích khi mỗi lần hô hấp) và tần số hô hấp.

    Quote:
    Thông khí phút = Thể tích lưu thông x Tần số hô hấp


    Một hô hấp bình thường đòi hỏi một cố gắng tối thiểu. Tần số hô hấp thay đổi theo tuổi, sự kích động, sự lo âu hay sốt. Tiến triển của các tần số hô hấp theo thời gian là một tham số tốt hơn một trị số riêng rẻ của tần số hô hấp. Thể tích lưu thông (Vc) vẫn không thay đổi trong suốt cuộc đời với một trị số từ 7 đến 9 ml/kg. Thể tích hô hấp có thể được đánh giá về chất lượng bằng cách thính chẩn phổi (sự đi vào của không khí trong tất cả các vùng của phổi) và những cử động của lồng ngực trong khi thở.

    UserPostedImage

    2. NHỮNG CƠ CHẾ CỦA SUY HÔ HẤP.

    Suy hô hấp cấp tính có thể được gây nên bởi tất cả các bệnh lý ảnh hưởng lên những chuyển động khí đi vào và đi ra khỏi phổi, do đó làm biến đối sự thải CO2 (sự thông khí) và/hoặc ảnh hưởng lên sự trao đổi khí ở màng phế nang-mao mạch (oxygénation).

    Sự thất bại duy trì thông khí phút (ventilation minute) (giảm thông khí phế bào) được liên kết với một sự gia tăng PaCO2. Điều này có thể được gây nên bởi một sự giảm của tần số hô hấp (thí dụ ngộ độc nha phiến) hay do một sự giảm của thế tích lưu thông (volume courant) (thí dụ tắc đường dẫn khí hay bệnh lý thần kinh cơ).

    Sự biến đổi của các trao đổi khí ở màng phế nang-mao mạch nói chung là do sự tích tụ dịch trong các phế nang. Sự biến đổi này được liên kết với một sự giảm PaO2 và một sự gia tăng độ cứng của phổi, nghĩa là giảm độ dẻo (compliance) của phổi. Sự giảm PaO2 kích thích trung tâm hô hấp và làm gia tăng tần số hô hấp. Công hô hấp gia tăng do sự gia tăng của tần số hô hấp và mức độ cứng của phổi.

    Dấu hiệu xanh tía trung tâm (cyanose) xuất hiện khi độ bảo hòa oxy dưới 80%, chỉ rằng hémoglobine không bảo hòa dưới 5g/dl. Sự vắng mặt của triệu chứng xanh tía đặc biệt ở những bệnh nhân thiếu máu không hàm ý một oxygénation bình thường. Sự gia tăng PaCO2 có thể được kèm theo tim nhịp nhanh, co mạch và mạch nhảy nhưng những dấu hiệu này không đáng tin cậy.

    Các tần số hô hấp bất thường được xếp loại thành những tần số quá nhanh (thở nhịp nhanh, tachypnée), quá chậm (thở nhịp chậm, bradypnée) và vắng mặt (ngừng thở, apnée). Thở nhịp nhanh và thở nhịp chậm có thể được kèm theo bởi suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire). Suy kiệt hô hấp là một hội chứng lâm sàng, phản ảnh một sự gia tăng công hô hấp, thường được liên kết với một cố gắng làm gia tăng thể tích lưu thông.

    3. TÌNH TRẠNG HÔ HẤP BÙ

    Các cơ chế bù gồm có sự gia tăng tần số hô hấp khi thể tích lưu thông bị giảm hay một sự gia tăng thể tích lưu thông khi tần số quá chậm. Suy hô hấp cũng được liên kết với một sự gia tăng của lưu lượng tim (chủ yếu bởi một tần số tim nhanh hơn) nhằm cải thiện những trao đổi khí và sự thông máu mô.

    Những dấu hiệu của suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire) :
    • Sử dụng các cơ phụ.
    • Sự gia tăng tần số hô hấp.
    • Sự gia tăng tần số tim.

    Tình trạng tăng thán huyết (hypercapnie) (gia tăng nồng độ CO2 động mạch) và/hoặc giảm oxy mô (hypoxie) phản ánh sự mất khả năng của đứa bé để bù bệnh hô hấp.

    4. SUY HÔ HẤP

    Trên quan điểm sinh lý, suy hô hấp (insuffisance respiratoire) thường được định nghĩa như là " sự bất túc của hệ hô hấp trong sự duy trì một paO2 > 60 mmHg (= 9 kPa) đối với 21% FiO2 ” (điều này tương ứng với một SpO2 khoảng 90%) hay bất túc trong sự duy trì một PaCO2 < 60 mmHg (= 9 kPa) ”. Có được một khí huyết động mạch không phải luôn luôn dễ dàng và đôi khi không đáng tin cậy ở đứa bé. Ngoài ra, một đứa bé trong tình trạng suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire) có thể có khả năng duy trì những trị số bình thường của khí huyết động mạch bằng cách làm gia tăng những cố gắng hô hấp. Điều quan trọng là phải đánh giá xem tình hình hô hấp có ổn định không hay sự mất bù có sắp tiến về suy hô hấp hay không.

    Trên quan điểm thực hành, suy hô hấp bù hay mất bù không được xác định bởi phân tích khí huyết nhưng bởi những thăm dò lâm sàng. Sự đánh giá này đòi hỏi phải biết những triệu chứng và dấu hiệu của suy hô hấp. Khi các cơ chế bù bị vượt quá, sự suy thoái xảy ra rất nhanh và một ngừng tim-hô hấp phải được xét đến.

    Những dấu hiệu xác định suy hô hấp mất bù là sự giảm tình trạng tri giác, sự giảm trương lực (hypotonie), sự giảm gắng sức hô hấp, xanh tía và xanh tái cực kỳ mặc dầu được cho oxy, vã mồ hôi và tim nhip chậm.

    II. ĐÁNH GIÁ TRẠNG THÁI HÔ HẤP : A VÀ B

    A. AIRWAY = ĐƯỜNG DẪN KHÍ (VOIES RESPIRATOIRES)

    Để đảm bảo những chuyển động thích đáng của khí vào trong phổi và do đó một sự thông khí phút (ventilation minute) thích đáng, đường dẫn khí của trẻ em phải được thông suốt và an toàn. Nếu đường dẫn khí có nguy cơ và không được đảm bảo an toàn, chúng có thể trở nên bị tắc (thí dụ ở một đứa trẻ bất tỉnh thở tự nhiên, lưỡi có thể bị xê dịch ra phía sau trong xoang miệng và gây tắc đường dẫn khí).

    Để cải thiện khí đi vào, đứa trẻ, mà đường dẫn khí bị tắc một phần hay hoàn toàn, gia tăng tần số hô hấp và công hô hấp. Khi đánh giá tình trạng thông thương của đường khí, phải ghi nhớ rằng sự hiện diện của những cử động của lồng ngực không hàm ý rằng đường khí thông thương. Phải đánh giá sự đi vào của không khí bằng cách nghe và cảm thấy những chuyển động khí và những tiếng thở.

    B. BREATHINH = SỰ HÔ HẤP (RESPIRATION)

    1. TẦN SỐ HÔ HẤP

    Ở trẻ sơ sinh, thở nhịp nhanh (tachypnée) có thể là dấu hiệu đầu tiên của suy hô hấp. Thở nhịp nhanh không có suy kiệt hô hấp (thở nhịp nhanh bình yên) có thể có một nguyên nhân không phải do phổi (thí dụ trong choáng, acidocétose diabétique, ngộ độc bởi salicylate hay suy thận).

    Những biến đổi của tần số hô hấp theo thời gian là quan trọng. Một sự gia tăng tần số hô hấp thể hiện một sự bù sinh lý của một sự suy thoái của chức năng hô hấp. Một sự giảm đột ngột của tần số hô hấp ở một đứa trẻ đau nặng rất là có ý nghĩa và có thể là một biến cố trước tận cùng (un événement pré-terminal). Những nguyên nhân của giảm tần số hô hấp có thể hoặc là hạ thân nhiệt, hoặc là một sự suy giảm của hệ thần kinh trung ương hoặc là mệt. Phải luôn luôn xét đến sự suy kiệt (épuisement) : một đứa bé có một tần số hô hấp 80/phút mệt rất nhanh và sự giảm đột ngột tần số hô hấp là một dấu hiệu báo động.

    2. CÔNG HÔ HẤP

    Sự gia tăng của công hô hấp được thể hiện bởi sự tăng cao của tần số hô hấp, của co kéo liên sườn (rétraction intercostale), trên ức và dưới sườn, sự sử dụng các cơ phụ (các cánh mũi phập phồng, những cử động giật của đầu, co kéo mũi ức). Những dấu hiệu này hiện diện trong những bệnh lý hô hấp như tắc đường dẫn khí hay các bệnh lý phế bào. Để đáp ứng với sự gia tăng của công hô hấp, một phần quan trọng hơn của lưu lượng tim được chuyển về các cơ hô hấp với một sự gia tăng thứ phát của sự sản xuất CO2. Khi công hô hấp vượt quá khả năng vận chuyển oxy đến các cơ hô hấp, nhiễm toan hô hấp biến chứng thành nhiễm toan chuyển hóa (tương ứng với sự gia tăng của nồng độ acide lactique).

    a. Co kéo (tirage).

    Co kéo dễ được quan sát ở nhũ nhi và trẻ nhỏ tuổi vì tính dẻo (compliance) cao của lồng ngực. Tầm quan trọng của nó cho một chỉ dẫn về mức độ nghiêm trọng của suy kiệt hô hấp. Ở trẻ em trên 5 tuổi, lồng ngực ít đàn hồi hơn và co kéo chứng tỏ một sự biến đổi nghiêm trọng của chức năng hô hấp.

    b. Các cử động giật của đầu (bobbing : đầu gật gù) và balancement thoraco-abdominal.

    Khi công hô hấp gia tăng, các cơ ức đòn chũm có thể được sử dụng như các cơ phụ. Ở nhũ nhi, điều này gây nên một cử động ra trước và ra sau của đầu mỗi lần thở, điều này làm giảm tính hiệu quả của sự thông khí.

    Balancement thoraco-abdominal là một cử động nghịch lý của bụng. Trong khi thở vào, trong lúc cơ hoành co lại : bụng căng ra và lồng ngực thu rút lại. Hô hấp trở nên không hiệu quả, vì thể tích lưu thông bị giảm đối với một cố gắng cơ gia tăng.

    UserPostedImage

    Suy hô hấp mất bù một đứa trẻ có một suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire) (co kéo gian và dưới sườn, co kéo mũi uc và cánh mũi phập phồng) và một sự giảm tiếp xúc với người điều trị

    c. Những tiếng thở vào và thở ra.

    Bình thường, đường dẫn khí ngoài ngực hẹp lại và những đường dẫn khí trong ngực giãn ra trong giai đoạn thở vào của hô hấp. Tình huống này đảo ngược trong giai đoạn thở ra.

    Quan sát xem những tiếng thở bất thường có xảy ra trong giai đoạn thở vào hay thở ra, có thể cho phép xác định nơi tắc nghẽn đường dẫn khí. Một tiếng thở vào âm cao (tiếng thở rít : stridor) là đặc trưng của một tắc không hoàn toàn của đường hô hấp trên (ngoài ngực). Tiếng thở rít là do sự đi qua nhanh và chảy rối của không khí qua một phần hẹp của đường hô hấp trên. Tiếng rít hai thì (thở vào và thở ra) là đặc trưng cho một tắc đường dẫn khí ở phần trên của khí quản. Khi tắc nằm ở phần thấp của khí quản, tiếng rít ở thì thở ra. Tiếng thở khò khè (wheezing) là một tiếng thở ra kèm theo một thì thở ra kéo dài. Tiếng thở khò khè có thể nghe thấy bằng tai hay thính chẩn. Tiếng thở khò khè là một dấu hiệu tắc phế quản hay tiểu phế quản (trong ngực). Tiếng này trở nên mạnh hơn khi đường hô hấp càng hẹp và khi sự đi qua của không khí càng giảm. Tiếng thở khò khè giảm có thể là dấu hiệu của một tắc hoàn toàn hay sự kiệt quệ của đứa bé, cũng như là dấu hiệu của một sự cải thiện.

    d. Thở rên (grunting)

    Thở rên (geignement expiratoire = grunting) được gặp chủ yếu ở các trẻ sơ sinh nhưng cũng có ở các nhũ nhi hay những trẻ nhỏ. Tiếng động này được gây nên do thở ra chống lại một thanh môn đóng lại một phần nhằm tạo nên một áp suất dương cuối thời kỳ thở ra (PEP) để giữ gìn hay làm gia tăng capacité résiduelle fonctionnelle. Thở rên được nghe ở những bệnh nhân mà bệnh gây nên xẹp phế nang và mất thể tích phổi (phù phổi, viêm phổi, xẹp phổi hay hội chứng SDRA). Nó cũng được mô tả trong những bệnh của đường hô hấp trên và dưới, các viêm cơ tim, các nhiễm trùng nghiêm trọng (nhiễm trùng huyết, viêm màng não) và trong trường hợp tắc ruột. Thở rên là một chứng cớ của một bệnh nặng.

    3. THỂ TÍCH LƯU THÔNG : TÍNH HIỂU QUÁ CỦA SỰ THÔNG KHÍ

    Sự nở của lồng ngực có thể được đánh giá bằng thị chẩn, ấn chẩn, đả chẩn và thính chẩn. Thị chẩn và ấn chẩn đánh giá mức độ và sự đối xứng của sự nở lồng ngực. Đả chẩn hữu ích để chẩn đoán những vùng xẹp phổi (âm đục) hay một tăng vang khí (tràn khí màng phổi). Thính chẩn cho một chỉ dẫn về thể tích khí đi vào trong hai lá phổi. Những tiếng thở phải đối xứng và dễ nghe. Một thính chẩn cẩn thận cả lồng ngực, đặc biệt ở nách, có thể phát hiện những tiếng thở được truyền từ một vùng khác (thí dụ trong tràn khí màng phổi hay xẹp phổi). Điều hữu ích là so sánh thính chẩn một phía của ngực với phía kia. Một lồng ngực im lặng là một dấu hiệu báo động chỉ một sự giảm nghiêm trọng của thể tích lưu thông.

    4. OXYGENATION : XANH TÍA VÀ XANH TÁI

    Xanh tía là một dấu hiệu muộn và không thường có của suy hô hấp. Xanh tía rõ rệt hơn ở các niêm mạc miệng và ở lòng móng tay. Xanh tía giới hạn ở các chi (xanh tía ngoại biên) thường là do một suy tuần hoàn hơn là một suy hô hấp (xanh tía trung ương). Giảm oxy huyết có thể gây nên một sự co mạch làm che khuất tình trạng xanh tía. SpO2 phải được đo bằng oxymétrie de pouls ngay khi một suy hô hấp đuoc nghi ngờ ngay cả khi không có xanh tía.

    C. TÌNH TRẠNG TRI GIÁC

    Đứa trẻ trong tình trạng giảm oxy mô và/hoặc tăng thán huyết có thể trở nên bị kích động hay ngủ gà khi suy hô hấp tiến triển. Biến cố tận cùng là mất tri giác. Bố mẹ có thể giải thích rằng đứa bé không phản ứng như lệ thường hay nó không còn nhận biết ra họ nữa. Nhà lâm sàng đánh giá tình trạng tri giác của đứa bé bằng cách cố đạt được một sự tiếp xúc thị giác và/hoặc một đáp ứng với những kích thích lời nói hay đau đớn.

    III. MONITORAGE

    Oxymétrie de pouls là một công cụ quý báu trong đánh giá suy hô hấp. Nó phải được sử dụng một cách hệ thống để đo độ bảo hòa oxy động mạch qua da (saturation transcutanée artérielle en oxygène : Sp02). Trị số của Sp02 ít đáng tin cậy hơn khi dưới 70% đứng trước choáng và/hoặc trong trường hợp ngộ độc CÓ hay méthémoglobinémie

    IV. NHẬN BIẾT CHOÁNG

    1. ĐỊNH NGHĨA

    CHOÁNG

    Choáng là một tình trạng lâm sàng trong đó lưu lượng máu và sự cung cấp các substrat đến các mô không thỏa mãn nhu cầu chuyển hóa. Sự mang không đủ các substrat như oxy và glucose đến các mô và lấy đi các chất chuyển hóa tế bào gây nên một sự chuyển hóa kỵ khí với sự tích tụ acide lactique. Sự biến đổi chuyển hóa tế bào này sẽ gây nên những thương tổn tế bào không hồi phục được.

    Choáng có thể liên kết với một luu lượng tim bình thường, bị giảm hay được gia tăng hay một huyết áp bình thường hay giảm. Choáng được mô tả như là bù hay mất bù.

    CHOÁNG BÙ là giai đoạn sớm của choáng không hạ huyết áp. Mặc dầu huyết áp bình thường, ta quan sát thấy những dấu hiệu thông máu bất bình thường như tim nhịp nhanh, mạch ngoại biên khó ấn chẩn, thở nhịp nhanh và thiểu niệu.

    CHOÁNG MẤT BÙ hiện diện khi hạ huyết áp phát triển và khi sự thông máu các cơ quan sinh tử (não, tim) bị ảnh hưởng.

    LƯU LƯỢNG TIM

    Quote:
    Lưu lượng tim = Tần số tim x thể tích phóng máu


    HUYẾT ÁP

    Quote:
    Huyết áp = Lưu lượng tim x Sức cản mạch máu toàn thể


    Tiền gánh (précharge) là thể tích làm đầy (volume de remplissage) của tim. Hậu gánh (postcharge) chủ yếu được biểu hiện bởi các sức cản mạch máu toàn thể. Một sự gia tăng tần số tim có thể giúp duy trì luu lượng tim nếu một thể tích phóng máu (volume d’éjection) sụt giảm. Một sự co mạch (nghĩa là sự gia tăng sức cản mạch máu toàn thể) có thể giúp duy trì một huyết áp bình thường khi lưu lượng tim giảm. Hai cơ chế bù này giải thích những dấu hiệu sớm của choáng : tim nhịp nhanh và giảm thông máu da.

    Sự thông máu của các cơ quan tùy thuộc đồng thời lưu lượng tim và huyết áp (chủ yếu là huyết áp trung bình).

    Trong số những tham số bị ảnh hưởng hay ảnh hưởng lưu lượng tim, vài tham số có thể đo được (tần số tim và huyết áp) và những tham số khác (thể tích phóng máu và sức cản ngoại biên toàn thể) có thể được đánh giá một cách gián tiếp bằng cách khám biên độ và chất lượng của các mạch ngoại biên, sự thích đáng của áp suất thông máu của các cơ quan bia (tình trạng tri giác, thời gian đầy lại mao mạch, nhiệt độ da và nếu có thể được lượng nước tiểu bài xuất và đo nồng độ lactate trong máu). Các sức cản mạch máu toàn hệ hạ có thể được nghi ngờ nếu huyết áp động mạch trương tâm dưới những trị số bình thường đối với tuổi của đứa bé.

    UserPostedImage

    2. NGUYÊN NHÂN CỦA CHOÁNG.

    Choáng có thể do suy tuần hoàn hay hô hấp. Phần lớn trẻ em bị choáng nghiêm trọng dầu cho nguyên nhân là gi, có một mức độ loạn năng tim mạch đòi hỏi nhiều loại điều trị (thí dụ xử trí đường dẫn khí (A), thở (B) và tuần hoàn (C).

    a/ CHOÁNG GIẢM THỂ TÍCH.

    Choáng giảm thể tích được đặc trưng bởi một thể tích lưu thông (tiền gánh) bị giảm. Choáng giảm thể tích có thể do mất dịch quan trọng như trong một mất nước hay xuất huyết.

    b/ CHOÁNG PHÂN BỐ

    Choáng phân bố được đặc trưng bởi một sự phân bố không thích đáng của lưu lượng máu, không đủ đối với nhu cầu chuyển hóa của các mô. Loại choáng này được gặp trong trường hợp sepsis hay phản vệ khi dịch đi ra khỏi các khoang mạch máu vào các mô chung quanh. Nói chung lưu lượng tim bị giảm trong suy tuần hoàn, nhưng choáng phản vệ và choáng nhiễm khuẩn có thể được đặc trưng bởi một lưu lượng tim gia tăng. Trong trường hợp này sức cản mạch máu toàn thân (résistance vasculaire systémique) bị giảm và đứa trẻ có vẻ được thông máu tốt với mạch ngoại biên nhảy và một sự gia tăng của sự khác biệt tâm thu-trương tâm (différence systolo-diastolique). Mặc dầu sự thông máu có vẻ đúng đắn và mặc dầu lưu lượng tim tăng cao, có một sự không hòa hợp giữa lưu lượng máu đến mô và những nhu cầu chuyển hóa không đủ. Loại choáng này khó chẩn đoán trong giai đoạn sớm của nó. Sự quan sát chăm chú những dấu hiệu lâm sàng sớm của choáng liên kết với sự phân tích khí huyết động mạch cho phép chẩn đoán đúng.

    c/ CHOÁNG TIM (CHOC CARDIOGENIQUE)

    Choáng tim là do suy cơ tim hay một loạn nhịp tim

    d/ CHOÁNG DO TẮC (CHOC OBSTRUCTIF)

    Choáng do tắc được đặc trưng bởi một loạn năng tim do một tắc ngăn cản sự làm đầy và/hoặc sự phóng máu của tim (tràn khí màng phổi dưới áp lực, chèn ép tim). .

    UserPostedImage

    Suy tuần hoàn mất bù ở một đứa trẻ nhiễm trùng màng não cầu khuẩn với những dấu hiệu mắt bù (giảm mức độ tri giác).

    V. ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG TIM MẠCH : C

    Sự đánh giá của tình trạng tim-mạch phải bắt đầu một cách hệ thống bằng sự đánh giá tình trạng tri giác, của các đường dẫn khí (A) và của sự thở (B). Sự xử trí các đường dẫn khí và sự thông khí phải được bắt đầu trước khi đánh giá tình trạng tuần hoàn.

    1. TẦN SỐ TIM.

    Tần số tim gia tăng để đáp ứng với một sự gia tăng của nhu cầu chuyển hóa mô. Tim nhịp nhanh xoang là đáp ứng thông thường với tình trạng âu lo và sốt nhưng cũng có thể là do giảm oxy mô, toan chuyển hóa, tăng thán huyết, giảm thể tích máu hay đau đớn. Các trẻ sơ sinh có rất ít dự trữ tim (réserve cardiaque) : chúng gia tăng lưu lượng tim chủ yếu bằng cách làm gia tăng tần số hơn là thể tích phóng máu (volume d’éjection). Đáp ứng đầu tiên của chúng đối với giảm oxy mô là tim nhịp chậm ; những trẻ lớn hơn lúc khởi đầu phát triển một tim nhịp nhanh.

    Khi sự gia tăng tần số tim không còn đủ nữa để duy trì một oxygénation mô thích đáng ; giảm oxy mô và toan chuyển hóa xảy ra và dẫn đến một tim nhịp chậm báo hiệu một ngừng tim-hô hấp sắp xảy ra.

    2. HUYẾT ÁP

    Những cơ chế bù để tái lập một lưu lượng tim trong trường hợp giảm thể tích lưu thông là :
    • co mạch
    • tim nhịp nhanh
    • gia tăng khả năng co bóp cơ tim.

    Thể tích phóng máu (volume d’éjection) giảm với giảm thể tích máu (hypovolémie). Trong thời gian đầu, huyết áp được duy trì nhờ sự gia tăng của tần số tim và sức cản ngoại biên toàn thể.

