Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

392 Pages123>»
Options
View
Go to last post Go to first unread
hongvulannhi  
#1 Posted : Thursday, September 20, 2012 11:05:18 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)
UYỂN NHI TRANG


UserPostedImage

Edited by user Thursday, September 20, 2012 11:26:00 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/20/2012(UTC)
hongvulannhi  
#2 Posted : Thursday, September 20, 2012 11:11:04 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)
UserPostedImage


Từ sự gợi ý của em gái tóc dài Dedde, LN bèn nghĩ đến xây thêm Quán mới, dù rằng bây giờ, với công trình xây cất hiện đại của VB, dù nhà mấy chục tầng, chở bao nhiêu đồ nặng, thang máy cũng cứ veo veo thẳng tắp tới trời. Chính vì vậy mà LN cũng có ý lười đổi Quán …

Ừ nhỉ, biết đâu, đây là cái Quán cuối cùng của LN, trong VB, bởi rằng, có gì vĩnh cửu đâu. Cuộc đời là vô thường, là sắc sắc không không … Biết đâu được ngày mai …

Không riêng gì LN, mà ai ai cũng yêu thích mùa Thu …

Mùa Thu với lá vàng rơi rơi vàng lòng đời
Mùa Thu với sương mờ giăng giăng khắp lối
Mùa Thu với chút gió se se lạnh lòng người
Mùa Thu gợi buồn trong niềm nhớ xa xôi…

Và, đã từ ngày còn nhiều mộng mơ, chẳng hiểu do đâu, vì đâu, LN rất thích con số 21 của tháng 9. Và, bây giờ là mùa Thu, bây giờ là ngày 21 tháng 9 … Mọi chuyện đều đến trong tình cờ và rất đẹp … Đẹp thêm nữa là Quán mang con số 15, ngày của trăng rằm, tròn vành vạch của mỗi tháng …

LN nhớ đến những bài thơ Tháng Chín, LN mang về đây để Dấu Yêu cùng đọc với LN nha.

MỘT NGÀY THÁNG CHÍN

Sáng tháng Chín, nắng hanh vàng hiu hắt
Một mình ngồi nhìn giọt cà phê rơi
Ly thủy tinh, trắng tinh tuyền, trong vắt
Tôi soi tôi, nhìn thấu suốt cuộc đời.

Trưa tháng Chín, khoảnh vườn im bóng lá
Ngát hương thơm từ cây Bưởi cây Cam
Màu đỏ Lựu, màu Quất vàng, quyến rũ
Gió đâu rồi, mà quên cả về thăm.

Chiều tháng Chín, không gian buồn lặng lẽ
Nắng nhạt nhòa lan tỏa cuối chân mây
Nỗi nhớ nào gieo sầu vương, quạnh quẽ
Lòng hiu hiu nhìn bóng tối phủ đầy.

Tối tháng Chín, ngọn đèn mờ soi lối
Hắt lên tường, một bóng dáng cô đơn
Bóng ủ rũ, bóng thẫn thờ, mòn mỏi
Bóng vì ai mà quay quắt, u buồn.

Khuya tháng Chín, ánh trăng huyền hoặc quá
Gợi bao nhiêu kỷ niệm đã qua rồi
Đôi mắt đó, bây giờ thành xa lạ
Giọng ấm trầm, giờ cũng đã xa xôi.

HONG VU LAN NHI
9/23/11

Một ngày tháng Chín chả có gì vui, lại thêm, bất chợt có những cơn mưa không hẹn, vội đến rồi lại vội đi không hứa sẽ trở lại …

MƯA THÁNG CHÍN

Mưa Tháng Chín rơi nhanh từng giọt nhớ
Gió tạt bay thấm ướt tóc mây buồn
Hồn trống rỗng, nghe mưa sầu tí tách
Ngọn đèn khuya hiu hắt nỗi khôn cùng.

Người xa hỡi có nghe lời vang vọng
Chất chứa sầu trong từng hạt mưa rơi
Lòng đang lạnh hay gió trời lồng lộng …
Cánh chim ngàn vẫn biền biệt mù khơi!

Giọt mưa rơi, hay sầu dâng hoen mắt
Biết bao giờ mưa tạnh, nắng bừng lên
Ngày sẽ ngắn, cho vơi khuây trống vắng
Người sẽ về, vòng tay ấm thân quen.

Mưa vẫn rơi. Mưa giăng mờ lối nhỏ
Khung trời buồn, bằn bặt cách chim bay
Nơi xa đó, hỏi thầm người có nhớ
Thương cho ai giấc ngủ chẳng tròn đầy.

HONG VU LAN NHI
9/28/11

Năm ngoái, trời còn có lúc mưa rơi, nhưng năm nay, gần hết tháng Chín rồi, sao nắng hãy còn gay gắt. Nóng kinh hồn, rực lửa đốt thịt da. Gió ơi gió, ở đâu, về nhanh nhé … Thổi vào đời luông khí mát thân ta … Dù sao, LN vẫn hy vọng một cơn mưa tháng Chín nào dội xuống vùng Huntington Beach cho buồn vương cũng dịu nhẹ đôi phần …

Tháng Chín năm nay, LN lại có thêm một niềm vui bất ngờ … Số là, bỗng dưng, LN nhận được meo của người em gái phố ảo Ngọc Trân, cho biết tin về Thụy Cầu. Chỉ với tên Thụy Cầu, cả một dĩ vãng chập chờn ẩn hiện … Rồi, Giám Thanh, Thụy Cầu, nói chuyện phone với LN …Và, cơ duyên đã gắn tình chị em phố ảo mỗi ngày mỗi gần hơn Đã có lúc Ngọc Trân và LN nói chuyện với nhau cả mấy tiếng đồng hồ không muốn dứt. nếu trời không quá khuya, và hôm sau NT không phải đi làm, thì có lẽ, hai chị em mình đã còn kéo dài thêm ít giờ nữa, NT nhỉ .

Nghe NT nói, LN không ngạc nhiên vì sao NT hát hay, vì giọng ấm quá …Tiếng cười trong veo, hồn nhiên, và quá chân tình … Ở một thành phố nhỏ, một số ít người Việt quay quần bên nhau, và, NT cho biết, chỉ vì em đọc Lá Thư Màu Tím của chị thấy chị thường hay nhắc đến chị Kim Bê Thanh Tước, và quanh quẩn, chị Giám Thanh lại là chị họ của Thanh Tước, Hồng Tước … Cơ duyên quả là nhiệm màu, đến giây phút nào đó thì NT và LN mới được trò chuyện cùng nhau … được nghe nhau nói cười .

Ngọc Trân ơi, chị LN vui lắm từ khi có thêm em trong sổ những người em gái thân thương quí mến của chị. Có những người em, dù chỉ gặp một lần, hay chỉ viết cho nhau vài câu, trong hoàn cảnh nào đó, rồi chia xa, không bao giờ gặp lại, chị cũng vẫn khắc ghi vào tâm khảm, rất khó quên. Mà lạ nhỉ, đa số lại là những em gái Gia Long …Chỉ cần nhắc đến tên, là chị đã hình dung ra được hình dáng, khuôn mặt …

Ngọc Trân ạ, chị rất tin vào cơ duyên, định mệnh, cho bất cứ sự việc nào xảy ra trong đời, mang đến cho mình niềm vui hay nỗi buồn, may mắn hay bất hạnh … Cũng như chị rất thích nhìn biển, thích được đi trên bãi cát một mình trong chiều vắng, thích nhìn bèo tím trôI lờ lững trên sông, thích nhìn những vòng tròn nơi ao hồ khi ném hòn sỏi xuống nước …thích nghe lời ru, tiếng võng kẽo kẹt trưa hè, thich nhìn hoa nắng lung linh, …ôi thích thì chị thích nhie6`u lắm, chả thế mà chị Kim Bê Thanh Tước đã đặt tên cho chị là Thích Đủ Thứ … Chị cũng thích cây cỏ, hoa lá, nhưng từ khi về nơi apt này, chẳng hiểu sao, chị chỉ có vài cây nhỏ trong nhà … Cái thú mua Lan, mua Quỳnh, mua các loại cây hoa bốn mùa, như chùng xuống, nỗi đam mê tưởng chừng đã hết, thì bỗng dưng, một ngày nào trong tháng 4, chị có được bộ ghế để hiên ngoài, và cái thú mua cây lại nhen nhúm, như lửa ủ trấu cứ âm ỉ, giờ gặp gió, bùng lên … Chị mua cây bông giấy, cho vào cái chậu nhỏ làm cây bolsai, rồi, mỗi lần về nhà chị Hồng, chị lại cõng thêm ít cây, bây giờ, vườn hoa của chị cũng có cả chục cây, vừa treo, vừa để trong chậu …

Mỗi sáng, ngồi nhâm nhi cà phê, nhìn trời mây, bây giờ lại ngắm thêm hoa lá cành, nghĩ về ngày tháng qua, những vui buồn chợt đến, chợt đi như nắng mưa trong cuộc đời … Chị lại vui thêm, khi cửa sổ bếp nhìn sang phía sau nhà apt bên kia, bỗng dưng lại có hoa lá, và thích thú nhất là họ có cái dù to bằng rơm, mở rộng, khiến chị ngồi bên này, nhìn sang, có cảm tưởng, chị đang nhìn mái rạ của nhà nơi miền quê xa lắc xa lơ … Hình như lòng chị gắn bó với nơi quê mùa chân chất, cho nên khi chị nhìn những con sông nước người, tuy có rộng, có đẹp hơn, nhưng chị vẫn dửng dưng, không chút gì xao xuyến, như khi được nhìn lại, được nghe tên con sông nơi quê mình … Chị yêu lắm màu tím nhạt của hoa soan, của hoa bèo, và màu tím đậm trái mồng tơi, khi bóp nát hột mồng tơi trong tay … Chị yêu cả màu vàng hoa cải trong vườn …

Chiều nay, trời bỗng dịu hơn hôm quạ chị đã không mở máy lạnh, mà lại mở to các cửa sổ, cửa ra vào, để cảm nhận được làn gió nhẹ vương lan, để nhìn ánh nắng chiều nhạt dần trên mái nhà đối diện, và nhất là để được nhìn cây cỏ hoa lá, và nghe phong linh leng keng mỗi khi có gió … Em biết không, chị còn mê cả tiếng phong linh, cho nên, không có gì ngạc nhiên, khi căn phòng khách nhỏ là thế mà chị cũng đã có 3 bộ phong linh trong nhà, và một cái treo ở hiên ngoài … Hơn tất cả, chị mê tiếng chuông nhà thờ làng quê, hay tiếng chuông chùa theo gió vọng về…

Thời ở quê, chị chỉ chừng 6, 7 tuổi, đã biết lắng nghe tiếng chuông nhà thờ đổ lúc ban chiều … và buồn nhất là vào mùa đông, mưa dầm, nghe tiếng chuông chiều não nuột làm sao! …

Rồi chị vào Huế trong lứa tuổi tràn đầy mộng mơ … Huế đẹp nhưng trầm lắng … Cứ mỗi chiều, trong thinh lặng của đất trời, trong ánh nắng nhạt nhòa của không gian vô tận, tiếng chuông chùa Linh Mụ từ xa, lan theo gió vọng về … Trời ơi là buồn đến lặng người. Cái buồn không cội nguồn, căn do … Buồn từ trời đất thấm vào hồn. Tiếng chuông như có ma lực khiến có nhiều chiều vì lý do nào đó không nghe được, thấy nhớ lạ lùng.

Bây giờ, tiếng chuông chỉ còn vang vọng trong tâm tư, và tiếng leng keng của phong linh cũng làm chị vui và cảm thấy hạnh phúc. Hạnh phúc giản đơn, nhỏ bé, hiện hữu ngay trong đời sống hằng ngày của mình. Thật đúng như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói:

Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.

LN đang hạnh phúc trong Quán mới, nhưng cũng không quên cám ơn các bạn đã đặt niềm tin nơi đây và LN cùng Team LN sẽ luôn cố gắng giữ cho Quán mỗi ngày mỗi thêm phong phú hơn về hình thức cũng như nội dung. Chúc bà con ta ngủ ngon.

HONG VU LAN NHI

Edited by user Sunday, December 7, 2014 2:25:21 PM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/20/2012(UTC)
hongvulannhi  
#3 Posted : Thursday, September 20, 2012 11:16:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)
UserPostedImage


MOTHER = MẸ nghĩa là:


M illion là hàng triệu điều mẹ trao cho con,
O ld nghĩa là mẹ sẽ vì thế mà ngày càng già đi,
T ears là những giọt nuớc mắt mẹ đã đổ vì con,
H eart là trái tim vàng của mẹ,
E yes là đôi mắt mẹ luôn dõi theo con,
R ight là những gì đúng đắn mẹ hay khuyên bảo

***

MẸ THẬT TUYỆT VỜI


Thuở nhỏ, gia đình cậu bé rất nghèo, tới bữa, chẳng mấy khi có đủ cơm ăn, mẹ liền lấy cơm ở trong bát mình chia đều cho các con. Mẹ bảo: Các con, ăn nhanh lên, mẹ không đói!

——>Mẹ nói câu nói dối đầu tiên!

Khi cậu bé lớn dần lên, người mẹ tảo tần lại tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần, đến những vùng đầm hồ ven đô bắt cá về cho con ăn cho đủ chất. Cá rất tươi, canh cá cũng rất ngon. Khi các con ăn thịt cá, mẹ lại ngồi một bên nhằn đầu cá. Lấy lưỡi mà liếm những mảnh thịt sót lại trên đầu cá. Cậu bé xót xa, liền gắp miếng cá trong bát mình sang bát mẹ, Mẹ không ăn, lại dùng đũa gắp trả miếng cá về bát cậu bé. Mẹ bảo: Con trai, con ăn đi, mẹ không thích ăn cá.

——> Mẹ nói câu nói dối thứ hai.

Lên cấp 2, để nộp đủ tiền học phí cho cậu bé và anh chị, Vừa làm thợ may, mẹ vừa đến Hợp tác xã lĩnh vỏ hộp diêm về nhà, mỗi tối lại ngồi cặm cụi dán, kiếm thêm chút tiền chi tiêu cho gia đình. Một buổi tối mùa đông, nửa đêm cậu bé tỉnh giấc. Thấy mẹ vẫn còng lưng bên cành chiếc đèn dầu dán vỏ bao diêm. Cậu bé nói: Mẹ à, mẹ đi ngủ thôi, sáng ngày mai mẹ còn phải đi làm nữa mà. Mẹ cười nhẹ: Con trai, đi ngủ đi. Mẹ không buồn ngủ!

——> Mẹ lại lần thứ ba nói dối.

Ngày thi vào trung học, mẹ xin nghỉ làm, Ngày nào cũng đứng ở cổng trường thi, làm chỗ dựa tinh thần cho cậu bé đi thi. Đúng vào mùa hạ, trời nắng khét tóc. Người mẹ nhẫn nại, đứng dưới cái nắng hè gay gắt chờ con mấy tiếng dài đằng đẵng. Tiếng chuông hết giờ vang lên rồi. Mẹ nghiêng người đưa cho cậu bé bình trà đã được pha sẵn, dỗ dành cậu bé uống, bình trà nồng đượm, tình mẹ còn nồng đượm hơn. Nhìn thấy bờ môi khô nẻ và khuôn mặt lấp lánh mồ hôi của mẹ, cậu bé liền đưa bình trà trong tay mời mẹ uống. Mẹ bảo: Con uống nhanh lên con. Mẹ không khát!!

——>Mẹ nói dối lần thứ tư.

Sau khi cha lâm bệnh qua đời,mẹ vừa làm mẹ vừa làm cha. Vất vả với chút thu nhập ít ỏi từ nghề may vá. Ngậm đắng nuốt cay nuôi con ăn học, khổ không lời nào kể xiết. Có chú Lý ngồi sửa đồng hồ dưới chân cây cột điện đầu ngõ biết chuyện, việc lớn việc nhỏ chú đều tìm cách qua giúp một tay. Từ chuyển than, gánh nước, giúp ít tiền cho gia đình cậu bé tội nghiệp. Con người chứ đâu phải cây cỏ, lâu rồi cũng thành thân. Hàng xóm láng giềng biết chuyện đều khuyên mẹ tái giá, việc gì phải một mình chịu khổ thế. Nhưng qua nhiều năm mẹ vẫn thủ thân như ngọc, kiên quyết ko đi bước nữa. Mọi người có khuyên mẹ kiên quyết không nghe. Mẹ bảo: Mẹ không yêu chú ấy.

——>Mẹ nói dối lần thứ 5

Sau khi cậu bé và các anh chị cậu tốt nghiệp đại học đi làm. Mẹ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn tiếp tục làm những việc lặt vặt ở chợ để duy trì cuộc sống. Các con biết chuyện thường xuyên gửi tiền về để phụng dưỡng mẹ. Mẹ kiên quyết không nhận, tất cả tiền con gửi về mẹ đều gửi trả. Mẹ bảo: Mẹ có tiền!

——>Mẹ nói dối lần thứ 6

Cậu bé ở lại trường dạy 2 năm, sau đó thi đỗ học bổng học thạc sỹ ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ. Sau khi tốt nghiệp cậu ở lại làm việc tại một công ty nghiên cứu máy móc. Sống ở Mỹ một thời gian, khi đã có chút điều kiện. Cậu bé muốn đưa mẹ qua Mỹ sống để phụng dưỡng mẹ tốt hơn. Nhưng lại bị mẹ từ chối. Mẹ bảo: Mẹ không quen!

——>Mẹ nói dối lần thứ 7.

Nhiều năm trôi qua, mẹ lâm trọng bệnh, phải vào viện điều trị. Khi con trai đáp máy bay từ nơi xa xôi về thăm mẹ, mẹ già đi nhiều và yếu quá rồi. Nhìn mẹ bị bệnh tật dày vò đến chết đi sống lại, thấy con trai đau đớn vì thương xót mẹ. Mẹ lại bảo: Con trai, đừng khóc, mẹ không đau đâu.

——> Đấy là lần nói dối cuối cùng của mẹ.

Edited by user Friday, September 21, 2012 1:08:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

thanks 1 user thanked hongvulannhi for this useful post.
Hoàng Thy Mai Thảo on 9/20/2012(UTC)
hongvulannhi  
#4 Posted : Friday, September 21, 2012 12:42:19 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)
ĐẠI SỨ MỸ BỊ LÔI KÉO TRÊN ĐƯỜNG PHỐ TRƯỚC KHI BỊ GIẾT



Subject: U.S. Ambassador Stevens
Đề Tài: Đại Sứ Mỹ Stevens


These are pictures you will not see in the Obama media. Our US Ambassador to Libya being dragged through the streets before being murdered. Here is our American Ambassador, J. Christopher Stevens, diplomat, father, husband, and American Citizen, being dragged through the streets of Benghazi, and your President does NOTHING! . . . except go to Las Vegas for a fund raiser, plus two more today.

Đây là những hình ảnh qúy vị không thấy có trên báo chí thân Obama. Vị Đại Sứ của chúng ta ở Libya bị lôi trên đường phố trước khi bị giết chết. Đây là vị Đại Sứ Mỹ của chúng ta, J. Christhopher Stevens, một nhà ngọai giao, một người cha, một người chồng, và một công dân Mỹ, bị lôi kéo trên đường phố ở thành phố Benghazi, và vị Tổng Thống của qúy vị KHÔNG LÀM GÌ HẾT...ngọai trừ việc đi Las Vegas để gây qũy, cộng thêm hai cuộc gây qũy nữa vào hôm nay.


UserPostedImage

UserPostedImage


To most Americans this is an act of war. To our president it's just another act of office violence like Fort Hood. He and the Secretary of State have already apologized and will soon send them another $6.3 Billion in foreign aid. This is as sad as it gets.