    Khi các cơ chế bù bị vượt qua, hạ huyết áp xuất hiện. Tim nhịp nhanh vẫn tồn tại cho đến khi các dự trữ catécholamine của cơ tim cạn kiệt. Hạ huyết áp xảy ra muộn trong choáng giảm thể tích (sau khi mất 40% thể tích lưu thông)

    Dầu choáng thuộc loại nào, hạ huyết áp là một dấu hiệu mất bù và phải được điều trị tích cực, vì lẽ suy tim-hô hấp và ngừng tim sắp xảy ra.

    Khi huyết áp thu tâm nằm dưới giới hạn dưới của bình thường, phải tìm kiếm những dấu hiệu choáng khác. Nếu choáng được xác nhận, nó phải được điều trị tích cực.

    UserPostedImage

    3. CƯỜNG ĐỘ CỦA MẠCH

    Tim nhịp nhanh là một dấu hiệu sớm nhưng không đặc hiệu của choáng và hạ huyết áp là một dấu hiệu đặc hiệu nhưng xảy ra muộn. Vậy những chỉ đấu khác cần thiết để xác lập một chẩn đoán sớm của choáng.

    Thể tích phóng máu có thể được đánh giá bằng cách ấn chẩn biên độ của mạch.

    Khi thể tích phóng máu bị giảm, biên độ của các mạch giảm. Biên độ của các mạch phản ánh hiệu số giữa áp suất động mạch thu tâm và áp suất động mạch trương tâm. Trong choáng, sóng áp suất (onde de pression) giảm biên độ làm cho mạch khó bắt rồi không bắt được. Biên độ của các mạch ngoại biên (động mạch quay, chày, pédieuse...) giảm nhanh hơn biên độ của các mạch trung tâm (động mạch cảnh, cánh tay, đùi). Sự so sánh giữa các mạch ngoại biên và trung tâm có thể hữu ích. Các mạch xa cũng có thể bị giảm do co mạch gây nên bởi sốt, lạnh hay âu lo.

    Sự giảm các mạch trung tâm là một dấu hiệu báo hiệu ngừng tim hô hấp sắp xảy ra.

    4. THÔNG MÁU NGOẠI BIÊN

    Các sức cản mạch máu toàn thể có thể được đánh giá một cách gián tiếp bằng thời gian đầy lại mao mạch, nhiệt độ của da và huyết áp tâm thu

    5. TIỀN GÁNH

    Đánh giá lâm sàng của tiền gánh cho phép gián biệt choáng tim với những dạng khác của choáng và đánh giá tác dụng của một bolus dung dịch làm đầy (soluté de remplissage). Ở một trẻ em khỏe mạnh, các tĩnh mạch cổ (veines jugulaires) chỉ hơi thấy rõ và bờ gan có thể ấn chẩn tối đa 1 cm dưới bờ sườn. Nếu tiền gánh trở nên quá quan trọng (thí dụ trong trường hợp tăng gánh thể tích hay trong suy tim), các tĩnh mạch cổ trở nên ứ máu, gan lớn lên và các ran ẩm có thể nghe được trong hai lá phổi

    6. THÔNG MÁU CỦA CÁC CƠ QUAN BIA

    Sự thông máu của các cơ quan tùy thuộc vào lưu lượng tim và áp suất thông máu. Chất lượng của sự thông máu của các cơ quan được đánh giá một cách hiệu quả ở da, thận và não bộ.

    a. DA

    Ở đứa trẻ khỏe mạnh, da nóng, khô và hồng hào từ đầu đến chân, ngoại trừ nhiệt độ bên ngoài quá lạnh. Thời gian đầy lại mao mạch (TRC : temps de recoloration capillaire) được sử dụng để đánh giá sự thông máu ở da. Nếu như nó kéo dài, đó là một dấu hiệu sớm của choáng. Thời gian đầy lại mao mạch được đánh giá bằng cách đếm thời gian mà da của pulpe của một ngón tay hay vùng trước ức cần để trở lại màu sau khi bị làm trắng đi do một đè ép 5 giây. Bình thường thời gian đầy lại mao mạch dưới 2 giây. Để đánh giá một cách đúng đắn thời gian đầy lại mao mạch, chi phải ở cùng mức với tim (hay hơi được đưa cao lên) để tránh mọi sự ứ đọng tĩnh mạch (stase veineuse). Sự giảm tưới máu đã phản ảnh một sự co mạch ngoại biên, dấu hiệu sớm của choáng.

    Những dấu hiệu co mạch ngoại biên khác, có thể xuất hiện khi lưu lượng tim sụt, là :
    • sự xuất hiện một biên giới giữa nóng và lạnh, bắt đầu ở các ngón tay rồi lan lên thân mình
    • những marbrures
    • xanh tái
    • xanh tía ngoại biên

    b. NÃO : TÌNH TRẠNG TRI GIÁC

    Những dấu hiệu giảm thông máu não tùy thuộc vào thời gian và mức độ nghiêm trọng của hiện tượng.

    Nếu khởi đầu thiếu máu cục bộ xảy ra đột ngột (như trong một loạn nhịp tim), dấu hiệu đầu tiên có thể là một sự mất tri giác liên kết với những co giật và giãn đồng tử. Nêu sự giảm thông máu xảy ra từ từ, như trong một suy tuần hoàn hay suy hô hấp, những dấu hiệu sẽ là những luân phiên các thời kỳ kích động, ngủ gà hay cáu kỉnh.

    Những rối loạn tri giác của trẻ em trong tình trạng choáng tiến triển theo thứ tự sau đây : ta có thể nhớ chúng theo thứ tự nhờ AVPU (bằng tiếng Anh)

    A : Alert (éveillé) : Bệnh nhân tỉnh
    V : Voice (réponse à la voix) : Đáp ứng với lời nói
    P : Pain (réponse à là douleur) : Đáp ứng với đau đớn
    U : U (Unresponsive) : không đáp ứng với một kích thích nào

    c. THẬN

    Sự giảm lượng nước tiểu thải ra mỗi giờ (<1ml/kg/giờ) chỉ một sự thông máu thận không thích đáng. Sự theo dõi xuất lượng nước tiểu là hữu ích để đánh giá tính hiệu quả của điều trị choáng.

    UserPostedImage

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (28/7/2013)


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Saturday, July 27, 2013 10:41:12 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #4 Posted : Thursday, August 15, 2013 6:57:38 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG I
    NHẬN BIẾT TRẺ BỊ BỆNH NẶNG
    (RECONNAÎTRE L’ENFANT GRAVEMENT MALADE)


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn hẳn có khả năng :
    • Mô tả và nhận biết đứa trẻ bị bệnh nặng
    • Nhận biết và thảo luận chức năng hô hấp bình thường và bất bình thường.
    • Nhận biết và thảo luận chức năng tuần hoàn bình thường và bất bình thường
    • Định nghĩa choáng
    • Biết những ưu tiên điều trị đứa trẻ bị bệnh nặng.


    PHẦN II


    VI/ CHẨN ĐOÁN SUY TIM-HÔ HẤP

    Sự suy tim-hô hấp là kết cục chung của suy tuần hoàn và suy hô hấp. Suy tim-hô hấp đi trước ngừng tim-hô hấp.

    1/ VẬN CHUYỂN OXY

    Sự vận chuyển hay sự phân phát oxy (TO2) đến các tế bào được xác định bởi dung lượng oxy động mạch và lưu lượng tim. Dung lượng oxy động mạch (CaO2) được xác định bởi hémoglobine lưu thông, độ bảo hòa oxy và khả năng Hb nối kết với oxy.
    Quote:
    TO2 = CaO2 x DC

    TO2 = Vận chuyển oxy (ml/phút)
    CaO2 = Dung lượng oxy động mạch (ml/L)
    DC = Lưu lượng (l/phút)


    2/ DUNG LƯỢNG OXY ĐỘNG MẠCH

    Quote:
    CO2 = Hb x 1,34 x SO2

    CaO2 = dung lượng oxy động mạch(ml/l)
    Hb = nồng độ hémoglobine (g/l)
    1,34 = khả năng oxy nối kết với 1g hémoglobine (ml O2/g Hb)
    SO2 = độ bảo hòa oxy của hémoglobine (giữa 0 và 1)


    Sự giảm dung lượng oxy của máu và/hoặc của lưu lượng tim dẫn đến sự vận chuyển oxy đến các mô không đủ nếu sự bù bởi tham số kia của TO2 không đủ. Trong suy hô hấp, sự sụt giảm của dung lượng oxy được bù bởi một sự gia tăng của lưu lượng tim. Một sự giảm lưu lượng tim như trong choáng nói chung không được bù bởi một sự gia tăng đủ của CaO2 và do đó được kèm theo tức thời bởi một sự giảm vận chuyển của oxy đến các mô.

    Điều quan trọng là đánh giá sự thích đáng của TO2 đối với nhu cầu oxy, nhu cầu này có thể trên giới hạn bình thường (như trong giai đoạn sớm của choáng nhiễm khuẩn).

    Trong suy tuần hoàn mất bù (insuffisance circulatoire décompensée), máu ngay cả đuợc cấp oxy tốt vẫn được phân bố quá chậm để có thể đáp ứng với những nhu cầu chuyển hóa của các mô.

    Trong suy hô hấp mất bù (insuffisance respiratoire décompensée), máu quá ít oxy được phân bố đến các mô với một lưu lượng bình thường hay gia tăng.

    Trong cả hai trường hợp, sự vận chuyển oxy đến các mô không tương ứng với nhu cầu mô và có sự sản xuất acide lactique.

    Những dấu hiệu lâm sàng của suy tim hô hấp (défaillance cardiorespiratoire) gồm có : sự biến đổi trạng thái tâm thần, giảm trương lực, các mạch trung tâm yếu và không có mạch ngoại biên. Tim nhịp chậm, hạ huyết áp, thở nhịp chậm, thở ngáp cá (gasp) và các ngừng thở ngắn (apnée) là những dấu hiệu muộn và quan trọng báo hiệu ngừng tim sắp sửa xảy ra.

    Quote:
    Nếu những dấu hiệu sau đây hiện diện, một thái độ xử trí tức thời phải được thực hiện :
    • thái độ bất bình thường
    • hôn mê hay biến đổi tri giác
    • kiệt quệ trong trường hợp suy kiệt hô hấp (détresse respiratoire)
    • xanh tía
    • thở nhip nhanh (Tần số hô hấp >60/phút)
    • Tần số tim >180 /phút hay tần số tim <80/phút trước 1 tuổi.

    VII/ XỬ TRÍ TRẺ BỊ ĐAU NẶNG.

    Tùy theo sự đánh giá nhanh của ABC, đứa trẻ có thể được sắp xếp thành ổn định, suy hô hấp hay tuần hoàn bù (insuffisance respiratoire ou circulatoire compensée), suy hô hấp hay tuần hoàn mất bù (insuffisance respiratoire ou circulatoire décompensée), suy tim hô hấp (insuffisance cardiorespiratoire).

    Trong trường hợp nghi suy hô hấp hay tuần hoàn mà lâm sàng không thể xác nhận, ta sẽ nhờ đến những thảm khám phụ, nhưng những thăm khám này không bao giờ được làm chậm điều trị và sự ổn định bệnh nhân.

    Cần thiết đánh giá lại một cách đều đặn bệnh nhân khi có một biến đổi điều trị.

    1/ SUY HÔ HẤP BÙ (insuffisance respiratoire compensée)

    Một đứa bé căng thẳng sẽ làm gia tăng những nhu cầu oxy của nó. Vậy phải tiếp xúc với nó một cách nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà mất thời gian. Oxy sẽ được cho một cách được dung nạp tốt nhất đối với đứa bé. Một đường tĩnh mạch sẽ được đặt (đặc biệt trong suy tuần hoàn) đồng thời ưu tiên những phương pháp không gây đau. Một monitorage không xâm nhập (oxymétrie de pouls) phải đuợc thiết đặt và những tham số sinh tử của đứa bé phải được ghi nhận đều đặn.

    UserPostedImage

    2/ TẮC ĐƯỜNG DẪN KHÍ

    Nói chung đứa bé giữ tư thế đảm bảo cho nó sự mở tốt nhất của đường khí. Phải tôn trọng tư thế này và đừng phân cách đứa bé khỏi bố mẹ. Bố mẹ có thể hợp tác để cho oxy. Ta chú ý ngừng cho ăn và điều trị sốt nhằm làm giảm nhu cầu chuyển hóa.

    3/ SUY HÔ HẤP MẤT BÙ

    Giai đoạn đầu tiên là kiểm soát và mở đường khí. Sau đó ta cho oxy với lưu lượng cao nhất có thể được. Thông khí lúc đầu phải được kiểm soát với một mặt nạ và một quả bóng đồng thời thực hiện sau đó một nội thông khí quản nếu cần.

    4/ SUY TUẦN HOÀN MẤT BÙ

    Sau khi xử trí đường dẫn khí và thông khí, ta thiết lập tức thời một đường tĩnh mạch để cho phép làm đầy thể tích (một cách thận trọng trong suy tim) và các thuốc vận mạch và các inotrope. Oxy phải được cho với lưu lượng cao nhất có thể được.

    5/ SUY TIM HÔ HẤP

    Các dấu hiệu bao gồm biến đổi tri giác, giảm trương lực, tim nhịp nhanh, giảm mạch trung ương, không có mạch xa. Tim nhịp chậm, thở nhịp chậm, thở ngáp cá (gasp), những đợt ngừng thở ngắn là những biến cố tận cùng đi trước ngừng tim hô hấp.
    Quote:
    Những Điểm Chủ Yếu
    • Ngừng tim có một tiên lượng u tối ở trẻ em
    • Chẩn đoán sớm và điều trị đứa bé bị bệnh nặng là cơ bản để tránh sự tiến triển hướng về ngừng tim và làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
    • Algorithme đánh giá nhanh ABC phải được sử dụng để đánh giá và điều trị đứa trẻ nguy kịch.


    UserPostedImage

    Quote:
    Những Điểm Chủ Yếu
    • Ngừng tim có một tiên lượng xấu ở trẻ em.
    • Chẩn đoán sớm và điều trị đứa trẻ bị bệnh nặng là cơ bản để tránh sử tiến triển thành ngừng tim và làm giảm tỷ lệ bệnh và tỷ lệ tử vong.
    • Algoritme đánh giá nhanh của ABC phải được sử dụng để đánh giá và điều trị đứa trẻ nguy kịch.


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (5/8/2013)


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Thursday, August 15, 2013 7:04:10 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #5 Posted : Friday, August 16, 2013 6:42:20 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG II
    HỒI SỨC TIM PHỔI CƠ BẢN
    (REANIMATION CARDIOPULMONAIRE DE BASE)


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn hẳn có khả năng :
    • Hiểu rằng sự phòng ngừa ngừng tim hô hấp là một ưu tiên trong xử trí trẻ embị bệnh hay chấn thương.
    • Biết rằng sự tiến hành nhanh và hiệu quả một hồi sức tim phổi cơ bản, với sự kích hoạt của AMU (aide médicale urgente) và sự áp dụng hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) gồm làm ổn định, vận chuyển và phục hồi là những giai đoạn chủ yếu cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh trong tình huống ngừng tim hô hấp.
    • Có khả năng thực hiện những giai đoạn khác nhau của hồi sức nhi đồng cơ bản cũng như những giai đoạn lấy ra một vật lạ được hít vào.
    • Hiểu được tính hợp lý của những dị biệt trong những kỹ thuật hồi sức của nhũ nhi và của trẻ em.


    PHẦN I


    Hồi sinh cơ bản (réanimation de base) là một sự phối hợp của những thủ thuật, những kỹ thuật, cho phép nhận biết một người đang ngừng tim hay hô hấp không có hỗ trợ y cụ và "mua thời gian" cho đến khi đứa trẻ có thể nhận một xử trí và điều trị cao cấp.

    Hồi sinh tim phổi cơ bản (RCP de base hay BLS : basic life support) phải được bắt đầu càng nhanh càng tốt.

    Mục đích chủ yếu là có được một oxygénation đủ để "bảo vệ" não và những cơ quan sinh tử khác. Lý tưởng là mọi công dân phải biết hồi sinh tim phổi và những kỹ thuật của nó.

    Hồi sinh tim phổi cơ bản hiệu quả hơn nếu người cứu là một nhà nghề, nhưng một hồi sinh dưới tối ưu cho những kết quả tốt hơn so với không hồi sinh gì hết.

    Hồi sinh tim phổi cơ bản có thể được thực hiện mà không cần dụng cụ nào nhưng khí thở ra bởi người cứu khi thông khí, chỉ cung cấp một nồng độ oxy từ 16 đến 17%.

    Oxy (được làm ẩm nếu có thể) phải được cho ngay đứa bé bị ngưng tim hô hấp. Người cứu được đào tạo phải thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng (với oxy) ngay khi những y cụ thích đáng sẵn sàng.

    Tuy nhiên, thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng (ventilation au maque et au ballon) cần nhiều huấn luyện hơn thông khí qua miệng-miệng bouche-à-bouche) hay qua miệng-mặt nạ (bouche à masque), và phai được sử dụng chỉ bởi nhân viên được huấn luyện.

    Hồi sinh tim phổi cơ bản với sử dụng dụng cụ gồm sử dụng mặt nạ có van và quả bóng (xem chương 3), dụng cụ bảo vệ và máy khử rung ngoài tự động (défibrillateur automatisé externe).

    I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG

    Khi xử trí đứa bé bị suy hô hấp hay tuần hoàn, một số yếu tố nào đó có tính cách quyết định để cải thiện những cơ may thành công của hồi sinh. Yếu tố quan trọng nhất là nhận biết sớm và điều trị thích đáng đứa bé có những dấu hiệu biến đổi hô hấp hay tuần hoàn. Sự ngăn ngừa ngừng tim hô hấp nhờ sự xử trí sớm và thích đáng của suy hô hấp hay tuần hoàn cải thiện tiên lượng.

    Tuy nhiên sẽ luôn luôn có những đứa bé mà suy tuần hoàn hay hô hấp không có thể ngăn ngừa được. Đối với những trẻ này, việc thực hiện một hồi sinh cơ bản sớm, sự khởi động nhanh chóng aide médicale urgente và sự tiến hành một hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) hiệu quả là căn bản để làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật nhi đồng.

    Trong khung cảnh hồi sinh tim phổi cơ bản, một đứa bé từ O đến 1 tuổi là một “ nhũ nhi” (nourrisson) và từ 1 tuổi đến tuổi dậy thì, chữ “ đứa bé " (enfant) được sử dụng. Chẳng hữu ích cũng chẳng cần thiết phải xác lập một cách chính thức lúc khởi đầu của tuổi dậy thì ; nếu người cứu nghĩ rằng nạn nhân là một đứa bé, thì anh ta sẽ áp dụng những điều khuyến nghị nhi đồng.

    Khi chỉ có một người là nhân chứng của một ngừng tim hô hấp, thì người này sẽ áp dụng chuỗi người lớn (séquence adulte) cho đứa bé, nhưng sẽ bắt đầu bằng thực hiện 5 thông khí và 1 phút hồi sinh tim phổi trước khi đi tìm sự giúp đỡ.

    Chuỗi được mô tả dưới đây liên hệ đến những người chuyên nghiệp y tế, bình thường làm việc theo kíp.

    Mặc dầu tất cả có thể học hồi sinh tim phổi cơ bản ngay lúc 6 tuổi, tuy nhiên đó là một kỹ thuật phức tạp trên bình diện tâm lý vận động

    Hồi sinh tim phổi đòi hỏi một giảng dạy thích đáng và hiệu quả trên các mannequin nhi đồng đặc hiệu và đòi hỏi một sự cập nhật những kiến thức và kỹ thuật.

    II. CHUỖI HỒI SINH CƠ BẢN

    Nếu có nhiều hơn một người cứu, thì một trong những người này sẽ tức thời đi kiếm sự cứu giúp và gọi aide médicale urgente trong khi người (hay những) người khác bắt đầu tiến hành hồi sinh tim phổi.

    Nếu chỉ có một người sơ cứu, điều quan trọng là sự hồi sinh cơ bản phải được bắt đầu ngay và được tiếp tục trong 1 phút trước khi đi kiếm người giúp đỡ.

    Chuỗi này dựa trên hai sự kiện chính :
    1. Phần lớn những ngừng tim nhi đồng là do giảm oxy mô (hypoxie) và sự tái lập nhanh chóng một oxygénation thích đáng (do hồi sinh tim phổi mang lại) là điều cấp cứu nhất.
    2. Loạn nhịp tim thường gặp nhất ở trẻ em là tim nhịp chậm, dẫn đến vô tâm thu (asystolie). Do đó, một hồi sinh cơ bản hiệu quả là quan trọng hơn một phá rung sớm (défibrillation précoce).

    Mặc dầu không thường xảy ra, ngừng tim nguyên phát do rung thất hay do tim nhịp nhanh thất vô mạch (tachycardie ventriculaire sans pouls) đôi khi có thể xảy ra ở trẻ em. Ta đặc biệt nghĩ đến điều đó trong trường hợp ngã qụy đột ngột trước sự hiện diện của một nhân chứng, trong trường hợp đứa bé có một bệnh tim đã được biết đến. Khi đó sự thành công của hồi sinh tùy thuộc vào sự phá rung sớm. Khi đó, nếu chỉ một mình, người cứu sẽ phải khởi động aide médicale urgente trước khi bắt đầu hồi sinh tim phổi và phải sử dụng máy phá rung tự động ngoài (défibrillateur automatisé externe) ngay khi có sẵn.

    Hồi sinh tim phổi cơ bản phải được thực hiện từng giai đoạn một. Thứ tự của các hành động và việc thực hiện chúng đúng đắn là quan trọng bởi vì nếu một trong thủ thuật không được thực hiện một cách đúng đắn, tính hiệu quả của thủ thuật tiếp theo có thể bị ảnh hưởng.

    Quote:
    Chuỗi nhi đồng của hồi sinh tim phổi cơ bản

    • Sécurité (An toàn)
    • Stimulation (Kích thích)
    • Appel au Secours (Kêu cứu)
    • Airway (Đường khí)
    • Breathing (Hô hấp)
    • Circulation (Tuần hoàn)
    • Réévaluation (Tái đánh giá)


    1. AN TOÀN

    Trong trường hợp cấp cứu ngoài bệnh viện, trước hết phải đảm bảo an toàn của chính bạn và rồi thì an toàn của đứa bé. Nếu hồi sinh xảy ra trên công lộ, thí dụ gần một đám cháy hay nước, trước hết đảm bảo rằng nơi xảy ra tai nạn là an toàn.

    Trong trường hợp chấn thương, lý tưởng là phải tránh di chuyển nạn nhân, nhưng có thể buộc phải mang đi nơi khác nếu có nguy cơ đối với nạn nhân hay người cứu.

    Hãy xem tất cả những chất dịch cơ thể như là có khả năng gây nhiễm trùng. Hãy mang gant và hãy sử dụng những cái chắn bảo vệ (barrière de protection) hay mặt nạ và bóng bóp để thực hiện hồi sinh tim phổi càng nhanh càng tốt.

    Lúc đến gần nạn nhân, người cứu phải nhận diện một cách nhanh chóng mọi nguyên nhân có thể giải thích tính chất cấp cứu. Điều đó có thể làm biến đổi cách xử trí đứa bé (thí dụ sự nghi ngờ chấn thương cột sống có hàm ý xét đến sự cần thiết cố định cột sống cổ)

    2. KÍCH THÍCH

    Điều quan trọng là xác định tình trạng tri giác của đứa bé, có thể không ở trong tình trạng nguy kịch.