Đối vớihầu hết các người Mỹ, đây là một hành động gây chiến. Đối với vị tổng thống của chúng ta, đó chỉ là một hành động bạo động gặp phải trong công vụ như vụ Fort Hood. Ông và vị Ngọai Trưởng Mỹ đã ngỏ lời xin lỗi và sẽ sớm gửi cho họ 6.3 tỉ đô la ngọai viện nữa. Điều này là không còn gì buồn hơn.

Edited by user Friday, September 21, 2012 1:11:54 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Mắt Buồn  
#5 Posted : Friday, September 21, 2012 2:10:49 AM(UTC)
Mắt Buồn

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 3,581

Thanks: 632 times
Was thanked: 450 time(s) in 292 post(s)

THẾ GIỚI MÃI HẬN THÙ

Thế giới mãi hận thù
Tâm người không biết tu
Tham , sân , si...ái dục
Cõi trần mãi âm u ..!

Nước lờn luôn xăm lăng
Gây chiến tranh bạo tàn
Ỷ mạnh chiếm nước yếu
Triệu dân khổ oán than!

Ngọn lửa cháy hận thù
Lưu sử sách thiên thu
Chiến tranh gây hủy diệt
Bôm đạn khói mịt mù!

Lấy oán báo oán hoài (*)
Hận thù thật bi ai!
Lấy ân báo oán mãi
Oán hận sẽ tàn phai .

Biển khổ nơi cõi trần!
Cuộc đời mãi bâng khuâng
Ác tâm gây tàn sát!
Hận thù mãi chẳng ngưng.

Bạo phát rồi bạo tàn!
Vô thường cõi trần gian
Không gì tồn tại mãi!
Nghiệp ác phải lầm than.

Thế giới không được yên
Cuộc sống không vững bền
Luân hồi trả nghiệp ác!
Chiến tranh mãi triền miên...

Minh Lương Trương Minh Sung
Cali . ngày 18 / 09 / 2012

(*) Lời Đức Phật dạy :
" Lấy oán báo oán - oán oán trùng trùng"
" Lấy ân báo oán - oán oán tiêu tan "
Hoàng Nam  
#6 Posted : Friday, September 21, 2012 2:56:38 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,448

Thanks: 740 times
Was thanked: 260 time(s) in 195 post(s)

Bộ phim "Innocence Of Muslims"


Xin mời Quý Vị, Quý NT và CH...

Xem bộ phim "Innocence Of Muslims" sản xuất bởi Sam Bacile (có thể chỉ là tên giả), một người Mỹ gốc Do Thái kinh doanh về địa ốc, cư ngụ ở California thực hiện.

Bộ phim đã làm những người Hồi giáo phẩn nộ, trăm dâu đổ đầu tằm...tấn công, thù hận Hoa Kỳ, qua những Tòa Đại Sứ tại Trung Đông và Phi Châu...

Kết quả thê thảm đầu tiên chúng đã giết chết 4 nhân viên Tòa Đại Sứ tại Libya, trong có có viên Đại Sứ Christopher Stevens, và hai cựu chiến sĩ Seals của Hải quân Hoa Kỳ..

Xin mời Quý Vị xem cho biết , và thẩm định, trước khi bị lấy khỏi YouTube:

Bộ phim chiếu ở ngoài dài 2 giờ, YouTube chỉ có 13:50 phút.

YouTube: Cuốn phim làm dân Hồi giáo phản ứng bạo động: Innocence Of Muslims...

http://www.youtube.com/watch?v=MAiOEV0v2RM

BMH
Washington, D.C
tubich  
#7 Posted : Friday, September 21, 2012 7:12:44 AM(UTC)
tubich

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 1,583

Thanks: 117 times
Was thanked: 195 time(s) in 151 post(s)

Không ai mất quê hương


Tuesday, September 18, 2012 4:42:43 PM
Ngô Nhân Dụng

Phần chót trong cuốn Những Dòng Kỷ Niệm, hồi ký của Giáo Sư Tô Ðồng, ông kể lại cuộc gặp gỡ một người bạn từ xa tới thăm ông tại tiểu bang Wisconsin, vào năm 1976, một năm sau khi cả hai đã đi tị nạn cộng sản.

Ông nhắc lại lời người bạn nói, “Chúng ta bỏ nước Việt Nam ra đi chứ nước Việt Nam không có bỏ chúng ta.” Nhớ lại câu này, vào năm 2004 khi ông in cuốn hồi ký, Giáo Sư Tô Ðồng tự hỏi không biết người bạn đã đổi ý kiến hay chưa?

Ðây không phải là nỗi thắc mắc của những người tị nạn năm 1975. Từ đó tới nay, bao nhiêu thuyền nhân đã ra khỏi nước dù biết sẽ có thể chết trên biển; cả những du học sinh đang tìm cách ở lại nước ngoài sau khi tốt nghiệp, chắc cũng thắc mắc như vậy: “Mình bỏ nước Việt Nam ra đi hay nước Việt Nam bỏ mình?”

Nhưng thực ra, câu hỏi đó không cần thiết. Những người phải bỏ nước Việt Nam ra đi cũng chỉ có cái thân xác ra đi; còn trong tâm tư họ vẫn thiết tha không bỏ, và không cách nào bỏ được. Thời sinh tiền, Ngô Mạnh Thu vẫn làm chương trình “Chúng ta đi mang theo quê hương.” Mà nước Việt Nam cũng không bỏ đứa con nào hết. Như Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, ông sống ở nước Mỹ, gia đình an vui, thành công trong nghề nghiệp, nhưng vẫn quay trở về Việt Nam, dù biết về thì sẽ bị bắt bỏ tù. Mà nước Việt Nam cũng không bỏ ông; bao nhiêu người Việt vẫn đón tiếp, hỗ trợ ông trong công việc đội đá vá trời là vận động cho một đất nước tự do dân chủ - không phải cho mình mà cho đồng bào và con cháu đời sau được hưởng. Tất cả các thuyền nhân, hay những sinh viên du học sau này, khi ra đi hay quyết định ở lại, trong lòng họ đều mong có ngày được trở về sống trong một nước Việt Nam tự do dân chủ. Mà nước Việt Nam cũng không bỏ ai nào hết, những đứa con đang lưu lạc khắp bốn phương trời.

Tôi nghĩ đến niềm tâm sự của Giáo Sư Tô Ðồng khi đọc bản tin ông phó thủ tướng, bộ trưởng Kinh Tế Cộng Hòa Liên Bang Ðức thăm Việt Nam. Bác Sĩ Philipp Rösler sinh ra ở nước ta, sống trong viện mồ côi. Từ bé, ông được cha mẹ xin đem về nuôi ở Ðức, ông thành người Ðức. Bác Sĩ Philipp Rösler may mắn hơn nhiều người sinh ở Việt Nam mà sống ở nước ngoài. Ông không phải quyết định. Số phận đưa ông đi. Nếu cộng sản không gây ra cuộc chiến tranh, từ lúc họ gửi quân vào miền Nam năm 1959, thì chắc cậu bé không mang tên Philipp Rösler, mà cũng không sống ở nước Ðức. Ông kể với báo Der Spiegel, trước khi đi Việt Nam: “Khi tôi đã lớn, cha tôi có lần đặt tôi đứng trước gương và giải thích tại sao tôi lại trông không giống những đứa trẻ khác.” Thân phụ ông cũng cho ông biết đã từng quen mấy sĩ quan Việt Nam khi cùng đi tu nghiệp lái máy bay ở Mỹ; nghe chuyện nên biết đến nỗi khổ của người Việt trong cuộc chiến tranh. Vì thế mới nẩy ra ý đi tìm nuôi một đứa trẻ người Việt.

Philipp Rösler may mắn. Nhưng cũng nhờ cảnh bao nhiêu người Việt khác cực khổ vì chiến tranh đã làm động tâm người cha nuôi ở một phương trời xa xôi. Rösler không mang nợ những đồng bào này, trong đó có hàng triệu người đã chết. Nhưng số phận ông cũng không thể tách rời khỏi những nạn nhân đáng thương đó. Chúng ta sống trong một thế giới mọi thứ đều liên hệ với nhau, không thể tránh được. Nỗi đau thương, bất hạnh của người này có thể trở thành nhân duyên tạo nên may mắn cho người khác; chẳng cách nào khác được. Có một nghiệp báo chung, mà không có ai gây ra nghiệp báo đó. Cũng vì vậy, từ trong sâu thẳm, mỗi người chúng ta đều biết ơn mọi người khác, những người mình không hề quen biết.

Philipp Rösler cũng nói với Der Spiegel: “Tôi sang Việt Nam lần này với tư cách bộ trưởng Kinh Tế Ðức, là người đại diện quyền lợi kinh tế Ðức, chứ không phải đi tìm cội nguồn của mình... Nước Ðức là quê hương của tôi. Việt Nam là một phần của cuộc đời tôi, phần mà tôi không có một chút ký ức nào... Xin nói cho rõ hơn: Lẽ tất nhiên một phần của đời tôi đã gắn liền tôi với đất nước đó, nhưng tôi sang Việt Nam với tư cách là bộ trưởng Kinh Tế Ðức.” Ðây là một thái độ rất đường hoàng, thẳng thắn, và sòng phẳng. Một ông bộ trưởng Kinh Tế Ðức dù sinh tại nước nào đi nữa, cũng phải lo tròn bổn phận mà dân Ðức trao cho. Mọi gia đình Việt Nam đều dạy con như vậy: Phải sống trung tín, với tinh thần trách nhiệm. Mà không phải chỉ có các gia đình người Việt Nam. Thân phụ ông Philipp Rösler chắc chắn cũng dạy con các quy tắc cư xử giống như vậy, nhất là khi ông phải nuôi cậu bé một mình, từ năm lên bốn tuổi.

Ðạo lý của nhân loại có thể vượt trên biên giới các quốc gia, các chủng tộc. Nhưng tư cách một con người chắc hẳn không phải chỉ do xã hội, do giáo dục tạo nên mà còn có thể đã được “cài” vào trong hạt giống di truyền nhiều đời trước (hiểu chữ “cài” như khi sử dụng máy điện toán). Người Việt gọi đó là “phước đức ông bà.”

Cho nên Philipp Rösler đi đâu trên thế giới với tư cách một phó thủ tướng Ðức, khi biết ông sinh từ nước Việt Nam, chắc nhiều người cũng ngạc nhiên, và thầm khen cả giống dân đã sinh ra một con người như vậy. Báo Der Spiegel có hỏi: “Khi ông đi ra nước ngoài, có ai nhắc đến nguồn gốc của ông không?” Rösler nói: “Thỉnh thoảng. Năm ngoái khi tôi đi với (thủ tướng Ðức) Angela Merkel sang Mỹ, có hai bộ trưởng gốc Á Châu (trong chính phủ Mỹ) cũng hỏi thăm về nguồn gốc của tôi; và cả Tổng Thống Obama nữa...”

Nhưng ở Việt Nam Philipp Rösler sẽ làm nhiều người ngạc nhiên hơn; khi ông xuất hiện trên các bản tin truyền hình. Cho nên, những lời ông nói trước công chúng, chắc phải gây nên những rung động trong lòng mọi người. Các chính khác ngoại quốc khác, dù nói những lời tương tự, cũng không tạo được ảnh hưởng như vậy. Ðây là một điều đáng mừng.

Nói chuyện với các sinh viên trường Ðại Học Kinh Tế Quốc Dân ở Hà Nội ngày hôm qua, Rösler có nhắc nhở các sinh viên và giáo sư rằng những thành công mà ông đạt được ở Ðức là bằng chứng cho thấy cuộc sống tự do cho người ta nhiều cơ hội phát triển. Ông khuyến cáo: “Nước Việt Nam không những cần thúc đẩy thêm nữa việc tư hữu hóa và mở cửa thị trường mà còn cần cho dân chúng hưởng thêm nhiều tự do.” Ông Rösler nhấn mạnh: “Không có tự do thì làm sao người ta có thể suy nghĩ, quyết định và hành động một cách tự chủ với tinh thần trách nhiệm được?” Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của lãnh vực kinh doanh tư nhân. Nói chuyện với báo Der Spiegel trước khi đi, ông Rösler cũng báo trước: “Tôi sẽ nhấn mạnh điều này tại Việt Nam: Về lâu về dài, một nền kinh tế thị trường sẽ không thể phát triển được nếu không có tự do.”

Riêng những lời phát biểu trên đây cũng là một đóng góp đáng kể của Philipp Rösler cho đất nước của những người đã sinh ra ông. Một đứa trẻ Việt vô danh, được rơi vào sống trong một xã hội tự do dân chủ, đã đạt được thành công mà bao nhiêu thanh niên Việt Nam phải ngưỡng mộ và ao ước. Nay anh ta giải thích rất rõ ràng, anh thành công như vậy là vì được sống trong tự do dân chủ.

Philipp Rösler cũng có thể khiến nhiều người Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với ông thấy hổ thẹn. Trong mạng “Portal liberal” của các dân biểu Ðức cùng đảng với ông, Bộ Trưởng Rösler cho biết sẽ nêu ra vấn đề trả tự do cho năm tù nhân chính trị với chính quyền Việt Nam. Chắc chắn ông sẽ giảng cho họ nghe ông lớn lên ở một quốc gia mọi người đều có quyền bất đồng chính kiến với nhà nước. Mà quốc gia Ðức phát triển và dân Ðức hạnh phúc, là nhờ sống trong tự do dân chủ như vậy. Nhưng các viên chức chính quyền ở nước ta chắc cũng không hổ thẹn. Họ đã quen nghe những ý kiến như vậy rồi, da mặt họ đã đủ dầy để không cảm xúc chút nào cả.

Nhưng một điều khác mà ông Rösler sẽ nói có thể khiến nhiều người Việt Nam phải thấy hổ thẹn cho nước mình. Cũng theo mạng trên, Rösler cho biết sẽ cho biết nước Ðức rất quan tâm đến việc mở rộng hợp tác kinh tế với Việt Nam. “Tuy nhiên, nếu nước Việt Nam muốn nhận được đầu tư từ phía người Ðức thì phải theo một điều kiện, không thể thiếu được: Là họ cần phải thi hành cho đúng các thỏa thuận và hợp đồng.” Vì trong quá khứ, cũng theo mạng trên, các doanh nhân Ðức đã than phiền rằng nhiều “hợp đồng và thỏa thuận không được tôn trọng, hóa đơn không được thanh toán.”

Chúng ta tin rằng ông Rösler không nghĩ bản tính người Việt Nam là không giữ lời hứa, không làm đúng lời cam kết, trong việc kinh doanh cũng như trong đời sống hàng ngày. Ông phải hiểu rằng đó không phải là đặc tính của dân tộc, nơi ông đã ra đời. Một chế độ chính trị độc tài toàn trị chắc chắn sẽ tạo ra những con người gian dối. Thử tưởng tượng, từ trên xuống dưới ai cũng phải cam kết đạt chỉ tiêu, bám sát kế hoạch sản xuất; nhưng trong thực tế họ lại biết không thể nào làm đúng kế hoạch được nếu không làm giả, làm gian; và khí cụ sau cùng là báo cáo láo. Một guồng máy cai trị sống quen như vậy suốt mấy thế hệ, không thể tạo ra những con người lương thiện được. Trong chế độ cộng sản một số người duy nhất đã giữ đúng, không làm sai lời hứa của họ, là những người lính, khi ra trận. Chỉ có những người lính đã chết đó là đã chết theo đúng kế hoạch, đạt được chỉ tiêu do lãnh đạo đưa ra!

Một người gốc Việt Nam như Philipp Rösler khi về nước sẽ giúp cho đồng bào tự nhìn lại mình, tự xét mình, và thấy mình phải làm gì để tiến lên cho bằng các dân tộc khác, Không phải chỉ một mình Rösler có khả năng đó. Tất cả mọi người Việt, dù chỉ về Việt Nam như các du khách, cũng có thể đóng vai xúc tác này. Mọi người chỉ cần nói sự thật, sống thẳng thắn, thành thật, là đủ giúp những người chung quanh biết khi được sống tự do người ta sẽ cư xử, suy nghĩ như thế nào.

Cuối cùng thì thật sự chúng ta chưa rời khỏi quê hương Việt Nam. Lòng chúng ta lúc nào cũng hướng về quê hương. Và chúng ta cũng chưa bao giờ bị quê hương ruồng bỏ. Ngay cả một em bé đã ra khỏi nước từ khi nằm nôi, trở về quê cũ vẫn có thể được đồng bào nhìn như một người thân; và vui mừng, hãnh diện thấy một đứa con của nước Việt Nam đã thành công khi sống tại nước ngoài. Tôi tiếc trong ba năm qua đã không gặp lại Giáo Sư Tô Ðồng; để thưa chuyện với ông điều này; tôi sẽ khấn ông trong tuần 49 ngày sắp tới.

(Những đối thoại trong cuộc phòng vấn với báo Der Spiegel và các câu trên mạng“Portal liberal” trích trên đây do Tâm Việt dịch.)


hongvulannhi  
#8 Posted : Friday, September 21, 2012 8:50:55 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)
Melbourne: Lễ Hội Âm Nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh
- "Anh không chết đâu Anh"-


http://www.youtube.com/watch?v=c2J3qa-Ejuw

Đây là lần đầu tiên Trung Tâm (TT) Asia đem gần như toàn bộ các nghệ sĩ gạo cội của TT ra khỏi nước Mỹ để đi lưu diễn ở tận miệt dưới - Úc Châu. Có lẽ TT Asia đã dành một sự ưu ái đặc biệt cho đồng hương Úc Châu, một sự ưu ái mà đông đảo đồng hương Úc Châu đang chờ đợi bấy lâu nay.

Riêng tại Melbourne (ở Sandown Racecourse), với sự dàn dựng cảnh trí sân khâu rất công phu, hội đủ yếu tố nghệ thuật, với âm thanh 4 chiều (4 dimensional sound - chi phí hơn $40 000), với ánh sáng tân kỳ, với một hội trường trang trọng, ấm cúng bao bọc bởi màn nhung, ... hứa hẹn một chương trình ca nhạc thật hấp dẫn, đặc sắc và sẽ để lại những kỹ niệm khó quên trong lòng người thưởng ngoạn.

Bên ngoài hội trường còn có khu trò chơi cho trẻ em, khu trưng bày cây cảnh (có bán hoa phong lan & bonsai), các gian hàng thực phẩm, và một sân khâu riêng biệt dành cho các nghệ sĩ cây nhà lá vườn, các em Hậu Duệ trình diễn và đồng hương hát karaoke.

Đồng hương có thể đến để vui chơi, xem cây cảnh, ăn uống và thưởng thức văn nghệ hoặc đóng góp tiếng ca để giúp vui trong 2 ngày lễ hội vào cuối tuần với thời biểu như sau:

- Thứ Bảy 8 tháng 9, năm 2012. Từ 11:00 sáng tới 11:00 tối (Chương trình Đại Nhạc Hội từ 6:00 chiều - 10:00 tối)
- Chủ Nhật 9 tháng 9, năm 2012. Từ 11:00 sáng tới 10:00 tối (Chương trình Đại Nhạc Hội từ 2:00 chiều - 6:00 tối)

Chương trình ca nhạc trong 2 ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật khác nhau và rất phong phú để đồng bào có thể thưởng thức toàn vẹn dòng nhạc Nhật Trường Trần Thiện Thanh "Anh không chết đâu Anh" trong cả 2 ngày.
Ngoài ra đồng hương sẽ có cơ hội gặp mặt các anh chị em nghệ sĩ để hỏi han, trò chuyện, mua CD/DVD, xin chữ ký hoặc chụp hình lưu niệm. Sự ưu ái và tình cảm mà các anh chị em nghệ sĩ của TT Asia dành cho đồng hương Úc Châu được gói gọn trong những cảm nghĩ dưới đây –

Ngọc Đan Thanh

Ngọc Đan Thanh rất vui mừng được góp mặt trong chương trình sang ÚC lần này, trước tiên là gặp những khán giả đã từng thương mến Ngọc Đan Thanh. Được gặp lai những khuôn mặt thân thương, những người đã từng có 1 thời gian sống chung với Thanh trên đảo Pulau Bidong, một nơi mà Thanh không bao giờ quên được. Thanh rất mong khán giả đã từng thương mến anh chị em ca sĩ của Trung Tâm Asia thì hãy đến thật đông để ủng hộ tinh thần của chúng tôi, cũng như góp phần trong việc xây dựng Đền Thờ Quốc Tổ, để có nơi Chúng Ta cùng hội tụ về trong những ngày Lễ. Ngọc Đan Thanh trân trọng Kính Mời Quý Khán Giả hãy đến thật đông. Anh Chi Em Ca Nhac Sĩ và MC sẽ đem hết khả năng để đáp lại những tình cảm Quý Vị đã dành cho chúng tôi. Thân chào.

Ngọc Huyền

Lần đầu tiên tôi đến nước Úc cũng là Mùa Xuân. Tôi có một mối tình thật đẹp và thơ mộng cũng vào Mùa Xuân tại Úc Châu. Nên lần nầy tôi thật vui được trở lại Úc vào Mùa Xuân năm nay trong dòng Nhạc Tình của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh. Tôi sẽ có nhiều tâm sự thật thú vị và bất ngờ muốn gởi đến quý Khán giả trong chương trình nầy. Tôi mong ngày trình diễn sẽ đến gần hơn để được gặp Quý Vị.

Đỗ Tiên Dung

Rất là nôn nóng vì đây sẽ là lần đầu tiên, Tiên Dung được gặp gỡ cộng đồng Người Việt tại Úc Châu. Tiên Dung đang đếm từng ngày một cho chuyến đi, nhưng hình như càng mong chờ thì lại thấy sao thời gian lâu quá :0) Tiên Dung xin hẹn gặp tất cả quý vị ở Sydney, và nếu như quý vị nào có thời gian hãy nhớ chỉ cho em chỗ nào để xem các chú Kangaroo dễ thương nhé. (Đỗ Tiên Dung Facebook - http://www.facebook.com/Lindseydo11)

Y Phương

Y Phương may mắn đã được rất nhiều lần đến Úc Châu để trình diễn và đây là lần đầu tiên mà Y Phương được góp mặt trong một chương trình đặc biệt đó là chương trình nhạc Trần Thiện Thanh ... Y Phương rất nôn nao được đến Úc Châu để gặp khán thính giả và đây cũng là lần mà Y Phương rất vui vì được đi cùng đại gia đình của TT Asia. Y Phương mong được gặp lại khán thính giả tại Úc Châu và mong khán thính giả đến thật đông để đón nhận một chương trình thật đặc biệt - Nhật Trường Trần Thiện Thanh kỳ này.

Đặng Thế Luân

Trong dịp lưu diễn tại Úc vào Tháng 9 kỳ này thì Đặng Thế Luân được có dịp cùng với các anh chị em nghệ sĩ của TT Asia một lần nữa đến Úc để gặp gỡ quý vị với chương trình nhạc của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh ... Đặng Thế Luân hy vọng là quý vị sẽ đến tham dự thật đông đảo và ủng hộ chương trình để cho anh chị em từ bên Mỹ bay qua Úc có thêm tinh thần để hát hay hơn ...

Băng Tâm

Cảm giác phải nói bây giờ là Tâm rất là hạnh phúc và vui vì được trở lại một lần nữa cùng với tất các anh chị em nghệ sĩ của TT Asia để hát và để gặp được quý vị. Đối với Tâm thì bên Mỹ những "fans" của Tâm, khán giả của Tâm thì [nếu] nhớ một năm thỉnh thoảng mình còn gặp lại được nhưng riêng Úc Châu thì rất khó, rất xa cho nên mỗi lần mà có được lời mời từ BTC của bên Úc Châu thì Tâm rất vui, rất hạnh phúc ... Một lần nữa Tâm hy vọng sẽ gặp lại tất cả quý vị thật đông ... mong hẹn gặp lại quý vị tháng 9 tại Úc Châu.

Hồ Hoàng Yến

Hồ Hoàng Yến rất hân hạnh được BTC, lần này lần thứ hai, mời Hồ Hoàng Yến tham dự một chương trình được tổ chức rất quy mô ... Hồ Hoàng Yến mong rằng lần này quý khán giả sẽ đến ủng hộ cũng nồng nhiệt và đông như lần trước trong đêm Dòng Nhạc Anh Bằng. Kỹ niệm mà Hồ Hoàng Yến không bao giờ quên được trong chuyến đi lưu diễn Dòng Nhạc Anh Bằng vừa qua là những tình cảm mà khán giả đã dành cho Hồ Hoàng Yến cũng như là các anh chị em nghệ sĩ ... Và Hồ Hoàng Yến mong rằng lần này các anh chị em nghệ sĩ đến với Úc Châu thì cũng đón nhận được những tình yêu thương và những tràn pháo tay của quý khán giả sẽ dành cho các anh chị em nghệ sĩ trong chuyến đi lưu diễn lần này.

Thuỳ Dương

Thuỳ Dương rất mong được trở về Úc trong chương trình Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã vượt thời gian và tạo cho các thế hệ sau này những cơ hội để nghe nhạc VN và nhìn thấy những hình ảnh thời xưa của VN qua những âm thanh mộc mạc và dễ thương. Thuỳ Dương rất hy vọng đồng bào ở Úc chúng ta sẽ ủng hộ chương trình, cũng như là các anh em nghệ sĩ của TT Asia.

Nam Lộc

Như bất cứ một người Việt Nam nào khác đang phải lưu vong ở nước ngoài. Tôi cũng nhớ quê hương mình ray rứt, nhưng hoàn cảnh và lập trường đã không cho phép tôi nhắm mắt để về thăm quê nhà trong lúc này, vì thế để với đi nỗi nhớ, tôi thường tìm đến một địa điểm gần đất nước của tôi nhất đó là Úc Châu. Tại sao tôi không chọn những quốc gia khác như Thái Lan, Cam Bốt, Đài Loan hay Hàn Quốc v..v.., là bởi vì chỉ có Úc Châu mới làm tôi sống lại những ngày thơ mộng khi còn sống ở quê nhà. Từ tình người đồng hương, các món ăn VN tuyệt hảo, đến khung cảnh sinh hoạt ồn ào, tấp nập chan chứa niềm hạnh phúc. Và có lẽ đặc biệt nhất là tính hiếu khách mà người Việt ở Úc Châu dành cho các du khách đến thăm viếng quê hương này. Riêng tôi, tôi luôn cảm phục tình đoàn kết và sự dấn thân của các nhà lãnh đạo cộng đồng, mà đặc biệt nhất là tinh thần chống Cộng thật cao độ của đồng hương chúng ta tại đây, và đó là lý do mà lúc nào tôi cũng trông chờ những chuyến đi trình diễn hoặc đưa gia đình đến thăm đất nước hiền lành và đầy sức sống: Úc Châu.


Edited by user Friday, September 21, 2012 9:28:25 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#9 Posted : Friday, September 21, 2012 10:30:10 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)

LÁ TRÚC CHE NGANG MẶT CHỮ ĐIỀN


Bùi công Thuấn


Người chuyển bài: Thụy Vi.

Bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ (ĐTVD) của Hàn Mặc Tử (HMT) được giảng dạy trong chương trình phổ thông. GS Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “cái độc đáo và đẹp của câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” là “nghệ thuật cách điệu hóa. Không nên tìm ở đây hình ảnh tả thực, tuy rằng cách điệu hóa cũng xuất phát từ sự thực : trong những ngôi nhà vườn xinh xắn, sau những hàng tre trúc, thấp thoáng có bóng ai đó kín đáo, dịu dàng, phúc hậu, dễ thương “[1] Thế nhưng lý giải ấy không đủ sức làm thỏa mãn người đọc về cái hay của câu thơ này. Nhiều người đã tìm những hướng tiếp cận khác nhau để khám phá cho được tín hiệu nghệ thuật và thông điệp HMT gửi trong đó. Nhưng xem ra cho đến nay, điều ấy vẫn còn ngoài tầm tay.

Gần đây Nguyễn Cẩm Xuyên (NCX) cho rằng “có lẽ cái đáng băn khoăn nhất ở đây là 3 chữ “mặt chữ điền”. Sao lại mặt chữ điền? “chữ điền” là để tả mặt cô thiếu nữ thôn Vĩ chăng?[2] Tác giả cũng dẫn ra nhiều cách hiểu của những người đi trước, chẳng hạn “Đọc câu thơ : “lá trúc che ngang mặt chữ điền” ta hình dung ra cảnh cô thiếu nữ thôn Vĩ đang e ấp, thẹn thùng nhìn khách phương xa qua kẽ lá. Cách hình dung này là hợp lí… Nhiều nhà nghiên cứu thơ đã nghĩ như vậy”[đd].

Tác giả NCX cũng dẫn thêm một cách hiểu khác :” câu thứ tư tả thêm một nét kiến trúc đẹp: lá trúc che ngang …tấm chữ điền (chấn môn) trước cửa nhà. Quả thật theo phong thủy, kiến trúc xưa thường xây bức chấn môn chắn trước cửa ra vào, cách khoảng 5-7 mét. Tấm chắn này có khi được trang trí hoa lá, hổ phù, có khi đắp nổi nguyên hình một con hổ. Đơn giản hơn, có khi chỉ đắp nổi một hình chữ thập ở giữa khiến nó giống hệt chữ điền (田) và một số người bình dân vùng nông thôn Thừa Thiên, Quảng Ngãi, Bình Định, vào cho đến các tỉnh nam Trung phần xưa vẫn gọi tấm chắn trước cửa ấy là “mặt chữ điền”. Hai bên chấn môn lại thường có trồng thêm hai bụi trúc, phía sau có hòn non bộ…”[đd]

Sau khi dẫn thêm các trường hợp lầm lẫn của nhà in, chẳng hạn việc in sai hai chữ trong câu “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” trong bài Đoàn Thuyền Đánh Cá- Huy Cận, tác giả NCX đưa ra kiến giải về “mặt chữ điền” như sau:” Từ giai thoại trên ta có thể nghĩ ngợi rằng: thôi cứ cho “mặt chữ điền” là khuôn mặt của thiếu nữ thôn Vĩ đi… thì e là hay hơn ! Câu thơ trở nên sống động, có thần mà lại rất lãng mạn, nên thơ… dù có thể là lúc đặt bút viết thơ Tử đã không nghĩ như thế;… Tử đã không theo khuôn sáo tầm thường mực thước trói người lãng tử. Cô gái của Tử miêu tả trong Đây thôn Vĩ Dạ phải lạ đời với khuôn mặt chữ điền… và khuôn mặt lạ ấy đã đem đến cho người đọc bao nhiêu là cảm nhận thú vị; vì thế cho mãi đến hôm nay người ta vẫn còn băn khoăn, xôn xao mãi và bàn tán nhiều như vậy…”

Tôi bị cuốn hút vào cách đặt vấn đề của NCX, nhưng thực sự hụt hẫng và thất vọng về kết luận của ông đối với câu thơ của Hàn Mặc Tử. Bởi lý giải võ đoán ấy không có sức thuyết phục, nó vẫn nặng về cảm tính và bất lực. Tác giả Nguyễn Khôi thì quyết đoán hơn:” Về Cô gái trong "Lá trúc che ngang mặt chữ Điền" đó là cô gái do sức tưởng tượng của Thi nhân mà hiện ra thôi "...Nay ta xem lai di ảnh Nhà Giáo- cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc (1913- 1989) thì đúng là Cúc có khuôn mặt chữ ĐIỀN phúc hậu...chứ không phải như ai đó (Thang Ngọc Pho và V,V...) quả quyết đó là chữ ĐIỀN- Hán tự đắp nổi ở "mặt trước phía trên cổng các nhà Quí tộc Huế " hay ở các tấm bình phong trước nhà...”[3]. Còn cách giải thích “mặt chữ điền” là tấm bình phong là của Dương Hiền Nga :” Ở Vĩ Dạ lúc đó trồng nhiều trúc bên lối đi, cổng nhà thường có tấm “Chấn Phong” để chắn gió, trên đó thường đắp nổi hoặc viết một chữ điền (bằng chữ Hán) vừa cho đẹp vừa hàm ơn là đất vua ban khi tuổi già xế bóng. Gặp một vài người già ở Huế hỏi điều này, họ xác nhận như vậy nhưng quan trọng nhất là đặt trong mạch thơ đầy lưu luyến hồi tưởng về thôn Vĩ, về cuộc sống bên ngoài, tôi thấy hợp lý.”[4]

Có thể nhận thấy điều này, các tác giả tìm hiểu bài Đây Thôn Vĩ Dạ đã sử dụng phương pháp tiểu sử, cố gắng tìm và áp đặt một khuôn mặt chữ điền có thật của cô gái ở thôn Vĩ cho “mặt chữ điền” trong hình tượng thơ của HMT, thậm chí còn cho đó là khuôn mặt của Hoàng Thị Kim Cúc (như đã dẫn ở trên). Nhưng vấn đề là những lý giải như thế để đạt tới điều gì? Có giải mã được bí mật thẩm mỹ của thơ HMT không? Câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” hay, đẹp, sáng tạo độc đáo cũa HMT là ở chỗ nào, và, ghi lại hình ảnh ấy, HMT muốn chuyển tải thông điệp gì? Chẳng lẽ HMT mời anh “về chơi thôn Vĩ “ là để nhìn “nắng hàng cau”, rồi nhìn “vườn ai” và sau cùng là nhìn mặt Kim Cúc sao ?

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Rõ ràng hình tượng thơ trở nên đa tầng , đa nghĩa, giàu màu sắc thẩm mỹ; vượt lên rất xa so với hiện thực được HMT dùng làm chất liệu miêu tả. Không thể đọc thơ bằng cách áp câu thơ lên hiện thực để xem có phải sự thực tác giả đã viết như thế hay không, như thể áp “mặt chữ điền” lên khuôn mặt Hoàng Kim Cúc trên di ảnh. Nếu văn chương là thế thì chẳng cần đến sự sáng tạo của nhà thơ, cũng không cần đến sự độc đáo của cá tính sáng tạo nữa. Bài thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh, hình tượng thơ tự nó có ý nghĩa riêng ngoài ý chủ quan của tác giả. Hiện thực được dùng làm chất liệu chỉ là nguyên liệu thô được chưng cất, nó là cái vỏ mà nhà thơ thổi hồn vào. Cái đẹp của tứ thơ, của hồn thơ mới làm nên giá trị thơ

Xin đặt câu thơ trong tổng thể bài thơ. Đây Thôn Vĩ Dạ là ấn tượng của HMT về cảnh sắc và con người xứ Huế. Mỗi khổ thơ là một bức tranh ấn tượng, vì thế không có một không gian, thời gian, góc nhìn thống nhất cho cả bài thơ. Đó là ấn tượng về cảnh sắc ở ba nơi khác nhau, trong những thời điểm khác nhau. Cảnh sắc được lọc qua tâm tưởng của tác giả, không phải là tả thực, khách quan như trong các bài tả cảnh. Khổ I là cảnh sắc vườn tược tinh khôi buổi sáng, khổ 2 là cảnh sắc sông nước đêm trăng thơ mộng và buồn. Khổ 3 là những ngày mưa trắng trời ở Huế với những thiếu nữ mặc áo trắng nhòa trong mưa. Ba cảnh này không liên can gì nhau, nhưng hiện lên trong tâm tưởng HMT và chứa đựng cái tình của tác già. Tấm lòng của tác giả với xứ Huế là sợi dây liên kết ba khổ thơ tạo nên sự thống nhất cho cấu trúc bài thơ.

Quan sát kỹ những bức tranh ấn tượng về xứ Huế của HMT (xin không lầm lẫn với nghệ thuật Ấn Tượng), người đọc nhận thấy đặc điểm này : cảnh sắc được miêu tả rất sắc nét, hiện lên rõ mồn một trước mắt ta, nhưng con người xứ Huế chỉ thấp thoáng trong tranh, không rõ nét, không rõ chân dung.

Lối theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thi hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Sự chuyển hóa bút pháp của HMT trong 3 khổ thơ là yếu tố đặc biệt cần xem xét khi giải mã tín hiệu nghệ thuật của từng khổ thơ. Khổ 1, bức tranh được vẽ bằng bút pháp Hiện Thực. Khổ 2, cảnh sông nước đêm trăng là bức tranh Siêu Thực. Khổ 3, hình ảnh ở thực tại chuyển sang bút pháp huyền ảo có màu sắc tâm linh, ở đây HMT hình dung ra mình đứng ngoài cõi nhân gian xa lắc (mờ nhân ảnh) nhìn về cõi người và “mơ khách đường xa”, cảnh thực ở Quy Nhơn nhòa trong cảnh thực ở Huế, được nhìn mằng tấm lòng của một người ngỡ mình đã “mờ nhân ảnh” trong cõ đời này.

Như thế không nhất thiết phải truy tìm nghĩa cụ thể của “mặt chữ điền” là gì, là mặt của ai, mà chỉ cần hiểu đó là khuôn mặt người dân Huế, thấp thoáng trong ngõ trúc, lá trúc che ngang. Độc đáo của HMT là chỉ cần dùng “lá trúc” cũng đủ gợi ra cành trúc và ngõ trúc, bởi người đọc liên tưởng ngay tới “cành trúc la đà “ trong ca dao và “ngõ trúc quanh co” trong thơ Nguyễn Khuyến. Tứ thơ vừa mới, vừa truyền thống. “Lá trúc che ngang bặt chữ điền” là hình ảnh thấp thóang của người dân Huế trong ngõ trúc. Trên đường đi, cành trúc nghiêng nghiêng, lá trúc lòa xòa trên mặt người, không thể “che ngang”, điều ấy làm lộ ra góc nhìn của HMT và một tín hiệu nghệ thuật cần giải mã. Tứ thơ “lá trúc che ngang mặt chữ điền” ẩn chứa một thông điệp.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

HMT, hóa thân trong Kim Cúc, mời gọi về thăm thôn Vĩ. Nhưng thôn Vĩ có gì đặc biệt để thăm? Thôn Vĩ có nắng mới lên trên hàng cau, có vườn xanh ngọc mơn mởn, có con người xứ Huế thấp thoáng đôn hậu. HMT còn tỏ lộ khát vọng tình duyên tươi mới qua hàng cau trong nắng sớm, một sức sống dào dạt trên những lá non xanh ngọc qua vườn ai, và sự thân thiện gần gũi khi nhìn con người xứ Huế đôn hậu. Xứ Huế có những giá trị tinh thần quý giá ấy níu chân HMT.

“Mặt chữ điền” của người xứ Huế là khuôn mặt rắn rỏi, đôn hậu. Khuôn mặt ấy chỉ thấp thoáng sau lá trúc, là sự bộc lộ sự kín đáo, thâm trầm và dung dị tính cách con người ở xứ kinh đô. Tôi còn thấy người dân Huế rất trọng lễ nghĩa. Phải chăng chữ “che ngang mặt” dẫn người đọc đến tầng nghĩa này? Người xưa, trước khi làm gì, đều thi lễ. Cách thi lễ thường là đưa tay lên ngang mặt. Chẳng hạn trước khi uống rượu, khách mời nâng chén rượu (cử bôi) ngang mặt thi lễ rồi mới uống. Người kỹ nữ trong Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị trước khi đánh đàn đã “Tay ôm đàn che nửa mặt hoa”( Do bão tỳ bà bán già diện ) sau đó mới vặn đàn, dạo qua vài tiếng đầy tâm trạng cho khách nghe. Vâng , HMT mời gọi, anh nên về thăm thôn Vĩ, vì ở đây có những con người đáng yêu, đáng quý như vậy. HMT tỏ ra hiểu sâu sắc cảnh sắc, con người xứ Huế, nhà thơ dành cho nơi đây (không chỉ dành cho Kim Cúc) tất cả tình yêu thương sâu nặng của mình. Điều ấy lộ ra khi HMT đã vào trại Quy Hòa, sống xa cõi người. Quả là một hồn thơ lạ lùng, bởi trong tình cảnh đau thương ấy, tâm hồn nhà thơ vẫn đầy ắp sức sống, dào dạt tình yêu thương, trân trọng nâng niu cái đẹp của cảnh sắc, của tình người. Tâm hồn ấy tinh khôi như nắng mới lên, thanh khiết một màu xanh như ngọc, và rắn rỏi đôn hậu biết bao, hòa trong cảnh sắc và con người xứ Huế.