    Sự đáp ứng của một đứa trẻ có vẻ bất tỉnh phải được đánh giá bằng một kích thích lời nói hay xúc giác (stimulation verbale et tactile). Đừng bao giờ lay đứa bé. Một thủ thuật thích đáng (tính đến sự cần thiết làm bất động cột sống cổ) nhằm giữ vững đầu của đứa bé bằng cách đặt một bàn tay lên trán và dùng tay kia để lay cánh tay của đứa bé hay để vỗ vỗ trên đầu hay má nó.

    Đồng thời, bạn hay cao giọng gọi đứa trẻ, thí dụ bằng cách nói “ Hãy tĩnh dậy đi" hay hỏi “ khỏe chứ ? ”

    Nếu đứa bé trả lời bằng cách động đậy, kêu khóc hay nói, một can thiệp khác có thể không cần thiết. Tình trạng lâm sàng hay mọi nguy hiểm tiềm tàng khác phải được đều đặn tái đánh giá và nếu điều đó tỏ ra hữu ích, cần phải yêu cầu được giúp đỡ.

    Nếu không có đáp ứng, các giai đoạn tiếp theo của hồi sinh cơ bản sẽ được thực hiện.

    3. GỌI CỨU

    Hãy gọi cứu mà không rời đứa bé và hãy bắt đầu tức khắc hồi sinh tim phổi. Nếu có ai khác có thể gọi aide médicale urgente, bạn hãy đảm bảo rằng các thông tin sau đây được truyền đạt :
    • Định vị trí một cách chi tiết nơi hồi sinh đang diễn ra.
    • Số điện thoại từ đó lời kêu cứu được gọi đi.
    • Tính chất của tai nạn hay của biến cố (đứa trẻ được tìm thấy ngừng tim hô-hấp trong khi ngủ, điện giật, tai nạn xe cộ..).
    • Số lượng và tuổi của các nạn nhân và có các trẻ em trong số các nạn nhân hay không.
    • Mức độ nghiêm trọng và tính chất cấp cứu của tình hình và xem đứa bé có cần một hồi sức cao cấp không.

    Người gọi aide médicale urgente chỉ được cúp điện thoại khi đảm bảo rằng thông tin để được hiểu rõ.

    Điều này có mục đích đảm bảo rằng thông tin đúng là được truyền đạt. Sau đó người này sẽ quay trở lại người cứu để bảo là aide médicale urgente đã được khởi động. Chuỗi hành động này phải được tôn trọng ngay cả khi một điện thoại cầm tay được sử dụng.

    Quote:
    1. Người cứu chỉ một mình

    Gọi Aide Médicale Urgente sau
    1 phút Hồi sinh tim phổi.

    Trẻ em và người bị đuối thuộc mọi lứa tuổi

    Gọi trước hết Aide Médicale Urgente để thực hiện một khử rung sớm
    Tất cả mọi lứa tuổi nếu ngã qụy đột ngột trước nhân chứng

    2. Hai người cứu

    Một bắt đầu hồi sinh tim phổi trong khi người kia gọi Aide Médicale Urgente

    4. AIRWAY : ĐƯỜNG KHÍ (A)

    a/ MỞ ĐƯỜNG KHÍ

    Nếu đứa bé bất tỉnh, có thể là lưỡi làm tắc ít nhất một phần đường khí. Do đó, người cứu trước hết phải mở đường khí. Điều này có thể được thực hiện bằng hai cách.

    NHỮNG THỦ THUẬT PHỔ CẬP

    Đó là một thủ thuật đơn giản và có hiệu quả.

    Hãy đến gần về một phía đứa bé và đặt một bàn tay lên trán của nó và sau đó đẫy nhẹ nhàng đầu ra sau.

    Ở một nhũ nhi (dưới 1 tuổi), đầu được đặt ở vị trí trung dung.

    Ở trẻ lớn hơn, cần uỡn cổ nhiều hơn (position du chien humant).

    UserPostedImage


    Hãy đặt đầu của các ngón tay của bàn tay kia trên phần xương của hàm dưới và kéo cằm lên trên.

    Điều chủ yếu là các ngón tay không đè lên các mô mềm dưới cằm, bởi vì điều đó có thể làm tắc đường khí do đẫy lưỡi về phía trên và ra sau.

    UserPostedImage


    ĐẦY HÀM DƯỚI RA TRƯỚC

    Đó là phương pháp hiệu quả nhất để mở đường khí của đứa bé và là phương pháp lựa chọn trong trường hợp nghi ngờ chấn thương cột sống cổ. Đặt hai tay hai bên đầu của đứa bé. Hai hay ba ngón tay của mỗi bàn tay phải được đặt dưới góc của xương hàm dưới. Xương hàm dưới phải được đẫy lên cao trong khi các ngón cái nằm dựa trên các gò má. Các cùi tay của người cứu dựa trên mặt phẳng, trên đó đứa bé nằm, để làm dễ thủ thuật.

    b/ KIỂM TRA ĐƯỜNG KHÍ

    Dầu cho phương pháp được chọn lựa để mở đường khí là gì đi nữa, điều quan trọng là nhìn kiểm tra miệng để đảm bảo rằng không có một vật lạ. Bạn chỉ đưa một ngón tay vào trong miệng của đứa bé nếu có thể thấy được một vật lạ và nếu bạn nghĩ có thể lấy nó ra một cách dễ dàng. Đừng bao giờ cố lấy vật lạ ra một cách mù quáng vì lẽ nguy cơ làm thương tổn các mô mềm và vật lạ bị kẹt vào sâu hơn.

    Khi đường khí đã được khai thông và đánh giá (Airway = a), ta chuyển qua giai đoạn tiếp theo, sự thông khí (Breathing =b).

    c/ ĐÁNH GIÁ SỰ HÔ HẤP : NHÌN, NGHE, CẢM THẤY.

    Hãy mở đường khí như được mô tả trên đây và hãy tìm kiếm những dấu hiệu của hô hấp tự nhiên.

    UserPostedImage


    Hãy đặt má cách vài cm trên miệng và mũi của đứa bé và nhìn thân của đứa bé. Trong tư thế này hãy nhìn xem ngực hay bụng có được nâng lên hay không, hãy lắng nghe xem ta có nghe một tiếng thở hay không và hãy cảm thấy xem không khí có được thở ra hay không. Dùng 10 giây để nhìn, nghe và cảm thấy sự hô hấp.

    UserPostedImage


    Nếu đứa bé thở một cách tự nhiên và có hiệu quả, hãy giữ đường khí mở và gọi cứu. Trong trường hợp không nghi ngờ chấn thương cột sống cổ, hãy đặt nạn nhân ở tư thế nghiêng an toàn (position latérale de sécurité).

    Nếu đứa bé không thở một cách hiệu quả hay chỉ sinh ra vài thở ngáp cá, hãy bắt đầu thông khí hỗ trợ.

    5. BREATHING (B) : THÔNG KHÍ (VENTILATION)

    HÀ HƠI THỔI NGẠT (INSUFFLATIONS)

    Khởi đầu phải cho 5 cú thổi vào (insufflation). Một cú thổi vào phải được thực hiện một cách chậm rãi (trong một thời gian từ 1 đến 1,5 giây). Điều này cho phép làm tối ưu lượng oxy được phát vào phổi và làm giảm nguy cơ căng trướng dạ dày. Để làm tối ưu lượng oxy phát ra cho đứa bé và làm giảm lượng CO2 hiện diện trong không khí thở ra, người cứu phải thở sâu giữa mỗi lần hà hơi thổi vào.

    Kỹ thuật miệng-miệng mũi (Technique de bouche à bouche-nez)

    Đó là kỹ thuật được khuyến nghị ở nhũ nhi. Người cứu đặt miệng của mình trên miệng và mũi của nhũ nhi, làm thế nào để thâu tóm chúng một cách kín mít và thổi vào trong như đã mô tả trên đây. Nếu điều này không thể thực hiện được, người cứu có thể thổi vào, hoặc là trong miệng, hoặc là trong mũi.Trong trường hợp thở vào trong mũi, miệng phải được đóng lại để tránh rò khí xuyên qua môi.

    UserPostedImage


    Kỹ thuật miệng-miệng (Technique de bouche à bouche)

    Ở trẻ em, hãy đặt miệng lên miệng của đứa bé một cách kín. Hãy bóp các lỗ mũi của đứa bé với bàn tay gần đỉnh đầu nhất để các hơi thở vào không đi ra ngoài qua mũi.

    UserPostedImage


    Mục đích của các cú thổi vào (insufflations) là cung cấp không khí thở ra (air exhalé) (của người cứu) (khoảng 16-17% oxy) cho hai lá phổi của đứa bé. Người cứu phải thích ứng áp suất và thể tích thổi vào để tránh sự căng trướng dạ dày.Tính hiệu quả của các lần thổi vào được đánh giá bằng cách quan sát sự lên xuống của lồng ngực ; điều chủ yếu là chuyển động ngực có thể thấy rõ mỗi lần thổi hơi vào.

    Nếu không có một cử động ngực nào có thể thấy được trong những lần thổi vào, người cứu phải đặt lại vị trí đường khí trước khi cho một hơi thở vào mới. Nếu mặc dầu đường khí đã được đặt lại vị trí, những hơi thổi vào không kèm theo một sự nâng lên của lồng ngực, phải xét đến khả năng sự hiện diện của một vật lạ và người cứu phải bắt đầu những ép ngực.

    Sau khi đã cho 5 cú thổi vào ban đầu, người cứu chuyển qua C (circulation).

    6. CIRCULATION (C) : TUẦN HOÀN

    a. ĐÁNH GIÁ NHỮNG DẤU HIỆU TUẦN HOÀN/NHỮNG DẤU HIỆU SỐNG

    Sau khi đường hô hấp được khai thông và hà hơi thổi ngạt có hiệu quả, phải đánh giá xem có cần ép ngực đứa bé hay không. Phương pháp cổ điển để đánh giá tuần hoàn bởi một người chuyên ngành y tế là xác định sự hiện diện hay vắng mặt của mạch trung tâm (pouls central).

    UserPostedImage


    Ở nhũ nhi, sự hiện diện của một mạch trung tâm được đánh giá ở động mạch cánh tay hay động mạch đùi.

    UserPostedImage


    Ở trẻ em mạch này được tìm kiếm ở động mạch cảnh.

    Vì sự đánh giá mạch có thể khó khăn, nên người cứu được khuyến nghị cũng quan sát ở đứa bé sự hiện diện của những dấu hiệu sống, bao gồm những cử động, ho hay một hô hấp bình thường (không phải là thở ngáp cá hay một hơi thở hấp hối)

    Thời gian tối đa để đánh giá tuần hoàn là 10 giây

    Nếu mạch hiện diện hay nếu có những dấu hiệu sống,
    người cứu đánh giá lại sự hô hấp. Nếu vẫn không có hô hấp tự nhiên có hiệu quả, người cứu tiếp tục thông khí với một tần số 12-20 lần thổi vào mỗi phút. Sự hô hấp và tuần hoàn được tái đánh giá thường xuyên và hồi sinh tim phổi được tiếp tục cho đến khi aide médicale urgente đến để thay phiên hay cho đến khi đứa trẻ bắt đầu thở một cách tự nhiên

    Nếu không có những dấu hiệu tuần hoàn (không có mạch và/hoặc không có dấu hiệu sống), với những dấu hiệu thông máu xấu hay nếu bạn còn do dự, hãy bắt đầu ép ngực.

    Những nguyên tắc ép ngực

    Các ép ngực (compression thoracique) là những đè ép từng loạt, nhịp nhàng của thành ngực trước, cho phép một lưu lượng máu đến các cơ quan sinh tử nhằm duy trì khả năng sống của chúng cho đến khi trở lại một tuần hoàn tự nhiên. Để những ép ngực được thực hiện một cách có hiệu quả, đứa trẻ phải được đặt trên một mặt phẳng cứng đồng thời giữ đầu trong một tư thế giữ mở đường khí.

    Những điểm mốc

    Ở nhũ nhi và trẻ em, các ép ngực được thực hiện ở nửa dưới xương ức. Để tránh đè bụng trên, hãy xác định vị trí mũi ức (appendice xiphoide) ở góc tạo bởi những xương sườn cuối cùng và bắt đầu ép ngực 1 khoát ngón tay trên giới hạn này.

    UserPostedImage


    Mục đích của ép ngực là ấn ngực xuống khoảng 1/3 đường kính trước sau của nó, với một thời gian bằng nhau đối với đè ép và giãn. Tần số phải khoảng 100 lần mỗi phút (thực tế, các ép ngực bị gián đoạn bởi những thở vào và số những ép ngực được phát ra sẽ ít hơn : 60-80 mỗi phút). Ở trẻ sơ sinh, những đè ép hơi nhanh, khoảng 120 lần mỗi phút.

    b. ÉP NGỰC Ở NHŨ NHI

    Kỹ thuật 2 ngón tay (Technique à 2 doigts)

    Đó là phương pháp ép ngực được khuyến nghị đối với nhũ nhi nếu người cứu chỉ một mình.

    Người cứu đặt hai ngón tay của một bàn tay lên nửa dưới của xương ức.

    UserPostedImage


    Xương ức được ấn xuống 1/3 đường kính của ngực lúc nghỉ ngơi. Trong giai đoạn giãn và sau mỗi đè ép, người cứu thả đè ép đồng thời vẫn để ngón tay nằm trên ngực. Cuối mỗi loạt 15 đè ép, các ngón tay rời xương ức và đẩy cằm lên để mở đường khí và cho phép thực hiện hai cú thổi vào.

    Kỹ thuật hai ngón cái và ôm vòng lấy ngực
    (Technique à deux pouces avec encerclement du thorax)


    Đó là phương pháp được khuyến nghị khi có hai người cứu. Hãy đặt các ngón cái cạnh nhau trên nửa dưới của xương ức (như trên đây). Ở những trẻ rất nhỏ, các ngón cái có thể được đặt lên nhau.

    Các bàn tay của người cứu phải được đặt thế nào để ôm vòng lấy ngực và đỡ lưng của đứa bé.

    UserPostedImage


    Hãy thực hiện những đè ép như được mô tả ở kỹ thuật hai ngón tay được mô tả trên đây.

    c. ÉP NGỰC Ở TRẺ EM

    Đặt gót của bàn tay trực tiếp lên trục dọc của một nửa dưới của xương ức.

    UserPostedImage


    Các ngón không được dựa trên ngực để cho chỉ có gót của bàn tay thực hiện một đè ép lên xương ức. Định tư thế hai vai trực tiếp trên ngực của đứa bé và giữ cánh tay duỗi thẳng với cùi tay chẹn lại, đồng thời sử dụng cả trọng lượng cơ thể để đè xương ức xuống 1/3 đường kính của lồng ngực lúc nghỉ ngơi. Trong giai đoạn gian theo sau mỗi đè ép, hãy ngừng đè ép đồng thời giữ gót của bàn tay tại vị trí trên ngực. Cuối 15 ép ngực, hãy cho 2 thổi vào.
    Ở những trẻ lớn hay khi người cứu nhỏ, sử dụng hai tay để ép ngực có thể dễ dàng hơn.

    UserPostedImage


    Phải nhấn mạnh đến chất lượng của ép ngực, các cánh tay duỗi thằng để có được một độ sâu khoảng 1/3 lồng ngực.

    Tỷ suất Ép : Thông khí (Compression : Ventilation)

    Tỷ suất ép-thông khí là 15 : 2 dầu đứa trẻ bao nhiêu tuổi. Để đơn giản hóa, đối với nhân chứng một mình, được khuyến nghị thực hiện một tỷ suất 30 : 2 như điều đó được thực hành ở người lớn. Nhân viên y tế cũng có thể sử dụng tỷ suất này nếu như một mình, nhất là nếu có những khó khăn khi chuyển giữa những đè ép và thổi vào.

    Ở trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh, vai trò của thông khí quan trọng hơn và tỷ suất ép : thông khí là 3:1

    7. TÁI ĐÁNH GIÁ

    Những ép ngực phải hiệu quả để sinh ra một mạch trung tâm trong thời gian hồi sức tim phổi.

    Sau 1 phút, hãy ngừng lại trong một thời gian ngắn để tái đánh giá ABC (những dấu hiệu sống) và đảm bảo rằng aide médicale urgente đã được khởi động.

    8. GỌI AIDE MEDICALE

    Nếu aide médicale urgente đã được gọi, hãy tiếp tục hồi sức tim phổi cơ bản và chỉ dừng nếu có chỉ định.

    Tuy nhiên, nếu người cứu chỉ một mình và nếu dường như không có một hỗ trợ nào đến, chính người cứu phải đi tìm sự giúp đỡ. Nếu nạn nhân là một nhũ nhi hay một trẻ nhỏ, người cứu có thể bồng nạn nhân để đi gọi cứu và tiếp tục hồi sức tim phổi. Nếu phương tiện gọi cứu ở xa nơi thực hiện hồi sức tim phổi, người cứu sẽ đến nơi đó đồng thời tiếp tục những thủ thuật hồi sức nếu đứa trẻ đủ nhỏ để có thể được mang đi trên một cánh tay ; trong những trường hợp khác, người cứu phải dừng lại mỗi phút, đặt đứa trẻ xuống đất và thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi di động trở lại. Nếu đứa trẻ quá lớn không mang được, phải để nó tại chỗ, đi kiếm aide médicale urgente và trở lại càng nhanh càng tốt để tiếp tục hồi sức tim phổi.

    Thời gian hồi sức tim phổi

    Hồi sức tim phổi không được ngừng trước khi có một trong những điều kiện sau đây :
    • Đứa bé có những dấu hiệu hô hấp và tuần hoàn ngẫu nhiên
    • Aide médicale urgente đến và đảm trách phần tiếp của hồi sức.
    • Người cứu quá mệt không thể tiếp tục được.


    UserPostedImage


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (16/8/2013)


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Friday, August 16, 2013 9:58:17 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #6 Posted : Wednesday, August 21, 2013 6:21:30 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG II

    HỒI SỨC TIM PHỔI CƠ BẢN
    (REANIMATION CARDIOPULMONAIRE DE BASE)


    Quote:
    Những Mục Tiêu


    Vào cuối chương này, các bạn sẽ có khả năng :
    • Hiểu rằng sự phòng ngừa ngừng tim hô hấp là một ưu tiên trong xử trí trẻ embị bệnh hay chấn thương.
    • Biết rằng sự tiến hành nhanh và hiệu quả một hồi sức tim phổi cơ bản, với sự kích hoạt của AMU (aide médicale urgente) và sự áp dụng hồi sức cao cấp (réanimation médicalisée) gồm làm ổn định, vận chuyển và phục hồi là những giai đoạn chủ yếu cho phép làm giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh trong tình huống ngừng tim hô hấp.
    • Có khả năng thực hiện những giai đoạn khác nhau của hồi sức nhi đồng cơ bản cũng như những giai đoạn lấy ra một vật lạ được hít vào.
    • Hiểu được tính hợp lý của những dị biệt trong những kỹ thuật hồi sức của nhũ nhi và của trẻ em.


    PHẦN II


    III/ SỬ DỤNG MÁY PHÁ RUNG NGOÀI TỰ ĐỘNG Ở TRẺ EM

    Một máy phá rung ngoài tự động chuẩn có thể được sử dụng ở trẻ em trên 8 tuổi. Một máy phá rung ngoài tự động được trang bị với một atténuateur pédiatrique được khuyến nghị ở trẻ em từ 1 đến 8 tuổi. Nếu không có atténuateur pédiatrique, hãy sử dụng máy phá rung ngoài tự động chuẩn.

    CHUỖI SỬ DỤNG MÁY PHÁ RUNG NGOÀI TỰ ĐỘNG Ở TRẺ EM

    [List=1]
  • Hãy đảm bảo rằng đứa bé và những người chung quanh được an toàn
  • Hãy bắt đầu hồi sức tim phổi một cách thích đáng.

    Nếu có hai hoặc nhiều người cứu, một trong hai sẽ đi kiếm sự hỗ trợ và mang lại một máy phá rung ngoài tự động nếu có sẵn. Nếu người cứu chỉ một mình, anh ta trước hết sẽ thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi đi gọi cứu và trước khi đi kiếm máy phá rung ngoài tự động (trừ phi nguyên nhân có khả năng do tim).

    Trong tất cả các trường hợp, đừng nối máy phá rung ngoài tự động trước khi đã thực hiện hồi sức tim phổi trong một phút.
  • Hãy bắt điện máy phá rung ngoài tự động và đặt các điện cực (hay những điện cực nhi đồng nếu được chỉ định). Nếu có nhiều người sơ cứu, hồi sức tim phổi sẽ được tiếp tục trong thời gian này.
  • Hãy theo những khẩu lệnh hay thị lệnh của máy phá rung ngoài tự động.
  • Đảm bảo rằng không ai đụng nạn nhân trong khi máy phá rung ngoài tự động phân tích nhịp.
  • Nếu một sốc điện được chỉ định :
    • Đảm bảo rằng không ai đụng đứa trẻ
    • Ấn nút " CHOC"
    • Tiếp tục hồi sức tim phổi

  • Nếu không có chỉ định sốc điện :
    • Tái tục ngay hồi sức tim phổi
    • Tiếp tục theo những khuyến nghị thị giác/lời nói

  • Hay tiếp tục hồi sức tim phổi cho đến khi :
    • Một người giúp có năng lực đến
    • Đứa trẻ thở lại bình thường
    • Bạn bị kiệt sức.
    [/List]

    UserPostedImage


    IV/ TẮC ĐƯỜNG DẪN KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ

    1/ NHẬN BIẾT TẮC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ

    Khi một vật lạ đi vào trong đường dẫn khí, đứa bé phản ứng tức thời bằng cách ho để cố tống xuất nó ra. Một phản xạ ho tự nhiên có hiệu quả hơn và an toàn hơn mọi thủ thuật khác mà một người cứu có thể thực hiện. Tuy nhiên nếu không có phản xạ ho hay nếu không hiệu quả và nếu vật lạ làm tắc hoàn toàn đường dẫn khí đứa bé ngạt thở một cách nhanh chóng. Do đó một can thiệp để lấy đi vật lạ là cần thiết chỉ khi nào ho không có hiệu quả, nhưng trong trường hợp này, những thủ thuật phải được bắt đầu một cách nhanh chóng và với sự quyết tâm.
    Phần lớn những trường hợp hít vật lạ ở nhũ nhi hay trẻ em xảy ra trong khi chơi hay trong khi ăn, và thường xảy ra với sự hiện diện của một người lớn. Vậy thường có một nhân chứng của biến cố và do đó phần lớn các can thiệp được bắt đầu trong khi đứa trẻ đang còn tỉnh táo.
    Sự hít vào vật lạ được đặc trưng bởi sự xuất hiện một suy kiệt hô hấp liên kết với ho, những dấu hiệu ngạt thở hay một tiếng rít.
    Những dấu hiệu và triệu chứng như thế cũng có thể do những nguyên nhân tắc đường dẫn khí khác, như một viêm thanh quản hay một viêm nắp thanh quản, sẽ cần một xử trí khác.
    Hãy nghĩ đến một vật lạ nếu :
  • Khởi đầu rất đột ngột
  • Không có những dấu hiệu khác của bệnh
  • Có những chỉ dấu báo động người cứu, thí dụ một bệnh sử chơi hay đưa vào miệng những vật nhỏ hay bữa ăn ngay trước khi xuất hiện các triệu chứng

    UserPostedImage


    2/ ĐỨA BÉ TỈNH TÁO VỚI TÁC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ

  • Nếu đứa trẻ luôn luôn tỉnh táo nhưng không ho hay ho không hiệu quả, hãy cho 5 vỗ vào lưng (tapes dorsales)
  • Nếu 5 vỗ vào lưng không cho phép tổng xuất vật lạ, hãy cho 5 ép ngực ở nhũ nhi và 5 ép bụng ở trẻ em. Những thủ thuật này tạo nên một phản ứng ho nhân tạo nhằm làm gia tăng áp suất trong ngực và tống xuất vật lạ.

    a/ VỖ LƯNG

    • Ở NHŨ NHI
      • Đặt trẻ trên cẳng tay tư thế sấp, đầu thấp hơn phần còn lại của cơ thể dễ sử dụng trọng lượng nhằm loại bỏ vật lạ.
      • Người cứu ngồi hoặc qùy phải có thể giữ chắc đứa bé trên các đầu gối.
      • Đầu của nhũ nhi được giữ bằng cách đặt ngón cái ở góc xương hàm dưới và một hay hai ngón tay của cùng bàn tay trên góc kia của xương hàm.
      • Không đè ép các mô mềm của xương hàm, bởi vì điều đó có thể làm tắc thêm đường khí.
      • Hãy vỗ 5 vỗ vào lưng với gót của một bàn tay, giữa hai xương bã vai.