Tôi nghĩ cái hay, cái đẹp, cái tình, cái tài hoa của câu thơ Hàn Mặc Tử là ở đó. Thương lắm một người thơ đã để lại cho chúng ta những giá trị tinh thần đặc sắc như vậy./.

Bùi Công Thuần
Tháng 9.2012

Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Nam  
#10 Posted : Friday, September 21, 2012 11:04:29 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,448

Thanks: 740 times
Was thanked: 260 time(s) in 195 post(s)

TT Thiệu - 16 tấn vàng - Oan khuất biết bao !


Friday, September 21, 2012 12:18 PM

Tôi xin thêm về 16 tấn vàng của VNCH như thế này:

tứớng Dương văn Minh, sau khi lên làm TT (do QH trao quyền hành như lời ông ta yêu cầu, DB Lý quý Chung thuyết phục QH trong buổi họp Lưỡng Viện ngày 28-4-1975, Bút Xuân có dự) Dương văn Minh sai DB Nguyễn hữu Chung, là tay chân thân tín, ngày 30-4 sang Ngân Hàng QGVN cùng với Sự vụ lệnh và Văn thư của TT DVM, bảo Lê văn Hảo và Thống đốc Uyển trao cho Nguyễn hữu Chung 16 tấn vàng đem xuống tầu chở ra ngoại quốc (với ý đồ thế nào chưa biết) Nhưng Lê văn Hảo không chịu giao vì còn muốn giữ 16 tấn vàng này để lấy điểm với VGCS đặng xin tiếp tục làm việc.

16 tấn vàng này đã chia 5 xẻ 7 cho các chóp bu VGCS ngay sau đó: Lê Duẩn, Đỗ Mười, Trường Chinh, Giáp, v.v... và bây giờ nó là một phần trong các tài sản của VGCS.

Bút Xuân TĐN

2012/9/20 Thang Ha <haxuanthang1@yahoo.com>

Mời quý vị click vào link để xem video clips Tổng Thống Thiệu giải đáp thắc mắc và tòan bộ cuộc điều tra của báo Tuổi Trẻ:

http://www.vietfreefun.c...BA%A5t-bi%E1%BA%BFt-bao-!

Kính thưa,

Nhân xem một video clip cựu Tổng Thống Thiệu trả lời câu hỏi "Có phải ông lấy 16 tấn vàng đem ra ngọai quốc không?", tuy cựu Tổng Thống đã giải thích minh bạch là không có chuyện đó, nhưng thái độ người hỏi biểu lộ sự không tin một cách lỗ mãng, tôi thấy trong lòng rất buồn.

Buồn vì cựu Tổng Thống Thiệu từng là một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa nhiều năm, vào sinh ra tử bảo vệ miền Nam tự do suốt tuổi trẻ. Nay ông đã ở vào hòan cảnh thất thế, có lòng đến thăm chúng ta để trả lời những thắc mắc, mà chúng ta lại không giữ được bình tĩnh, lịch sự, một thái độ phải chăng giữa những người cùng hòan cảnh với nhau!

Nhân dịp tờ báo Tuổi Trẻ ở trong nước vốn không có tình nghĩa đậm đà gì với ông Thiệu, lại còn đứng ở phe đối nghịch, mà người ta cũng có thể vì công đạo mà làm một phóng sự rất công phu để phơi bày sự thực ra ánh sáng, trả lại danh dự cho người bị oan khuất, Vy Khanh tôi rất cảm kích, nên chuyển về mời quý vị cùng xem cho rõ sự thật.

VK

Ba chục năm trời oan khuất !!!

Trong hồi ký "Đại thắng mùa xuân", Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng ra khỏi Việt Nam[13].

Theo Việt Báo [14], trong suốt 26 năm từ năm 1975 cho đến khi ông Thiệu qua đời, Hà Nội vẫn "rêu rao dựng đứng tin tổng thống Thiệu ra đi mang theo 16 tấn vàng ông đã vơ vét". Ngay cả khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu qua đời, báo Thanh Niên, báo Nhân Dân, và các cơ quan truyền thông của Việt Nam "vẫn công nhiên lôi chuyện 16 tấn vàng để bôi nhọ tổng thống Thiệu".

Theo Luật sư Lê Quang Định[16], từ sau năm 1975, "rất nhiều ấn phẩm trong nước đã thay nhau đổ tội và kết án ông trong “vụ án” bịa đặt này với những “bằng chứng” chắc chắn như thể chính các tác giả đều tận mắt trông thấy".

Mọi nguồn thông tin đều không bênh vực cho ông Thiệu, ông ra đi mang theo một cái án là kẻ ăn cắp tài sản quốc gia.

Trong nhiều năm sau chiến tranh, những người biết rõ số phận của 16 tấn vàng tại các cơ quan chức năng nhà nước, đã không đính chính tin đồn.

Sau này, khi thông tin đã được phổ biến rộng rãi qua loạt phóng sự điều tra của báo Tuổi Trẻ. Khi được hỏi tại sao lâu nay Nhà nước Việt Nam không đính chính, ông Lữ Minh Châu, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trả lời:

"Mình biết rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu". [17]

Giải oan

Sau hơn 30 năm, tháng 12 năm 2005 hồ sơ mật được phép giải mã, chính phủ Anh công bố Hồ sơ Bộ Ngoại giaotrong đó có phần nói về chuyện vị lãnh đạo của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà chuyển sang sống tại khu ngoại ô của London như thế nào. Tuy nhiên, hồ sơ này không nói đến số vàng nào được ông Thiệu mang tới Anh.[12]

Trả lời phỏng vấn BBC ngày 29 Tháng 12 năm 2005[12], Cựu Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng nói rằng số tiền vàng này chưa mang ra khỏi Việt Nam, nhưng ông không phải là nhân chứng của vụ việc.

Dư luận nhân dân đặt câu hỏi về việc ông Thiệu có mang vàng ra ngoài hay không và nếu không thì giờ ở đâu.[5]

Trong loạt phóng sự điều tra được đăng từ ngày 26 tháng 04 năm 2006, báo Tuổi Trẻ đã phỏng vấn các nhân chứng trực tiếp liên quan đến 16 tấn vàng, làm rõ rằng cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu không “đánh cắp” số vàng này. Tuy nhiên, ông đã qua đời từ trước đó, vào năm 2001.

Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người giữ chìa khóa kho vàng và là thành viên ban lãnh đạo Nha Phát hành Ngân hàng Quốc gia thời điểm tháng 4 năm 1975, thì số lượng tiền vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách tới từng chi tiết nhỏ.[1]

Về tin đồn Nguyễn Văn Thiệu chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, Luật sư Lê Công Định viết:

"Tìm ra tận cùng của sự thật, báo Tuổi Trẻ đã làm được một việc thiện xét từ góc độ lương tri".[16]

http://vi.wikipedia.org

nguồn: Chính Nghĩa
ditanbuon  
#11 Posted : Friday, September 21, 2012 12:05:11 PM(UTC)
ditanbuon

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/23/2011(UTC)
Posts: 3,067
Location: ThànhPhốThiênThần

Thanks: 28 times
Was thanked: 238 time(s) in 152 post(s)



Lá Thu Vàng


Chiều buồn nhìn lá, tàn tạ ngoài hiên xưa
Hồn nhẹ vào Thu, nhuộm vàng màu nhớ
Làn môi rạng rở, ánh mắt ôi êm đềm
Mơ phút hôn em, lữa cháy trong hồn

Ngày nào em từ ly
Sân buồn man mác
Ðông về heo hút
Tiếng gió vút khơi
Người yêu hỡ, ngóng trông nhau hoài
Mãi xa xôi .. chỉ thấy Thu về lá vàng rơi

The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long
And soon I'll hear old winter's song
But I miss you most of all my darling
When autumn leaves start to fall

C'est une chanson, qui nous ressemble
Toi tu m'aimais et je t'aimais
Nous vivions tous, les deux ensemble
Toi que m'aimais moi qui t'aimais
Mais la vie sépare ceux qui s'aiment
Tout doucement sans faire de bruit
Et la mer efface sur le sable les pas des amants désunis






dtb

Mai mốt em về qua phố biển
Vẽ giùm anh gợn sóng đùa gót chân em ....
linhphuong  
#12 Posted : Friday, September 21, 2012 2:20:37 PM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,864

Thanks: 316 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Tàu Trung Quốc, Đài Loan 'vây' Senkaku/Điếu Ngư


Một chiếc tàu của Đài Loan hôm nay nhập cùng nhóm hơn 10 tàu Trung Quốc tại vùng nước gần chuỗi đảo Senkaku/Điếu Ngư.

UserPostedImage

Một đảo thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh: Xinhua


Con tàu này được nhìn thấy ở cách Uotsurijima, đảo lớn nhất trong nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư, khoảng 44 km.

AFP dẫn lời phát ngôn viên tuần duyên Nhật ở Okinawa cho hay đây là một con tàu của người dân. "Thông qua loa và thiết bị liên lạc không dây, chúng tôi đang cảnh báo con tàu không được đi vào vùng nước thuộc chủ quyền của chúng tôi", người phát ngôn này nói. Theo luật pháp quốc tế, các vùng nước chủ quyền được mở rộng lên tới 12 hải lý tính từ bờ biển.

Tuần duyên Nhật còn cho biết con tàu có đáp lại lời cảnh báo. Tuy nhiên, những biểu ngữ liên quan tới Senkaku/Điếu Ngư cũng được nhìn thấy trên boong tàu này.

Hiện có 13 tàu hải giám và ngư chính của Trung Quốc hoạt động quanh khu vực quần đảo tranh chấp mà Tokyo gọi là Senkaku, còn Trung Quốc đặt tên là Điếu Ngư. Tất cả những tàu này đều ở phía ngoài của khu vực được gọi là vùng tiếp giáp, tức là ngoài phạm vi 12 hải lý tính từ khu vực có tranh chấp.

Diễn biến căng thẳng Trung Nhật qua ảnh, clip

Kể từ sau khi Nhật hoàn tất quốc hữu hóa ba trong số 5 đảo của Senkaku/Điếu Ngư hôm 11/9, các tàu chính phủ của Trung Quốc đã nhiều lần vào và ra khỏi vùng tiếp giáp, thậm chí từng vào vùng nước Nhật tuyên bố chủ quyền trong một thời gian ngắn hôm 18/9. Lực lượng tuần duyên Nhật đã được đặt trong tình trạng báo động cao.

Tokyo hôm nay cho hay sẽ yêu cầu Trung Quốc bồi thường thiệt hại do những cuộc biểu tình gây ra cho cơ quan đại diện ngoại giao của Nhật ở Trung Quốc trong những ngày qua. Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda cũng đang xem xét có thể gửi một đặc sứ đến Trung Quốc, như một nỗ lực tìm kiếm biện pháp giải quyết căng thẳng giữa hai nước thông qua nhiều kênh ngoại giao khác nhau.

Căng thẳng Trung - Nhật lên cao trong những ngày qua khi các cuộc biểu tình chống Nhật nổ ra khắp những thành phố lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, phong trào này nguội dần từ hôm 19/9 sau những biện pháp ngăn chặn của nhà chức trách Trung Quốc.

UserPostedImage

Senkaku/Điếu Ngư là quần đảo thuộc biển Hoa Đông. Nó cách Naha, thành phố chính trong chuỗi đảo
Okinawa của Nhật, khoảng 400 km và đảo Đài Loan khoảng 200 km. Đồ họa: Hangthebankers


Mối quan hệ xấu đi giữa hai nước còn thể hiện ở cả lĩnh vực thể thao. Các cây vợt Trung Quốc đồng loạt rút khỏi giải quần vợt Nhật Bản mở rộng, trong khi đội bóng bầu dục Nhật bỏ trận đấu lượt về trong khuôn khổ giải Asian Sevens Series ở Thượng Hải do lo ngại vấn đề an ninh.

Cùng thời gian căng thẳng leo thang, các quân khu và hạm đội của Trung Quốc liên tiếp tiến hành các cuộc tập trận bắn đạn thật để phô trương sức mạnh quân sự.

Trong hai chuyến thăm Nhật và Trung Quốc mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta kêu gọi hai nước kiềm chế để cùng giải quyết vấn đề tranh chấp. Washington luôn khẳng định không đứng về bên nào trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Edited by user Friday, September 21, 2012 2:36:24 PM(UTC)  | Reason: Not specified

hongvulannhi  
#13 Posted : Friday, September 21, 2012 5:14:06 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)

Bài 1 -Hành tung bí ẩn của một nhà sư


Lữ Giang


Hòa Thượng Thích Minh Châu, một nhà tu có hành tung bí ẩn và gây nhiều tranh luận, đã qua đời hôm 1.9.2012 tại Sài Gòn, hưởng thọ 94 tuổi.

Mặc dầu ông là người nổi tiếng, năm 1964 đã được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất can thiệp bằng mọi giá để buộc Tướng Nguyễn Khánh phải cho ông từ Ấn Độ về Sài Gòn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và ông đã từng giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục trong Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang cho đến sau năm 1975, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hãi ngoại chỉ loan tin việc ông qua đời dựa theo các bản tin của báo nhà nước ở trong nước, còn các tổ chức thuộc Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang ở hải ngoại gần như im lặng. Trong khi đó, hầu hết các cơ quan truyền thông nhà nước, kể cả TTXVN, đã loan tin rộng rãi và viết khá nhiều về ông.

Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay ở Sài Gòn đã sưu tầm và viết về tiểu sử của ông khá đầy đủ, nhưng không nói đến những bí ẩn đã gây nhiều tranh luận về chính bản thân ông cũng như những tổ chức đã xử dụng ông.

Dưạ trên tài liệu của tình báo Pháp và VNCH mà chúng tôi đã đọc được trước năm 1975, khi xuất bản cuốn “Những bí ẩn đàng sau những cuộc thánh chiến tại Việt Nam” vào năm 1994” chúng tôi đã tiết lộ nhiều chi tiết bí ẩn về cuộc đời và những hoạt động của ông khiến nhiều người ngạc nhiên.
Người ta thường nói “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng Thích Minh Châu vừa là một nhân vật tôn giáo vừa là một nhân vật chính trị, những gì ông đã làm hay để lại, đã và đang gây khá nhiều hậu quả tang thương cho Phật Giáo và cho đất nước, nên chúng tôi thấy cần phải đưa ra ánh sáng những sự thật lịch sử để rút kinh nghiệm và tránh đi vào vết xe cũ.

VÀI NÉT VỀ QUÊ QUÁN

Ở Việt Nam, ít ai biết đến hành tung của Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam… vì ông giấu rất kỹ. Một người làng ông và rất thân với gia đình ông khi còn nhỏ, đã nhận ra ông khi ông về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã tìm đến thăm ông và hỏi han về gia đình của ông ở miền Bắc, nhưng ông chối dài và nói anh ta đã nhận lầm. Đến khi anh ta nhắc tới tên đứa con trai của ông và cho biết chính anh là người đã dạy đứa con đó, ông mới chịu xuống giọng.

Hòa Thượng Thích Minh Châu có tên thật là Đinh Văn Nam, sinh ngày 20.10.1918.
Tài liệu VNCH ghi ông sinh ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nhưng các cơ quan truyền thông trong nước nói ông sinh ở Quảng Nam. Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay nói rõ hơn ông sinh tại làng Kim Thành ở Quảng Nam, nguyên quán ở làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chúng tôi biết ở Quảng Nam có làng Kim Thành thuộc huyện Điện Bàn. Như vậy có thể cụ Đinh Văn Chấp đã sinh ra Đinh Văn Nam khi đến làm quan ở Điện Bàn.

Gia đình Hòa Thượng Minh Châu thuộc dòng dõi khoa bảng. Thân phụ ông là cụ Đinh Văn Chấp, Tiến sĩ Hán học của nhà Nguyễn, thân mẫu là bà Lê Thị Đạt.

Ông là con thứ 3 của gia đình có 8 con, theo thứ tự như sau: Đinh Văn Kinh là con trưởng, đến Đinh Văn Quang, Đinh Văn Nam (tức Hòa Thượng Minh Châu), Đinh Văn Linh, Đinh Văn Phong, Đinh Thị Kim Hoài, Đinh Thị Kim Thai và Đinh Thị Khang.

Báo Đạo Phật Ngày Nay cho biết gia đình ông có đến 11 anh em và ông là con thứ 4. Như chúng ta đã biết, những người giàu có thời đó thường có nhiều vợ. Cụ Đinh Văn Chấp cũng có nhiều vợ thứ. Trước khi cưới vợ chánh là bà Lê Thị Đạt (mẹ Thích Minh Châu), ông đã cưới một người vợ thứ rồi, vì thế anh chị em nhà này rất đông. Nếu tính cả con vợ thứ, con số 11 có lẽ cũng đúng.

ĐẠI ĐĂNG KHOA VÀ TIỂU ĐĂNG KHOA

Anh chị em gia đình Thích Minh Châu rất thông minh, được học cả Hán học lẫn Tây học. Năm 1940, khi 22 tuổi, Đinh Văn Nam đậu bằng Tú tài Toàn phần tại trường Khải Định, Huế (nay là trường Quốc Học).
Người Việt ngày xưa theo tục lệ của Tàu, Đại đăng khoa rồi Tiểu đăng khoa. Đại đăng khoa là tiệc mừng tân khoa thi đỗ về làng, còn Tiểu đăng khoa là tiệc cưới mừng tân khoa thành lập gia thất. Cũng trong năm 1940, Đinh Văm Nam đã lập gia đình với cô Lê Thị Bé, con một gia đình khoa bảng khác ở cùng làng là cụ Lê Văn Miến. Cụ Miến là một người vừa đậu Tây học vừa thông Hán học nên làm giáo sư Hán văn và Pháp văn, sau vào dạy Quốc Tử Giám (đại học của triều đình) ở Huế.

Đinh Văn Nam ở với vợ là Lê Thị Bé được 3 năm, sinh được hai người con, một trai và một gái. Người con trai đầu lòng tên là Đinh Văn Sương. Người con gái tên là Đinh thị Phương (chúng tôi không nhớ tên lót chính xác).

Năm 1943, Đinh Văn Nam trở lại Huế và xin làm thừa phái (thư ký) cho tòa Khâm Sứ của Pháp ở Huế. Từ đó ông rất ít khi về Nghệ An thăm vợ con. Vợ ông phải làm việc rất vất vả để nuôi con.

KHI THỜI THẾ ĐỔI THAY

Theo hồ sơ của mật thám Pháp để lại, Hoà Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc Trường An Nam Phật Học ở Huế gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1941, còn Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường năm 1943. Như vậy Đinh Văn Nam đã vào Đảng Cộng Sản sau khi bỏ Nghệ An trở lại Huế.

Sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cụ Đinh Văn Chấp, thân phụ của Đinh Văn Nam, đã tản cư từ Huế về Nghệ An và được Việt Minh mời làm Chủ Tịch Ban Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác-Lê. Sau khi cụ Đặng Hướng, Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt tỉnh Nghệ An lên làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Liên Khu IV, cụ Đinh Văn Chấp thay cụ Đặng Hướng làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Việt Nghệ An. Còn cụ Lê Văn Miến, nhạc phụ của Đinh Văn Nam là người liêm khiết nên rất nghèo. Khi cụ trở về quê ở Kim Khê thì không có nơi cư ngụ. Các học trò của cụ phải góp mỗi người 5 đồng làm cho cụ một căn nhà lá nhỏ ở tạm. Vốn là thầy giáo, không quen các nghề bằng tay chân và nhất là với sĩ diện của một nhà Nho, cụ không có kế gì để sinh nhai. Nghe nói về sau cụ bị chết đói.

Hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc là nơi Đảng Cộng Sản Đông Dương lập các cơ sở đầu tiên của họ. Gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc (bố Nguyễn Sinh Cung, tức Hồ Chí Minh) ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, nên Hồ Chí Minh quen biết rất nhiều trong vùng này. Ông cho người đi móc nối các sĩ phu, thuyết phục họ tham gia Cách Mạng. Trong hai huyện Nghi Lộc và Nam Đàn, không ai lạ gì gia đình của Hồ Chí Minh. Anh của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm, một người mắc bệnh tâm thần, không có nghề nghiệp, thường lui tới các gia đình của những người quen biết ở hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc để xin ăn. Chị của Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, trước có làm liên lạc cho cụ Phan Bội Châu, sau bị mật thám Pháp theo dõi, phải trở về làng sống trong một túp lều tranh nhỏ bé và xiêu vẹo, rất cơ cực. Sĩ phu trong hai huyện Nam Đàn và Nghi Lộc gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương khá nhiều. Đinh Văn Nam cũng ở trong trường hợp đó.

Trần Điền, người cùng làng với Thích Minh Châu, một cán bộ cao cấp của Việt Cộng, đã xin cuới cô Đinh Thị Kim Hoài, em của Thích Minh Châu, nhưng bị từ chối. Tuy không được làm rể nhà họ Đinh, Trần Điền vẫn giữ liên lạc tốt đẹp với gia đình Thích Minh Châu. Trần Điền đã làm Đại Sứ của Hà Nội tại Nam Vang trong thời kỳ Sihanouk chấp chánh. Đây là một đường dây liên lạc tốt của Thích Minh Châu.

Sau này cô Đinh Thị Kim Hoài làm vợ bé của Thiếu Tướng Nguyễn Sơn khi tướng này về làm Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Liên Khu IV, một Liên Khu vững vàng nhất của Việt Cộng thời đó.

Nguyễn Sơn là một tướng tài, đẹp trai và lịch thiệp, nên đi đến đâu đều được các cô các bà bám chặt. Ông ở nơi nào ít lâu là có vợ ở nơi đó. Cuộc đời của ông có khoảng 15 bà vợ. Khi ông vào Nghệ An, cô Đinh Thị Kim Hoài rất thích ông. Ít lâu sau, hai người lấy nhau, mặc dầu lúc đó ông đã có khoảng 13 hay 14 bà vợ rồi.

Đinh Văn Linh, em của Thích Minh Châu, là một Đại Tá trong bộ đội Việt Cộng, từng làm Đại Sứ của Hà Nội ở Bắc Kinh và sau về làm Chủ nhiệm nhật báo Quân Đội Nhân Dân của Việt Cộng. Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Đinh Văn Linh là người đầu tiên được Việt Cộng đưa vào Saigon để tiếp thu.
Một người ở làng Kim Khê cho biết Thích Minh Châu đã gia nhập Mặt Trận Việt Minh vào đầu thập niên 40, khi Mặt Trận này mới thành lập. Nhóm của ông thường họp tại chùa Cẩm Linh, Diệc Cổ Tự hay trụ sở của Hội Nghiên Cứu Phật Học Trung Kỳ ở trong nội thành của thành phố Vinh.

Một tăng sĩ Phật Giáo đã công khai phản đối việc dùng chùa chiến để làm nơi hội họp bí mật của nhóm nói trên là Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu. Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu tên thật là Trương Thế Giám, trụ trì ở chùa Phước Hòa, Sầm Sơn, Thanh Hóa, là người thông thạo cả Hán học lẫn Tây học. Ông biết chuyện một số người đã dùng chùa và trụ sở của Phật Giáo hội họp làm chính trị nên lên tiếng phản đối. Năm 1954, khi Hiệp Định Genève ký kết, ông đã liên lạc với các làng công giáo chung quanh để tìm cách di cư vào Nam nhưng đi không lọt. Trong cuộc đấu tố năm 1957, ông bị chôn sống.

Chúng tôi ghi lại những chi tiết này để giúp độc giả hiểu được tại sao Đinh Văn Nam đã gia nhập Đảng Cộng Sản và trở thành một cán bộ trung kiên của đảng này.

Trong số tới, chúng tôi sẽ nói về những gay cấn trong việc đưa Thượng Tọa Thích Minh Câu về làm Viện Trưởng Viện Đại Học và chuyện gặp gỡ vợ con của Thích Minh Châu sau 30.4.1975

Ngày 6.9.2012
Lữ Giang
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#14 Posted : Friday, September 21, 2012 5:17:03 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)

Bài 2 -Hành tung bí ẩn của một vị sư


Lữ Giang


Trong bài trước chúng tôi đã trình bày qua lý lịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, với nhiều bí ẩn về gia tộc, vợ con và con đường hoạt động chính trị của ông. Chúng tôi sẽ nói rõ hơn con đường dẫn ông đến với Đảng Cộng Sản, chuyện ông xuất gia để phục vụ Đảng, áp lực đưa ông về ngồi chổm chệ giữa Sài Gòn, “tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á”, hoạt động của Việt Cộng trong Viện Đại Học Vạn Hạnh, sự lộ diện của ông ngày 30.4.1975, chuyện ông gặp lại vợ con, chuyện ông đưa GHPGVNTN vào cửa tử và “những ngày vinh quang” của ông. Đây là những chuyện rất ly kỳ.

CÂU HỎI THỨ NHẤT

Một câu hỏi được đặt ra là Pháp biết Hoà Thượng Thích Trí Độ, Giám Đốc Trường An Nam Phật Học, đã vào Đảng Cộng Sản năm 1941, Đinh Văn Nam (tức Thích Minh Châu) và Võ Đình Cường năm 1943, tại sao họ không bắt?

Như chúng tôi đã chứng minh trong cuốn “Những bí ẩn đàng sau cuộc thánh chiến tại Việt Nam” xuất bản năm 1994, vào thập niên 1930, Toàn Quyền Pasquier đã đưa ra chủ trương thành lập các phong trào thể thao và “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” để vô hiệu hóa các cuộc nổi dậy chống Pháp. Nhiều viên chức cao cấp đã được Pháp giao cho thực hiện công tác này như Trần Nguyên Chấn ở Nam kỳ, Lê Đình Thám ở Trung kỳ và Lê Dư ở Bắc kỳ. Ngoài ba nhân vật chính này, còn rất nhiều viên chức khác tham gia như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc... Thiền sư Nhất Hạnh và nhiều nhân vật Phật Giáo đã công nhận đây là thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo Việt Nam. Biết rõ chủ trương của Pháp, Đảng Cộng Sản Đông Dương cũng dựa vào Phật Giáo để xây dựng các cơ sở Đảng.

Sở dĩ mật thám Pháp biết Hòa Thượng Trí Độ, Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường vào Đảng Cộng Sản nhưng không bắt vì lúc đó Pháp muốn dùng lực lượng của Cộng Sản để chống Nhật. Nhiều cán bộ cao cấp của Cộng Sản bị bắt đã được thả ra.

Chúng tôi xin nhắc lại rằng năm 1944, Hoa Kỳ đã phối hợp với Pháp và chính phủ Tưởng Giới Thạch, thành lập một toán do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa từ Liễu Châu về Pác Bó. Toán này được huấn luyện và trang bị vũ khí để chống Nhật. Nhờ vậy, khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Việt Minh đã cướp được chính quyền ở Hà Nội vào tháng 8 năm 1945.

CÂU HỎI THỨ HAI

Bác sĩ Lê Đình Thám, Hội Trưởng Hội An Nam Phật Học, người dẫn dắt Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường, đã vào Đảng năm nào mà sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ ở Liên Khu V từ 1946 đến 1949?

Quả thật, Bác sĩ Lê Đình Thám đã giấu tông tích của ông rất kỷ, ông lại là người được Pháp giao nhiệm vụ “Phật giáo hóa” tại Trung kỳ, nên mật thám Pháp không nghi ngờ gì về ông. Dĩ nhiên, ông phải là đảng viên cao cấp mới được Đảng Cộng Sản cho giữ một chức vụ quan trọng như vậy. Lần theo những bước chân của ông, chúng ta có thể tìm ra con đường Thích Minh Châu đã gia nhập vào Đảng Cộng Sản.

CON ĐƯỜNG THÍCH MINH CHÂU ĐI

Bác sĩ Lê Đình Thám sinh năm 1897 tại Quảng Nam, tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Y Khoa Đông Dương Hà Nội năm 1916. Năm 1932, ông thành lập Hội An Nam Phật Học tại Huế, trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm. Bên ngoài ông thuyết giảng và truyền bá Phật Giáo, nhưng bên trong hoạt động cho Cộng Sản.

Đinh Văn Nam (Thích Minh Châu) và Võ Đình Cường là hai “đệ tử ruột” của Bác sĩ Lê Đình Thám, nên thầy đi đâu, trò theo đó. Trang nhà Đạo Phật Ngày Nay của báo trong nước đã nói rất rõ: Phong trào học Phật do Bác sĩ Lê Đình Thám tổ chức có "nhiều trí thức yêu nước" tham gia như: Ngô Điền, Phạm Hữu Bình, Võ Đình Cường… Đinh Văn Nam và em là Đinh Văn Vinh đến với phong trào học Phật từ năm 1936. Đinh Văn Nam đã đảm nhận chức vụ Chánh Thư Ký của Hội An Nam Phật Học. Kể từ đó, ông "gắn liền với Hội và là hạt nhân nòng cốt phát động phong trào yêu nước chống Pháp".

Năm 1940, Bác sĩ Thám cho thành lập Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục do Phạm Hữu Bình làm đoàn trưởng, Đinh Văn Nam (tức Thích Minh Châu) làm đoàn phó, Ngô Điền làm thư ký. Trong các cán bộ của đoàn, người ta thấy có Đinh Văn Vinh và Võ Đình Cường.

Năm 1944, tại đồi Quảng Tế ở Huế, Bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Gia Đình Phật Hóa Phổ. Người ta thấy Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường trong đại hội này. Tổ chức này sau được biến thành Gia Đình Phật Tử do Võ Đình Cường lèo lái.

Tháng 10 năm 1945, Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh hô hào tiêu thổ kháng chiến và tản cư. Các tăng sĩ và cư sĩ Phật Giáo ở Huế cũng đi tản cư. Ngày 7.2.1947 Pháp chiếm lại Huế, đa số dân chúng, kể cả các tăng sĩ và cư sĩ Phật Giáo đều hồi cư. Một số tiếp tục hoạt động cho Việt Minh bị Pháp bắt, nhưng nhờ bà Từ Cung, mẹ của Bảo Đại can thiệp, Pháp đã thả ra, trong đó có Thượng Tọa Thích Đôn Hậu.

XUẤT GIA NĂM NÀO?

Tài liệu của báo nhà nước cho biết Đinh Văn Nam xuất gia năm 1946. Nhưng chúng tôi không tin. Lúc đó Huế đang có lệnh tản cư và tiêu thổ kháng chiến, mọi người đều lo tản cư. Bác sĩ Lê Đình Thám đi vào Quảng Nam và được cử làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Miền Nam Trung Bộ ở Liên Khu V. Không lẽ trong tình trạng hổn loạn đó, Đinh Văn Nam lại đi vào chùa?

Cuối năm 1947, Hội An Nam Phật Học hoạt động trở lại và đặt trụ sở tại số 1b đường Nguyễn Hoàng, Huế. Việt Minh đã giao cho Võ Đình Cường và Phan Cảnh Tú vận động tái lập Gia Đình Phật Hóa Phổ để làm cơ sở hoạt động của Việt Minh. Tổ chức này đã mượn trụ sở Hội An Nam Phật Học làm nơi sinh hoạt tạm thời. Ngày Chúa nhật 18.1.1948, Võ Đình Cường chính thức làm lễ ra mắt tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ mới tại chùa Từ Đàm, người ta thấy có mặt của Đinh Văn Nam, Tống Hồ Cầm, Hoàng Thị Kim Cúc, Cao Chánh Hựu, Văn Đình Hy, v.v.

Một tài liệu khác cho biết Đinh Văn Nam xuất gia năm 1948. Tin này có vẽ hợp lý hơn, vì năm 1948 các chùa ở Huế mới hoạt động trở lại. Có lẽ Bác sĩ Lê Đình Thám đã phân công cho Võ Đình Cường hoạt động trong giới Phật tử, còn Đinh Văn Nam hoạt động trong giới tăng sĩ.

Lúc đó Đinh Văn Nam đã 30 tuổi, xin đầu sư với Hoà Thượng Thích Tịnh Khiết ở chùa Tường Vân. Năm 1949, Hoà Thượng Tịnh Khiết cho ông thọ “Cụ túc giới” tại giới đàn Hộ Quốc, chùa Bảo Quốc, với pháp tự là Minh Châu. “Cụ túc giới” là những giới luật mà hàng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni phải thụ trì. Tỳ kheo là tên gọi những người xuất gia đã thọ giới Cụ túc.
Năm 1952, ông được cho đi Sri-Lanka học Pali rồi qua Ấn Độ học tại đại học Bihar và năm 1961 ông đậu Tiến Sĩ Phật Học. Cùng đi với ông có Nguyễn Đình Kỳ. Nguyễn Đình Kỳ chỉ lo tu học về Phật Giáo và đã chết ở Ấn Độ.
Nếu chuyện chỉ như thế, chẳng ai để ý làm gì!

ĐƯA CỘNG SẢN VÀO SÀIGÒN!

Câu chuyện đã đổ bể khi Viện Hoá Đạo của GHPGVNTN đề nghị với chính phủ Nguyễn Khánh cho ông về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh của Phật Giáo.
Người đàn bà Việt Nam theo văn hóa của Tàu, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Còn Kinh Phổ Diệu của Đạo Phật nói “Xuất gia tứ nguyện”. Xuất gia là rời bỏ gia đình, rời bỏ cảnh giới thế tục để tu tịnh hạnh. Tứ nguyện là 4 nguyện của người xuất gia: (1) Nguyện tế độ chúng sinh khỏi nguy khốn tai ách. (2) Nguyện trừ hoặc chướng cho chúng sinh. (3) Nguyện đoạn trừ tà kiến giúp chúng sinh. (4) Nguyện độ chúng sinh khỏi vòng khổ ải. Nhưng Hòa Thượng Minh Châu xuất gia không phải để thực hiện những điều kinh Phật dạy, mà thực hiện những điều Đảng dạy!

Năm 1964, khi GHPGVNTN mới được thành lập, Viện Hoá Đạo của Giáo Hội này đã viết văn thư xin chính phủ Nguyễn Khánh cho Thượng Tọa Thích Minh Châu ở Ấn Độ được về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh sắp được thành lập. Tướng Nguyễn Khánh yêu cầu cơ quan an ninh sưu tra lý lịch.
Cơ quan an ninh đã sưu tra hồ sơ và tìm thấy Đinh Văn Nam và Võ Đình Cường đã vào Đảng Cộng Sản năm 1943. Đinh Văn Nam có vợ và hai con đang ở miền Bắc.

Cơ quan an ninh liền liên lạc với Tòa Đại Diện VNCH ở Ấn Độ và xin cho biết trong thời gian ở Ấn Độ, Thích Minh Châu đã sinh hoạt như thế nào. Toà Đại Diện cho biết trong thời gian ở Ấn Độ, Thích Minh Châu đã hoạt động cho Hà Nội. Tòa Đại Diện đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự kiện này. Chúng tôi chỉ nhớ hai bằng chứng chính:

Bằng chứng thứ nhất: Năm 1952, Trung Quốc đã mở Hội Nghị Hòa Bình Châu Á và Thái Bình Dương ở Bắc Kinh. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gởi một phái đoàn tới tham dự. Phái đoàn do Luật sư Nguyễn Mạnh Tường làm trưởng đoàn. Thích Minh Châu từ Ấn Độ đã lén qua Bắc Kinh tham gia phái đoàn. Sau hội nghị, phái đoàn đã đưa ra một bản tuyên bố trong đó có đoạn như sau: “Nhân dân thế giới đều đồng tình, đòi quân đội ngoại quốc xâm lược phải rút ra khỏi 3 nước Việt, Miên, Lào, 3 nước Việt, Miên, Lào độc lập hoàn toàn và thực sự.”

Bằng chứng thứ hai: Ngày 10.2.1958 Hồ Chính Minh qua Ấn Độ vận động thống nhất Việt Nam, đòi tổng tuyển cử. Công việc tiếp đón đều do Thích Minh Châu phụ trách. Hà Nội có cho ông Nguyễn Di Niên đi theo làm thông dịch. Nhưng khi đến Ấn Độ, Thích Minh Châu là thông dịch viên chính của Hồ Chí Minh. Toà Đại Diện có gởi về một tấm hình Thích Minh Châu chụp chung với Hồ Chí Minh tại Red Fort ở thủ đô Delhi, trong một cuộc mít-tinh do Thích Minh Châu tổ chức..

Tướng Nguyễn Khánh đã thông báo các tài liệu này cho Viện Hóa Đạo biết và nói rằng chính phủ rất tiếc không thể cho Thích Minh Châu trở về Việt Nam được, vì ông đang hoạt động cho Việt Cộng ở Ấn Độ.
Vốn tự coi mình là một tổ chức quyền lực tối cao, sống trên và ngoài luật pháp quốc gia, GHPGVNTN liền gởi cho Tướng Nguyễn Khánh một văn thư nói rằng ngoài Thích Minh Châu ra, hiện tại không tăng sĩ Phật Giáo nào có đủ khả năng làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, vậy xin cứ để cho Thích Minh Châu về, Giáo Hội bảo đảm sẽ không cho Thích Minh Châu hoạt động cho Việt Cộng nữa.

Thích Trí Quang còn đe doạ rằng nếu Tướng Nguyễn Khánh không đáp ứng nhu cầu chính đáng của Phật Giáo, Phật Giáo bị bắt buộc phải hành động. Trong báo cáo gởi cho các viên chức Hoa Kỳ ở Washington ngày 11.5.1964, Đại Sứ Cabot Lodge đã có nhận xét như sau:
“Đã lật đổ được một chính phủ, ông ta (Thích Trí Quang) nghĩ rằng có thể làm như thế để chống lại Khánh.”

(Having overthown one government, he may feel like trying again against Khanh.)
[FRUSS 1964 – 1968, Volum I, Vietnam 1964, tr. 304 – 305, Document 147].
Sợ Phật Giáo gây khó khăn, Tướng Khánh đã phê lên hồ sơ: “Cho về và theo dõi”. Ngày 13.11.1964, Viện Hoá Đạo GHVNTN đã ban hành Quyết Định số 156-VT/QĐ cử Thượng Tọa Thích Minh Châu làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh!

(Còn tiếp)
Ngày 13.9.2012
Lữ Giang
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

hongvulannhi  
#15 Posted : Friday, September 21, 2012 5:21:49 PM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)

Bài 3: Hành tung bí ẩn của một vị sư


Lữ Giang


Như chúng tôi đã nói trong bài 2, mặc dầu cơ quan an ninh có đầy đủ tài liệu chứng minh Thích Minh Châu, tức Đinh Văn Nam, là đảng viên Đảng Cộng Sản và đang hoạt động cho Cộng Sản ở Ấn Độ, Tướng Khánh vì bị áp lực của GHPGVNTN, đã phê lên hồ sơ: “Cho về và theo dõi”.
Ngày 13.3.1964, GHPGVNTN quyết định dùng chùa Pháp Hội ở số 702/105 đường Phan Thanh Giản, Quận 10, Sài Gòn, làm Viện Cao Đẳng Phật Học và cử Thượng Tọa Thích Trí Thủ làm Viện Trưởng. Đây là cơ sở dự bị để tiến tới thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh.