        UserPostedImage


      • Mục đích là làm cho vật lạ ra vào mỗi lần vỗ hơn là cho tức thời 5 vỗ.

    • Ở TRẺ EM TRÊN MỘT TUỔI
      • Những vỗ lưng hiệu quả hơn nếu trẻ nghiêng đầu xuống dưới.
      • Trẻ nhỏ có thể được đặt trên các đầu gối của người cứu như đối với nhũ nhi.
      • Nếu điều đó không thể thực hiện, hay nghiêng đứa trẻ về phía trước và bạn đứng sau nó và cho những cú vỗ vào lưng.

      Nếu các vỗ lưng không cho phép làm bật vật lạ ra và nếu đứa trẻ luôn luôn tỉnh táo, hãy bắt đầu ấn ngực đối với các nhũ nhi và những ấn bụng ở trẻ em.

      Những ấn bụng (thủ thuật Heimlich) không được dùng ở nhũ nhi.

    b/ ẤN NGỰC Ở NHŨ NHI
    • Nhũ nhi phải được xoay ở tư thế ngửa đầu hướng xuống dưới. Điều này đạt được bằng cách đặt cánh tay rổi của người cứu dọc theo lưng của đứa bé đồng thời bao quanh vùng chẩm với bàn tay.

      UserPostedImage


    • Hãy đỡ đứa bé trên cánh tay bạn, và cánh tay này được đặt trên đùi bạn.

      UserPostedImage


    • Hãy nhận diện những điểm mốc đối với ấn ngực (một nửa dưới của xương ức, 1 ngón tay trên mõm ức).
    • Hãy cho 5 ấn ngực. Những ấn ngực này tương đương với 5 xoa bóp ngoài tim nhưng rõ nét hơn và được cho chậm hơn.

      UserPostedImage



    c/ ẤN BỤNG ĐỐI VỚI TRẺ TRÊN 1 TUỔI
    • Hãy ở vào vị trí hay qùy sau đứa bé. Hãy đặt các bàn tay của bạndưới các cánh tay của đứa bé thế nào để ôm vòng lấy ngực của nó.
    • Hãy kẹp nắm tay lại và đặt nó ở giữa rốn và mõm ức.
    • Hãy che nắm tay này bằng bàn tay kia và thực hiện một cử động rõ nét từ ngoài vào trong và từ dưới lên trên.
    • Hãy lập lại cử động này 5 lần
    • Hãy đảm bảo rằng không đè lên mõm ức hay lồng ngực điều này có thể gây nên một chấn thương bụng.


    UserPostedImage
    Thủ thuật Heimlich ở một đứa trẻ tỉnh táo.


    d/ TÁI ĐÁNH GIÁ EM BÉ
    • Nếu vật lạ đã không được tống xuất và nếu nạn nhân luôn luôn tỉnh táo, hãy tiếp tục những vỗ lưng và những ấn ngực (ở nhũ nhi) hay bụng (ở trẻ em).
    • Hãy gọi giúp đỡ hay gọi người nào đó đi kêu cứu.
    • Đừng rời bệnh nhân ở giai đoạn này.

    Nếu vật lạ được tống xuất, hãy đánh giá tình trạng lâm sàng của đứa bé. Có thể rằng một phần của vật lạ vẫn còn trong đường khí và gây nên những biến chứng. Nếu có chút ít nghi ngờ, hãy nhờ sự giúp đỡ y tế. Vì lẽ nguy cơ bị những thương tổn nội tạng, nên mọi đứa trẻ đã bị ấn bụng phải được thăm khám bởi một thầy thuốc.

    UserPostedImage


    3/ ĐỨA TRẺ BẤT TỈNH VỚI TẮC ĐƯỜNG KHÍ BỞI MỘT VẬT LẠ
    • Nếu đứa trẻ đã hít vào một vật lạ, đang hoặc trở nên mất tri giác, hãy đặt nó trên một mặt phẳng cứng.
    • Hãy gọi giúp đỡ hay gọi người nào đó đi kêu cứu.
    • Đừng rời nạn nhân ở giai đoạn này và hãy tiến hành như sau

    a/ MỞ ĐƯỜNG KHÍ
    • Hãy mở miệng và tìm kiếm sự hiện diện của một vật lạ có thể thấy được.
    • Nếu có thể thấy được một vật lạ, hãy cố dùng ngón tay móc nó ra.

    Đừng cố lấy ra liên tiếp nhiều lần hay một cách mù quáng, bởi vì điều này có khả năng làm kẹt vật lạ xa hơn trong họng và tạo những thương tổn.

    b/ THÔNG KHÍ
    • Hãy mở đường khí và cho 5 cú thổi vào
    • Hãy đánh giá tính hiệu quả của mỗi lần thổi vào : nếu lồng ngực không nâng lên, hãy chỉnh lại vị trí của đường khí trước khi cho một cú thổi vào mới.

    c/ ẤN NGỰC VÀ HỒI SỨC TIM PHỔI
    • Hãy thử 5 cú thở vào và nếu không đáp ứng (chuyển động ngực, ho hay thở tự nhiên), hãy bắt đầu ấn ngực.
    • Hãy theo chuỗi Hồi sức tim phổi (như đã mô tả trên đây) trong khoảng 1 phút trước khi kích hoạt aide médicale urgente (nếu điều đó đã chưa được thực hiện bởi người nào khác).
    • Khi đường khí được mở để cho những cú thở vào, hãy kiểm tra rằng vật lạ không được nhìn thấy trong miệng.

    V/ TỪ THẾ BẾN AN TOÀN

    Đứa trẻ bất tỉnh thở một cách tự nhiên phải được đặt nằm tư thế bên an toàn nếu không có chống chỉ định (thí dụ nghi chấn thương cột sống cổ).

    Những mục đích khác của tư thế này là :
    • Tránh không cho lưỡi bị đẫy ra sau hầu và làm tắc đường khí.
    • Làm giảm nguy cơ hít các chất mửa hay dịch tiết.

    Không có tư thế an toàn vạn ứng, nhưng những quy tắc chung phải được tôn trọng.

    Đứa trẻ phải :
    • Ở tư thế càng bên càng tốt
    • Có đường khí được giữ thông thoáng
    • Có thể được quan sát và đánh giá một cách dễ dàng.
    • Vững và không có thể lăn.
    • Cho phép dẫn lưu các chất dịch và các chất mửa qua miệng.
    • Không đè lên ngực gây khó thở
    • Có thể lật ngửa dễ dàng để bắt đầu hồi sức tim phổi nếu cần.

    Thí dụ đặt tư thế nghiêng an toàn :
    • Người cứu quỳ cạnh đứa trẻ.
    • Dựng lại các cánh tay và các cẳng chân. Lấy đi kính đeo mắt và tất cả đồ vật sắc và gây cồng kềnh (thí dụ pinces à cheveux, những vật hiện diện trong túi quần...) Nới lỏng mọi y phục bao quanh cổ đứa bé.
    • Hãy đánh giá tính thông thoáng của đường khí và mở chúng nếu cần.
    • Sau đó phải duỗi cánh tay của đứa bé về phía bạn, thẳng góc với thân mình.

      UserPostedImage
      (Tư thế ban đầu của các chi. Hãy lấy cánh tay phía đối diện của đứa bé và đưa nó về phía kia của thân mình)



    • Hãy đặt bàn tay dưới má của đứa bé (lòng bàn tay dựa vào má).

      UserPostedImage
      (Đặt vị trí của cánh tay xa nhất đối với người cứu)


    • Với bàn tay kia của bạn hãy gấp ở đầu gối cẳng chân của đứa bé (cẳng chân xa nhất đối với người cứu).

      UserPostedImage
      (Đặt vị trí của cẳng chân xa nhất đối với người cứu)


    • Bằng cách đẫy đầu gối gấp của đứa bé, người cứu có thể lăn một cách thận trọng đứa bé về phía mình.

      UserPostedImage
      (Hình 4. Đứa bé được xoay nằm nghiêng)


    • Hãy kiểm tra để bàn tay đặt dưới má của đứa bé không đè lên mặt.

      UserPostedImage
      (Kiểm tra không có đè ép da)


      UserPostedImage
      (Tư thế bên an toàn)


    Hô hấp và tuần hoàn của đứa bé phải được đánh giá thường xuyên trong khi chờ đợi secours đến. Nếu xảy ra một suy sụp tình trạng tổng quát của đứa bé, đứa bé tức thì phải được quay ngửa lại và một đánh giá ABC phải được thực hiện.

    Hãy ghi nhận rằng ở trẻ em nhỏ, có thể cần phải đặt một chiếc mền hay chiếc khăn dọc theo lưng để tránh không để cho đứa bé từ vị trí nghiêng trở thành ngửa.

    Quote:
    NHỮNG ĐIỂM CHỦ YẾU

    • Các người cứu phải luôn luôn bắt đầu bằng đảm bảo sự an toàn của chính mình trước khi bắt đầu thực hiện hồi sức tim phổi
    • Hãy sử dụng một tỷ suất ấn ngực-thông khí 15 : 2 ở mỗi đứa trẻ
    • Phải thực hiện một phút hồi sức tim phổi trước khi người cứu rời đứa trẻ để đi xin hỗ trợ (ngoại trừ nghi ngừng tim nguyên phát).
    • Nếu một máy phá rung tự động ngoài có sẵn, nối nó sau một phút hồi sức tim phổi ở trẻ hơn 1 tuổi.
    • Hãy sử dụng một atténuateur ở trẻ giữa 1 đến 8 tuổi
    • Những thủ thuật lấy một vật l lạ được hít vào ở nhũ nhi còn tri giác gồm có những vỗ lưng và những ấn ngực và ở trẻ em còn tri giác, những vỗ lưng và ấn bụng. Đừng cố áp dụng những thủ thuật lấy vật lạ ở trẻ em bất tỉnh, nhưng hãy bắt đầu ngay hồi sức tim phổi.

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (19/8/2013)


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục "Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)"

    Edited by user Wednesday, August 21, 2013 6:43:07 PM(UTC)  | Reason: Not specified

  • "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #7 Posted : Saturday, August 24, 2013 12:30:07 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG III
    ĐƯỜNG KHÍ VÀ THÔNG KHÍ
    (VOIES RESPIRATOIRES ET VENTILATION


    Quote:
    Những Mục Tiêu


    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Hiểu tầm quan trọng của một xử trí có hiệu quả đường khí và sự hô hấp.
    • So sánh những phương pháp khác nhau cho phép giữ đường khí mở một cách hiệu quả.
    • Nhận diện những phương pháp cho oxy khác nhau và những ưu điểm củachúng.
    • So sánh những phương tiện thông khí khác nhau.
    • Hiểu sử dụng như thế nào một quả bóng và một mặt nạ để thông khí một đứa trẻ một cách hiệu quả.
    • Hiểu những kỹ thuật nội thông khác nhau và sử dụng kỹ thuật nào.
    • Bàn về những chỉ định của mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie).

    PHẦN I


    Sự xử trí đường khí và sự thông khí là ưu tiên cho mọi hồi sức, dầu tuổi của bệnh nhân và nguyên nhân của ngừng hô hấp hay tim-hô hấp là gì chăng nữa. Điều đó đặc biệt đúng ở trẻ em, trong trường hợp này ngừng tim hô hấp thường tiếp theo sau giảm oxy mô và nhiễm toan, thứ phát một suy hô hấp.

    Do đó sự nhận biết sớm và sự xử trí thích đáng một suy hô hấp là thiết yếu. Chương này mô tả sự xử trí suy hô hấp của đứa bé thích ứng với những đặc điểm sinh lý của nó.

    I. XỬ TRÍ ĐƯỜNG DẪN KHÍ

    1. ĐỨA TRẺ TỈNH.

    Nếu một đứa trẻ bị bệnh hay bị tai nạn thở một cách tự nhiên và hiệu quả, tốt hơn là để nó trong tư thế thoải mái, tốt nhất là tư thế mà nó chọn một cách ngẫu nhiên. Tư thế này thường là hiệu quả nhất để đảm bảo sự thông thương của đường khí. Đứa trẻ không được đặt nằm hay ép buộc phải theo một tư thế mà nó không thích ; stress và sự lo âu làm gia tăng công hô hấp và do đó làm gia tăng sự tiêu thụ oxy. Mọi động tác phải được thực hiện một cách trầm tĩnh và bố mẹ phải được khuyến khích ở lại với đứa bé.

    2. ĐỨA BÉ BẤT TỈNH

    Ở một đứa trẻ bất tỉnh và thở tự nhiên, các đường khí có nguy cơ bị tắc ; thật vậy, lưỡi có thể lệch ra sau và làm tắc đường dẫn khí.

    UserPostedImage


    Ngoài ra, đứa trẻ không thể tống xuất các dịch tiết, các chất mửa hay máu hiện diện trong đường hô hấp trên. Oxygénation chỉ thích đáng khi sự mở của đường khí được đảm bảo.

    3. MỞ ĐƯỜNG KHÍ

    Những thủ thuật mở đường khí (thủ thuật phổ cập, antépulsion xương hàm dưới) phải được thực hiện cùng cách như trong hồi sinh tim phổi cơ bản (xem chương 2).

    UserPostedImage

    Điều quan trọng là không tăng ưỡn đầu


    UserPostedImage

    không gấp cổ quá mức


    UserPostedImage
    hay lại nữa không đè các mô mềm dưới xương hàm dưới, điều này có thể làm gia tăng tắc đường khí.


    4. HÚT

    UserPostedImage


    Hầu thường bị tắc do các chất tiết, các chất mửa hay máu, và đôi khi bởi một vật lạ rắn (xem chương 2). Thiết bị hút chuẩn của phòng hồi sức bao gồm một source murale de vide, nói chung được monté trên một régulateur de dépression, một bocal réservoir, một tuyau và một embout d'aspiration. Những sonde cứng và cỡ lớn như những sonde de Yankauer có sẵn với những kích thước nhi đồng và người lớn và cho phép hút các chất mửa và các dịch tiết dồi bào và đặc.

    UserPostedImage


    Những sonde flexible thích hợp hơn với những trẻ nhỏ hay những nhũ nhi ; có lẽ chúng ít gây chấn thương hơn. Tuy nhiên chúng có một năng lực hút hạn chế. Sự sử dụng một pièce en Y hay một lỗ bên, có thể bị bít từng hồi, cho phép kiểm soát áp lực hút ; áp lực này không được vượt quá 80-120 mmHg ở các nhũ nhi.

    5. NHỮNG THIẾT BỊ MỞ ĐƯỜNG KHÍ

    a. CANU MIỆNG-HỌNG (CANULES OROPHARYNGEES)

    Những canun này cho phép mở một lối qua giữa đáy lưỡi và thành sau của hầu. Có những kích thước khác nhau, từ 00 (trẻ sinh non) đến 4-5 (người lớn).

    UserPostedImage

    Canun miệng-họng có kích thước thích đáng đi từ các răng cửa trên đến góc của xương hàm dưới


    UserPostedImage


    Nếu một kích thước không đúng đắn được lựa chọn, canun có thể gây chấn thương, co thắt thanh quản hay gây tắc thêm. Ở trẻ em, canun miệng-họng phải được đưa vào với cạnh lõm hướng xuống dưới, nhờ một cái đè lưỡi hay một lưỡi đèn của đèn soi thanh quản để đẫy lưỡi về phía sàn miệng. Điều này có ưu điểm là cho phép thấy miệng-hầu và do đó một sự kiểm soát nào đó vào lúc đặt. Ở trẻ em lớn hơn, kỹ thuật được sử dụng ở người lớn có thể chấp nhận được (đưa với đầu mút hướng lên trên cho đến khi đụng khẩu cái mềm, rồi xoay 180 độ)

    Canun miệng-họng ngăn ngừa tắc đường khí do lưỡi và các mô mềm của cổ.

    UserPostedImage


    Các canun miệng-họng chỉ có thể được đưa vào ở những bệnh nhân bất tỉnh. Ở trẻ em tỉnh táo, chúng thường không chịu được và có thể gây mửa hay co thắt thanh quản. Sự thiết đặt một canun miệng-họng không bảo vệ chống lại nguy cơ hít các thành phần chứa trong dạ dày.

    b. CANUN MŨI-HỌNG (SONDES NASOPHARYNGEES)

    Những canun mũi-họng là những canun bằng cao su hay bằng silicone, tạo một lối qua của không khí giữa mũi và tỵ hầu (nasopharynx). Những canun có kích thước nhi đồng nhỏ nhất không có trong thương mãi, nhưng để thay thế, ta có thể dùng một sonde trachéale được thu ngắn (một kim an toàn sẽ được đâm xuyên qua phần ngoài của sonde để ngăn cản không cho nó đi vào mũi). Chiều dài đúng đắn của ống thông mũi-họng được xác định bằng cách đo khoảng cách đi từ đầu mũi của đứa bé đến tragus của tai.

    UserPostedImage


    Canun được đưa vào mà không làm trắng lỗ mũi. Đường kính có thể được ước tính từ đường kính của ngón út của đứa bé. Canun mũi-họng phải được bôi trơn trước khi đưa vào ; hãy vừa đẫy nhẹ canun vào vừa xoay, về phía sau dọc theo sàn mũi. Đừng hướng canun lên cao, điều này có thể gây nên những thương tổn của niêm mạc hay những xuất huyết.

    UserPostedImage


    Những canun mũi-họng được trẻ em tỉnh táo chịu đựng tốt hơn là những canun miệng-họng. Chúng bị chống chỉ định nếu ta nghi một vỡ xương đáy sọ.

    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (24/8/2013)


    UserPostedImage



    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Sunday, August 25, 2013 2:54:09 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #8 Posted : Thursday, August 29, 2013 6:42:05 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG III
    ĐƯỜNG KHÍ VÀ THÔNG KHÍ
    (VOIES RESPIRATOIRES ET VENTILATION


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Hiểu tầm quan trọng của một xử trí có hiệu quả đường khí và sự hô hấp.
    • So sánh những phương pháp khác nhau cho phép giữ đường khí mở một cách hiệu quả.
    • Nhận diện những phương pháp cho oxy khác nhau và những ưu điểm củachúng.
    • So sánh những phương tiện thông khí khác nhau.
    • Hiểu sử dụng như thế nào một quả bóng và một mặt nạ để thông khí một đứa trẻ một cách hiệu quả.
    • Hiểu những kỹ thuật nội thông khác nhau và sử dụng kỹ thuật nào.
    • Bàn về những chỉ định của mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie).


    PHẦN II


    II. HỖ TRỢ THÔNG KHÍ

    1. CẤP OXY

    Oxy phải được cho với nồng độ cao nhất nếu có. Những lo ngại về độc tính của oxy không bao giờ được ngăn cản cấp oxy với lưu lượng cao trong khi hồi sức. Oxy được cung cấp từ một nguồn ở tường hay mang theo (source murale ou portative), nhờ một débitlitre có khả năng phát ra ít nhất 15 l/phút. Lý tưởng là oxy phải được làm ẩm để ngăn ngừa làm khô dịch tiết, oxy cũng phải được sưởi nóng để ngăn ngừa hạ thân nhiệt và co thắt phế quản.

    Nhiều phương pháp có thể được sử dụng để cho oxy.

    a. Oxy tự do

    Chính bố mẹ có thể giữ nguồn oxy trước mũi và miệng của con mình. Phương pháp này ít gây stress cho đứa bé nhưng nồng độ oxy được hít vào thấp. Vậy phương pháp này chỉ hữu ích đối với suy hô hấp ít quan trọng.

    UserPostedImage


    b. Lunettes nasales (Nasal Prongs, Nasal Canula).

    UserPostedImage


    Các gọng mũi (lunettes nasales) có để sử dụng với những cỡ khác nhau từ trẻ sơ sinh đến người lớn. Lượng oxy được phát ra tùy thuộc chủ yếu sức cản với luồng khí trong mũi. Những lưu lượng oxy trên 3 L/phút gây kích thích và không làm gia tăng nồng độ oxy. Thường không thể cho một FiO2 trên 40-60% tối đa. Những ống thông mũi (canule nasale) nói chung được dung nạp tốt hơn bởi những đứa trẻ trước tuổi học đường.

    c. Cloche à oxygène (cloche de Hood)

    UserPostedImage


    Mặc dầu phương pháp này có thể hữu ích đối với nhũ nhi nhỏ và cho phép đo và kiểm soát FiO2, nhiệt độ và sự làm ẩm, nhưng có thể khó khi muốn tiếp cận nhanh đầu và đường khí. Điều này khiến cho cloche à oxygène trở thành một phương pháp cấp oxy không thích đáng trong khi hồi sức.

    d. Tente à oxygène

    UserPostedImage


    Sự sử dụng tente à oxygène bị hạn chế vì lẽ nó ngăn cản sự quan sát và sự tiếp cận với đứa bé. Nồng độ oxy thấp và bị giảm mỗi khi mở tente để tiếp cận đứa trẻ.

    e. Masque à oxygène simple

    UserPostedImage

    Một masque à oxygène không túi khí (réservoir) cho phép đạt những nồng độ oxy 60% tối đa, không khí trong phòng có thể đi vào qua những lỗ bên (trous latéraux) (tùy theo lưu lượng oxy và thể tích thông khí mỗi phút của đứa bé). Để tránh rebreathing, lưu lượng oxy phải ít nhất 6L/phút

    e. Masque à oxygène avec réservoir

    Những mặt nạ này, khi chúng được trang bị những van một chiều (valves unidirectionnelles) giữa túi khí và mặt nạ và trên tất cả các lỗ thở ra (trous expiratoires) để ngăn cản sự hít lại CO2, cho phép đạt những nồng độ oxy 95% hoặc hơn, với một lưu lượng oxy 12 đến 15 l/phút.

    UserPostedImage

    UserPostedImage


    Những mặt nạ này phải được sử dụng với những lưu lượng oxy cao hơn thông khí mỗi phút của bệnh nhân để tránh cho túi khí khỏi bị xẹp. Những mặt nạ với túi khí là lựa chọn đầu tiên trong hồi sức trẻ em thở tự nhiên. Những phương pháp khác, được mô tả trên đây có thể được sử dụng khi cần một FiO2 thấp hơn.