CHUYỆN RẮC RỐI NỘI BỘ

Lúc đó có ba tăng sĩ có thể được chọn làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đó là Thượng Tọa Thích Thiên Ân, Thiền sư Nhất Hạnh và Thượng Toạ Thích Minh Châu. Như vậy không phải Phật Giáo Việt Nam lúc đó không có ai có thể làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh ngoài Thích Minh Châu như Viện Hóa Đạo đã nói với Tướng Nguyễn Khánh.

Chúng tôi đã nói về Thượng Tọa Thích Minh Châu, ở đây chúng tôi cũng xin nói qua về Thượng Tọa Thiên Ân và Thiền Sư Thích Nhất Hạnh để đọc giả có thể hiểu tại sao Thích Minh Châu đã được chọn.

1.- Vài nét về Thượng Tọa Thiên Ân

Thích Thiên Ân, thế danh là Đoàn Văn An, sinh năm 1925 tại làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ông đi tu từ lúc 10 tuổi (1935) và cùng thọ Cụ túc giới năm 1948 cùng một lượt với Thích Minh Châu ở tổ đình Báo Quốc do Hòa thượng Tịnh Khiết làm Đường đầu truyền giới. Ông đi du học Nhật Bản năm 1954 và đậu Tiến Sĩ Văn Chương năm 1960 rồi trở về nước.

Để chuẩn bị cho ông làm viện trưởng một viện đại học Phật giáo sắp được thành lập, các cao tăng đã khuyến khích ông “cần phải trau giồi thêm kinh nghiệm, phương pháp quản lý một đại học Phật giáo có tầm cỡ quốc tế”, vì thế năm 1961 ông lại xuất dương để tu nghiệp ở Nhật Bản và lần này ông tìm học pháp môn Thiền Rinzai (Lâm Tế) chính thống của các thiền sư Nhật Bản. Ông đã đạt được sở nguyện. Năm 1963 ông trở lại Việt Nam.

2.- Tung tích Thiền Sư Nhất Hạnh

Tung tích của Thiền Sư Nhất Hạnh cũng bí ẩn như tung tích của Thượng Tọa Minh Châu, nhưng qua nhiều cuộc sưu tra, chúng tôi biết được Thiền sư Nhất Hạnh có tên thật là Nguyễn Đình Bảo sinh ngày 11.10.1926 tại làng Thành Trung, xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Thân phụ là người gốc Thanh Hóa, mẹ người làng Lệ Lộc, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Ông là con thứ trong một gia đình 5 con. Ông có người em là Nguyễn Đình An dạy học ở Nha Trang trước 1975.

Ông xuất gia năm 1942, lúc 16 tuổi, và thụ Cụ túc giới tại tổ đình Từ Hiếu với Hòa Thượng Thích Nhất Định. Khi đặt Pháp danh cho các tăng sĩ tu học tại đây, các vị chủ trì thường dùng chữ “Nhất” để làm chữ đệm. Có lẽ cũng vì thế, Nguyễn Đình Bảo đã được ban cho Pháp danh là Thích Nhất Hạnh.

Thích Nhất Hạnh theo học trung học ở Huế và năm 1956 đã vào Saigon theo học ở Đại Học Văn Khoa. Ông tốt nghiệp Cử Nhân Văn Khoa ở Sài Gòn vào khoảng năm 1959. Năm 1961 ông được chính phủ Ngô Đình Diệm cho đi học về môn tôn giáo đối chiếu (comparative religion) tại Princeton University ở New Jersey, Hoa Kỳ.

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tình hình bắt đầu rối loạn, có nhiều sự tranh chấp đã xẩy ra trong nội bộ Phật Giáo về việc thiết lập và lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (xem Bạch Thư của Hòa Thượng Thích Tâm Châu). Để tạo thanh thế cho mình, chống lại phe Bắc và phe Nam, năm 1964 Thượng Tọa Thích Trí Quang đã đích thân viết cho Thiền sư Nhất Hạnh một lá thư yêu Thiền sư trở về Việt Nam gấp để giúp ông trong việc thống nhất Phật Giáo và vạch một hướng đi cho Phật Giáo Việt Nam trong giai đoạn tới.

3.- Tranh chấp trong nội bộ

Một câu hỏi được đặt ra là tại miền Nam lúc đó có hai người đã được đào tạo để làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đó là Thượng Tọa Thích Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh, tại sao Viện Hóa Đạo không chọn một trong hai người này mà phải đòi cho được Thượng Tọa Minh Châu, mặc dầu biết rõ ông đang hoạt động cho Cộng Sản ở Ấn Độ?

Như đã nói trên, Thượng Tọa Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh đều là người Thừa Thiên. Hai tăng sĩ này chịu ảnh hưởng nặng của Thích Trí Quang. Thân phụ của Thích Thiện Ân là Thích Tiêu Diêu đã tự thiêu tại chùa Từ Đàm đêm 16.8.1963. Ông vùng chạy khi ngọn lửa đang bốc cháy. Còn Thiền sư Nhất Hạnh là đàn em của Thích Trí Quang, được đi du học Mỹ là nhờ Thích Trí Quang xin ông Ngô Đình Cẩn can thiệp giúp.
Mặc dầu được tu học ở Huế, Thích Minh Châu không chịu ảnh hưởng của Thích Trí Quang nên các tăng sĩ trong Viện Hoá Đạo muốn đưa Thích Minh Châu về làm Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, chứ không muốn chọn một trong hai tăng sĩ chịu ảnh hưởng của Thích Trí Quang. Điều đáng ngạc nhiên là không hiểu vì lý do gì hoặc có sự can thiệp bí mật từ đâu, Thích Trí Quang cũng đã đồng ý chọn Thích Minh Châu.
Khi Thượng Tọa Thích Minh Châu từ Ấn Độ về nước, ông được cử làm Phó Viện trưởng Điều hành của Viện Cao Đẳng Phật Học, còn Thích Thiên Ân làm Giáo Thọ Trưởng.

Có lẽ buồn lòng về quyết định của Viện Hóa Đạo, Thích Thiên Ân và Thiền sư Nhất Hạnh đã chọn con đường bỏ nước ra đi.

Năm 1966, Thích Thiên Ân đi du học Mỹ rồi ở lại Mỹ, lập Trung tâm Thiền học Quốc tế và chùa Phật Giáo Việt Nam ở Los Angeles, và qua đời năm 1980 tại đây, thọ 75 tuổi.

Cũng trong năm 1966, Thiền sư Nhất Hạnh ra ngoại quốc kêu gọi chấm dứt chiến tranh, đòi quyền tự quyết và thành lập một chính phủ hòa giải hòa hợp. Ông làm phát ngôn viên cho Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang, đứng về phía Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và phe phản chiến ở Mỹ. Ông đem cả cô Fleurette Cao Ngọc Phượng, “Pháp danh” là Sư cô Chân Không, và đứa con trai qua ở luôn tại Pháp, lập Làng Hồng sau đổi thành Làng Mai. Lúc đầu Làng Mai do bà Elizabeth Bùi Kim Tiền, mẹ của cô Phượng đứng tên. Khi bà này qua đời, cô Phượng lên thay.

VIỆN ĐẠI HỌC VẠN HẠNH

Dược Sĩ Nguyễn Cao Thăng, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị hãng OPV (Office Pharmaceutique du Vietnam), một hãng sản xuất và nhập cảng duợc phẩm, đã thoát nạn nhờ biết chạy chọt qua ngã nhà chùa. OPV là một công ty dược phẩm của người Pháp tại Sài Gòn, được ông Ngô Đình Cẩn giao cho Dược Sĩ Nguyễn Cao Thăng đứng tên sang lại vào khoảng năm 1956 khi Pháp rút ra khỏi Việt Nam, nên được dư luận coi là tổ chức kinh tài của Đảng Cần Lao.

Giới thạo tin tại Sài Gòn lúc đó đều biết người đứng ra làm trung gian thu xếp giữa OPV với các nhà lãnh đạo Phật Giáo và các tướng lãnh cầm quyền để Dược Sĩ Nguyễn Cao Thăng khỏi bị bắt và OPV khỏi bị tịch thu là bà Đào Thị Xuân Yến, nguyên hiệu trưởng trường trung học Đồng Khánh ở Huế. Bà là vợ ông Nguyễn Đình Chi, Tuần Phủ Hà Tĩnh, nên thường được gọi là bà Tuần Chi. Ông Nguyễn Đình Chi có họ hàng với của Nguyễn Cao Thăng. Bà Tuần Chi cũng là đệ tử ruột của Hoà Thượng Thích Đôn Hậu ở chùa Thiên Mụ. Trong vị thế đó, bà đã đứng ra “vận động” (lo lót) để chính quyền và Phật Giáo không đụng đến OPV. Sau vụ Tết Mậu Thân 1968, bà Tuần Chi đã theo Hòa Thượng Đôn Hậu đi ra Hà Nội.

Qua sự thu xếp của bà Tuần Chi, Nguyễn Cao Thăng đã tặng cho Phật Giáo một khu đất rộng khoảng 4000 m2 ở số 222 đường Trương Minh Giảng, Quận 3, Sài Gòn. Sở đất này lúc đó do bà Trương Ngọc Diệp, vợ của Nguyễn Cao Thăng đứng tên. Số tiền mặt “cúng dường” bao nhiêu không biết được. Viện Hóa Đạo quyết định dùng khu này để xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Trong cuốn Bạch Thư đề ngày 31.12.1993, Hòa Thượng Thích Tâm Châu còn cho biết Tướng Nguyễn Khánh đã cho GHPGVNTN thuê tượng trưng một khu đất gần 5 mẫu ở đường Trần Quốc Toản để làm trụ sở chính của Giáo Hội và cúng 10 triệu đồng để làm chùa. Sau đó, Hòa Thượng có mượn thêm của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ 50 triệu nữa và giao cho các Hoà Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa, Trí Thủ và Từ Nhơn để xây Việt Nam Quốc Tự, nhưng họ giữ tiền và không xây (tr. 22 và 23). Thật ra họ chỉ xây cái tháp!

Theo yêu cầu của Viện Hóa Đạo, ngày 17.10.1964, Bộ Quốc Gia Giáo Dục đã ban hành Nghị Định số 1805-NĐ/PG/NĐ hợp thức hóa Viện Cao Đẳng Phật Học. Viện này tạm đặt trụ sở tại Chùa Pháp Hội và Chùa Xá Lợi ở Sài Gòn. Ngày 13.11.1964, Viện Hóa Đạo ban hành Quyết Định số 156-VT/QĐ cử Thượng Tọa Thích Minh Châu làm Viện Trưởng thay thế Thượng Tọa Thích Trí Thủ.

Ngày 9.6.1965 là ngày lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh ở số 222 đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sĩ). Cuối năm 1965 Viện Hóa Đạo xin phép đổi tên Viện Cao Đẳng Phật Học thành Viện Đại Học Vạn Hạnh và cử Thượng Tọa Thích Minh Châu là Viện Trưởng, Thượng Tọa Thích Mãn Giác làm Viện Phó.

Năm 1966, việc xây cất Viện Đại Học Vạn Hạnh hoàn tất, gồm tòa nhà chính với bốn tầng lầu. Đây là nơi đặt văn phòng làm việc của Viện Trưởng, văn phòng các Phân Khoa, văn phòng các nha sở, thư viện, câu lạc bộ, các giảng đường, phòng học của sinh viên... Năm 1970 Viện xây thêm Toà nhà B làm cơ sở cho Phân Khoa Giáo Dục. Năm 1972, Viện mua thêm bất động sản số 716 đường Võ Di Nguy (nay là Nguyễn Kiệm), Phú Nhuận, để làm cơ sở II.

THẦY SAO TRÒ VẬY

Khi Viện Đại Học Vạn Hạnh được khánh thành, các cơ quan tình báo của VNCH và CIA đã cài người vào để theo dõi các hành động của Thích Minh Châu. Họ có thể là sinh viên, nhân viên, giảng viên, v.v. Khi còn ở Việt Nam, tôi có đọc một tài liệu của một tổ chức phản chiến Mỹ tố cáo CIA đã huấn luyện và cài Đoàn Viết Hoạt và người anh của Thích Minh Châu là Đinh Văn Kinh vào Đại Học Vạn Hạnh để theo dõi. Khi qua Mỹ, tôi có viết thư cho tổ chức này xin tài liệu, nhưng họ không trả lời.

Quả thật Thích Minh Châu đã đi đúng con đường mà thầy của ông đã đi. Bác sĩ Lê Đình Thám khi được Pháp giao cho thành lập phong trào chấn hưng Phật Giáo ở Huế để trấn an các cuộc nổi dậy, ông đã đi học về đạo Phật, rồi rước Hòa Thượng Thích Trí Độ, một đảng viên Cộng Sản, từ Bình Định ra Huế lập Trường An Nam Phật Học để huấn luyện các tăng sĩ, còn ông lập Hội An Nam Phật Học. Bên ngoài, Thích Trí Độ và Bác Sĩ Lê Đình Thám giảng về Phật pháp rất nhiệt tình, nhưng bên trong lập các cơ sở đảng. Thích Minh Châu, Võ Đình Cường, Ngô Điền… đều được Lê Đình Thám chiêu dụ vào đảng. Mãi cho đến khi Việt Minh cướp chính quyền, người ta mới khám phá ra Thích Trí Độ và Lê Đình Thám là hai đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản!

Biết mình bị theo dõi, trong thời gian làm Viện Trưởng, Thích Minh Minh Châu không hề có một hành động hay lời tuyên bố nào liên quan đến chính trị, kể cả việc ủng hộ các cuộc tranh đấu của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang, mặc dầu ông là Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Dục của Giáo Hội này. Tuy nhiên, cơ quan an ninh đã khám phá ra một cán bộ của Thành Ủy Huế được Thích Trí Quang gởi vào nằm vùng ở đây, đó là Nguyễn Trực. Các cuộc xách động sinh viên Vạn Hạnh chống chính quyền đều do Nguyễn Trực thực hiện.
Hồ sơ của Nguyễn Trực có đầy đủ tại Ty Cảnh Sát Huế, nhưng có lệnh không được bắt, đợi đến khi Nguyễn Trực về Huế họp với Thành Ủy xong mới bắt. Cơ quan an ninh đã tra khảo và định đưa Nguyễn Trực đi giam ở Phú Quốc, nhưng Thích Trí Quang can thiệp, chính quyền lại ra lệnh thả ra. Nguyễn Trực và Võ Đình Cường là hai cán bộ được Thích Trí Quang bảo vệ rất chặt chẽ.

Đến ngày 30.4.1975, Thích Minh Châu và Nguyễn Trực mới công khai xuất đầu lộ diện. Câu chuyện này chúng tôi sẽ nói sau.

Ngày 20.9.2012
Lữ Giang
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

Hoàng Nam  
#16 Posted : Saturday, September 22, 2012 6:17:39 AM(UTC)
Hoàng Nam

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 5/12/2011(UTC)
Posts: 3,448

Thanks: 740 times
Was thanked: 260 time(s) in 195 post(s)
Nhà dấn thân Miến Điện tới Washington


Fred Hiatt
♦ Chuyển ngữ: Đinh Từ Thức


UserPostedImage

Bà Aung San Suu Kyi với Huân Chương Vàng Quốc Hội
giữa Lãnh tụ Thiểu số Hạ Viện Nancy Pelosi (trái),
và Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton (phải)
dưới vòm tòa Capitol tại Hoa Thịnh Đốn ngày 19 tháng 9 năm 2012


Trong tất cả những năm dài bị quản thúc tại gia, bà Aung San Suu Kyi đã tự kiểm chế không nuôi một con chó làm bạn đồng hành.

“Tôi không nghĩ điều đó là công bằng đối với con chó,” bà nói với các ký giả của báo Washington Post trong cuộc thăm viếng tòa báo vào ngày thứ tư 19-09.

Bây giờ bà đã được tự do, trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần đầu tiên trong bốn thập nỉên, bà đã được Quốc Hội Hoa Kỳ trao tặng danh dự cao nhất là Huân Chương Vàng Quốc Hội vào chiếu thứ Tư 19-09-2012, và hiện bà cũng đã có một con chó. Sự công bằng vẫn là điều bà quan tâm, trong thời gian hỗ trợ sự chuyển tiếp an bình không thể ngờ từ độc tài sang dân chủ tại đất nước 50 triệu dân của bà.

Tôi đã có dịp viết về bà Aung San Suu Kyi trong nhiều năm, nhưng chưa bao giờ có dịp gặp bà. Con người thật của bà cũng giống như những hình ảnh đã được phổ biến, mà có thể còn trội hơn: nghiêm trang nhưng thông minh sắc sảo, tự tin nhưng khôi hài về mình, tôn trọng tinh thần nhưng vô cùng thực tế.
Bà nói, “Phẩm chất cao nhất của con người là sự tử tế”, khi chia sẻ một trong những kinh nghiệm bà học được trong gần hai thập niên bị cô lập. “Nó là điều không mất tiền mua, và tôi không hiểu tại sao người ta quá keo kiệt về sự tử tế”.

Đây là nguyên tắc của bà để có một cuộc sống tốt đẹp, và bà cũng coi như một chiến lược trong việc phát huy sự thay đổi về chính trị và kinh tế tại Miến Điện, nơi đã bị cai trị bởi chế độ quân phiệt trong nửa thế kỷ, hầu hết thời gian từ sau thời thuộc địa.

Các tướng lãnh và cựu tướng lãnh đã cởi mở một vài lãnh vực. Họ đã thả một số nhưng không phải tất cả tù nhân chính trị, cho phép bà Aung San Suu Kyi và một số khác trong đảng của bà được tranh cử một số ghế trong cơ quan lập pháp và cũng nới lỏng nhưng chưa bỏ luật kiểm duyệt. Họ vẫn nắm giữ quyền chỉ huy, và thử thách lớn nhất có lẽ sẽ xảy ra trong cuộc bầu cử dự trù cho năm 2015.

Bà Aung San Suu Kyi đã tự mình trở thành đối tác cùng với những người chủ trương cải tổ trong chế độ, đáng kể nhất là Tổng Thống Thein Sein, tới mức khiến một số người ủng hộ từ lâu phải ngỡ ngàng. Họ hoang mang làm thế nào bà có thể kêu gọi chuyện bác bỏ cấm vận khi tiến trình tới dân chủ còn quá mong manh, tại sao bà không phát biểu mạnh mẽ hơn để chống lại những ngược đãi của chính quyền đối với các sắc dân thiểu số.

“Lên án [chính quyền] không phải là sở trường của tôi”, bà Aung San Suu Kyi trả lời. “Nếu lên án làm cản trở tiến trình hòa giải, thì tôi không thấy có gì lợi trong chuyện đó”.

Trong cuộc gặp gỡ chúng tôi, bà tỏ ra hoàn toàn tích cực. Bà nói: những doanh nhân bị nhiều người dè bỉu – như những kẻ cấu kết với chế độ – xứng đáng được thử thời vận trong nền kinh tế mới. Chuyện bà bị chính quyền quản thúc tại gia không nhất thiết là một hình phạt: “Họ chỉ muốn ngăn tôi ra khỏi những sinh hoạt mà họ nghĩ sẽ gây khó khăn.” Chế độ mở cửa về phía Tây phương không phải để chống lại sự đô hộ của Trung Quốc, mà chỉ vì quan tâm tới đất nước bị nghèo đói sau nhiều năm bị trừng phạt về kinh tế.

Sự mỉa mai, nếu có, chỉ thoáng bộc phát lúc bà trả lời câu hỏi của tôi về điều kiện làm việc tại thủ đô mới mẻ, “hoành tráng” nhưng vắng người của Miến Điện. Bà nói: “Con chó của tôi rất thích. Tôi thì dè dặt hơn nó”.