    2. CÁC MẶT NẠ MẶT

    Các mặt nạ mặt được sử dụng như là interface giữa đứa trẻ và thầy thuốc hồi sức (miệng-mặt nạ) hay như thiết bị để thổi khí vào (dispositif d’insufflation) (mặt na và ballon). Các modèle được sử dụng để thông khí miệng-mặt nạ (ventilation de bouche-à-masque) thường được thích ứng với cơ thể học của mặt, với một kích thước duy nhất, với một vành đệm hơi (coussin d’air) và đôi khi một connexion với oxy. Những mặt nạ này thuờng phải được giữ bằng hai tay để tránh rò khí và để cho phép thực hiện tốt sự thổi khí vào hai lá phổi bằng thông khí miệng-mặt nạ. Để thông khí các nhũ nhi, chúng có thể được sử dụng ngược.

    Các mặt nạ được sử dụng với ballon phải đảm bảo tốt không bị rò, che phủ miệng và mũi, không đè lên mắt.

    UserPostedImage


    Những mặt nạ với khoảng chết nhỏ nhất được ưa thích hơn, chúng phải trong suốt để thấy được màu da của đứa bé và các chất mửa. Có nhiều kích thước và hai loại mặt nạ : dạng giải phẫu (anatomique) và dạng tròn (circulaire). Các mặt nạ dạng tròn, bằng plastique mềm hay với một vành đệm hơi có thể bơm phồng, tạo một sự khép kín tốt ở các trẻ sơ sinh và các em bé nhỏ tuổi. Các mặt nạ dạng giải phẫu được sử dụng ở các trẻ lớn hơn và những người trưởng thành

    3. THÔNG KHÍ QUA MẶT NẠ VÀ BÓP BÓNG

    Giai đoạn đầu tiên khi ta xử trí một đứa bé bị suy hô hấp mất bù là duy trì sự mở của đường khí. Nếu đường khí được mở, nhưng sự thông khí vẫn không đủ, phải bắt đầu một thông khí qua mặt nạ và bóp bóng với lưu lượng oxy cao nhất 100%

    a. BÓNG TỰ PHỒNG (BALLONS AUTO-GONFLABLES).

    Nguyên tắc hoạt động của bóng tự phồng (ballon auto-gonflable) là đơn giản : khi bóng được bóp bởi thầy thuốc hồi sức, không khí đi xuyên qua một van một chiều (valve unidirectionnelle) về phía mặt nạ và do đó về phía bệnh nhân. Khi ngừng bóp, bóng phồng lên một cách tự động nhờ tính đàn hồi của nó, không khí đi vào qua một lỗ khác, về phía túi dự trữ oxy (réservoir).Trong giai đoạn này (thở ra) van đầu tiên đóng lại để ngăn cản bệnh nhân hít vào trở lại (rebreathing). Những quả bóng này có một chỗ vào (entrée) độc lập cho oxy và một túi dự trữ oxy. Không có túi dự trữ oxy hầu như không thể phát oxy với một nồng độ cao hơn 50-60%, nhưng với một túi dự trữ oxy có kích thước đủ nồng độ oxy có thể đạt đến 85-98%.

    Các bóng tự phồng có 3 kích thước : 250, 450-500 và 1600-2000 ml. Bóng nhỏ nhất thường không có hiệu quả ngay cả để hồi sinh trẻ sơ sinh, mà những hơi thổi vào dài cần cho những thông khí đầu tiên. Hai kích thước nhỏ hơn nói chung được trang bị bởi một valve de surpression được điều chỉnh trước ở mức 35-40 mmHg để ngăn cản phổi bình thường bị thương tổn do một áp lực quá mức.Trong khi hồi sức, có thể cần thiết thực hiện những áp lực lớn hơn, khi đó có thể cần vô hiệu hóa valve de surpression (vị trí của đường khí phải được kiểm tra trước khi vô hiệu hóa van). Mặc dầu có thể với một vài quả bóng, thông khí tự nhiên nói chung không thể thực hiện với phần lớn các bóng tự phồng bởi vì oxy chỉ được cung cấp khi valve de non-rebreathing mở. Van này chỉ được mở khi bóng được bóp. Nếu bóng không được bóp, đứa bé không thể thở bởi vì nó không thể sinh ra áp lực cần thiết để mở van.

    UserPostedImage


    b. BÓNG CÓ LƯU LƯỢNG LIÊN TỤC

    Các bóng có lưu lượng liên tục cần một débit de gaz để được bom phồng. Đầu mở phải được siết chặt giữa hai ngón tay để điều chỉnh sự phồng và sự đi ra của khí, trong khi những ngón tay khác bóp bóng để thông khí bệnh nhân. Một lưu lượng khí đủ phải đi vào trong quả bóng để tránh rebreathing (ít nhất 3 lần thể tích phút của bệnh nhân, nghĩa là hơn 30 ml/kg x tần số hô hấp).

    Những quả bóng này cho một cảm nhận nào đó về độ dẻo (compliance) của phổi và cho phép đảm bảo một áp lực dương thở ra. Vì tất cả những lý do này, những bóng tự phồng được ưa thích hơn trong hồi sức, trừ phi thầy thuốc hồi sức có thói quen sử dụng một ballon d'anesthésiste.

    4. KỸ THUẬT THÔNG KHÍ

    Kỹ thuật đúng đắn thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng là một kỹ thuật cần thiết phải được nắm vững bởi mọi người chuyên ngành y tế điều trị trẻ em. Ngay cả khi nội thông khí quản cần thiết, thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng cho phép đảm bảo một thông khí có hiệu quả ở phần lớn các trẻ em cho đến khi một chuyên gia đi đến.

    Để thông khí một cách hiệu quả chừng nào có thể được, phải tìm kiếm một tư thế tốt nhất của đường khí. Điều này thường hàm ý chỉnh lại tư thế đầu và cổ để thử tìm tư thế tốt hơn.

    UserPostedImage


    Ở các nhũ nhi tư thế trung dung là tốt nhất để mở đường khí, hai ngón tay nâng hàm dưới đồng thời chú ý đừng đè các mô mềm. Sự tăng uỡn cổ làm gia tăng sự tắc đường khí.

    UserPostedImage


    Ở các trẻ trên 1 tuổi, một mức độ ưỡn cổ nào đó có thể hữu ích. Sự kéo cằm về phía trên với hai hay ba ngón tay cũng có thể hữu ích.

    UserPostedImage


    Hai tay phải được sử dụng để thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng. Mặt nạ được giữ bởi một bàn tay, bàn tay này đồng thời thực hiện sự kéo hàm dưới ; bàn tay kia bóp bóng.

    UserPostedImage


    Nếu có hai người hồi sức, người đầu tiên đảm bảo một sự khép kín tốt của mặt nạ lên mặt và giữ đường khí mở, người thứ hai đảm bảo sự thông khí. Điều này đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân bị chấn thương, ở những bệnh nhân này sự ưỡn cổ bị chống chỉ định.

    UserPostedImage


    Tư thế của đầu cũng có thể được điều chỉnh để tìm tư thế tối ưu mở đường khí. Phải quan sát một cách chăm chú sự nâng lên của lồng ngực để kiểm tra tính hiệu quả của sự thông khí. Nếu không có ý niệm chấn thương cột sống, một sự ưỡn cổ tương đối có thể được thực hiện ở những trẻ tuổi hơn 1-2 tuổi. Có thể hữu ích (nếu không có chấn thương) đặt một rouleau dưới cổ để mở đường khí. Sự sử dụng các canun miệng-họng (canule oropharyngé) hay ống thông mũi họng (sonde nasopharyngée), cho phép giữ đường khí mở, thường cần thiết trong khi thông khí mặt nạ và bóp bóng.

    Trong ngừng tim hô hấp, sự tăng thông khí làm gia tăng áp lực trong ngực và làm giảm tưới máu động mạch vành và não. Trái lại, sự tăng thông khí liên kết với một tỷ lệ sống sót thấp hơn.

    UserPostedImage


    Do đó một tần số hô hấp 10/phút được khuyến nghị trong tình huống ngừng tim. Tăng thông khí có thể làm giảm lưu lượng tim, làm căng trướng dạ dày, gây kẹt hay rò khí. Ở một bệnh nhân bị chấn thương sọ, tăng thông khí có thể làm phương hại tiên lượng thần kinh.

    Tần số hô hấp phải từ 12 đến 20 chu kỳ mỗi phút, với một thể tích đủ để đảm bảo một sự nở ngực có thể thấy được và một rì rào phế nang lúc thính chẩn. Sự theo dõi tần số tim và độ bảo hòa oxy cũng có thể hữu ích.

    5. THỦ THUẬT SELLICK (ĐÈ SỤN NHẪN)

    Trong khi hồi sinh, vì đôi khi đòi hỏi những áp suất thổi vào tăng cao, nên dạ dày có thể căng trướng. Điều này làm gia tăng nguy cơ mửa và hít dịch. Thủ thuật Sellick có mục đích tránh sự căng dạ dày và hít các chất mửa.

    Thủ thuật Sellick được thực hiện bằng cách đè nhẹ với hai ngón tay lên sụn nhẫn (vòng nằm ngày dưới sụn giáp).

    UserPostedImage


    Sụn nhẫn hỏi bị xê dịch về phía lưng của đứa bé để đè lên thực quản và để ngăn cản sự căng dạ dày, như thế giúp bảo vệ đường hô hấp. Thủ thuật này phải được tránh nếu như đứa bé mửa tích cực bởi vì nó có thể dẫn đến vỡ thực quản.

    UserPostedImage


    Trong trường hợp chấn thương cổ, việc giữ cột sống theo trục phải được đảm bảo vào bất cứ lúc nào.

    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (27/8/2013)


    UserPostedImage




    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)
    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #9 Posted : Sunday, September 15, 2013 5:51:06 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG III

    ĐƯỜNG KHÍ VÀ THÔNG KHÍ
    (VOIES RESPIRATOIRES ET VENTILATION


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Hiểu tầm quan trọng của một xử trí có hiệu quả đường khí và sự hô hấp.
    • So sánh những phương pháp khác nhau cho phép giữ đường khí mở một cách hiệu quả.
    • Nhận diện những phương pháp cho oxy khác nhau và những ưu điểm của chúng.
    • So sánh những phương tiện thông khí khác nhau.
    • Hiểu sử dụng như thế nào một quả bóng và một mặt nạ để thông khí một đứa trẻ một cách hiệu quả.
    • Hiểu những kỹ thuật nội thông khác nhau và sử dụng kỹ thuật nào.
    • Bàn về những chỉ định của mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie).


    PHẦN III


    III. NỘI THÔNG KHÍ QUẢN

    Đó là cách hiệu quả nhất và an toàn nhất để mở và duy trì thông thương đường khí. Ngoài ra nó cho phép một sự kiểm soát tối ưu các áp suất thông khí, kể cả PEEP, ngăn cản sự căng trướng dạ dày, bảo vệ phổi chống lại sự hít dịch dạ dày ; nó làm dễ sự thông khí khi ta thực hiện những ép ngực.

    Không cần thiết phải có năng lực nội thông đối với tất cả những người hành nghề y tế điều trị các trẻ em. Đó là một kỹ thuật khó học và thực hiện ở các trẻ em và đòi hỏi thực hành, không chỉ trên mannequin mà còn trên những bệnh nhân ở phòng mổ dưới sự giám sát của một thầy thuốc gây mê. Trong vài trường hợp, thí dụ trong trường hợp chấn thương sọ hay cổ, những lần toan tính nội thông nhiều lần có thể làm trầm trọng tình trạng của đứa trẻ. Trong trường hợp này, sự thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng có thể được ưa thích hơn để duy trì oxygénation của bệnh nhân, trong lúc chờ đợi ai đó có kinh nghiệm hơn đến để xử trí cao cấp đường khí.

    1. CÁC CHỈ ĐỊNH

    Nội thông khí quản phải được dự kiến trong những tình huống, trong đó ta đánh giá rằng sự thông khí bằng mặt nạ và quả bóng không đủ hiệu quả, khi đường dẫn khí không an toàn hay khi ta nghĩ rằng một hỗ trợ hô hấp kéo dài sẽ cần thiết. Những chỉ định thường nhất là :
    • Tắc cơ học và chức năng các đường hô hấp trên
    • Bảo vệ đường khí chống lại sự hít dịch dạ dày
    • Cần những áp suất tăng cao để duy trì một oxygénation thích đáng
    • Chỉ định của một thông khí cơ học kéo dài
    • Cần hít dịch phế quản hay khí quản
    • Tình trạng không ổn định hay nguy cơ xuất hiện một trong những nguyên nhân này trước hoặc trong khi vận chuyển bệnh nhân.
    • Cố gắng hô hấp quá mức dẫn đến suy kiệt

    2. DỤNG CỤ

    a. CÁC ỐNG THÔNG KHÍ QUẢN

    Các ống thông khí quản không có bóng nhỏ (sonde trachéale sans ballonnet) được ưa thích hơn trong xử trí tiền bệnh viện, ở các trẻ em dưới 8 tuổi (cho đến một đường kính trong 5,5 mm). Ở những trẻ em này, vòng nhẫn (anneau cricoidien), phần hẹp nhất của đường dẫn khí, tác dụng như là " bóng nhỏ tự nhiên " (ballonnet naturel).

    UserPostedImage


    Trong những trường hợp như độ dẻo của phổi xấu, sức cản của đường dẫn khí gia tăng hay rò khí ở thanh môn, các ống thông có bóng nhỏ (sonde trachéale avec ballonnet) có thể được sử dụng nhưng chú ý đến vị trí, áp suất và kích thước của bóng nhỏ.

    UserPostedImage


    Đường kính của ống thông phải không thay đổi trong suốt chiều dài của nó. Vài ống thông có một dấu (marque) ở gần đầu mút của chúng, chỉ chiều dài cần đưa vào qua sau các dây thanh âm để đặt ống ở vị trí giữa khí quản.

    b. CHỌN ỐNG THÔNG KHÍ QUẢN

    Quote:
    Các kích thước của các ống thông được căn cứ trên đường kính trong (DI tính bằng mm)
    • Trẻ sơ sinh sinh non : 2,5 đến 3 mm DI (hay tuổi thai nghén tính bằng tuần/10)
    • Trẻ sơ sinh đủ tháng : 3 đến 3,5 mm DI
    • Nhũ nhi 1 tuổi : 4 đến 4,5 mm DI
    • Các trẻ trên 1 năm : đường kính trong thích hợp (mm) được cho bởi công thức : Tuổi (năm) /4 + 4


    Sự sử dụng các table de réanimation để đánh giá kích thước của ống nội khí quản theo chiều dài của đứa bé (thí dụ các table de Broselow) cho một đo lường chính xác hơn công thức nêu trên.

    UserPostedImage


    Để đánh giá chiều dài của ống nội khí quản phải được đưa vào để được đặt đúng đắn trong khí quản, những công thức sau đây có thể được sử dụng :
    • Ống nội khí quản bằng đường miệng :
      • chiều dài (cm) = Tuổi (năm) /2 + 12
      • Hay 3 lần đường kính trong cho đến 12 tuổi

    • Ống nội khí quản bằng đường mũi :
      • chiều dài (cm) = Tuổi (năm) /2 + 15

    Những công thức này không miễn phải xác nhận lâm sàng và X quang vị trí của ống nội thông. Mặc dầu nội thông bằng đường mũi cho phép một sự cố định tốt hơn khi một thời kỳ nội thông dài được dự kiến, nội thông bằng đường miệng nhanh hơn và đơn giản hơn. Do đó nội thông bằng đường miệng được ưa thích hơn trong hồi sức.

    c. QUE THÔNG NÒNG (MANDRIN) HAY GUIDE

    Que thông nòng (mandrin) cho phép duy trì độ cong của ống nội khí quản trong khi nội thông. Que thông nòng phải được chọn lựa tùy theo kích thước của ống nội khí quản và phải được cố định thế nào cho đầu cùn (extrémité mousse) không vượt quá đầu xa (extrémité distale) của ống nội khí quản (để tránh gây thương tổn khí quản).

    d. ĐÈN SOI THANH QUAN (LARYNGOSCOPE)

    Đèn soi thanh quản gồm có một cán (manche) chứa batterie hay pile, nguồn sáng (source lumineuse) và lưỡi đèn. Đèn soi thanh quản phải được kiểm tra trước khi dùng, và những bộ phận để thay (pièce de rechange) phải luôn luôn có sẵn.

    Có hai loại lưỡi đèn : thẳng và cong

    UserPostedImage


    Vai trò của chúng giống hệt nhau : giữ lưỡi khỏi lối đi và làm xê dịch nắp thanh quản (épiglotte) để cho phép thấy các dây thanh âm. Sự lựa chọn các lưỡi đèn tùy thuộc sự ưa thích và kinh nghiệm của người thao tác nhưng những giới hạn tuổi sau đây là những chỉ dẫn tốt. Nói chung ta ưa thích sử dụng hơn những lưỡi đèn thẳng (lame droite) (các số O và 1) ở các nhũ nhi(< 1 tuổi) và các trẻ sơ sinh. Chúng được nghĩ ra để charger nắp thanh quản dưới đầu mút của lưỡi đèn để cho các dây thanh âm có thể thấy được. Charger nắp thanh quản có ưu điểm cải thiện sự nhìn các dây thanh âm.

    Ở trên em và các thiếu niên ta ưa sử dụng hơn những lưỡi đèn cong (các số 0,1,2 ở các nhũ nhi và các trẻ em ; 3,4 ở các thiếu niên hay những người trưởng thành). Chúng được dự kiến để dặt đầu mút của chúng trong vallécule (giữa đáy lưỡi và nắp thanh quản).

    Hai loại đèn cong và thẳng có nhiều độ dài và sự lựa chọn chiều dài được xác định bởi tuổi tác hay khoảng cách giữa khóe miệng và sụn giáp. Trong trường hợp nghi ngờ, hãy nhớ lại rằng có thể nội thông với một lưỡi đèn quá dài nhưng không với một lưỡi đèn quá ngắn.

    e. THỦ THUẬT

    Tần số tim (nguy cơ tim nhịp chậm phản xạ) và độ bảo hòa oxy bằng oxymétrie pulsée (phát hiện sớm giảm oxy mô) phải được theo dõi trước và trong lúc nội thông. Oxymétrie hơi ít tin cậy được trong trường hợp thông máu tồi (ngừng tim, choáng).

    Hãy kiểm tra dụng cụ cần thiết có sẵn trước khi nội thông :
    • Thuốc
    • Mặt nạ, bóng và nguồn oxy.
    • Đèn soi thanh quản, các lưỡi đèn, ống nội thông khí quản có kích thước thích hợp đối với đứa bé (những ống thông hẹp hơn và rộng hơn 0,5 mm cũng phải có sẵn).
    • Que thông nòng, pince de Magill
    • Hệ thống hút
    • Matériel de fixation (dây cột và băng dính)
    • Capnographie

    3. SEQUENCE RAPIDE D'INTUBATION (SRI)

    Trong trường hợp ngừng tim hô hấp, đứa bé mất tri giác và nội thông không cần an thần và giảm đau, trái với phần lớn những tình huống cấp cứu khác.

    SRI gồm gây mê nhằm tạo điều kiện và làm cho nội thông được an toàn hơn trong trường hợp cấp cứu. Ở bệnh nhân phản ứng, SRI làm giảm những hậu quả thứ phát như giảm oxy mô, đau, loạn nhịp, tăng cao huyết áp và áp lực nội sọ, chấn thương đường khí, hồi lưu và hít dịch dạ dày, chấn thương tâm lý. Oxy phải được cung cấp vào bất cứ lúc nào, với thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng nếu cần. Ít nhất 3 phút oxygénation sẽ đảm bảo một dự trữ oxy trong lúc nội thông. Atropine có thể được cho để ngăn cản tim nhịp chậm phản xạ, tiếp theo ngay bởi những thuốc an thần, thuốc giảm đau và một tác nhân gây liệt (curarisant) có thời gian tác dụng ngắn để làm dễ nội thông không chấn thương (xem chương 5).

    Thầy thuốc hồi sức sử dụng SRI phải có một kinh nghiệm đủ về nội thông và thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng ; thật vậy, sau khi cho thuốc an thần và curare, đứa bé không còn thở một cách tự nhiên nữa trong một thời gian nào đó. Một giải pháp thay thế để xử trí đường khí phải được dự kiến để khắc phục thất bại nội thông khi SRI.

    4. KỸ THUẬT NỘI THÔNG

    Trước khi bắt đầu, ta thông khí đứa bé bằng mặt nạ và bóng bóp với 100% oxy và ta áp dụng thủ thuật Sellick.

    UserPostedImage


    UserPostedImage


    Nếu một tim nhịp chậm hay giảm oxy mô xảy ra trong khi nội thông, thủ thuật tức khắc được dừng lại và bệnh nhân được thông khí bằng mặt nạ và bóng bóp với oxy.

    UserPostedImage


    Cho dự phòng atropine làm giảm tỷ lệ mắc phải tim nhịp chậm phản xạ. Tuy nhiên sự phòng ngừa tim nhịp chậm có thể làm chậm sự phát hiện của giảm oxy mô ; vậy sự đánh giá liên tục của độ bảo hòa bằng oxymétrie de pouls là quan trọng trong tất cả các giai đoạn của nội thông. Trong tình huống ngừng tim hô hấp và các nhịp không thông máu (rythmes non perfusants), ta sẽ nội thông đứa bé ngay khi dụng cụ sẵn sàng.

    Ở những đứa trẻ trên hai tuổi, sự ưỡn đầu và cổ ("sniffing position" hay tư thế của "chien humant") có thể được làm dễ bằng cách đặt một coussin dưới hai vai, miễn là không có chấn thương cổ.

    UserPostedImage


    NỘI THÔNG KHÍ QUẢN QUA ĐƯỜNG MIỆNG

    Trong khi hồi sức, nội thông khí quản qua đường miệng được ưa thích hơn bởi vì thủ thuật nhanh hơn và đơn giản hơn nội thông qua đường mũi.

    Đèn thanh quản được cầm ở tay trái. Lưỡi đèn được đưa vào trong khóe miệng phải rồi hướng về đường chính diện, đồng thời đẫy lưỡi về phía trái.

    UserPostedImage


    Sau đó lưỡi đèn cong được được chuyển về phía đáy lưỡi (trong vallécule giữa nắp thanh quản và đáy lưỡi đồng thời nâng nắp thanh quản lên)

    UserPostedImage


    Với một lưỡi đèn thẳng, nắp thanh quản được chargé bởi lưỡi đèn.

    UserPostedImage


    Cán của của đèn soi thanh quản sau đó được kéo lên cao theo trục của cán, không xoay

    UserPostedImage


    Chuyển động này làm kéo đáy lưỡi và nắp thanh quản, đồng thời bộc lộ thanh môn (glotte

    UserPostedImage


    Thay vì kéo thẳng đèn soi thanh quản, một chuyển động xoay tạo một lực đẫy lên lợi răng có thể làm hỏng các răng, lợi răng hay môi và ảnh hưởng lên tầm nhìn thanh môn.

    Ống thông khí quản được đưa vào từ khóe phải của miệng. Với thanh môn thấy rõ, ta phải thấy ống thông đi qua giữa các dây thanh âm.

    UserPostedImage


    IV. NHỮNG CỐ GẮNG NỘI THÔNG KHÔNG ĐƯỢC VƯỢT QUÁ 30 GIÂY

    Nội thông khí quản phải được ngừng lại nếu một désaturation hay tim nhịp chậm xuất hiện. Nếu không thể theo dõi độ bảo hòa oxy, nội thông phải dừng lại trong trường hợp xanh tía, xanh tái hay tim nhịp chậm (Tần số tim < 60/phút hay sụt nhanh tần số tim).

    Trong những trường hợp này, hay sau 30 giây, thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng với oxy phải được bắt đầu cho đến khi tình trạng đứa bé được cải thiện.

    NỘI THÔNG KHÍ QUẢN QUA ĐƯỜNG MŨI.

    Trong nội thông khí quản qua đường mũi, cần một pince de Magill để hướng ống nội thông đi vào thanh quản. Nội thông mất nhiều thời gian hơn với kỹ thuật này. Ngoài ra nếu pince quá lớn, nó có thể gây trở ngại cho việc nhìn thấy thanh môn. Ta không bao giờ sử dụng ống thông nòng khi nội thông qua đường mũi.

    Sự đặt không đúng đắn ống nội thông khí quản hay tình trạng giảm oxy mô thứ phát những lần thử nội thống kéo dài có thể làm gia tăng tỷ lệ bệnh và ngay cả tử vong.

    Khi ống nội thông đã đi qua các dây thanh âm và khi ống thông nòng đã được lấy đi, ống nội thông được nổi với quả bóng và đứa bé được thông khí với nồng độ oxy cao nhất.

    Nếu một sonde à ballonnet được sử dụng, ballonnet được bơm phồng để hạn chế những rò khí (áp lực bơm phồng khoảng 20 cm nước).

    Kiểm tra vị trí của ống nội thông khí quản

    Sự kiểm tra vị trí khí quản của ống nội thông được thực hiện nhờ nhiều phương pháp, thật ra không có phương pháp nào đáng tin cậy 100% trong mỗi trường hợp.

    UserPostedImage


    • Quan sát sự gia tăng của tần số tim cho đến một trị số bình thường đối với tuổi (hay duy trì trong những trị số bình thường)
    • Quan sát sự cải thiện hay sự ổn định của SpO2 theo những trị số được mong chờ.
    • Quan sát sự nở đối xứng của lồng ngực trong khi thông khí áp lực dương.
    • Thính chẩn rì rào phế nang của hai phía ngực, ở những hõm nách.
    • Lắng nghe ở vùng dạ dày để chứng thực không có tiếng động.
    • Quan sát dạ dày không bị căng.
    • Đo CO2 thở ra : hiện diện nếu nhịp thông máu (rythme perfusant).
    • Chụp phim ngực.

    Một khi vị trí đúng đắn của ống nội thông khí quản được xác nhận, cố định nó bằng một băng dính sau khi làm khô và lau chùi da với một miếng gạc và một dung dịch dính nếu cần.

    Nếu ta nghi ngờ một nội thông thực quản, hãy rút ống thông ra và thông khí đứa bé bằng mặt nạ và bóp bóng hay kiểm tra vị trí của ống thông bằng soi thanh quản trực tiếp.

    Nếu tiếng rì rào phế nang không đối xứng, đặc biệt nếu bị giảm về phải trái của lồng ngực, hãy rút một cách thận trọng ống nội thông từng 0,5 cm, cho đến khi tiếng rì rào phế nang trở nên đối xứng. Nếu đúng là tiếng rì rào phế nang trở nên đối xứng, đó là bởi vì ống nội thông bị đẫy vào quá xa trong cuống phổi phải.

    Nếu tình trạng của một bệnh nhân được nội thông khí quản trở nên suy sụp, phải xét đến nhiều khả năng, có thể dễ nhớ nhờ chữ "DOPEE"

    Quote:
    Déplacement de la sonde : ống nội thông bị xê dịch (extubation do tai biến hay ống thông trong cuống phổi phải).

    Obstruction du tube : ống thông bị tắc.

    Pneumothorax : tràn khí màng phổi

    Equipement : trang thiết bị (hãy kiểm tra nguồn oxy, bóng bóp, máy thở...)

    Estomac : dạ dày (dạ dày căng trướng có thể ảnh hưởng những cử động của cơ hoành).

    Về những chi tiết xử trí tràn khí màng phổi dưới áp lực (pneumothorax sous tension), tham khảo chương 9 " Trẻ bị chấn thương "
    Những lý do khác của một sự suy sụp hay một thông khí không đủ là :
    • Một ống nội thông khí quản quá nhỏ gây rò quan trọng
    • Một thể tích sinh hoạt (volume courant) quá bé.
    • Valve de surpression hoạt động trên phổi không compliant (thí dụ bệnh nhân đuối nước).


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (14/9/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Sunday, September 15, 2013 5:54:40 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #10 Posted : Sunday, September 22, 2013 3:37:55 AM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG III
    ĐƯỜNG KHÍ VÀ THÔNG KHÍ
    (VOIES RESPIRATOIRES ET VENTILATION


    Quote:
    Những mục tiêu


    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Hiểu tầm quan trọng của một xử trí có hiệu quả đường khí và sự hô hấp.
    • So sánh những phương pháp khác nhau cho phép giữ đường khí mở một cách hiệu quả.
    • Nhận diện những phương pháp cho oxy khác nhau và những ưu điểm của chúng.
    • So sánh những phương tiện thông khí khác nhau.
    • Hiểu sử dụng như thế nào một quả bóng và một mặt nạ để thông khí một đứa trẻ một cách hiệu quả.
    • Hiểu những kỹ thuật nội thông khác nhau và sử dụng kỹ thuật nào.
    • Bàn về những chỉ định của mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie).


    PHẦN IV


    V. NHỮNG ĐƯỜNG KHÍ KHÓ (LES VOIES AERIENNES DIFFICILES)

    Trong những trường hợp khác nhau (thí dụ chấn thương mặt, viêm nắp thanh quản, dị dạng đường khí...), sự thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng một đứa bé không có hiệu quả, và nội thông bằng những kỹ thuật thông thường rất khó hay không thể thực hiện. Sự hỗ trợ của một chuyên viên phải được đòi hỏi sớm. Nội thông bằng fibroscope có thể được thực hiện trong vài tình huống và trong vài bệnh viện.

    Trong những trường hợp khác, và tùy theo kinh nghiệm của những nhà hồi sức hiện diện, hai kỹ thuật khác có thể được xét đến.

    1. MẶT NẠ THANH QUÂN

    Đó là một thiết bị được sử dụng ở những bệnh nhân mất tri giác. Mặt nạ thanh quản được phổ biến rộng rãi trong các phòng mổ để đảm bảo sự thông khí và oxygénation hiệu quả

    UserPostedImage


    Mặt nạ thanh quản gồm có một sonde với, ở đầu mút xa (extrémité distale), một mặt nạ có vành đệm hơi (coussinet) có thể bơm phồng

    UserPostedImage


    Mặt nạ được đưa vào miệng rồi vào trong hạ hầu, cho đến khi cảm thấy một sức cản. Khi đó, vành đệm hơi được bơm phồng, điều này đảm bảo tính chất kín của lỗ trên của thực quản và đặt lỗ mở (ouverture distale) đối diện với các dây thanh âm.

    UserPostedImage


    Khi hồi sức, mặt nạ thanh quản có thể được sử dụng bởi một thầy thuốc hồi sức có thói quen sử dụng nó, khi sự nội thông khí quản không thể thực hiện được, đặc biệt trong trường hợp tắc đường khí do bất thường đường hô hấp trên. Ngoài những chỉ định này, mặt nạ thanh quản không được khuyến nghị ưu tiên trong hồi sức trẻ em.

    2. MỞ SỤN NHẪN-GIÁP (CRICOTHYROIDOTOMIE)

    Mở sụn nhẫn-giáp dùng kim (cricothyroidotomie à l'aiguille) là một kỹ thuật phải nhờ đến sau cùng, được chỉ định trong những tình huống tắc đường hô hấp trên (tắc thanh quản do phù hay do một vật lạ, chấn thương mặt quan trọng...), và chỉ khi nội thông cổ điển và những kỹ thuật khác thất bại. Mở khí quản ngoại khoa (trachéotomie chirurgicale) phải được dành cho những thầy thuốc ngoại khoa được huấn luyện bởi vì đó là một kỹ thuật khó, gây nhiều nguy cơ quan trọng như xuất huyết, rách thanh quản, tràn khí trung thất, khí phế thủng dưới da

    UserPostedImage


    Mở sụn nhẫn-giáp (cricothyroidotomie) phải được thực hiện với một cathéter cỡ lớn, loại catheter sur aiguille (G12 hay G14). Cathéter được nối với một ống tiêm, được sử dụng để chọc thủng màng nhẫn-giáp (membrane cricothyroidienne) (hay ngay dưới sụn giáp ở nhũ nhi), bằng đường qua da với một góc 45 độ theo hướng từ trên đầu xuống dưới chân (direction céphalo-caudale). Khí quản được định vị ngay dưới da. Sự hút khí xác nhận vị trí đúng đắn của cathéter

    UserPostedImage


    Sau đó kim được lấy đi và cathéter được nối vào một connecteur ống thông khí quản 3 hay 3,5 mm và với một ballon, hay trực tiếp với một nguồn oxy có áp lực cao qua trung gian một robinet à 3 voies toutes ouvertes. Oxy được cho trong một giây (thở vào) và 4 giây được dành cho thì thở ra. Lưu lượng oxy cần thiết cho kỹ thuật này = tuổi của đứa bé tính theo năm (tối đa 6L/phút).

    VI. MONITORAGE

    1. OXYMETRIE DE POULS

    Sự phát hiện lâm sàng tình trạng giảm oxy mô có thể khó và không luôn luôn có thể tin cậy được. Oxymétrie pulsée cho phép đánh giá liên tục độ bảo hòa oxy : đó là một phương pháp không xâm nhập cho phép theo dõi đứa bé trong tình trạng suy hô hấp. Nó phát hiện sớm giảm oxy mô và phải được sử dụng trong khi ổn định và vận chuyển đứa bé nguy kịch. Nếu sự thông máu ngoại biên bị biến đổi (ngừng tim hô hấp, choáng), và ảnh hưởng sự hiện diện của một flux pulsatile ngoại biên, sự đọc SpO2 không đáng tin cậy và không thể đọc được.

    2. CO2 EXPIRE (ETCO2)

    Monitorage CO2 thở ra được khuyến nghị để xác nhận vị trí của ống thông khí quản ở nhũ nhi trên 2 kg và ở trẻ em.

    Sau 6 thông khí (để đánh giá CO2 có thể hiện diện trong dạ dày và thực quản), CO2 thở ra có thể được xem như phát xuất từ phổi chứ không phải từ một ống thông đặt sai chỗ. Tuy nhiên sự phát hiện CO2 thở ra không thay thế thính chẩn và chụp X quang phổi để xác nhận rằng ống thông đúng là trong khí quản chứ không phải trong cuống phổi (bronche souche) phải.

    Một CO2 thở ra thấp hay vắng mặt là do ống nội thông đặt không đúng đắn, nhất là trong trường hợp căng trướng dạ dày, có hai ngoai lệ cho điều đó :
    • Trong trường hợp ngừng tim hô hấp, sự không phát hiện CO2 thở ra tương ứng với sự kiện là lưu lượng máu qua phổi rất thấp. Do đó, nếu CO2 không được phát hiện chút nào trong ngừng tim hô hấp, vị trí của ống thông phải được xác nhận bằng sự đánh giá lâm sàng và/hoặc soi thanh quản.
    • CO2 thở ra cũng có thể rất thấp trong những tình huống lưu lượng tim thấp (đặc biệt ở những nhũ nhi).

    Capnographie électronique liên tục cung cấp một đường cong CO2 thở ra.

    Những détecteur colorimétrique cũng có thể sử dụng ; sự biến đổi màu của một chất chỉ thị màu (indicateur coloré) chứng tỏ sự hiện diện của CO2 thở ra. Những dương tính giả đã được mô tả khi détecteur bị ô nhiễm bởi chất chứa trong dạ dày hay bởi những thuốc acide (thí dụ adrénaline). Trong những trường hợp này, màu không thấy đối với những chu kỳ hô hấp. Những âm tính giả xuất hiện khi CO2 thở ra dưới ngưỡng phát hiện (thí dụ trong hen phế quản với tắc phế quản nghiêm trọng).

    VI. XỬ TRÍ SUY HÔ HẤP

    Sự xác định suy hô hấp bù hay mất bù bằng sự nhận diện một gắng sức và tính hiệu quả của thông khí, và bằng những dấu hiệu của một hô hấp không thích đáng đã được mô tả trong chương 1. Algorithme sau đây mô tả thứ tự của những hành động phải được thực hiện ở trẻ em suy hô hấp.

    UserPostedImage


    Quote:
    Những điểm chủ yếu :

    • Sự xử trí đường khí là thiết yếu trong hồi sinh đứa trẻ
    • Sự thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng là một điều trị đầu tiên có hiệu quả trong xử trí suy hô hấp
    • Nội thông khí quản có nhiều biến chứng và chỉ được thực hiện bởi những thầy thuốc hồi sức có kinh nghiệm.


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.

    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (22/9/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Sunday, September 22, 2013 3:39:48 AM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #11 Posted : Thursday, September 26, 2013 3:15:42 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG IV
    ĐƯỜNG TRUYỀN DỊCH
    (ACCES VASCULAIRE)


    Sau khi xử trí đường dẫn khí và hô hấp, bây giờ ta tập trung vào tuần hoàn. Sự thiết đặt nhanh chóng một đường tĩnh mạch là thiết yếu trong những phút đầu của hồi sức nhưng trong bất cứ trường hợp nào không được gián đoạn sự thông khí và những đè ép ngực. Ta có thể đạt được điều đó bằng cách thiết đặt một đường mạch máu ngoại biên hay một đường trong xương. Đường trong xương có tất cả những ưu điểm của một đường tĩnh mạch trung ương nhưng su thiết đặt đơn giản hơn và nhanh hơn nhiều. Việc thiết đặt một đường tĩnh mạch trung ương đòi hỏi một người thao tác có kinh nghiệm và do đó cần có thời gian. Vậy đó không phải là đường tĩnh mạch được chọn đầu tiên trong giai đoạn ban đầu của hồi sức.

    Trong trường hợp vô tâm thu hay hoạt động điện vô mạch, đường tĩnh mạch được lựa chọn đầu tiên là đường trong xương cho phép cho adrénaline nhanh chóng.

    Trong trường hợp choáng mất bù, đường tĩnh mạch phải được thiết đặt trong vòng dưới 5 phút.

    Một khi đường cho thuốc đã được cố định, ta lấy các mẫu nghiệm máu (các chất dien giải, glucose, đếm máu và cấy máu). Những mẫu nghiệm máu này phải được lấy trước khi cho những dung dịch miễn là điều đó không làm trì hoãn việc cho adrénaline hay những loại thuốc/dung dịch làm đầy mạch máu khác. Các bolus dung dịch làm đầy có thể được cho bằng ống tiêm hay bằng tiêm truyền tùy theo các trường hợp. Điều cần thiết là phải ghi chép một cách chính xác thể tích đã được cho.

    Mỗi động tác cho thuốc đều phải được tiếp theo sau bởi một bolus 2 –5 ml NaCl 0,9%

    Vài loại thuốc như lidocaine, adrénaline, atropine và naloxone có thể được cho qua ống thông khi quản nếu không có sẵn đường tĩnh mạch. Tuy nhiên vì lẽ sự hấp thu qua đường phổi có thể thay đổi, nên tốt hơn là cho các loại thuốc qua đường tĩnh mạch hay trong xương.

    I. ĐƯỜNG TRONG XƯƠNG.

    Đó là đường truyền được khuyến nghị trong trường hợp ngừng tim-hô hấp và choáng mất bù, nhất là nơi trẻ dưới 6 tuổi. Đường trong xương sẽ được duy trì cho đến khi ta có được một đường truyền tĩnh mạch. Các loại thuốc, các dịch bù hay những sản phẩm máu có thể được cho bằng đường này. Ta có thể tiêm vào không có vấn đề các catécholamine trực tiếp hay tiêm truyền liên tục, các kháng sinh, bicarbonate de sodium, glucose, calcium, cristalloide, colloide, các sản phẩm máu. Những nồng độ đạt được cũng tương tự với những nồng độ đạt được lúc tiêm tĩnh mạch và gần với những nồng độ đạt được sau khi tiêm vào tĩnh mạch trung ương.

    Đó là một kỹ thuật cho phép có được một cách nhanh chóng một đường tĩnh mạch. Những chiếc kim đặc biệt làm cho kỹ thuật dễ dàng và nhanh chóng.

    Đường trong xương cũng được chỉ định sau 3 lần thất bại không đặt được đường tĩnh mạch ngoại biên hay nếu không có một đường nào khác trong vòng 90 giây.

    1. DỤNG CỤ

    Những chiếc kim dùng cho đường trong xương có hai loại :

    1. Những aiguille trocart với một lỗ ở đầu xa và hai lỗ bên, phải được đưa vào bằng tay.

    Kích thước thích hợp đối với tuổi là :
    • Trẻ sơ sinh 6 tháng = 18 G
    • Những trẻ từ 6 18 tháng = 16 G
    • Những trẻ hơn 18 tháng = 14 G


    [URL=http://s14.photobucket.com/user/lynn_ly8/media/HoiSinhCaoCapTreSoSinhVaNhiDong-chuong4-
    pic1.jpg.html]UserPostedImage[/URL]


    2. Cac pistolet

    2. CÁC ĐIỂM MỐC CƠ THỂ HỌC

    Những điểm mốc cơ thể học để đưa một chiếc kim vào trong xương là :
    • Trước 6 tuổi : mặt trước trong cửa xương chày, 2-3 cm dưới tubérosité tibilale.

      UserPostedImage


    • 6 cm hoặc hơn : trên bề mặt phẳng của tibia, 3 cm trên mắt cá trong

      UserPostedImage


      hay
    • Mặt ngoài của xương đùi, 3 cm trên lồi cầu ngoài

      UserPostedImage


    Những điểm đâm kim này tránh các sụn tăng trưởng của các xương dài (métaphyse). Kim được đưa vào xuyên qua cốt mạc và vỏ xương vào trong xoang tủy.

    Phải tránh đưa kim vào trong da hay một mô bị nhiễm trùng. Cũng vậy kim không thể được đưa vào trong một chi hay trong khung chậu gần chỗ gãy xương vì lẽ nguy cơ phát triển một syndrome des loges.

    3. KỸ THUẬT ĐƯA KIM VÀO TRONG XƯƠNG
    1. Xác định vị trí đâm kim
    2. Lau da với một dung dịch sát trùng
    3. Tiêm ngấm các mô cho đến tận cốt mạc với lidocaine 1% (điều này phải được thực hiện nơi trẻ em tỉnh táo, nhưng không cần thiết nơi trẻ em mất tri giác).
    4. Giữ chi bất động với một bàn tay (đừng để bàn tay dưới chi).
    5. Đưa kim vào thẳng góc với da.
    6. Đẩy kim vào bằng một chuyển động quay chắc đồng thời giữ thẳng góc cho đến khi cảm thấy đi vào trong cốt mạc (cảm giác lò xo). Kim phải được ấn vào khoảng 1-2 cm.
    7. Sau khi đã rút trocart ra, nối một robinet à 3 voies với một ống tiêm và một dung dịch cần tiêm. Hút máu hay một bolus sérum salé xác nhận vị trí đúng đắn của kim. Trong trường hợp tiêm phải đảm bảo rằng không có phù của các mô dưới da. Lấy những mẫu nghiệm máu để đếm công thức máu, định lượng urée và các chất điện giải, nhóm máu và compatibilité trước khi cho thuốc hay các dung dịch miễn là điều đó không làm chậm trễ việc cho thuốc.

    UserPostedImage


    8. Một ống tiêm các dung dịch làm đầy 50 ml được buộc vào kim và được cho bằng liều trực tiếp.
    9. Kim, một khi đã đi vào trong xoang tủy ổn định và không cần phải cố định.

    4. CÁC BIẾN CHỨNG
    • Extravasion. Hiếm khi kim trong xương nằm trong mô dưới da.Trái lại một sự căng phồng tạm thời thường được gặp vì lẽ những chuyển động của dịch từ xoang tủy về phía các mô dưới da qua những tĩnh mạch xuyên và sự dẫn lưu bạch huyết. Trong trường hợp nghi ngờ, sự tiêm truyền các dung dịch phải được dừng lại và một ít dịch phải được hút ra. Thường thường dịch màu hồng, chứng tỏ dịch được hút từ tủy xương và vị trí tốt của kim.

      UserPostedImage


    • Nghẽn mạch. Nguy cơ nghẽn mạch mô hay tủy xương là thấp (1%) đối với một thời gian sử dụng ngắn.(1%) đối với một thời gian sử dụng ngắn.
    • Nhiễm trùng. Thí dụ viêm xương tủy
    • Syndrome des loges
    • Gãy xương
    • Hoại tử da

    Sự tiêm truyền trong xương phải được thay thế bởi một đường tĩnh mạch cổ điển ngay khi đứa bé được ổn định.

    II. ĐƯỜNG TĨNH MẠCH NGOẠI BIÊN

    Một tĩnh mạch ngoại biên có thể được sử dụng như accès vasculaire nếu có thể thấy rõ hay nếu ta sờ được dưới da và nếu nó xuất hiện với kích thước đủ.

    UserPostedImage


    Những nơi thường được sử dụng nhất để đặt đường tĩnh mạch ngoại biên ở trẻ em là lưng của bàn tay hay của chân và pli du coude.

    UserPostedImage


    UserPostedImage


    UserPostedImage


    Ta đặt cathéter lớn nhất mà tĩnh mạch có thể chấp nhận và ta cố định tiêm truyền được đặt như thế.

    III. ĐƯỜNG TĨNH MẠCH TRUNG TÂM

    Đường tĩnh mạch trung tâm cho phép tiêm truyền liên tục nhưng thuốc tăng sức bóp cơ tim hay những thuốc ăn mòn thí dụ như potassium, và monitoring áp lực tĩnh mạch trung tâm. Nó cho phép cho nhanh những thể tích lớn những dung dịch làm đầy, một tác dụng nhanh và những nồng độ huyết thanh tăng cao của những thuốc được sử dụng trong hồi sức.

    1. SỰ THIẾT ĐẶT CẤP CỨU MỘT ĐƯỜNG TĨNH MẠCH TRUNG TÂM

    Dụng cụ được đòi hỏi gồm có :
    • Dung dịch sát trùng
    • Lidocaine 1% để gây tê tại chỗ với ông tiêm 2ml và một kim 23G. Nếu đứa trẻ tỉnh, hãy xét đến một gây mê tổng quát.
    • Ống tiêm với dung dịch sinh lý
    • Dụng cụ khâu
    • Bộ tiêm truyền
    • Băng dán
    • Một cathéter 20G hay lớn hơn sẽ được sử dụng để cho phép làm nở thể tích nhanh và cho thuốc. Cathéter này có thể được sử dụng để thiết đặt một cathéter trung tâm bằng kỹ thuật Seldinger.

    2. CÁC BIẾN CHỨNG

    Các biến chứng cổ điển là những khối máu tụ, huyết khối tĩnh mạch, tắc tĩnh mạch, thrombophlébite, nghẽn mạch khí (embolie gazeuse) và sepsis.

    Các biến chứng được gặp trong sự thiết đặt một đường vào tĩnh mạch chủ trên (qua tĩnh mạch dưới đòn hay tĩnh mạch cổ trong) là tràn máu màng phổi, tràn khí màng phổi, chèn ép tim, loạn nhịp tim, liệt cơ hoành, hội chứng Horner và chọc động mạch cánh trong.

    Các biến chứng được gặp khi đặt đường vào tĩnh mạch trong tĩnh mạch chủ dưới (thí dụ tĩnh mạch đùi) là thủng ruột, các khối máu tụ của vùng bên, khối máu tụ hậu phúc mạc, viêm khớp nhiễm trùng của háng hay huyết khối tĩnh mạch thận.