Trong khi trả lời câu hỏi khác, bà đồng ý là rất nhiều người Miến Điện đã khổ nhục vì chế độ hơn bà, nhưng ngay cả với họ, bà vẫn biện bạch lời kêu gọi của mình là “phục hồi công lý”, chứ không phải trả thù.

Bà nói: “Tôi không nghĩ chỉ vì một người đau khổ, người ta có thể xóa bỏ sự đau khổ đó bằng cách làm người khác đau khổ.”

Không ai có thể nghi ngờ sự chân thành của bà trong tinh thần muốn quên đi những cay đắng, càng đáng kể khi bọn côn đồ của chế độ đã gần thành công trong âm mưu giết bà vào năm 2003 và bao nhiêu người đồng đảng của bà đã bị tra tấn trong nhà tù khét tiếng Insein.

Cũng không ai có thể ngờ vực sự khẳng định tích cực của bà phù hợp với một chiến lược chính trị nhắm vào tầm xa. Bà tin rằng chế độ nới lỏng hệ thống chính trị một phần vì họ đã tin tưởng vào tuyên truyền của chính họ – lầm nghĩ chế độ được dân ưa chuộng hơn là trong thực tại, và tưởng rằng đảng NLD (National League for Democracy) của bà kém thế hơn. Khi NLD thắng 43 trên 44 ghế trong cuộc bầu cử một phần vào tháng Tư, “có vẻ như một số người trong bọn họ đã bị sốc”, bà nói.

Bây giờ các tướng lãnh hiểu ra rằng NLD vẫn được dân chúng ủng hộ như hồi 1990, khi đảng bà thắng lớn và bị chế độ hủy bỏ ngay kết quả, nhưng tại sao họ có thể cho phép một cuộc bầu cử toàn thể quốc hội có triển vọng đưa đến chỗ thay đổi quyền lực?

“Tôi hy vọng họ sẽ không câu nệ khía cạnh thân dân của tôi, mà chú trọng tới điều tôi mong muốn hợp tác với họ”, bà trả lời. “Tôi muốn hòa giải”.

Bà đã nghiên cứu trường hợp các nước đã thực hiện hoặc toan tính sự chuyển tiếp: Nam Phi, Indonesia, Kampuchia, Chile. Bà biết nó khó khăn như thế nào, và Miến Điện chỉ mới đi bước đầu. Để giúp dân chủ tiến bước, bà đã phải tự làm lại chính mình, từ thần tượng tự do thành một vai trò khó khăn hơn: nhà chính trị.

Bà nói với chúng tôi: “Tôi ưa chuộng mọi bước tiến sẽ mang lại hài hòa dài lâu.”

Nguồn: Fred Hiatt, “Burma’s Champion Comes to Washington,” Washington Post (Wednesday, 9/19/12)

Edited by user Saturday, September 22, 2012 6:19:53 AM(UTC)  | Reason: Not specified

langthang09  
#17 Posted : Saturday, September 22, 2012 12:16:30 PM(UTC)
langthang09

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 1,981

Thanks: 853 times
Was thanked: 1047 time(s) in 469 post(s)

Hiện tượng phản ngôn ngữ ở Việt Nam


Trên báo chí trong nước, thỉnh thoảng có một số người còn nhiều tâm huyết lên tiếng báo động về tình trạng khủng hoảng của tiếng Việt. Bằng chứng họ nêu lên thường là những cách viết tắt, cố tình sai chính tả hoặc pha nhiều tiếng nước ngoài của giới trẻ trên facebook hay các blog. Nhưng dường như chưa ai thấy điều này: sự khủng hoảng trong tiếng Việt chủ yếu nằm trong lãnh vực chính trị và xuất phát từ giới cầm quyền. Nó nằm ngay trong các nghị quyết của đảng, các bài diễn văn của giới lãnh đạo và, cụ thể nhất, trên trang báo Nhân Dân hay Tạp chí Cộng sản, rồi từ đó, lan đi khắp nơi, trên các cơ quan truyền thông cũng như ở miệng của các cán bộ và đảng viên các cấp.

Không phải người ta không thấy những sự khủng hoảng ấy. Thấy nên phản ứng. Có ba loại phản ứng chính.

Thứ nhất: Không tin những gì chính quyền nói. Một trong những câu nói được nhắc nhở nhiều nhất của ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, là: “Đừng nghe những gì cộng sản nói”. Xin lưu ý: câu nói ấy chỉ thực sự gây tiếng vang và được phổ biến rộng rãi chủ yếu sau năm 1975, lúc ông Thiệu đã trở thành con người của quá khứ.

Thứ hai, chính những người cộng sản, ngay cả cộng sản cao cấp, cũng thấy thẹn thùng khi sử dụng loại ngôn ngữ họ sáng chế và từng ra sức áp đặt lên xã hội. Có thể nêu lên hai ví dụ. Một là với chữ “đồng chí”. Trước, đó là cách xưng hô chính thức và phổ cập. Sau, nó chỉ hiện hữu trong các cuộc hội nghị. Nói chuyện với nhau, hầu như không ai gọi nhau là “đồng chí” nữa. Nghe chữ “đồng chí” là sợ: nó báo hiệu một màn đấu đá hoặc một tai họa.(1) Ngay ở Trung Quốc, chính quyền cũng khuyên dân chúng hạn chế dùng chữ “đồng chí” trên các phương tiện giao thông công cộng. (2) Hai là chữ “cộng sản”.

Với nhiều người, kể cả đảng viên, cứ nghe người khác gọi mình là “cộng sản”, họ có cảm giác như nghe một lời chửi mắng. Chứ không có chút tự hào trong đó cả. Nhớ, đã khá lâu, trong một cuộc gặp gỡ ở Úc, một người là đảng viên khá cao cấp, hiện đang làm việc trong ngành truyền thông ở Việt Nam, nhắc đến cuốn V ăn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản (1991 & 1996) của tôi, rồi hỏi: “Sao anh không đặt nhan đề là ‘Văn học dưới chế độ xã hội chủ nghĩa’ nhỉ?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Thế có khác gì nhau không?” Anh ấy đáp: “Khác chứ. Chữ ‘xã hội chủ nghĩa’ nghe thanh lịch hơn; còn chữ ‘chế độ cộng sản’ nghe ghê quá, cứ như một lời kết án.” Tôi lại hỏi: “Anh là đảng viên mà cũng có ấn tượng vậy sao?” Anh ấy đáp, thật thà: “Đó là ấn tượng chung của toàn xã hội mà. Tên đảng thì không ai dám đổi, nhưng trong đời sống hàng ngày, nghe mấy chữ ấy, mình cũng thấy ngài ngại.”

Thứ ba, phản ứng lại sự lũng đoạn ngôn ngữ của chính quyền dưới hình thức phản-ngôn ngữ (anti-language) qua những cách nói hoàn toàn bất chấp nguyên tắc ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp thông thường.

Hiện tượng phản-ngôn ngữ, vốn xuất hiện và phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở miền Bắc, trong vài thập niên trở lại đây, có nhiều hình thức khác nhau.

Nhớ, lần đầu tiên tôi về Việt Nam là vào cuối năm 1996. Lần ấy, tôi ở Việt Nam đến bốn tuần. Một trong những ấn tượng sâu đậm nhất còn lại trong tôi là những thay đổi trong tiếng Việt. Có nhiều từ mới và nhiều cách nói mới tôi chỉ mới nghe lần đầu. Ví dụ, trà Lipton được gọi là “trà giật giật”; cái robinet loại mới, có cần nhấc lên nhấc xuống (thay vì vặn theo chiều kim đồng hồ) trong bồn rửa mặt được gọi là “cái gật gù”; ăn cơm vỉa hè được gọi là “cơm bụi”; khuôn mặt trầm ngâm được mô tả là “rất tâm trạng”; hoàn cảnh khó khăn được xem là “rất hoàn cảnh”; thịt beefsteak được gọi là “bò né”. Sau này, đọc báo trong nước, tôi gặp vô số các từ mới khác, như: “đại gia”, “thiếu gia”,(3) “chân dài”, “chảnh” (kênh kiệu),(4) “bèo” (rẻ mạt), “khủng” (lớn); “tám” (tán gẫu); “buôn dưa lê” (lê la, nhiều chuyện), “chém gió” (tán chuyện), “gà tóc nâu” (bạn gái), “xe ôm” (bạn trai), “máu khô” (tiền bạc), “con nghẽo” (xe máy), v.v.

Trong các từ mới ấy, có từ hay có từ dở, tuy nhiên, tất cả đều bình thường. Ngôn ngữ lúc nào cũng gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống thay đổi, ngôn ngữ thay đổi theo. Những sản phẩm mới, hiện tượng mới và tâm thức mới dẫn đến sự ra đời của các từ mới. Ở đâu cũng vậy. Tất cả các từ điển lớn trên thế giới đều có thói quen cập nhật các từ mới hàng năm. Có năm số từ mới ấy lên đến cả hàng ngàn. Việt Nam không phải và không thể là một ngoại lệ. Đối diện với những từ mới ấy, có hai điều nên tránh: một, xem đó là những từ ngớ ngẩn rồi phủ nhận tuốt luốt; và hai, xem đó là từ…Việt Cộng và tìm cách chối bỏ chúng.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất không phải là sự xuất hiện của các từ mới hay các tiếng lóng mới ấy. Mà là những cách nói mới, rất lạ tai, thậm chí, quái gở, phổ biến khắp nơi, ngay cả trong giới trí thức và văn nghệ sĩ tiếng tăm, đặc biệt ở Hà Nội. Có thể tóm gọn các cách nói mới ấy vào bốn điểm.

Thứ nhất, hiện tượng dùng nguyên cả một cụm từ hoặc một từ ghép hoặc một tên riêng của một người, một địa phương hoặc một nước để chỉ lấy ra một từ tố trong đó. Ví dụ, thay vì nói “lâu”, người ta nói “Hà Văn Lâu” (hay “Hồng Lâu Mộng”); thay vì nói “đông” (đúc), người ta nói “Hà Đông”; thay vì nói “xa”, người ta nói “Natasha” (chỉ lấy âm cuối, “Sha”, phát âm theo giọng miền Bắc là “xa”); thay vì nói “xinh” (xắn), người ta nói “nhà vệ sinh” (âm /s/ bị biến thành /x/); thay vì nói “tiện”, người ta nói “đê tiện”; thay vì nói “cạn” (ly), người ta nói “Bắc Cạn”; thay vì nói “can” (ngăn), người ta nói “Lương Văn Can”; và thay vì nói “chia” (tiền), người ta nói “Campuchia”. Cuối cùng, người ta có một mẩu đối thoại lạ lùng như sau:

“Đi gì mà Hà Văn Lâu thế?”
”Ừ, tại đường Hà Đông quá!”
”Từ đấy đến đây có Natasa không?”
“Không. À, mà hôm nay em trông hơi nhà vệ sinh đấy nhé!”
“Khéo nịnh! Tí nữa, đi về, có đê tiện, mua giùm em tờ báo nhé!”
“Ừ, mà thôi, bây giờ nhậu đi!”
“Ừ, Bắc Cạn đi, các bạn ơi!”
“Thôi, tôi Lương Văn Can đấy!”
”Này, hết bao nhiêu đấy, để còn Campuchia?”

Thứ hai, hiện tượng dùng chữ “vô tư”. Lúc ở Hà Nội, một trong những từ tôi nghe nhiều nhất là từ “vô tư”. Nó được dùng một cách lạm phát. Cái gì cũng “vô tư”. Bạn bè, gồm toàn các giáo sư và nhà văn nổi tiếng ở Hà Nội, rủ tôi vào quán thịt cầy. Thấy tôi thoáng chút ngần ngại, họ liền nói: “Cứ vô tư đi mà! Thịt cầy ở đây ngon lắm!” Sau khi uống vài ly rượu, cảm thấy hơi chếnh choáng, tôi xin phép ngưng, họ lại nói: “Không sao đâu, cứ vô tư uống thêm vài ly nữa cho vui. Rượu này ngâm thuốc, bổ lắm!” Cuối tiệc, tôi giành trả tiền, họ lại nói: “Không, bọn tôi đãi, anh cứ vô tư đi!” Cứ thế, trong suốt bữa tiệc hai ba tiếng đồng hồ, tôi nghe không dưới vài chục lần từ “vô tư”. Chữ “vô tư” ấy phổ biến đến độ lọt cả vào trong thơ Nguyễn Duy:

Mình vô tư với ta đi
Vô tư nhau chả cần chi nhiều lời
Vô tư thế chấp đời người
Trắng tay còn chút coi trời bằng vung
Luật chơi cấm kị nửa chừng
Vô tư đặt cọc tận cùng chiếu manh
Liền em vô tư liền anh
Không ngây không dại không đành phải không.

Thứ ba, hiện tượng dùng các phụ từ “hơi bị”. Bình thường, trong tiếng Việt, “bị”, đối lập với “được”, chỉ những gì có ý nghĩa tiêu cực và ngoài ý muốn. Bất cứ người Việt Nam nào cũng biết sự khác biệt giữa hai cách nói “Tôi được thưởng” và “Tôi bị phạt”. Vậy mà, ở Việt Nam, ít nhất từ giữa thập niên 1990 đến nay, ở đâu, người ta cũng nghe kiểu nói “Cô ấy hơi bị hấp dẫn”, “Ông ấy hơi bị giỏi”, “chiếc xe ấy hơi bị sang”, “nhà ấy hơi bị giàu”, hay “bức tranh ấy hơi bị đẹp”, v.v.

Cuối cùng là hiện tượng các thành ngữ mới đã được Thành Phong sưu tập và minh họa trong cuốn Sát thủ đầu mưng mủ (sau đó bị tịch thu, năm 2011), bao gồm những câu kiểu:

ăn chơi sợ gì mưa rơi
buồn như con chuồn chuồn
chán như con gián
chảnh như con cá cảnh
chuyện nhỏ như con thỏ
bực như con mực
cực như con chó mực
đau khổ như con hổ
đen như con mèo hen
đói như con chó sói
đơn giản như đan rổ
dốt như con tốt
đuối như trái chuối
ghét như con bọ chét
già như quả cà
hồn nhiên như cô tiên
im như con chim
lạnh lùng con thạch sùng
ngất ngây con gà tây
ngốc như con ốc
phê như con tê tê
sành điệu củ kiệu
tê tái con gà mái
thô bỉ như con khỉ
tự nhiên như cô tiên
tinh vi sờ ti con lợn
xinh như con tinh tinh

Tất cả những hiện tượng trên đều có một số đặc điểm chung. Thứ nhất, có lẽ chúng xuất phát từ Hà Nội, sau đó, lan truyền ra cả nước, kể cả Sài Gòn. Thứ hai, chúng phổ biến không phải chỉ trong giới trẻ mà còn cả trong giới trí thức lớn tuổi, kể cả giới học giả, giáo sư đại học và văn nghệ sĩ nổi tiếng. Thứ ba, tất cả những cách nói ấy đều ngược ngạo, thậm chí, vô nghĩa. Chả có ai có thể giải thích được những kiểu nói như “buồn như con chuồn chuồn” hay “chán như con gián” hay “im như con chim”, “xinh như con tinh tinh”… trừ một điều duy nhất: chúng có vần vè với nhau. Vậy thôi.

Trong lịch sử tiếng Việt, thỉnh thoảng lại xuất hiện những hiện tượng mới, đặc biệt trong khẩu ngữ, nhiều nhất là trong tiếng lóng. Tuy nhiên, có lẽ chưa bao giờ lại có những hiện tượng nói năng ngược ngạo và vô nghĩa như hiện nay. Ở miền Nam trước năm 1975, người ta làm quen với những kiểu nói như “lính mà em”, “tiền lính tính liền”, “sức mấy mà buồn”, “bỏ đi Tám”, “OK Salem”, “mút mùa Lệ Thủy”, “thơm như múi mít”, “bắt bò lạc”, “một câu xanh rờn”, v.v. Với hầu hết những kiểu nói như thế, người ta có thể hiểu được. Còn bây giờ? Không ai có thể giải thích được. Chúng ngược ngạo đến mức quái đản. Và chúng vô nghĩa đến mức phi lý.

Vậy tại sao chúng lại ra đời, hơn nữa, phổ biến rộng rãi trong xã hội, ngay trong giới có học thuộc loại cao nhất nước
?

Dĩ nhiên không phải vì người ta không biết. Biết, chắc chắn là biết; nhưng người ta vẫn chọn những cách nói ấy. Đó là một chọn lựa có ý thức chứ không phải một thói quen vô tình. Sự chọn lựa ấy chỉ có thể được giải thích bằng một cách: người ta muốn nói khác. Khác với cái gì? Với những quy ước ngôn ngữ đang thống trị trong xã hội và thời đại của họ. Khi những cái khác ấy được thực hiện một cách bất chấp luận lý và quy luật, chúng trở thành một thách thức, một sự chối bỏ, hay đúng hơn, một sự phản kháng.

Bình thường, không ai phản kháng ngôn ngữ. Bởi ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ. Người ta chỉ phản kháng tính chất giả dối, khuôn sáo, cũ kỹ, chật chội trong ngôn ngữ hoặc đằng sau ngôn ngữ: văn hóa, chính trị và xã hội. Bởi vậy, tôi mới xem những cách nói ngược ngạo phổ biến tại Việt Nam hiện nay như một thứ phản-ngôn ngữ: nó là một phần của thứ đối-văn hóa (counter-culture), xuất phát từ động cơ muốn thoát khỏi, thậm chí, chống lại những giá trị, những quy phạm và những chuẩn mực mà người ta không còn tin tưởng và cũng không muốn chấp nhận nữa.

Nói cách khác, nếu việc sử dụng ngôn ngữ trong bộ máy tuyên truyền của đảng và nhà nước Việt Nam mang đầy tính chính trị thì hiện tượng phản-ngôn ngữ đang phổ biến tại Việt Nam hiện nay cũng có tính chính trị. Thứ chính trị trên dựa trên sự áp chế, độc tài và giả dối; thứ chính trị dưới là một sự phản kháng lại thứ chính trị trên nhưng lại dựa trên một thứ chủ nghĩa hư vô đầy tuyệt vọng.

September 20, 2012
TS. Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

1. Có thể thấy điều này qua một ví dụ khá tiêu biểu: Bài thơ “Cho một nhà văn nằm xuống” viết nhân cái chết của nhà văn Nguyên Hồng của Trần Mạnh Hảo (1982) bị phê phán kịch liệt. Võ Văn Kiệt, lúc ấy là Bí thư thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, cho gọi Trần Mạnh Hảo đến gặp. Trần Mạnh Hảo rất sợ. Thế nhưng cảm giác sợ hãi ấy tiêu tan ngay khi ông nghe câu nói đầu tiên của Võ Văn Kiệt: “Hảo à! Đù má… Mày làm cái gì mà dữ vậy?” Trần Mạnh Hảo giải thích: “Anh phải hiểu rằng tính cách người Nam Bộ là thế. Sống với nhau trong cơ quan hay lúc sinh hoạt thường hay dùng câu ĐM kèm theo. Thân tình mới có câu ĐM. Còn đã gọi nhau bằng đồng chí là ‘có chuyện’. Nghe được lời mắng của anh Sáu (Võ Văn Kiệt) lại có kèm ĐM, tôi biết ngay là ‘thoát’.” Chuyện này được thuật lại trong bài “Much Ado About Nothing” của Phạm Xuân Nguyên trên Talawas.