    3. TĨNH MẠCH ĐÙI

    UserPostedImage


    ạ CƠ THỂ HỌC CỦA HÕM BẸN

    Vị trí này thường được sử dụng nhất trong hồi sinh tim phổi vì lẽ khoảng cách của nó đối với đầu và ngực. Nó cho phép thiết đặt một đường tiêm truyền mà không gây trở ngại việc xử trí đường khí và sự thông khí. Đó cũng là nơi nguy cơ biến chứng ít nhất. Đó là kỹ thuật được nắm vững nhất bởi nhà lâm sàng có kinh nghiệm.

    UserPostedImage


    b. KỸ THUẬT

    1. Đặt cẳng chân hơi xoay ra ngoài
    2. Khử trùng da và nơi chọc kim
    3. Định vị nơi chọc. Tĩnh mạch đùi nằm trực tiếp trong động mạch đùi. Nếu động mạch không sờ được, tĩnh mạch nằm giữa gai chậu trước trên và tiếp hợp mu. Trong khi ép ngực, các mạch đập có thể sờ được trong động mạch cũng như trong tĩnh mạch đùi.

    UserPostedImage


    4. Nếu đứa trẻ có thể đau, ta tiêm lidocaine 1% ở điểm chọc. Gây mê tổng quát sẽ được xét đến ở trẻ em tỉnh táo.
    5. Cố định cathéter monté sur son aiguille vào một ông tiêm đầy dung dịch sinh lý. Chích bằng cách tạo một góc 45 độ so với da đồng thời tiến về đầu của đứa bé, mũi vạt của kim hướng lên trên.
    6. Hãy đưa cathéter tiến tới đồng thời hút ống tiêm .
    7. Ngay khi máu hồi lưu trong ống tiêm, hãy ngừng tiến cathéter.
    8. Hãy rút kim ra một cách thận trọng đồng thời để cathéter trong tĩnh mạch.
    9. Bịt đầu catéther để ngăn cần sự mất máu.
    10. Hãy đảm bảo vị trí đúng đắn của cathéter bằng cách hút máu và nếu ta có được một hồi lưu, hãy tưới rửa cathéter với dung dịch sinh lý và nối nó với một robinet à 3 voies được rửa trước đó.
    11. Cố định cathéter bằng những chỉ khâu hay bằng băng dán.

    Quote:
    Những điểm chính

    • Đường tĩnh mạch ngoại biên hay đường trong xương là những đường truyền được khuyến nghị.
    • Hãy đặt ngay một đường trong xương trong trường hợp vô tâm thu hay hoạt động điện vô mạch
    • Đường tĩnh mạch hay trong xương được ưa thích hơn đường khí quản.
    • Để đặt đường tĩnh mạch trung tâm cần phải học và ta khuyến nghị đường tĩnh mạch đùi.

    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (26/9/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Thursday, September 26, 2013 3:31:41 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #12 Posted : Wednesday, October 9, 2013 5:06:25 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG V
    CÁC LOẠI CHOÁNG, NHỮNG DDNG DỊCH LÀM ĐẦY VÀ THUỐC
    (TYPES DE CHOC, SOLUTES DE REMPLISSAGE ET MEDICAMENTS)


    Quote:
    Những mục tiêu

    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Thảo luận những bệnh cảnh lâm sàng của những loại choáng khác nhau
    • Kể những loại dung dịch làm đầy khác nhau được sử dụng trong xử trí trẻ em bị choáng
    • Đánh giá nhu cầu tiêm trực tiếp những dung dịch làm đầy và cho chúng như thế nào.
    • Mô tả sự sử dụng các thuốc như adrénaline, bicarbonate de sodium, glucosé, calcium, naloxone, atropine, adénosine và amiodarone


    PHẦN I


    I/ CHOÁNG

    Choáng là một tình trạng lâm sàng trong đó lưu lượng máu và sự phân phát các chất dinh dưỡng đến các mô không đủ đáp ứng nhu cầu chuyển hóa. Sự không có khả năng phân phát các substrat chuyển hóa (trong số đó oxy và glucose) và trích các substrat chuyện hóa này ở mức tế bào dẫn đến chuyển hóa kỵ khí, sự tích tụ acide lactique và những thương tổn tế bào. Choáng có thể được mô tả như là bù hay mất bù (xem chương 1).

    Choáng được định nghĩa như là sự thông máu không thích đáng của cơ thể.

    Các loại choáng
    • Giảm thể tích máu (choc hypovolémique) (thường nhất ở trẻ em)
    • Phân bố (choc distibutif)
    • sepsis (choc septique)
    • phản vệ (choc anaphylactique)
    • do thần kinh (choc neurogénique)
    • Do tim (choc cardiogénique)
    • Do tắc (choc obstructif)

    Choáng giảm thể tích (choc hypovolémique) xảy ra khi một thể tích dịch lớn bị mất mà không được thay thế đầy đủ, nhất là trong nhiều tình huống lâm sàng sau đây :
    • Ỉa chảy với mất nước
    • Mửa
    • Chấn thương
    • Bỏng rộng
    • Acidocétose diabétique

    Choáng nhiễm khuẩn (choc septique) và choáng phản vệ (choc anaphylactique) là do sự phối hợp của một sự giãn mạch, một sự gia tăng tính thẩm thấu mao mạch về phía mô kẽ (interstitium) và các mô (vậy trong các mô kế cận). Trong choáng thần kinh (choc neurogénique), sự mất trương lực huyết quản gây nên hạ huyết áp dai dẳng mặc dầu cho những thể tích lớn những dung dịch làm đầy. Những biến chứng của một tăng gánh thể tích (surcharge volémique) khi đó có nguy cơ xảy ra và một sự sử dụng đúng đắn những thuốc vận mạch (agents actifs) để cải thiện trương lực mạch máu là cần thiết. Toàn lượng những dung dịch làm đầy được cho phải được theo dõi một cách cẩn thận.

    Choáng nhiễm khuẩn, phản vệ và do nguyên nhân thần kinh là những choáng phân bố.

    Choc disscociatif được gặp khi có một suy vận chuyển oxy bởi máu (thí dụ, trong ngộ độc CO và thiếu máu).

    Việc cho những dung dịch làm đầy phải được hạn chế trong trường hợp choáng do tim vì lẽ vấn đề là do cơ tim không đủ khả năng để phóng thể tích máu.

    Choáng phải được điều trị theo những nguyên tắc ABC (airway, breathing, circulation), sự cho những dung dịch làm đầy là một phần của giai đoạn "C" của hồi sức.

    II/ CÁC DUNG DỊCH BÙ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CHOÁNG

    Các dung dịch bù (soluté de remplissage) được cho trong hồi sinh để phục hồi một thể tích lưu thông và đảm bảo một sự thông máu thích đáng đến các cơ quan sinh tử. Đó là điều cơ bản để cho phép sự trao đổi oxy và CO2 cũng như để duy trì những điều kiện chuyển hóa bình thường. Hiện nay không có ưu điểm được xác lập một cách rõ rệt của sự sử dụng colloide đối với cristalloide.

    Các dung dịch bù được cho bằng tiêm trực tiếp 20ml/kg bằng đường tĩnh mạch hay trong xương. Đứa trẻ sau đó được tái đánh giá trên phương diện lâm sàng. Nếu các dấu hiệu choáng vẫn tồn tại, cho một bolus thứ hai 20ml/kg dung dịch bù. Sau đó nếu các dấu hiệu choáng vẫn tồn tại, ta dự kiến cho hồng cầu (đặc biệt ở trẻ mẹ bị chấn thương). Các hồng cầu được truyền hoặc dưới dạng hồng cầu cô đặc (15ml/kg) mà ta thêm vào 10ml/kg cristalloide ở nhiệt độ cơ thể.

    Truyền máu lạnh có thể gây nên hạ thân nhiệt. Phải chẩn đoán và điều trị nguyên nhân của việc phải cấp các dung dịch làm đầy. ABC phải được tái đánh giá mot cách đều đặn và nếu một choáng bù hay mất bù tái xuất hiện, nhung bolus của các dung dịch làm đầy sẽ được lập lại.

    1. CRISTALLOIDES

    Thí dụ : Ringer, Hartmann, sinh lý …

    Cristalloide dễ tìm thấy và giá rẻ. Cristalloide không gây nên một phản ứng dị ứng nào nhưng ít hiệu quả hơn colloide để làm gia tăng thể tích lưu thông (volume circulant) trong khoang trong khoang huyết quản (espace intravasculaire) bởi vì chúng đi vào khoang kẽ (interstitium) một cách nhanh chóng. Chỉ 20-25% thể tích được tiêm vào vẫn còn ở trong khoang trong huyết quản. Phải tiêm 4 đến 5 lần thể tích thiếu hụt ban đầu để điều chỉnh sự thiếu hụt tuần hoàn.

    Điều này có thể bị dung nạp kém trong trường hợp có bệnh lý tim hay phổi kèm theo và gây phù, đặc biệt ở phổi. Cristalloide được sử dụng để thay thế dịch bị mất ở khoang kẽ (espace interstitiel) và điều chỉnh những thiếu hụt điện giải, đặc biệt ở những bệnh nhân bị bỏng hay mất nước.

    Những lượng rất lớn huyết thanh sinh lý (ngoại trừ Ringer lactate) có thể gây nên nhiễm toan tăng clo-huyết (acidose hyperchlorémique). Phải tránh tiêm truyền những dung dịch chứa potassiumn đặc biệt khi choáng kèm theo vô niệu hay thiểu niệu. Các dung dịch chứa glucose không bao giờ được sử dụng để làm nở thể tích bởi vì tăng đường huyết do truyền dịch này có thể gây nên bài niệu thẩm thấu, làm gia trọng sự mất thể tích lưu thông.

    Các dung dịch glucose chỉ được sử dụng để điều chỉnh một tình trạng hạ đường huyết. Ta cho 5-10 ml/kg glucose 10% và ta định lượng một cách nhanh chóng nồng độ glucose trong máu để đảm bảo rằng ta lại ở trong những trị số bình thường.

    2. COLLOIDES.

    Các colloide vẫn ở lâu hơn trong khoang huyết quản và có hiệu quả để làm gia tăng thể tích lưu thông hơn là những cristalloide. Các colloide đắc hơn và có khả năng gây dị ứng. Thí dụ của các colloides : albumine người (4 hay 5%), huyết thanh tươi đông lạnh, gélatine, amidon được biến đổi, dextran tổng hợp.

    Các thí dụ colloides ;

    UserPostedImage

    3. CÁC SẢN PHẦM MÁU

    Các sản phẩm máu chỉ được cho khi có một chỉ định đặc hiệu như mất máu hay một rối loạn đông máu. Phải ghi nhớ rằng có một nguy cơ khả dĩ truyền máu bị ô nhiễm. Một đứa trẻ bị chấn thương không đáp ứng với hai bolus 20 ml/kg cristalloides cần được truyền máu và một ý kiến ngoại khoa cấp cứu để xác định nguồn gốc của xuất huyết và điều trị.

    Đôi khi, máu Nhóm O Rhésus-âm sẽ được cho đặc biệt trong trường hợp choáng nặng với một xuất huyết tích cực. Không nên truyền các hồng cầu với glucose bởi vì một sự dung huyết có thể xảy ra.

    III/ CHO CÁC DỊCH BÙ TRONG CHOÁNG

    Sự làm nở thể tích (expansion volémique) được chỉ định khi đứa trẻ có những dấu hiệu của choáng giảm thể tích nghĩa là hạ huyết áp, giảm mạch ngoại biên, thông máu da bị biến đổi bởi sự co mạch (tái xanh hay có vết mồi, các đầu chi lạnh, thời gian đầy lại mao mạch gia tăng), trạng thái tâm thần bị biến đổi và vô niệu.

    Có thể cần 40 đến 60ml/kg dung dịch bù (soluté de remplissage) trong giờ đầu hồi sức. Việc cần đến những lượng thể tích lớn hơn phản ánh sự hiện diện của choáng đề kháng (choc réfractaire) và phải nghĩ đến một tình trạng xuất huyết dai dẳng hay một sự mất dịch đang tiếp tục cần phải được điều trị.

    Cần sự hỗ trợ của kíp ngoại khoa để định vị trí và điều trị tình trạng xuất huyết dai dẳng. Trong tình huống này, sự cầm máu (thường là ngoại khoa) có thể là điều trị duy nhất cứu mạng.

    Trong choáng nhiễm khuẩn, việc cho các dung dịch làm đầy là cần thiết do một sự giãn mạch có thể rất quan trọng và do dịch bị giam giữ trong các tạng chịu trách nhiệm một sự giảm thể tích tương đối.

    Trong trường hợp này, đến 60-80 ml/kg dung dịch làm đầy có thể cần thiết trong giờ đầu hồi sức. Những lượng rất lớn (giữa 100-200 ml/kg) có thể cần thiết trong những giờ đầu. Sự cần thiết những lượng lớn dung dịch làm đầy là do một sự gia tăng tính thẩm thấu mao mạch và một sự giảm trương lực huyết quản (lại còn làm gia tăng thể tích cần thiết để làm đầy khoang huyết quản).

    Choáng thần kinh có thể hiện diện với một huyết áp thấp, không cải thiện mặc dầu cho các dung dịch làm đầy. Chẩn đoán phải được nghi ngờ trước sự hiện diện những bất thường thần kinh. Loại choáng này cần cho những thuốc co mạch. Những loại thuốc này cũng có thể cần thiết trong choáng nhiễm khuẩn.

    Choáng do tim do sự bất túc của bơm tim. Việc cho một dung dịch làm đầy có thể cần thiết nhưng sự đáp ứng với một bolus sẽ phải được monitoring đồng thời theo dõi tiền gánh (ứ tĩnh mạch cổ, kích thước của gan, thính chẩn phổi).

    Các dung dịch làm đầy cũng có thể được cho trong ngừng tim, khi choáng giảm thể tích là nguyên nhân khả dĩ nhất. Tuy nhiên, những lượng lớn các dung dịch có thể tỏ ra có hại trong những tình huống này cũng như trong giai đoạn hồi sức sau ngừng tim hô hấp.

    Đo huyết áp ít hữu ích để xác định tình trạng tuần hoàn bởi vì áp lực động mạch vẫn bình thường trong choáng bù và chỉ sụt khi choáng mất bù. Mục đích xử trí choáng là ngăn ngừa sự xuất hiện của một choáng mất bù có thể nhanh chóng đưa đến một tình huống choáng không thể đảo ngược và tử vong.

    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (9/10/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Wednesday, October 9, 2013 5:07:59 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #13 Posted : Saturday, October 12, 2013 7:06:58 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    CHƯƠNG V
    CÁC LOẠI CHOÁNG, NHỮNG DDNG DỊCH LÀM ĐẦY VÀ THUỐC
    (TYPES DE CHOC, SOLUTES DE REMPLISSAGE ET MEDICAMENTS)


    Quote:
    Những mục tiêu

    Cuối chương này các bạn sẽ có khả năng :
    • Thảo luận những bệnh cảnh lâm sàng của những loại choáng khác nhau
    • Kể những loại dung dịch làm đầy khác nhau được sử dụng trong xử trí trẻ em bị choáng
    • Đánh giá nhu cầu tiêm trực tiếp những dung dịch làm đầy và cho chúng như thế nào.
    • Mô tả sự sử dụng các thuốc như adrénaline, bicarbonate de sodium, glucosé, calcium, naloxone, atropine, adénosine và amiodarone
    • Nội thông khí quản nối tiếp nhanh và những thuốc tương quan được giải thích trong phần phụ


    PHẦN II


    IV/ CÁC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG HỒI SỨC.

    1/ ADRENALINE.

    Adrénaline/épinéphrine là một catécholamine nội tại kích thích những thụ thể alpha và bêta-1 và 2-adrénergique. Sự kích thích các thụ thể alpha-adrénergique gây nên co mạch tạng, niêm mạc và da cũng như một sự gia tăng áp suất động mạch tâm thu và trương tâm. Những tác dụng bêta-1 và bêta-2 adrénergique làm gia tăng tính co bóp cơ tim và tần số tim, một sự giãn mạch của hệ cơ trơn và làm giãn hệ cơ trơn của các tiểu quản phổi.

    Các tác dụng dược lý tùy thuộc vào liều lượng. Trong ngừng tim-hô hấp, sự co mạch (tác dụng alpha-adrénergique) là tác dụng dược lý quan trọng nhất của adrénaline : tác dụng này làm gia tăng áp lực thông máu của các động mạch vành và như thế cải thiện sự cung cấp oxy đến cơ tim trong lúc ép ngực. Adrénaline làm tăng cao áp suất trương tâm, điều này cải thiện sự thông máu động mạch vành, yếu tố quyết định chủ yếu của sự thành công của hồi sức.

    NHỮNG TÁC DỤNG CÓ LỢI KHÁC :
    • Tăng cao áp lực động mạch thu tâm.
    • Gia tăng khuynh hướng hồi phục một nhịp tim trong hồi sức tim-phổi.
    • Gia tăng sức cản mạch máu ngoại biên
    • Cải thiện tình trạng co bóp của tim
    • Kích thích các co bóp ngẫu nhiên của tim
    • Gia tăng cường độ và biên độ của các rung thất, điều này làm gia tăng điều này làm gia tăng những cơ may thành công điều trị lúc phá rung (nghĩa là trở về một nhịp xoang)

    NHỮNG CHỈ ĐỊNH DÙNG ADRENALINE :
    • Ngừng tim-hô hấp
    • Loạn nhịp chậm (brady-arythmie) (sau khi trước đó đã đảm bảo một sự thông khí và oxygénation thích đáng)
    • Hạ huyết áp và phản vệ
    • Hạ huyết áp với bình thể tích (normovolémie) (điều trị tuyến hai).

    Những nhịp tim thường được quan sát nhất ở trẻ em bị ngừng tim là vô tâm thu và loạn nhịp chậm ; adrénaline có thể phát sinh một nhịp thông máu (un rythme perfusant) ở những trẻ em này. Vì tác dụng của các catécholamine có thể bị giảm bởi tình trạng nhiễm toan, nên điều chủ yếu là phải đảm bảo oxygénation, sự thông khí và tuần hoàn (ABC). Các catécholamine bị làm bất hoạt bởi các dung dịch kiềm và không bao giờ được cho theo cùng một đường truyền với bicarbonate. Nếu hai loại thuốc này phải được sử dụng đồng thời và được cho bằng cùng đường tiêm truyền, thì sự cho chúng phải được ngăn cách bởi một bolus sérum physiologique (2-5ml).

    LIỀU LƯỢNG TRONG HỒI SINH CAO CẤP

    Vô tâm thu, hoạt động điện vô mạch (AESP), rung thất và tim nhịp nhanh thật vô mạch đòi hỏi cùng liều lượng.

    • 10 mcg/kg adrénaline = 0,1 ml/kg của một dung dịch 1/10.000 (1mg/10ml) bằng đường tĩnh mạch hay trong xương.

    • 100 mcg/kg adrénaline = 0,1 ml/kg của một dung dịch 1/1000 (1mg/1ml) bằng đường khí quản.


    TRẺ SƠ SINH

    Liều lượng từ 10 đến tối đa 30mcg/kg (0,1 đến 0,3 ml/kg của một dung dịch 1/10.000) bằng đường tĩnh mạch.

    Đường khí quản không được khuyến nghị, tuy nhiên nếu được sử dụng, những liều adrénaline quan trọng (đến 100 mcg/kg) có thể cần thiết.

    Nhũng liều lượng quan trọng adrénaline làm gia tăng nguy cơ xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là ở trẻ sinh non.

    Ta cho một bolus adrénaline mỗi 3 đến 5 phút hay sau 2 chu kỳ 2 phút hồi sinh tim phổi trong algorithme ALS (xem chuong 6).

    Adrénaline cho bằng đường tĩnh mạch cũng hiệu quả bằng đường trong xương. Nếu đứa trẻ không có đường tĩnh mạch, đường trong xương là đường lựa chọn bởi vì thiết đặt nhanh và hiệu quả bằng. Nếu không có đường cấp thuốc nào có thể được thiết đặt, ta có thể sử dụng đường khí quản nhưng cần biết rằng sự hấp thụ và những nồng độ huyết thanh của adrénaline là biến thiên. Adrénaline được tiêm qua một ống hút (sonde d'aspiration) được đưa vào đến đầu mút của ống thông khí quản, hay trực tiếp trong ống thông khí quản, tiếp theo sau bởi một bolus 1-2 ml huyết thanh sinh lý.

    Không được khuyến nghị cho những liều adrénaline quan trọng hơn bằng đường mạch máu bởi vì điều đó không cải thiện tỷ lệ sống còn cũng như tương lai thần kinh sau ngừng tim hô hấp.

    Adrénaline có một thời gian bán hủy ngắn (2 phút) và những liều có thể được lập lại. Sau cùng , một tiêm truyền liên tục adrénaline đôi khi có thể hữu ích khi tuần hoàn hoàn tự nhiên được phục hoi.

    Những tác dụng huyết động tùy theo liều lượng :

    Với những liều thấp (< 0,3mcg/kg/phút) tác dụng sinh ra là beta-adrénergique trong khi với những liều cao hơn (> 0,3 mcg/kg/phút), ta sẽ có một sự co mạch qua trung gian những tác dụng alpha.

    NHỮNG THẬN TRỌNG

    Bolus adrénaline phải được cho trong những đường tĩnh mạch ngoại biên an toàn hay trong một đường trong xương. Adrénaline tiêm truyền liên tục tốt nhất được cho qua một đường trong xương đó nguy cơ thiếu máu cục bộ hay hoại tử mô trong trường hợp xuất ra ngoài. Với liều cao, sự co mạch mạnh có thể làm suy giảm sự tưới máu của các chi, của mạc treo của ống tiêu hóa và của thận. Adrénaline gây nên tim nhịp nhanh và có thể sinh ra hay làm nặng thêm một ngoại tâm thu thất

    2/ ATROPINE

    Sulfate d’atropine làm giảm trương lực phế vị, gia tốc pacemaker nhĩ và sự dẫn truyền nhĩ-thất và làm gia tăng tần số tim.

    a/ CÁC CHỈ ĐỊNH
    • Phòng ngừa và điều trị tim nhịp chậm phản xạ liên kết với nội thông khí quản.
    • Ngừng tim-hô hấp do vô tâm thu với sóng P (sau khi đã cho adrénaline).

    b/ LIỀU LƯỢNG

    Một liều 20 mcg/kg với một liều tối thiểu 100mcg được khuyến nghị ; một tác dụng nghịch lý đã được báo cáo với một liều thấp hơn.

    Liều tối đa là 3mg. Atropine có thể được tiêm tĩnh mạch hay trong xương, hay bằng đường khí quản (liều tăng gấp ba lần).

    3/ BICARBONATE DE SODIUM

    Bicarbonate de sodium không phải là thuốc được chọn lựa đầu tiên trong xử trí ngừng tim-hô hấp. Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự sử dụng nó thường quy không cải thiện tiên lượng. Bicarbonate de sodium gia tăng PaCO2 trong khi hồi sức tim-phổi, điều này có nguy cơ gia trọng một nhiễm toan hô hấp, có thể là nguyên nhân của ngừng tim. Nó cũng gây nên một nhiễm toan nghịch lý trong tế bào, làm biến đổi chức năng tế bào (thí dụ loạn năng cơ tim có thể gây nên bởi nhiễm toan ở bên trong các tế bào cơ tim

    a/ Những chỉ định

    Những ưu tiên điều trị ngừng tim hô hấp của trẻ em là ABC với khai thông đường dẫn khí, 100% oxy, thông khí hỗ trợ, phục hồi một thông máu toàn thân với xoa bóp tim ngoài lồng ngực và cho những dung dịch làm đầy và adrénaline bằng đường tĩnh mạch hay trong xương. Khi tất cả những giai đoạn này được hoàn thành, sự cho bicarbonate de sodium được xét đến trong trường hợp ngừng tim-hô hấp kéo dài hay ngừng tim-hô hấp với nhiễm toan chuyển hóa nghiêm trọng. Sự sử dụng bicarbonate de sodium phải tùy theo thời gian và mức độ nghiêm trọng của nhiễm toan. Một cách lý tưởng, sự cho bicarbonate phải được hướng dẫn bởi khí máu tĩnh mạch hỗn hợp.

    b/ Những liều lượng

    1 mEq/kg = 1 mMole/kg (1ml/kg của một dung dịch 8,4%) được cho như liều đầu tiên (tĩnh mạch hay trong xương).

    Quyết định cho những liều bổ sung được căn cứ trên phân tích khí huyết tĩnh mạch.

    Bicarbonate de sodium có ở nồng độ 4,2% (1 mMole hay 1 mEq = 2ml) và 8,4% (1 mMole hay 1 mEq = 1ml) ; nồng độ thấp nhất được sử dụng ở các trẻ sơ sinh và các nhũ nhi dưới 3 tháng để tránh charge osmotique.

    c/ Những thận trọng

    Phân tích khí huyết động mạch không phản ánh pH tĩnh mạch và mô, do đó cần đo khí tĩnh mạch hỗn hợp.

    Sự cho quá mức bicarbonale de sodium có thể có nhiều những tác đúng phụ :
    • Nhiễm kiểm chuyển hóa gây nên một sự di chuyển về phải trái của đường cong phân ly của hémoglobine với một sự biến đổi của phân phát oxy đến các mô.
    • Chuyển động potassium về các tế bào.
    • Giảm nồng độ calcium ionisé trong huyết tương.
    • Hạ ngưỡng rung thất
    • Tăng natri-huyết
    • Tăng độ thẩm thấu máu (hyperosmolarité sanguine)

    4/ CALCIUM

    Calcium thiết yếu cho sự co bóp cơ tim. Tuy nhiên việc cho thường quy đã không cải thiện tiên lượng của ngừng tim-hô hấp. Nhiều công trình nghiên cứu đã quy sự tích tụ calcium trong tế bào chất như là giai đoạn cuối cùng của chết tế bào. Sau một thiếu máu cục bộ hay trong giai đoạn tái tưới máu của các cơ quan bị thiếu máu, dường như calcium tế bào chất góp phần vào sự hoại tử tế bào.

    CHỈ ĐỊNH.

    Sự cho calcium trong hồi sức cao cấp không được chỉ định. Chỉ định duy nhất của nó là điều trị hạ canxi huyết, tăng kali huyết, tăng magie-huyết được xác nhận cũng như trong trường hợp quá liều thuốc phong bế các kênh canxi.

    NHỮNG THẬN TRỌNG.

    Tiêm nhanh canxi có thể gây nên loạn nhịp chậm và vô tâm thu ở những bệnh nhân được điều trị với digoxine. Canxi phải được tiêm chậm trong một tĩnh mạch trung tâm vì lẽ nguy cơ hoại tử mô trong trường hợp xuất ra ngoài mạch máu.

    5/ GLUCOSE

    Các nhũ nhi có nhu cầu lớn về glucose và ít dự trữ glycogène. Chúng có thể nhanh chóng bị hạ đường huyết trong những tình huống đòi hỏi một sự gia tăng các nhu cầu năng lượng như thí dụ trong choáng, hôn mê hay suy hô hấp. Do đó phải theo dõi đường huyết một cách sát sao. Một trẻ em bị co giật phải nhanh chóng đo đường huyết tại giường, vì hạ đường huyết là một nguyên nhân của co giật. Glucose là một trong những substrat năng lượng chính của những tế bào cơ tim, do đó tính co bóp của cơ tim có thể bị ảnh hưởng trong trường hợp hạ đường huyết.

    Vài dấu hiệu của hạ đường huyết và choáng có thể tương tự nhau : hạ huyết áp, tim nhịp nhanh, giảm thông máu ngoại biên và ra mồ hôi.

    Glucose huyết phải được kiểm tra đều đặn khi ta xử trí một đứa bé bị bệnh nặng hay bị chấn thương và điều đó có thể được thực hiện tại giường của bệnh nhân. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng có một sự liên kết giữa hạ đường huyết và một sự tiến triển thần kinh xấu ở những trẻ bị đuối hay bị một chấn thương não bộ. Vậy điều quan trọng là điều chỉnh một tình trạng giảm đường huyết đồng thời tránh sự xuất hiện của một tăng đường huyết.

    a. Các chỉ định

    Giảm đường huyết được xác nhận.

    b. Liều lượng

    5 đến 10 ml/kg dung dịch glucose 10% (5ml= 0,5 g glucose). Các dung dịch glucose có sẵn là những dung dịch 10% (5ml = 0,5 g glucose) hay 20% (5ml = 1g glucose).

    c. Những biện pháp thận trọng.

    Sau giai đoạn hồi sinh, tốt nhất là tiêm truyền một dung dịch chứa glucose một cách liên tục hơn là tiêm những bolus dung dịch glucose cường trương (soluté hypertonique). Cũng có một nguy cơ xuất huyết trong não thất ở trẻ sinh non trong trường hợp tiêm bolus những dung dịch ưu trương. Các dung dịch glucose ưu trương có thể gây nên hoại tử da trong trường hợp xuất ra ngoài mạch máu.

    6/ NALOXONE

    Naloxone là một chất đối kháng của các chất nha phiến, có tác dụng nhanh (2 phút sau khi tiêm) và có thời gian tác dụng lên đến 45 phút. Trong trường hợp ngộ độc bởi những thuốc như méthadone (dạng thải chậm), ta có thể buộc phải truyền naloxone liên tục để chống lại sự phóng thích của chất nha phiến.

    a. Chỉ định

    Ngộ độc triệu chứng bởi các chất nha phiến (hôn mê, suy giảm hô hấp, hẹp đồng tử, hạ huyết áp và giảm thông máu).

    b. Liều lượng

    Liều lượng khởi đầu được khuyến nghị là 100 mcg/kg ở trẻ em dưới 5 tuổi (tối đa 2mg), 2 mg sau 5 tuổi bằng đường tĩnh mạch, trong xương hay trong cơ. Nếu cần thiết, naloxone có thể được lập lại mỗi 3 phút.

    Ta có thể sử dụng một tiêm truyền liên tục naloxone nếu a nghi ngờ uống các chất nha phiến với số lượng lớn. Liều lượng tiêm truyền liên tục biến thiên tử 10 đến 160 mcg/kg/giờ bằng cách chuẩn độ cho đến khi có được một đáp ứng thỏa mãn.

    c. Những thận trọng.

    Những biến chứng sau khi tiêm naloxone hiếm khi xảy ra (< 2%)

    Tuy nhiên những biến chứng nghiêm trọng đã được mô tả khi naloxone được sử dụng để cai cấp tính các chất nha phiến (phù phổi, loạn nhịp thất, co giật và cao huyết áp)

    7/ ADENOSINE

    Adénosine là một nucléotide nội tại, tạo một phong bế nhĩ-thất trong thời gian ngắn, ngăn cản hiện tượng vào lại của bó phụ ở nút nhĩ-thất. Bó phụ này là nguyên nhân thường nhất của tim nhịp nhanh trên thất ở trẻ em.

    Adénosine được chuyển hóa nhanh bởi các tế bào hồng cầu và thời gian bán hủy của nó khoảng 10 giây. Adénosine phải được tiêm nhanh và càng gần tim càng tốt (qua một đường trung tâm hay một tiêm truyền tĩnh mạch ngoại biên được đặt ở chi trên) và được theo sau bởi một bolus nước muối sinh lý, được tiêm càng nhanh càng tốt.

    Những tác dụng phụ xảy ra trong một thời gian ngắn (đỏ mặt, đau đầu, hạ huyết áp, co thắt phế quản, lo âu và cảm giác chết gần kề).

    LIỀU LƯỢNG

    Với monitoring tim liên tục, tiêm nhanh một bolus 100 mcg/kg vào trong tĩnh mạch hay trong xương (tối đa 6 mg) và tiếp theo sau bởi một bolus 3-5 ml nước muối sinh lý. Liều thứ hai có thể tăng gấp đôi (tối đa 12 mg)

    NHỮNG THẬN TRỌNG

    Những trẻ được điều trị với théophylline ít nhạy cảm hơn với tác dụng của adénosine. Adénosine sẽ được sử dụng một cách thận trọng ở những trẻ em đã bị ghép tim

    8/ AMIODARONE

    Amiodarone là một inhibiteur non-compétitif của các thụ thể giao cảm với một cơ chế tác dụng phức tạp. Amiodarone dùng bằng đường miệng không được hấp thụ tốt nhưng dạng tĩnh mạch đã được sử dụng thành công trong những loạn nhịp nhanh.

    CHỈ ĐỊNH

    Đó là thước được chọn đầu tiên trong điều trị rung nhĩ và tim nhịp nhanh thất vô mạch đề kháng với phá rung. Amiodarone cũng được chỉ định trong tim nhịp nhanh trên thất và những ngoại tâm thu thất sau mồ tim.

    LIỀU LƯỢNG

    Trong rung thất đề kháng với phá rung, một liều 5mg/kg có thể được tiêm tĩnh mạch trực tiếp. Liều lượng này có thể được lập lại lên đến 15 mg/kg/ngày.

    NHỮNG THẬN TRỌNG.

    Trong tim nhịp nhanh thất, amiodarone phải được tiêm chậm (trong 20 đến 60 phút), để tránh hạ huyết áp. Huyết áp và điện tâm đồ được monitoring liên tục. Những tác dụng thứ phát khác, hiếm nhưng nghiêm trọng, là tim nhịp chậm và tim nhịp nhanh thất đa hình thái.

    V/ CHO THUỐC VÀ CÁC DUNG DỊCH BÙ

    Sự cho các thuốc là thiết yếu trong xử trí ngừng tim-hô hấp. Sự cho thuốc này phải được tức thời theo sau bởi một bolus de sérum salé (2 đến 5 ml) nhằm đảm bảo sự phóng thích thuốc vào tuần hoàn trung tâm. Những đường cho thuốc tối ưu trong điều trị ngừng tim-hô hấp là đường tĩnh mạch và trong xương (xem chương 4). Ở trẻ em, sự khác nhau giữa cho thuốc bằng đường trung tâm và ngoại biên có lẽ ít quan trọng hơn người lớn và sự cho thuốc này cho phép một sự phân bố thích đáng các loại thuốc. Đường trong xương được ưa thích hơn đường khí quản.

    Đường khí quản để cho những chất tan trong mỡ như adrénaline, atropine, và naloxone có thể được sử dụng cho đến khi có được một đường tĩnh mạch hay trong xương an toàn. Những liều lượng tối ưu của các thuốc được cho bằng đường khí quản không được biết rõ do tính chất biến thiên lớn trong sự hấp thụ phế nang. Những dữ kiện phát xuất từ những mô hình động vật gợi ý rằng những thuốc được sử dụng trong hồi sức được cho với những liều cao hơn (như adrénaline). Những thuốc được cho bằng đường khí quản được tiếp theo sau bởi tiêm một bolus 1-2 ml huyết thanh mặn rồi bởi 5 thông khí bằng tay để cải thiện sự phân tán của thuốc trong phổi.

    NHỮNG THẬN TRỌNG

    Trong hồi sức cao cấp, ta ưa thích sử dụng hơn huyết thanh mặn để hòa loãng những loại thuốc (thí dụ các catécholamines tiêm tĩnh mạch liên tục) bởi vì tăng đường huyết được liên kết với một tiên lượng thần kinh ít tốt hơn.

    Một cách lý tưởng, các catécholamines phải được cho theo một đường đặc thù. Catécholamines được cho liên tục có thể là một phần của hồi sức trẻ em (xem chương 11).

    VI/ CÁC THUỐC DÙNG TRONG NỘI THÔNG NỐI TIẾP NHANH (RSI : RAPID SEQUENCE INTUBATION)

    Trong tình huống ngừng tim-hô hấp, vì đứa trẻ bất tỉnh, nên an thần và giảm đau không có ích, nhưng chúng hữu ích trong những tình huống cấp cứu khác.

    RSI nhằm gây mê bằng cách sử dụng các loại thuốc, để làm dễ và đảm bảo an toàn nội thông khí quản cấp cứu.

    Sự hô hấp tự nhiên được duy trì cho đến lúc bắt đầu gây mê và bại liệt. Thông khí bằng mặt nạ và bóp bóng trước khi nội thông cần phải tránh nếu tình trạng lâm sàng của đứa bé cho phép. Điều này nhằm tránh giãn dạ dày và làm giảm nguy cơ mửa và hít dịch. Ta cho oxy 100% trong 3 phút để có một dự trữ oxy trong lúc nội thông, được bắt đầu một khi đứa trẻ được gây mê và được làm bại liệt. Atropine có thể được cho để tránh tim nhip chậm phản xạ, tiếp theo ngay bởi những thuốc an thần và những thuốc giảm đau và bởi một curare có tác dụng ngắn để làm dễ một nội thông không gây chấn thương.

    Ngay khi có thể, ta nhờ đến một thầy thuốc lâm sàng có kinh nghiệm , trong trường hợp ta gặp những khó khăn ở những đường khí (phù mặt hay thanh quản quan trọng, chấn thương mặt, viêm nắp thanh quản).

    UserPostedImage


    Quote:
    Những điểm chủ yếu

    • Choáng là một tình trạng tưới máu mô không thích đáng.
    • Những dạng choáng khác nhau mà : giảm thể tích (thường gặp nhất), phản vệ, nhiễm khuẩn, do nguyên nhân thần kinh, phân ly (dissociatif), do tim.
    • Sự cho những dung dịch làm đầy bắt đầu với 20 ml/kg cristalloides hay colloides.
    • Tùy theo đáp ứng lâm sàng, ta sẽ cho một hay nhiều bolus bổ sung và/hoặc máu
    • Sau mỗi bolus, đứa trẻ phải được đánh giá lại trên phương diện lâm sàng theo những nguyên tắc ABC.
    • Những thuốc chủ yếu được sử dụng trong ngừng tim hô hấp là adrénaline và amiodarone tĩnh mạch hay trong xương.
    • Adénosine được sử dụng trong tim nhịp nhanh trên thất
    • Phải tránh giảm và tăng đường huyết


    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (12/10/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)

    Edited by user Saturday, October 12, 2013 7:09:32 PM(UTC)  | Reason: Not specified

    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    lly (Lynn Ly)  
    #14 Posted : Monday, October 14, 2013 5:34:32 PM(UTC)
    lly (Lynn Ly)

    Rank: Advanced Member

    Groups: Y Học Đời Sống, Registered
    Joined: 4/5/2011(UTC)
    Posts: 5,336

    Thanks: 2457 times
    Was thanked: 2377 time(s) in 1224 post(s)
    HỒI SINH CAO CẤP TRẺ SƠ SINH VÀ NHI ĐỒNG
    (EUROPEAN PEDIATRIC LIFE SUPPORT)


    BS NGUYỄN VĂN THỊNH

    CHƯƠNG VI
    NGỪNG TIM VÀ NHỮNG RỐI LOẠN NHỊP TIM
    (ARRÊT CARDIAQUE ET TROUBLE DU RYTHME CARDIAQUE)


    Quote:
    Những mục tiêu

    Cuối chương trình này, các bạn sẽ có khả năng :
    • Mô tả một điện tâm đồ bình thường và những biến thiên bình thường của tần tim tùy theo số tuổi.
    • Nhận biết những loạn nhịp tim nguy hiểm
    • So sánh và phân biệt những nhịp không thể phá rung với những nhịp có thể phá rung và bàn về những điều trị những nhịp này.


    PHẦN I


    Các rối loạn của nhịp đe dọa mạng sống của đứa bé thường là kết quả hơn là nguyên nhân của bệnh cấp tính.

    Suy hô hấp và/hay suy tuần hoàn dẫn đến giảm oxy mô, nhiễm toan và/hoặc hạ huyết áp là những nguyên nhân thường gặp nhất của loạn nhịp của trẻ em. Trái lại, nơi người lớn, loạn nhịp thường nhất là hậu quả của một bệnh lý tim nguyên phát.

    Những trẻ em bị bệnh cơ tim (cardiomyopathie), viêm cơ tim hay đã chịu một phẫu thuật tim vì bệnh tim bẩm sinh có nguy cơ nhất phát triển một loạn nhịp. Vài loại thuốc với liều lượng điều trị hay độc cũng có thể là nguồn gốc của loạn nhịp tim.

    Khi có một cấp cứu nhi khoa, trước hết người cứu phải đảm bảo sự thông suốt của đường khí, tối ưu hóa sự thông khí và oxygénation trước khi xử trí tuần hoàn.

    Trong khi đánh giá tuần hoàn, điện tâm đồ phải được monitoring. Nó phát hiện sự hiện diện của một loạn nhịp và cho phép theo dõi những thay đổi tần số tim do tiến triển tự nhiên của bệnh nhân hay do đáp ứng của bệnh nhân với điều trị.

    Chương này liên quan đến những loạn nhịp và những tình trạng trong đó một điều trị cấp cứu phải được thực hiện..

    I. ĐIỆN TÂM ĐỒ BÌNH THƯỜNG

    UserPostedImage


    Sóng đầu tiên (sóng P) tương ứng với sự khử cực tâm nhĩ. Phức hợp QRS tương ứng với sự khử cực tâm thất. Đoạn ST và sóng T tương ứng với sự tái phân cực.

    Điện tâm đồ chỉ chứng tỏ sự tiến triển của luồng điện đpi xuyên qua tim. Nó không biểu thị tính hiệu quả của co bóp tâm thất, sự thông máu mô hay tình trạng lâm sàng của đứa bé.

    Những quyết định điều trị chỉ được thực hiện sau một đánh giá tỉ mỉ tình trạng lâm sàng của đứa bé.

    Điều trị bệnh nhân chứ không phải điều trị monitoring.

    Trong khi đánh giá điện tâm đồ, điều quan trọng là nhận biết sự hiện diện của các artéfact. Một điện cực bị tách nối có thể bắt chước một vô tâm thu (asystolie) và những chấn động rung được truyền đến các điện cực (thí dụ trong lúc vận chuyển) có thể giống với một rung thất (fibrillation ventriculaire).

    UserPostedImage


    Tần số tim được tính bằng monitoring có thể gây lầm lẫn. Phải luôn luôn bắt mạch bằng tay trong trường hợp nghi ngờ.

    Khi vị trí của điện cực thẳng góc với trục của khử cực tâm nhĩ, các sóng P không thấy rõ trên monitoring. Nhịp tim bình thường có thể thay đổi với tuổi, tình trạng thức tỉnh, sốt và đau đớn.

    Tần số tim tùy theo tuổi và tình trạng thức tỉnh

    UserPostedImage


    Cũng xem những bảng đơn giản hóa của các trị số bình thường, đối với tuổi, của nhịp tim, của nhịp hô hấp và của huyết áp.

    UserPostedImage


    II. NHỮNG RỐI LOẠN CỦA NHỊP TIM

    Các rối loạn nhịp, được liên kết với một suy tuần hoàn, có thể được xếp loại thành :
    • Không có mạch : ngừng tim
    • mạch chậm : tim nhịp chậm (bradycardie)
    • Mạch nhanh : tim nhịp nhanh (tachycardie).

    ô mạch (pouls absent) được liên kết với vô tâm thu (asystolie), hoạt động điện vô mạch (AESP : activité électrique sans pouls), rung thất (FV : fibrillation ventriculaire) hay tim nhịp nhanh thất vô mạch (TV) và đòi hỏi một hồi sức tim-phổi tức thời.

    Tim nhịp chậm (bradycardie) thường nhất là do giảm oxy mô, nhiễm toan và suy tuần hoàn nghiêm trọng và có thể là nhịp báo hiệu ngừng tim. Tim nhịp chậm liên kết với một choáng mất bù cần điều trị tức thời, phối hợp oxygénation, thông khí và nếu nhịp tim vẫn dưới 60/phút, những ép ngực. Những biện pháp này phải được thực hiện trước khi cho thuốc (adrénaline/épinéphrine, atropine) hay những điều trị khác như entrainement électrosystolique.

    Tim nhịp nhanh có thể là một đáp ứng bình thường của cơ thể với đau, sốt hay lo âu, sinh ra một tim nhịp nhanh xoang (tachycardie sinusale) hay có thể là một nhịp bất thường như tim nhịp nhanh trên thất (tachycardie supraventriculaire) hay một tim nhịp nhanh thất (tachycardie ventriculaire). Những nhịp bất thường này được tập hợp dưới tên gọi những loạn nhịp nhanh (tachy-arythmie). Tim nhịp nhanh trên thất là loạn nhịp nhanh thường gặp nhất ở trẻ em.

    Chỉ tim nhịp nhanh trên thất liên kết với một tình trạng choáng mới cần một can thiệp tức thì ; trong trường hợp tình trạng tuần hoàn ổn định, phải gởi cấp cứu đến một thầy thuốc nhi chuyên về tim (cardio-pédiatre).

    THÁI ĐỘ XỬ TRÍ ĐỨNG TRƯỚC MỘT ĐỨA TRẺ BỊ LOẠN NHỊP

    1. Bệnh nhi có mạch hay không ?

    Sau khi đã đánh giá và bảo đảm an toàn A và B, sự hiện diện hay vắng mặt của một mạch phải được tìm kiếm trong 10 giây tối đa đồng thời nhìn những dấu hiệu sống (hô hấp, ho, cử động)

    2. Bệnh nhân bị choáng bù hay mất bù ?

    Nếu mạch hiện diện, người cứu phải đánh giá tình trạng thông máu của bệnh nhân. Điều này sẽ được thực hiện bằng cách xác lập tình trạng tri giác, chất lượng của các mạch ngoại biên, sự thông máu da (thời gian đầy lại mao mạch, nhiệt độ da), tiền gánh (ấn chẩn gan, căng tĩnh mạch cổ), huyết áp, tần số hô hấp và lưu lượng nước tiểu.

    3. Tần số tim nhanh hay chậm ?

    Để nhận biết tim nhịp nhanh hay chậm bằng cách căn cứ trên những trị số bình thường :

    UserPostedImage


    4. Các phức hợp QRS hẹp hay rộng ?

    Nếu các phức hợp QRS là hẹp (< 0,08 giây), tim nhịp nhanh có nguồn gốc trên thất. Nếu các QRS rộng (> 0,08 giây) mặc dầu nguồn gốc khả dĩ nhất là trên thất ở trẻ em, loạn nhịp phải được xem như nguồn gốc thất cho đến khi có bằng cớ ngược lại.

    Reference : European Pediatric Life Support (EPLS) Manual. Edition 1. Avril 2009.
    BS NGUYỄN VĂN THỊNH
    (14/10/2013)


    Xem thêm các bài Cấp Cứu liên quan: Mục Lục Cấp Cứu và Hồi Sức Tích Cực (Emergency and Critical Care)
    "Kẻ Ác lo không hãm hại được người,
    Người Hiền sợ không cứu giúp được ai"



    Users browsing this topic
    Guest (2)
    Forum Jump  
    You cannot post new topics in this forum.
    You cannot reply to topics in this forum.
    You cannot delete your posts in this forum.
    You cannot edit your posts in this forum.
    You cannot create polls in this forum.
    You cannot vote in polls in this forum.