2. http://www.reuters.com/a...de-idUSTRE64U0WP20100531

3. Cả hai từ “đại gia” và “thiếu gia” đều là những từ cũ, ngày xưa; bây giờ được dùng lại.

4. Gần đây, chữ “chảnh” còn được nói dưới hình thức tiếng Anh bồi là “lemon question” (chanh + hỏi); cũng như chữ “vô tư” còn được nói là “no four” (không = vô + bốn = tư). Giống như trước 1975, người ta từng nói “no star where” – không sao đâu.

thanks 1 user thanked langthang09 for this useful post.
ngoc tran on 9/23/2012(UTC)
hongvulannhi  
#18 Posted : Sunday, September 23, 2012 12:20:04 AM(UTC)
hongvulannhi

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/18/2011(UTC)
Posts: 26,916

Thanks: 1919 times
Was thanked: 4392 time(s) in 2736 post(s)

Cuộc hội kiến giữa TT Obama và nhà đối kháng Miến điện, bà Aung San Suu Kyi


Xuân Mai


Le président des Etats-Unis Barack Obama et l'opposante birmane Aung San Suu Kyi dans le Bureau ovale de la Maison Blanche, le 19 septembre 2012.

TT Hoa Kỳ Barack Obama và nhà đối kháng Miến điện Aung San Suu Kyi Tại Phòng Bầu Dục Toà Bạch Óc ngày 19/09/2012.

Washington a déroulé mercredi le tapis rouge pour la Birmane Aung San Suu Kyi en lui remettant la prestigieuse médaille d'or du Congrès, avant une rencontre avec le président Barack Obama dont l'administration a levé les sanctions contre le président birman.

Hoa Thịnh đốn trải thảm đỏ đón bà Aung San Suu Kyi hôm thứ tư và trao tặng cho bà này tấm Huy Chương Vàng uy tín nhất của Quốc hội, trước khi hội kiến với Tổng thống Barack Obama, mà chính quyền đã dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với Tổng thống Miến Điện.

Signe des honneurs auxquels l'icône de la démocratie birmane a eu droit, le président Obama l'a reçue en fin de journée dans le célébrissime Bureau ovale de la Maison Blanche. Selon un compte-rendu de leur rencontre diffusé dans la soirée par la présidence, Barack Obama lui a fait part de son "admiration pour son courage" et a réaffirmé le soutien américain aux efforts de Mme Suu Kyi et du président birman Thein Sein "pour promouvoir des réformes politiques et économiques" dans le pays.

(Đây là) một dấu chỉ vinh danh biểu tượng dân chủ Miến Điện đáng có , TT Obama đã tiếp bà Suu Kyi trong buổi chiều, cách trọng thể, tại phòng Bầu Dục toà Bạch Óc. Theo bản thông cáo về cuộc gặp mặt được truyền đi vào buổi tối của văn phòng tổng thống phủ, thì Tổng thống đã bày tỏ " lòng ngưỡng mộ sự can đảm của bà" và tái khẳng định sự ủng hộ của Mỹ cho "những nỗ lực của bà Suu Kyi và Tổng thống Miến Điện Thein Sein "để thúc đẩy cải cách chính trị và kinh tế " trong nước.

Devant les photographes qui immortalisaient cette entrevue historique entre deux prix Nobel de la paix, M. Obama et son hôte n'avaient pas fait de déclarations, se contentant d'échanger quelques mots à voix basse.

Trước (số đông) nhiếp ảnh gia, cuộc gặp gở lịch sử giữa hai Nobel Hòa bình,Tổng thống Obama và khách chủ chẳng tuyên bố điều gì mà chỉ đơn thuần trao đổi một vài tiếng nhỏ.

Plus tôt dans l'après-midi, Aung San Suu Kyi avait reçu sous la rotonde du Congrès américain la plus prestigieuse distinction civile aux Etats-Unis, une médaille d'or que l'institution lui avait décernée en 2008 lorsqu'elle était en résidence surveillée dans sa maison mythique et délabrée de Rangoun.Mme Suu Kyi a remercié "du plus profond de (son) coeur le peuple américain pour nous avoir gardés dans vos coeurs et vos esprits durant les années sombres où la justice et la liberté semblaient hors de portée".

Trước đó vào buổi chiều, bà Aung San Suu Kyi, tại toà Nhà Quốc Hội, đã nhận giải thưởng dân sự có uy tín nhất tại Hoa Kỳ, một huy chương vàng mà Quốc hội đã trao tặng cho bà vào năm 2008, trong thời gian bà bị quản thúc trong ngôi nhà "thần thoại" và đổ nát tại Rangoun. Bà Suu Kyi bày tỏ lòng cám ơn, "từ trong tâm khảm của bà", đối với nhân dân Mỹ đã ghi trong tim và trong óc hình ảnh của bà suốt những năm đen tối và sự tư do hình như ngoài tầm tay. "

Devant 500 dignitaires américains et des Birmans en costume traditionnel, la "Dame Rangoun", qui a passé 15 années privée de liberté, a confié vivre "l'un des jours les plus émouvants" de son existence. La lauréate 1991 du prix Nobel de la paix est en Occident une icône de la lutte non violente pour la démocratisation, un processus encore inimaginable il y a deux ans en Birmanie.La junte militaire, qui a tenu ce pays d'Asie du sud-est pendant un demi-siècle, a cédé la place en mars 2011 à un régime civil d'anciens généraux réformateurs.

Trước 500 quan chức Mỹ và Miến Điện trong trang phục truyền thống, "Bà Miến Địện", người đã trải qua 15 năm bị tước quyền tự do, đã thổ lộ rằng bà đã sống "một trong những ngày cảm động nhất" của cuộc đời. Nhà đoạt giải Nobel 1991 về Hoà bình, đối với người Tây Phương là một biểu tượng của cuộc đấu tranh bất bạo động, môt quá trình không thể tưởng tượng được cách đây hai năm tại Birmanie. Nhóm quân phiệt nắm chính quyền trong tay một quốc gia vùng Đông Nam Á châu hằng nữa thế kỷ, đã nhường chổ cho một chính quyền dân sự gồm các cựu tướng lãnh chủ trương cải cách vào tháng 3/2011.

Le processus s'est déroulé sans effusion de sang et la Birmanie a changé de visage, notamment grâce à la libération de centaines de dissidents, la levée de la résidence surveillée de Suu Kyi fin 2010 et son élection à la députation en avril dernier."Aller de l'avant dans l'unité et la paix" Celle qui est aujourd'hui une responsable politique de premier plan a reconnu qu'il y aurait "des difficultés sur notre route". Elle a assuré que "la Birmanie, nation aux multiples ethnies (...) pouvait aller de l'avant dans l'unité et la paix". En recevant Mme Suu Kyi mardi, la secrétaire d'Etat Hillary Clinton avait exhorté "l'opposition et le gouvernement" à travailler à l'unité du pays.

Quá trình này không đổ máu và Miến Điện đã thay đổi khuôn mặt của nó, chú ý là sự trả tự do cho hàng trăm người bất đồng chính kiến​​, chấm dứt lệnh quản thúc tại gia đối với bà Suu Kyi vào cuối năm 2010 và chọn bà vào hàng dân cử tháng tư vừa qua. " Tiên phong trong hiệp nhất và hòa bình". Chính bà hôm nay là là một chính trị gia hàng đầu thế giới thừa nhận rằng sẽ có " những khó khăn trên con đường của chúng tôi". Bà bảo đảm rằng "Miến Điện, một quốc gia đa sắc tộc(...) sẽ tiên phong (đi đến) hiệp nhất và hòa bình". Trong cuộc tiếp xúc với bà Suu Kyi thứ ba vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi phe "đối lập và chính phủ" (Miến Điện) làm việc cho sự hiệp nhất của đất nước.

La chef de diplomatie américaine s'était aussi inquiétée des violences communautaires entre bouddhistes et la minorité musulmane rohingya dans l'ouest du pays, ainsi que des liens continus entre la Birmanie et la Corée du Nord. L'opposante avait aussi demandé aux Etats-Unis de lever toutes les sanctions imposées progressivement depuis les années 1990. Des restrictions qu'elle avait pourtant soutenues à l'époque pour faire pression sur les militaires alors au pouvoir. En réponse mercredi, le Trésor américain a annoncé le retrait des noms du président Thein Sein et du président de la chambre basse du Parlement, Thura Shwe Mann, de la liste noire des personnes faisant l'objet de sanctions américaines pour leur participation à la répression politique en Birmanie.

Trưởng ngoại giao Hoa Kỳ cũng lo lắng các bạo lực của những cộng đồng, giữa Phật giáo và dân tộc thiểu số Hồi giáo Rohingya (nằm về) phiá Tây, cũng như các mối quan hệ đang diễn ra giữa Miến Điện và Bắc Hàn. Nhà đối lập cũng xin Hoa Kỳ hãy dần dà cởi trói những biện pháp trừng phạt đối với Miến điện từ những năm 1990, những hạn chế mà Hoa Kỳ đã hổ trợ bà trong suốt thời gian làm áp lực lên chính quyền quân sự. Để trả lời việc nầy, thứ tư vừa qua, Bộ trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ đã tuyên bố rút tên ông Tổng Thống Thein Sein và ông chủ tịch Hạ viện, Thura Shwe Mann, ra khỏi danh sách những người bị Hoa Ký trừng phạt với lý do "tham gia đàn áp chính trị tại Miến Điện".

Washington avait mis fin en juillet à la plupart des restrictions sur ses investissements en Birmanie, y compris dans le gaz et le pétrole. Un nouvel ambassadeur est en poste depuis juillet, une première depuis 22 ans. Aung San Suu Kyi est à Washington depuis lundi pour un voyage de trois semaines à travers les Etats-Unis, où, comme en Europe en juin, elle reçoit un accueil aussi prestigieux que chaleureux.Cette tournée américaine coïncide avec la venue du président Thein Sein, attendu la semaine prochaine à l'assemblée générale de l'ONU, pour la première fois en tant que chef de l'Etat.

Washington đã kết thúc vào tháng Bảy hầu hết những hạn chế về đầu tư ở Miến Điện, bao gồm cả dầu và khí đốt. Một tân đại sứ đã nhậm chức từ tháng Bảy, lần đầu tiên kể từ 22 năm nay. Bà Aung San Suu Kyi có mặt tại Hoa Thịnh Đốn từ hôm thứ hai cho một chuyến đi ba tuần xuyên qua các tiểu bang Hoa Kỳ. Cũng như ở châu Âu trong tháng sáu, ở đâu bà cũng nhận được sự chào đón thịnh tình. Cuộc viễn du Hoa Kỳ của Bà nhằm đúng lúc Tổng thống Miến điện, ông Thein Sein, được dự kiến chào đón vào tuần sau, tại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, lần đầu tiên trên danh vị quốc trưởng.

Xuân Mai
Chỉ trong một phút giây hoài niệm
Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về

hvln

linhphuong  
#19 Posted : Sunday, September 23, 2012 2:48:49 AM(UTC)
linhphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 2,864

Thanks: 316 times
Was thanked: 349 time(s) in 241 post(s)
Bộ trưởng Pakistan:
Thưởng 100 ngàn Mỹ kim cho ai giết đạo diễn phim bôi bác Hồi giáo
gây bạo động chết chóc trên thế giới


Saturday, 22 September 2012 15:34

Cali Today News – Theo nguồn tin của AFP, thì Bộ trưởng Hỏa Xa Liên Bang Pakistan là ông Haji Ghulam Ahmed Bilour vừa công bố rằng ông sẽ thưởng 100 ngàn Mỹ kim cho ai giết đạo diễn làm phim chống Nhà Tiên Tri Muhammad, chống Hồi giáo mà trong mấy tuần qua đã gây ra phản đối, bạo động, và chết chóc ở nhiều nơi trên thế giới.

Nói chuyện tại Câu Lạc Bộ Báo Chí ở Peshawar, ông Bilour tuyên bố rằng ai phỉ báng nhà tiên tri đều đáng tội chết.

Phim này có nhiều tên khác nhau nhất là tên "Innocence of Muslims" miêu tả nhà tiên tri của đạo Hồi như là một người gian lận và lạm dụng tình dục trẻ em.

Ông ta cũng kêu gọi cho một đạo luật chống phỉ báng trên toàn thế giới, để không một người Hồi giáo nào bị thương tổn tâm lý vì nhân danh tự do phát biểu ý kiến.

Ông ta cho rằng tình hình sẽ còn căng thẳng cho đến khi nào có một luật như thế trên toàn thế giới.

Ông Bilour lên án phim nói trên vì ông ta nói rằng phim này làm buồn lòng người Hồi giáo trên thế giới; nhưng, ông cũng lên án các cuộc phản kháng bạo động vì nó sẽ làm hoen ố hình ảnh đạo Hồi và người Hồi giáo trên thế giới.

Ông Bilour cho biết chính phủ đã yêu cầu cảnh sát cho phép người biểu tình phản đối ôn hòa để lên án đạo diễn, và không đàn áp bằng vũ lực.

Tòa đại sứ Mỹ tại Pakistan chạy các quảng cáo trên truyền hình, trích lời của ngoại trưởng Hillary Clinton, nhâán mạnh rằng chính phủ Mỹ chẳng liên quan gì đến phim này.

Pakistan đã tuyên bố “Ngày Tình Yêu” đối với Đấng Tiên Tri và thủ tướng Raja Pervez Ashraf tuyên bố rằg tấn công, phỉ bán nhà tiên tri là tấn công 1.5 tỷ người Hồi giáo.

Ít nhất cũng đã có 15 người bị giết và nhiều cửa hàng và thương mại bị đập phá ở Pakistan.

Hàng chục người, kể cả đại sứ Mỹ tại Lybia, bị giết vì bạo lực xảy ra do hậu quả phim này.

Ngày hôm nay, thứ bảy, các cuộc phản đối vẫn tiếp diễn ở khắp nơi thế giới Hồi giáo.

Hàng chục người bị thương do đụng độ giữa hàng trăm người biểu tình và cảnh sát. Tại Pakistan, hơn 1,500 người xuống đường tại thủ đô nước này.

Hàng ngàn người xuống đường biểu tình ở Kano, thành phố lớn nhất ở Nigeria.

Khoảng 200 sinh viên xuống đường ở Srinagar tại Kashmir. Và họ hô những khẩu hiệu như “Đã đảo Mỹ” và “Hồi giáo muôn năm” hay “Không có Thượng Đế mà chỉ có đấng Allah và Muhammad là nhà tiên tri của ngài”.

Trần Thị Sông Dinh


Edited by user Sunday, September 23, 2012 2:49:32 AM(UTC)  | Reason: Not specified

tubich  
#20 Posted : Sunday, September 23, 2012 8:44:48 AM(UTC)
tubich

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 3/22/2011(UTC)
Posts: 1,583

Thanks: 117 times
Was thanked: 195 time(s) in 151 post(s)
Hoa kiều biểu tình chống Nhật ở Mỹ


Hoa kiều ở thành phố Houston thuộc tiểu bang Texas của Mỹ hôm thứ Ba ngày 18/9 đã trình kháng nghị thư về ‘Điếu Ngư Đảo’ lên Tòa lãnh sự Nhật Bản để lên án ‘sự khiêu khích’ của chính phủ nước này, hãng tin Trung Quốc Tân Hoa Xã đưa tin.

UserPostedImage

Làn sóhg biểu tình chống Nhật đãn lan ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc


Theo Tân Hoa Xã thì khoảng 500 Hoa kiều đã tập hợp bên ngoài Lãnh sự quán Nhật Bản ở Houston để kỷ niệm 81 năm sự kiện ngày 18/9, ngày quân đội Nhật đã cho nổ tuyến đường sắt ở Mãn Châu để lấy cớ xâm chiếm Trung Quốc.

Kháng nghị thư

Theo hãng tin này thì những Hoa kiều này tập hợp để tưởng nhớ ‘những ký ức đau thương về sự xâm lăng của Nhật Bản và lên án hành động khiêu khích của nước này đối với Điếu Ngư Đảo’.

Những người biểu tình đã tuần hành xung quanh Lãnh sự quán Nhật, hát các bài ca được sáng tác trong thời kháng Nhật và hô các khẩu hiệu như ‘Điếu Ngư Đảo là của Trung Quốc’, ‘Hãy nhớ Trân Châu Cảng, Ngăn chặn sự xâm lược của Nhật Bản”.

Một máy bay cũng đảo trên bầu trời ở Houston đem theo tấm biểu ngữ đề ‘Chủ nghĩa phiêu lưu của Nhật – Rắc rối của Mỹ’.

Những người biểu tình cũng đọc to kháng nghị thư gửi đến Lãnh sự quán Nhật.

“Hành động của Nhật Bản đối với Điếu Ngư Đảo đã hoàn toàn lộ rõ tham vọng bá đạo và kế hoạch bành trướng của nước này và một lần nữa nó nhắc nhở cho thế giới về chủ nghĩa quân phiệt Nhật và sự bành trướng đế quốc đã dẫn đến việc họ xâm lược châu Á và tấn công vào Trân Châu Cảng,” kháng nghị thư viết.

“Sự chiếm đóng của Nhật Bản đối với Điếu Ngư Đảo của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý nào.”

Tân Hoa Xã dẫn lời Phó Giáo sư Peter Li tại Bộ môn chính trị Đông Á thuộc Khoa khoa học xã hội tại Đại học Houston nói rằng việc Mỹ ủng hộ ‘đòi hỏi chủ quyền phi pháp của Nhật Bản không có ích lợi gì cho phía Mỹ’.

“Hoa Kỳ cần đứng về phía chính nghĩa của lịch sử,” ông nói thêm.

Trước đó, cộng đồng Hoa kiều ở Mỹ cũng phát động chiến dịch thu thập chữ ký trên ‘kiến nghị thư về Điếu Ngư Đảo’ để trình lên chính phủ và Quốc hội Mỹ vào ngày 6/10 sắp tới, Tân Hoa Xã dẫn lời ông Steven Pei, chủ tịch Liên minh Điếu Ngư Đảo Houston, cho biết.

Chiến dịch này được phát động trên năm thành phố ở Mỹ và dự kiến thu thập được ít nhất 10.000 chữ ký của những người ủng hộ chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo này.

Kiến nghị này yêu cầu Hoa Kỳ giữ lập trường trung lập trong tranh chấp Trung-Nhật ‘vì lợi ích của quan hệ Mỹ-Trung và cũng vì lợi ích của chính phủ và nhân dân Mỹ,” ông Pei cho biết.

Điều tra vụ xe đại sứ

UserPostedImage

Đại sứ Locke cũng trở thành mục tiêu của những người biểu tình hôm 18/9


Trong lúc này, Bắc Kinh đang điều tra vụ việc người biểu tình xâm phạm xe của Đại sứ Mỹ Gary Locke hôm 18/9, hãng tin Mỹ AP cho hay.

Theo hãng tin này thì Bắc Kinh đã bày tỏ ‘lấy làm tiếc’ về sự cố nói trên.

Khoảng 50 người biểu tình trước Sứ quán Nhật gần đó đã tràn đến Tòa đại sứ Mỹ hôm thứ Ba ngày 18/9. Họ chặn đường không cho xe của đại sứ vào sứ quán và xé quốc kỳ Mỹ trên xe, AP tường thuật.

Đại sứ Locke nói với các phóng viên rằng giới chức Trung Quốc ‘đã hành động rất nhanh’ để giải tán những người biểu tình.

“Mọi việc kết thúc chỉ trong vài phút và tôi chẳng hề cảm thấy nguy hiểm gì cả,” ông cho biết.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland nói phía Mỹ đã bày tỏ quan ngại với Trung Quốc và giới chức Trung Quốc đã bày tỏ ‘lấy làm tiếc’.

Bà Nuland nói đánh giá ban đầu của phía Mỹ cho thấy xe của Đại sứ Locke là ‘mục tiêu cơ hội’ của những người biểu tình tụ tập bên ngoài Sứ quán Nhật.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi nói đây chỉ là ‘một vụ việc đơn lẻ’ và rằng Trung Quốc đang điều tra.

BBC

Edited by user Sunday, September 23, 2012 8:46:14 AM(UTC)  | Reason: Not specified

Users browsing this topic
Guest (19)
392 Pages123>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.